Close

Trần Nhân Tông Library

Nghiên cứu thực tế

NỀN TẢNG CỦA PHẬT GIÁO ĐỜI TRẦN

 

THIỀN PHÁI YÊN TỬ NỀN PHẬT GIÁO THỐNG NHẤT

 

Vào đầu thế kỷ thứ mười ba, ba thiền phái Tỳ Ni Ða Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Ðường dần dần nhập lại là một. Do ảnh hưởng lớn lao của Trần Thái Tông và Tuệ Trung thượng sĩ, sự sát nhập của ba thiền phái trên đây vào nhau đã đưa tới sự phát triển lớn của thiền phái Yên Tử thành thiền phái Trúc Lâm, tức là thiền phái duy nhất đời Trần. Ðời Trần có thể được gọi là thời đại Phật Giáo Nhất Tông, tức là thời đại của một phái Phật Giáo Duy Nhất. Tông phái này xuất hiện từ núi Yên Tử mà vị tổ khai sơn là thiền sư Hiện Quang. Thiền sư Viên Chứng hiệu Trúc Lâm, thầy của vua Trần Thái Tông, là tổ thứ hai của Phái Yên Tử, được vua tôn xưng là quốc sư. Vị tổ truyền thừa thứ ba là Ðại Ðăng quốc sư đồng sư với vua Trần Thái Tông. Một vị quốc sư khác tượng trưng cho sự lãnh đạo nền Phật Giáo thống nhất đời Trần là Nhất Tông quốc sư, đệ tử của thiền sư Ứng Thuận thuộc thế hệ thứ 16 của thiền phái Vô Ngôn Thông. Danh từ Nhất Tông mà vua Trần Thái Tông dùng để tôn xưng vị quốc sư hẳn có ý nghĩa về tình trạng thống nhất Phật Giáo trong một tông phái duy nhất.

 

Trước hết ta hãy xét về những ảnh hưởng tương hỗ giữa ba thiền phái đời Lý. Như ta biết, thiền phái Thảo Ðường không có cơ sở trong đại chúng bình dân, cũng không có truyền thống tu viện đặc thù, nhưng có ảnh hưởng sâu đậm tới mặt học thuật tư tưởng và thi ca trên hai thiền phái đương thời: Tuyết Ðậu Ngữ Lục đã trở thành một văn kiện được trọng dụng ở cả hai thiền phái Tỳ Ni Ða Lưu Chi và Vô Ngôn Thông. Thiền sư Thường Chiếu, thuộc phái Vô Ngôn Thông, đã sang làm tọa chủ ở chùa Lục Tổ, vốn là một tổ đình rất xưa của thiền phái Tỳ Ni Ða Lưu Chi: điều này chứng tỏ hai thiền phái này lúc bấy giờ hầu như đã sát nhập nhau thành một. Thường Chiếu và đệ tử là Thần Nghi sinh hoạt trong lòng thiền phái Tỳ Ni Ða Lưu Chi đã thu thập khá nhiều tài liệu về thiền phái này để ghi chép lại trong sách Thuyền Uyển Tập Anh. Thiền sư Thường Chiếu có thể được gọi là người khởi đầu cho sự tổng hợp giữa ba thiền phái Tỳ Ni Ða Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Ðường và cũng là gạch nối giữa Phật Giáo đời Lý và Phật Giáo đời Trần. Ðịa vị của ông rất quan trọng. Ta hãy nhìn đồ biểu sau đây:

 

Ba vị đệ tử quan trọng của Thường Chiếu là Thần Nghi, Thông Thiền và Hiện Quang.

 

Thần Nghi với đệ tử là Ẩn Không đã có trách nhiệm truyền lại các tài liệu lịch sử Phật Giáo của Thường Chiếu, như các sách Thuyền Uyển Tập Anh và Nam Tông Tự Pháp Ðồ.

 

Thông Thiền nối tiếp truyền thống Vô Ngôn Thông truyền xuống cho Tức Lự, rồi Ứng Thuận. Các đệ tử của Ứng Thuận như Nhất Tông, Giới Minh, Giới Viên, Tiêu Diêu đều là những ngôi sao sáng trong Phật học giới và đều đóng góp nhiều cho nền Phật Giáo Thống Nhất đời Trần. Họ là những người của thế hệ cuối cùng của thiền phái Vô Ngôn Thông.

 

Thiền sư Hiện Quang khai sơn núi Yên Tử mở đầu cho thiền phái Trúc Lâm, nền Phật Giáo Thống Nhất đời Trần.

 

Trước hết ta hãy nói về thiền sư Thường Chiếu, người có thể đại diện được cho ba thiền phái cuối đời Lý và gạch nối giữa nền phát triển ba-tông-phái đời lý và nền Phật Giáo một-tông-phái đời Trần.

 

THIỀN SƯ THƯỜNG CHIẾU

 

Thường Chiếu người làng Phù Ninh, họ Phạm. Hồi chưa xuất gia, ông đã từng làm quan dưới triều vua Ly Cao Tông, chức lệnh đô tào ở cung Quảng Từ. Sau đó, ông bỏ quan tước để đi xuất gia dưới sự hướng dẫn của thiền sư Quảng Nghiêm, chùa Tịnh Quả. Ðược tâm truyền của thiền sư Quảng Nghiêm, ông ở lại chùa Tịnh Quả thêm vài ba năm để hầu thầy, rồi sau đó ông lui về một ngôi chùa cổ ở làng Ông Mạc để dạy học trò. Năm ông rời chùa Tịnh Quả có lẽ là năm 1190, bởi vì sách Thuyền Uyển Tập Anh nói thẩy ông là thiền sư Quảng Nghiêm tịchv ào năm ấy. Có lẽ ông đã ở lại hầu thầy đến khi thầy tịch.

 

Sau đó không lâu, thiền sư Thường Chiếu dời sang chùa Lục Tổ, vốn là một tổ đình rất xưa của phái Tỳ Ni Ða Lưu Chi; chùa này được thành lập vào khoảng thế kỷ thứ tám do thiền sư Ðịnh Khuông và đệ tử là thiền sư Thông Thiền tạo dựng.

 

Sự kiện Thường Chiếu của thiền phái Vô Ngôn Thông đến mở trường dạy học tại chùa Lục Tổ, một tổ đình lớn của phái Tỳ Ni Ða Lưu Chi, cho ta thấy rằng cao tăng của phái sau này, sau thiền sư Viên Thông, đã bắt đầu thưa thớt đến nỗi sự giáo hóa Phật pháp tại một tổ đường đã phải nhờ đến một thiền sư thộc phái Vô Ngôn Thông. Ðã đành còn có các vị cao tăng như Ðạo Lâm, Tĩn Thiền, Ðịnh Hương và Y Sơn, nhưng các vị này cũng còn phải trụ trì các tổ đường khác của môn phái.

 

Chính vì hành đạo tại một tổ đường Tỳ Ni Ða Lưu Chi mà thiền sư Thường Chiếu đã thu thập được nhiều tài liệu để bổ túc cho tập sử liệu Phật Giáo do thiền sư Thông Biện để lại hiện có trong tay ông. Ngoài công việc đó. Thường Chiếu còn viết thêm một tài liệu Phật Giáo khác lấy tên là Nam Tông Tự Pháp Ðồ. Còn tập sử liệu kia sau này trở thành sách Thuyền Uyển Tập Anh. Cả hai tài liệu này ông đã trao lại cho đệ tử là Thàn Nghi. Tại chùa Lục Tổ, số môn đồ đến thụ giáo với Thường Chiếu càng ngày càng đông đảo.

 

SỰ QUAN TRỌNG CỦA TÂM HỌC

 

Thường Chiếu chủ trương sự tu học chứng ngộ cần được căn cứ trên một nền tâm học vững chãi mới có thể thành tựu được. Ông nói: “Người tu đạo nếu biết rõ về tâm minh thì sẽ phí sức ít mà dễ thành công. Người tu đạo nếu không biết gì về tâm mình thì sẽ phí sức ít mà dễ thành công. Người tu đạo nếu không biết gì về tâm mình thì phí công vô ích”. Thấy được tâm mình là ở đây là thấy được sự liên hệ giữa chủ thể và đối tượng nhận thức. Tâm học ở đây có nghĩa gần như tâm lý học, đó là Duy thức học. Một vị đệ tử Thường Chiếu câu hỏi sau đây: “Khi chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức xúc tiếp nhau thì sự việc xảy ra thế nào?” (Vật ngã phan duyên thời như hà?). Thường Chiếu đáp, trong tinh thần chính thống của Duy Thức học: “Khi ấy, cả chủ thể và đối tượng nhận thức không còn. Tâm thức của ta vô thường, thay đổi sinh diệt từng sác na, thì làm sao có một chủ thể thường tại mà tiếp xúc với đối tượng? Tuy vậy, sinh là các hiện tượng sinh, diệt là các hiện tượng diệt; còn đối tượng chứng ngộ thì không bao giờ sinh diệt”(Vật ngã lưỡng vong! Tâm tính vô thường, dị sinh dị diệt, sát-na bất đình, thùy thị phan duyên? Sinh vi sinh vật, diệt vi diệt vật, bỉ pháp sở đắc thường vô sinh diệt).

 

ÐỐI TƯỢNG CHỨNG ÐẮC

 

Trong câu nói trên, Thường Chiếu cho ta thấy rằng sự chứng đạo không phải được thực hiện trên liên hệ chủ thể và đối tượng của nhận thức, bởi cả hai đều sinh diệt không ngừng. Nếu sự chứng đắc mà cũng sinh diệt như thế đâu có sự chứng đắc. Cho nên đừng tìm quả vị giác ngộ như một đối tượng nhận thức; quả vị giác ngộ phải được thực hiện ngay trong tự thể của tâm. Mọi tìm cầu bên ngoài đều vô hiệu.

 

Ðiều này còn rõ ràng hơn nữa khi Thường Chiếu trả lời một người đệ tử hỏi về pháp thân.

 

Thân tuy sống trên đời

Tâm là như lai tạng

Chiếu rạng cả mười phương

Nhưng tìm thì biệt dạng.

 

(Tại thế vi nhân thân

Tâm vi như lai tạng

Chiếu diệu thả vô phương

Tầm chi cánh tuyệt khoáng)

 

Pháp thân hay tự tính giác ngộ vốn hiện hữu tràn đầy: biết mở con mắt vô phân biệt mà nhìn thì sự thực chứng được hiện hữu tràn đầy đó. Nhưng nếu có chủ định đi tìm nó như một đối tượng thì tự nhiên nó biệt tăm biệt dạng. Một hôm một đệ tử là cư sĩ Thông Sư hỏi ông: “Làm sao chứng đắc được Phật pháp?”. Thường Chiếu trả lời: “Phật pháp không thể chứng đắc được. Chư Phật đều đã tu học trên căn bản chư pháp bất khả đắc ấy”.

 

TÙY TỤC

 

Khi ông gần mất,vị đệ tử lớn là Thần Nghi hỏi: “Những nhân vật như sư phụ mà khi thời tiết đến cũng phải tùy tục chết đi như vậy như người thường sao?”, Thường Chiếu hỏi; “Ngươi thấy được ai là kẻ không tùy tục nào?”. Thần Nghi:” Bồ Ðề Ðạt Ma là một. Ông ta không chết mà chỉ lướt biển trở về Ấn Ðộ”. Thường Chiếu: “Ðó chỉ chẳng qua là chó sủa bóng thôi”. Thần nghi hỏi: “Vậy hòa thượng có tùy tục không?”. Thường Chiếu nói: “Ta cũng tùy tục”. Thần Nghi hỏi: “Tại sao lại như thế?” Thường Chiếu trả lời: “Ðể cho giống với kẻ khác”, nhờ câu này mà Thần Nghi tỉnh ngộ.

 

Sau này Thần Nghi hỏi thầy: ” Con ở với hòa thượng đã nhiều năm, nhưng chưa biết thủ truyền của tông phái ta là ai, xin ngài chỉ dạy thứ bực truyền thừa để kẻ hậu học biết được nguồn gốc”. Thường Chiếu liền lấy tập tài liệu lịch sử của Thông Biện biên tập và bản ghi chép các tông phái cùng những thế hệ truyền thừa trao cho Thần Nghi. Thần Nghi xem qua hỏi: “Tại sao hai hệ phái Ðại Ðiên và Bát Nhã không được chép vào đây?”. Thường Chiếu: ” Ðó là ý của Thông Biện. Thông Biện đã nghĩ kỹ nên mới quyết định như thế”.

 

Sau này Thần Nghi trao lại các tài liệu lịch sử Phật Giáo trên cho đệ tử là Ẩn Không.

 

Thường Chiếu có ba người đệ tử xứng đáng: Thiền sư Hiện Quang người sẽ khai sơn thiền phái Yên Tử đời Trần: thiền sư Thần Nghi, người đã truyền lại tài liệu lịch sử Phật Giáo Việt Nam; và cư sĩ Thông Sư, người đã đào tạo nên thiền sư Tức Lự. Thường Chiếu có công nhiều trong việc dung hợp ba thiền phái phát triển đời Lý và thâu thập nhiều tài liệu về các thiền phái này. Tiếc rằng Nam Tông Tự Pháp Ðồ hiện nay chưa tìm ra được. Có lẽ tác phẩm này mất hẳn. Ông là người có đạo học uyên thâm. Bài kệ ông đọc trước lúc lâm chung biểu lộ được phong thái của người đã giải thoát, tìm thấy rằng thực hữu tràn đầy kia không nơi đâu và không lúc nào không phải là quê hương mình:

 

Ðạo vốn không nhan sắc

Mà ngày càng gấm hoa

Trong ba ngàn cõi ấy

Ðâu chẳng phải là nhà?

 

(Ðạo bản vô nhan sắc

Tân tiên nhật nhật khoa

Ðại thiên sa giới ngoại

Hà xứ bất vi gia?)

 

VỊ TỔ KHAI SƠN PHÁI YÊN TỬ: HIỆN QUANG THIỀN SƯ (mất 1220)

 

Vị tổ khai sơn chùa Hoa Yên ở núi Yên Tử là thiền sư Hiện Quang, đệ tử của thiền sư Thường Chiếu chùa Lục Tổ. Nhưng Hiện Quang không phải chỉ là người truyền thừa tông chỉ của Thường Chiếu phái Vô Ngôn Thông. Ông còn học với thiền sư Trí Thông chùa Thánh Quả và thiền sư Pháp Giới ở núi Uyên Trừng, phủ Nghệ An nữa. Ta không rõ thiền sư Trí Thông và Pháp Giới thuộc giáo hệ nào, ta chỉ biết ảnh hưởng của họ trên thiền sư Hiện Quang có thể còn quan trọng hơn cả ảnh hưởng của Thường Chiếu, bởi lúc Thường Chiếu viên tịch thì Hiện Quang mới có hai mươi mốt tuổi, chưa thọ tỳ kheo giới và “chưa kịp có thì giờ suy cứu về tông chỉ thiền môn” (Thuyền Uyển Tập Anh ).

 

Sau khi Thường Chiếu viên tịch, Hiện Quang thấy sức học của mình về thiền kém cỏi quá, tự than rằng: ta cũng như đứa con của đại phú gia, khi cha mẹ còn sống thì không biết trong nhà đầy châu báu, khi cha mẹ chết thì trở nên bần cùng nghèo khổ”. Hiện Quang liền đi chu du trong giới thiền lâm để cầu tham học, gặp được thiền sư Trí Không chùa Thánh Quả nhờ một câu nói của ông này mà tâm tư khai sáng. Hiện Quang dáng người và vẻ mặt thanh tú, giọng nói êm ái. Vì Hoa Dương công chúa hay lui tới cúng dường nên ông bị người ta nói ra nói vào. Do đó ông bỏ vào núi Uyên Trừng theo Pháp Gới thiền sư, thọ giới tỳ kheo để tu học. Ông nói: “Nếu ta không lấy nhẫn nhục làm áo giáp và tinh tấn làm khí giới, thì ta không thể nào phá được ma quân phiền não và đạt được quả giác ngộ vô thượng”. Sau một thời gian tu học tại đây, không muốn nhận cúng dường của tín thí nữa, ông vào rừng sống trong mười năm. Về sau, ông vào núi Từ Sơn làm am cư trú. Ði kinh hành trong rừng ông mang theo bao vải; đến nơi thích hợp ông trải bao ra ngồi thiền, loài dã thú thấy ông không hề xúc phạm. Vua Lý Huệ Tông nghe tiếng cho người đi mời ông. Ông cho đệ tử trả lời như sau: “Bần đạo sinh trên đất của vua, ăn lộc của vua, ở trong núi thờ Phật đã lâu năm, công đức chưa thành tựu, rất lấy làm hổ thẹn. Nay nếu về thăm vua, thì chẳng có ích gì cho việc trị an của vua mà lại còn bị chúng sinh bài báng. Huống chi bây giờ Phật pháp đang hưng thịnh, các bậc sư tượng trong đạo nhiều người đang tụ tập ở kinh đô diện các, một ông thầy tu thô lậu áo drách trong núi về kinh làm gì?”. Nói rồi quyết không xuống núi. Không biết Hiện Quang đến khai sơn Yên Tử năm nào. Một hôm có một vị tăng hỏi ông; “Hòa thượng lâu này làm gì trong núi?” Ông đáp:

 

Theo Hứa Do người cũ

Ðâu biết mấy xuân rồi?

Vô vi nơi khoáng dã

Làm người tự tại thôi!

 

(Ná dĩ Hưa Do đức

Hà tri thế kỷ xuân?

Vô vi cư khoáng dã

Tiêu diêu tự tại nhân)

 

Năm 1220, tức năm Tân tỵ, niên hiệu Kiến Gia thứ 11, thiền sư ngồi trên một phiến thạch đọc một bài kệ sau đây trước khi tịch:

 

Pháp huyễn đã là huyễn

Tu huyễn cũng là huyễn

Lìa được hai huyễn ấy

Là lìa được mọi huyễn

 

(Huyễn pháp giai thị huyễn

Huyễn tu giai thị huyễn

Nhị huyễn giai bất tức

Tức thị trừ chư huyễn)

 

Là tổ khai sơn chàu Hoa Yên núi Yên Tử, Hiện Quang được xem nhưa là người đích thực sáng lập truyền thống Yên Tử. Truyền thống này sau lấy tên là Trúc Lâm. Trần Nhân Tông, thuộc thế hệ thứ sáu phái Yên Tử, lấy hiệu là Trúc Lâm đầu đà.

 

TRÚC LÂM QUỐC SƯ

 

Sách Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư gọi vị thiền sư trên núi Yên Tử mà Thái Tông lên tham yết là Phù Vân, bạn cũ của Thái Tông. Ðiều này sợ sai, bởi vì Phù Vân là hiệu của thiền sư Tĩnh Lự, thuốc thế hệ thứ 10 của thiền phái Yên Tử, đệ tử của thiền sư An Tâm, trù trì chùa Hoa Yên. Trong bài tựa Thiền Tông Chỉ Nam, Thái Tông chỉ gọi vị thiền sư núi Yên Tử là Trúc Lâm đại sa môn, tôn xưng là quốc sư, mà không bao giờ gọi là ông Phù Vân quốc sư. Vị thiền sư này là đệ tử của Hiện Quang, mà theo Thuyền Uyển Tập Anh có pháp danh là Ðạo Viên; sách Thánh Ðăng Lục, sách Yên Tử Sơn Trúc Lâm Trần Triều Thiền Tông Bản Hạnh và tài liệu truyền thừa chùa Hoa Yên (theo hòa thượng Phúc Ðiền) đều nói tên thiền sư là Viên Chứng. Viên Chứng hay Ðạo Viên hay Trúc Lâm quốc sư cũng là một người. Thiền sư Hiện Quang tich năm 1220, lúc vua Thái Tông mới lên 3 tuổi, thành thử Hiện Quang không phải là người vua gặp trên núi. Ðạo Viên thiền sư làm lễ an táng thầy trên núi Yên Tử; năm thầy mất, Ðạo Viên ít ra cũng 20 tuổi. Nói Ðạo Viên là bạn cũ của Thái Tông e cũng không đúng, bởi vì hồi tám tuổi Thái Tông đã làm vua. Hơn nữa, trong bài tựa Thiền Tông Chỉ Nam, Ðạo Viên đã dùng tiếng lão tăng để tự chỉ mình. Sách Trần Triều Thiền Tông Bản Hạnh cũng nói Ðạo Viên là “lão tăng thầy già”. Vậy liên hệ giữa hai người là liên hệ thầy trò mà không phải là bạn hữu.

 

Vào khoảng năm 1248, Trúc Lâm có xuống kinh sư theo lời mời của vua Thái Tông để kiểm điểm lại các bộ kinh và lục trước khi đem khắc bản gỗ để ấn loát phát hành. Vua Thái Tông thỉnh ông ở lại chùa Thắng Nghiêm, tôn xưng là quốc sư. Vua cũng trình ông một tác phẩm ông vừa mới viết tên là Thiền Tông Chỉ Nam. Ông khen ngợi và khuyên nên khắc bản để in luôn trong dịp ấy.

 

Năm 1236 khi vua Thái Tông bỏ lên núi Yên Tử định đi tu, Trúc Lâm quốc sư hỏi vua muốn tìm gì mà lên núi. Vua nói chỉ muốn đi tìm thành Phật. Ông nói: “Trong núi vốn không có Phật, Phật ở trong tâm ta. Nếu tâm ta lắng lại và trí tuệ xuất hiện thì đó chính là Phật. Nếu bệ hạ giác ngộ được chân lý ấy thì tức khắc thành Phật ngay tại chỗ, không phải đi tìm cực nhọc bên ngoài (bài tựa Thiền Tông Chỉ Nam).

 

Khuyên Thái Tông trở về nhậm nhiệm vụ trị dân, thiền sư nói: “Ðã làm vua thì không còn có thể theo ý thích riêng mình nữa. phải lấy ý muốn của dân làm ý muốn của mình; phải lấy lòng dân làm lòng của mình. Nay dân muốn vua về mà vua không về thì làm sao được?” Thiền sư buộc vua trở về với bổn phận bằng một lý luận đanh thép. Nhưng ông an ủi: tuy vậy, vua vẫn có thể làm nghề trị dân vừa tu học Phật pháp. Thiền ân cần dặn vua đừng quên học Phật và tham thiền.

 

Không biết sau khi hoàn tất việc in kinh, Trúc Lâm quốc sư có lưu lại kinh sư một thời gian trước khi về núi hay không. Ảnh hưởng của ông không những lớn lao trên sự tu học của Trần Thái Tông mà trên nhiều mặt khác nữa. Ít ra ông ông cũng đã đóng góp về phương diện văn hóa trong việc san định và ần hành kinh lục, và đã cống hiến cho đời thêm một vị đệ tử xuất sắc là Ðại Ðăng quốc sư người đã ảnh hưởng nhiều tới tư tưởng thiền phái Trúc Lâm sau này.

 

ÐẠI ÐĂNG QUỐC SƯ

 

Ðại đăng quốc sư thuộc thế hệ thứ ba truyền thống Yên Tử, anh em đồng sư với Trần Thái Tông. Hiện ta không có tài liệu nào về tư tưởng và thi văn của Ðại Ðăng. Ta chỉ biêt theo Thánh Ðăng Lục và Trần Triều Thiền Tông Bản Hạnh rằng tuy tiếp nhận truyền thừa phái Yên Tử nhưng ông cũng tiếp nhận truyền thừa Lâm Tế do thiền sư Thiên Phong từ Trung Hoa đưa qua. Thiên Phong từ Chương Tuyên đến, thuộc về thiền phái Lâm Tế. Huệ Nguyên trong bài Lược Dẫn Thiền Phái Ðồ in ở đầu sách Thượng Sĩ Ngữ Lục nói rằng Thiên Phong là cư sĩ. Trần Triều Thiền Tông Bản Hạnh¸, nói ông là “thầy nước ngoài” và trí tuệ cao tài kinh lịch chư bang”. Khi Thiên Phong đến Việt Nam, vua Thái Tông nghe tiếng liền mời đến viện Tả Nhai, hội họp các bậc thiện tri thức lại để cdùng tham học. Trong số những bậc “Kỳ Ðức” tham dự các buổi học tập này chắc chắn đã có Ðại Ðăng. Lúc này Ðại Ðăng đã được Trúc Lâm quốc sư gửi về kinh thành hành đạo. Trong số những người nghe Thiền Phong giảng đạo. Ðại Ðăng là người được Thiên Phong chính thức truyền cho tâm ấn. Một trong những đệ tử xuất sắc của Ðại Ðăng là Liễu Minh quốc sư.

 

TIÊU DIÊU THIỀN SƯ

 

Tiêu diêu thiền sư thuộc thế hệ thứ tư truyền thống Yên Tử. Ông là học trò Ðại Ðăng, đồng thời cũng đắc pháp với thiền sư Ứng Thuận của thiền phái Vô Ngôn Thông. Cùng học Ứng Thuận trong thế hệ ông còn có các thiền sư Giới Minh, Giới Viên và Nhất Tông quốc sư. Tiêu Diêu là thầy của Tuệ Trung thượn sĩ, một trong những cây đuốc sáng nhất của thiền học đời Trần.

 

Huệ Nguyên, người san định sách Thượng Sĩ Ngữ Lục năm 1763, nói rằng Tiêu Diêu, thầy của Tuệ Trung, là người Trung Hoa qua Việt Nam truyền đạo. Sự thực thì không phải thế. Tiêu Diêu là người Việt Nam, đẹ tử của Ứng Thuận phái Vô Ngôn Thông, đồng thời cũng là người thừa kế thiền sư Ðại Ðăng, tổ thứ bachùa Hoa Yen núi Yên Tử. sự kiện Tiêu Diêu đắc pháp với Ứng Vương được nói đến trong Thuyền Uyển Tập Anh, nhưng Huệ Nguyên không được đọc tác phẩm này. chính vì mặc cảm cho rằng tổ sư Trung Hoa mới giỏi và mới chính thống nên ông đã cho rằng Tiêu Diêu, thầy của Tuệ Trung phải là người Tàu. Không được đọc Thuyền Uyển Tập Anh nên trong bài Lược Dẫn Thiền Phái Ðồ (đầu trang Thượng Sĩ Ngữ Lục) ông đã viết những giòng mơ hồ sau đây về thiền phái Vô Ngôn Thông: “Thiền phái truyền vào nước ta không biết người nhận lãnh đầu tiên là ai, chỉ biết Thiền Nguyệt truyền cho Nguyễn Thái Tông rồi lần xuống Ðịnh Hương trưởng lão, Viên Chiếu, Ðạo Huệ, sau đó còn lần lượt trao truyền, nhưng tên tuổi các ngài lúc ẩn, lúc hiện khó nhận ra manh mối”. Ta thấy Huệ Nguyên nhắc đến tên một số các vị thiền sư phái Vô Ngôn Thông nhưng không biết gì về nguyên ủy của thiền phái này.

 

Thiền sư Tiêu Diêu còn được gọi là Phúc Ðường đại sư, cư trú ở Phúc Ðường tịnh xá. Không biết tịnh xá này ở đâu. Có thể là trên núi Yên Tử. Tuệ Trung thượng sĩ có một bài thơ “Lên thăm thiền sư Tiêu Diêu ở Phúc Ðường tịnh xá” và một bài thơ “Cảnh vật Phúc Ðường” trong đó có câu “Thả hỷ lâm thâm thoại thú tàng” (vui chốn rừng sâu trong đó có ẩn nhiều loại thú lành). Tụe Trung là một tay cự phách trong rừng thiền nhưng đối với thiền sư Tiêu Diêu rất mực cung kinh khâm phục. Trong bài “Lên Thăm Thiền Sư Tiêu Diêu ở Phúc Ðường” ông nói:

 

Cho hay Phật sống trần gian đấy

Sen nở trên lò rực lửa hồng.

 

(Tu tri thế hữu nhân trung Phật

Hưu quái lô khai hỏ lý liên)

 

Tuy Huệ Tuệ là pháp tử chính thức của Tiêu Diêu, trù trì chùa Yên Tử, nhưng chính Tuệ Trung thượng sĩ mới là học trò xuất sắc nhất của Tiêu Diêu vậy. Nhưng trước khi nói đến Tuệ Trung, ta hãy nói đến Trần Thái Tông và sự nghiệp Phật học của vua này.

________________

Việt Nam Phật Giáo Sử Luận

Nguyễn Lang

CÓ PHẢI GS. NGUYỄN HUỆ CHI TÌM RA TÊN CỦA TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ LÀ TRẦN TUNG?

Nguyễn Huệ Chi tìm ra Trần Tung sau Nguyễn Lang 4 năm, từ 1973 đến 1977. Sau năm 1975, đất nước thống nhất, giới nghiên cứu KHXH miền Bắc đã dễ dàng được tiếp xúc với các tài liệu và thành quả nghiên cứu ở miền Nam. Chuyện Nguyễn Huệ Chi có thể đã có cuốn “Việt Nam Phật giáo sử luận” của Nguyễn Lang và biến kết quả của thiền sư thành của mình là điều hoàn toàn có thể xảy ra.

 

Tuệ Trung Thượng Sĩ (1230-1291) là một nhân vật lịch sử nổi tiếng thời Trần, người đã từng 2 lần tham gia cầm quân trong cuộc kháng chiến đánh bại quân Nguyên Mông. Ông cũng là thầy dạy, người dẫn dắt vua Trần Nhân Tông đến cửa Thiền và đặt nền móng cho sự phát triển của Thiền phái Trúc Lâm ở thế kỉ XIII-XIV.

 

Với giới nghiên cứu văn học sử đây còn là một trường hợp đặc biệt vì trong nhiều thế kỉ tên thật của Tuệ Trung Thượng Sĩ đã không được xác định đúng. Ngay Bùi Huy Bích (1744-1818) cũng đã nhầm ông thành Trần Quốc Tảng, con thứ của Trần Hưng Đạo. Năm 1973, nhà nghiên cứu Nguyễn Lang (thiền sư Thích Nhất Hạnh) trong cuốn Việt Nam Phật giáo sử luận (NXB Lá bối)[1] công bố việc ông đã xác định được Tuệ Trung Thượng Sĩ chính là Trần Quốc Tung, anh cả chứ không phải là Trần Quốc Tảng con lớn của Trần Hưng Đạo. Ông đã cung cấp đầy đủ những biện lý chứng minh cho điều phát hiện của mình.

 

Năm 1977, tức 4 năm sau, trong Thơ văn Lý – Trần (quyển 1, trang 113-115, Phần khảo luận)[2] và trong bài viết Trần Tung một gương mặt lạ trong làng thơ Thiền thời Lý – Trần[3] Nguyễn Huệ Chi công bố mình đã độc lập tìm ra Trần Tung (bớt một chữ Quốc) chính là Tuệ Trung Thượng Sĩ. Nếu đúng Nguyễn Huệ Chi tự mình tìm ra Trần Tung thì việc này xảy ra sau 4 năm. Có lẽ, chính vì vậy mà Nguyễn Huệ Chi cũng cảm thấy dư luận sẽ có những nghi ngờ nên ông đã chủ động nhắc tới Nguyễn Lang và rào đón:

 

“Tuy vậy, cho đến nay, dư luận bạn đọc vẫn phân vân nửa tin nửa ngờ. Có người còn cho là quá táo bạo và lạ lẫm. Chúng tôi rất hiểu tình thế khó khăn là phải làm sao chiến thắng được một tâm lý quen thuộc vốn đã gắn quá chặt bộ Thượng Sĩ ngữ lục cũng như những sợi dây tinh thần giữa Thiền phái Trúc Lâm với cái tên Trần Quốc Tảng”[3]

 

Dư luận có những ngờ vực cũng là điều dễ hiểu. Một mặt, chưa biết thực hư thế nào nhưng Nguyễn Huệ Chi là người dính líu đến nhiều vụ lình xình và bị không ít người chất vấn về đạo đức khoa học, liêm chính học thuật. Mặt khác, Nguyễn Huệ Chi tìm ra Trần Tung sau Nguyễn Lang 4 năm, từ 1973 đến 1977. Sau năm 1975, đất nước thống nhất, giới nghiên cứu KHXH miền Bắc đã dễ dàng được tiếp xúc với các tài liệu và thành quả nghiên cứu ở miền Nam. Chuyện Nguyễn Huệ Chi có thể đã có cuốn “Việt Nam Phật giáo sử luận” của Nguyễn Lang và biến kết quả của thiền sư thành của mình là điều hoàn toàn có thể xảy ra. Thêm nữa, nếu như phát hiện ra Trần Tung là Tuệ Trung Thượng Sĩ thì đó là một phát hiện khoa học cực kỳ chấn động. Lẽ nào một người nhạy bén như Nguyễn Huệ Chi trong suốt gần 10 năm từ 1968 (khi đọc sách “Cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông” của Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm) đến 1977 khi “Thơ văn Lý – Trần” tập 1 được ra đời, lại không công bố bất cứ bài viết nào của mình trên các tạp chí khoa học, mà gần gũi nhất là Tạp chí Văn học? Chính vì vậy, bạn đọc có quyền nghi ngờ và một số người đã nêu lên nghi ngờ này. Tuy nhiên, nghi ngờ mới chỉ là giả thiết, chưa được chứng minh một cách đầy đủ.

 

Tháng 10-2013, trong bài Đôi điều gửi tới GS Nguyễn Huệ Chi[4] đăng trên Tuần báo Văn Nghệ, nhà phê bình Nguyễn Hòa đã dẫn lại và so sánh 2 đoạn văn bản: một trích từ Thượng Sĩ hành trạng (Tuệ Trung Thượng Sĩ ngữ lục) của Trần Nhân Tông, một từ Trần Tung một gương mặt lạ trong làng thơ Thiền thời Lý – Trần in trong Văn học cổ cận đại Việt Nam – Từ góc nhìn văn hóa đến các mã nghệ thuật của Nguyễn Huệ Chi và ông Nguyễn Hòa viết:

 

“Không khó để thấy hai đoạn văn trên đây na ná nhau, từ diễn giải đến sự kiện và tư liệu, riêng đoạn của GS Nguyễn Huệ Chi có “thêm mắm thêm muối, vẽ rắn thêm chân” nên dài dòng hơn. Vì GS Nguyễn Huệ Chi sử dụng tài liệu từ Thượng Sĩ hành trạng của Trần Nhân Tông mà không cho biết rõ xuất xứ, nên ở đây có một câu hỏi cần đặt ra: GS Nguyễn Huệ Chi “đạo văn” hay “phóng tác” từ tác phẩm của Trần Nhân Tông nhưng lờ đi, không nói rõ nguồn gốc, hoặc ông bắt chước Nguyễn Lang (đoạn của Nguyễn Lang khá dài nên không dẫn lại, có thể tìm đọc trong: Việt Nam Phật giáo sử luận, tập 1, NXB Lá bối, SG.1973, từ tr.276 đến tr.279; và Việt Nam Phật giáo sử luận, NXB Văn học, H.2008, từ tr.256 đến tr.258), rất mong GS Nguyễn Huệ Chi tường minh vấn đề này”.

 

Với những nghi vấn của Nguyễn Hòa, Nguyễn Huệ Chi im tiếng không trả lời. Thay vào đó tháng 11, tác giả Đặng Văn Sinh đã có bài trả lời: Giáo sư Huệ Chi “đạo văn” hay là nhà phê bình Nguyễn Hoà vu khống?[5]. Đặng Văn Sinh đã bảo vệ Nguyễn Huệ Chi bởi những lập luận sau:

 

1) Ông trích dẫn đoạn văn trong Thượng Sĩ hành trạng của Trần Nhân Tông (bản dịch của Đỗ Văn Hỷ – Nguyễn Huệ Chi dịch, Thơ văn Lý – Trần, tập II, Q. thượng, NXB Khoa học xã hội, H. 1989) và đoạn văn trong Tuệ Trung Thượng Sĩ của Nguyễn Lang (Việt Nam Phật giáo sử luận, phần Tuệ Trung Thượng Sĩ, NXB Lá bối, Sài Gòn, 1973; langmai.org, chương 11) rồi viết: “Xin hỏi ông Nguyễn Hòa nghĩ gì khi học giả Nguyễn Lang cũng tóm lược câu chuyện về Tuệ Trung từ một gốc “Thượng Sĩ hành trạng” của Trần Nhân Tông hệt như học giả Nguyễn Huệ Chi chứ đâu có gì khác? Hay là người này đã tóm lược rồi thì người kia mà “tóm” nữa ắt bị coi là… “đạo văn”?”. Logic của Đặng Văn Sinh là: 2 người cùng tóm lược từ một văn bản gốc “Thượng Sĩ hành trạng” của Trần Nhân Tông thì chuyện có những điều giống nhau là bình thường, không thể nói Nguyễn Huệ Chi đạo văn của Nguyễn Lang.

 

2) Kể lại việc Nguyễn Huệ Chi đã “Huy động rất nhiều tài liệu, sự kiện rồi dùng phương pháp loại suy để chứng minh Tuệ Trung Thượng Sĩ là Trần Quốc Tung, chứ không phải là Trần Quốc Tảng”.

 

3) Trả lời cho “dấu hỏi nghi ngờ” của Nguyễn Hòa: “bản thảo Thơ văn Lý – Trần hoàn thành vào cuối năm 1973, đưa vào nhà in năm 1974 nhưng mãi đến năm 1977 mới ra mắt bạn đọc, vậy trong khoảng thời gian ba năm ấy, ai dám chắc nhóm biên soạn không sửa chữa, bổ sung tư liệu?” Đặng Văn Sinh dẫn lại đoạn văn kể của Nguyễn Huệ Chi trong bài Những năm tháng với Phong Lê[6] để chứng minh cho việc Thơ văn Lý – Trần, tập 1 in xong năm 1977, nhưng thực ra đã hoàn thành từ năm 1974, quá trình in bị kéo dài mất 4 năm.

 

Về lập luận 1, tôi sẽ bàn ở phần tiếp theo trong bài viết này. Trước hết tôi xin nói qua về 2 lập luận sau của Đặng Văn Sinh. Ở lập luận thứ 2, ông Đặng Văn Sinh quên mất một điều: tìm ra Trần Tung và chứng minh Tuệ Trung Thượng Sĩ chính là Trần Tung là 2 bài toán hoàn toàn khác nhau! Tìm ra Trần Tung (Trần Quốc Tung) sau hàng trăm năm nhầm lẫn là một đóng góp có giá trị lớn và khó hơn nhiều so với việc sau khi đã biết thân nhân ông là ai, chứng minh để khẳng định điều đó. Việc chứng minh có lẽ không phải là khó khăn lắm đối với người nghiên cứu lịch sử và văn học cổ trung đại Việt Nam. Đấy là chưa nói, bản thân Nguyễn Lang cũng đã đưa ra những biện lý chứng minh cho điều phát hiện của mình. Về lập luận thứ 3, có lẽ chẳng cần phải bàn nhiều. Lấy những lời kể lể không có chứng minh, không thể kiểm tra của người bị cáo buộc để bảo vệ cho “thân chủ” hoàn toàn không có giá trị.

 

Quay lại về lập luận 1.

 

Lập luận của Đặng Văn Sinh nếu đọc thoáng qua nghe có vẻ có lí, nhưng thực tình không phải như vậy! Tôi sẽ giải thích tại sao.

 

Ở đây chúng ta có 4 văn bản chứ không phải 3 (Thượng Sĩ hành trạng của Trần Nhân Tông và 2 đoạn văn của Nguyễn Lang và Nguyễn Huệ Chi). Xin liệt kê lại đây:

 

- Vb1: Thượng Sĩ hành trạng (Thượng Sĩ ngữ lục) của Trần Nhân Tông (1258-1308), bản gốc chữ Hán[7].

 

- Vb2a: Thượng Sĩ hành trạng, bản dịch nghĩa (Nguyễn Hòa dẫn bản dịch lấy từ sách Tuệ Trung Thượng Sĩ ngữ lục với Lời đầu sách của Hòa thượng Thích Thanh Từ) [8].

 

- Vb2b: Thượng Sĩ hành trạng, bản dịch nghĩa (Đặng Văn Sinh dẫn bản dịch của Đỗ Văn Hỷ – Nguyễn Huệ Chi trong Thơ văn Lý – Trần, tập II, Q. thượng, NXB Khoa học xã hội, 1989).

 

- Vb3: Đoạn văn của Nguyễn Lang kể lại câu chuyện về Tuệ Trung (trích từ Tuệ Trung Thượng Sĩ, NXB Lá bối, Sài Gòn, 1973).

 

- Vb4: Đoạn văn của Nguyễn Huệ Chi kể lại câu chuyện về Tuệ Trung (trích từ Trần Tung một gương mặt lạ trong làng thơ Thiền thời Lý – Trần. Văn học cổ cận đại Việt Nam -

 

Từ góc nhìn văn hóa đến các mã nghệ thuật. NXB Giáo dục, 2013).

 

Tôi nhắc lại đây cả 2 bản dịch Vb2a và Vb2b là vì Nguyễn Hòa và Đặng Văn Sinh mỗi người dẫn ra một bản trong bài viết của mình.

 

Với các văn bản kể trên ta có những nhận xét sau:

 

- Bản gốc chữ Hán chỉ có thể chuyển tải nội dung, thông tin sang các bản dịch (Vb2a, Vb2b) còn văn phong, câu chữ là do người dịch.

 

- Ngoài bản gốc Thượng Sĩ hành trạng bằng chữ Hán của Trần Nhân Tông, theo trình tự thời gian thì đoạn văn của Nguyễn Lang (năm 1973) có trước bản dịch Vb2b (của Đỗ Văn Hỷ – Nguyễn Huệ Chi) và đoạn văn của Nguyễn Huệ Chi.

 

- Người đi sau có thể đạo văn hay bắt chước người đi trước chứ không thể ngược lại.

 

- Văn bản được tính là gốc để xem xét phải là bản gốc chữ Hán Thượng Sĩ hành trạng của Trần Nhân Tông chứ không phải là các bản dịch của nó.

 

- Vì cùng xuất phát từ 1 gốc (bản chữ Hán) thì văn bản của Nguyễn Lang và Nguyễn Huệ Chi (nếu ông thực sự tìm ra Trần Tung một cách độc lập với Nguyễn Lang) chỉ có thể có những điểm giống nhau về nội dung/thông tin có trong bản gốc chữ Hán của Trần Nhân Tông chứ khó có thể giống nhau về câu chữ, từ ngữ sử dụng. Thêm nữa, những nội dung/thông tin không có trong bản gốc chữ Hán mà có cả trong 2 văn bản của Nguyễn Lang và Nguyễn Huệ Chi sẽ là những dấu hiệu nói lên việc người đi sau đã có và sử dụng văn bản của người đi trước.

 

Để tiện theo rõi, các văn bản: Vb2a, Vb2b, Vb3, Vb4 được dẫn lại ở phần Mục lục 2 phía dưới. Qua phân tích 4 văn bản nói trên ta thu được 4 loại nhận xét sau:

 

- Hai đoạn văn của Nguyễn Lang và Nguyễn Huệ Chi hao hao, từa tựa nhau.

 

- Có 1 chỗ câu chữ trong các đoạn văn của Nguyễn Lang và Nguyễn Huệ Chi giống nhau gần như tuyệt đối.

 

- Có 4 chỗ câu chữ trong các đoạn văn của Nguyễn Lang và Nguyễn Huệ Chi giống nhau gần như tuyệt đối, nhưng khác với trong các bản dịch Vb2a, Vb2b.

 

- Có 3 chỗ trong các văn bản của Nguyễn Lang và Nguyễn Huệ Chi có nội dung/thông tin nhưng không có hoặc khác với trong các bản dịch Vb2a, Vb2b.

 

Để làm ví dụ, tôi dẫn lại khổ đầu trong 2 đoạn văn của Nguyễn Lang (Vb3) và của Nguyễn Huệ Chi (Vb4):

 

“Hồi em gái Tuệ Trung Hoàng hậu Thiên Cảm còn sống, một hôm ông được bà mời vào cung ăn tiệc. Trên bàn có những món mặn và món chay, ông đã gắp thức ăn một cách không phân biệt. Hoàng hậu hỏi: “Anh tu thiền mà ăn thịt cá thì làm sao mà thành Phật được?”. Ông cười đáp: “Phật là Phật, anh là anh; anh không cần thành Phật. Phật không cần thành anh. Em chẳng nghe cổ đức nói “Văn Thù là Văn Thù, giải thoát là giải thoát” đó sao?”

 

(Vb3, Nguyễn Lang).

 

“Một lần, Hoàng hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm, vợ Trần Thánh Tông, mời ông anh Tuệ Trung vào cung ăn tiệc. Trên bàn tiệc có cả cỗ mặn lẫn cỗ chay. Thấy anh mình trong bữa ăn quên cả kiêng khem mà nhúng đũa cả vào cỗ mặn một cách phóng túng, Hoàng hậu khẽ nhắc ông: “Anh tu thiền mà ăn thịt cá thì làm sao thành Phật được?”.

 

Tuệ Trung Thượng Sĩ cả cười đáp:

 

“Phật là Phật, anh là anh; anh không hề muốn làm Phật, Phật cũng không hề muốn làm anh. Em chẳng nghe cổ đức có nói: Văn Thù là Văn Thù, giải thoát là giải thoát, đó sao?”

 

(Vb4, Nguyễn Huệ Chi).

 

So sánh 2 đoạn văn nói trên ta có các nhận xét:

 

- Nhận xét 2. Trong cả 2 văn bản của Nguyễn Lang (Vb3) và của Nguyễn Huệ Chi (Vb4) đều có câu “Em chẳng nghe cổ đức (có) nói “Anh tu thiền mà ăn thịt cá thì làm sao mà thành Phật được?” giống nhau gần như đến từng chữ, từng từ và câu chữ khác với 2 bản dịch (Vb2a, Vb2b). Bình luận: 2 văn bản dựa từ một gốc chỉ có thể giống nhau về nội dung chứ cách hành văn khó giống nhau, nhất là giống nhau đến từng từ, từng chữ như vậy. Khả năng Nguyễn Huệ Chi đạo lại của Nguyễn Lang là rất lớn.

 

- Nhận xét 3. Các câu “Em chẳng nghe cổ đức nói “Văn Thù là Văn Thù, giải thoát là giải thoát” đó sao?” (Vb3, Nguyễn Lang) và “Em chẳng nghe cổ đức có nói: Văn Thù là Văn Thù, giải thoát là giải thoát, đó sao?” (Vb4, Nguyễn Huệ Chi) gần như giống nhau hoàn toàn. Riêng câu “Văn Thù là Văn Thù, giải thoát là giải thoát” thì trong cả 4 văn bản đều giống nhau như đúc. Bình luận: Câu chữ giống nhau gần như tuyệt đối chứng tỏ khả năng Nguyễn Huệ Chi đạo lại của Nguyễn Lang.

 

Thấy gì qua việc phân tích các văn bản?

 

Cả 4 loại nhận xét nói trên (2 đoạn văn hao hao, từa tựa nhau; câu chữ trong các đoạn văn của Nguyễn Lang và Nguyễn Huệ Chi giống nhau gần như tuyệt đối, nhưng khác với các bản dịch; trong các văn bản của Nguyễn Lang và Nguyễn Huệ Chi có nội dung/thông tin nhưng không có hoặc khác với trong các bản dịch) đều nói lên việc người đi sau (Nguyễn Huệ Chi) đạo của người đi trước (Nguyễn Lang). Một nhận xét cũng đã nói đến khả năng khá cao là Nguyễn Huệ Chi đạo văn. Trong 1 đoạn văn ngắn ngoài việc hai văn bản hao hao như nhau, rút ra 8 nhận xét/chỗ như vậy thì xác suất đạo văn gần như là tuyệt đối.

 

Mà việc đạo văn của Nguyễn Huệ Chi cũng đồng nghĩa với việc ông ăn cắp kết quả của Nguyễn Lang và gán cho mình!

 

Sau những phân tích ở trên, liệu các bạn đọc có còn tin là Nguyễn Huệ Chi đã tự mình phát hiện Tuệ Trung Thượng Sĩ là Trần Tung nữa không? Còn tôi, tôi không tin!

 

Hà Nội, tháng 9-2018

 

Boristo Nguyen

(CHLB Nga)

Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 526

——————————-

1) Nguyễn Lang. Việt Nam Phật giáo sử luận. Chương 11: Tuệ Trung Thượng Sĩ. NXB Lá bối, Sài Gòn, 1973 (có thể xem tại trang Langmai.org).

2) Thơ văn Lý – Trần, quyển 1. NXB KHXH, 1977.

3) Nguyễn Huệ Chi. Trần Tung một gương mặt lạ trong làng thơ Thiền thời Lý – Trần. Tạp chí Văn học, số 4, năm 1977. Đăng lại trong tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 3-4, 2014, trang 169-191. 

4) Nguyễn Hòa. Đôi điều gửi tới GS Nguyễn Huệ Chi. Văn nghệ số 41, 2013, trang 16, 24.

5) Đặng Văn Sinh. Giáo sư Huệ Chi “đạo văn” hay là nhà phê bình Nguyễn Hòa vu khống? Forum Diễn Đàn (www.diendan.org). 13-11-2013.

Hoặc có thể đọc trên trang mạng Trần Nhương.

6) Nguyễn Huệ Chi. Những năm tháng với Phong Lê. Talawas, 14-06-2008.

7) Trần Nhân Tông. Thượng Sĩ hành trạng, bản chữ Hán. Thơ văn Lý – Trần, tập 2, quyển Thượng, NXB KHXH, 1989.

8) Trần Nhân Tông. Thượng Sĩ hành trạng trong sách Tuệ Trung Thượng Sĩ ngữ lục với Lời đầu sách của Hòa thượng Thích Thanh Từ. Đã đăng trên Thư viện Hoa sen (thuvienhoasen.org).

THƯỢNG HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG XUẤT GIA

Khi cuộc đấu tranh để bảo vệ hòa bình và gầy dựng cuộc sống ấm no đang trên đà phát triển tốt đẹp thì vua Trần Nhân Tông đã giao lại quyền bính cho con mình là Trần Anh Tông từ tháng 3 năm Qúy Tỡ (1293). Đến tháng 7 năm Giáp Ngọ (1294), Thượng hoàng đi chơi Vũ Lâm và quyết định xuất gia ở đấy, như ĐVSKTT 6 tờ 2b2-4 đã ghi: “Bấy giờ Thượng hoàng đến Vũ Lâm, vào chơi hang đá. Cửa núi đá hẹp. Thượng hoàng ngự chiếc thuyền nhỏ, thái hậu Tuyên Tư ở đuôi thuyền, gọi Văn Túc Vương lên mũi thuyền, chỉ cho một phu chèo thuyền thôi. Đến khi xuất gia, lúc xe vua sắp ra, cho mời Văn Túc vào điện Dưỡng đức cung Thánh Từ ngồi ăn các món hải vị”. 


Vậy thì vào năm Giáp Ngọ (1294) vua Trần Nhân Tông đã xuất gia. Khâm định Việt sử thông giámcương mục 8 tờ 23b1 chép việc xuất gia này vào tháng 6 năm Ất Mùi (1295), sau khi Thượng hoàng đã đi chinh phạt Ai Lao trở về
“Thượng hoàng từ Ai Lao trở vềxuất gia ở hành cung Vũ Lâm, rồi bỗng trở lại kinh sư.”Cương mục như thế, muốn sau khi Thượng hoàng xuất gia, thì không có chuyện cầm quân đi đánh giặc. Tuy nhiên, ta sẽ thấy, sau khi xuất gia, Thượng hoàng có nhiều hoạt động vì dân vì nước. Và những quyết sách của triều đình thường phải đến thỉnh thị ý kiến của Thượng hoàng. Thí dụ điển hình là việc Đoàn Nhữ Hài trước khi đi sứ Chiêm Thành đã tới chờ Thượng hoàng cả ngày tại chùa Sùng Nghiêm ở Chí Linh. Sự kiện Thượng hoàng xuất gia tại núi Vũ Lâm, như thế, đã xảy ra vào năm 1294, như ĐVSKTT cho biết
Vũ Lâm là một trong những thung lũng đẹp thuộc xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh bình ngày nay. Phía đông thung lũng là con sông Ngô Đồng chảy ngang, còn ba phía tây, nam, bắc đều do các núi đá vôi bao bọc. Hiện còn điện Thái Vi thờ vua Trần Thái Tông, vua Trần Thánh Tông và Hoàng thái hậu Hiếu Từ. Điều này chứng tỏ điện Thái Vi do chính vua Trần Nhân Tông dựng nên để thờ ông, cha và mẹ mình. Ba tấm bia hiện còn đọc được tại điện này xác định việc đó. 
Tấm bia thứ nhất có tên Tu tạo Thái Vi cung thần từ thạch bi viết vào ngày 10 tháng 3 năm Vĩnh Thịnh thứ 10 (1715) do dân làng cùng quan viên, hương trưởng của hai giáp Trung và Cật xã Ô Lâm dựng sau khi đã sửa điện xong: “Vào tháng 8 mùa thu năm Giáp Ngọ (1715) dân hai giáp Trung và Cật xã Ô Lâm thấy điện báu nguy nga của triều trước nay đổ nát hư hỏng, bèn dốc lòng cùng nhau sửa chữa (...) 
Điện báu Thái vi  
Dấu xưa lưu truyền  
Triều Trần thánh tổ  
Nhiều đời chuộng thiền  
Khuông phò thế nước  
Giúp giữ dân yên  
(Thái Vi điện bảo  
Cổ tích lưu thông  
Trần triều thánh tổ  
Lịch đại tu sùng  
Khuông phù quốc thế  
Bảo hựu dân trung)
Tấm bia thứ hai cũng do hai giáp Trung và Cật xã Ô Lâm dựng vào năm ấy nhưng sau sáu tháng và có cùng tên, ghi công đức những người đã đóng góp công sửa chữa điện. Hai tấm bia này chỉ khắc hai mặt trước và sau. Còn tấm bia thứ ba thì khắc bốn mặt. Ba mặt ghi công đức. Mặt thứ tư có tên Tu lý Thái Vi điện bi ký ghi rõ là điện này dựng vào năm Bảo Phù nhà Trần, tức những năm 1273 - 1278 và sau đó được liên tục sửa chữavào những năm Quang Hưng Kỷ Sửu (1598) và Bảo Đại Bính Dần (1926). Tấm bia này được khắc vào lần sửa chữa cuối vừa nói. 
Qua bài khắc vào năm Bảo Đại Bính Dần, ta biết điện Thái vi dựng nên vào những năm Bảo Phù. Điều này có nghĩa vua Trần Nhân Tông trước khi lên ngôi vào tháng 10 năm Bảo Phù Mậu Dần (1278) đã biết tới Vũ Lâm. Rồi sau đó, trong cuộc chiến tranh 1285, khi vua phải chỉ huy tập đoàn quân phía nam nhằm chặn đứng những cuộc tấn công của Thoát Hoan từ phía bắc xuống và của Toa Đô từ phía nam lên, có thể vua đã chọn đây làm tổng hành dinh của mình để thực hiện những cuộc họp khẩn cấp và chớp nhoáng, cùng với các danh tướng Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, v.vỢ quyết định các phương lược phòng thủ và phản công. Vũ Lâm do nằm trong vùng Hoa Lư, nên chắc hẳn đã có một địa hình chiến lược. Không những thế, cảnh vật ở đây có một vẻ đẹp hấp dẫn lạ kỳ, như vua đã biểu lộ trong một bài thơ về Vũ Lâm: 
Lòng khe vắt ngược bóng cầu hoa  
Hắt sáng ngoài khe vệt nắng tà  
Lặng lẻ nghìn non rơi lá đỏ  
Như mơ mây đẫm tiếng chuông xa  
(Họa kiều đảo ảnh trám khê hoành  
Nhất mạt tà dương thủy ngoại minh  
Tịch tịch thiên sơn hồng diệp lạc  
Thấp vân như mộng viễn chung thanh)
Tuệ Trung và Thượng hoàng 
Vũ Lâm có một vẻ đẹp như vậy, tới thời điểm ấy, vua Trần Nhân Tông đã chọn nơi đây làm chốn xuất gia của mình. 
Lễ xuất gia như thế nào và ai đứng làm chủ lễ, ngày nay ta không được biết. Nhưng căn cứ Thánh đăng ngữ lụcTrần Nhân Tông đã “tham học với Tuệ Trung Thượng Sĩ, sâu được cốt kỷ của thiền, nên thường lấy lễ thầy mà thờ”. 
Vậy, người truyền tâm ấn cho Thượng hoàng Nhân Tông không ai khác hơn là Tuệ Trung Thượng Sĩdanh tướng đã giải phóng Thăng Long trong cuộc chiến vệ quốc năm 1285 và người đã đi điều đình với giặc ở căn cứ Vạn Kiếp, để cho quân ta có cơ hội tấn công chúng
Vua Trần Nhân Tông lúc còn trẻ đã có sự giáo dục đầy đủ về nhiều loại tri thức khác nhau của thời mình. Và xuất phát từ truyền thống gia đình, vua đã sớm tiếp xúc với giáo lý Phật giáo. Nhưng như chính một bài thơ sau này đã xác nhận, vua cảm thấy mình chưa thâm nhập giáo lý Phật giáo nhiều: 
Niên thiếu hà tằng liễu sắc không  
Nhất xuân tâm tại bách hoa trung  
Như kim kham phá đông hoàng diện  
Thiền bản bồ đoàn khán trụy hồng  
(Tuổi trẻ sao từng hiểu sắc không  
Cả xuân hoa nở ngất ngây lòng  
Đến nay rõ được mặt xuân ấy  
Nệm cỏ giường thiền ngắm rụng hồng)
Khi Tuệ Trung Trần Quốc Tung mất, vua Trần Nhân Tông đã viết tiểu sử của vị thầy đồng thời cũng là ông bác của mình. Nhân lúc viết tiểu sử ấy, vua Trần Nhân Tông đã kể lại kinh nghiệm ngộ đạo của mình như sau: 
 “Trước đây khi ta chưa xuất gia, gặp lúc cư tang Nguyên Thánh mẫu hậu, nhân đó đi mời Thượng Sĩ. Người trao cho hai bộ Ngữ lục của Tuyết Đậu và Dã Hiên. Ta thấy Thượng Sĩ sống rất thế tục, nên sinh ngờ vực, bèn giả bộ ngây thơ lén hỏi: 
‘Chúng sinh quen nghiệp uống rượu ăn thịt, thì làm sao tránh được tội báo’. Thượng Sĩgiải rõ: ‘Giả như có người đứng quay lưng lại, bỗng có nhà vua đi qua sau lưng, người kia bất ngờ ném một vật gì đó trúng vào người vua. Người ấy có sợ chăng? Vua có giận chăng? Như vậy phải biết hai việc không liên quan với nhau’. Bèn mới viết hai bài kệ để chứng tỏ
Vô thường các pháp hành 
Lòng nghi, tội liền sanh 
Xưa nay không một vật 
Chẳng giống cũng chẳng mầm
Lại nói: 
Ngày ngày khi đối cảnh 
Cảnh cảnh từ tâm ra 
Tâm cảnh xưa nay chẳng 
Chốn chốn đều ba la
Ta hiểu ý, chặp lâu mới nói: ‘Tuy là như thế, nhưng tội phước đã rõ thì làm sao’. Thượng Sĩ lại đọc tiếp bài kệ để chỉ bảo
Ăn cỏ với ăn thịt 
Chúng sinh mỗi có thức 
Xuân đến trăm cỏ sinh 
Chỗ nào thấy họa phúc
Ta nói: ‘Chỉ như thế thì công phu giữ sạch phạm hạnh không chút xao nhãng để làm gì’. Thượng Sĩ chỉ cười mà không đáp. Ta lại thỉnh íchThượng Sĩ lại làm thành hai bài kệ, để ấn chứng cho ta: 
Trì giới với nhẫn nhục 
Chuốc tội chẳng chuốc phúc 
Muốn biết không tội phúc 
Chẳng trì giới nhẫn nhục
Lại nói: 
Như người lúc leo cây 
Đang yên tự tìm nguy 
Như người không leo nữa 
Trăng gió làm việc gì.
Lại kín đáo dặn ta: ‘Chớ bảo cho người không đáng’”. 
Quá trình học tập và chứng ngộ Phật giáo dưới sự hướng dẫn của Tuệ Trung Trần Quốc Tung do chính vua Trần Nhân Tông kể lại là như thế. Qua lời kể này, ta thấy hai tác phẩm thiền, mà Tuệ Trung đã giao cho vua đọc. Đó là Tuyết Đậu ngữ lục và Dã Hiên ngữ lục. Bộ ngữ lục của Dã Hiên ngày nay đã mất, và tên tuổi ông không thấy chép trong các tác phẩm thiền Trung Quốc. Chỉ có một bài thơ được ghi lại trong Thiền tông tụng cổ liên châu thông tập 21, tờ 128c5-6 (256a5-6). Do thế, Dã Hiên có khả năng sống vào khoảngnhững năm 900 -1050. Thiền sư Tuyết Đậu chính là Minh Giác Trùng Hiển (980-1052), sống tại núi Tuyết Đậu của Ninh Châu và là đệ tử của Trí Môn Quang Tộ thuộc dòng thiền Vân Môn ở Trung Quốc, và bộ ngữ lục của ông, tức Tuyết Đậu minh giác ngữ lục, rất phổ biến vào thời trước cũng như ngày nay. Thánh đăng ngữ lục ghi lại mấy lần việc giảng Tuyết Đậu ngữ lục tại các thiền đường Việt Nam sau thời vua Trần Nhân Tông
Cũng chính qua đoạn văn trên ta biết thời điểm chứng ngộ của vua, đó là vào mùa xuânnăm Đinh Hợi (1287), khi cả nước đang rầm rộ chuẩn bị lực lượng về mọi mặt để đối phóvới cuộc xâm lược lần thứ ba của quân Nguyên và đó là lúc Nguyên Thánh Thiên Cảm hoàng thái hậu mất, như ĐVSKTT 5 tờ 51b5 đã ghi. Nhân lúc mẹ mình mất, vua Trần Nhân Tông đã đến mời người anh của mẹ là Tuệ Trung Thượng Sĩ Trần Quốc Tung đến dự tang. Vào dịp ấy, đã xảy ra cuộc đối thoại giữa hai người, mà ta vừa dẫn trên, và do chính vua Trần Nhân Tông ghi lại. Tuệ Trung đã ấn chứng cho vua Trần Nhân Tông trong cuộc đối thoại đó. 
Cũng qua cuộc đối thoại ấy, ta thấy cơ sở tư tưởng của Trần Nhân Tông đã hình thành, mà sau này vua đã viết thành văn bản bằng tiếng Việt trong Cư trần lạc đạo phú, làm chỉ nam cho sự phát triển của Phật giáo ít lắm cũng kéo dài tới gần bốn trăm năm sau, tức từ khoảng 1300 cho đến 1695. Đây là một giai đoạn Phật giáo hoàn toàn thế tục, không có sự cách biệt giữa các giới tại gia và xuất gia. Họ sống hòa mình với nhau, thậm chí trong một con người, mà điển hình là Hương Chân Pháp Tính (1470-1550 ?), Thọ Tiên Diển Khánh (1550-1610 ?) và Minh Châu Hương Hải (1628-1715). Họ từng là những người đỗ đạt, gánh vác việc nước việc dân, rồi sau đó giống như vua Trần Nhân Tông, họ đã sống đời một vị xuất gianhư Pháp Tính đã diễn tả qua hai câu thơ của mình: 
Trẻ từng vả đứng khoa danh 
Già lên cõi thọ tìm duềnh Bụt tiên
Cơ sở tư tưởng phát biểu trong đoạn văn trên ta cần phải chú ý, khi đề cập đến nền Thiền học của trường phái Trúc Lâm do vua Trần Nhân Tông gầy dựng. Dù đã xuất giavào tháng 7, tháng 8 năm ấy Thượng hoàng phải cầm quân đi đánh Ai Lao, như ĐVSKTT 6 tờ 3a1-3 đã chép: “Tháng 8 (năm Giáp Ngọ, 1294) Thượng hoàng thân chinh Ai Lao, bắt sống người và súc vật không kể xiết. Trong chiến dịch này, Trung ThànhVương (thiếu tên) làm tiên phong, bị Ai Lao vây, Phạm Ngũ Lão chợt đem quân ập đến, liền giải vây. nhân thế tung quân đón đánh. Giặc thua. 
Cho Ngũ Lão phù bằng vàng”. 
Tiếp phái bộ Lý Hành - Tiêu Thái Đăng 
Đến ngày mồng 1 tháng 2 năm sau, Thượng hoàng lại đứng ra tiếp phái bộ Lý Hành và Tiêu Thái Đăng do Nguyên Thành Tông lên ngôi gửi qua báo về việc bãi binh. Phái bộ này được gửi đi từ tháng 6 năm Chí Nguyên thứ 31 (1294), tức một tháng sau khi Thành Tông lên ngôi, và đến tháng 2 mới đến nước ta. Trong lời tiễn chân Lý Hành và Tiêu Thái Đăng, Trương Bá Thuần cho rằng đây là một chuyến đi khó khăn. Trương Bá Thuần viết: 
“Vì sao bảo là khó? Trước đây đem chỉ dụ đến nước ấy ai chẳng biết đem đại nghĩa vua tôi, cơ họa phúc lợi hại. Nước kia nếu đem lòng sợ ra để mà nghe thì lời nói dễ vào lỗ tai. Nếu nó không nghe thì cứ về báo lại vua, thế là ta đã xong việc ta, còn sử trí thế nào thì quốc gia đã có cách. Nay hai ông vượt mấy nghìn dặm, chỉ mang theo một bức thư, mà phải làm cho nước kia mở lòng tự đổi mới. Chứ nếu cứ vù vù ra đi, rồi vù vù trở về thì ai mà chẳng làm được, đâu cần đến bọn chúng ta. Huống nữa lòng người sau khi lo nhiều, bỗng thấy mình hết có lỗi, thì vui mừng khôn xiết. Nhưng mừng lại là mầm của khinh mạn. Ta nhân nỗi vui của chúng để khiến chúng bỏ lòng trì nghi không quyết để đi theocon đường mới”. 
Thế là khó khăn của phái bộ Lý Hành lần này là đằng sau những yêu sách của vua Nguyên không còn có một bạo lực để thi hành. Và do vì không có bạo lực này, chúng sợ bị Đại Việt khinh thường. Dẫu thế, Thượng hoàng Trần Nhân Tông đã tiếp đãi chúng ân cần, và chắc đây là một trong những cuộc đón tiếp ngoại giao mà Thượng hoàng ưng ýnhất, vì đã thành công, đè bẹp được ý chí xâm lược của kẻ thù, như bài thơ tiễn phái bộ này của Thượng hoàng đãợ thể hiện
Phơi phới Linh Trì ấm tiễn đưa 
Người về khôn cách gió xuân ngừa 
Nào hay sao sứ hai ngôi phúc 
Sáng rọi trời Nam mấy tối mưa 
(Khảm khảm Linh Trì noãn tiễn diên 
Xuân phong vô kế trụ quy tiên 
Bất tri lưỡng điểm thiều tinh phúc 
Kỷ dạ quang mang chiếu Việt thiên)
Khi phái bộ này trở vềò Thượng hoàng đã sai nội viên ngoại lang Trần Khắc Dụng và Phạm Thảo mang thư qua xin Đại Tạng kinh. Lá thư này hiện được chép lại trong An Nam chí lược 6 tờ 80 và Thượng hoàng vẫn đứng tên trong lá thư này. Cũng theo An Nam chí lược thì sau khi nhận được lá thư xin Đại Tạng kinh này, triều đình theo lệnh Nguyên Thành Tổ đã cấp cho ta. Đây có lẽ là bộ Đại Tạng kinh mà sau này Trần Anh Tông đã cho chép tác phẩm Thạch thất mỡ ngữ của Thượng hoàng Trần Nhân Tông vào để lưu hành, như Thánh đăng ngữ lục đã ghi. 
Đến tháng 6 năm đó, ĐVSKTT 6 (1295) tờ 3a7-8 chép: “Thượng hoàng trở về kinh sưxuất gia ở hành cung Vũ Lâm, mà lại trở về vậy”. Việc vua Trần Nhân Tông xuất gia ở Vũ Lâm, như vậy phải từ tháng 7 năm Giáp Ngọ (1294), tức hơn một năm sau khi đã truyền ngôi cho con mình. Khâm định Việt sử thông giám cương mục 8 tờ 23a7 - b1 dưới mục “mùa hạ tháng 6 năm Ất Mùi (1295) Thượng hoàng về đến từ Ai Lao” đã viết: “Thượng hoàng từ Ai Lao về, xuất gia ở hành cung Vũ Lâm, bỗng chốc lại trở về kinh đô”. Thế thì đối với Quốc sử quán triều Nguyễn, đến mùa hè năm Ất Mùi, vua Trần Nhân Tông mới xuất gia
Tuy nhiên, về việc xuất gia ấy, ĐVSKTT 6 tờ 2b4-6 đã kể lại việc Thượng hoàng đi chơi Vũ Lâm vào mùa thu tháng 7 năm Giáp Ngọ (1294) và đã quyết định xuất gia ở đó, nhân thế đã ghi lại việc yêu quý người con của thái sư Trần Quang Khải là Trần Đạo Tải: “Bấy giờ Thượng hoàng ngự đi Vũ Lâm dạo chơi hang đá. Cửa núi đá hẹp, Thượng hoàng đi chiếc thuyền nhỏ, thái hậu Tuyên Từ ở đằng đuôi thuyền, gọi Văn Túc Vương lên đằng mũi thuyền, chỉ cho một phu chèo thuyền mà thôi. Kịp đến khi Thượng hoàng xuất gia, khi Thượng hoàng sắp ra đi, bèn mời Đạo Tải vào điện Dưỡng Đức của cung Thánh Từ, ban cho ngồi ăn đồ biển, làm thơ rằng: 
Chân rùa bóc đỏ mọng 
Yên ngựa nướng vàng thơm 
Sơn tăng giữ giới sạch 
Cùng ngồi chẳng cùng ăn 
(Hồng thấp bác quy cước 
Hoàng hương chá mã an 
Sơn tăng trì tịnh giời 
Đồng tọa bất đồng san)
Sự kiện và bài thơ này, Hồ Nguyên Trừng cũng có chép trong Nam Ông mộng lục. Căn cứ vào cách viết của hai tài liệu đây, rõ ràng bài thơ vùa nêu là của Trần Nhân Tông. Hơn nữa, căn cứ vào nội dung, nhất là câu ‘sơn tăng trì tịnh giới’, thì dứt khoát không thể là của Trần Đạo Tải viết. Trần Đạo Tải có một niềm kính trọng đặc biệt đối với Trần Nhân Tông và việc ông thấy vua Trần Nhân Tông sau khi xuất gia luôn đi bộ, đã thề suốt đờikhông bao giờ đi xe ngựa, thì không bao giờ Trần Đạo Tải dám gọi vua Trần Nhân Tônglà ‘sơn tăng’ (ông sư núi). Chỉ vua Trần Nhân Tông mới tự gọi mình như thế, nhất là khi ta nhớ vua có một sự yêu thích đặc biệt đối với núi rừng, như nhiều bài thơ còn lại đã chứng tỏ. Thế mà ngày nay có một số người đã đem bài thơ này gán cho Trần Đạo Tải một cách sai lầm
Dù đã được ghi nhận là xuất gia ở Vũ Lâm sớm như thế, nhưng đối với Thánh Đăng ngữ lục, thì vua Trần Nhân Tông xuất gia vào “năm Kỷ Hợi Hưng Long thứ 7, tháng 10 bằng cách đi thẳng vào núi Yên Tử, siêng năng tu hành 12 hạnh đầu đà, tự gọi là Hương Vân Đại Đầu Đà, dựng Chi Đề tinh xá, mở pháp độ tăng, người học đến như mây”. 
Có khả năng từ tháng 6 năm Ất Mùi (1295) cho đến tháng 8 năm Kỷ Hợi (1299), Thượng hoàng đã thường ở Vũ Lâm, vì các tư liệu hiện có không ghi bất cứ một hoạt động nào về đạo cũng như đời của Thượng hoàng. Đây có thể là thời gian mà Thánh đăng ngữ lụcghi nhận là Thượng hoàng đang tu tập 12 hạnh đầu đà. Trong Vịnh Vân Yên tự phú trạng nguyên Lý Tải Đạo, lúc này đã trở thành thiền sư Huyền Quang và đang sống với Thượng hoàng ở Yên Tử, đã cho ta thấy cuộc sống hàng ngày của Hương Vân Đại Đầu Đà như thế nào: 
Mặc cà sa, nằm trướng giấy 
Màng chi châu đầy lẫm, ngọc đầy rương 
Quên ngọc thực, bỏ hương giao 
Cắp nạnh cà một vò tương một hũ.
Thật là một cuộc sống giản dị đến mức độ không ai ngờ tới của một vị anh hùng vừa mới chiến thắng oanh liệt kẻ thù và là một vị hoàng đế tài ba. Chỉ đến tháng 5 năm Kỷ Hợi, ĐVSKTT 6 tờ 6a1-b9 môữi ghi việc Thượng hoàng từ Thiên Trường về Thăng Long gặp vua Trần Anh Tông uống rượu say. Thượng hoàng đã đem tất cả triều đình về Thiên Trường. Đến khi tỉnh rượu, nhờ Đoàn Nhữ Hài thảo tờ biểu tạ tội, vua Trần Anh Tông đã cùng Nhữ Hài về Thiên Trường để ra mắt Thượng hoàng, rồi sau đó được tha thứ. Đến tháng 7 năm này, ĐVSKTT 6 tờ 7a6-7 ghi việc dựng am Ngự Dược ở núi Yên Tử. Và tiếp đó nó ghi: “Tháng 8 Thượng hoàng từ phủ Thiên Trường lại xuất gia, vào núi Yên Tử khổ hạnh”. Như thế đến tháng 8 Thượng hoàng lại xuất gia, chứ không phải là tháng 10 như Thánh đăng ngữ lục đã có. 
Khi xuất gia rồi Thượng hoàng đã làm gì, Thánh đăng ngữ lục chép: “Sau ở chùa Phổ Minh ý của phủ Thiên Trường, Thượng hoàng mời đến các danh tăng, mở lớn các trường giảng, trải mấy năm bèn vân du phương ngoại, đến trại Bố Chính, chọn am Tri Kiến để ở”. Thực tế, sau khi chép việc Thượng hoàng vào núi Yên Tử tu khổ hạnh, ĐVSKTT 6 tờ 7a7-8a2 kể tiếp việc vua Trần Anh Tông đến chầu cùng với Quốc Công Trần Quốc Tuấn tại cung Trùng Quang và tránh được việc xăm rồng vào đùi cùng việc vua vi hành bị ném đá và bị Thượng hoàng hỏi. Đến tháng 3 năm Tân Sửu (1301) Thượng hoàng đi chơi các địa phương xa đến Chiêm Thành. Đến tháng 11 năm ấy mới từ Chiêm Thành trở về. Rồi rằm tháng giêng năm Quý Mão (1303) “Thượng hoàng ở phủ Thiên Trường mở pháp hội Vô Lượng ở chùa Phổ Minh bố thí vàng bạc tiền lụa để chẩn cấp cho người nghèo trong thiên hạ và giảng kinh thí giới”, như ĐVSKTT 6 tờ 17a9b2. 
Tất cả những tư liệu này cho thấy sau khi xuất gia lại một lần nữa tại Yên Tử, chắc Thượng hoàng ở đấy một thời gian. Đến tháng 3 năm Tân Sửu (1301), Thượng hoàng đi xuống phía Namvà ở tại am Tri Kiến của trại Bố Chính. 
Tri Kiến theo Ô Châu cận lục quyển 3 tờ 45a5 là nơi đóng cơ quan hành chính của trại Bố Chính: “Tri Kiến là nơi dựng của huyện xưa” (Tri Kiến cổ chi huyện kiến)1. Cho nên, am Tri Kiến chắc là ngôi chùa của lỡ sở Tri Kiến của Bố Chinh. Có thể nói đây là ngôi chùa đầu tiên được biết của vùng đất Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính, mà Lý Thánh Tông đã sát nhập vào bản đồ Đại Việt vào năm 1069 và nay là đất tỉnh Quảng Bình và hai huyện Vĩnh Linh và Gio Linh của Quảng Trị. Vùng đất này chắc hẳn có nhiều chùa khác nữa, nhưng ngày nay ta không biết tên tuổi. Rồi từ trại Bố Chính, Thượng hoàng đã đi sang Chiêm Thành. 

Thượng hoàng đi Chiêm Thành

Việc đi Chiêm Thành này theo Trần Chí Chính trong lời đề từ cho bức tranh Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ có vẻ như là một cuộc vân du của một nhà truyền giáo và đã được vua Chiêm đón tiếp trong tư cách ấy. Trần Chí Chính viết: 
“Có lúc ngài viễn du hóa độ cho các nước lân bang, phía nam đến tận Chiêm Thành, đã từng khất thực ở trong thành. Vua nước Chiêm Thành biết được điều đó, hết sức kính trọng thỉnh mời, dâng cúng trai lễ, sắp sẵn thuyền bè nghi trượng, thân hành tiễn ngài về nước và đem đất hai Châu làm lễ cúng dâng cho ngài. Ấy là Thần Châu, Hóa Châu nay vậy”. 
Tuy nhiên căn cứ trên quan hệ ngoại giao giữa Đại Việt và Chiêm Thành trong giai đoạn Thượng hoàng lãnh đạo đất nước Đại Việt, thí ta có thể chắc chắn vua Chiêm lúc ấy là Chế Mân đã nghe tiếng và có cảm tình khá đậm đà đối với Thượng hoàng. Ta đã thấy ở trên, khi cuộc chiến tranh Nguyên Chiêm xảy ra vào năm 1283 Thượng hoàng đã gửi chi viện cho nhà nước Chiêm 2 vạn quân và 500 chiến thuyền. Tất nhiên việc gửi quân này là nhằm lợi ích lâu dài của Đại Việt, nhưng trước mắt xương máu Đại Việt đã đổ ra một phần nào cho chiến thắng của quân dân Chiêm Thành. Chính ơn nghĩa này và những hành động xây đắp nền hòa bình hữu nghị Việt Chiêm khác đã tạo điều kiện cho vua Chiêm có một sự kính mến và hâm mộ đối với nhà lãnh đạo Đại Việt. 
Quả vậy, sau khi mở pháp hội Vô Lượng tại chùa Phổ Minh của phủ Thiên Trường và bố thí vàng bạc tiền lụa cho những người nghèo khổ vào rằm tháng giêng năm Quý Mão (1303), ĐVSKTT 6 tờ 17b7-18b4 đã kể lại việc Đoàn Nhữ Hài trước khi đi sứ Chiêm Thành đã đến bái yết Thượng hoàng ở chùa Sùng Nghiêm núi Chí Linh. Đợi suốt ngày mà vẫn không gặp được. Đến khi pháp giá của Thượng hoàng ngự ra chơi, Nhữ Hài đã đến bái yết và thưa chuyện với Thượng hoàng trên hai tiếng đồng hồ. Nói chuyện xong Thượng hoàng trở về khen với các quan tả hữu “Nhữ Hài thực là người giỏi, được quan gia sai khiến là phải”. Chi tiết này cho ta thấy ngay khi không còn trực tiếp điều khiển đất nước, Thượng hoàng vẫn có một quan tâm đặc biệt đối với Chiêm Thành. 
Những sự việc xảy ra sau đó có liên quan đến Chiêm Thành đều xuất phát từ chuyến vân du vừa kể. 
Tháng 3 năm Giáp Thìn (1304), ĐVSKTT 6 tờ 19b1 chép chuyện một nhà sư tu theo phương pháp du già (yoga) của Chiêm Thành đến nước ta. Nét đặc biệt của vị sư này là chỉ uống sữa bò. Rồi tháng 2 năm Ất Tỡ (1305) ĐVSKTT 6 tờ 20a3-6 chép việc “Chiêm Thành sai Chế Bồ Đài và bộ đảng hơn trăm người đem biểu dâng vàng bạc, hương quý, vật lạ để xin định lễ cầu hôn. Triều thần cho là không được. Riêng Văn Túc Vương Đạo Tải chủ trương việc nghị bàn, và Trần Khắc Chung tán thành, nên việc bàn mới quyết”. 
Đến tháng 6 năm Bính Ngọ (1306), ĐVSKTT 6 tờ 21a8b1 lại ghi việc “gả công chúaHuyền Trân cho chúa Chiêm Thành Chế Mân. Nguyên trước Thượng hoàng vân du đến Chiêm Thành đã trót hứa rồi. Văn nhân trong triều ngoài nội phần lớn mượn việc vua Hán đem Chiêu Quân gả cho Hung Nô, làm lời thơ quốc ngữ để mà chê cười”. Đến mùa xuân tháng giêng năm sau, Đinh Mùi (1307) ĐVSKTT 6 tờ 22a7-b2 chép việc “đổi 2 châu Ô, Lý làm Thuận Châu và Hóa Châu, sai hành khiển Đoàn Nhữ Hài đến ổn định dân chúng. Trước đó chúa Chiêm Thành là Chế Mân đem đất ấy làm vật dẫn cưới. Những người thôn La Thủy, Tác Hồng và Đà Bồng không chịụ. Vua sai Ngự Hài đến tuyên bốđức ý của triều đình, lựa chọn người bọn chúng bổ cho làm quan, đồng thời cấp ruộng đất miễn tô thuế 3 năm để vỗ về”. 
Năm Đinh Mùi tháng 5, Chế Mân chết. Tháng 9 con của Huyền Trân là Chế Đa Da sai sứ thần Bảo Lộc Kê đem voi trắng dâng và chắc là để yêu cầu triều đình Đại Việt đi rước công chúa Huyền Trân về, vì “tục nước Chiêm Thành, hễ vua chết thì Hoàng hậu phải vào đàn thiêu chết theo”. Thế là tháng 10 sai Trần Khắc Chung và Đặng Văn sang Chiêm Thành đón công chúa Huyền Trần và con là Đa Da về nước: “Bọn Khắc Chung sang, mượn cớ làm lễ viếng, rồi nói rằng: ‘Nếu công chúa hỏa táng thì việc làm chay không có người chủ trương. Chi bằng hãy ra bờ biển làm lễ chiêu hồn ở ven trời, đón linh hồncùng về sẽ vào đàn thiêu’. Người Chiêm nghe theo. Khắc Chung dùng thuyền nhẹ để cướp đi rồi đưa về. Bèn cùng Công chúa tư thông loanh quanh mãi ở đường biển, lâu ngày mới đến kinh sư” như ĐVSKTT 6 tờ 32a7-33a2 đã ghi. ĐVSKTT 6 tờ 33b3-4 nói: “Mùa thu ngày 18 tháng 8 năm Giáp Thân, (1308), công chúa Huyền Trân từ Chiêm Thành trở về. Thượng hoàng sai trại chủ Hoá Châu đưa 300 người Chiêm đi thuyền trở về nước họ”. Thế là gần một năm Trần Khắc Chung mới đưa được Công chúa Huyền Trân về Đại Việt. Và chưa đầy 3 tháng trước khi Thượng hoàng mất, công việc Chiêm Thành vẫn được Thượng hoàng theo dõiChúng ta ngày nay không biết trại chủ Hóa Châu lúc bấy giờ là ai và tại sao phải đưa 300 người Chiêm về nước của họ. Phải chănghọ là những người Chiêm đã đi cùng Công chúa ra biển làm lễ chiêu hồn? Dẫu sao, trước khi mất, Thượng hoàng đã gặp lại được người con gái thân yêu của mình tưởng phải mãi mãi xa cách để thực hiện một sứ mệnh có lợi cho đất nước muôn đời về sau. Đó là đưa hai châu Ô và Lý vào bản đồ Đại Việt, để sau này trở thành vùng đất Thuận Hóa nổi tiếng và từng là kinh đô của một nước Việt Nam thống nhất. 
Châu Ô chính là vùng đất Ô Mã của Chiêm Thành, mà Toa Đô trong đợt xâm lược năm 1283 đã báo cáo là vùng đất “nằm gần nước An Nam”, như Nguyên sử 209 tờ 9b đã ghi nhận. Còn châu Lý, tức vùng đất Việt Lý, mà bọn Toa Đô phải đi qua trước khi tiến công vào trại Bố Chính và đất Hoan Ái của ta và đã gây cho ta nhiều tổn thất. Chính vì cánh quân Toa Đô từ miền Nam kéo ra này đã gây nên diễn biến chính trị và quân sự phức tạpđến nỗi vua Trần Nhân Tông và Thượng hoàng đã phải chỉ huy cánh quân phía Nam của ta để đối phó lại với chúng và cuối cùng đã chiến thắng vang dội với việc chém đầu Toa Đô và bắt sống gần một vạn quân chúng tại trận Tây Kết lần thứ hai. 
Ô, Lý, do đó có một vị trí chiến lược xung yếu đối với nền an ninh của Đại Việt. Cho nên dưới cái nhìn chiến lược của một nhà quân sự thiên tài, ngay từ những năm chiến tranh, Thượng hoàng Trần Nhân Tông đã nghĩ tới việc nắm lấy hai châu này để đảm bảo cho sự sống còn của Đại Việt được an toànChắc chắn xuất phát từ cái nhìn như thế, mà cảmột loạt biện pháp đã được thực hiện, trong đó có cả việc gả công chúa Huyền Trân, người con gái duy nhất của Thượng hoàng cho vua Chiêm là Chế Mân. Việc sáp nhập hai châu Ô, Lý vào bản đồ Đại Việt đã diễn ra một cách hòa bình, rất khác với việc sáp nhập ba châu Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính của Lý Thánh Tông hơn 200 năm trước đó. 
Lý Thánh Tông đã bắt Chế Củ dâng đất để chuộc mạng sống của mình. Còn vua Trần Nhân Tông thì không thế. Vua Chiêm có thêm một người vợ Việt, và người vợ này còn sinh hạ cho vua Chiêm một người con trai là Chế Đa Da. Sách lược ngoại giao hòa bình của vua Trần Nhân Tông đã đem lại những thành quả chính trị và an ninh quá to lớn thật không ngờ tới. Từ đây ta thấy dòng Nam tiến của người Việt ngày càng dồn dập như một cơn thủy triều đang cuồn cuộn dâng lên. Chưa đầy một trăm năm sau khi Ô Lý đã thành châu Thuận và châu Hoá, thì Hồ Quý Ly đã có thêm Thăng Hoa và Tư Nghĩa. Hơn nửa thế kỷ sau Hồ Quý Ly, Lê Thánh Tông đã cắm mốc trên núi Đá Bia ở Phú Yên. Việc lấy được Ô, Lý bằng con đường hòa bình như thế đã đặt nền móng cho việc mở rộng biên cương của tổ quốc. Đây phải nói là một trong những cống hiến vĩ đại của vua Trần Nhân Tông đối với dân tộc, mà muôn đời về sau con cháu vẫn còn ghi nhớ. 
Công việc Chiêm Thành cho đến những giờ phút cuối cùng của cuộc đời mình, Thượng hoàng vẫn có một quan tâm sâu sắc. Tuy thế, không phải vì công việc đó mà Thượng hoàng sao nhãng những công việc khác. Theo Thánh đăng ngữ lục thì vào năm Giáp Thìn (1304), Thượng hoàng “đi khắp các xóm làng để giáo hóa và trừ bỏ các việc thờ cúng bậy, dạy cho họ thực hành 10 điều thiện”. Việc Thượng hoàng Trần Nhân Tôngđem 10 điều thiện để dạy dân chúng rõ ràng phản ảnh quan điểm chính trị của Phật giáo Việt Nam mà trước đó hơn ngàn năm đã được ghi vào trong kinh Lục Độ tập. Bản kinhnày có thể nói là một trong những bản kinh xưa nhất của Phật giáo nước ta hiện biết, đã tổng hợp nhuần nhuyễn và thành công tư tưởng Phật giáo và truyền thống dân tộc. Nó liên tục kêu gọi những người lãnh đạo chính trị phải dùng 10 điều thiện làm “pháp luật quốc gia” (quốc pháp), làm “chính sách quốc gia” (quốc chính). Và đây là lần đầu tiên ta thấy Thượng hoàng Trần Nhân Tông đã thực hiện lời kêu gọi này. 
Cũng trong năm Giáp Thìn ấy, mùa đông “Anh Tông dâng biểu thỉnh Thượng hoàng về đại nội, xin thọ tại gia Bồ Tát tâm giới. Ngày Thượng hoàng vào thành, vương công bắt quan chuẩn bị đầy đủ lễ nghi đón rước. Vương công bắt quan đều cùng thọ giới”. Thế là cả một triều đình Đại Việt đã cố gắng sống theo lời dạy của đức Phật. Việc thọ tại gia Bồ Tát tâm giới thể hiện rất rõ cơ sở tư tưởng Cư trần lạc đạo mà Thượng hoàng đã tiếp nhận trực tiếp từ thân phụ mình là Vô Nhị Thượng Nhân Trần Thánh Tông và vị thầy Tuệ Trung Thượng Sĩ Trần Quốc Tung. 
Và có thể ngay cả trước khi vua Anh Tông mời Thượng hoàng thực hiện các buổi lễ này, triều đình Đại Việt là một triều đình Phật giáo và người dân Đại Việt là những Phật tử. Trong chuyến đi sứ năm 1293, khi về nước, Trần Phu đã viết bài phú An Nam tức sự, ợchép trong Trần Cương Trung thi tập 2 tờ 24a3-37b2, đã cho ta biết triều đình nhà Trần “tuy có đền miếu, nhưng không có lễ cúng kỡ hàng năm, chỉ có cúng Phật là rất kính thành”, còn “dân hết thảy đều là thầy tu” (dân tất tăng). Và ngay cả Hưng đạo Vương Trần Quốc Tuấn, Trần Phu cũng không quên ghi nhận Hưng Đạo Vương “rất chuộng Phật, nên đặt tên châu là Vạn Kiếp”. Và Thiếu bảo Đinh Củng Viên trong thơ tiễn Trần Phu, cũng đưa tư tưởng Phật giáo vào. Bài thơ này chép trong Trần Cương Trung thi tập 2 tờ 27b3-6, và chưa được các sách vở nước ta từ những thi tập xưa nhất như Việt âm thi tập, Trích diễn thi tập, Toàn Việt thi lục cho đến các sưu tập thơ văn Lý - Trần ngày nay ghi lại. Cho nên chúng tôi cho công bố ra đây để làm tư liệu, nhằm bổ sung cho di sản văn học Lý-Trần nói chung và thơ văn của Đinh Củng Viên nói riêng: 
Sứ tinh phi hạ ủng tường yên 
Bất đạn kỳ khu lộ cửu thiên 
Song tụ phất khai nam hải chướng 
Nhất thanh hát phá hạ thừa thiền. 
Diệu linh thủ xuất Chung Quân thượng 
Anh luận cao cư Lục Giả tiền 
Qui đáo triều đoan tu vị thuyết 
Viễn manh nhật dạ chúc Nghiêu niên. 
(Sao sứ bay qua bám khói lành, 
Chín trời đường khó chẳng ngại lên, 
Miền nam chướng khí vung tay mở, 
Cấp thấp đạo thiền hét tiếng rền. 
Tuổi trẻ Chung Quân hơn một bước, 
Bàn hay Lục Giả đứng bề trên, 
Triều đình về tới nên tâu báo, 
Vua thọ, dân xa chúc những đêm)
Buổi lễ trao tâm giới Bồ Tát tại gia cho vua và triều đình vào mùa đông năm Giáp Thìn (1304) ấy xong, Thánh đăng ngữ lục viết tiếp: “Sau đó vua trác tích ở chùa Sùng Nghiêm núi Chí Linh, xiển dương tôn giáo”. Tất nhiên, không phải đến cuối năm Giáp Thìn Thượng hoàng mới tới trác tích tại chùa Sùng Nghiêm, bởi vì ĐVSKTT 6 tờ 17b8-9 đã ghi nhận là Thượng hoàng đã ở ngôi chùa này từ năm Tân Mão (1303) và Đoàn Nhữ Hài trước khi đi sứ Chiêm Thành đã đến đó gặp Thượng hoàng để xin ý kiến. Có lẽ Thánh đăng ngữ lục ghi sự có mặt của Thượng hoàng tại chùa Sùng Nghiêm vào cuối nămGiáp Thìn ấy là nhằm nhấn mạnh đến việc “xiển dương tôn giáo” mà Thượng hoàng thực hiện vào thời điểm ấy. 
Quả vậy, sau khi chép thế rồi, Thánh đăng ngữ lục đã dành hơn 6 tờ nữa để ghi lại bài giảng của Thượng hoàng tại chùa Sùng Nghiêm: “Lúc đầu khai đường, Thượng hoàng lên tòa giảng, niêm hương báo ân xong, bèn đến tòa giảng. Thượng thủ đánh bảng.v.v. xin mời Điều Ngự. Bèn nói: ‘Đức Thích Ca Văn Phật vì một việc lớn mà xuất hiện ở đời, 49 năm, nhúc nhích đôi mép môi, mà chưa từng nói một chữ. Ta nay vì các người mà lên tòa giảng này, thì nói cái gì?’ Rồi Thượng hoàng ngồi xuống giường thiền, một chốc, bèn nói: 
Đỗ quyên rền rỉ, trăng ngày sáng 
Đừng để tầm thường xuân luống qua
Lại đánh xuống một cái: ‘Chẳng có gì cả, hãy đi ra đi, đi ra đi’”. 
Ở đây chúng tôi chỉ trích một đoạn để cho thấy một phần nào quy trình và nội dung của buổi giảng đã bắt đầu như thế nào và tiến hành ra sao? Ta có thể chắc chắn, mỗi lần bắt đầu buổi giảng, mà từ chuyên môn ở đây gọi là khai đường, thì hẳn đã có giấy bố cáo để cho mọi người biết để đến nghe. Khi mọi người đã có mặt, vị giảng sư sẽ đi lên giảng tòa, làm lễ niêm hương cám ơn chư Phật chư Tổ, rồi đi đến tòa giảng. Tại đây người đứng tổ chức và điều khiển buổi giảng, mà Thánh đăng ngữ lục gọi là thượng thủ, sẽ đánh một hồi vào bảng gỗ báo hiệu buổi giảng bắt đầu, rồi mời vị giảng sư khai mạc buổi giảng. 
Đúng theo tinh thần của truyền thống thiền tông, lời khai mạc của Thượng hoàng Trần Nhân Tông tại buổi giảng cuối đông năm Giáp Thìn (1304) đã khởi đầu bằng cách nhắc tới việc đức Thế Tôn trong 49 năm thuyết pháp chưa từng nói một lời. Sau đó Thượng hoàng đã liên hệ tới buổi giảng của mình, chỉ ra rằng đức Thế Tôn còn không nói một lờinhư thế thì tôi đây có gì để nói ra. Xong lời khai mạc, bấy giờ Thượng hoàng mới ngồi xuống giường thiền, giáo đầu cuộc nói chuyện qua việc dặn dò mọi người đừng để thời gian luống qua, đúng theo tinh thần mà Đức Thế Tôn đã giáo huấn trong giờ phút lâm chung của Ngài: “Mọi vật là vô thường, hãy tinh tấn, chớ có buông lung” (Vayadhammà samkhàrà appamàdena sampàdethâti). 
Sau đó, buổi giảng trở thành cuộc đối thoại thiền giữa một vị thiền sư và các thiền sinh. Đây phải nói là một nét đặc biệt của việc diễn giảng của Phật giáo Việt Nam ngày xưa. Những câu hỏi được thiền sinh nêu lên. Vị thầy sẽ tùy theo câu hỏi mà trả lời. Có thể nói đây là buổi giảng đầu tiên trong lịch sử đã được ghi chép lại đầy đủ, cung cấp cho ta một điển hình về sinh hoạt diễn giảng Phật giáo Việt Nam của thế kỷ thứ 13, nếu không là của các thế kỷ trước đó. Nghiên cứu điển hình này giúp cho ta có một nhận thức khá chính xác và cụ thể về sinh hoạt diễn giảng vừa nói. 
Trong buổi giảng vào cuối năm Giáp Thìn nói trên, ta thấy có ít nhất ba thiền sinh đứng lên hỏi. Và sau đây là cuộc đối thoại của thiền sinh thứ nhất với Thượng hoàng: 
Một vị tăng hỏi: “Thế nào là Phật?”. 
Đáp: “Hiểu theo như trước là chẳng phải”. 
Lại tiến lên hỏi: “Thế nào là Pháp?”. 
Đáp: “Hiểu theo lối trước là chẳng phải”. 
Lại đứng lên hỏi: “Rốt ráo là thế nào?”. 
Đáp: 
Tám chữ mở toang trăng trối hết 
Chẳng còn gì nữa để trình ông. 
Lại đứng lên hỏi: “Thế nào là Tăng?”. 
Đáp: “Hiểu theo lối trước lại chẳng phải”. 
Lại đứng lên hỏi: “Rốt ráo là như sao?”. 
Đáp: 
Tám chữ mở toang trăng trối hết 
Chẳng còn gì nữa để trình ông. 
Lại đứng lên hỏi: 
“Thế nào là một việc hướng thượng?”. 
Đáp: “Đứng đầu gậy khêu trời trăng”. 
Lại đứng lên hỏi: “Dùng công án cũ để làm gì?”. 
Đáp: “Mỗi lần nêu ra mỗi lần mới”. 
Lại đứng lên hỏi: 
“Thế nào là giáo ngoại biệt truyền?” 
Đáp: “Ễnh ương nhảy không ra khỏi đấu”. 
Lại đứng lên hỏi: 
“Hiện ra rồi chìm mất là thế nào?”. 
Đáp: “Còn tùy dài ngắn bước cát bùn”. 
Tiến lên hỏi: “Thế còn nhảy không ra”. 
Điều Ngự bèn lên tiếng: “Tên mù kia thấy cái gì?” 
Bèn đứng lên nói: “Đại tôn đức lừa người để làm gì?” 
Điều Ngự bèn thở dài. Vị tăng ngẫm nghĩĐiều Ngự liền đánh. Vị tăng lại định đi ra hỏi. Điều Ngự liền hét. Vị tăng cũng hét. 
Điều Ngự nói: “Lão tăng bị ông hét một tiếng, hét hai tiếng rốt ráo để làm gì? Nói mau, nói mau”. 
Vị tăng ngẫm nghĩĐiều Ngự lại hét một tiếng, nói: “Con dã hồ tinh kia vừa đến láu lỉnh, nay ở chỗ nào rồi?”. 
Vị tăng vái rút lui”. 
Chúng tôi cho dịch trọn vẹn cuộc đối thoại giữa thiền sinh thứ nhất với Thượng hoàng, để cho thấy phong cách và nội dung của buổi giảng vào cuối đông năm Giáp Thìn (1304) tại chùa Sùng Nghiêm. Nội dung bao gồm những vấn đề về Phật pháp tăng, về việc hướng thượng, về giáo ngoại biệt truyền. Và đúng theo phong cách của thiền tôngnhững câu trả lời có vẻ không ăn nhập gì và chỉ có thể hiểu được đối với người trong cuộc. Ngôn ngữ thiền có những nét đặt trưng của nó, đòi hỏi người lĩnh hội phải có một trình độ, một quyết tâm tìm hiểu vấn đề như thế nào đó. Nó có cấu trúc rất khác với ngôn ngữ thường ngày, dù vẫn dùng chung một bộ từ vựng, mà khi nói lên, ta tưởng ai cũng có thể lĩnh hội dễ dàng. Điều này ta có thể thấy ngay khi đọc đoạn đối thoại vừa trích. 
Dạng đối thoại thiền này, căn cứ vào Thiền uyển tập anh, thì đã xuất hiện từ thời Pháp Hiền (?- 626) và đặc biệt thịnh hành vào thời Viên Chiếu (999-1090), khi Viên Chiếu viết Tham đồ hiển quyết và hầu như được bảo lưu trọn vẹn cho tới ngày nay. Tham đồ hiển quyết có nhiệm vụ làm rõ những công án nhằm để dạy cho những người tham thiền hiểu được ý nghĩa của chúng. Chẳng hạn, Thiền uyển tập anh ghi lại một trong những câu đầu tiên của Tham đồ hiển quyết như thế này: 
“Có vị tăng hỏi: 
-Phật với Thánh nghĩa ấy thế nào? 
Sư đáp: 
Cúc trùng dương dưới giậu 
Oanh thục khí đầu cành” 
Ta có thể hiểu quan hệ giữa Phật và Nho giáo giống như hoa cúc nở vào tháng 9, oanh hót vào đầu mùa xuân. Điều này có nghĩa Phật giáo và Nho giáo có những nhiệm vụkhác nhau, tùy vào những điều kiện cụ thể, mà chúng có thể ứng dụng cho phù hợp
Ngôn ngữ thiền như thế có những cấu trúc về ngữ nghĩa, mà chỉ người trong cuộc mới nhận ra và nắm bắt được. Có người giải thích cấu trúc ngữ nghĩa ấy có mục đích đánh thức, khơi dậy tiềm năng giác ngộ nằm sẵn đâu đó trong mỗi con ngườiTuy nhiênngôn ngữ thiền không chỉ giới hạn trong cấu trúc ngữ nghĩa hay ngữ pháp. Thực tế, nó vượt ra ngoài ngôn ngữ lời nói và bao gồm cả những động tác thân thể khác như cái nhìn, tiếng hét, tay đánh v.vỢ tức là ngôn ngữ cơ thể. Trong đoạn đối thoại trên, ta thấy xuất hiện cả ngôn ngữ cơ thể vừa nói. Thượng hoàng đã hét và đánh vị thiền sinh. Kết quả của buổi giảng, bao nhiêu người đã hiểu được Phật giáo, bao nhiêu người đã giác ngộ sự thật, ta ngày nay không biết. Nhưng chắc chắn họ đã có một sự nhận thức thế nào đó về Phật giáo
Có người sẽ đặt vấn đề lối diễn giảng này chịu ảnh hưởng lối diễn giảng thiền Trung Quốc hay không? Tất nhiên, thiền như một tư trào văn hóa trong quá trình phát triển của mình chắc chắn đã tiếp thu nhiều yếu tố khác nhau. 
Cho nên, ngay trong lịch sử thiền tông Trung Quốc, ta đã thấy có nhiều biến đổi qua các thời đạiThí dụ, chỉ cần đọc các cuộc đối thoại của Huệ Năng và Nghĩa Huyền trong Cảnh đức truyền đăng lục thì ta có thể thấy ngay. Đọc tiểu sử của Huệ Năng, ta thấy câu hỏi và trả lời thật dễ hiểu. Hỏi cái gì thì trả lời cái đó. Nhưng qua đến Nghĩa Huyền, sự việc hoàn toàn khác. Ở đây đã xuất hiện đánh hét trong ngôn ngữ thiền. 
Tại nước ta, thiền đã phát triển theo một hướng hoàn toàn khác. Nó đã ra đời nhằm giải quyết một vấn đề tư tưởng
Đó là tại sao tu mà không thấy Phật? Một vấn đề người Việt Nam đã nêu lên vào giữa thế kỷ thứ 5 sau dương lịch. 
1 Thiền ra đời nhằm trả lời câu hỏi ấy. Và để trả lời, nó đã đưa một quan niệm mới về Phật. Phật không phải chỉ là một đức Phật lịch sử, càng không phải là một đức Phật nằm bên ngoài ta. Phật nằm ngay chính trong ta. Vì thế, tu là thể hiện đức Phật này, là tìm thấy ở trong chính mình. Xuất phát từ một khởi điểm như vậy, thiền Việt Nam trong quá trình phát triển tất phải chịu tác động của yêu cầu thực tế Việt Nam. Nếu trong quá trình phát triển ấy, ở nơi này nơi khác có những nét tương đồng với những truyền thống thiền khác, thì chúng cũng chỉ thể hiện tính phổ quát, tính nhân loại mà thôi. 
Buổi giảng thiền tại chùa Sùng Nghiêm vào cuối năm Giáp Thìn trên ít nhiều cho ta thấy sinh hoạt Phật giáo của dân tộc ta nói chung, đồng thời cũng cho thấy hoạt động Phật giáo của cá nhân Thượng hoàng Trần Nhân Tông
Tam tổ thực lục do Tính Quảng và Ngô Thời Nhiệm tập hợp các tư liệu đời Trần để viết nên, đã ghi lại cho ta một buổi giảng khác có sự tham dự của Thượng hoàng Trần Nhân Tông. Đó là buổi giảng tại viện Kỳ Lân vào ngày mồng 9 tháng giêng nhuận năm Bính Ngọ (1306). Tam tổ thực lục đã ghi lại buổi giảng này như sau: 
“Ngày mồng 9 tháng giêng nhuận năm Bính Ngọ, Trúc Lâm đại tôn giả đến viện Kỳ Lân khai đường, bèn chỉ pháp tòa nói: ‘Tòa này là giường mây khúc lục, là tòa báu kim nghê. Ngồi đây đoán định lời lẽ Phật tổ thì thật rất chật hẹp’. Bèn niêm hương
Một nén hương này, khói lành thơm phức, khi tốt bay lên, ngưng đọng năm phần pháp thân, biến khắp mười phương lễ diệu. Sức nóng lò hương dâng lên mười phương ban phúc, chín miếu ứng thiêng, tuổi vua lâu bền, ngôi trời vững chãi
Một nén hương này, trong sạch rễ mầm, hiếm lạ giống tính, không mượn sức bón vun, chỉ nhờ thấm thấy biết. Sức nóng lò hương vâng xin mưa thuận gió hòa, nước thái dân yên, trời Phật thêm sáng, xe pháp thường quay. 
Một nén hương này, nướng cũng không chín, đốt cũng không cháy, gõ vào không mở, kéo lại không đến, ngó trộm thì con ngươi khô kiệt, ngửi thử thì cửa não toác đôi. Sức nóng lò hương dâng lên Vô Nhị thượng nhân, Tuệ Trung đại sĩ, mưa pháp ơn nhuàôn, cháu con đều gội. 
Thượng hoàng đến tòa giảng, khi lên tòa giảng, thượng thủ đánh bảng, xin mời. Sư nói: ‘Đại chúng, nếu nhắm vào chân lý thứ nhất mà nói, động niệm tức sai, mở miệng là bậy, thì làm sao hiểu chân lý, làm sao hiểu quán tưởng ? 
Hôm nay, hãy căn cứ vào chân lý thứ hai mà nói, thế có được không nào ?’ 
Rồi Sư ngoảnh nhìn tả hữu. nói: ‘Ở đây chẳng có người nào có đủ được con mắt to lớn hay sao. Nếu có, hai đóa lông mày không mất một mảy mayNếu khôngbần đạo không khỏi cái miệng lầm rầm, đưa ra những lời thừa rách nát sáo mòn. Nhưng vì các người, xin lấy ra một phần hổ lốn. Hãy lắng nghe, lắng nghe. 
Này xem, đạo lớn trống rỗng, đâu buộc đâu ràng, bản tính sáng trong, chẳng lành chẳng dữ. Bởi do chọn lựa, lắm ngả sinh ngang, một nháy thoáng mờ, dễ thành trời vực. Thánh phàm cùng chung một lối, phải trái há được phân ranh. Nên biết tổn phước vốn không, nhân qủa rốt ráo chẳng thật. Người người vốn đủ, ai nấy tròn đầy. Phật tínhpháp thânnhư hình với bóng, tùy ẩn tùy hiện, chẳng dính chẳng rời. Lỗ mũi thẳng xuống cửa mặt, lông mày vắt ngang hố mắt, há dễ tìm thấy được đâu? 
Nên hãy đi tìm cái đạo không thấy. Ba ngàn pháp môn cùng về tấc dạ. Hà sa diệu dụngthảy tại nguồn tâm. Cái gọi là giới môn, định môn, tuệ môn, các người không thiếu. Nên trở về mà tự nghĩ suy. Phàm những tiếng ho hắng, mày dương mắt nháy, tay cầm chân bước, đó là tính gì? Biết được tính đó là tâm gì, tâm tính rõ thông, thì cái gì đúng, cái gì là không đúng. 
Pháp tức là tính, Phật tức là tâm. Tính nào chẳng phải là pháp? Tính nào chẳng phải là Phật. Tức tâm tức Phậttức tâm tức pháp, pháp vốn chẳng pháp. Tức pháp tức tâm, tâm vốn chẳng tâm, tức tâm tức Phật
Này các người, thời gian dễ trôi qua, mạng người không dừng lại. Cớ sao ăn cháo ăn chay, mà không rõ việc cái bát cái tô chiếc thìa đôi đũa để tìm hiểu?” 
Chúng tôi cho dịch lại đây toàn văn đoạn mở đầu của buổi giảng tại viện Kỳ Lân của Thượng hoàng, để bổ sung cho những gì còn thiếu sót, mà Thánh đăng ngữ lục đã ghi chép về buổi giảng ở chùa Sùng Nghiêm. Ta đã thấy Thánh đăng ngữ lục chỉ ghi Thượng hoàng “khai đường, lên tòa giảng, niêm hương báo ân xong, bèn đến tòa giảng, thường thủ gõ bảng thưa...” Nhưng niêm hương báo ân thế nào, Thánh đăng ngữ lục không ghi rõ. Bây giờ với đoạn văn trên, ta biết nghi thức niêm hương có nội dung gì và đã được thực hiện ra sao. 
Ngoài rachúng tôi cho trích cả đoạn văn trên còn có mục đích khác. Đó là nhằm cho thấy lời giáo đầu tại buổi giảng ở viện Kỳ Lân này có nội dung hoàn toàn thống nhất với lời giáo đầu của buổi giảng ở chùa Sùng Nghiêm. Lời giáo đầu ở viện Kỳ Lân, tuy dài và từ vựng có khác, song ý chính vẫn nhắc tới việc chân lý không thể dùng ngôn từ để diễn đạt và kêu gọi mọi người hãy cố gắng tinh tấn tu tập, đừng để cuộc đời mình trôi qua vô ích. Sự thống nhất về nội dung này giúp ta xác định ai là người đứng ra thực hiện buổi giảng tại viện Kỳ Lân. Người ấy không ai khác hơn là Thượng hoàng Trần Nhân Tông
Hơn nữa, nếu phân tích nội dung buổi giảng, thì nó cùng một chủ đề và phong cách, thậm chí có những câu hoàn toàn đồng nhất với môn tử. Chỉ cần trích một đoạn ngắn sau đây ta có thể thấy ngay: 
“Bấy giờ có vị tăng bước ra nói: 
‘Ăn cơm mặc áo, tầm thường việc 
Sao phải quan tâm để phát ngờ’ 
Bèn lạy xuống, rồi đứng lên hỏi: ‘Cõi thiền vô dục thì không hỏi. Cõi dục không thiền, xin nói cho một câu.’ 
Sư đưa tay chỉ vào khoảng không. 
Lại đứng lên hỏi: ‘Dùng đờm dãi người xưa để làm gì?’. 
Sư nói: ’Mỗi lần nêu ra, một lần mới’. 
Lại đứng lên hỏi: ‘Người xưa đều nói như thế nào là Phật, như thế nào là pháp, như thế nào là tăng. 
Chỉ như thế 
nào ấy thì việc thế nào?’ 
Sư đáp: ‘Như thế nào. Việc như thế nào’. 
Lại đứng lên nói: 
 ‘Không dây đàn gảy tri âm ít 
Cha đánh con nghe, cách điệu cao’”. 
Đoạn trích này trong Tam tổ thực lục, tới đây thì được ghi hai chữ “vân vân”. Điều này có nghĩa buổi giảng đang còn tiếp tục nữa, nhưng người trích đoạn vừa nêu đã không chịu chép lại toàn bộ. Dẫu thế, một lần nữa, đọc đoạn vừa trích ta thấy văn cú và ý tứ có nhiều điểm thống nhất với những gì đã giảng vào cuối đông năm Giáp Thìn ở chùa Sùng Nghiêm. Và đây là một nét đặc biệt trong lối diễn giảng của Thượng hoàng Trần Nhân Tông

Những ngày cuối đời

Ngày mồng một tết năm Mậu Thân (1308) Thượng hoàng về ở tại chùa Báo Ân, huyện Siêu Loại, cho gọi Pháp Loa đến trụ trì chùa, mở trường giảng và làm người nối dõi mình trong dòng thiền Trúc Lâm. Tới tháng tư, Thượng hoàng về kiết hạ tại chùa Vĩnh Nghiêmở Lạng Giang. Lần này, Thượng hoàng lại gọi Pháp Loa đến giao nhiệm vụ trụ trì chùa Báo Ân và mở trường giảng. Trong ba tháng an cư ở đây, Thượng hoàng đã giảng Cảnh Đức truyền đăng lục, còn quốc sư Đạo Nhất giảng kinh Pháp Hoa cho đại chúngAn cưxong, Thượng hoàng vào núi Yên Tử và cho các hoạn quan và Tam bảo nô trở về nhà. Chỉ giữ lại mười người hầu thường cho đi theo. Rồi bèn trở lên am Tử Tiêu, giảng Truyền đăng lục cho Pháp Loa. Những người hầu dần dần xuống núi gần hết. Chỉ có thượng túc đệ tử Bảo Sát ở lại hầu bên cạnh. 
Từ lúc đó trở đi, Thượng hoàng đã đi khắp hang núi và thường sống ở trong nhà đá. Bảo Sát thấy thế, thưa với Thượng hoàng, “Tôn đức tuổi tác đã cao mà cứ xông pha sương tuyết, thì mạng mạch của Phật pháp sẽ thế nào?”. 
Thượng hoàng đã trả lời: “Thời ta đã đến, ta muốn làm kế trường vãng”. Ngày mồng 5 tháng 10, gia đồng của công chúa Thiên Thụy lên núi tâu: “Thiên Thụy đau nặng, xin gặp tôn đức để chết”. Thượng hoàng bùi ngùi nói: “Thời tiết đã đến rồi”. Rồi xách gậy xuống núi, chỉ đem theo một người hầu. Đi mười ngày mới tới Thăng Long. Đó là hôm rằm tháng mười. Sau khi dặn dò chị mình xong, bèn trở về núi. Ngủ đêm tại chùa Báo Ân của Siêu Loại. Sáng tinh mơ hôm sau. bèn lại ra đi. Đến chùa thôn hương Cổ Châu, Thượng hoàng tự đề lên vách chùa bài kệ
Số đời hơi thở lặng 
Tình người đôi biển ngân 
Cung ma chật hẹp lắm 
Nước Phật khôn xiết xuân 
Ngày 17, Thượng hoàng ngủ đêm lại ở chùa Sùng Nghiêm núi Chí Linh. Thái hậu Tuyên Từ mời đến am Bình Dương đãi chay. Thượng hoàng vui vẻ nói: “Đây là bữa cơm cúng dường cuối cùng”. Rồi nhận lời. Ngày 18, Thượng hoàng lại đi bộ đến chùa Tú Lâm ở núi Kỳ Đặc của vùng Yên Sinh, thì thấy nhức đầu. Bèn gọi hai tỳ kheo Tử Doanh và Hoàn Trung bảo: “Ta muốn lên núi Ngọa Vân mà sức chân đi không nổi, biết làm sao bây giờ”. Hai vị tỳ kheo nói: 
“Hai đệ tử có thể giúp vậy”. Vừa đến núi Ngọa Vân, Thượng hoàng cám ơn hai vị tỳ kheovà bảo: 
 “Xuống núi gắng tu hành, chớ cho sống chết là chuyện chơi”. Ngày 19, sai thị giả Pháp Không lên am Tử Tiêu núi Yên Tử gọi Bảo Sát về gấp. Ngày 20, Bảo Sát ra đi, đến suối Doanh, thấy một dải mây đen từ núi Ngọa Vân qua tới Lỗi Sơn, rồi phủ xuống suối Doanh. Nước lớn dâng lên mấy trượng, chốc lát lại hạ xuống, thì thấy hai đầu rồng lớn như con ngựa đang cất cao hơn một trượng, đôi mắt sáng như sao, giây lát rồi biến mất. Đêm ấy Bảo Sát ngủ qua đêm tại Sơn điếm, lại nằm mơ thấy chuyện không lành. 
Ngày 21, Bảo Sát đến núi Ngọa Vân. Thượng hoàng thấy đến, mỉm cười nói: “Ta sắp đi rồi, ngươi sao đến muộn thế. Trong Phật pháp, ngươi có điểm nào chưa rõ, mau đem ra đây”. Bảo Sát đứng lên hỏi: “Khi Mã đại sư không khỏe, viện chủ hỏi: ‘Gần đây Tôn đức thế nào?’ Mã nói: ‘Ngày gặp Phật, tháng gặp Phật’, ý chỉ thế nào?”. 
Thượng hoàng nói lớn: “Năm đế ba vua là vật gì?”. Sát lại đứng bên hỏi: 
“Chỉ như 
Hoa phơi phới chừ gấm phới phơi 
Trúc đất Nam chừ cây đất Bắc 
thì làm sao”. 
Thượng hoàng nói: “Mắt ngươi mù rồi chăng”. Sát thôi không hỏi nữa. Từ đó bốn ngày trời đất tối tăm, gió lốc thổi mạnh, mưa tuyết phủ cây, khỉ vượn đi quanh am khóc la. Chim rừng buồn bã hót. 
Ngày mồng một tháng 11, vào lúc nửa đêm, sao mai sáng rực, Thượng hoàng hỏi: “Lúc này mấy giờ rồi”. Bảo Sát trả lời: “Giờ Tý”. Thượng hoàng dùng tay mở cánh cửa sổ ra nhìn rồi nói: “Đây là giờ ta đi”. Bảo Sát hỏi: “Tôn đức đi đâu?”. Thượng hoàng nói: 
Tất cả pháp không sinh 
Tất cả pháp không diệt 
Nếu hay hiểu như vậy 
Chư Phật thường hiện tiền 
Sao có chuyện đến đi 
Bảo Sát đứng lên hỏi: “Nếu không sanh không diệt thì thế nào?” Thượng hoàng bỗng nhiên lấy tay che miệng nói: 
“Đừng nói mớ”. Nói xong Thượng hoàng nằm theo thế sư tử, rồi lặng lẽ ra đi. Đến đêm ngày mồng 2, Bảo Sát theo di chúc đem hỏa táng ở tại am Thượng hoàng ở. Hương thơm bay ngào ngạt, nhạc trời vang dội cả hư không. Có mây ngũ sắc phủ lên giàn lửa. Đến ngày mồng 4, tôn giả Phổ Tuệ mới từ núi Yên Tử lật đật mà đi đến. Đem nước thơmtưới giàn lửa. Làm lễ thu ngọc cốt, lại lượm được xá lợi ngũ sắc, loại lớn hơn năm trăm viên, loại nhỏ như hạt thóc, hạt cải thì không thể kể xiết. 
Bấy giờ hoàng đế Anh Tông và quốc phụ thượng tể đem triều đình cùng thuyền ngự đến vái lạy từ chân núi, khóc lóc vang động đất trời. Sau đó bèn rước ngọc cốt và xá lợixuống thuyền ngự đưa về kinh đô Thăng Long. triều đình và dân dã buồn thương khóc lóc vang động cả đất trời, dâng tôn hiệu Đại Thánh Trần Triều Trúc Lâm Đầu Đà Tịnh Huệ Giác Hoàn Điều Ngự Tổ Phật, rồi đem ngọc cốt vào trong khám báu, phân chia xá lợi làm hai phần. Mỗi phần đều đựng trong hộp vàng bảy báu. Việc chay xong rước ngọc cốt nhập vào đức lăng, miếu hiệu là Nhân Tông. Lấy một phần xá lợi đưa vào bảo thápđặt ở đức lăng của Long Hưng. Còn một phần thì gói đưa vào tháp vàng đặt ở chùa Vân Yên núi Yên Tử
Những ngày cuối cùng của Thượng hoàng Trần Nhân Tông là như thế theo Thánh Đăng ngữ lục. ĐVSKTT 6 tờ 23b4-24a4 chép ngắn gọn hơn và khác đi đôi chút: “Ngày mồng 3(tháng 11) Thượng hoàng băng ở am Ngọa Vân ở núi Yên Tử. Bấy giờ Thượng hoàng xuất gia ở ngọn Tử Tiêu của núi Yên Tử, tự gọi là Trúc Lâm đại sĩ. Chị Thượng hoàng là Thiên Thụy đau nặng, bèn xuống núi đi đến thăm bảo: ‘Chị nếu thời tới thì tự đi, gặp cõi âm có hỏi việc gì thì cứ trả lời: ‘Xin đợi một chút, em tôi là Trúc Lâm đại sĩ sẽ đến’. Nói xong Thượng hoàng trở về núi, dặn dò thị giả Pháp Loa về hậu sự rồi lặng lẽ ngồi mà mất. 
Thiên Thụy cũng mất vào ngày hôm ấy. Pháp Loa thiêu được xá lợi hơn 3000 hạt, vâng đem tới chùa Tư Phúc của kinh sư. Vua nghi ngờ, còn quần thần thì phần lớn xin hỏi tội Pháp LoaHoàng thái tử Mạnh tuổi vừa lên 9 hộ một bên. Ở trong mình liền có mấy viên xá lợi. Bèn đem ra để thấy. Kiểm lại thấy trong hộp thì có thiếu mấy hạt. Vua (Anh Tông) cảm động khóc lóc, trong lòng mới hết nghi ngờ”. 
Vậy là theo ĐVSKTT, ta không thấy vai trò của Bảo Sát, mà Thánh đăng ngữ lục gọi là thượng túc đệ tử của Thượng hoàng Trần Nhân Tông, người đã được Thượng hoàng cho gọi đến và ở bên cạnh trong những giây phút cuối cùng. Và cũng chính Bảo Sát đã thực hiện việc hỏa táng theo lời dặn dò của Thượng hoàng, mà không cần sự có mặt của Pháp Loa. Khi Pháp Loa tới, thì chỉ có việc dùng nước thơm tưới tắt giàn hỏa và thu lấy xá lợi cũng như ngọc cốt. 
Qua những sự kiện như thế, hình như vai trò Pháp Loa dù được Thượng hoàng cho làm người nối pháp, vẫn có vẻ như rất mờ nhạt trong những giờ phút cuối cùng của cuộc đờicủa Thượng hoàng. 
Đến hơn một năm sau, ĐVSKTT 6 tờ 25b9 -27a8 đã kể lại việc đưa xá lợi Thượng hoàng đi nhập tháp: “Ngày 16 tháng 9 mùa thu năm Canh Tuất (1310), rước linh cữu Thượng hoàng đưa về chôn ở lăng Quy Đức ở phủ Long Hưngxá lợi thì để tại bảo tháp am Ngọa Vân, miếu hiệu là Nhân Tông, thụy là Pháp Thiên Sùng Đạo Ứng Thế Hóa DuyênLong Từ Huyễn Huệ Thánh Văn Thần Vũ Nguyên Minh Duệ Hiếu hoàng đế. Đem Khâm Từ Bảo Thánh thái hoàng thái hậu hợp táng ở đấy. Trước đó tạm quàn tại tể cung của Nhân Tông ở điện Diên Hiền. Khi sắp đưa đi, giờ đã đến rồi mà quan liêu dân chúng đứng chật khắp cung điện. Tể tướng cầm roi xua đuổirốt cuộc cũng không thể mở đường. 
Vua cho gọi chi hầu chánh chưởng Trịnh Trọng Tử đến bảo: ‘Linh cữu sắp đưa mà dân chúng đầy nghẽn như thế thì làm thế nào?’. Trọng Tử lập tức đến đền Thiên Trì gọi quân Hải khẩu và Hổ dực (quân của Trọng Tử trông coi) đến ngồi la liệt trong thềm, sai hát mấy câu khúc Long ngâm. Mọi người ngạc nhiên kéo nhau đến xem, cung điện mới giãn người, bèn rước về lăng Quy Đức. Trọng Tử lo dọc đường tất có chỗ thế đất quanh co, nếu nghiêm tỉnh không nói to thì sợ có chỗ nghiêng lệch. Nếu có truyền gọi bảo ban thì lại sợ ồn ào. Bèn đem các câu dặn cách đi đứng ngang dọc, viết vào khúc Long ngâm, khiến mọi người hát theo để cùng bảo nhau. Người bấy giờ khen là giỏi 
(...) 
Xá lợi của Nhân Tông để vào bảo tháp thì có sư Trí Thông phụng hầu. Trước đây, khi Nhân Tông mới xuất gia, sư chùa Siêu Loại là Trí Thông đốt cánh tay từ bàn tay vào đến khủy tay và vẫn nghiễm nhiên không đổi sắc mặt. Nhân Tông đến xem, Trí Thông đặt chỗ cho vua ngồi, rồi lạy nói: ‘Thần tăng đốt đèn mà thôi. Đốt đèn xong thì trở về viện, ngủ say, thức dậy thì thấy phỏng liền lành’. Đến đây, khi Nhân Tông băng, bèn vào núi Yên Tử phụng hầu bảo tháp xá lợi, đến thời Minh Tông thì tự thiêu chết”. 
Cuộc đời của vua Trần Nhân Tông, sau khi mất, được ĐVSKTT ghi lại như thế. Ta thấy ít có vị vua nào trong lịch sử dân tộc lại có sự ghi chép đầy đủ về sự mến mộ của người dân sau khi đã mất. Đây là một cuộc đời chỉ trong vòng 50 năm, mà có những đóng góp vô cùng to lớn cho dân tộc và nhân loại. Một cuộc đời đã kết thúc, nhưng đã để lại bao nhiêu lưu luyến cho những người đương thời cũng như hậu thế. Một cuộc đời có một kết thúc hết sức bình dị nhưng lại vô cùng cao đẹp. Ngày nay, mỗi khi đọc lại những gì tổ tiên ta đã viết về những ngày cuối cùng của vua Trần Nhân Tôngchúng ta không khỏi bồi hồi xúc động như mình đang đối diện với một người đang sống bằng xương bằng thịt trước mặt chúng ta
__________
Tiến sĩ Lê Mạnh Thát
TRẦN NHÂN TÔNG CON NGƯỜI VÀ TÁC PHẨM - Nhà Xuất Bản TP. Hồ Chí Minh 1999
Nguồn: thuvienhoasen.org

ĐẠI LỄ TƯỞNG NIỆM 710 NĂM ĐỨC VUA - PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG NHẬP NIẾT BÀN

Trong 2 ngày 6-7/12, tại Trung Tâm Văn Hóa Trúc Lâm Yên Tử sẽ diễn ra Chương trình Đại Lễ Tưởng Niệm 710 năm Đức Vua - Phật Hoàng Trần Nhân Tông nhập Niết bàn và Hội Thảo Khoa Học Quốc Tế “Trần Nhân Tông và Phật Giáo Trúc Lâm – Đặc sắc Tư Tưởng Văn Hóa” do Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, Đại Học Quốc Gia Hà Nội, Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Quảng Ninh đồng chủ trì.

 

 

Ban trị sự GHPGVN tỉnh Quảng Ninh, phối hợp với Công ty Cổ phần phát triển Tùng Lâm và Viện Trần Nhân Tông tổ chức triển khai Chương trình với nội dung và lịch trình cụ thể như sau:

 

Ngày 6/12/2018 (ngày 30 tháng 10 năm Mậu Tuất)


Lễ Tưởng Niệm Đức Vua – Phật Hoàng Trần Nhân Tông (9h00-11h00) và Đại lễ Cầu Siêu (13h00-16h00) tại chùa Ngọa Vân, xã Bình Khê, thị xã Đông Triều, Quảng Ninh.

 

Đức vua – Phật Hoàng Trần Nhân Tông (1258 – 1308) là người có nhiều đóng góp và có vị trí đặc biệt trong lịch sử dân tộc Việt Nam.

 

Với Đời – Ngài là vị vua anh minh kiệt xuất, đã lãnh đạo đoàn kết nhân dân hai lần đánh thắng giặc Nguyên – Mông, một đội quân xâm lược mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ. Chiến thắng ấy còn mãi mãi khắc ghi trong lịch sử vàng dân tộc. Sau khi nhường ngôi báu cho người kế vị, Ngài đã dành tâm huyết để xây dựng và thực thi kế sách khoan hòa trong nhân dân, đề ra chính sách dưỡng dân, an dân để xây dựng, phát triển mở mang đất nước.

 

Với Đạo – Ngài là Thiền sư đắc đạo, là người sáng lập và lãnh đạo Phật giáo Trúc Lâm, nền Phật giáo thống nhất riêng có của người Việt Nam. Với tấm lòng vì dân, với nhãn quan của một vị vua minh triết, một nhà sư giác ngộ, Ngài chủ trương xây Đạo để nuôi dưỡng, phát huy nhân tâm thuận hòa trong trăm họ, xây dựng, bồi đắp tính độc lập, sức tự cường, vun bồi sự hòa hợp trong thế gian, hòa hợp vua tôi, hòa hợp cha con, hòa hợp vợ chồng, hòa hợp trong gia đình, hòa hợp quốc gia…Tư tưởng ấy là cội rễ làm nên sức mạnh lâu bền của dân tộc, theo thời gian đã trở thành truyền thống của dân tộc Việt Nam.

 

Hội Thảo Khoa Học Quốc Tế “Trần Nhân Tông và Phật Giáo Trúc Lâm – Đặc sắc Tư Tưởng Văn Hóa” tại Phòng họp lớn Diên Hồng thuộc Trung Tâm Văn Hóa Trúc Lâm, xã Thượng Yên Công, Uông Bí, Quảng Ninh: từ 08h00 – 17h00.

 

Hơn 400 nhà khoa học, đại diện nhiều đơn vị học thuật trong và ngoài nước đã đăng ký tham dự Hội Thảo, với hơn 135 tham luận, trong đó có 34 tham luận của các học giả đến từ 10 quốc gia và vùng lãnh thổ.

 

Hội thảo tập trung vào các chủ đề sau: Hành trang, đặc sắc tư tưởng, văn hóa của Trần Nhân Tông và Phật giáo Trúc Lâm; vai trò, ảnh hưởng trong lịch sử, hiện tại và xu hướng tương lai; Phật giáo tại các quốc gia trong khu vực và trên Thế giới – tiếp cận địa văn hóa và nghiên cứu so sánh; Phật giáo và các vấn đề đời sống con người đương đại; Lễ Truyền Đăng “Phật Giáo Trúc Lâm – Hội Tụ và Lan Tỏa” tại Trụ sở Giáo Hội Phật Giáo tỉnh Quảng Ninh – sân lễ hội Chùa Trình, phường Phương Đông, Uông Bí, Quảng Ninh: từ 19h00 – 22h00.

 

Ngày 7/12/2018 (ngày 1 tháng 11 năm Mậu Tuất)

 

Lễ cúng Phật, cúng Tổ và nhiễu tháp Phật Hoàng tại chùa Hoa Yên, xã Thượng Yên Công, thành phố Uông Bí: vào hồi 00h00.

 

Lễ Tưởng Niệm 710 năm Đức Vua – Phật Hoàng Trần Nhân Tông nhập Niết Bàn và Khánh thành giai đoạn I Cung Trúc Lâm – tại , Trung Tâm Văn Hóa Trúc Lâm, xã Thượng Yên Công, Uông Bí, Quảng Ninh; từ 8h30-11h00.

 

Ban tổ chức trân trọng kính mời Chư Tôn Đức Tăng Ni, quý vị đại biểu, cùng toàn thể nhân dân, Phật tử xa gần về tham dự Đại Lễ Tưởng Niệm.

 

Đặc biệt vào ngày giỗ Phật Hoàng, Ban tổ chức thông báo miễn phí vé danh lam thắng cảnh 40,000 đồng/người trong 2 ngày 30/10 và 1/11 âm lịch ( tức 6,7/12 dương lịch).

 

Hòa mình cùng chương trình đại lễ, tại làng Hành Hương Yên Tử - thuộc Trung tâm Văn hóa Trúc Lâm, diễn ra một số chương trình như sau:

 

Buffet chay tại nhà hàng Cơm Chay Làng Nương, cánh phải đình làng.: phục vụ bữa trưa và tối ba ngày 5- 7/12 dương lịch (29, 30/10 và 1/11 âm lịch)

 

Nhà hàng Chợ Quê: phục vụ cơm chay và mặn bữa sáng, trưa và tối hàng ngày

 

Góc Bán sách/Vật phẩm Phật Giáo và Sản phẩm thực dưỡng thương hiệu Homefood phục vụ từ 1-9/12 dương lịch.

 

Thương hiệu Trà Phổ Linh – phục vụ từ 1-9/12 dương lịch.

 

Chương trình Biểu Diễn Thời Trang Phật Tử - Thương hiệu An Lạc Tâm với màn trình diễn từ đội ngũ nhân viên Trung Tâm Văn Hóa Trúc Lâm Yên Tử. Toàn bộ số tiền thu được trong việc phát hành trang phục nhân dịp đại lễ, An Lạc Tâm sẽ phục vụ cho các hoạt động thiện nguyện, giành sự sống cho các bé bị tim bẩm sinh, chia sẻ và hỗ trợ những mảnh đời bất hạnh và đang gặp khó khăn trên tinh thần từ bi của Đạo Phật.

 

Trung tâm Văn hóa Trúc Lâm

 

 

Cảm hứng từ Huệ Quang Kim Tháp và các di sản của Thiền phái Trúc Lâm trên núi Yên Tử đã giúp nhà thiết kế nổi tiếng Thế giới Bill Bensley và những nghệ nhân Việt Nam thời nay thực sự thăng hoa và sáng tạo nên Trung tâm Văn hóa Trúc Lâm có một không hai dưới chân núi Yên Tử.

 

Mang “hồn Việt, nét Trần, và tinh thần Thiền Trúc Lâm” bao gồm các hạng mục văn hóa, khu nghỉ Làng Hành Hương Yên Tử với 400 giường, khu nghỉ dưỡng cao cấp Legacy Yên Tử - MGallery by Sofitel với 133 phòng sang trọng, 4 nhà hàng phục vụ ẩm thực truyền thống và hương vị Á Âu phong phú, địa điểm phục vụ hội nghị hội thảo trong và ngoài trời lên tới 10,000 người và các hoạt động trải nghiệm giải trí văn hóa đa dạng tại sân đình làng mỗi ngày.

______________

baomoi.com

SỐNG THEO LÝ TƯỞNG BỒ TÁT


Trong đạo Phật có hai tư trào, hai xu thế tựa hồ như mâu thuẫn nhau, nhưng thật ra thì bổ sung hỗ trợ cho nhau; cả hai tư trào đó đều có ý nghĩa đối với cuộc sống của con người hiện đại
 
Thứ nhất là tư trào hướng nội, quay trở về cái mà đạo Phật thường gọi là bộ mặt thật xưa nay của chính mình, con người thật của mình. 
 
Thứ hai là tư trào hướng ngoại, mà sách Phật thường gọi là lợi hạnh độ sanh. Lợi hạnh là làm tất cả mọi điều lợi ích cho tất cả mọi loài hữu tìnhĐộ sanh là giải thoát mọi loài hữu tình khỏi mọi nỗi bất hạnhđặc biệt là nỗi bất hạnh lớn lao nhất là sống chết luân hồiThực chất của tự trào hướng ngoại này là đồng nhất cá nhân mình với toàn thể mọi người, mọi chúng sinh trong thế giớivũ trụ
 
Cả hai xu hướng nói trên tiêu biểu cho hai hạnh lớn của đạo Phật là trí tuệ và từ bi, và đức Phật là bậc Thánh được Phật tử toàn thế giới ca ngợitôn sùng như là thể hiện một cách hoàn hảo nhất hai đức hạnh trí tuệ và từ bi đó. 
 
Tôi xin lần lượt phân tích cặn kẻ hơn hai xu thế của đạo Phật, mà tôi tin rằng có một giá trị hiện sinh lớn (great exitstential dimension) đối với thời đại hiện nay của chúng ta.
 
1. Xu thế hướng nội: Quay về con người thật của chính mình. 
 
Chúng ta có thể suy nghĩ gì về cuộc sống thác loạn, chạy theo lạc thú vật chất đang là đặc trưng nổi bật của những xã hội có trình độ văn minh vật chất cao, và cả của những xã hội đang phát triển, nhưng bị nền văn minh đó làm cho mê hoặc và chói lòa? Có sức mạnh sâu kín gì nằm ở đằng sau những tệ nạn xã hội như ma túytội phạm ở lứa tuổi thanh thiếu niên, mãi dâm, loạn dâm và bạo dâm, đồng tính luyến ái, bệnh tâm thần, nạn tự sát cá nhân hay tập thể v.v . . . ? ở đằng sau tất cả nếp sống thác loạn đó là xu thế của con người bất hạnh muốn thoát khỏi cái ta hạn hẹp và vị kỷ, muốn thoát khỏi một tâm trạng bất an và ưu tư dai dẳngthường trực mà tiếng Anh gọi bằng danh từ chung là anxiety. Nhưng vì sao lại có tâm trạng bất an và ưu tư thường trực đó mà con người hiện đại muốn tìm sự lãng quên trong nếp sống thác loạn, đôi khi mất cả tính người. 
 
Phải chăng là con người tưởng rằng, vì nội tâm đầy ưu tư và buồn chán, cho nên phải hướng ra bên ngoài để tìm lạc thú vật chất? Phải chăng con người tưởng rằng càng chiếm hữu nhiều của cải và tiện nghi vật chấtcon người sẽ càng được thêm hạnh phúc, mọi nỗi ưu tư trong nội tâm sẽ được xóa bỏ.
 
Ảo tưởng này đâu có mới mẻ mà có tính muôn thuở ở ấn Độ cổ đại, đã từng có triết phái Duy vật (Carvaka) chủ trương như thế. Và ở thành phố Athène thời Socrates, có những triết gia thuộc phái ngụy biện (Sophistes) cũng đã từng bênh vực cho một lối sống khoái lạc vật chất tối đa như là một lối sống lý tưởng, xứng đáng được con người mơ ước. 
 
Đạo Phật nói đó là ảo tưởng của những người khát nước mà còn ăn mặn, và càng ăn mặn càng bị khát. Đạo Phật vạch ra rằng, nỗi bất an và ưu tư nội tâm chỉ có thể giải quyết ở trong nội tâm, chứ không thể giải quyết ở bên ngoài. Phương pháp tu Thiền của đạo Phật – mà người phương Tây quen gọi là đạo Phật Thiền (Zen Buddhism) chính là phương pháp giúp cho con người trở về với nội tâm mình để giải quyết một cách căn bảnmọi nỗi ưu tư và bất an của nội tâmNội tâm chúng ta không khác gì mặt nước hồ, bị những đợt gió dục vọng chạy theo ngoại cảnh làm cho nổi sóng và vẩn đụcChúng ta ưu tư chúng ta bất an chính vì chúng ta hằng ngày sống với cái nội tâm nổi sóng đó, trong khi cả lớp nước hồ sâu thẳm, trong lặng thì chúng ta bỏ quên như là xa lạ, không phải của mình. 
 
Mục đích của Thiền không ở ngoài việc chỉ bày cho chúng ta những phương pháp thích hợp để làm cho bề mặt của nội tâm ta không còn nổi sóng, không còn dao động, để có thể nhìn sâu vào những lớp nội tâm rộng lớn, trong lặng vốn là cái tâm thật của chúng tachân tâm của chúng ta
 
Nội tâm con người, từ bề mặt cho đến những bề sâu, một khi được làm cho vắng lặng, thì sẽ trong sáng như gương, sẽ là nguồn an lạc và hạnh phúc, sẽ là chân lý là ánh sáng, là Niết BànPhương pháp tu Thiền rất nhiều vì bản tính con người muôn vàn sai biệt, người thì độn căn, người lợi căn, có người nặng về tham, có người lại sân và si nhiều; hay là ngược lại. Thế nhưng mục đích cuối cùng phải đạt tới của mọi phương pháp tu Thiền là an tịnh nội tâm, làm vắng lặng và trong sáng nội tâm, biến nội tâm từ dao động trở thành yên tịnh, từ mê mở trở thành sáng suốt. Tâm sáng suốt, đó chính là trí tuệ Bát-nhã, chính là cái mà sách Anh ngữ thường gọi là trí tuệ siêu việt Transcendental wisdom. Có được trí tuệ Bát-nhã, thì tức là thành Phật, bậc Thánh nhìn thấy tất cả biết hết tất cả (Omnicient). 
 
Một ông vua mà giới sử học quốc tế thường biết đến như là một anh hùng đã lãnh đạo quân dân Việt Nam hai lần chiến thắng đội quân xâm lược Nguyên Mông vào thế kỷ XIII, đội quân đã từng làm mưa làm gió trên các chiến trường châu âu, và Châu Á thời bấy giờ. Ông vua đó Trần Nhân Tông. Ông vua đó, sau khi đánh bại quân Nguyên Mông đã không chịu ở lại ngôi vua để tận hưởng vinh quang của chiến thắng, mà đã nhường ngôi cho con, xuất gia theo đạo Phậttrở thành vị Thiền sư lỗi lạc, lập ra phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử. Những tác phẩm Phật học của ông, toát lên nhiều tư tưởng kỳ đặc. Một trong những tư tưởng đó là theo nguyên văn lời ông.
 
“Bụt ở trong nhà, 
Chẳng phải tìm xa, 
Nhân khuẩy bổn nên ta tìm Bụt, 
Cốc mới hay chính Phật là ta”. 


(Cư Trần Lạc Đạo Phú - hội 5) 
 
Nghĩa là theo Trần Nhân Tôngcon người thật của chúng ta chính là Phật, và chính vì chúng ta quên mất cái bổn, cái gốc đó cho nên chúng ta mới là chúng sinh, có trí óc mê muội và thân tâm đau khổ bất hạnh. Niềm ưu tưbất an có thường trực trong nội tâm của chúng ta chính là bắt nguồn từ ở chỗ chúng ta quên mất con người thật của chúng ta là Phật, sống với con người giả của chúng ta là chúng sinhĐạo Phật của Trần Nhân Tôngcũng như của đời Trần nói chung là một đạo Phật hướng nội rất rõ nét, rất sinh động. Trên từ vua cho đến các quan lại, tướng lãnh, binh sĩ, dân thường nếu mọi người đều tin rằng mình là những vị Phật sẽ thành, do đó ngay trong hiện tại phải sống xứng đáng với vị Phật ở trong mình, sống với những đức hạnh của Phật như là từ bitrí tuệdũng khívô úy... thì hãy hỏi có giặc ngoại xâm nào, kể cả quân đội Nguyên Mông thiện chiến, có thể xâm phạm bờ cõi Việt Nam mà không bị đánh bại. 
 
Cổ đức có câu:
“Khổ hải vô biên, 
Hồi đầu thị ngạn”.
 
 
Nghĩa là:
“Biển khổ mênh mông, 
Nhưng quay đầu lại thì sẽ thấy bờ ngay”. 

 
Quay đầu lại hướng về nội tâm, quay đầu lại sống với con người thật của mình, và con người thật đó chính là Phật với đầy đủ hai đức hạnh trí tuệ và từ bi. Đó chính là phương thuốc mà đạo Phật có thể cống hiến cho con người hiện đạicon người hiện nay đang lãng đãng như khách phong trần trên khắp các nẻo đường, tìm kiếm sự thật và hạnh phúc, tuy biết rằng sự tìm kiếm đó là vô vọngĐạo Phật nói: Thôi hãy đừng tìm kiếm đâu xa nữa? Hãy trở về với chính mình, với con người thật của mình. 
 
Trần Nhân Tông, nhà vua–Thiền sư mà tôi đã giới thiệu trên đây có hai câu thơ chữ Hán:
 
“Gia trung hửu bán hưu tầm mích 
Đối cảnh 
vô tâm mạc vấn Thiền”. 
 
Nghĩa là: 
“Trong nhà sẵn ngọc thôi tìm kiếm 
Lặng lòng đối cảnh hỏi chi Thiền”. 

 
Trong nhà có sẵn ngọc, không cần tìm kiếm đâu xa nữa, cũng như nói chính mình là Phật rồi, thôi đừng cầu Phật, tìm Phật ở đâu xa nữa. Và vì đã là Phật, cho nên ngoại cảnh dù có biến đổihấp dẫn như thế nào cũng không thể ảnh hưởng chi phốiNội tâmcon người vẫn bình lặng. Đã bình lặng thì sáng suốt, không gì không thấy, không biết. Và đó chính là Thiền rồi, cũng không cần học hỏi Thiền làm gì.
 
2. Xu thế hướng ngoại: Một cuộc sống hoàn toàn vô ngãvị thatích cựcnăng độngphong phú. 
 
Con người, sau một quá trình tìm kiếm lâu dài không có kết quả, cuối cùng biết trở về với chính mình, thì bỗng thấy cái gọi mình là ta thực ra không tồn tại. Cả thân và tâm chỉ là một dòng, một chuỗi hiện tượng tâm và sinh lý biến chuyển liên tục trong từng sát na một và ở bên trong hay là ở đằng sau dòng chảy liên tục đó, không có một cái gì gọi là linh hồn hay là cái ta vĩnh cửu
 
Kinh Thủ Lăng Nghiêm (Suragama) một bộ kinh Đại thừa quan trọng đã minh họa thuyết Vô ngã của đạo Phật bằng một ảnh dụ rất sinh động và cụ thể
 
“Cũng như trăm ngàn biển cả trong lặng mênh mông, mà bỏ đi tất cả rồi chấp nhặt một bọt nước làm mình...”. Chấp thân tâm này là ta, cũng như biển cả quên mình là biển cả rồi chấp nhặt một bọt sóng là biển cả. 
 
Con người giác ngộ lý vô ngã của nhà Phật, phát hiện thấy mình không phải là cái bọt nước, mà là cả đại dương rộng lớn, mình là đồng một thể với tất cả mọi người, mọi chúng sinh, mọi loài hữu tình, và từ nhận thức đầy trí tuệ này, con người phát ra một lòng từ rộng lớn, lòng bi rộng lớn, nguyện làm tất cả những gì có thể làm được vì lợi lạc của tất cả chúng sinh, của tất cả mọi loài. Sống như vậy, đạo Phật gọi là sống theo lý tưởng Bồ-tát (Bodhisattva ideal). Đó là lý tưởng sống hòa nhập vào mọi người, mọi chúng sinh, đúng theo nguyên lý mọi người, mọi chúng sinh đều bình đẳng, cùng một thể
 
Tôi tin rằng lý tưởng Bồ-tát, như được trình bày trên đây, là một lý tưởng có giá trị hiện thực lớn đối với thế giới hiện đại, vì các tôn giáo lớn trên thế giới đều có thể chấp nhậnvà thực hiện lý tưởng Bồ-tát của đạo Phật trên những mức độ khác nhau, và với những tên gọi khác nhau. 
 
Đạo Gia-tô nói: “Hãy thương người như thể thương mình”. Đạo Hồi nói: “Người Hồi giáo trong bốn biển đều là anh em”. Đạo Phật nói: “Hãy yêu thương tất cả chúng sinh như người mẹ yêu thương đứa con một của mình”. 
 
Tất cả những lời lẽ khác nhau đó đều nói lên một nội dung thống nhất là tình thươngrộng lớn, bao trùm lên mọi người không phân biệt chủng tộc và dân tộc, màu da và giới tính v.v. . . Tình thương rộng lớn đó phải là nét đặc trưng nổi bật nhất của một trật tự đạo đức mới, rất cần thiết cho xã hội và thế giới hiện đại, ở phương Tây cũng như phương Đông. 
 
Đạo Phật khuyến cáo mọi người hãy quay về với người thật của mình, thế nhưng con người thật của chúng ta lại là vô ngã. Nó không hạn chế trong cái thân và tâm vô thường hạn hẹp này, nó là cũng một thể với tất cả mọi người, mọi chúng sinh và mọi loài hữu tình khác. Và sống hòa nhập với mọi người, mọi chúng sinh chính là lối sống vô ngã vị tha theo lý tưởng Bồ-tát. 
 
Nói tóm lại, hướng nội để tìm con người thật của chính mình. Nhưng sau khi phát hiện con người thật của mình lại không có mình không có ta, lại là vô ngã, đồng nhất thể với tất cả mọi người, mọi chúng sinh khác, cho nên đạo Phật lại chủ trương một cuộc sống năng động tích cực, hướng ngoại không phải là để tìm và hưởng thụ những lạc thú vật chất tầm thường và phi đạo đức, mà là để mưu lợi ích và đem lại an lạc cho mọi người, mọi loài Trong cả hai xu thế hướng nội và hướng ngoại này, nổi bật lên chủ thuyết Vô ngã của đạo Phật, nó không khác gì sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ giáo lýđạo đức và thực tiễn tu hành của đạo Phật
 
Khi đức Phật còn tại thế và cả sau khi Ngài đã nhập diệt, tại bất cứ nơi nào đạo Phật có mặt thì lý tưởng vô ngã vị tha bao giờ cũng là chuẩn mức bất di dịch của nếp sống đạo đức Phật giáo, đối với người xuất gia cũng như người tại giaLý tưởng đó chói sáng Phật giáo Nguyên thủy cũng như Phật giáo phát triển, Phật giáo Nam tông cũng như Phật giáo Bắc tông, hồi Phật còn tại thế cũng như mãi mãi về sau này. Bất cứ mọi ngườinào mà chối bỏ lý tường đó, sống ngược lại với lý tưởng đó, thời không thể được xem như là người Phật tử chân chính, chứ đừng nói gì đến bậc A-la-hán. Ấy thế mà vẫn cóngười viết sách phê phán, lý tưởng của A-la-hán là vị kỷ hẹp hòi. Họ không hiểu rằng muốn thành A-la-hán, điều kiện tiên quyết là phải diệt trừ mọi tư tưởng về cái ta, phải giác ngộ về lý vô ngã vị tha
 
Chúng ta hãy nghe lại lời đức Phật khuyến dụ lớp học trò đầu tiên của Ngài: 
 
“Này các Tỳ kheo, các người cần phải tu hành, vì an lạc cho số đông, vì hạnh phúc cho số đông, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc của chư Thiên và loài Người...” (Mahavagga, 19) 
 
Cần nhắc lại rằng, sớm từ năm 300 trước Công nguyên, vào một thời mà đạo Phật Đại thừa chưa hưng khởi thì Hoàng đế Asoka ở Ấn Độ đã phái nhiều đoàn truyền giáo mang thông điệp của đức Phật Thích-ca đến tận các xứ Xiri, Hy Lạp, Ai Cập và Bắc Phi và nhiều vùng xa xôi khác trên thế giới. Theo truyền thuyết, một phái đoàn truyền giáo của Asoka đã đến tận nước Việt Nam, và có xây một bảo tháp ở đây. Truyền giáo ở đất nước xa xôi, bất chấp những trở ngại về ngôn ngữ, phong tục tập quán v.v... là một hành động không những vị tha mà còn dũng cảm nữa. Và đã có biết bao nhiêu người đi mà không trở về trong sự nghiệp truyền giáo của các tôn giáo lớn trên thế giới
 
Thiếu sót cơ bản của con người hiện đại là đã đánh mất con người thật của chính mình, mà chạy theo cái Ta giả với những khao khát thèm muốn không bao giờ có thể thỏa mãn.Con người hiện đại ở xã hội văn minh phương Tây, có thể sống một dời sống tiện nghi vật chất thật đầy đủ, nhưng chỉ thiếu một cái là hạnh phúc, là sự an ổn nội tâm để thật sự thụ hưởng tất cả mọi của cải và tiện nghi vật chất đó. 
 
Đúng như vậy, của cải và tiện nghi vật chấtlạc thú vật chất không thể là mục đích tự nó, và cứu cánh được Bởi vì, tối thiểucon người phải có sự bình tĩnh và thanh thản của tâm hồn mới có thể tận hưởng những lạc thú vật chất hay tinh thần. Thế nhưng từ lâu, do cuộc sống thác loạn và hướng ngoại, mất hài hòa với bản thân, với thiên nhiên và xã hộicon người của xã hội văn minh phương Tây đã đánh mất sự bình tĩnh và thanh thản đó của tâm hồn, là điều kiện tiên quyết và cơ bản của một hạnh phúc chân chính và thật sự.
 
Ngay từ thời Hy Lạp cổ đại, Socrates đã vạch ra tất cả sự vô nghĩa lý của một lối sốngtôn thờ khoái lạc vật chất như là độc nhất và tối thượngChúng ta có thể đọc lời phê phán sắc sảo đó của Socrates trong bài đối ngoại Phillebus của Plato. Trong cuộc đàm thoại, Socrates đã dẫn đối phương của mình là Protarchus đến kết luận vô lý này là con người chỉ cần hưởng lạc thú tối đa, ngoài ra thì không cần gì hết, kể cả lý trí, sự thông minhtrí nhớkiến thức và quan niệm đúng đắn. Nghĩa là theo Protarchus, con ngườimiễn là được hưởng lạc thú tối đa, còn thì không cần gì nữa hết, kể cả sự thông minhlý trítrí nhớ v.v. . . 
 
Socrates nói: “Như vậy thì không có trí nhớ làm sao ông nhớ được ông đã được hưởng lạc thú: bởi lẽ ngay sau khi hưởng lạc thú, ông không còn còn nhớ gì được hết, và hơn nữa, vì ông cũng không có quan niệm đúng đắn, ông cũng không nghĩ được rằng ông đã được hưởng lạc thú, và bởi vì ông cũng thiếu khả năng lý trí, ông cũng mất khả năngnhận thức được rằng ông sẽ còn được hưởng lạc thú trong tương lai. Ông phải sống cuộc sống của con sò hay là của những con vật sống nào khác mà trú xứ là đáy biển mà linh hồn bị dấu kín ở trong vỏ cứng. Có phải tất cả là như thế chăng, hay là chúng ta có thể nghĩ một cái gì khác?” 
 
Protarchus: “Chúng ta không thể nghĩ khác được”. 
 
Socrates: “Nếu vậy thì phải chăng chúng ta có thể nghĩ rằng một lối sống như thế là đáng mong ước?” 
 
Protarchus: “Này Socrates, lập luận của ông làm tôi điếc cả tai ...” 
 
Tôi dẫn chứng cuộc đàm thoại của Socrates để nói rằng con người hiện đại, sống một cuộc sống văn minh vật chất cao ở cuối thế kỷ XX này vẫn có thể tiếp tục suy nghĩ ấu trĩ như Protarchus ở Athenes cách đây hai mươi lăm thế kỷ . 
 
Tất nhiên, đạo Phật một mặt lên án cuộc sống chạy theo những dục vọng vật chất thấp hèn, mặc khác cũng không phải đề cao cuộc sống nghèo đói, kham khổ, đạo Phật lại càng phê phán lối tu hành hạ xác thân, ép xác khổ hạnh, chỉ làm cho thân người bệnh hoạn và đầu óc con người u mêĐức Phật khuyến chúng ta tránh cả hai cực đoan chạy theo dục lạc vật chất và sống ép xác khổ hạnhĐức Phật khuyến cáo học trò mình cũng như tất cả mọi người sống nếp sống lành mạnh, giản dị, hướng thượngchói sáng đạo đứcgiới hạnh và trí tuệ, một nếp sống mà tất cả mọi người giàu hay nghèo, xuất gia hay tại gia, ở phương Đông hay phương Tây đều có thể sống hay hướng đến. Một nếp sốngnhư vậy sẽ đem lại sự bình tĩnh nội tâm sự sáng suốt của trí tuệ, giúp cho con người có thể thấy được sự vật như thật. Chính nhờ đó mà con người có thể sống hài hòa với bản thân và làm chủ bản thân, sống hài hòa với xã hội, với thiên nhiên. Và trong nhịp sống hài hòa đó, với bản thân, với xã hội và thiên nhiêncon người mới tìm thấy hạnh phúcthật sự. 
 
Nếu tất cả mọi người đều chấp nhận và sống nếp sống như vậy, thì cả thế giới chiến tranh và bất ổn này sẽ sớm trở thành một thế giới hòa bình và hạnh phúc, kỷ nguyên XXI sắp tới đây sẽ trở thành kỷ nguyên của con người, kỷ nguyên trong đó các giá trị nhân bản là thước đo, là chuẩn mức của mọi giá trị, đường ranh giới phân biệt thật hay giả, thành công hay thất bại, chánh kiến hay tà kiến. Một kỷ nguyên trong đó con người trở thành vị quan tòa tối thượngđánh giá mọi hệ thống chính trị xã hội, xem hệ thống nào ưu việt, đầy sức sống, hệ thống nào lỗi thời, phải cương quyết tự cải tổ lại hay là rút lui khỏi vũ đài lịch sử
 
Xu thế hướng nội, quay về với con người thật của chính mình không thể bị hiểu nhầm, là tiêu cực, tự thu mình trong tháp ngà. Trên đây, tôi có nói đến một xu thế khác của đạo Phậtxu thế hướng ngoại dẫn tới một cuộc sống vị tha tích cực, vì lợi lạc của tất cả mọi người, mọi chúng sinh. Trong kinh điển của Phật giáo Nguyên thủy, có ghi những lời dạy của đức Phật, khuyến cáo các đệ tử của mình hãy tích cực hoằng hóa độ sanh, và nhất là thực hành Bốn nhiếp pháp để gần gũi chúng sinh, mưu lợi lạc cho chúng sinh, gần gũi mọi người, đem lợi lạc cho mọi người
 
Bốn nhiếp pháp đó là ái ngữ tức là lời nói dịu hiền, dễ nghe, bố thí tức là giúp đỡ chúng sinh trên các mặt cung cấp của cải vật chấtgiảng giải đạo lýgiáo pháp của đức Phậtche chởbảo vệ chúng sinh nếu cần thiết, và tùy hỷ với tất cả mọi điều lợi lạc cho chúng sinh, và cuối cùngđồng sự tức là cùng làm việc với chúng sinh v.v... Bốn nhiếp pháp, ái ngữbố thí, lợi hành, đồng sự là như vậy, chúng thể hiện nếp sống vị tha tích cực của đạo Phật. (Xem Tăng Chi I, 387). Cùng với Bốn nhiếp pháp, người Phật tử giác ngộ về thuyết vô ngã còn ra sức tu tậpthực hành Bốn vô lượng tâm, tức là mở rộng lòng từlòng bi, lòng hỉ, lòng xả, bao trùm tất cả chúng sinh khắp mười phươngĐồng thời cũng tu tập thực hành sáu hạnh ba la mật, tức là bố thígiới hạnhnhẫn nhụctinh tấnThiền địnhtrí tuệ. Sáu hạnh này được tu tập và thực hành đến chỗ hoàn hảotriệt để sẽ giúp cho những người sống theo lý tưởng Bồ-tát, có thể vứt bỏ hoàn toàn cái Ta nhỏ hẹp, vị kỷ, sống hòa nhập vào tất cả chúng sinh, tất cả mọi người

 Đó là nếp sống của những người Phật tử giác ngộ về lý Vô ngã của đạo PhậtNếp sốngđó không có gì là tiêu cực thụ độngTrái lại, nó rất tích cựcnăng động và phong phú, đa dạng. Mong rằng nó tỏ ra hấp dẫn đối với con người hiện đại, đối với xã hội hiện đại.
 
___________________

ĐẠI LỄ TƯỞNG NIỆM 710 NĂM PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG NHẬP NIẾT BÀN

Đại lễ tưởng niệm 710 năm Đức vua - Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập niết bàn (1308-2018) với nhiều hoạt động nghi lễ trang nghiêm sẽ được tổ chức trong hai ngày 6 và 7-12, tại Quảng Ninh.

 

 

Thông tin trên được hòa thượng Thích Gia Quang, phó chủ tịch thường trực Hội đồng trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, cho biết tại buổi họp báo chiều 2-12.

 

Theo hòa thượng Thích Gia Quang, với mục đích tưởng niệm, tôn vinh công đức của Đức vua - Phật hoàng Trần Nhân Tông với dân tộc và đạo pháp, trong khuôn khổ đại lễ sẽ diễn ra lễ tưởng niệm Phật hoàng Trần Nhân Tông và đại lễ cầu siêu tại chùa Ngọa Vân (Đông Triều) - nơi Đức vua hóa Phật; lễ truyền đăng tưởng niệm Phật hoàng tại sân lễ hội chùa Trình (trụ sở Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Quảng Ninh); lễ cúng Phật, cúng Tổ và nhiễu tháp Phật hoàng tại chùa Hoa Yên (Uông Bí). Đại lễ tưởng niệm 710 năm Đức vua - Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập niết bàn được tổ chức vào sáng 7-12, tại Cung Trúc Lâm - Trung tâm lễ hội Yên Tử (Uông Bí).

 

Trong thời gian diễn ra đại lễ, Giáo hội Phật giáo Việt Nam phối hợp với Đại học Quốc gia Hà Nội và UBND tỉnh Quảng Ninh tổ chức hội thảo khoa học quốc tế với chủ đề "Trần Nhân Tông và Phật giáo Trúc Lâm - Đặc sắc tư tưởng, văn hóa" tại Trung tâm Văn hóa Trúc Lâm.

 

Hội thảo nhằm mục đích huy động trí tuệ, tâm huyết của giới khoa học trong và ngoài nước nhằm thảo luận, làm rõ thêm, đồng thời khai thác, phát huy những nội dung, giá trị đặc sắc trong di sản tư tưởng, văn hóa của Trần Nhân Tông và Phật giáo Trúc Lâm, đặt trong dòng chảy liên tục của lịch sử từ quá khứ đến hiện tại và định hướng tương lai, với không gian mở rộng từ dân tộc đến nhân loại, với tiếp cận chuyên ngành và liên ngành, nghiên cứu trường hợp và nghiên cứu so sánh…

 

Hội thảo cũng là hoạt động thiết thực của giới nghiên cứu, tăng ni, phật tử trong và ngoài nước hướng về Phật hoàng Trần Nhân Tông với thái độ trân trọng, biết ơn đối với bậc tiền nhân đã có những đóng góp to lớn cho dân tộc và nhân loại nhân dịp kỷ niệm 760 năm đản sinh và 710 năm nhập niết bàn của Ngài.

 

Phó giáo sư, tiến sĩ Lại Quốc Khánh, phó viện trưởng Viện Trần Nhân Tông (Đại học Quốc gia Hà Nội), cho biết điểm đặc sắc của hội thảo là bên cạnh xuất hiện một số công trình nghiên cứu hàn lâm chuyên sâu, còn có nhiều công trình ứng dụng, giải quyết những vấn đề xã hội nhân sinh và đương đại hiện nay. Những giá trị trong di sản văn hóa của Phật hoàng đã đi vào cuộc sống đương đại một cách rõ ràng.

 

Hội thảo quy tụ hơn 400 nhà khoa học, đại diện các đơn vị học thuật trong và ngoài nước, với 135 tham luận, trong đó có 34 tham luận của các học giả nước ngoài đến từ 10 quốc gia và vùng lãnh thổ, có thành tựu nghiên cứu đặc sắc về Việt Nam và Phật học như Mỹ, Pháp, Ấn Độ, Nga… Những công trình đó không chỉ khẳng định, ca ngợi, tôn vinh những giá trị đặc sắc trong di sản tư tưởng, văn hóa của Phật hoàng Trần Nhân Tông, thiền phái Trúc Lâm mà còn thông qua những nghiên cứu so sánh để khẳng định giá trị sức sống, những điểm tương đồng, những giá trị mang tính nhân văn và sự cộng hưởng rất lớn của những giá trị đó.

 

Đức vua - Phật hoàng Trần Nhân Tông (1258-1308) là người có nhiều đóng góp và có vị trí đặc biệt trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Với đời, Ngài là vị vua anh minh kiệt xuất, đã lãnh đạo đoàn kết nhân dân hai lần đánh thắng giặc Nguyên - Mông. Sau khi nhường ngôi báu cho người kế vị, Ngài đã dành tâm huyết để xây dựng và thực thi kế sách khoan hòa trong nhân dân, đề ra chính sách dưỡng dân, an dân để xây dựng, phát triển mở mang đất nước.

 

Với đạo, Ngài là thiền sư đắc đạo, là người sáng lập và lãnh đạo Phật giáo Trúc Lâm, nền Phật giáo thống nhất riêng có của Việt Nam. Với tấm lòng vì dân, với nhãn quan của một vị vua minh triết, một nhà sư giác ngộ, Ngài chủ trương xây đạo để nuôi dưỡng, phát huy nhân tâm thuận hòa, xây dựng, bồi đắp tính độc lập, sức tự cường, vun bồi sự hòa hợp trong thế gian. Tư tưởng ấy là cội rễ làm nên sức mạnh lâu bền của dân tộc, theo thời gian đã trở thành truyền thống của dân tộc Việt Nam.

_____________

Nguồn: Thông tấn xã Việt Nam

ĐỨC VUA TRẦN NHÂN TÔNG: HÀNH TRÌNH TỪ BẬC MINH QUÂN ĐẾN ĐỨC PHẬT HOÀNG

Sáng 5/12, nhân kỷ niệm 760 năm ngày sinh và 710 năm ngày Đức Vua Trần Nhân Tông nhập niết bàn, Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long – Hà Nội tổ chức tọa đàm khoa học “Từ Hoàng cung Thăng Long đến Thánh địa Trúc Lâm – Hành trình từ bậc minh quân đến đức Phật hoàng”.

 

Quang cảnh buổi tọa đàm. Ảnh: Đinh Thuận - TTXVN


Các nhà khoa học, các vị thượng tọa đã tập trung thảo luận, làm rõ một số vấn đề liên quan đến thân thế và sự nghiệp của Vua Trần Nhân Tông; khẳng định vai trò trung tâm của Vua Trần Nhân Tông trong lịch sử dân tộc, sự phát triển của văn hóa Thăng Long; giá trị tư tưởng của Phật hoàng Trần Nhân Tông trong lãnh đạo đất nước, trong phát triển Phật giáo. Đồng thời, tọa đàm cũng đề cập đến các di tích tiêu biểu liên quan đến Phật hoàng Trần Nhân Tông; các di sản tư tưởng của Phật hoàng Trần Nhân Tông và Thiền phái Trúc Lâm; công tác bảo tồn quảng bá và phát huy di sản văn hóa Trúc Lâm cũng như di sản của Vua Trần Nhân Tông trong bối cảnh hiện nay.

 

Cũng trong dịp này, Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long – Hà Nội phối hợp Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh Quảng Ninh tổ chức trưng bày chuyên đề “Từ Hoàng cung Thăng Long đến Thánh địa Trúc Lâm – Hành trình từ bậc minh quân đến đức Phật hoàng” tại khu di sản Hoàng thành Thăng Long; trưng bày, giới thiệu những hình ảnh, hiện vật, tư liệu liên quan đến cuộc đời Phật hoàng Trần Nhân Tông nói riêng và Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử nói chung.

 

Trong lịch sử phát triển, Thăng Long – Hà Nội đã trải qua những giai đoạn lịch sử thăng trầm. Dưới thời Trần, Kinh thành Thăng Long tiếp tục được gia cố, xây dựng thêm so với thời Lý. Cung điện, đền đài trong Hoàng thành Thăng Long được nhà Trần sử dụng lại của các triều đại trước và xây dựng thêm như xây mới cung Thánh Từ, cung Quan Triều... Các Vua Trần cũng xây dựng nhiều ngôi chùa trong hoàng cung, làm nơi thực hành nghi lễ Phật giáo Hoàng gia của Hoàng gia. Cung điện, lầu gác trong hoàng cung là những công trình thổ mộc được trang trí tinh xảo thể hiện tính vương quyền hòa quyền với triết lý Phật giáo.

 

Vua Trần Nhân Tông là một nhà chính trị tài ba, nhà quân sự kiệt xuất, lãnh đạo nhân dân Đại Việt đánh tan quân Mông Nguyên, bảo vệ toàn vẹn độc lập, chủ quyền của đất nước. Đồng thời, ông cũng là nhà tư tưởng lớn, người sáng lập nên Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử mang đậm dấu ấn Việt.

___________

TTXVN/Đinh Thuận

CÔNG TRÌNH 200 TỈ MỪNG 710 NĂM PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG NHẬP NIẾT BÀN

Cung Trúc Lâm tại di tích danh thắng Yên Tử với kinh phí thực hiện giai đoạn 1 hơn 200 tỉ đồng sẽ được khánh thành vào ngày 7-12, chào mừng đại lễ tưởng niệm 710 năm Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập niết bàn.

 

Cung Trúc Lâm với kinh phí thực hiện giai đoạn 1 hơn 200 tỉ đồng để chào mừng đại lễ

tưởng niệm 710 năm Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập niết bàn

 

Thượng tọa Thích Thanh Quyết - phó chủ tịch Hội đồng trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam - cho biết cung Trúc Lâm do Ban trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Quảng Ninh làm chủ đầu tư, tổng kinh phí thực hiện giai đoạn 1 hơn 200 tỉ đồng từ nguồn công đức và xã hội hóa.

 

"Ngoài việc tích tiểu thành đại tiền công đức của phật tử cả nước, tiết kiệm để triển khai xây dựng cung Trúc Lâm, chúng tôi còn đi vận động tổ chức, doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế cùng vào cuộc, đóng góp xây dựng cung", thượng tọa Thích Thanh Quyết nói.

 

Vị Thượng tọa cho biết công trình có trên 6.000m2 xây dựng này tuy được làm bằng chất liệu bêtông giả gỗ, kiến trúc theo lối truyền thống dân tộc, lấy cảm hứng từ những kiến trúc cổ còn sót lại của Yên Tử như Tháp Tổ, đặc biệt là bức tường xung quanh Tháp Tổ.

 

Cung Trúc Lâm được xây dựng bằng vật liệu bêtông giả gỗ


Về công năng sử dụng của công trình trị giá hàng trăm tỉ đồng này, thượng tọa Thích Thanh Quyết nói "sẽ cơ động" nhưng được xây dựng với ý nghĩa là cung của Phật hoàng.

 

Giai đoạn 2 của công trình sẽ có thêm một điện thờ Phật hoàng Trần Nhân Tông, tạo thêm các vườn thiền xung quanh cung, dự tính xây dựng bức phù điêu về giai đoạn lịch sử ấn tượng nhất của nước Việt khi Phật hoàng xuất hiện. Bức phù điêu này dự tính được đặt ở cung chính.

 

Ngoài cung Trúc Lâm, dịp đại lễ tưởng niệm 710 năm Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập niết bàn, ban tổ chức còn khánh thành thêm hai công trình khác là chùa Trung Tiết tại xã An Sinh (thị xã Đông Triều), kinh phí 82 tỉ đồng và công viên Chữ Tâm trong khuôn viên trụ sở Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Quảng Ninh tại chùa Trình, phường Phương Đông, thành phố Uông Bí với kinh phí 3 tỉ đồng.

 

Cung Trúc Lâm được xây dựng với ý nghĩa là cung của Phật hoàng

Trần Nhân Tông, có công năng sử dụng cơ động

Cung Trúc Lâm được đặt nhiều sofa với màu sắc bắt mắt


Các công trình đều được thực hiện bằng nguồn vốn xã hội hóa.

 

Về đại lễ tưởng niệm 710 năm Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập niết bàn, hòa thượng Thích Gia Quang, phó chủ tịch thường trực Hội đồng trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam - cho biết đại lễ sẽ diễn ra vào 3 ngày, từ 5 đến 7-12 tại chùa Ngọa Vân, xã Bích Khê, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.

 

Nhiều hoạt động sẽ được tổ chức như lễ tưởng niệm Phật hoàng Trần Nhân Tông và đại lễ cầu siêu tại chùa Ngọa Vân (Đông Triều) - nơi đức vua hóa Phật; lễ cúng Phật, cúng tổ và nhiễu tháp Phật hoàng tại chùa Hoa Yên (Uông Bí).

 

Đại lễ tưởng niệm 710 năm đức vua - Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập niết bàn được tổ chức vào sáng 7-12, tại cung Trúc Lâm - Trung tâm lễ hội Yên Tử (Uông Bí).

 

Cung Trúc Lâm với kinh phí thực hiện trong giai đoạn 1 là hơn 200 tỉ đồng, được xây dựng

bằng tiền công đức của phật tử và đóng góp của các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế

 

Trong thời gian diễn ra đại lễ, Giáo hội Phật giáo Việt Nam phối hợp với Đại học Quốc gia Hà Nội và UBND tỉnh Quảng Ninh tổ chức Hội thảo khoa học quốc tế với chủ đề Trần Nhân Tông và Phật giáo Trúc Lâm - Đặc sắc tư tưởng, văn hóa tại Trung tâm Văn hóa Trúc Lâm.

 

Hội thảo quy tụ hơn 400 nhà khoa học, đại diện các đơn vị học thuật trong và ngoài nước với 135 tham luận, trong đó có 34 tham luận của các học giả nước ngoài đến từ 10 quốc gia và vùng lãnh thổ có thành tựu nghiên cứu đặc sắc về Việt Nam và Phật học như Mỹ, Pháp, Ấn Độ, Nga…

 

Ban tổ chức sẽ chuẩn bị 30.000 hộp cơm chay để phát cho du khách về thắp hương tưởng niệm Phật hoàng Trần Nhân Tông dịp này. Giá vé cáp treo cũng được các công ty khai thác giảm giá từ 30 - 50%.

___________

Thiên Điểu

Nguồn: tuoitre.vn

MỘT TÁCH TRÀ

 

Nan-In, một thiền sư Nhật Bản vào thời Minh Trị (1868 - 1912), tiếp một ông giáo sư đại học đến tìm hiểu về Thiền.

Nan-In mời dùng trà. Ông đã rót đầy vào tách của khách và vẫn tiếp tục rót thêm.

Ông giáo sư nhìn nước tràn cho đến khi tự mình không nhịn được thêm nữa. "Tách đã đầy tràn rồi. Không thêm vào được nữa đâu!"

"Giống như cái tách này" Nan-In nói, "ông mang đầy ý kiến và suy đoán riêng của ông. Làm sao tôi có thể chỉ cho ông về Thiền trừ phi ông cạn cái tách của ông trước đã?"

___________

http://www.buddhistedu.org

THẮP SÁNG ĐÈN XƯA

 

Bài viết cho buổi tọa đàm nhân lễ giỗ lần thứ 300 Thiền sư Hương Hải.

 

I. SƠ LƯỢC TIỂU SỬ THIỀN SƯ HƯƠNG HẢI:

 

Thiền sư Hương Hải (1628 - 1715) là vị Thiền sư Việt Nam thời Hậu Lê. Ở đời thường gọi ngài là Tổ Cầu . Sư và Thiền sư Chân Nguyên là hai vị đi đầu trong công cuộc phục hưng Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử trong khoảng thế kỷ 18.

 

Tổ tiên Sư ở Làng Áng Độ, huyện Chân Phúc. Nay là huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Tổ bốn đời của Sư theo Đoan Quốc công Nguyễn Hoàng vào trấn Quảng Nam. Được vua Lê Anh Tông phong cho ông hiệu Khởi Nghĩa Kiệt Tiết Công Thần, cấp 30 mẫu ruộng và con cháu được thế lập.

 

Sư sinh năm Mậu Thìn (1628), sống ở làng Bình An Thượng, thuộc Phủ Thăng Hoa (nay thuộc tỉnh Quảng Nam). Thuở nhỏ thông minh, hiếu học. Năm 18 tuổi đỗ Hương tiến (cử nhân), được bổ vào làm Văn chức trong phủ chúa Nguyễn Phúc Lan (ở ngôi 1635 – 1648). Năm 1652, được bổ làm Tri phủ Triệu Phong (nay thuộc Tỉnh Quảng Trị). Năm 25 tuổi, vì hâm mộ Phật pháp nên Sư tìm đến học đạo với một vị Thiền sư đến từ Trung Hoa là Lục Hồ Viên Cảnh, được đặt pháp danh là Huyền Cơ Thiện Giác, pháp tự Minh Châu Hương Hải. Sau, Sư tìm đến Thiền sư Đại Thâm Viên Khoan để tham học.

 

Hơn ba năm sau, Sư từ quan xin xuất gia, dong thuyền ra biển Nam Hải, trụ trên ngọn núi Tim Bút La cất ba gian nhà tranh ở tu. Nơi vị trí nhà tranh này về sau xây dựng thành chùa Hải Tạng. Đến năm Tự Đức thứ 1 (1848), chùa đã được di dời sang chỗ khác, cách vị trí cũ khoảng hơn 1km. Nay thuộc cụm đảo Cù Lao Chàm, xã đảo Tân Hiệp, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.

 

Sư ở đây chuyên tu thiền định, giới luật tinh nghiêm, trải qua nhiều chướng duyên của ngoại ma, có khá nhiều câu chuyện linh dị. Sau, Chúa Nguyễn Phúc Tần (còn gọi là Chúa Hiền) nghe danh nên sai sứ ra đảo mời Sư về.

 

Trước đó, trên núi Qui Kính (núi Cổ Rùa) có một tháp cổ Chăm-pa nằm ở vai Rùa. Chúa Hiền cho dời xuống vị trí lưng Rùa và đem tượng Chăm-pa thờ vào trong tháp, do đó mọi người thường gọi tháp này là: “Cốt Chăm bì Việt” (bên trong thì thờ tượng Chăm-pa mà bên ngoài thì tháp Việt). Sau đó, Chúa Hiền (Nguyễn Phúc Tần) cho xây dựng chùa Vinh Hòa trên vị trí cũ của Tháp cổ vừa mới được di dời. Khi Thiền sư Hương Hải đến, Chúa Hiền thỉnh Sư trụ trì ngôi chùa này. Trong ngữ lục thì ghi lại, Chúa Hiền cho “sai quan đón (Thiền sư Hương Hải) ra lập chùa trên núi Qui Kính gọi là Thiền Tịnh Viện”. Núi này như một quả đồi nhỏ, hiện tại khảo cứu thì chỉ thấy có dấu vết một ngôi chùa. Có thể khi đến, ngài đã lập một khu vực phương trượng để ở, trực thuộc trong quần thể chùa Vinh Hòa và đặt tên là Thiền Tịnh Viện, chứ không phải có một tự viện riêng.

 

Đến đời vua Minh Mạng đổi tên núi Qui Kính thành Linh Thái . Đổi tên chùa Vinh Hòa thành chùa Trấn Hải. Bởi đây là nơi trọng yếu quốc phòng ngay cửa biển Tư Dung (nay là Tư Hiền), thường có lính triều đình canh gác. Sư trụ trì giáo hóa ở đây rất thịnh hành. Quan quân đến học đạo quy y hơn 1.200 vị.

 

Thời ấy đất nước bị phân hai. Đàng Ngoài là Chúa Trịnh, vua Lê; Đàng Trong là Chúa Nguyễn. Sau có quan Thị nội giám của Chúa Trịnh là Gia Quận Công tòng quân vào đánh Thuận Hóa bị Chúa Nguyễn Phúc Tần bắt được. Nhưng tha cho và được ở lại Thuận Hóa, ban lương tháng để ra vào trong phủ dạy học nội cung. Vị quan này vì mộ đạo và kính trọng đạo đức của Sư nên thường lui tới chùa Vinh Hòa đàm đạo. Cứ dần dà như thế qua thời gian khá lâu cho nên bị người ngoại đạo dèm pha, tâu lên Chúa Hiền vu khống cho là Sư có âm mưu với Gia Quận Công để che chở cho Sư trở về với Chúa Trịnh. Chúa Hiền sai bắt Sư và Gia Quận Công giao cho quan tra khảo hơn bảy ngày mà không thấy có bằng chứng gì. Chúa Hiền cho là tình ngay mà lý gian nên ra lệnh cho Sư trở về lại Quảng Nam. Từ nhân duyên ấy, Sư bắt đầu cùng hơn năm mươi đồ đệ quyết chí ra Bắc. Lúc này là năm 1682, Sư được 55 tuổi.

 

Khi mới đến Bắc Hà, Thiền sư Hương Hải phải đối diện với sự nghi kỵ của Phủ Chúa và tầng lớp quan lại. Mấy tháng sau thì Chúa Trịnh Tạc mất, Trịnh Căn lên nắm quyền. Từ đây Sư mới bắt đầu được ổn định và tùy duyên tu hành, hoằng hóa, biên dịch Kinh Luận.

 

Cho đến cuối năm Canh Thìn (1700), lúc này Sư đã ngoài 70 tuổi mới về trụ trì chùa Nguyệt Đường ở Hưng Yên. Sư tùy duyên giảng dạy đồ chúng và sự hoằng hóa của Sư bắt đầu hưng thạnh.

 

Đến năm 1715, Sư dặn dò đệ tử, nói kệ xong, ngồi kiết già thị tịch, thọ 88 tuổi.

 

II. THIỀN SƯ HƯƠNG HẢI LÀ VỊ THIỀN SƯ PHỤC HƯNG THIỀN PHÁI TRÚC LÂM YÊN TỬ TRONG KHOẢNG THẾ KỶ 18:

 

Trước thế kỷ 17, tức là trước thời ngài Nguyên Thiều Siêu Bạch, đã có phái thiền của Tông Lâm Tế thuộc dòng Trí Bản Đột Không từ Trung Hoa truyền sang miền trung Việt Nam. Dòng này có bài kệ:

 

Trí tuệ thanh tịnh,

Đạo đức viên minh.

Chân như tánh hải,

Tịch chiếu phổ thông.

 

 

Chữ “VIÊN” chính là ngài Viên Cảnh và ngài Viên Khoan, là thầy của Thiền sư Hương Hải. Hai ngài này giáo hóa ở vùng Quảng Trị. Cùng thời có ngài Viên Văn Chuyết Chuyết (Hòa thượng Chuyết Công) sang Việt Nam trước và giáo hóa ở Quảng Nam. Năm 1633 ngài ra Bắc ở chùa Bút Tháp giáo hóa và để lại nhục thân hiện vẫn còn tại chùa Phật Tích, Bắc Ninh. Còn dòng Lâm Tế phái ngài Nguyên Thiều Siêu Bạch ở Trung Hoa là xuất phát từ chùa Báo Tư và truyền sang Việt Nam sau phái Trí Bản Đột Không.

 

Khi vua Trần Nhân Tông gả công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm là Chế Mân và vua Chiêm đã dâng hai châu Ô Lý làm sính lễ. Hai châu này ngày nay chính là vùng đất Thuận Hóa. Đến năm 1306 bắt đầu di dân vào. Dân đi đến đâu thì tín ngưỡng theo đến đó. Mà tín ngưỡng tôn giáo lúc bấy giờ chính là Phật giáo Trúc Lâm hay còn gọi là Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Bởi lúc này Phật giáo Trúc Lâm đã là Quốc giáo. Nhưng đến thời Thiền sư Hương Hải thì sự truyền thừa của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử ở Đàng Trong gần như không còn. Do đó, Thiền sư Hương Hải cũng không được trực tiếp ấn chứng truyền tâm từ một vị Thiền sư nào của phái Trúc Lâm.

 

Như vậy, Thiền sư Hương Hải được xuất gia với Ngài Viên Cảnh, học đạo nơi Ngài Viên Khoan. Hai vị này thuộc dòng thiền Lâm Tế, phái Trí Bản Đột Không từ Trung Hoa sang Việt nam hoằng hóa. Cho nên trên lý thuyết thì ngài là đệ tử của Tông Lâm Tế. Nhưng trên thực tế thì ngài lại được xem là vị Thiền sư phục hưng Thiền phái Trúc Lâm Yên tử là do sự thể hội tông chỉ, do tư tưởng văn hóa và cụ thể hóa bằng sức sống và việc làm của ngài.

 

1. TÔNG CHỈ:

 

1.1: TINH THẦN PHẢN QUAN TỰ KỶ:

 

Điều quan trọng nhất cho chúng ta thấy rõ Thiền sư Hương Hải là người phục hưng Thiền phái Trúc Lâm Yên tử là tông chỉ. Chúng ta có thể nhận ra tông chỉ, chủ trương của ngài thể hiện khá rõ qua bài kệ Sư dạy cho Vua Lê Dụ Tông:

 

Phản văn tự kỷ mỗi thường quan,

Thẩm sát tư duy tử tế khan.

Mạc giáo mộng trung tầm tri thức,

Tương lai diện thượng đổ sư nhan.

 

Hằng ngày xem lại chính nơi mình,

Xét nét kỹ càng chớ dễ khinh.

Trong mộng tìm chi người tri thức,

Mặt thầy sẽ thấy trên mặt mình.

 

Tông chỉ của Thiền phái Trúc Lâm Yên tử là: “Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc.” “Xoay lại chính mình, không từ bên ngoài mà được”. “Chính mình” là chân tâm, Phật tánh nơi mỗi người. Có nghĩa là hành giả khéo xoay lại, nhận ra và sống cho được bằng tánh Phật nơi chính mình. Trong bài kệ trên, Thiền sư Hương Hải đã nói: “Hằng ngày xem lại chính nơi mình”, không tìm bất kỳ điều gì bên ngoài. Và cuối cùng là: “Mặt thầy sẽ thấy trên mặt mình.” Có nghĩa, tự tánh mình là bậc thầy chân thật của chính mình. Tông chỉ “xoay lại chính mình để ngộ tâm, sống trọn vẹn bằng tự tánh” của Thiền phái Trúc Lâm Yên tử đã được Thiền sư Hương Hải nêu rất nghiêm túc, rõ ràng trong bài kệ nói với một vị vua.

 

1.2: TÍNH CHẤT VÔ TÂM:

 

Vô tâm không phải là vô tư, thờ ơ, thiếu trách nhiệm. Nghĩa vô tâm ở đây là chỉ cho bản tâm chân thật, rỗng lặng, sáng suốt, không một mảy trần niệm lự đối đãi được mất, bại thành, mừng giận, thương ghét… hai bên. Người nhận ra và sống được với tánh thể rỗng lặng sáng suốt này, người này có đầy đủ định lực, trí sáng và ngập tràn an vui. Tiêu trừ bản ngã cá nhân cho nên không còn nhỏ nhoi ích kỷ. Chỉ biết cảm thông và giúp ích, ban vui và cứu khổ cho mọi người mà không hề thấy chán mỏi. Đây là tâm trí, tâm quang, tâm lực, và tâm lượng vô cùng đặc biệt của nhà Phật, nó nằm ngay nơi mỗi một con người chúng ta và đã được thể hiện rất rõ trong tinh thần Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Đây là điểm đặc biệt được Sơ tổ Trúc Lâm (Vua Trần Nhân Tông) nêu lên trong bài kết của mười hội phú Cư trần lạc đạo:

 

Ở đời vui đạo hãy tùy duyên,

Hễ đói thì ăn, nhọc ngủ liền.

Trong nhà có báu thôi tìm kiếm,

Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền.

 

Đối trước tất cả cảnh vật, tình huống hay bất kỳ hoàn cảnh nào, tâm thể chúng ta vẫn rỗng lặng nhưng sáng rỡ; dù rõ ràng rành rẽ mọi thứ nhưng tâm vẫn rỗng sáng không chút niệm vương, ngay đó sức sống thiền đang hiện tiền, hỏi tìm kiếm thêm gì ở đâu nữa! Vừa có niệm muốn tìm thì hết vô tâm, là mất thiền rồi. Với tính chất vô tâm này, thiền sư Hương Hải đã nói: “Vô tâm phiền não hà cư?” Tức là khi vô tâm thì phiền não ở chỗ nào, nương vào đâu mà có, nghĩa là khi đạt đến vô tâm thì phiền não làm gì còn? Thiền sư Hương Hải đã phản quan lại chính mình, hay ra và sống được bằng tự tánh rỗng sáng không động và nói lên tính chất trong tâm tánh ấy mà ngài đã cảm nhận được: “Vô tâm phiền não hà cư?” Cho thấy, ngài là người đã thể hội và sống đúng với tính chất đặc biệt của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.

 

1.3: SỨC SỐNG TỪ TÔNG CHỈ THIỀN:

 

Khi phản quan, xoay lại chính mình, tỏ ngộ và sống bằng bản tâm chân thật nơi chính mình, Vua Trần Nhân Tông đã nói:

 

“Niềm lòng vằng vặc,

Giác tánh quang quang.

Văng vẳng ngàn kia,

Dầu lòng dong thả.”

 

Đến đây rồi, trong không tâm để giữ, ngoài không pháp để trừ, tâm cảnh như như thì bản tánh mặc phơi bày, trùm khắp, vốn tự vằng vặc, sáng rỡ. Và thiền sư Hương Hải cũng đã nói lên chỗ sống này:

 

Nhật dụng vô phi đạo,      Hằng ngày không việc khác,

Tâm an tức thị thiền.        Tâm an chính là thiền.

 

Trong mọi sinh hoạt hằng ngày, vẫn ăn mặc ngủ nghỉ, vẫn làm lụng bao nhiêu việc phải làm, vẫn đối diện với nhiều thứ thị phi khen chê vinh nhục… Nhưng với ngài, tất cả không có gì ra ngoài ánh sáng của thiền cho nên không có gì không phải là đạo lý chân thật. Đây cũng chính là gia phong của Sơ tổ Trần Nhân Tông:

 

Áo rách che mây sáng ăn cháo,

Bình xưa tưới nguyệt tối uống trà.

 

Nếp nhà của Tổ chỉ là việc thường nhật mặc áo, ăn cơm, uống trà trong tâm thể không một niệm vương mà vằng vặc sáng ngời ấy.

 

Cho thấy, Thiền sư Hương Hải đã vận dụng tinh thần phản quan, nhận ra và sống được bằng tâm thể chân thật cho nên đã nói lên những diệu dụng bất tư nghì từ bản tâm ấy. Vì vậy, với tông chỉ, với tinh thần phản quan tự kỷ của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, thiền sư Hương Hải đúng là người kế tục, tiếp nối dòng Thiền này.

 

2. TƯ TƯỞNG, VĂN HÓA:

 

Một tư tưởng dễ nhận ra là Việt hóa. Cụ thể là trong các tác phẩm, ngài dùng chữ Nôm (chữ của Việt nam thời ấy) nhiều hơn là chữ Hán. Ngài cũng đã dịch nhiều Kinh Luận sang chữ Nôm và chú giải. Giống với tinh thần Phật giáo đời Trần là một dòng Thiền thuần Việt. Các sáng tác của chư vị Thiền sư lúc ấy có rất nhiều bản dùng chữ Nôm. Ông cha ta trước kia thường ảnh hưởng phong cách của thời kỳ văn học truyền miệng cho nên hay dùng thơ kệ. Đến thiền sư Hương Hải có điểm đặc biệt là ngài bắt đầu chú giải kinh luận bằng văn xuôi của chữ Nôm. Đây có thể coi là bước khởi điểm, chuyển mình từ thi kệ qua văn xuôi của văn hóa Việt Nam lúc bấy giờ.

 

Đọc Ngữ Lục của Ngài, chúng ta sẽ nhận ra khá rõ nhiều đặc điểm Thiền tông đời Trần như là tính chỉ thẳng, thi vị, tùy duyên, vô tâm… trong các lời ngài khai thị chúng.

 

Tư tưởng văn hóa của ngài mang đậm tính dân tộc Việt, là một tính chất đặc trưng riêng có trong tinh thần Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Đồng thời, ngài đã dịch giải và vận dụng những đặc điểm của Thiền tông đời Trần để giảng dạy đồ chúng. Đủ cho chúng ta nhận ra, tư tưởng văn hóa của ngài là tiếp nối Thiền phái thuần Việt này.

 

3. VIỆC LÀM CỤ THỂ, GIÁO HÓA ĐỒ CHÚNG KẾ THỪA:

 

Trên quan điểm lập trường tông chỉ “phản quan tự kỷ”, với tư tưởng Việt hóa và học theo các tính chất đặc điểm của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử trong ngữ Lục của chư vị Tổ sư Việt Nam, Thiền sư Hương Hải đã giảng dạy và đào tạo được nhiều vị đệ tử, đệ tôn tài giỏi nối nắm mạng mạch Thiền tông Việt Nam. Như là Hòa thượng Chân Lý Hiển Mật, Hòa thượng Tăng thống Chánh Tông, tự Như Nguyệt, hiệu Hoa Quang…

 

Qua ba phương diện: Tông chỉ, tư tưởng văn hóa và việc làm cụ thể như vừa nên trên, cho chúng ta thấy ngài Hương Hải là vị Thiền sư thể hội, xiển dương và khôi phục Thiền phái Trúc Lâm Yên tử thời Hậu Lê.

 

III. SỰ TRÙNG HỢP NGẪU NHIÊN GIỮA HAI VỊ THIỀN SƯ KHÔI PHỤC THIỀN PHÁI TRÚC LÂM YÊN TỬ:

 

Không biết phải nói thế nào cho đúng, bởi một kỳ duyên đặc biệt. Rất vô tình, nhưng nhân duyên khôi phục Thiền tông đời Trần của hai vị Thiền sư ở hai thời đại cách xa nhau lại ngẫu nhiên trùng hợp ở nhiều điểm quan trọng.

 

1. Ra Đời Trong Thời Điểm Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử Gần Như Vắng Bóng, Nhưng Lại Có Tâm Nguyện Muốn Phục Hưng Thiền Phái Này:

 

Thiền sư Hương Hải ra đời ở Thế kỷ 17-18. Hòa thượng Thiền sư Thích Thanh Từ ra đời vào thế kỷ 20-21. Hai khoảng thời gian này Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử gần như vắng bóng, không còn người hiểu rõ và có niềm tin vào việc tu thiền. Nhưng hai ngài đều có chung một tâm nguyện muốn khôi phục, làm sống dậy Thiền tông đời Trần.

 

2. Xuất Gia Theo Thầy Của Tông Lâm Tế, Nhưng Lại Tỏ Ngộ Và Phục Hưng Dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử:

 

Thiền sư Hương Hải xuất gia với ngài Viên Cảnh, học đạo với ngài Viên Khoan. Hai vị này đều thuộc dòng Lâm Tế. Nhưng khi ra giáo hóa thì Thiền sư Hương Hải lại xiển dương Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.

 

Một điều trùng hợp ngẫu nhiên. Hòa thượng Thiền sư Thích Thanh Từ xuất gia với cố Hòa thượng Thích Thiện Hoa, vốn là đệ tử của Tổ Khánh Anh từ Quảng Ngãi vào miền Nam giáo hóa. Tổ Khánh Anh là vị nối dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh tại miền Trung. Thế nhưng, do túc duyên đã thôi thúc khiến cho chính Hòa thượng Thiền sư Thích Thanh Từ cũng không biết vì sao ngay từ khi mới xuất gia, ngài đã muốn tu thiền và khôi phục Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Cụ thể ngài đã tự tìm tòi đọc học thiền trong Kinh Luận, quyết tâm nhập thất chuyên tu, tỏ ngộ thiền tâm. Trên trí giác đó làm căn bản, ngài đã biên soạn và dịch Kinh Luận, đặc biệt là các tác phẩm thiền Việt Nam để giảng dạy cho Tăng Ni và Phật tử. Từ đó, nhiều vị hiểu được thiền và hướng về tu tập.

 

Có lần trong buổi nói chuyện tại Viện nghiên cứu Hán Nôm, Hòa thượng Thiền sư Thích Thanh Từ đã nêu một ví dụ về việc nối nắm mạng mạch tông phong thiền:

 

“Như có người con cháu trong một dòng họ nọ đang nắm giữ viên ngọc của tổ tiên mình truyền lại trong gia phả thì họ biết rất rõ và không còn nghi ngờ gì cả. Người ngoài nghe vậy rồi muốn biết có đúng như thế không, nên phải truy tìm trong sử liệu hay bằng nhiều phương thức khác nhau để xác định giá trị, nguồn gốc viên ngọc. Như là: Thế hệ đầu tiên vào niên đại nào? Ai giữ, ở đâu? Và đã truyền cho thế hệ kế tiếp như thế nào… Nếu dữ kiện không rõ ràng hay đã bị thất lạc, người ta sẽ mất đi phương hướng và hoài nghi… Tương tự, Thiền tông cũng có viên ngọc trong gia phả, nhưng lại không giống viên ngọc thế gian, nó là “Ngọc bảo châu vô tướng”. Ai đã nhận ra nó thì không còn nghi ngờ. Nếu còn đi tìm thì sẽ càng hoài nghi. Như Thiền sư Huyền Giác đã nói: “Còn tìm liền biết anh chưa thấy!”. Đây là tâm trạng của người bên ngoài.”

 

Người đang nắm chắc hòn ngọc trong tay, chính là hành giả thiền môn thực chứng. Dù ở tại gia hay đã xuất gia, họ chỉ tùy nghi thọ dụng, tùy ý tiêu dùng, không còn hồ nghi là có hay không, phải cùng chẳng phải. Hành giả ngộ đạo, thực chứng, nắm chắc viên ngọc “Ma ni bảo châu vô tướng” trong tay tức là khế với tâm tông của Phật Tổ, của vị thầy truyền thừa. Đây cũng chính đích thực là nghĩa được “truyền tâm, ấn tâm” trong nhà thiền.

 

Hai ngài sống vào hai thời đại cách xa nhau, nhưng lại trùng hợp nhân duyên thật bất ngờ. Sinh ra đời trong bối cảnh Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử gần như vắng bóng, không còn người chính thức truyền thừa. Cho nên, trên lý thuyết truyền thừa thì hai ngài là đệ tử của Tông Lâm Tế miền trung Việt Nam. Nhưng trên thực tiễn “ngộ tâm ấn tâm” thì hai ngài cùng tỏ ngộ và xiển dương dòng thiền Việt Nam, Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.

 

3. Bị Chướng Duyên Nghịch Cảnh Và Đã Vượt Qua, Khôi Phục Thành Công Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử:

 

Thiền sư Hương Hải bị nhiều chướng duyên ngoại ma khi tu, bị những chướng duyên hiểu nhầm khi ra giáo hóa. Nhưng với đạo lực và bản lĩnh của mình, ngài đã chiến thắng ma chướng, vượt qua mọi sự nghi hiềm và khôi phục thành công Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.

 

Cũng vậy, Hòa thượng Thiền sư Thích Thanh Từ ra đời trong thời điểm không ai biết đến thiền. Có người nói “coi chừng tu thiền sẽ bị điên”, hoặc nói “thiền là quái thai của Phật giáo”. Trước một hoàn cảnh không ai hiểu và thông cảm thiền mà ngài lại tu thiền và khôi phục thiền Việt Nam thì không dễ chút nào. Trước khi nhiều người biết đến thiền, hiểu và tu tập được, thích thú nghiên cứu thực hành thiền; trước khi chúng ta nhìn thấy được bao nhiêu thành quả hôm nay đang hiện hữu thì Hòa thượng đã phải lặng thầm một mình chịu đựng qua nhiều năm tháng trước vô vàn nghịch cảnh đến từ nhiều phía khó để kể hết. Tuy nhiên, bằng vào trí tuệ, định lực, nghị lực cộng với phước đức nhân duyên, ngài đã cương nghị, dứt khoát, kiên quyết một đường thẳng tiến và đã khôi phục thành công Thiền tông Việt Nam rực rỡ như ngày hôm nay.

 

4. Việt Hóa:

 

Xưa kia, Thiền sư Hương Hải đã chú trọng dùng chữ Nôm của Việt Nam thời ấy, không chú trọng đến chữ Hán. Ngài dịch nhiều bản Kinh sang chữ Nôm và chú giải, khiến cho nhiều vị đọc học dễ hiểu và rất thích. Thì hiện nay, Hòa thượng Thiền sư Thích Thanh Từ cũng Việt hóa, không lệ thuộc vào chữ Nho. Ngài đã dịch nhiều bản Kinh, Luận, Thiền sang chữ Việt và giảng giải rõ ràng, sáng sủa khiến cho người học dễ dàng nhận hiểu và ứng dụng tu tập. Các bài Kinh Tụng trong các Thiền viện phần lớn do ngài trích từ trong Ngữ Lục Thiền sư Việt Nam đời Trần, dịch ra chữ Việt và biên tập lại cho chúng đệ tử tụng bằng nghĩa của chữ Việt, không dùng âm Hán văn. Cho đến nhiều lãnh vực văn hóa khác, ngài luôn nhắc chúng đệ tử chú trọng Việt hóa.

 

5. Chú Trọng Đào Tạo Chúng Đệ Tử:

 

Thiền sư Hương Hải chú trọng đến việc đào tạo đệ tử cho nên có nhiều vị nối pháp rất giỏi. Chúng ta có thể thấy rõ điều này qua ưu tư của ngài trước khi đến chùa Nguyệt Đường và những việc làm lúc ngài đến trụ trì tại đây.

 

Hòa thượng Thiền sư Thích Thanh Từ đã từng nói trong một buổi tham vấn tại Mỹ Quốc: “...Tôi thấy rằng, nếu muốn cho Phật pháp được vững mạnh, bền lâu thì phải có người tu sáng đạo”. Từ cách nhìn như vậy cho nên ngài luôn chú trọng đến việc đào tạo đệ tử. Trong các Thiền viện do ngài hướng dẫn đều có nội viện, có nơi nhập thất chuyên tu. Nếu đọc trong Thanh Quy của ngài biên soạn, hoặc nhìn kỹ thì sẽ nhận ra điều này. Từ cách tổ chức, giảng dạy, hướng dẫn tu hành cho đến cách làm các Phật sự khác, ngài luôn chú trọng đến việc tu. Đặt việc tu sáng đạo lên hàng đầu, làm chủ đạo trong đời sống tu hành của các thiền sinh tại các Thiền viện. Đúng với lời ngài đã nói từ trong tâm khảm sâu thẳm của mình: “Muốn cho Phật pháp được vững mạnh, bền lâu thì phải có người tu hành sáng đạo”. Có lần chúng tôi được nghe một vị Tôn đức ở Huế nói với chúng tôi rằng: “Nhiều vị nhìn qua thì thấy Hòa thượng Thanh Từ không biết cách tổ chức. Nhưng kết quả cuối cùng thì dưới ngài có nhiều đệ tử lớn tài giỏi kế thế. Mới biết, ngài là người khéo tổ chức.”.

 

Việc chú trọng đào tạo đệ tử để có người nối nắm mạng mạch Thiền tông của Hòa thượng Thiền sư Thích Thanh Từ đã được chư vị Tôn túc thấy ra. Là vô tình hay hữu duyên mà lại trùng với Thiền sư Hương Hải, ai mà biết được! Việc này chúng ta bắt chước cũng đã khó. Nếu như không có túc duyên, thiếu đạo lực, thiếu trí tuệ và nhân duyên với nhiều người thì làm sao dám nghĩ bắt chước nhau là được.

 

6. Xiển Dương Đàng Trong, Thịnh Hành Lúc Ra Đàng Ngoài:

 

Thời Ngài Hương Hải đất nước bị chia cắt hai phần. Đàng Trong là chỉ cho phía Nam, Đàng Ngoài là phía Bắc. Thiền sư Hương Hải vốn xuất gia học đạo và giáo hóa thạnh hành, khôi phục Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử tại Đàng Trong (phía Nam; nay là miền Trung). Nhưng mãi cho đến khi đủ duyên ra Đàng Ngoài (phía Bắc) thì sự hoằng hóa của ngài mới được thuận lợi và phát triển. Chúng ta dễ nhận thấy điều này khi ngài đến trụ trì giáo hóa tại chùa Nguyệt Đường ở Hưng Yên.

 

Cũng vậy, Hòa thượng Thiền sư Thích Thanh Từ cũng xuất gia và hoằng hóa, khôi phục Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử tại miền Nam. Trải từ buổi đầu khó khăn rồi dần dần đến lúc thuận lợi. Chư Tăng Ni và Phật tử hướng về tu tập càng đông. Các thiền viện thuộc Thiền phái Trúc Lâm cũng lần lượt ra đời ở nhiều nơi. Việc tu tập của các hành giả buổi đầu đã có kết quả nhất định. Nhưng về mặt hoằng truyền thì vẫn còn một điều gì đó như là chưa được đầy đủ trọn vẹn, khiến cho sự phát triển của Thiền phái vẫn còn trong chừng mực. Cho đến khi hội đủ nhân duyên Hòa thượng ra phía Bắc thành lập các Thiền viện thì việc khôi phục và xiển dương Thiền tông Việt Nam của ngài mới hanh thông và phát huy đúng mức. Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử được nhiều người biết đến, được các giới trí thức và mọi tầng lớp trong xã hội vinh danh. Từ khắp mọi miền đất nước cho đến các nước phương Tây, Thiền viện đều đã được thành lập giúp những vị hữu duyên có nơi quy hướng tu hành. Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử thêm một lần nữa được hồi sinh, sống dậy mạnh mẽ ở thế kỷ 20-21 này.

 

7. Cùng Đủ Duyên Trên Mảnh Đất Thần Kinh:

 

Xưa kia, Thiền sư Hương Hải được Chúa Nguyễn Phúc Tần (Chúa Hiền) cho xây dựng chùa Vinh Hòa tại huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế và thỉnh ngài về trụ trì giáo hóa. Hôm nay, Hòa thượng Thiền sư Thích Thanh Từ lại cũng đủ duyên xây dựng Thiền viện Trúc Lâm Bạch Mã cũng tại huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế; trên mảnh đất Thần Kinh giàu truyền thống văn hóa này.

 

Những điều không hẹn mà lại trùng hợp một cách ngẫu nhiên đến diệu kỳ giữa hai vị Thiền sư sống vào hai thời đại cách xa nhau, nhưng cùng một chí hướng khôi phục Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Chúng tôi không mất nhiều phút để tư duy, liên tưởng rồi lồng ghép những khía cạnh tương tự, cho nên ở đây hoàn toàn không có ý muốn nhắc đến nghĩa tiền kiếp, hậu kiếp của hai ngài là một. Chỉ là một thoáng tình cờ, đang lúc viết về Thiền sư Hương Hải nhân kỷ niệm 300 năm ngày giỗ của ngài; trong thoáng bất ngờ, bỗng nhiên nhiều điều trùng hợp cùng lúc hiện rõ trong đầu, chúng tôi liền viết ra ngay để chia sẻ cùng quý vị. Để thấy rằng, đến trong chân trời “tự tánh kia”, người người cùng gặp. Loanh quanh bên ngoài, đành phải cách xa mà thôi.

 

IV. HỌC HIỂU TỔ SƯ QUA CÁCH NÀO?

 

Một lớp học được cô giáo dẫn bài của nhà văn Nguyễn Khải để ra bài tập về nhà, yêu cầu các em hãy cho biết ý của tác giả muốn nói lên điều gì? Một học sinh trong số đó là con của chính tác giả. Cháu bé đến nhờ bố mình giúp đỡ. Nhà văn Nguyễn Khải nói lên ý nghĩ của mình trong bài văn. Cô giáo không hề biết mình có một học trò là con của nhà văn này. Sau khi nộp bài, cháu nhận được điểm một với lời nhận xét: “Chưa hiểu ý tác giả”. Là câu chuyện lạ, nhưng có thật và cũng thường có trong đời. Hiện nay chúng ta học hiểu ý của Tổ sư qua cách nào? Ai là người có đủ tư cách để thẩm xét điều này nếu không phải từ sự thể nghiệm, chứng ngộ của mỗi một hành giả chuyên tâm!

 

“Người bình thơ bao giờ cũng là kẻ thù của nhà thơ”. Một bài thơ, một tác phẩm văn học đều dựa vào hoàn cảnh và tâm thái của tác giả mà có ra. Nếu chúng ta không biết được bối cảnh lịch sử, hoàn cảnh ra đời và tâm trạng của tác giả mà vội bình phẩm một cách tùy tiện thì đi quá xa với ý tác giả. Không phải kẻ thù là gì?

 

Học hỏi, nghiên cứu các tác phẩm Thiền sư Việt Nam, điều tối thiểu buộc chúng ta phải biết là quý ngài dụng tâm gì, ở đâu để sáng tác và muốn nói lên điều gì? Quý ngài phải khổ công tu tập, chạm đến được cốt tủy thiền một cách rốt ráo; ở trong cảnh núi rừng u tịch, hay ở vào một tâm vắng lặng tuyệt đối mà xán lạn của tâm thiền; nhắn nhủ, khai thị cho hàng hậu thế hữu duyên nhận ra tâm tánh nơi chính mỗi người như quý ngài đang sống. Cho thấy, từ công phu tu tập, từ trí tuệ rốt ráo để nói ra những lời khai thị vàng ngọc, mong mỏi đưa con cháu trở về quê hương muôn thuở của chính mình. Nếu chỉ dừng trên ngôn thuyên, sách sử, trong một nội tâm tạo tác vọng động, ngồi ở nơi náo thị phồn hoa với một đời sống đắm chìm quá sâu trong ngũ dục để học hiểu, nghiên cứu, bình phẩm về quý ngài thì e là quá tội nghiệp cho mình!

 

Thiền sư Hương Hải một đời vì đạo pháp. Trải qua bao khó khăn, nhưng ngài đều quyết chí vượt qua. Bị vua chúa hiềm nghi hay được tôn trọng, ngài vẫn một mực chuyên tu và làm Phật sự, không hề bị chi phối, luôn luôn nghĩ đến tiền đồ Phật pháp. Đọc thi kệ và những lời khai thị, chúng ta càng thấy rõ hơn phong cách của ngài. Khi thì chỉ thẳng, có chỗ thì mang tính triết lý khúc chiết, chặn đứng các đường không còn chỗ cho tình thức chen vào hiểu biết. Nhận thì ngay đó liền nhận, không thì thôi. Càng cố suy nghĩ để lý luận thì càng cách xa. Đặc biệt cuối đời ngài ra đi một cách tự tại. Thấy vậy, chúng tôi không nghĩ quý ngài sẽ hoan hỷ khi trông thấy con cháu chỉ dừng lại ở những nghiên cứu, tìm hiểu qua ngôn ngữ, hình thức. Và có lẽ ngài cũng sẽ chưa thật sự yên lòng khi con cháu mới chỉ làm nên được tự viện hoành tráng, sách sử nghiên cứu đồ sộ. Chúng tôi nghĩ quý ngài sẽ mỉm cười mãn nguyện hơn nếu bằng vào những gì đã làm được, hàng hậu tấn chúng ta biết dụng công tu tập đạt đến được cốt tủy thiền mà quý ngài muốn chỉ. Trên cơ sở trí tuệ giác ngộ rốt ráo, chúng ta uyển chuyển vận dụng vào bất kỳ thời đại hay cõi nước nào đều mang lại lợi lạc, vén mây mê lầm cho người người vĩnh viễn không còn khổ đau.

 

Đây là cũng chính là bản hoài mà Hòa thượng Thiền sư Thích Thanh Từ đã một đời tâm huyết muốn khôi phục lại Phật giáo Thiền tông đời Trần ở thời kỳ đương đại. Từ những ngày đầu mới xuất gia, ngài đã ôm trong mình hoài bão muốn tu theo thiền Việt Nam để làm sống lại Thiền tông Việt Nam. Đó là hoài bão và ngài cũng tự đặt làm bổn phận trách nhiệm của mình. Với quyết tâm dũng mãnh, nhất định thực hiện cho bằng được tâm nguyện và trọng trách mà mình đã đặt ra. Và rồi duyên lành cũng đã hội tựu. Ngài đã tỏ ngộ, nhận ra cốt tủy thiền. Đọc sách thiền đến đâu, ngài sáng tỏ ý Tổ đến đó. Trên trí tuệ tỏ ngộ làm căn bản, ngài viết và tìm dịch các tác phẩm thiền để đem ra ứng dụng, hướng dẫn cho Tăng Ni và Phật tử cùng tu. Tùy vào căn cơ từng người mà có được kết quả sâu cạn khác nhau. Nhưng tất cả đồng chung một cảm xúc là “Không ngờ!”. Phật pháp Thiền tông bắt đầu được xương minh từ đó. Hàng đệ tử con cháu ngài đã đủ phước duyên được gội nhuần trong suối thiền và tiếp tục nối nắm mạng mạch Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam, phát huy khiến cho ngày càng xán lạn. Bản hoài một đời tâm huyết khôi phục Thiền tông Việt Nam của Hòa thượng Thiền sư Thích Thanh Từ cũng đã được mãn nguyện.

 

V. KẾT LUẬN:

 

Càng tu tập được an lạc, càng thấm nghiệm những lời dạy thống thiết của quý ngài, chúng con càng cảm bội niệm ơn sâu xa lòng từ vĩ đại bao la của các bậc thiền tăng. Ba trăm năm trước, ba trăm năm sau, hay nhiều kiếp về sau nữa, mãi mãi vẫn thế! Bởi, người về “trong ấy”, vốn không đổi dời. Hôm nay, kỷ niệm 300 năm ngày giỗ Thiền sư Hương Hải, chúng con dâng lên ngài chút tâm thành không lời tả được.

 

_______________

Thích Tâm Hạnh

Thiền viện Trúc Lâm Bạch Mã – Huế

LẤY TÂM THIÊN HẠ LÀM TÂM CỦA MÌNH

Mỗi khi đất nước gặp nguy biến, người Việt Nam lại nhắc đến Hội nghị Diên Hồng và Hội nghị Bình Than...

Ảnh minh họa: Hội nghị Diên Hồng


Đức vua Trần Nhân Tông ở ngôi 15 năm (1278 - 1293), trong thời gian này đã diễn ra hai hội nghị quan trọng của đất nước: Hội nghị Bình Than (năm 1282), triệu tập quân dân bàn phương hướng kháng chiến chống quân Nguyên Mông và Hội nghị Diên Hồng * (năm 1284), triệu họp các phụ lão trong cả nước để trưng cầu dân ý về chủ trương hòa hay chiến khi quân Nguyên Mông chuẩn bị xâm lược nước ta lần thứ hai. Khi đất nước thanh bình, vua nhường ngôi cho con trai là Trần Anh Tông, về ở cung Vũ Lâm, Ninh Bình, sau dời đến núi Yên Tử (Quảng Ninh) tu hành và thành lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, lấy đạo hiệu là Điều ngự Giác hoàng. Trần Nhân Tông được sử sách ca tụng là một trong những vị vua anh minh nhất trong lịch sử Việt Nam.

 

Hội nghị Diên Hồng mang ý nghĩa thời đại vì không chỉ minh chứng cho tư tưởng độc lập dân tộc và còn phát huy mạnh mẽ tinh thần dân chủ bằng việc lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, một nhà nước quân chủ đã trưng cầu dân ý trước sự tồn vong của đất nước. Hội nghị đó đã lấp đầy những khuyết điểm nội thù cố hữu của dân tộc, đó chính là sự chia rẽ, mất đoàn kết và hành động cầu cứu ngoại bang đem quân giày xéo quê hương.

 

Dưới thời Trần, đạo Phật là quốc đạo. Với tinh thần “hoà quang đồng trần” (hòa ánh sáng cùng cát bụi), đạo Phật đã sản sinh ra những trí thức có tinh thần phóng nhiệm, dấn thân, nhập thế, coi sinh tử là lẽ thường… Văn hóa Phật giáo trở thành những ứng xử chủ đạo trong đời sống xã hội. Từ những tư tưởng tích cực của đạo Phật, người Việt tiếp tục vun bồi, sáng tạo, điều chỉnh và tự hoàn thiện nền văn hóa của dân tộc mình. Lối sống thuần thiện, hòa hiếu của cộng đồng được ghi lại trong lịch sử đã phản ánh rất rõ điều đó. Trần Nhân Tông là người giữ trọng trách quốc gia, nên ông không bao giờ ngừng thao thức để tìm kiếm chân lý trên căn bản tư tưởng Phật giáo, nhằm nhận ra những giới hạn của bản thân: giới hạn của lòng từ, giới hạn của sự trong sạch, giới hạn của tinh thần yêu dân và thái độ coi trọng hiền tài…

 

Trước đó, Trúc Lâm quốc sư từng nhắn nhủ vị vua mở đầu triều đại nhà Trần - Trần Thái Tông rằng: “Phàm đã là bậc nhân quân tất phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tâm của thiên hạ làm tâm của mình”.

 

Khi triều đại đã sản sinh ra những con người biết lấy tâm ý của thiên hạ làm tâm ý của mình thì lẽ nào thiên hạ lại phụ lòng của họ. Đó là lý giải vì sao trước sức mạnh của quân Nguyên Mông, từ vua đến dân đều trên dưới một lòng, bỏ qua những tị hiềm, mâu thuẫn, ích kỷ, tư thù cá nhân để cùng nhau đoàn kết, bảo vệ non sông, văn hiến của dân tộc.

 

Trần Nhân Tông đã tiếp tục khai mở được nội lực và tinh thần dân tộc bằng chính đời sống làm gương trên cả hai vị thế quân vương và thiền sĩ. Trong thời gian trị vì đất nước, ông luôn là người đứng mũi chịu sào, lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ, coi trọng việc định quốc an dân, giữ gìn tâm ý của thiên hạ, đề cao tâm ý của thiên hạ và không bao giờ cho phép mình giẫm đạp lên tâm ý của thiên hạ. Khi rời bỏ ngai vàng, ông chống gậy trúc đi khắp trong thôn, ngoài làng khuyên dân giữ gìn mười điều thiện.

 

Niềm tin của đời Trần là niềm tin được phát khởi bởi lòng chân thành vì dân vì nước và lời sám hối tha thiết cho những giới hạn của bản thân trước nghịch cảnh tranh danh, đoạt lợi. Nhiều vị vua đời Trần đã tỏ rõ sự hơn người khi mang niềm tin và hành động ấy đến với nhân dân.

 

Vì mục đích dân cường nước thịnh, triều Trần dấn thân dựng nghiệp như bao khởi sự khó khăn của các triều đại khác, nhưng trước sức ép của ngoại xâm, họ sẵn sàng bỏ đi mọi tị hiềm, mọi chấp nhặt nhỏ nhen, không phải để khẳng định bản ngã vương triều, mà chính trong tuyệt đích của ước muốn, triều Trần, cụ thể là Trần Nhân Tông đã không ngừng triển khai tư tưởng cư trần lạc đạo để bồi dưỡng tinh thần và đạo lý dân tộc.

 

Người cầm cân nảy mực quốc gia mà nhận biết được những khuyết điểm và giới hạn của mình thì dân tộc đó nhất định sẽ lớn mạnh. Những sửa chữa khuyết điểm của họ mang giá trị và tầm ảnh hưởng lịch sử. Bởi khuyết điểm lớn nhất mà lịch sử của hầu hết các dân tộc phải trải qua đó chính là thanh trừng tư tưởng và phát động chiến tranh tương tàn để duy trì một trạng thái quyền lực đang có nguy cơ mất thế cân bằng. Dĩ nhiên, quyền lực tập trung lúc đó thuộc về thiên tử và bộ máy quan lại cầm quyền. Tuy nhiên, việc hoàn chỉnh nhân cách để người đứng đầu quốc gia thay trời hành đạo, nối dòng trị dân luôn phải xuất phát từ những hành vi đạo đức có chuẩn. Định mức để cân bằng cho những hành vi đạo đức có chuẩn chính là mọi hành động của người đứng đầu đều phải phù hợp với thiên ý và nhân luân.

 

Đạo Phật đã bổ sung nhiều những hành vi ứng xử có chuẩn vào phong thái sống của các bậc quân vương. Vì vậy, ý nghĩa cai trị và giá trị giải thoát không những không mâu thuẫn và đối lập nhau mà còn xác lập một mẫu hình hoàng đế - hiền triết đầy đủ Bi - Trí - Dũng trong lịch sử dân tộc.

 

Kinh Pháp Hoa nói đến hình ảnh một gã say không biết mình có hạt châu vô giá cột trong áo, nên cực khổ kiếm sống bên ngoài mà vẫn không có được hạnh phúc. Trúc Lâm quốc sư từng khuyên vua Trần Thái Tông rằng: “Trong núi vốn không có Phật, Phật ở trong tâm ta. Nếu tâm ta lắng lại và trí tuệ xuất hiện thì đó chính là Phật. Nếu bệ hạ giác ngộ được chân lý ấy thì tức khắc thành Phật ngay tại chỗ, không phải đi tìm cực nhọc bên ngoài (Bài tựa Thiền Tông Chỉ Nam).

 

Trần Nhân Tông tiếp tục triển khai tư tưởng “cư trần lạc đạo” bằng việc khẳng định: “Trong nhà có sẵn của báu đừng tìm đâu khác”. Ông đã đặt “của báu” sẵn có đó trong một trục ngang, bình đẳng, có nghĩa rằng mọi người không phân biệt địa vị đều có cơ hội khám phá và sở hữu “tài sản” vô giá đó. Khi không còn nhọc lòng tìm cầu ở bên ngoài thì các cá nhân sẽ biết tiêu dùng và hưởng thụ “của báu” đó một cách có ích nhất. Phát huy nội lực, sở trường của dân tộc, nhằm hạn chế những ảnh hưởng của sở đoản từ những khuyết điểm dòng họ (huyết thống), thái độ độc tôn tư tưởng, hành vi hướng ngoại để trục lợi, Trần Nhân Tông đã “làm giàu” cho xã hội bằng cách kêu gọi mọi người cùng mở ra nguồn vốn sẵn đủ đó của mình.

 

Tâm là nguồn báu truyền đời. Giữ được tâm ban đầu ấy thì giữ được hạnh phúc và an lạc quốc gia. Trong cả ý chí và hành động, họ quyết giữ vốn quý đó vì họ hiểu rằng đó là di sản truyền đời mà các thế hệ con cháu phải được thừa hưởng. Cắt đứt dòng nhận thức về nội lực và khả năng khai mở, phóng nhiệm, dấn thân của nguồn tâm đó, rất có thể dân tộc lại rơi vào cảnh tương tàn, lầm than và khổ nhục.

 

Nhận thức đầy đủ về những giới hạn của chính bản thân, của dòng họ và dân tộc, vấn đề sửa chữa khiếm khuyết trong nhận thức của người đứng đầu đất nước luôn được đặt ra một cách cấp thiết và thu hút mọi quan tâm của bộ máy quyền lực. Vương đạo hay bá đạo, hiền nhân hay bạo chúa đều tuỳ thuộc vào sự chọn lựa đường hướng tư tưởng và lối sống của những người đang nắm giữ thể diện quốc gia.

 

Sự phân định trong nhận thức xã hội về kẻ ngu - người trí ở thời Trần đã thúc đẩy những nỗ lực tiếp cận tư tưởng giải thoát của đạo Phật, nhằm lý giải cặn kẽ phạm trù (ngu - trí) này, từ đó xuất hiện hình mẫu những bậc triết vương xuất trần trên cả hai bình diện tri thức và thực nghiệm tâm linh. Trong sự phân định tư tưởng rõ ràng và dứt khoát đó, cần nhìn nhận phạm trù ngu - trí, như một cặp song hành, phản chiếu vào tinh thần thời đại.

 

Người ngu thì lo âu, chán đời trị thế. Chán đời trị thế biểu hiện qua hành động diệt khai quốc công thần, thanh trừng tư tưởng vì sợ mất ngai vàng, thúc bách việc tìm thuốc trường sinh để sự hưởng thụ được lâu dài hơn… Người trí thì lo truyền hiền, tìm người tài đức kế cận. Chính trong suy nghĩ đó, người trí biết đặt lợi ích dân tộc, sự thanh bình của nhân dân lên trên hết. Vượt qua nỗi lo sợ thường trực về việc mất ngai, mất quyền, chết yểu, họ đã tiến đến làm chủ tinh thần vạn nhà bằng việc mở ra nguồn của báu sẵn đủ để dân làm chủ tài sản và vận mệnh của mình. Ở đó quốc gia được sở hữu những giá trị an lạc, biết đủ, khi người dân sống hòa hợp với thiên nhiên, người lãnh đạo không vì những toan tính ích kỷ đẩy dân tộc vào thế cùng tranh, loạn tranh.

 

Sự dịch chuyển của quyền lực không thể tính bằng những thái độ độc tôn tư tưởng hay bằng những chiến dịch bàn tay sắt trong thanh trừng, mà chính thời gian, dòng biến chuyển vô thường sẽ tự động kết thúc cho cuộc chạy đua quyền lực đó. Nhận thức “vô thường” là điều hiển nhiên, người trí biết tìm cách làm mạnh nội lực dân tộc bằng những giá trị tinh thần nhân đạo, nhân văn để đời, cẩn thận xét gốc chỉnh ngọn, tu bổ lại các giá trị văn hóa mà tổ tiên bao đời đã gầy dựng.

 

Sức mạnh của văn hóa là sức mạnh bao trùm mọi biên cương, lãnh thổ. Sự hủy diệt của chiến tranh càng làm cho những vị vua Phật tử nhận thức nhiều hơn về cảnh bãi biển nương dâu, chợ chiều quyền lực. Chợ chiều quyền lực là cảnh thất thế, dọc ngang, lênh đênh của các thân phận con người khi danh lợi một ngày nào đó rời xa họ.

 

Tâm lý tranh đoạt, nghi kỵ thường giả biến những chuyện vặt vãnh trong đời sống thường nhật thành mối nguy quốc gia. Đó cũng là hành vi kém nghiêm chỉnh nhất trong thái độ của kẻ cầm quyền. Điển hình cho thái độ này là hành động “qua cầu rút ván”, “được chim quên ná”, “diệt khai quốc công thần”... Nội lực dân tộc nhất định sẽ giảm đi rất nhiều, nếu những người cầm quyền cố biến những điều vặt vãnh thành những quan tâm nghiêm trọng, hay cho người giả bệnh để kê những “toa thuốc” (bổ - độc) lãng phí lòng tin của nhân dân. Chính khi ấy, lòng khoan thứ bao dung trong tư tưởng Phật giáo đã trở nên sáng tỏ trước những lòng dạ chật hẹp, đố kỵ, tị hiềm.

 

Đem lòng, lấy ý mà hiểu người trên kẻ dưới, mà đối đãi với nhân dân là lời khuyên của người trí. Thay vì phòng bệnh bằng những cung cách ứng xử có chuẩn, không ít thế lực trong lịch sử lại đi chữa bệnh bằng những toa thuốc bốc nhầm bệnh. Kê nhầm toa thuốc là lỗi ở người trị bệnh, còn người khác có bệnh hay không, nhiệm vụ của lương y là phải làm sáng tỏ căn bệnh, chữa trị cho họ lành mạnh, để họ tiếp tục đóng góp “của báu” cho xã hội, cộng đồng.

 

Hành vi “đang yên tự tìm nguy” mà Trần Nhân Tông nhắc đến, chính là ông muốn nhắm đến những người ngu tự lừa phỉnh mình bằng những cơn đau trầm trọng, tự thêm bướu vào thân, rồi cùng quằn quại và đối phó lẫn nhau.

 

Trong lịch sử dân tộc, mọi “dỗ nín” về tư tưởng đã không ngừng được truyền vào nước ta, nhằm phủ trùm tư tưởng yên mệnh và yên phận. Nhưng trong thời đại mà triết lý dân tộc tỏa sáng, thiên ý - nhân luân thuận hợp với nhau, “của báu” của mỗi cá nhân được khai mở thì sẽ nhanh chóng bù đắp vào khuyết điểm nghèo đói tha phương cầu thực, tranh hại lẫn nhau.

 

Mỗi người đều có một viên ngọc báu vô giá. Đó là tài sản chứng minh sự giàu có chung của cả cộng đồng. Mục đích yên dân không bao giờ đi ra ngoài việc làm mạnh nội lực dân tộc từ mỗi cá nhân. Nói cách khác, tư tưởng yên dân phải xuất phát từ những hành động thiết thực “lấy ý thiên hạ làm ý của mình, lấy tâm của thiên hạ làm tâm của mình”.

 

Thích Thanh Thắng


Trích từ:


Nguyệt san Xuân Giác Ngộ Canh Dần

(Thư Viện Hoa Sen)


*** HỘI NGHỊ DIÊN HỒNG ***


Toàn dân! Nghe chăng? Sơn hà nguy biến!

Hận thù đằng đằng! Biên thủy rung chuyển.

Tuông giày non sông rền vang tiếng vó câu.

Gây oán nghìn thu,

Toàn dân Tiên Long! Sơn hà nguy biến!

Hận thù đằng đằng! Nên hòa hay chiến?

Diên Hồng tâu lên cùng Minh đế báo ân,

Hỡi đâu tứ dân!

Kìa vừng hồng tràn lan trên đĩnh núi,

Ôi, Thăng long! Khói kinh kỳ phơi phớ.i

Loa vang vang, chiếu ban truyền bốn phương,

Theo gió bay khắp miền sông núi réo đòi.

Lòng dân Lạc Hồng nhìn non nước yêu quê hương.

Giống anh hùng nâng cao chí lớn, 

Giống anh hùng đua sức tráng cường.

Ta lên đường lòng mong tâu lên Long nhan,

Giòng Lạc Hồng xin thề liều than liều thân!

Đường còn dài,

Hồn vương trên quan tái,

Xa xa trông áng mây đầu non đoài.

Trông quân Nguyên tàn phá non sông nhà,

Đọat thành trì toan xéo giày lăng miếu.

Nhìn quân gian ác lấn xâm tràn nước ta,

Ôi sông núi nhà rền tiếng muôn dân kêu la!

(Hỏi) Trước nhục nước nên hòa hay nên chiến?

(Đáp) Quyết chiến!

(Hỏi) Trước nhục nước nên hòa hay nên chiến?

(Đáp) Quyết chiến!

Quyết chiến luôn!

Cứu nước nhà,

Nối chí dân anh hùng.

(Hỏi) Thế nước yếu lấy gì lo chiến chinh?

(Đáp) Hy sinh!

(Hỏi) Thế nước yếu lấy gì lo chiến chinh?

(Đáp) Hy sinh!

Thề liêu thân cho sông núi.

Muôn năm lừng uy!

_______________

thuvienhoasen.org

NHỮNG ĐỨC TÍNH CỦA NHÂN CÁCH TRẦN NHÂN TÔNG

Vua Trần Nhân Tông (1258-1308) là một nhà kinh bang tế thế vừa là một vị Tổ đã sáng lập dòng Thiền Trúc Lâm của Việt Nam. Mãi đến ngày nay sự ca ngợi ngài trong toàn dân Việt Nam càng lan rộng. Có thể nói, ngài là người Việt Nam lý tưởng nhất, cổ xưa nhất (vì gần giống với Đức Phật và các đệ tử Phật cách thời ngài gần 2000 năm) đồng thời cũng hiện đại nhất (vì hiện giờ những nghiên cứu về ngài càng lúc càng nhiều).

Chúng ta cần học tập nhà vua-thiền sư Trần Nhân Tông. Để có thể làm một người Việt Nam chân chánh, đúng nghĩa, đúng truyền thống, và để có thể là một người Việt Nam đóng góp cho đất nước và cho thế giới trong thời đại toàn cầu hóa. Học tập những đức tính làm nên nhân cách của ngài, những đức tính của một người Việt Nam lý tưởng.

Trong một bài viết, chúng ta không thể liệt kê hết những đức tính đó và những dẫn chứng để chứng minh nơi ngài có những tính cách đó. Chúng ta chỉ xếp những đức tính đó thành hai hạng mục: tự hoàn thiện và hoàn thiện cho người. Để dẫn chứngchúng ta không thể lấy hết những gì ngài đã nói, đã viết, đã làm, mà chỉ trích dẫn từ tác phẩm Cư trần lạc đạo phú của ngài.

1/ Tự hoàn thiện

Từ rất nhỏ cho đến cuối đời, không lúc nào ngài không đi dưới ngọn cờ tự hoàn thiện, ngọn cờ của sự điều ngựthân tâm để trở thành bậc Chiến Thắng. Một trong những danh hiệu của ngài là Điều ngự Giác hoàngĐiều ngựlà điều phụcchế ngự, chiến thắng những cái xấu ác trong lòng mình. Đạo đức Phật giáo không chỉ có ý nghĩa thế gian để làm một người tốt, một quân tử, mà còn để giải thoát, để xuất thế gian. Chẳng hạn, nó không chỉ nhắm đến hiền từ, khiêm nhường, khoan dung… mà còn đi sâu đến cái căn bản của những đức tính trên, là vô ngã. Nói cách khác, đạo đức học không đứng một mình mà liên quan trực tiếp đến nhận thức luận, bản thể luận… đến sự thấy biết rõ ràng thực tại.

Chẳng hạn ai cũng thấy tham, sân, si, kiêu mạnđố kỵ, nghi ngờ… là những tật xấu. Những tật xấu ấy quá mức sẽ phạm đến luật pháp của xã hộiLuật pháp là nền tảng công bằng và trật tự của xã hội con người. Nhưng với Phật giáo, những tật xấu ấy không chỉ phạm đến luật pháp, mà còn phạm đến con người sâu xa đích thực của chính người có những tật xấu ấy. Con người sâu xa đích thực của mỗi người chính là ánh sáng trí huệ và sự vô ngại của từ bi. Những tật xấu đó không chỉ làm hại xã hội, mà trực tiếp làm hại chính mình; chúng che đậy, phủ tối con người đích thực của mình là trí huệ và đại bi.

Ham học tập, yêu thích con đường hướng thượng, ước muốn tự hoàn thiện là đặc tính đầu tiên của nhân cách Trần Nhân Tông: “đọc kinh sách” (Hội 1), “xem tạng giáo” (Hội 4), “hỏi Đại thừa, hỏi Tiểu thừa” (6) “học đạo thờ thầy” (6), “xem kinh đọc lục” (8), “say đạo đức” (10)…

Thực hành tự hoàn thiện là “tự xét thân tâm, cầm giới hạnh” (2) “sửa mình” (3), “tu thân” (8), “ chuyển hóa ba độc tham sân si” (4)…. Một thân tâm mà chứa quá nhiều cái độc tham sân si… thì thân tâm ấy mất an vui, khổ đau. Mà người nhiều khổ thì sẽ làm cho người khác khổ.

Khi những cái xấu là những che chướng đã được dứt trừ, thì thực tại hiện bày. Tâm thanh tịnh thì thấy thực tại thanh tịnh:

“Dứt trừ nhân ngã thì ra tướng thật Kim Cương. Dừng hết tham sân mới làu lòng mầu Viên Giác” (2).

Một tai họa lớn nhất của thân phận con người là chấp ta (ngã), chấp người (nhân). Càng phân biệt ta-người, càng chỉ thấy có ‘ta và cái của ta’ là quan trọng, còn ‘người khác và cái của người khác’ là thứ chẳng ra gì, thì cuộc đời thành ra giành giật, chiến tranh, làm hại. Muốn dứt trừ nhân ngã, phải huy động toàn bộ Phật giáo, tức là không chỉ có giới hạnh, mà còn định và huệ. (Trí huệ soi thấy tánh Không của ta và của người). Tu tâm là tịnh hóa tâm thức, loại bỏ những cái xấu ác, ươm trồng những cái thiện lành: “Rèn lòng làm Bụt, chỉ cần chuyên nhất dồi mài. Đãi cát kén vàng, còn lại phải nhiều phen lựa lọc” (8).

Càng dứt trừ nhân ngã thì càng thấy thật tướng Kim Cương. Càng thấy thật tướng Kim Cương thì ngã nhân càng tiêu.

“Dừng ba nghiệp mới lặng thân tâm. Đạt Một Lòng thì thông Tổ giáo” (6).

Khi những thứ chấp ngãích kỷ với những thói quen tham sân sikiêu mạnđố kỵ đã lặng nơi thân tâm, thì chính nơi thân tâm này mặt trăng Một Lòng xuất hiện, những lời dạy của chư Tổ về thực tại được thông hiểu. Khi ấy, thay vì cứ loay hoay suốt đời trong một cái tôi nhỏ hẹp, tâm hồn người ta trở thành rộng lớn để có thể bao trùm toàn bộ đời sống với những đức tính vị thatừ bi hỷ xả….
Tâm thanh tịnh đến đâu thì thế giới hiện ra thanh tịnh đến đó:

“Tột cùng căn bản, rửa trần duyên, chớ để mảy mún nào che trước mặt.
Xô ngả ngọn cờ kiêu mạntri kiến tròn đầy, chớ cho còn tai họa núp trong cánh tay.
Buông lửa giác ngộ, đốt tiêu hết rừng tà ngày trước.
Cầm kiếm trí huệ, quét thành không tính thức xưa nay” (7).

Khi những tính khí xấu, những thành kiến sai lầm, những cố chấp hư giả đã tan thì “tri kiến tròn đầy”, “tính sáng” (2), “trí huệ” hiện ra. Khi ấy chính lòng này là Phật: “Chỉn Bụt là lòng” (3). Khi ấy, người ta chứng biết thực tại tối hậu:

“Biết Chân Như, tin Bát nhã, chớ còn tìm Phật, Tổ tây đông. Chứng thật tướng, ngỏ vô vi, nào nhọc hỏi kinh thiền nam bắc” (4).

Chúng ta hãy nói một chút về trí huệ, tính sáng, hay cái thấy biết tròn đầy này. Trí huệ hay tính sáng là cái thấy biết bản tánh (thật tướng) của mọi hiện tượngđồng thời thấy sự biến chuyển theo duyên sanh của những hiện tượng. Nó cùng một lúc thấy biết bản tánh của mọi hiện tượng là tánh Không (chân đế) và thấy biết thế giới hiện tượng (tục đế). Thế nên vua Trần Nhân Tông đã rất sáng suốt (thông minh; minh là sáng, thông là suốt) trong đạo cũng như trong đời.

Lúc ấy thì “thân Bồ đề, lòng gương sáng” (9). Khi đã chứng biết “Tịnh độ là lòng trong sạch, chớ còn ngờ hỏi đến Tây phươngDi Đà là tính sáng soi, nào phải nhọc tìm về Cực Lạc” (2), khi các độc đã được chuyển hóa thì cuộc sống thường ngày hiện ra là cõi thanh tịnh của Phật. Thanh tịnh vì nằm trong ánh sáng bình an và bình đẳng của tính sáng:

“Tham ái nguồn dừng, chẳng còn màng châu yêu ngọc quý. Thị phi tiếng lặng, tha hồ nghe tiếng hót oanh ngâm.

Chơi nước biếc, ẩn non xanh, nhân gian có nhiều người đắc ý. Biết đào hồng rõ liễu lục, thiên hạ mấy ai đã tri âm.

Nguyệt bạc trời xanh, soi mọi chỗ sông thuyền lai láng. Liễu mềm hoa tốt, tột nhân gian huệ nhật khắp trùm” (1).

Lúc ấy tất cả đời sống chỉ là Một Tâm Chân Như thanh tịnh này:

“Nhận biết làu làu lòng vốn, chẳng ngại bề thời tiết nhân duyên.

Chùi cho vằng vặc tánh gương, nào có nhuốm căn trần huyên náo” (6).

Trí huệ thấu hiểu bản tánh mọi sự là tánh Không (chứng lý) đồng thời biết sự xuất hiện của những hiện tượng, biết sự đổi thay của những hoàn cảnh (tri cơ), do đó mà có sự khôn khéo ở đời những vẫn an nhiên giải thoát:

“Chứng lý tri cơ, cứng cát phải nạp tăng khôn khéo” (6).

2/ Hoàn thiện cho người

Khi hoàn thiện cho mình tới mức độ khả quan, người ta tìm cách hoàn thiện cho người khác. Thậm chí sự tự hoàn thiện và hoàn thiện người khác được tiến hành đồng thời. Sự hoàn thiện của cá nhân và sự hoàn thiện của xã hội là đồng thời, vì cá nhân chẳng bao giờ tách lìa với xã hội, và xã hội luôn luôn là môi trường để cho cá nhân tự hoàn thiệnHoàn thiện xã hội chính là sự hoàn thiện cho cá nhân, và sự hoàn thiện của cá nhân kéo theo sự hoàn thiện của xã hội.

Huống gì ngài Trần Nhân Tông không chỉ là một vị tăng mà còn đã từng làm Vua và Thái thượng hoàng.

Đức tính căn bản nhất khi hướng về người khác để hoàn thiện cho họ, có nghĩa là để cho họ được hạnh phúcnhờ sự hoàn thiện của họ, là từ bi hỷ xảCon người hoàn thiện nhất là Đức Phật, và đức tính quan trọng nhất của Đức Phật là từ bi: “Đức Bụt từ bi” (5).

Từ bi hỷ xả này không chỉ là những ý niệm lý tưởng mà là những hoạt động thực tiễn trong cuộc đời, khiến cho xã hội tiến bộ về cả vật chất lẫn tinh thần:

“Dựng cầu đò, dời chùa tháp, ngoại trang nghiêm sự tướng hãy tu.
Săn hỷ xả, nhuyễn từ binội tự tại kinh lòng hằng đọc” (8)

Chúng ta cần chú ý đến hai chữ “ngoại” và “nội” này. Ngài không chỉ là một người làm việc xã hội (ngoại), dầu cao cấp đến bao nhiêu đi nữa, mà sự làm việc bên ngoài đó luôn luôn kết hợp với một tâm tự tại do hằng đọc kinh lòng (Bát nhã Tâm kinh). Những hoạt động xã hội là công việc của từ bi luôn luôn được kết nối với trí huệ quán chiếu tánh KhôngTừ bi và trí huệ là hai đức tính chính yếu của một người đi trên con đường Bồ tát đạo. Thế nên, làm việc phước đức rất nhiều, mà thật ra không có làm gì cả. Hiện thân làm một đức vua, một bậc thánh mà thật ra không có ai là vua là thánh cả. Hai câu này lấy ý từ Tổ Đạt Ma trả lời vua Lương Võ Đế, cũng nói lên “tâm tự tại” của ngài:

“Công đức toàn vô, tính chấp si càng thêm lỗi.
Quách nhiên bất thức (vô thánh), tai phàm ắt hãy còn vang” (9).

Ngoại là việc phước đức trong xã hội, nội là việc trí huệ trong tâm. Phước chủ yếu nhắm đến sự hoàn thiện của người khác, huệ chủ yếu nhắm vào sự tự hoàn thiện. Một người thật rõ biết, một thiện tri thức thì gồm đủ cả hai cái:

“Phước huệ gồm no, chỉn mới khá nên người thật biết” (8).

Phước huệ gồm no, tức là phước huệ phá vỡ sự ngăn cách của đời sống bên trong với đời sống bên ngoài, cả hai trộn lẫn làm một (“hòa quang đồng trần”, Huệ Trung thượng sĩ, thầy của vua Trần Nhân Tông). Cá nhân và xã hội là một, đó là cái thấy và cuộc sống của Bồ tát:

“Sạch giới lòng, chùi giới tướngnội ngoại nên Bồ tát trang nghiêm.
Ngay thờ chúa, thảo thờ cha; đi, ở vẫn trượng phu trung hiếu” (6).

Công việc của những bậc Giác ngộ, những bậc Điều Ngự là từ bi và cứu độ:

“Cảm đức từ bi, để nhiều kiếp nguyền cho thân cận
Đội ơn cứu độ, nát muôn thân thà chịu đắng cay” (7).

Khi đã ngộ nhập sự thật tối hậu hay thực tại tối hậu, “Vậy mới hay Bụt ở trong nhà chẳng phải tìm xa. Nhân quên bản nên ta tìm Bụt, biết được rồi chỉn Bụt là ta” (5), thì ngài trả ơn Phật, Tổ bằng cách “từ bi, cứu độ” người khác. Từ bicứu độ người khác bằng cách “khai thị” sự thật ấy, thực tại ấy cho họ, để họ “ngộ nhập”.

Toàn bộ Hội thứ 9 là sự khai thị của ngài cho người khác thực tại của Thiền, cũng là thực tại của toàn bộ đời sống:

“Vậy cho haycơ quan Tổ giáo, tuy khác nhiều đàng, chẳng cách mấy gang.
Chỉ nói đến từ sau Mã Tổ, ắt đã quên thuở trước Tiêu Hoàng…” (9).

Sự chỉ dạy trong suốt cuộc đời ngài là do lòng từ bi, không nỡ để cho hàng hậu học đói khát, ruộng vườn tự tâm họ bỏ hoang:
“Trà lão Triệu, bánh Thiều Dương, bầy thiền tử hãy còn đói khát.

Ruộng Tào Khê, vườn Thiếu Thất, chúng nạp tăng những để hoang vu” (9).
Hoàn thiện cho người khác, đó là một bổn phận, một nghĩa vụ, một cam kết thủy chung của con người hoàn thiện:

“Nghĩa hãy nhớ, đạo chẳng quên” (7).

“Đi, ở vẫn trượng phu trung hiếu” (6)

“Tích nghĩa nhân, tu đạo đức, ai hay này chẳng Thích Ca
Cầm giới hạnh, đoạn ghen tham, chỉn thực ấy là Di Lặc” (4)

Có lẽ vua Trần Nhân Tông là người Việt Nam đầu tiên nói đến nhân nghĩa quan trọng như thế nào đối với con người. Về sau, Nguyễn Trãi cũng lấy phạm trù này làm chính nghĩa trong chiến tranh chống quân Minh: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, quân điếu phạt trước lo trừ bạo” (Bình Ngô đại cáo). Chúng ta thấy nhân nghĩa của vua Trần Nhân Tông hoàn toàn được hiểu theo Phật giáo, nhân là đại từ đại bi, nghĩa là đại hạnh. Thế nên nó sâu rộng hơn nguyên nghĩa nhân nghĩa của Khổng giáo nhiều.

Tóm lại, nhân cách Trần Nhân Tông gồm ba trụ cột chính: Trí huệTừ bi, và Hạnh nguyện.

Trí huệ là tính sáng thấy rõ bản thể và hiện tượng của mọi sự vật, thấy rõ đạo và đời, do đó sống và xử lý đúng đắn mọi việc. Từ đó mà có những đức tính khác như khiêm hạ, nhẫn nhục, không tham lam tranh đoạt, an hòa, khoan dung, không thành kiến cố chấp, bình đẳng…

Từ bi sanh ra hòa bình, không giết hại, mong muốn điều tốt đẹp cho người, lấy sự an vui của người làm điều quan trọng nhất, thương xót những người tăm tối, xấu số… Từ bi làm cho lòng trải rộng, ôm lấy dân tộc và thế giới.

Hạnh nguyện sinh ra nghĩa lớn, sự cam kết, trách nhiệmtrung thànhý chí kiên định, làm lợi cho đời không mệt mỏiHạnh nguyện càng lớn thì sự hoạt động, sự tranh đấu cho Chân Thiện Mỹ của mình và của người khác càng lớn.

Chính sự tương tác hòa nhập của ba đức tính lớn này cùng với những đức tính phát sinh từ ba đức tính ấy đã tạo thành rất nhiều đức tính của một con người hoàn thiện, mà vua Trần Nhân Tông gọi là một Bồ tát, hay hơn nữa, là Bụt, là Phật. Chính những đức tính này làm cho đời và đạo hợp nhất, khiến cho cuộc sống diễn ra trong một hạnh phúc bất tận: “Ở đời vui đạo hãy tùy duyên…”

Cuối cùng chúng ta có thể hỏi rằng: Nếu tất cả những đức tính của vua Trần Nhân Tông đều lấy từ kho tàng mọi đức tính của Phật giáo, thì ngài có gì khác với những Thiền sư khác, chẳng hạn như Đạo Nguyên của Nhật Bản, hay Lâm Tế của Trung Hoa? Chúng ta có thể trả lời rằng: Tất cả những đức tính của vua Trần Nhân Tông đều là những đức tính của Phật giáo, nhưng vẫn có sự khác biệt vì ngài là người Việt Nam. Vì là người Việt Nam, có những đức tính của người Việt Nam, trong những hoàn cảnh Việt Nam nên có sự khác biệt giữa Trần Nhân Tông, một Bồ tát Việt Nam với những Bồ tát của các nước khác. Cũng từ kho tàng mọi đức tính Phật giáo, nhưng vì là người Việt Nam, vì hoàn cảnh Việt Nam, nên có được những đức tính thấm nhuần, được vận dụng nhiều hơn để thành những đức tính của một người Phật tử Việt Nam.

Chẳng hạn, trước cuộc xâm lược của quân Nguyên Mông, ngài nhẫn nhục cầu hòa dù sự cầu hòa là một hy sinh của bản thân và hoàng gia họ Trần. Nhưng khi bắt buộc phải chiến tranh vì lòng dân muốn thế (Hội nghị Diên Hồng), ngài lại rất anh hùng mà vô ngã, trực tiếp cầm quân và đề ra chiến lược. Sau chiến thắng, ngài cho thả tù binh, cho đốt bỏ những danh sách những người tránh đương đầu với giặc hay theo giặc... Chính vì là người Việt Nam trong hoàn cảnh Việt Nam, ngài đã rút những đức tính trong kho tàng Phật pháp để sống bằng một nhân cách Việt Nam nên ngài có cơ hội thể hiện những đức tính của Phật tử Việt Nam và Phật giáo Việt Nam mà đời sau gọi là Phật giáo nhập thế. Như vậy, ngài đã xiển dương những đức tính Phật giáo một cách hiển hách trong cuộc sống đời đạo hợp nhất của mình.

Nhìn rộng ra với tất cả người Việt, Phật giáo làm mạnh thêm những ưu điểm của người Việt và làm yếu đi những khuyết điểm của họ. Điều đó đã xảy ra từ gần 2000 năm nay.

Một con người đã thành tựu dù trong hoàn cảnh giới hạn của một đất nước nào đó, người ấy đã trở thành phổ quát để trở thành con người cao cả của nhân loại. Người đó không chỉ là một con người đã thành tựu của Việt Nam, mà còn là một con người đã thành tựu của thế giới. Nơi người ấy tích hợp được hai con ngườicon người lý tưởng của Việt Nam và con người lý tưởng của thế giới. Như vậy vua Trần Nhân Tông là một con người Việt Nam lý tưởng đến tầm mức thế giới và đã đóng góp phần bản sắc Việt Nam vào kho tàng trí huệ và từ bi chung của nhân loại.

_______________________

Nguyễn Thế Đăng

HUYỀN TRÂN CÔNG CHÚA

Trần Huyền Trân Công chúa (1287 – 1340) ( Huyền Trân Công chúa) con gái út của Đức vua Trần Nhân Tông và Hoàng hậu Khâm Từ [1]. Trần Nhân Tông là bậc minh quân đã hai lần lãnh đạo quân dân Đại Việt đánh tan đế quốc Nguyên Mông, đội quân xâm lược mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ.

 

 

Thắng giặc, Ngài nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông rồi làm Thái thượng hoàng để giúp con vững chãi trên ngai vàng, sau đó Ngài xuất gia tu hành theo Phật giáo ở núi Yên Tử, mong tìm pháp tu theo Phật giáo phù hợp với căn cơ người Việt, để người người có đạo, qua triết lý đạo Phật, giáo hóa dân chúng, đoàn kết nhân tâm, vun bồi trí đức mà cùng nhau bảo vệ và xây dựng đất nước. Trần Nhân Tông đã tìm ra phương pháp tu phù hợp với căn cơ người Việt, đó là dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử riêng có ở Việt Nam còn tồn tại tới ngày nay. Ơn công hạnh to lớn của Ngài với đời, với đạo, Ngài được nhân dân tôn vinh là Vua đời Vua đạo (Phật hoàng Trần Nhân Tông). Khâm Từ Hoàng hậu là người hết mực nhân từ, đức độ, Hoàng hậu là con gái của Đức Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn bậc khanh tướng lẫy lừng của triều Trần, được nhân dân tôn là Đức Thánh Trần. Vốn con nhà dòng dõi trâm anh, Huyền Trân Công chúa là người mang đủ tố chất trác việt của cha, mẹ và nhờ được làm học trò của Văn Túc vương Đạo Tái, một trong những văn sĩ giỏi nhất thời bấy giờ nên trí, đức, dung nhan của Công chúa luôn là niềm tự hào của cả Hoàng tộc [2].

 

Năm 1301, Huyền Trân 14 tuổi, Thượng hoàng Trần Nhân Tông lúc đó đã là người xuất gia tu Phật theo hạnh đầu đà, Ngài chống gậy trúc đi khắp nơi để khuyên dân học Phật, từ bỏ mê tín. Trên đường du hóa, Ngài tới đất Chiêm Thành, với mong muốn kết tình hòa hiếu giữa hai dân tộc Việt- Chăm để cùng nhau chống giặc Nguyên Mông ở phương Bắc, là kẻ thù chung của cả hai dân tộc. Gặp Quốc vương Chiêm thành là Harijit, nghĩa là sư tử chiến thắng (người Đại Việt gọi tên là Chế Mân), Trần Nhân Tông rất có cảm tình với vị vua trẻ thông minh, dũng cảm cũng đã từng trực tiếp lãnh đạo quân dân Chiêm Thành đánh đuổi đội quân Nguyên Mông do Toa Đô cầm đầu [3]. Quý trọng vị sư Đại Việt cũng đã từng là bậc minh quân xuất chúng hai lần đánh tan đế quốc Nguyên Mông, nay lại mang tâm hòa hiếu đi đoàn kết lân bang, Chế Mân đã mời Trần Nhân Tông làm thượng khách ở Chiêm Thành trong 9 tháng, để tìm hiểu phong tục tập quán và chia sẻ Phật pháp với các vị sư Chiêm Thành. Trước khi về nước Trần Nhân Tông đã hứa gả con gái cho Chế Mân với mong muốn kết giao hai nước cùng nhau đoàn kết chống giặc ngoại xâm, hôn sự sẽ được tiến hành khi Huyền Trân tròn 18 tuổi ( có nghĩa là 4 năm sau).

 

Năm 1305, Huyền Trân 18 tuổi, Chế Mân cho sứ giả mang sính lễ và địa đồ, dân số hai châu Ô, Rí sang cầu hôn Huyền Trân. Trong triều lúc bấy giờ có hai luồng ý kiến khác nhau: phía phản đối đứng đầu là quan Tham tri Chính sự Đoàn Nhữ Hài cho rằng cuộc hôn nhân như thế là không môn đăng hậu đối, công chúa nước lớn không thể làm vợ lẽ của vua nước nhỏ, nhất là Huyền Trân có vị thế rất lớn trong Hoàng tộc triều Trần; Phía đồng thuận đứng đầu là Văn Túc vương Đạo Tái và Thượng thư Tả bộc xa Trần Khắc Chung, cho rằng đây là cơ duyên ít có để kết tình hòa hiếu hai nước, là cơ hội để hóa giải những vướng mắc do các cuộc chiến chinh giữa hai dân tộc từ trước đã để lại, là thời cơ để vô hiệu hóa sự kích động, chia rẽ nhằm thôn tính các dân tộc phương Nam của Nguyên Mông và cũng là điều tốt khi đất đai được mở rộng [4]. Đôi bên trao đổi khó phân vì lý của bên nào cũng đúng, ruốt cuộc Vua Trần Anh Tông quyết định theo lời đã nói của Thượng Hoàng Trần Nhân Tông. Lễ rước dâu sẽ được thực hiện vào năm sau (1306). Trong thời gian gần một năm, Huyền Trân đã học tiếng, học chữ viết và phong tục tập quán của người Chăm. Với thiên bẩm thông minh, trong thời gian ngắn Huyền Trân đã thông thạo ngôn ngữ, nắm vững phong tục Chăm và quy tắc ứng xử của Hoàng cung Chiêm Thành.

 

Năm 1306, Huyền Trân về Chiêm Thành, được Chế Mân phong là Vương hậu. Chế Mân và nhân dân Chiêm Thành yêu quý Vương hậu Huyền Trân bởi sự đoan trang, tính tình đôn hậu và sự cảm thông chia sẽ của Vương hậu với mọi người. Mối nhân duyên của Huyền Trân với Chế Mân đã tạo nên tình giao hảo tốt đẹp giữa hai nước nhưng đẹp hơn là hình ảnh Vương hậu người con gái nước Đại Việt nhân từ thương quý gần gũi mọi người. Tiếc thay, chưa tròn một năm làm Vương hậu, trong khi còn mang thai chưa tới kỳ sinh nở, Chế Mân do bạo bệnh đã băng hà. Cái chết của Chế Mân là một uẩn khúc về sự phân hóa trong vương triều Chiêm Thành lúc bấy giờ. Theo phong tục Chiêm Thành ,Vua băng hà các Vương hậu và một số cung phi phải chết theo, nhưng Huyền Trân vì còn mang thai con Vua mà được trì hoản tới sau khi sinh con [5].

 

Đầu năm 1307, Huyền Trân sinh con trai, theo ý kiến của Chế Mân khi còn sống, đặt tên con là Thế tử Dayada (có nghĩa là con trai, là hậu duệ, là người nối dõi). Sau khi Chế Mân chết, vua Chiêm Thành nối ngôi là Harijitputra (người Đại Việt gọi là Chế Chí con trai trưởng của Chế Mân) cho sứ giả sang Đại Việt báo tin mừng lên Hoàng đế Đại Việt đã có cháu và đồng thời báo tang Chế Mân. Được tin, vua Trần Anh Tông và triều đình nghị luận, thấy rõ cái chết của Chế Mân đã làm thay đổi cục diện trong mối quan hệ Việt-Chăm. Trước bối cảnh ấy vua phái quan Thượng thư Tả bộc xa Trần Khắc Chung một danh tướng, một nhà ngoại giao lão luyện đã từng đi sứ Bắc quốc, cùng bốn vị đại sư và đoàn tùy tòng tới Chiêm Thành viếng tang và cầu siêu cho Chế Mân theo phong tục nước Đại Việt, tháng 11 năm 1307 đoàn tới kinh đô Chiêm Thành [6].

 

Đoàn sứ bộ Đại Việt tới Chiêm Thành, trong lễ gọi hồn, cầu siêu cho Chế Mân ngoài biển có Huyền Trân và các tì nữ cùng theo, nhưng Thế tử con trai của Huyền Trân còn nhỏ nên phải ở lại trên bờ. Trên biển, Trần Khắc Chung đã lập mưu đưa Huyền Trân lên thuyền nhỏ, có người khỏe, thạo sóng nước để chạy về hướng Bắc, sau lên thuyền lớn để đi. Huyền Trân được cứu sống để đưa về nước nhưng phải để lại đứa con bé bỏng là kết quả của tình yêu thương với bậc Quân vương vắn số. Huyền Trân không khỏi ngậm ngùi, phải chăng đây là duyên, phận của một kiếp hồng nhan. Đau khổ hơn là sự ra đi không từ biệt của Huyền Trân và phái đoàn sứ bộ dường như đi ngược lại với tâm nguyện của Thượng hoàng Trần Nhân Tông vì bao công sức của Ngài nhằm kết tình hòa hiếu hai nước, vì chuyện này mà lại rạn nứt. Thoát chết nhưng trong tâm Huyền Trân như có cả trăm mối tơ vò, phải xa đứa con bé bỏng, ray rứt về tình cảm của những người Chăm nơi xứ sở của người chồng mà Huyền Trân rất yêu quý. Ai hiểu tấc lòng Huyền Trân với chí nguyện mang hết tình yêu thương vì hòa hiếu hai nước.

 

Thuyền chở Huyền Trân và đoàn sứ bộ đã qua vùng biển Chiêm Thành nguy hiểm nhưng không may đoàn gặp bão biển, thuyền hỏng khá nặng phải cho vào bờ lánh bão và sửa thuyền, dù ở vùng biển thuộc đất Đại Việt nhưng xưa thuộc châu Ô, Rí. Trong lúc lánh nạn, sửa thuyền, đoàn phải đóng giả làm thương nhân để tránh lộ tung tích, sợ quân Chiêm Thành đuổi theo. Mặt khác vì không đưa được Thế tử con Huyền Trân về nước nên Trần Khắc Chung cho người Chăm thân tín tiếp tục trở lại tìm cơ hội đưa Thế tử cùng về [7]. Sau nửa năm với nhiều nhóm được phái đi nhưng biệt vô âm tín, biết là chuyện không thành, đoàn đành phải hành trình về Thăng Long.

 

Tháng 8 năm 1308, đoàn sứ bộ đưa Huyền Trân về tới Thăng Long, sau đó không lâu Huyền Trân lên Yên Tử gặp Thượng Hoàng Trần Nhân Tông. Tại Yên Tử, Trần Nhân Tông đã an ủi con gái: duyên sự âu cũng do nghiệp quả phải qua của hai dân tộc và của mỗi con người, luật nhân quả còn cao hơn nhân định [8]. Và để vãn hồi sự việc đã qua, Trần Nhân Tông cho người nói với vua Trần Anh Tông đưa hơn ba trăm tù binh Chiêm Thành về nước để gắn bớt sự rạn nứt do đoàn sứ bộ tạo nên [9]. Thượng Hoàng khuyên Huyền Trân xuất gia làm ni sư để xả bỏ nỗi niềm nhưng cũng là mang tâm đức để giúp đời, giúp cho tình giao hảo giữ hai nước và tạo phúc cho thế tử Dayada khi đã không còn cha và xa mẹ .

 

Huyền Trân xuất gia để phát túc siêu phương, Quốc sư Bảo Sát là người xuống tóc quy y cho Huyền Trân tại chùa Vũ Ninh, đặt pháp danh Hương Tràng. Sau một thời gian ngắn được học với thầy ở chùa Vũ Ninh, năm 1311, Ni sư Hương Tràng về tu tại chùa Hổ sơn (Nộn sơn) thuộc Thiên Bản (xã Liên Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định hiện nay). Từ đây trong đời sống tu hành ni sư Hương Tràng được nhân dân kính trọng vì đức hiếu sinh, vì thiện tâm luôn giúp đỡ dân nghèo, mang tâm sức dạy cho trẻ thơ biết chữ để làm người có ích. Việc làm của vị ni sư giúp dân, giúp nước đã được nhân dân ca tụng như là tấm gương sáng về đạo đức nhân sinh.

 

Năm 1340 (bắt đầu thời kỳ suy vi của nhà Trần) ni sư Hương Tràng viên tịch. Tri ân công hạnh của Huyền Trân với dân với nước, nhân dân nhiều nơi đã lập đền thờ Huyền Trân Công chúa, tại Hổ sơn, nơi Huyền Trân tu hành, nhân dân lập đền thờ tôn là Thánh mẫu. Sau khi Công chúa Huyền Trân viên tịch, các triều đại về sau đều sắc phong Công chúa Huyền Trân là Thần hộ Quốc. Nhà Nguyễn ban Chiếu ghi nhận “công đức của Công chúa Huyền Trân trong việc giữ nước giúp dân có nhiều linh ứng”, nâng bậc tăng là “ Trai Tĩnh Trung Đẳng Thần”.

 

Hữu Tâm

Tài liệu tham khảo:

-[1,2,3,4,5,6,7,8,9,10] Am mây ngủ- Thích Nhất hạnh, 2012

-[11] Huyền Trân, Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

________________

http://btgcp.gov.vn

MỘ ĐỨC VUA TRẦN NHÂN TÔNG HIỆN Ở ĐÂU?

- Khi vua Trần Nhân Tông mất, sách "Đại Việt sử ký toàn thư" viết: "Ngày 3, Thượng hoàng băng ở am Ngọa Vân, núi Yên Tử"; và: "Mùa thu, tháng 9, ngày 16, rước linh cữu của Thượng hoàng về chôn ở lăng Quy Đức, phủ Long Hưng, Thái Bình ngày nay".

Đức vua Trần Nhân Tông (tên tục là Trần Khâm)- con trưởng của vua Trần Thánh Tông - sinh năm Giáp Ngọ, Nguyên Phong thứ 8, tháng 11, ngày 11 (1258). "Đại Việt sử ký toàn thư" viết: "Vua được tinh anh của Thánh nhân, đạo mạo thuần túy, nhan sắc như vàng, thể chất hoàn toàn, thần khí tươi sáng, hai cung đều cho là lạ, gọi là kim tiên đồng tử! ở hai bên tả hữu có nốt ruồi đen, cho nên có thể cáng đáng được việc lớn, ở ngôi 14 năm, nhường ngôi 5 năm, xuất gia 8 năm, thọ 51 tuổi, băng ở am Ngọa Vân, núi Yên Tử, hòa nhã, cố kết lòng dân, sự nghiệp phục hưng, làm vẻ vang đời trước, thực là vua hiền của nhà Trần".

 

Vua Trần Nhân Tông là vị vua văn võ song toàn, thông hiểu Phật pháp. Một ông vua đã hai lần đánh bại cuộc xâm lăng của giặc Nguyên Mông, đem lại hòa bình thịnh trị về cho nhân dân Đại Việt. Một vị vua như thế khi xuất gia chắc chắn đã gây tiếng vang lớn và khiến tất cả mọi người trong nước hướng nhìn về ngọn núi Yên Tử với lòng ngưỡng mộ thành kính nhất. (Đức vua Trần Nhân Tông được coi là người đứng đầu của Thiền phái Phật giáo Trúc Lâm Yên Tử).

 

Khi người mất, sách "Đại Việt sử ký toàn thư" viết: "Ngày 3, Thượng hoàng băng ở am Ngọa Vân, núi Yên Tử" (tr.570); và: "Mùa thu, tháng 9, ngày 16, rước linh cữu của Thượng hoàng về chôn ở lăng Quy Đức, phủ Long Hưng, Thái Bình ngày nay".

 

Có đúng là phần mộ của vua Trần Nhân Tông (trong có đựng ngọc cốt hoặc xá lỵ) được an táng ở lăng Quy Đức (phủ Long Hưng)?

 

Không ít người cho rằng nhà vua là người xuất gia, tu hành tại chùa Hoa Yên, núi Yên Tử, lấy hiệu là Hương Đầu Đà (sau đổi thành Trúc Lâm Đầu Đà), được nhận là người truyền thừa chính thức của phái Yên Tử thế hệ thứ 6, tiếp nối vị tổ sư thứ 5 là Thiền sư Huệ Tuệ. Khi mất, thi thể của Người được đệ tử là Pháp Loa hỏa táng, các viên xá lỵ (từ thân thể Người sau khi hỏa táng) được để vào kim tháp ở chùa Vân Yên, núi Yên Tử.

 

Nếu vậy thì việc rước linh cữu của người về táng ở đất Long Hưng có thực là thi thể (ngọc cốt) hoặc xá lỵ của người không?

 

Những trăn trở, thắc mắc nêu trên không phải là không có cơ sở. Sách "Đại Việt sử ký toàn thư" khi viết về việc này cũng không cho chúng ta biết rõ hơn ngoài những dòng sau: "Mùa thu, tháng 9, ngày 16, rước linh cữu của Thượng hoàng về chôn ở lăng Quy Đức, phủ Long Hưng. Xá lỵ thì để ở bảo tháp am Ngọa Vân, miếu hiệu là Nhân tôn, thụy là "Pháp Thiên sùng đạo ứng thế hóa dân Long từ hiển huệ Thánh văn thần võ Nguyên minh tuệ hiếu Hoàng đế". Đem Khâm Từ Bảo Thánh Hoàng Thái hậu hợp táng ở đấy". Việc hỏa thiêu và có xá lỵ của vua Trần Nhân Tông, "Đại Việt sử ký toàn thư" đã ghi rất rõ: "Pháp Loa đem xác của Thượng hoàng thiêu đi, nhặt được hơn ba nghìn viên xá lỵ mang về chùa Tư Phúc ở Kinh sư. Vua lấy làm ngờ, các quan nhiều người xin bắt tội Pháp Loa. Khi ấy Hoàng tử Mạnh (vua Trần Minh Tông sau này) mới lên 9 tuổi, đứng hầu bên cạnh, chợt thấy có mấy hạt xá lỵ ở trong bọc, đưa ra cho mọi người xem. Vua sai kiểm lại những hạt xá lỵ ở trong hộp, thì thấy thiếu số. Vua cảm động khóc lên, trong lòng mới khỏi ngờ".

 

Nếu chỉ đọc những đoạn văn trên thì việc nghi ngờ không có xương cốt hoặc xá lỵ của vua Trần Nhân Tông ở lăng Quy Đức (Tiến Đức, Hưng Hà, Thái Bình) là có cơ sở. Nhưng một số tài liệu của Phật giáo, trong đó có sách "Tam tổ thục lục" đã cho chúng ta biết rõ việc an táng xá lỵ của vua Trần Nhân Tông ở Long Hưng: "Ngày 1, tháng 11, đúng nửa đêm, sao sáng đầy trời, Điều Ngự (vua Trần Nhân Tông) hỏi:

 

"Bây giờ là giờ gì?"

 

Bảo Sát (đệ tử của đức vua Trần Nhân Tông) thưa:

 

"Giờ tý".

 

Điều Ngự đưa tay ra hiệu mở cửa sổ để nhìn ra ngoài, nói:

 

"Đến giờ ta đi rồi".

 

Bảo Sát hỏi:

 

"Tôn Đức đi đâu bây giờ?"

 

Điều Ngự nói:

 

"Mọi pháp đều không sinh. Mọi pháp đều không diệt. Nếu hiểu được như thế Chư Phật thường hiện tiền. Chẳng đi cũng chẳng lại".

 

Bảo Sát hỏi thêm:

 

"Còn khi bất diệt thì sao?"

 

Điều Ngự khua tay nói:

 

"Thôi đừng nói mê nữa"

 

rồi người ngồi thế sư tử tọa mà hóa. Xá lợi của Điều Ngự phân làm hai phần, một phần để vào Bảo tháp nơi Đức Lăng (lăng Quy Đức), một phần để ở Kim Tháp, chùa Yên Vân, núi Yên Tử". Sách "Tam tổ thục lục" trong các phần nói về Trúc Lâm (chỉ vua Trần Nhân Tông) và Pháp Loa đã có những đoạn nói tỉ mỉ về các sự kiện lịch sử có ghi ngày tháng và các chi tiết nhỏ như đoạn văn trên. Những tài liệu này rất quý và đáng tin cậy hơn những tài liệu của một số bộ sử đang lưu hành. Bởi vì "Tam tổ thục lục" được bảo vệ trong các chùa chiền, trừ những sai lầm trong khi biên chép, ít ai dám sửa chữa dù chỉ là một chữ. Trái lại, các bộ sử thường được các sử quan biên tập theo các quan điểm của mình, đôi khi có thành kiến hoặc do ý thức hệ mà thêm bớt, khiến cho nhiều chi tiết mất độ chuẩn xác. Sách "Tam tổ Trúc Lâm" có tham khảo các sách "Tam Tổ thục lục", "Tam tổ hành trạng" và tra cứu các sách "Thánh đăng lục", "Thiên Tông bản hạnh"... đã cho chúng ta thấy rõ hơn về việc hỏa táng và chôn cất xá lỵ của vua Trần Nhân Tông: "Pháp Loa theo lời di chúc của Ngài làm lễ hỏa táng, lượm ngọc cốt có năm màu để vào bình. Vua Anh Tông cùng đình thần đem long giá rước ngọc cốt về tôn thờ ở Đức Lăng (lăng Quy Đức) và xây tháp ở chùa Vân Yên trên núi Yên Tử, đề hiệu là "Huệ Quang Kim Tháp". Như vậy, việc tổ chức tang lễ, chôn cất ngọc cốt của Điều Ngự Giác Hoàng (vua Trần Nhân Tông) ở lăng Quy Đức (Đức Lăng), Long Hưng là có thật. Hiện tại ở xã Tiến Đức (làng Tam Đường), Hưng Hà, Thái Bình vẫn còn phần mộ của Thái Tổ Trần Thừa, vua Trần Cảnh, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông. Sách "Kiến văn tiểu lục" của Lê Quý Đôn chép: "Xã Thái Đường, huyện Ngự Thiên có bốn cái lăng: Thái Tổ, Thái Tông, Thánh Tông và Nhân Tông, lại có lăng của bốn hoàng hậu".

 

Thật đáng tiếc, chiến tranh, thiên tai và nhiều nguyên nhân khác cùng với thời gian bảy, tám trăm năm trôi qua... hiện ở Thái Đường, Tiến Đức chỉ còn lại ba lăng mộ của các vua Trần, nhân dân vẫn quen gọi là mộ Phần Bụt, Phần Trung, Phần Đa. Còn ngôi mộ Phần Cựu đã được khai quật năm 1980, có quy mô to lớn như các ngôi mộ hiện còn ở Tam Đường.

 

Theo ông Vũ Đức Thơm (Bảo tàng Thái Bình) thì qua khảo cứu của các nhà khảo cổ học Trung ương và địa phương, đã xác nhận đây là một ngôi mộ thời Trần và đặc biệt là ngôi mộ này lại nằm trong những "gò Mả Vua" như nhân dân địa phương vẫn truyền khẩu từ đời này sang đời khác. Đáng chú ý là ngôi mộ vẫn được nhân dân truyền tụng gọi là mộ phần Bụt hay còn gọi là phần Sỏi. Phải chăng đây là ngôi mộ của vị vua đi tu Trần Nhân Tông? Bụt có thể hiểu là Phật. Theo Thiền sư Thích Nhất Hạnh, trong tác phẩm "Theo gót chân Bụt" (Đường xưa mây trắng) thì lúc đầu, khi giác ngộ chân lý của đạo Phật, Đức Phật Tổ cho rằng đạo của người là đạo "Tỉnh thức". "Tỉnh thức" nói theo tiếng Magadhi là Budn (tức là Bụt). Như vậy, rất có thể ngôi mộ "Phần Bụt" được nhân dân truyền khẩu ở làng Tam Đường, Tiến Đức, Hưng Hà là mộ của đức vua Trần Nhân Tông (Điều Ngự Giác Hoàng). Ngôi mộ này trước đây cũng đã bị hư hại (hiện nay đã được sửa sang, đắp ấp lại).

 

Theo tư liệu của Bảo tàng Thái Bình thì dưới cùng của mộ là quách gỗ, trên quách gỗ là lớp đất sét, trên lớp đất sét là vách đá, xung quanh rải hàng ngàn mét khối cát sỏi, trên lớp sỏi lại có một lớp đất sét được nện nén rất chặt. Phía trên của lớp đất sét và xung quanh mộ nhân dân địa phương đã tìm thấy nhiều viên gạch (loại gạch vẫn dùng để xây tháp thời nhà Trần). Điều đáng chú ý là những viên gạch này có hình dạng kích thước như được đúc ra cùng một khuôn với những viên gạch rìa các mái hiên tháp Phổ Minh (Nam Định). Rõ ràng, ở sát ngôi mộ Phần Bụt này đã từng tồn tại một cây bảo tháp. Có lẽ trải qua thời gian, các cuộc chiến tranh cùng thiên tai tàn phá nên cây tháp ấy đã bị hủy hoại, nay chỉ còn lại phế tích. Điều đó hoàn toàn phù hợp với những ghi chép trong sách "Tam tổ thục lục": "Xá Lợi của Điều Ngự phân làm hai phần, một phần để vào bảo tháp nơi Đức Lăng (lăng Quy Đức), một phần để ở Kim Tháp, chùa Vân Yên, núi Yên Tử".

 

Trong sách "Chùa tháp Phổ Minh", ông Nguyễn Xuân Năm, Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin Nam Định, viết: "Theo sách "Tam tổ Thục lục" thì "khi vua Trần Nhân Tông mất, thi hài được hỏa táng, sau đó phần ngọc cốt được an táng vào Đức Lăng (lăng Quy Đức), một phần xá lỵ thì để ở tháp Huệ Quang, một phần xá lỵ để ở Bảo Tháp để trấn áp đất đai ở Đức Lăng". Như vậy đã rõ tại Thái Đường, Tiến Đức, Hưng Hà hiện tại đã và đang lưu giữ (ngọc cốt) của Điều Ngự Giác Hoàng (vua Trần Nhân Tông). Con người mà tài năng đức độ đã được sử sách ca ngợi như một người anh hùng dân tộc và được muôn dân Đại Việt cùng với Phật giáo Việt Nam tôn xưng là ông Tổ của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.

______________

Đặng Hùng - Chi Bảo (trích sách Long Hưng - đất phát nghiệp vương triều Trần)

baomoi.com

THUẬN LÒNG DÂN NÊN GIỮ ĐƯỢC NƯỚC; TRÁI LÒNG DÂN, TRÁI ĐẠO LÝ THÌ ĐỂ MẤT NƯỚC...

TNC: Cha ông ta đã làm nên lịch sử hào hùng và để lại bao bài học đáng giá. Hậu thế nếu ngạo mạn coi thường những bài học của cha ông thì chắc chắn chuốc lấy thất bại. Chúng tôi trân trọng giới thiệu bài trả lời Tạp chí Văn hóa Nghệ An của nhà văn Hoàng Quốc Hải về vấn đề này...

Trò chuyện với nhà văn Hoàng Quốc Hải

LTS: Lịch sử sẽ được hậu thế nhìn nhận như thế nào? Câu hỏi đó luôn tồn tại trong đời sống xã hội vì lịch sử là điểm bắt đầu của hiện tại và tương lai. Một hiện tượng, sự kiện, nhân vật…trong lịch sử sẽ có những những nhận diện và nhận định khác nhau tùy vào cách tiếp cận, cách nhìn khác nhau. Sử học, là đương nhiên, nhưng văn học cũng có thể lấy lịch sử làm đối tượng nghiên cứu, phản ánh...Lịch sử có thể là cảm hứng sáng tạo cho nhà văn. Hai phương pháp tiếp cận, nghiên cứu, sáng tác khác nhau nhưng sử học và văn học luôn có sự giao thoa, ảnh hưởng lẫn nhau, nhưng/và luôn có các sản phẩm khác nhau. Tiểu thuyết lịch sử là một điểm gặp thú vị nhất giữa sử học và văn học. Tiểu thuyết lịch sử ở Việt Nam thời gian gần đây đang nổi lên bởi các tác phẩm khá bề thế và đi theo đó đang có những đánh giá, bình luận khác về phương pháp sáng tác, về sự thật/chân dung lịch sử trong các tác phẩm. Để tiếp cận vấn đề này, VHNA đã có cuộc trao đổi với nhà văn Hoàng Quốc Hải, tác giả của hai bộ tiểu thuyết Bão táp triều Trần và Tám đời vua Lý đang được dư luận quan tâm. Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

PV: Thưa nhà văn, chúng tôi được biết ông vào nghề văn từ lâu, thế nhưng tai sao đến cách đây 20 năm ông mới chọn lịch sử làm đề tài sáng tác của mình?

Nhà văn Hoàng Quốc Hải (NV. HQH): Có nhẽ tôi chớm nhận ra xã hội có khuynh hướng lãng quên quá khứ. Bởi chương trình giảng dạy cũng như thi cử trong hệ thống giáo dục của nước ta từ trước thập niên 60 của thế kỷ 20, thường chỉ chú trọng đến giai đoạn lịch sử cận đại, lịch sử cách mạng. Quan sát hệ thống các nhà bảo tàng cũng đủ rõ.

Bảo tàng lịch sử thì quy mô nhỏ, hoạt động rời rạc như bị chìm khuất, còn bảo tàng cách mạng từ Trung ương xuống các tỉnh ngày một phình to và cứ xem cách họ trưng bày hiện vật, cách hướng dẫn khách tham quan, khiến ta có cảm giác lịch sử dân tộc đã được đồng hóa với lịch sử cách mạng. Mặc dù lịch sử cách mạng cũng chiếm phần quan trọng trong lịch sử dân tộc, song nó chỉ là một phân kỳ ngắn ngủi so với tiến trình lịch sử. Việc làm đó không chỉ là việc làm phản khoa học lịch sử, mà nó còn tiềm ẩn nguy cơ suy thoái về mặt đạo lý, chắc sẽ phải gánh chịu hậu quả lâu dài.

Giật mình hơn nữa, khi thấy nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đã tiên lượng và cảnh báo từ thập niên 40 của thế kỷ 20 rằng: “Người không biết lịch sử nước mình tựa như một con trâu đi cày ruộng, nó cày bất cứ thửa ruộng nào cũng được, và cày với người chủ nào cũng được”.

Vì những lý do trên mà tôi tìm về lịch sử, và lấy đề tài sáng tác từ trong lịch sử của dân tộc.

PV: Và tại sao ông lại chọn thời đại Lý – Trần làm bối cảnh lịch sử cho các sáng tạo văn học của mình? Phải chăng ở thời đại đó sự nghiệt ngã của lịch sử đã tạo nên trí tuệ, văn hóa và bản lĩnh Việt mà các thời kì lịch sử trước đó chưa làm nên?

NV. HQH: Sở dĩ tôi chọn hai thời đại Lý - Trần, là bởi hai thời đại đó để lại cho hậu thế nhiều bài học mang tính kinh điển trong công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.

Và chính trong câu hỏi của ông cũng đã có hàm ý trả lời. Rõ ràng là trong khoảng đầu thế kỷ 11 và nửa cuối thế kỷ 13, lịch sử đặt dân tộc ta đứng trước nguy cơ tồn tại hay không tồn tại.

Nhà Lý tiếp thu một gia tài xộc xệch và nghèo xác cả từ văn hóa đến vật chất, do bạo chúa Lê Long Đĩnh để lại. Nếu tầm nhìn hạn hẹp và tư kỷ, Lý Công Uẩn bước tiếp vết chân của Lê Long Đĩnh, chắc chắn cả dân tộc đã bị bức tử, cả quốc gia đã bị hủy hoại.

May thay, vương triều nhà Lý được tạo dựng bởi trí tuệ của giới đại trí thức Phật giáo. Không những họ ý thức mà còn tỉnh thức trước nguy cơ sụp đổ, nếu không chịu lột xác, tức là không triệt để cách tân nền chính trị đã bị tha hóa dưới triều Lê Long Đĩnh. Vì vậy họ bắt tay ngay vào công cuộc cải cách đất nước một cách hết sức có trí tuệ, có bài bản; lấy bình đẳng, từ bi, bác ái làm động lực xây dựng xã hội, trên cơ sở “Tam giáo đồng nguyên” được triển khai bởi cương lĩnh: xã hội Nho, tâm linh Phật, thiên nhiên Đạo.

Từ đó nhà Lý đưa nước ta trở thành một nước cường thịnh trong khu vực, đặt dấu ấn vững vàng cho nền văn hiến Đại Việt, mở đầu cho một giai đoạn phát triển rực rỡ khá dài. Nhà Trần khi được nước, không những họ không phủ định những thành tựu chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của nhà Lý mà còn tiếp nhận và phát triển lên mức cao hơn.

Ví dụ về tôn giáo, vẫn lấy đạo Phật làm quốc đạo. Về giáo dục, hệ thống trường học được mở mang nhiều hơn. Các khoa thi tiến sĩ để chọn người có học thức, người tài giỏi bổ dụng cho bộ máy cai trị ngày một nhiều thêm. Về quân sự, vẫn dùng chế độ “Ngụ binh ư nông” của nhà Lý, đồng thời khuyến khích các vương, hầu có điền trang, thái ấp lập ra các đội dân binh và tinh binh. Khi thường, họ vẫn ở nơi hương ấp làm ruộng, tham gia việc giữ gìn an ninh trật tự tại địa phương, khi nước có giặc, các đội dân binh này là nguồn bổ sung phong phú cho quân thường trực của triều đình.

Sau cuộc xâm lăng mở đầu của Hốt - Tất - Liệt mang tính thăm dò Đại Việt vào cuối năm Đinh Tỵ (1257), nhà Trần dự liệu đất nước ta đã nằm trong tầm ngắm của người Mông Cổ.

Nhà Trần ý thức được sức mạnh của đế quốc Mông Cổ, nên sớm có chủ trương củng cố đất nước để tạo sức mạnh kháng giặc từ trong lòng dân. Nhà nước chăm lo đời sống cụ thể cho mỗi phận người.

Về nông nghiệp, nếu như trước đây nhà Lý chỉ đắp đê quai vụ (đỉnh nhĩ) để bảo vệ kinh thành và một số vùng phụ cận Thăng Long, thì nhà Trần lo đắp ngăn lũ từ nguồn tới biển, lại đặt chức Hà đê chánh phó sứ để giám sát đê điều. Tiếp đó là chia thêm ruộng quốc điền cho dân, giải phóng bớt nông nô, biến họ từ người nô lệ thành người tự do, người có sản nghiệp bằng cách bán ruộng công điền cho họ, cứ mỗi diện (mẫu) là 5 quan, ai thiếu tiền cho mua chịu. Cuộc cải cách này là bước quan trọng để cố kết lòng dân.

Khi thấy nhà Tống có nguy cơ bị quân Mông Cổ tiêu diệt hoàn toàn, nhà Trần ráo riết chuẩn bị lực lượng giữ nước bằng cách huy động triệt để sức mạnh vật chất và trí tuệ của toàn dân tộc. Dùng người tài không phân biệt nguồn gốc xuất thân. Đặc biệt, triều đình đặt niềm tin vào lực lượng trẻ. Mở đầu là việc Hoàng thái tử Trần Khẩm mới 20 tuổi được vua cha (Trần Thánh Tông) trao truyền ngôi báu. Hàng loạt các tướng trẻ xuất hiện. Phạm Ngũ Lão chàng trai nông dân mới 18 tuổi được Trần Hưng Đạo dùng làm tướng. Yết Kiêu, Dã Tượng chỉ là gia nô cũng trở thành tướng giỏi…

Thật vậy, chỉ bảy năm sau khi lên ngôi, Trần Nhân Tông đã lãnh đạo toàn quân, toàn dân làm hai cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Nguyên vào lúc mà mệnh nước có thể ví như vật nặng ngàn cân treo trên đầu một sợi tóc.

Ấy vậy mà vị vua trẻ mới 27 tuổi ấy, cùng với các tướng trẻ hợp sức với cả dân tộc, muôn người như một đã đánh bại hai lần liên tiếp đội quân khổng lồ đông tới 50 vạn tên phải thất bại nhục nhã. Và đích thân Nguyên Thánh tổ phải cử sứ sang Đại Việt tuyên cáo bãi binh, cũng có nghĩa là giặc phải công nhận nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của nước ta.

Quả thật là hai thời đại Lý - Trần, triều đình đã triệt để đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên hàng đầu. Họ đặt trọn vẹn niềm tin vào dân. Hơn nữa họ còn giáo dục cho công dân của mình biết liêm sỉ, biết tự trọng, có như vậy mới giữ được quốc sỉ. Thử tưởng tượng, một quốc gia để mất quốc sỉ thì còn gì để nói nữa. Hơn hết, những người lãnh đạo đất nước vừa sáng suốt, vừa độ lượng, khoan dung. Ví như việc tầy trời là một số quan lại trong ngoài triều, khi đất nước lâm nguy, đã hèn nhát có thư xin hàng hoặc ước hàng với giặc. Thoát - hoan lưu giữ đầy một tráp, khi tháo chạy khỏi Thăng Long, y không kịp mang theo.

   
Ví như trong lĩnh vực tôn giáo, nhà Lý dựa hẳn vào Phật giáo, dùng lực lượng tu sĩ làm đội quân xung kích trên mặt trận văn hóa trong hệ thống chùa làng. Ngoài nhiệm vụ chính của một thầy chùa là hoằng pháp, hướng dẫn người dân tu tập để tiến hóa về mặt tâm linh, thì vị sư ấy còn có nhiệm vụ kiêm chức một thầy giáo dạy chữ cho đám trẻ nhỏ trong làng, ông là người vừa khai tâm, khai trí và khai minh cho dân chúng. Vị tăng đó còn kiêm luôn cả chức năng của người thầy thuốc, là chữa trị bệnh tật.  
   

Dọn dẹp cung điện, một viên quan nội hầu phát hiện ra, đem dâng vua xem, để trị tội những kẻ bất trung. Nhà vua không những không xem mà còn nói để kẻ có tội yên lòng: “Trong lúc thế giặc đang cường, đến ta còn nao núng, nói chi kẻ khác”. Rồi ông sai đốt đi.

Một thời đại như thế với những vị vua anh minh đức độ như thế, quả thật là sự hấp dẫn vô cùng cho sức sáng tạo văn chương. Vì thế mà tôi đã để hết tâm trí và sức lực làm nên hai bộ tiểu thuyết lịch sử “Tám triều vua Lý” và “Bão táp triều Trần”.

PV: Văn hóa Lý – Trần là một thời đại phát triển rực rỡ của văn hóa Việt/Đại Việt. Điều đó xưa nay đã có nhiều người khẳng định. Vậy theo ông, với cảm nhận của một nhà văn, cái tinh quý và độc đáo nhất của văn hóa Lý – Trần là gì?

NV. HQH: Theo tôi, cái độc đáo nhất, tinh túy nhất của văn hóa Lý - Trần là một nền văn hóa nhân bản, hướng thượng. Và mục tiêu cao cả nhất của nền văn hóa ấy đều xuất phát từ con người và vì con người.

PV:Tất nhiên là trong lịch sử sẽ có sự bồi đắp hoặc loại bỏ những tính cách, thậm chí là những yếu tố có tính chất như là phẩm chất của một cộng đồng nhằm hoàn thiện và thích ứng với các điều kiện chính trị - xã hội – kinh tế mới của thời đại, nhưng những cái gì thuộc về giá trị, phẩm chất căn cốt thì không thể thay chuyển được. Cộng đồng người Việt của chúng ta đã có quá trình hình thành từ hàng ngàn, hàng vạn năm trước, nhưng chúng tôi có cảm giác là các phẩm chất Việt tiêu biểu nhất đã được hoàn thiện trong thời đại Lý - Trần. Ông nghĩ sao về điều này? Và ông có thể giúp bổ sung cho chúng tôi các hiểu biết mới về vấn đề này?

NV. HQH: Tôi đồng ý với ông, các phẩm chất tiêu biểu của công dân Đại Việt hầu như đã được hoàn thiện trong các thời đại Lý - Trần. Và dường như đã có sự hao mòn về phẩm chất Việt từ các thời đại tiếp nối. Bởi lẽ giai cấp thống trị các thời đại sau đó khá sa sút về phẩm chất văn hóa, nên họ không đủ nội lực để hoàn thiện phẩm chất chính trị, dẫn đến rối nát trong nội bộ và gây ra sự trì bế trong xã hội, thậm chí có thời đại gây bi thảm cho đất nước bằng cuộc nội chiến, đất nước bị chia cắt tới mấy trăm năm, khiến cả dân tộc phải gánh chịu hết bao đau thương và kéo lùi bước tiến tới cả trăm năm so với các dân tộc khác trong khu vực. Tội ác đó lịch sử không thể tha thứ. Tôi nhớ vào khoảng năm 1950, hồi ấy tôi còn nhỏ lắm, khi đọc trên tờ “Thời Mới” in ở Hà Nội, có bài thơ, chỉ đọc một lần đã gây trong tôi ấn tượng sâu sắc. Tôi đọc đi đọc lại vài ba lần, nay vẫn còn thuộc nhưng tên tác giả thì không nhớ. Đó là bài Hận Sông Gianh. Tôi xin đọc để chúng ta nghe lại:

Đây sông Gianh đây biên cương thống khổ
Đây sa trường đây nấm mộ trời nam
Đây dòng sông dòng máu Việt còn loang
Đây cổ đô(1) xương tàn xưa chất đống
Sông còn đây hận phân ly nòi giống
Máu còn đây cơn uất hận tương tàn
Và còn đây hồn dân Việt thác oan
Bao thế kỷ chưa tan niềm uất hận
Ôi Việt Nam cùng Việt Nam gây hấn
Muôn đời sau để hận cho dòng sông
Mộng bá vương Trịnh - Nguyễn có còn không
Nhục nội chiến non sông còn in vết
Đây sông Gianh nơi nồi da xáo thịt
Nơi dân Hồng tàn sát giống Lạc Hồng
Nơi máu đào nhuộm đỏ sóng dòng sông
Máu nhơ bẩn muôn đời không rửa sạch


PV: Đó là một dòng sông thơ đã được viết bằng máu của dân tộc Việt Nam, là thành quách thơ được dựng bằng xương cốt của dân tộc Việt Nam, là nỗ đau sâu thẳm của những người Việt Nam còn tâm hồn Việt, tính cách Việt, nhân phẩm Việt... Nếu tôi nhớ không nhầm thì tác giả của bài thơ là Đằng Phương, tức giáo sư Nguyễn Ngọc Huy.


Thưa nhà văn, lịch sử là đối tượng nghiên cứu của sử học đồng thời cũng là đối tượng nghiên cứu, phản ánh của văn học. Theo ông thì cái khác nhau cơ bản về cách tiếp cận lịch sử, như là một đối tượng nghiên cứu, của sử học và văn học là gì?

NV. HQH: Thưa ông, sử học và văn chương là hai lĩnh vực chuyên biệt, sử học nghiên cứu lịch sử theo tư duy lô - gích (logique). Văn chương nghiên cứu lịch sử nhằm giải mã nó bằng tư duy hình tượng.

Đối tượng của sử học là nghiên cứu về các sự kiện. Đối tượng của văn học là nghiên cứu về con người trong tổng hòa xã hội.

PV: Ông quan niệm về tiểu thuyết lịch sử như thế nào? Tư liệu và thông tin lịch sử trong tiểu thuyết lịch sử có độ tin cậy như thế nào? Tôi nghĩ, trong tiểu thuyết lịch sử vẫn phải có hư cấu, nhưng hư cấu như thế nào để không làm méo mó chân dung lịch lịch sử, sự thật lịch sử, ông có thể trao đổi một vài kinh nghiệm?

NV. HQH: Mọi loại hình của tiểu thuyết đều hình thành trên cái nền của hư cấu, tiểu thuyết lịch sử không hề có ngoại lệ.

Vừa qua, Hội đồng lý luận về Văn học - Nghệ thuật Trung ương có cuộc hội thảo bàn về Văn chương và Lịch sử, cũng đề cập đến vấn đề hư cấu, tỷ lệ hư cấu hoặc giải thiêng trong tiểu thuyết lịch sử.

Tôi chắc Hội đồng cũng không thể ra quyết định, ấn định tỉ lệ phần trăm sự thật lịch sử trong tác phẩm văn chương viết về lịch sử, để từ đó lập ra văn bản pháp quy nhằm chế định các tác giả.

Ông hỏi những tư liệu lịch sử và thông tin lịch sử trong tác phẩm văn học viết về lịch sử, có độ tin cậy như thế nào?

Theo tôi, những tư liệu lịch sử và thông tin lịch sử khi còn yên nghỉ trong chính sử, nó thuộc loại nguyên liệu thô. Còn các thông tin trong tác phẩm văn học có độ tin cậy cao hơn, nếu xét trên bình diện tổng thể về quy mô mà nhà văn giải mã lịch sử, chứ không đóng đinh vào các sự kiện chết.

Còn như hư cấu như thế nào, hư cấu tới mức độ nào? Thưa ông, nhà văn phải hư cấu sao cho tác phẩm của mình đạt tới mức chân thực. Vâng, chân thực lịch sử và cả chân thực cuộc sống. Dạ, không ai có thể giới hạn được biên độ hư cấu cũng như khung trời tự do sáng tạo của các nhà văn, trừ khi có ai đó tự nguyện chui đầu vào cái vòng kim cô do giới quyền lực giăng mắc.

Dạ thưa, kinh nghiệm của tôi, nhà văn với thiên chức của nó là tái tạo gương mặt lịch sử, chứ không làm nô lệ cho sự kiện lịch sử.

PV: Ông đã vận dụng phương pháp nghiên cứu sử học như thế nào trong công việc viết tiểu thuyết lịch sử?

NV. HQH: Tôi dùng phương pháp so sánh và loại trừ để tìm ra cái mình cần tìm.

Trong khi tìm hiểu lịch sử, đương nhiên phải dựa vào chính sử. Nhưng tôi không đặt trọn niềm tin vào đó. Bởi bộ sử lớn nhất nước ta là bộ “Đại Việt sử ký toàn thư” thì trong biểu dâng sách của người chủ biên là nhà sử học Ngô Sỹ Liên đã nói: “Thần dựa vào hai bộ sử trước (do Lê Văn Hưu và Phan Phu Tiên soạn), lại tham khảo thêm dã sử và chuyện dân gian để bổ sung vào”. Cái lý do phải dựa vào dã sử, Ngô Sỹ Liên trần tình: “giáo mác đầy đường đâu chẳng là giặc Minh tàn bạo, sách vở đều trở thành một đống tro tàn, chữ Hợi chữ Thỉ khó phân biệt” (Tự dạng hai chữ này hao hao giống nhau. Ý nói tư liệu chính xác rất thiếu).

Thủ phạm của sự nghèo nàn tư liệu này là do giặc Minh, mà tên tội phạm chiến tranh số 1 này là Minh Thành Tổ. Phải nói trong lịch sử cổ kim của nhân loại, chưa có kẻ thù nào tàn bạo và quỷ quyệt như giặc Minh. Hàng ngàn năm đô hộ nước ta, nhưng chúng vẫn không đồng hóa được dân tộc ta, là bởi ta vẫn còn gìn giữ được nền văn hóa của riêng mình, trong đó có ngôn ngữ, tín ngưỡng, tôn giáo và phong tục tập quán. Nay chúng ra sức tàn sát văn hóa (tức là tiêu diệt tận gốc cái hồn của một dân tộc) khiến cho cái gốc lịch sử của ta nằm trong sách vở biến thành tro tàn.

Tôi lạ lùng nhận thấy, cho tới tận ngày nay, con cháu của kẻ thù vẫn ngoan cố cho rằng tổ tiên nó đã khai hóa cho dân tộc ta, nó giúp đỡ ta như bè bạn.Càng kinh ngạc hơn, cũng không thiếu những người Việt vong bản, vẫn còn rất mơ hồ với bọn tội phạm văn hóa này. Đúng như nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đã từng nói, họ như những con trâu, cày ruộng nào cũng được, cày với chủ nào cũng được, chẳng qua họ không hiểu biết về lịch sử của chính dân tộc mình.

PV: Chúng tôi cảm nhận ở thời đại Lý – Trần có ít nhất hai cặp đôi vấn đề nổi lên. Đó là: i; khát vọng, ý chí giữ nước, dựng nước, và, sự thăng hoa trong sáng tạo văn hóa. ii; Sự phát triển của một thể chế và sự hoàn thiện nhân cách một cộng đồng dân tộc. Các cặp đôi vấn đề này có thể được biểu hiện rõ hơn khi liên hệ với nhà Hồ kế ngay sau đó. Khi tìm hiểu thêm về lý do thành công của sự xử lý các mối quan hệ này, chúng tôi cho rằng đó chính là mối quan hệ hài hòa giữa chính trị và văn hóa, giữa quyền lực và tri thức, giữa quyền lợi dân tộc và lợi ích của các cá nhân và nhóm xã hội. Thưa nhà văn, xin ông ý kiến chỉ giáo về những cảm nhận của chúng tôi.

NV. HQH: Tôi đồng ý cách đặt vấn đề và lý giải vấn đề của ông, rằng hai thời đại đó xã hội phát triển được hài hòa là bởi họ lấy văn hóa làm trọng tâm để giải quyết các mối quan hệ xã hội, đặc biệt là quan hệ giữa chính trị và văn hóa, hoàn toàn không có chuyện chính trị hóa văn hóa.

Xin lưu ý, thời nhà Lý, triều đình chưa hình thành lợi ích nhóm, mà chỉ có nhóm lợi ích của các dân tộc thiểu số. Việc giải quyết nhóm lợi ích của nhà Lý trong các đời vua Thái tổ, Thái tông, Thánh tông có thể coi là mẫu mực, bởi không chỉ làm yên lòng các đầu mục dân tộc thiểu số, mà còn cố kết được họ với triều đình, trong khối đoàn kết dân tộc để giữ nước. Tuy nhiên, các sử gia thiển cận đã phê phán chính sách này của nhà Lý không tiếc lời.

Nhà Trần thì phức tạp hơn, ngoài việc đối với các dân tộc thiểu số thì nội bộ giới quý tộc cũng đã hình thành nhóm lợi ích, tiêu biểu là hai nhánh quyền lực Trần Liễu, Trần Cảnh. Sau này là Trần Hưng Đạo với phần còn lại. Tuy nhiên, họ giải quyết khá thỏa đáng, bởi họ lấy Tổ quốc và Nhân dân làm mẫu số chung.

PV: Chúng tôi nghĩ, là người nghiên cứu kĩ về thời đại Lý - Trần nói riêng và lịch sử dân tộc nói chung, chắc hẳn ông có những nhận định của mình về những bài học lịch sử mà thời đại Lý – Trần đã và đang để lại cho chúng ta ngày hôm nay. Ông có thể chia sẻ với bạn đọc của VHNA?


NV. HQH: Vâng thưa ông, hai thời đại huy hoàng nhất trong lịch sử dân tộc, đã để lại cho hậu thế nhiều bài học mang tính kinh điển. Nếu con cháu thông minh và khiêm tốn, thì đây là kho báu gồm kinh nghiệm và trí khôn có thể ứng dụng trong nhiều ngành, nhiều hình thái đối nội và đối ngoại cực kỳ vi diệu.

Ví như trong lĩnh vực tôn giáo, nhà Lý dựa hẳn vào Phật giáo, dùng lực lượng tu sĩ làm đội quân xung kích trên mặt trận văn hóa trong hệ thống chùa làng. Ngoài nhiệm vụ chính của một thầy chùa là hoằng pháp, hướng dẫn người dân tu tập để tiến hóa về mặt tâm linh, thì vị sư ấy còn có nhiệm vụ kiêm chức một thầy giáo dạy chữ cho đám trẻ nhỏ trong làng, ông là người vừa khai tâm, khai trí và khai minh cho dân chúng. Vị tăng đó còn kiêm luôn cả chức năng của người thầy thuốc, là chữa trị bệnh tật cho dân chúng trong làng, hướng dẫn người dân biết hái, biết trồng và biết sử dụng cây thuốc để trị các bệnh thông thường.

Do không nắm được đặc trưng xã hội đó, nên các sử gia đời sau cứ phê phán nhà Lý hoài về “mê đắm đạo nhất thừa”.

Thứ nữa là về mặt pháp luật. Họ làm luật là để phục vụ cho lợi ích của người dân. Ví dụ năm Nhâm Ngọ (1042), Lý Thái tông cho san định bộ Hình thư. Luật ban ra, triều đình cử xuất nạp quan về tận nơi thôn cùng xóm vắng, xem xét khi luật ấy thi hành có điều nào tiện hay không tiện cho dân. Không tiện, có nghĩa là luật xa rời thực tế, không hợp lòng dân, xuất nạp quan tâu báo lên, triều đình lập tức tu chính. Truyền thống ấy được phát huy cao hơn ở đời Lý Thánh tông. Lịch sử còn truyền tụng câu chuyện bất hủ khi nhà vua xử kiện, công chúa Động Thiên ngồi bên cạnh, mặc áo lông cừu mà vẫn kêu rét. Nhà vua truyền lệnh phát chăn ấm và cơm cho tù ăn no. Ngài nói với mọi người: “Dân chúng có người vô tình mắc tội, có người không biết luật mà mắc tội, có người bị quan lại chèn ép mà mắc tội… nên nhất loạt khoan giảm một bậc”.

Và mặc dù đã có hệ thống tòa án các cấp, nhưng nhà vua vẫn cho lập “Đô hộ phủ sĩ sư”, tức tòa giám đốc thẩm, để xử lại các án oan, án ngờ. Và để quan lại trong tòa này giữ được liêm chính, nhà vua ban lộc cho mỗi người một năm được hưởng thêm một trăm bó lúa và hai giành cá khô để dưỡng liêm.

Đơn cử hai vấn đề, một là tôn giáo, hai là luật pháp đều nhằm đối tượng nhân dân và vì nhân dân mà hành hóa. Hai vấn đề đều có quan hệ mật thiết đến đời sống tinh thần và an sinh xã hội, nhà Lý giải quyết rất nhẹ nhàng. Ấy là bởi họ vì lợi ích của muôn dân chứ không vì lợi ích hoàng gia, lợi ích nhóm.

Còn với nhà Trần, tôi cũng xin cử hai bài học mà theo tôi nó có quan hệ đến định mệnh quốc gia.

Thứ nhất là mâu thuẫn giữa hai nhánh quyền lực. Tức là hai dòng trưởng và thứ, có lúc đã gay gắt tới mức tưởng như một mất một còn. Tuy nhiên, họ đã dẹp bỏ được mâu thuẫn, vì họ đặt lợi ích quốc gia lên trên hết.

Bài học thứ hai là khi Hốt-tất-liệt, tên bạo chúa nhà Đại Nguyên, đặt cả dân tộc ta trước nguy cơ bị hủy diệt. Nhà Trần không chỉ đoàn kết trong nội bộ hoàng gia, hoàng tộc mà còn cố kết toàn dân thành một khối. Họ luôn biết lắng nghe kẻ sĩ, lắng nghe dân.

Biểu tượng cao nhất là Hội nghị các bô lão ở điện Diên Hồng, khi quân thù đã sắp kéo 50 vạn hùng binh tràn vào biên ải nước ta. Các vua nhà Trần còn phân vân không biết có chống nổi giặc dữ, và không đo được lòng dân trước thế giặc. Vì thế các vua Thánh tông, Nhân tông liền họp các bô lão tiêu biểu trong cả nước để vấn kế. Và kết quả là đại biểu của toàn dân muôn người như một đòi triều đình: “quyết đánh!”.

Triều đình đã lắng nghe và chấp hành nguyện vọng của toàn dân, nên đã tạo ra được sức mạnh siêu thần nhập hóa, đánh bại đội quân xâm lược khổng lồ mà trước đó nó chưa biết mùi chiến bại. Thậm chí các nước khổng lồ như Nga, Trung Hoa đều đã gục ngã, quy hàng và cam chịu cho người Mông Cổ đặt ánh thống trị.

Vậy là các bài học của hai thời đại Lý - Trần để lại cho hậu thế là chính quyền phải vì dân và biết lắng nghe kẻ sĩ, lắng nghe dân thì muôn việc dù khó khăn, nguy nan đến mấy cũng đều có thể vượt thoát được.

Trái lại nhà Hồ vừa độc tài chuyên chế, vừa khinh dân, khinh nhờn kẻ sĩ, phớt lờ quyền lợi và nguyện vọng của người dân, thì dù có xây thành đá, rốt cuộc cũng không tìm được nơi ẩn nấp. Và chỉ mấy tháng sau khi giặc Minh vào cõi, cả ba cha con Hồ Quý Ly đều bị bắt làm tù binh.

Nước mất là bởi chính quyền nhà Hồ đã tước đoạt hết quyền làm chủ của người dân, khi ấy nước không còn là của dân nữa, thì dân cũng không chứa cái thứ chính quyền đã phản bội họ. Vì vậy nhà Hồ tựa như cái cây đã bật hết rễ ra khỏi lòng đất. Đất không nuôi dưỡng nữa, nó phải chết.

Vâng thưa ông, trên đây tôi chỉ đưa ra vài ví dụ, thực ra các bài học lịch sử do hai thời đại Lý - Trần để lại cho dân tộc ta nhiều vô kể, và đều thuộc hàng kinh điển cả. Cái kho tàng kinh nghiệm đầy trí tuệ ấy, nếu biết khai thác và khiêm tốn áp dụng một cách minh mẫn, chắc chắn chúng ta sẽ có trí khôn và sức mạnh tăng lên gấp nhiều lần, và không một kẻ thù nào dám coi thường dân tộc ta.

Tiếc thay, như mọi người đều biết rằng bài học lớn nhất của lịch sử, là người ta đã không chịu rút ra từ lịch sử những bài học. Vì vậy, dân tộc ta đã và đang phải trả giá quá đắt về sự ngạo mạn cùng với tội bất kính tổ tông.

PV: Trong những bài học đó, bài học nào là đáng giá nhất và bài học nào là đắt giá nhất?

NV. HQH: Theo tôi, bài học đáng giá nhất là nhà Trần đã thuận theo lòng dân nên giữ được nước, làm cho dân tộc ta ngẩng cao đầu và kiêu hãnh trước kẻ thù hùng mạnh nhất thời đại.

Và bài học đắt giá nhất là nhà Hồ làm trái lòng dân, trái đạo lý, chuyên quyền và tàn bạo nên để mất nước về tay quân thù.

PV: Thưa nhà văn, nghiên cứu thời đại Lý – Trần, chắc là ông đã đọc, nghiên cứu văn học của thời đại này rất nhiều. Những thâu nhận từ nền văn học này đã giúp ông trong quá trình tái tạo chính lịch sử thời đại này bằng văn học như thế nào?

NV. HQH: Thưa ông, văn học thời Lý -Trần có vẻ đẹp mà không thời nào có được. Trước hết là giá trị mỹ học. Tiếp đó là sự hào sảng khoáng đạt, ung dung tự tại, với vẻ thâm trầm uẩn ảo, toát ra từ cốt cách của một nền văn hóa ở tầng cao trí tuệ.

Tiếp thu tinh hoa đó, và tôi đã chuyển tải tinh thần đó vào trong hai bộ tiểu thuyết lịch sử “Tám triều vua Lý” và “Bão táp triều Trần”. Tuy nhiên, trình độ có hạn, nên dung lượng được chuyển tải bị hạn chế nhiều.

PV: Câu cuối chúng tôi muốn hỏi nhà văn là trong viết tiểu thuyết lịch sử thì cần nhất điều gì và kiêng kị nhất điều gì?

NV. HQH: Thưa ông, điều cần thiết đối với người viết tiểu thuyết lịch sử là phải giữ được cái tâm trong sáng, phải trung thực và phải biết nâng niu những giá trị do lịch sử để lại. Và điều kiêng kỵ nhất đối với người viết tiểu thuyết lịch sử là không được đem tà tâm gửi vào lịch sử.

PV: Cảm ơn ông rất nhiều về cuộc trao đổi hôm nay. Hy vọng chúng ta sẽ có những trao đổi trong thời gian tới.

____________________

• Phan Thắng thực hiện

MỞ CÁNH CỬA KHÔNG

Tu thiền để dừng lặng tâm lăng xăng. Tâm lăng xăng lặng xuống thì tâm chân thật hiện đủ. Đó là giác. Giác bằng cách thực hiện ngay nơi mình, chứ không phải tìm kiếm ở đâu khác.

 

Muốn bước vào cửa thiền trước tiên phải thâm nhập lý Bát-nhã. Lý Bát-nhã còn được gọi là cửa Không. Sắc tức thị không, không tức thị sắc. Tại sao chúng ta tu thiền phải đi từ cửa Không? Vì nếu thấy thân này thật, đối với ngoại cảnh, từ con người cho tới muôn vật, chúng ta đều thấy thật hết thì tâm sẽ chạy theo nó.


Bây giờ, muốn tâm không chạy theo, chúng ta phải quán sát kỹ tất cả sự vật ở ngoài cũng do duyên hợp, không thật. Cái nhà từ khoảnh đất trống, ta dựng cây cối, gạch ngói v.v… để thành cái nhà. Do vậy cái nhà là tướng duyên hợp. Do duyên hợp nên có ngày nó phải bại hoại, tường vách đổ sụp. Những gì duyên hợp đều hư dối. Từ cái nhà cho đến mọi sự mọi vật, có thứ nào không phải duyên hợp đâu, nên chúng sẽ đi đến bại hoại. Biết rõ như vậy mới không dính mắc với cảnh bên ngoài. Không dính mắc ngoại cảnh thì tâm mới an định, còn dính mắc thì không bao giờ an định.

Thí dụ chúng ta vừa mới to tiếng với ai đó chừng nửa giờ, bây giờ vô ngồi thiền có yên không? Vừa ngồi vừa tiếp tục cãi, không cãi bằng miệng mà cãi bằng tâm. Họ nói câu đó là sao? Mình phải trả lời sao cho xứng v.v… cứ ôn tới ôn lui hoài. Vì chúng ta thấy câu nói thật nên không bỏ được. Nếu ta quán con người đó không thật thì lời nói của họ có thật đâu, tất cả là chuyện rỗng, có gì quan trọng. Thấy vậy liền buông nhẹ. Buông được thì ngồi thiền mới yên. Cho nên trước tiên bước vào cửa thiền, chúng ta phải đi từ lý Bát-nhã, dẹp bỏ tất cả những cố chấp của mình.

Kinh Bát-nhã nói “Sắc tức là Không, Không tức là Sắc” nghĩa thế nào? Như bình hoa trước mắt chúng ta, nếu bỏ mấy cọng hoa mỗi nơi mỗi cái thì bình hoa không còn. “Bình hoa” là giả danh, do đủ duyên hợp lại mới có, nếu thiếu duyên bình hoa không còn nữa. Nên nói thể bình hoa là không, do duyên hợp tạm có. Ngay nơi bình hoa chúng ta biết tánh nó là không. Tuy tánh không nhưng đủ duyên hợp lại thì thành bình hoa.

Như vậy lý không ở đây không phải không ngơ, mà là không có chủ thể cố định. Duyên hợp tạm có, duyên ly tán trở về không. Hoa khi phân tán khắp nơi, chỉ còn lại bình không, nếu ta cắm vào đó các hoa khác thì có bình hoa trở lại, nên nói “không tức là sắc”. Rõ ràng sắc và không đều không thật. Nói sắc nói không nhằm chỉ ra lý duyên hợp, đủ duyên thì không biến thành sắc, thiếu duyên thì sắc biến thành không. Nên ngay khi duyên hợp, tánh nó vẫn là không. Vì vậy kinh Bát-nhã nói không nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, không sắc, thanh, hương… Không là nói đến thể của tất cả các pháp. Tất cả pháp chỉ có giả danh, không có thật thể.

Từ đó chúng ta dùng trí quán xét hết các sự vật bên ngoài đều là duyên hợp tánh không. Biết như thế là tỉnh, hết mê. Biết lý tánh không rồi, chúng ta mới bỏ được vọng tưởng điên đảo, các vị Bồ-tát mới có thể tu hành tiến lên thành Phật. Dùng trí tuệ Bát-nhã tức là dùng thanh kiếm bén ruồng hết sáu trần, không chấp không kẹt. Không chấp thì ngồi thiền êm ru, không nghĩ, không tính. Vừa chợt nhớ gì liền tự nhắc “Nó giả dối, có thật đâu mà nhớ”.

Thế nên bước vào cửa Không phải thấy rõ: Một, tất cả cảnh sắc đều hư dối, tự tánh là không. Hai, thân tứ đại duyên hợp hư dối, tự tánh là không. Ba, tâm vọng tưởng sanh diệt hư dối, tự tánh là không. Biết ba cái đó không thật rồi, chúng ta phải tìm cho ra cái chân thật. Đây là chỗ thiết yếu hành giả tu thiền cần phải biết. Cái thật đó lâu nay chúng ta không nhớ không biết nên chạy theo trăm thứ đảo điên. Bây giờ phải nhớ để nhận ra và sống lại với cái chân thật của chính mình, thì mới chấm dứt sanh tử và đau khổ.

Như câu chuyện Đức Phật kể trong kinh Lăng Nghiêm: Một buổi sáng, có anh chàng Diễn Nhã Đạt Đa đứng trước gương soi mặt, anh thấy mặt mày mình hiện rõ trong đó. Khi úp gương xuống, anh không thấy mặt mình nữa, liền chạy la hoảng: “Tôi mất đầu rồi. Tôi mất đầu rồi!”. Phật nói Diễn Nhã Đạt Đa ôm đầu chạy la mất đầu, có phải điên không? Tại sao anh điên? Vì anh lầm bóng trong gương là đầu thật, nên quên mất đầu thật của mình.

Chúng ta có giống Diễn Nhã Đạt Đa không? Khi nghĩ suy ta thầm cho đó là “tâm tôi”, khi không nghĩ suy thì không có tâm. Nghĩ suy là bóng, mình nghĩ về người thì bóng người hiện ra, nghĩ về vật bóng vật hiện ra. Hết nghĩ suy thì tâm lặng, rõ ràng chúng ta có cái thật nhưng lại không thấy, chỉ thấy toàn là bóng. Vì nhận bóng là mình nên quên cái thật, giống như Diễn Nhã Đạt Đa nhớ bóng quên đầu, đó là điên. Tâm thật luôn có mặt trong hiện tại, không bao giờ vắng thiếu mà ta lại không nhận, đi nhận những thứ lăng xăng chợt có chợt không là tâm mình, như vậy không phải điên là gì?

Chúng ta có cái thấy nghe rõ ràng mà không cần suy nghĩ. Đó là cái chân thật hiện tiền, không động, có sẵn nơi mỗi người. Chỉ vì lâu nay mình cứ cho nghĩ suy là tâm nên quên mất tâm thật. Chấp thân là mình, chấp suy nghĩ phân biệt làm tâm mình, đó là gốc luân hồi sanh tử. Muốn ra khỏi luân hồi sanh tử phải bỏ hết các thứ chấp ấy đi. Muốn bỏ cũng phải tập, bỏ hoài bỏ hoài, lâu ngày mới hết.

Cũng vậy, những vui buồn chúng ta đem ra kể cho cha mẹ nghe là khắng vào tâm não một lần, kể cho anh em nghe là khắng thêm hai lần. Cứ thế kể cho bạn bè, bà con láng giềng nghe, ôn đi ôn lại càng nhiều thì thấm càng sâu trong tâm não. Vì vậy khi ngồi yên nó trồi lên, ta “bỏ” chẳng bao lâu nó trồi lên nữa, ta than phiền tại sao bỏ hoài không hết ? Mình thu vô một trăm lần thì đuổi ra ít nhất cũng phải tám, chín chục lần mới hết chứ. Sao lúc thu vô nhiều không than phiền, khi đuổi lâu hết lại không chịu. Có phải mình vô lý không?

Những buồn đau, giận hờn… xảy đến ta cứ chứa chấp sâu trong kho tàng thức, bây giờ muốn loại trừ phải từ từ. Năm này một ít, năm kia một ít nó mới sạch, chứ không phải một lần sạch liền. Vì vậy ngồi thiền là cốt loại những bóng dáng của quá khứ còn lưu lại trong tâm, khiến nó tan mất đi. Chúng hết rồi thì cái chân thật hiện tiền, hằng tri hằng giác của mình hiện bày. Tri giác ấy là tánh Phật. Chư Phật ra đời mục đích để chỉ dạy cho chúng ta bấy nhiêu đó thôi.

Nhận ra tánh Phật hằng tri hằng giác, không suy nghĩ, không thương ghét, không hơn thua là dứt tạo nghiệp thiện ác. Không tạo nghiệp thiện ác thì đâu có luân hồi sanh tử. Đó là nhân giải thoát. Như vậy tu là giác ngộ, biết mình có cái thật phải nhận lại, cái giả bỏ đi. Bỏ được những thứ hư dối, sống hoàn toàn với tâm chân thật là giác ngộ. Giác ngộ là giải thoát sanh tử.

Chúng ta cứ đúng theo đạo lý Phật dạy mà tu. Tu lâu ngày mọi thứ khổ đau mê lầm sẽ giảm. Khi nào hết mê lầm tức là chúng ta giác ngộ viên mãn. Như vậy mới xứng đáng là Phật tử tức con của Phật. Tu là để giải thoát sanh tử, chứ không phải cứ đi mãi trong mê lầm. Vì vậy Phật tử gặp Phật pháp, được quý thầy nhắc nhở tu hành là có phước lớn, chứ không phải thường. Nếu không sẽ chìm mãi trong biển khổ sanh tử, đeo đuổi theo những thứ tạm bợ của thế gian, chịu nhiều đau khổ không biết đến bao giờ mới hết!

Mong tất cả hiểu được mục đích tu hành của mình để đạt được kết quả như sở nguyện.

 

_________________


• HT. Thích Thanh Từ

Nguồn: giacngo.vn

TÌM HIỂU VỀ TRÀO LƯU TỊNH ĐỘ TẠI VIỆT NAM

Qua thực tế sinh hoạt tâm linh, tín ngưỡng của Phật giáo Việt Nam hiện nay, có thể thấy rằng dấu ấn của pháp môn Tịnh độ là hết sức sâu đậm. Đây là một trong những vấn đề đáng quan tâm và cần sự nghiên cứu một cách kỹ lưỡng để xác định truyền thống tu học của người Phật tử Việt Nam, nhằm xây dựng các nguyên tắc tổ chức trong các tự viện nói riêng và đời sống tín ngưỡng, tu học của người Phật tử nói chung một cách hiệu quả, phù hợp với tâm lý, bối cảnh văn hóa và truyền thống của dân tộc. Vậy tư tưởng Tịnh độ du nhập Việt Nam bao giờ, phát triển ra sao và có đặc điểm gì, trong bài viết này, chúng tôi sẽ bước đầu tìm hiểu về những vấn đề trên qua các tư liệu hiện có.


1. Sự du nhập và phát triển của tín ngưỡng Tịnh độ tại Việt Nam

Danh hiệu của Đức Phật A Di Đà được nhắc đến sớm nhất trong lịch sử Phật giáo VN là ở Cựu tạp thí dụ kinh, truyện 60. Pháp môn niệm Phật cũng đã được đề cập trong Lục độ tập kinh do Khương Tăng Hội (?-280) dịch sang chữ Hán. Đây là những bộ kinh xưa nhất lưu hành tại Việt Nam hiện biết được. Như vậy, ngay từ rất sớm, vào trước thế kỷ thứ III, trong khuynh hướng tư tưởng Phật giáo Đại thừa được giới thiệu tại nước ta, người Phật tử Việt Nam cũng đã bước đầu được tiếp xúc với tín ngưỡng Tịnh độ (A Di Đà). Tư tưởng này đã đi vào đời sống tu tập của người Phật tử và trở thành một trong những trào lưu lớn mạnh ở thế kỷ thứ V với sự có mặt của các bản kinh quan trọng làm nền tảng cho nó là Vô lượng thọ (Quán thọ), (1) do sư Đàm Hoằng (?-455), một vị Tăng người Trung Quốc chuyên hành trì pháp môn Tịnh độ với ước nguyện vãng sinh Cực Lạc, đến việt Nam tu học tại nước ta truyền bá.

Theo Cao tăng truyện của Huệ Hạo, sư Đàm Hoằng (Thích Đàm Hoằng) người Hoang Châu, Trung Quốc, xuất gia từ nhỏ, là người giới hạnh tinh nghiêm, sâu sắc về Luật bộ. Khoảng năm 423, sư đến nước ta, ở tại chùa Tiên Sơn, chuyên hành trì kinh Vô lượng thọ và Quán Vô lượng thọ. Năm 455 sư tự thiêu nhưng không thành vì giữa chừng học trò biết được và dập tắt lửa\. Sau đó, nhân cả thôn làng bận rộn vì gần có hội, cả chùa đều đi Phật sự, sư lén vào hang núi tự thiêu lần nữa\. Khi mọi người biết được đến nơi thì sư đã tịch. Tương truyền, hôm đó, dân làng nhìn thấy sư thân có sắc vàng, cỡi một con nai vàng, không nói năng gì mà đi về hướng Tây rất nhanh. Phật tử trong Tăng ngoài tục biết đó là điều thần dị nên thu nhặt tro xương, dựng tháp để tôn thờ.

Nguyên nhân sự tự thiêu của sư Đàm Hoằng là do đâu? Như chúng ta biết, vào thế kỷ thứ V, tại nước ta đang diễn ra một cuộc đấu tranh tư tưởng gay gắt. Nền tư tưởng Phật giáo quyền năng được thiết định mấy thế kỷ trước tỏ ra không còn sức thuyết phục trước bước phát triển của dân tộc, đặc biệt ở giai đoạn đấu tranh vận động cho sự ra đời của nhà nước độc lập Vạn Xuân. Những tranh luận này đã để lại cho chúng ta ngày nay tư liệu 6 lá thư giữa Lý Miễu và hai vị thầy của ông là các ngài Pháp Minh (k.370-460) và Đạo Cao (k.365-445), tranh luận xung quanh vấn đề tại sao nói Phật thần thông biến hóa nhưng người Phật tử không thấy chân hình của Ngài ở đời (nạn Phật bất kiến hình sự). Sự kiện tự thiêu của sư Đàm Hoằng xảy ra vào thời điểm cao trào của cuộc đấu tranh này và chắc chắn đó không phải là một trường hợp ngẫu nhiên. Thêm nữa, sư Đàm Hoằng tự thiêu là một sự kiện lớn thời bấy giờ. Bởi lẽ tiếng tăm của nó đã vang dội vượt ra ngoài nước ta, đến cả Trung Quốc và mấy trăm năm sau, Huệ Hạo đã ghi vào tác phẩm của mình là Cao tăng truyện. Phải chăng sự tự thiêu này, cùng với những tương truyền về việc dân làng thấy điều thần dị là một câu trả lời trong nỗ lực củng cố niềm tin đối với nền tư tưởng Phật giáo quyền năng, mà khuynh hướng Tịnh độ sư Đàm Hoằng chuyên tâm thực hành là một trong những đại biểu.

Như vậy, có thể nói rằng, ở thế kỷ thứ V, tư tưởng Tịnh độ đã phát triển và trở thành một trào lưu tại nước ta\. Đó cũng là giai đoạn quan trọng với sự lưu hành rộng rãi các bộ kinh căn bản của tư tưởng Tịnh độ mà chúng ta đã được biết qua tiểu sử của sư Đàm Hoằng, chùa Tiên Sơn. Tuy nhiên, giai đoạn tiếp theo, tức từ sau sư Đàm Hoằng đến nửa đầu thế kỷ thứ IX, chúng ta hiện không có tư liệu nào để lại đề cập đến Tịnh độ, mà mãi đến năm 826, nó mới được nhắc đến trong bài kệ của sư Vô Ngôn Thông (759?-826) nói cho đệ tử là sư Cảm Thành (?-860). Trong bài kệ có câu : "Tây Thiên là đất này, Đất này là Tây Thiên Ẩ" (Tây Thiên thử độ, Thử độ Tây Thiên Ẩ). Chữ Tây Thiên ở đây có thể hiểu theo hai nghĩa, chỉ cho thế giới Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà, đồng thời cũng có thể hiểu đó là nước Aán Độ, quê hương của Phật giáo.

Từ giữa thế kỷ thứ XI trở đi, khuynh hướng Tịnh độ được phổ biến rộng rãi, với sự hình thành của nhiều ngôi Tam bảo, đạo tràng Ẩ Đặc biệt là vào thờivua Lý Thánh Tông (1023-1072), nhà vua tuy thuộc thế hệ thứ 1 dòng thiền Thảo Đường, nhưng đã cho tạc một pho tượng Phật A Di Đà độc đáo có một không hai trong lịch sử nghệ thuật điêu khắc của dân tộc hiện nay vẫn còn (2) và cho dựng một ngôi tháp để thờ tại chùa Vạn Phúc. Ngoài ra, còn có tượng Phật A Di Đà do sư Trì Bát (1049-1117), người thuộc thế hệ thứ 12 của dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi, chủ trương tạo dựng năm 1099 (3), tượng A Di Đà trong hội đèn Quảng Chiếu trước Đoan Môn, được tạo lập để cầu nguyện cho hoàng hậu Linh Nhân siêu sinh Tịnh độ (4) v.vẨ Cùng với tín ngưỡng A Di Đà, tín ngưỡng Quán Thế Âm, vị Bồ tát thân cận của Phật A Di Đà, ở thời này cũng trở nên phổ biến. Từ giai đoạn này trở về sau, trên phương diện tín ngưỡng, trào lưu Tịnh độ đã thực sự có một vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa tâm linh của nhân dân ta.

Thế kỷ XII, qua một các tiểu truyện về các thiền sư được Thiền uyển tập anh ghi lại, chúng ta biết được có thiền sư mặc dù được coi là thuộc hệ truyền thừa của các thiền phái nhưng vẫn hành trì theo pháp môn này, chẳng hạn Thiền sư Tịnh Lực (1111-1175), thuộc thế hệ thứ 10 dòng thiền Vô Ngôn Thông, 12 thời thực hành sám hối và thâm nhập được pháp môn niệm Phật tam muội (5); Thiền sư Trì Bát "nhân tưởng niệm Phật A Di Đà ở thế giới Phương Tây Cực Lạc, nên đã phổ khuyến đạo tục, dựng một đạo tràng lớn " (6). Đến đời Trần, các nhà tư tưởng lớn như Tuệ Trung Thượng Sĩ, Trần Thái Tông Ẩ cũng bàn đến vấn đề niệm Phật. Tư tưởng Tịnh độ với cơ bản là quan niệm về Đức Phật A Di Đà và 48 lời nguyện của Ngài cũng được đặt ra trong các kỳ thi tuyển nhân tài do triều đình tổ chức mà hiện biết được qua bài thi của tiến sĩ Lê Ích Mộc (1459-?), kỳ thi năm 1502. Dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử do Trần Nhân tông chủ trương cũng có nói về Đức Phật A Di Đà và thế giới Cực Lạc, tuy ở một sắc thái khác, chúng tôi sẽ đề cập trong phần sau.

Sự phát triển này ngày mỗi mạnh mẽ, nhất là từ cuối thế kỷ XVI trở đi\. Nhiều tác phẩm về Tịnh độ được viết, phiên âm và chú giải nhằm cổ súy và truyền bá cho trào lưu này\. Có thể kể một vài tên tuổi như ngài Viên Văn (1590-1644) viết tác phẩm Bồ đề yếu nghĩa, thuyết minh về Tự tính Di Đà; thiền sư Minh Châu Hương Hải (1628-1708) phiên âm A Di Đà kinh sớ sao của ngài Châu Hoằng; thiền sư Chân Nguyên (1647-1726) với nhiều tác phẩm mang đặc điểm tư tưởng Tịnh độ của Trung Hoa như Phật tâm luận, Tịnh độ yếu nghĩa Ẩ, đặc biệt là đã cho thiết kế ba đài Liên hoa cửu phẩm làm pháp khí trong lễ nghi thực hành niệm Phật (7); thiền sư Tánh Thiên với Phổ khuyến niệm Phật, v.vẨ Sự phát triển đó được tiếp nối cho đến ngày nay, chúng ta có thể thấy tín ngưỡng và pháp môn niệm Phật A Di Đà cầu vãng sinh Cực lạc là một trong những khuynh hướng tín ngưỡng lớn, nếu không nói là chủ yếu, của Phật giáo nước ta hiện tại\. Tuy nhiên, quan niệm Tịnh độ của người Phật tử Việt Nam mang những điểm đặc thù, dẫu có sự ảnh hưởng nhưng vẫn khác biệt so với Tịnh độ tông của Trung Hoa hay của Nhật Bản.

2. Đặc điểm của trào lưu Tịnh độ tại Việt Nam

Nói "trào lưu" mà không phải là "tông phái", đây cũng là một trong những đặc điểm về sự phát triển của tư tưởng Tịnh độ tại Việt Nam.

Sự lưu hành của các bộ kinh quan trọng thuộc hệ tư tưởng Tịnh độ là Vô lượng thọ và quán Vô lượng thọ ở nước ta vào khoảng nửa đầu thế kỷ thứ V là một điều đáng chú ý, nó cho phép chúng ta nghĩ rằng Việt Nam thời bấy giờ có thể là một trung tâm Tịnh độ có tiếng tăm ở vùng Viễn Đông mà chùa Tiên Sơn, nơi sư Đàm Hoằng, một vị Tăng Trung Quốc chọn làm chỗ dừng chân tu tập, là một thí dụ. Bởi khi sư Đàm Hoằng đến chùa Tiên Sơn, sau năm 422, cách thời điểm thành lập Bạch Liên xã của ngài Huệ Viễn (334-416), người sáng lập Tịnh độ tông ở Trung Hoa, chỉ khoảng 20 năm (năm 402).

Tuy du nhập Việt Nam từ những thế kỷ đầu của kỷ nguyên Tây lịch, được phổ biến và trở thành một trong những trào lưu chủ yếu của đời sống tín ngưỡng của Phật giáo nước ta, và dẫu có lúc phát triển mạnh mẽ, nhưng tư tưởng Tịnh độ không như ở Trung Hoa và Nhật Bản, hình thành một tông phái với chủ trương, lịch sử truyền thừa chặt chẽ và độc lập, tách biệt với các tông phái khác như Thiền, Mật hay Luật tông. Ở nước ta, nó không đứng biệt lập và không hề thấy xảy ra những tranh luận với các hệ tư tưởng khác cũng như đấu tranh trong tự thân nó để phát triển. Vậy, đặc điểm chung của tư tưởng Tịnh độ tại nước ta là thế nào?

Để có một nhận định chính xác về điều này, chúng ta cần khảo sát và so sánh với Tịnh độ tông ở Trung Hoa và Nhật Bản. Tuy nhiên, ở khuôn khổ một bài báo, chúng tôi không tiện làm việc đó và cũng không thể khảo sát sự phát triển, các mặt tư tưởng của trào lưu này ở các giai đoạn lịch sử, mà chỉ đưa ra vài nhận xét bước đầu qua một số quan niệm đặc thù mang tính chủ yếu mà thôi.

Như đã nói, từ thời vua Lý Thánh Tông, trào lưu Tịnh độ đã phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, các quan niệm bàn luận về A Di Đà và Tịnh độ thì mãi đến thế kỷ XIII mới được vua Trần Thái Tông (1218-1277) đề cập một cách chính thức. Trong sách Khoá hư lục, Trần Thái Tông đã có hẳn một đề mục là "Niệm Phật luận", bàn về những lợi ích của phương pháp niệm Phật. Nhà vua quan niệm con người có ba loại : thượng, trung và hạ trí. Bậc thượng trí thì tâm tức Phật, do đó pháp môn niệm Phật chỉ dành cho hai đối tượng là trung và hạ trí. Bên cạnh đó, cũng trong tác phẩm này, về phương diện thực hành, Trần Thái Tông cũng đã soạn "Lục thời sám hối khoa nghi" mà kính lễ Phật a Di Đà và các vị Bồ tát thân cận để sám hối nghiệp chướng là chủ yếu\. tự tính Di Đà và Tịnh độ được Trần Thái Tông quan niệm chỉ có ở ngay hiện tiền, trong tâm của con người này mà không phải thuộc một quốc độ khác tồn tại ngoài thế gian. Quan điểm đó cũng thống nhất trong các tác phẩm của Tuệ Trung Thượng Sĩ (1230-1291) và Trần Nhân Tông (1258-1308) (8). Như vậy, trên mặt lý luận, quan niệm Tịnh độ ở đây được nhìn và giải thích theo đôi mắt thiền. Đấy là một trong những đặc điểm của trào lưu Tịnh độ ở giai đoạn thời Trần nói riêng và cũng là một trong những đặc điểm căn bản trên phương diện lý luận của tư tưởng Tịnh độ tại Việt Nam nói chung.

Sau đó, từ thế kỷ XVII trở đi, tư tưởng Tịnh độ tông Trung Hoa cũng đã được giới thiệu và truyền bá ở nước ta, bắt đầu là sư Viên Văn Chuyết Chuyết (1590-1644) với tác phẩm Bồ đề yếu nghĩa, Minh Châu Hương Hải với A Di Đà kinh sớ sao, tư tưởng của ngài Châu Hoằng qua sự giới thiệu của sư Chân Nguyên Ẩ Những mô tả về sự toàn thiện của thế giới Cực lạc, chủ trương niệm Phật để nhẹ nghiệp chướng được phước đức trong đời này, vãng sinh về thế giới Cực lạc sau khi chết cũng được truyền bá rộng rãi, phù hợp với nhu cầu tâm linh, tín ngưỡng của đông đảo quần chúng Phật tử, nhất là cuối thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX,

khi đất nước ta đang rơi vào một hoàn cảnh bị xâm lược, đời sống nhân dân cơ cực lầm than dưới sự đô hộ khắc nghiệt của thực dân Pháp (9). Cũng trong giai đoạn này, nhiều nhóm chuyên thực hành niệm Phật (Liên Trì xã, Niệm Phật liên xã ) được thành lập khắp nơi trong nước. Dấu ấn của cao trào này được thấy qua Phổ khuyến niệm Phật của Thiền sư Tánh Thiên (1784-1847), các tác phẩm của thiền sư Toàn Nhật (1755-1832), Phật Thầy Tây An Ố Đoàn Minh Huyên (1807-1856), các sư Tâm Truyền (1832-1911), Phước Huệ (1875-1863) v..v...

Tóm lại, trào lưu Tịnh độ ở nước ta dẫu có một lịch sử lâu dài nhưng không tự thân phát triển thành một tông phái, không có vị trí độc lập, tách biệt với các pháp môn khác; đồng thời cũng không phong phú trong lý luận và phương pháp thực hành như Tịnh độ tông Trung Hoa hay Nhật Bản. Ở phương diện lý luận, Đức Phật A Di Đà chủ yếu được quan niệm như một mẫu hình con người lý tưởng tuyệt đối và phương pháp thực hành nổi bật gần như duy nhất là phương pháp niệm Phật. Sự không tách biệt độc lập này, có lẽ thuộc về đặc tính của dân tộc ta, cũng như đã thấy trong truyền thống Phật giáo Việt Nam, qua sự ra đời, sinh hoạt và truyền thừa của các dòng thiền. Dẫu là thiền sư, nhưng trong thực hành tâm linh thì vẫn trì tụng thần chú và niệm danh hiệu Phật. Trường hợp các thiền sư Lý Thánh Tông, Tịnh Lực, Trì Bát, Trần Nhân Tông v..v... đã nói sơ lược trên có thể xem là những tiêu biểu.

Tư tưởng Tịnh độ cũng đã có những ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tâm linh, văn hoá, tín ngưỡng của Phật giáo Việt Nam nói riêng và của dân tộc ta nói chung, đặc biệt là trong lĩnh vực nghệ thuật (văn học, kiến trúc, điêu khắc.). Chúng tôi hy vọng sẽ giới thiệu đến độc giả những ảnh hưởng này một cách tập trung hơn vào dịp khác, nhằm góp phần vào việc tìm hiểu những điểm đặc thù của tư tưởng và phương pháp thực hành tâm linh trong truyền thống Phật giáo Việt Nam.

1. Vô lượng thọ kinh chủ yếu trình bày những tiền thân của Đức Phật A Di Đà và 48 lời nguyện lớn của Ngài khi chưa thành Phật, khi còn là một tỳ kheo có tên là Pháp Tạng (Dharmakara). Quán vô lượng thọ chủ yếu nói về 16 phép quán liên hệ đến thế giới của Đức Phật A Di Đà và các vị Bồ tát Quán Thế Âm, Đại Thế Chí.
2. Tượng được tạc vào năm 1066, hiện được thờ tại chuà Phật Tích (Vạn Phúc tự), thuộc tỉnh Bắc Ninh.

3. Chuà Một Mái, tức chùa Hoàng Kim, nay thuộc xã Hoàng Ngô, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây.

4. Theo văn bia tháp Sùng Thiện Diên Linh ở chùa Đọi.

5. Xem tiểu truyện Thiền sư Tịnh lực, trong Lê Mạnh Thát, Nghiên cứu về Thiền Uyển Tập Anh, Nxb. TPHCM, 1999, trang 223.

6. Theo những dòng chữ khắc trên bệ tượng hình sư tử đội tòa sen ở chùa Một Mái, xã Hoàng Ngô, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây

7. Một trong các đài Liên hoa cửu phẩm đó hiện còn tại chùa Bút Tháp (Ninh Phúc tự), tỉnh Bắc Ninh.

8. Trong bài phú nổi tiếng nói lên chủ trương của dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử : "Cư trần lạc đạo phú", ngài Trần Nhân Tông đã viết : "Tịnh độ là lòng trong sạch, chớ còn hỏi đến Tây phương, Di Đà là tính sáng soi, mựa phải nhọc tìm về Cực Lạc.".

9. Chẳng hạn, trong Phổ khuyến niệm Phật, thiền sư Tánh Thiên đã viết :

"Niệm Phật tội nghiệp tiêu khô
Như sương tan nắng như hồ nước trong
Niệm Phật để đặng tấm lòng
Kẻo mà trắc ẩn mắc vòng gian nan
Niệm Phật Cực lạc hân hoan
Ta bà khổ não giàu sang mấy hồi

 

________________________


• Thích Tâm Hải

Nguồn: thuvienhoasen.org

TÂM PHẬT HAY TÂM MA

Có một chàng nghệ nhân rất nỗi tiếng vì tài năng của mình, nhưng anh ta lúc nào cũng tỏ vẻ khó chịu vì muốn tạc một tượng Phật và ma quỷ. Thực tế thì anh chưa tìm ra hình mẫu lý tưởng nào cho phù hợp với ước muốn của mình, trong lúc đang suy tư tìm tòi thì có một người bạn rủ đi chùa lễ Phật. Anh ta hỏi, Phật ở đâu. Người bạn nói đi thì biết. Một cơ hội ngẫu nhiên anh ta cùng bạn đến chùa lễ Phật, được vị sư trụ trì tiếp đãi, với phong cách trang nghiêm, điềm đạm và có vẻ tự tại trong cuộc sống nên đã hấp dẫn anh nghệ nhân.

Lần đầu tiên được gặp vị sư, anh ta hoan hỷ phát tâm cúng dường một số tiền lớn với điều kiện, ngài phải làm người mẫu để anh ta tạc tượng. Bức tượng đã làm xong trong thời gian ngắn, ai nhìn qua cũng trầm trồ khen ngợi vì phong thái trang nghiêm trong sáng lạ thường. Ai được thấy cũng đều quỳ xuống đảnh lễ với tâm cung kính hết sức chân thành. Từ đó về sau không ai còn gọi anh ta là nghệ nhân nữa, mà gọi anh ta là bậc Thánh tượng.

Tiếp theo đó anh ta chuẩn bị công trình tạc tượng ma quỷ, nhưng hình dáng của ma quỷ ở đâu để anh tạc đây, đó là vấn đề nan giải. Phải mất một thời gian dài để tìm người nào hung dữ nhất, nhưng không có người nào có hình dáng làm anh vừa ý. Cuối cùng anh cũng tìm được người như ý muốn đang ở trong tù, với tội giết người đang chờ bản án tử hình. Anh rất phấn khởi vì tìm được một người giống ma quỷ đâu phải dễ, nên khi đối diện với tử tù để chuẩn bị tạc tượng, tên tử tù khóc rống lên như đưa ma mẹ. Anh nghệ nhân ngạc nhiên hỏi, bộ ông sợ chết hả. Ngươi có nhớ ta không, lần trước tạc tượng Phật lấy ta làm mẫu, giờ tạc tượng ma cũng lấy ta làm mẫu, sao lại oan gia trái chủ như thế này.

Ngươi tự nhiên, biến ta từ Phật thành ma quỷ liền. Anh nghệ nhân nói, sao có chuyện lạ kỳ như vậy, chỉ trong một thời gian ngắn. Tôi khi trước tạc tượng Phật lấy hình dáng ngài làm chuẩn, với phong thái siêu phàm thoát tục, còn ông bây giờ hãy xem lại hình dáng của mình đi, thật đáng giống ma quỷ quá trời. Ông không biết đó sao, vì trước kia ông cúng cho ta một số tiền quá lớn, nên ta không kiềm chế được bản thân, do đó vui chơi trác táng rơi vào nghiện ngập ma túy, cuối cùng tiền hết tật mang. Ta vì không chịu nỗi cơn nghiện hoành hành, nên túng thế đi cướp giựt của người khác và phạm tội cướp của giết người, giờ phải chịu bản án tử hình chờ ngày xử trảm. Giờ đây ta vì buồn rầu, lo sợ, tiếc nuối thân mạng nên không ăn, không ngủ được mà ra nông nỗi này. Anh nghệ nhân nghe lời trình bày thống thiết đó cảm thấy xúc động nghẹn ngào, không ngờ bản tính con người thay đổi quá nhanh, vì chút đam mê dục vọng thấp hèn mà thân tàn ma dại như thế này.

Anh ta mắt thấy tai nghe sự thật quá phủ phàng, nên không còn tâm huyết làm việc nữa quyết định từ bỏ nghề nghiệp này, do đó bức tượng ma quỷ dang dỡ không thành. Vì vậy cho đến ngày hôm nay, không ai biết chính xác về tướng trạng của ma quỷ như thế nào. Chỉ biết rằng nếu tâm tư suy nghĩ xấu ác và hành động vô lương tâm luôn làm hại người, hại vật, làm khổ đau cho thiên hạ thì ma quỷ hiện tiền. Ngược lại nếu tâm trong sáng thanh tịnh không chút bợn nhơ hay làm việc thánh thiện giúp người, cứu vật, thì Phật hiện tiền, Phật hay ma cũng từ tâm niệm tốt xấu của chính mình tạo ra.

Vị sư ở câu chuyện trên trước kia nhờ nương thầy lành bạn tốt, nên có nhân duyên xuất gia tu hành thanh tịnh do đó phát ra tướng tốt giống Phật, nhưng vì ỷ lại mình đã thành tựu đạo pháp nên mặc tình ăn chơi dong ruỗi, lấy phòng trà tửu điếm làm bạn, để rồi bị dòng đời cuốn trôi và cuối cùng phải chịu thân tàn ma dại chờ ngày xử án. Tâm Phật hay ma chỉ trong một niệm, nếu ta huân tập tâm ma thì hiện hình ma, nếu ta biết gieo trồng hạt giống Phật, thì Phật có mặt khắp nơi. Tâm Phật hay ma là do chính mình tạo lấy, không có một đấng quyền năng hay một phép lạ nào làm cho ta thành Phật hay thành ma. Trong thiền sử Trung Hoa có câu chuyện hết sức thú vị cũng nói về ma với Phật. Cư sĩ Tô Đông Pha một hôm đến chùa Kim Sơn để đàm đạo với thiền sư Phật Ấn.

Cư sĩ hỏi này thiền sư, ngài thấy tôi giống cái gì?

Ô, ông rất trang nghiêm, trông giống Phật hết sức.

Tô Đông Pha nghe xong cảm thấy hưng phấn và tâm đắc vô cùng.

Thiền sư Phật Ấn mới hỏi lại cư sĩ, ông thấy tôi giống cái gì?

Trông thiền sư giống một đống phân bò.

Thiền sư nghe xong, mà chỉ mỉm cười.

Cô em gái cắc cớ hỏi, hôm nay anh đánh cờ thắng thiền sư hả ?

Đâu phải, chuyện này mới quan trọng chớ. Anh đối đáp lý thiền. Cái lão già ấy không còn lý lẽ để nói, đành câm miệng lại.

Nghe kể xong, biết anh mình bị thất bại mà không biết. Anh thua rồi anh ơi.

Thua chỗ nào, em nói nghe coi.

Tâm của thiền sư như tâm Phật, cho nên nhìn anh chẳng khác gì Phật. Còn tâm anh như đống phân bò, cho nên nhìn thiền sư giống như phân bò.

Tô Đông Pha nghe nói vậy lấy làm hổ thẹn, vì biết mình hiểu thiền chỉ trên đầu môi chót lưỡi. Thiền sư, mới đúng thật là thiền sư.

Thiền không phải là hiểu biết suông, mà cần phải vận dụng vào trong thực tế đời sống hằng ngày. Không phải biện luận giỏi là trí tuệ sáng suốt Tô Đông Pha cứ nghĩ rằng đối đáp trôi chảy là chứng ngộ lý thiền, nhưng tâm ông ta còn ma mị nhiều quá thấy cái gì cũng đen tối hết, do đó cống cao ngã mạn sinh tâm coi thường Thiền sư. Nào ngờ mình chỉ hiểu thiền trong kiến thức tối đen, vậy mà dám ngông nghênh coi thường thiên hạ. Quả thật Tô Đông Pha có mắt như mù, may nhờ có cô em gái lanh lợi nên chặt cho anh ta một phát, bao nhiêu hiểu biết suông đều rơi rụng hết.

Trong cuộc hành trình trở về đất Phật, không phải ai cũng dễ dàng lãnh hội và sống được với chính mình. Tâm ta ma thì thấy ai cũng ma, tâm ta Phật thì thấy bầu trời quang đảng và trong sáng không ngần mé. Khi mới sinh ra con người bản tính vốn thiện, khi bắt đầu lớn lên tiếp xúc với cuộc đời thì nó sẽ phát triển theo hai hướng tốt hoặc xấu. Được thân cận gần gũi bậc thiện tri thức, thì con người có thể có một nhân cách sống đạo đức chừng mực và đi theo chiều hướng tốt đẹp. Ma hay Phật ngay nơi một tâm niệm, tâm thanh tịnh sáng suốt thì thấy biết rõ ràng không sai lệch và ngược lại thì thấy biết chạy theo điên đảo vọng tưởng vậy.

Muốn vượt qua phải trái cuộc đời, người con Phật cần nắm vững các nguyên tắc sau đây để làm kim chỉ nam trong cuộc sống.

Tình thương yêu là nguồn an ủi vô biên, giúp chúng sinh vượt qua biển khổ sông mê, song tình thương thế gian hoàn toàn còn giới hạn trong phạm vi gia đình nhỏ hẹp hoặc lớn hơn là đối với một đất nước. Chúng ta có một người bạn tốt để giúp con người vượt qua phải trái cuộc đời đó là từ, bi, hỷ, xả. Người bạn này luôn sát cánh và kề cận bên ta, chỉ vì chúng ta chẳng chịu thừa nhận nên lãng quên, đó thôi.

Từ có nghĩa là ban vui, Bi là cứu khổ. Từ bi là đem niềm vui đến và chia sẻ nỗi đau của nhân loại, bình đẳng không phân biệt kẻ oán người thù. Lòng từ này bao la không ngần mé, nên nó không giới hạn ở con người hay muôn vật.

Trong bài thơ của vua Trần Nhân Tông, có nói lên việc phải trái cuộc đời, giống như gió thoảng mây bay. Sau khi từ bỏ ngai vàng giao lại cho con, Ngài lên núi tu tập cảm nhận được niềm vui thật sự, do biết buông xả việc đời, nên tâm ngài thanh tịnh trong sáng mà cảm tác bài kệ:

Phải trái rụng theo hoa buổi sớm.

Danh lợi lạnh với trận mưa đêm.

Hoa tàn mưa tạnh non im vắng.

Xuân cỗi còn nguyên một tiếng chim.

( Hòa Thượng Thanh Từ dịch )

Việc đời lúc nào cũng như thế, không bao giờ có được những giây phút bình yên, hết chuyện này đến chuyện kia, việc phải, việc trái, việc đúng, việc sai, việc tốt, việc xấu, việc hơn, việc thua, suốt ngày cứ như thế và lúc nào cũng có mặt trong cuộc sống. Vua Trần Nhân Tông khi còn ở ngai vàng, mỗi ngày phải tiếp xúc và giải quyết biết bao chuyện thị phi phải quấy của thế nhân, thân thì sống hưởng đầy đủ lạc thú trên trần gian muốn gì được nấy, nhưng tâm thì phải bận rộn lo toan đủ thứ mọi chuyện rắc rối trong cuộc đời.

Giờ đi tu rồi cảm thấy hạnh phúc, an lạc, thảnh thơi, không còn bị dòng đời lôi cuốn và chi phối nữa, nên tâm tư ngài trong sáng thanh tịnh nhận biết rõ ràng bản chất thực hư của cuộc đời. Nếu chúng ta không thấy rõ được bản chất thực hư của nó, suốt ngày cứ dính mắc vào đó, để rồi gây thêm phiền muộn khổ đau cho nhau. Ngài thấy rõ ràng những niệm phải quấy, hơn thua, giống như những cánh hoa rơi rụng buổi sáng vậy. Bởi bản chất của hoa là sớm nở tối tàn nó không thực có, thấy phải thấy quấy là theo cách nhìn của người đời, vậy thì chúng ta chấp mắc vào đó làm chi cho thêm phiền muộn khổ đau. Còn tâm danh lợi cũng lạnh theo đám mưa đêm.

Ở đời ai cũng cầu mong làm sao có danh vọng địa vị lớn trong xã hội, đã có danh vọng thì quyền lực nắm trong tay và quyền lợi cũng được đi kèm theo, do đó khó có ai đủ can đảm để buông bỏ. Nhưng ông vua thiền sư Việt Nam Phật hoàng Trần Nhân Tông xem ngai vàng như dép rách, dám từ bỏ hết tất cả để lên núi tu hành. Còn chúng ta bây giờ có gì đâu, vậy mà cứ ôm hoài rồi than phân trách phận, đổ thừa tại bị thì là…. thật là đáng tội nghiệp quá chừng.

Thiền sư khi tu hành viên mãn rồi, thấy việc đời giống như những chiếc lá rơi, không có gì phải bận tâm lo lắng nên tham sân si, mạn, nghi, ác kiến không còn khả năng chi phối được nữa. Nhưng không phải đến đây là hết, không phải là gỗ đá, không phải là vật vô tri, không phải là không biết gì mà:

“ Hoa tàn mưa tạnh non im vắng,

Xuân cỗi còn nguyên một tiếng chim”.

Vẫn còn lại cái biết sáng suốt hằng giác, hằng tri, chứ đâu phải không còn gì hết. Cái biết này ngay nơi mắt vẫn nhìn thấy rõ ràng, xanh biết xanh, đỏ biết đỏ, vàng biết vàng, nhưng không bị nó làm biến dạng, làm méo mó, nó như thế nào thấy như thế đó, nên không dính mắc và bám víu vào một thứ nào hết, do đó cuộc sống khỏe ru, à. Có gì phải bận rộn lo lắng để dẫn đến khổ đau. Tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng lại như thế. Thiền sư nhìn đời như vậy đó, an lạc thảnh thơi làm sao đâu chỗ này tiền bạc, danh vọng, quyền lực có mua được không? Khi làm vua ngài có thiếu cái gì đâu, nếu không có an lạc và hạnh phúc thật sự, thì làm sao ngài nói lên được như thế và dám từ bỏ hết tất cả quyền lực thế gian!

Ngài tu một thời gian cảm nhận được đạo lý chân thật rồi xuống núi, khuyên mọi người hãy phá bỏ những tập tục mê tín dị đoan làm con người mất tự chủ, tự do trong cuộc sống. Ngài khuyên mọi người nên lánh ác làm lành, tin sâu nhân quả, làm lành được hưởng phước, làm ác chịu khổ đau, không ai có quyền ban phước giáng họa, chính mình là đấng tối cao của bao điều họa phúc. Cho nên chúng ta phải có trách nhiệm và bổn phận, yêu thương đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau trên tinh thần vô ngã vị tha.

Muốn vậy, người con Phật phải phát nguyện gìn giữ năm điều đạo đức. Không giết hại, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối hại người, không uống rượu say sưa và nghiện xì ke, ma túy và đưa các độc tố có hại vào cơ thể. Không giết người và hạn chế tối đa việc giết hại súc vật. Nhất là những tập tục giết hại súc vật để cúng tế quỷ thần, cúng tế thần linh. Người ưa giết hại có lòng từ bi hay không? Chắc chắn là không rồi, đã không có lòng từ bi thì làm sao giúp người cứu vật được. Phật đã mở cho chúng ta con đường sáng để vượt qua si mê tối tăm, đã thương thì không giết, đã giết thì không thương, người con Phật cần phải hiểu thấu đáo chỗ này để không bị lầm lẫn. Không được gian tham trộm cướp vậy trộm cướp có từ bi hay không? Dĩ nhiên là không rồi. Tài sản của cải làm ra được bằng công sức khó khổ của mình, thức khuya dậy sớm chắt chiu dành dụm từng ly, từng tí, làm mà chẳng dám ăn xài hoang phí. Đùng một cái, mọi thứ đều đội nón ra đi hỏi sao không buồn đau cho được!

Lòng từ bi là một chất liệu sống không thể thiếu trên cõi đời này, người sống với tâm từ nhờ đó thanh lọc và chuyển hóa những mưu sâu kế độc toan tính hại người, hại vật. Một người tu tâm từ, người người tu tâm từ thì thế gian này tràn ngập tình yêu thương. Nhân loại sẽ tránh được khổ đau do tâm từ được trải rộng ra, nên thế giới bớt xung đột, tranh chấp, hận thù và chiến tranh sẽ không bao giờ có mặt. Uống rượu say sưa, nghiện ngập ma túy và dùng các chất kích thích có hại cho sức khỏe, làm hủy diệt sự sáng suốt của con người, là căn bệnh trầm kha của thế kỷ thứ 21 này. Như thế, nhiều người dùng những thứ đó có từ bi không, hay đang lần hồi hủy diệt sự sống của con người đến bờ vực thẳm.

Đó là một trong những vấn nạn lớn nhất làm đau đầu thế giới con người. Lịch sử thời hoàng kim của đời Trần Việt Nam là một minh chứng hùng hồn, đã biết áp dụng tâm linh vào cuộc sống nên con người sống với nhau hiểu biết và thương yêu hơn. Không có những tệ nạn xã hội trầm trọng như ngày hôm nay, lòng từ bi luôn đi kèm với trí tuệ, mới có thể cứu giúp được nhân loại thoát ra chỗ si mê tối tăm bao đời kiếp. Niềm vui đích thực là biết cho ra, mà không đòi hỏi để được nhận lại, hoàn toàn không có tính vị kỷ bám víu của sự chấp ngã, mới thật sự bền vững và lâu dài.

Vậy chúng ta ứng dụng tu từ bi tâm bằng cách nào? Thứ nhất là quán tình thương thấy ai cũng là người thân, người thương của mình. Đã thương thì không oán trách, giận hờn, ghét bỏ, nhờ vậy chúng ta dễ dàng bao dung và tha thứ. Cứ mỗi ngày, sáng sớm thức dậy chúng ta nguyện cầu cho tất cả chúng sinh luôn được sống yêu thương và hiểu biết, dấn thân và phục vụ, với tinh thần vô ngã vị tha. Mỗi ngày sáng, trưa, chiều, tối, đều nên quán chiếu và cầu nguyện như vậy thì tâm từ bi của chúng ta ngày càng thêm rộng lớn.

Cách quán thứ hai thấy ai cũng là cha mẹ của mình, thường thì ai cũng kính trọng và yêu thương cha mẹ hết. Nên, quán tất cả chúng sinh là cha mẹ của mình, vì ân cha mẹ khó đáp đền công sinh thành dưỡng nuôi khó nhọc cho nên ai cũng thương yêu hiếu kính với cha mẹ, do đó không gây buồn phiền giận dỗi nên không làm đau khổ cho nhau. Nếu cuộc sống này tất cả mọi người đều như vậy hết, thì còn gì sung sướng và hạnh phúc cho bằng.

Tu tập lòng từ bi rất khó vì nó đi ngược lại lòng tham lam, sân giận, si mê của mọi người, muốn vậy trước tiên ta phải tập cảm thông nỗi khổ niềm đau của tất cả chúng sinh. Đầu tiên chúng ta tập cảm thông với người thân trước, kế đến những người cùng chung làm việc, rồi đến những người xa lạ không quen biết, cuối cùng là kẻ oán thù chuyên làm hại mình và tất cả muôn loài. Tập dần như vậy cho đến khi nào viên mãn mới thôi. Muốn được như thế chúng phải cố gắng buông xả tâm hại người hại vật, mở rộng tấm lòng bố thí cung kính cúng dường, giúp đỡ chia sẻ khi gặp người khó khăn hoạn nạn.

Đạo Phật là đạo của từ bi luôn mang yêu thương đến với muôn loài và sẵn sàng chia sẻ những nỗi khổ niềm đau, hầu giúp cho tất cả chúng sinh vượt qua biển khổ sông mê. Kính chúc mọi người luôn đem nước mát từ bi trải rộng khắp thế gian này, để tất cả chúng ta được sống yêu thương và hiểu biết.
_______________

Thích Đạt Ma Phổ Giác

Nguồn: thuvienhoasen.org

ƯNG VÔ SỞ TRỤ NHI SANH KỲ TÂM

Một lần nọ, tôi hỏi một vị Sư “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” có phải là câu hay nhất trong kinh Kim Cang không thì Sư nhẹ nhàng bảo không, trong kinh Kim Cang câu nào cũng hay cả! Quả thật dần dần tôi cũng thấy ra kinh Kim Cang chỗ nào cũng hay cả, mà hình như ngày càng hay hơn, nhất là khi… áp dụng vào đời sống hằng ngày, đúng như Edward Conze nói. Cách viết, cách trình bày từng chữ từng câu trong kinh Kim Cang chặt chẽ, thuyết phục và nói chung là… hấp dẫn! Tôi bị cuốn hút vào Kim Cang cũng như trước kia với Tâm Kinh. Tâm Kinh- dạy cho Xá Lợi Phất, một đại đệ tử thông tuệ, trí thức nhất của Phật- hình như là để trả lời rốt ráo cho câu hỏi Tại sao, mang tính lý thuyết; còn Kim Cang thì nói cho Tu Bồ Đề, vị đại đệ tử giải không đệ nhất, vô tranh, ưa tĩnh mịch, vốn xưa là người dễ nổi nóng, dễ giận hờn… là để trả lời cho câu hỏi Cách nào?, nhằm hướng dẫn thực hành. Dĩ nhiên những bài giảng này dành cho các đại đệ tử, hoặc các vị tu sĩ, không phải dành cho ta nên ta có lớ ngớ, bỡ ngỡ , chưng hửng cũng là chuyện bình thường thôi! Có điều, lớ ngớ, bỡ ngỡ, chưng hửng lại có cái hay của nó. Nó giúp ta tự thâm nhập, tự phát hiện, tham gia trong quá trình nghiền ngẫm, thử nghiệm, khi thấy tin được thì đem áp dụng vào đời sống hằng ngày để giải quyết những vướng mắc, phiền não chẳng cũng khóai ru? Chẳng hạn câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” mà ai cũng biết, ai cũng đọc như thần chú để an ủi cõi lòng mỗi khi phiền muộn , cũng là câu mà Lục tổ Huệ Năng hơn ngàn năm trước, chỉ nghe lóm mà đại ngộ cũng đáng cho ta nghiền ngẫm miệt mài lắm chứ! Đừng trụ vào đâu cả để mà sanh cái tâm thì sẽ…sướng, sẽ vui, sẽ hạnh phúc, sẽ thoát mọi “khổ đau ách nạn”. Thật ư?

Đừng trụ vào đâu cả? Đừng trụ vào đâu cả… ư? Ờ, mà có lý! Khi xem hai đội banh xa lạ đụng độ nhau, tôi súyt xoa thưởng thức những đường banh hay đẹp, nhưng khi một trong hai đội là… đội của tôi- tôi là “fan” của họ- thì ôi thôi tôi lo lắng, khổ sở, bực dọc đủ thứ với từng đường banh, từng cầu thủ, trọng tài. Tôi… nguyền rủa, la hét, xỉ vả, rồi mừng rỡ khi đội mình thắng hay ngậm ngùi cay đắng khi đội mình thua! Ăn mất ngon, ngủ mất yên vì cái đội banh… quái quỷ mà tôi thương mến!

Hai thiền sinh gặp một cô gái ở khúc sông sâu đang lúng túng không dám lội qua. Một vị tình nguyện cõng cô qua. Trên đường về chùa, vị kia bỗng hỏi:- Làm sao mà một ông sư lại dám cõng trên lưng một cô gái đẹp như vậy chớ? – Ơ hay, tôi đã “buông” cô ta xuống lâu rồi, còn anh sao vẫn cứ “cõng” cô ta đến bây giờ vậy!

Có nhiều cách cõng. Cõng cô gái là một cách, cõng cái ý tưởng về cõng cô gái là một cách khác. Cô gái thì đã đặt xuống rồi nhưng cái ý tưởng kia thì vẫn còn quấn quít mãi không thôi, có lẽ còn đi vào cả giấc mơ! Người kia thấy cô gái là cô gái, cần giúp thì giúp. Người nọ, thấy cô gái là cô gái…đẹp, băn khoăn tự hỏi có nên giúp hay không, giúp có phạm quy không, thậm chí còn bần thần “trăm năm biết có duyên gì hay không” nữa không chừng! Người cõng càng lâu thì càng mệt, càng sớm còng lưng! Nhưng đâu có dễ mà bỏ xuống chứ! Nghi Lâm tiểu sư muội cõng Lệnh Hồ huynh đệ bị thương ( truyện Kim Dung) có một phen mà tâm thần bấn lọan dài dài! Cho nên, Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm thật không dễ!

Phật dạy muốn không trụ vào đâu cả (vô sở trụ) thì phải ly tướng, rời bỏ các hình thức, hiện tượng bày vẻ bên ngòai, vượt qua hiện tựơng để thấy được cái thực chất bên trong. Ly được tất cả các tuớng đã xứng danh là Phật; thấy đựơc các tuớng chẳng phải tướng là đã thấy Như lai! Nhưng làm sao mà ly đây? Thế nên có người lên núi, làm một cái cốc… trong hang động để xa lánh sự đời! Nhưng vẫn chưa ổn chút nào vì cái tâm vẫn cứ còn quậy phá. Rõ ràng ở đây không phải vấn đề trốn chạy, vì chạy đi đâu cho thóat cái tâm chính mình, một khi tâm vẫn chưa an? Khi tâm đã an rồi thì đâu chẳng là… cốc, đâu chẳng là hang động? Cho nên có thể nói chuyển từ “ly tướng” bên ngoài đến… “ly tướng” bên trong là cả một sự chuyển hóa từ lượng sang chất.

“Thị cố, Tu Bồ Đề ! Chư Bồ tát Ma ha tát ưng như thị sanh thanh tịnh tâm…Bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ… Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm!”.

Vậy đó, Tu Bồ Đề! các vị Đại bồ tát làm như vậy đó mà có được tâm thanh tịnh! Làm như vậy đó là làm làm sao? Câu trả lời là rời khỏi các tướng, không còn phân biệt ngã nhân, chúng sanh, thọ giả, là tách rời mọi thứ hiện tượng, không để bị mà mắt, bị hút vào những chuyện lăng xăng, ý niệm ngôn từ nọ kia, làm cho người ta vướng mắc, vùng vẫy không ra như mắc vào lưới cá! Những vị Đại bồ tát đó đã thực hành bố thí kiểu mới, bố thí không dính mắc; trì giới, nhẫn nhục kiểu mới… và dĩ nhiên cũng đã có tuệ giác kiểu mới, vượt lên, vượt qua, vượt ra… Gaté, gaté, paragaté!

Kinh Duy Ma Cật kể có một lần kia, trong một buổi họp mặt giữa các vị Bồ tát, các vị đựơc người ta tung hoa đầy người – giống như các fan hâm mộ tung confetti vào thần tượng của mình bây giờ- thì đa số các vị người nào cũng bị dính, trừ các Đại bồ tát! Nên nhớ, các vị Đại…Bồ tát! Chớ còn Tiểu… bồ tát hoặc Bồ tát… sơ sơ thì có dính confetti chút đỉnh cũng không sao. Từ từ mà gỡ. Đừng nóng vội! Đại Bồ tát thì… trơn tuột, không còn cái gì có thể dính được nữa! Kim Cang viết thật súc tích, chặt chẽ: Vì Đại Bồ tát là những vị đã thật vô sở đắc, thật vô sở hành… Những chữ “thật” đó khiến ta không khỏi giật mình. Họ hiều lời Phật dạy là chiếc bè giúp qua sông; hiểu ngón tay Phật chỉ là để nhìn thấy trăng chớ không phải trăng… Tóm lại, tâm họ đã hoàn toàn “vô sở trụ”, không trụ vào đâu cả, không dính mắc vào đâu cả ! Không trụ vào đâu cả thì chỉ còn có một chỗ để trụ ấy là… tự tại! Quán Tự tại Bồ tát…hành thâm Bát nhã…!

“Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền”, Trần Nhân Tông, sư tổ Trúc Lâm đã nói đến cái vô tâm như vậy từ bảy trăm năm trước, còn Lục tổ Huệ Năng, thì hơn một ngàn ba trăm năm trước cũng đã nói đến vô niệm. Dĩ nhiên vô tâm không phải là không có tâm, không còn tâm, cũng như vô niệm không phải là không có niệm, không còn niệm. Vô niệm, vô tâm thực ra chỉ có nghĩa là cái tâm trong sáng, cái niệm thanh tịnh, đã hoàn toàn không còn phân biệt, không còn dính mắc (chấp trước). Trần Nhân Tông vẫn xuống núi, đánh đuổi quân Nguyên, nhưng khi xong giặc thì trở về núi tu tiếp, không “dính mắc” chi nữa! Còn Huệ Năng, “ngộ” rồi mà vẫn lẩn trong đám thợ săn hằng chục năm để tu rèn và giúp đỡ người. Cho nên tâm cứ sanh miễn là tâm thiện, tâm có ích cho mình, cho đời. “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” cũng chính là “Ưng sanh kỳ tâm nhi… vô sở trụ” vậy! Đâu có bảo phải dập tắt tâm đi, thui chột tâm đi, tiêu diệt tâm đi để trở thành sỏi đá hay người ngơ ngáo tâm thần sao? Mà “ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau”(TCS) kia mà!

Tu Bồ Đề hào hứng hỏi: Thưa Thế tôn, vậy xin hỏi kinh này có tên gọi là gì và phụng trì ra sao? Phật nói: Kinh này gọi là Kim Cang Bát nhã Balamật. Nói xong hình như Phật giật mình, coi chừng, không khéo họ lại… “trụ” vào nữa thì hỏng bét! Phật bèn nói tiếp: Bát Nhã Balamật không phải là Bát Nhã Balamật nên mới gọi là Bát Nhã Balamật vậy!
_____________________________________

GƯƠM BÁU TRAO TAY

HANDING DOWN the PRECIOUS SWORD

Tác giả: Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Nhà xuất bản Phương Đông 2008

Dịch giả: Diệu Hạnh Giao Trinh

Bản dịch Anh ngữ Gươm Báu Trao Tay (viết về kinh Kim Cang)

Nguồn: thuvienhoasen.org

CẦN KHAI THÁC THẾ MẠNH DU LỊCH TÂM LINH Ở HUẾ

Thừa Thiên - Huế là một trong số ít địa phương có rất nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch tâm linh, một loại hình du lịch hấp dẫn, đem lại giá trị kinh tế và làm phong phú thêm đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân.

Dâng hương đền thờ Phật hoàng Trần Nhân Tông

Trước tiên, Thừa Thiên - Huế là vùng đất có tới 55 vạn tín đồ Phật giáo với hơn 100 ngôi chùa, niệm phật đường, trong đó có nhiều Tổ đình như Từ Đàm, Thiên Mụ rất khang trang và bề thế. Từ sau khi được UNESCO công nhận là di sản thế giới, chùa Thiên Mụ đã được bảo tồn, tu bổ với tổng số vốn đầu tư là 27 tỷ đồng từ ngân sách nhà nước. Bên cạnh những công trình kiến trúc như tháp Phước Duyên, điện Đại Hùng, điện Địa Tạng, điện Quan Âm... cùng bia đá, chuông đồng, chùa Thiên Mụ còn có nhiều cổ vật quí không chỉ về mặt lịch sử mà cả về nghệ thuật, là điểm đến không thể thiếu trong hành trình đến Huế của du khách.

 

Hàng năm, lễ hội Điện Huệ Nam (còn gọi Lễ hội Điện Hòn Chén) được tổ chức vào tháng Ba và tháng Bảy Âm lịch tại ngôi điện nằm trên núi Ngọc Trản bên bờ sông Hương, thuộc xã Hương Thọ, thị xã Hương Trà, nơi thờ Thiên Y A Na Thánh Mẫu. Đây là lễ hội dân gian truyền thống được phục hồi theo các tập tục đậm màu sắc văn hóa dân gian địa phương, mang yếu tố văn hóa tâm linh, đề cao đạo hiếu, đạo làm người. Lễ hội bắt đầu từ việc rước Thánh Mẫu đi từ điện Huệ Nam tới đình làng Hải Cát trên những chiếc thuyền được ghép lại thành bè; với long kiệu Thánh Mẫu và hòm sắc vua phong, cùng các khí tự như tán, tàn, cờ, quạt, đội hầu bóng, những người phục dịch và khách hành hương. Từ đình làng Hải Cát, lễ cung nghinh Thánh Mẫu hồi loan về điện, sau đó diễn ra lễ phóng sanh, phóng đăng... sôi động trong tiếng nhạc của phường hát văn và phường bát âm, với sự tham dự của đông đảo bà con địa phương và du khách. Lễ hội thu hút hàng vạn người dân và du khách thập phương mỗi khi mở hội.

 

Từ năm 2008, tại Thừa Thiên - Huế còn hình thành thêm Trung tâm văn hóa Huyền Trân, tạo thành điểm du lịch văn hóa tâm linh hấp dẫn. Hàng năm, tỉnh Thừa Thiên - Huế lấy ngày 9 tháng Giêng Âm lịch (tức ngày 3/2) để tổ chức Lễ hội đền Huyền Trân. Cùng với ý nghĩa tri ân người có công mở nước, tạo lập vùng đất Thuận Hóa - Phú Xuân cách đây 700 năm trước, lễ hội đền Huyền Trân cũng là dịp quảng bá sản phẩm du lịch mới của tỉnh Thừa Thiên - Huế. Từ khi đưa vào hoạt động đến nay, mỗi ngày Trung tâm văn hóa Huyền Trân thu hút hàng ngàn lượt khách đến vãn cảnh và thắp hương tưởng niệm vị công chúa đã có công mở mang bờ cõi nước Việt.

Lễ hội Đền Huyền Trân Công chúa

Trung tâm văn hóa Huyền Trân được xây dựng nằm cách thành phố Huế 7km về phía tây, tại vùng núi Ngũ Phong thuộc xã Thủy An trên khuôn viên rộng 28 ha, có đồi núi thoai thoải, rừng thông xung quanh, bốn mặt là đồi núi trùng điệp. Không gian thâm nghiêm, kỳ vĩ, phù hợp với những công trình văn hóa mang tính tâm linh, về nguồn. Công trình bao gồm đền thờ và tượng đồng Huyền Trân công chúa, tháp chuông Hòa Bình, hệ thống đường đạo, công viên. Bên trong đền thờ Huyền Trân có pho tượng Công chúa Huyền Trân ngồi trên ngai được đúc bằng đồng. Tượng cao 2,37m, do các nghệ nhân đúc đồng nổi tiếng của phường Đúc, thành phố Huế cẩn tác. Phía sau là đền thờ đức vua Trần Nhân Tông - vị vua có công lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, có pho tượng nhà vua bằng đồng đỏ nguyên chất, cao 3m, nặng 2 tấn được đúc theo phiên bản lấy từ đền thờ các vua Trần tại Nam Định.

 

Trong tiếng nhạc dập dìu, tiếng chuông vọng ngân vang, sau khi thắp hương cầu nguyện Công chúa Huyền Trân và các bậc công thần khai quốc, đến với Trung tâm văn hóa Huyền Trân, du khách còn có dịp thả bước dưới những tán thông già. Ngắm nhìn tượng ni sư Hương Tràng, cầu nguyện ở tượng Di Lặc, bước lên 246 bậc cấp để chinh phục đỉnh núi Ngũ Phong và đến với tháp chuông Hòa Bình. Ở độ cao 108m, tháp chuông Hòa Bình với quả chuông đồng nguyên chất nặng 1,6 tấn, cao 2,16m, tiếng chuông ngân vang lan tỏa trong cõi thinh không tĩnh lặng để cầu nguyện cho sự an lành của mỗi con người, đúng như 8 chữ khắc trên mặt chuông: "Thế giới - Hòa Bình - Nhân loại- Hạnh phúc" cùng hình ảnh tượng trưng của 4 chùa: Giác Lâm (TP Hồ Chí Minh), Thiên Mụ (Huế), Diên Hựu (Hà Nội) và chùa Trúc Lâm Yên Tử (Quảng Ninh). Tất cả đã tạo nên một không gian rất đặc biệt, hướng du khách về với cội nguồn, về với lịch sử hào hùng của dân tộc và chiêm bái, tri ân người có công mở cõi.

 

Thực tế cho thấy, các điểm đến cho loại hình du lịch tâm linh ở Thừa Thiên - Huế đều được hình thành một cách tự nhiên, do sự tích hợp lâu dài của quá trình phát triển lịch sử, của đời sống kinh tế - xã hội, tín ngưỡng và tôn giáo.

___________________

Báo Tin tức - TTXVN

BIỂU TƯỢNG RỒNG Ở ĐỀN THỜ HUYỀN TRÂN CÔNG CHÚA

Công chúa Huyền Trân, người được coi là người khai sinh cho vùng đất Thuận Hóa - Phú Xuân, Thừa Thiên Huế ngày nay.

 

Chuyện kể rằng, vua Trần Nhân Tông sau khi đã truyền ngôi cho con là Trần Anh Tông, lên tu ở núi Yên Tử, mến cảnh núi sông thường hay đi du ngoạn các nơi. Một lần vào đến đất Chiêm Thành, đã hứa gả công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm Thành Jaya Simhavarman III (Chế Mân).

 

Vua Chế Mân dâng hai châu Ô, Lý (từ đèo Hải Vân Thừa Thiên đến phía bắc Quảng Trị ngày nay) làm sính lễ cưới công chúa Huyền Trân về nước.

 

Vâng mệnh vua cha Trần Nhân Tông, Huyền Trân đã gác tình riêng, gạt lệ xuống thuyền theo chồng, lập mối hòa hiếu và mở mang bờ cõi của đất nước về phương Nam. Đất Thuận Hóa - Phú Xuân - Thừa Thiên Huế cũng được khai sinh từ đó, đến nay đã hơn 700 năm.

 

Ngày nay, Đền thờ Huyền Trân Công Chúa nằm tại núi Ngũ Phong, thôn Ngũ Tây, xã Thủy An, TP Huế, nằm trên một không gian rộng tới 28 ha rợp bóng thông xanh, cách đàn Nam Giao khoảng 3 km về phía đông nam. Hàng năm cứ vào mồng 9 tháng Giêng âm lịch, nhân ngày mất của Huyền Trân Công chúa, lễ hội Huyền Trân lại được tổ chức long trọng tại Đền Huyền Trân Công Chúa ở Huế.

 

Những hình ảnh ấn tượng ở đền Huyền Trân Công Chúa gắn với năm con Rồng.

Lối vào Đền Huyền Trân công chúa

Hình tượng rồng với nhiều sắc thái khác nhau rải rác từ dưới lên điện thờ cao nhất ở Đền Huyền Trân

Hình tượng Rồng tại đền Huyền Trân

Rồng trong tiết Xuân

Rồng nhỏ

Hình tượng Rồng với nhiều sắc thái khác nhau

Hình tượng Rồng có mặt khắp nơi ở Đền Huyền Trân Công chúa

Từ bậc cấp đầu tiên dẫn vào đền thờ vua Trần Nhân Tông- phụ hoàng của Công chúa Huyền Trân, là đôi rồng chầu đạt kỷ lục dài nhất Việt Nam được sách kỷ lục Việt Nam ghi nhận ngày 07/12/2008.

Hình ảnh đôi rồng lớn nhất Việt Nam

Bên trong Đền thờ là pho tượng Công chúa Huyền Trân ngồi trên ngai được đúc bằng đồng. Tượng cao 2,37m, do các nghệ nhân đúc đồng nổi tiếng của Phường Đúc, TP Huế thực hiện.

Điện thờ tại Thiền viện Hương Vân

Khói hương cửa Phật

____________________________

CTV Hoàng Hải/VOV online/ từ Huế

Nguồn: dulichhue.com.vn

NHỮNG CÁI NHẤT CỦA PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG

Không chỉ là vị vua anh minh, người duy nhất được tôn làm Phật hoàng, ông còn là vị vua có tầm ảnh hưởng quốc tế lớn nhất của dân tộc VN.Trần Nhân Tông( 1258 – 1308), tên thật là Trần Khâm, là vị vua thứ ba của nhà Trần, ở ngôi 15 năm, ông được nhiều sử gia đánh giá là vị vua anh minh nhất trong lịch sử Việt Nam.

Ảnh : Tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông được hộ thần nhập tượng tại đỉnh Yên Tử sáng sáng 3/12/2013 

Với tài cai trị xuất sắc, Trần Nhân Tông đưa đất nước Đại Việt đạt đến sự phát triển đỉnh cao trong lịch sử. Ông cũng có vai trò lãnh đạo quan trọng trong thắng lợi của hai cuộc kháng chiến chống Nguyên- Mông lần thứ hai và thứ ba. Với những cống hiến ấy, tên tuổi của vua Trần Nhân Tông đã được các học giả đưa vào danh sách 14 anh hùng dân tộc tiêu biểu nhất của Việt Nam.

Trần Nhân Tông là vị hoàng đế duy nhất được tôn làm Phật hoàng trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc

Sau khi nhường ngôi cho con trai là Trần Anh Tông, ông đã xuất gia tu hành và lập nên Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử- trường phái Phật giáo đặc sắc của Việt Nam. Là tổ thứ nhất của dòng thiền này, về sau vua được dân cung kính gọi là Phật hoàng.

Ảnh: Tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông bằng đá trong vườn tháp Huệ Quang ( Hoa Yên- Yên Tử).

Về mặt trí tuệ, Trần Nhân Tông là một trong những vị vua có học vấn uyên thâm nhất trong lịch sử Việt Nam.

 

Sử sách ghi lại, luc sinh thời, vua là người thông minh, hiếu học, đọc hết các sách vở, thông suốt nội điển và ngoại điển. Ông đã viết nhiều tác phẩm có giá trị, nhưng đáng tiếc phần lớn đều đã thất lạc, chỉ cònh lại 25 bài chép trong Việt âm thi tập và Toàn việt thi lục.

Ảnh : Tượng ngọc của Phật hoàng Trần Nhân tông được tôn tạc tại chùa Vĩnh Nghiêm

Trên phạm vi thế giới, Trần Nhân Tông là vị hoàng đế Việt Nam có tầm ảnh hưởng quốc tế lớn nhất của dân tộc.

Tên tuổi của ông đã được đặt cho một viện nghiên cứu đặt tại thành phố Boston của Mỹ, nơi nghiên cứu các giá trị từ di sản vua Trần Nhân Tông đối với thế giới.

Hình ảnh chụp từ Website viện Trần Nhân Tông


Một giải thưởng mang tên Trần Nhân Tông về hoà giải cũng đã được ra đời, là giải thưởng quốc tế đầu tiên mang tên Việt Nam, hàm chứa các giá trị Việt Nam được phổ quát tới toàn nhân loại.

________________

trungtamhuyentran.thuathienhue.gov.vn

ĐÔI NÉT VỀ VUA TRẦN NHÂN TÔNG VÀ HOÀNG HẬU BẢO THÁNH

Trần Nhân Tông

 

Vua Trần Nhân Tông tên huý là Trần Khâm, ngoài ra lúc nhỏ còn có tên là Nhật Tôn hay Kim Phật. Ông là vị vua thứ 3 của triều Trần, con trai trưởng vua Trần Thánh Tông và hoàng hậu Thiên Cảm. Hoàng hậu Thiên Cảm là con gái Trần Liễu, chị em gái của Trần Hưng Đạo và Tuệ Trung thượng sĩ Trần Tung (người có khá nhiều ảnh hưởng đến tư tưởng tôn giáo của Trần Nhân Tông về sau).

 

Ông sinh năm 1258. Lúc mới sinh, Đại Việt sử ký toàn thư đã miêu tả ông là “được tinh anh của thánh nhân, đạo mạo thuần túy, nhan sắc như vàng, thể chất hoàn toàn, thần khí tươi sáng, hai cung đều cho là lạ, gọi là Kim Tiên đồng tử, vai bên tả có nốt ruồi đen, cho nên có thể cáng đáng được việc lớn”, vua Thánh Tông đặt tên cho ông là Kim Phật. Trong phần đề từ của bức tranh “Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ” đương thời, hoạ sĩ Trần Quang Chỉ thời Nguyên đã ghi lại “Khi lớn, ngài học thông tam giáo và hiểu sâu Phật điển. Ngay cả thiên văn, lịch số, binh pháp, y thuật, âm luật, không thứ gì là không mau chóng nắm được sâu sắc”.

 

Tháng 12 năm 1274, ông 16 tuổi, được sắc phong thái tử, kết hôn với con gái của Trần Hưng Đạo là Quyên Thanh công chúa.

 

Theo "Thánh đăng ngữ lục" thì ông từ nhỏ đã có lòng hướng Phật, không có ý làm vua nên nhiều lần xin nhường ngôi thái tử lại cho em trai mình là Đức Việp, nhưng vua Thánh Tông không chấp nhận. Sau khi kết hôn vài tháng, ông trốn khỏi hoàng cung vào giữa đêm khuya, tá túc ở một ngôi chùa trên Yên Tử. Vua Thánh Tông và hoàng hậu sau khi phát hiện ông biến mất thì vội vàng cho người tìm kiếm, khuyên giải ông về, cuối cùng ông đồng ý trở về. Sau khi về cung, ông nằm mộng thấy một đoá sen vàng mọc ra từ rốn mình nên từ đấy ngày ngày đều ăn chay, cả người gầy guộc. Vua Thánh Tông thấy vậy đau lòng, vừa khóc vừa khuyên ông, ông mới thôi việc ăn chay.

 

Năm 1276, con trai trưởng Trần Thuyên của ông ra đời, người sau này trở thành vua Trần Anh Tông.

 

Năm 1278, ông 20 tuổi. Trần Thánh Tông truyền ngôi vua cho ông để lên làm thái thượng hoàng.

 

Ý đồ đánh chiếm nước ta của nhà Nguyên càng ngày càng rõ. Đoàn sứ giả của Sài Thung do vua Nguyên phái đến nước ta lúc ấy vô cùng ngang ngược. Trên đường thì hà hiếp bá tánh, vào triều thì khinh rẻ quần thần. Theo sử nhà Nguyên, lúc Sài Thung truyền ý chỉ của Hốt Tất Liệt bắt ông phải sang chầu để nhận sắc phong, ông đã đáp: “Trộm nghe ấu chúa nhà Tống nhỏ dại, thiên tử còn thương xót mà phong cho tước công thì chắc tiểu quốc đây cũng được gia ân thương xót. Trước đây đã được tha miễn 6 việc. Còn lễ tự thân vào chầu, thì tôi sinh trưởng ở thâm cung, không tập cưỡi ngựa, không quen thủy thổ, sợ chết dọc đường. Em tôi là Thái úy trở xuống cũng đều như vậy. Khi thiên sứ trở về chầu vua, xin dâng biểu tâu rõ lòng thành, cùng cho biếu của lạ”.

 

Sài Thung trở về báo việc này lại với Hốt Tất Liệt, nội mật viện của Hốt Tất Liệt đề xuất khởi binh đánh nước ta, nhưng rốt cuộc vẫn chưa vội tấn công, chỉ bắt nước ta đúc tượng vàng ròng to bằng người thật để cống sang triều đình bên ấy, nếu không làm theo sẽ xuất quân.

 

Nhận thấy nguy cơ chiến tranh càng lúc càng gần, ông và triều đình đã gấp rút củng cố đất nước về mọi mặt để có thể sẵn sàng ứng chiến. Ví dụ như tiến hành đại xá, giải oan, sai Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật đến chiêu hàng tù trưởng Trịnh Giác Mật đang làm phản ở Đà Giang, khuyến khích nông nghiệp, thống nhất đo lường, tạo điều kiện cho buôn bán, thống kê dân số để tuyển lính, luyện binh… Đồng thời, triều đình nhà Trần cũng ra sức thắt chặt quan hệ ngoại giao với Chiêm Thành.

 

Sứ giả nhà Nguyên yêu cầu nước ta cho quân Nguyên mượn đường để tấn công Chiêm Thành, nhưng triều đình nhà Trần biết rõ ý đồ của quân Nguyên muốn chiếm Chiêm Thành trước đề về sau tạo thế gọng kềm đánh chiếm nước ta từ hai phía, nên đã mềm mỏng từ chối. Chiêm Thành biết tham vọng của quân Nguyên nên cũng tỏ ý giao hảo với nước ta. Theo ghi chép của sử nhà Nguyên, triều đình nhà Trần đã cho 2 vạn quân và 500 chiến thuyền đến chi viện cho Chiêm Thành. Tuy vua và triều đình nhà Trần không thừa nhận việc này, nhưng nhà Nguyên đã lấy đó làm cớ khép nước ta vào tội phản nghịch để tấn công.

 

Năm 1282, vua Trần Nhân Tông triệu tập Hội nghị Bình Than, họp cùng vương hầu và các quan bàn kế sách chống quân Nguyên. Sự kiện Trần Quốc Toản bóp nát quả cam cũng xảy ra vào thời điểm này.

 

Trần Hưng Đạo được phong chức Quốc công tiết chế, thống lĩnh quân đội toàn quốc. Trần Quang Khải được phong chức Thượng tướng thái sư.

 

Cuối năm 1284, sau khi được tin Hốt Tất Liệt phái Trấn Nam vương Thoát Hoan và các tướng dẫn quân chuẩn bị tấn công, thái thượng hoàng Trần Thánh Tông đã tổ chức hội nghị Diên Hồng để hỏi ý các phụ lão về việc nên hoà hay nên đánh. Khác với hội nghị Bình Than diễn ra vào 2 năm trước đó - là nơi bàn bạc với quan lại và quý tộc, đối tượng trưng cầu ý kiến của hội nghị Diên Hồng là những đại biểu của nhân dân. Trong hội nghĩ Diên Hồng, mọi người đều đồng ý đánh chứ không hoà.

 

Trần Hưng Đạo viết "Hịch tướng sĩ" để cổ vũ lòng quân.

 

Đầu năm 1285, quân Nguyên chia làm 3 đạo tiếng vào Đại Việt. Triều đình nhà Trần cho quân chặn ở cửa khẩu phía Bắc nhưng thất bại. Quân Nguyên vượt qua ải Chi Lăng. Trần Hưng Đạo ra lệnh cho quân lui về Vạn Kiếp.

 

Tướng giặc là Ô Mã Nhi tấn công Vạn Kiếp. Trần Hưng Đạo muốn bảo toàn lực lượng, đồng thời kéo dài thời gian để nhử cho giặc mệt mỏi nên tiến hành rút khỏi Vạn Kiếp. Ô Mã Nhi đuổi theo. Trong trận thuỷ chiến này, vua Trần Nhân Tông đã mang quân đến hỗ trợ đội quân của Trần Hưng Đạo rút lui khỏi Vạn Kiếp. Quân Trần sau khi rút khỏi Vạn Kiếp thì dàn trận ở sông Hồng gần Thăng Long.

 

Quân Nguyên đi đường bộ, dựng trại bên sông Hồng. Vua Trần Nhân Tông chỉ huy việc nghênh chiến ở sông Hồng, nhằm mục đích đánh lạc hướng giặc để người trong cung và dân chúng sơ tán khỏi Thăng Long, thực hiện kế hoạch “vườn không nhà trống”. Để kéo dài thời gian và thu hút sự chú ý của giặc, Trần Nhân Tông cho người sang giả vờ đưa thư cầu hoà. Quân Nguyên không đồng ý. Sau khi nhận được tin việc sơ tán đã xong, thuỷ quân Trần theo sông Hồng rút khỏi Thăng Long, tiến về phủ Thiên Trường.

 

Đây là một cuộc chiến hết sức cam go. Trong suốt cuộc kháng chiến này, quân Trần từng thua nhiều trận, vua cũng suýt gặp nguy hiểm, nhưng nhờ kế hoạch tác chiến toàn cục được tiến hành tương đối tốt, các cánh quân phối hợp hiệu quả, thắng được những trận mang tính chiến lược nên cuối cùng quân ta giành thắng lợi. Các thủ thuật “vườn không nhà trống”, du kích, ly gián (gây chia rẽ người Hán và người Mông Cổ trong nội bộ quân Nguyên, dùng người Hán trong quân Trần tác động người Hán trong quân Nguyên), cũng được phát huy hiệu quả.

 

Cuối tháng 6 năm 1285, quân Nguyên bị quân ta đuổi giết, tháo chạy về nước.

 

Tháng giêng năm 1286, triều đình nhà Trần thả những tù binh bắt được cho về nước.

 

Hốt Tất Liệt muốn phục thù, chuẩn bị tấn công lần nữa. Nhân lúc quân Nguyên chưa thể xuất quân do người Hán đang nổi dậy trong nước, Đại Việt tăng cường luyện binh ứng chiến.

 

Tháng 12 năm 1287, quân Nguyên tấn công Đại Việt. Đây là cuộc chiến tranh chống Nguyên Mông lần thứ 3 của Đại Việt. Vua Trần Nhân Tông một lần nữa tiến hành đại xá, nhiều tù nhân được thả đã nhập ngũ để báo ơn. Thái thượng hoàng Thánh Tông giao cho Trần Nhân Tông quyền chỉ toàn cuộc. Trần Hưng Đạo chỉ huy quân ngũ. Cũng như lần trước, quân Nguyên thắng những trận đầu, về sau nhà Trần mới phản công. Cuộc chiến này diễn ra trong vòng 4 tháng gồm nhiều trận đánh, trong đó có trận thuỷ chiến dùng cọc nhọn ở Bạch Đằng.

 

Cuối tháng 3 năm 1288, quân Nguyên một lần nữa phải trốn chạy về nước, bị quân ta tập kích.

 

Tháng 4 năm 1288, nhà Trần trả tù binh về nước, trong đó có Ô Mã Nhi. Lúc đi thuyền về nước, Ô Mã Nhi bị đắm thuyền và chết. Triều đình nhà Nguyên cho rằng quân Trần cho người ám sát, nhưng không có chứng cứ.

 

Đại Việt tiến hành phục hồi các tổn thất sau kháng chiến.

 

Năm 1290, quân Ai Lao nhiều lần quấy phá biên giới phía tây. Binh lực Đại Việt lúc này đã chịu nhiều thiệt hại sau cuộc chiến với quân Nguyên, nhưng Trần Nhân Tông vẫn quyết định ngự giá thân chinh để thị uy. Theo lý giải của ông, nếu lúc này hoà hoãn, quân Ai Lao sẽ biết Đại Việt đang suy yếu mà tấn công dữ dội hơn.

 

Tháng 3 năm 1292, hoàng tử trưởng Trần Thuyên được lập làm thái tử, kết hôn với con gái của Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng (con trai Trần Hưng Đạo).

 

Tháng 3 năm 1293, vua Trần Nhân Tông nhường ngôi cho thái tử, lên làm thái thượng hoàng.

 

Tháng 9 năm 1293, thái thượng hoàng hậu Bảo Thánh qua đời.

 

Tháng 8 năm 1294, thái thượng hoàng Trần Nhân Tông thân chinh đánh Ai Lao lần thứ 2.

 

Sau khi thắng trận trở về, Trần Nhân Tông xuất gia ở Vũ Lâm (thuộc Ninh Bình) nhưng vẫn can thiệp việc nước, dẫn dắt vua con.

 

Tháng 8 năm 1299, Trần Nhân Tông núi Yên Tử tu khổ hạnh. Theo truyền thuyết, vua Trần Anh Tông sợ cha cực khổ nên cho nhiều cung nữ đến Yên Tử chăm sóc, nhưng Trần Nhân Tông từ chối, bảo các cung nữ trở về. Một số cung nữ đã trầm mình xuống suối tự vẫn. Trần Nhân Tông thương tiếc, làm lễ cầu siêu, đặt tên suối là suối Giải Oan.

 

Năm 1301, Trần Nhân Tông du ngoạn Chiêm Thành.

 

Tháng 3 năm 1308, Trần Nhân Tông qua đời ở am Ngọa Vân núi Yên Tử.

 

Tháng 9 năm 1309, linh cữu được đưa về chôn ở lăng Quy Đức, phủ Long Hưng, hợp táng cùng thái hậu Bảo Thánh. Một phần xá lỵ của ông được cất ở bảo tháp am Ngọa Vân.

 

Hoàng hậu Bảo Thánh

 

Bà tên huý là Trinh, tước hiệu Quyên Thanh công chúa, là con gái duy nhất của Trần Hưng Đạo và công chúa Thiên Thành.

 

Năm 1274, được lập làm hoàng thái tử phi.

 

Năm 1276, sinh trưởng hoàng tử Trần Thuyên, người sau này là vua Trần Anh Tông.

 

Năm 1279, được lập làm hoàng hậu.

 

Tháng 3 năm 1293, được tôn làm thái thượng hoàng hậu.

 

Tháng 9 năm 1293, bà qua đời ở Lỗ Giang, phủ Long Hưng.

 

Đại Việt sử ký toàn thư nhận định về bà:

 

"Thái hậu nhu mì đức tốt, thông minh sáng suốt, nhân hậu với kẻ dưới.

 

Thượng hoàng có lần làm chuồng hổ ở thềm Vọng Lâu, sai quân sĩ đánh nhau với hổ, thượng hoàng ngự trên lầu để xem, thái hậu và phi tần đều theo hầu. Lầu thấp, song chuồng hổ và thềm cũng thấp, hổ bỗng nhiên thoát khỏi chuồng trèo lên lầu. Người trên lầu đều tan chạy cả. Chỉ có Thượng hoàng và Thái hậu cùng 4, 5 thị nữ còn ở đó. Thái hậu nghĩ không khỏi bị hại, mới lấy chiếc chiếu che cho Thượng hoàng và tự che mình. Hổ lên lầu gầm rống rồi nhảy xuống không vồ hại ai cả.

 

Lại một lần Thượng hoàng ngự điện Thiên An xem đấu voi ở Long Trì. Con voi bỗng nhiên xổng thoát,xông tới, định lên điện, tả hữu đều sợ hãi tan chạy cả, chỉ có Thái hậu vẫn ở đó."

-----

Nguồn tư liệu: Wikipedia, Đại Việt sử ký toàn thư, "Trần Nhân Tông - Con người và tác phẩm"

__________

Internet

THIỀN TÔNG LÀ CỘI GỐC CỦA ĐẠO PHẬT

Chúng tôi là những người tu thiền ở Việt Nam, nhưng thời chúng tôi không được sự kế thừa của các vị Tổ trong Ngũ gia tông phái ở Trung Quốc. Song tôi quyết tâm tu thiền nên dồn hết sức mình vào việc nghiên cứu tu Thiền. Điều đáng tiếc là Thiền tông Việt Nam đã vắng bóng gần một thế kỷ, nên chúng tôi phải tự tra cứu, học hỏi trong kinh sách và lịch sử để tìm ra một lối tu.

 

 

Riêng tôi, trước hết tôi tu Lục diệu pháp môn, là phương pháp của Thiền sư Trí Khải ở Trung Hoa, lấy đó làm cương lĩnh ban đầu. Lục diệu pháp môn gồm có sáu pháp: Sổ tức, Tùy tức, Chỉ, Quán, Hoàn, Tịnh. Khi đi sâu vào tu hành, chúng tôi cũng có tiến bộ đôi chút. Dù vậy, tôi rất băn khoăn, muốn thấu hiểu được đường lối tu thiền của chư Tổ để ứng dụng tu, đồng thời kế thừa sự nghiệp của những bậc tôn túc thời trước.

 

Nhưng khi nghiên cứu thiền của chư Tổ chúng tôi thấy rất khó, đọc tác phẩm của các Ngài không hiểu gì cả. Như câu chuyện Tổ Bồ-đề-đạt-ma sang Trung Hoa, ngồi xoay mặt vào vách chín năm. Sau đó có một người tên Thần Quang đến xin tu tập và được Tổ nhận cho làm đệ tử đổi tên thành Huệ Khả, luôn theo hầu Tổ. Một hôm, Ngài Huệ Khả bạch với Tổ Đạt-ma: “Bạch Hòa thượng, tâm con không an, xin Hòa thượng dạy con pháp an tâm”. Tổ Đạt-ma bảo: “Đem tâm ra ta an cho”. Ngài Huệ Khả tìm lại tâm mình, tìm mãi không được, bèn thưa: “Bạch Hòa thượng, con tìm tâm không được”. Tổ bảo: “Ta đã an tâm cho ngươi rồi!”.

 

Câu chuyện đối đáp giữa hai thầy trò, chúng tôi mò mẫm mãi không ra. Tại sao Tổ bảo đem tâm ra ta an cho, rồi ngài Huệ Khả thưa tìm tâm không được, Tổ liền nói: “Ta đã an tâm cho người rồi !”. Lời nói đó bí ẩn ở chỗ nào mà tôi đọc mãi không lãnh hội được, còn ngài Huệ Khả nghe câu đó lại biết lối vào. Điều này ngày xưa chúng tôi rất đau đầu, nghĩ mãi không ra. Thời gian sau, đủ duyên nhập thất tu, tôi cũng đọc đi đọc lại câu chuyện đó, bỗng dưng thấy được lối vào của Tổ Huệ Khả.

 

Nghe câu chuyện trên chúng ta lấy làm lạ, tại sao các ngài không dạy một pháp an tâm mà lại bảo “đem tâm ra ta an cho”? Chúng ta lâu nay cứ nghĩ rằng tâm là cái suy nghĩ, phân biệt tốt xấu, phải quấy của mình. Vì vậy khi ngồi thiền, tâm đó chạy nghĩ tứ tung khiến cho ta bất an. Lúc Tổ Đạt-ma bảo “Đem tâm ra ta an cho”, đó là lời nói của một vị Tổ siêu thoát, phi thường nên Ngài Huệ Khả không dám xem thường. Ngài liền xoay tìm cái tâm lăng xăng của mình. Khi tìm Ngài không thấy hình bóng của nó nữa, tức nó đã lặng. Thế nên Tổ Đạt-ma bảo: “Ta đã an tâm cho ngươi rồi!”.

 

 

Tu Thiền theo Tổ Đạt-ma là cốt quay lại tìm xem cái tâm nghĩ suy lăng xăng đó ở đâu, thật hay giả. Phương pháp này danh từ chuyên môn gọi là “Phản quan tự kỷ”. Bởi vì chúng ta mê lầm tâm hư dối bóng dáng là tâm mình, nên lâu nay bị nó dẫn chạy ngược chạy xuôi. Giờ đây, nhìn kỹ lại nó tan biến. Đó là lối tu của Tổ Đạt-ma dạy, không có trong kinh điển. Vì vậy được gọi là “Giáo ngoại biệt truyền”, tức truyền ngoài giáo lý. Đây chính là chân tinh thần của Thiền tông.

 

Chúng tôi lãnh hội được yếu chỉ đó, nên ứng dụng tu và dạy Tăng Ni, Phật tử Việt Nam tu thiền như thế. Nghĩa là phải nhìn tường tận những tâm niệm vừa dấy khởi, liền biết nó là vọng tưởng hư dối, không theo thì nó tự lặng. Khi nào nó mạnh, làm ồn thì chúng ta phản quan lại, xem nó xuất phát từ đâu, khi đó nó mất tăm mất dạng. Ngài Huệ Khả nhận được yếu chỉ đó rồi, tu một thời gian và trình với Tổ Đạt-ma: “Hiện con đã dứt hết các duyên”. Tổ Đạt-ma bảo: “Coi chừng rơi vào không”. Ngài Huệ Khả thưa: “Rõ ràng thường biết, làm sao không được”. Tổ Đạt-ma liền ấn chứng cho ngài Huệ Khả.

 

Chúng ta thấy đường lối tu của Thiền tông là phải làm sao dứt bặt tâm duyên theo ngoại cảnh. Tâm đó lặng hết, thì cái rõ ràng thường biết hiện tiền, đó là gốc của tu thiền. Khi sáu căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý tiếp xúc với sáu trần bên ngoài là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp mà không dính không nhiễm, lúc đó chúng ta được an tâm.

 

Sau này, Lục tổ Huệ Năng nhân nghe Ngũ tổ dạy kinh Kim cang, đến câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, nghĩa là không có chỗ trụ mà sanh tâm kia, Ngài bừng sáng liền tỉnh ngộ, thốt lên rằng: “Đâu ngờ tâm mình xưa nay thanh tịnh. Đâu ngờ tâm mình xưa nay trùm khắp. Đâu ngờ tâm mình hay sanh muôn pháp”… Lục tổ biết rõ khi tâm không chạy theo, không dính mắc với sáu trần thì đó là tâm an nhiên, thanh tịnh, trong sáng, hằng hữu của chúng ta, nhưng lâu nay mình quên. Giờ đây, không dính với sáu trần nữa nên nó hiển lộ ra, chính là thể thanh tịnh sẵn có xưa nay của chúng ta.

 

Nghe thế Ngũ tổ biết ngài đã triệt ngộ liền truyền tâm ấn và trao y bát cho, rồi dạy ngài về phương Nam giáo hóa. Trên đường Tổ trở về phương Nam, có một đoàn người đuổi theo để giành lại y bát trong đó có Thượng tọa Minh đuổi theo kịp. Thấy vậy, Tổ Huệ Năng liền để y bát trên một tảng đá, rồi chui vào bụi cây trốn. Thượng tọa Minh tới thấy y bát mừng quá liền ôm lên, nhưng ôm không nổi, buộc lòng kêu lên: “Hành giả! Hành giả! Tôi đến đây vì pháp chứ không phải vì y bát”. Nghe vậy, Tổ từ trong bụi cây chui ra, bảo: “Nếu ông đến đây vì cầu pháp, thì hãy đứng yên lặng, ta sẽ nói cho”. Khi Thượng tọa Minh đứng yên lặng giây lâu, Tổ bảo: “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, cái gì là bản lai diện mục của Thượng tọa Minh?”. Ngay câu nói đó, Thượng tọa Minh liền lãnh hội được. Bởi vì tâm vừa nghĩ lành, vừa nghĩ dữ là đã loạn rồi, là tâm vọng tưởng. Một khi khởi nghĩ thì luôn luôn là đối đãi, mà đối đãi là sanh diệt. Không còn mắc kẹt trong đối đãi nữa thì khuôn mặt thật muôn đời sẵn có của mình hiện bày. Cho nên Thiền sư Vô Nghiệp, khi có người hỏi bất cứ câu gì, ngài chỉ trả lời: “Chớ vọng tưởng!”.

 

Tinh thần Thiền này truyền mãi đến Việt Nam vào thế kỷ thứ mười ba. Vua Trần Nhân Tông, khi đi tu Ngài lên núi Yên Tử, lập một hệ phái tên là Trúc Lâm Yên Tử. Ngài có làm bài phú “Cư trần lạc đạo”. Trong đó, câu chót thế này “Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền”. Nghĩa là đối với cảnh mà không có tâm dính mắc thì đừng hỏi thiền chi nữa, vì ngay đó là thiền rồi. Đối với cảnh mà tâm không dính mắc tức là chỗ kinh Kim cang bảo sáu căn đừng dính với sáu trần. Do không dính mắc với sáu trần nên tâm an định. Đó là Thiền. Như vậy, Thiền của Thiền tông là cốt không cho tâm dính mắc với sáu trần. Đó là gốc, là đường lối căn bản của nhà Thiền.

 

Trước khi xuất gia, vua Trần Nhân Tông đã được học với ngài Tuệ Trung thượng sĩ. Khi sắp trở về lên ngôi Thái tử, Ngài hỏi Tuệ Trung chủ đích của thiền là gì. Tuệ Trung đáp thế này: “Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc”, nghĩa là nhìn lại mình là phận sự chính, đừng chạy ra bên ngoài. Quay lại ngay nơi tâm mình đó là bổn phận chính của người tu thiền, không thể hướng bên ngoài mà được. Ngay câu đó, nhà vua lãnh hội được yếu chỉ thiền. Phương hướng tu hành của Thiền tông là phải biết xoay lại nơi mình để nhìn thẳng nội tâm, biết cái gì hư dối buông xả, cái gì chân thật nhận lại, chứ không có gì xa lạ hết.

 

Vườn tháp chùa Hoa Yên, Yên Tử - Ảnh: T.Uyên

 

Tại sao tôi nói Thiền là cội gốc của đạo Phật? Bởi vì trong kinh A-hàm, Đức Phật dạy người tu hiền phải quán Tứ niệm xứ. Quán Tứ niệm xứ là quán thân bất tịnh, quán thọ là khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã. Bốn pháp quán ấy đều xoay lại mình, để thấy cho tường tận cho đúng. Như vậy tu Thiền theo giáo lý Nguyên thủy cũng phải phản quan. 

 

Nếu tu Thiền theo kinh Kim cang thì không cho sáu căn dính mắc với sáu trần. Rõ ràng kinh Phật từ hệ Nguyên thủy cho đến hệ Bắc tông đều dạy phải xoay lại, tự quán chiếu chính mình và tự gìn giữ, đừng để tâm phóng theo sáu trần. Cho đến kinh Lăng nghiêm thuộc Bắc truyền, có một đoạn kể lại ngài A-nan bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, cái gì là cội gốc của sanh tử luân hồi? Cái gì là cội gốc của Bồ-đề Niết-bàn?” Đức Phật im lặng. Lúc đó mười phương chư Phật đồng thinh bảo rằng: “Cội gốc luân hồi sinh tử là sáu căn của ông. Cội gốc Bồ-đề Niết-bàn cũng là sáu căn của ông”.

 

Như vậy, từ kinh Phật cho đến đường lối Thiền tông của chư Tổ rất phù hợp, rất thích ứng nhau. Vì vậy chúng tôi mới quả quyết Thiền tông là cội gốc của đạo Phật. Ngày nay chúng tôi cũng căn cứ theo đó tu và hướng dẫn Phật tử hâm mộ tu Thiền cùng tu. Do tính khế hợp từ Đức Phật cho đến chư vị Tổ sư nên tôi nói “Thiền là cội gốc của đạo Phật”. Mong tất cả ghi nhận và hiểu đúng điều này. Được vậy, chúng ta sẽ vững niềm tin hơn trong pháp tu Thiền của mình.

_______________

HT.Thích Thanh Từ

Nguồn: giacngo.vn

ĐỆ NHỊ TỔ THIỀN PHÁI TRÚC LÂM-THIỀN SƯ PHÁP LOA MỘT HIỆN TƯỢNG TRONG PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Trong lịch sử hơn hai ngàn năm Phật giáo du nhập vào Việt Nam, đã để lại khá nhiều những câu chuyện, những hiện tượng độc đáo. Tương truyền từ thời Vua Hùng Vương thứ ba, đã có vị sư Đạo Quang dạy Chử Đồng Tử học Phật pháp và truyền cho bảo bối.

 

Tượng Nhị tổ Pháp Loa trong Thiền viện Trúc Lâm, Đà Lạt, Việt Nam


Hiện nay dấu tích của vùng đất có tòa lâu đài mà Chử Đồng Tử và vợ là công chúa Tiên Dung con gái của vua Hùng đã từng ở vẫn còn, theo truyền thuyết, khi gặp nguy biến nhờ phép thuật được sư Đạo Quang truyền dạy và nhờ bảo bối sư trao Chử Đồng Tử và vợ cùng lâu đài đã bay về trời để lại một vùng đất trũng gọi là đầm Dạ trạch ngày nay.

 

Hiện tượng độc đáo khác, đó là câu chuyện về Thiền sư Từ Đạo Hạnh (1072-1116), truyền thuyết lưu rằng, sau khi Từ Đạo Hạnh chết, ông cho thiền sư Minh Không biết mình sẽ đầu thai thành con của Sùng Hiền Hầu là em trai của vua Lý Nhân Tông (Vị vua này không có con nên đã nhường ngôi cho con của Sùng Hiền Hầu là Lý Dương Hoán, người con này chính là Từ Đạo Hạnh đầu thai, sau là vua Lý Thần Tông). Khi làm Vua, Lý Thần Tông mắc bệnh lạ, người Vua mọc lông và gầm như cọp, quần thần phải dùng cũi vàng nhốt Vua. người cứu chữa được là đại sư Nguyễn Minh Không (1076 – 1141,đời thứ 13, dòng Tỳ ni đa lưu chi).

 

Năm vua Lý Thần Tông 21 tuổi, bỗng nhiên mắc bệnh biến thành cọp, cuồng loạn đáng sợ. Triều đình phải làm cũi vàng nhốt Vua trong đó. Khi ấy có đứa bé ở Chân Định hát rằng:

 

Nước có Lý Thần Tông,

Triều đình muôn việc thông.

Muốn chữa bệnh thiên hạ,

Cầu được Nguyễn Minh Không.

 

Lời hát đồn đến triều đình, triều đình sai người đi mời Đại sư về triều chữa bệnh cho Vua. Người do triều đình phái tới mời Đại sư, mới tới nơi Sư đã nói: “có phải là việc cứu cọp đó ư ?” viên quan chỉ huy hỏi: “Sao Đại sư biết trước ?” Sư bảo: “Ta đã biết việc này trước ba mươi năm.” Đại sư đến triều vào trong điện ngồi, lên tiếng bảo: “ đem vạc dầu lại, trong đó để một trăm cây kim, và nấu dầu cho sôi, rồi đem cũi Vua lại gần đó.” Mọi việc Sư dặn đã chuẩn bị xong, Sư cho tay vào vạc dầu sôi, lấy ra một trăm cây kim, găm kim vào thân vua và nói: “Quí là trời.” Tự nhiên lông, móng, răng cọp đều rụng hết, Vua khỏi bệnh, thân trở lại như cũ.

 

Các hiện tượng trên đều là truyền thuyết, riêng Đệ nhị tổ Thiền phái Trúc Lâm, Thiền sư Pháp Loa là có thật trong lịch sử, không huyền thoại, không dã sử, đây là hiện tượng khá độc đáo trong lịch sử Phật giáo và lịch sử Việt Nam, đã gần bảy trăm năm trôi qua, đến nay bài học về chọn người, dùng người hiền tài trong thời Trần vẫn còn nguyên giá trị rất lớn cho hậu thế nhiều bài học:

 

Lựa chọn nhị tổ Thiền phái Trúc Lâm, Thiền sư Pháp Loa là sơ tổ Trúc Lâm Đại sĩ Trần Nhân Tông. Trần Nhân Tông người sáng lập Thiền Phái Trúc Lâm một dòng thiền riêng có ở Việt Nam còn tồn tại và phát triển tới ngày nay. Trần Nhân Tông (1258- 1308), năm 16 tuổi làm Thái tử, năm 20 tuổi lên ngôi Vua, trên ngai vàng Trần Nhân Tông đã lãnh đạo quân dân Đại Việt đánh tan hai cuộc xâm lược của quân Nguyên Mông, tạo nên hào khí Đông A nức tiếng trong lịch sử Việt Nam, năm 35 tuổi nhường ngôi cho con rồi làm Thái Thượng hoàng để giúp con vững vàng trên ngôi vua trị vì thiên hạ, năm 41 tuổi xuất gia tu hành ở núi Yên Tử và lập nên Thiền phái Trúc Lâm.

 

Nhị Tổ Thiền Phái Trúc Lâm Pháp Loa (1284- 1330), năm 20 tuổi mới xuất gia theo Trần Nhân Tông, năm 21 tuổi được thọ giới tỳ kheo, năm 24 tuổi được sơ Tổ Trần Nhân Tông trao truyền y, bát để nối tiếp nhị Tổ Thiền Phái Trúc Lâm. Việc chọn Pháp Loa làm nhị Tổ là một hiện tượng lạ của Phật giáo Việt Nam lúc bấy giờ bởi: Đệ tử theo sơ Tổ rất đông, người thân cận bên cạnh sơ Tổ có tới bảy tám người, đều là những người tu trước Pháp Loa khá lâu,có người lớn tuổi hơn và học hành nhiều hơn Pháp Loa. Sơ Tổ chọn Pháp Loa để trao truyền vị trí nhị Tổ nối dòng Trúc Lâm, bỏ qua truyền thừa theo truyền thống thế thứ đối với các vị tu trước, có vị là bậc thầy của Pháp Loa; bỏ chứng chỉ học thuật, trước tác bởi Pháp loa mới xuất gia được bốn năm, việc học, việc trước tác chắc hẳn còn xa nhiều vị.

 

Qua việc lựa chọn của sơ Tổ đối với Pháp loa, chứng tỏ sự tin tưởng và tầm nhìn xa rộng của sơ Tổ đối với Phật giáo và đối với cá nhân Pháp Loa, đồng thời khẳng định tính linh hoạt theo tinh thần của Phật giáo ( khế lý, khế cơ, khế thời , khế xứ) trong sử dụng người hiền tài đáp ứng cho yêu cầu trước mắt và lâu dài của Phật giáo Việt Nam. Việc sơ Tổ chọn Pháp Loa một người tuổi đời rất trẻ, tuổi đạo rất ít trong một giáo đoàn Phật giáo bây giờ rất đông các bậc trưởng thượng, thể hiện quan điểm dùng người phải chọn người hiền tài, không câu nệ ở thế thứ, tuổi tác. Đây cũng là một trong những hiện tượng tiêu biểu của Phật giáo Việt Nam thời Trần. Điều chọn của sơ Tổ cho thấy Pháp Loa phải là bậc xuất chúng trong tu Phật ở nhiều mặt: Xuất sắc trong học thuật (dù mới học), trang nghiêm giới đức (dù còn trẻ) và khả năng tổ chức phát triển giáo hội Trúc Lâm lúc bấy giờ (dù chưa thể hiện), nhưng sơ Tổ đã nhìn thấy khả năng, tố chất tiềm ẩn trong con người Pháp Loa, để khi chính ngôi trong cương vị nhị Tổ, tố chất và tiềm năng ấy đã được tỏa sáng.

 

Và sơ Tổ chọn Pháp Loa quả thực không sai, 27 năm trong cương vị nhị Tổ Thiền phái Trúc lâm, Thiền sư Pháp Loa đã cống hiến cho Giáo hội Trúc Lâm và dân tộc trí tuệ, tâm đức của Ngài với kết quả đáng khâm phục: Xây dựng, củng cố tổ chức Giáo hội quy củ, thông qua quản lý chặt chẽ người tu hành, lập sổ bộ tăng tịch để quản lý tăng sĩ xuất gia; mở trường bồi dưỡng đào tạo tăng tài nhằm nâng cao năng lực tu tập và hoằng dương Phật pháp cho sư, biên soạn kinh sách để hệ thống hóa kinh điển, giáo lý của Đức Phật; đưa Phật giáo đi sâu vào đời sống nhân gian để cố kết nhân tâm vun bồi trí đức cho nhân dân,... Trong cương vị nhị Tổ 27 năm, Thiền sư Pháp Loa đã tôn tạo trên 1.300 pho tượng Phật, mở thêm 2 Đại già lam ( Côn Sơn và Thanh Mai), lập nhiều tháp, mở nhiều tăng đường, cho khắc in bộ Đại tạng kinh, độ cho gần 15.000 vị sư, đệ tử đắc Pháp hơn 3.000 vị, đại pháp sư có 6 vị,…[Thiền sư Pháp Loa- nhị Tổ Thiền Phái Trúc Lâm, Côn sơn Kiếp Bạc, 2015].

 

Nhị Tổ Thiền phái Trúc Lâm Pháp Loa là tấm gương tiêu biểu trong Phật giáo Việt Nam về quan điểm dùng người hiền, tài, là bài học giá trị về tính tùy duyên để đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển Phật giáo vững mạnh, là thể hiện sự cống hiến hết mình vì lợi ích chung của đạo pháp và dân tộc. Sự tiêu biểu ấy còn nguyên giá trị tới ngày nay để hậu thế nghiên cứu học tập./.

________________

TS. Bùi Hữu Dược

Nguồn: btgcp.gov.vn

TINH THẦN NHẬP THẾ CỦA PHẬT GIÁO ĐỜI TRẦN



Trải qua các triều đạiđạo Phật đều thể hiện nét riêng biệt đặc thù của Phật giáo Việt Nam. Từ đó cũng có thể cho rằng con người và hoàn cảnh xã hội mỗi thời kỳ cũng có thể cho rằng con người và hoàn cảnh xã hội mỗi thời kỳ cũng là một trong những nhân tố quan trọng góp phần quy định bản chất của Phật giáo Việt Nam.

DẪN NHẬP

Nhìn lại dòng lịch sử Phật giáo Việt NamĐạo Phật đã du nhập vào Việt Nam rất sớm. Ngay từ thế kỷ thứ II, III trước công nguyên, đã có các sư Ấn – Hoa theo các thương gia du nhập vào và đã hình thành trung tâm truyền giáo tại Luy Lâu, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh ngày nay. Từ đó Đạo Phật đi vào lòng dân tộc theo bao thăng trầm của lịch sử. Nhiều vị vua khi chiến tranh đã đóng góp công sức của mình vào việc giữ nước, khi hòa bình lại trở về với đời sống tu hành đạm bạc nhưng khi đất nước cần vẫn không bỏ mặt. Trong những vị vua ấy phải kể đến chính là các vị vua nhà Trần, đã ba lần chiến thắng quân Nguyên Mông, tạo nên hòa khí Đông A, mà tiêu biểu là vua Trần Nhân Tông, và cũng là một vị đã khai sáng nên nên dòng thiền Trúc Lâm khi trở thànhmột người xuất gia.

Dưới thời nhà Trần đặc biệt là triều đại của vua Trần Nhân Tông dân chúng được an cư lạc nghiệpđâu đâucũng nghe tiếng chuông chùa vang vọng và Phật giáo đã gắn liền với dân tộc qua nhiều thăng trầmthịnh suyvinh nhục. Vì thế mà đạo phật lúc bấy giờ được xem như là quốc giáo. “Tinh thần nhập thế của Đạo Phật của Phật giáo đời Trần” đã cho thấy đạo Phật không phải là đạo yếm thế, mà muốn tìm con đường giác ngộ không thể từ bỏ thế gian này mà giác ngộ được. Với tinh thần Bồ tát đạo thì người con Phật càng phải dấn thân vào cuộc sống, đồng sự với chúng sanh, vui với niềm vui của đất nước, đau với nỗi đau của dân tộc, nhưng khi thanh bình thì vẫn trở về với cuộc sống tu hành thoát tục. Chính vì vậy mà người viết đã chọn đề tài này. Nguyễn Tài Thư trong Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam cũng đã khẳng định: “Nếu như nhập thế là một khuynh hướng tư tưởng của một học thuyết, một tôn giáo chủ trương tham gia các hoạt động chính trị và giải quyết các vấn đề chính trị xã hội thì Phật giáo không phải là một Tôn giáo nhập thế - trái lại nó là tôn giáo xuất thế hay còn gọi là yếm thế.”

Về phương pháp nghiên cứu người viết dùng phương pháp phân tích nhũng sự kiện hay thông tin có sẵn mà phân tích chúng để có được một sự đánh giá tài liệu một cách có phê phán. Bên cạnh đó có sử dụng một số phương pháp khác dựa trên mục tiêu nghiên cứu hay hoàn cảnh nghiên cứu để làm sáng tỏ đề tài mong rằng sẽ đóng góp một phần nào làm rõ đề tài vì trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc Việt Nam thì Phật giáo và dân tộc luôn luôn song hành. Đó cũng là một nét văn hóa rất riêng của Việt Nam và cũng là nét riêng của Phật giáo từ khi Đức Thích Ca khai sáng cho đến các vị đệ tử truyền thừa trải qua bao nhiêu thời gian bao nhiêu không gian vẫn không làm rơi một giọt máu nào mà ngược lại còn làm rạng danh cho dân tộc ấy.

NỘI DUNG

1. BỐI CẢNH LỊCH SỬ

1.1. TÌNH HÌNH NƯỚC ĐẠI VIỆT TRƯỚC TRIỀU ĐẠI NHÀ TRẦN

Năm 938, Ngô Quyền người Đường Lâm đã chiến thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng đến năm 939, ông bắt đầu xưng vương, hiệu là Tiền Ngô Vương, đóng đô ở Loa Thành, lập Dương thị làm hoàng hậu, đặt trăm quan, chế định triều nghi phẩm phục. Vua mưu tài đánh giỏi, làm nên công tái tạo, đứng đầu các vua. Năm 944 Ngô Quyền mất, ở ngôi 6 năm, thọ 47 tuổi. Năm 945, Khi Ngô Quyền mất, Dương Tam Kha anh (có sách chép là em) của Dương hoàng hậu cướp ngôi xưng là Bình Vương. Con trưởng của Ngô Vương là Xương Ngập sợ, chạy về Nam Sách Giang lánh nạn. Tam Kha lấy con thứ hai của Ngô Vương là Xương Văn làm con mình. Năm 950 Xương Văn con thứ của Ngô Quyền bèn quay về đánh úp Tam Kha khôi phục lại cơ nhiệp của Tiền Ngô Vương. Mọi người muốn giết đi Bình Vương nhưng Xương Văn nói: "Bình Vương đối với ta có ơn, sao nỡ giết", bèn giáng làm Chương Dương Công, nhân đó ban cho thực ấp (nay là Chương Dương độ). Năm 951, Xương Văn lên ngôi xưng là Nam Tấn Vương (Hậu Ngô Vương) sai sứ đón anh là Xương Ngập về kinh, cùng trông coi việc nước. Xương Ngập xưng là Thiên Sách Vương. Vua nối được kỷ cương hoàng gia, khôi phục cơ nghiệp cũ. Năm 965, vua đem quân đi đánh hai thôn Đường và Nguyễn ở Thái Bình, mới vào đến cõi, đỗ thuyền lên bộ đánh, bị phục binh tay nỏ bắn trúng chết. Năm 966, Nam Tấn Vương mất.

Năm 967, bấy giờ trong nước không có chủ, 12 sứ quân tranh nhau làm trưởng, không ai chịu thống thuộc vào ai. Đinh Bộ Lĩnh người động Hoa Lư, châu Đại Hoàng con của Thứ sử châu Hoan Đinh Công Trứ đã dẹp loạn thống nhất thiên hạ. Sau khi dẹp loạn 12 sứ quân năm 968 Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi xưng là Đinh Tiên Hoàng, vua tài năng sáng suốt hơn người, dũng cảm mưu lược nhất đời, song không biết dự phòng, không giữ được trọn đời, tiếc thay! Vua bị Chi hậu nội nhân Đỗ Thích giết vua ở sân cung. Đinh quốc công Nguyễn Bặc sai người bắt đem chém Đỗ Thích, đập nát xương, băm thịt ra từng mảnh, chia cho người trong nước ăn, chẳng ai không tranh lấy mà nhai nuốt. Đinh Tiên Hoàng ở ngôi 12 năm (968-979), thọ 56 tuổi (924-979). Khi ấy Đinh quốc công Nguyễn Bặc, Ngoại giáp Đinh Điền, cùng thập đạo tướng quân Lê Hoàn rước Vệ Vương Toàn lên ngôi Hoàng đế, tôn gọi vua là Tiên Hoàng Đế, tôn Dương Thị làm Hoàng thái hậu. Đinh Toàn còn thơ ấu phải nối nghiệp lớn gian nan, cường thần nhiếp chính, người trong nước lìa lòng, nhà Đinh bèn mất, vua thọ 18 tuổi. Khi vua Tiên Hoàng Đế nối ngôi khi mới 6 tuổi. Lê Hoàn nhiếp chính, làm công việc như Chu Công, tự xưng là Phó Vương.

Bấy giờ quân Tống kéo sang, vì vua còn nhỏ không thể đảm đương việc nước, Thái hậu và triều thần đã mời Lê Hoàn lên ngôi hoàng đế, đổi niên hiệu là Thiên Phúc năm đầu (980), giáng phong vua làm Vệ Vương. Lập Nam Phong Vương Long Việt làm hoàng thái tửgia phong Long Đĩnh làm Khai Minh Đại Vương. Trước đó Long Đĩnh xin làm thái tử, vua có ý muốn cho. Đình thần nghị bàn cho rằng không lập con trưởng mà lập con thứ là không phải lễ. Vua bèn thôi. Tháng 3 năm 1005, vua băng ở điện Trường Xuân, gọi là Đại Hành Hoàng Đế, sau nhân đó dùng làm miếu hiệu mà không đổi. Sau khi vua Lê Đại Hành băng hà, Lê Long Việt lên ngôiđược 3 ngày thì bị em cùng mẹ là Long Đĩnh giết, thọ 23 tuổi (983-1005). Bầy tôi điều chạy trốn, duy có Điện tiền quân là Lý Công Uẩn ôm xác mà khóc. Long Đĩnh lên ngôi, truy đặt thụy cho vua là Trung Tông Hoàng Đế, cho Công Uẩn làm Tứ sương quân phó chỉ huy sứ.

Lê Long Đĩnh làm vua bạo ngược với dân chúng để thỏa lòng hung ác, vì vua mắc bệnh trĩ phải nằm mà coi chầu nên gọi là Ngọa Triều (Dã sử chép: vua say đắm tửu sắc phát ra bệnh trĩ). Khi vua Ngọa Triều băng hà, cả triều thần tôn xưng Lý Công Uẩn lên làm vua trong đó có sự hổ trợ của Thiền sư Vạn Hạnh, một vị cao tăng lúc bấy giờ đã khởi sác cho một triều đại mới và cho cả Phật giáo. Năm 1028 Lý Thái Tổ băng, thọ 55 tuổi, con trưởng là Lý Đức Chính nhờ có Phụng Hiểu trung dũng, đồng lòng cứu nạnlên ngôi hoàng đế, xưng là Thái Tông. Vua là người trầm mặc, cơ trí, biết trước mọi việc, giống như Hán Quang Vũ đánh đâu được đấy, công tích sánh với Đường Thái Tông. Năm 1054 băng ở điện Trường Xuân, thọ 55 tuổi. Khi Lý Thái Tông băng, con trưởng là Nhật Tôn bèn lên ngôi báu, xưng là Thánh Tôn hoàng đế. Vua khéo kế thừa, thực lòng thương dân, trọng việc làm ruộng, thương kẻ bị hình, vỗ về thu phục người xa, đặt khoa bác sĩ, hậu lễ dưỡng liêm, sửa sang việc văn, phòng bị việc võ, trong nước yên tĩnh, đáng gọi là bậc vua tốt. Năm 1072, vua băng hà, con trưởng của Thánh Tông, là Càn Đức lên ngôi hoàng đế, xưng là Nhân Tông,. Vua trán dô mặt rồng, tay dài quá gối, sáng suốt thần võ, trí tuệ hiếu nhân, nước lớn sợ, nước nhỏ mến, thần giúp người theo, thông âm luật, chế ca nhạc, dân được giàu đông, mình được thái bìnhmộ đạo Phật, thích điềm lành, là vua giỏi của triều Lý, ở ngôi 56 năm, thọ 63 tuổi (1066 – 1127), băng ở điện Vĩnh Quang. Năm 1128 Dương Hoán, cháu gọi Thánh Tông bằng ông, cháu gọi Nhân Tông bằng bác, con của Sùng Hiền hầu, lên ngôi lúc 12 tuổi, xưng là Thần Tông hoàng đế. Vua khi mới lên ngôi hãy còn trẻ dại, đến khi lớn lên, tư chất thông minhđộ lượng nên việc sửa sang chính sự, dùng người hiền tài, thủy chung đều chính, không gì sai lệch. Tuy thân mang ác tật nhưng rồi chữa lành, cũng là nhờ có ý trời cả, tôn sùng đạo Phật. ở ngôi 11 năm, thọ 23 tuổi. Năm 1138 vua băng hà ở điện Vĩnh Quang, Thiên Tộ là con đích trưởng của Thần Tông, mẹ là Hoàng hậu họ Lê, lên ngôi khi mới 3 tuổi, xưng là Anh Tông. Trong việc phế lập, vua không mê hoặc lời nói của đàn bà, ký thác được người phụ chính hiền tài, có thể gọi là không thẹn với việc gánh vách. Song không phân biệt được kẻ gian tà, hình phạt không sáng suốt, cho nên trời xuống tai biến để răn, giặc cướp nổi lên, giềng mối rối loạn, không thể nói xiết. Ở ngôi 37 năm (1138-1175), thọ 40 tuổi (1136-1175), băng ở điện Thụy Quang. Thái tử Long Trát con thứ sáu của Anh Tông lên ngôi trước linh cữu, bấy giờ mới lên 3 tuổi, xưng là Cao Tông, tôn mẹ là Đỗ thị làm Chiêu Thiên Chí lý hoàng thái hậu. Tô Hiến Thành làm thái uý. Vua chơi bời vô độ, chính sự hình pháp không rõ ràng, giặc cướp nổi như ong, đói kém liền năm, cơ nghiệp nhà Lý từ đấy suy. ở ngôi 35 năm (1176- 1210), băng ở cung Thánh Ngọ. Hoàng thái tử Sảm lên ngôi ở trước linh cữu bấy giờ mới 16 tuổi, xưng là Huệ Tông, tôn mẹ là Đàm thị là Hoàng thái hậu, cùng nghe chính sự. Vua gặp buổi loạn lạc, giặc cướp tứ tung, mình bị bệnh nặng, không biết sớm cầu con nối, truyền ngôi cho Chiêu Hoàng,. Lý Chiêu Hoàng lên ngôi được hai năm truyền ngôi cho chồng là Trần Cảnh. Họ Lý bèn mất, lịch sử lại sang trang, từ đầu bắt đầu thời đại của nhà Trần. [1]

1.2. TRIỀU ĐẠI NHÀ TRẦN

Năm 1226, Trần Cảnh lên ngôi xưng là Thái Tông Hoàng Đế, sách phong Chiêu Hoàng làm hoàng hậu, đổi gọi là Chiêu Thánh. Phong Trần Thủ Độ làm Thái sư thống quốc hành quân vụ chinh thảo sư. Phế thượng hoàng Huệ Tông nhà Lý ra ở chùa Chân Giáo, gọi là Huệ Quang đại sư. Lúc nhà Lý suy yếu nhiều người nỗi loạn, Trần Thái Tông sai Trần Thủ Độ đem quân đi đánh Nguyễn Nộn, Đoàn Thượng và các Man ở vùng núi Tản Viên. Mùa thu, tháng 8, ngày mồng 10, Trần Thủ Độ bức tử Lý Huệ Tông ở chùa Chân Giáo sợ dân chúng nhớ thương vua cũ mà nỗi loạn hồng đoạt lại vương triều nên “nhổ cỏ phải nhổ tận gốc”. Giáng hoàng hậu của Huệ Tông là Thiên Cực công chúa phong làm Linh Từ quốc mẫu, gả cho Trần Thủ Độ. Thủ Độ đưa các cung nhân và con gái họ hàng nhà Lý Huệ Tông gả cho các tù trưởng người Man. Vua Trần Thái Tông khoan nhân đại độ, có lượng đế vương, cho nên có thể sáng nghiệp truyền dòng, lập kỷ dựng cương, chế độ nhà Trần thực to lớn vậy. Song quy hoạch việc nước đều do Trần Thủ Độ làm và chốn buồng the cũng có nhiều rối rem. Lấy vợ của anh mình là Trần Liễu phong làm Thuận Thiện hoàng hậu, sau lại đem công chúa Chiêu Thánh gả cho Lê Phụ Trần làm Ngự sử đại phu. Ngày 24, tháng 2 năm 1258, vua nhường ngôi cho Hoàng thái tử Hoảng, lui ở Bắc Cung. Thái tử lên ngôi Hoàng đế, đổi niên hiệu là Thiệu Long năm thứ 1, đại xá thiên hạ. Vua xưng là Nhân Hoàng, tôn thượng hoàng là Hiển Nghiêu Thánh Thọ Thái Thượng Hoàng Đế. Vua trung hiếu nhân thứ, tôn hiền trọng đạo, cha khai sáng trước, con kế thừa sau, cơ nghiệp nhà Trần được bền vững.[2]

2. HÀO KHÍ ĐÔNG A

2.1. HÀO KHÍ ĐÔNG A QUA TINH THẦN CỦA CÁC VUA NHÀ TRẦN

Nhà Trần thừa kế truyền thống bảo vệ và xây dựng đất nước Đại Việt trên cơ sở ý thức tự lập , tự cường dân tộc. Ba lần giặc Nguyên - Mông sang xâm lược nước ta là ba lần chúng đều đại bại. Dưới thời Trần, đất nước hoà bình, thịnh trịnhân dân sống ấm no. Hào khí Đông A là hào khí đời Trần, do chữ Trần gồm bộ A và chữ Đông hợp thành .Tuy nhiên, nói tới hào khí Đông A không chỉ nói riêng hào khí đời Trần mà còn chỉ hào khí của cả giai đoạn lịch sử từ thế kỷ X dến thế kỷ XV. Biểu hiện của hào khí Đông A là tinh thần tự lập, tự cường, lòng yêu nước, khát vọng lập công giúp nước; ý chí quyết chiến, quyết thắng mọi kẻ thù. Bấy giờ quân Nguyên – Mông đã chiếm lấy Trung Hoa, luôn cả các nước Đông Âu và Liên Xô. Chúng cũng muốn chiếm nước ta nên nhiều lần đã cho người sang xâm lấn. Tháng 12, ngày 12, năm 1257, tướng Nguyên Ngột Lương Hợp Đải xâm phạm Bình Lệ Nguyên. Vua Trần Thái Tông đích thân thân hành đốc chiến, xông pha tên đạn. Quan quân hơi núng, vua ngoảnh trông tả hữu, chỉ có Lê Phụ Trần một mình một ngựa, ra vào trận giặc, sắc mặt bình thản như không. Như vậy mới thấy được tấm lòng của vua thương nước thương dân, không màn đến của mình, đã ngự giá than chinh bất chấp mọi hiểm nguy.

Vua Trần Nhân Tông được truyền ngôi năm 1278 – 1279, nối nghiệp vua cha Trần Thánh Tôn. Mặc dù nhiều lần từ chối ngôi vua muốn nhường ngôi lại cho em là Đức Việp để làm tròn sự nghiệp xuất thế, song hoàng triều không đồng ý. Bắt buộc vua Trần Nhân Tông lên ngôi chấp chính từ năm 1279 – 1294. Trong 14 năm lên ngôigặp đất nước bị ngoại xâm do giặc Nguyên – Mông Cổ từ phương Bắc tràn xuống xâm lấn Đại Việt. Trước tình thế khó khăn, Vua Trần Nhân tông không còn cách nào lựa chọn khác là triệu tập quần thần và thứ dân văn võnhất tề đứng lên chống ngoại xâm bảo vệ đất nước, nền độc lập dân tộc. Với tinh thần cương quyết dũng cảmvì dân vì nước vì độc lập tự do, toàn dân hưởng ứng đứng lên đoàn kết một lòng, lại thêm có nhiều tướng lãnh oai hùng hào kiệt như : Trần Hưng Đạo, Trần Bình Trọng, Trần Nhật Duật, Trần Quốc Toản v.v... là những tướng lãnh ưu tú tài ba chiến thắng giặc Nguyên Mông Cổ làm Hốt Tất Liệt hồn vía bay theo mây gió, mộng đô hộ Đại Việt bị tan vỡ thảm hại.

2.2. HÀO KHÍ ĐÔNG A QUA THƠ CỦA CÁC TƯỚNG SĨ.

Năm 1282 quân Nguyên đòi mượn đường đánh Chiêm Thành, nhưng thực ra định xâm lược nước ta. Trước tình hình ấy, vua Trần mở hội nghị Bình Than bàn kết hoạch đánh giặc. Sau đó, Phạm Ngũ Lão và một số vị tướng được cử lên biên ải phía Bắc để trấn giữ đất nước. Hoàn cảnh lịch sử chắc chắn đã ảnh hưởng nhiều dến hào khí trong bài thơ. Hào khí dân tộc thể hiện qua tư thế, hành động của người trai Đại Việt thể hiện khát vọng lập công giúp nước, tinh thần trách nhiệm đối với dân tộc:

“Hoành sóc giang sơn cáp kỷ thu,
Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu.
Nam nhi vị liễu công danh trái.
Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu.”

(Múa giáo non sông trải mấy thu
Ba quân hùng khí ắt sao Ngưu
Công danh nam tử còn vương nợ
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu)

Cuối năm 1284, quân Nguyên – Mông do Thoát Hoan cầm đầu ồ ạt tấn công nước ta lần thứ II. Trước sức mạnh của quân giặc, Thái thượng hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông phải rời kinh đô đi lánh nạn. Nhưng chỉ mấy tháng sau, vào tháng 5-1285 (tháng 4 năm Ất Dậu ), quân ta đã phản công bất ngờ, chiến thắng lớn ở trận Hàm Tử, tháng 7 – 1285 (tháng 6 năm Ất Dậu), ta lại thắng lớn ở Chương Dương. Kẻ thù thất bại hoàn toàn. Sau chiến thắng, Trần Quang Khải là người hộ giá hai vua Trần trở về kinh đô. Trong không khí ngày khải hoàn, Trần Quang Khải đã cảm hứng làm bài thơ này để tái hiện lại khí thế chiến thắng của dân tộc, bày tỏ niềm tự hào của tác giả:

“ Đoạt sóc Chương Dương độ.
Cầm Hồ Hàm Tử quan.
Thái bình nghi nỗ lực
Vạn cổ thử giang san.”

(Chương Dương cướp giáo giặc
Hàm Tử bắt quân thù
Thái Bình nên gắng sức
Non nước ấy ngàn thu)

Khi đất nước lâm nguy các vua cùng các quan văn vỏ cho đến người dân đều một lòng cứu nước cho thấy Phật giáo từ khi du nhập đến dời Lý – Trần, từ xưa đạo phật và dân tộc luôn cùng song hành.

3. PHẬT GIÁO ĐỜI TRẦN VỚI CHỦ TRƯƠNG NHẬP THẾ TRONG SỰ NGHIỆP GIỮ NƯỚC VÀ DỰNG NƯỚC

3.1. KHÁI NIỆM NHẬP THẾ

Khái niệm nhập thế được thể nhập vào đời sống tâm thức người Việt Nam ngay từ khi đạo phật du nhập vào. Chính Mâu Tử đã đưa ra tinh thần nhập thế với khái niệm nhập thế như sau: “Ở trong nhà thì hiếu thảo với mẹ cha, ra ngoài thì cứu nhân giúp nước, khi ngồi một mình thì tự hoàn chỉnh bản than”, do đó khái niệm nhập thếkhông chỉ dành riêng cho Nho giáo như một vài ý kiến của trường phái Nho gia đã nói. Thật ra khái niệm nhập thế đã được đức Phật đã nói từ lâu: “Này các tỳ kheo vì hạnh phúcan lạc cho quần sinhvì lợi ích cho chư thiên và loài người, hãy đi mỗi người một ngã, đừng đi hai người trên một đường, vì lòng thương tưởng cho đời hãy đem chánh pháp đến gieo rắc khắp nơi”[3]. Trong các thiền đường Việt Nam khái niệm nhập thế được hiểu: “Phù xuất gia giả, phát túc siêu phương, tâm hình dị tục, thiệu long thánh chủng, chấn nhiếp ma quân, thượng báo tứ ân, bạc tế tam hữu”[4]. (Phàm là người xuất gia, bước đi một bước vượt đến chân trời cao rộng, hình tướng và tâm hồn khác với người thế tục, làm cho dòng thánh hưng long, nhiếp khục ma quân, để trên báo đềnbốn ơn nặng, dưới cứu khổ cho ba đường). Đó chính là tinh thần nhập thế của Phật giáo.

3.2. TINH THẦN NHẬP THẾ CỦA PHẬT GIÁO THỜI TRẦN

"Tinh thần Nhập thế của Ph