Close

Trần Nhân Tông Library

Nghiên cứu thực tế

ƯNG VÔ SỞ TRỤ NHI SANH KỲ TÂM

Một lần nọ, tôi hỏi một vị Sư “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” có phải là câu hay nhất trong kinh Kim Cang không thì Sư nhẹ nhàng bảo không, trong kinh Kim Cang câu nào cũng hay cả! Quả thật dần dần tôi cũng thấy ra kinh Kim Cang chỗ nào cũng hay cả, mà hình như ngày càng hay hơn, nhất là khi… áp dụng vào đời sống hằng ngày, đúng như Edward Conze nói. Cách viết, cách trình bày từng chữ từng câu trong kinh Kim Cang chặt chẽ, thuyết phục và nói chung là… hấp dẫn! Tôi bị cuốn hút vào Kim Cang cũng như trước kia với Tâm Kinh. Tâm Kinh- dạy cho Xá Lợi Phất, một đại đệ tử thông tuệ, trí thức nhất của Phật- hình như là để trả lời rốt ráo cho câu hỏi Tại sao, mang tính lý thuyết; còn Kim Cang thì nói cho Tu Bồ Đề, vị đại đệ tử giải không đệ nhất, vô tranh, ưa tĩnh mịch, vốn xưa là người dễ nổi nóng, dễ giận hờn… là để trả lời cho câu hỏi Cách nào?, nhằm hướng dẫn thực hành. Dĩ nhiên những bài giảng này dành cho các đại đệ tử, hoặc các vị tu sĩ, không phải dành cho ta nên ta có lớ ngớ, bỡ ngỡ , chưng hửng cũng là chuyện bình thường thôi! Có điều, lớ ngớ, bỡ ngỡ, chưng hửng lại có cái hay của nó. Nó giúp ta tự thâm nhập, tự phát hiện, tham gia trong quá trình nghiền ngẫm, thử nghiệm, khi thấy tin được thì đem áp dụng vào đời sống hằng ngày để giải quyết những vướng mắc, phiền não chẳng cũng khóai ru? Chẳng hạn câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” mà ai cũng biết, ai cũng đọc như thần chú để an ủi cõi lòng mỗi khi phiền muộn , cũng là câu mà Lục tổ Huệ Năng hơn ngàn năm trước, chỉ nghe lóm mà đại ngộ cũng đáng cho ta nghiền ngẫm miệt mài lắm chứ! Đừng trụ vào đâu cả để mà sanh cái tâm thì sẽ…sướng, sẽ vui, sẽ hạnh phúc, sẽ thoát mọi “khổ đau ách nạn”. Thật ư?

Đừng trụ vào đâu cả? Đừng trụ vào đâu cả… ư? Ờ, mà có lý! Khi xem hai đội banh xa lạ đụng độ nhau, tôi súyt xoa thưởng thức những đường banh hay đẹp, nhưng khi một trong hai đội là… đội của tôi- tôi là “fan” của họ- thì ôi thôi tôi lo lắng, khổ sở, bực dọc đủ thứ với từng đường banh, từng cầu thủ, trọng tài. Tôi… nguyền rủa, la hét, xỉ vả, rồi mừng rỡ khi đội mình thắng hay ngậm ngùi cay đắng khi đội mình thua! Ăn mất ngon, ngủ mất yên vì cái đội banh… quái quỷ mà tôi thương mến!

Hai thiền sinh gặp một cô gái ở khúc sông sâu đang lúng túng không dám lội qua. Một vị tình nguyện cõng cô qua. Trên đường về chùa, vị kia bỗng hỏi:- Làm sao mà một ông sư lại dám cõng trên lưng một cô gái đẹp như vậy chớ? – Ơ hay, tôi đã “buông” cô ta xuống lâu rồi, còn anh sao vẫn cứ “cõng” cô ta đến bây giờ vậy!

Có nhiều cách cõng. Cõng cô gái là một cách, cõng cái ý tưởng về cõng cô gái là một cách khác. Cô gái thì đã đặt xuống rồi nhưng cái ý tưởng kia thì vẫn còn quấn quít mãi không thôi, có lẽ còn đi vào cả giấc mơ! Người kia thấy cô gái là cô gái, cần giúp thì giúp. Người nọ, thấy cô gái là cô gái…đẹp, băn khoăn tự hỏi có nên giúp hay không, giúp có phạm quy không, thậm chí còn bần thần “trăm năm biết có duyên gì hay không” nữa không chừng! Người cõng càng lâu thì càng mệt, càng sớm còng lưng! Nhưng đâu có dễ mà bỏ xuống chứ! Nghi Lâm tiểu sư muội cõng Lệnh Hồ huynh đệ bị thương ( truyện Kim Dung) có một phen mà tâm thần bấn lọan dài dài! Cho nên, Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm thật không dễ!

Phật dạy muốn không trụ vào đâu cả (vô sở trụ) thì phải ly tướng, rời bỏ các hình thức, hiện tượng bày vẻ bên ngòai, vượt qua hiện tựơng để thấy được cái thực chất bên trong. Ly được tất cả các tuớng đã xứng danh là Phật; thấy đựơc các tuớng chẳng phải tướng là đã thấy Như lai! Nhưng làm sao mà ly đây? Thế nên có người lên núi, làm một cái cốc… trong hang động để xa lánh sự đời! Nhưng vẫn chưa ổn chút nào vì cái tâm vẫn cứ còn quậy phá. Rõ ràng ở đây không phải vấn đề trốn chạy, vì chạy đi đâu cho thóat cái tâm chính mình, một khi tâm vẫn chưa an? Khi tâm đã an rồi thì đâu chẳng là… cốc, đâu chẳng là hang động? Cho nên có thể nói chuyển từ “ly tướng” bên ngoài đến… “ly tướng” bên trong là cả một sự chuyển hóa từ lượng sang chất.

“Thị cố, Tu Bồ Đề ! Chư Bồ tát Ma ha tát ưng như thị sanh thanh tịnh tâm…Bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ… Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm!”.

Vậy đó, Tu Bồ Đề! các vị Đại bồ tát làm như vậy đó mà có được tâm thanh tịnh! Làm như vậy đó là làm làm sao? Câu trả lời là rời khỏi các tướng, không còn phân biệt ngã nhân, chúng sanh, thọ giả, là tách rời mọi thứ hiện tượng, không để bị mà mắt, bị hút vào những chuyện lăng xăng, ý niệm ngôn từ nọ kia, làm cho người ta vướng mắc, vùng vẫy không ra như mắc vào lưới cá! Những vị Đại bồ tát đó đã thực hành bố thí kiểu mới, bố thí không dính mắc; trì giới, nhẫn nhục kiểu mới… và dĩ nhiên cũng đã có tuệ giác kiểu mới, vượt lên, vượt qua, vượt ra… Gaté, gaté, paragaté!

Kinh Duy Ma Cật kể có một lần kia, trong một buổi họp mặt giữa các vị Bồ tát, các vị đựơc người ta tung hoa đầy người – giống như các fan hâm mộ tung confetti vào thần tượng của mình bây giờ- thì đa số các vị người nào cũng bị dính, trừ các Đại bồ tát! Nên nhớ, các vị Đại…Bồ tát! Chớ còn Tiểu… bồ tát hoặc Bồ tát… sơ sơ thì có dính confetti chút đỉnh cũng không sao. Từ từ mà gỡ. Đừng nóng vội! Đại Bồ tát thì… trơn tuột, không còn cái gì có thể dính được nữa! Kim Cang viết thật súc tích, chặt chẽ: Vì Đại Bồ tát là những vị đã thật vô sở đắc, thật vô sở hành… Những chữ “thật” đó khiến ta không khỏi giật mình. Họ hiều lời Phật dạy là chiếc bè giúp qua sông; hiểu ngón tay Phật chỉ là để nhìn thấy trăng chớ không phải trăng… Tóm lại, tâm họ đã hoàn toàn “vô sở trụ”, không trụ vào đâu cả, không dính mắc vào đâu cả ! Không trụ vào đâu cả thì chỉ còn có một chỗ để trụ ấy là… tự tại! Quán Tự tại Bồ tát…hành thâm Bát nhã…!

“Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền”, Trần Nhân Tông, sư tổ Trúc Lâm đã nói đến cái vô tâm như vậy từ bảy trăm năm trước, còn Lục tổ Huệ Năng, thì hơn một ngàn ba trăm năm trước cũng đã nói đến vô niệm. Dĩ nhiên vô tâm không phải là không có tâm, không còn tâm, cũng như vô niệm không phải là không có niệm, không còn niệm. Vô niệm, vô tâm thực ra chỉ có nghĩa là cái tâm trong sáng, cái niệm thanh tịnh, đã hoàn toàn không còn phân biệt, không còn dính mắc (chấp trước). Trần Nhân Tông vẫn xuống núi, đánh đuổi quân Nguyên, nhưng khi xong giặc thì trở về núi tu tiếp, không “dính mắc” chi nữa! Còn Huệ Năng, “ngộ” rồi mà vẫn lẩn trong đám thợ săn hằng chục năm để tu rèn và giúp đỡ người. Cho nên tâm cứ sanh miễn là tâm thiện, tâm có ích cho mình, cho đời. “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” cũng chính là “Ưng sanh kỳ tâm nhi… vô sở trụ” vậy! Đâu có bảo phải dập tắt tâm đi, thui chột tâm đi, tiêu diệt tâm đi để trở thành sỏi đá hay người ngơ ngáo tâm thần sao? Mà “ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau”(TCS) kia mà!

Tu Bồ Đề hào hứng hỏi: Thưa Thế tôn, vậy xin hỏi kinh này có tên gọi là gì và phụng trì ra sao? Phật nói: Kinh này gọi là Kim Cang Bát nhã Balamật. Nói xong hình như Phật giật mình, coi chừng, không khéo họ lại… “trụ” vào nữa thì hỏng bét! Phật bèn nói tiếp: Bát Nhã Balamật không phải là Bát Nhã Balamật nên mới gọi là Bát Nhã Balamật vậy!
_____________________________________

GƯƠM BÁU TRAO TAY

HANDING DOWN the PRECIOUS SWORD

Tác giả: Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Nhà xuất bản Phương Đông 2008

Dịch giả: Diệu Hạnh Giao Trinh

Bản dịch Anh ngữ Gươm Báu Trao Tay (viết về kinh Kim Cang)

Nguồn: thuvienhoasen.org

THIỀN LÀ SỰ SỐNG CỦA CON NGƯỜI

LỜI GIỚI THIỆU

Xưa nay Thiền pháp là mạch nguồn của Phật pháp. Thiền pháp đủ sức tháo gỡ mọi dính mắc tăm tối của con người. Hiện thực Thiền pháp tháo tung mọi dây mơ rễ má, các thứ buộc ràng từ lâu nay trong cuộc sống. Thấy phủng chỗ này là đạp nhào rào giậu chông gai mọi thứ trong nhân thế. Tuy nhiên phải đầy đủ dũng lực Bát-Nhã một tráng sĩ, giáng ma xử trong tay huy động vẹn toàn quân ma, tất cả trở thành bến bờ thanh lương giải thoát.

Nơi đây, giới thiệu thiền là sự sống của con người, có thể thiền trong cuộc sống gia đình và xã hội, hành giả Phổ Giác đã nói lên được tinh thần này trong tác phẩm “Thiền là sự sống của con người”. Đồng cảm, chia sẻ và khích lệ tác giả, tôi hoan hỷ viết đôi dòng giới thiệu. Rất mong tác phẩm đem đến cho bạn đọc nhiều lợi ích thiết thực và niềm an vui trong cuộc sống.

Trân trọng!

Tổ đình Thường Chiếu, 20-08-2013

THÍCH NHẬT QUANG

THIỀN TRONG CUỘC SỐNG GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI

Thiền là chân lý sống nên không thể dùng ngôn ngữ hay định nghĩa để diển tả Thiền, đến chỗ đó thì mỗi hành giả nóng lạnh tự biết; nhưng Thiền không thể tách rời cuộc sống, không thể tìm thấy ở một nơi xa xôi nào mà ngay nơi cuộc đời chúng ta. Thiền trong cuộc sống là sự biết cách hoà hợp nhịp nhàng giữa một khối óc sáng suốt và một trái tim hiểu biết, nhân hậu để phát sinh trí tuệ và từ bi. Con đường Thiền tập là tỉnh giác trong mọi lúc, mọi nơi để mỗi hành giả thể nhập chứng ngộ Phật tính sáng suốt ngay nơi thân này. Nói đến Thiền là nói đến sự gắn liền với đời sống con người, không phải như nhiều người thường lầm tưởng là Thiền chỉ dành cho bậc thượng căn, Thiền chỉ áp dụng trong các Thiền viện hoặc phải vào thâm sơn cùng cốc mới có thể tu Thiền, hiểu như vậy vô tình đánh mất giá trị thiết thực của nó. Thiền là con đường ngắn nhất cho nhân loại ứng dụng trong cuộc sống hằng ngày, tuỳ theo hoàn cảnh cuộc sống mỗi người mà ta khéo sắp xếp để Thiền trong đi, đứng, nằm, ngồi, ăn uống, ngủ nghỉ và làm việc.

Sở dĩ xưa nay chúng ta thấy nó xa lạ bởi có quá nhiều tạp chất lẫn lộn trong nhà Thiền nên làm mọi người cảm thấy mông lung, huyền bí, xa vời, khó nắm bắt; cũng vì có nhiều người tu theo Thiền ngoại đạo nên bị tẩu quả nhập ma hay bị điên khùng, từ đó người ta quy kết Thiền và cảm thấy sợ sệt khi nói đến Thiền. Con người hay xa rời thực tế để tìm hiểu những điều cao siêu, huyền bí, trong khi cuộc sống đang dàn trải trước mắt chúng ta tất cả đều là Thiền. Thấy sắc là Thiền, nghe tiếng là Thiền. Mắt thấy, tai nghe là hai căn chúng ta tiếp xúc hằng ngày, ta chỉ Thiền ngay nơi thấy-nghe chớ không phải tìm cầu đâu xa. Con người thường hay nhớ nghĩ về quá khứ, luyến tiếc thời vàng son và mơ mộng viễn vông về tương lai xa tít. Người lớn tuổi hay nhớ về kỷ niệm quá khứ vui buồn, người trẻ thường mong muốn đến tương lai, do đó đánh mất mình trong hiện tại. Người tu Thiền sống ngay tại đây và bây giờ để nhìn thấy rõ những tâm niệm tốt xấu, đúng sai, phải quấy, hơn thua đang phát khởi trong tâm nhằm chuyển hoá chúng trở về với cái gốc ban đầu. Thiền là chất liệu sống giúp con người thông suốt mọi hiện tượng, sự vật trên thế gian này và sống bình yên, hạnh phúc nhờ thấy biết đúng như thật. Nhờ có Thiền chúng ta hiểu rõ bản chất thực hư của thân tâm mình và hoàn cảnh, nên con người sống thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau bằng trái tim hiểu biết với tấm lòng vô ngã, vị tha.

Trong đạo Phật có nhiều phương pháp Thiền để giúp cho nhân loại thể nghiệm sâu sắc vào đời sống gia đình và xã hội. Chính đức Phật Thích Ca Mâu Ni ra đời tại Ấn Độ trên 2600 năm cũng do tu Thiền mà thành tựu đạo giác ngộ, giải thoát. Bên cạnh đó, Ngài thành Phật nhờ hành Bồ tát đạo vô số kiếp về trước và cũng do tu Thiền mà thành tựu trong kiếp hiện tại. Nếu chúng ta giác ngộ, giải thoát cho mình mà không giúp đỡ người khác cùng giác ngộ theo là hạnh của hàng Thanh Văn, Duyên Giác thủ chứng quả vị A La Hán nên không thể thành Phật. “Phật” là danh từ chung nói cho đủ là “Phật đà”, là người giác ngộ, là người tỉnh thức, nghĩa là tự giác, giác tha và giác hạnh viên mãn. Phật là con người bằng xương bằng thịt như tất cả mọi người, cũng được sinh ra từ bụng mẹ, không phải biến hoá từ nơi khác đến. Chúng ta cũng là người giống như Phật, Phật tu hành thành Phật, ta cũng có thể tu hành thành Phật và ai muốn thành Phật thì phải biết tu Thiền.

Trở về quá khứ khi Bồ tát Sĩ Đạt Ta bỏ cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con ngoan để ra đi tìm cầu chân lý. Trước nhất Ngài tu Thiền 5 năm đầu với hai vị Thiền sư lỗi lạc nhất thời bấy giờ, nhưng chỗ đến chưa đạt được mục đích giác ngộ, giải thoát hoàn toàn. Ngài từ giã ra đi và tự tu Thiền khổ hạnh ép xác đến 6 năm trời, có khi chỉ ăn mỗi ngày một hạt mè, hạt bắp mà cũng không tìm ra chân lý tối cao. Ngài tu Thiền với hai vị đạo sư nổi tiếng cũng chưa đạt kết quả viên mãn, rồi tự mình Thiền theo cách khổ hạnh ép xác đến tột cùng, dẫn đến ngất xỉu, nhờ cô thôn nữ chăn bò cúng dường bát sữa giúp Ngài dần hồi tỉnh lại. Từ đó, Ngài quán sát trở lại và thấy rõ Thiền nếu ép xác khổ hạnh quá mức sẽ dẫn đến thân thể suy yếu, tinh thần bạc nhược nên không đủ sức thể nhập chân lý. Thiền mà lợi dưỡng đầy đủ cũng không thực chứng bản tâm, do đó Ngài quay về Trung đạo, ăn vừa đủ để nuôi sống thân này, nhờ vậy Ngài dễ dàng vào Thiền nên tâm an định và trí tuệ phát sinh mà thành tựu Phật đạo.

Những lời dạy vàng ngọc của đức Phật do tu Thiền mà thành tựu đã trải qua hơn 26 thế kỷ vẫn còn là ngọn đuốc sáng soi đường cho con người xây dựng nếp sống bình yên, an vui và hạnh phúc trọn vẹn. Đạo Phật đã hiện hữu sáng ngời theo dòng thời gian và tồn tại cho đến ngày hôm nay chính yếu vào việc thăng hoa tuệ giác tâm linh và đạo đức con người. Từ đó, đức Phật hiện thân người, biết rõ thực tại khổ đau của con người và tìm được lối thoát cho con người. Ngài từ bỏ con đường tư duy và cuộc sống bế tắc của các lối Thiền ngoại đạo, đến cội bồ đề tham Thiền nhập định. Trong suốt 49 ngày đêm, Ngài đạt đến sự giác ngộ hoàn toàn, thấy rõ con người từ đâu đến, sau khi chết đi về đâu và biết rõ phương cách thoát khỏi sinh-già-bệnh-chết của kiếp người. Trạng thái giác ngộ ấy trải qua ba giai đoạn: đầu đêm Ngài chứng tuệ giác Túc Mạng Minh, giữa đêm chứng tuệ giác Thiên Nhãn Minh và cuối đêm chứng tuệ giác Lậu Tận Minh. Ngài ngồi dưới cội Bồ-đề 49 ngày đêm Thiền định nhằm phát minh chân lý cuộc đời. Khi định đã sâu, tâm an nhiên, lặng lẽ nên trí tuệ sáng suốt, do đó chứng Tam minh và thành Phật.

Khi tâm an định, trong sáng, Ngài liền nhớ lại vô số kiếp về trước đã từng ở đâu, làm gì, giàu nghèo hay sang hèn… Đây gọi là chứng được Túc Mạng Minh, khi ấy tâm hoàn toàn thanh tịnh, trong sáng, lặng lẽ mà hằng chiếu soi. Túc Mạng Minh đức Phật chứng đắc không phải một thứ thần thông huyền bí nào đó mà do tâm Ngài yên lắng nên nhớ lại vô số kiếp về trước như nhớ chuyện ngày hôm qua. Tất cả suy tư ấy đã nung nấu, thúc đẩy Ngài dấn thân tìm phương cách đưa người thoát khỏi khổ đau, trầm luân và an hưởng hạnh phúc chân thật, vĩnh hằng. Ngài nhớ lại vô số kiếp về trước một cách rõ ràng, tường tận, không thiếu xót một chi tiết nào; từ đó Ngài biết được con người từ đâu đến. Chúng ta không phải ngẫu nhiên có mặt một lần trong cuộc đời mà đã sống chết luân hồi từ vô số kiếp đến nay. Khi chứng được đạo quả sẽ thấy được lẽ thật, ai nói đúng sai về chân lý cuộc đời chúng ta đều biết rõ. Thế nên, trong kinh A-hàm Phật nói “nước mắt chúng sinh nhiều hơn nước biển cả”. Chúng ta phải hiểu xa hơn vì Phật nói nước mắt chúng sinh đâu chỉ một kiếp này mà vô số kiếp sống chết luân hồi, nên nước mắt ấy nhiều hơn nước biển cả.

Trạng thái chứng thứ hai là Thiên Nhãn Minh. Túc Mạng Minh là cái thấy biết về thời gian quá khứ-hiện tại-vị lai trong vô số kiếp. Thiên Nhãn Minh là cái thấy biết về không gian, thấy được sự vật hết sức nhỏ nhiệm và xa vô cùng; thấy tường tận, rõ ràng nhân quả nghiệp báo của tất cả chúng sinh. Chúng sinh có mặt trên thế gian này là do nghiệp quá khứ tạo nên tốt hay xấu mà dẫn tới thọ sanh trong hiện tại, tuy là con người nhưng không ai giống ai vì nghiệp báo bất đồng. Trong Kinh đã nói khi chứng được Thiên Nhãn Minh Ngài thấy trong bát nước có vô số vi trùng, 26 thế kỷ trước khoa học chưa tiến bộ nên không có kính hiển vi nhưng đức Phật đã thấy được vô số vi trùng trong bát nước. Hồi xưa ít ai tin lời Phật vì đâu có gì chứng minh. Có một lần, vị Tỳ-kheo chứng A-la-hán đi đường xa, khi qua sa mạc ngài khát nước quá lại gặp cái ao hơi cạn nên định lấy nước uống. Khi dùng Thiên Nhãn Minh ngài thấy vô số vi trùng trong nước nên không dám uống, đành chịu khát mà về đến Tịnh xá. Về đến nơi Ngài trình cho Phật biết, Phật nói “tại sao ông không dùng con mắt thường của mình để nhìn”. Như vậy, rõ ràng cách nay hơn 2600 năm Phật đã thấy được vi trùng, các vị A-la-hán cũng thấy được vi trùng, nên trong Luật dạy quý Tăng ni đi đâu phải mang theo đãy lọc nước vì sợ uống nước sẽ giết hại vi trùng. Ngày nay chúng ta không mang đồ lọc nước theo vì nước đã được lọc sẵn. Đó là nói về vật rất nhỏ; còn vật xa, Phật nhìn trong bầu vũ trụ thấy có hằng hà sa số thế giới, tức là thế giới nhiều như cát sông Hằng Ấn Độ.

Ngày xưa, một số người cho rằng trời tròn đất vuông có giới hạn, nhưng Phật nhìn thấy ngoài hành tinh của chúng ta còn có vô số hành tinh khác. Hồi xưa đâu có kính viễn vọng, Phật dùng Thiên nhãn thấy được vật ở rất xa, rất nhỏ; do đó Ngài thấy được tường tận nghiệp quả của tất cả chúng sinh thăng lên lộn xuống luân hồi tái sinh, hưởng phước an vui hạnh phúc hay bị sa đọa khổ đau là do mình tạo lấy. Trong một bài Kinh Phật nói, “Ta nhìn thấy chúng sinh theo nghiệp tái sinh luân hồi trong ba cõi sáu đường giống như người đứng trên lầu cao nhìn xuống ngã tư đường, thấy kẻ đi qua người đi lại rõ ràng”. Chính vì vậy, Phật khuyên chúng ta không làm các việc xấu ác mà hãy làm các việc thiện lành, tốt đẹp để hưởng phước báo trong cõi lành; còn tạo nghiệp dữ thì bị đọa vào chỗ xấu ác, khổ đau. Những gì Phật thấy và nói lại trong Kinh điển là do Ngài tu chứng và thấy biết đúng như thật chớ không phải do ý thức suy luận viễn vông. Những bài Kinh Bổn Sanh hay Bổn Sự chúng ta đọc được trong tạng chữ Pali hoặc chữ Hán là những bài Kinh nói vô số kiếp về trước của đức Phật và các vị Thánh đệ tử. Kinh Bổn Sanh nói về tiền kiếp nhiều đời của đức Phật. Kinh Bổn Sự nói về quá khứ của các vị Bà-la-môn hay các vị Tỳ-kheo đời trước đã từng làm gì, ở đâu và bây giờ thọ quả báo thế nào. Như vậy, những sự việc của chư Tăng xảy ra trong thời đức Phật Ngài đều thấy rõ từ những kiếp trước, Ngài nói và người sau ghi chép lại gọi là Kinh Bổn Sự. Những sự việc của Ngài về vô số kiếp trước gọi là Kinh Bổn Sanh. Do nghiệp đã tạo mà sinh ra chỗ tốt hay chỗ xấu chớ không phải ngẫu nhiên, cũng không phải do đấng thần linh, thượng đế nào có quyền sắp đặt, định đoạt số phận của muôn loài chúng sinh.

Trạng thái chứng thứ ba là Lậu Tận Minh. “Lậu” là lọt, là rớt, không còn rớt trong ba cõi sáu đường tức là chứng được Lậu Tận Minh. Đây là vấn đề then chốt và chủ yếu mà Ngài muốn tìm để giúp thân phận con người thoát khỏi sinh-già-bệnh-chết. Do chứng được Lậu Tận Minh nên Ngài biết rõ nguyên nhân đi trong sanh tử luân hồi và cách dứt khỏi luân hồi sống-chết. Chính bản thân Ngài đã thoát ra được và đi giáo hóa suốt 49 năm; bị người vu oan giá họa, bị người chửi mắng, hãm hại đủ mọi cách nhưng Phật vẫn bình thản, an nhiên, tự tại chứng minh cho đời sự trong sạch của mình, đã hoàn toàn giác ngộ, giải thoát và thành Phật. Trước khi nhập diệt, Ngài báo cho tứ chúng đồng tu biết được ngày giờ ra đi trước ba tháng. Cho nên, Thiền định là con đường thể nghiệm sâu sắc về chính mình, giúp mọi người vượt qua cạm bẫy cuộc đời để sống bình yên, hạnh phúc và tự tại, giải thoát.

Tam Minh là quá trình Thiền của đức Phật trong đêm Thành đạo dưới cội Bồ đề, đánh dấu sự chuyển đổi quan trọng từ sa môn Cù Đàm dấn thân tìm chân lý, trở thành bậc giác ngộ Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Phật là một con người giống như tất cả mọi người, Ngài là một hoàng thái tử dám từ bỏ quyền uy thế lực, cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con ngoan, từ bỏ tất cả những gì chúng ta hằng mong muốn để đi tìm chân lý sống cho con người. Như Lai là người giác ngộ hoàn toàn, không còn bị ràng buộc và dính mắc các pháp thế gian như tham lam, sân giận, si mê, mạn nghi và ác kiến. Như Lai là một trong mười danh hiệu của Phật mà Ngài thường dùng trong các bản Kinh, chúng tôi tạm gọi là “không từ đâu đến và cũng không đi về đâu”. Nó là một thực tại nhiệm mầu không thể diễn tả bằng ngôn ngữ, Như Lai là bậc giác ngộ, bậc tỉnh thức và thấy biết đúng như thật. Như Lai là bậc Ứng Cúng xứng đáng được trời người tôn trọng và cung kính cúng dường, là bậc đã phá trừ các phiền não khổ đau. Như Lai là bậc Chánh Biến Tri, là người đã giác ngộ rộng lớn, thấy biết chân chính và không còn dính mắc các Pháp trần tục ở đời như si mê, tham ái, giận dữ, ghen ghét, hận thù, cống cao ngã mạn và các sự trói buộc khác. Ngài tự do an lạc, thảnh thơi và sống có hiểu biết, thương yêu chân thành mà không phân biệt người thân hay thù. Như Lai là bậc Minh Hạnh Túc, có nghĩa là cái thấy đầy đủ về nhận thức, hành động đạt đến mức sáng suốt tột cùng. Cái thấy về vô số kiếp về trước làm gì, ở đâu, cái thấy tất cả chúng sinh luân hồi sinh tử, tái sinh trong ba cõi sáu đường đều do mình tạo ra và cái thấy biết cách làm cho con người không còn bị sinh-già-bệnh-chết chi phối. Như Lai là bậc Thiện Thệ, là người đã khéo vượt qua sống chết, đã hoàn toàn được giải thoát một cách viên mãn. Như Lai là bậc Thế Gian Giải, là người đã thấu hiểu được tâm tư, tình cảm, bản chất của mọi chúng sinh, cũng như tất cả mọi hiện tượng, sự vật trên thế gian này. Như Lai là bậc Vô Thượng Sĩ, là người đạt tới nhân cách, phẩm chất cao thượng nhất. Như Lai là bậc Điều Ngự Trượng Phu, là người có khả năng chinh phục, chế ngự, điều động, rèn luyện, giúp cho con người vượt qua cạm bẫy cuộc đời, kể cả những người khó điều phục. Như Lai là bậc Thiên Nhân Sư, là thầy của trời người. Loài trời ở đây chúng ta thường gọi là chư thiên, là loài có phước báu hơn con người. Như Lai là Phật, nói cho đủ là Phật Đà, là người giác ngộ, là người tỉnh thức, là người thấy biết đúng như thật. Như Lai là bậc Thế Tôn, là người tôn quý trong thế gian. Sở dĩ được tôn quý vì nhân cách, phẩm chất sống của Người luôn từ bi và trí tuệ, hiểu biết và yêu thương, dấn thân và phục vụ, bao dung và tha thứ, sẻ chia và thông cảm vì lợi ích của tất cả chúng sinh. Người cư sĩ tại gia thường xuyên quán niệm như thế về Phật thì tâm tư càng ngày càng có sức định tĩnh, lắng trong, nhờ vậy chúng ta luôn sáng suốt khi học và làm việc và có được niềm vui sống trong tỉnh giác.

Riêng tại Việt Nam, ánh sáng tuệ giác Tam Minh của đức Từ Tôn đã được các Thiền sư, cư sĩ Phật tử tiếp tục thắp sáng, tạo thành những trang sử vàng son cho ngôi nhà Phật giáo Việt Nam. Tiêu biểu như ở thời Lý, Trần, vua quan và Thiền sư đã khéo vận dụng tuệ giác và sống đúng như thật qua những đóng góp quan trọng vào việc giữ gìn đất nước độc lập, xây dựng, phát triển quốc gia. Nhất là đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông do tu Thiền mà giác ngộ, giải thoát, mở ra dòng Thiền hiện đại Trúc Lâm Yên Tử Việt Nam hướng dẫn tất cả mọi người cùng tu. Ở Ấn Độ có Thái tử đi tu và thành Phật. Ở Việt Nam ta có vị vua từ bỏ ngai vàng, xuất gia và ngộ đạo. Đó là điểm sáng chiếu soi cho ngôi nhà Phật giáo Việt Nam. Phật do tu Thiền mà giác ngộ, các vị Tổ cũng do tu Thiền mà giác ngộ, và đặc biệt cư sĩ tại gia Tuệ Trung Thượng Sĩ cũng do tu Thiền mà tự tại. Trước lúc sắp ra đi, thê thiếp, con cháu trong nhà khóc lóc um sùm, ngài mở mắt ra nói “các ngươi làm mờ chân tánh ta”, nói xong ngài an nhiên, tự tại ra đi.

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT KHI TU THIỀN

Tu Thiền muốn có kết quả tốt đẹp, tâm an định và trí tuệ phát sinh để sống bình yên, an vui, hạnh phúc thì mọi người cần phải nắm vững những điều căn bản sau đây:

1- Không trực tiếp sát sinh hại vật, xúi bảo người khác giết hại hoặc vui vẻ đồng tình khi thấy người khác giết hại. Người có tâm sát sinh hại vật thì không bao giờ có thể Thiền định, vì trong các nghiệp xấu ác nặng nhất là tội giết hại. Kẻ giết người cùng kẻ bất hiếu với cha mẹ cũng không thể Thiền định. Muốn tu Thiền được kết quả tốt đẹp chúng ta phải từ bỏ giết hại, bởi khi giết vật mắt thấy, tai nghe chúng giãy giụa đau thương nên chủng tử đó huân tập vào tàng thức, lâu ngày ta thấy con vật la khóc đến đòi nợ. Người giết hại nhiều hay lo lắng, sợ hãi, bất an nên trong tâm lúc nào cũng day dứt, khó chịu. Người tại gia vì gia đình, người thân nên phải làm việc để có nguồn thu nhập, vẫn phải ăn mặn để đủ sức khoẻ mà dấn thân đóng góp, phục vụ; nhưng nên ăn mặn theo Tam tịnh nhục, không trực tiếp giết hại, không xúi bảo người khác giết hại, không vui vẻ đồng tình khi thấy người khác giết hại. Ta có quyền mua thịt cá đã làm sẵn hoặc đã nấu chín, nếu mua thịt cá mần sẵn thì phải để ý kiểm tra, đừng mua đồ ương thối tuỳ theo kinh nghiệm mỗi người. Người hay sát sinh hại vật tức làm khổ chúng sinh nên không có lòng từ bi, do đó khó mà Thiền định được kết quả tốt đẹp.

2- Không gian tham trộm cướp, lấy tài sản của cải người khác. Trộm là lén lấy, cướp là công khai lấy. Muốn Thiền định mà trong tâm cứ tính toán làm sao để lấy của người khác thì chắc chắn không bao giờ tâm an định. Nhân trộm cướp quả hiện đời bị tù tội và nghèo khổ, thiếu thốn. Cho nên, người tại gia tu Thiền mà còn bệnh này tức lòng tham lam, ích kỷ quá nhiều, do đó không thể đạt kết quả như ý muốn.

3- Người hay tà dâm cũng vậy, vì lòng dục nặng nề thích đắm sắc mê hoa nên lúc nào cũng toan tính, tìm cách chiếm đoạt để hưởng thụ khoái lạc dục tính. Muốn được như vậy trước nhất người tà dâm phải nói dối “tôi không hạnh phúc” hay “tôi bị bắt buộc”, cốt để làm sao cho người khác phái tin mình. Tham lam, dối gạt để hưởng thụ cho riêng mình là thói quen xấu nhiều đời nhất của đấng mày râu. Dù có vợ đẹp con xinh nhưng vẫn muốn kiếm thêm, vẫn ham thích của lạ để chứng tỏ khả năng chinh phục. Báo chí vừa qua cũng đã đăng tin các đại gia bỏ tiền mua dâm với một số người mẫu, hoa hậu với số tiền quá cao trong một lần quan hệ. Quan niệm chồng chúa vợ tôi, trai năm thê bảy thiếp là tập tục trọng nam khinh nữ phát xuất từ thời phong kiến. Vua có quá nhiều cung phi mỹ nữ nên ít có ông nào sống thọ. Vậy muốn tu Thiền có kết quả tốt chúng ta phải biết tiết chế trong sinh hoạt tình dục bằng cách sống thuỷ chung “một vợ một chồng”. Người quá nặng tính dục sẽ giảm sức khoẻ, tinh thần không sáng suốt nên ngồi Thiền khó an định, do đó tâm niệm cứ lăng xăng dính mắc “ta-người-chúng sinh”.

4- Người hay nói dối để lường gạt hoặc hại người cũng khó lòng Thiền định vì tâm tư lúc nào cũng tính toán hơn thua, tìm cách sén bớt của người. Tâm không ngay thẳng, hay nghĩ điều tà dại như nói dóc, nói láo để lường gạt, khoe khoang, nói lời mắng chửi nặng nề tức tâm nóng giận, thù hằn chất chứa nhiều trong lòng. Hạng người như vậy cũng khó mà Thiền định an ổn. Cho nên, muốn tu Thiền đạt được kết quả phải buông xả phiền não tham-sân-si, phải giữ giới không nói dối hại người hoặc nói lời hằn học, mắng chửi.

5- Uống rượu hoặc dùng các chất kích thích, ăn uống đồ độc hại, hút chích xì ke ma tuý thì càng không thể Thiền định vì tinh thần mê muội, thân thể bất an, không có tinh thần tự chủ. Khi ta tiêu thụ những thứ trên quá nhiều sẽ làm tàn hại thân tâm, bệnh hoạn, si mê, cuồng loạn; làm hại mình, hại gia đình, người thân và xã hội. Hạng người như thế lúc nào cũng tìm cách lường gạt của người khác, nếu làm có tiền cũng tiêu tốn hết vào đó. Gia đình nào có những con người như thế sẽ khổ đau vô cùng cực vì làm khổ chính mình lẫn gia đình, người thân. Nếu ghiền những thứ đó mà không có tiền thì phải trộm cướp, lường gạt của người khác bằng mọi cách. Một xã hội có nhiều con người như vậy trước sau cũng sẽ tan nhà nát cửa, đất nước loạn lạc, khủng hoảng nhân cách đạo đức làm mất tính người. Biện pháp duy nhất giúp cho con nghiện là sống cách ly xã hội, được hướng dẫn đạo đức tâm linh để tin sâu nhân quả, được tạo công ăn việc làm tại chỗ, sống đơn giản, đạm bạc thì họa may mới cứu chữa được; bằng không xã hội phải xây cất nhiều trung tâm thần kinh và trung tâm cai nghiện để chứa những con người này, dần hồi nhà tù sẽ được mở rộng để dung nạp nhiều kẻ lường gạt, trộm cướp, biếng nhác, ăn không ngồi rồi. Hiện nay xã hội chỉ chữa bệnh tạm thời trên phần ngọn nên tốn kém, mất mát, hao hụt quá nhiều; muốn giúp thế gian giảm bớt tệ nạn xã hội chỉ có cách duy nhất làm sao hướng dẫn mọi người tin sâu nhân quả, gieo nhân tốt gặt quả tốt, gieo nhân xấu gặt quả xấu.

Đất nước chúng ta đang trên đà phát triển toàn diện về mọi mặt, nếu con người không ý thức và có hiểu biết chân chính thì chỉ được lợi ích vật chất bên ngoài. Trong bối cảnh hiện nay chúng ta đang sống chung với ô nhiễm môi trường, ô nhiễm văn hóa phẩm đồi trụy, ô nhiễm thực phẩm đồ ăn thức uống, hầu như đại đa số mọi người đều dùng những hóa chất độc hại đưa vào cơ thể do nhu cầu sự sống. Ngành quản lý chức năng cần hạn chế cấp giấy phép một số hoạt động có tác hại lớn như các quán nhậu, các làng nướng, vũ trường… đang mọc lên như nấm mà không có giờ giấc hạn chế. Cơ sở giáo dục chưa phù hợp với sự hiểu biết của con người nên không có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa học tập, làm việc và tu dưỡng đạo đức tâm linh. Việc thay đổi, phát triển, mở mang là điều tốt nhưng phải dựa theo trình độ dân trí, nếu phát triển quá nhanh sẽ làm con người không theo kịp, thành ra phản tác dụng và làm tổn hại trở lại. Có tiện nghi vật chất đầy đủ mà không có tinh thần sáng suốt cùng hiểu biết chân chính thì nguy hiểm vô cùng vì sẽ đưa con người vào hố sâu tội lỗi.

Theo sự hiểu biết của chúng tôi, muốn mọi người sống thương yêu đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau trên tinh thần vị tha, biết cảm thông và tha thứ, biết bao dung và độ lượng, hay san sẻ và nâng đỡ bằng tình người trong cuộc sống thì trước nhất ta phải tin sâu nhân quả, tin nhân quả luôn theo ta như bóng với hình, dù trăm kiếp ngàn đời vẫn không mất, khi hội đủ nhân duyên quả báo hoàn tự hiện. Ta tin tâm mình là Phật, siêng năng cố gắng làm lành, buông xả tâm niệm về hành động xấu ác. Ta tin bản thân có khả năng làm được tất cả mọi việc trên thế gian mà không phải cầu khẩn, van xin một đấng quyền năng nào đó. Chính ta là ông chủ nhân của bao điều họa phúc. Ngày xưa khi ta chưa biết tu thì ý nghĩ xấu phát sinh ra lời nói, dẫn đến thân giết hại, trộm cướp, lường gạt của người khác; bây giờ biết tu rồi ta suy nghĩ điều thiện, miệng nói lời từ ái, chân thật, sống bao dung, giúp đỡ người khác. Chúng ta chỉ cần thay đổi nhận thức thì nhân quả xấu sẽ từ từ thay đổi theo chiều hướng tốt đẹp, nhưng ta phải bền chí, kiên trì, đừng ham mau lẹ mà trở thành tham lam. Mình mới tu Thiền chỉ có vài năm mà muốn có kết quả liền thì không thể được vì vô số kiếp khi chưa biết tu ta đã huân tập biết bao nhiêu thói hư, tật xấu; nay biết tu rồi chỉ cần kiên trì, bền bỉ lâu dài thì việc gì cũng có thể làm được; ví như tấm gương sáng lâu ngày bị bụi bám đầy, ta chỉ cần lau bụi phiền não tham-sân-si, ganh ghét, tật đố, ích kỷ, mê muội chất chứa hại người cho đến khi nào bụi hết thì gương tự trong sáng.

6- Người tu Thiền mập quá cũng khó tu vì ăn nhiều là do lòng tham đắm, không biết làm chủ trong ăn uống, thân thể chậm chạp, mệt mỏi, ngồi lại vọng niệm lăng xăng khó điều phục. Người quá mập nếu là phụ nữ có chồng sẽ bị chồng chê và khó có được hạnh phúc thật sự, khó Thiền định được vì khi ngồi lại cảm thấy khó khăn, chộn rộn, mệt mỏi, hoặc Thiền đi, Thiền lạy cũng chậm lụt hơn người thường. Muốn tu Thiền để được kết quả tốt đẹp ta phải điều hoà, cân bằng sức khoẻ. Thí dụ mình cao 1m60 thì trong lượng cơ thể cho phép 56 kg, giữ quân bình như vậy thì ta tu Thiền rất nhẹ nhàng vì mình làm chủ được ăn uống là đã biết tu rồi. Nếu không có đủ khả năng làm chủ trong ăn uống thì ta điều hoà thân thể tối đa là 59 kg hoặc thấp nhất là 53 kg, chỉ cần làm chủ trọng lượng cơ thể là chúng ta đã biết cách tu Thiền.

7- Người ốm quá là người bệnh hoạn, suy dinh dưỡng, thiếu sức khoẻ nên thân thể đau nhức, mệt mỏi, tinh thần rối loạn, hay lo lắng. Thân thể không khoẻ mạnh thì tinh thần không sáng suốt nên cũng khó định tâm trong lúc Thiền.

Ngoài những đòi hỏi trên thì người tu Thiền phải biết cung kính, hiếu thảo với ông bà cha mẹ, phải chăm sóc dưỡng nuôi khi cần thiết và khi tuổi già sức yếu; ngoài ra còn biết bố thí, cúng dường người tu hành chân chính và người khó khăn, nghèo khổ, biết làm các việc phước thiện như ấn tống kinh sách, băng đĩa, từ thiện giúp đỡ người bất hạnh khi có nhân duyên. Có bố thí, giúp đỡ, sẻ chia ta mới xả bỏ tâm tham lam, ích kỷ, bỏn sẻn, keo kiết nhiều đời; nhờ vậy tâm từ bi giúp người cứu vật được phát triển từ trong gia đình, người thân rồi lan rộng đến người ngoài xã hội.

Nói tóm lại, trước khi tu Thiền chúng ta cần phải có một hiểu biết chân chính, nhận thức sáng suốt, tin sâu nhân quả, tin chính mình và quyết tâm bền chí phải Thiền trong mọi oai nghi đi-đứng-nằm-ngồi, ăn uống, ngủ nghỉ, sinh hoạt cho có chừng mực, giữ giới không làm tổn hại thân tâm mình, người và vật. Đó là phương pháp chung dành cho người tu Thiền, nhưng còn tuỳ sức khoẻ, hoàn cảnh cuộc sống của mỗi người mà chúng ta biết cách áp dụng sao cho bản thân được bình yên, an vui, hạnh phúc ngay tại đây và bây giờ. Chúng ta biết áp dụng Thiền đúng lúc, đúng chỗ, đúng nơi thì ngày càng giảm bớt phiền não tham-sân-si và phát sinh trí tuệ, nhờ vậy tăng trưởng lòng từ bi thương xót giúp đỡ người và vật khi có nhân duyên. Cứu giúp một người qua cơn hoạn nạn và giúp họ biết tin sâu nhân quả, hay nói cách khác ta cho họ con cá cũng cần phải cho họ cần câu và chỉ cách câu. Con cá chỉ là phương tiện ban đầu, cho họ cái cần câu thì họ mới biết cách vượt qua nỗi khổ, niềm đau và sống an vui, hạnh phúc.

Thiền mà chúng tôi đang hướng dẫn ở đây là đi vào đời sống gia đình và xã hội, ai muốn sống tốt, không làm tổn hại người khác thì ngay bây giờ phải biết tu tâm sửa tánh để quay về con người tâm linh của chính mình. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni sau khi tu Thiền thành tựu đã giáo hoá 49 năm không biết mệt mỏi, nhàm chán vì Ngài không thấy ai là kẻ thù mà chỉ thấy người chưa thông cảm với nhau mà thôi. Dù bị người hãm hại đủ mọi cách nhưng Phật vẫn không buồn phiền mà còn thương họ nhiều hơn vì Ngài đã sống được với tâm thanh tịnh, sáng suốt. Người không biết tu Thiền khi gặp việc xấu sẽ tìm cách trả thù trở lại nên nhân quả vay trả, trả vay không có ngày thôi dứt.

TU THIỀN TRƯỚC NHẤT PHẢI TỰ TIN CHÍNH MÌNH

Người tu Thiền trước nhất phải quyết tâm tin mình sẽ thành Phật, tâm Phật thanh tịnh, sáng suốt nương nơi 6 căn của mỗi người là mắt-tai-mũi-lưỡi-thân-ý; nương nơi mắt thì thấy biết rõ ràng không lầm lẫn, hình ảnh sự vật như thế nào thì biết rõ như thế mà không dính mắc; nghe chỉ là nghe, có tiếng nghe có tiếng, không tiếng nghe không tiếng, tiếng lớn tiếng nhỏ là âm thanh bên ngoài, tính nghe thì luôn thường biết rõ ràng; mũi-lưỡi-thân-ý cũng lại như thế. Chúng ta tin tâm mình là Phật, giống như chiếc gương sáng vì để lâu ngày bị bụi bám vào, muốn gương sáng trở lại phải chịu khó lau chùi, hết bụi tự nhiên gương sẽ sáng. Cũng vậy, chính tâm mình là Phật nhưng vì lâu ngày ta để bụi phiền não tham-sân-si bám vào nên tâm Phật không hiển lộ, đến khi buông bỏ hết mọi vọng niệm thì tâm Phật hằng soi sáng. Không tin tâm mình là Phật thì chúng ta sẽ không cố gắng chuyển hoá phiền não tham-sân-si để được giác ngộ, giải thoát ngay trong cõi đời này. Quả quyết tin tâm mình là Phật là ta đã thành tựu đức tin mãnh liệt, nhờ vậy khi tu Thiền dễ dàng buông xả sự tham đắm, dính mắc từ trước đến giờ.

Trong sự tu hành chúng ta phải khẳng định, tâm mình là Phật mới có thể tự giải thoát sống chết, không một đức Phật hoặc chư vị Bồ-tát nào có thể giải thoát thay thế cho chính mình được. Cuộc sống ngoài xã hội cũng vậy, mọi việc nên hư, thành bại, tốt xấu đều tự chúng ta gầy dựng tạo nên. Chính ta là ông chủ nhân của bao điều hoạ phúc, mình làm lành được hưởng phước, mình làm ác chịu khổ đau, thành Phật hay không là do sự quyết tâm của mỗi người. Ai có đầy đủ đức tin mãnh liệt nơi chính mình thì sẽ không trốn tránh trách nhiệm về mọi hành vi của bản thân, không ỷ lại hay cầu cạnh, nhờ vã kẻ khác, không yếu đuối, hèn nhát trước mọi khó khăn. Chúng ta can đảm đối diện với cuộc sống để tìm cách vươn lên vượt qua cạm bẫy cuộc đời nhằm chuyển hoá nỗi khổ, niềm đau thành an vui, hạnh phúc ngay tại đây và bây giờ.

TU THIỀN PHẢI CÓ LÒNG QUẢ CẢM

Nhờ tự tin chính mình chúng ta mới can đảm vượt qua mọi khó khăn, gian nan, thử thách, cương quyết quả cảm tiến lên, phấn đấu chiến thắng bọn quân ma phiền não làm trở ngại. Chúng ta biết rõ chính mình có khả năng thành Phật nên quyết chí tu hành cho đến khi thành tựu viên mãn mới thôi. Đức tự tin và lòng quả cảm giúp ta mạnh dạn, gan dạ dấn thân đóng góp, phục vụ tất cả chúng sinh không biết mệt mỏi, nhàm chán để mình và người cùng được bình yên, hạnh phúc. Nếu chúng ta không tự tin chính mình và không có lòng quả cảm thì ta sẽ không bao giờ kiên trì, bền chí khi gặp khó khăn, vấp ngã. Nhờ tin tâm mình là Phật nên ta xem thường mọi nguy hiểm, sống đơn giản, đạm bạc để tu hành như vua Trần Nhân Tông. Vị vua Thiền Sư đã nhường ngôi lại cho con lên núi Yên Tử tu hành nơi đồi núi hiểm trở, khó khăn, thú dữ chực chờ. Trước những hiểm nguy như thế nhưng Phật hoàng Trần Nhân Tông vẫn ung dung, tự tại, không bất an, lo lắng, sợ hãi mà quyết chí tu hành. Thật là một tâm hồn quả cảm tràn trề! Nếu chúng ta ai cũng ứng dụng được tinh thần quả cảm này vào xã hội để dấn thân, đóng góp và phục vụ tốt cho mọi người, thì việc gì cũng có thể thành công tốt đẹp.

TU THIỀN PHẢI BỀN CHÍ SIÊNG NĂNG LÂU DÀI

Có lòng tự tin chính mình chúng ta mới cố gắng nỗ lực tiến tu để buông xả mọi tham đắm, dính mắc ở đời. Bất cứ làm một việc gì mà không tin mình làm được thì chắc chắn việc ấy sẽ bỏ dở nửa chừng, hoặc có làm cũng không tới đâu. Chúng ta tin chắc việc này mình làm được thì ngày đêm siêng năng, cần mẫn, không dám lơi là, giải đãi. Tin chính mình giúp ta cố gắng, siêng năng, bền chí, kiên trì, không chán nản hay bỏ dở nửa chừng. Tin tâm mình là Phật giúp người tu Thiền tinh tấn, bền chí, nhẫn nại, cố gắng thực hành cho đến khi công thành quả mãn mới thôi. Tin tâm mình là Phật là đã có nhân thành Phật, chỉ cần cố gắng tu hành sẽ thành Phật quả. Từ nhân đến quả đều do sự siêng năng tu hành của bản thân, không phải ai khác có thể làm thế cho ta được dù đó là đức Phật. Ở thế gian ai cũng tự tin chính mình thì chắc chắn mọi việc sẽ được thành công tốt đẹp. Tin tưởng mình có khả năng nên mới siêng năng, cố gắng trong mọi nhiệm vụ. Thế cho nên muốn làm việc được thành công viên mãn thì chúng ta trước tiên phải tự tin chính mình, có lòng quả cảm và bền chí, siêng năng, cần mẫn.

TU THIỀN TÙY THUỘC VÀO VẬN MỆNH ĐẤT NƯỚC DÂN TỘC

Xã hội và tôn giáo luôn liên quan, ảnh hưởng mật thiết với nhau, tu Thiền nói riêng cũng vậy. Trong Phật giáo có quá nhiều pháp môn nhưng chính yếu vẫn là Thiền, tuy nhiên Thiền cũng có nhiều loại. Có hai phương pháp chính yếu khi tu Thiền là Thiền Chỉ và Thiền Quán, hai loại này gọi là Thiền Đối Trị và Thiền Trực Chỉ, tức là đi thẳng vào nội tâm để buông xả. Thiền Chỉ và Thiền Quán luôn dung thông, hỗ trợ cho nhau và phải có sự liên kết chặt chẽ mới có thể thành tựu mục đích sau cùng. Khi dân tộc không bị chiến tranh loạn lạc, có chủ quyền độc lập thì pháp môn tu nhà Phật hướng về tự lực hoàn toàn. Khi dân tộc mất chủ quyền, bị lệ thuộc thì pháp môn tu hướng về tha lực nhiều hơn, nhưng chính yếu vẫn là tự lực. Chúng ta thấy sự thịnh suy của dân tộc là sự thịnh suy của Thiền, một đất nước mất chủ quyền thì người dân sao có thể tin vào khả năng tu tập của chính mình nên dễ dàng đánh mất tự chủ mà tin vào tha lực bên ngoài. Chính vì thế tu Thiền cũng chịu ảnh hưởng theo vận mệnh của đất nước. Tuy nhiên, nếu chúng ta đã tin sâu nhân quả thì dù trong hoàn cảnh nào ta cũng có thể tu Thiền, vì Thiền luôn song hành với đời sống của chúng ta. Ăn uống, mặc quần áo, đi tiểu, đi đại hằng ngày nếu không biết Thiền ta sẽ tự đánh mất mình, vì những điều này ta phải tự giải quyết chứ người khác không thể thay thế được.

THIỀN RẤT THỰC TẾ TRONG ĐỜI SỐNG MỌI NGƯỜI

Chủ trương của Thiền là khai sáng trí tuệ, phục hưng lại con người tâm linh của bản thân mà ta đã lãng quên từ lâu vì bị phiền não tham-sân-si che lấp do chấp thân tâm này làm ngã. Chính nơi thân chúng ta đã có sẵn con người chân thật, đó là Phật tính sáng suốt nương nơi mắt-tai-mũi-lưỡi-thân-ý. Con người thật của mình không phải do Phật cho hay do một đấng thần linh, thượng đế nào tạo nên. Chính tâm Phật là cái có sẵn nơi chúng ta, một phút giây vắng nó thân này sẽ ngừng hoạt động và chuyển sang đời khác. Ví như gió không có hình tướng cụ thể nhưng thấy lá cây động, thân người mát ta mới cảm nhận có gió, lúc bình thường thì không. Cũng vậy, ngay nơi thân này có tâm Phật sáng suốt nhưng vì vô minh, phiền não che chướng mà chúng ta lãng quên, bây giờ ta chỉ cần thừa nhận mình có sẵn thì một đời an vui, giải thoát. Thực tế hơn nữa khi người tu Thiền chỉ cần khéo biết cách áp dụng vào đời sống hằng ngày, từ khi mở mắt thức dậy, tắm rửa, đi đại, đi tiểu, ăn uống, làm việc, cho đến đi ngủ cũng đều Thiền được cả, không phải cứ vào chùa hay thâm sơn cùng cốc mới tu Thiền. Để thấy rõ tánh cách thực tế của Thiền, chúng ta cùng nghe Lục Tổ nói trong bài tụng “Vô Tướng”:

Phật pháp ở thế gian

Chẳng lìa thế gian giác

Lìa thế kiếm bồ-đề

Giống như tìm sừng thỏ.


Bấy nhiêu đó cũng đủ cho ta thấy rõ tính cách thực tế của sự tu Thiền như thế nào rồi. Đạo và đời luôn gắn liền với nhau, nếu chúng ta muốn giải thoát thì phải tu ngay nơi trần gian này. Lông rùa và sừng thỏ là những vật xem như không có thực, người tu Thiền mà xa lánh thế gian để tìm cầu giải thoát cũng giống như kiếm lông rùa, sừng thỏ. Tu Thiền chính yếu là chuyển hoá tâm phiền não tham-sân-si thành vô lượng trí tuệ từ bi để được giác ngộ, giải thoát. Hoa sen mọc tươi tốt và nở thơm ngát từ bùn nhơ nước đục, nên tu Thiền là ứng dụng ngay nơi cuộc sống trong bốn oai nghi đi-đứng-nằm-ngồi. Điều này chắc chắn ai cũng có thể làm được tuỳ theo khả năng và sự quyết tâm tu tập của mỗi người.

TU THIỀN RẤT HỢP VỚI THUẬT DƯỠNG SINH VÀ RÈN LUYỆN THÂN THỂ

Người tu Thiền biết điều hòa thân thể, điều hòa hơi thở và nội tâm nên ít bệnh hoạn, đau yếu. Về thân thể người tu Thiền ăn uống có tiết độ, ngủ nghỉ có chừng mực, làm việc đúng thời khóa, cấm kỵ những việc trác táng, rượu chè, đam mê sắc dục quá đáng. Về hơi thở người tu Thiền biết điều hòa hơi thở dài và nhẹ. Hơi thở là chủ yếu của sức khỏe, là quyết định của mạng sống. Khi mệt thì thở hổn hển, khi khỏe thì thở nhẹ nhàng. Mạng sống chúng ta còn hay mất là do hơi thở quyết định, thở ra mà không thở vào thì thân này bại hoại, chuyển sang đời khác. Thế mà đa số người đời sống không biết hơi thở mình đang thế nào, dường như họ đã quên mất khi mình thở ra mà không thở vào là mạng sống chấm dứt. Về tâm tư con người cũng vậy, có những lo nghĩ bất thường hoặc tức giận, hoặc sợ sệt, hoặc lo lắng, phiền muộn, khổ đau, tất cả đều là nguyên nhân phát sinh bệnh hoạn. Người tu Thiền khéo buông xả những tâm tư vọng động khiến nội tâm trong sáng, tĩnh lặng nên thân tâm an ổn, nhẹ nhàng. Buông xả mọi tâm niệm xáo động nơi mình thì hành giả được an nhiên, bình tĩnh trước mọi sóng gió cuộc đời. Những khi thân bị gió lạnh xâm nhập chỉ cần ngồi Thiền trong một giờ thì tan hết, bởi lẽ ngồi Thiền thì hơi nóng trong người xông lên nên khí lạnh tan biến. Con người do thân bất an nên sanh bệnh, tâm lo lắng, sợ hãi, phiền muộn nên cũng sanh bệnh. Người tu Thiền khéo điều hòa thân an ổn, tâm yên định nên phù hợp với thuật dưỡng sinh.

Thiền theo lời Phật dạy có hai phương pháp hỗ tương cho nhau là Thiền Chỉ và Thiền Quán. “Chỉ” là trụ tâm vào một chỗ như niệm Phật, niệm Bồ tát, niệm hơi thở. “Quán” là dùng nhận thức để xem xét thân tâm, vạn vật nhằm biết rõ bản chất thật-hư của nó. Thiền Chỉ với mục đích dừng tâm vọng niệm lăng xăng nhờ chú tâm vào một chỗ nên được định. Thiền Quán giúp hành giả phát sinh trí tuệ nên buông bỏ được phiền não tham-sân-si, nhưng nếu quán hoài thì lăng xăng, không an định. Do đó, khi tu Thiền chúng ta phải biết dùng Chỉ và Quán để dung hoà thân tâm. Khi thì ta dùng Chỉ, khi thì ta dùng Quán để điều hoà tâm vọng động. Chỉ nhiều thì được định nhưng không có trí tuệ nên không thể buông xả tâm phải-quấy, đúng-sai, tốt-xấu, do đó cũng không thành tựu đạo pháp. Có trí tuệ nhiều thì tâm lăng xăng, không an định, do đó phải quay về Trung đạo để sống với tâm Phật của mình. Khi hai pháp Chỉ và Quán đã được dung thông thì mỗi hành giả phải xả chúng để không trụ vào bên nào mà thể nhập Phật tính sáng suốt, nương nơi mắt thì thấy biết rõ ràng không lầm lẫn, sự vật như thế nào thấy rõ như thế đó nên thấy chỉ là thấy, thấy tức biết, tai-mũi-lưỡi-thân-ý cũng lại như thế. Thiền theo lời dạy của đức Phật Thích Ca Mâu Ni có thứ lớp từ thấp đến cao, tuỳ theo căn cơ, trình độ của mỗi người mà ứng dụng tu theo nhiều cấp độ khác nhau.

THIỀN ĐẠO PHẬT KHÁC VỚI CÁC LOẠI THIỀN NGOẠI ĐẠO

Để khỏi lầm lẫn ý nghĩa chống đối hay khinh rẻ, chúng ta nên định nghĩa chữ "ngoại đạo" cho rõ ràng. Nhà Phật định nghĩa rất rõ, ngoài tâm cầu Phật là ngoại đạo. Như thế, dù cho người xuất gia theo Phật mà chỉ một bề hướng ngoại cầu mong cũng gọi là ngoại đạo. Bất cứ một pháp tu nào chỉ trông cậy bên ngoài, tìm kiếm bên ngoài đều gọi là ngoại đạo, vì chủ trương nhà Phật người tu phải "minh tâm kiến tánh" mới thành Phật. Tâm tánh đâu phải việc bên ngoài, nếu tìm bên ngoài là trái với tông chỉ nhà Phật nên gọi là ngoại đạo. Chúng tôi liệt kê những lối tu Thiền theo ngoại đạo đang hiện hành ở Việt Nam như Thiền xuất hồn, Thiền chuyển luân xa, Thiền chuyển tinh hóa khí, chuyển khí hóa thần, Thiền thai tức, Thiền điện thiêng liêng, Thiền Du-già… Những lối tu Thiền này không ngoài hai tiêu chuẩn mầu nhiệm và sống lâu. Mầu nhiệm thuộc huyền bí, hấp dẫn những người hiếu kỳ. Sống lâu thuộc thân thể khỏe mạnh, hấp dẫn người thích sống dai. Hai tiêu chuẩn ấy trái hẳn với đạo Phật. Đạo Phật chủ trương tu để mở mang trí Tuệ, thấy được chân lý, không cần sự mầu nhiệm. Có trí tuệ liền thấy tất cả giả tướng ở thế gian đều là vô thường, dù cố dụng công bảo vệ, duy trì cách mấy rốt cuộc cũng hoại diệt. Cái giả mà cố giữ không phải si mê là gì? Thiền đạo Phật thấy tất cả pháp duyên hợp hư giả, thể tánh là không, nhận ra Phật tính sáng suốt ngay nơi thân này nên khác hẳn với pháp Thiền ngoại đạo. Thiền đạo Phật nhằm mục đích giác ngộ, giải thoát và giúp nhiều người cùng được sống bình yên, an vui hạnh phúc nên đi theo con đường Bồ tát đạo, giúp đỡ tha nhân cho đến khi thành Phật viên mãn mới thôi.

THIỀN TRONG SINH HOẠT ĐỜI THƯỜNG

Chúng ta bắt đầu hành Thiền từ khi mở mắt thức dậy cho đến khi đi ngủ, Thiền như vậy mới đạt hiệu quả cao vì liên tục, không bị gián đoạn. Nếu tọa Thiền một mình trong phòng riêng hành giả có thể mặc trang phục rộng rãi, thoáng mát, nếu cùng tu với nhiều người thì nên mặc áo Tràng cho trang nghiêm. Dụng cụ tọa Thiền của mỗi người gồm một bồ đoàn để ngồi với kích thước phù hợp, nếu không có thể lấy mền lót đỡ để dễ dàng ngồi thẳng lưng. Hành giả có thể ngồi Thiền theo tư thế Kiết Già (kiểu hoa sen), Bán Già hay các tư thế khác tùy theo sức khỏe, tuổi tác của mỗi người. Mục đích chính là điều phục cho tâm được an định. Hành giả nên chọn thời điểm và nơi chốn tọa Thiền hằng ngày tùy hoàn cảnh, công việc và sức khỏe sao cho có kết quả tốt nhất, không nên tọa Thiền lúc mới ăn no, ít nhất là trên một tiếng đồng hồ hoặc lúc quá mệt hay buồn ngủ. Người tại gia bắt đầu tọa Thiền lần lượt theo hai bước là điều thân và điều hơi thở để chuẩn bị tốt cho việc điều tâm không chạy tán loạn, lăng xăng khi hành Thiền. Sau đây là chi tiết thực hiện từng bước từ lúc bắt đầu cho tới lúc xả Thiền:

1. Điều thân

Hành giả lần lượt thực hiện các bước sau:

_ Ngồi trên bồ đoàn, xương cùng đặt ngay giữa bồ đoàn, vận động nghiêng người qua hai bên vài lần rồi ngồi theo tư thế thích hợp.

_ Cởi nút áo cổ, nới dây thắt lưng, chỉnh áo quần chỉnh tề, ngay ngắn sao cho thoải mái, trang nghiêm.

_ Thân cúi xuống ngẩng lên 3 lần, lúc đầu mạnh, sau nhẹ dần.

_ Bàn tay phải để trên bàn tay trái hoặc ngược lại, hai bàn tay đan chéo, hai ngón cái chạm nhẹ vào nhau, đặt nằm ngay chiều rốn phía dưới hai ba phân. Hai cánh tay vừa chạm vào hông.

_ Chóp mũi, rốn và hai đầu ngón tay cái nằm trên một mặt phẳng thẳng đứng. Đầu hơi cuối xuống để hai trái tai dóng thẳng xuống vai.

_ Lưng thẳng vừa phải, ngồi một cách tự nhiên, thoải mái. Gương mặt tươi tỉnh, bình thản. Mắt khép hờ độ 2/3 hoặc có thể nhắm hay mở tùy người, tùy lúc; nên mở mắt trong thời gian đầu để điều chỉnh cho thân ngồi ngay ngắn, không bị niễng hai bên.

2. Điều hơi thở

Hành giả thở 3 hơi dài, hít vô bằng mũi, thở ra bằng miệng, trước mạnh, sau nhẹ dần.

3. Bắt đầu hành Thiền

Có 3 bước lần lượt từ thấp lên cao khi bắt đầu hành Thiền:

Mỗi hành giả tuỳ theo sở thích hoàn cảnh mà có thể niệm Phật bổn sư Thích Ca Mâu Ni, phật A Di Đà, hoặc Bồ tát Quán Thế Âm hay các Bồ tát khác hoặc niệm hơi thở. Tuy danh từ và tên có khác vì đây là phương tiện bước đầu, nhưng tất cả đều quy về một chỗ là tu thiền để thành Phật và cứu độ chúng sinh. Ở đây, chúng tôi hướng dẫn thiền Quán Thế Âm Bồ tát để mình được bình yên, hạnh phúc và giúp đỡ mọi người cùng vượt qua biển khổ sông mê ngay nơi cõi đời này cho đến khi nào thành tựu viên mãn mới thôi.

_ Miệng niệm Quán Thế Âm Bồ tát, tai chú tâm lắng nghe từng tiếng một rõ ràng, nhờ vậy không bị thất niệm, do đó dễ dàng định tâm. Hành giả Thiền Chỉ một thời gian, nhờ chú tâm nên lâu ngày dẫn đến nhất niệm, chỉ nghe âm thanh niệm Bồ tát một cách rõ ràng. Hành giả tu đến đây đã được định nên tâm an trú vào câu niệm Bồ tát.

_ Nếu có định mà không có tuệ thì không thể buông xả hết phiền não tham-sân-si và phát tâm giúp đỡ hay san sẻ với mọi người. Do đó, bước thứ hai hành giả phải tu Thiền Quán. “Quán” có nghĩa là xem xét, tìm tòi, soi sáng thân tâm và hoàn cảnh để tìm ra lẽ thật-hư của nó. Trước nhất hành giả quán sát về thân xem có “thật ngã” hay không; sau đó quán sát tâm suy tư, nghĩ tưởng của mình có thật hay không; kế đến là quán sát mọi hiện tượng, sự vật trên thế gian này xem có thật hay không. Khi quán sát như vậy hành giả thấy tất cả đều do nhân duyên hoà hợp mà thành, không có gì là thực thể cố định nên thân tâm, hoàn cảnh đều vô thường hoại diệt, nhờ vậy buông xả hết tâm niệm cố chấp xưa nay khi cho thân tâm này là “thật ngã”. Hai pháp Thiền Chỉ và Thiền Quán phải được hỗ tương lẫn nhau, có khi hành giả dùng Thiền Chỉ để dừng vọng niệm, có khi dùng Thiền Quán để phát sinh trí tuệ thấy biết đúng như thật. Có định mà không có tuệ gọi là “si định”, có tuệ mà không có định thì vọng niệm mãi lăng xăng.

_ Khi hành giả Thiền trong mọi hoàn cảnh và đã định tâm và phát sinh trí tuệ thì sang giai đoạn bảo trì tính giác, nương nơi mắt thì thấy biết rõ ràng không lầm lẫn, thấy chỉ là thấy nhưng không dính mắc vào sự thấy nên tâm thanh tịnh, sáng suốt; giống như chiếc gương lâu ngày bị bụi bám, bây giờ bụi không còn nữa nên chiếc gương tự sáng trở lại. Giai đoạn này hành giả từ từ chuyển hoá tập khí, thói quen nhiều đời còn xót lại cho đến khi nào vọng niệm hết sạch thì gương trong sáng hoàn toàn, không tỳ vết. Tai có tiếng thì nghe có tiếng, không tiếng nghe không tiếng. Tất cả âm thanh lớn nhỏ đều nghe nhưng không bám dính vào một âm thanh nào, nhờ vậy hành giả thành tựu được tánh nghe. Mũi-lưỡi-thân-ý cũng lại như thế. Đến giai đoạn này hành giả không cần trụ tâm vào Chỉ hay Quán nữa mà chỉ cần nhận diện rõ ràng từng vọng niệm của mình, nó như thế nào thì biết như thế đó thì vọng niệm từ tan hoà vào hư không.

4. Xả thiền

Hành giả Xả thiền theo thứ tự ngược với lúc vào Thiền. Đầu tiên là xả tâm, kế đến xả hơi thở, sau cùng là xả thân.

_ Xả tâm: Khi nghe tiếng khánh hay chuông báo xả Thiền, hành giả tâm duyên theo tiếng chuông, khánh biết rõ từ lúc có tiếng đến khi tiếng chấm dứt và đọc thầm bài kệ hồi hướng:

Nguyện đem công đức này,

Hướng về khắp tất cả,

Đệ tử và chúng sinh,

Đều trọn thành Phật đạo.

_ Xả hơi thở: Hành giả thở 3 lần từ nhẹ đến mạnh. Hít vào bằng mũi, tưởng “máu huyết theo hơi thở lưu thông khắp châu thân”. Thở ra bằng miệng, tưởng “bao nhiêu phiền não, cấu uế, bệnh hoạn đều theo hơi thở ra ngoài”.

_ Xả thân: Hành giả làm lần lượt các động tác sau.

+ Chuyển động luân phiên hai bả vai mỗi bên 5 lần.

+ Đầu cúi xuống ngước lên 5 lần, xoay qua trái qua phải 5 lần rồi cúi xuống ngước lên 1 lần nữa.

+ Co duỗi các ngón tay 5 lần và chuyển động thân từ nhẹ đến mạnh 5 lần, lần cuối úp hai bàn tay lên đầu gối rồi ấn mạnh xuống.

+ Chà xát hai bàn tay cho ấm lên rồi xoa mặt, tai, gáy, cổ mỗi nơi 20 lần.

+ Dùng đầu ngón tay cào nhẹ trên đầu từ trước ra sau 5 lần.

+ Bàn tay phải xoa từ vai trái xuống cánh tay, bàn tay trái xoa từ nách xuống hông phải, làm 5 lần rồi đổi tay.

+ Lòng bàn tay phải đặt trước ngực, lưng bàn tay trái đặt nơi lưng, hai tay đồng thời xoa theo chiều ngang ở 3 vị trí, mỗi nơi 5 lần: Thượng tiêu (trước ngực), Trung tiêu (giữa ngực và bụng), Hạ tiêu (bụng dưới).

+ Hai bàn tay chà xát mạnh vùng thận, thắt lưng, mông, dọc hai bên đùi đến đầu gối (vẫn còn xếp bằng theo tư thế lúc đầu), chà xát lâu mau tùy sự đau tê nhiều hay ít. Xoa kỹ những chỗ bị đau nhiều, nếu không lâu ngày sinh bệnh đau nhức.

+ Chà hai bàn tay vào nhau cho nóng lên rồi áp vào mắt 5 lần.

+ Tay nắm các đầu ngón chân, đặt bàn chân xuống tọa cụ. Xoa bóp kỹ hai chân và lòng bàn chân cho đến khi bớt đau tê mới duỗi thẳng hai chân ra.

+ Gập người xuống, hai cánh tay duỗi thẳng sao cho các ngón tay chạm vào đầu ngón chân, gập xuống thẳng lên 3 lần.

+ Cuối cùng, bỏ bồ đoàn ra, tiếp tục xoa bóp kỹ những chỗ còn đau tê.

Thời gian xả Thiền từ 10 đến 15 phút. Nếu nhiều người cùng ngồi với nhau thì sau khi xả Thiền người xong trước vẫn ngồi xếp bằng ngay ngắn để chờ mọi người hoàn tất việc xả Thiền rồi tiếp tục tụng kinh theo nghi thức thống nhất. Nếu một mình thì tuỳ theo hoàn cảnh mà sắp xếp hài hoà để thân tâm được an lạc. Người tại gia ngồi Thiền tối thiểu 15 phút cho đến 2 tiếng, tuỳ theo điều kiện và hoàn cảnh sống của mỗi người mà chúng ta áp dụng hành Thiền cho hài hoà.

TU THIỀN QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT

1. Thiền niệm Quán Thế Âm
Hiện nay một số hành giả tu theo pháp môn niệm Phật để cầu vãng sanh Tây phương Cực Lạc của đức Phật A Di Đà, lấy tín-hạnh-nguyện làm Tông chỉ. “Tín” là tin có cõi Phật A Di Đà ở Tây phương Cực Lạc. “Hạnh” là niệm Phật đến nhất tâm bất loạn. “Nguyện” là nguyện về Tây phương Cực Lạc. Đây là quan điểm của Tông chỉ Tịnh Độ trong bản kinh A Di Đà. Chúng tôi căn cứ theo lời Phật dạy trong Tam tạng Kinh điển thì thấy tất cả đều phải tu Thiền ngay nơi cõi này chứ không phải tìm cầu đâu xa. Thiền của đạo Phật mục đích đạt đến giác ngộ, giải thoát cho chính mình và phát nguyện độ tất cả chúng sinh. Chính đức Phật Thích Ca Mâu Ni do tu Thiền dưới cội Bồ đề mà thực chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Giác. Chúng ta là những người tu theo Phật thì cũng phải tu Thiền, nhưng tu Thiền như thế nào để được lợi ích thật sự? Thiền mà chúng tôi đang hướng dẫn đi thẳng vào đời sống gia đình và xã hội. Thiền ngồi tịnh tâm, Thiền lạy trong sám hối, Thiền đi trong sinh hoạt đời thường, Thiền tỉnh giác trong ăn uống, lúc tắm rửa, đi tiểu, đi đại, lúc lái xe, lúc làm việc, lúc mua bán, giảng dạy, nghiên cứu, gánh nước lặt rau, nấu nướng… và Thiền nằm trong lúc nghỉ ngơi hay trước khi đi ngủ. Vì người cư sĩ tại gia còn nhiều nhân duyên ràng buộc nên chúng tôi hướng dẫn phương tiện tu Thiền niệm Bồ tát Quán Thế Âm, cũng lấy tín-hạnh-nguyện làm Tông chỉ nhưng tín-hạnh-nguyện của người niệm Quán Thế Âm khác với niệm Phật cầu vãng sanh.

“Tín” ở đây có nghĩa tin vào thần lực nhiệm mầu của Bồ tát Quán Thế Âm có đủ khả năng giúp chúng sinh chuyển hóa nỗi khổ, niềm đau thành an vui, hạnh phúc, đạt được kết quả như ý muốn. Mỗi hành giả đều tin chính mình là Bồ tát Quán Thế Âm nhờ tu hạnh lắng nghe, buông xả và biết bố thí chia vui sớt khổ và bố thí không sợ hãi. “Hạnh” có nghĩa là thực hành niệm danh hiệu Bồ tát một cách tinh chuyên, ròng rặc, miên mật, thường xuyên mỗi ngày không lơ là, giải đãi. Chúng ta cung kính, chí thành niệm danh hiệu Bồ tát trong mọi hoàn cảnh, trong bốn oai nghi đi-đứng-nằm-ngồi mà không bị ngoại cảnh chi phối làm thất niệm. Cuộc sống thế gian vốn nhiều đau khổ, bất an, tham lam, thù hận, đố kỵ, tranh chấp, xung đột, sợ hãi và sẵn sàng triệt tiêu lẫn nhau vì quyền lợi riêng tư. Nếu chúng ta không thường xuyên cung kính niệm Bồ tát Quán Thế Âm mà chờ đến khi gặp hoạn nạn mới khẩn cầu van xin thì e rằng không có kết quả như đã nguyện. Lúc này tinh thần không sáng suốt, khủng hoảng, sợ hãi, mất bình tĩnh thì làm sao đủ khả năng cầu sự gia hộ của Bồ tát. “Nguyện” ở đây có nghĩa là chí nguyện độ sinh, cứu vớt chúng sinh tai qua nạn khỏi, vượt thoát khổ đau và luôn đem niềm vui đến với tất cả muôn loài. Bồ tát sau khi thành tựu đạo quả, phát nguyện dấn thân đi vào đời để làm lợi ích chúng sinh, cùng đồng hành, cùng làm việc, cùng đóng góp, cùng gánh vác, cùng sẻ chia, cùng chia vui và cùng sớt khổ với tất cả chúng sinh. Chúng ta phải thường xuyên quán chiếu thế gian lúc nào cũng đầy dẫy khổ đau, bất hạnh như đang sống trong nhà lửa, chịu sự nóng bức của phiền não trong từng phút giây.

Tu và học theo hạnh nguyện của Bồ tát Quán Thế Âm như nhịp cầu nối kết yêu thương, sẻ chia cuộc sống, luôn giúp mọi người sống gần gũi, gắn bó với nhau bằng sự thương yêu và hiểu biết, dấn thân và phục vụ, bao dung và độ lượng, cảm thông và tha thứ, sẻ chia và giúp đỡ, không thấy ai là người thù mà chỉ có người chưa thông cảm với nhau mà thôi. Phương pháp Thiền Quán Thế Âm là miệng niệm, tai lắng nghe khi ngồi, khi đi, khi lạy, khi nằm; tức là hành giả chú tâm vào câu “Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát”, nhờ chú tâm nên không bị các vọng niệm buồn thương, giận ghét, phải quấy, tốt xấu chi phối. Hành giả tu theo pháp niệm Quán Thế Âm Bồ tát trong khi ngồi thì miệng niệm “Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát”, tai lắng nghe rõ ràng từng tiếng một.

2. Thiền trong lúc ngồi

Hành giả mỗi buổi sáng thức dậy lễ Phật xong mới bắt đầu vào Thiền. Ai có bàn thờ Phật tại nhà thì ngồi Thiền ngay đó, ai chưa thờ Phật thì tự sắp xếp chỗ ngồi hợp lý vì Thiền dành chung cho mọi người. Ngồi Thiền có nhiều cách, cách thứ nhất là tư thế ngồi hoa sen Kiết Già, hai chân đang chéo vào nhau, hoặc ngồi tư thế Bán Già hay ngồi cách nào cho thoải mái cũng được. Điều quan trọng là mỗi hành giả điều phục tâm mình sao cho được an định. Trước khi tịnh tâm hành giả ngồi tư thế lưng thẳng, hai bàn tay xỏ hình bánh vế, hai ngón tay cái đâu nhau và để ở giữa bụng, dưới rún; mắt nhìn thẳng về phía trước, ngó xuống điểm trước mắt cách 8 tấc đến 1 thước, 2 mắt mở vừa chừng, không nên nhắm lại để tránh tình trạng bị ngủ gật hoặc ngồi lệch một bên; khi ngồi nên động thân vài lần để máu huyết lưu thông đều rồi sau đó hít vào 3 hơi bằng mũi và thở ra bằng miệng. Bắt đầu vào Thiền hành giả sẽ niệm “Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát” chậm rãi, từ từ, nhẹ nhàng vừa đủ nghe. Miệng niệm, tai lắng nghe, chúng ta nghe từng tiếng niệm Bồ tát rõ ràng. Khi mới bắt đầu tập tu Thiền, hành giả thường bị các vọng niệm thương ghét, vui buồn, phải quấy, tốt xấu, đúng sai chen vào làm thất niệm, mất tập trung. Đây là lẽ đương nhiên, nhưng khi hành giả cố gắng chú tâm vào từng tiếng niệm Bồ tát sẽ dần dần đánh bạt các vọng niệm khác, nhờ khéo nhiếp tâm thuần thục.

Chúng ta nên nhớ, Thiền niệm Quán Thế Âm Bồ tát rất đơn giản, dễ dàng, chỉ cần chúng ta có đủ lòng tin, kiên trì, bền chí, siêng năng, tinh tấn tu hành đều đặn ắt sẽ thành công trong nay mai. Tu Thiền Quán Thế Âm mục đích để cầu giác ngộ, giải thoát cho chính mình và phát nguyện cứu độ chúng sinh bằng trái tim yêu thương và hiểu biết. Phật dạy chúng ta sở dĩ tồn tại trên thế gian này là phải nương nhờ lẫn nhau về mọi phương diện, ai dù tài giỏi đến đâu cũng không thể sống một mình độc lập mà không nhờ vào sự đóng góp của người khác. Vì lẽ đó chúng ta tu theo hạnh nguyện Quán Thế Âm Bồ tát để cùng nhau chia vui, sớt khổ với tấm lòng vô ngã, vị tha bằng tình người trong cuộc sống. Ta khỏi cần cầu đi đâu mà ngay nơi cõi đời này cùng chia vui sớt khổ với mọi người, cùng san sẻ hay nâng đỡ cho nhau để cùng nhau dìu dắt những người còn chìm đắm trong biển khổ sông mê quay về bờ giác ngộ mà sống đời an vui hạnh phúc.

Đức Phật đã dạy nước mắt chúng sinh còn nhiều hơn nước bốn biển vì chúng sinh luân hồi, sống chết từ vô thuỷ kiếp đến nay. Bởi luân hồi vô số kiếp như thế nên chúng ta đã từng làm cha mẹ, anh em, vợ chồng, con cái, họ hàng, bà con quyến thuộc với nhau nên có nghĩa tình sâu nặng trong mối tương giao của cuộc sống. Do đó khi chúng ta tu được bình yên, hạnh phúc phải nguyện giúp đỡ tha nhân và cứu độ tất cả chúng sinh, trong đó có người thân người thương của ta hằng hà vô số. Thiền niệm Quán Thế Âm Bồ tát có ba cấp độ. Thứ nhất là miệng niệm, tai lắng nghe cho đến khi nào thành tựu được nhất niệm, chỉ nhớ nghĩ Bồ tát Quán Thế Âm mà không nhớ vọng niệm khác thì mỗi hành giả chuyển sang pháp thứ hai là miệng niệm, tâm lắng nghe. Đến đây ta không cần phải chú tâm vào câu niệm Bồ tát mà dùng tánh nghe sáng suốt của mình để thể nhập tánh biết nương nơi tai. Bước ba hành giả không còn miệng niệm nữa mà tâm niệm, tâm lắng nghe, hằng thấy nghe, hay biết với tâm thanh tịnh, sáng suốt của chính mình nên thành tựu viên mãn.

3. Thiền trong lúc lễ lạy sám hối

Pháp Thiền lạy này được lợi ích ba yếu tố. Thứ nhất là vừa lạy vừa tập thể dục, rút ngắn được thời gian buổi sáng. Khi lạy như vậy toàn thân năm vóc cung kính lễ, hai tay chắp trước ngực rồi niệm “Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát”; kế đến đưa hai tay lên trán và gập người xuống lạy, hai chân giữ nguyên, chỉ nhón gót lên, hai tay úp xuống, đầu sát đất và sau đó đứng lên theo vị trí cũ mà không cần di chuyển tay chân, giống như chiếc lò xo bật ra và rút lại, cứ như thế thoải mái, nhẹ nhàng miệng niệm Quán Thế Âm Bồ tát, tai chú tâm lắng nghe tiếng niệm của mình rõ ràng từng tiếng một. Mỗi hành giả lạy tối thiểu từ 30 lạy hoặc một vài trăm lạy tùy theo khả năng, sức khoẻ và hoàn cảnh mỗi người. Thiền lạy này có ba công dụng hữu ích, vừa tập thể dục vừa cung kính lạy, miệng niệm tai lắng nghe là thành tựu ba điều kiện. Một là đỡ phải mất thời gian đi tập thể dục vì khi lạy như thế toàn thân năm vóc đứng lên, lạy xuống làm máu huyết lưu thông khắp toàn thân, hành giả khi lạy cảm thấy an ổn, nhẹ nhàng, không mất sức. Hai là khi lễ lạy sẽ xả được tâm chấp trước, cống cao ngã mạn, hành giả nhờ vậy càng tu lại càng khiêm tốn, lễ phép, biết kính trên nhường dưới thương yêu bình đẳng với tất cả mọi người. Ba là khi lạy chỉ nhớ miệng niệm Bồ tát Quán Thế Âm, tai chú tâm lắng nghe nên không bị các tạp niệm khác làm loạn động, hành giả do đó thân khoẻ, tâm an định.

4. Thiền trong lúc đi tới đi lui

Đây là nhu cầu cần thiết hằng ngày, hành giả phải đi đứng qua lại thường xuyên nên khó bề làm chủ bản thân, do đó lúc nào cũng bị nhiều vọng niệm lăng xăng chi phối làm thất niệm. Với Thiền đi hai tay hành giả chắp trước ngực, đi tới đi lui tùy thích, miệng niệm “Quán Thế Âm Bồ tát”, tai chú tâm lắng nghe. Hành giả chỉ một bề miệng niệm, tai lắng nghe, không cần chú ý đến chân đi nhanh hay chậm. Thiền đi này có một công dụng rất hay là khi đi hành giả chắp hai tay trước ngực, lâu ngày trở thành thói quen tốt, khi gặp ai chúng ta sẽ chắp tay xá chào một cách lễ phép, nhờ vậy dễ gây cảm tình và lòng tôn kính với nhiều người.

Ba pháp Thiền ngồi, Thiền lạy, Thiền đi nhất như chỉ miệng niệm, tai chú tâm lắng nghe trong thời gian sáng sớm khoảng một tiếng đồng hồ. Hành giả kết hợp vừa tu, vừa rèn luyện thân thể, vừa tiết kiệm thời gian. Nhờ miệng niệm “Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát”, tai chú tâm lắng nghe nên thân khoẻ, tâm an ổn, nhẹ nhàng trong định tĩnh, sáng suốt.

5. Thiền trong lúc nằm, ngủ nghỉ

Thiền nằm cũng đơn giản, nhẹ nhàng như những pháp Thiền đã nói, cũng miệng niệm, tai chú tâm lắng nghe, không cần niệm lớn tiếng mà chỉ niệm thầm trong miệng nên dễ dàng đi vào giấc ngủ. Hành giả hành Thiền trong lúc nằm để thư giãn, nghỉ ngơi, cũng chỉ nhẹ nhàng niệm thầm, tai lắng nghe, nhờ vậy tâm an ổn, nhẹ nhàng mà không bị các tạp niệm thương ghét, phải quấy làm loạn động.

6. Thiền trong lúc ăn uống

Dù là người mua bán, người đi chợ, người đến công sở thì tất cả đều phải ăn để có sức khoẻ làm việc. Qua pháp Thiền ăn hành giả không cần niệm danh hiệu Bồ tát nữa mà chỉ chú tâm vào việc ăn, ăn ngon biết ngon, ăn dở biết dở, đắng chát, chua cay, ngọt mặn đều biết rõ ràng nhưng không khởi niệm thích thú hay chán ghét. Thường món nào hợp với khẩu vị thì ta thích thú, bám víu vào đó nên mất chánh niệm trong khi ăn. Món nào dở thì ta ngao ngán không muốn ăn, do đó không làm chủ tâm mình trong lúc ăn. Chúng ta nên nhớ “ăn để mà sống, chớ không phải sống để mà ăn”. Khi hiểu được như vậy ta sẽ ý thức, làm chủ trong việc ăn uống. Đa số phụ nữ trong thời hiện đại bị bệnh béo phì quá nhiều làm mất vẻ đẹp duyên dáng của phái đẹp. Khi mập quá thì uống thuốc giảm cân, tập đủ thứ phương pháp thể dục thẩm mỹ mà không chịu kiêng cử trong ăn uống, như vậy vừa làm hao tiền tốn của, mất nhiều thời gian mà không có hiệu quả. Người thông hiểu pháp Thiền ăn uống sẽ biết cách quân bình cơ thể, ví dụ chiều cao 1m60 thì trọng lượng cho phép là 55 kg. Ta căn cứ theo đó mà điều hoà, nếu mập quá là 57 kg, ốm quá là 53 kg, làm được vậy sẽ có một thân hình cân đối, thon thả, duyên dáng và nhẹ nhàng. Bệnh hoạn cũng từ ăn uống mà ra, ăn quá nhiều cũng sinh bệnh, ăn quá ít cũng không đủ sức khoẻ để làm việc và tu hành, người biết tu sẽ ý thức điều hoà trong mọi phương diện.

Ăn và uống là hai nhu cầu cần thiết của một con người, ăn uống để có sức khoẻ mà làm việc phục vụ gia đình và xã hội. Nhiều người không hiểu do chấp thân làm ngã là tôi, là ta, là mình, nên khi ăn phải cao lương mỹ vị, do đó giết hại vô số các loài vật để bồi bổ thân này. Mục đích của chúng ta ăn để mà sống chứ không phải sống để mà ăn, chính vì thiếu hiểu biết nên ta nỡ nhẫn tâm ăn trên sự đau khổ của các con vật. Mỗi hành giả tu Thiền phải nên tiết chế trong việc ăn uống của mình, không nên vì mình mà làm tổn thương các loài vật khác. Khi uống cũng vậy, mục đích uống để cơ thể đỡ khát, lúc làm việc đổ nhiều mồ hôi ta uống nước để cơ thể quân bình trở lại. Người nam có thói quen uống rượu bia, rượu Tây, rượu Tàu nên đưa vào cơ thể quá nhiều chất độc hại, vừa hao tiền tốn của, vừa say sưa, vừa làm thần kinh mê mờ. Có phước mới được hưởng lộc, nhưng ăn thịt cá, các loài hải sản tươi sống và uống rượu bia quá đà thì tâm từ bi thương người cứu vật sẽ không có được với những hạng người này.

Tất cả chúng ta vì bị vô minh che lấp nên khi có mặt trên thế gian này đều không có nhận thức sáng suốt, do đó thường lo cho phần ngọn nhiều hơn phần gốc. Vậy cái gì là phần ngọn, cái gì là phần gốc? Có những việc cần thiết mà chúng ta không lo, chỉ cố tâm lo phần không quan trọng mà lãng quên phần lợi ích lâu dài là tài sản quý giá của chính mình. Trong cuộc sống chúng ta có ba việc quan trọng như ăn, uống, thở, thường thì chúng ta lo việc nào nhiều nhất? Đa số mọi người trên thế gian này lo ăn với uống là chính. Tối ngày làm lụng vất vả chỉ để lo ăn nên tham đắm, dính mắc vào đó. Ăn thì phải món ngon vật lạ hoặc cao lương mỹ vị, nên làm vua thì bắt người khác phải cung phụng đầy đủ dù ở tận rừng sâu hay dưới biển cả mênh mông, trong khi xét kỹ ta nhịn ăn trên 60 ngày mới chết. Kế đó là uống, người có hiểu biết chỉ cần dùng nước tinh khiết hoặc nước đun sôi để nguội, nhưng vì không hiểu biết nên ta cứ đưa các thứ nước ngọt, rượu bia vào, nhất là cánh đàn ông, trong khi nhịn uống phải trên 10 ngày mới chết. Vấn đề thở là điều quan trọng nhất trong cuộc sống, nhưng ít ai nghĩ đến mình nhịn thở bao lâu mới chết. Trong tích tắc thở ra mà không thở vào là chết ngay. Vậy mà người đời lại quan trọng việc ăn với uống, còn thở ra sao không cần biết. Rõ ràng, việc tối quan trọng chúng ta lại lơ là, việc không chính đáng thì ta nỗ lực, làm việc nhọc nhằn, vất vả để thoả mãn bản thân. Như vậy hằng ngày ta chỉ lo việc bồi bổ thân này mà quên đi làm thế nào để được phước đức lâu dài, quên đi tài sản quý giá không bao giờ bị mai một.

Cuộc sống của chúng ta trong thời đại hiện nay có quá nhiều thứ bệnh thuộc bộ máy tiêu hóa và hô hấp phát sinh từ sự ăn uống, hít thở không đúng đắn. Một số người ít hoạt động tay chân nên phát sinh rất nhiều bệnh tật. Chính vì thế, muốn thân khỏe mạnh, tâm an ổn nhẹ nhàng, chúng ta cần phải biết điều hòa trong ăn uống, hít thở đúng cách và vận động thân thể nhiều bằng cách lạy Phật, Bồ tát, vừa sám hối nghiệp tập nhiều đời, vừa rèn luyện sức khoẻ để khí huyết lưu thông đều đặn toàn thân. Theo sự hiểu biết của chúng tôi, cơ thể mỗi người có nhu cầu tiêu thụ thức ăn uống khác nhau nên cần tổ chức cho đại chúng ăn theo cách tự chọn hoặc ăn kiêng. Người bình thường ít bệnh thì ăn theo tiêu chuẩn chung. Người có thân bệnh nhiều cần phải ăn kiêng theo sức khoẻ của mình, vừa hợp vệ sinh, vừa hợp khẩu vị mà lại không tốn kém.

Nói về thức ăn, Phật dạy chúng ta rất kỹ lưỡng. Theo Ngài, người xuất gia hay tại gia có bốn món ăn là Đoàn thực, Xúc thực, Tư niệm thực và Thức thực. Đoàn thực là thức ăn vật chất được ăn bằng miệng để nuôi cơ thể sống còn mà tu hành. Đối với thức ăn vật chất, Đức Phật dạy không nên ăn nhiều, chỉ ăn vừa đủ giúp cơ thể khỏe mạnh, không nên ăn những gì không thích hợp với cơ thể. Đó là cách ăn của chư vị Tổ sư đã thể nghiệm nên đưa ra pháp tu tương ứng nhằm duy trì mạng sống chúng Tăng được khỏe mạnh. Cách thức ăn uống của người Việt tương đối lành mạnh, nhưng chế độ ăn uống thường mang tính cách thói quen, ngon miệng, hợp khẩu vị mà có thể thiếu các chất bổ dưỡng cần thiết hoặc dư chất bổ dưỡng. Đại đa số chúng ta không ý thức được tầm quan trọng của nước đối với cơ thể con người nên thường uống quá ít nước, hoặc có uống thì dùng các chất khác như các loại nước ngọt hay rượu bia. Cách tốt nhất là uống nước mỗi ngày từ 2 lít đến 2,5 lít bằng nước đun sôi để nguội. Thân thể thiếu nước nên sinh ra nhiều bệnh tật như táo bón, nhức đầu, trĩ, sạn thận, thận suy, áp huyết cao, viêm gan siêu vi B và bụng hay sình chướng, khó tiêu… Từ đó chúng ta dễ trở nên giận dỗi, cáu gắt, hay nóng nảy, khó chịu, khiến cho không khí gia đình trở nên căng thẳng, mất tươi vui, hạnh phúc. Lượng nước trong cơ thể chiếm 70% dưới mọi hình thái của nó, do đó các tế bào và mọi bộ phận trong thân thể cần có lượng nước nhất định. Ngoài việc tắm rửa hằng ngày để da dẻ sạch sẽ, mịn màng, chúng ta ta cần uống lượng nước cần thiết để điều hoà thân thể khoẻ mạnh. Muốn tránh các thứ bệnh nói trên chúng ta cần phải uống nhiều nước, chừng hai ba ly ngay sau khi ngủ dậy mỗi sáng và trước khi đi ngủ buổi tối để giúp bộ máy tiêu hóa và tuần hoàn hoạt động tốt, dễ dàng lọc máu và thải mọi cặn bã ra ngoài.

Người cư sĩ tại gia nên ăn nhiều rau và trái cây, ăn ít thịt, nhiều cá, nhưng phải biết chọn lựa loại nào ít nhiễm độc. Một số lớn các bệnh tật phát xuất từ việc ăn uống không điều độ hay không biết chọn lựa thức ăn. Giảm bớt chất béo trong máu sẽ tránh được bệnh tim, huyết áp cao và ung thư gan. Để quân bình trong cuộc sống ăn uống hằng ngày, cơ thể chúng ta cần có đủ chất bổ đến từ thịt, cá và chất xơ trong các thứ rau, đậu và trái cây. Chất xơ giúp tiêu hóa dễ dàng và loại bỏ các thứ mỡ không cần thiết cho cơ thể. Nói chung, thức ăn kho và luộc tốt hơn là chiên, xào, nướng. Ngoài ra chúng ta nên để ý cách dùng các gia vị âm dương trong nghệ thuật nấu nướng và ăn uống của người Việt Nam. Theo đó, các loại thịt cá thuộc loại âm thường được nấu nướng hay ăn với các thứ gia vị và rau thuộc loại dương, và ngược lại. Rất nhiều bệnh tật phát xuất từ tình trạng máu huyết lưu thông không đều đặn, do ít hoạt động chân tay nên không chuyển tới các cơ phận mọi chất liệu cần thiết, nhất là hồng huyết cầu và dưỡng khí. Do đó, một trong những cách phòng bệnh hữu hiệu nhất là hay siêng năng hoạt động chân tay, uốn éo thân mình, tập thể dục, đi bộ, bơi lội, làm vườn, lau dọn nhà cửa và lạy Phật, Bồ tát mỗi ngày.

Một hôm, Phật hỏi các vị Tỳ kheo: “mạng người sống trong bao lâu”? Một thầy trả lời: “mạng người sống chừng 80 năm”. Phật hỏi vị khác, thầy đó trả lời:” mạng người sống trong bữa ăn”. Hai vị thầy trả lời Phật đều không chấp chận. Ngài hỏi tiếp vị thứ ba và vị này trả lời “mạng người sống trong hơi thở”. Phật nói, “đúng thế, đời người chỉ dài bằng một hơi thở”, bởi thở vào mà không thở ra thì xem như mất mạng. Ta có thể quên ăn một hai chục ngày vẫn được mà không chết, chính chúng tôi những năm nhiều bệnh phải nhịn ăn mỗi lần ba bốn tuần, hai ba lần như vậy mỗi ngày chỉ uống nửa lít nước đun sôi để nguội. Vấn đề nhịn uống cũng phải trên 10 ngày mới chết, bằng chứng là có một thầy nhịn ăn uống hai tuần chỉ mất sức đi không nỗi, sau ăn uống lại thầy vẫn lao động, làm việc nặng nhọc mà chẳng áp phê gì; nhưng thở ra mà không thở vô là chết ngay liền tức khắc. Chúng tôi có đứa em gái kế thầy Nhật Từ làm việc bên uỷ ban nhân dân Quận Thủ Đức, đang đứng nói chuyện trước mặt nhiều người thì bỗng nhiên nói nhức đầu rồi ngã lăn ra chết. Vì sao? Vì không còn thở nữa! Thở là một nghệ thuật sống nhưng ít ai quan tâm đến, suốt ngày này đến tháng kia, năm nọ chỉ lo ăn với uống mà quên đi hơi thở của mình. Ngày xưa đức Phật đa số dạy các tỳ kheo quán hơi thở, thở vô mình biết thở vô, thở ra mình biết thở ra, đến khi thuần thục không cần theo dõi hơi thở nữa mà chỉ nhìn hơi thở vô ra dài sâu, nhờ vậy tâm an định và trí tuệ phát sinh. Khi tâm an định, rỗng rang, bớt đi tạp niệm thì trí nhớ phát triển, tuệ giác tâm linh khai mở, nhờ vậy ta nhận biết cuộc sống vô thường, mạng sống vô thường và muôn loài vật cũng lại như thế. Mạng sống chúng ta ngắn như một hơi thở, nhờ thường xuyên quán sát như thế ta sẽ thấy biết đúng như thật nên dễ dàng buông xả phiền não tham-sân-si mà tự tại, giải thoát.

Là người Phật tử chân chính chúng ta phải biết chọn lựa những thức ăn và thức uống không làm ảnh hưởng xấu đến cơ thể. Người xuất gia nhưng lại thích ăn đồ giả mặn, loại thức ăn này rất có hại và lại mắc hơn những loại rau cải, nếu tiêu thụ thường xuyên e rằng dễ bị nhiễm mặn và nhiễm độc. Ăn chay trong thời buổi này phải cao thượng và có ý thức, như vậy sẽ ít bệnh. Trước khi ăn những món hiền lành và bổ dưỡng ta cũng nên nói, "chỉ xin ăn những thức ăn có tác dụng nuôi dưỡng và ngăn ngừa tật bệnh". Đó là ta biết áp dụng chánh niệm trong khi ăn và khi nấu ăn. Đời sống tu hành thức ăn uống là do đàn na tín thí đóng góp, ủng hộ. Thiền Viện Thường Chiếu có trên 300 thầy, Phật tử gần xa đóng góp, ủng hộ mỗi lần ăn có trên 400 suất, vì phải nấu bằng cái chảo lớn nên rất khó bảo đảm an toàn sức khoẻ, có khi rau cải quá nhiều ăn không kịp nên tiêu thụ rất dễ bệnh. Thời đại ngày nay nấu nướng số lượng quá lớn cũng khó đảm bảo an toàn thực phẩm, do đó mọi người phải tự ý thức trong ăn uống. Ăn kiêng, ăn những thứ cần thiết cho cơ thể là cách ăn tốt nhất.

Ngoài những thức ăn vật chất để nuôi thân tồn tại, thức ăn tinh thần mới thực sự quan trọng đối với mọi người trên thế gian này. Xúc thực, Tư niệm thực và Thức thực được coi là ba món ăn tinh thần của người xuất gia hay tại gia. Xúc thực là sự tiếp xúc hàng ngày với cuộc đời bằng mắt-tai-mũi-lưỡi-thân-ý. Nếu sống trong tu viện thì mỗi ngày đọc kinh, sám hối, ngồi Thiền, được gần gũi các bậc tu hành kiểu mẫu, trông thấy đức hạnh của họ sẽ giúp chúng ta sống tốt theo. Thật vậy, thức ăn nuôi dưỡng tinh thần chúng ta là Thiền ăn và Pháp hỷ thực. Mỗi ngày trước khi ăn đại chúng luôn nhắc nhở nhau “Thiền duyệt vi thực, Pháp hỷ sung mãn”. Vì vậy, bằng mọi cách phải làm cho Thiền và Pháp trở thành món ăn tinh thần thực sự của chúng ta. Người tu mà không thích ăn cơm Thiền, uống nước Pháp thì không thể sống đời tu hành viên mãn.

Ăn không có chánh niệm và ý thức cũng giống như hai vợ chồng và đứa con đi qua sa mạc mà hết lương thực đem theo, không còn cách nào khác họ phải ăn thịt đứa con để đủ sức đi ra khỏi sa mạc, nếu không làm vậy thì cả ba đều chết. Khi ăn như thế hai vợ chồng đó rất đau khổ nhưng không còn cách nào khác hơn. Khi ăn thiếu ý thức ta sẽ tạo nỗi khổ, niềm đau cho các loài vật khác và chính bản thân mình sẽ gánh lấy hậu quả khổ đau. Khi hút thuốc, uống rượu, ăn nhiều đồ nướng, chiên xào là đang huỷ hoại từng làn da, thớ thịt của mình. Ta đang ăn thịt của chính ta từ từ vì thuốc làm hại phổi, rượu làm hại gan, đồ béo làm cao huyết áp, đột quỵ và ung thư. Thành ra ta ăn như thế nào để đừng tạo ra nỗi khổ, niềm đau cho các loài vật và ăn trên sự khổ đau của kẻ khác, tức là ta ăn trong vội vã, vật vờ và si mê. Vì vậy, mỗi khi ăn thịt, ăn cá ta hãy ý thức có thể mình đang ăn thịt cha mẹ hay con cái vì luân hồi sống chết qua lại vô số kiếp. Do đó chúng ta phải tập ăn chay và tập không sát sinh hại vật để mở rộng tấm lòng từ bi, thương xót tất cả chúng sinh.

Loại thức ăn thứ hai là Xúc thực. Chúng ta có sáu căn là mắt-tai-mũi-lưỡi-thân-ý, khi chúng tiếp xúc với sắc-thanh-hương-vị-xúc-pháp ta phải thấy việc tiếp xúc đó có đem chất độc vào người hay không, chất độc này sẽ làm tâm ta bị ô nhiễm; như khi ta xem truyền hình, mắt ta tiếp xúc với hình sắc, tai nghe âm thanh đủ mọi sắc thái. Chúng ta phải thực tập chánh kiến trong khi xem truyền hình, phải biết lựa chọn kênh giải trí có đạo đức, nhân cách sống, hoặc y học đời sống. Chúng ta không nên đưa những phim ảnh có độc tố như giết hại, sợ hãi, căm thù và bạo động vào đầu; nên xem những bộ phim mang lại cho mình sự hiểu biết, lòng từ bi, sự san sẻ hay nâng đỡ, vượt lên chính mình, quyết tâm không làm những điều lầm lỗi. Nhiều người tối ngày chỉ xem phim bạo lực, chiến tranh, tình cảm uỷ mị mà không biết chọn lựa những đề tài lợi ích. Chúng ta phải biết có những chương trình chứa đựng rất nhiều độc tố có tác hại lớn như bạo động, căm thù và kích thích dục vọng. Những dịch dụ quảng cáo ngày nay cũng kích thích lòng tham lam và sự thèm khát dục vọng. Khi đọc một cuốn tiểu thuyết chúng ta có thể tiếp nhận rất nhiều độc tố làm cho mình càng thêm dính mắc và tham muốn. Đọc xong ta có thể mơ mộng ảo huyền một khung trời mới xa xôi, sẽ chán nản, lo lắng, thèm khát làm mệt cả thân tâm. Nếu mỗi ngày ta không tỉnh giác thì những câu chuyện đời thường cũng có thể mang lại cho mình nhiều độc tố. Mỗi ngày từ khi mở mắt thức dậy cho đến khi đi ngủ ta đều thấy-nghe và tiếp xúc với mọi việc, nếu khi tiếp xúc ta thấy thân khoẻ, tâm an ổn, nhẹ nhàng thì phải quyết gìn giữ chúng. Những thứ làm ta mệt, buồn phiền, lo lắng và giận dữ thì phải tránh để không tiếp xúc nhiều. Năm Giới là cội nguồn của an vui, hạnh phúc khi chúng ta đã lãnh thọ và hành trì, Giới là những bộ da vững chắc bao bọc lấy thân thể và tâm định tĩnh, sáng suốt của ta. Người không gìn giữ năm giới sẽ đánh mất lòng nhân ái vì đã đưa quá nhiều độc tố như giết hại, căm thù, bạo động, sợ hãi và làm tổn thương cho người và vật.

Loại thức ăn thứ ba là Tư niệm thực. Đó là những ước mơ, hoài bão ta đang khao khát, mong muốn được thực hiện trong tương lai. Ta muốn được làm thủ tướng hay bộ trưởng, hay chí ít cũng làm giám đốc, đậu bằng tiến sĩ để đem những hiểu biết ứng dụng vào đời, những mong muốn như thế thấm vào người ta giống như một loại thức ăn. Mong muốn chính là một loại thực phẩm làm cho con người không ngừng phấn đấu và rèn luyện. Ước muốn mạnh mẽ sẽ giúp ta có thêm năng lực để thực hiện những hoài bão, nhưng có những ước muốn sẽ làm ta bất hạnh, khổ đau suốt cuộc đời vì tham lam, dính mắc như quyền cao chức trọng, nhiều tiền bạc của cải, tài năng xuất chúng hay sắc đẹp hơn người. Muốn được mạnh khỏe và an vui, hạnh phúc để làm tròn trách nhiệm, bổn phận với gia đình, đóng góp cho xã hội; hay ước muốn trở thành bậc giác ngộ mà cứu độ tất cả chúng sinh là loại thức ăn Tư niệm thực chúng ta cần phải có. Thiền viện thiếu món ăn tinh thần thì chúng đói, còn tìm thức ăn không tốt sẽ bị nhiễm độc, bị nhiễm độc thực phẩm thì chết thân mạng, bị nhiễm độc tinh thần thì chết Giới thân Huệ mạng, dù còn trong đạo nhưng không dùng được việc có ích cho mọi người. Trên thực tế, các Thiền viện sinh hoạt tốt đẹp nhờ các vị lãnh đạo đều sống phạm hạnh thanh tịnh, do đó đại chúng nương theo mới thăng hoa đạo đức tâm linh. Nếu hàng ngày ta thường tiếp xúc với người phải trái, đúng sai, được mất, hơn thua, buồn thương, giận ghét, tiếp xúc với trần cảnh do thấy-nghe trong phân biệt, dính mắc thì ý thức bắt đầu suy nghĩ theo đường danh lợi, bị sự cúng kính làm mờ mắt, dẫn đến hư hỏng một đời tu.

Khi tu hành ta phải nên nhận rõ tầm quan trọng của Xúc thực, không cho sáu căn tiếp xúc với sáu trần để không bị chúng làm ô nhiễm và không lưu giữ điều xấu vào kho tâm thức. Chúng ta tu là biết chọn con đường tốt đẹp, không đi con đường xấu xa. Con đường hiền thánh không mở ra thì con đường tội lỗi sẽ làm ta mờ mắt mà quên cả lối đi của bậc hiền thánh Tăng và chư Phật. Dòng nước chảy xuôi thường gây ra lũ lụt, ngập úng nên người ta phải ngăn nó bằng cách mở đập cho nước chảy vào để chuyển thành dòng điện mang lại lợi ích cho nhân loại. Dòng đời cũng thế, vì đa số không biết giữ năm Giới của nhà Phật nên ba đường dưới địa ngục, quỷ đói, súc sinh rộng mở và đang chờ đón những người thiếu hiểu biết không tin sâu nhân quả. Suy nghĩ của con người lúc nào cũng như dòng nước chảy khó thể ngăn được nên ta chỉ tiếp xúc với những gì tốt đẹp, lợi ích và cao quý, nhưng phải thích hợp với trình độ và nghiệp lực của mình. Thiền là sự sống của con người, ta biết Thiền trong mọi hoàn cảnh thì an ổn, nhẹ nhàng, trí tuệ phát sinh. Chính vì vậy, khi đọc Kinh, sám hối hay tham Thiền, chúng ta cảm nhận niềm vui nên dần hồi buông xả được phiền não, tham-sân-si từ từ nhẹ bớt, không còn nặng như ngày xưa. Xúc thực là sự tiếp xúc hàng ngày giữa ta và cuộc đời, nếu chúng ta huân tập đầy đủ Phật pháp thì tất cả nhiễm ô thế gian sẽ được tiêu hóa dần hồi theo thời gian, từ kiến thức chuyển thành trí tuệ nhờ biết cách buông xả.

Loại thức ăn thứ tư gọi là Thức thực. Thân thể chúng ta được hình thành ngày hôm nay đẹp hay xấu là do tác động của ý thức, trong đó gồm có Chánh báo và Y báo. Chánh báo là thân thể này gồm có thân và tâm. Y báo thuộc hoàn cảnh chung quanh ta đang sống. Vì thói quen được huân tập lâu ngày từ nhiều kiếp xưa nên bây giờ ta có Chánh báo và Y báo. Chánh báo và Y báo đều là sự biểu hiện của tâm thức được hình thành qua nền tảng nhân quả. Loại thức ăn thứ tư này rất quan trọng vì nó là phần tinh thần. Tâm tư sáng suốt, hành động lương thiện sẽ giúp chúng ta tiếp nhận các món ăn trong sáng, từ bi và trí tuệ. Nếu trong quá khứ tâm thức đã tiếp nhận thức ăn độc hại quá nhiều thì ngày nay tâm thức ta biểu hiện ra Chánh báo, Y báo không lành mạnh mà còn tối tăm, mờ mịt. Những gì ta suy tư trong thấy-nghe-ngửi-nếm và tưởng tượng là những thứ được cất gữ trong kho chứa tâm thức. Nếu kho tâm thức này chứa vô minh, tham lam, ích kỷ, oán giận, thù hằn và phiền muộn, khổ đau thì khi đủ duyên chúng sẽ phát sinh. Chính vì vậy, chúng ta phải biết phân loại những thức ăn đưa vào kho tâm thức, phải nên đưa từ-bi-hỷ-xả, lòng bao dung độ lượng, giúp đỡ và sẻ chia, yêu thương và hiểu biết bằng tình người trong cuộc sống để nuôi dưỡng tâm thức mỗi ngày. Đức Phật đã dùng phương tiện hình ảnh một người tử tù đang bị vua hành hình để nói về Thức thực. Buổi sáng vua ra lệnh lấy 300 cây kim đâm vào thân thể người tử tội, đến chiều tối vua hỏi, “kẻ tử tù đó bây giờ ra sao?” Viên cai ngục trả lời, “tâu bệ hạ, nó vẫn còn sống nhưng rên la thê thảm lắm!” Phật dùng ví dụ này để nhắc nhở chúng ta đừng nên hành hạ tâm thức của mình y như thế, đừng đâm 300 mũi kim của độc tố tham lam, giận dữ, si mê, ganh ghét, tật đố, hận thù, bạo động và sợ hãi vào kho tâm thức của chúng ta mỗi ngày.

Bốn thí dụ trên được ghi lại trong Kinh Tử Nhục. Tử Nhục là thịt của đứa con. Hai vợ chồng và đứa con cùng đi qua sa mạc nhưng nửa đường hết thức ăn, nếu không có cả ba đều chịu chết, cuối cùng hai người đành phải giết con để ăn mà vượt khỏi sa mạc. Bốn ví dụ nghe rất khiếp đảm và ghê sợ, mục đích chính nhằm răn bảo chúng ta phải sáng suốt gìn giữ thân-miệng-ý để đừng làm tổn hại cho mình và người. Ăn uống là nhu cầu chính yếu hằng ngày, khi ăn ta phải tỉnh giác biết rõ thức ăn nào không làm tổn hại thân tâm, trong khi ăn phải biết mình đang ăn, thức ăn ngon hay dở đều biết rõ; mặn, lạt, chua, cay ta đều biết nhưng không để tâm bị lôi kéo về quá khứ hay mơ mộng đến tương lai, hoặc quá lo lắng mà đánh mất mình trong hiện tại. Trước khi ăn mọi người nên quán tưởng như sau: Cơm ngày ba bữa thường nhớ công khó nhọc của kẻ nông phu. Thân mặc ba y hằng xét nghĩ sự nhọc nhằn của người may dệt. Thuốc thang giường chõng bởi do sự nhín ăn bớt mặc của tín thí khắp nơi. Học đạo tiến tu nhờ lòng từ dạy răn của thầy Tổ. Nguyện cho thí chủ và tất cả chúng sinh phước huệ song tu, nhân tròn quả giác, kẻ mất người còn đều trọn thành Phật đạo. Trước khi ăn ta quán tưởng như thế để tâm hằng nhớ ghi huân vào kho tâm thức, do đó khi đưa thức ăn vào miệng ta nhìn thấy rõ thức ăn ấy với con mắt tỉnh giác, ta ăn để mà sống, ăn vì thành tựu đạo nghiệp chứ không phải sống để mà ăn. Khi ăn ta nhìn miếng đậu hũ như một dược liệu thuốc thang để chữa bệnh đói khát, nhờ vậy ta thấy rau cải, nước tương là đại sứ của đất trời đến với ta để nuôi dưỡng thân này. Lòng ta tràn đầy niềm biết ơn và hoan hỷ, vui vẻ với những người đã gieo mầm sống để chúng ta dưỡng thân mà tu tập. Khi nhai ta nhai trong ý thức, ta biết rằng mình đang tiếp xúc với những chất liệu trong sáng, lành mạnh. Thường khi ăn nếu không tỉnh giác ta sẽ nhai những buồn thương, giận ghét, phải quấy, tốt xấu, hơn thua và lo lắng. Vô tình ta đang nhai quá khứ và tương lai mà đánh mất mình trong hiện tại. Ta nhai đều đặn thức ăn rau cải được trộn chung với cơm sẽ trở thành chất loãng, nhờ vậy rất dễ tiêu và bổ dưỡng, không bị bón kiết. Như thế ta không cần phải ăn quá nhiều mà dinh dưỡng vẫn đầy đủ để nuôi dưỡng thân khỏe, tâm an.

Dưỡng khí là cái tối cần thiết cho cơ thể con người, nếu thở ra mà không thở vào coi như mạng sống chấm dứt. Không ăn uống con người có thể sống được vài tuần, nếu thiếu dưỡng khí chỉ trong 5 phút con người sẽ chết ngay. Dưỡng khí rất cần thiết cho nhu cầu cuộc sống con người nhưng chúng ta thường ít lưu ý đến, và cũng không biết cách hít thở để có lượng dưỡng khí đầy đủ giúp cơ thể khoẻ khoắn, lành mạnh. Chính vì thế, trong đạo Phật nguyên thuỷ Phật dạy Pháp quán hơi thở là một trong những Pháp đầu tiên để chúng ta tu. Đó là ý thức trở lại sự cần thiết của dưỡng khí đối với sức khỏe trong thân thể con người. Tập hít thở đúng đắn là hít thở dài và sâu, hít vô thở ra đều bằng mũi. Đây là lý do giải thích nguyên nhân của nhiều thứ bệnh bởi lượng dưỡng khí cần thiết cho não bộ, phổi và các cơ phận khác quá ít. Tình trạng thiếu dưỡng khí lâu ngày khiến cho các cơ phận suy yếu, hoạt động không bình thường và dễ lâm bệnh. Thiếu dưỡng khí là một trong những nguyên nhân gây ra nhiều tật bệnh, trong đó có bệnh nhức đầu và mệt mỏi. Bản thân chúng tôi là một bằng chứng thiết thực, khi mới vào Thiền Viện chúng tôi chỉ chú trọng tu tâm chớ không quan trọng tu thân, do đó bị rất nhiều bệnh. Trong vài năm gần đây tôi mới nhận ra sai lầm đó và áp dụng quán hơi thở trong đi-đứng-nằm-ngồi nên sức khoẻ ngày càng được tốt hơn.

7. Thiền trong lúc lái xe làm việc hoạt động hằng ngày

Khi lái xe ta dùng tâm biết của mình để điều hành. Mắt nhìn về phía trước để quan sát sự vật, liếc bên phải, bên trái để thấy các phương tiện khác. Tay lái xe, chân đạp thắng, vô ga, giảm ga. Tai lắng nghe tiếng kèn xin đường của xe khác để biết mà nhường đường. Trước khi lái xe chúng ta phải tâm niệm mình đang chở biết bao sinh mạng trên xe, do đó phải bảo đảm nguyên tắc trước khi lái xe không được uống rượu bia, một người tài xế không được chạy quá 8 tiếng đồng hồ liên tục mà phải đổi ca mới đảm bảo an toàn cho hành khách. Thường thì tai nạn xảy ra do tài xế quá mệt mỏi nên ngủ gật, uống rượu bia hoặc nhớ nghĩ lung tung nên không chú tâm trong khi lái.

Thiền trong lúc làm việc cũng thế, ta làm việc nào chỉ biết việc đó, chỉ chú tâm vào việc đang làm. Từ anh giám đốc cho đến công nhân viên, tất cả đều phải chú tâm vào công việc của mình. Giám đốc sau khi phân công, điều hành xong thì làm nhiệm vụ giám sát, theo dõi, nhờ vậy kịp thời giải quyết những khó khăn, bất trắc. Anh kế toán chú tâm vào việc đánh máy nên tính toán chính xác, không sai con số. Chị lao công chú tâm vào công việc sẽ nhìn thấy rõ chỗ nào dơ sạch mà lau chùi, quét dọn kỹ càng. Anh bảo vệ chú tâm quán sát người ra vào cơ quan nên biết rõ từng người một quan hệ, giao dịch gì để kiểm soát và bảo vệ tài sản chung. Tất cả mọi phòng ban ngành đoàn thể cứ như thế mỗi người đều có trách nhiệm riêng, chúng ta chỉ chú tâm vào công việc được giao để hoàn thành tốt nhiệm vụ, nhờ vậy năng suất lao động được nâng cao và công việc được hoàn thành trước thời hạn.

Phương pháp Thiền trong công việc cũng là một loại Thiền chỉ giúp mọi người ý thức được trách nhiệm của mình, nhờ chú tâm quan sát rõ ràng mà làm việc ít thấy mệt mỏi và không bị thời gian chi phối. Trong khi làm việc ta không biết tập trung sẽ lãng phí thời gian, làm thiệt hại cho cơ quan vì đi trễ về sớm mà khi làm việc lại trông mau hết giờ để về nhà. Chúng ta làm việc như vậy sẽ tập cho mình thói quen làm biếng, xén bớt giờ công mà suy nghĩ vớ vẩn, lung tung nên hiệu suất làm việc kém chất lượng. Thiền khi làm việc sẽ giúp ta dễ dàng kiểm soát tâm rong rủi chạy tìm giống như con vượn chuyền cành, nhờ chú tâm ta làm tốt công việc được giao, hằng ngày điều phục được tâm ý bất chánh như trộm cắp, lường gạt của người.

8. Thiền trong lúc mua bán, làm ruộng trồng hoa màu, nghiên cứu, phát minh, giảng dạy

Người mua bán ngoài chợ cũng phải Thiền, phải ăn nói nhỏ nhẹ, ôn tồn. Khi khách đến không nên nói thách quá, tốt nhất nên nói đúng giá, nếu khách không mua hay trả giá quá thấp cũng nên vui vẻ, cởi mở, đừng nên tỏ thái độ cằn nhằn, bực tức. Nhiều người thậm chí còn mê tín, sáng sớm khách mở hàng mà không mua thì đốt phông lông, la ó, chửi rủa um sùm, bán buôn như vậy dần hồi sẽ mất khách hàng. Cuộc sống này vốn thuận mua vừa bán chớ không có gì bắt buộc, người có Thiền vị sẽ biết cách thu hút khách hàng, giữ mối quan hệ mua bán lâu dài bằng tấm lòng chân thật của chúng ta.

Người làm ruộng, trồng hoa màu để cung cấp thức ăn, thực phẩm cho con người cũng phải biết tu Thiền. Do phải trải qua nhiều công đoạn từ khâu gieo giống, chăm sóc, cày cuốc, tưới tẩm và bón phân theo đúng quy trình, nếu chậm thời gian sẽ không có kết quả tốt nên phải chú tâm vào công việc; do đó cũng là một loại Thiền Chỉ giúp tâm dễ dàng an định, nhờ vậy ta tính toán làm việc theo đúng quy trình, thời gian cho phép. Khi có trải nghiệm trong Thiền vị ta sẽ ý thức không dùng nhiều hóa chất mà dùng theo liều lượng cho phép, nhờ vậy hoa màu đến tay người tiêu dùng không bị ô nhiễm các chất độc hại. Nhiều người vì lòng tham, ham lợi nhuận nên bị đồng tiền làm mờ mắt, chiều nay xịt thuốc liều lượng cao, sáng mai đem đi bán nên người ăn dễ bị ngộ độc. Báo chí vẫn thường đăng tin ngộ độc thức ăn hàng loạt, có khi lên đến vài trăm người, nếu không cũng bệnh ung thư, nóng gan, viêm gan siêu vi B, C… Người thời nay bệnh hoạn nhiều cũng do con người không biết tin sâu nhân quả, chỉ biết lợi trước mắt mà làm tổn thương rất nhiều người.

Các nhà khoa học, bác học cũng phải biết cách Thiền. Họ giam mình trong phòng kín lâu ngày để nghiên cứu, phát minh một vấn đề nào đó phục vụ cho xã hội loài người, nếu tâm vọng động, lăng xăng, nhớ nghĩ hết chuyện này đến chuyện kia thì làm sao phát minh được. Nhờ biết tu Thiền nên tâm họ định tĩnh, sáng suốt, làm việc gì cũng có kết quả tốt đẹp.

Thiền trong nghiên cứu, giảng dạy là chú tâm soạn bài giảng, tập trung vào nội dung cần triển khai về đề tài mình muốn nói. Khi soạn xong ta nên đọc lại từ 3 đến 5 lần để nắm khái quát đề tài giảng dạy. Trước khi lên Pháp tòa trong vòng một tiếng đồng hồ ta không cần nhớ nghĩ gì nữa mà chỉ cần nhiếp tâm theo dõi hơi thở, thở vô ta biết mình thở vô, thở ra ta biết mình thở ra, chỉ cần nhìn lại hơi thở mà không cần đối trị, nhờ vậy tâm được định tĩnh, sáng suốt, khi lên giảng những gì cần nhớ sẽ nhớ liền nên giúp người nghe nắm bắt nghĩa lý rõ ràng. Về phía người nghe cũng vậy, chỉ cần chú tâm khi nghe mà không khởi niệm phân biệt hay-dở, ta nghe chỉ để học hỏi, để biết cách tu tập hay ứng dụng vào trong cuộc sống hằng ngày.

9. Thiền trong lúc tắm, mặc quần áo, đi tiểu, đi đại

Nhiều người nghe nói Thiền trong lúc tắm rửa, mặc quần áo, đi tiểu, đi đại tưởng là bất kính. Song, chúng ta phải Thiền ngay trong mọi điều kiện sinh hoạt hằng ngày. Quý vị nghe chúng tôi hướng dẫn sẽ thấy giá trị và lợi ích thiết thực của nó. Khi vào trong nhà tắm và lột bỏ hết lớp quần áo bên ngoài ra ta mới thấy rõ con người chân thật của mình. Cũng vậy, khi chúng ta buông bỏ hết phiền não tham-sân-si thì Phật tính sáng suốt mới hiện ra. Người phụ nữ khi tắm mất thời gian rất lâu vì phải săm soi, ngắm nghía mình xem còn duyên dáng hay không, nhất là những người đã có chồng, có con. Phụ nữ thì sợ xấu, sợ già, sợ hôi, sợ cô đơn và vô vàn nỗi sợ khác nên khi tắm phải dùng nhiều xà bông, nước thơm, tắm như vậy là đã đánh mất chính mình vì tham đắm, dính mắc vào thân này quá nhiều. Ai mập quá thì rất khốn khổ vì nghĩ mình không còn sức hấp dẫn với chồng hay người yêu, đó là nỗi khổ, niềm đau hay dày vò phái đẹp. Ốm quá thì thân hình lòi xương, trông giống con khô hố, ai chạm đến tưởng như gốc cây. Người nữ mập quá hay ốm quá đều khổ cả. Tắm nhằm mục đích rửa sạch chất dơ bẩn sau một buổi hay một ngày làm việc để tẩy đi các chất ô uế bám dính trong người. Khi tắm nước lạnh ta cảm nhận nước mát khắp toàn thân, tắm nước nóng ta cảm nhận sự ấm áp của nó, tắm như vậy là không bị dính mắc vào thân. Con người chúng ta thường hay chấp thân này là thật; tâm suy nghĩ, hiểu biết cũng là thật; từ đó chấp thân tâm làm ngã rồi dính vào đó nên bị phiền não tham-sân-si chi phối, sai sử.

Người biết Thiền trong cuộc sống khi tắm chỉ biết mình đang tắm mà không ngắm nghía, săm soi thân hình, nhờ vậy trong lúc tắm cảm nhận được an ổn, nhẹ nhàng. Tắm như vậy là tắm Thiền khoẻ re. Mặc quần áo mục đích chính là để che thân không bị lõa lồ nhưng ta lại nghĩ mặc quần áo để khoe đẹp với người khác, do đó phải tốn tiền sắm sửa quá nhiều. Phụ nữ Việt Nam thời đại ngày nay đang dần đánh mất chiếc áo bà ba hay áo dài, thay vào đó là áo hở cổ, khoét ngực để khoe sự hấp dẫn, vô tình làm đấng mày râu mê muội, dính mắc vào đó. Phụ nữ nặng về luyến ái, tức tình cảm nặng nề, do đó làm đẹp là bản chất của phái đẹp; nhưng ta phải biết hài hoà cho có chừng mực vừa phải thì đỡ tốn thời gian, ít hao tiền bạc, nhờ vậy giảm bớt lòng tham muốn. Ăn mặc giản dị, gọn gàng là nét đẹp văn hoá của người phụ nữ Việt Nam. Cái đẹp của người phụ nữ là đẹp ở tấm lòng, đẹp ở nhân cách đạo đức. Người nam thì đơn giản hơn trong ăn mặc nhưng lại hay dính mắc vào thuốc lá, rượu bia, gái gú, hưởng thụ thức ăn các loài vật quá nhiều. Người uống rượu bia ăn các loài hải sản tươi sống nhiều nên chắc chắn sẽ thiếu lòng từ bi trong đối nhân xử thế, do đó sẽ gánh lấy hậu quả về sau như bệnh hoạn, mất trí nhớ, thần kinh rối loạn và bị nhân quả vay trả thù hằn không có ngày thôi dứt.

Thiền trong việc đi tiểu, đi đại cũng rất quan trọng trong đời sống vì nó gắn liền với chúng ta hằng ngày. Khi đi tiểu ta biết ta đang đi tiểu, nếu trong ngày ta đưa các thức uống vào quá nhiều cũng khổ, nhất là những tay bợm bia đã đưa vô thì phải xả ra, đó là lẽ đương nhiên. Khi tiểu ta không chú tâm vào chỗ tiểu mà nhớ nghĩ lung tung, tiểu trong vội vàng, không có ý thức. Khi tiểu ta chỉ cần nhìn nước tiểu vàng hay trắng sẽ biết được sức khỏe mình ra sao. Nếu nước tiểu vàng quá thì trong người nóng, ta phải biết điều hoà bằng cách ăn uống hay thuốc bổ thận âm. Ngược lại, nếu thấy nước tiểu trắng thì biết người quá yếu, thận bị suy nên hay mắc tiểu đêm ta phải dùng thuốc bổ thận dương để điều trị. Thông qua đó ta sẽ biết cách điều hòa để cảm nhận được niềm vui trong cuộc sống. Đi đại cũng vậy, nếu bị bón rặn không ra ta biết mình đang bị nóng gan hay bị trĩ, ta sẽ dùng thuốc trị hoặc ăn đồ mát thì sẽ từ từ hồi phục trở lại. Đi phân đen hay xanh, chảy hay chìm xuống ta biết đường ruột yếu thì phải thức ăn nóng cho có tính cách Dương tính, đây cũng là một pháp Thiền trong lúc đi đại. Mình bệnh mà không biết mình bệnh thì nguy cơ cao; ăn vô mà không thải ra chỉ trong vài ngày thì bụng sình chướng khó tiêu, người bức rức, nóng nảy, chộn rộn thật khổ tâm; nếu bị đi chảy nhiều quá thì coi chừng tiêu đời nhà ma. Vậy trong lúc đi tiểu, đi đại mình có tu không? Có chứ, nếu không ngồi trong nhà cầu khốn khổ đủ điều, mùi cặn bả xả ra hôi hám vô cùng mà tâm cứ nghĩ tưởng lung tung. Do đó ta phải biết rõ ràng từng trạng thái của nó mà không bám dính vào chỗ nào, coi như ta đang Thiền trong đi tiểu hay đi đại.

Cuộc sống nhân loại ngày nay trên đà phát triển ngày càng cao giúp con người hưởng thụ tiện nghi vật chất, nhưng ngược lại làm ô nhiễm môi trường, thức ăn uống bị nhiễm độc nặng nề. Các bệnh viện quá tải vì người bệnh quá nhiều, nguyên nhân chính là không biết điều hoà trong ăn uống. Người tại gia với bộn bề công việc nên không biết làm cách nào để điều hoà thân tâm cho tốt, do đó dễ phiền muộn, khổ đau, bệnh hoạn và bất an, lo lắng, sợ hãi. Hai bộ phận chủ yếu trong cơ thể chúng ta là thận và gan. Thận điều tiết, thải độc bằng nước và mồ hôi. Nếu để thận yếu, thận suy dễ phát sinh bệnh tim mạch và huyết áp cao, tai biến mạch máu não và đột quỵ. Ăn quá nhiều dầu mỡ, đồ nóng từ chiên-xào-nướng, dùng thức uống kích thích như rượu bia nhiều dẫn đến bệnh nóng gan, xơ gan, viêm gan siêu vi B, ung thư; nếu không chết liền cũng làm hao tiền tốn của, làm khổ người thân và khi chết mang theo lòng tham lam, ích kỷ nên càng bị đoạ lạc vào chỗ xấu. Điều hoà trong ăn uống, đi tiểu, đi đại là ta đã biết Thiền trong đời sống hằng ngày, vì những thứ này gắn liền với chúng ta. Biết ăn, biết uống, biết đi tiểu, đi đại, đã đưa vô thì phải xả ra, ta chỉ cần kiểm soát chúng chặt chẽ hằng ngày là vừa làm chủ thân tâm, vừa điều phục bệnh hoạn.

Bốn phương pháp Thiền ngồi, Thiền lạy, Thiền đi, Thiền nằm, hành giả miệng niệm Quán Thế Âm Bồ tát, tai chú tâm lắng nghe, nhờ vậy không bị thất niệm nên phát sinh định lực và trí tuệ. Tới khi đi ngủ thì phải Thiền nằm, miệng tiếp tục niệm Quán Thế Âm Bồ tát, chỉ cần nhiếp tâm vào câu niệm thì từ từ đi vào giấc ngủ mà không bị mộng mị xấu ác. Vậy trong bốn oai nghi đi-đứng-ngồi-nằm ta đều Thiền niệm Quán Thế Âm Bồ tát từ lúc mở mắt thức dậy cho đến khi đi ngủ, khi ăn uống, lái xe, làm việc, mua bán, trồng trọt, nghiên cứu, giảng dạy, tắm rửa hay đi tiểu, đi đại. Ta đều Thiền bằng cách chú tâm vào việc mình đang làm, nhờ vậy ta biết rõ ràng bản chất thực hư của nó mà biết cách buông xả để sống đời an vui, hạnh phúc bằng trái tim yêu thương và hiểu biết. Ai biết Thiền như vậy mỗi ngày từ lúc thức dậy cho đến khi đi ngủ, mỗi hành động tạo tác của thân tâm đều biết rõ đúng sai, cái gì đúng thì giữ lại, cái gì sai thì gạt bỏ nên tất cả mọi chỗ, mọi nơi đều là Thiền.

Phật dạy trong các Kinh nguyên thuỷ pháp Lục niệm: niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Thiên, niệm Giới, niệm Thí. Lục niệm này liên kết với nhau đầy đủ mới thành tựu Phật quả. Niệm Phật để sống với Phật tính sáng suốt, niệm Pháp để nhớ lời dạy vàng ngọc của Phật, niệm Tăng để cung kính và học hỏi, niệm Thiên để được đầy đủ phước, niệm Giới để không làm các việc xấu ác, niệm Thí để biết cách buông xả và giúp đỡ người khác. Sáu niệm này thuần thục thì mới thành tựu Phật pháp viên mãn. Niệm Phật và niệm Bồ tát cũng giống nhau về hình thức, ta có thể niệm Phật Thích Ca, Phật A Di Đà hay Bồ tát Quán Thế Âm hay niệm hơi thở đều được vì đây chỉ là phương tiện bước đầu giúp mọi người dừng vọng niệm xấu ác. Trong nhà Phật phương tiện bước đầu phải là Thiền Chỉ. “Chỉ” là cột tâm vào một điểm nào để đánh bật các vọng niệm buồn thương, giận ghét, phải quấy, tốt xấu, hơn thua làm tổn hại thân tâm. Thiền Chỉ có nhiều loại giúp trụ tâm vào hơi thở nên đều là Thiền Chỉ. Kế đến là Thiền Quán, tức dùng ý thức để xem xét ta-người-hoàn cảnh, nhờ vậy biết tất cả đều vô thường, cái gì có hình tướng đều bại hoại, do đó phát sinh trí tuệ mà biết cách buông xả phiền não tham-sân-si. Ngày xưa Phật không dạy phương pháp Sổ Tức Quán, có nghĩa là đếm hơi thở, đếm từ một đến mười rồi quay trở lại đếm tiếp. Phật chỉ dạy pháp quán hơi thở là thở vô ta biết thở vô, thở ra ta biết thở ra, chỉ một bề quán sát tường tận như vậy. Người đời sau vì vọng niệm lăng xăng, dính mắc nhiều quá nên dạy quán hơi thở họ không đủ sức nhiếp tâm, do đó các Tổ phương tiện chế ra Sổ Tức Quán, đếm hơi thở từ một đến mười để mọi người dễ cột tâm vào đó, vừa đếm vừa hít thở. Tất cả chung quy cũng đều là phương tiện ban đầu.

TU THIỀN TRỰC CHỈ NƠI TÂM

Sau khi niệm danh hiệu Bồ tát Quán Thế Âm đã thuần thục, chúng ta dùng pháp quán chiếu - tức Thiền quán xem xét, soi sáng các pháp duyên sinh vô ngã, vô thường ngay nơi thân tâm, hoàn cảnh; nhờ vậy hành giả biết được lẽ thật của các pháp không thực thể cố định nên dễ dàng buông xả tâm dính mắc “ta-người” và hoàn cảnh bên ngoài; do đó hằng sống với tâm thanh tịnh sáng suốt, không nhơ, không sạch. Muốn vậy Bồ tát phải quán trí tuệ rộng lớn để chuyển hóa tối tăm, si mê và sống với tính biết sáng suốt, nương nơi mắt thấy tai nghe không lầm lẫn, thấy chỉ là thấy, nghe chỉ là nghe, mũi-lưỡi-thân-ý cũng lại như thế; từ đó phát khởi lòng từ bi rộng lớn đi vào đời cứu độ chúng sinh mà không thấy mình ban cho, người được cho và vật đã cho.

Trong Kinh Lăng Nghiêm Phật dạy Nhĩ Căn Viên Thông là thù thắng hơn hết. Một hôm sau khi 25 vị Thánh trình bày sự tu chứng của mình, Phật hỏi Ngài Văn Thù chọn lựa pháp tu Viên Thông để người đời sau bắt chước tu học. Bồ tát Văn Thù chọn lựa pháp tu của Bồ tát Quán Thế Âm là “Phản Văn Văn Tự Tánh”. “Phản” là ngược lại, là xoay cái nghe chạy theo người-vật quay lại chính mình, sống với tánh nghe thường hằng nương nơi tai nên thành tựu Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, có tiếng nghe có tiếng, không tiếng nghe không tiếng mà không dính mắc vào âm thanh dù lớn hay nhỏ. Để thể nghiệm tánh nghe của mình có người hỏi, “bạn đang làm gì đó?” “Tôi đang nghe”; như vậy thì bạn đâu có quên mình theo vật, đâu có bị môi lưỡi của người khác lừa mình; như thế là bạn đang sống với tánh nghe thường hằng của mình, chỉ đơn giản vậy thôi. Người đời vì không biết nên lãng quên chính mình, nếu bạn khi nghe ai hỏi “anh đang làm gì đó?” rồi trả lời “tôi đang rửa chén” hay “tôi đang xem ti vi” là bạn đang quên mình theo vật, bạn đã chạy theo âm thanh, sắc tướng bên ngoài.

Sau đây xin mời quý vị hãy cùng chúng tôi lắng tâm nghe một câu chuyện nói về tánh nghe. Thiền sư Cảnh Thanh đang ngồi trong thất cùng một vị Tăng đứng kế bên. Sư hỏi, “bên ngoài có tiếng gì?” Vị Tăng đứng kế thưa, “tiếng con nhái bị con rắn bắt kêu”. Sư nói, “sẽ bảo chúng sinh đau khổ, lại có khổ chúng sinh”. Rắn bắt nhái là chúng sinh khổ vì con lớn hiếp con bé, song lại có khổ chúng sinh chính là vị Tăng quên mình chạy theo âm thanh bên ngoài. Đây là chiêu thuật của các vị Thiền sư để khám phá những người học đạo có sống được với tâm chân thật của mình qua tánh nghe hay không? Hằng ngày từ sáng sớm đến chiều tối, tai chúng ta chỉ chạy theo âm thanh tiếng lớn, tiếng nhỏ êm dịu hay chát chúa bên ngoài, chính vì vậy mà bị âm thanh làm cho khổ não; nghe âm thanh nặng nề ta cảm thấy bực tức, nghe âm thanh vừa ý ta đắm say, dính mắc vào đó do không chịu sống với tánh nghe thường hằng nương nơi tai; vừa nghe tiếng liền khởi niệm phân biệt hay dở, đúng sai rồi sinh tâm ưa thì thích thú bám víu vào đó, sinh tâm ghét thì chán bỏ không thích nghe; cho nên nói “chúng sinh khổ, lại có khổ chúng sinh” là vậy. Người không biết tu thì khổ đã đành, mà người đang tu cũng lại quên mình theo vật, hỏi sau tu hoài không hết phiền não tham-sân-si.

Qua hôm sau, Thiền sư lại hỏi vị Tăng khác, “bên ngoài có tiếng gì?” Vị Tăng quá thành thật nên trả lời “tiếng mưa rơi”. Thiền sư bảo, “chúng sinh điên đảo quên mình theo vật”. Chỉ có người đã thật sự sống với tâm chân thật, sáng suốt của mình mới không chạy theo âm thanh lớn nhỏ bên ngoài. Tai nghe tiếng thì biết mình đang nghe mà không chạy theo tiếng, có tiếng thì có nghe, không tiếng nghe không tiếng; lại biết mình có tính nghe thường hằng nương nơi tai là pháp tu của Bồ tát Quán Thế Âm đã thành tựu từ vô số kiếp đến nay, vì thương chúng sinh ở thế giới loài người này mà không thủ chứng ngôi vị Phật để tìm cách chia vui, sớt khổ bằng tình người trong cuộc sống. Âm thanh lớn nhỏ, xa gần lúc nào cũng có, tính nghe hằng hiện hữu nên mới thường nghe. Nếu tính nghe không thường hằng thì tai ta có lúc nghe, lúc không. Như trong kinh Lăng Nghiêm Phật bảo ngài A Nan đánh tiếng chuông rồi hỏi ngài có nghe không, ngài A Nan trả lời có. Đợi khi tiếng chuông im bặt một hồi, Phật hỏi lại ngài A Nan có nghe không. Ngài trả lời không nghe liền bị Phật quở tại sao quên mình theo vật. Phật nói tiếp, “có tiếng nghe có tiếng, không tiếng nghe không tiếng”. Tính nghe luôn thường hằng nên cái gì biết có tiếng, cái gì biết không tiếng? Vậy mà đa số chúng ta không chịu thừa nhận tính nghe của mình nên luôn sống trong đau khổ lầm mê. Câu chuyện trong Kinh Lăng Nghiêm cho thấy Phật dạy Ngài A Nan và những Thiền sư tu theo cách hành thẳng nơi tâm, không thông qua phương tiện, không hai, không khác. Mỗi hành giả tu theo hạnh nguyện Bồ tát Quán Thế Âm cần phải thể nghiệm sâu sắc lời dạy trên để được giác ngộ, giải thoát ngay tại đây và bây giờ.

Trong Thiền môn có một câu chuyện rất nổi tiếng về Bồ tát Quán Thế Âm. Một Thiền sinh trên đường đi tham vấn đã đến một chùa nọ có thờ Bồ tát nghìn tay nghìn mắt, thấy vậy anh hỏi Thiền sư, “Bồ tát nghìn tay nghìn mắt như vậy thì mắt nào là mắt chánh?” Thiền sư nói, “như người ngủ ban đêm với tay ra sau tìm chiếc gối, ngay khi đó mắt chánh hiện tiền”. Chỗ này mọi người tự biết, tôi không thể biết “cái gì biết tìm chiếc gối trong đêm tối”. Bồ tát nghìn tay là tượng trưng cho sự dấn thân làm việc không biết mệt mỏi, không biết nhàm chán vì lợi ích chúng sinh. Con mắt trong mỗi bàn tay tượng trưng cho trí tuệ thấy biết đúng như thật, nhờ vậy Bồ tát thương yêu bằng trái tim hiểu biết, giúp đỡ chúng sinh một cách bình đẳng, không phân biệt người thân hay kẻ thù. Trong Kinh Lăng Nghiêm Phật dạy “Phản Văn Văn Tự Tánh” là xoay cái hay nghe nghe lại tự tánh mình thì được đạo vô thượng. Hòa Thượng chúng tôi dạy biết vọng không theo, thấy biết là chơn tâm, nghe biết là chơn tâm, mũi-lưỡi-thân-ý cũng lại như thế. Vậy Thiền và Kinh đâu có khác, Phật và Tổ không hai, đồng một con đường hướng thượng để thể nhập tính biết sáng suốt của mình nương nơi mắt-tai-mũi-lưỡi-thân-ý.

Như chúng ta đã biết, Thiền không lệ thuộc vào một tư thế nào hay một hình thức, lễ nghi mà được vận dụng nhuần nhuyễn từ sáng sớm mở mắt thức dậy cho đến khi đi ngủ. Đối với người mới tu Thiền thì ngồi Thiền là tư thế tối ưu trong bốn oai nghi vì tư thế ngồi giúp tâm dễ an định. Thiền sư Đạo Nhất lúc còn là Thiền sinh đều ngồi Thiền hằng ngày rất tinh tấn từ sáng sớm cho đến trưa. Một hôm, Thiền sư Nam Nhạc đến hỏi, “đại đức ngồi Thiền để làm gì?” Ngài Đạo Nhất thưa, “ngồi Thiền để làm Phật”. Ngài Đạo Nhất chỉ chấp vào việc ngồi Thiền của mình mà không chịu Thiền trong các oai nghi khác, do đó khi ngồi thì yên, khi đi đứng hoạt động thì tâm niệm lăng xăng. Thiền sư Nam Nhạc muốn phá chấp và cảnh tỉnh ông nên mỗi ngày đem gạch trước chỗ ngài ngồi Thiền mài sột sạt. “Thầy mài gạch để làm gì?” “Mài gạch để thành gương.” À! Tới đây quý vị đã biết ý Tổ sư chưa? Ngài Đạo Nhất chấp vào việc ngồi Thiền và cho đó là cứu cánh, điều này cũng giống như người mài gạch mà muốn thành gương, đem cát nấu mà muốn thành cơm thì không thể được. Sau đó ngài Đạo Nhất thưa, “mài gạch đâu thể thành gương được?” Ngài Nam Nhạc hỏi lại, “ngồi Thiền đâu thể thành Phật được?” “Vậy con làm thế nào mới đúng?” Thiền sư nói, “như trâu kéo xe, nếu xe không đi, đánh xe là phải hay đánh trâu là phải?” Chiếc xe là vật vô tri, con trâu là vật kéo nên khi bị đánh đau thì nó kéo xe. Cũng vậy, chúng ta ai cũng có tánh biết ngay nơi thân này, như khi gặp lửa ta liền biết nóng, khi gặp gió ta liền biết mát, có khi ta không suy nghĩ nhưng vẫn thấy-nghe rõ ràng. Vậy cái gì biết thấy, biết nghe? Cái biết này luôn hiện hữu nơi ta, mắt thấy tức biết, tai-mũi-lưỡi-thân-ý cũng lại như thế. Trâu là dụ cho tâm mình, xe là dụ cho thân, chúng ta Thiền là hành thẳng nơi tâm mọi lúc, mọi nơi chứ không chỉ lúc ngồi Thiền. Người tại gia bận công lên việc xuống làm sao có nhiều thời gian để ngồi Thiền. Nếu ta chấp như vậy thì tu hoài cũng dậm chân tại chỗ, làm sao tu tiến cho được. Cho nên, người tại gia phải biết uyển chuyển tu từ khi mở mắt thức dậy cho đến khi đi ngủ, tu như vậy mới đủ khả năng hoá giải phiền não tham-sân-si. Người tại gia vì phải bận bịu với cơm áo gạo tiền, cha mẹ, vợ chồng, con cái, giao tế bạn bè, giữ mối quan hệ làm ăn nên phải Thiền bằng cách chú tâm, làm việc nào biết việc đó.

MỌI NGƯỜI THIỀN ĐỂ ĐƯỢC BÌNH YÊN HẠNH PHÚC

Chúng tôi hướng dẫn niệm Bồ tát Quán Thế Âm cũng y như niệm Phật Cầu vãng sanh, nhưng khác ở chỗ niệm Bồ tát để cầu cứu độ chúng sinh ngay nơi cõi đời này. Phương pháp này thể hiện tình người trong cuộc sống, lòng yêu thương nhân loại để cùng nhau dìu dắt mà vượt qua cạm bẫy cuộc đời, giúp cho nhiều người còn chìm đắm trong biển khổ sông mê thực tâm tỉnh giác, quay về nguồn cội của chính mình, tức tin tâm mình là Phật. Phật đã dạy trong bầu vũ trụ bao la này gồm có ba cõi sáu đường luân hồi, sống chết. Trong sáu nẻo luân hồi có ba đường trên là trời, A tu la, người; ba đường dưới là địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thành Phật ở cõi người dưới cội cây Bồ đề tại đất nước Ấn Độ, trong Kinh Người còn thọ ký về sau khi thế giới Ta bà không còn ai biết Phật pháp thì đức Phật Di Lặc sẽ ra đời, cũng nơi cõi người, dưới cội cây Long Hoa.

Tại sao Phật không ra đời ở các cõi khác như cõi trời chẳng hạn? Vì người trời có quá nhiều phước báo nên tất cả đều hưởng lạc thú đầy đủ, không bị khổ não, bức bách nên rất khó tu. Thường con người khi khổ quá mới chịu tu, cụ thể như những người quá giàu có ở thế gian này, nếu có tu họ cũng chỉ làm phước, đóng góp nhiều cho xã hội mà thôi. Người A tu la cũng có phước báo hơn người, tương đương với cõi trời nhưng vì tâm sân hận quá mãnh liệt nên lúc nào cũng gây chiến với người trời, do đó cũng không tu được. Ba đường dưới cõi địa ngục quá khổ, súc sinh thì si mê, quỷ đói thì khát máu, sống theo nghiệp báo nên không đủ nhận thức sáng suốt để tu. Chỉ có cõi người mới tu được nhờ có suy nghĩ, nhận thức, biết suy xét, quán chiếu, tìm tòi, nếu đi theo chiều hướng thượng thì lợi ích cho người và vật; ngược lại, nếu ác thì cùng hung cực ác không có loài nào bằng. Chính vì lẽ đó nên loài người có đủ điều kiện tu hành vì có buồn vui lẫn lộn với các sự khổ như sinh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ, yêu thương xa lìa khổ, oán ghét gặp nhau khổ, mong cầu không như ý khổ, thân này thịnh hay suy đều khổ. Chính những cái khổ này làm cho con người có ý thức tu tâm sửa tánh, nếu không biết tu lại càng khổ nhiều hơn.

Người Phật tử tại gia do bộn bề công việc nên dính mắc vào gia đình, cha mẹ, vợ con, thân bằng quyến thuộc bị áp lực ngoài xã hội nên phải biết ứng dụng Thiền trong mọi hoàn cảnh thì họa may mới có chút phần an lạc trong cuộc sống, nếu không sẽ chịu nhiều phiền muộn khổ đau. Thiền chỉ là bước đầu để cột tâm con khỉ ý thức của chính mình, xưa nay chúng ta quen chạy rong ruỗi đầu này đầu kia, muốn cho tâm an định thì phải chú tâm vào câu niệm Quán Thế Âm Bồ tát, chú tâm vào mọi oai nghi đi-đứng-nằm-ngồi, nhờ vậy mới từ từ đánh bật những vọng niệm lăng xăng khác. Thiền Chỉ lâu ngày thuần thục thì phát sinh định tĩnh, nhưng trụ vào đây mãi sẽ trở thành si định vì không có trí tuệ nên không đủ sức hóa giải phiền não tham-sân-si. Do đó ta phải chuyển qua Thiền Quán để thấy rõ thực chất thân tâm và hoàn cảnh. Nhờ xem xét, quán chiếu, ta thấy thân này không thật có, do bốn chất đất-nước-gió-lửa hợp thành bởi tinh cha, huyết mẹ cùng với thần thức một chúng sinh. Nếu thân này thiệt thì trước sau như một không biến chuyển, đổi thay, bởi nó giả nên phải già-bệnh-chết. Rồi hằng ngày ta phải vay mượn các thức ăn uống để nuôi thân, mượn vô rồi phải trả ra, cứ như thế hết vay mượn lại trả ra, cho đến khi nào không còn vay mượn nữa thì mạng sống chấm dứt. Nhưng chết không phải là hết, chết chỉ là thay hình đổi dạng, nếu trong đời này ta không biết tu tâm sửa tánh để sống có nhân cách đạo đức và giúp đỡ người khác thì mình khó có cơ hội làm người trở lại khi mất thân này.

Chính vì vậy, ai biết tu Thiền sẽ sống một đời bình yên, hạnh phúc trong hiện tại và mai sau. Ai không biết tu Thiền khi phước hết họa đến sẽ trả quả xấu ác, lúc này dù có ăn năn hối hận cũng đã muộn. Phật dạy “giống như con rùa mù 100 năm mới trồi lên trong biển cả, để tìm được bọng cây chui vào rất khó”. Cũng vậy, nếu ngay trong hiện đời ta không biết gieo trồng phước báo thì khó có cơ hội được làm người trở lại. Người tại gia phải cố gắng gia công Thiền định trong bốn oai nghi cho đến khi nào tâm dứt hết các tạp niệm phải quấy, hơn thua, buồn thương, giận ghét mà lặng lẽ, thanh tịnh mới thật là an nhiên, tự tại. Có nhiều người nhất là độ tuổi học sinh, sinh viên nói “tu cái gì cũng bỏ hết” thành ra ngu ngốc, không biết gì hay sao? Thật ra không phải vậy, người tu bỏ những niệm lăng xăng tạp loạn để tập trung vào một việc thì sáng thêm chớ làm sao ngu được. Khi làm việc cũng vậy, nếu buông hết chuyện tạp, tập trung, chú tâm vào công việc thì kết quả sẽ tốt hơn. Khi ta càng buông lại càng nhớ, nhớ một cách tự nhiên, trong sáng nên mọi việc hiện ra rất rõ ràng, phân minh. Chúng ta thử nghiệm xét lại xem khi nào mình rối mà việc này, việc kia cứ dồn dập đến thì mình quên trước, quên sau, không có đầu đuôi gì hết. Khi ấy chúng ta chỉ cần ngồi Thiền, tập trung lại một chút sẽ nhớ rõ ràng trở lại, chính vì vậy nhiều người mới tập tu Thiền. Nhiều người nói không nhớ gì hết nhưng sao đến lúc ngồi Thiền lại nhớ nghĩ đủ chuyện trên đời. Lúc chưa Thiền ta không có thời gian định tâm nên việc này việc kia chồng chéo lên nhau nên mình không nhớ, khi ngồi Thiền tâm an tịnh nên ta nhớ biết rõ ràng đủ thứ chuyện. Xưa nay ta lãng quên không biết ứng dụng Thiền vào cuộc sống nên thấy khó tu, giờ đã tu nên khi ngồi lại thấy rõ ràng từng vọng niệm thương ghét phát sinh nhưng không dính mắc theo, chỉ nhìn chúng rõ ràng thì tự động chúng lặng xuống, ta khỏi cần phải xua đuổi hay đối trị gì hết.

Ngày xưa khi Đức Phật ngồi Thiền dưới cội bồ-đề và chứng được Túc Mạng Minh, Ngài nhớ lại vô số kiếp trước đã làm gì, ở đâu như nhớ chuyện ngày hôm qua. Khi buông hết các tạp niệm lăng xăng ta tưởng như quên hết mọi việc nhưng trái lại càng Thiền càng nhớ rõ nhưng tâm không dính mắc, việc gì cần nhớ thì nhớ, không cần thì thôi. Hiểu như vậy ta mới thấy tâm mình là kho chứa đựng các thứ buồn thương, giận ghét, tốt xấu, phải quấy, hơn thua. Những thứ cần biết thì ta không biết, những thứ không cần biết ta lại tìm tòi để dính mắc vào đó nên sinh ra phiền muộn, khổ đau. Tóm lại, chúng ta nên nhớ việc gì đáng lo thì mình lo, việc gì không đáng lo thì đừng bận tâm đến. Người khéo tu Thiền trong mọi hoàn cảnh lúc nào cũng nhớ quay lại chính mình, nhận ra và sống được với Phật tính sáng suốt; ngoài ra tất cả đều là vô thường hư ảo nên không cần chú tâm đến làm gì, như thế các tạp niệm lăng xăng từ từ không có chỗ bám víu sẽ tan hòa vào hư không. Đến đây thì,

Ở đời vui đạo hãy tuỳ duyên,

Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền.

Trong nhà có báu thôi tìm kiếm,

Đối cảnh không tâm chớ hỏi thiền.


Đây là bài kệ của vua Trần Nhân Tông khi còn làm Thái Thượng Hoàng. Ở giữa cuộc đời này mà ta luôn sống làm tròn trách nhiệm, bổn phận đối với gia đình người thân và còn đóng góp lợi ích cho xã hội. Sống và làm việc như vậy mà không bị dính nhiễm bụi trần nên thân tâm an ổn, nhẹ nhàng. Người đã thể nhập chân lý không còn lo toan, bận bịu một thứ gì. Việc gì cần làm thì làm, làm trong vui vẻ, an nhiên; cho nên đói thì ăn mà không thèm khát, khi mệt thì đi ngủ một giấc ngon lành như Lục tổ nói, “duỗi thẳng hai chân ngủ”. Ngay nơi thân này mình đã sống với ông Phật của chính mình nên đâu cần tìm cầu, tìm kiếm nơi khác, khỏi phải lăng xăng chạy tìm Phật pháp ở phương nào. Ý nghĩa câu kệ cuối cùng rất quan trọng, khi làm việc, tiếp xúc, đối duyên chạm cảnh thì tâm hằng biết mà không tính toán so đo, do đó bình an, tự tại nên không cần phải hỏi tới Thiền. Tâm không vướng mắc với trần cảnh, thấy tức là biết mà không dính vào hình ảnh sự vật, như vậy không phải Thiền là gì? Còn đi tìm kiếm, còn hỏi Thiền là dư rồi, tới đó trong nhà đã có báu nên thôi tìm kiếm, đối cảnh đã vô tâm nên không phải hỏi Thiền.

Như vậy, quyền cao chức trọng, địa vị danh vọng, nhà lầu xe hơi, tiền bạc dư dã, vợ đẹp con xinh, những thứ này người thế gian ai cũng ước ao mong muốn; nhưng vị vua Thiền sư Trần Nhân Tông tuy có đầy đủ mà dám bỏ hết để lên núi tu hành và thành tựu đạo pháp. Gương sáng của Phật hoàng Trần Nhân Tông là ông vua thiền sư đã biết áp dụng Thiền khi làm Thái thượng hoàng, đã truyền mãi đến bây giờ hơn 700 năm, chúng ta may mắn là người dân đất Việt nên được thừa hưởng trực tiếp tinh ba của ngài nhờ biết Thiền trong cuộc sống. Vua Trần Nhân Tông đã biết áp dụng “Thiền” trong cuộc sống, nên khi xuất gia lên núi Yên Tử tu hành chỉ trong thời gian ngắn đã sáng đạo. Thiền sư xuống núi khuyên dạy mọi người giữ năm giới, tu mười điều thiện và phá bỏ những tập tục mê tín có tính cách làm tổn hại nhân loại. Nhờ vậy Phật giáo đời Trần là một nét son vàng chiếu sáng khắp toàn thể nhân gian nước Việt, phát triển tinh thần làm chủ bản thân nhờ biết “thiền” trong gia đình và cuộc sống.

Chỉ cần mọi người chúng ta noi theo gương hạnh của người xưa qua sự hướng dẫn của chư Tăng ni trong thời hiện tại. Chúng ta có đầy đủ lòng kính trọng Tam bảo và tin tâm mình là Phật mà cố gắng kiên trì, bền bỉ, dù không thành tựu trọn vẹn trong kiếp này, ta vẫn là người tốt trong hiện tại và mai sau vì đã ta có chất Thiền trong người. Cứ như thế, ta sẽ hành Bồ tát đạo dưới nhiều hình thức khi thì làm thủ tướng, nữ hoàng, người nam, người nữ để tuỳ duyên hoá độ chúng sinh theo tinh thần của Bồ tát Quán Thế Âm đang đi vào đời để cùng chia vui sớt khổ. Muốn được thành tựu viên mãn ta phải dùng cây cung Thiền định và lưỡi kiếm trí tuệ để quét sạch mọi ma mị trong tâm, cho đến khi nào thanh tịnh, sáng suốt, lặng lẽ mà hằng chiếu soi muôn sự vật. Cảnh là cảnh, vật là vật, ta là ta cùng hoà hợp nhịp nhàng với nhau bằng tình người trong cuộc sống với trái tim yêu thương và hiểu biết. Mỗi hành giả tu Thiền nên lấy bài kệ của Thiền sư Huyền Giác để nghiệm xét chính mình:

Tỉnh tỉnh lặng lặng phải,

Vô ký lặng lặng sai,

Lặng lặng tỉnh tỉnh phải,

Loạn tưởng tỉnh tỉnh sai.

“Tỉnh tỉnh lặng lặng phải” là sao? “Tỉnh tỉnh” có nghĩa là chúng ta thường biết rõ ràng, “lặng lặng” có nghĩa là không vọng niệm lăng xăng, cho nên “tỉnh tỉnh lặng lặng” là thành tựu viên mãn. Phật đã sống được như vậy trọn vẹn nên không có gì làm cho Ngài dao động, suốt 49 năm giáo hóa bị người mắng chửi, vu oan giá họa bằng mọi thủ đoạn nhưng Phật vẫn an nhiên, tự tại mà chứng minh sự trong sáng của mình. “Vô ký lặng lặng sai” là sao? Ở đây ý nói người tu Thiền nhờ chú tâm vào một chỗ nên tâm an định nhưng không có trí tuệ, do đó rơi vào hôn trầm, không biết gì. “Lặng lặng tỉnh tỉnh phải” cũng giống như đã nói, còn “loạn tưởng tỉnh tỉnh sai” ý nói chúng ta sử dụng Thiền quán nhiều mà phát sinh trí tuệ, nhưng có trí tuệ mà cứ nhớ hoài Thiện pháp, không buông xả được nên khi đó chúng là vọng niệm lăng xăng, tức loạn tưởng. Chỉ có “tỉnh tỉnh lặng lặng” là đúng, coi như thành tựu Phật đạo mà bình thản, an nhiên, tự tại. Chút duyên lành có được ngày hôm nay nhờ ân giáo dưỡng của Hòa Thượng tôn sư Trúc Lâm Phụng Hoàng và sự chỉ dạy trực tiếp của Hòa Thượng trụ trì Tổ đình Thiền Viện Thường Chiếu. Chúng con nguyện khắc cốt khi tâm, cố gắng tu hành cho đến khi nào viên mãn mới thôi. Công ơn của thầy Tổ bao la, rộng lớn không gì có thể sánh bằng, dù thành Phật vô số kiếp cũng chưa chắc trả hết công lao này. Khi sống được với hương vị của Thiền, mỗi hành giả sẽ dần hồi gột rửa các tập khí, thói quen xấu ác có tính cách hại người hại vật, cho đến khi nào hết sạch vọng niệm thì thành tựu Phật đạo viên mãn.

Mọi người đều có tánh biết sáng suốt của mình, nương nơi mắt thì thấy biết rõ ràng không lầm lẫn, thấy chỉ là thấy, nghe chỉ là nghe, không thêm một niệm nào để phân tích sự vật tốt hay xấu, đúng hay sai; mũi-lưỡi-thân-ý cũng lại như thế. Cái thấy biết này nói theo tổ Huệ Khả ở Trung Hoa là “thường biết rõ ràng”, nói không thể đến. Chỗ đó thấy chỉ là thấy, nghe chỉ là nghe; như cái hay thấy nương nơi mắt thấy rõ ràng không lầm lẫn, cảnh vật có thể đổi thay trăm ngàn thứ nhưng cái hay thấy không bao giờ thay đổi. Cái hay thấy lúc nào cũng hiện tiền, mở mắt thấy sáng, nhắm mắt thấy tối. Thấy tối, thấy sáng là do sự nhắm mở của con mắt chớ không liên can gì đến cái thấy; như người có mắt sáng đi vào phòng tối thì vẫn thấy tối đen; như bóng đèn điện gắn bóng vào thì điện cháy, mở bóng ra thì điện tắt, có cháy có tắt là do bóng đèn chớ điện đâu bao giờ bị mất. Như vậy, cái hay thấy thì thường hằng, cảnh vật thì khi có khi không, thấy tức là tâm thấy, vì có thấy tức là có biết, biết tức là tâm thấy. Vậy rõ ràng mỗi người chúng ta ai cũng đều biết, thấy tức biết mình có Phật tánh, chỉ tại vì ta không chịu thừa nhận đó thôi.

Có chú Sa di đến tham vấn Thiền sư để tìm ra chân lý sống của chính mình. Một hôm Thiền sư gọi chú lại bảo, “ta nghe Thăng Long rất náo loạn, ngươi có biết chăng?” “Kính bạch thầy, nước con an ổn.” “Vậy ngươi do xem Kinh được hay do thưa hỏi được?” “Con chẳng do xem Kinh được, cũng chẳng do thưa hỏi được.” Thiền sư nói, “tại sao nhiều người chẳng xem Kinh, chẳng thưa hỏi mà họ chẳng được?” “Tại vì họ chẳng chịu thừa nhận đó thôi!” Thiền sư nói, “ông biết, ta cũng biết, hãy khéo gìn giữ và bảo trì!” Bây giờ chúng ta đã thấy chưa? Nếu thấy thì hãy ráng gìn giữ và bảo trì, còn nếu chưa thấy thì phải cố gắng nghiên tầm học hỏi, tu tập cho giỏi để nhận lại cái biết sáng suốt của chính mình. Nếu nhận được thì chúng ta sẽ đi thẳng đến một bầu trời trong sáng mà các thứ tối tăm khác không thể nào che lấp được. Chúng tôi lúc nào cũng thầm cầu nguyện cho tất cả mọi người đi trọn con đường sáng để chúng ta được sống yêu thương và hiểu biết, dấn thân và phục vụ, bao dung và tha thứ, độ lượng và cảm thông, lấy niềm vui của tất cả chúng sinh làm niềm vui chính mình.

Bây giờ tất cả mọi người hãy lắng lòng trong sạch để cùng chúng tôi nhận lại hòn ngọc vô giá mà ta đã lãng quên từ lâu nay. Chân thành thay! Chân thành thay! Chú Sa di đến học đạo tìm cầu chân lý chưa kịp thưa hỏi đã bị ông thầy tung ra cái bẫy để thử nghiệm người đệ tử có bị miệng lưỡi của Hòa Thượng lừa hay không. “Ta nghe Thăng Long rất náo loạn, ngươi có biết chăng?”, chú Sa di này quả đúng là người có tỉnh giác nên không bị Thiền sư lừa. “Dạ thưa thầy, nước con an ổn”. Chúng ta nghe chú Sa di trả lời như vậy có thấy lạ kỳ không? Ngày xưa kinh đô của nước Việt Nam là Thăng Long, mà đã là kinh đô thì cuộc sống nơi đây phải ồn ào, náo nhiệt, người đến người đi rất đông đúc, phồn vinh. Vậy mà chú vẫn sáng suốt trả lời, “nước con an ổn”. Chúng ta nghe có điếc tai không? Ông thầy hỏi một đường, đệ tử trả lời một nẻo, sao kỳ lạ quá? Thiền sư mới thầm nghĩ thì ra chú đã vào đến cổng nhà Thiền, nhưng vào cổng chưa phải là xong. Thiền sư sợ đệ tử lọt vào chỗ hiểu biết rồi sinh kiến giải mà trong nhà Thiền thường gọi là Khẩu Đầu Thiền (Thiền trên miệng lưỡi), chỉ bắt chước nói lại lời của người xưa mà mình thực sự không phải chứng đạo hay tự thấy. Tới đây Thiền sư bồi thêm một câu, nếu chú Sa di ấy không phải là người chứng thiệt thì sẽ ôm câu này mà nghi vấn cả đời, “ngươi do xem Kinh được hay do thưa hỏi được?” Chú đệ tử liền nói như đinh đóng cột, “con chẳng do xem Kinh được, cũng chẳng do thưa hỏi được”. Thiền sư lúc này mới thầm khen trong lòng chú đệ tử đã vào đến nhà Thiền. Không ngờ chú Sa di quá lợi hại, câu thứ nhất chú trả lời in tuồng như loài sư tử còn ở trong hang nhưng đã biết gióng lên tiếng gióng loài sư tử, làm cho muôn loài thú khiếp sợ. Câu thứ hai chú trả lời để khẳng định mình đang sống với cái tính biết sáng suốt, thanh tịnh hằng tri, hằng giác. Nhưng để kiểm chứng đệ tử của mình đã thật sống với bản tâm chân thật hay chưa nên Thiền sư đã bồi thêm câu, “tại sao nhiều người chẳng do xem Kinh, cũng chẳng do thưa hỏi mà họ chẳng được?” Vì đã thật sống với bản tâm chân thật rồi nên chú Sa di đã xác định lại, “vì họ chẳng chịu thừa nhận đó thôi!” Tới đây Thiền sư mới xác nhận, “ông như thế, ta cũng như thế, hãy khéo gìn giữ và bảo trì!” Cho nên,

Cái biết ai cũng có

Ngay nơi thân mọi người

Chỉ vì ta không nhận

Nên đành chịu khổ đau.

Khi mê thì Phật độ

Khi biết thì tự độ

Đó là lý nhiệm mầu

Của tất cả chư Phật.


Tại vì chúng ta không chịu thừa nhận nên suốt đời sống trong đau khổ lầm mê, thôi thì chỗ này chúng tôi cũng không giúp gì được cho ai mà chính mọi hành giả phải tự nhận lấy. Nhận được thì chúng ta sẽ sống một đời thánh thiện, đạo đức, luôn vì lợi ích tha nhân, lấy niềm vui nhân loại làm niềm vui chính mình. Phật tánh sáng suốt mà chúng tôi đang nói với tất cả mọi người là “Phật tại tâm”, Phật không có trong núi rừng, chẳng phải tìm cầu bên ngoài mà ngay nơi chính mình nhận ra.

Bây giờ chúng ta hãy nghe chuyện vị vua Thiền sư Trần Thái Tông, ông Tổ của Phật hoàng Trần Nhân Tông đã lên núi xin Quốc sư Trúc Lâm làm Phật. Quốc sư ân cần nắm tay vua bảo, “trong núi vốn không có Phật, Phật ở trong tâm ta, nếu tâm lắng lặng thường biết rõ ràng thì đó chính là tâm Phật. Bệ hạ giác ngộ được tâm ấy thì tức khắc thành Phật, không cần phải khổ nhọc tìm cầu bên ngoài”. Ngay nơi đây mọi hành giả tu Thiền sẽ nhận lại cái sẵn có nơi mình, cái đó rỗng rang, sáng suốt, nhiệm mầu, nói không thể đến. Trong nhà Phật có nhiều danh từ để chỉ ra cái biết sáng suốt của mình. Để nói lên sự bình đẳng của một chúng sinh Phật đã từng xác quyết, “ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành”. Phật là danh từ chung, ai cũng có quyền sống với cái biết sáng suốt của mình nương nơi mắt-tai-mũi-lưỡi-thân-ý, hay còn gọi là “Phật tánh”. Ngày xưa Bồ tát Sĩ Đạt Ta phải bỏ cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con ngoan, thần dân thiên hạ và quyền uy thế lực và phải mất 11 năm lao công nhọc sức mới tìm ra chân lý sống cho con người. Chúng ta bây giờ đâu cần khổ nhọc tìm cầu vì Phật đã chỉ dạy tường tận, rõ ràng, chúng ta cứ y như thế mà gìn giữ, hành trì. Giữ tròn năm giới, thường quán niệm về Phật và biết tu Thiền trong mọi hoàn cảnh thì chúng ta sẽ là bậc hiền Thánh trong hiện tại và mai sau, luôn làm lợi ích cho bản thân, gia đình và xã hội.

Giữ tròn năm giới, tôn trọng, bảo vệ sự sống của muôn loài và thường xuyên tưởng nhớ Phật là một nhân cách cao đẹp, là mẫu người đạo đức xứng đáng làm bậc hiền thánh trong hiện tại và mai sau. Không giết hại là đem lại bình an cho tất cả chúng sinh, không sợ oán ghét, thù hằn vay trả, lại còn hay phóng sinh giúp người, cứu vật là tinh thần Bồ tát trong thời hiện đại. Sở dĩ thế giới loài người lúc nào cũng xảy ra chiến tranh, binh đao, con người sống tàn nhẫn và độc ác với nhau là do nhân giết hại mà ra. Rồi thiên tai, lũ lụt, hỏa hoạn, sóng thần, động đất làm tổn hại biết bao con người và tài sản cũng từ sự phá hủy môi trường thiên nhiên. Cho nên, để bảo vệ sự sống chung của cõi Ta Bà mọi người không nên giết hại, lại còn trải rộng lòng từ đến tất cả chúng sinh. Không gian tham, trộm cướp là đem lại sự an tâm cho con người, không sợ bị chiếm đoạt của cải, lại hay bố thí cúng dường, giúp đỡ chia sẻ khi thấy người bất hạnh. Gian tham, trộm cướp là nhân dẫn đến nghèo cùng, khốn khổ vô số kiếp, vì vậy Bồ tát cần nối vòng tay lớn để giúp đỡ chúng sinh trong cơn hoạn nạn. Không tà dâm là bảo vệ hạnh phúc cho gia đình mình và người, đem lại sự yên tâm cho nhân loại, không sợ bị mất mát, thiệt thòi, lại hay khuyên người chung thủy, bảo vệ hạnh phúc gia đình nên không có sự nghi ngờ, ghen tuông của vợ hoặc chồng. Không nói dối để hại người hại vật, lại hay nói lời thật để giúp người vững niềm tin trong cuộc sống. Nhân nói dối sẽ làm người mất tin tưởng nên nói người không nghe. Do vậy Bồ tát phải học hạnh lắng nghe và nói lời hòa nhã, êm dịu để đem niềm vui đến mọi người. Không uống rượu và dùng các chất độc hại như xì ke, ma túy vì nó là những thứ làm chính mình khổ đau, lại còn ảnh hưởng đến gia đình và xã hội. Nó là nhân dẫn đến bệnh hoạn, si mê, trong hiện tại và mai sau sẽ chịu quả nghèo cùng, dốt nát, tối tăm, bị bệnh tâm thần vô số kiếp. Người cư sĩ tại gia nếu gìn giữ được như vậy và thường xuyên quán tưởng về Phật, biết tu Thiền trong mọi hoàn cảnh thì sẽ là viên ngọc quý cho đời và luôn sống an lạc, hạnh phúc ngay tại đây và bây giờ.

Mỗi hành giả tu Thiền hãy nên nhớ bài kệ này mà cùng nhau động viên, tự răn nhắc chính mình, tin tâm mình là Phật để chúng ta có đầy đủ niềm tin, đầy đủ dũng lực vươn lên vượt qua cạm bẫy cuộc đời để được sống yêu thương với trái tim hiểu biết bằng tình người trong cuộc sống.

Nam mô Thánh đức Bồ tát Quán Thế Âm.
____________

Thích Đạt Ma Phổ Giác

Nguồn: thuvienhoasen.org

VAI TRÒ CHÍNH TRỊ CỦA CÁC TĂNG SĨ – PHẬT GIÁO Ở THỜI ĐẠI LÝ-TRẦN

Mặc dù giáo lý của đạo Phật không đề cập đến mục đích chính trị xã hội, nhưng quan tâm đến hạnh phúc nhân sinh. Qua lý tưởng từ bi, bình đẳng, vị tha đạo Phật góp phần ổn định xã hội và rèn luyện nội tâm trở thành một nhân cách hoàn mỹ ở mỗi con người.

Trong quá trình du nhập, đạo Phật luôn biến chuyển và thích nghi với từng điều kiện xã hội ở mỗi dân tộc. Bằng cách đó, đạo Phật Việt Nam đã có nhiều thiền sư, danh tăng đóng góp rất lớn vào sự nghiệp giữ nước, dựng nước và củng cố pháp quyền quốc gia, khiến đất nước một thời hưng thịnh. Và ảnh hưởng đó đã gắn chặt tư tưởng Phật giáo vào hệ chính trị xã hội nước ta, để rồi đạo Phật đã trở thành một tôn giáo của dân tộc đi đôi với vận mệnh lịch sử của đất nước qua bao thăng trầm.

 

Thể hiện tính chất đặc thù ấy là vai trò các tăng sĩ thiền sư, những người đã góp phần cho sự nghiệp dân tộc vào các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần: một thời đại độc lập tự chủ của đất nước và cũng là đỉnh cao của đạo Phật. Đạo Phật đã tham gia hầu hết các mặt văn hóa, chính trị xã hội và giữ hình thức cao nhất là chức Quốc sư tức lãnh đạo tinh thần và cố vấn triều đình của một số tăng sĩ nổi tiếng.

 

Trong mục đích đời sống của các vị tăng sĩ ấy, ta thấy họ đã quan niệm rằng Phật nơi tự tâm con người, cần phải biến thành hiện thực. Điều này nếu biết kết hợp hài hòa giữa trí tuệ và từ bi, giữa tri thức và hành động, sẽ đưa đến kết quả một xã hội tự do hạnh phúc ở đỉnh cao của nhân bản, cải tạo đất nước hùng cường, độc lập, kỷ cương, luật pháp hợp lòng người.

 

Đó là hoài bão của các tăng sĩ đã ra giúp nước, tham gia chính sự, góp phần ổn định xã hội Việt Nam trong suốt bốn triều đại rực rỡ nhất của lịch sử.

 

I. VAI TRÒ TĂNG SĨ Ở CÁC TRIỀU ĐẠI ĐINH LÊ LÝ:

 

1.Tổng quan về Phật giáo và xã hội thế kỷ X- XII:

 

Chiến thắng Bạch Đằng oanh liệt năm 938 đã chấm dứt thời kỳ nghìn năm Bắc thuộc, mở ra một kỉ nguyên mới trong lịch sử Việt Nam: kỉ nguyên độc lập và phát triển.

 

Trong thế kỉ thứ X, nhà nước độc lập mới được xây dựng, đang dần dần tự củng cố, vừa phải chuẩn bị đương đầu với những cuộc chiến tranh xâm lược từ bên ngoài, vừa phải đối phó với những yếu tố phân tán cát cứ ở bên trong. Trong bối cảnh đó, tất nhiên bạo lực và quân sự là ứng xử trội của các ông vua và bộ máy nhà nước. Song cũng thật kì lạ, đó cũng là bước đầu thời kì phát triển mạnh mẽ của Phật giáo. Chính những ông vua từng “Đặt vạc dầu giữa sân, nuôi hổ báo trong cũi” để trấn áp mọi chống đối, lại ủng hộ Phật giáo. Có hiểu được cái tình thế dường như mâu thuẩn đó, chúng ta mới thấy rõ được đặc điểm của Phật giáo Việt Nam trong thế kỉ thứ X.

 

Từ cuối thời kỳ Bắc thuộc, Phật giáo đã lan rộng khắp mọi miền của xứ “An Nam đô hộ phủ”, tức đất nước ta ngày ấy. Đã xuất hiện một lớp cao tăng người Việt, trong đó nhiều người đã đến Trung Quốc, xuống Nam Dương, sang Ấn Độ, hiểu rộng, biết nhiều, kiêm thông Hán Phạn, có thể coi là những trí thức đương thời. Và lực lượng Phật giáo các nhà sư và các tín đồ, đã thực sự tham gia vào cuộc vận động giải phóng dân tộc, đứng vào hàng ngũ nhân dân chống áp bức, giành lại nền độc lập cho đất nước[1]

 

Khi đất nước đã được độc lập, cũng là lúc uy tín và vai trò xã hội của lực lượng Phật giáo được khẳng định. Nhà nước độc lập non trẻ lại đang cần 1 điểm tựa về ý thức, một công cụ tinh thần để xây dựng và quản lý đất nước. Các vua đã chọn Phật giáo làm hệ tư tưởng chính thống, dễ được lòng dân hơn là Nho giáo của phương Bắc có nguy cơ đồng hóa dân tộc thành Bắc thuộc lần nữa.

 

2. Hành trạng một số tăng sĩ tham gia vào chính trị xã hội:

 

Thiền sư KHUÔNG VIỆT (933- 1011)

 

Sư tên là Ngô Chân Lưu, quê ở hương Cát Lị, huyện Thường Lạc, tu ở chùa Phổ Đà[2] (nay là Hà Bắc). Sư được vua Đinh Tiên Hoàng ban danh hiệu Khuông Việt vào năm 971 hàm ý nghĩa tích cực: giúp đỡ nước Việt. Ngoài ra ông được phong chức Tăng thống, chính thức là giai cấp Tăng lữ hoạt động trong Triều chính, ổn định xã hội bằng đường lối Phật giáo. Ông giúp vua Lê Đại Hành với vai trò cố vấn ngoại giao trong vấn đề bang giao với nước Tống.

 

Ông là người phân tích các bài thơ văn của sứ thần nhà Tống là Lý Giác đưa sang phong vương, nhận định cách đáp trả khiến sứ thần nước Tống bái phục người Nam quốc. Đặc biệt vào năm 980, vua Lê Đại Hành sai ông làm bài văn hát để tiễn chân sứ thần Lý Giác:

 

Tường quang phong hảo cấm phàm trương

Dao vọng thần tiên phục đế hương

Vạn trùng sơn thủy thiệp thương lương

Cửu thiên qui lộ trường

Nhân tình thống thiết đối ly trường

Phan luyện sử tinh lang

Nguyện tương thâm ý vị nam cương

Phân minh tấu ngã hoàng.

 

Dịch:

 

Gió xuân đầm ấm cánh buồm giương.

Trông vị thần tiên về đế hương.

Muôn lần non nước vượt trùng dương,

Đường về bao dặm trường.

Tình lưu luyến chén đưa đường,

Nhớ vị sứ lang.

Xin lưu ý đến việc biên cương,

Tâu rõ lên Thánh Hoàng”[3]

 

Khả năng tài trí của ông đã giúp vua Lê bang giao tốt đẹp với nước Tống và nhà Tống khâm phục cách ứng phó đầy trí thức của người An Nam.

 

Ông mất năm Thuận Thiên thứ hai đời Lý (1011).

 

Thiền sư ĐỖ PHÁP THUẬN (924-990)

 

Trong đời Tiền Lê, vua Lê Đại Hành thường mời Sư Pháp Thuận vào triều để trao đổi ý kiến về quốc sự, như chính trị và ngoại giao, đặc biệt là Vua còn nhờ thiền sư soạn thảo các văn kiện ngoại giao.

 

Tiếp đến năm 986, nhà Tống cử Lý Giác sang nước ta để phong tước hiệu cho vua Lê Đại Hành. Vua phái ông cải trang làm người lái đò để đón tiếp sứ thần Lý Giác. Trên sông nhận thấy có đôi ngỗng đang bơi, Lý Giác bèn ứng khẩu đọc hai câu thơ :

 

Nga nga lưỡng nga nga

Ngưỡng diện hướng thiên nha 

 

Đỗ Thuận đang chèo, đọc tiếp hai câu ứng đối tiếp vế thơ trên: 

 

Bạch mao phô lục thủy 

Hồng trạo bãi thanh ba

 

Dịch:

 

Song song ngỗng một đôi

Ngửa mặt ngó ven trời

Lông trắng phơi dòng biếc

Sóng xanh chân hồng bơi[4]

 

Lý Giác cảm phục, sau khi về nước, vị sứ thần đã làm một bài thơ tặng ông. Ông đem dâng Vua, Vua cho gọi nhà sư Khuông Việt đến xem. Khuông Việt nói : “Thơ này có ý tôn trọng bệ hạ không khác gì vua Tống” [5] .

 

Sau đó, Vua hỏi ông về vận nước được ngắn dài thế nào, ông đã trả lời bằng một bài kệ :

 

Quốc tộ như đằng lạc

Nam Thiên lý thái bình

Vô vi cư điện các

Xứ xứ tức đao binh

 

Dịch :

 

Vận nước thật vững bền

Trời Nam hưởng thái bình

Thoải mái trong triều chính

Khắp nơi dứt chiến tranh.

 

Sách Thiền Uyển Tập Anh chép: “Khi nhà Tiền Lê mới sáng lập, sư vận trù kế hoạch rất đắc lực. Đến khi trong nước thái bình, sư không nhận phong thưởng của nhà Vua, nên vua Đại Hành càng kính trọng, thường chỉ gọi là Đỗ Pháp sư chứ không dám gọi tên và giao cho sư giữ việc văn hàm”[6] .

 

Ông là một cố vấn quan trọng của đời Tiền Lê trong lĩnh vực bảo vệ danh dự quốc gia và làm rạng rỡ chủ quyền dân tộc truớc nhà Tống.

 

Thiền sư VẠN HẠNH (? – 1018)

 

Sư là một vị cao tăng học hành uyên bác, đạo lực tinh thâm, quán triệt cả Tam giáo Phật, Lão, Khổng, được vua Lê Đại Hành rất mực kính trọng.

 

Vào năm 980, Nhà Tống đem quân sang đánh nước ta. Do đó, Vua mới hỏi Ông: “Quân ta thắng bại thế nào?”. Ông đáp: “Chỉ trong 3 ngày đến 7 ngày, giặc sẽ lui”, sự việc xảy ra đúng như tiên đoán của ông.

 

Đến đời bạo chúa Lê Long Đỉnh, nhân dân đều oán ghét. Bởi thế sư Vạn Hạnh và Đào Cam Mộc đã sắp xếp thành công mọi việc để suy tôn vua Lý Thái Tổ lên ngôi, lập nên nhà Lý sau khi Lê Long Đỉnh chết. Sự việc này xảy ra, cũng đúng như lời tiên đoán và khuyến khích toàn dân của Ông :

 

“Tật Lê trầm bắc thủy

Lý tử thụ nam thiên

Tứ phương can qua tĩnh

Bát biếu hạ bình yên “

 

Dịch:

 

Vua Lê chìm biển Bắc

Nhà Lý trị trời Nam

Bốn phương dứt chinh chiến

Tám hướng hưởng bình an[7]

 

Sư Vạn Hạnh trong suốt 3 triều đại Đinh, Lê, Lý đã đem tài trí của mình cống hiến cho 3 vị vua lỗi lạc, và trở thành vị anh hùng dân tộc trong sự nghiệp giữ gìn độc lập dân tộc, đồng thời giúp các triều vua về quốc sách trị nước có hiệu quả nhất.

 

Thiền sư VIÊN THÔNG (1080-1151)

 

Được phong Quốc sư và hai lần được trao toàn quyền lãnh đạo việc nước, ông đã dứt khoát từ chối. Tuy nhiên, vào năm 1130, vua Lý Nhân Tông mời ông vào cung điện để hỏi việc trị loạn, mất, còn của đất nước ra sao, ông liền đáp :

 

“Thiên hạ ví như món đồ dùng, đặt vào chỗ yên thì yên, đặt vào chỗ nguy thì nguy, chỉ cốt ở đức Nhà Vua thực hành khác nhau mà thôi. Đức hiếu sinh của Nhà Vua thấm nhuần đến nhân dân thì nhân dân yêu mến Vua như cha mẹ, tôn kính Vua như mặt trời, mặt trăng, thế tức đặt thiên hạ vào chỗ yên vậy.”

 

Về trị loạn, ông trả lời như sau:

 

“Việc trị loạn còn cần ở các quan, được lòng người thì trị an, mất lòng người thì loạn lạc. Tôi đã xem các đế vương thời trước: chưa từng không dùng người quân tử mà được hưng thịnh,vì dùng tiểu nhân mà bị suy vong. Xét lý do như thế, thì không phải tại một sớm, một chiều, mà nguyên nhân của nó đã phát sinh lần lần từ lâu vậy. Trời đất không thể làm nóng lạnh ngay mà phải dần dần từ xuân sang thu. Nhà Vua không thể làm trị loạn ngay, mà phải dần dần từ việc thiện, việc ác. Các Thánh vương đời xưa biết thế, nên đã bắt chước trời để tu đức, sửa mình, bắt chước đất để chăm lo tu đức, an dân. Sửa mình là cẩn trọng bên trong, sợ hãi như đi trên lớp băng mỏng. Yêu dân là kính cẩn công chúng, nơm nớp như cầm roi, nắm cương ngựa. Được như thế, thì đâu mà chẳng hưng thịnh, trái lại, thì đâu mà chẳng suy vong. Đó là lý do hưng – vong dần dần như vậy.”[8]

 

Thiền sư NGUYỄN MINH KHÔNG (TK 12)

 

Vào năm 1130, Vua Lý Thần Tông mắc bệnh kỳ quái, tâm hồn rối loạn, miệng thường gầm thét, và thân thể mọc đầy lông lá như lông cọp. Thời gian ấy, tất cả lương y đều chịu bó tay. Một hôm, nghe trong dân gian có bài đồng dao do trẻ em hát rằng:

 

Tập tầm vông, tập tầm vông

Có ông Nguyễn Minh Không

Chữa được bệnh Thiên Tư û

 

Ngay sau đó, các quan trong triều đình cho đi dò hỏi, tìm mời ông về Triều chữa bệnh cho vua. Tới cung điện, ông yêu cầu nấu một vạc nước sôi, bỏ 100 cái kim trong đó và mang Vua ra gần nơi đó. Khi thăm bệnh Vua, ông lớn tiếng hét rằng: “ Bậc đại trượng phu đứng đầu muôn dân, trị vì bốn bể, sao lại làm cách cuồng loạn như thế?”

 

Sau đó, ông trị bệnh Vua bằng cách châm kim vào các huyệt, Nhà Vua bình phục như xưa và tánh tình thay đổi khác xưa, trở nên hiền lành, tin vào đạo Phật, và phong cho Ông làm chức Lý Triều Quốc Sư . Ta có thể thấy qua câu truyện thần thoại Ông Vua hóa hổ, Nguyễn Minh Không đã dùng chước hay để triều thần phải mời ông, thức tỉnh vua bằng câu nói hét lên mà nếu bình sinh không ai có thể dám khuyên bảo huống chi lại lớn tiếng. Và ý nghĩa trong câu nói ấy là sự thức tỉnh vua về chính sự có thể nhiễu nhương bởi quần thần bất lực. Cũng từ đó, khi vua lành bệnh, ông đã trở thành một “Lý Triều Quốc Sư” cố vấn cho vua và quần thần trong mọi việc lớn nhỏ của đất nước. 

 

Trên đây là một số điển hình cụ thể về các tăng sĩ tham gia Quốc sự ở 3 triều đại Đinh, Lê, Lý. Tiếc rằng các sử gia phong kiến chỉ nói đến vua quan quí tộc ở triều đại, nên sách sử chỉ ghi lại các sự kiện rất ít, mà chỉ nêu tên và chức vụ của các Tăng sĩ tham chính bằng cách được vua vời hỏi việc đạo việc nước mà phong làm Quốc sư, cố vấn như:

 

SÙNG PHẠM (mất 1087), THẢO ĐƯỜNG QUỐC SƯ (1054 – 1105), KHÔ ĐẦU, KHÔNG LỘ, THÔNG BIỆN, VIÊN CHIẾU, MÃN GIÁC, CHÂN KHÔNG, GIÁC HẢI, HUỆ SINH.

 

3/ Đặc điểm vai trò chính trị của các Tăng sĩ:

 

Ta thấy có nhiều lý do để họ tham dự chính trị. Thế kỷ thứ mười là thế kỷ Việt Nam bước đầu thực sự giành được quyền tự chủ. Khúc Thừa Dụ, Khúc Hạo, Khúc Thừa Mỹ nối nhau dấy nghiệp, rồi Ngô Quyền phá quân Nam Hán. Tiếp đến Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn 12 sứ quân, lập ra nước Đại Cồ Việt độc lập. Chính trong thế kỷ này Đạo Phật tích cực đóng góp vào việc dựng nước. Năm 971, vua Đinh Tiên Hoàng định giai cấp cho Tăng sĩ và ban chức Tăng Thống cho Ngô Chân Lưu hiệu là Khuông Việt Thái Sư, chính thức nhận Phật giáo làm nguyên tắc chỉ đạo tâm linh cho chính sự. Cũng trong thế kỷ này mà vua Lê Đại Hành mời Thiền sư Pháp Thuận và Vạn Hạnh làm cố vấn chính trị. Các Thiền sư Khuông Việt, Pháp Thuận, Vạn Hạnh cũng đã tiếp tục giúp vua Lý Thái Tổ trong thế kỷ kế tiếp. 

 

Các tăng sĩ tham dự chính sự nhưng không tham dự chính quyền. Họ chỉ tới giúp ý kiến và công việc, rồi trở về chùa. Lý do nào mà họ góp phần vào chính sự? Lý do thứ nhất: Họ là những người có học, có ý thức về quốc gia, sống gần gũi với quần chúng và biết được những khổ đau của dân tộc bị một chính sách đô hộ hà khắc bóc lột. Lý do thứ hai: Họ không có ý muốn tranh ngôi của vua, không giành quyền bính và địa vị ngoài đời, nên vua tin họ. Lý do thứ ba: Họ không cố chấp vào thuyết trung quân (chỉ biết giúp một vua mà thôi) như các nhà Nho, nên họ có thể cộng tác với bất cứ ông vua nào có thể đem lại hạnh phúc cho dân. Lý do thứ tư: Các vua cần sức học của họ, nhất là trong đời Đinh, Lê, các vua đều không phải thuộc giới trí thức. Nho sĩ thì chắc đã không có mấy người, mà lại chỉ trung thành được với một triều đại.

 

Trong phần nói về hành trạng của các Thiền sư Ngô Chân Lưu, Pháp Thuận và Vạn Hạnh, ta đã thấy hành động của họ đóng góp nhiều trong lĩnh vực chính trị. Danh hiệu “ KHUÔNG VIỆT” đủ nói lên tầm quan trọng về công tác của ông. Năm 986, khi sứ thần nhà Tống là Lý Giác qua, vua Đại Hành nhờ ông ra ứng đối, bởi vì ông là người có khả năng nhất lúc bấy giờ. Chắc hẳn công trình của Khuông Việt trong chính sự khá lớn, cho nên sách Thiền Uyển Tập Anh mới chép: “Vua Lê Đại Hành rất kính trọng, phàm những việc quân quốc trong triều đình đều đưa cho Ngài cả” (Lê Đại Hành hoàng đế vưu gia lễ kính, phàm triều đình quân quốc chi sự, sư giai dữ yên)[9]. 

 

Tuy giúp nhà Tiền Lê, nhưng khi thấy tình trạng tệ hại do Lê Long Đỉnh tạo ra, Thiền sư Vạn Hạnh đã không ngần ngại ủng hộ Lý Công Uẩn trong việc chấm dứt chế độ dã man này. Sau khi Lê Đại Hành mất, con là Long Việt lên ngôi mới được có 3 ngày thì bị Long Đỉnh giết. Biết trước Long Đỉnh sẽ rất tàn bạo, Lý Công Uẩn đã ôm xác Long Việt mà khóc. Vạn Hạnh cũng thấy rõ nguy cơ ấy nên bắt đầu mới nuôi ý đưa Lý Công Uẩn lên chính quyền, qua sự kiện lời phù sấm ở cây gạo bị sét đánh làng Cổ Pháp, Ông đã tỏ rõ ý nầy và bộc lộ tài thông thái, quyền biến sắp đặt nên sự việc. Sau đó phối hợp với Đào Cam Mộc làm nên việc lật đổ triều Lê, đưa nhà Lý lên ngôi và ổn định triều thần, nhân dân bằng uy tín của mình[10]

 

Các vua đời Lý so sánh với các vua Đinh, Lê thì giỏi hơn rất nhiều về phương diện học thức. Sự sùng Phật của các vua Lý cũng có tính cách tâm linh và trí thức hơn. Họ đều có học Phật và thường mời các Thiền sư đến để đàm luận về giáo lý. Trong triều đã xuất hiện nhiều người Nho học, trong số nầy có nhiều người do các Thiền sư đào tạo. Vì vậy các Tăng sĩ chỉ đóng góp về mặt chỉ đạo tinh thần và cố vấn quốc sự chứ không phải trực tiếp làm những việc tiếp sứ, thảo chiếu dụ và văn thư. Lúc này họ là người đưa sách lược về kinh tế và chính trị.

 

Thuở ban đầu lập quốc của 3 triều đại này, các Thiền sư đã mở những cuộc vận động gây ý thức quốc gia, đã sử dụng những môn học phong thủy và sấm vĩ trong cuộc vận động ấy, đã trực tiếp thiết lập kế hoạch, thảo văn thư, tiếp ngoại giao đoàn, bàn luận về cả những vấn đề quân sự. Sau khi triều đình đã có đủ người thay thế họ lo các việc đó, thì họ trở về giữ vai trò hướng dẫn tinh thần và cố vấn đạo đức cho triều đình và cho mọi tầng lớp nhân dân. Có những Tăng sĩ thường đi lại cửa khuyết, nhưng nhiều người lại từ chối về kinh khi có chiếu mời. Ngay cả Vạn Hạnh là người có tham dự chính sự nhiều, trong khi làm việc vẫn giữ phong cách xuất thế của mình, xong việc thì rút lui về chùa. Triết lý hành động của Vạn Hạnh tiêu biểu cho thái độ chung của các Thiền sư: làm thì làm vì đất nước, nhưng không mắc kẹt vào công việc, không nương tựa vào danh thế, địa vị, mà cuối cùng họ cũng trở về với việc tu hành yên lặng, tịnh tĩnh của đạo Phật.

 

II. VAI TRÒ của PHẬT GIÁO ĐỜI TRẦN:

 

1. Khái quát về đặc điểm của Phật giáo đời Trần

 

Ở đây chúng tôi không kể đến hành trạng của các Tăng sĩ nữa, vì lẽ đời Trần Phật giáo đã đi vào đỉnh cao nhất và đi sâu vào chính sự qua những con người cụ thể lãnh đạo triều đại, các vị vua nhà Trần đã là Tăng sĩ hay đang trị vì cũng đã uyên thâm Phật học. Các vua luôn được sự cố vấn của các Tăng sĩ Quốc sư trong mọi việc triều chính an dân như:

 

- TRẦN THÁI TÔNG (1218-1277) 

- TRÚC LÂM QUỐC SƯ

- ĐẠI ĐĂNG QUỐC SƯ

- TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ

- TRẦN THÁNH TÔNG

- TRẦN NHÂN TÔNG tức TRÚC LÂM ĐẦU ĐÀ 

- TRẦN ANH TÔNG 

- TRẦN MINH TÔNG 

- Thiền sư HUYỀN QUANG 

- Thiền sư PHÁP HOA 

- BẢO PHÁC Quốc sư 

- TÔNG CẢNH Quốc sư 

- LÃM SƠN Quốc sư

 

Qua các hành trạng của các vị tiêu biểu trên đây mà sử sách có chép lại đầy đủ [11] chứng minh rằng Phật giáo đời Trần, tức Phật giáo Trúc Lâm, một Thiền phái đặc biệt phát triển do vua Trần Nhân Tông lãnh đạo trở thành một hệ thống tư tưởng triết lý Phật giáo gắn chặt vào dân tộc. Phong trào Phật giáo nhập thế do Trúc Lâm Trần Nhân Tông xây dựng đã được toàn dân tham gia. Đạo và tục không còn ranh giới như ở triều đại nhà Lý, lãnh đạo Giáo hội có lúc là Thiền sư, có lúc là các vua đã lên làm Thái Thượng Hoàng. Đặc biệt đời Trần, các vua hầu như truyền ngôi lại rất sớm để bước vào lãnh vực Tăng sĩ tuy vẫn giữ vai trò chủ đạo trong triều chính bằng ngôi Thái Thượng Hoàng. Như vua Trần Thái Tông làm Thái Thượng Hoàng 20 năm, vua Trần Nhân Tông, vị Vua từng đánh bại cuộc xâm lăng nhà Nguyên, xuất gia năm 1299, là vị Sư tổ phái Trúc Lâm Yên Tử, với tài chiến lược cao, Ông lấy đỉnh Yên tử làm nơi tu hành nhưng là vị trí chiến lược hàng đầu để quan sát mọi tình thế, thế trận chống quân thù khi có giặc xâm lăng phương Bắc tràn qua.

 

Tháng Ba năm 1301, Trúc Lâm Đầu Đà đi Chiêm Thành để quan sát miền trong với tư cách du Tăng, có một số tu sĩ tùy tùng. Vua đã lưu lại đây cho đến tháng 11 mới về. Trong thời gian ở Chiêm Thành, ông đã gặp vua Chế Mân để quan hệ bang giao và hứa gả Công chúa Huyền Trân cho vua Chàm gây tình hòa hữu đổi lấy hai Châu Ô và Châu Lý mở rộng bờ cõi. Chính sự kiện đó, sau khi Trúc Lâm mất 3 năm, tháng Chạp năm 1311 vua Anh Tông cất binh đi đánh Chiêm Thành. Một chiến lược mở rộng bờ cõi lâu dài, một cơ đồ vĩ đại mà Sư Trúc Lâm tức vua Nhân Tông đã vạch ra, được thực hiện cho nhiều thế hệ nhà Trần đi đến thành công. Tuy nhiên, chính cuộc chiến dai dẳng với Chiêm Thành này đã làm nhà Trần suy yếu về sau.

 

2/ Vai trò chính trị của Phật giáo đời Trần

 

Đặc tính của Phật giáo Trúc Lâm là nhập thế, đạo Phật phụng sự cho đời sống tâm linh cũng như đời sống xã hội. Quốc sư Viên Chứng đã nói rõ về những nguyên tắc hướng dẫn đời sống của một nhà chính trị Phật tử: “Đã làm người phụng sự dân thì phải lấy cái muốn của dân làm muốn của mình, phải lấy ý dân làm ý mình, trong khi đó không xao nhãng việc tu học của bản thân”[12] Trần Thái Tông nói rằng: “Nhà chính trị phải thực hiện đạo Phật trong xã hội”[13]. Trần Nhân Tông đi khắp thôn quê phá trừ các dâm từ, khuyên dân thực hành thập thiện… Những tự viện ẩn cư trên núi nhưng vẫn có liên hệ đến đời sống văn hóa xã hội và chính trị quốc gia.

 

Tăng sĩ đời Trần không trực tiếp đóng góp vào sự nghiệp chính trị nhưng Phật giáo đã là một yếu tố liên kết nhân tâm quan trọng. Tinh thần Phật giáo đã khiến cho các nhà chính trị đời Trần áp dụng những chính sách bình dị, thân dân và dân chủ. Năm 1284, trước thế xâm lăng vũ bão của quân Nguyên, Nhân Tông đã triệu tập hội nghị Diên Hồng. Tới dự hội nghị không phải là các vương tôn công thần mà là các bô lão đáng kính trong dân gian. Vua Nhân Tông khi đi ngoài đường gặp gia nhân các vương thần thì hay dừng lại để hỏi han, không cho vệ sĩ nạt nộ họ. Vua nói: “Lúc thái bình nhờ có thị vệ tả hữu, mà lúc nước nhà lâm hoạn nạn, thì chính những người gia nhân ấy đi theo bảo vệ”.

 

Ta hãy nhớ chuyện Hoàng Cự Đà không ăn được xoài và chuyện vua Thánh Tông đốt tài liệu xin hàng của các quan để thấy thái độ “từ bi chính trị” trong đối sách của các vua Trần. Vua Thái Tông một hôm cho các quan hầu cận ăn xoài, Hoàng Cự Đà không được ăn. Đến khi quân Nguyên đến bến Đông, Cự Đà ngồi thuyền nhẹ trốn đi. Đến Hoàng Giang, gặp Hoàng Thái Tử đi thuyền ngược lên, Cự Đà tránh sang bờ sông bên kia, thế thuyền đi rất gấp, quan quân hô to hỏi quân Nguyên ở đâu? Cự Đà trả lời không biết, hãy hỏi bọn được ăn xoài ấy! Sau khi phá được giặc, Thái Tử xin trừng phạt Cự Đà để răn đe những kẻ làm tôi bất trung. Vua nói: “Cự Đà tội đáng giết cả họ, song đời xưa có việc Dương Châu không được ăn thịt dê đến nỗi làm quân nước Trịnh bị thua. Việc Cự Đà là lỗi của ta, tha cho tội chết, cho đánh giặc để chuộc tội”[14]

 

Khi quân Nguyên đang mạnh, triều thần lắm kẻ hai lòng có giấy tờ giao thiệp với giặc. Sau giặc thua chạy về Bắc, triều đình bắt được một tráp biểu hàng của các quan. Đình thần muốn lục ra để trị tội, nhưng Thượng Hoàng nghĩ rằng làm tội những kẻ tiểu nhân cũng vô ích, bèn sai đem đốt cả tráp đi, cho yên lòng mọi người.[15]

 

Một hôm có người dâng sớ báo cáo với Vua Minh Tông là trong dân gian có những người lang thang tới già cũng không có tên trong sổ, không chịu thuế dịch, sai phái tạp dịch thì không chịu đến. Vua nói: “Nếu không có người như thế thì sao có thể gọi là Thái bình? Ngươi muốn trách phạt họ thì có được gì không?”. Những năm mất mùa, nhiều người bệnh tật, triều đình hay khuyến cáo những nhà giàu dâng thóc gạo.Triều đình còn sai người chế thuốc để phát cho người bệnh. Năm 1362, Vua ngự ở phủ Thiên Trường, nhân dân ai đói và bệnh có thể đến đấy để xin hai viên thuốc Hồng Ngọc Sương, hai tiền và hai thăng gạo.

 

Chính Nhân Tông- Trúc Lâm đã sử dụng được tiềm năng của Phật giáo để phục vụ chính trị. Sự kiện xuất gia của vua, cũng như những năm hành đạo trong dân gian của vua, đã khiến Giáo Hội Trúc Lâm trở nên một lực lượng tôn giáo hùng mạnh yểm trợ cho triều đại.

 

Anh Tông sau khi nhượng ngôi cho Minh Tông cũng đã có ý định xuất gia để nối tiếp sự nghiệp của Nhân Tông, nhưng chưa thực hiện được thì đã mất. Một điều ta ghi nhận là những ông vua ấy muốn sử dụng tiềm lực Phật giáo để liên kết nhân tâm, nhưng không phải vì vậy mà giả danh Tăng sĩ, Phật tử. Họ là những Phật tử chân chính và có ý nguyện phụng sự đao Phật một lần với sự phụng sự quốc gia và triều đại của họ[16].

 

Qua hai cụm triều đại Đinh Lê Lý và nhà Trần, đó là giai đoạn đánh dấu nền tự chủ độc lập đầu tiên của lịch sử dân tộc, cũng là giai đoạn mà Phật giáo phát huy mọi tác dụng trong đời sống xã hội - chính trị của các thời đại. Xét theo mối tương quan nhân quả, thì sự ổn định, hưng thịnh, bắt nguồn từ ý thức hệ nội tâm. Tâm an thì ngoại cảnh sáng, dựa trên triết lý đạo Phật chi phối. 

 

Từ giai đọan đầu trợ giúp quốc gia bằng tài trí đối ngoại trong bang giao, đến đỉnh cao là hội nhập vào xã hội và chuyển hóa, các nhà vua áp dụng việc trị nước trên tinh thần Phật giáo. Đạo Phật nói chung và giới Tăng sĩ đã đóng vai trò lớn lao ở mọi mặt cho giai đoạn lịch sử vàng son nhất của dân tộc ./.

 

Tài liệu tham khảo:

 

HÁN VĂN : 

1. Thiền Uyển Tập Anh Ngữ Lục – Thông Biện 

2.Trùng Khắc Đại Nam Thiền Uyển Truyền Đăng Tập Lục- Phúc Điền hiệu khảo và san khắc. 

3. Khóa Hư Lục – Trần Thái Tông. 

4. Đại Việt Sử ký – Lê văn Hưu.

5.Đại Nam Nhất Thống Chí, Cao Xuân Dục.

6. Đại Việt Thông Sử – Lê Quí Đôn.

 

QUỐC VĂN :

7. Đại Việt Sử ký toàn thư, Cao Huy Giu và Đào Duy Anh, NXB Khoa Học Xã Hội – Hà Nội, 1971.

8. Lịch sử Phật Giáo Việt Nam. Nguyễn Tài Thư chủ biên, Viện Triết Học- NXB Khoa Học Xã Hội xuất bản- Hà Nội- 1991.

9. Phật Giáo Việt Nam Sử Luận Tập I, Nguyễn Lang, NXB Văn Học xuất bản, Hà Nội- 1994

10.Đạo Phật Việt Nam, Thích Đức Nghiệp, NXB TP. Hồ Chí Minh - 1994.

11. Việt Nam Phật Giáo sử lược, Mật Thế, Hà Nội- 1942.

12. Phật Giáo Việt Nam, từ khởi nguyên đến thế kỷ XIII, Trần Văn Giáp và Tuệ Sĩ dịch, Sài Gòn-1968.

13.Tam Tổ hành trạng, Trần Tuấn Khải dịch, Sàigòn - 1971.

14. Văn Học đời Lý. Ngô Tất Tố, Sài Gòn – 1960.

15. Việt Nam Cổ văn học sử, Nguyễn Đổng Chi, Hà Nội – 1942.

16. Việt Nam sử lược, Trần Trọng Kim, Hà Nội – 1928.

 

CHÚ THÍCH

1 Lịch sử Phật giáo Việt Nam- Viện Triết học- NXB Khoa học xã hội tr. 128

2 Đại Việt sử ký toàn thư, bản kỷ, Q.I, tr.7b

3 Sách đã dẫn , Q.I, tr 172

4 Phật Giáo Việt nam sử lược – Thích Mật Thế

5 Đaị Việt sử ký toàn thư – Bản kỷ, Q.I, tr. 272

6 Thiền Uyển Tập Anh Ngữ Lục , Q. thượng

7 Đạo Phật Việt Nam – Thích Đức Nghiệp , Tr .138

8 Thiền Uyển Tập Anh , Q. Hạ

- Lịch sử Phật giáo Việt Nam – Tr.161, Viện Triết học XB, Hà Nội 1991

- Đạo Phật Việt Nam, Tr .140, Thích Đức Nghiệp.

9 Phật Giáo Việt Nam sử luận – Nguyễn Lang – Tập I, Tr. 233

10 Đại Việt sử ký toàn thư – Bản kỷ, Q.I, Tr. 187 NXB Khoa học Xã hội 1967

11 Đại Việt sử ký toàn thư – Thiền Uyển Tập Anh – Phật Giáo Việt Nam sử luận – Lịch sử Phật Giáo Việt Nam và các sách đã dẫn.

12 Phật Giáo Việt Nam sử luận – Nguyễn Lang tập I, Tr 500 13 Tựa quyển Thiền Tông Chỉ Nam – Trần Thái Tông 

14 Đại Việt sử ký toàn thư – Bản kỷ , Q. 5, Tr . 30

15 Đại Việt sử ký toàn thư – Bản kỷ , Q. 5, Tr . 71

16 Phật Giáo Việt Nam sử luận – Nguyễn Lang Tập I, Tr .507

 

_________________

Thích Đồng Bổn

Nguồn: thuvienhoasen.org

NHỮNG NHẬN ĐỊNH CHƯA ĐÚNG VỀ PHẬT GIÁO TRONG TÁC PHẨM ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TOÀN THƯ

Giai đoạn thịnh trị nhất trong lịch sử dân tộc là thời Lý - Trần, đã bộc lộ nhiều dấu hiệu cho thấy sự thành công trong đường lối trị nước bằng pháp (đạo đức). Tuy nhiên, với cái nhìn thiên lệch, phiến diện, chủ quan, các vị sử quan biên soạn ĐVSKTT đã nhìn nhận không công bằng đối với các vị vua Phật tử.

Đại Việt sử ký toàn thư (ĐVSKTT) là một bộ sử chứa đựng nhiều tư liệu quý hiếm về lịch sử dân tộc Việt Nam. Công trình sử học này là một đóng góp lớn đối với ngành sử học nói riêng và lịch sử dân tộc nói chung.

 

Về khởi nguyên, tác phẩm ĐVSKTT được nhà sử học Lê Văn Hưu (1230-1322) dựng những nền móng đầu tiên ở triều đại nhà Trần vào năm 12721 và sau đó được các nhà sử học như Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên, Phạm Công Trứ… bổ chính, để cuối cùng được sử thần Lê Hy (1646-1702) hoàn thành vào năm 1697.

 

Xét về thời gian và tác giả, thì đây là một bộ sử có thời gian biên soạn kéo dài tới 425 năm và được nhiều nhà sử học có thẩm quyền ở cả hai triều đại Trần - Lê cùng tham gia trước tác. Xét về phương diện nội dung, thì một trong những đóng góp lớn của ĐVSKTT, đó là niềm tự hào dân tộc, là tinh thần yêu nước và ý thức trách nhiệm sâu sắc đối với độc lập chủ quyền đất nước của các tác giả bộ Quốc sử.2

 

Tuy nhiên, do sự chi phối của hệ tư tưởng Nho giáo, do giới hạn về tư liệu tham khảo, do định kiến tư duy của vài tác giả trong nhóm biên soạn, thế nên ĐVSKTT đã có những hạn chế và sai sót nhất định. Ở đây, tiêu biểu cho những sai sót trong tác phẩm ĐVSKTT, là những nhận định không đúng về Phật giáo, được thể hiện trên hai phương diện:

 

- Nhận định không đúng về các vị vua Phật tử

- Nhận thức sai lầm về Phật giáo

 

Trong tâm thế khách quan, cẩn trọng và cân nhắc, chúng tôi sẽ lần lượt góp ý về những vấn đề này được trình bày qua hai bài viết...

 

Bài 1: NHẬN ĐỊNH KHÔNG ĐÚNG VỀ CÁC VỊ VUA PHẬT TỬ


Trong lịch sử các triều đại phong kiến phương Đông, có nhiều vị vua không những là một bậc minh quân gương mẫu trong việc quản lý và điều hành đất nước, mà còn là một Phật tử thuần thành. Trong số đó có thể kể đến như vua Ashoka (अशोक 272-236 B.C)3, Kanishka ( कनिष्क) của Ấn Độ; cho đến vua Diêu Hưng (366-416), Lương Võ Đế (464-549) của Trung Hoa.

 

Tại Việt Nam, ngay từ buổi đầu dựng nước và sau đó hàng trăm năm, đã có nhiều vị vua ở các thời Đinh, Lê, Lý Trần, Lê… không những thừa nhận mình là một Phật tử thuần thành, mà còn vận dụng tinh hoa Phật giáo vào công cuộc dựng nước và giữ nước. Đơn cử như Đinh Tiên Hoàng ban hiệu Khuông Việt Đại sư cho Tăng thống Ngô Chân Lưu vào năm 9714. Ngay cả triều vua sau, tức Lê Đại Hành, vẫn trọng thị những ý kiến của Đại sư Khuông Việt5. Đây cũng là trường hợp của Lý Nhân Tông cầu thỉnh ngài Khô Đầu làm Quốc sư6, Lý Thần Tông phong Đại sư Minh Không làm Quốc sư7. Thông qua nguồn đạo đức vô hành từ các vị cao tăng này, những giá trị nhập thế tích cực của Phật giáo, đã từng bước đi vào đường lối trị nước của những vị vua Phật tử, giống như chuẩn mực lý tưởng của một vị vua được Phật dạy trong kinh Trường bộ: Làm cho các người khác hoan hỷ bởi Pháp, tức là Ràja (vị vua)8.

 

Có thể nói, giai đoạn thịnh trị nhất trong lịch sử dân tộc là thời Lý - Trần, đã bộc lộ nhiều dấu hiệu cho thấy sự thành công trong đường lối trị nước bằng pháp (đạo đức). Tuy nhiên, với cái nhìn thiên lệch, phiến diện, chủ quan, các vị sử quan biên soạn ĐVSKTT đã nhìn nhận không công bằng đối với các vị vua Phật tử.

 

Đánh giá của ĐVSKTT về các vị vua Phật tử

 

Nhận định cô động về các vị vua Phật tử tập trung ở bài Việt giám thông khảo tổng luận của Lê Tung, một vị quan văn dưới thời Lê Tương Dực (1495-1516), ông chủ trương khôi phục văn miếu, cổ xúy Nho gia. Vào năm 1514, Lê Tung vâng lệnh của vua Lê Tương Dực đã soạn bài Đại Việt thông giám tổng luận9.

 

Theo Phan Huy Chú (1782-1840), bấy giờ là Vũ Quỳnh tiến sách Thông khảo, vua Lê Tương Dực muốn nhặt những điều cốt yếu, mới sai Lê Tung làm sách này10. Bài Tổng luận của Lê Tung đã được các nhà biên soạn ĐVSKTT đưa vào đầu bộ sách, điều đó cho thấy, những nhận định của Lê Tung cũng là quan điểm của các nhà biên soạn tác phẩm sử học này. Trong một vài trường hợp, bài Tổng luận của Lê Tung được kế thừa từ ý kiến của sử thần Lê Văn Hưu cũng như các sử gia cùng tham gia biên soạn ĐVSKTT.

 

Ở đây, mặc dù tác giả bài Tổng luận đã có những khái quát về công trạng của các bậc quân vương, nhưng hoàn toàn thiếu công bằng, khi không thừa nhận vai trò của Phật giáo trong việc góp phần vào sự thành công đó. Theo khảo sát, bài Tổng luận đã đề cập hầu hết các vị vua Phật tử triều Lý, từ Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông… cho đến các vị vua ở triều Trần như Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông... Trong khi nhận định, Lê Tung nói riêng và các các Nho thần nói chung, đã không giữ được thái độ nho nhã khi đề cập đến niềm tin Phật giáo của các bậc quân vương này. Do giới hạn đề tài, chúng tôi chỉ đề cập đến vài vị quân vương tiêu biểu.

 

1- Lý Thái Tổ (974-1028)11


Lý Thái Tổ nhân Ngọa Triều thất đức, hiệp điềm tốt sét đánh thành chữ, ứng mệnh trời, thuận lòng người, thừa thời mở vận; có đại độ khoan nhân, có quy mô xa rộng, dời đô định vạc, kính trời yêu dân, tô ruộng có lệnh tha, phú dịch có mức độ. Bắc Nam thông hiếu, thiên hạ bình yên. Song thánh học chẳng nghe, nho phong chưa thịnh, Tăng Ni chiếm nửa nhân gian, chùa chiền dựng đầy thiên hạ, không phải là đạo sáng nghiệp truyền dòng vậy.

 

* Góp ý của chúng tôi


Qua nhận định trên, Lê Tung đã thể hiện thái độ không thiện cảm với Phật giáo.

 

Trước hết, ngoài những nhận xét tích cực về Lý Thái Tổ, Tổng luận của Lê Tung đã cho rằng: Song thánh học chẳng nghe, nho phong chưa thịnh, Tăng Ni chiếm nửa nhân gian, chùa chiền dựng đầy thiên hạ, không phải là đạo sáng nghiệp truyền dòng vậy.

 

Quan điểm này, Lê Tung lấy một phần từ tiểu dẫn về Lý Thái Tổ trong ĐVSKTT: Song chưa làm sáng chính học, lại ưa thích dị đoan, bị lụy vì chuyện đó12. Và một phần ý kiến của Lê Văn Hưu: Lý Thái Tổ lên ngôi mới được hai năm, tông miếu chưa dựng, đàn xã tắc chưa lập mà trước đã dựng tám chùa ở phủ Thiên Đức, lại trùng tu chùa quán ở các lộ và độ cho làm Tăng hơn nghìn người ở kinh sư, thế thì tiêu phí của cải sức lực vào việc thổ mộc không biết chừng nào mà kể. Của không phải là trời mưa xuống, sức không phải là thần làm thay, há chẳng phải là vét máu mỡ của dân ư? Vét máu mỡ của dân có thể gọi là làm việc phúc chăng? Bậc vua sáng nghiệp, tự mình cần kiệm, còn lo con cháu xa xỉ lười biếng, thế mà Thái Tổ để phép lại như thế, chả trách đời sau xây tháp cao ngất trời, dựng cột chùa đá, điện thờ Phật lộng lẫy hơn cung vua. Rồi người dưới bắt chước, có kẻ hủy thân thể, đổi lối mặc, bỏ sản nghiệp, trốn thân thích, dân chúng quá nửa làm sư sãi, trong nước chỗ nào cũng chùa chiền, nguồn gốc há chẳng phải từ đấy?13.

 

Ở đây, riêng về nhận xét của Lê Văn Hưu, chúng tôi cho rằng đó là một quan điểm có thể do người đời sau gán cho ông.

 

Vì lẽ, Lê Văn Hưu viết ĐVSKTT dưới thời vua Trần Thái Tông và hoàn thành vào năm 1272 dưới thời Trần Thánh Tông. Cần lưu ý rằng, theo ghi nhận của Ngô Sĩ Liên thì việc của Trần Thái Tông cũng giống như việc Vạn Hạnh với Lý Thái Tổ. Đó là mầm đầu tiên của sự sùng Phật ở đời Lý, đời Trần14. Cũng sùng Phật như Trần Thánh Tông, Trần Thái Tông thường ưu du cõi Tam muội, tìm dấu đạo Nhất thừa15. Như vậy, cả hai vị vua thời Lê Văn Hưu đều sùng Phật, đều xây dựng chùa chiền và tổ chức độ Tăng, thì làm sao nhận xét đó của Lê Văn Hưu có thể tồn tại dưới thời đại nhà Trần?

 

Cùng đề cập đến vấn đề này, cố Giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã cho rằng, đoạn sử đời Lý do Lê Văn Hưu soạn đã bị đính khảo nhiều16. Sau khi dẫn sử liệu chứng minh, Giáo sư đi đến khẳng định: Ngô Sĩ Liên đã dọn bớt tác phẩm Lê Văn Hưu17.

 

Trong các ý kiến từ ĐVSKTT về vua Lý Thái Tổ, bộc lộ 2 vấn đề. Thứ nhất là phản ánh về số lượng Tăng Ni và chùa chiền quá đông. Thứ hai, nhà vua không quan tâm đến việc phát triển Nho học.

 

Trong vấn đề thứ nhất, cần phải thấy rằng, ngay từ thời Đinh Tiên Hoàng (924-979), đã bắt đầu quy định cấp bậc văn võ, Tăng đạo, Tăng thống Ngô Chân Lưu được ban hiệu là Khuông Việt Đại sư18. Nối gót theo cha, con trai Đinh Tiên Hoàng là Đinh Liễn đã từng khắc 100 cột kinh bằng đá, mà một trong số chúng còn được bảo lưu ở chùa Nhất Trụ, Hoa Lư, Ninh Bình. Thậm chí, tuy được cho là ăn chơi xa xỉ, nhưng Lê Long Đĩnh (986-1009) chính là vị vua đầu tiên cử người sang Tống thỉnh kinh Đại tạng vào năm 1007 và đem Đại tạng kinh này về nước vào năm 100919. Trong khi đó, Đại tạng kinh được ấn hành đầu tiên tại Trung Quốc vào niên hiệu Khai Bảo (968-976)20. Xét ra, vào thời Tiền Lê, kho tàng kinh điển Bắc truyền vừa được in ấn lần đầu tiên trên thế giới, đã có mặt tại Việt Nam.

 

Như vậy, để công bằng hơn, nếu loại bỏ đi nguồn gốc xuất thân và quá trình trưởng thành liên quan đến chùa chiền, trước khi Lý Thái Tổ đăng quang thì niềm tin vào Phật giáo đã lan tỏa trong số đông dân chúng. Là một bậc quân vương, trên kính mệnh Trời, dưới theo ý dân21, ý dân phần lớn là tín Phật, thì cần phải đối xử khéo léo với niềm tin ấy, nhất là đối với một tân vương vừa mới lên ngôi, đã đồng thời tổ chức thiên đô về vùng đất mới. Đó là một trong những lý do đầu tiên để lý giải tại sao Lý Thái Tổ sùng trọng Phật giáo, thể hiện trong việc độ Tăng và xây dựng chùa chiền. Đây cũng là chủ trương của Trần Thừa (1184-1234), tức cha của Trần Thái Tông (1218-1277) nhằm tranh thủ lòng dân, giúp vua trị nước: Thượng hoàng xuống chiếu rằng trong nước hễ chỗ nào có đình trạm đều phải đắp tượng Phật để thờ22. Sự kiện này diễn ra vào năm thứ 7 sau khi Trần Thái Tông lên ngôi.

 

Thứ hai, vì sao Lý Thái Tổ không quan tâm phát triển Nho học?

 

Lý Thái Tổ là người nhìn xa trông rộng. Ông am tường Nho giáo khi tự tay viết chiếu và viện dẫn chuyện Thương, Chu ngay những dòng đầu tiên trong chiếu dời đô23. Cho nên câu nói của Lê Tung trong bài Tổng luận:Song thánh học chẳng nghe đã hoàn toàn không đúng với Lý Thái Tổ trong trường hợp này. Không những thế, với một đất nước vừa thoát khỏi ách thống trị của Trung Hoa gần 1.000 năm, tuy vừa trải qua hai triều Đinh - Lê nhưng thực tế thời gian hưởng độc lập chưa tới 60 năm24. Do vậy, Lý Thái Tổ đã có một thái độ cẩn trọng trong việc sử dụng những thành tựu văn hóa phương Bắc. Nói cách khác, Lý Thái Tổ luôn dè dặt trong ứng xử, thậm chí là cực kỳ nghiêm khắc trong những hành vi liên hệ đến triều đình Trung Hoa. Đơn cử như: Mùa hạ, tháng 4 (1011) sai viên ngoại lang là Lý Nhân Nghĩa và Đào Khánh Văn sang thăm nước Tống để đáp lễ. Khánh Văn trốn ở lại nước Tống, người Tống bắt trả lại cho ta, đánh trượng chết25.

 

Có thể nói, trong khi dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La, ngoài dinh thự, công quán cần được xây dựng mới, thì việc hỗ trợ cũng như kêu gọi xây dựng chùa chiền cũng được Lý Thái Tổ song hành quan tâm. Đối với một đất nước chưa thực sự vững mạnh về kinh tế, thì việc nhà nước xây dựng cơ sở tôn giáo quá nhiều, đôi khi dễ gây ra dị nghị, nhất là đối với các bậc Nho thần vốn có sẵn định kiến về Phật giáo.

 

2- Lý Thái Tông (1000-1054)26


Thái Tông trí dũng gồm hai, đánh đâu được đấy; có đức hiếu hữu, học tập lễ nhạc, dẹp giặc, bình man, cày tịch điền, khuyến việc nông, thân oan có chuông, hình chế có luật, là một bực vua giỏi giữ nền nếp vậy. Song say thơ kệ đạo Phật ở chùa Tiên Du, mê điệu hát Tây Thiên (của nước Chiêm Thành) không phải là đạo nuôi dân trị nước.

 

* Góp ý của chúng tôi


Một trong những ảnh hưởng từ Phật giáo vào giải pháp trị an dưới thời Lý Thái Tông đó là đánh chuông để minh oan. ĐVSKTT chép: Phía Đông thềm rồng đặt diện Văn Minh, phía Tây đặt điện Quảng Vũ, hai bên tả hữu thềm rồng đặt lầu chuông đối nhau để dân chúng ai có việc kiện tụng oan uổng thì đánh chuông lên27; Tháng 3, đúc chuông lớn để ở Long Trì, cho dân ai có oan ức gì không bày tỏ được, thì đánh chuông ấy để tâu lên28. Xưa, dân gặp chuyện oan uổng thì lên nha môn đánh trống, Lý Thái Tông đã thay trống bằng chuông, cũng là một bằng chứng cho thấy, các vị vua nhà Lý đang cố gắng tìm kiếm một giải pháp mới trong việc trị nước, an dân.

 

Ở đây, mặc dù tác giả Lê Tung cũng thừa nhận rằng vua Lý Thái Tông là bậc vua giỏi giữ nền nếp, tuy nhiênsay thơ kệ đạo Phật ở chùa Tiên Du, mê điệu hát Tây Thiên (của nước Chiêm Thành) không phải là đạo nuôi dân trị nước. Đánh giá như vậy, có lẽ vị Nho sĩ này không hiểu về giá trị của âm nhạc, cũng như không biết được một dạng thức nghệ thuật đặc thù trong Phật giáo, đó chính là nghệ thuật Phạm-bối.

 

Trước hết, trong vấn đề âm nhạc, Nguyễn Trãi đã từng viết rằng: Kể ra, đời loạn dùng võ, thời bình chuộng văn. Nay đúng là lúc nên làm lễ nhạc. Song không có gốc thì không thể đứng vững, không có văn thì không thể lưu hành. Hòa bình là gốc của nhạc. Thanh âm là văn của nhạc. Thần vâng chiếu soạn nhạc, không dám không dốc hết tâm sức. Nhưng vì học thuật nông cạn, sợ rằng trong khoảng thanh luật, khó được hài hòa. Xin bệ hạ yêu nuôi muôn dân, để chốn xóm thôn không còn tiếng oán hận buồn than, như thế mới không mất cái gốc của nhạc29.

 

Nhận định của Nguyễn Trãi: Hòa bình là gốc của nhạc. Hòa bình là khát vọng của dân tộc Việt, khát vọng đó được Lý Thái Tông tuân thủ trong đường hướng trị nước của mình. Việc nhiều lần tha chết cho Nùng Trí Cao của Lý Thái Tông cũng là một trong những giải pháp đem đến hòa bình, hạn chế đau thương cho dân tộc, xứ sở. Trong việc này, sử thần Ngô Sĩ Liên nhận xét: Mê hoặc bởi cái thuyết từ ái của Phật mà tha tội cho bề tôi phản nghịch, thì lòng nhân ấy thành ra nhu nhược, đó là chỗ kém30. Theo ghi chép của ĐVSKTT: Năm ấy, Nùng Trí Cao cùng với mẹ là A Nùng từ động Lôi Hỏa lại về chiếm cứ châu Thảng Do, đổi châu ấy thành nước Đại Lịch. Vua sai tướng đi đánh, bắt sống được Trí Cao đem về kinh sư. Vua thương tình vì cha là Tồn Phúc và anh là Trí Thông đều đã bị giết nên tha tội (cho Nùng Trí Cao). Trong vấn đề này, nhận xét của Giáo sư Hoàng Xuân Hãn có vẻ thuận tình hơn cả: Lý Thái Tông đã tha tội cho Nùng Trí Cao. Lý Thánh Tông đã tha chết cho vua Chàm là Chế Củ. Tuy rằng đó là có lợi cho đường chính trị, nhưng nếu không có sẵn từ tâm, thì ắt không nghĩ đến khoan hồng để làm lợi cho chính trị mình31.

 

Trở lại vấn đề say thơ kệ đạo Phật ở chùa Tiên Du, mê điệu hát Tây Thiên của Lý Thái Tông, đã cho thấy, với một đất nước tương đối bình ổn về chính trị, quốc pháp nghiêm minh32, liên tục trúng mùa33, phát hiện vàng và mỏ bạc34 thì việc tìm kiếm những giải pháp bổ trợ về phương diện tinh thần có ý nghĩa quan trọng. Việc say thơ kệ Đạo Phật và mê điệu hát Tây Thiên là một trong những bằng chứng cho thấy Lý Thái Tông đang tiếp cận một dạng thức nghệ thuật đặc thù trong Phật giáo. Trong liên hệ sâu xa, ngành nghệ thuật đó vẫn góp phần vào việc trị nước an dân; đó là nghệ thuật Phạm-bối.

 

Phạm-bối, Phạn ngữ ghi là भास (Bhāsa), vốn chỉ cho một thể kịch thơ (dramatic poet)35 trong văn chương Ấn Độ cổ đại36. Thơ kệ Đạo Phật và điệu hát Tây Thiên mà ĐVSKTT nói đến chính là biểu thị cho ngành nghệ thuật này.

 

Nghệ thuật Phạm bối có nhiều tác dụng. Với Phật giáo, thì có ít nhất năm tác dụng. Thứ nhất, hiểu được ân đức sâu dày của Phật. Thứ hai, bổ sung và kiện toàn kiến thức văn chương. Thứ ba, khiến cho thiệt căn thanh tịnh. Thứ tư, phế tạng được khai thông. Thứ năm, khiến nơi ở được yên lành. Thứ sáu, trường thọ không bệnh37. Trong ý phổ quát và mang tính thực tiễn, thì Phạm-bối mang nghĩa: cảm thấu Trời-Đất/ Thông đạt thần minh/ An ổn vạn dân/ Tìm về tánh thiện38. Khát vọng dân chúng trong nước bình an, sống trong tình hòa hiếu, hiền lành không chỉ là khát vọng chính đáng của Lý Thái Tông mà còn là khát vọng ngàn đời của dân tộc. Là người dân Việt, ai nỡ nào chê trách khát vọng chính đáng đó của một bậc minh quân như Lý Thái Tông?

 

3- Trần Nhân Tông (1258-1308)39


Trong bài Tổng luận, Lê Tung viết: Nhân Tông được tinh anh của thánh hiền, có tướng mạo của thần tiên, thể chất hồn hậu hoàn toàn, nhân từ hòa nhã giản dị. Xuống chiếu chẩn cấp người nghèo mà lòng dân cố kết, chọn tướng mà chống cự nhung địch mà giặc Nguyên dẹp yên, sự nghiệp trùng hưng rực rỡ thiên cổ, đủ làm một bậc vua hiền của nhà Trần. Song vui lòng kinh Phật mà dựng am Thiên Kiện, cấp nuôi Tăng Ni mà đúc vạc Phổ Minh, không phải là trị đạo của đế vương. Hoặc: Đường đường một vị thiên tử mà làm Thiền sư Trúc Lâm, người trí không ai làm thế40.

 

Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Nhân Tông trên thờ Từ Cung làm sáng đạo hiếu, dưới dùng người giỏi, lập nên võ công. Nếu không có tư chất nhân, minh, anh võ thì sao được như thế? Chỉ có một việc xuất gia là không hợp đạo trung dung, là cái lỗi của bậc hiền giả41.

 

* Góp ý của chúng tôi

 

Cả Lê Tung và Ngô Sĩ Liên đều công nhận những đóng góp vĩ đại của Trần Nhân Tông trong việc xây dựng và củng cố cơ nghiệp nhà Trần, mặc dù vậy, cả hai đều không đồng tình với sự kiện xuất gia của nhà vua và có lời chê trách.

 

Trước hết, điều sai lầm đầu tiên của Lê Tung khi cho rằng Trần Nhân Tông cấp nuôi Tăng Ni mà đúc vạc Phổ Minh. Vạc Phổ Minh có quy mô rất lớn, là một trong An Nam tứ đại khí, thế nhưng trong ĐVSKTT không ghi chép câu chuyện Trần Nhân Tông đúc vạc Phổ Minh.

 

Thực ra, Trần Nhân Tông sau khi xuất gia khoảng bốn năm, đã từng ở chùa Phổ Minh tổ chức lễ hội tương tự như lễ hội Vô già đại hội (無遮大會. S: Pañca-vārṣika maha), chứ không hẳn chỉ mỗi việc cấp nuôi Tăng Ni. Điều này, ĐVSKTT chép:

 

Mùa xuân, tháng Giêng, ngày 15 (1303), Thượng hoàng ở phủ Thiên Trường mở hội Vô lượng pháp ở chùa Phổ Minh, bố thí vàng bạc tiền lụa để chẩn cấp dân nghèo trong nước và giảng kinh Giới thí42.

 

Trong khi đó, Phổ Minh vốn là tên của một ngôi chùa, do Trần Thánh Tông dựng nên ở làng Tức Mặc. ĐVSKTT ghi:

 

1262 (Tống Cảnh Định năm thứ 3). Mùa xuân, tháng 2, Thượng hoàng (Trần Thái Tông) ngự đến hành cung Tức Mặc, ban tiệc lớn. Các hương lão từ 60 tuổi trở lên, mỗi người được ban tước hai tư, đàn bà được hai tấm lụa.

 

Đổi hương Tức Mặc thành phủ Thiên Trường, cung gọi là Trùng Quang. Lại xây riêng một khu cung khác cho vua nối ngôi ngự khi về chầu, gọi là cung Trùng Hoa. Lại làm chùa ở phía Tây cung Trùng Quang gọi là chùa Phổ Minh. Từ đó về sau, các vua nhường ngôi đều ngự ở cung này43.

 

Vạc chùa Phổ Minh do Trần Thánh Tông đúc, và cho khắc một bài minh vào vạc44. Năm 1426, cùng với chuông Quy Điền, vạc Phổ Minh bị Vương Thông nhà Minh phá để đúc súng đạn, làm vũ khí45.

 

Về phần vua Trần Nhân Tông, sau khi nhường ngôi cho con vào ngày mùng 9 tháng 3 năm 129346, đã về ở cung Trùng Quang47. Từ cung Trùng Quang, phủ Thiên Trường, Trần Nhân Tông đã vào núi Yên Tử tu khổ hạnh vào tháng 8 năm 129948.

 

Sự kiện trọng đại này, được Lê Tung cho rằng: Đường đường một vị thiên tử mà làm Thiền sư Trúc Lâm, người trí không ai làm thế. Cũng như Ngô Sĩ Liên cho rằng: Chỉ có một việc xuất gia là không hợp đạo trung dung, là cái lỗi của bậc hiền giả.

 

Ở đây, khái niệm người trí của Lê Tung hay đạo trung dung của Ngô Sĩ Liên đều chỉ cho mẫu hình người quân tử lý tưởng theo chuẩn mực của Nho giáo. Theo quan điểm Nho giáo, người quân tử phải hội đủ năm đức tính như Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, biết và sống đúng với mệnh Trời, và hoàn thiện các phẩm chất được ghi lại trong thiên Quý thị (季氏) ở tác phẩm Luận ngữ. Trong tất cả, mẫu hình cũng như lý tưởng của Nho giáo nhằm xây dựng và hướng tới một xã hội thịnh trị và an bình. Tuy nhiên, cách thức và giải pháp không trùng khớp với con đường Phật giáo.

 

Ở đây, với con người nói chung, do tính độc lập tương đối nên mỗi người hoàn toàn tự do trong việc lựa chọn lý tưởng sống cho riêng mình. Đi theo Nho gia hay sống với Phật giáo, là tự do chọn lựa của mỗi cá nhân. Việc xả thân, vì nước vì dân trong những năm tháng làm vua đã phần nào cho thấy Trần Nhân Tông vẫn noi theo một phần nào đó quy chuẩn của Nho giáo. Tuy nhiên, sau khi truyền ngôi lại cho con, Ngài đã tự tìm kiếm một giải pháp cho riêng mình, và chúng ta cần phải trân trọng lựa chọn đó vì nhiều lẽ.

 

Thứ nhất, là một bậc minh quân đã hai lần chỉ đạo đánh tan quân Nguyên-Mông, công lao đó được cả dân tộc ghi nhớ ngàn đời, thế nhưng Trần Nhân Tông đã từ bỏ mọi vinh hoa mà dấn thân theo con đường tu Phật. Bài tựa của vua Trần Minh Tông (1300-1357) trong tác phẩm Đại hương hải ấn thi tập đã tán thán cuộc ra đi vĩ đại này:

 

Thế Tôn từ bỏ ngai vàng quý báu nửa đêm vượt thành, bỏ áo rồng cao sang, non xanh cắt tóc, mặc chim Thước làm tổ trên đỉnh đầu, cho con nhện chăng tơ trên vai cánh, tu phép tịch diệt để chứng đạo chân như, dứt cõi trần duyên làm thành bực Chánh giác. Đức Tổ ta là Điều ngự Nhân Tông hoàng đế, ra khỏi cõi trần, thoát vòng tục lụy, bỏ chốn cung vua, ra giữ sơn môn (chùa Phật) nghiễm nhiên đến nay vẫn như còn đó, tiếng thơm bất hủ dấu cũ càng tươi49.

 

Thứ hai, chỉ vài tháng trước khi xuất gia50, nhưng Trần Nhân Tông vẫn nghiêm khắc với con là Trần Anh Tông, khi vô tình phát hiện hoàng đế trẻ say sưa trong men rượu. Trong trường hợp đó, ngài đã huấn thị: Trẫm còn có con khác, cũng có thể nối ngôi được. Trẫm đang sống mà còn như thế, huống chi sau này51. Lời dạy nghiêm khắc này, dường như Trần Nhân Tông đã học được phần nào từ câu chuyện Đức Phật dạy bảo Rahula ở Ambalatthika được ghi lại trong kinh Trung bộ52.

 

Thứ ba, sau khi xuất gia, vào tháng 2 năm 1301, nhân dịp Chiêm Thành sang cống, vào tháng 3, ngài đã tháp tùng phái đoàn vân du các nơi và sang Chiêm Thành đến tháng 11 cùng năm mới trở về. Trong chuyến đi này, ngài đã đồng ý hứa gả công chúa Huyền Trân, để rồi sau đó chúa Chiêm Thành là Chế Mân đem hai châu Ô, Lý làm lễ vật dẫn cưới53. Chỉ riêng chuyện kết giao hữu hảo với Chiêm Thành đã là một kế sách lợi quốc yên dân, mà đã là một bậc xuất gia, nhưng Trần Nhân Tông vẫn góp duyên vào việc lớn đó.

 

Cũng do bởi đóng góp đó nên sử gia Ngô Thì Sĩ (1726-1780) trong Đại Việt sử ký tiền biên ở triều Tây Sơn đã nhận định:

 

Nhân Tông kiến thức siêu việt, ý tứ khoát đạt, coi thân mình như hình thể của trời đất, sống chết không hề lưu luyến đoái tiếc. Sau khi ngồi hóa, mọi sự phó thác cho các nhà sư, không báo cho vua nối dõi một lời54. Cũng theo Ngô Thì Sĩ, mặc dù đã xuất gia nhưng vua Nhân Tông đối với việc nước không hẳn không bỏ qua nhưng không phải không nghe biết gì55.

 

Như vậy, ngoài sở đắc về phương diện đạo đức, tâm linh mà chúng ta chưa bàn đến; trên phương diện xã hội thì có thể thấy, thân tuy xuất gia nhưng Trần Nhân Tông vẫn có trách nhiệm đầy đủ với thân tộc, xã tắc, giang sơn… thì thử hỏi chuyện xuất gia có điều gì sai? Sao có thể xem đó là hành vi của người thiếu trí?

 

Kết luận


Đánh giá về một con người, một dân tộc, cần phải thấy rõ các điều kiện và bối cảnh đã góp phần làm nên con người cũng như dân tộc đó. Đánh giá về các vị quân vương nổi tiếng trong thời Lý-Trần, hai triều đại với ảnh hưởng chủ đạo là Phật giáo, mà chỉ dùng quan điểm Nho giáo để đánh giá là sai về phương pháp.

 

Trong phần đầu bản dịch tiếng Việt của bộ ĐVSKTT, Giáo sư Phan Huy Lê đã nhận định: ĐVSKTT cũng có những hạn chế của nó do quan điểm sử học đương thời và khả năng của tác giả quy định56.

 

Theo dòng chảy lịch sử, giai đoạn định hình và hoàn thiện bộ ĐVSKTT là giai đoạn mà Phật giáo đang có những biểu hiện suy vong, thực tế này đã góp phần tác động đến tư duy của những người viết sử. Không những vậy, đây cũng là giai đoạn Nho giáo đang giữ địa vị độc tôn, tất cả mọi phát ngôn hay nhìn nhận về lịch sử đều dựa trên hệ quy chiếu này. Đây là hai trong những điều kiện làm cho những nhận định chưa đúng về Phật giáo xuất hiện trong tác phẩm ĐVSKTT.

 

Góp ý về những trường hợp này, chúng tôi chỉ mong góp thêm một cách nhìn khách quan về các vị quân vương, đã góp phần làm nên một thời hoàng kim cho dân tộc và cho Phật giáo. 

 

Chúc Phú

 

(Đón đọc bài 2: Nhận thức sai lầm về Phật giáo

- đã đăng trên nguyệt san Giác Ngộ tháng 9, số 234)

_______________________

(1) Đại Việt sử ký toàn thư, tập 2, NXB.KHXH, Hà Nội, 2004, tr.41.

(2) Phan Huy Lê, Đại Việt sử ký toàn thư: Tác giả, văn bản và tác phẩm. Bài nghiên cứu được in chung trong Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1, NXB. KHXH, Hà Nội, 2004, tr.73.

(3) Lamotte, Étienne, History of Indian Buddhism, Paris: Institut Orientaliste Louvain-La-Neuve, 1988, p.213.

(4) Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1, NXB.KHXH, Hà Nội, 2004, tr.215.

(5) Sđd, tr.230.

(6) Sđd, tr.298.

(7) Sđd, tr.326.

(8) ĐTKVN, kinh Trường bộ, tập 2, kinh Khởi thế nhân bổn, VNCPHVN, 1991, tr.407.

(9) Đại Việt sử ký toàn thư, tập 3, NXB.KHXH, Hà Nội, 2004, tr.76.

(10) Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, tập 5, Binh chế chí, Văn tịch chí, Bang giao chí, NXB.Trẻ, 2014, tr.137.

(11) Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1, NXB.KHXH, Hà Nội, 2004, tr.119.

(12) Sđd, tr.248.

(13) Sđd, tr.250.

(14) Đại Việt sử ký toàn thư, tập 2, NXB.KHXH, Hà Nội, 2004, tr.13.

(15) Sđd, tr.32.

(16) Hoàng Xuân Hãn, Lý Thường Kiệt, lịch sử ngoại giao và tông giáo triều Lý, NXB.KHXH, 2014, tr.20.

(17) Sđd, tr.21.

(18) Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1, NXB.KHXH, Hà Nội, 2004, tr.215.

(19) Sđd, tr.241.

(20) Dương Hổ - Tiêu Dương, Nghề sách Trung Quốc, NXB.Tổng Hợp TP.HCM, 2013, tr.64.

(21) Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1, NXB.KHXH, Hà Nội, 2004, tr.249.

(22) Đại Việt sử ký toàn thư, tập 2, NXB.KHXH, Hà Nội, 2004, tr.13.

(23) Sđd.

(24) Đinh Tiên Hoàng lên ngôi, đặt tên nước là Đại Cồ Việt vào năm 968. Xem, Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1, NXB. KHXH, Hà Nội, 2004, tr.214.

(25) Sđd, tr.251.

(26) Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1, NXB.KHXH, Hà Nội, 2004, tr.119.

(27) Sđd, tr.266.

(28) Sđd, tr.285.

(29) Đại Việt sử ký toàn thư, tập 2, NXB.KHXH, Hà Nội, 2004, tr.360.

(30) Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1, NXB.KHXH, Hà Nội, 2004, tr.286.

(31) Hoàng Xuân Hãn, Lý Thường Kiệt, lịch sử ngoại giao và tông giáo triều Lý, NXB.KHXH, 2014, tr.303.

(32) Lý Thái Tông san định luật lệ trong nước, làm thành sách Hình thư, dựa vào đó làm cơ sở để xử kiện. Xem, Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1, NXB.KHXH, Hà Nội, 2004, tr.278. ĐVSKTT còn chép: Tháng (9) nhuận, xuống chiếu kẻ nào ban đêm vào nhà gian dâm với vợ cả, vợ lẽ người ta, người chủ đánh chết ngay lúc bấy giờ thì không bị tội. Xem, Sđd, tr.277.

(33) Sđd, tr. 267.

(34) Sđd, tr. 274.

(35) M.Monier-Williams, A Sanskrit English Dictionary. Springfield, VA: Nataraj Books, 2014, p.756.

(36) T. R.S. Sharma. Ancient Indian Literature: Vedic Sanskrit and Pali, Vol 2. Delhy: Sahitya Akademi, 2004, p.263.

(37) 大正藏第 54 冊 No. 2125 南海寄歸內法傳. 卷第四. Nguyên văn: 故五天之地初出家者, 亦既誦得五戒十戒, 即須先教誦斯二讚. 無問大乘小乘咸同遵此, 有六意焉. 一能知佛德之深遠, 二體制文之次第, 三令舌根清淨, 四得胸藏開通, 五則處眾不惶, 六乃長命無病. 誦得此已方學餘經.

(38) 大正藏第 50 冊 No. 2059 高僧傳, 卷第十三, 經師第九. Nguyên văn: 感天地, 通神明, 安萬民, 成性類.

(39) Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1, NXB.KHXH, Hà Nội, 2004, tr.121.

(40) Sđd, tr.122.

(41) Đại Việt sử ký toàn thư, tập 2, NXB.KHXH, Hà Nội, 2004, tr.99.

(42) Sđd, tr.92.

(43) Sđd, tr.35.

(44) Khâm định Việt sử thông giám cương mục, quyển 13, Viện sử học dịch, NXB.Giáo Dục, Hà Nội, 1998, tr.369.

(45) Sđd tr.278.

(46) Sd8d, tr.73.

(47) Sđd, tr.82.

(48) Sđd, tr.82.

(49) Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, tập 5, Binh chế chí, Văn tịch chí, Bang giao chí, NXB.Trẻ, 2014, tr.167.

(50) Sự kiện dạy bảo vua diễn ra vào tháng 5, tháng Tám cùng năm đó, vua vào núi Yên Tử xuất gia và tu khổ hạnh.

(51 Sđd, tr.81.

(52) Kinh Trung bộ, tập 1, kinh Giáo giới La-hầu-la ở rừng Am-bà-la, HT.Thích Minh Châu dịch, NXB.Tôn Giáo, 2012, tr.507-512.

(53) Sđd, tr.91-92-96-97.

(54) Ngô Thì Sĩ, Đại Việt sử ký tiền biên, Dương Thị The và nhiều tác giả dịch, NXB.Hồng Bàng, 2012, tr.491.

(55) Sđd.

(56) Phan Huy Lê, Đại Việt sử ký toàn thư: Tác giả, văn bản và tác phẩm. Bài nghiên cứu được in chung trong Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1, NXB.KHXH, Hà Nội, 2004, tr.69.
________________

Chúc Phú

Nguồn: thuvienhoasen.org

CHÙA VIỆT NAM VÀ MỐI LIÊN HỆ VỚI NỀN VĂN HÓA DÂN TỘC

Thiền đường Trúc Lâm, chùa Trúc Lâm, nơi tôi có vinh dự và hân hạnh, qua lời mời của Thượng tọa Viện chủ Thích Thiện Châu, tiếp xúc và nói chuyện cùng quý vị là một ngôi chùa mới, một ngôi chùa Việt Nam nhưng xây dựng ở nước ngoài, ở nước Pháp, gần kinh đô Paris hoa lệ. Phải chăng đúng theo lời dự báo của Pháp sư Thái Hư khi qua thăm Việt Nam cách đây hơn nửa thế kỷ, trong câu đối Pháp sư tặng chùa Quán Sứ:

 

Pháp luân tợ địa Đông Tây chuyển,

Phật đạo phùng nguyên tả hữu thông.

 

Tạm dịch:

 

Bánh xe pháp giống như trái đất chuyển từ Đông sang Tây,

Đạo Phật trở về nguồn sẽ thông suốt cả bên trái cũng như bên phải.

 

Gần đây, đọc báo tôi được biết ở các nước phương Tây, đặc biệt là ở Mỹ, Cộng Hòa Liên Bang Đức, ở Anh, ở Ý, Tây Ban Nha và một phần nào ở Pháp, có phong trào xây dựng nhiều chùa Phật, Thiền viện. Thiền đường Trúc Lâm của chúng ta là một trong những chùa và Thiền viện đó. Phong trào hướng về đạo Phật ở các nước phương Tây chứng tỏ tính thiết thực hiện tại, tính nhân bản mãi mãi sống động của đạo Phật. Ngày nào mà loài Người còn đau khổ, chưa được an lạc, thì loài Người còn cần tới đạo Phật, là đạo diệt khổ và đem lại an lạc cho loài Người, không kể đó là người phương Đông hay là phương Tây.

 

Trong câu đối của ngài Thái Hư có hai ý, Một ý là giáo pháp của Phật luôn luôn chuyển, trong thời gian cũng như không gian. Đó là sự phát triển của đạo Phật. Đó là đạo Phật phát triển, và trong sự phát triển đó, nó không thể không thích nghi với thời gian và không gian. Yêu cầu của Chúng sinh nói chung, của Phật tử nói riêng, chung quy là thoát khổ, được vui nhưng không thể mang nhiều màu nhiều vẻ tùy theo thời gian và không gian. Do đó, đạo Phật phải phát triển để thích nghi với những yêu cầu mới của thời gian và không gian. Đó là lý do hình thành các bộ phái sau khi Phật Niết Bàn 100 năm và cũng là lý do xuất hiện tư trào Đại thừa giáo sau này. Thế nhưng, dù cây cổ thụ có lớn lên và phát triển cành lá sum xuê như thế nào, thì nó cũng không thể tách rời cái gốc rễ uyên nguyên của nó được. Đạo Phật cũng thế, càng phát triển lại càng phải trở về nguồn thì mới có thể đảm bảo một sự phát triển lành mạnh đúng hướng, nhờ đó mà mãi mãi xanh tươi. Ngài Thái Hư nói Phật đạo phùng nguyên, trở về nguồn là theo ý tứ đó.

 

Phật giáo Việt Nam ở hải ngoại có hai cội nguồn, một cội nguồn là ở Ấn Độ, nơi đức Bổn Sư Thích Ca xuất thế. Ở đây, như quý vị đều biết, vua Bimbisara, xứ Magadha sau khi được nghe Phật thuyết pháp tại thành Vương Xá, đã cúng dường Phật vườn Trúc Lâm, làm tinh xá để Phật và Tăng chúng ở. Được vua hỏi về yêu cầu một tinh xá, Phật trả lời là tinh xá phải ở vào nơi vắng vẻ không xa lắm, nhưng cũng không quá gần thành phố, để cho dân chúng ai muốn, đều có thể đến được, nhưng ban ngày không có quá đông người, và ban đêm thì không quá ồn ào, một nơi thoáng mát . . . Và vua Bimbisara thấy vườn Trúc Lâm rất thích hợp với tất cả những yêu cầu của Phật đề ra cho một tinh xá. Và thế là tinh xá Trúc Lâm được hình thành, là nơi Phật và Tăng chúng đã trải qua sáu kỳ an cư kiết hạ, và là nơi Phật giảng nhiều bài thuyết pháp quan trọng.

 

Thiền đường Trúc Lâm của Thượng tọa Thích Thiện Châu và quý vị cũng không quá xa, cũng không gần lắm kinh đô Paris, mong rằng đạt được những yêu cầu của Phật Thích Ca đề ra cho một tinh xá, hay một Thiền đường. Và tôi chân thành và hoan hỷ cầu chúc cho Thiền đường Trúc Lâm của quý vị làm tròn được sứ mệnh thiêng liêng. Một mặt phát triển đạo Phật, khế hợp với căn cơ của thời hiện đại, mặt khác đảm bảo bản chất trong sáng của đạo, khế hợp với những lời dạy cơ bản của đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni. Theo tôi, đó là cội nguồn thứ nhất của Phật giáo Việt Nam ở hải ngoại. Còn cội nguồn thứ hai là Phật giáo Việt Nam tại nước nhà. Một nền Phật giáo Việt Nam rất tự hào về chiều dài lịch sử của nó hơn 18 thế kỷ, về truyền thống dân tộc anh hùng của nó, về những thành tích võ công văn trị của hai triều đại Phật giáo Lý và Trần, là thời kỳ vẻ vang nhất, rực rỡ nhất của toàn bộ lịch sử của dân tộc Việt Nam.

 

Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam mới được thành lập, mà tôi có vinh dự được Giáo hội Phật giáo Việt Nam cử làm Viện trưởng đang tập trung mọi nỗ lực nghiên cứu để làm sáng tỏ những đóng góp thiết thực của đạo Phật Việt Nam vào lịch sử của dân tộc Việt Nam, đặc biệt là thời lịch sử vẻ vang của hai triều đại Lý, Trần.

 

Tôi không rõ lắm ý tứ của Thượng tọa Thích Thiện Châu yêu cầu tôi nói chuyện về các chùa cổ Việt Nam. Phải chăng đó cũng là yêu cầu của tất cả Phật tử Việt kiều ở Pháp, trong dịp lễ Khánh thành ngôi Thiền viện Trúc Lâm mới mẻ, xinh đẹp này, luôn luôn hướng về nền Phật giáo cổ kính của Việt Nam, những ngôi chùa cổ ở Việt Nam mà do tính chất lịch sử và dân tộc lâu đời không có một kiến trúc sư hiện đại, tài ba nào ở Pháp có thể xây dựng lại được. Tất nhiên, chùa Trúc Lâm của quý vị có vẻ đẹp thanh xuân của nó, nhưng chùa Trúc Lâm ở Huế là vườn tre vườn trúc. ở gần Paris làm sao có tre, có trúc, mà chỉ có cây maronniers. Nhưng chùa Trúc Lâm ở Huế nơi trụ trì hiện nay của Hòa thượng Phó Pháp chủ Mật Hiển, có thể nói là núp bóng trong vườn trúc dày đặc. Chùa Trúc Lâm ở đây mặc dù khá cách xa kinh đô Paris ồn ào và hoa lệ, nhưng vẫn không có được bầu không khi yên tĩnh, trầm lặng của vùng đồi Nam Giao gần cố đô Huế. Chùa Trúc Lâm ở Huế hiện còn giữ được bảo vật từ thời Tây sơn, kinh Kim Cang Bát nhã dệt trên gấm, theo truyền thuyết là do chính công chúa Ngọc Hân, vợ Nguyễn Huệ thêu.

 

Ở Huế, ngoài chùa cổ Trúc Lâm ra, còn có nhiều chùa cổ khác, đặc biệt là chùa Thiên Mụ, nơi trụ trì hiện nay của Hòa thượng Thích Đôn Hậu, Phó Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

 

Gió đưa cành trúc la đà,

Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương.

 

Chuông Thiên Mụ nổi tiếng cả nước với tiếng ngân vang xa rộng của nó. Quả chuông này do chúa Hiến Tông (Nguyễn Phúc Chu) cấp tiền đúc vào năm Canh dần (1750). Tiếng chuông chùa Thiên Mụ biểu trưng cho sự hiện diện của Phật giáo hằng ngày, sớm và chiều tại cố đô Huế, trong lòng mỗi người dân tại cố đô Huế. Thiên Mụ là bà lão nhà Trời. Theo truyền thuyết, Cao Biền khi làm An Nam đô hộ phủ ở nước ta, dưới đời nhà Đường, theo lệnh vua Đường là Đường ý Tôn (860-873), đã đi khắp nơi ở nước ta, tìm những nơi đất tốt có vượng khí, đều lập phép trấn yểm. Cao Biền đã đến Thuận Hóa, xã Hà Khê, huyện Hương Trà, thấy giữa đồng bằng đột khởi một cái đồi hình đầu rồng, biết là nơi linh địa, bèn cho đào hào cắt ngang dưới chân đồi. Đêm đến, Biền mộng thấy một bà lão tóc bạc phơ, ngồi dưới chân đồi than vãn và nói to: “Đời sau, nếu có bậc minh chủ, muốn bồi đắp mạch núi lại, đem lại linh khí cho đồi núi này, thì hãy lập chùa thờ Phật ở đây...”

 

Nguyễn Hoàng khi vào Thuận Hóa, tìm cách gây dựng thế lực, để biệt lập và chống đối với họ Trịnh, đã đến nơi này, nghe các bô lão kể lại câu chuyện bà lão Trời và Cao Biền, thì rất mừng, lập tức cho xây chùa trên núi, và tự tay viết biển chùa là “Thiên Mụ tự” (chùa Thiên Mụ - chùa bà lão nhà Trời).

 

Người Việt Nam bình thường tin ở thuật phong thủy, nhưng đồng thời cũng tin ở Phật, Bồ-tát, và đạo Phật. Cao Biền có tài trấn yểm, nhưng dân Việt Nam có xây chùa thờ Phật là mọi phép yểm của Cao Biền đều bị phá hết. Ảnh hưởng của chùa Phật là ảnh hưởng của Tam Bảo, của đức Phật thường trú, của Chánh pháp mà bánh xe luôn luôn chuyển động, của Tăng là những người có trách nhiệm duy trì và hoằng dương Chánh pháp tại thế gian này.

 

Ở cố đô Huế, ngoài hai chùa Trúc Lâm và Thiên Mụ, còn có một số chùa cổ khác như chùa Diệu Đế, chùa Quốc Ân, chùa Từ Đàm, chùa Báo Quốc, chùa Tường Vân, chùa Thuyền Tôn v.v. . . phần lớn tọa lạc ở bờ phải sông Hương.

 

Thế nhưng trong cả nước, thì số chùa cổ tập trung nhiều hơn cả là ở miền Bắc, nơi có trung tâm Phật giáo và Phật học Luy Lâu nổi tiếng, với những cao Tăng xuất phát từ đây sang giáo hóa ở miền Nam Trung Hoa, nơi đã tổ chức dịch bộ kinh xưa nhất trong văn hệ Bát-nhã, tức bộ Bát Thiên Tụng Bát-nhã và nhiều bộ kinh Đại thừa khác.

 

Trong đó thì bộ kinh thuộc văn hệ Bát-nhã, được Lokasema, người đồng đại với An Thế Cao dịch vào năm 172 T.L. lại là cuốn Astadasasahasrika (18.000 tụng), không phải là bộ xưa nhất. Một sự kiện nữa đáng chú ý là cuốn kinh Kim Cương Bát-nhã được Thiền sư Việt Nam Thanh Biện, thuộc thế hệ thứ tư dòng Thiền Tỳ-ni-đa-lưu-chi, trì tụng hằng ngày phải xuất hiện sớm hơn non hai thế kỷ so với cuốn kinh Kim Cương Bát-nhã được ấn tống lần đầu tiên ở Trung Hoa vào năm 868, tháng 5 ngày 11. Lịch sử ngành in thế giới ghi nhớ ngày này, như là ngày cuốn sách in đầu tiên ra đời, mà đó lại là một cuốn kinh Phật. Thế nhưng, theo cuốn “Thiền Uyển Tập Anh” cuốn lịch sử Phật giáo xưa nhất, viết vào đời Trần, thì Thanh Biện tịch vào năm 686, do đó điều chắc chắn là Thanh Biện đã sử dụng một bản kinh Kim Cương khác, có thể là đã được chuyển thẳng từ Nam Ấn Độ sang, và được dịch ở Việt Nam, bởi những cao Tăng Việt Nam thông cả chữ Phạn và chữ Hán.

 

Chi tiết trên tuy nhỏ, nhưng đủ nói lên tính xa xưa của đạo Phật Việt Nam, của Trung tâm Phật học Luy Lâu, và của những chùa tháp Việt Nam được xây dựng vào thời bấy giờ mà kiến trúc và điều khắc chắc là mang dấu ấn ảnh hưởng của Ấn Độ, nhiều hơn là của Trung Hoa. Những chùa tháp Việt Nam đó hiện nay không còn nữa, thế nhưng bóng dáng của chúng, ảnh hưởng của chúng tiếp tục lưu lại phảng phất trong các chùa tháp đời Lý và đời Trần.

 

Chùa tháp đời Lý Trần hẳn là đã được xây dựng khá phổ biến, và có quy mô khá to lớn, cho nên Lê Văn Hưu, sư gia đời Trần nói về chùa tháp đời Lý, đã có những câu như:

 

“Xây chùa cao ngất trời, trồng cột chùa đá chạm, chùa Phật lộng lẫy hơn cả cung vua, dân quá nửa là Sư sãi, khắp nước chỗ nào cũng chùa chiền...” (Thơ Văn Lý Trần tập II - 368).

 

Rất có thể là Lê Văn Hưu muốn nói tới hai ngọn tháp mà Lý Thánh Tông cho xây, một ở Thăng Long (Hà Nội), tức la tháp Báo Thiên, và hai là tháp Lạn Kha ở chùa Phật Tích và một số tháp khác nay đều không còn nhưng được nhắc tới trong sách sử với những thông số chiều cao làm chúng ta ngạc nhiên, và không thể không đặt câu hỏi: Tháp chùa Phật Tích cao ngàn trượng? Tháp chùa Báo Thiên cao vài mươi trượng, cột đá ở chùa Một Cột Hà Nội cao 10 trượng, tháp Chương Sơn còn để lại cạnh chân dài 19 mét. Nếu tính đại khái 3 trượng bằng 1 mét Tây, thì độ cao của các tháp đời Lý quả là đáng kể vậy. Tương truyền, khi tháp Phật Tích đang còn, thì từ ở Thăng Long (Hà Nội), người ta có thể nhìn thấy đỉnh tháp Phật Tích.

 

Tháp Báo Thiên dựng ở chùa Sùng Khánh Thăng Long do sắc chỉ vua Lý Thánh Tông, năm Long Thụy Thái Bình thứ năm (l056) là một ngọn tháp 12 tầng, cao hơn 80 mét, vốn dược vua đặt tên là Đại Thắng Thiên Bảo Tháp, gọi tắt là tháp Báo Thiên. Ngày xưa, nói tới bốn công trình kiến trúc và điêu khắc lớn của Việt Nam, thì tháp Báo Thiên là một. Khi tướng nhà Minh, Vương Thông bị quân của Lê Lợi - Nguyễn Trãi vây hãm trong kinh thành, Vương Thông đã cho dỡ phá tháp Báo Thiên, lấy vật liệu để xây công sự (1414). Nền tháp to rộng không khác gì ngọn đồi. Đến thế kỷ 18 (1791), người ta đào được ở đây, tám pho tượng Thần Kim Cương, chia đứng trấn 4 cửa, những tượng người, tiên, chim muông, giường ghế đều bằng đá nhiều không kể xiết” (theo sách Tang Thương Ngẫu Lục).

 

Chóp tháp bằng đồng, tương truyền là do sư Không Lộ đời Lý vẽ kiểu và đúc, với số đồng do Sư dùng phép thần thông lấy được trong kho của vua nhà Tống ở tận Nam Kinh. Số đồng lấy về nhiều đến nỗi sư Không Lộ còn dùng để tạc tượng Phật ở chùa Quỳnh Lâm, đúc chuông Quy Điền cho chùa Diên Hựu, và vạc ở chùa Phổ Minh. Đó là bốn công trình điêu khắc lớn nhất, đẹp nhất, nổi tiếng nhất thời bấy giờ, gọi là “Việt Nam Tứ Đại Khí”, và do một tay sư Không Lộ làm ra cả. Một Thiền sư đồng thời là một kiến trúc sư, một thợ đúc đồng có kỹ thuật, sau này được ngành đúc đồng Việt Nam suy tôn là Tổ đúc đồng của Việt Nam, và có đền thờ tại phường Lò Đúc Hà Nội. Vâng, chỉ là huyền thoại, nhưng nó cho thấy các Tăng sĩ Việt Nam thời Lý có nhiều tài, nhiều nghề, và giúp ích nhiều và thiết thực cho cuộc sống của người dân.

 

Bài thơ vịnh tháp Báo Thiên của Nho sĩ Phạm Sư Mạnh cũng cho chúng ta một ý niệm về độ cao của tháp, cũng như kiến trúc tráng lệ của nó:

 

“Trấn áp Đông Tây giữ đế đô,

Hiên ngang một tháp đứng trơ vơ,

Non sông vững chãi tay trời chống,

Kim cổ không mòn đỉnh tháp nhô,

Thỉnh thoảng gió lay chuông ứng đáp,

Đến đây những muốn đầu ngòi bút,

Chiếm lấy sông xuân làm mực đề thơ...”

 

Những câu như

 

“Non sông vững chãi tay trời chống,

Kim cổ không mòn đỉnh tháp nhô”.

 

Hay là câu:

 

“Trấn áp Đông Tây giữ đế đô”.

 

Không những gợi cho chúng ta một ý niệm về quy mô của tháp, mà cả về vị trí, vai trò của đạo Phật như là một Quốc giáo, bảo vệ quốc gia và dân tộc.

 

Chừng nào mà những tư tưởng cơ bản của giáo lý đạo Phật như lòng từ, lòng bi, hạnh trí tuệ, hạnh hiếu sinh và hiếu hòa, hạnh vô ngã vị tha vẫn còn là những yếu tố cấu thành khắng khít của truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam, chừng nào mà đạo Phật Việt Nam còn hòa quyện với dân tộc Việt Nam, đất nước Việt Nam như là nước với sữa, thì đạo Phật cũng sẽ tồn tại vĩnh cửu như là dân tộc Việt Nam vậy.

 

Câu thơ của Phạm Sư Mạnh:

 

“Thỉnh thoảng gió lay chuông ứng đáp”.

 

Cho thấy tháp Báo Thiên có mắc nhiều chuông nhỏ, mỗi lần có gió thoảng qua là có tiếng thuông reo, như là tiếng nhạc Trời. Kiểu trang trí chuông nhỏ như thế này không còn thấy ở các chùa Việt Nam hiện nay nữa, nhưng chắc là có phổ biến ở các chùa đời Lý, và có thể là một kiểu trang trí du nhập từ Ấn Độ. Khi qua Ulan Ude, thủ đô nước Cộng hòa Xã hội Chũ nghĩa tự trị Bouriate (Thuộc Liên Xô cũ) tôi thấy các chùa lớn ở đây đều có trang trí chuông nhỏ như vậy trên các tháp chùa màu vàng óng ánh rất đẹp, và mỗi lần có làn gió thổi qua, dù là nhẹ, chúng ta lại nghe tiếng chuông reo không khác gì nhạc Trời.

 

Dân gian có câu:

 

Đất vua chùa làng, phong cảnh Bụt.

 

Phong cảnh Bụt là phong cảnh đẹp, nhưng không chỉ đẹp mà còn có chùa, có Tăng Ni, có tiếng chuông mõ tụng kinh, thập phương tín đồ dập dìu cho nên gọi là phong cảnh Bụt chăng? Hay là phong cảnh Bụt chỉ cho một phong cảnh đẹp một cách siêu thoát, xa trần tục.

 

Nhưng có điều chắc là ở nước ta, đặc biệt là ở miền Bắc việt Nam, những nơi nào là cảnh đẹp đều có chùa. Chùa hòa mình vào thiên nhiên, làm cho thiên nhiên thêm đẹp một vẻ đẹp sinh động nhưng vẫn siêu thoát. Hợp từ danh lam thắng cảnh, rất thông dụng ở Việt Nam hiện nay thấy nơi nào đã là thắng cảnh là có danh lam, tức là chùa danh tiếng. Tất nhiên, lập chùa trước hết là do nhu cầu tín ngưỡng của dân chúng, cho nên ở Việt Nam có nhiều chùa làng, chùa chợ, chùa ở đô thị v.v. . . Chùa Việt Nam không những hòa mình vào thiên nhiên, mà còn hòa mình vào dân chúng dân tộc. Vì chùa dựng lên là để đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của dân chúng, cho nên, chỉ trừ một vài ngoại lệ hiếm có, còn thì các chùa đều do dân chúng góp công góp của mà lập thành. Vị Tăng sĩ trụ trì thường chỉ đóng vai trò hóa quyên và điều khiển việc tôn tạo. Bởi lẽ, người dân Việt Nam tin rằng xây chùa, ấn tống kinh sách Phật là một công đức lớn, đồng thời chùa đối với họ là trung tâm của cuộc sống tâm linh, mà họ rất xem trọng hơn cả cuộc sống vật chất của họ nữa. Đó là lý do chùa trở thành một cảnh quan kiến trúc phổ biến ở nước ta, rất tiêu biểu cho đất nước và dân tộc ta. Hai câu thơ dân dã:

 

Mái chùa che chở hồn dân tộc,

Nếp sống muôn đời của tổ tông. 

 

Đủ nói lên vì sao người dân Việt Nam yêu quý và coi trọng chùa chiền. Thái độ của người dân Việt Nam, ngay những Nho sĩ kích bác đạo Phật nặng nề nhất cũng bắt buộc phải thừa nhận. Nho gia Lê Quát viết trên văn bia chùa Thiên Phúc ở Bắc Giang như sau: 

 

“Học Phật lấy điều họa phước làm động lòng người, sao mà sâu xa bền chắc đến thế. Trên từ vương công, dưới đến thứ dân, hễ làm cái gì thuộc về việc Phật, tuy đem hết gia tài cũng không tiếc. Nếu hôm nay đem tiền của để làm chùa, xây tháp thì hớn hở vui vẻ như trong tay đã cầm được cái biên lai để ngày sau đi nhận được số tiền trả báo lại. Cho nên trong từ kinh thành, ngoài đến châu phủ, đường cùng ngõ hẻm, chẳng khiến mà theo, chẳng thể mà tin, hễ chỗ nào có nhà người ở thì có chùa Phật. Bỏ đi thì làm lại, hư đi thì sửa lại. Lâu đài chuông trống cũng bằng phân nửa nhà thiên hạ ở...” 

 

Tôi cho rằng, cho đến nay, chưa có một bài văn bia nào nói lên được một cách sinh động hơn tính phổ cập của tín ngưỡng Phật giáo trong nhân dân Việt Nam bằng bài văn bia của Lê Quát, một Nho sĩ không tán thành Phật giáo và kích bác Phật giáo. Tất nhiên, ngày nay Phật giáo không còn có vị trí quốc giáo như dưới hai đời Lý và Trần nữa. Nhưng cái hạt giống tin Phật, một Phật, trân trọng Tam Bảo từ lâu đã nảy mần, có gốc rễ sâu bên trong lòng người dân Việt Nam. 

 

Như quý vị đều biết, một số chùa cổ ở miền Bắc như chùa Một Cột, chùa Vĩnh Nghiêm đã được xây lại mới ở trong Nam, như chùa Nhất Trụ (Một Cột) ở Thủ Đức, chùa Vĩnh Nghiêm ở giữa trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay. Chùa Vĩnh Nghiêm ở Hà Bắc vốn xây dựng từ thời nhà Lý, về sau trở thành một Tổ đình lớn của phái Trúc Lâm Yên Tử dưới đời nhà Trần. 

 

Khách hành hương từ Hà Nội lên Yên Tử thường dừng chân ở chùa Vĩnh Nghiêm. Từ khi Pháp Loa, vị Tổ thứ hai của phái Thiền Trúc Lâm đế trụ trì chùa, thì chùa Vĩnh Nghiêm trở thành một trung tâm Phật giáo danh tiếng của Giáo hội Trúc Lâm. Từ đây và ở đây, Tôn giả Pháp Loa đã có những quyết định quan trọng chấn chỉnh Tăng đoàn, như ba năm một lần tổ chức sát hạch Tăng sĩ, người tuy đã thụ giới nhưng tỏ ra không đủ tư cách và học vấn đều không được cấp lại độ điệp, tức một loại chứng minh thư của Tăng sĩ thời bấy giờ. Chính Huyền Quang, sau này trở thành vị Tổ thứ ba của Thiền phái Trúc Lâm, khi còn là Trạng nguyên và làm quan, đã từng theo vua Trần Nhân Tông đến chùa Vĩnh Nghiêm nghe Pháp Loa thuyết pháp, được giác ngộ và xin phép vua cho từ quan xuất gia. Trong dân gian có câu: 

 

“Ai qua Yên Tử Quỳnh Lâm, 

Vĩnh Nghiêm chưa tới, Thiền tâm chưa đành”. 

 

Bản thân tôi đã từng được đến viếng ngôi chùa cổ này, được chiêm ngưỡng tượng ba vị Tổ của phái Thiền Trúc Lâm, được nhìn nhiều bức chạm gỗ rất có giá trị nghệ thuật, cũng như nhiều bản khắc các bộ kinh Đại thừa quan trọng, như kinh Hoa Nghiêm v.v. . . đều là những bảo vật của chùa. 

 

Chính Trúc Lâm đệ tam Tổ Huyền Quang cũng đã có thơ vịnh chùa Diên Hựu tức chùa Nhất Trụ hay chùa Một Cột, một kiến trúc độc đáo của Phật giáo đất Thăng Long. Thiền sư thi sĩ đã tả cảnh chùa dưới trăng thu, trên hồ lạnh, giữa tiếng chuông ngân. Chùa Vĩnh Nghiêm cũng như chùa Nhất Trụ tại Thành phố Hồ Chí Minh nổi tiếng vì kiến trúc đặc biệt của nó, và cũng nổi tiếng vì kế thừa nét kiến trúc, Thiền vị và tên gọi của hai danh lam cổ tự tại Thăng Long. 

 

Nói đến các chùa cổ ở miền Bắc, không thể nào không nhắc tới cụm chùa trên núi Yên Tử. 

 

Tôi có đọc bài giới thiệu cụm chùa núi Yên Tử của cụ Hoàng Xuân Hãn, đăng trong Tập San Khoa Học Xã Hội số 5 năm 1978, do Hội Khoa Học Xã Hội Việt Nam tại Pháp xuất bản. Sau khi giới thiệu khá chi tiết các chùa, am, tháp trên núi Yên Tử, cụ Hoàng Xuân Hãn đặt vấn đề nên có kế hoạch “bảo tồn, tu chỉnh và tái tạo hệ thống kiến trúc và sử học Yên Tử như một cao điểm của văn hóa Việt Nam, cùng các vị trí gần như Côn Sơn, Kiệt Đặc v.v...” Cụ gợi ý là “cùng với vịnh Hạ Long ở kề phía Đông, Yên Tử có thể tạo thành mội hệ thống du quan quốc tế và quốc nội”. 

 

Cụm chùa Yên Tử là biểu trưng sinh động của phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử do vua Trần Nhân Tông thành lập và làm sơ Tổ. Còn các phái Thiền trước đó đều do những người ngoại quốc hoặc Ấn Độ hay Trung Hoa thành lập và làm sơ Tổ. Phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử, với vua Trần Nhân Tông không những đã kế thừa, và tiếp thu có chọn lọc sáng tạo tất cả những gì tinh hoa nhất, tích cực nhất của các phái Thiền trước đó, mà còn khéo kết hợp một cách thật sự nhuần nhuyễn nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân với nhu cầu chính trị bảo vệ nền độc lập quốc gia và dân tộc. Tôi nghĩ rằng, nếu Trần Nhân Tông và Giáo hội Trúc Lâm không làm tốt được sự kết hợp đó, thì dân tộc chúng ta ắt khó chiến thắng được quân xâm lược Nguyên Mông, đặc biệt là trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ hai, mà Trần Nhân Tông phải đích thân chỉ đạo. Tư tưởng chủ đạo của Thiền đời Trần sớm đã do Quốc sư Trúc Lâm nói với vua Trần Nhân Tông, khi vua Thái Tông lên núi Yên Tử, muốn xuất gia cầu Phật. 

 

“Sơn bổn vô Phật, duy tồn hồ tâm. Tâm tịch nhi tri, thị danh chân Phật”. Nghĩa là “Trong núi vốn không có Phật, Phật chỉ có ở trong tâm. Tâm lặng mà biết, đó là Phật thật”. Nói cách khác, hãy tu tập tâm, rèn luyện tâm để tâm trở thành vắng lặng, sáng suốt thì sẽ thành Phật, chứ không nhọc cầu ở đâu bên ngoài, dù là ở trên núi, trong chùa hay là trong kinh sách. Chùa hay kinh sách chỉ là phương tiện dẫn tới Phật, chứ không phải là Phật thật. Phật thật chính là lòng mình, được làm cho vắng lặng và sáng suốt. Muốn cho lòng được vắng lặng và sáng suốt, thì phải sống nếp sống đạo đức Phật giáo, giữ năm giới, mười thiện, thấy vị ngọt nhưng cũng thấy mối nguy của các dục vọng, sống luôn chánh niệm tỉnh giác, sống giữa đời mà không lụy với đời, giữa thanh sắc mà không vướng mắc thanh sắc, đúng như trong kinh Kim Cang nói: 

 

“Ưng vô sờ trụ nhi sanh kỳ tâm” 

 

Nghĩa là tâm của người ngộ đạo không trụ, không chấp trước, không vướng mắc vào thanh sắc, vào ngoại trần, nhờ đó mà được hoàn toàn tự do, tự tại, thật sự giải thoát, đạt tới sự vắng lặng sáng suốt của bậc Thánh. Tâm vắng lặng sáng suốt, đó là bí yếu nên sức mạnh của Phật giáo đời Trần, sức mạnh của dân tộc ta dưới đời Trần. 

 

Phật giáo đời Trần tạo cho người hiểu đạo sức mạnh của nội tâm, là sức mạnh thật sự. Đó là sức mạnh của Trần Thái Tông, khi ông tuyên bố có thể rời bỏ ngai vàng lúc nào cũng được, như bỏ chiếc giày rách. Đó là sức mạnh của Trần Bình Trọng, khi ông thét vào mặt quân Nguyên, muốn dụ dỗ mua chuộc ông: “Thà làm ma phương Nam, không thèm làm vương phương Bắc”, là sức mạnh của Phạm Ngũ Lão ngồi đan sọt giữa đường, quân lính của Trần Hưng Đạo thọc dáo vào đùi, vẫn ngồi yên không đứng dậy v.v. . . Sức mạnh Phật giáo đời Trần còn ở chỗ đó là Phật giáo không phải riêng của Tăng lữ, mà là của mọi người. Trong cuốn Khóa Hư Lục, Trần Thái Tông viết: 

 

“Mạc vấn đại ẩn, tiểu ẩn, hưu biệt tại gia xuất gia, bất câu Tăng tục, chỉ yếu biện tâm ...” 

 

Ý tứ là: Không thể là ẩn dật lớn hay ẩn dật nhỏ, không kể là xuất gia hay tại gia, không kể là Tăng hay tục, chỉ cần biện tâm... 

 

Biện tâm, theo Trần Thái Tông là tu tập tâm, tìm hiểu tâm, rèn luyện tâm, từ tâm mê mờ biến thành tâm sáng suốt, từ tâm hướng tà biến thành tâm hướng thiện, từ tâm tán loạn biến thành tâm định tĩnh. Người nào biết biện tâm như vậy, tức là người đó sẽ là bậc Thánh trong đạo Phật, dù có tu ở trong chùa (ẩn dật nhỏ), hay là sống ngoài đời (ẩn dật lớn). Một đạo Phật hướng nội, biện tâm, một đạo Phật của mọi người . . . đó chính là sức mạnh của đạo Phật đời Trần, của phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử, là những giá trị tinh thần bất hủ, là vũ khí giúp dân tộc ta ba lần chiến thắng quân xâm lược Nguyên Mông, đã từng làm mưa làm gió trên một nửa phần Châu Á và Châu Âu, thời bấy giờ. 

 

Trong bài thơ vịnh Yên Tử, nhà Nho Phạm Sư Mạnh, tuy không có cảm tình với Phật giáo, vẫn thốt lên những câu xác nhận mối quan hệ giữa Yên Tử và cuộc chiến thắng quân Nguyên Mông dưới đời Trần:

 

“Nhớ xưa Trần Trung Hưng, 

Khéo xoay vần trời đất, 

Ngàn chiến thuyền mặt nước, 

Ngàn cờ tinh đầu non, 

Trở tay vựng xã tắc, 

Hôi tanh sạch giang sơn, 

Đến này dân bốn bể 

Lâu dài ghi thắng Nguyên ...” 

 

Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam (Ban Phật giáo Việt Nam) vừa rồi có nhận được từ ngoài Bắc hai tài liệu đáng quý về Trần Nhân Tông: 

 

Một là một số bức ảnh về chùa Minh Khánh, nơi Trần Nhân Tông lui tới nhiều lần, và có để lại một huyết thư và chín viên ngọc Xá-lợi. Theo sử liệu, thì sau khi Pháp Loa tổ chức hỏa táng, Xá-lợi của Trần Nhân Tông được chia làm ba phần: một phần để ở tháp Huệ Quang trên Yên Tử, một phần để ở tháp Phổ Minh, tại làng Tức Mặc, quê hương nhà Trần, và một phần thứ ba để tại Đức Lăng, hiện không rõ ở đâu. Phải chăng Đức Lăng chính là xã Thanh Bình, huyện Nam Thanh (Hải Hưng), nơi có chùa Minh Khánh, nơi nhân dân đphát hiện ra Xá-lợi của Trần Nhân Tông, bốn đạo sắc của nhà Hậu Lê, nói về bức huyết thư của Trần Nhân Tông để lại chùa. Do đó, chùa đã được Bộ Văn hóa phát bằng công nhận là Di tích Lịch sử có ý nghĩa quốc gia. Tôi có đem theo đây ba bức ảnh về cảnh chùa, do Ban Trùng tu chùa gởi cho thầy Mạn Đà La, tôi cũng xin phép giới thiệu cho quý vị xem. Cửa chùa gọi là Trúc Lâm môn (cửa Trúc Lâm). Câu đối hai bên cửa chùa.

 

“Minh Khánh thiên thu Nhân miếu phụng, 

Thanh Bình vạn cổ huyết thư hương”. 

 

Có nhắc tới Trần Nhân Tông và bức huyết thư của ngài. Thanh Bình là tên xã và Minh Khánh là tên chùa. Hiện nay Ban trùng tu chùa Minhh Khánh đang tổ chức tu bổ lại chùa, dựng lại tam quan và soạn một cuốn sách nhỏ “Vua Trần Nhân Tông và chùa Minh Khánh” nhằm giới thiệu chùa, kêu gọi sự đóng góp của đồng bào Phật tử trong nước và hải ngoại để cho công việc trùng tu chùa được hoàn thành nhanh chóng. 

 

Tài liệu thứ hai mà Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam nhận được là Viện Hán Nôm, thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam. Một bản thảo sưu tập mang đầu đề “Chùa cổ Việt Nam” với gần 500 mục từ, sắp xếp theo vần ABC, dựa vào xử lý, tổng hợp 150 thư tịch thuộc loại tài liệu cơ bản. Hiện chúng tôi đã giao cho Ban Phật giáo Việt Nam, thuộc Viện chúng tôi đọc và nhận xét về giá trị khoa học của bản thảo. 

 

Tôi hy vọng Thiền viện Trúc Lâm, dưới sự hướng dẫn của Thượng tọa Thích Thiện Châu và sự cộng tác của quý vị, của đông đảo các nhà Phật học Việt kiều tại Pháp, sẽ trở thành một trung tâm Phật học có tầm cỡ quốc tế sẽ nghiên cứu theo chiều sâu và giải quyết nhiều vấn đề mà giới Phật học quốc tế đang quan tâm. 

 

Và, với tư cách Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, tôi xin chính thức đặt vấn đề phối hợp công tác nghiên cứu giữa Thiền viện Trúc Lâm của quý vị và Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, nhằm nghiên cứu và làm sáng tỏ một loạt vấn đề Phật học Việt Nam và quốc tế. Hình thức hợp tác có thể là trao đổi các công trình, tài liệu nghiên cứu, tổ chức nghiên cứu chung một số vấn đề Phật học Việt Nam và quốc tế. Thí dụ một số vấn đề mà hiện nay Phật giáo Việt Nam và Ban Phật giáo chuyên môn, trực thuộc Viện chúng tôi đang nghiên cứu và đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo khoa học, như “Những đặc điểm của Phật giáo Việt Nam” (khác với Phật giáo Trung Hoa), “Thiền học của Trần Thái Tông”, “Phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử”, “Phân kỳ và phân phái trong lịch sử Phật giáo Ấn Độ”, “Đạo đức Phật giáo”, “Giáo dục Phật giáo”, “Thiền Việt Nam” v.v. . . 

 

Vì Thiền viện Trúc Lâm tọa lạc gần thành phố Paris có được nguồn thông tin cập nhật và phong phú. Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam rất mong được Thiền viện Trúc Lâm cung cấp kịp thời và đầy đủ những tư liệu thông tin đó. 

 

Để kết thúc bài nói chuyện của tôi, tôi xin thành tâm cầu chúc cho Thiền viện Trúc Lâm của Thượng tọa Thích Thiện Châu và quý vị sẽ đóng vai trò xứng đáng như là biểu trưng sinh động cho nền Phật giáo của dân tộc tại hải ngoại, tại nước Pháp, ở đây có đông đảo Phật tử Việt kiều, thường xuyên hướng về Tổ quốc thân yêu, và Phật giáo nước nhà. 

__________________

Nguồn: thuvienhoasen.org

CHẤT PHẬT VÀ CHẦT VUA TRONG CON NGƯỜI CỦA PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG

'Vậy là đã 700 năm, 7 thế kỷ trôi qua từ khi Đức Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông viên tịch, thể nhập vào niết bàn an nhiên tự tại. Cả dân tộc Việt Nam đều được biết đến Ngài là một bậc quân vương anh minh của đất nước Đại Việt, mà cũng là một vị Sơ Tổ của dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử. Nói đúng hơn, Ngài là một vị “Vua Phật” của Việt Nam.

Theo những tài liệu nghiên cứu về Trần Nhân Tông cho thấy: lịch sử Việt Nam chú trọng nói về thời gian làm vua, tức “chất vua” của Ngài nhiều hơn; còn lịch sử Phật Giáo Việt Nam thì chú trọng về thời gian sau khi Ngài xuất gia, tức “chất Phật” nhiều hơn. 

 

Lại có chỗ chia rạch ròi ra hai giai đoạn là khi Ngài làm vua thì chỉ đơn thuần là một vị vua, và khi Ngài làm Tổ thì chỉ đơn thuần là một vị Tổ. Vì có sự thiên lệch đó nên vô tình đã làm giảm đi chất “Vua – Phật” toàn bích của Ngài.

 

Có thể nói, Đức Trần Nhân Tông khi đang làm vua thì đã có “chất Phật” trong đó, và khi xuất gia tu hành làm Phật thì vẫn ẩn hiện “chất vua” của một vị minh quân thiên tử. 

 

Vậy, Trần Nhân Tông là một vị vua có “chất Phật”, hay vị Phật có “chất vua”, đó là điều chúng ta cần suy gẫm và phân tích cho thấu đáo để hiểu được một cách toàn diện về con người của Ngài.

 

Theo quyển “Thế thứ các triều Vua Việt Nam” của Nguyễn Khắc Thuần (NXB Giáo Dục – 2000) ghi rằng:

 

Vua Trần Nhân Tông (1258 – 1308) 

- Họ và tên: Trần Khâm, Phật Kim. 

- Vua là con trưởng của Trần Thánh Tông, thân mẫu là Nguyên Thánh Thiên Cảm hoàng thái hậu. 

- Vua sinh ngày 11 tháng 11 năm Mậu Ngọ (1258). 

- Được lập làm thái tử năm Giáp Tuất (1274). 

- Được truyền ngôi ngày 22 tháng 10 năm Mậu Dần (1279). 

- Ở ngôi 14 năm (1279 – 1293), nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông để làm Thái thượng hoàng 6 năm (1293 – 1299). 

- Năm 1299, Trần Nhân Tông xuất gia tu hành và là người sáng lập ra Thiền Tông Trúc Lâm Yên Tử ở nước ta. 

- Vua mất ngày 01 tháng 11 năm Mậu Thân (1308), thọ 51 tuổi . 

- Trong thời gian ở ngôi, vua đã đặt hai niên hiệu: 

+ Thiệu Bảo: 1279 – 1285 

+ Trùng Hưng: 1285 - 1293

 

Còn theo “Đại Việt sử ký toàn thư” của sử thần Ngô Sĩ Liên thì cuộc đời Trần Nhân Tông chia làm ba giai đoạn, gói gọn trong 18 chữ: “Nhân Tông ở ngôi 14 năm, nhường ngôi 5 năm, xuất gia 8 năm, thọ 51 tuổi”. 

 

Như vậy, ta thấy vẫn chưa có tài liệu nào khắc hoạ một cách toàn diện về con người của Ngài với đầy đủ ý nghĩa của hai chữ “Phật Hoàng” mà người đời thường tán tụng.

 

Trước tiên, chúng tôi xin nói về giai đoạn trước khi xuất gia của Ngài. Qua các sử liệu ghi lại, khi vua Trần Nhân Tông sinh ra, nước da Ngài có màu vàng ròng, nên được vua cha gọïi là “Kim Phật” (tức Phật Vàng). Vậy nên, khi mới sinh ra, Ngài đã mang chủng tướng tốt của Phật, mà có lẽ, vua cha Thánh Tông đã đoán biết trước được nên mới đặt thế.

 

“Thái tử sinh ra ánh sắc vàng 

Khuôn mặt ngời lên đạo hào quang 

Đại Việt lừng danh Vua nước Nam”. 

(Kim Phật – Hoàng Quang Thuận)

 

Vậy “chất Phật” đã ẩn hiện trong Ngài từ lúc mới sinh ra. Rồi khi lớn lên giữa chốn kinh đô Thăng Long phồn hoa đô hội, Ngài vẫn tỏ rõ tâm đạo phi phàm của mình. 

 

Năm 16 tuổi, Ngài muốn xuất gia nhưng vua cha không thuận và lập Ngài làm thái tử. Rồi hai lần xin nhường ngôi lại cho em là Đức Việp nhưng phụ hoàng Thánh Tông vẫn không chấp thuận và đã truyền ngôi lại cho Ngài. 

 

Qua đó, chúng ta có thể khẳng định được một “chất Phật” đã hiện hữu rất sâu đậm trong con người của vua Trần Nhân Tông từ khi Ngài còn nhỏ đến khi làm vua. 

 

Sở dĩ Ngài lên ngôi là vì lòng hiếu kính, tuân lệnh của vua cha, giống như thái tử Tất-Đạt-Đa khi xưa vì hiếu thuận với vua Tịnh Phạn mà phải cưới công chúa Da-Du-Đà-La và sinh La-Hầu-La vậy. “Tâm hiếu là tâm Phật, hạnh hiếu là hạnh Phật”, thế nên, một vị minh quân không thể không hiếu thảo được.

 

Lúc này, ta có thể nói Trần Nhân Tông là một vị vua mang “chất Phật”. Thế mới hay, nếu không có sự làm vua này thì sự “vứt bỏ ngai vàng như chiếc dép rách” của Ngài có ý nghĩa to lớn chăng? Và danh từ “Phật Hoàng” mà mọi người tán tụng Ngài có tồn tại không? 

 

Phải có giai đoạn làm vua này thì giai đoạn làm Phật lúc sau mới thật sự cao cả, và càng làm cho giá trị về con người của Ngài thêm tôn quý. Cũng nhờ có làm vua mà Ngài mới có thể áp dụng đạo Phật vào để giáo hoá toàn dân. 

 

Vậy nên, gẫm lại gương Ngài mà chúng ta tự cảm thấy hổ thẹn. Ngài là một vị vua ngồi trên chín bệ, phải lo cho quốc gia, cho thiên hạ với trăm mối ngổn ngang nhưng Ngài vẫn hiểu Đạo một cách sâu sắc và thấu đáo. 

 

Còn như chúng ta đây có “trăm mối ngổn ngang” như Ngài không mà lại than rằng không có thời gian để học đạo, tu đạo, gẫm xem có đúng hay chăng?

 

Trong thời gian 14 năm trị vì của Trần Nhân Tông, có thể nói, đây là một giai đoạn lịch sử đầy biến động nhưng cũng là giai đoạn mang đậm hào khí của dân tộc, một triều đại được sử sách ca ngợi là một trong triều đại anh minh, thái bình và thịnh trị nhất trong lịch sử nước ta. 

 

Sở dĩ có được một triều đại như thế là do sự anh minh và tài đức của vua Trần Nhân Tông. Ngài biết áp dụng giáo lý đạo Phật vào công cuộc giữ nước, bình thiên hạ. Chính vì lãnh hội được tinh thần “dĩ thiên hạ chi dục vi dục, dĩ thiên hạ chi tâm vi tâm” (lấy cái muốn của mọi người làm cái muốn của mình, lấy tâm của mọi người làm tâm của mình) của ông nội là vua Trần Thái Tông mà vua Trần Nhân Tông đã triệu tập hai cuộc hội nghị dân chủ vô tiền khoáng hậu trong lịch sử là hội nghị Bình Than (1282) và hội nghị Diên Hồng (1285), huy động sức mạnh toàn dân chống giặc Nguyên Mông xâm lược. 

 

Có thể thấy, đó là lần đầu tiên trong lịch sử thể hiện tinh thần dân chủ và bình đẳng. Nếu chẳng phải là một vị vua thấm nhuần giáo lý thì chẳng làm được vậy. Phải chăng Ngài huy động chiến tranh đó là không có “tâm Phật”, là phạm giới sát? 

 

Bởi đây không phải là cuộc chiến tranh phi nghĩa mà là cuộc chiến tranh chống xâm lược để giữ yên bờ cõi, bảo vệ sự bình yên của dân tộc và của nước Đại Việt ngàn đời sau. Đó chính là “sát nhứt miêu, cứu vạn thử”, chẳng phải tâm lượng của bậc trượng phu thì làm sao làm được như vậy. 

 

Hơn nữa, đây là ý của toàn dân chứ không phải ý kiến chủ quan nơi Ngài. Ngày xưa, vua Lương Võ Đế ở Trung Quốc khi bị giặc Hầu Cảnh kéo quân vây thành Kiến Khang, quần thần xin vua cho đánh nhưng vua không cho, ra lệnh bế thành, tụng kinh cầu nguyện cho giặc lui. Kết quả giặc chẳng lui mà vua lại bị mất nước và giết chết. 

 

Nếu xét hành động của vua Lương Võ Đế – một ông vua mộ đạo – thì có đúng với tinh thần tích cực nhập thế của Phật giáo không? Trái lại, vua Trần Nhân Tông biết lúc nào chưa cần đánh và lúc nào nên đánh mà vẫn không rời đạo lý. Đó là vì đã hiểu sâu được tinh thần uyển chuyển, sống động, nhập thế tích cực, “tuỳ duyên nhi bất biến, bất biến nhi tuỳ duyên” của đạo Phật. 

 

“Sống thiền” chẳng phải là sống nơi rừng núi không người, không “tiếp duyên xúc cảnh”, mà “sống thiền” là sống giữa nơi “động” mà lòng luôn “bất động”. Kể cả lúc lâm triều, lúc ngồi trên yên ngựa vẫn gọi là “sống thiền” vậy! 

 

Nói về đạo đức của vua Trần Nhân Tông, toàn dân đều ca tụng Ngài là bậc “minh quân chi chúa”, thương dân như con. Chẳng những thế, đối với bọn giặc Nguyên Mông, Ngài vẫn muốn đem chí dung tâm để thay cường bạo, lấy đại hùng từ bi để chiến thắng hung tàn. 

 

Trong lịch sử còn ghi lại: “Khi bộ tướng của Ngài chém được đầu Toa Đô đem đến dâng trước thuyền rồng, thương cho viên tướng giặc vì vô minh mà lâm vào tội ác đến nỗi chết không toàn thây, Ngài liền cởi áo bào đang mặc quẳng cho bọc thủ cấp của Toa Đô”. 

 

Chính tấm lòng nhân đạo, đức độ thấm đượm “chất Phật” trong con người của Ngài đã làm nên một chiến thắng vẻ vang cho dân tộc, đem lại sự thịnh trị cho đất nước Đại Việt mà ngàn đời sau, sử sách còn ca ngợi mãi:

 

“Xã tắc hai phen chồn ngựa đá 

Non sông nghìn thuở vững âu vàng”. 

(Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã 

Sơn hà thiên cổ điện kim âu).

 

Quả thật, nếu vua Trần Nhân Tông chẳng áp dụng giáo lý đạo Phật vào việc “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” thì đất nước ta có được một triều đại hùng cường như thế không? 

 

Sử thần Ngô Sĩ Liên đã ghi nhận về Ngài như sau: “Trần Nhân Tông trên nhờ từ cung tỏ rõ hiếu đạo, dưới dùng người hiền lập nên võ công, không phải bậc nhân minh, anh minh thì làm sao được như thế!”(Đại Việt sử ký toàn thư). 

 

Vậy cũng đủ cho ta thấy “chất vua” và “chất Phật” cùng hiện hữu trong con người của Ngài. Bởi thế, vua Trần Nhân Tông được mọi người tôn xưng bằng mỹ hiệu “Phật Hoàng” là vậy.

 

“Đạo lý Nhân Tông sáng ngời Đông Á 

Việt Nam năm châu rạng rỡ tiên rồng”. 

(Phật Hoàng Trần Nhân Tông - nhạc sĩ Chúc Linh).

 

Ngay như lúc đang ngồi trên ngôi chín bệ, quyền uy tột bực mà Ngài vẫn biết rằng:

 

“Mình ngồi thành thị 

Nết dùng sơn lâm 

Muôn nghiệp lặng an nhàn thể tánh 

Nửa ngày rồi tự tại thân tâm.” 

(Cư Trần Lạc Đạo Phú – hội thứ nhất)

 

Nếu chẳng phải một vị Phật hoá sinh thì được vậy chăng? Thế nên, khi Ngài làm vua thì cũng đã làm Phật rồi. Thử hỏi xưa nay được bao nhiêu vị vua như Ngài? “Cư trần lạc đạo” hay “cư trần bất nhiễm trần” là diệu dụng của Thiền. 

 

Hiểu được như vậy, vua Trần Nhân Tông đã xây dựng cho toàn dân một nền luân lý đạo đức học Phật giáo thật sống động và thiết thực, không bi quan, yếm thế, mở ra một cái nhìn toàn diện và tích cực trong triều đại nhà Trần. Bởi vậy, trong cung vua Trần có một ánh sáng thiền, luôn thường chiếu mãi. Có một thi sĩ đã làm bài thơ “sống” rằng:

 

“Sống là động mà lòng luôn bất động 

Sống yêu thương mà lòng chẳng vấn vương 

Sống hiên ngang giữa danh lợi chẳng màng 

Tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến”.

 

“Thiền” là sống nơi cái “động” mà nhận ra cái “bất động” thường hằng, sống giữa trần mà không nhiễm trần, “tuỳ duyên tiêu nghiệp cũ, hồn nhiên mặc áo xiêm”. Như thế mới gọi là “an nhàn thể tính”. Trong giai thoại nhà Thiền có một câu chuyện:

 

Có một vị tăng hỏi một vị thiền sư: 

- Chẳng lẽ ngày nào cũng mặc áo, ăn cơm? 

Vị thiền sư hỏi lại: 

- Vậy chứ ông muốn sao? 

- Làm sao để không mặc áo, ăn cơm? 

Thiền sư trả lời: 

- Thì hãy mặc áo, ăn cơm! 

Vị tăng ngơ ngác: 

- Con chưa hiểu. 

Thiền sư bảo: 

- Thôi, cứ về mặc áo, ăn cơm đi!

 

“Mặc áo, ăn cơm” là những chuyện thường nhật, những chuyện sinh tử. Vậy muốn thoát khỏi sinh tử mà không tu tập ngay nơi sinh tử thì giải thoát được chăng? 

 

Bởi vậy, thiền sư mới bảo “cứ về mặc áo, ăn cơm đi!”. Thế nên, ngay nơi sinh tử mà ngộ ra được cái vô sinh bất tử, ngay đời thường mà thấy được những diệu lý phi thường của các pháp, ngay nơi trần mới tu được cái bất nhiễm trần. 

 

Như thế, phiền não chẳng khác bồ đề, ta bà không ngoài tịnh độ. Ngài Trần Nhân Tông cũng đã nói trong bài “Cư Trần Lạc Đạo”: 

 

Cư trần lạc đạo thả tuỳ duyên 

Cơ tắc xan hề khốn tắc miên 

Gia trung hữu bảo hưu tầm mích 

Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền. 

(Ở đời vui đạo hãy tuỳ duyên 

Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền 

Trong nhà có báu, thôi tìm kiếm 

Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền.)

 

Bài thơ cho thấy “chất Phật” của vua Trần Nhân Tông được hiển bày một cách rõ rệt và thấu đáo, liễu ngộ được cái cốt lõi của thiền, đó là:

 

“Bụt ở trong nhà, chẳng phải tìm xa 

Nhân khuấy bản nên ta tìm Bụt 

Đến cốc hay chỉn Bụt là ta”.

 

Có thể nói rằng, lúc này, Ngài là “tướng vua” mà “chất Phật”. Một khi đã liễu hội được cái đó thì ngai vàng, áo mão còn có ý nghĩa gì đâu. Vậy nên:

 

“Áo mão, kim đai theo dòng nước 

Chuông từ, mõ trúc, vọng chân không 

Phật pháp vô biên, tâm vô lượng 

Bồ đề thơm ngát, toả mười phương”.

 

Năm 1293, Ngài truyền ngôi lại cho Trần Anh Tông rồi đi xuất gia ở Vũ Lâm, Ninh Bình. Rũ sạch hết muôn vàn thế sự, lên núi ẩn tu, vậy có phải Ngài lánh đời, yếm thế chăng? Và “chất minh quân” của Ngài cũng chẳng còn sao? 

 

Chẳng phải vậy! Bởi khi làm vua, Ngài đã thấm nhuần “chất Phật” và bây giờ xuất gia tu Phật, Ngài cũng vẫn còn “chất minh quân”, nhưng có điều khác là không phải biểu hiện “chất vua” đó trên khía cạnh chính trị, quốc gia thế sự mà biểu hiện trên khía cạnh đạo đức, nếp sống luân lý của toàn dân. 

 

Đây là chỗ nhiều người hay nhầm lẫn nên chúng ta cần phải hiểu thông rành rẽ để tránh hiểu sai về con người của Ngài. Nhà thơ – tiến sĩ Hoàng Quang Thuận đã viết trong tập thơ “thi vân Yên Tử”:

 

“Non xanh cắt tóc dứt trần duyên 

Vua đến nơi đây để nhập thiền 

Không phải trốn đời và yếm thế 

Cứu đời, nhập thế với Phật tiên”.

 

Cởi áo hoàng bào, khoác áo cà sa, Ngài vẫn để mắt theo dõi từng bước đi của triều đại, chăm chút đời sống tâm linh của muôn dân. Ngài du hoá khắp nơi, khuyên chúng dân làm lành lánh dữ, tu thiện. Tuỳ từng căn cơ thượng hạ mà Ngài truyền dạy pháp tu cho mọi người được an lạc nơi tự thân. Đó chẳng phải là tư cách của một bậc minh quân lo cho dân đó sao? 

 

Thế nên, “chất Phật” và “chất vua” cùng tồn tại trong con người của Ngài qua mọi giai đoạn của cuộc đời, chỉ có điều là ứng với từng giai đoạn thì Ngài tuỳ duyên mà ứng hiện chất ấy đậm nét hơn thôi. Mặc dù vậy, thể tánh của Ngài lúc nào cũng lặng lẽ, rỗng rang, tự tại giữa dòng đời.

 

“Phải quấy niệm rơi theo hoa sớm 

Lợi danh tâm lạnh với mưa đêm”. 

(Thị phi niệm trục triêu hoa lạc 

Danh lợi tâm tuỳ dạ vũ hàn). 

- Sơn Phòng Mạn Hứng -

 

Qua bài “Đắc Thú Lâm Tuyền Thành Đạo Ca”, ta có thể thấy hết được sự an nhiên tự tại phi phàm của Ngài, thật khó mà tả hết được:

 

“Kiếm chốn dưỡng thân 

Vắng vẻ ngàn kia 

Thân lòng hỷ xả 

Thanh nhàn vô sự 

Quét tước đài hoa 

Thờ phụng Phật trời”.

 

Tóm lại, Trần Nhân Tông là một vị vua hay một vị Phật đều như một, không khác, đều là một Bậc giác ngộ được lý thiền, tu hành giải thoát. Chúng ta học Ngài không phải nơi vua, cũng chẳng phải nơi Phật, mà là nơi sự giác ngộ, giải thoát của Ngài. 

 

Ngày xưa, Ấn Độ có một vị thái tử xuất gia tu thành Phật, thì Việt Nam lại có một vị vua đi tu thành Tổ, khai sinh ra dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử của Việt Nam. 

 

Đây là niềm tự hào cho cả dân tộc Việt Nam nói chung và cho Phật Giáo Việt Nam nói riêng đối với các nước bạn. Gương sáng của Đức Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông vẫn truyền mãi cho ngàn đời sau biết về một vị “Vua Phật Việt Nam”.

 

“Được làm vua chăn dân trăm họ 

Được làm Phật cứu độ muôn loài 

Ngạn cổ ngàn xưa đâu có sai 

Vua Trần đã hoá thành Vua Phật 

Tây Phương kề cận Phật Như Lai”.

(Vua Phật – Hoàng Quang Thuận)

_______________

 

Pháp Đăng

(thuongchieu.net)

Nguồn: thuvienhoasen.org

TOÀN NHẬT THIỀN SƯ - NGƯỜI MUỐN ĐƯA TINH THẦN PHẬT GIÁO ĐỜI NHÀ TRẦN XUỐNG CHO TRIỀU ĐẠI TÂY SƠN

Nhưng nếu trước khi xuất gia, Toàn Nhật đã từng làm tướng rồi sau đó mới “tuốt dép lánh xa khỏi nơi doanh liễu”. Vậy thì bây giờ ta thử xem Thiền sư Toàn Nhật đã làm tướng cho triều đại nào?

Theo tác giả Toàn Nhật Quang Đài, trong những tác phẩm đã tìm lại được thì chỉ có tác phẩm Xuất gia tối lạc tỉnh thể tu hành vãn là Toàn Nhật có nhắc đến triều đại nhà Nguyễn:

Ấy triều đại cổ kim thật lục
Nối truyền qua bản quốc Nam thiên
Những vì thánh chúa tôi hiền
Tượng kinh tôn trọng chùa chiền nghiêm trang.
Nỗi riêng than có thành có quách
Nếu vui thôi thì ắt thái qua
Mừng nay minh chúa Nguyễn Gia
Trung hưng chánh pháp gần xa tôn sùng.
Dựng tăng phòng lại trau Phật điện
Tạo trống chuông nổi tiếng vang lừng
Tăng ni thong thả tu thân
Cảnh thiền tiêu sái áng trần phiền lao.

Nhưng thời bấy giờ ở đàng trong có hai chúa Nguyễn, là Nguyễn Gia Long và Nguyễn Tây Sơn, vậy câu: “Mừng nay minh chúa Nguyễn Gia” của Toàn Nhật muốn nói đến Nguyễn Gia Long hay Nguyễn Tây Sơn?

Và đây là lời giải đáp của giáo sư Lê Mạnh Thát, tác giả Toàn Nhật Quang Đài:

“Đương nhiên, nó không thể là nhà Nguyễn của các chúa Nguyễn bởi vì kể từ năm 1771 trở đi, lúc Toàn Nhật mới 14 tuổi, thì toàn bộ dòng họ chúa Nguyễn đã bị đánh bật ra khỏi ngôi vị của mình, để có thể làm chuyện “trung hưng chánh Pháp”. Do vậy, chỉ có thể là nhà Nguyễn Tây Sơn hay nhà Nguyễn Gia Long mà thôi. Đối với nhà Nguyễn Gia Long, tuy Toàn Nhật sống hơn 30 năm còn lại của đời mình dưới sự thống trị của dòng họ này và đã biểu thị một thái độ hết sức đặc biệt. Ông hầu như không thừa nhận sự hiện diện của nhà Nguyễn ấy qua việc ông không bao giờ xử dụng niên hiệu của các vị vua nhà Nguyễn trong các tác phẩm để ghi lại những đơn vị thời gian cần thiết.

Chẳng hạn, trong ba bài bạt ta hiện tìm được viết cho những lần in kinh năm 1819 và 1829, thì một bài bạt không đề ngày tháng gì hết, còn hai bài bạt kia, ta chỉ thấy ghi “tuế thứ Kỷ Mão” và “tuế thứ Kỷ Sửu”. Việc ghi niên đại kiểu này, trong khi đất nước đang có chủ quyền, là một biểu thị khinh nhờn cực kỳ nghiêm trọng đối với nhà đương quyền. Nói trắng ra, Thiền sư Toàn Nhật không thừa nhận nhà Nguyễn Gia Long là chính thống, do thế đã không xử dụng niên hiệu của Gia Long và Minh Mạng ngay cả lúc cần thiết.[1]

Trong tác phẩm Lược sử Phật Giáo và các chùa Phú Yên, hai tác giả Nguyễn Đình Chúc và Huệ Nguyễn khi viết về Thiền sư Diệu Nghiêm và chùa Từ Quang cũng xác nhận rằng: “Đệ tử thành đạt của tổ sư có đến 28 vị thành danh, trong đó có Thiền sư Toàn Nhật Quang Đài nguyên là mưu thần của vua Quang Trung về sau xuất gia và làm trụ trì chùa Viên Quang”.[2]

Nhưng tại sao Toàn Nhật đã gặp được “Chúa thánh tôi hiền” để phục vụ lại phải vội vã từ giả khi mới có 30 tuổi đầu? Chắc chắn phải có một biến cố đau lòng nào đó? Tác giả Toàn Nhật Quang Đài cho rằng:

“Lý do cho sự từ quan có thể xuất phát từ cuộc tranh chấp nào đó, mà ngày nay vì thiếu tư liệu, chúng ta không thể nào xác định được một cách rõ ràng. Trong Từ Quang Tự sa môn Pháp chuyên Luật truyền Diệu Nghiêm Thiền sư xuất thế nhân do sự tích, dù được viết vào năm Gia Long thứ 3 (1805) nhà Tây Sơn xung đột với nhau bằng từ ngữ “thủ túc tương tranh”. Ta biết việc kéo quân vào Quy Nhơn vây Nguyễn Nhạc xảy ra vào khoảng tháng 9 năm 1786 sau khi đã rút quân khỏi Thăng Long vào tháng 7 năm Bính Ngọ (1786), và Nguyễn Nhạc đã than khóc với Nguyễn Huệ về việc nồi da xáo thịt. Như vậy khi Toàn Nhật nói mình xuất gia vào năm 30 tuổi, và ông lại sinh vào năm Đinh Sửu (1757), thì năm Bính Ngọ ông đúng 30 tuổi theo cách tính của người Việt Nam. Việc rũ áo từ quan đi xuất gia của Toàn Nhật do thế phải chăng đã liên hệ với sự kiện anh em Tây Sơn xung đột vừa nói?[3]

Trong suốt 2 tác phẩm Tham thiền vãn và Thiền cơ yếu ngữ vãn, ta nghe thấy một nỗi buồn nào đó với con đường lợi danh mà Toàn Nhật vừa rũ bỏ để ra đi.

Quyết một bề trèo non đào giếng
Kẻo lời phàm đeo tiếng thị phi
(Tham thiền vãn)

Không phải chỉ buồn thôi mà còn có một cái gì đó vừa chua chát vừa đắng cay:

Danh lợi đã đề nên tiếng sĩ
Đâu ở mình xử kỷ chẳng toan
Súng kia nhắm dạng dè làn
Thiên cơ dễ biết ngộ duyên quân thần
Đã cầm cân non già từng nhắc
Dai hay sao tráo trác đấu đong
(Tham Thiền vãn)

Nhưng không sao, vì Toàn Nhật có đủ nghị lực cũng như ý chí để vượt qua những phong ba bão táp của cuộc đời, vì ông đã tự nhắc nhở cho chính mình:

Miễn là neo nọc cho bền
Gió lồng mặc gió, vững thuyền thì thôi
(Tham Thiền vãn)

hoặc là:

Lời thị phi khen chê mặc thế
Hơi nào mà cấm chợ ngăn sông?

Và nếu Toàn Nhật đã từng theo Chúa Nguyễn Tây Sơn, thì nhất định triều đại Tậy Sơn phải là một triều đại tôn sùng Phật giáo như Thiền sư Toàn Nhật đã hết lòng ca ngợi:

Mừng nay minh chúa Nguyễn Gia
Trung hưng chánh Pháp gần xa tôn sùng
Dựng tăng phòng lại trau Phật điện
Tạo trống chuông nổi tiếng vang lừng
Tăng ni thong thả tu thân
Cảnh thiền tiêu sái áng trần phiền lao

Tác giả Lê Mạnh Thát đã khẳng định như thế này: “Lịch sử và dã sử cũng như truyền thuyết đều xác nhận nhà nước Tây Sơn dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Huệ, đã có những chính sách cải cách Phật giáo thực to lớn. Điều này cũng không có gì lạ khi ta nhớ rằng trong ba anh em nhà Nguyễn Tây Sơn, có người đã ở Chùa làm sư rồi sau đó mới ra làm tướng, làm vua.

Có thuyết nói rằng người đã từng làm sư ấy là Nguyễn Lữ, nhưng thuyết đáng tin cậy hơn lại nói người đó chính là Nguyễn Huệ. Ngày nay, tại Chùa Trúc Lâm ở Huế còn giữ một tấm gấm thêu Kinh Kim Cang bằng chỉ đỏ do Ngọc Hân Công chúa thực hiện vào năm Cảnh Thịnh thứ 2. Và văn tế vua Quang Trung do Ngọc Hân viết cũng nói đến cái chết của vua Quang Trung như “miền cực lạc xe mây vùn vụt”. Vua Quang Trung phải là người như thế nào về phương diện tôn giáo, thì Công chúa Ngọc Hân mới nới tới miền cực lạc. Cũng thế, thái độ tôn giáo của triều đình Tây Sơn Quang Trung như thế nào, thì Ngọc Hân mới thêu kinh Kim Canh Bát Nhã lên gấm”.[4]

Nguyễn Xuân Nhân, trong tác phẩm Văn học dân gian Tây Sơn cũng xác nhận như thế này đối với thông tin trên:

“Trước khi dấy nghĩa, Nguyễn Lữ cùng theo hai anh học văn học võ với thầy giáo Hiến. Sau đó có một thời gian xuất gia nên ông còn được gọi là thầy Tư Lữ. Mấy năm làm nhà sư, ông có dịp trao đổi võ thuật với các nhà sư Trung Quốc vốn là những người mang tư tưởng “Phục Minh Kháng Thanh” trú ngụ ở An Thái (Bình Định). Ông muốn cho bộ môn võ thuật nước nhà thích hợp với thể chất của người mình nên cùng các chiến hữu tìm hiểu kỹ các thế đánh của đôi gà chọi nhau, rồi sáng tạo nên nhiều thế đánh mới hợp thành một thể thống nhất gọi là Hùng Kê Quyền”.[5]

Nếu những điều trên có thể làm cho ta bán tín bán nghi vì nửa là lịch sử và nửa là dã sử thì những bằng chứng sau đây cũng của tác giả Toàn Nhật Quang Đài chắc chắn là sự khẳng định rõ ràng của lịch sử:

“Không những thế, triều đình nhà Tây Sơn, cụ thể là triều đình vua Quang Trung, gồm những người cốt cán lại là những Phật tử. Ta có Hải Lượng đại Thiền sư, tức Binh Bộ Thượng Thư Ngô Thời Nhiệm (1746-1803) cùng những người trong Trúc Lâm Thiền viện của ông như Hương Lĩnh Bá Nguyễn Đăng Sở, Phan Huy Ích, Vũ Trinh… Ngoài ra vị quân sư của Nguyễn Huệ là Trần Văn Kỷ, lại có con đi xuất gia có hiệu là Đạo Minh Trung Hậu hòa thượng. Triều đình nhà Tây Sơn do thế là một triều đình Phật giáo”.[6]

“Ngoài ra, từ Quang tự sa môn Pháp chuyên Luật truyền Diệu Nghiêm thiền sư xuất thế nhân do tích chí có cho ta biết về việc thầy của Toàn Nhật là Thiền sư Pháp chuyên luật truyền Diệu Nghiêm đã được vua quan nhà Tây Sơn ủng hộ. Chẳng hạn, vào năm Bính Thìn (1796) tại tỉnh Phú Yên, Pháp chuyên đã tổ chức một giới đàn để thọ giới cho hơn 200 tăng ni, thì đã được chủ trấn là Đoàn Luyện quận công của nhà Tây Sơn ủng hộ.

Rồi đến năm Mậu Ngọ (1798) Thiền sư Diệu Nghiêm lại được Hoàng Thái hậu nhà Tây Sơn mời ra Huế để chứng minh việc đúc Đại Hồng Chung và được ban cà sa màu tím. Ta biết những năm 1796 cho đến 1798, quân Nguyễn Ánh chưa lấy được Phú Yên và Thuận Hóa”.[7]

Và như vậy, tác giả Toàn Nhật Quy đài kết luận:

“Trên cơ sở những phân tích vừa thấy “minh chúa Nguyễn Gia”, tất không thể ai hơn là vua Quang Trung. Từ đó, nếu trước khi xuất gia, Toàn Nhật đã làm quan và làm tướng thì ông đã làm quan làm tướng với nhà Tây Sơn”.[8]

Bởi vậy nên mặc dù đã rời bỏ hàng ngũ của phong trào Tây Sơn để đi xuất gia, nhưng Toàn Nhật vẫn tích cực hỗ trợ cuộc cách mạng của Tây Sơn. Chính vì sự hỗ trợ này nên khi nhà Tây Sơn sụp đỗ và Nguyễn Gia Long chiếm được chính quyền thì Toàn Nhật lại phải sống lao đao cùng với vận nước nổi trôi, như chính Toàn Nhật đã ghi lại trong một bài phú:

Ở không nơi; về không chốn
Than rằng biển khổ rất mênh mông
Lênh đênh chẳng khác thuyền trôi
Biết đâu dừng đỗ.
Lãng đãng cũng như bèo nổi
Theo đó hợp tan
Công đã đi tu
Phận muối dưa lại không an phận.
Lòng toan học đạo,
Thân bả bô chẳng đặng dung thân
Ở không nơi, phải tạm ở đình
Đình vốn rộng trống sau trống trước.
Quán cũng lạ không vào ngụ quán
Quán tuy nhiều, khó mượn khó toan
Đặng gặp nơi nào
Cũng nhờ chốn ấy.
(Thơ Bà Vãi)

Nhưng tại sao một người như Toàn Nhật lại hết lòng ủng hộ cuộc khởi nghĩa của Tây Sơn? Vì Tây Sơn đã đánh đuổi chúa Nguyễn ở Đàng trong, đã xóa tên hai tập đoàn phong kiến là chúa Trịnh và vua Lê ở Đàng ngoài, đặc biệt là đã oanh liệt đánh tan tành hai cuộc xâm lăng của nhà Thanh ở phương Bắc và Xiêm la ở phương Nam chăng?

Nếu chỉ hùng mạnh về quân sự không thì chưa đủ để thuyết phục một nhà trí thức lỗi lạc như Toàn Nhật, để Toàn Nhật có thể ủng hộ cuộc khởi nghĩa của Tây Sơn. Vì sao? Vì lý do đơn giản là xưa nay lịch sử đã từng chứng minh rằng, một chế độ chỉ biết đề cao võ trị thì chế độ đó luôn luôn chuyên quyền và độc đoán và nạn nhân thê thảm cho sự chuyên quyền và độc đoán này chính là người dân vô tội chứ không ai khác.

Vậy chắc chắn triều đại Tây Sơn ngoài sức mạnh về quân sự ra thì phải còn có những chính sách nào đó rất phù hợp với lòng dân nên một trí thức như Toàn Nhật mới ủng hộ một cách tích cực như vậy chăng?

Cố học giả Trần Trọng Kim, đã nhận định về con người của Quang Trung Nguyễn Huệ như thế này:

“Vua Quang Trung nhà Nguyễn Tây Sơn là ông vua anh dũng, lấy võ lược mà dựng nghiệp, nhưng ngài có độ lượng, rất am hiểu việc trị nước, biết trọng những người hiền tài văn học. Khi ngài ra lấy Bắc Hà, những người như Ngô Thời Nhiệm, Phan Huy Ích, đều được trọng dụng và nhất là đối với một người xử sĩ như Nguyễn Thiếp thì thật là khác thường.

Nguyễn Thiếp, tức là Khải Chuyên hiệu là Nguyệt Úc, biệt hiệu là Hạnh Am. Ông làm nhà ở Lục Niên thành, thuộc huyện La Sơn, Hà Tĩnh bây giờ, cho nên người ta gọi là Lục Niên tiên sinh hay là La Sơn Phu tử.

Vua Quang Trung từ khi đem quân ra đánh Bắc Hà, biết tiếng Nguyễn Thiếp, đã mấy lần cho người đem lễ vật mời ông ra giúp, ông không nhận lễ và cũng từ chối không ra. Đến khi Ngài đăng cực, lại mấy lần cho người đến mời ông, ông có đến bái yết và khuyên vua nên lấy nhân nghĩa mà trị dân trị nước, rồi lại xin về. Vua Quang Trung tuy không dùng được ông, nhưng bao giờ cũng tôn kính ông như bậc thầy, và việc chính trị trong nước thường theo ý mà Nguyễn Thiếp đã trình bày”.[9]

Đó là chính sách của nhà nước Tây Sơn đối với giới trí thức, còn đối với người dân thì sao? Người dân nước ta ở nửa cuối thế kỷ 18 thì hầu hết đều sống bằng nghề nông, lao động suốt ngày nhưng vẫn nghèo khổ. Vậy chính sách của nhà nước Tây Sơn đối với những người nghèo khổ này thì sao? Những người Tây phương có mặt từ những ngày đầu của cuộc khởi nghĩa Tây Sơn nói rằng, khẩu hiệu của nghĩa quân là “hãy tước đoạt của ngưởi giàu chia cho người nghèo”.

“Bọn Nguyễn Nhạc muốn đem ánh sáng công lý soi tới chúng dân và giải thoát khỏi gông cùm của nhà vua, các quan và các cố vấn. Bọn chúng tuyên truyền tính bình đẳng trong mọi địa hạt. Trung thành với thuyết tân xã hội, bọn Nguyễn Nhạc tước đoạt tài sản của các quan thống trị giàu có và đem chia cho dân cùng đinh khố rách”[10].

Như vậy, chắc chắn những tác phẩm của Toàn Nhật, đặc biệt là Hứa sử truyện vãn đã được Toàn Nhật viết ra để hỗ trợ cho cuộc khởi nghĩa do chính những người từ giới nông dân nghèo khổ ấy cầm đầu. Bởi thế, theo tác giả Toàn Nhật Quang Đài thì: “Thể hiện rõ nét bản lĩnh tư duy của nhân dân ta trước những vấn đề trọng đại của đất nước. Chúng không phải là những luận đề cũ rích vay mượn từ những sách vở Trung Quốc, không có một liên quan thiết yếu đến đời sống dân tộc.

Trái lại, chúng là những vấn đề nóng bỏng của thời đại tác giả sống, đòi hỏi phải có những giải đáp thích đáng. Cho nên, chúng không cần phải bao bọc trong những câu thơ óng chuốt, trưởng giả, đầy những điển cố chữ nghĩa, sự tích xuất phát từ dòng văn hoá bác học và ít nhiều mang tính ngoại lai.

Thay vào đó, chúng được trình bày một cách thẳng thắn, cố nhiên là dưới hình thức truyện vãn, qua những lời thơ bình dị, trong sáng đến nỗi giống như lời nói hằng ngày của nhân dân. Do thế, trên toàn bộ, Hứa sử truyện vãn đã thể hiện sức sống dạt dào đang cuồn cuộn dâng lên của dân tộc ta trong thời kỳ nổ ra cuộc cách mạng Tây Sơn do nhà anh hùng áo vải Nguyễn Huệ lãnh đạo lần đầu tiên đánh thắng hai thế lực quân chủ lực kỳ phản động trong nước và thế lực xâm lược ngoại bang”.[11]

Nhưng với Toàn Nhật, một người được nuôi dưỡng từ truyền thống tư tưởng của Phật giáo, thì chỉ công bằng trên bình diện xã hội không chưa đủ mà còn phải bình đẳng và công bằng ngay cả trên phương diện nhân phẩm của mỗi cá nhân con người nữa. Như vấn đề gọi là chính thống và ngụy triều sau đây chẳng hạn:

“Những người làm quốc sư nước Tàu và nước ta thường chia những nhà làm vua ra chính thống và ngụy triều. Nhà nào, một là đánh giặc mở nước, sáng tạo ra cơ nghiệp, hai là được kế truyền phân minh, thần dân đều phục, ba là dẹp loạn yên dân, dựng nghiệp ở đất Trung Nguyên, thì cho là chính thống. Nhà nào, một là làm tôi cướp ngôi vua, là sự thoán đạt không thành, hai là xưng đế, xưng vương ở chỗ rừng núi, hay là ở đất biên địa, ba là những người ngoại chủng vào chiến nước làm vua thì cũng cho là ngụy triều”.[12]

Như vậy, nhà Tây Sơn được xem là kẻ ở rừng núi, ở biên địa, là ngoại chủng vào cướp nước làm vua nên sử nhà Nguyễn đã gọi là Ngụy Tây Sơn.

Thế nào là chính thống và thế nào là ngụy triều? Và ai là kẻ có thẩm quyền đứng ra để bảo rằng triều đại này là chính thống và triều đại kia là ngụy triều là không chính thống? Và có cái gì để bảo chứng rằng những người được sinh ra từ giới thống trị, sanh ra ở vùng trung nguyên là hơn kẻ sanh ra ở vùng biên địa hay thôn dã quê mùa?

“Sự sanh trưởng không làm cho con người được liệt vào giai cấp Bà la môn hay bị loại ra khỏi giai cấp này.

Chính nếp sống hàng ngày tạo ra người nông dân, thương gia hay nô bộc.

Nếp sống hàng ngày tạo ra hạng trộm cắp, binh sĩ, tu sĩ hay vua chúa.

Và thông điệp này cứ được nhắc đi nhắc lại mãi trong giáo Pháp của Đức Phật:

“Là cung đình không phải do sanh trưởng là Bà la môn không phải do sanh trưởng do hành động, người này là cung đình do hành động người này là Bà la môn (Sutta Nipàta –Vasalasutta).

Từ lời khẳng định này của Phật giáo ta mới thấy rằng cái gọi là chính thống cũng như không chính thống, gọi là ngụy triều hay chính triều chỉ là trò bày đặt của giai cấp thống trị mà thôi chứ chẳng có bất cứ một giá trị đích thực nào cả.

Vậy bây giờ ta thử xem Thiền sư Toàn Nhật đã phải làm gì để đập tan cái lý luận bất công này mà hỗ trợ cho cuộc cách mạng Tây Sơn? Những người được sanh ra từ nơi thôn dã quê mùa?

Tác giả Lê Mạnh Thát viết: “Thế thì Hứa sử truyện vãn có thể được Toàn Nhật “san bổ” trước những năm 1798. Phải chăng nó ra đời nhằm đáp ứng những yêu cầu lý luận chính trị phục vụ cho sự nghiệp xưng đế và chống ngoại xâm của Quang Trung?

Với lý thuyết chống tôn quân, phải chăng nó đã gián tiếp biện minh cho việc Quang Trung xưng đế không thừa nhận quyền uy chính thống của Vua Lê? Thậm chí, nếu “Vãn Hứa sử”, tiền thân của Hứa sử truyện vãn lưu hành trước Toàn Nhật đã có nội dung chống tôn quân khi Hứa sử truyện vãn, thế phải chăng tiền thân ấy đã cung ứng phần nào lý luận cho việc lên ngôi của Nguyễn Nhạc, chứ không phải chỉ đợi đến Quang Trung?”

Cũng theo giáo sư Lê Mạnh Thát thì Hứa sử truyện vãn, ngoài những vấn đề về tư tưởng Phật giáo ra, thì nổi bật nhất có ba chủ đề chính, nhưng giáo sư cho rằng luận đề thứ nhất mới là luận đề quan trọng nhất vì nó đã “tiến công đập tan chủ nghĩa tôn quân chuyên chế và cực đoan, phá vỡ cái trật tự phong kiến quân – sư – phụ hàng ngàn năm đè nặng lên đầu lên cổ nhân dân. Đó là thầy quan trọng hơn cả vua và cha mẹ. Dưới hình thức lời phán của Diêm vương, Hứa sử truyện vãn đã nêu câu hỏi:

Tội ai bằng Hoàng Tử Anh
Giết cha rồi lại tung hoành hung hăng
Xét mình nghịch ác chẳng an
Quy y niệm Phật ba đàng thoát qua.
Xà vương giết hại vua cha
Quy y niệm Phật đặng tha tội đày
Có một sự tội phụ thầy
Phật không cứu đặng, ta rầy khó bênh

Hứa sử đứng lên xin hỏi:

Thế thì thực sự thầy quan trọng hơn vua và cha mẹ sao?

Và như quân phụ sư ân
Trong đời đạo thiệt bằng cân cao dày
Làm tôi buông thói thẳng ngay
Làm con không thảo giết đày vua cha
Lẽ thời tội ấy không tha.
Quy y sao lại thoát ra tội dày
Đệ tử nếu phụ ân thầy
Phật không cứu đặng, lịnh này chẳng tha
Vậy thời thầy hơn vua cha
Tôi nghe lẽ ấy lòng mà chưa thông.

Để trả lời câu hỏi của Hứa sử, một lần nữa dưới hình thức lời phán của Diêm vương, Hứa sử truyện vãn đã đưa ra lý lẽ sau:

Trong đời muôn việc không thầy
Thế gian thường nói đố mày làm nên
Tớ đương nghĩa trả ơn đền
Nếu mà phụ bạc tội dường hằng sa
Tớ thầy, tôi chúa, con cha
Trong đời ba ấy rất là trọng thay
Sanh con bằng chẳng có thầy
Lấy ai giáo hóa cho rầy nên thân
Chẳng noi đạo đức nghĩa nhân
Làm đường nghịch ác vong thân làm gì
Ví như tẩu nhục hành thi
Làm chi nên chuyện kể thì là con
Cho hay khắc chấn gia môn
Chói danh hai họ tiếng đồn muôn thu
Cũng là tiết nghĩa phò vua
Trạc dân trí chúa cơ đồ đặng yên
Vua cùng cha mẹ rõ ràng
Các điều thành tựu nhờ ơn có thầy.

Rõ ràng xuất phát từ quan điểm dân chủ tự phát của nhân dân, Toàn Nhật đã tiếp thu những yếu tố dân chủ tự phát đó và triển khai chúng thành một lý tưởng dân chủ có cơ sở lý luận, tiến công trực diện vào lập trường tôn quân chuyên chế và cực đoan do các thế lực phong kiến suy tàn cố dựng lên.

Có thể nói, đây là lần đầu tiên và có lẽ duy nhất trong lịch sử chế độ phong kiến nước ta, một tác phẩm văn học dám nêu lên một lý thuyết dân chủ, dám thẳng thừng tuyên bố không úp mở: “Vậy thời thầy hơn vua, cha”. Vua là thiên tử, là con trời: “Khắp dưới gầm trời, không đâu không là đất của vua, dân ở khắp đất không ai không là bề tôi của vua”. Tuyên ngôn phong kiến đã dõng dạc xác định quyền uy tối thượng và bất khả xâm phạm của thiên tử là thế, của vua là thế.

Cho nên, nói rằng có một lớp người nào đó hơn cả vua nữa là phạm thượng, là xúc phạm đến chính cốt lõi, đến chính điểm huyệt sống chết của vấn đề, cần phải loại trừ không chút khoan nhượng, Toàn Nhật đã mạnh mẽ lên tiếng minh định cái trật tự phong kiến quân – sư – phụ bất di bất dịch có thể bị đả đảo, để sư quan trọng, thiết yếu hơn quân và phụ, bởi vì:

Trong đời muôn việc không thầy
Thế gian thường nói đố mày làm nên.

Và tiếng nói đả đảo đó không phải xuất phát từ những truyền thống tư tưởng ngoại lai, từ lý thuyết Khổng Mạnh. Trái lại, nó nổi lên từ kho tàng trí tuệ tích luỹ những kinh nghiệm và nhận thức của dân tộc và nhân dân.

Trên cơ sở nhận thức “Không thầy đố mày làm nên”, với nội dung tất yếu giới hạn của nó, Toàn Nhật đã phát triển thành một luận đề bẽ gãy cái trật tự quân – sư – phụ, để đẩy lùi cái bóng ma gian ác của trật tự ấy, mà vào thời Toàn Nhật đã trở thành rữa nát và cực kỳ phản động, đang cản trỡ bước tiến của dân tộc, phủ lên cuộc sống của nhân dân một màn đau thương thống khổ.

Hãy tưởng tượng lại cái thời kỳ mà vua chúa còn hoàn toàn nắm trong tay quyền sinh sát đối với mọi người dân, và khi mọi người mặc nhiên nhìn nhận sự kiện ấy như một tất yếu không phải bàn cãi, ta mới thấy hết tính vĩ đại hùng tráng của một tiếng nói Toàn Nhật.

Cũng hãy tưởng tượng lại cái thời kỳ khi ý thức hệ và nền giáo dục chính thống chỉ tập trung nhồi sọ cho người ta cái chủ thuyết tôn quân cực đoan, ta mới thấy hết bản lĩnh dám nghĩ dám làm của dân tộc ta, thể hiện qua những con người như Toàn Nhật. Mà Toàn Nhật có được cái tầm vóc tư tưởng vĩ đại ấy, có được cái bản lĩnh dám nghĩ dám làm ấy, đó là ông đã biết bám vào nhân dân, lấy cuộc sống, kinh nghiệm, nhận thức và tình cảm của dân tộc, của nhân dân là chủ để thể hiện của mình, mà giải quyết những vấn đề do thời đại đặt ra.

Ông đã tập tan cái trật tự phong kiến quân – sư – phụ hàng ngàn năm đè nặng lên ý thức của nhân dân, không bằng những viện dẫn từ sách vở ngoại lai, trái lại bằng chính những tri thức, kinh nghiệm và tình cảm của dân tộc, của nhân dân kết tinh trong những câu ca dao tục ngữ. Dựa vào và khai thác một cách có chọn lọc kho tàng quý giá vô tận ấy, Toàn Nhật đã làm nổi bật thêm cái chân lý sáng ngời là đứng trong hàng ngũ nhân dân, người ta càng trở nên to lớn theo kích thước vĩ đại của nhân dân trong lịch sử, càng trở nên tin tường vào trí tuệ tuyệt vời, vào tình cảm trong sáng và vào sức mạnh vô địch của họ”.

(…) Do thế, tư tưởng dân chủ của Toàn Nhật là một điểm son trong lịch sử tư tưởng Việt Nam. Lần đầu tiên nhân dân ta dám công khai nghĩ tới và tuyên bố rằng vua không phải là vị tối thượng của nước, có quyền uy tuyệt đối với mọi người.[13]

Nếu đã gần hai thế kỷ qua, những người làm công tác nghiên cứu văn học ở nước ta đã “không một lần tên Toàn Nhật được nhắc tới, không bất kỳ một dòng nào dành cho tác phẩm của ông” thì những lời đánh giá trên của giáo sư Lê Mạnh Thát theo tôi, là đã đủ để chuộc lại phần nào lỗi lầm của chúng ta, những thế hệ sau đối với Toàn Nhật vậy.

Nhưng nếu quả đúng là Toàn Nhật viết Hứa sử truyện vãn là để “nhằm đáp ứng những yêu cầu lý luận chính trị phục vụ cho sự nghiệp xưng đế và chống ngoại xâm của Quang Trung? Với lý thuyết chống tôn quân, phải chăng nó đã gián tiếp biện minh cho việc Quang Trung xưng đế và không cần thừa nhận quyền uy của vua Lê” như sự nhận định của tác giả Toàn Nhật Quang Đài thì theo tôi không chỉ những người Phật tử Việt Nam hiện tại mà cả mai sau nữa, phải học lấy bài học mà Toàn Nhật, với tư cách là một thiền sư đã ủng hộ cuộc cách mạng Tây Sơn như thế nào? Nghĩa là Toàn Nhật không hề xưng tụng hay tôn sùng cá nhân của Thái Đức Nguyễn Nhạc hay Quang Trung Nguyễn Huệ mà Toàn Nhật chỉ ủng hộ chính sách đúng đắn có lợi cho dân cho nước mà cuộc cách mạng Tây Sơn đã đề ra mà thôi.

Khi một cá nhân hay một tổ chức chính trị nào đó đề ra được một chính sách phù hợp với lòng dân thì nhất định cá nhân ấy, tổ chức ấy đương nhiên xứng đáng đứng ra đại diện cho đất nước chứ không nhất định là họ đã được sanh ra từ giai cấp nào, họ đang ở trung nguyên hay nơi quê mùa thôn dã.

Trong bối cảnh chính trị và xã hội vào thời của Toàn Nhật ở nửa cuối thế kỷ 18 thì người đó nhất định không phải là Lê Chiêu Thống, mặc dù ông này được xem là “chính thống” theo quan điểm của cái gọi là “quốc sử” của mốt số nhà sử học nước ta cũng như của Trung Quốc, mà người có đủ điều kiện đứng ra đại diện cho đất nước lúc đó đương nhiên là Quang Trung Nguyễn Huệ, dù Nguyễn Huệ không phải “chính thống” cũng như không sanh ra ở Trung nguyên mà lại sanh ra tại một nơi xa xôi hẻo lánh ở tận nơi núi rừng Tây Sơn.

Nhưng con người được sinh ra tại nơi quê mùa ấy lại được một sử gia viết là: “… còn như Nguyễn Huệ là vua Thấi tổ của nhà Nguyễn Tây Sơn, thì trước giúp anh bốn lần vào đánh đất Gia Định đều được toàn thắng, phá hai vạn quân hùm beo của Xiêm La, chỉ còn được mấy trăm người lủi thủi chạy về nước; sau lại ra Bắc Hà, dứt họ Trịnh, tôn vua Lê, đem lại mối cương thường cho rõ ràng. Ấy là có đủ sức mạnh mà lại biết làm việc nghĩa.

Nhưng vì nhà Lê nhu nhược, triều thần lúc bấy giờ không ai có tài kinh luân, lại để cho Trịnh Bồng và Nguyễn Hữu Chỉnh nối nhau mà chuyên quyền cho đến nỗi thành ra tán loạn. Dẫu thế măc lòng, khi Nguyễn Huệ giết Vũ Văn Nhậm rồi, không nỡ dứt nhà Lê, đặt giám quốc để giữ tông miếu tiền triều; như thế thì cách ở với nhà Lê không lấy gì làm bạc.

Sau vua Lê Chiêu Thống và Hoàng Thái Hậu đi sang kêu cứu bên Tàu, vua nhà Thanh nhân dịp ấy mượng tiếng cứu nhà Lê, để lấy nước Nam, bèn sai binh tướng sang giữ thành Thăng Long. Bấy giờ cứ theo mật dụ của vua nhà Thanh, thì nước Nam ta, bề ngoài tuy chưa mất hẳn, nhưng kỳ thật đã vào tay người Tàu rồi.

Vậy nước mất, thì phải lấy nước lại, ông Nguyễn Huệ mới lên ngôi Hoàng đế, truyền hịch đi các nơi, đường đường chính chính đem quân ra đánh một trận phá 20 vạn quân Tàu, tướng nhà Thanh là Tôn Sĩ Nghị phải bỏ cá ấn tín mà chạy, làm cho vua tôi nước Tàu khiếp sợ, tướng nhà Thanh phải thất đảm. Tưởng từ xưa đến nay nước ta chưa có võ công nào lẫm liệt như vậy.

Và đánh đuổi người Tàu đi rồi lấy nước lại mà làm vua thì có điều gì mà trái đạo? Vậy lẽ gì mà gọi là nguỵ triều?”[14]

Nhưng Toàn Nhật biết rằng triều đại nào rồi cũng sẽ qua đi, kể cả những triều đại được ca tụng nhất trong lịch sử của loài người xua nay:

Lợi danh tợ bọt nước xao
Hán Đường Triệu Tống thì nào thấy đâu?
(Xuất gia vãn)

Triều đại Tây Sơn dù được ca ngợi là “Bách chiến bách thắng” là “vô địch” thì cũng chỉ tồn không đầy nữa thế kỷ, nghĩa là không triều đại nào là “muôn năm” hết.

Bởi vậy, là một tư tưởng gia của Phật giáo, nên Toàn Nhật ý thức được rằng con đường đi của Phật giáo là: “Phật giáo Việt Nam không gắn bó tuyệt đối với triều đại nào, dù triều đại đó do Phật giáo dựng lên hay lãnh đạo. Phật giáo chỉ gắn bó và trung thành với quyền lợi dân tộc, quyền lợi của dân chúng mà thôi”.[15]

Chính đó là lý do vì sao Toàn Nhật ủng hộ cho cuộc cách mạng Tây Sơn mà không hề ca tụng bất cứ một cá nhân nào trong phong trào ấy, dù đó là cá nhân của Nguyễn Nhạc hay Nguyễn Huệ.

Dù không trực tiếp nhắc gì đến cuộc cách mạng Pháp 1789, nhưng khi đề cập đến tiểu luận Sa di oai nghi tăng chú giảo ngụy tự tiểu thiên của Toàn Nhật, Lê Mạnh Thát có viết rằng:

“Phải chăng nó đáp ứng lại xu thế chung của lịch sử thế giới thời bây giờ, thể hiện một xu thế đi tìm ánh sáng, đi tìm chân lý, dựa trên khả năng hiểu biết và tìm kiếm của con người, chứ không còn tin tưởng một cách mù quáng vào những gì do truyền thống hay những quyền uy khác truyền lại”.[16]

Từ những nhận định trên của tác giả Toàn Nhật Quang Đài, ta thử làm một chút so sánh thì sẽ thấy có một sự trùng hợp lạ lùng giữa cuộc cách mạng Pháp 1789 và tình hình chính trị cũng như xã hội ở nước ta vào nửa cuối thế kỷ 18.

Nếu các vua Louis 14 và 15 đã giam hãm xã hội Pháp trong 4 vách tường đến vua Louis 16 thì người dân của nước Pháp không thể nào chịu đựng sự giam hãm và kiềm kẹp này được nữa, nên vào ngày 14 tháng 7 năm 1789 đã đồng loạt kéo đến đập phá tan tành nhà ngục Bastille, nhà ngục này trong nhiều thế kỷ đã là nơi giam giữ những người yêu nước dám lên tiếng chống đối chế độ, và là tiêu biểu cho chính sách chuyên chế và hà khắc của chế độ phong kiến Pháp.

Cũng xấp xỉ vào khoảng thời gian đó, Lê Mạnh Thát viết:

“… Nước ta vào thời Toàn Nhật cũng đang đứng trước một tình thế hết sức hiểm nguy. Bên trong thì các thế lực phong kiến phản động đang suy tàn cấu xé tiêu diệt lẫn nhau một cách tàn nhẫn trên thống khổ tuyệt vọng của nhân dân. Bên ngoài thì các thế lực ngoại bang đang lăm le và thực sư lợi dụng tình hình đó của dân tộc để thực hiện những mưu đồ xâm lược nham hiểm của chúng. Chính trong tình thế đó của đất nước, mà hàng ngày đã xảy ra những cảnh:

Non chen ngù giáo đỏ cây
Mác hoa đường tuyết, tên bay mát trời
Thảm thương chật đất phơi thây
Đỏ hoe máu rắc đòi nơi dầm dề.

(…)

Chúng dân lìa bỏ xóm giềng
Chằm non trốn núp của tiền đoái chi
Mắc cơn lửa dữ một kỳ
Đá kia ngọc nọ đều thì cháy leo
(Hứa sử truyện vãn)

Xảy ra nhan nhản khắp nơi. Nếu không có một cuộc khởi nghĩa nông dân vĩ đại dưới sự lãnh đạo thiên tài của Nguyễn Huệ bùng nổ, thì đất nước tưởng chừng như không còn có cơ sống sót. Nhưng làm sao một sự việc như thế có thể quan niệm được, khi mà những người như Toàn Nhật xuất thân từ nhân dân đã nêu cao ngọn cờ chủ nghĩa nhân đạo chiến đấu, đã nêu cao lý tưởng đạo đức lao động, kiên quyết đứng về phía những người bị áp bức, nói lên tâm tình và nguyện vọng giải phóng của họ. Do thế, sẽ không có gì đáng ngạc nhiên khi cuộc khởi nghĩa Tây Sơn sau khi giành chính quyền trong cả nước về tay nông dân, đã cùng một lúc đánh bại được hai thế lực phong kiến phản động trong nước và phong kiến ngoại bang xâm lược, tạo nên một khí thế hào hùng, đưa dân tộc lên một đỉnh cao của thời đại mới”.[17]

Nhưng đằng sau bất cứ một cuộc cách mạng nào cũng đều được dưỡng bồi bởi một sức mạnh tư tưởng trầm lặng nào đó. Nếu đỉnh cao của cuộc cách mạng Pháp là việc nhân dân nổi dậy phá ngục Bastille vào năm 1789 thì trước đó người dân cũng đã thấm nhuần những tư tưởng về tự do, về dân chủ và nhân quyền của các tư tưởng gia như Voltare, Rousseau, Montesquieu…Cùng thế, đỉnh cao của cuộc cách mạng Tây Sơn là cuộc đánh bại đoàn quân xâm lược khổng lồ của phong kiến phương Bắc cũng vào năm 1789 cũng không ra ngoài thông lệ đó, nghĩa là cũng được nuôi dưỡng bởi một sức mạnh tư tưởng trầm lặng từ truyền thống của dân tộc Việt:

“Trong vòng hơn 300 năm trở lại đây, Cư Trần lạc đạo Phú và Đắc thú lâm truyền thành đạo ca đã được in lại nhiều lần. Điều này chứng tỏ tư tưởng Cư Trần lạc đạo vẫn tiếp tục được học tập và truyền bá dù Phật giáo cũng như đất nước đang chuyển mình qua một giai đoạn mới. Giá trị lý luận của Cư Trần lạc đạo từ đó vẫn còn có sức hấp dẫn mạnh mẽ, đặc biệt là vào cuối thế kỷ 18 với những chiến công Ngọc Hồi, Đống Đa oanh liệt của quân và dân Tây Sơn. Trong đó nổi bật những khuôn mặt Phật tử nhận mình là người kế thừa truyền thống Trúc Lâm như binh bộ Thượng thư Tỉnh Phái Hầu Ngô Thời Nhiệm là Hải Lượng Thiền sư, Hương Lĩnh Bá tiến sĩ Nguyễn Đăng Sĩ là Thiền sư Hải Âu…”[18].

Lời dặn dò sau đây của Quang Trung Nguyễn Huệ với Ngô Thời Nhiệm dưới chân núi Tam Điệp càng chứng tỏ sự nhận định trên của giáo sư Lê Mạnh Thát là hoàn toàn có cơ sở:

“Vua Quang Trung cuời mà nói rằng: “Chúng nó sang phen này là mua cái chết đó thôi. Ta ra Bắc chuyến này đích thân coi việc quân đánh giữ, đã định mẹo rồi, đuổi quân Tàu về chẳng qua 10 ngày là xong việc. Nhưng chỉ nghĩ chúng là nước lớn gấp 10 lần nước ta, sau khi chúng thua một trận rồi, tất chúng lấy làm xấu hổ, lại mưu báo thù, như thế thì chỉ đánh nhau mãi không thôi, dân ta hại nhiều, ta sao nỡ làm thế. Vậy đánh xong trận này, ta phải nhờ Ngô Thời Nhiệm dùng lời nói cho khéo để đình chỉ việc chiến tranh, Đợi mười năm nữa, nước ta dưỡng được sức phú cường rồi, thì ta không cần phải sợ chúng nữa”.[19]

Và ta vẫn còn nhớ là ngày 28 tháng 10 năm Mậu Thân (1789) khi đại quân của Thanh triều dưới sự chỉ huy của Tổng đốc lưỡng quản là Tôn Sĩ Nghị vượt ải Nam Quan tiến về Thăng Long thì tất cả tướng lãnh Tây Sơn ở Bắc Hà bây giờ đều chủ trương đem quân chặn đánh với lý do suy diễn của họ là “lấy quân nghỉ ngơi mà đánh quân mệt nhọc” nhưng ý kiến của Ngô Thời Nhiệm thì lại khác “Toàn quân rút lui, không nên mất một mũi tên, cho nó ngủ trọ một đêm rồi mai lại đuổi chúng nó đi” và ý kiến của Ngô Thời Nhiệm đã được Ngô Văn Sở và các tướng lãnh Tây Sơn chấp thuận. Nhờ ý kiến đó mà đại quân của Tây Sơn đã rút lui một cách an toàn về núi Tam Điệp, để tạo điều kiện cho Quang Trung Nguyễn Huệ thần tốc tiến quân ra giải phóng Thăng Long chưa đầy 10 ngày.

Như vậy là ảnh hưởng của Thiền phái Trúc Lâm ở đời Trần qua Hải Lượng Thiền sư Ngô Thời Nhiệm đối với chiến thắng Ngọc Hồi, Đống Đa của triều đình Tây Sơn là hiển nhiên, không cần phải bàn cãi gì thêm nữa.

Nhưng sau chiến thắng oanh liệt này thì lịch sử của dân tộc một lần nữa lại bị dang dở bởi sự ra đi đột ngột của Quang Trung Nguyễn Huệ. Tác giả Toàn Nhật Quang Đài nói lên sự luyến tiếc cho đất nước cũng như cho giới trí thức như Toàn Nhật đã lỡ mất cơ hội để đưa dân tộc tiến lên cùng với thế kỷ của ánh sáng:

“Với phong cách và tinh thần làm việc đó, đúng ra bước sang thế kỷ 19 dân tộc ta phải bước lên vũ đài khoa học thế giới. Thế mà, với sự ngóc đầu dậy của một hệ ý thức phong kiến cực kỳ phản động, phong cách và tinh thần làm việc của Toàn Nhật không có cơ hội phát triển và kế thừa, để cuối cùng đất nước ta đã rơi vào tay bọn xâm lược”.

Một nhà thơ hàng đầu của Việt Nam ở nửa thế kỷ 20 cũng chia xẻ nỗi luyến tiếc này đối với cái chết của Quang Trung Nguyễn Huệ và sự dở dang của lịch sử dân tộc:

Thôi xin người đừng nức nở
Nếu sau này đường dang dở
Những ai về
Ôm mãi mộng người đi.
(Nguyễn Huệ – Mưa nguồn)

Toàn Nhật còn viết một câu chuyện tình tên là Tống Vương truyện. Nội dung kể lại câu chuyện tình giữa chàng thái tử nước Tống đem lòng yêu một người con gái, con của một ngư ông nghèo khổ bên bờ sông Vị Thuỷ. Nhưng trước khi đến được với người con gái chài lưới ở dòng sông Vị Thủy đó, thì chàng Thái tử đa tình này đã phải từ chối biết bao nhiêu là công chúa xinh đẹp ở các nước láng giềng muốn chiếm được trái tim của chàng:

Nước Tần nước Tấn
Nước Sở nước Tề
Toàn những tiên phi
Cùng nàng công chúa
Nước Lương nước Sở
Nước Trịnh nước Tuỳ
Toàn những tiên phi
Cùng nàng quế liễu
Nước Trần nước Triệu
Nước Hán nước Đường

Nhưng mà:

Thái tử chẳng ngó
Mặt ủ dàu dàu
Triều đình xem ai nấy lắc đầu
Ghê mặt thấy đều thì mất vía.

Ở trần gian không có người con gái nào vừa lòng Thái tử, nên cuối cùng vua cha phải cầu cứu Ngọc Hoàng:

Tống Vương rằng rầy con đã kén chê

Cha cũng phải cầu tiên thượng giới.

Nhưng sau khi:

Bước lên lầu rồng
Xem năm tiên nữ
Xem rồi tự sự
Bèn trở vào đền
Tâu vua cha duyên chẳng xứng duyên
Xin cha chớ ép con sự ấy

Nhưng rồi một hôm:

Ngày giao sự ước chơi vị thuỷ
Thì trời xui xảy gặp ngư ông
Chèo thuyền đánh cá giữa dòng
Thái tử lại gần thuyền ngư phủ.

Sau khi gặp người con gái của người chài lưới nghèo khổ thì trái tim Thái tử đã thực sự rung động:

Mới trở về nhà

Tưởng nàng Thụy nữ
Ta muốn cùng thưa vương phụ
Lại sợ có triều đình
Lo lượng một mình
Sợ người quở phạt.

Khi nghe tin Thái tử đem lòng yêu thương người con gái của người chài lưới nghèo khổ, nhà vua tức giận mà than thở:

Nhà sinh con vô phúc
Nên rối sửa số căn
Con chư hầu các nước thì chê
Mà khiến lấy con nhà thuyền rớ.

Nhưng lòng chàng Thái tử đã quyết cùng với sự thương con của hoàng hậu, nên cuối cùng nhà vua cũng phải miễn cưỡng đồng ý.

Rồi sau khi Thái tử và Thụy nữ, người con gái của người chài lưới đẹp duyên cùng nhau thi vua cha thoái vị và nhường ngôi cho Thái từ:

Sửa sang chính sự
Ta nay Thái tử
Nối nghiệp trị ngôi
Nội ngoại tề gia
Cùng là ngư phụ
Quốc lão nội triều
Cha đà tác cao
Trước xe sau gía
Hồi đầu Phật Tổ
Thế phát tu hành.

Từ đó:

Con nối ngôi truyền đã tạo thanh
Muôn đời để lưu danh thiên hạ.

Vậy là để đến được với nàng con gái mình yêu Thái tử đã phải đấu tranh quyết liệt mới có thể vượt qua những công ước giả tạo của xã hội như giàu nghèo, tiện dân hay quý tộc v.v… Nhưng tác giá Toàn Nhật Quang Đài với cái nhìn của một sử gia đã nhận xét vì sao Toàn Nhật đã viết Tống vương truyện:

“Vì vậy, viết Tống vương truyện ca ngợi mối tình đẹp đẽ giữa chàng Thái tử quyền quý với một nàng con gái con nhà chài lưới, thực sự là ngợi ca những nét đẹp của cuộc khởi nghĩa Tây Sơn, giải phóng những người bị áp bức, tạo cơ hội cho họ lập nên những chiến công hiển hách, những thành quả văn hoá xã hội rực rỡ. Từ chỗ áp bức mà đứng lên, họ đã dành cho bản thân một địa vị xứng đáng trong lịch sử dân tộc. Cũng như loài người. Tả lại: một chàng Thái tử đi tìm một cô gái chài lưới, chính là khắc họa việc kết hợp giữa lực lượng nông dân với xu thế của thời đại để làm nên cuộc khởi nghĩa Tây Sơn vĩ đại”.[20]

Nhưng nếu một người cầm bút mà chỉ biết có ca ngợi các thủ lãnh nhà nước đương quyền, dù là nhà nước đó có được lòng dân đi nữa, thì sự ca ngợi đó cũng chẳng có ý nghĩa gì hết, nếu người cầm bút không vạch ra được một lý thuyết, một hướng đi có lợi cho dân cho nước. Toàn Nhật với tư cách là một nhà văn nhà thơ nhà tư tưởng của cuộc cách mạng Tây Sơn và đồng thời cũng là một Thiền sư của Phật giáo Việt Nam, Toàn Nhật biết mình phải làm gì để hỗ trợ cho nhà nước Tây Sơn.

“Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, ngoài Lý Trần thì chỉ ở thời Tây Sơn những người Phật giáo mới một lần nữa đề cao quan niệm sống thoát ly để nhập cuộc một cách mạnh mẽ và hào hùng. Điều đó cũng không có gì lạ bởi thời đại Tây Sơn đã có những con người điển hình như Ngô Thời Nhiệm và Toàn Nhật”.[21]

Quan điểm sống thoát ly để rồi nhập cuộc một cách mạnh mẽ và hào hùng đó, nếu ở đời Lýa chỉ mới khởi đầu, phải đợi đến thời Trần thì quan điểm sống đó mới được áp dụng một cách triệt để:

“Cách sống đó bắt buộc người ta phải vào đời nhưng phải vượt lên cõi đời, vào đạo nhưng phải xuyên qua đời. Những nhân vật chính trong các tác phẩm của Toàn Nhật như Hứa sử truyện vãn, Tống vương truyện đều thể hiện quan niệm sống đó của ông. Họ làm vua rồi họ đi tu, họ đi tu rồi họ đứng ra làm tướng. Phải chăng Toàn Nhật muốn tìm về nếp sống của các vua nhà Trần Việt Nam”.[22]

Bây giờ người ta xem thử Toàn Nhật của thời Tây Sơn đã “muốn tìm về nếp sống của các vua đời Trần” như thế nào trong các tác phầm của ông trước hết là Kinh Kim Cang.

Trong lời tựa cho Thiền Tông chỉ Nam, Trần Thái Tông, vị vua khai sáng ra triều đại nhà Trần có viết rằng: “Đến các kinh điển của đại giáo thì không kinh nào là không nghiên cứu. Trẫm thường đọc Kinh Kim Cang đến câu “ủng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” vừa gấp sách lại ngâm nga bỗng nhiên giác ngộ…” thì lập tức sau đó Kinh Kim Cang đã trở thành quyển kinh căn bản nhất của Phật giáo đời Trần. Điều đó ta có thể dễ dàng nhận thấy khi đọc Cư Trần Lạc đạo phú của vua Trần Nhân Tông hay bàiphú vịnh chùa Hoa Yên của Thiền sư Huyền Quang.

Toàn Nhật ở thời Tây Sơn cũng thế, không những đã viết riêng một tác phẩm có tên là Bát nhã ngộ đạo văn, trong đó có những câu vô cùng hoành tráng, hoành tráng chẳng khác gì tiếng sấm chẻ:

Cõi Nam đà mở rộng cửa lầu
Đèn trí tuệ hào quang chói chói
Thuyền Bát nhã nghênh ngang bốn cõi
Nước ma ha rữa sạch ba lòng.

Hoặc là:

Cửa Bát nhã vào ra thong thả
Trống đại hùng đà thu ý mã
Chuông Linh sơn hãy tỏa tâm viên
Ngọc mâu ni há dễ khinh tuyền
Kinh Bạch tự dám đâm vọng tiết.

Những câu sau đây trong Tham Thiền vãn của Toàn Nhật:

Bạn thuyền Bát nhã hôm mai
Xem hoa lập cảnh dồi mài Kim Cang.

Hay:

Một nồi hương huệ đất xông
Ba biến kinh lòng thường niệm hôm mai.
Khiến ta nhớ đến những câu:
Khuya sớm sáng chong đèn Bát nhã
Hôm mai rửa sạch nước ma ha.

của Huyền Quang Thiền sư ở đời Trần ở thế kỷ 13.

Và cũng như vua Trần Thái Tông nhờ đọc Kinh Kim Cang mà giác ngộ thì Toàn Nhật chắc cũng như vậy, nghĩa là cũng nhờ thấy lẽ sắc không của Bát nhã mà ngộ đạo, như Toàn Nhật đã ghi lại trong một bài thơ bằng chữ Hán:

Trần duyên đoạn hậu tự tiêu dung
Thanh tịnh phương tư sắc thị không
Phật tức tâm hề tâm tức Phật
Thanh Son chỉ tại bạch vân trung
(Trung niên xuất gia)

Lê Mạnh Thát dịch:

Duyên đời đã dứt tự thong dong
Thanh tịnh phương tri sắc thị không
Phật tức lòng chừ lòng tức Phật
Ngay trong mây trắng núi xanh rờn.

Và mặc dù chỉ là viết lại hành trang của Lục Tổ Huệ Năng, nhưng chúng ta phải hiểu rằng Toàn Nhật cũng xem Kinh Kim Cang là quyển kinh căn bản nhất để đưa con người đến chân trời giác ngộ như vua Trần Thái Tông của đời Trần:

Bây giờ cảm động thiết tình
Nghe câu sở tục tâm truyền Kim Cang
Trực liền ngộ đặng linh quang
Diệu xưa Phật Tổ thấy toàn chân như.

Quan điểm ấy càng rõ ràng hơn nữa khi trong Bát Nhã Ngộ Đạo văn Toàn Nhật lặp lại:

Giảng cho thông tứ cú Kim Cang
Thì mới thấy bổn lai diện mục.

Dưới ảnh hưởng của những nhà trí thức lỗi lạc của thời đại như Ngô Thời Nhiệm và Toàn Nhật thì rõ ràng Kinh Kim Cang cũng trở thành quyển kinh được triều đình Tây Sơn xem như quyển kinh quan trọng nhằm vạch ra một hướng đi tinh thần cho dân tộc Việt, điều đó được thể hiện qua việc Ngọc Hân công chúa tức Bắc cung Hoàng hậu của triều đình Tây Sơn chủ trì việc thêu Kinh Kim Cang Bát Nhã lên gấm. Hiện chùa Trúc Lâm ở Huế vẫn còn giữ gìn tấm thêu bằng gấm này.

Bởi vậy, xin được lập lại câu hỏi rất có ý nghĩa của tác giả Toàn Nhật Quang Đài “Thái độ tôn giáo của triều đình Quang Trung như thế nào, thì Ngọc Hân công chúa mới thêu Kinh Kim Cang Bát Nhã lên gấm chứ!”

Hỏi tức là đã trả lời vậy.

Nhưng ảnh hưởng mãnh liệt nhất tinh thần Phật giáo đời Trần đối với Toàn Nhật vẫn là trong Hứa sử truyện vãn. Tôi có cảm tưởng là khi viết tác phẩm này mục đích của Toàn Nhật không gì khác hơn là nhằm giải thích hai tác phẩm quan trọng nhất của đời Trần là bài tựa Thiền Tông chỉ Nam của vua Trần Thái Tông và Cư Trần Lạc Đạo phú của vua Trần Nhân Tông.

Trong Thiền Tông chỉ nam, vua Trần Thái Tông đã nói lên nỗi ray rứt cũng như đau khổ và dằn vặt của mình đối với công danh sự nghiệp: “Lại nghĩ sự nghiệp đế vương thời trước, hưng phế bất thường, cho nên tìm đến núi này chỉ muốn cầu làm Phật, chứ không cầu gì khác”.

Nhưng Quốc sư Trúc Lâm đã khuyên vua Trần Thái Tông rằng:

“Trong núi vốn không có Phật, Phật ở ngay trong lòng. Lặng lẽ mà hiểu, đó chính là chân Phật. Nay nếu bệ hạ giác ngộ tâm đó thì lập tức thành Phật, không nhọc tìm bên ngoài”

Nhưng sau câu nói ấy, Quốc sư Trúc Lâm thấy nhà vua vẫn phân vân lưỡng lự chưa chịu xuống núi, nên Quốc sư mới nói tiếp:

“Phàm đã là bậc nhân quân thì phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tấm lòng của thiên hạ làm tấm lòng của mình. Nay thiên hạ muốn đón bệ hạ về thì bệ hạ không về sao được! Duy chỉ có việc nghiên cứu nội điển thì xin bệ hạ đừng chút xao lòng mà thôi”.

Chính vì đời Trần đã “lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tấm lòng của thiên hạ làm tấm lòng của mình” một cách triệt để, nên không có gì lạ trong hơn một thế kỷ tồn tại, vương triều Trần không chỉ một lần mà cả đến ba lần đánh bại đội quân xâm lược hung hãn mà thời bấy giờ chỉ mới nghe nhắc đến Tartar (Thát Đát) thôi thì đã lên cơn sốt rồi. Nhưng không chỉ mạnh về mặt quân sự, mà trên mặt văn học tư tưởng cũng thế, nghĩa là cũng “lấy tấm lòng của thiên hạ làm tấm lòng của mình” nên nền văn học đời Trần đã phát triển rực rỡ. Dù bị kẻ ngoại xâm cũng như thiên tai địch họa phá hủy rất nhiều, nhưng những gì còn lại của nền văn học ấy vẫn tiếp tục nuôi dưỡng lòng tự hào dân tộc cho đến ngày hôm nay. Bởi thế ta chẳng lấy gì làm lạ, vào những năm cuối cùng của thế kỷ 20, một phần của nhân loại đã nhận ra rằng, những ý thức hệ ngoại lai mà bấy lâu nay họ tôn thờ thực sự chẳng giúp ích gì cho sự phát triển của quốc gia họ cả, mà còn gây ra không biết bao là thống khổ và hận thù cho dân tộc họ nữa.

Bởi vậy, hơn bao giờ hết, cái hình bóng cô đơn heo hút của “một lão Tăng sống trên núi hoang, xương gầy mặt võ, ăn rau đắng, nếm hạt dẻ, chơi cảnh rừng, uống nước suối, lòng như mây nổi” trên núi Yên tử cách đây bảy thế kỷ căn dặn nhà lãnh đạo của dân tộc Việt “phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tấm lòng của thiên hạ làm tấm lòng của mình” đã trở thành một bức thông điệp khẩn thiết hơn bao giờ hết đối với dân tộc Việt Nam trong lúc này.

Trong Hứa sử truyện vãn của thiền sư Toàn Nhật của thời Tây Sơn, Đồng Vân, một vị quan bách chiến bách thắng đang trấn giữ miền biên giới của nước Trung Quốc Việt Vương cùng ám ảnh nỗi sầu muôn thuở ấy của kiếp người như Trần Thái Tông của đời Trần:

Đời tham cả lộc cao ngôi
Ví như lá vược hớp mồi mắc câu
Tuổi xanh khiến sớm bạc đầu
Phút đau lại chết khổ sầu mà thôi.

Và Đồng Vân cũng đã vứt bỏ cả lộc cao ngôi bỏ vợ con lên chùa xuất gia với thiền sư Mật Hạnh.

Khi nghe tin Đồng Vân đã xuất gia, thì Triệu Tân bên nước láng giềng liền ráo riết chuẩn bị xâm lăng:

Lệnh truyền tướng tá các nha
Chỉnh tu binh mã can qua sẵn sàng
Triệu Tân mới cất binh sang
Ngựa ăn chật nội quân hàn dãy non.

Chỉ mới có giao tranh trận đầu quân của nước Trung Quốc Việt vương đã thảm bại vì:

Triệu Tân tài mạnh tột đời
Tướng việt sa thế, rã rời chạy đi
Triệu Tân sách mà huy kỳ
Trống sáu reo đuổi ầm ỷ vang rân
Quân việt rã chạy rần rần
Triệu Tân chém tướng tưng bừng Đông Tây.

Không còn cách nào hơn, vua Việt vương đành phải cùng các quan xa giá đến chùa để xin Đỗng Vân cứu nguy xã tắc.

Cũng như Trần Thái Độ đã cùng với các quan trong triều lên tận núi Yên Tử để xin vua Trần Thái Tông hãy vì xã tắc mà xuống núi.

Trong Thiền Tông chữ Nam, Trần Thái Độ đã thưa với Trần Thái Tông:

“Vả Thái Tổ bỏ thần mà đi, nắm đất trên mồ chưa khô, lời trăn trối bên tai còn đó. Thế mà bệ hạ lại lánh gót ẩn cư nơi núi rừng, để theo đuổi cái chí riêng của mình. Như thần nghĩ, bệ hạ tính kế tự tu đã vậy, nhưng còn quốc gia xã tắc thì sao?”

Trong Hứa sử truyện vãn, vua Việt Vương cũng đã nói với quan Đỗng Vân những lời tương tự:

Vả ông dũng lược ân oai
Triệu Tân ni đã sợ tài xưa nay
Xin ông phương tiện ra tay
Chống đàn xã tắc khỏi ngày khuynh nguy
Đạo là cứu độ từ bi
Nước nghèo dân chết bỏ đi nỡ nào
Kìa lời tục ngữ thường rao
Liền giết một mèo, cứu chuột muôn con
Xin ông đoái tưởng cựu ân
Ra tay giúp nước cứu dân phen này.

Sau đó thiên sư Mật Hạnh, thầy của Đỗng Vân đã phải giải thích mọi thắc mắc trong lòng của Đỗng Vân, vì Đỗng Vân đang phân vân lưỡng lự là có nên tránh xa xã hội loạn lạc đau khổ để đi tìm hạnh phúc riêng cho mình không?

Mật Hạnh lời mới tỏ phân
Chúng ta vì tưởng bốn ân tu hành
Gặp cơn ác Đảng tung hoành
Dễ ta đâu khá nỡ đành ngồi coi
Huống thêm nghĩa cũ vua tôi
Mình vàng hiểm trở xa xôi tìm vời
Phải chi vũ lực tột đời
Cũng ra giúp người thầy chẳng tiếc công
Vả chăng quyền xảo thích trung
Bồ Tát đa hạnh thiệt trong đạo này
Làm sao mà đặng lợi người
Giúp nước cứu đời cũng một việc tu.

Như vậy là thiền sư Mật Hạnh đã bảo cho Đỗng Vân, đệ tử của mình biết rằng “giúp dân cứu nước” mới mới là việc quan trọng nhất của người xuất gia.

Một sự thắc mắc nữa cũng không kém phần quan trọng là giới sát. Nếu một người đã xuất gia mà tham dự chiến tranh thì có phạm giới sát không?

Hãy còn ngại việc sát sanh
Thôi lại quỳ gối thưa trình bổn sư
Thầy phân tôi đã hiệp cơ
Nhưng mà còn ngại, hãy chưa yên tĩnh
Vả như một sự sát sinh
Đầu trong các giới, chẳng khinh thiệt thà
Dầu kẽ tại gia xuất gia
Chẳng dám trái phạm ấy là phép chung
Nhẫn loài nhỏ nhít côn trùng
Cũng chẳng nên giết huống đồng loại ta
Nay tôi chấn động can qua
Sao cho khỏi hại người ta bây giờ

Thiền sư Mật Hạnh đáp rằng:

Giả như cố ‎ý bất nhân
Buông lòng sát hại tội dường hằng sa
Vốn nay vì sự nước nhà
Cứu dân giúp nước, sao mà chẳng nên
Luật rằng phương tiện xảo quyền
Tùy cơ lội vật, pháp trần xưa nay
Đỗ Trường Ấn phong hai thầy
Ở trong quân trận ngày ngày ngăn binh
Qui Tôn giết rắn làm lành
Việc xưa tỏ chép đành rằng đến nay.

Sau khi dẫn chứng truyện xưa, thiền sư Mật Hạnh nói cho Đỗng Vân biết chuyện của ngày hôm nay, nghĩa là ngày hôm nay muôn dân cũng đang rên siết dưới sự bạo tàn của kẻ xâm lược:

Vả như luận sự giặc này
Triệu Tân một đứa, tai đầy muôn dân
Buông lòng tham ngược bất nhân
Vạn thặng căm hờn, thiên hạ nghiến răng
Lòng trời ắt cũng chẳng ưng
Để vầy quen nó lung lăng quấy thì
Kinh rằng đại lực đại bi
Hay ông tới đó mặc khi máy dùng
Trước ra văn đức vỗ lòng
Bằng nó cứng cổ sẽ dùng gia binh
Ông hãy cứ việc thi hành
Diêm vương bắt tội thầy đành chịu thay.

Vậy là kể từ khi lý tưởng Bồ tát được Lục Độ Tập kinh công bố: “Bồ Tát thấy dân kêu ca, do vậy gạt lệ, xông vào chính trị hà khắc để cứu dân khỏi nạn lầm than” thì tuyên ngôn ấy đến nửa cuối thế kỷ 18 lại được những con người đang nuôi dưỡng lý tưởng Bồ tát khẳng định mạnh mẽ hơn nữa:

Trước ra văn đức vỗ lòng
Bằng nó cứng cổ sẽ dùng gia binh
Ông hãy cứ việc thi hành
Diêm vương bắt tội thầy đành chịu thay.

Lý do có lẽ cũng không có gì khó hiểu cho lắm. Nếu như những thế kỷ trước đó, dân tộc ta chỉ có một kẻ thù ở Phương Bắc, thì đến nữa cuối thế kỷ 18, phong trào Tây Sơn không những chỉ đối đầu với ba tập đoàn phong kiến bên trong (Trịnh Lê Nguyễn) mà còn phải đối đầu với Phương Bắc và Xiêm La ở Phương Nam và đặc biệt một kẻ thù mới còn nguy hiểm hơn, đó là việc các tàu chiến của các nước Tây phương đang cấu kết với tay sai trong nước ngày đêm lãng vãng ngoài bờ biển của phía Nam tổ quốc với mục đích là đưa tôn giáo mới vào nhằm thay thế những tôn giáo đã được dân tộc tiếp thu từ những ngày đầu mới lập quốc. Trong Bát Nhã Ngộ đạo văn Toàn Nhật đã đau lòng thốt lên:

Sao chẳng nhớ câu chân giả
Mà học thói Tây Phương!

Và cũng như Trần Thái Tông nghe lời khuyên của Quốc sư Trúc Lâm mà xuống núi, thì Đổng vân trong Hứa sử truyện vãncủa Toàn Nhật ở thời Tây Sơn cũng phải rời chùa Huệ Lâm, để ra tay cứu vớt muôn dân đang sống trong cảnh lầm than. Toàn Nhật tả lại cảnh Đỗng vân xuống núi xuất quân như sau:

Một mai trận thượng cất ra
Giặc ấy chẳng đánh nó mà cũng tan
Ví dầu nó có chống ngang
Nghe ta đóng lịnh, giao thương hãy dùng
Dụ thôi mới bát tiên phương
Tả chi, Hữu dực, Trung quân ân cần
Hậu tiếp đốc binh Đỗng vân
Bát rồi rắt rắt rần rần kéo qua
Chư quân đều niệm Di Đà
Trước sau nổi tiếng nghe hòa vang rân
Khắp trong quận huyện quan dân
Dựng cờ ứng nghĩa rần rần kéo ra
Con thề đánh trả thù cha
Em nguyện liều thác, báo hòa thù anh.

Vậy là dù ý muốn của Trần Thái Tông là ở lại với núi Yên tử để tìm sự giải thoát riêng cho mình, nhưng cuối cùng theo lời dạy của Quốc sư Trúc Lâm “Phàm đã là bậc nhân quân tất phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình”, mà ý muốn của thiên hạ là phải xuống núi, nên Trần Thái Tông phải xuống núi trở lại và Đỗng vân trong Hứa sử truyện vãn của Toàn Nhật cũng thế, nghĩa là cũng muốn ở lại Chùa để tìm sự an lạc riêng cho mình, nhưng theo lời khuyên của Thiền sư Mật Hạnh cũng phải rời Chùa để cứu muôn dân ra khỏi chốn nô lệ lầm than.

Trong Tống vương truyện, sau khi Thái tử nước Tống lấy con gái của một người chài lưới nghèo khổ, thì nhà vua nhượng ngôi cho con để “hồi đầu Phật tử, thế phát tu hành”, còn trong Hứa sử truyện vãn, vị quan Đỗng vân sau khi dẹp xong quân ngoại xâm thì vua nước này là Việt vương cũng đã “tuổi cao tỉnh ngộ, hỏi dò Phật gia” để rồi cuối cùng:

Cởi quăng ngọc toã kim già
Cao xương huệ kiếm, diệt tà vô minh.
(…)
Đều hay lánh chốn trần lao
Vượt ra ma võng, thẳng vào Phật môn.

Dường như vì hình bóng của các vua Trần ở thế kỷ 13 nhất là Trần Thái Tông và Trần Nhân Tông, những ông vua có thể nói là minh triết nhất trong lịch sử dân tộc ta, sau khi đánh bại ngoại xâm, đất nước thái bình thịnh trị thì cũng đều nhường ngôi lại cho con mà xuất gia học đạo. Phải chăng những ông vua đó vẫn luôn luôn là hình bóng “lý tưởng” mà Toàn Nhật muốn triều đại Tây Sơn cũng phải có những ông vua như đời Trần oanh liệt?

Không biết khởi đầu từ bao giờ nhưng có phần chắc là kể từ khi Thái tử Tất Đạt Đa từ bỏ ngôi vua vào rừng sâu để tìm đạo, kể từ khi Lão Tử cỡi trâu đi biệt tăm sau khi đã giao bản thảo đạo đức kinh cho Doãn Hỷ thì có lẽ vấn đề mới được đặt ra là: Nếu muốn thành tựu con đường sống đạo thì nên vào rừng ở ẩn hay là cứ ở lại chốn phồn hoa đô hội mà vẫn làm chủ được tâm mình không hề bị đời sống phồn hoa cám dỗ. Đó chính là vấn đề được hai tác giả lớn của đời Trần đề cập. Từ câu nói lừng danh của vị quốc sư Trúc Lâm trên núi Yên Tử ở thế kỷ 13: “trong núi vốn không có Phật, Phật ở ngay trong lòng” đến hai câu mở đầu bài phú Cư Trần lạc đạo của Trần Nhân Tông:

Mình ngồi thành thị
Nết dụng Sơn Lâm.

Trong Hứa Sử truyện vãn của thiền sư Toàn Nhật, Hứa Sử cùng đặt vấn đề ấy với Việt Vương:

Thị thành lại với lâm tuyền
Tu hành công đức hai đường đâu hơn?

Việt Vương trả lời:

Nay thầy lời đã hỏi ta
Lấy trong sự lý phân ra cho tường
Lâm truyền thanh cảnh náu nương
Đặng phần tịch mịch, khỏi đường huyên hoa
Song thời cũng ở lòng ta
Lòng ta thanh tĩnh, cảnh hoà cùng thanh
Dẫu mà ở chốn non xanh
Lòng còn loạn động thị thành khác chi
Thị thành xao xuyến nhiều bề
Lòng ta thanh tĩnh khác gì Sơn Lâm
Tu hành yếu vốn tại tâm
Nếu nệ nơi cảnh, mắc lầm hoà hai.

Ta phải hiểu thế nào về quan điểm trên của Toàn Nhật, có phải Toàn Nhật muốn nói như thế này chăng:

“Điều quan trọng không phải là sống ở thị thành hay núi rừng. Vấn đề là làm sao giác ngộ được sự thật. Đấy mấu chốt của vấn đề. Ta đã thấy sự giác ngộ có thể tìm thấy ở bất cứ nơi đâu, đặc biệt là chính giữa cuộc đời trần tục đầy những hệ lụy thế sự. Chính trong cuộc sống trần tục ấy mà giác ngộ được thì giá trị còn nâng lên gấp bội”.[23]

Còn một vấn đề quan trọng nữa mà tôi nghĩ rằng có lẽ Toàn Nhật cũng muốn triều đại Tây Sơn phải tiếp tục con đường mà đời Trần đã vạch ra, đó là vấn đề sử dụng chữ Quốc âm. Khi đọc những bài thơ chữ Hán của Toàn Nhật, tác giả Toàn Nhật Quang Đài nhận xét rằng:

“… qua những bai thơ chữ Hán, chứng tỏ khả năng sử dụng chữ Hán văn rất điêu luyện và thành thục của Toàn Nhật. Điều hãy còn cho ta thấy là việc phần lớn tác phẩm Toàn Nhật viết bằng tiếng quốc âm không có nghĩa là ông không thể sử dụng chữ Hán. Ngược lại, dù là một người rất giỏi chữ Hán nhưng ông đã tìm về với tiếng nói của dân tộc để chuyển tải những gì mình muốn nói với nhân dân. Ý muốn xây dựng một nền văn học quốc âm, không chỉ dân tộc mà còn cho Phật giáo, đã đặt Toàn Nhật không những vào những nhà thơ lớn của dân tộc mà còn của Phật giáo. Thứ đến, với những bài thơ đó nền văn học quốc âm của dân tộc ta vào cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19 chứng tỏ sự đa dạng và phong phú với những tình tự và nhận thức của những con người khác nhau”.[24]

Tiếng quốc âm của dân tộc ta chắc chắn đã có từ rất lâu, có thể từ các triều đại vua Hùng trước Tây lịch, nhưng “chỉ đến thời vua Trần Nhân Tông, với hai tác phẩm của mình là Cư Trần lạc đạo phú và đắc thú lâm truyền thành đạo ca cùng Vịnh Vân Yên tự phú của thiền sư Huyền Quang (1234-1334) và giáo tử phú của Mạc Đĩnh Chi (1284-1361), thì nền văn học tiếng việt mới có những tác phẩm đầu tiên hoàn chỉnh của mình còn được bảo tồn đến ngày nay. Vị trí văn học của vua Trần Nhân Tôngdo thế đối với dân tộc ta rất là vĩ đại”.[25]

Cố học giả Trần Trọng Kim trong phần viết về việc học hành và thi cử đời Tây Sơn có nói rằng: “việc cai trị thường hay dùng chữ Nôm. Nhà vua muốn nói rằng người Việt Nam thì phải dùng tiếng Việt Nam, để gây thành cái tinh thần của nước nhà, và cái văn chương đặc biệt, không phải đi mượn tiếng mượn chữ của nước Tàu. Vậy nên khi thi cử thường bắt quan ra bài chữ Nôm và bắt sĩ tử làm bài bằng chữ Nôm. Thời bây giờ nhiều người không hiểu rõ cái ý nghĩa sâu xa ấy, cho là nhà Tây Sơn dùng hà chính mà ức hiếp nhân dân”.[26]

Bằng chứng hùng hồn về lòng tự hào đối với tiếng nói của dân tộc mình, đó là việc vua Quang Trung đã dõng dạc đọc bản tuyên ngôn độc lập bằng tiếng Nôm trước ba quân trước khi xuất quân đi đánh đuổi quân Tàu:

Đánh cho để dài tóc
Đánh cho để răng đen
Đánh cho nó chích luôn bất phản
Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn
Đánh cho nó sử tư Nam Quốc anh hùng chi hữu chủ.

Nếu quả đúng Toàn Nhật là tướng của Tây Sơn hay quan trọng hơn nữa là mưu thần của vua như hai tác giả Nguyễn Đình Chúc và Huệ Nguyễn đã xác nhận trong tác phẩm biên khảo Lịch sử Phật giáo và các chùa ở Phúc Yên thì chắc hẳn việc sử dụng tiếng Nôm như tiếng chính thức trong hành chánh công như trong thi cử của triều đình Tây Sơn Quang Trung thì tất nhiên phải có sự đóng góp công sức lớn lao của Toàn Nhật, vị thiền sư đã hết lòng yêu thương tiếng nói của dân tộc mình, và mặc dù rất giỏi chữ Hán nhưng đã để lại gần hai mươi tác phẩm bằng chữ Nôm.

Và không còn hồ nghi gì nữa, một người biết trân trọng tiếng Nôm mà còn là một Thiền sư của Phật giáo Việt Nam thì qua hai tác phẩm Cư Trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm truyền thành đạo ca, Toàn Nhật đã ý thức một cách triệt để rằng “Tiếng Việt như một ngôn ngữ có thể phát biểu những tư tưởng trừu tượng tương đối khó nắm bắt một cách khéo léo và dễ hiểu. Từ đó Tiếng Việt đã từ thành một ngôn ngữ đủ khả năng chuyển tải bất cứ nội dung tư tưởng khác nhau nào và có vẻ đẹp riêng của nó”.[27]

Lời kết:

Chúng ta, những người Phật tử Việt Nam nên nhìn sự hưng thịnh cũng như suy vong như thế nào của lịch sử Phật giáo Việt Nam qua các thời đại? Và có phải chỉ có các triều đại Đinh Lê và nhất là Lý Trần thì mới đựơc xem là thời kỳ hưng thịnh nhất của Phật giáo Việt Nam chăng ?

“Chẳng hạn, các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần thay đổi khác nhau, hết triều đại này tới triều đại kia, nhưng Phật giáo vẫn vươn lên phát triển và có những đóng góp to lớn cho dân tộc. Điều này chứng tỏ bên ngoài sự thay đổi của các triều đại, dân tộc vẫn phát triển theo tính quy luật của nó, bất chấp ý chí chủ quan của một triều đại. Có vẻ như dân tộc có một sức sống của riêng nó, và Phật giáo biết bám vào sức sống này của dân tộc để cùng dân tộc đi lên. Các triều đại thay đổi và chúng đã không đáp ứng được yêu cầu của sức sống dân tộc, nên đã bị loại bỏ”.[28]

Giả như không có trường hợp của Toàn Nhật thì quan điểm trên về lịch sử Phật giáo Việt Nam của giáo sư Lê Mạnh Thát khó có thể chấp nhận đối với nhiều người, vì ai cũng có thói quen nghĩ rằng, chỉ có Đinh, Lê và đặc biệt là Lý, Trần mới là thời cực thịnh của Phật giáo Việt Nam, còn sau đó thì Phật giáo suy tàn và Nho giáo đã thay thế chỗ đứng của Phật giáo. Nhưng vì có trường hợp của thiền sư Toàn Nhật nên theo tôi quan điểm lịch sử ấy hoàn toàn chính xác, nghĩa là Toàn Nhật đã tham gia cuộc Cách mạng của Tây Sơn, vì theo quan điểm của Toàn Nhật cuộc Cách mạng ấy phù hợp với lòng dân nhưng khi cuộc Cách mạng Tây Sơn tan rã, triều đại khác lên thay, Toàn Nhật nhận thấy triều đại ấy không đáp ứng được yêu cầu của sức sống dân tộc thì vị thiền sư của chúng ta chỉ còn “biết bán vào sức sống của dân tộc”.

Kết quả là, ngày nay chúng ta có được gần 20 tác phẩm bằng tiếng quốc âm, mà theo giáo sư Lê Mạnh Thát thì: “Kho tàng văn học cổ điển Việt Nam chưa bao giờ có một nhà thơ nhà văn để lại một lượng lớn tác phẩm bằng tiếng quốc âm như Toàn Nhật. Chỉ với số lượng đó thôi, nó đã biển thị không những sức sống dạt dào của dân tộc đang lên thể hiện qua tiếng nói nhân dân”.[29]

Nhưng theo tôi, điều quan trọng nhất trong quan điểm đó là, chúng ta những người Phật giáo Việt nam hiện tại cũng như mai sau nên “bám vào sức sống của dân tộc để đi lên” thay vì chỉ biết bám vào các triều đại hay các Nhà nước, vì “các triều đại sẽ phải thay đổi khi không còn đáp ứng được yêu cầu của sức sống dân tộc”.

Vậy là, chỉ có “bám vào sức sống của dân tộc” thì Phật giáo Việt nam mới có thể tồn tại mãi trong lòng của dân tộc mà thôi.

Có phải đó là bài học lịch sử lớn lao mà thiền sư Toàn Nhật ở nửa cuối thế kỷ 18 đã để lại cho chúng ta, những người Phật giáo Việt Nam hôm nay chăng?

———-

Chú thích:

[1] Toàn Nhật Quang Đài toàn tập I, NXB TP.HCM.2005 trang 27-28.

[2] NXB Thuận Hóa 1999 trang 90.

[3] Toàn Nhật Quang Đài tập I, NXB TP HCM 2005, trang 30.

[4] Sdd tập I trang 28.

[5] NXB Trẻ TP. HCM 1999.

[6] Sdd tập I trang 28.

[7] Sdd tập I trang 29.

[8] nt.

[9] Việt Nam sử lược NXB tổng hợp TP.HCM tái bản 2005 trang 373.

[10] Ngô Thời Nhiệm trong văn học Tây Sơn của Mai Quốc Liên NXB VHTT Nghĩa Bình 1985 trang 110.

[11] Sdd tập I trang 41.

[12] Trần Trọng Kim, Sdd trang 359.

[13] Sdd tập I trang 67-70.

[14] Trần Trọng Kim, Sdd trang 360-361.

[15] Trần Nhân Tông toàn tập của Lê Mạnh Thát, NXB TP.HCM năm 2000.

[16] Sdd tập II, trang 290.

[17] Sdd tập I, trang 78-79.

[18] Trần Trọng Kim, Sdd trang 364.

[19] Sdd tập II, trang 291.

[20] Sdd tâp II, trang 93.

[21] Sdd tâp II, trang 179.

[22] Sdd tâp II, trang 148.

[23] Trần Nhân Tông toàn tập, sdd trang 251.

[24] Sdd tập II, trang 265.

[25] Trần Nhân Tông toàn tập Sdd trang 269-270.

[26] Trần Trọng Kim Sdd trang 375.

[27] Trần Nhân Tông toàn tập, Sdd trang 274.

[28] Lịch sử Phật giáo Việt Nam tập II của Lê Mạnh Thát – NXB TP Hồ Chí Minh 2001, lời tựa.

[29] Sdd tập I, trang 11-12.
__________________

 

Thích Thước An

Nguồn: thuvienhoasen.org

TRẦN NHÂN TÔNG VỊ HOÀNG ĐẾ, THIỀN SƯ, THI SĨ

Nghiệm sinh nửa thế kỷ trên cõi đời, Trần Nhân Tông (1258-1308) đã có những đóng góp xuất sắc vào lịch sử chống ngoại xâm, xây dựng đất nước, phát triển tư tưởngPhật giáo dân tộc và là một trong những tác giả đi đầu trong việc sáng tác thơ phú bằng chữ Hán và chữ Nôm. 

Với tầm vóc danh nhân văn hóahình ảnh Trần Nhân Tông đã tỏa sáng trên tư cáchmột vị hoàng đế sáng suốt, vị tổ của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử và để lại những áng thi ca thấm đậm lẽ đạo tình đời. 

Sinh ra giữa thời hào khí Đông A đạt tới đỉnh cao, ông cùng với vua cha Trần Thánh Tông và toàn dân Đại Việt đã lãnh đạo nhân dân nước Đại Việt đập tan hai cuộc xâm lược của những đạo quân Nguyên Mông hùng mạnh (vào các năm 1285, 1287-1288). 

Với việc tổ chức hội nghị Diên Hồng và Bình Than, ông trở thành hiện thân của tinh thần đại đoàn kết toàn dân, ý chí quyết tâm đánh thắng giặc ngoại xâm, bảo vệ vững chắc quyền độc lập dân tộc. 

Trong thời điểm vận nước vào lúc nguy nan, ông đã cho khắc câu thơ: Cối Kê việc cũ ngươi nên nhớ - Hoan, Diễn còn kia chục vạn quân (Cối Kê cựu sự quân tu ký - Hoan, Diễn do tồn thập vạn binh) vào thuyền Ngự để động viên quân sĩ và khẳng định niềm tin vào ngày chiến thắng. 

Trở về Chiêu Lăng làm lễ dâng thắng trận, ông viết hai câu thơ nổi tiếngthể hiện niềm tự hào và khẳng định sức mạnh dân tộc: Xã tắc hai phen chồn ngựa đá - Non sông ngàn thuở vững âu vàng (Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã - Sơn hà thiên cổ điện kim âu)... 

Và phải nói rằng, ông cũng là người trực tiếp điều binh khiển tướng để củng cố vững chắc vùng biên giới phía tây và phía nam đất nước. 

Trong thời bình, ông thực hiện chủ trương "khoan sức dân", mở rộng sản xuất, đưa ra chính sách thi cử, tuyển dụng nhân tài tiến bộthúc đẩy nền kinh tế - văn hóa dân tộc phát triển ổn định. 

Với tầm nhìn xa rộng, ngay cả sau khi đã nhường ngôi cho con và bản thân làm Thượng hoàng (1293), Trần Nhân Tông vẫn đích thân đi đánh dẹp nơi biên ải, trực tiếp giám sát, khuyên bảo vua Anh Tông, cắt đặt công việc chính sự, đến bảy năm sau (1299) mới đi khắp nơi thuyết pháp, sang tận Chiêm Thành rồi mới lên hẳn Yên Tử tu Phậtsáng lập dòng Thiền Trúc Lâm

Đặt trong tương quan giữa đời và đạo, mối quan hệ giữa vương quyền và thần quyền, sách Đại Việt sử ký toàn thư đánh giá khái quát về Trần Nhân Tông: "Vua nhân từhòa nhã, cố kết lòng dân, sự nghiệp trùng hưng sáng ngời thuở trước, thực là bậc vua hiền của nhà Trần. Song để tâm nơi kinh Phật, tuy nói là để siêu thoát nhưng đó không phải là đạo trung dung của thánh nhân"... 

Tất nhiên đây là ý kiến dựa trên quan điểm Nho giáo và đến nay chúng ta cần nhận diện khách quan, đúng mức hơn những đóng góp của Trần Nhân Tông đối với lịch sửPhật giáo nói riêng và di sản tư tưởng tinh thần dân tộc nói chung. 

Trước hết cần khẳng định thái độ rành mạch của ông trong quan niệm về đời và đạo, khi nào cần "hòa quang đồng trần" một lòng gắn bó với sự nghiệp giữ nước và phát triển đất nước của cả dân tộc, khi nào có thể chuyên tâm với kinh sách và con đườnghoằng dương Phật pháp

Trên quan điểm lịch sử cụ thểchúng ta có thể khẳng định vị thế Trần Nhân Tông trên tư cách vị tổ của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, người có khả năng thâu thái những giá trị tinh thần Phật giáo từ bên ngoài để sáng tạo nên một Thiền phái bản địa, nội sinh trên cơ sở thực tiễn xã hội và mạch nguồn tư tưởng văn hóa dân tộc. 

Trải qua trường kỳ lịch sửtinh thần Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử vẫn được phát huy và đến nay tiếp tục phát triển, có được ảnh hưởng mạnh mẽ trong nước và mở rộng ở nhiều Thiền viện trên thế giới

Về sự nghiệp sáng tácTrần Nhân Tông còn để lại trên ba mươi tác phẩm, trong đó có các bài tán, minh, thơ chữ Hán và hai bài phú chữ Nôm. 

Các sáng tác của Trần Nhân Tông trải rộng diện đề tài từ dòng thơ chiến trận đến tâm sự buồn vui đời thường, từ vận mệnh quốc gia đến nỗi niềm người khuê phụ, từ lối thơ xướng họa đến tức sự, từ thơ bang giao đến vịnh cảnh non sông tươi đẹp, từ tiếng nói bậc đế vương đến sâu thẳm chất Thiền... 

Chỉ đọc nhan đề các bài thơ cũng thấy bước chân ông đã đi qua nhiều miền xứ sở, từ miền quê Thiên Trường (Nam Định) đến động Vũ Lâm (Ninh Bình), hương Cổ Châu, chùa Thần Quang (Bắc Ninh), Châu Lạng (Bắc Giang), từ một cuộc Tây chinh đến hồ Động Thiên - Yên Tử (Quảng Ninh)... 

Ông vui với một nhành mai, bâng khuâng trong một sớm mùa xuân, một chiều trước cánh đồng làng, một ngày thu nơi non cao chùa vắng, một sự hòa nhập nội tâm trong cõi thiền trầm tư sâu lắng. 

Đặc biệt với hai tác phẩm Phú ở cõi trần vui đạo (Cư trần lạc đạo phú) và Bài ca được thú lâm tuyền thành đạo (Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca), Trần Nhân Tông đã trở thành một trong những thi nhân Việt Nam đầu tiên sử dụng chữ Nôm để sáng tác thơ ca, khơi mở cho dòng thơ Quốc âm của dân tộc phát triển mạnh mẽ trong suốt các giai đoạn sau này. 

Tròn 700 năm kể từ ngày Trần Nhân Tông về cõi Tây phương cực lạc, nơi chùa Lân - Hoa Yên - Yên Tử vẫn thăm thẳm một mầu xanh. Giữa ngày chớm đông, dòng người từ bốn phương tìm về non thiêng Yên Tử, tìm về chốn tâm linh, thắp nén nhang thành kính tưởng nhớ danh nhân văn hóa Trần Nhân Tông - mẫu hình tác gia Hoàng đế - Thiền sư - Thi sĩ tiêu biểu cho cả một thời đại huy hoàng trong lịch sử dân tộc.

_______________________

• Nguyễn Hữu Sơn

TRẦN NHÂN TÔNG - GIỮ GIỚI TRONG SẠCH ĐỂ LÀM GÌ

Vua Trần Nhân Tông (1258-1308) sau khi khoác tăng bào ở tuổi 40 đã chu du khắp nơi để thuyết pháp, giảng kinh, khuyên dân chúng giữ gìn mười điều lành, và từng trở về kinh đô Thăng Long tổ chức lễ thụ Bồ tát giới cho vua Trần Anh Tông và quan lại triều đình.


Tam tổ thực lục chép rằng, mùa Đông năm Giáp Thìn, niên hiệu Hưng Long thứ 12 (1304), Trần Anh Tông (1293-1314) đã “dâng biểu mời Điều Ngự [Trần Nhân Tông] vào Đại Nội để thọ tâm giới tại gia Bồ tát. Ngày [Điều Ngự] vào thành, vương công, bách quan sắm lễ nghi đầy đủ đón rước xa giá của Điều Ngự, rồi cùng thọ giới pháp” (1).

Nhiều những vị vua nhà Trần đều mộ đạo và tích cực ủng hộ Phật pháp, hành trạng của họ không khác hành trạng của những vị thiền sư xuất trần. Vua Trần Thái Tông là người quan tâm đặc biệt tới giới luật, ông từng viết văn răn về năm giới và bàn luận về vấn đề thụ giới: “… Giới như mặt đất bằng, mọi điều thiện từ đó sinh ra. Giới như thầy thuốc giỏi chữa được các bệnh. Giới như hạt minh châu phá vỡ mọi tối tăm. Giới như thuyền bè vượt qua bể khổ. Giới như chuỗi ngọc làm pháp thân trang nghiêm… Bậc cổ đức có nói: qua sông nên dùng mảng, đến bến hết cần thuyền. Như vậy người xưa coi giới là thuyền là mảng. Ngày nay những người không dùng phương tiện đó qua sông mà tới được bờ bên kia thì thực là hiếm vậy” (Bàn về thụ giới) (2).

Vì vậy, thời Trần xuất hiện tình trạng “lấy địa vị vua chúa mà làm đại sĩ, hoàng hậu mà làm tỳ khưu, khanh tướng mà làm thầy chùa” (Kiến văn tiểu lục, Lê Quý Đôn) (3).

Thời điểm đó, Phật giáo làm quốc giáo, nhưng các tôn giáo khác như Nho giáo, Lão giáo với các nguyên tắc đạo đức được quy định chặt chẽ trong đời sống ứng xử phổ biến từ vua tôi đến cha con, chồng vợ…, cũng phần nào có những điểm phù hợp, bổ sung vào hệ thống luật pháp và quan điểm của nhà cầm quyền.

Những tệ đoan dần phát sinh khi Phật giáo quá thịnh, số lượng người đi xuất gia không được tuyển chọn kỹ, thanh quy chốn thiền môn bị mai một. Vì vậy vấn đề giới luật càng trở thành mối quan tâm hàng đầu của triều đình và giáo hội nhà Trần. Nhận thức đúng về giới luật cũng là mối quan tâm đặc biệt của vua Trần Nhân Tông, để làm sao giới luật không bị đồng hóa với các phạm trù chức năng, tránh xa được đạo đức giáo điều, phù hợp với những triết lý nền tảng khác của Phật giáo.

Đặc điểm nhân sinh quan nổi bật trong tư tưởng Trần Nhân Tông chính là nhận thức và ứng dụng giới luật Phật giáo vào cuộc sống. Bởi giới luật là một yếu tố bổ túc quan trọng vào đạo đức xã hội, pháp luật, thậm chí cả trong đời sống chính trị. Giới không mâu thuẫn với hệ thống pháp luật, phong tục, tín ngưỡng mà còn thúc đẩy, khắc dấu ấn quan trọng vào nền văn hóa, văn minh Đại Việt.

Trần Nhân Tông đặt câu hỏi nghiêm túc với Tuệ Trung Thượng Sĩ: “Công phu giữ giới trong sạch không chút xao lãng là để làm gì?”, khi trước đó ông đã thắc mắc: “Chúng sinh quen cái nghiệp uống rượu và ăn thịt thì làm sao tránh được tội báo?”. Người ở ngôi vị đứng đầu quốc gia hỏi việc “giữ giới trong sạch để làm gì?”, hẳn rất quan tâm đến mục đích, đường hướng đạo đức của một dân tộc.

“Để làm gì?” là một nghi vấn tích cực mang giá trị tư tưởng, nhằm gợi mở và điều chỉnh những nhận thức đúng về giới. Tuệ Trung Thượng Sĩ là người có đầy đủ tư cách để “ấn chứng” cho Trần Nhân Tông điều quan trọng này (4).

Nhưng vấn đề giữ giới hay không giữ giới có liên quan gì đến quan niệm thiện ác của thời đại? Thế nào mới gọi là giữ giới trong sạch? Trong sạch là so với cái gì mà trở nên trong sạch?

Tư duy phân loại thiện ác

Cách nghĩ phổ biến cho rằng, quá trình “nhuần thánh hóa” diễn ra rất dễ dàng bằng giáo dục đạo đức, chỉ cần phân loại và đưa ra những “quy định”, “mệnh lệnh” bắt buộc (cấm) là có thể loại bỏ cái xấu ra khỏi đời sống. Có quan niệm cho rằng con người là “chủ thể” và khách thể là phần còn lại của thế giới mà nhận thức con người hướng vào. Vì là “chủ thể” nên con người cho rằng mình nắm quyền “cải tạo” xã hội và thế giới. Trong các mối quan hệ giữa người và người, mục đích của “cải tạo” đầu tiên là con người, vì con người được đặt trong phạm trù “ý thức hệ” về hành vi đạo đức mà biểu hiện của nó là thiện (theo một trật tự đạo đức) và ác (không theo một trật tự đạo đức).

Có nhiều “hệ giá trị” để phân định một cách rạch ròi thế nào là “thiện” và thế nào là “ác”. Xã hội thường được quản lý trên nền tảng của tư duy phân loại, nhiều khi bằng hình thức loại trừ, bài trừ. Tuy đã có rất nhiều quy định pháp luật nhưng cái ác lại không giảm đi một cách nhanh chóng cùng những quy định ấy. Sự phát triển văn minh, văn hóa bổ sung thêm nhiều những quy chuẩn đạo đức, nhưng hình như các chuẩn mực làm người vẫn bị bỏ quên, cái ác có vẻ lấn lướt, tinh vi và phức tạp hơn.

Trong quá trình gắng gượng “loại” cái ác ra khỏi cuộc sống, con người đã tự đặt mình vào thế đối lập sống còn với cái ác. Những tưởng rằng khi xã hội hoàn thiện trong việc quy định hành vi là có thể bao quát được tất cả mọi biến động xã hội. Thực tế cho thấy, đã có nhiều triều đại phát triển đến đỉnh cao, nhưng rồi sau đó lại nhanh chóng suy tàn. Vậy quan niệm đạo đức nào đã tham gia vào quá trình thay đổi này? Thiện hay là ác? Hay cả hai cùng tham dự vào việc phá vỡ cái cấu trúc vốn khá trật tự của một xã hội? Tính tiếp diễn của lịch sử cần phải chứng minh cho luận điểm thiện ác, bởi nó cùng lúc tham gia vào quá trình phá vỡ và mở ra này.

Cùng với nhận thức chung của nhân loại, Phật giáo cũng đề cao những hành vi đạo đức hướng thượng, nhưng sự khác biệt lớn nhất của Phật giáo chính là không đối lập thiện ác, có nghĩa rằng “ác” không phải là mục tiêu “loại trừ”. Thiện ác ở cuộc sống nhân gian là một quá trình chuyển động và chuyển hóa, có chu trình lên xuống, và cái tạm gọi là “sự đối lập” ấy được vận hành trên cơ sở nhận thức tương quan, tương duyên, cái này làm nhân quả cho cái kia và ngược lại. Giới tham gia vào quá trình hoàn thiện đạo đức với tư cách là một - trong - những - phương tiện (tích cực) mà không đảm nhận vai trò phân loại thiện ác.

Vì không có đối lập nên không có đối tượng “lên án” hay “ca ngợi”, từ đó đi đến một thái độ triết học siêu việt thiện ác (thiện ác khác với thiện và ác). Đã không có đối lập thì kêu gọi sự “gia nhập”, “dung hòa” chỉ là khởi vọng, chính vì thế Phật học không có khái niệm “cứu rỗi”.

Tư tưởng “cứu rỗi” cho rằng “chủ thể” (Con Người) phải chịu sự quy định và chỉ có thể vươn lên, thoát ra bằng một “chủ thể” khác (linh hồn vũ trụ, Thượng đế…). Từ một xã hội được che đậy giả tạm bằng quy định đến một thế giới được bao biện bằng sự cứu rỗi, đã đang và sẽ càng làm cho tư duy phân loại thúc ép con người. Cái đối lập thường bị tẩy chay và đưa vào “trục ác”, điều này làm cho thế giới con người phân hóa và trở nên mất cân bằng nhiều hơn.

Ở phạm vi hợp lý nhất do thói quen và kinh nghiệm tạo nên, cái thiện và cái ác trở thành một tập tính tích tụ và có những lý thuyết rành mạch bàn luận thế nào là “tính bản ác” và thế nào là “tính bản thiện”. Từ những tranh luận không dứt về thiện và ác, dẫn tới sự phân hóa, hình thành quan niệm về “tính phi thiện phi ác”.

Như vậy chính “ý thức hệ” về đạo đức đã trở thành chủ điểm phân lập thế giới, và từ đây, các tiêu chuẩn, định mức khác nhau về thiện ác hình thành. Tùy vào các xứ sở khác nhau mà điều này được cho phép điều kia không được cho phép. Và cũng chính từ những điều kiện hóa này dẫn con người vào thế giới “không phân định” bằng mâu thuẫn tất yếu của thiện ác mà bằng sức mạnh của sự “cho phép”, của “định chế”, “mệnh lệnh”...

Vì muốn biết về “căn nguyên của vũ trụ, muôn loài”, nên sự hoài nghi tích cực của con người ngày càng lớn trước vấn đề thiện ác. Cuộc sống có hai hình thức phổ biến đó là “đi lên” và “đi xuống”. Sự “đi lên” hay “đi xuống” ấy không hề là biểu hiện của một cuộc “trốn chạy” hay sự sắp đặt cõi sống mà là hệ quả có ý thức xuất phát từ hành nghiệp của bản thân.

Vấn đề hành vi có ý thức trong Phật giáo được diễn tả bằng khái niệm “nghiệp”. Nghiệp tạo tác và nghiệp dẫn đường cho con người đi lên hay đi xuống. Trần Nhân Tông cho rằng chỉ khi “muôn nghiệp lặng” thì mới “an nhàn thể tính”.

Nghiệp cũng là vấn đề chủ điểm khi Trần Nhân Tông hỏi Tuệ Trung: “Chúng sinh quen cái nghiệp uống rượu và ăn thịt thì làm sao tránh được tội báo?”.

Thượng sĩ liền giảng giải rằng:

“Giả thử có một người đứng quay lưng lại, thình lình có nhà vua đi qua phía sau, người kia không biết hoặc còn ném vật gì vào người vua, người ấy có sợ chăng? Ông vua có giận giữ chăng? Như thế thì biết rằng hai việc không liên quan gì đến nhau vậy”.

Nói rồi Thượng sĩ đọc hai bài kệ:

Mọi pháp đều biến diệt,
Tâm ngờ tội liền sinh.
Xưa nay không một vật,
Mầm mống hỏi đâu thành.
Ngày ngày khi đối cảnh,
Cảnh cảnh từ tâm ra.
Cảnh tâm không có thật,
Chốn chốn Ba-la-mật” (5).


Hành động không tác ý, không phương hại sẽ không đưa đến “tội báo”, cũng như người đứng quay lưng mà không biết nhà vua đi qua, nên người ấy “không sợ” và nhà vua cũng không thể “giận dữ” một cách không suy xét.

Nếu bỏ mất hành vi có tác ý thì thường phân biệt đúng sai bằng các quy chuẩn thiện ác và càng làm cho thế giới trở thành “điên đảo tưởng”. Chẳng hạn, tôi tưởng rằng Thượng đế chỉ sinh ra cái thiện thôi, còn cái ác do “quỷ dữ” sinh ra, cho nên vì tin theo Thượng đế nên tôi cần phải loại trừ “cái ác” cũng như “quỷ dữ”.

Đây từng là nguyên nhân sâu xa của sự phân biệt từ “đẳng cấp”, “địa vị” đến những quan niệm xã hội về thiện ác, thậm chí trở thành chủ điểm của những cuộc chiến tranh tôn giáo trên thế giới.

Sự nhầm lẫn đáng tiếc đó đã thủ tiêu sự “tự do”, “sáng tạo” cũng như vai trò hình thành cộng đồng xã hội của các tầng lớp có truyền thống phong tục, tín ngưỡng khác nhau. Thế giới có thể “trật tự” hơn trong quy định hành vi nhưng lại phi lý và mâu thuẫn nhiều hơn trong thái độ đầy ảo tưởng về định tính thiện ác. Từ đó dẫn đến đùn đẩy trách nhiệm, hoặc cho rằng bệnh tật, chiến tranh, thiên tai là do ý của “Thượng đế”, hoặc cho rằng đó là do tự nhiên nó vậy, không thể chuyển đổi được.

Trần Nhân Tông từng đề cập đến khái niệm “cung ma”, “cõi Phật” (6) như một nỗ lực nhận biết của người tu hành. Với cái nhìn nhị nguyên, “cung ma”, “cõi Phật” là hai thế giới khác biệt có sự đối lập về thiện và ác, trong sạch và ô nhiễm. Nhưng cũng chính Trần Nhân Tông đã xóa bỏ khoảng cách của cái nhìn sai lầm này, vì nó chẳng phải hai cũng chẳng phải một, nó là “như thị” (cả về tướng và tánh). Điều này đã được ông khẳng định: “Chứng thực tướng ngỏ vô vi, nào nhọc hỏi kinh thiền Nam Bắc” (7).

Vậy tại sao phải chia ra “cung ma”, “cõi Phật”? Vì những khái niệm trên chỉ có ý nghĩa trong thế giới phân biệt và đối đãi của con người.

“Quản”, “cấm” là những khái niệm chức năng, giữ vai trò nhằm cân bằng mâu thuẫn trong thế giới nhị nguyên thiện - ác. Giới cũng thường được hiểu là “giới cấm”, tuy nhiên nó chỉ là một trong những phương tiện, người chưa qua sông thì nên dùng giới làm mảng, nhưng người đã đến bến bến rồi thì đâu cần phải vác thuyền chạy bộ.

Trong những cố gắng và nỗ lực, khái niệm “quản”, “cấm” đã phần nào mang đến cho địa vị phàm phu những giá trị đạo đức nhất định. Ở một nền văn hóa tổng hợp, quan niệm “tính bản ác”, “tính bản thiện” đã trở thành lề lối suy nghĩ, thì những hành vi đạo đức trong xã hội cũng được ràng buộc bởi những chuẩn quy định cụ thể.

Trong sạch - ô nhiễm

Bằng tư duy phân lập, nhiều người thường nghĩ, trần gian là ô nhiễm, chất chứa nhiều xấu xa còn Niết bàn, Tây phương Cực lạc là hoàn toàn thanh tịnh. Tuy nhiên, Niết bàn, Tây Phương Cực lạc không phải là “lòng tốt”, sự “trong sạch”, sự “cứu rỗi” và càng không phải là sự “toàn thiện”.

Vì Niết bàn, Tây phương Cực lạc là cảnh giới không cần đến những khái niệm “đối đãi”, “phân biệt” như vậy. Bởi thế giới nào có sự “toàn thiện” thì ở đó có sự không toàn thiện. Và bởi không ai thừa suy nghĩ đến mức đặt vấn đề “toàn thiện” trong một thế giới mà không có sự “không toàn thiện”. Vậy thì vấn đề “cứu rỗi”, “lòng tốt”, “trong sạch” không cần phải đặt ra trong cảnh giới Niết bàn, cũng như cảnh giới của người tu chứng.

Trần Nhân Tông xác định rất rõ: “Sạch giới lòng, chùi giới tướng, nội ngoại nên Bồ Tát trang nghiêm” (8). Quả vị “giới tâm trụ” (không cần phải cố gắng, nỗ lực vì điều gì cả). Quả vị “tín tâm trụ” (không bị chi phối bởi tác động bên ngoài và tập khí bên trong). “Pháp vân địa” là quả vị “bao trùm tất cả” vì vậy động cơ chấp vào, dựa vào một điều gì đó là sai lầm, bởi ngay cả khi cắt bỏ được “sắc, thọ, tưởng, hành, thức” thì cũng chỉ là đạt trạng thái “vô sở hữu xứ”, hoặc “phi tưởng phi phi tưởng xứ” chứ chưa phải là giải thoát thật sự. Chỉ khi “cảnh tâm không có thật” thì chốn chốn mới trở thành “Ba-la-mật” như Tuệ Trung đã phát biểu.

Điều đáng nói, sự “hỏi-đáp” trên đã giải tỏa được những khúc mắc do chính Trần Nhân Tông đặt ra, hoặc do sức ép từ các cáo trạng chỉ trích Tăng sĩ của các nhà Nho, hoặc vì những đòi hỏi thay đổi theo chiều hướng tích cực của xã hội. Vượt qua nhận thức phổ thông, Trần Nhân Tông đã thừa nhận: “Vì vậy ta biết môn phong của Thượng sĩ thật là siêu việt”, và ông hiểu rằng rất khó để tư tưởng này có thể làm cho người đời hiểu được “Phô người học đạo, Vô số nhiều thay, Trúc hóa nên rồng, Một hai là họa” (9).

Đó cũng là điều mà vua Trần Thái Tông khi trước đã nói: “Ngày nay, những người không dùng phương tiện đó qua sông mà tới được bờ bên kia thì thực là hiếm vậy” (Bàn về thụ giới).

Những người đứng đầu đất nước nhận thức về giới như vậy thì sao có thể tùy tiện phân định thế giới thiện ác trong cái thế “loại bỏ”, “đối đầu”. Nhận thức tương tự này luôn làm cho nhiều vị vua Phật tử trở nên nổi tiếng về lòng khoan dung, nhân thứ ngay cả với “kẻ thù” của mình. Khuyến hóa người đời tiếp nhận năm học giới, mười điều lành chính là muốn cho lòng từ ấy trong xã hội phát triển, vì Trần Nhân Tông hiểu rằng con người đều sẵn lòng từ, lòng trong sạch:

“Tịnh độ là lòng trong sạch, Chớ còn ngờ hỏi đến Tây phương.
Di đà là tính sáng soi, mựa phải nhọc tìm về Cực lạc” (10).


Đó cũng chính là điều ông nhấn mạnh: “Biết chân như, tin Bát-nhã, chớ còn tìm Phật tổ Tây Đông” (11). Tức mọi sự hấp dẫn của “bờ bên kia” đều được khám phá ở chính “bờ bên này”.

Nhận thức đúng về giới thì sẽ điều chỉnh hướng đi của xã hội vào những mục đích lâu dài hơn. Bảo Sát từng bạch hỏi ngài: “Tôn Đức tuổi đã cao mà xông pha sương tuyết như vậy, lỡ ra có chuyện gì thì mạng mạch Phật pháp sẽ như thế nào?”

Ngài đáp: “Thời giờ của ta đã đến, ta muốn tạo cái kế lâu dài vậy” (12). Đây cũng chính là lý do Trần Nhân Tông dành thời gian quý báu còn lại của mình để chu du khắp nơi khuyến hóa dân chúng gìn giữ mười điều lành.

“Giới luật (sìla, vinaya) có nghĩa là hộ trì, bảo vệ, là những điều cần phải học (sikkhà pada - học xứ - như học xứ không sát sinh) bằng tự nguyện. Giới không hề có ý nghĩa bị bắt buộc phải thọ, phải giữ như luật pháp hay nội quy. Ngoài ý nghĩa xã hội, giới chú trọng đến mặt thánh đạo nên còn gọi là luật nghi (samvara)” (13).

Phật giáo có năm học giới nhằm hoàn thiện nhân cách của người Phật tử như không giết người, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu. Nhưng để tiến xa hơn nữa trong nỗ lực tu hành, Phật giáo còn có mười điều lành.

Trần Nhân Tông sau khi xuất gia thường chống gậy đi khắp nơi thôn xóm để khuyên bảo dân chúng giữ gìn mười điều lành. Vì nếu có thể giữ gìn được mười điều lành thì sẽ trở nên quả vị Hiền thánh. Đây là mục tiêu Thánh hóa cộng đồng của ông, nhằm nâng cao văn hóa của người dân Đại Việt.

“Năm giới” là nền tảng căn bản để làm người, còn “mười lành” là điều kiện để chuyển từ địa vị phàm phu lên địa vị Hiền thánh. Mười lành được quy định ở ba cấp độ (ba nghiệp) rất rõ ràng đó là thân (việc làm), khẩu (lời nói), ý (ý nghĩ).

Khi nói đến “mười lành”, lẽ thường người ta xếp nó vào phạm vi của cái thiện. Nhưng khi nói đến ba sự vận hành lớn của con người là “ý nghĩ, lời nói và hành động” thì nó bao quát cả thiện và ác. Như vậy, tiến lên quả vị Hiền thánh hay sa đọa đều nằm trong phạm trù của ba sự vận hành này và nó liên hệ mật thiết với nguyên lý nhân quả.

Bất cứ vấn đề gì mà cuộc sống đặt ra, dù được cô đọng vào bất cứ tiêu chí nào thì cũng phải được xem xét ở ba cấp độ “ý nghĩ, lời nói và hành động”. Chính ba cấp độ này tạo ra sự phong phú vô cùng cho thế giới thiện ác. Nó vừa khép kín nhưng cũng đồng thời mở ra. Nếu giới chỉ là “quy định bắt buộc”, “cấm đoán” đối với mọi người thì nó chỉ là một mớ những thành kiến được số đông xã hội hợp thức hóa, điều kiện hóa.

Vì hiểu lầm việc giữ giới hay không giữ giới là hành vi thiện ác nên giới mới bị rơi vào phạm vi đạo đức thông thường. Và cũng vì năm giới, mười lành thường được hiểu “giới cấm” nên đã giới hạn đối tượng tiếp nhận, về lâu dài sẽ dần dần tách khỏi đời sống xã hội. Học giới dành cho tất cả mọi người, dù là Phật tử hay không phải Phật tử đều có cơ hội như nhau khi tiếp cận nhằm hoàn thiện bản thân.

Học giới giống như lửa của ngọn đèn dù có sang chiết lửa cho hàng nghìn ngọn đèn khác thì cũng không làm giảm đi tính sáng của mình, đồng thời còn làm cho mọi ngọn đèn đều được sáng. Vì thế thụ nhận giới là sự tự nguyện, là niềm hạnh phúc tinh thần.

Mỗi người trong xã hội chỉ cần điều chỉnh mình theo học giới thì xã hội sẽ tốt lên mà không cần phải triệt tiêu cái ác. Còn khi hiểu giới là sự cấm đoán thì chỉ có ý nghĩa với những người Phật tử đã quy y, còn người không phải Phật tử thì điều đó tuy hay nhưng họ cũng rất có thể sẽ “kính nhi viễn chi”.

Sự “cấm đoán” thường tạo nên sợ hãi, nếu vì sợ hãi mà giữ giới thì chỉ khắc sâu sự đối phó, xa dần với hạnh phúc, gần gũi với khổ đau. Sợ hãi mà giữ giới chính là hành động “tự tìm nguy”. Chắc chắn đây không phải là điều vua Trần Nhân Tông mong muốn.

Vì thế, Tuệ Trung đã hiểu được tâm ý phân biệt của số đông trước vấn đề giữ giới, nên mới trả lời câu hỏi của Trần Nhân Tông “Công phu giữ giới trong sạch không chút xao lãng là để làm gì?”:

Trì giới và nhẫn nhục,
Chuốc tội chẳng chuốc phúc.
Muốn biết không tội phúc,
Đừng trì giới nhẫn nhục.
Như khi người leo cây,
Đang yên tự tìm nguy.
Không trèo lên cây nữa,
Trăng gió làm gì được (14).


Giữ giới hay không giữ giới không liên quan đến việc đánh giá nhân cách con người là thiện hay ác, tội hay phúc. Hôm nay giữ giới không xao lãng là “trong sạch”, vậy ngày mai không còn phải giữ giới thì cái tính trong sạch nó mất hẳn hay sao? Hôm nay không giữ giới hay phá giới là ác, vậy ngày mai giữ giới thì cái tính ác không còn nữa hay sao?

Phật giáo quan niệm thiện ác không nằm trong quá trình đấu tranh loại bỏ mà nó thuộc phạm trù duyên sinh, hỗ tương nhân quả, từ đó hình thành ra các giá trị mang các địa vị, quả vị nơi các cõi giới khác nhau. Nếu học giới bị quy định bởi phạm trù đạo đức chức năng (cấm) thì nó sẽ thay đổi khi điều kiện, hoàn cảnh xã hội thay đổi. Nhưng nếu học giới được nâng lên ở tầm nhận thức giải thoát thì không thể triệt tiêu bất cứ mâu thuẫn, đối lập nào cho dù là thiện hay ác. Bởi không có mâu thuẫn thiện ác thì không còn chức năng giáo dục, khuyến hóa.

Sự nhầm lẫn giữa giữ giới là thiện không giữ giới là ác đã dẫn đến sự nhầm lẫn khi triệt tiêu mâu thuẫn, làm cho các biểu hiện xã hội trở thành các cực đối lập. Nho gia nhìn vào Phật gia để công kích việc ăn thịt uống rượu. Như vậy về căn bản, các ý thức hệ đã liên tục nhầm lẫn giữa những phạm trù chức năng “cho phép”, “không cho phép” mà quy định về những chuẩn thiện ác trong xã hội.

Trần Nhân Tông từng phải cảnh báo: “Câu hữu, câu vô. Quay bên phải, ngoái bên trái. Thuyết lý ầm ĩ. Ồn ào tranh cãi” (15).

Thiện ác là một tác động kép vào quá trình phát triển của xã hội và là mối quan hệ tương thuộc. Sự cho phép hay không cho phép, có thể có những nội dung gần với thiện ác, nhưng không phản ánh hết nhận thức về vấn đề thiện ác. Bởi có những sự “cho phép” của pháp luật đã đi ngược lại với điều “thiện”, và có những điều pháp luật cho là “ác” thì lại là niềm tin của nhân dân. Như vậy chính câu trả lời của Tuệ Trung đã tác động vào nhận thức của Trần Nhân Tông như một phản biện tích cực.

Tuy Trần Nhân Tông biết rằng “Mọi pháp đều biến diệt, Tâm ngờ tội liền sinh” như Tuệ Trung đã nói nhưng suy nghĩ phổ biến đã cho rằng giữ giới là có phúc, không giữ giới là có tội, vậy “tội phúc đã rõ ràng thì làm thế nào?”. Tuệ Trung bèn chỉ bảo:

Ăn thịt và ăn cỏ,
Tùy theo từng loại đó.
Xuân về cây cỏ sinh,
Họa phúc nào đâu có (16).

Do đó đừng nhầm lẫn việc uống rượu ăn thịt là sẽ gặp tội báo và không uống rượu ăn thịt thì sẽ thành Thánh. Chính “tâm ngờ” mới là đầu mối động cơ của việc làm thiện ác, và chính từ cái “tâm ngờ” ấy mà sinh ra việc có tội phúc.

Tuệ Trung nhắn nhủ Trần Nhân Tông “đừng bảo cho người không đáng bảo”, không phải người “không đáng bảo” ấy là xấu, ác mà họ là những người “chưa hiểu” về giới hay chấp giới. Kẻ chưa hiểu về giới thì sẽ phá giới, kẻ chấp giới thì sẽ sinh tâm phỉ báng những điều tốt đẹp khác ngoài giới. Rõ ràng vấn đề nâng cấp nhận thức được Tuệ Trung và Trần Nhân Tông hết sức quan tâm, nhưng đó không phải vấn đề đơn giản trước quan niệm của số đông.

Giới là phương tiện chuyển hóa từ một quả vị thấp hơn tiến tới một quả vị cao hơn. Nên cần phải nhận thức đúng về giới để giải thoát ngay trong cuộc đời trần tục này: “Trần tục mà nên, phúc ấy càng yêu hết tấc” (17).

Điều gì đã khiến cho không ít triều đại dưới thời Lý - Trần người dân đi ngủ không cần phải đóng cửa. Đó chính là tác dụng tích cực của việc thực hành giới. Nếu chỉ suy nghĩ cô lập giới là sự “cho phép” hay “không cho phép” thì sẽ nảy sinh vấn đề “muốn” hay “không muốn”.

Giáo dục không nên rơi vào cái bẫy của sự “cho phép”. Giáo dục nên hướng vào tư duy, nhận thức, bởi đó là vần đề cốt lõi để người ta có thể đối mặt với điều kiện, hoàn cảnh thực tế và giải quyết nó một cách tốt nhất theo chiều hướng ích mình, lợi người. Rõ ràng người hiền không phải người không (bất biến) tham mà người hiền chính là người có điều kiện để tham nhưng không tham.

Nhận thức đúng về giới để tự do chuyển hóa khổ đau chứ không phải những quy định đạo đức bắt buộc mỗi cá nhân (khác biệt về truyền thống) phải trải qua. Giáo dục là nhằm cho nhận thức được mở rộng ra chứ không phải ngắm vào quy định chức năng “được phép” hay “không được phép” rồi khép kín tất cả các trật tự hành vi lại. Nhận thức là quy trình tự điều chỉnh và mang ý nghĩa chuyển hóa, diễn ra trong một quá trình từ “phàm” sang “thánh”.

Khi đạo đức biến thành quy định thì tạo ra sự phân lập, phán xét, nuôi dưỡng thành kiến, thậm chí ý thức hệ đối đầu. Triết học Phật giáo không có “ý thức hệ đối đầu”, ở đó chỉ có một quá trình chuyển hóa, tha hóa giữa các quả vị trên căn bản xuất phát từ động cơ có tác ý (hành nghiệp).

Như vậy đi vào vấn đề hành nghiệp của con người (thiện ác) là đi vào ba phạm trù lớn trong diễn biến sống đó là “ý nghĩ, lời nói và hành động”. Nhân sinh quan Phật giáo trở nên phong phú vì nó đã ngắm trúng đích ba vấn đề lớn này. Vậy thì cả thiện và ác đều phải đi qua, không có một sự sắp xếp đạo đức nào trong quá trình này. Vì thiện ác không phải là phạm trù bất biến, không phải hai thế giới đối lập. Cuộc sống có sự dao động rất lớn, mọi người đều có nguy cơ “trở nên” thế này và thế kia chỉ trong một “ý nghĩ, lời nói và hành động”.

Giới nằm trong quá trình chuyển hóa, không dành cố định cho một “hạng”, “loại” người nào, nên giới là bình đẳng, không bị chi phối bởi không gian, thời gian. Nhưng nếu giới trở thành “chức năng”, phân lập “thiện ác” thì sẽ trở nên lỗi thời và phi lý khi các điều kiện, hoàn cảnh lịch sử, xã hội thay đổi. Từ lâu, giới ở Việt Nam đã khiến cho người ta “sợ”, “ngại” mỗi khi nhắc đến việc phải giữ hay không. Nhưng nếu giới được hiểu là “học giới”, một quá trình giáo dục đào tạo nhằm chuyển hóa thân tâm thì ảnh hưởng, tác dụng xã hội sẽ rất lớn. Sự trao đổi giữa Tuệ Trung và Trần Nhân Tông cho thấy, điều cốt yếu vẫn là tác động vào nhận thức của đối tượng “đáng bảo” hay “không đáng bảo”. Có thể nói, vướng mắc ấy vẫn còn nguyên cho tới hôm nay.

Một khi “đạo đức” trở thành những “mệnh lệnh” thì nó sẽ gắn chặt với pháp luật, có thể làm suy giảm đáng kể sự sáng tạo và chuyển hóa của con người. Người cổ súy đạo đức lại làm thay công việc của người ban hành luật, tức cho phép làm cái này không được làm cái kia. Đây là nguyên nhân làm giảm tính đặc thù cá nhân cũng như sự khai phóng tư tưởng trong xã hội, và cũng là đầu mối của việc “đang yên tự tìm nguy”.

Trói buộc - giải thoát

Giới không phải sự trói buộc. Trong bài Sơn phòng mạn hứng, Trần Nhân Tông viết: “Ai trói buộc mà phải tìm phương giải thoát. Phẩm cách chẳng phàm tục cần gì tìm thần tiên” (18).

Như vậy ông đã nhận thức rõ được sự trói buộc, vì sự trói buộc này mà sinh ra khía niệm “phàm tục”, “thần tiên”. Triệt tiêu mâu thuẫn chính là triệt tiêu sự hài hòa, vì mâu thuẫn được đặt ra trong thế giới tương đối, không có nó thì thế giới sẽ trở nên “đơn cực”. Cho nên khi không còn trói buộc, không còn nặng đầu với “phàm tục”, “thần tiên” thì thoát ra khỏi các khái niệm chức năng “để” và “triệt”.

Người không còn phân biệt mê ngộ, phàm thánh thì sẽ đạt được “tính sáng soi”. Nhưng vì sao các phạm trù “chức năng” của đạo đức cho phép hiểu cái thiện cần phải được khuyến khích và cái ác cần phải ngăn ngừa. Đây cũng là một vấn đề thuộc phạm vi “giải quyết”. Nếu làm một cái xấu thì có thể dẫn đến làm nhiều cái xấu, và nếu làm được một việc lành thì có thể làm nhiều việc lành. Điều này được quan sát dựa trên kinh nghiệm sống và kinh nghiệm tu tập.

Nhưng giải quyết vấn đề “tính” mang những ý nghĩa triết luận thì thấy rằng tư duy “thiện - ác” không nên lúc nào cũng có thể nhận thức bằng kinh nghiệm, tức coi việc gần xấu thì xấu, gần ác thì ác. Đây là một trong những yếu tố phổ biến trong quan niệm Nho giáo nên họ rất quan tâm đến yếu tố “môi trường”.

Điều này dựa phần lớn vào cái thấy không trọn vẹn của kinh nghiệm. Một khi cái tổng thể đã bị nhận thức bằng kinh nghiệm chi phối, thì cái cá biệt, cái vốn lưu giữ nhiều sự phong phú và sáng tạo sẽ bị bất tín. Đây cũng là điều dẫn đến suy luận có vẻ như rất logic, nếu bất kể những ai đã nằm trong vùng, phạm vi của cái xấu thì sẽ bị “xấu hóa” do đó cần phải cô lập, bài trừ.

Trần Nhân Tông viết: “Nếu Hằng Nga biết được vẻ đẹp thanh nhã của hoa mai, Thì có ưa gì cây quế và cung thềm lạnh lẽo” (19). Cái phổ biến trong cảnh giới của Hằng Nga không phải cái phổ biến, cái đẹp trong cảnh giới khác. Đó là cõi riêng trong cách cảm của người. “Một cành hoa lạc vào giấc mộng cố nhân. Tỉnh dậy không thể đem tặng anh được” (20).

Đó cũng là điều mà có người đã hỏi Trần Nhân Tông: “Đã là thanh tịnh bản nhiên sao bỗng chốc sinh ra núi sông đất lớn?”. Trần Nhân Tông trả lời: “Ai biết tránh xa khói sóng sẽ có riêng điều bàn bạc” (21).

Không chỉ có chuyện thiện ác mà ngay đến cả chuyện yêu thương, chuyện ăn ngủ, chuyện sống thanh bần, đạm bạc, không đấu tranh… cũng được gom hết vào phạm trù của đạo đức. Chính vì điều này mà mọi sự “lệch chuẩn” đều có thể bị suy diễn là mất đạo đức. Trả lời cho vấn đề yêu thương, Trần Nhân Tông viết: “Càn khôn kiêm ái vô Nam Bắc” (22).

Có nghĩa rằng cái yêu thương thì không có vấn đề cho phép hay không, cũng như chuyện ăn ngủ “sống giữa phàm trần hãy tùy duyên mà vui với đạo, đói thì ăn, mệt thì ngủ” (23), lên án nó là “lệch chuẩn” chẳng khác nào lên án sự tự tại. Tuy nhiên, những gì diễn ra trong đời sống cho thấy nhiều biểu hiện phong phú đều dần dần bị quy vào phạm trù chức năng “cho phép” của ý thức hệ nên dù có diễn giải như thế nào thì cũng vẫn nằm trong thành kiến “thân tộc”, “huyết tộc”, “tổ chức”, “tôn giáo”… Đó chính là giới hạn từ chính những sai lầm có tính chất điều kiện hóa.

Sự vật thường được nhân thức bằng khái niệm, nên mới gây nên những tranh luận không dứt. Nhưng ít ai trong xã hội có thể hoàn toàn dựa trên các “quan điểm”, “khái niệm” để bước chân ra khỏi cái ác, cái xấu trên cả ba bình diện “ý nghĩ, lời nói, việc làm”.

Ở ý nghĩa này, không phải bất cứ hành vi “lệch chuẩn” nào cũng có thể được xem là xấu ác. Hành vi cướp của nhà giàu chia cho dân nghèo là hành vi trượng nghĩa thời phong kiến, vì kẻ giàu thì thường được hiểu là không mấy khi làm thiện. Tuy nhiên, dưới thời luật pháp nghiêm minh, mọi hành vi cướp của dưới bất kỳ động cơ nào cũng phải bị pháp luật can thiệp.

Nếu không hiểu được “động cơ” từ trong ý nghĩ, lời nói, hành động thì sẽ không bao giờ truy tìm được những biểu hiện tương đối của thiện ác, chẳng “khác nào anh chàng khắc mạn thuyền mò gươm, theo tranh vẽ đi tìm ngựa” (24).

Vì vậy, trả lời câu hỏi “giết người không chớp mắt là thế nào?”, Trần Nhân Tông không nói đó là “ác độc”, “phi đạo đức” mà ông nói “toàn thân là mật” (25). Trần Nhân Tông không cho người ta được phép thỏa mãn khi nhận được câu trả lời vì thỏa mãn thì sẽ ngừng nhận thức, ngừng tư duy, mặc dù có lúc ông cũng phát biểu “mọi suy nghĩ đều cho qua đi hết” (26).

Trở lại với câu hỏi “Người đời ưa uống rượu, ăn thịt thì làm sao tránh khỏi tội báo?”. Ưa là một thói quen đã trở thành tập tính. Tuy nhiên những tính cách phổ biến đó là một nhu cầu mang giá trị “bù đắp” (nơi nào tròn thì khuyết, nơi đâu rỗng thì đầy), nghĩa là khi có điều kiện, người ta sẽ ăn thịt, uống rượu.

Sự đắm nhiễm vào rượu thịt và những hệ quả tiêu cực mà nó đem lại mới là điều đáng bàn. Cuộc sống bằng nhiều hình thức khác nhau đã đặt ra vấn đề nhu cầu, mà nhu cầu thì không xa với hạnh phúc và khổ đau. Đặt phạm vi ưa ăn thịt uống rượu vào tội báo là khiên cưỡng, vì điều này có tính cách cá nhân, chủ quan (ưa và không ưa).

Tại sao xã hội càng hoàn thiện hơn về mặt pháp lý, nhưng lại không tương ứng với việc giảm tội ác? Vì cái ác trở thành đối cực của cái thiện, trong khi thực tế cái ác không phải đối tượng mà là chủ thể nằm trong phạm trù đạo đức. Đối tượng của cái ác là cái thiện. Đối tượng của cái thiện là cái ác. Vậy thì thiện ác vừa là chủ thể vừa là đối tượng của nhau. Chính vì vậy nhận thức quá trình diễn biến của thiện ác không phải vấn đề bên ngoài xã hội mà là nhận thức bên trong nơi mỗi con người. Điều chỉnh được cái bên trong này thì cái bên ngoài nó yên.

Trần Nhân Tông có lúc đã hỏi Tuệ Trung Thượng Sĩ về “cái gốc của tôn chỉ Thiền”, và ông đã được trả lời rằng: “Hãy quay nhìn lại công việc của mình chứ không tìm đâu khác được” (27).

Vua Trần Thái Tông cũng từng có chí vào núi tu hành để tìm Phật, nhưng ông đã được Quốc sư Phù Vân khuyên rằng: “Trong núi vốn không có Phật, Phật ở ngay trong lòng, lòng lặng mà hiểu, đó chính là chân Phật. Nay nếu bệ hạ giác ngộ điều đó thì lập tức thành Phật, không cần khổ công tìm kiếm bên ngoài” (28).

Chuyển cái tiêu cực thành tích cực là phạm vi của giới. Giới theo suy luận thông thường là có công năng ngăn ngừa, phòng hộ. Nhưng sai lầm khi cho rằng giữ giới nhằm tiêu diệt cái ác. Giới là quá trình “chuyển hóa” nghiệp.

Hợp thức hóa ba phạm trù ý nghĩ, lời nói, hành động thành phạm trù của nghiệp (nghiệp thân, nghiệp khẩu, nghiệp ý) đã khiến cho việc giữ giới trở thành một quá trình hoàn thiện theo cấp độ năng tiến. Và nó chỉ đưa ra những “khả năng” (để tự do chọn lựa) hoặc là tiến bước hoặc là lùi bước. Hãy cẩn thận khi chọn lựa những bước đi này.

Còn cả hai vấn đề thiện ác đều xuất phát từ dục (sự ham muốn dù là thô hay vi tế). Sự ham muốn và động cơ của nó nếu đi ra ngoài các phạm vi ích mình, lợi người và ích lợi cho cả hai sẽ quyết định thang bậc giá trị của sự ham muốn ấy.

Vì các giá trị được nhìn nhận trên những mức độ nêu trên nên sự khuyến hóa mới có tác dụng. Vua Trần Thánh Tông từng viết: “Thấy quái không thấy quái, Quái kia liền tự hoại” (29). Khi vượt ra khỏi phạm vi thiện ác, quái và không quái thì vấn đề không còn phải đặt ra một cách dư thừa nữa. Đức Phật không thể thuyết pháp về thiện ác ở những cõi giới không còn thiện ác và Đức Phật không cách nào khuyên nổi những vị trời ở cõi phi phi tưởng về sự hấp dẫn của quả vị Niết bàn. Đó chính là lý do mà Tuệ Trung nhắc nhở vua Trần Nhân Tông “Chớ bảo cho hạng người không đáng bảo”.

Vậy thì chức năng khuyến hóa chỉ được đặt ra trong phạm trù của đối đãi, tức có phân biệt và chấp nhận sự tồn tại song hành của thiện ác. Chỉ có thể nói chuyện thiện ác trong thế giới có thiện ác.

Quá trình “mất tác dụng” (nói như Tuệ Trung là việc giữ giới “chiêu tội bất chiêu phúc”) chỉ xảy ra khi người ta đạt đến trình độ “ra ngoài” phạm vi của phân biệt. Và cũng chính vì đã “ra ngoài” nên nó không cần phải “giải quyết” bất cứ điều gì cả. Vậy thì muốn không còn tham lam thì phải dùng chính cái không tham lam làm đối kháng, chứ không hoàn toàn đặt hết tin tưởng vào những “công cụ” chống tham lam, vì càng nhiều công cụ để chống tham lam thì càng phải rượt đuổi theo sự biến tướng của các hành vi tham lam.

Tham lam xảy ra trong mỗi cá nhân là cả một quá trình, khi nó đã là quá trình thì nó có nhiều điều kiện, phương tiện (giới, luật pháp, đạo đức…) để điều chỉnh. Tất cả mọi thuận lợi của điều kiện và hoàn cảnh thúc đẩy quá trình diễn ra nhanh hay chậm. Chính vì vậy sự khuyến hóa cũng nên tuân thủ theo những điều kiện và hoàn cảnh nhất định để tác dụng vào điều chỉnh từ mức độ nhỏ đến mức độ lớn.

Từ nguyên nhân đến kết quả, dù diễn ra nhanh hay chậm cũng là một quá trình. Vì vậy cả thiện và ác đều đi theo quá trình của ý nghĩ, lời nói và hành động. Sự ưa muốn của thiện và ác có một lực hấp dẫn từ những hiện thực xã hội, tức chịu sự tác động phần nào của các tập tính xã hội. Nên cần phải dùng “tập tính” để hóa giải “tập tính”.

Có thể đưa ra bốn tình huống như sau:

Thấy quái không làm quái.
Thấy quái làm quái.
Không thấy quái làm quái.
Không thấy quái không làm quái.


Như vậy đặt vấn đề “thấy quái không thấy quái” là đặt trúng vấn đề cần bàn chung quanh những thắc mắc của Trần Nhân Tông. Tức phải thấy cả hai mặt “đối lập” này. Khi thấy được cả hai thì không cần phải “triệt tiêu” thì nó cũng tự biến mất, tức ra ngoài việc “muốn” và “không muốn”.

Khi chủ thể là một “quá trình” hay nằm trong một “quá trình” thì chủ thể không thể tự triệt tiêu mình vì thiện ác (thay đổi) đều xuất phát từ bên trong con người. Những tác động chuyển hóa bằng ngăn ngừa, khuyến khích là những tác động tạm thời. Chính vì vậy không thể hiểu sai rằng ngăn ngừa, khuyến hóa là một quá trình triệt tiêu cái ác.

Nói cách khác, đó là một quá trình chuyển hóa cái tiêu cực sang cái tích cực. “Tứ chánh cần” của Phật giáo đảm nhận rất rõ chức năng này: 1. Những điều thiện chưa sinh thì làm cho phát sinh; 2. Những điều thiện đã phát sinh thì làm cho phát sinh hơn nữa; 3. Những điều ác chưa sinh thì đừng cho nó phát sinh; 4. Những điều ác đã phát sinh rồi thì đừng cho nó phát sinh thêm nữa.

Thiện ác là một quá trình. Quá trình này không phản ánh “chân lý” vì nếu xét về mâu thuẫn thì không có nghĩa rằng cái ác là phi lý còn cái thiện là hợp lý và ngược lại. Như vậy thiện ác khi nằm trong phạm trù đạo đức thì có thể tạm thời bàn chuyện “đúng-sai”. Song mọi người đều có nguy cơ “rơi vào” một cực nào đó, đối lập, hợp tác, loại trừ lẫn nhau.

Mọi trạng thái đều xuất phát từ tâm, nên thiện ác không chỉ diễn ra trong phạm vi của biến động xã hội mà chính nó, từ bên trong đã nảy sinh trong quá trình vận hành của ý nghĩ, lời nói và hành động, đây mới là động cơ quyết định đến những biến động xã hội bằng quá trình tích tập thiện ác.

Thiện ác xuất hiện từ bên trong nhiều khi đối lập với chính những quy tắc đạo đức bên ngoài. Chẳng hạn giết “người” là ác (so với tâm từ bên trong), nhưng giết “giặc” thì không ác (so với các quy định đạo đức bên ngoài). Có nghĩa rằng chính trong phạm vi đạo đức cũng đã bị các điều kiện chủ quan “cho phép” hay “không cho phép” can thiệp. Vậy có phải cứ gia tăng sự “cho phép” và “không cho phép” thì sẽ giải quyết được vấn đề đạo đức không?

Không thể. Vì sự cho phép hay không ở quốc độ này khác với sự cho phép hay không ở quốc độ khác. Nơi này đặt vấn đề đạo đức còn nơi kia thì không. Đây chính là sự khác biệt căn bản nơi các cõi giới. Vậy để có thể tuyên bố “Hang quỷ ở là lâu đài Di Lặc. Núi Hắc đâu khác cảnh Phổ Hiền” (30) thì phải nhận thức được tính “đồng nhất lý” (tính của phàm phu tức Phật tính) của pháp giới. Nếu có thể giải quyết vấn đề thiện ác bằng phân loại, phủ định, triệt tiêu thì chỉ cần xây nhiều nhà tù, đúc nhiều vũ khí, sử dụng nhiều phương tiện áp bức là có thể nhanh chóng làm được không cần đến đạo đức, giới luật.

Như vậy trước vấn đề thiện ác, rất cần đến lòng trắc ẩn, vì lòng trắc ẩn làm cho con người không vô cảm trước thiện ác. Vì thiện ác không phải là quyết định luận, không phải là “thiên định”. Nếu cái ác là một quyết định luận thì sẽ có lực lượng đẩy cái ác lên trở thành lý thuyết, tư tưởng. Nếu phân định rạch ròi “trục ác” thì sẽ biến cái ác trở thành một hệ giá trị riêng có sự cổ súy và lên án.

Chính vì điều này mà người ta chỉ biết ghê tởm trước cái ác mà không khởi lên sự trắc ẩn trước cái ác. Và chính vì điều này mà nhà tù càng được xây thêm, vũ khí ngày càng được đúc nhiều, chiến tranh càng được lựa chọn để giải quyết xung đột.

Nhìn nhận sai lầm về cái ác giống như nhìn dây thừng mà tưởng nhầm con rắn. Bởi thế giới thiện ác là thế giới duy tâm biến hiện. Dù có nhìn nó ở hình ảnh, phạm vi nào thì cũng là “khởi tâm vọng tưởng”. Sự nhầm lẫn giữa quá trình sa đọa và quá trình hướng Phật dẫn đến sự nhầm lẫn khi đối lập thiện ác. Vốn dĩ tất cả các hình thái, đối tượng, đặc điểm, thuộc tính của thế giới này đều là những diễn biến của vọng tâm. Có nghĩa rằng chúng ta không thể suy luận đúng trước hàng loạt những dữ liệu đã sai ngay từ ban đầu.

Đức Phật từng khuyến cáo: “Nếu còn dùng vọng tâm để nghe lời thuyết pháp của ta thì lời thuyết pháp cũng là vọng. Nếu cho rằng ngón tay là mặt trăng thì chẳng những không thấy được mặt trăng mà cũng không biết luôn cả ngón tay”.

Vấn đề “đang yên tự tìm nguy” mà Tuệ Trung nhắc nhở Trần Nhân Tông cho thấy rõ quan điểm của ông về một thế giới phân biệt nhị nguyên. Và giới khi không được hiểu là học giới thì nó trở nên khô cứng như một quy định đạo đức thông thường. Sự phân biệt về giữ giới và giải thoát, chính là việc nghĩ tưởng rằng cần phải có sợi dây thì mới có thể cột chặt tâm ý rong ruổi, bất thiện của mình được.

Giới không phải là cái công việc luẩn quẩn (tìm nguy) tự thắt nút vào (trói buộc) rồi tự tháo nút thắt ra (tìm giải thoát) như vậy. Trong khi những ràng buộc là điều dễ thay đổi lại bị buộc chặt vào hệ quy chiếu của đạo đức. Con người đang rơi vào rất nhiều những nghịch lý mà lời giải nằm ngay trong chính bản thân họ. Phải chăng thế giới ngày càng được chia nhỏ trong sự phân ly và điều kiện hóa này?

Lời kết

Có thể nói, con người là chủ điểm của mọi khám phá từ đời sống vật chất đến tinh thần. Vì vậy, tìm hiểu tư tưởng của vua Trần Nhân Tông không chỉ khẳng định tính liên tục của dòng chảy lịch sử mà còn đóng góp vào quá trình tìm hiểu tư tưởng văn hoá dân tộc và những giá trị có thể ứng dụng một cách thiết thực trong cuộc sống xã hội hiện tại.

Những câu hỏi trọng tâm về việc “giữ giới trong sạch để làm gì?” và sự khai mở của Tuệ Trung đã cung cấp cho Trần Nhân Tông những nhận thức đầy đủ hơn về giới. Nhận thức ấy là động lực thúc đẩy Trần Nhân Tông phát triển tông chỉ của mình theo đường lối dấn thân nhập thế “cư trần lạc đạo”, bên cạnh việc khuyến hóa không mệt mỏi để dân chúng tin sâu và thực hành mười lành. Không cần những thuyết lý ồn ào, chỉ cần quan sát dân chúng giữ gìn ba nghiệp như thế nào thì biết nền đạo đức xã hội của thời đại ấy.

Sự kiện vua Trần Anh Tông thỉnh Điều Ngự Trần Nhân Tông hồi triều để thọ Bồ tát giới tại gia và vương công, bách quan cùng thọ giới pháp, đặc biệt khi Nho giáo đã có chỗ đứng, cho thấy đó là một sự kiện chính trị xã hội, tôn giáo rất đáng quan tâm, củng cố thêm những luận điểm về việc triều đình đã nhận thức được tầm quan trọng của giới luật Phật giáo (cụ thể Bồ tát giới, mười giới, năm giới của người tại gia), xem đó là nền tảng căn bản để xã hội luôn mở ra và hướng đến sự tốt đẹp.


Chú thích:

(1) Tam Tổ thực lục, Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 2 (Trần Lê Sáng chủ biên), Nxb Khoa học Xã hội, 1997, tr. 785.
(2), Thơ văn Lý Trần, tập II, quyển thượng, (Nguyễn Huệ Chi chủ biên), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1989, tr. 81-82.
(3) Lê Quý Đôn toàn tập, tập II Kiến văn tiểu lục, Nxb Khoa học Xã hội, 1997, tr. 378.
(4), (5), (6), (7), (8), (9), (10), (11) Thơ văn Lý Trần, tập II, quyển thượng, sđd, tr. 545-546, 546, 454, 506, 507, 535, 505, 506.
(12) Thánh đăng lục, Thích Thanh Từ, Nxb TP Hồ Chí Minh, 1999, tr. 122.
(13) Sự khác nhau giữa giới luật và luật pháp, Tâm Hạnh, Nguyệt san Giác Ngộ số 102, 2004, tr. 53.
(14), (15), (16), (17), (18), (19), (20), (21), (22), (23), (24), (25), (26), (27), (28), (29), (30) Thơ văn Lý Trần, tập II, quyển thượng, sđd, tr. 546, 489, 546, 506, 469, 470, 471, 495, 474, 510, 488, 496, 481, 546, 28, 545, 74.

___________________

Thích Thanh Thắng

Nguồn: thuvienhoasen.org

VỀ HUẾ ĐÁNH TIẾNG CHUÔNG HÒA BÌNH

Một người bạn vong niên, gia đình có đến 5 đời ở Huế gợi ý giờ đến Huế nên đến khu Trung tâm Văn hóa Huyền Trân để đánh những tiếng chuông Hòa Bình. Tôi gật đầu. Cuộc hành trình bằng xe đạp hướng về núi Ngũ Phong bắt đầu…

 

Trung tâm Văn hóa Huyền Trân

 

Anh bạn vong niên của tôi kể rằng thuở xưa, Vua Chiêm Thành Jaya Simhavarman III (Chế Mân) để cưới được Công chúa Huyền Trân đã đem hai châu Ô, Lý dâng lên vua Trần sính lễ. Vâng lời vua cha là Trần Nhân Tông và vua anh Trần Anh Tông, Huyền Trân đã gác tình riêng, gạt lệ xuống thuyền theo chồng, lập mối hòa hiếu và mở mang bờ cõi của đất nước về phương Nam. Đất Thuận Hóa - Phú Xuân - Thừa Thiên Huế cũng được khai sinh từ đó, đến nay đã hơn 700 năm. Để ghi nhớ công ơn của công chúa, triều đình nhà Nguyễn (1802-1945) đã lập miếu Đại Đế Vương ở làng Lịch Đợi, phường Đúc, TP. Huế, thờ các vị khai quốc công thần, trong đó có Công chúa Huyền Trân. Tiếc là miếu thờ này ngày nay không còn. Cho đến đầu năm 2006, Trung tâm Văn hóa Huyền Trân được khởi công xây dựng. Một năm sau đó, ngày 26.3.2007, công trình khánh thành nhân kỷ niệm tròn 700 năm Thuận Hóa - Phú Xuân. Lòng tri ân của người dân Huế nói riêng và của người dân Việt Nam nói chung với Công chúa Huyền Trân đến khi đó mới thực sự được cụ thể hóa bằng vật chất.

 

Tượng Công chúa Huyền Trân

Chính điện thờ Công chúa Huyền Trân


Trung tâm Văn hóa Huyền Trân rộng đến 28ha, nằm dưới chân núi Ngũ Phong thuộc thôn Ngũ Tây, xã Thủy An (nay là phường An Tây), TP. Huế. Đây là khu vực đồi núi thoai thoải, rừng thông xung quanh, bốn mặt là trùng điệp ngàn non. Không gian thâm nghiêm, kỳ vĩ, phù hợp với những công trình văn hóa mang tính tâm linh, về nguồn. Từ ngoài dẫn vào là bốn trụ biểu lớn, dưới chân có nghê đá phục chầu, tiếp đến là ba bậc sân rất rộng lát gạch Bát Tràng, có hồ nước và cầu bắc qua tương tự như cầu Trung Đạo bắc qua hồ Thái Dịch trước điện Thái Hòa của Đại Nội Huế; tiếp nữa là tam quan, trong cùng là đền thờ Huyền Trân công chúa. Tất cả nằm trên một trục thẳng. Bên trong đền thờ có pho tượng Công chúa Huyền Trân ngồi trên ngai được đúc bằng đồng. Tượng cao 2,37m, do các nghệ nhân đúc đồng nổi tiếng của phường Đúc, TP. Huế cẩn tác. Tiếp theo đền thờ Huyền Trân là đền thờ vua Trần Nhân Tông, phụ hoàng của Công chúa Huyền Trân, là vị vua anh minh, có công lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, là vị Tổ của Thiền phái Trúc Lâm. Ở đây có bức tượng thờ vua Trần Nhân Tông bằng đồng đỏ nguyên chất, cao 3m, nặng 2 tấn được đúc theo phiên bản lấy từ đền thờ các vua Trần cũng do các nghệ nhân đúc đồng tại phường Đúc Huế thực hiện. Trước ngôi đền uy nghi là đôi rồng chầu đạt kỷ lục dài nhất Việt Nam.

 

Cặp rồng đá trước sân điện thờ Đức vua Trần Nhân Tông đạt kỷ lục dài nhất Việt Nam


Điện thờ Đức vua Trần Nhân Tông


Trong khuôn viên Trung tâm Văn hóa Huyền Trân còn có nhiều công trình kiến trúc lớn nhỏ khác, nổi bật là tháp chuông Hòa Bình cao 7m được dựng trên đỉnh Ngũ Phong với chuông đồng nặng 1,6 tấn cũng do các nghệ nhân phường Đúc thực hiện. Trên đường dẫn lên tháp chuông Hòa Bình, ta còn gặp bức tượng Phật Di Lặc khổng lồ với nụ cười viên mãn thường trực trên môi. Bát nhang trước tượng luôn nghi ngút trầm hương của du khách thập phương kính cẩn dâng với nguyện ước vạn sự cát tường như ý…

 

Tháp chuông Hòa Bình

 

Tự tay cầm dùi đánh những tiếng chuông vào chuông Hòa Bình trên đỉnh núi Ngũ Phong, thấy lòng tự nhiên thanh thản. Ngồi nói chuyện với cụ già canh giữ tháp chuông, càng thấy nơi đây bình yên đến lạ. Giữa ngàn thông reo, nhìn về phía Nam, dãy Bạch Mã ẩn mình trong mây trời và sương núi, uy nghi nhưng cũng có chút gì thân thương lắm. Quay lại đằng sau lưng, phóng tầm mắt ra xa, núi Ngự vẫn làm nhiệm vụ là bức bình phong bảo vệ thành phố Huế. Cầu mong sao những tiếng chuông Hòa bình nơi đây vang lên sẽ mang lại niềm hạnh phúc, yên bình cho khắp năm châu bốn bể. 

______________

 

Nguyễn Thành Giang (Lao Động)

Nguồn: www.giacngo.vn

TINH THẦN “VÔ NGÃ VỊ THA” TRONG VĂN HỌC PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Một chân lý hiển nhiên đã được kiểm chứng thực nghiệm là ai đang đi trên lộ trình hướng đến “Vô ngã” thì người đó sẽ dần đạt đến cảnh giới hạnh phúc, an vui và giải thoát. Ngược lại, ai đang đi trên con đường hướng đến “Chấp ngã” ích kỷ thì chắc chắn rằng người ấy lún dần vào hố sâu nguy hiểm của sự khổ đau triền miên bất tận.

 

 

Vô ngã là một phần rất quan trọng trong giáo nghĩa cơ bản của Phật giáo, là một trong Tam pháp ấn (Vô thường, Vô ngã, Niết-bàn); Vô ngã quán cũng gọi Giới phân biệt quán là pháp quán tưởng thân người do sáu thứ: đất, nước, gió, lửa, không, thức giả hợp thành, không phải thật có để xả bỏ ngã chấp thuộc Ngũ đình tâm quán (Bất tịnh, Từ bi, Duyên khởi, Giới phân biệt, Sổ tức). Hiểu sâu và thực hành đúng triết lý Vô ngã là con đường tất yếu đưa chúng ta vượt qua biển khổ sông mê đến bến bờ an lạc, hạnh phúc.

 

“Vô ngã nghĩa là không có cái ta chắc thật. Ngã là vĩnh viễn bất biến (thường), tồn tại độc lập, sở hữu chủ trung tâm (chủ), có năng lực chi phối, là sự thật có của linh hồn hoặc bản thể. Chủ trương tất cả sự tồn tại không có cái Ngã như thế mà nói Vô Ngã, gọi là Chư pháp vô ngã”1.

 

Thông thường Vô ngã được quán xét dưới hai góc độ:

 

– Nhân vô ngã: Cũng gọi “ngã không” là tất cả chúng sinh do ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng hành, thức: là năm yếu tố cấu thành thân và tâm trong sự sinh tồn của phàm phu) giả hòa hợp mà thành, không có chủ tể sinh mạng nào khác.

 

– Pháp vô ngã: Cũng gọi “pháp không” là tất cả vạn pháp sinh ra đều do nhân duyên hợp thành, và diệt đi khi nhân duyên tan vỡ. Sự tồn tại này xưa nay không có bản tính (tự tính) độc lập.

 

Bài kệ sau đây trong kinh Tạp A-hàm diễn rõ nghĩa này: “Quán sắc như tu mạt,

 

Thọ như thủy thượng bào, Tưởng như dương thời diệm, Chư hành như ba tiêu,Chư thức pháp vô ngã”.

 

Tạm dịch:

 

Quán sắc như bọt nổi, Thọ như bong bóng nước, Tưởng khác nào sóng nắng, Các hành như cây chuối, Các thức vốn vô ngã.

 

Nói đơn giản, Vô ngã là không chấp ngã, không chấp vào cái ta và cái của ta. Vô ngã là giải thoát, không mang ý nghĩa xóa bỏ, phủ nhận sự tồn tại của con người; không mang ý nghĩa phi nhân bản, phi giá trị như có người đã nói, mà chính là giải thoát con người ra khỏi ngục tù đau khổ của sự cố chấp, là giải phóng con người với nghĩa nhân văn cao nhất. Giải phóng con người ra khỏi mọi sự thúc phược do ảnh hưởng, tác động theo chiều hướng nghịch của ngoại cảnh, hướng tới con người thật tự do tự tại với cái nhìn đạt quan, lượng giải và từ bi đối với mọi chúng sinh.

 

 

Chỉ có thật sự tu tập và quán chiếu pháp vô ngã, đạt đến cảnh giới Vô ngã thâm sâu, thì mới có thể thực hành hạnh Vị tha (vì mọi người, vì chúng sinh) một cách chân chính và trọn vẹn nhất. Bởi vì, nếu còn chấp ngã, thì chắc chắn sẽ còn ích kỷ, tư lợi cá nhân, là Vị ngã (vì bản thân mình), không thể là Vị tha được. Mức độ dính mắc vào “cái ta” và “cái của ta” càng lớn thì không bao giờ hành động, suy nghĩ của họ mà vì người khác được. Tinh thần và giá trị vô biên của tinh thần Vô ngã vị tha đã được ông cha ta minh chứng một cách sinh động trong lịch sử Phật giáo nói chung, lịch sử văn học Phật giáo nói riêng.

 

Hình ảnh con người “Vô ngã vị tha” thể hiện rõ trong lời khuyên của vị vua Phật tử Lý Nhân Tông với Mãn Giác thiền sư: “Chí nhân thị hiện, tất vụ tế sinh, vô hạnh bất cụ, vô sự bất tu, phi duy định tuệ chi lực, diệc hữu tán dương chi công, thả kính nhậm chi”. (Bậc đại nhân sinh ra đời tất phải tận lực cứu giúp chúng sinh, không hạnh nào không đủ, không việc gì không làm, chẳng những đắc lực về thiền định, trí tuệ, lại có công giúp ích nước nhà)2. Lý Nhân Tông bộc bạch với Mãn Giác thiền sư, cũng là tự nhắc mình luôn nhớ bổn phận và trách nhiệm cứu giúp chúng sinh, siêng tu định tuệ, hộ quốc an dân.

 

Giải phóng bản thân và mọi người ra khỏi khổ đau do mê lầm và chấp trước, đạt tới chân như trong sáng thuần khiết vô biên là tâm nguyện của vua Lý Thánh Tông (Lý Phật Mã):

 

Bát-nhã chân vô tông,
Nhân không Ngã diệc không

 

(Bát-nhã thật Vô tông,
Người không, ta cũng không).

 

Khi thấu rõ tự tính Bát-nhã ở Phật và chúng sinh không khác; ở Phật quá khứ, Phật hiện tại và Phật vị lai như nhau thì mới đạt được “Người là không, mà ta cũng là không” tức là vượt ra khỏi sự trói buộc của Ngã chấp và Pháp chấp.

 

Tinh thần Vô ngã vị tha thể hiện trong Phàm thánh bất dị của Tuệ Trung thượng sĩ:

 

“ Thân tùng vô tướng bản lai không, Huyễn hóa phân sai thành nhị kiến. Ngã nhân tự lộ diệc tự sương,

Phàm thánh như lôi diệc như điện. Công danh phú quý đẳng phù vân, Thân thể quang âm nhược phi tiễn”.

 

(Thân tự vô tướng vốn là không, Hư huyễn lầm chia thành ‘nhị kiến’. Ta, người như móc cũng như sương,

Phàm, thánh như sấm cũng như điện. Công danh, phú quý, mây bồng bềnh, Năm tháng, đời người, tên bay biến)4.

 

Tuệ Trung sống trọn vẹn với con người thật, hiểu rõ lẽ vô thường, không còn kẹt vào nhị kiến (nhân ngã kiến, pháp ngã kiến) sai lầm, tuy ở địa vị vô cùng tôn quý nhưng xem công danh, phú quý như mây nổi, không chút đắm nhiễm.

 

Phải chăng, các vị vua đầu nhà Trần đều ở vào cảnh giới Vô ngã nên mới có thể viết nên những trang vàng chói lọi trong lịch sử dân tộc Đại Việt, mà hầu hết các sử gia đều đánh giá là “thời đại thuần từ nhất trong lịch sử Việt Nam”. Khi Trần Thái Tông muốn bỏ ngôi vua, để vào núi tu hành, thì Quốc sư Viên Chứng khuyên: “Phàm đã là bực nhân quân tất phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tấm lòng thiên hạ làm tấm lòng mình”5. Sự nghiệp và nhân cách cao quý của các vị vua thời thịnh Trần đều lưu dấu ấn lời khuyên của Quốc sư Viên Chứng. Cả cuộc đời làm vua của Trần Thái Tông chính là sự minh chứng xác thực và sinh động nhất cho lời nguyện, ghi trong bài tựa sách Thiền tông chỉ nam: “Tựu nhược dĩ thân vi thiên hạ chi tiên dã” (Lấy thân mình làm người đưa đường cho thiên hạ)6.

 

Tuy ở ngôi nhân chủ, quyền uy tột bực, nhưng họ vẫn sống đơn sơ, đạm bạc, tận lực lo cho dân cho nước, không tham đắm vinh hoa phú quý. Đơn cử như cuộc sống và tấm lòng của Phật hoàng Trần Nhân Tông, Sơ tổ của thiền phái Trúc Lâm thể hiện trong Cư trần lạc đạo phú: “Dứt trừ nhân ngã, thì ra tướng thực kim cương… ăn rau, ăn trái, nghiệp miệng chẳng hiềm thửa đắng cay; Vận giấy, vận sồi, thân căn có ngại chi đen bạc” 7.

 

Chỉ có những bậc đạt đạo, nhận ra tướng thực kim cang, vượt thoát ý niệm phân biệt ta và người thì mới có thể làm được những công nghiệp phi thường như Trần Nhân Tông. Làm vua mà ăn chỉ cần rau trái (ăn chay), miệng không ngại những món đắng cay, mặc thì chỉ mặc vải bố vải sồi, thân thì không quản thân mình dầm sương dãi nắng mà chỉ lo nghĩ cho chúng sinh trăm họ.

 

Có người cho rằng, qua văn chương, con người thế tục lấn át con người Phật giáo trong con người Thiền sư Huyền Quang, vị Tổ thứ ba của thiền phái Trúc Lâm. Có lẽ cảnh giới “tuỳ tục” của ông đã đến mức không còn dấu vết, không còn ranh giới để phân biệt chăng? Tấm lòng từ bi thương người không giới hạn, vượt trên thường tình của ông lộ rõ trong bài thơ trữ tình Ai phù lỗ (Thương người lính giặc bị bắt) là một minh chứng:

 

“Khoáhuyết thư thành dục ký âm,
Cô phi hàn nhạn tái vân thâm.
Kỷ gia sầu đối kim tiêu nguyệt,

 

(Chích máu thành thư muốn gửi lời,
Lẻ loi nhạn lạnh ải mù khơi.
Đêm nay mấy kẻ sầu trăng nhỉ?
Xa cách nhưng lòng chỉ một thôi)8.

 

Lý do mà tác giả thương người lính giặc bị bắt, không chỉ là lòng thương hại thường tình, mà xuất phát từ lòng vô ngã vị tha mang ý nghĩa nhân văn cao nhất trong cách nhìn nhận giá trị đích thực của con người: tác giả và người lính giặc bị bắt tuy ở hai xứ khác nhau, nhưng có một thứ không khác, đó là “Nhất chủng tâm” hay còn gọi là con người thật trong mỗi con người mà bản dịch tiếng Việt chưa thể hiện hết được.

 

Gần cuối thế kỷ XX, Bồ-tát Thích Quảng đã tự thiêu thân mình cúng dường cho Phật pháp và dân tộc làm rung động hàng triệu triệu trái tim của mọi giới trên khắp hoàn vũ là một minh chứng hùng hồn và xác thực cho tinh thần “Vô ngã vị tha” đã và đang tồn tại một cách hiển nhiên và thực tế trong đời sống xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã thành tâm ca ngợi sự hy sinh vĩ đại trong tinh thần “Vô ngã vị tha” của một bậc “Bồ-tát sống” cho Đạo pháp và Dân tộc ngày 20 tháng 4 nhuần năm Quý Mão 1963:

 

“Vị pháp thiêu thân, vạn cổ hùng uy thiên nhật nguyệt Lưu danh bất tử thiên niên chính khí địa sơn hà.” Xin tạm dịch thoát ý:

 

“ Vì Pháp thiêu thân muôn thuở oai hùng trời rực sáng

 

Tóm lại, tinh thần “Vô ngã vị tha” là nét nhân cách độc đáo và xuyên suốt của những con người Phật giáo trong lịch sử văn học Phật giáo Việt Nam, và có lẽ cũng là nét nhân cách mà con người trong xã hội hiện đại cần hướng tới, nhằm mục đích xây dựng một xã hội Chân- Thiện- Mỹ với cuộc sống an vui hạnh phúc thật sự.

 

Chú thích:

 

Thích Minh Cảnh chủ biên (2005), Từ điển Phật học Huệ Quang, tập 7, Nxb Tổng Hợp TP.HCM, trang 6094.Thiền uyển tập anh, bản Vĩnh Thịnh năm thứ 11 (1775), ký hiệu A3144; bản dịch của Ngô ĐứcThọ và Nguyễn Thúy Nga , Nxb Văn Học, 1990, trang 93.

Văn Tân chủ biên (2000), Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 1, Nxb KHXH, trang 239.

Đoàn Thị Thu Vân (1998), Thơ thiền Lý Trần, Nxb Văn Nghệ TP.HCM, trang 226, 228.

Văn Tân chủ biên (2000), Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 1, Nxb KHXH, trang 30.

Nguyễn Huệ Chi chủ biên (1989), Thơ văn Lý Trần, tập 2, quyển thượng, Nxb KHXH, HN, tr 29.

Thích Nhất Hạnh (2009), Trái tim của Trúc Lâm đại sĩ, Nxb Phương Đông, trang 9, 10.

Nguyễn Huệ Chi chủ biên (1989), Thơ văn Lý Trần, tập 2, quyển thượng, Nxb KHXH, HN, trang 692, 693

__________________

Thích Hạnh Tuệ

Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 183 Vu Lan

Nguồn: thuvienhoasen.org

TRẦN NHÂN TÔNG VÀ CHUYẾN VIỄN DU CHIÊM THÀNH NĂM TÂN SỬU(1301(*))

Cuộc đời của Thượng hoàng, Phật hoàng Trần Nhân tông là một chuỗi của sự xuất xử gắn liền việc Đạo với việc Đời và tất cả đều thuận theo qui luật, tức là tùy duyên chứ không hề khiên cưỡng.


Thời gian của Hội thảo giới hạn tới mức tối thiểu, vì vậy tôi chỉ khảo sát riêng một việc thượng hoàng qua thăm Chiêm Thành năm Tân sửu (1301 ).

 

Việc này Đại Việt sử ký toàn thư chỉ ghi vẻn vẹn có 12 chữ: “ Tháng 3, thượng hoàng đi chơi các địa phương, sang Chiêm Thành”. Dưới đó một đoạn lại ghi tiếp: “ Mùa đông tháng 11, thượng hoàng từ Chiêm Thành về”.


Các sử gia không hề cho ta biết nội dung cuộc viếng thăm nước Chămpa của thượng hoàng.


Năm năm sau, tức năm Bính ngọ ( 1306 ), Toàn thư lại chép: “ Mùa hạ, tháng 6, gả công chúa Huyền Trân cho vua nước Chiêm Thành là Chế Mân. Trước đây, thượng hoàng đi chơi các địa phương sang Chiêm Thành, đã trót hứa gả con gái cho. Các văn sĩ trong triều ngoài nội nhiều người mượn điển vua nhà Hán đem Chiêu quân gả cho Hung Nô làm thơ bằng quốc ngữ để chê cười.”


Việc này ta có thể lấy thêm một thông tin nữa từ Trần Chí Chính, theo khảo sát của học giả Lê Mạnh Thát trong lời đề từ bức tranh “Trúc lâm đại sĩ xuất sơn đồ”, Trần Chí Chính viết: “Có lúc ngài viễn du hóa độ cho các nước lân bang, phía nam đến tận Chiêm Thành, đã từng khất thực ở trong thành. Vua nước Chiêm Thành biết được điều đó, hết sức kính trọng thỉnh mời, dâng cúng trai lễ, sắp sẵn thuyền bè nghi trượng, thân hành tiễn ngài về nước và đem hai châu làm lễ dâng cho ngài. Ấy là


Thần Châu, Hóa châu nay vậy”[1].


Hai đoạn văn mà Đại việt sử ký toàn thư ghi vào năm Tân sửu ( 1301) và năm Bính ngọ ( 1306) cùng với lời đề từ bức tranh “ Trúc lâm đại sĩ xuất sơn đồ” của Trần Chí Chính cho ta một thông tin rằng việc thượng hoàng Trần Nhân tông qua thăm Chiêm Thành chỉ là chuyện ngẫu nhiên, và việc vua Chiêm là Chế Mân dâng miền đất hai châu của mình cho Đại việt cũng là một việc tùy hứng, khiến ta có cảm giác sự biếu tặng lãnh thổ này cũng bình thường như các món đồ khác.


Tôi không tin những điều đã chép ấy là sự thật lịch sử, mà tôi ngờ rằng các nhà chép sử cố ý làm mờ nhòe sự thật để giảm bớt tầm quan trọng của sự việc vì một lý do tế nhị nào đấy. Tuy nhiên trong hơn 700 năm qua vấn đề này đã không được hậu thế lý giải cho minh bạch, khiến đời sau cứ tin đó là sự thật lịch sử.


Tôi thật sự không tin vào sự ghi chép và lý giải mù mờ đó của các sử gia.


Sự thật cuộc viếng thăm vương quốc Chămpa của thượng hoàng Trần Nhân tông không phải là sự ngẫu nhiên “ đi chơi các địa phương” rồi tiện thể “sang Chiêm Thành”.


Ta biết tháng 3 năm Tân sửu (1301) thượng hoàng Trần Nhân tông sang viếng thăm Chiêm Thành thì trước đó toàn thư chép : “Tháng 2 nước Chiêm Thành sang cống”.


Chính đoàn cống sứ của Chiêm Thành sang là thương thảo một vấn đề gì nghiêm trọng lắm, có quan hệ đến hai nước Việt – Chăm. Đương nhiên đây là vấn đề cực kỳ hệ trọng mà quan gia tức vua Trần Anh tông và triều đình không giải quyết được, nên thượng hoàng phải tự mình đảm nhiệm. Nên biết, đây không phải là việc thăm viếng bình thường, càng không phải ngài đi truyền giáo. Đây hẳn là một vấn đề hết sức nhạy cảm và cả sự tế nhị nữa nên Đại Việt mới phải xuất tướng.


Để lý giải việc xuất tướng này, ta trở lại tình hình nước Đại Việt sau chiến thắng đế quốc Nguyên năm Mậu tí (1288).


Khi Thoát Hoan dẫn đoàn quân thất trận mười phần chết mất 5, 6 trở về và run sợ ra mắt vua cha ở Yên Kinh (Bắc Kinh) xin chịu tội.


Hốt Tất Liệt đùng đùng nổi giận, trị tội tên nghịch tử đã đem sự ô nhục trở về. Y đầy Thoát Hoan ra Dương châu, và cấm suốt đời không được gặp mặt. Còn Áo Lỗ Xích viên phó tướng của Thoát Hoan, bị đuổi ra Giang Tây.


Hốt Tất Liệt một mặt sai lập ngay Hồ Quảng An Nam hành tỉnh  tức bộ chỉ huy quân sự đánh Đại Việt), tập hợp binh lực chuẩn bị Nam chinh, mặt khác y xuống chiếu đổ hết trách nhiệm về cuộc chiến tranh vừa qua cho triều đình Đại Việt.


Vua Trần Nhân tông biết nhà Nguyên khó có thể tiến hành xâm lược nước ta trong ngày một ngày hai, mặc dù Hốt Tất Liệt hết sức cay cú vì mất thể diện. Bởi vì nội bộ người Nguyên đang gặp khó do nhiều tỉnh mất mùa, dân bị đói không huy động được lương thực, lại nhiều nơi dân Trung Hoa không chịu được sự cai trị hà khắc của người Mông Cổ đã nổi dậy đánh đuổi bọn quan lại. Điều băn khoăn nhất của Hốt Tất Liệt là hầu hết các danh tướng của nhà Nguyên, đều đổ dồn vào hai cuộc xâm lược Đại Việt tại các năm Ất dậu (1285) và Mậu tí ( 1288 ), tất cả đều trở thành bại tướng, nhưng hầu hết các danh tướng hàng đầu đều bị giết hoặc bị bắt như Lý hằng, Lý quán, Toa Đô, Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ Cơ v.v… Vậy đánh Đại Việt lúc này lấy đâu ra tướng soái chỉ huy chiến trận. Nên một mặt y vừa tập trung lực lượng vừa dùng sức ép bang giao với triều đình Đại Việt.


Biết khó khăn của giặc, Trần Nhân tông hết sức tỉnh táo đối phó trong cuộc chiến ngoại giao này. Một mặt nhà vua cho khôi phục nền sản xuất đã bị giặc tàn phá trong chiến tranh, chăm lo sức dân, xem xét tha hẳn hoặc tha một phần tô thuế cho dân tùy theo sự thiệt hại nhiều hay ít của từng vùng. Mặt khác, đích thân Trần Nhân tông chỉ huy việc đối ngoại với nhà Nguyên, các văn thư ngoại giao gửi Hốt Tất Liệt do chính nhà vua thủ bút.


Ta nhớ trong lá thư gửi Hốt Tất Liệt, vua Trần Nhân tông đã khéo léo nói rõ ai là kẻ gây chiến, và luôn thể ngài kịch liệt lên án tội ác chiến tranh của kẻ thù. Thư viết: “ Năm Chí nguyên thứ 22 (1285) Bình chương A-lí-hải-nha tham công ngoài biên giới, làm trái thánh chỉ. Do thế tiểu quốc sinh linh một phương phải chịu lầm than… Mùa đông năm Chí nguyên thứ 24 (1287) lại thấy đại quân thủy bộ đều tiến sang, thiêu đốt chùa chiền khắp nước, đào bới mồ mả tổ tiên, bắt giết người dân già trẻ, đập phá sản nghiệp trăm họ, các hành động tàn nhẫn phá phách không gì là không làm…


Tham chính Ô Mã Nhi lâu năm nắm binh thuyền riêng ra ngoài biển, bắt hết biên dân vùng biển, lớn thì giết chết, nhỏ thì bắt đi, cho đến cả treo trói xẻ mổ, mình đầu khắp chốn. Trăm họ bị bức tới chỗ chết, bèn dấy lên cái họa con thú chân tường”.


Lời lẽ của nhà vua thật sự khôn ngoan, kín kẽ, đanh thép và cả sự tế nhị không làm mất mặt kẻ thù hơn nữa. Theo dõi sát tình hình bên Đại Đô, vua Trần Nhân tông thừa biết Hốt-tất-liệt lúc này chẳng khác chi một con sư tử già chỉ nằm tại chỗ mà gầm rống chứ móng vuốt đều đã long, rụng; mặc dù y đã lập xong bộ chỉ huy và đã bàn bạc với tên bán nước Trần Ích Tắc vẫn trú ngụ tại Ngạc Châu.


Tuy vậy, nhà vua vẫn không loại bỏ khả năng giặc Bắc lại sang.


Đột nhiên tháng Giêng năm Quí tị (1293) Hốt Tất Liệt lăn ra chết, con trai y lên ngôi, hiệu là Nguyên Thành tổ. Thấy tình thế không thuận cho một cuộc chiến tranh nữa, Nguyên Thành tổ ra lệnh bãi binh.


Thời cơ đã đến, Trần Nhân tông nhằm ngày đại cát, tức 9 tháng 3 năm Quí tị (1293 ) nhường ngôi cho con là thái tử Thuyển và lên làm thái thượng hoàng.


Mười tháng sau khi nhường ngôi cho con, nhằm tháng 7 năm Giáp ngọ ( 1294 ), thượng hoàng Trần Nhân tông du ngoạn tới hành cung Vũ Lâm, và tại đây cái duyên đã khởi, thượng hoàng quyết định xuất gia tu Phật ở hành cung này. Sau đó ít bữa, nhà vua cho dựng một nếp chùa ngay phía trước hành cung để ngài tu tập.


Rõ ràng là với Trần Nhân tông việc đời hay việc đạo, tức là việc xuất xử đều tùy duyên. Việc nào túc duyên ắt nó tròn đầy. Vì vậy sau này trong bài phú “Cư trần lạc đạo”, mở đầu ngài viết: ‘ Cư trần lạc đạo thả tùy duyên”. Thế nhưng tất cả cái “duyên” ấy của ngài đều thuộc về lợi ích quốc gia và con đường tinh tấn của chính pháp.


Kỳ lạ thay, đúng một tháng sau khi ngài quyết định xuất gia, ngài lại cầm quân chinh phạt Ai Lao, vì trong khi giặc Nguyên xâm lược ta ở mặt đông, thì mặt tây Ai Lao cho quân sang cướp phá, giết tróc nhân dân ta. Việc này Toàn thư chép: ‘Tháng 8 năm Giáp ngọ (1294), thượng hoàng thân chinh Ai Lao, bắt sống người và súc vật không kể xiết”.


Và đến ngày mùng 1 tháng 2 năm sau, tức năm Ất mùi ( 1295 ) phái bộ nhà Nguyên là Lý Hành và Tiêu Thái Đăng qua báo về việc vua Thành tông nhà Nguyên lên ngôi và đã cho bãi binh, thượng hoàng Trần Nhân tông đích thân tiếp sứ và chỉ huy mọi việc giao dịch với sứ cho thật chu đáo, đồng thời tỏ rõ khí phách Đại Việt, đè bẹp ý chí xâm lược và thói quen ngạo mạn của kẻ thù. Khi sứ về, thư phúc đáp gửi Nguyên Thành tông, vẫn do thượng hoàng Trần Nhân tông thủ bút. Ngài còn cử viên ngoại lang Trần Khắc Dụng và Phạm Thảo đem thư của ngài sang Đại Đô xin Kinh Đại Tạng nữa. Đó là nghệ thuật bang giao thượng thừa của ngài khiến cho đối phương hạ nhiệt, và gây dựng mối rường cho sự giao hảo về sau.


Trong mấy năm tiếp không có việc gì lớn xảy ra, cho đến tháng 8 năm Kỷ hợi ( 1299 ) thượng hoàng Trần Nhân tông lên núi Yên Tử tu khổ hạnh. Và tới tháng 2 năm Tân sửu (1301) có phái đoàn của Chiêm Thành sang cống, liền đó tháng 3, thượng hoàng sang Chiêm tới tháng 11 mới về.


Xét ra trong nước có việc gì cực lớn, cực trọng yếu thượng hoàng Nhân tông mới đứng ra đảm trách, thế mà giữa thời bình, có gì hệ trọng tới mức phải đích thân thượng hoàng sang Chiêm. Và sang làm gì với khoảng thời gian dài dằng dặc tới cả 9 tháng?


Ta có thể lý giải việc này bằng một giả định tựa như hai nước đang lâm vào một tình thế căng thẳng có thể dẫn tới đối đầu. Phải chăng sau khi đại thắng hai cuộc xâm lược của nhà Nguyên, uy thế của Đại Việt lên rất cao, và với tiềm lực quân sự khiến các nước phương nam rất kiêng dè, nể trọng. Hơn nữa đích thân Nguyên Thành tông phải phái sứ đoàn sang Đại Việt tuyên cáo việc bãi binh, từ đó các tướng lĩnh gây sức ép với triều đình phải tiến về phương nam, để mở rộng lãnh thổ. Tin tức này lọt tới Chămpa, nên triều đình Chămpa cử sứ sang triều cống Đại Việt đồng thời thương thảo khá gay cấn.


Mở mang bờ cõi vào thời điểm lịch sử lúc ấy là hợp lý, Trần Nhân tông không thể không biết đến nhu cầu của quốc gia và nguyện vọng của tướng lĩnh, nhưng thực tình nhà vua không muốn cho nhân dân hai nước phải đổ máu. Vả lại sự ủng hộ lẫn nhau, kề vai sát cánh cùng chiến đấu giữa Đại Việt và Chămpa để chống kẻ thù chung trong mấy cuộc chiến tranh vừa qua đã gắn kết hai dân tộc lại với nhau. Như cuộc xâm lược của nhà Nguyên vào Chămpa năm Quí mùi (1283), do viên dũng tướng Toa Đô cầm đầu 5 vạn quân hùm sói, tưởng ăn tươi nuốt sống được vương quốc nhỏ bé này. Trước nguy cơ đó, vương quốc Chămpa phải cầu viện Đại Việt. Nhà Trần đã phái hai vạn quân thiện chiến có cả tàu thuyền sang sát cánh cùng quân dân Chămpa chiến đấu chống kẻ thù chung thắng lợi.


Để ngăn chặn tình huống xấu có thể xảy ra bất cứ lúc nào, nên thượng hoàng Trần Nhân tông phải đích thân qua Chiêm Thành.


Lại nói Chế Mân là ai? Đương nhiên ông là vua nước Chămpa, nhưng trong cuộc đối đầu lịch sử với Toa Đô năm Quí mùi, ông là hoàng thái tử Harijit, tổng chỉ huy cuộc kháng chiến kình chống với Toa-đô. Đánh nhau suốt một năm trời, Toa Đô không vào được cửa biển Thị Nại, không bén mảng được tới chân kinh thành Trà Bàn. Harijit đã dùng kế trá hàng suýt bắt được Toa Đô, khiến y phải đóng quân cả năm trời ngoài bãi biển, sau rút về đóng tại vùng giáp ranh với biên giới phía nam của Đại Việt để chờ thời. Chămpa thoát hiểm. Harijit trở thành vị anh hùng và nhà vua lỗi lạc của xứ sở. Một con người kiệt hiệt như thế không dễ gì để cho ai bắt nạt, không dễ gì để cho ai xâm chiếm đất đai của mình. Thế mà ngài Trần Chí Chính lại viết Chế Mân “ thân hành tiễn ngài (Trần Nhân tông) về nước và đem đất hai Châu làm lễ cúng dâng cho ngàiẤy là Thần Châu và Hóa Châu nay vậy”.


Sự việc đâu có dễ dàng như thế. Chín tháng ở Chămpa của thượng hoàng Trần Nhân tông là chín tháng thuyết phục, thương thảo căng thẳng và cả quyết liệt, cuối cùng mới đi tới giải pháp hôn nhân. Và miền đất hai châu dùng làm sính lễ. Như thế có vẻ hợp lý hơn và người Chiêm đỡ bẽ mặt hơn, hai dân tộc tránh được một cuộc chiến tranh, không gieo rắc hận thù cho nhau. Chấp nhận cuộc hôn nhân, chấp nhận cắt đất làm sính lễ, trên thực tế quốc vương Chế Mân phải kìm chế đến cực độ, chấp nhận cuộc hôn nhân cũng có nghĩa là buộc ông phải thừa nhận sức mạnh của Đại Việt.


Rõ ràng cuộc hôn nhân này không phải là nhu cầu của quốc vương Chămpa, bởi đây là giải pháp chính trị, giải pháp tình thế, và là một lối thoát cho cả hai phía. Nếu cần mỹ nhân thì vương quốc Chămpa thiếu gì mỹ nữ. Vả lại vua nước Chămpa đâu còn trẻ nữa, nếu không hơn, ít ra ông cũng bằng tuổi với thượng hoàng Trần Nhân tông. Bởi lẽ năm Quí mùi ( 1283 ) ông đã chỉ huy cuộc kháng chiến chống quân Nguyên xâm lược, đối đầu với Toa Đô, năm ấy vua Nhân tông của Đại Việt mới 25 tuổi.


Đạt được thỏa thuận này, phải nói hai bậc vĩ nhân đều có tầm nhìn xa rộng, đành rằng về phía Chế Mân, ông hết sức đau lòng.


Sự việc đến đây, có thể nói giả định đặt ra ở phần trước là có thể chấp nhận được.


Sự thật việc công chúa Huyền Trân về Chiêm, và việc Chiêm Thành cắt đất cho Đại Việt như thỏa thuận của hai vị quốc vương, không dễ gì đã thực hiện được.


Bằng chứng là sau này đem ra bàn ở Đại Việt cả triều đình không ai chấp nhận trừ Trần Đạo Tái và Đỗ Khắc Chung. Các nho sĩ trong triều ngoài nội, nhiều người còn làm thơ đả kích.


Đối với Chiêm Thành, sự việc chắc còn trắc trở hơn nhiều. Sử không cho ta biết gì thêm, nhưng chỉ riêng việc hai quốc vương đã quyết rồi mà 5 năm sau hôn lễ mới được cử hành. Điều đó chứng tỏ nội bộ Chiêm Thành đã đấu tranh dai dẳng và quyết liệt, cuối cùng sự việc mới thành.


Dẫu sao thì cuộc qua thăm Chiêm Thành 9 tháng của thượng hoàng Trần Nhân tông cũng kết thúc có hậu. Trước hết là tháo gỡ tình hình căng thẳng giữa hai nước, đặt mối quan hệ thân hữu bằng cuộc hôn nhân và loại bỏ được một cuộc chiến tranh (rất có thể) ra khỏi đời sống của hai dân tộc; “Hai châu Ô, Lý vuông ngàn dậm”  vĩnh viễn trở thành đất đai của Đại Việt.


Qua một chuỗi sự việc trên, ta thấy việc đời, việc đạo đối với thượng hoàng Trần Nhân tông đều là việc nước cả, nên lúc nào cần vai gì thì ngài thủ vai đó, tựa như các đấng Bồ Tát cứu thế, khi thấy thế gian cần gì thì ngài thị hiện đúng cương vị đó để cứu vớt. Qua các sự việc kể trên cũng chứng minh một cách sinh động trong lịch sử dựng nước và giữ nước, Phật giáo đã đồng hành cùng dân tộc là vậy đó.


Việc sáp nhập hai châu Ô, Lý vào cương thổ Đại Việt là thắng lợi ngoại giao cực kỳ vĩ đại của thượng hoàng Trần Nhân tông, chứng tỏ người có con mắt nhìn thấu nghìn tầm. Vì rằng từ đây mở ra con đường nam tiến của dân tộc vô cùng thuận lợi. Nên biết rằng tới cuối đời Trần, Hồ thì cương giới của Đại Việt đã mở tới Thăng Hoa, Tư Nghĩa (Quảng Nam, Quảng Ngãi). Và chỉ hơn nửa thế kỷ từ sau Hồ Quý Ly, thì Lê Thánh tông đã cắm bia cương giới trên đỉnh núi Đá Bia tận Phú Yên. Phần còn lại thuộc về các chúa Nguyễn và triều Nguyễn.


Sự nghiệp vào Chiêm năm Tân sửu (1301) của thượng hoàng Trần Nhân tông rực rỡ là vậy, mà các sử gia chỉ chép được vài dòng hết sức lạnh lùng và vô cảm, tựa như người thiểu năng trí tuệ. Tiếc thay suốt mấy trăm năm sau đó, các nhà làm sử nhận thức sự việc này cũng chẳng khác mấy người khiếm thính, khiếm thị, khiến hậu thế mang tội vô ơn đối với tiền nhân.


Tổ tiên đã để lại cho dân tộc ta cả một kho tàng kinh nghiệm đầy trí tuệ, nếu biết khai thác kinh nghiệm được tích lũy từ lịch sử, dân tộc ta sẽ có trí khôn và sức mạnh gấp nhiều lần. Khốn thay, cái sự nhỡn tiền cho ta thấy bài học lớn nhất của lịch sử là người ta đã không chịu rút ra từ lịch sử những bài học

 

______________


Hoàng Quốc Hải

Nguồn: www.vanhoanghean.com.vn

 

THUẬN LÒNG DÂN NÊN GIỮ ĐƯỢC NƯỚC; TRÁI LÒNG DÂN, TRÁI ĐẠO LÝ THÌ ĐỂ MẤT NƯỚC...

TNC: Cha ông ta đã làm nên lịch sử hào hùng và để lại bao bài học đáng giá. Hậu thế nếu ngạo mạn coi thường những bài học của cha ông thì chắc chắn chuốc lấy thất bại. Chúng tôi trân trọng giới thiệu bài trả lời Tạp chí Văn hóa Nghệ An của nhà văn Hoàng Quốc Hải về vấn đề này...

Trò chuyện với nhà văn Hoàng Quốc Hải

LTS: Lịch sử sẽ được hậu thế nhìn nhận như thế nào? Câu hỏi đó luôn tồn tại trong đời sống xã hội vì lịch sử là điểm bắt đầu của hiện tại và tương lai. Một hiện tượng, sự kiện, nhân vật…trong lịch sử sẽ có những những nhận diện và nhận định khác nhau tùy vào cách tiếp cận, cách nhìn khác nhau. Sử học, là đương nhiên, nhưng văn học cũng có thể lấy lịch sử làm đối tượng nghiên cứu, phản ánh...Lịch sử có thể là cảm hứng sáng tạo cho nhà văn. Hai phương pháp tiếp cận, nghiên cứu, sáng tác khác nhau nhưng sử học và văn học luôn có sự giao thoa, ảnh hưởng lẫn nhau, nhưng/và luôn có các sản phẩm khác nhau. Tiểu thuyết lịch sử là một điểm gặp thú vị nhất giữa sử học và văn học. Tiểu thuyết lịch sử ở Việt Nam thời gian gần đây đang nổi lên bởi các tác phẩm khá bề thế và đi theo đó đang có những đánh giá, bình luận khác về phương pháp sáng tác, về sự thật/chân dung lịch sử trong các tác phẩm. Để tiếp cận vấn đề này, VHNA đã có cuộc trao đổi với nhà văn Hoàng Quốc Hải, tác giả của hai bộ tiểu thuyết Bão táp triều Trần và Tám đời vua Lý đang được dư luận quan tâm. Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

PV: Thưa nhà văn, chúng tôi được biết ông vào nghề văn từ lâu, thế nhưng tai sao đến cách đây 20 năm ông mới chọn lịch sử làm đề tài sáng tác của mình?

Nhà văn Hoàng Quốc Hải (NV. HQH): Có nhẽ tôi chớm nhận ra xã hội có khuynh hướng lãng quên quá khứ. Bởi chương trình giảng dạy cũng như thi cử trong hệ thống giáo dục của nước ta từ trước thập niên 60 của thế kỷ 20, thường chỉ chú trọng đến giai đoạn lịch sử cận đại, lịch sử cách mạng. Quan sát hệ thống các nhà bảo tàng cũng đủ rõ.

Bảo tàng lịch sử thì quy mô nhỏ, hoạt động rời rạc như bị chìm khuất, còn bảo tàng cách mạng từ Trung ương xuống các tỉnh ngày một phình to và cứ xem cách họ trưng bày hiện vật, cách hướng dẫn khách tham quan, khiến ta có cảm giác lịch sử dân tộc đã được đồng hóa với lịch sử cách mạng. Mặc dù lịch sử cách mạng cũng chiếm phần quan trọng trong lịch sử dân tộc, song nó chỉ là một phân kỳ ngắn ngủi so với tiến trình lịch sử. Việc làm đó không chỉ là việc làm phản khoa học lịch sử, mà nó còn tiềm ẩn nguy cơ suy thoái về mặt đạo lý, chắc sẽ phải gánh chịu hậu quả lâu dài.

Giật mình hơn nữa, khi thấy nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đã tiên lượng và cảnh báo từ thập niên 40 của thế kỷ 20 rằng: “Người không biết lịch sử nước mình tựa như một con trâu đi cày ruộng, nó cày bất cứ thửa ruộng nào cũng được, và cày với người chủ nào cũng được”.

Vì những lý do trên mà tôi tìm về lịch sử, và lấy đề tài sáng tác từ trong lịch sử của dân tộc.

PV: Và tại sao ông lại chọn thời đại Lý – Trần làm bối cảnh lịch sử cho các sáng tạo văn học của mình? Phải chăng ở thời đại đó sự nghiệt ngã của lịch sử đã tạo nên trí tuệ, văn hóa và bản lĩnh Việt mà các thời kì lịch sử trước đó chưa làm nên?

NV. HQH: Sở dĩ tôi chọn hai thời đại Lý - Trần, là bởi hai thời đại đó để lại cho hậu thế nhiều bài học mang tính kinh điển trong công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.

Và chính trong câu hỏi của ông cũng đã có hàm ý trả lời. Rõ ràng là trong khoảng đầu thế kỷ 11 và nửa cuối thế kỷ 13, lịch sử đặt dân tộc ta đứng trước nguy cơ tồn tại hay không tồn tại.

Nhà Lý tiếp thu một gia tài xộc xệch và nghèo xác cả từ văn hóa đến vật chất, do bạo chúa Lê Long Đĩnh để lại. Nếu tầm nhìn hạn hẹp và tư kỷ, Lý Công Uẩn bước tiếp vết chân của Lê Long Đĩnh, chắc chắn cả dân tộc đã bị bức tử, cả quốc gia đã bị hủy hoại.

May thay, vương triều nhà Lý được tạo dựng bởi trí tuệ của giới đại trí thức Phật giáo. Không những họ ý thức mà còn tỉnh thức trước nguy cơ sụp đổ, nếu không chịu lột xác, tức là không triệt để cách tân nền chính trị đã bị tha hóa dưới triều Lê Long Đĩnh. Vì vậy họ bắt tay ngay vào công cuộc cải cách đất nước một cách hết sức có trí tuệ, có bài bản; lấy bình đẳng, từ bi, bác ái làm động lực xây dựng xã hội, trên cơ sở “Tam giáo đồng nguyên” được triển khai bởi cương lĩnh: xã hội Nho, tâm linh Phật, thiên nhiên Đạo.

Từ đó nhà Lý đưa nước ta trở thành một nước cường thịnh trong khu vực, đặt dấu ấn vững vàng cho nền văn hiến Đại Việt, mở đầu cho một giai đoạn phát triển rực rỡ khá dài. Nhà Trần khi được nước, không những họ không phủ định những thành tựu chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của nhà Lý mà còn tiếp nhận và phát triển lên mức cao hơn.

Ví dụ về tôn giáo, vẫn lấy đạo Phật làm quốc đạo. Về giáo dục, hệ thống trường học được mở mang nhiều hơn. Các khoa thi tiến sĩ để chọn người có học thức, người tài giỏi bổ dụng cho bộ máy cai trị ngày một nhiều thêm. Về quân sự, vẫn dùng chế độ “Ngụ binh ư nông” của nhà Lý, đồng thời khuyến khích các vương, hầu có điền trang, thái ấp lập ra các đội dân binh và tinh binh. Khi thường, họ vẫn ở nơi hương ấp làm ruộng, tham gia việc giữ gìn an ninh trật tự tại địa phương, khi nước có giặc, các đội dân binh này là nguồn bổ sung phong phú cho quân thường trực của triều đình.

Sau cuộc xâm lăng mở đầu của Hốt - Tất - Liệt mang tính thăm dò Đại Việt vào cuối năm Đinh Tỵ (1257), nhà Trần dự liệu đất nước ta đã nằm trong tầm ngắm của người Mông Cổ.

Nhà Trần ý thức được sức mạnh của đế quốc Mông Cổ, nên sớm có chủ trương củng cố đất nước để tạo sức mạnh kháng giặc từ trong lòng dân. Nhà nước chăm lo đời sống cụ thể cho mỗi phận người.

Về nông nghiệp, nếu như trước đây nhà Lý chỉ đắp đê quai vụ (đỉnh nhĩ) để bảo vệ kinh thành và một số vùng phụ cận Thăng Long, thì nhà Trần lo đắp ngăn lũ từ nguồn tới biển, lại đặt chức Hà đê chánh phó sứ để giám sát đê điều. Tiếp đó là chia thêm ruộng quốc điền cho dân, giải phóng bớt nông nô, biến họ từ người nô lệ thành người tự do, người có sản nghiệp bằng cách bán ruộng công điền cho họ, cứ mỗi diện (mẫu) là 5 quan, ai thiếu tiền cho mua chịu. Cuộc cải cách này là bước quan trọng để cố kết lòng dân.

Khi thấy nhà Tống có nguy cơ bị quân Mông Cổ tiêu diệt hoàn toàn, nhà Trần ráo riết chuẩn bị lực lượng giữ nước bằng cách huy động triệt để sức mạnh vật chất và trí tuệ của toàn dân tộc. Dùng người tài không phân biệt nguồn gốc xuất thân. Đặc biệt, triều đình đặt niềm tin vào lực lượng trẻ. Mở đầu là việc Hoàng thái tử Trần Khẩm mới 20 tuổi được vua cha (Trần Thánh Tông) trao truyền ngôi báu. Hàng loạt các tướng trẻ xuất hiện. Phạm Ngũ Lão chàng trai nông dân mới 18 tuổi được Trần Hưng Đạo dùng làm tướng. Yết Kiêu, Dã Tượng chỉ là gia nô cũng trở thành tướng giỏi…

Thật vậy, chỉ bảy năm sau khi lên ngôi, Trần Nhân Tông đã lãnh đạo toàn quân, toàn dân làm hai cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Nguyên vào lúc mà mệnh nước có thể ví như vật nặng ngàn cân treo trên đầu một sợi tóc.

Ấy vậy mà vị vua trẻ mới 27 tuổi ấy, cùng với các tướng trẻ hợp sức với cả dân tộc, muôn người như một đã đánh bại hai lần liên tiếp đội quân khổng lồ đông tới 50 vạn tên phải thất bại nhục nhã. Và đích thân Nguyên Thánh tổ phải cử sứ sang Đại Việt tuyên cáo bãi binh, cũng có nghĩa là giặc phải công nhận nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của nước ta.

Quả thật là hai thời đại Lý - Trần, triều đình đã triệt để đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên hàng đầu. Họ đặt trọn vẹn niềm tin vào dân. Hơn nữa họ còn giáo dục cho công dân của mình biết liêm sỉ, biết tự trọng, có như vậy mới giữ được quốc sỉ. Thử tưởng tượng, một quốc gia để mất quốc sỉ thì còn gì để nói nữa. Hơn hết, những người lãnh đạo đất nước vừa sáng suốt, vừa độ lượng, khoan dung. Ví như việc tầy trời là một số quan lại trong ngoài triều, khi đất nước lâm nguy, đã hèn nhát có thư xin hàng hoặc ước hàng với giặc. Thoát - hoan lưu giữ đầy một tráp, khi tháo chạy khỏi Thăng Long, y không kịp mang theo.

   
Ví như trong lĩnh vực tôn giáo, nhà Lý dựa hẳn vào Phật giáo, dùng lực lượng tu sĩ làm đội quân xung kích trên mặt trận văn hóa trong hệ thống chùa làng. Ngoài nhiệm vụ chính của một thầy chùa là hoằng pháp, hướng dẫn người dân tu tập để tiến hóa về mặt tâm linh, thì vị sư ấy còn có nhiệm vụ kiêm chức một thầy giáo dạy chữ cho đám trẻ nhỏ trong làng, ông là người vừa khai tâm, khai trí và khai minh cho dân chúng. Vị tăng đó còn kiêm luôn cả chức năng của người thầy thuốc, là chữa trị bệnh tật.  
   

Dọn dẹp cung điện, một viên quan nội hầu phát hiện ra, đem dâng vua xem, để trị tội những kẻ bất trung. Nhà vua không những không xem mà còn nói để kẻ có tội yên lòng: “Trong lúc thế giặc đang cường, đến ta còn nao núng, nói chi kẻ khác”. Rồi ông sai đốt đi.

Một thời đại như thế với những vị vua anh minh đức độ như thế, quả thật là sự hấp dẫn vô cùng cho sức sáng tạo văn chương. Vì thế mà tôi đã để hết tâm trí và sức lực làm nên hai bộ tiểu thuyết lịch sử “Tám triều vua Lý” và “Bão táp triều Trần”.

PV: Văn hóa Lý – Trần là một thời đại phát triển rực rỡ của văn hóa Việt/Đại Việt. Điều đó xưa nay đã có nhiều người khẳng định. Vậy theo ông, với cảm nhận của một nhà văn, cái tinh quý và độc đáo nhất của văn hóa Lý – Trần là gì?

NV. HQH: Theo tôi, cái độc đáo nhất, tinh túy nhất của văn hóa Lý - Trần là một nền văn hóa nhân bản, hướng thượng. Và mục tiêu cao cả nhất của nền văn hóa ấy đều xuất phát từ con người và vì con người.

PV:Tất nhiên là trong lịch sử sẽ có sự bồi đắp hoặc loại bỏ những tính cách, thậm chí là những yếu tố có tính chất như là phẩm chất của một cộng đồng nhằm hoàn thiện và thích ứng với các điều kiện chính trị - xã hội – kinh tế mới của thời đại, nhưng những cái gì thuộc về giá trị, phẩm chất căn cốt thì không thể thay chuyển được. Cộng đồng người Việt của chúng ta đã có quá trình hình thành từ hàng ngàn, hàng vạn năm trước, nhưng chúng tôi có cảm giác là các phẩm chất Việt tiêu biểu nhất đã được hoàn thiện trong thời đại Lý - Trần. Ông nghĩ sao về điều này? Và ông có thể giúp bổ sung cho chúng tôi các hiểu biết mới về vấn đề này?

NV. HQH: Tôi đồng ý với ông, các phẩm chất tiêu biểu của công dân Đại Việt hầu như đã được hoàn thiện trong các thời đại Lý - Trần. Và dường như đã có sự hao mòn về phẩm chất Việt từ các thời đại tiếp nối. Bởi lẽ giai cấp thống trị các thời đại sau đó khá sa sút về phẩm chất văn hóa, nên họ không đủ nội lực để hoàn thiện phẩm chất chính trị, dẫn đến rối nát trong nội bộ và gây ra sự trì bế trong xã hội, thậm chí có thời đại gây bi thảm cho đất nước bằng cuộc nội chiến, đất nước bị chia cắt tới mấy trăm năm, khiến cả dân tộc phải gánh chịu hết bao đau thương và kéo lùi bước tiến tới cả trăm năm so với các dân tộc khác trong khu vực. Tội ác đó lịch sử không thể tha thứ. Tôi nhớ vào khoảng năm 1950, hồi ấy tôi còn nhỏ lắm, khi đọc trên tờ “Thời Mới” in ở Hà Nội, có bài thơ, chỉ đọc một lần đã gây trong tôi ấn tượng sâu sắc. Tôi đọc đi đọc lại vài ba lần, nay vẫn còn thuộc nhưng tên tác giả thì không nhớ. Đó là bài Hận Sông Gianh. Tôi xin đọc để chúng ta nghe lại:

Đây sông Gianh đây biên cương thống khổ
Đây sa trường đây nấm mộ trời nam
Đây dòng sông dòng máu Việt còn loang
Đây cổ đô(1) xương tàn xưa chất đống
Sông còn đây hận phân ly nòi giống
Máu còn đây cơn uất hận tương tàn
Và còn đây hồn dân Việt thác oan
Bao thế kỷ chưa tan niềm uất hận
Ôi Việt Nam cùng Việt Nam gây hấn
Muôn đời sau để hận cho dòng sông
Mộng bá vương Trịnh - Nguyễn có còn không
Nhục nội chiến non sông còn in vết
Đây sông Gianh nơi nồi da xáo thịt
Nơi dân Hồng tàn sát giống Lạc Hồng
Nơi máu đào nhuộm đỏ sóng dòng sông
Máu nhơ bẩn muôn đời không rửa sạch


PV: Đó là một dòng sông thơ đã được viết bằng máu của dân tộc Việt Nam, là thành quách thơ được dựng bằng xương cốt của dân tộc Việt Nam, là nỗ đau sâu thẳm của những người Việt Nam còn tâm hồn Việt, tính cách Việt, nhân phẩm Việt... Nếu tôi nhớ không nhầm thì tác giả của bài thơ là Đằng Phương, tức giáo sư Nguyễn Ngọc Huy.


Thưa nhà văn, lịch sử là đối tượng nghiên cứu của sử học đồng thời cũng là đối tượng nghiên cứu, phản ánh của văn học. Theo ông thì cái khác nhau cơ bản về cách tiếp cận lịch sử, như là một đối tượng nghiên cứu, của sử học và văn học là gì?

NV. HQH: Thưa ông, sử học và văn chương là hai lĩnh vực chuyên biệt, sử học nghiên cứu lịch sử theo tư duy lô - gích (logique). Văn chương nghiên cứu lịch sử nhằm giải mã nó bằng tư duy hình tượng.

Đối tượng của sử học là nghiên cứu về các sự kiện. Đối tượng của văn học là nghiên cứu về con người trong tổng hòa xã hội.

PV: Ông quan niệm về tiểu thuyết lịch sử như thế nào? Tư liệu và thông tin lịch sử trong tiểu thuyết lịch sử có độ tin cậy như thế nào? Tôi nghĩ, trong tiểu thuyết lịch sử vẫn phải có hư cấu, nhưng hư cấu như thế nào để không làm méo mó chân dung lịch lịch sử, sự thật lịch sử, ông có thể trao đổi một vài kinh nghiệm?

NV. HQH: Mọi loại hình của tiểu thuyết đều hình thành trên cái nền của hư cấu, tiểu thuyết lịch sử không hề có ngoại lệ.

Vừa qua, Hội đồng lý luận về Văn học - Nghệ thuật Trung ương có cuộc hội thảo bàn về Văn chương và Lịch sử, cũng đề cập đến vấn đề hư cấu, tỷ lệ hư cấu hoặc giải thiêng trong tiểu thuyết lịch sử.

Tôi chắc Hội đồng cũng không thể ra quyết định, ấn định tỉ lệ phần trăm sự thật lịch sử trong tác phẩm văn chương viết về lịch sử, để từ đó lập ra văn bản pháp quy nhằm chế định các tác giả.

Ông hỏi những tư liệu lịch sử và thông tin lịch sử trong tác phẩm văn học viết về lịch sử, có độ tin cậy như thế nào?

Theo tôi, những tư liệu lịch sử và thông tin lịch sử khi còn yên nghỉ trong chính sử, nó thuộc loại nguyên liệu thô. Còn các thông tin trong tác phẩm văn học có độ tin cậy cao hơn, nếu xét trên bình diện tổng thể về quy mô mà nhà văn giải mã lịch sử, chứ không đóng đinh vào các sự kiện chết.

Còn như hư cấu như thế nào, hư cấu tới mức độ nào? Thưa ông, nhà văn phải hư cấu sao cho tác phẩm của mình đạt tới mức chân thực. Vâng, chân thực lịch sử và cả chân thực cuộc sống. Dạ, không ai có thể giới hạn được biên độ hư cấu cũng như khung trời tự do sáng tạo của các nhà văn, trừ khi có ai đó tự nguyện chui đầu vào cái vòng kim cô do giới quyền lực giăng mắc.

Dạ thưa, kinh nghiệm của tôi, nhà văn với thiên chức của nó là tái tạo gương mặt lịch sử, chứ không làm nô lệ cho sự kiện lịch sử.

PV: Ông đã vận dụng phương pháp nghiên cứu sử học như thế nào trong công việc viết tiểu thuyết lịch sử?

NV. HQH: Tôi dùng phương pháp so sánh và loại trừ để tìm ra cái mình cần tìm.

Trong khi tìm hiểu lịch sử, đương nhiên phải dựa vào chính sử. Nhưng tôi không đặt trọn niềm tin vào đó. Bởi bộ sử lớn nhất nước ta là bộ “Đại Việt sử ký toàn thư” thì trong biểu dâng sách của người chủ biên là nhà sử học Ngô Sỹ Liên đã nói: “Thần dựa vào hai bộ sử trước (do Lê Văn Hưu và Phan Phu Tiên soạn), lại tham khảo thêm dã sử và chuyện dân gian để bổ sung vào”. Cái lý do phải dựa vào dã sử, Ngô Sỹ Liên trần tình: “giáo mác đầy đường đâu chẳng là giặc Minh tàn bạo, sách vở đều trở thành một đống tro tàn, chữ Hợi chữ Thỉ khó phân biệt” (Tự dạng hai chữ này hao hao giống nhau. Ý nói tư liệu chính xác rất thiếu).

Thủ phạm của sự nghèo nàn tư liệu này là do giặc Minh, mà tên tội phạm chiến tranh số 1 này là Minh Thành Tổ. Phải nói trong lịch sử cổ kim của nhân loại, chưa có kẻ thù nào tàn bạo và quỷ quyệt như giặc Minh. Hàng ngàn năm đô hộ nước ta, nhưng chúng vẫn không đồng hóa được dân tộc ta, là bởi ta vẫn còn gìn giữ được nền văn hóa của riêng mình, trong đó có ngôn ngữ, tín ngưỡng, tôn giáo và phong tục tập quán. Nay chúng ra sức tàn sát văn hóa (tức là tiêu diệt tận gốc cái hồn của một dân tộc) khiến cho cái gốc lịch sử của ta nằm trong sách vở biến thành tro tàn.

Tôi lạ lùng nhận thấy, cho tới tận ngày nay, con cháu của kẻ thù vẫn ngoan cố cho rằng tổ tiên nó đã khai hóa cho dân tộc ta, nó giúp đỡ ta như bè bạn.Càng kinh ngạc hơn, cũng không thiếu những người Việt vong bản, vẫn còn rất mơ hồ với bọn tội phạm văn hóa này. Đúng như nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đã từng nói, họ như những con trâu, cày ruộng nào cũng được, cày với chủ nào cũng được, chẳng qua họ không hiểu biết về lịch sử của chính dân tộc mình.

PV: Chúng tôi cảm nhận ở thời đại Lý – Trần có ít nhất hai cặp đôi vấn đề nổi lên. Đó là: i; khát vọng, ý chí giữ nước, dựng nước, và, sự thăng hoa trong sáng tạo văn hóa. ii; Sự phát triển của một thể chế và sự hoàn thiện nhân cách một cộng đồng dân tộc. Các cặp đôi vấn đề này có thể được biểu hiện rõ hơn khi liên hệ với nhà Hồ kế ngay sau đó. Khi tìm hiểu thêm về lý do thành công của sự xử lý các mối quan hệ này, chúng tôi cho rằng đó chính là mối quan hệ hài hòa giữa chính trị và văn hóa, giữa quyền lực và tri thức, giữa quyền lợi dân tộc và lợi ích của các cá nhân và nhóm xã hội. Thưa nhà văn, xin ông ý kiến chỉ giáo về những cảm nhận của chúng tôi.

NV. HQH: Tôi đồng ý cách đặt vấn đề và lý giải vấn đề của ông, rằng hai thời đại đó xã hội phát triển được hài hòa là bởi họ lấy văn hóa làm trọng tâm để giải quyết các mối quan hệ xã hội, đặc biệt là quan hệ giữa chính trị và văn hóa, hoàn toàn không có chuyện chính trị hóa văn hóa.

Xin lưu ý, thời nhà Lý, triều đình chưa hình thành lợi ích nhóm, mà chỉ có nhóm lợi ích của các dân tộc thiểu số. Việc giải quyết nhóm lợi ích của nhà Lý trong các đời vua Thái tổ, Thái tông, Thánh tông có thể coi là mẫu mực, bởi không chỉ làm yên lòng các đầu mục dân tộc thiểu số, mà còn cố kết được họ với triều đình, trong khối đoàn kết dân tộc để giữ nước. Tuy nhiên, các sử gia thiển cận đã phê phán chính sách này của nhà Lý không tiếc lời.

Nhà Trần thì phức tạp hơn, ngoài việc đối với các dân tộc thiểu số thì nội bộ giới quý tộc cũng đã hình thành nhóm lợi ích, tiêu biểu là hai nhánh quyền lực Trần Liễu, Trần Cảnh. Sau này là Trần Hưng Đạo với phần còn lại. Tuy nhiên, họ giải quyết khá thỏa đáng, bởi họ lấy Tổ quốc và Nhân dân làm mẫu số chung.

PV: Chúng tôi nghĩ, là người nghiên cứu kĩ về thời đại Lý - Trần nói riêng và lịch sử dân tộc nói chung, chắc hẳn ông có những nhận định của mình về những bài học lịch sử mà thời đại Lý – Trần đã và đang để lại cho chúng ta ngày hôm nay. Ông có thể chia sẻ với bạn đọc của VHNA?


NV. HQH: Vâng thưa ông, hai thời đại huy hoàng nhất trong lịch sử dân tộc, đã để lại cho hậu thế nhiều bài học mang tính kinh điển. Nếu con cháu thông minh và khiêm tốn, thì đây là kho báu gồm kinh nghiệm và trí khôn có thể ứng dụng trong nhiều ngành, nhiều hình thái đối nội và đối ngoại cực kỳ vi diệu.

Ví như trong lĩnh vực tôn giáo, nhà Lý dựa hẳn vào Phật giáo, dùng lực lượng tu sĩ làm đội quân xung kích trên mặt trận văn hóa trong hệ thống chùa làng. Ngoài nhiệm vụ chính của một thầy chùa là hoằng pháp, hướng dẫn người dân tu tập để tiến hóa về mặt tâm linh, thì vị sư ấy còn có nhiệm vụ kiêm chức một thầy giáo dạy chữ cho đám trẻ nhỏ trong làng, ông là người vừa khai tâm, khai trí và khai minh cho dân chúng. Vị tăng đó còn kiêm luôn cả chức năng của người thầy thuốc, là chữa trị bệnh tật cho dân chúng trong làng, hướng dẫn người dân biết hái, biết trồng và biết sử dụng cây thuốc để trị các bệnh thông thường.

Do không nắm được đặc trưng xã hội đó, nên các sử gia đời sau cứ phê phán nhà Lý hoài về “mê đắm đạo nhất thừa”.

Thứ nữa là về mặt pháp luật. Họ làm luật là để phục vụ cho lợi ích của người dân. Ví dụ năm Nhâm Ngọ (1042), Lý Thái tông cho san định bộ Hình thư. Luật ban ra, triều đình cử xuất nạp quan về tận nơi thôn cùng xóm vắng, xem xét khi luật ấy thi hành có điều nào tiện hay không tiện cho dân. Không tiện, có nghĩa là luật xa rời thực tế, không hợp lòng dân, xuất nạp quan tâu báo lên, triều đình lập tức tu chính. Truyền thống ấy được phát huy cao hơn ở đời Lý Thánh tông. Lịch sử còn truyền tụng câu chuyện bất hủ khi nhà vua xử kiện, công chúa Động Thiên ngồi bên cạnh, mặc áo lông cừu mà vẫn kêu rét. Nhà vua truyền lệnh phát chăn ấm và cơm cho tù ăn no. Ngài nói với mọi người: “Dân chúng có người vô tình mắc tội, có người không biết luật mà mắc tội, có người bị quan lại chèn ép mà mắc tội… nên nhất loạt khoan giảm một bậc”.

Và mặc dù đã có hệ thống tòa án các cấp, nhưng nhà vua vẫn cho lập “Đô hộ phủ sĩ sư”, tức tòa giám đốc thẩm, để xử lại các án oan, án ngờ. Và để quan lại trong tòa này giữ được liêm chính, nhà vua ban lộc cho mỗi người một năm được hưởng thêm một trăm bó lúa và hai giành cá khô để dưỡng liêm.

Đơn cử hai vấn đề, một là tôn giáo, hai là luật pháp đều nhằm đối tượng nhân dân và vì nhân dân mà hành hóa. Hai vấn đề đều có quan hệ mật thiết đến đời sống tinh thần và an sinh xã hội, nhà Lý giải quyết rất nhẹ nhàng. Ấy là bởi họ vì lợi ích của muôn dân chứ không vì lợi ích hoàng gia, lợi ích nhóm.

Còn với nhà Trần, tôi cũng xin cử hai bài học mà theo tôi nó có quan hệ đến định mệnh quốc gia.

Thứ nhất là mâu thuẫn giữa hai nhánh quyền lực. Tức là hai dòng trưởng và thứ, có lúc đã gay gắt tới mức tưởng như một mất một còn. Tuy nhiên, họ đã dẹp bỏ được mâu thuẫn, vì họ đặt lợi ích quốc gia lên trên hết.

Bài học thứ hai là khi Hốt-tất-liệt, tên bạo chúa nhà Đại Nguyên, đặt cả dân tộc ta trước nguy cơ bị hủy diệt. Nhà Trần không chỉ đoàn kết trong nội bộ hoàng gia, hoàng tộc mà còn cố kết toàn dân thành một khối. Họ luôn biết lắng nghe kẻ sĩ, lắng nghe dân.

Biểu tượng cao nhất là Hội nghị các bô lão ở điện Diên Hồng, khi quân thù đã sắp kéo 50 vạn hùng binh tràn vào biên ải nước ta. Các vua nhà Trần còn phân vân không biết có chống nổi giặc dữ, và không đo được lòng dân trước thế giặc. Vì thế các vua Thánh tông, Nhân tông liền họp các bô lão tiêu biểu trong cả nước để vấn kế. Và kết quả là đại biểu của toàn dân muôn người như một đòi triều đình: “quyết đánh!”.

Triều đình đã lắng nghe và chấp hành nguyện vọng của toàn dân, nên đã tạo ra được sức mạnh siêu thần nhập hóa, đánh bại đội quân xâm lược khổng lồ mà trước đó nó chưa biết mùi chiến bại. Thậm chí các nước khổng lồ như Nga, Trung Hoa đều đã gục ngã, quy hàng và cam chịu cho người Mông Cổ đặt ánh thống trị.

Vậy là các bài học của hai thời đại Lý - Trần để lại cho hậu thế là chính quyền phải vì dân và biết lắng nghe kẻ sĩ, lắng nghe dân thì muôn việc dù khó khăn, nguy nan đến mấy cũng đều có thể vượt thoát được.

Trái lại nhà Hồ vừa độc tài chuyên chế, vừa khinh dân, khinh nhờn kẻ sĩ, phớt lờ quyền lợi và nguyện vọng của người dân, thì dù có xây thành đá, rốt cuộc cũng không tìm được nơi ẩn nấp. Và chỉ mấy tháng sau khi giặc Minh vào cõi, cả ba cha con Hồ Quý Ly đều bị bắt làm tù binh.

Nước mất là bởi chính quyền nhà Hồ đã tước đoạt hết quyền làm chủ của người dân, khi ấy nước không còn là của dân nữa, thì dân cũng không chứa cái thứ chính quyền đã phản bội họ. Vì vậy nhà Hồ tựa như cái cây đã bật hết rễ ra khỏi lòng đất. Đất không nuôi dưỡng nữa, nó phải chết.

Vâng thưa ông, trên đây tôi chỉ đưa ra vài ví dụ, thực ra các bài học lịch sử do hai thời đại Lý - Trần để lại cho dân tộc ta nhiều vô kể, và đều thuộc hàng kinh điển cả. Cái kho tàng kinh nghiệm đầy trí tuệ ấy, nếu biết khai thác và khiêm tốn áp dụng một cách minh mẫn, chắc chắn chúng ta sẽ có trí khôn và sức mạnh tăng lên gấp nhiều lần, và không một kẻ thù nào dám coi thường dân tộc ta.

Tiếc thay, như mọi người đều biết rằng bài học lớn nhất của lịch sử, là người ta đã không chịu rút ra từ lịch sử những bài học. Vì vậy, dân tộc ta đã và đang phải trả giá quá đắt về sự ngạo mạn cùng với tội bất kính tổ tông.

PV: Trong những bài học đó, bài học nào là đáng giá nhất và bài học nào là đắt giá nhất?

NV. HQH: Theo tôi, bài học đáng giá nhất là nhà Trần đã thuận theo lòng dân nên giữ được nước, làm cho dân tộc ta ngẩng cao đầu và kiêu hãnh trước kẻ thù hùng mạnh nhất thời đại.

Và bài học đắt giá nhất là nhà Hồ làm trái lòng dân, trái đạo lý, chuyên quyền và tàn bạo nên để mất nước về tay quân thù.

PV: Thưa nhà văn, nghiên cứu thời đại Lý – Trần, chắc là ông đã đọc, nghiên cứu văn học của thời đại này rất nhiều. Những thâu nhận từ nền văn học này đã giúp ông trong quá trình tái tạo chính lịch sử thời đại này bằng văn học như thế nào?

NV. HQH: Thưa ông, văn học thời Lý -Trần có vẻ đẹp mà không thời nào có được. Trước hết là giá trị mỹ học. Tiếp đó là sự hào sảng khoáng đạt, ung dung tự tại, với vẻ thâm trầm uẩn ảo, toát ra từ cốt cách của một nền văn hóa ở tầng cao trí tuệ.

Tiếp thu tinh hoa đó, và tôi đã chuyển tải tinh thần đó vào trong hai bộ tiểu thuyết lịch sử “Tám triều vua Lý” và “Bão táp triều Trần”. Tuy nhiên, trình độ có hạn, nên dung lượng được chuyển tải bị hạn chế nhiều.

PV: Câu cuối chúng tôi muốn hỏi nhà văn là trong viết tiểu thuyết lịch sử thì cần nhất điều gì và kiêng kị nhất điều gì?

NV. HQH: Thưa ông, điều cần thiết đối với người viết tiểu thuyết lịch sử là phải giữ được cái tâm trong sáng, phải trung thực và phải biết nâng niu những giá trị do lịch sử để lại. Và điều kiêng kỵ nhất đối với người viết tiểu thuyết lịch sử là không được đem tà tâm gửi vào lịch sử.

PV: Cảm ơn ông rất nhiều về cuộc trao đổi hôm nay. Hy vọng chúng ta sẽ có những trao đổi trong thời gian tới.

____________________

• Phan Thắng thực hiện

BA MỐI QUAN TÂM HÀNG ĐẦU TRONG SỰ NGHIỆP CỦA VUA TRẦN NHÂN TÔNG

Sự kiện hoàng tử Trần Khâm chào đời có ý nghĩa quan trọng (đại hỷ) đối với vận khí của quốc gia . Đại Việt sử ký toàn thư chép: cả hai cung (Thượng hoàng Trần Thái Tông và vua Trần Thánh Tông) “ đều cho là lạ, gọi là Kim Tiên đồng tử” vì đã “được tinh anh của thánh nhân, thuần túy đạo mạo, sắc thái như vàng, thể chất hoàn hảo, thần khí tươi sáng…”. Còn Tam Tổ thực lục thì ghi: “Đến khi vua sinh ra, màu da như vàng rồng, Thánh Tông đặt tên là Kim Phật . Vai phải vua có nốt ruồi đen như hạt đậu lớn, người biết xem tướng nói: ‘Đứa bé này ngày sau có thể gánh vác việc lớn’”.


Sống trong cảnh đất nước thái bình, lại nhận được sự giáo dưỡng của hai cung, năm 1278, Trần Khâm lên ngôi hoàng đế ở tuổi 20. Nhưng mối nguy của đất nước cũng đã được báo trước khi quân Nguyên không ngừng tràn sang đánh phá nước Tống, đồng thời khi biết tin Thượng hoàng Trần Thái Tông vừa băng (năm 1277), chúng đã sớm nảy sinh ý đồ thôn tính nước ta. Năm 1279, nhà Tống mất, không thể không gây nên những lo lắng và phòng bị đối với người đang nắm giữ ngôi vị quốc chủ Đại Việt – Trần Nhân Tông.

 

NỘI LOẠN VÀ NGOẠI XÂM


Năm 1282, Toa Đô đem 50 vạn quân, nói phao rằng mượn đường đi đánh Chiêm Thành, nhưng thực ra là sang xâm lược nước ta. Tình thế vô cùng cấp bách, “vua ngự ra Bình Than đóng ở vũng Trần Xá họp vương hầu và trăm quan, bàn kế sách công thủ và chia nhau đóng giữ những nơi hiểm yếu”.


Năm 1283, nhà Nguyên lại hội 50 vạn quân ở các xứ, chuẩn bị tiến hành xâm lược nước ta. Vua bèn “Tiến phong Hưng Đạo vương Quốc Tuấn làm Quốc công Tiết chế, thống lĩnh quân đội toàn quốc, sai chọn các quân hiệu có tài chỉ huy, chia đi nắm giữ các đơn vị”, mà không một chút nghi ngại về hiềm khích cũ giữa Yên Sinh vương Trần Liễu và vua Trần Thái Tông ngày trước.


Năm 1284, nhà Nguyên tiếp tục sai Thoát Hoan đem quân tràn sang, lấy cớ mượn đường đi đánh Chiêm Thành, chia đường vào cướp nước ta. “Thượng hoàn triệu phụ lão trong nước họp ở thềm điện Diên Hồng, ban yến và hỏi kế đánh giặc. Các phụ lão điều nói ‘đánh’, muôn người hô một tiếng, như bật ra từ một cửa miệng”.


Đứng trước mối nguy quân Nguyên xâm lược, vua Trần Nhân Tông và thượng hoàng Trần Thánh Tông đã mở hai hội nghị quan trọng (Bình Than và Diên Hồng) để bàn cách ngăn chống giặc. Chính tinh thần quân dân một lòng ấy, mà Trần Nhân Tông quy tụ được sức mạnh của cả dòng họ và sức mạnh của toàn dân tộc cho công cuộc kháng Nguyên.


Trong chiến tranh nguy nan, mới thấy hết sức mạnh quân dân như nước vỡ bờ. Gia nô Yết Kiêu, Dã Tượng giỏi về thủy chiến, mà lòng trung với chủ không mấy người sánh được. Bảo Nghĩa vương Trần Bình Trọng khi bị bắt, bị chiêu dụ thì liền hét to: “Ta thà làm ma nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc”. Trong lúc vua thị sát tình hình giặc “chiều rồi mà vẫn chưa ăn cơm sáng”, Trần Lai đã dâng cơm gạo xấu. Không những thế còn có cả người Man là Lương Uất và Hà Tất Năng chỉ huy người Man đánh giặc. Vua định công “ các công thần đánh Nguyên lần trước và lần sau, trong đó có người nào xông lên trước phá trận giặc, lập kỳ công thì chép vào tập Trung hưng thực lục, lại sai vẽ hình”.


Tuy thế, vẫn có những kẻ phản nước hại dân như Chương Hiến hầu Trần Kiện và bọn Lê Trắc, Văn Chiêu hầu Trần Lộng, Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc và bọn Phạm Cự Địa. Để tỏ ra ân uy của triều đình và mau chống ổn định nhân tâm, Thượng hoàng Trần Thánh Tông lệnh trị nghiêm những kẻ trước đây đã đầu hàng giặc, nhưng đồng thời cũng sai đốt tất cả biểu xin đầu hàng giặc của không ít vương hầu, quan lại mới được thu giữ, nhằm yên lòng những kẻ phản trắc.


Sau khi cuộc chiến thắng 1285,1288, vua Trần Nhân Tông đã cảm khái bằng hai câu thơ:


Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã,

Sơn hà thiên cổ điện kim âu.


( Xã tắc hai phen chồn ngựa đá,\

Non sông muôn thuở vững âu vàng).


5 năm sau đại thắng quân Nguyên, vua nhường ngôi cho Hoàng thái tử Trần Thuyên, lui về làm Thượng hoàng. Tuy nhiên, với chế độ “cùng trong coi chính sự” ngoài chính sách đối ngoại hòa hoãn với nhà Nguyên, Thượng hoàng vẫn canh cánh trong lòng mối lo phên giậu đến từ Chiêm Thành, Ai Lao, nên tháng 8 năm Giáp Ngọ - 1294, “ Thượng hoàng đích thân đi đánh Ai Lao…”. Việc cất quân đi đánh Ai Lao của vua Trần Nhân Tông nhầm mục đích thị uy là Chính: “Chỉ có thể lúc này ra quân thôi. Vì sau khi giặc rút, ba cõi tất cho là lính tráng, ngựa chiến của ta đã chết cả, thế không thể lên nổi, sẽ có sự khinh nhờn từ bên trong, cho nên phải cất quân lớn để thị uy”. Vì vậy, trong bài thơ “Trên đường Tây chinh”, Ngài viết: “Hán Vũ Đế lại chuốc lấy lời chê ‘cùng binh độc vũ’ / Thế thì nam nhi lật đật về việc chinh chiến làm gì?”.


Việc sông pha nơi đầu sóng ngọn gió không chỉ để truyền cho con ý chí và tinh thần và phòng bị với mối nguy ở những vùng phên giậu, mà Thượng hoàng Trần Nhân Tông còn trực tiếp răn dạy vua con về đạo lý cai trị khi một lần bất ngờ từ phủ Thiên Trường trở về triều và thấy Trần Anh Tông đang uống rượu xương bồ say khướt. khi ấy, Thượng hoàng bèn cảnh báo vua con: “Trẫm còn có con khác cũng có thể nối ngôi được. Trẫm đang sống mà ngươi còn như thế, huống chi sau này”.


Cũng trong năm 1301, Thượng hoàng đã tiếp sứ Nguyên là Kiều Nguyên Lãng, và khi tiễn sứ Nguyên về nước Thượng hoàng không quên nhắn nhủ: “Xin hãy ôn lại lời nói chuông vạc trong tờ chiếu năm Trung Thống (1261). Để tránh cho nhau khỏi mối phiền lo nước luôn luôn nung đốt trong lòng”.


Từ khi lên ngôi hoàng đế, cho đến khi lui về làm Thượng hoàng và ngay cả khi đã xuất gia tu hành,mối phiền “lo nước” vẫn luôn luôn “nung đốt trong lòng” Ngài, nhưng lẽ thịnh suy của dân tộc luôn được ngài hiểu bằng cảm quan vô thường của Phật giáo. Điều này cho thấy, người ta chỉ có thể tu hành giải thoát ngay tại nhân thế này, thời đại này, khi quốc gia thanh bình, chúng sinh an lạc.


NỘI KINH NGOẠI ĐIỂN


Ngay trong Hội thứ nhất của Cư trần lạc đạo phú, Trần Nhân Tông đã xác nhận : “Mình ngồi thành thị, nết dụng sơn lâm”, “Tham ái nguồn dừng, chẳng còn nhớ châu yêu ngọc quý”. Những lời này có thể được viết ra trong thời gian Ngài vừa mới lui về làm Thượng hoàng và xuất gia tu hành tại cung Vũ Lâm, cũng như tại phủ Thiên Trường.


Đại việt sử ký toàn thư chép: “Bấy giờ Thượng hoàng đến Vũ Lâm vào chơi hang đá, cửa núi đá hẹp, Thượng hoàng ngự chiếc thuyền nhỏ, Tuyên Từ thái hậu ngồi đằng đuôi thuyền, gọi Văn Túc Vương lên mũi thuyền, chỉ để một người chèo thuyền thôi. Đến khi Thượng hoàng xuất gia, sắp ra đi, mời Đạo Tái vào điện Dưỡng Đức cung Thánh Từ cho ngồi ăn các món hải vị, làm thơ rằng:


Hồng thấp bác quy cước,

Hoàng hương chính mã an.

Sơn tăng trì tịnh giới,

Đồng tọa bất đồng xan.


(Quy cước bóc đỏ ướt,

Mã yên nướng vàng thơm.

Sơn tăng giữ trai giới,

Cùng ngồi chẳng cùng ăn)”.


Đoạn này được Đại Việt sử ký toàn thư chép trước cả sự kiện tháng 8 năm 1294, “Thượng hoàng đích thân đi đánh Ai Lao”. Kế đó, Đại Việt sử ký toàn thư lại chép: Ất Mùi – 1295, “mùa hạ, tháng 6, Thượng hoàng trở về kinh sư. Vì [trước] đã xuất gia ở hành cung Vũ Lâm rồi lại trở về”. Như vậy Thượng hoàng Trần Nhân Tông đã “cởi cà-sa khoác chiến bào”, thân chinh đi đánh Ai Lao, hay sau khi đánh Ai Lao xong ngài mới xuất gia? Làm rõ được điều này, sẽ lý giải được không ít mối quan tâm về việc đời việc đạo của vua Trần Nhân Tông, đồng thời tạo tiền đề lý giải cho các cuộc khởi nghĩa sau này của các nhà sư khi đất nước gặp cảnh nội loạn ngoại xâm, trên tinh thần Phật giáo nhập thế mà nhà Trần đã khởi xướng.


Sau khi đánh Ai Lao, Thượng hoàng lại về Thiên Trường tu hành tại đây, để tâm vào nội điển, chỉ khi xảy ra vụ việc vua Trần Anh Tông uống rượu say, Thượng hoàng mới “xuống chiếu cho các quan ngay ngày mai điều phải tới phủ Thiên Trường để điểm danh, ai trái lệnh sẽ bị sử tội”.


Các dữ kiện lịch sử trên cho thấy, chỉ một năm sau khi nhường ngôi cho con, Thượng hoàng Trần Nhân Tông đã xuất gia ở hành cung Vũ Lâm (Ninh Bình) rồi lại trở về kinh sư, sau tiếp tục tu hành tại phủ Thiên Trường không gián đoạn cho đến ngày chính thức rời vào núi Yên Tử vào năm 1299: “Mùa thu tháng 7, xây am Ngự Dược trên núi Yên Tử.Tháng 8, Thượng hoàng từ phủ Thiên Trường lại xuất gia vào núi Yên Tử tu khổ hạnh”. Liền sau đó, “in cách sách Phật giáo pháp sự, Đạo tràng tân vănCông văn cách thức ban hành trong cả nước”.


Đại Việt sử ký toàn thư cho biết ngay sau khi Thượng hoàng Trần Nhân Tông xuất gia một thời gian ngắn, sứ Nguyên là Tiêu Thái Đăng Sang, “vua sai Nội viên ngoại lang Trần Khắc Dụng, Phạm Thảo đi theo, nhận được bộ Đại tạng kinh đem về để ở phủ Thiên Trường, in bản phó để lưu hành”.


Tháng 2 năm Tân Sửu (1301), Chiêm Thành sang cống . Tháng 3, Thượng hoàng vân du các nơi và sang Chiêm Thành cho đến tháng 11, Thượng hoàng mới từ Chiêm Thành trở về.Trong thời gian ở Chiêm Thành,Thượng hoàng đã nắm được tình hình thực tiễn trong quan hệ hai nước,quyền biến hứa gã công chúa Huyền Trân cho chúa Chế Mân.Sau nhiều dị nghị của nho sĩ,mãi đến năm 1306 thì triều đình mới chính thức gã công chúa Huyền Trân cho chúa Chế Mân,và chúa Chế Mân đã tỏ thành ý dâng hai châu Ô, Lý (vùng Thuận Hóa-Thừa Thiên Huế ngày nay) để làm lễ vật dẫn cưới.


Bức tranh Trúc Lâm Đại Sĩ xuất sơn đồ đã mô tả sinh động cảnh vua Trần Anh Tông cùng bách quan đi đón pháp giá Thượng hoàng từ Chiêm Thành trở về ,cùng đi có các đệ tử thân cận,người hầu,tăng nhân nước ngoài và đạo sĩ Lâm Thời Vũ.Hiện vẫn chưa rõ đạo sĩ Lâm Thời Vũ là ai, nhưng Đại Việt sử ký toàn thư đã sớm cho biết,do sự xuất hiện của đạo sĩ Hứa Tông Đạo vào năm 1276 (theo bài minh trên chuông Thông Thánh quán ở Bạch hạc,Việt Trì) mà “phép phù thủy, đàn chay bắt đầu thịnh hành từ đó”.Có thể nói,mối quan hệ “Tam giáo” ở thời Ngài trị vì diễn ra hết sức tốt đẹp,dù đâu đó vẫn xuất hiện những người như Trương Hán Siêu (?-1354) bài xích Phật giáo, nhưng những năm cuối đời Trương Hán Siêu lại trở về sống với tư tưởng và tinh thần Phật giáo.


Văn bia chép về hành trạng của Đệ nhị tổ Pháp Loa có đoạn: “Vào tháng 5, Điều Ngự lên ở am tại đỉnh núi Ngọa Vân. Ngày rằm Bố-tát xong, đuổi tả hữu ra, đem y bát và viết tâm kệ giao cho Sư, bảo phải giữ gìn. Ngay mùng một tháng giêng năm Mậu Thân Hưng Long thứ 16 (1308) Sư vân lệnh làm trụ trì nối dòng Pháp ở Cam Lộ Đường và làm lễ trao truyền, vua cho đặt bài vị của liệt tổ, tấu đại nhạc, đốt hương thơm, đánh trống pháp, tập hợp đại chúng lên pháp đường”.


Việc truyền y bát được mô tả ở đây rất trang trọng, pha lẫn giữa nghi lễ cung đình và nghi thức Phật giáo. Không những thế, chưa từng có tiền lệ và ngoại lệ nào diễn ra khi việc truyền y bát mà số lượng kinh thư ngoại sử và Đại tạng lại nhiều như vậy, lại được chỉ rằng  “để mở rộng việc học nội và ngoại điển”.


Vua Trần Thái Tông từng phát biểu: “Đại giáo của Đức Phật ta phải nhờ tiên thánh mà truyền lại cho đời. Thế thì nay lẽ nào trẫm không coi trách nhiệm của tiên thánh là trách nhiệm của mình, giáo lý của Đức Phật làm giáo lý của mình”. Tiếp nối một cách tự nhiên tư tưởng của Trần Thái Tông,  Trần Nhân Tông thể hiện vai trò của một minh quân, hiền triết khi cân bằng ,hài hòa lợi ít của cả hai việc đạo đời (đạo pháp và dân tộc) trong mối tương quan Tam giáo (Phật-Đạo-Nho), đồng thời chủ động xây dựng luân lý, đạo đức quốc gia trên nề tảng giáo lý mười điều thiện (dành cho dân chúng) và tinh thần Bồ-tát đạo (dành cho quan lại,quý tộc).để rồi chính từ những đặc điểm này mà người ta thống nhất chỉ ra rằng ,trong con người và thời đại của ngài, vương quyền và giáo quyền đã được kết hợp một cách tự nhiên.


NỘI TÂM NGOẠI TƯỚNG


Lần đầu tiên chúng ta thấy trong tác phẩm Cư trần lạc đạo phú,Trần Nhân Tông đã có cái nhìn rất thiết thực trong việc lý giải toàn bộ những giá trị bên trong và bên ngoài nơi mỗi con người: “Dựng cầu đò, dồi chiền tháp ,ngoại trang nghiêm sự tướng hãy tu / Săn hỷ xả, nhuyễn từ bi, nội tự tại Kinh Lòng hằng đọc” (Hội thứ tám) tức bên ngoài thì quan tâm làm những việc ích lợi cho đời, bên trong rèn tâm trí từ bi, hỷ xả theo lời Phật dạy.


Không dừng lại ở đó, Ngài còn tiếp tục đưa ra luận điểm “nội-ngoại” như sau: “Sạch giới lòng, chùi giới tướng, nội ngoại nên Bồ-tát trang nghiêm. Ngay thờ chúa, thảo thờ cha, đi đỗ mới trượng phu trung hiếu” (Hội thứ sáu). Giới lòng (tâm tính), Giới tướng (kỷ luật), giữ được hai điều đó thì mới có thể trang nghiêm được quốc độ, cũng như thờ chúa phải ngay, thờ cha cho thảo, học hành đỗ đạt, đó mới đích thực là trung hiếu.


Tam tổ thực lục chép rằng, mùa Đông năm Giáp Thìn, niên hiệu Hưng Long thứ 12 (1304), Trần Anh Tông (1293-1314) đã “dâng biểu mời Điều Ngự [Trần Nhân Tông] vào Đại Nội để thọ tâm giới tại gia Bồ-tát. Ngày [Điều Ngự] vào thành, vương công, bách quan sắm lễ nghi đầy đủ đón rước xa giá của Điều Ngự,rồi cùng thọ giới pháp”.Với một xã hội “cùng tu” như vậy, trong Kiến văn tiểu lục, Lê Quý Đôn đã nhận xét rằng thời Trần xuất hiện tình trạng “lấy địa vị vua chúa mà làm đại sĩ, hoàng hậu mà làm Tỳ-khưu, khanh tướng mà làm thầy chùa”.Tuy nhiên,việc bách quan triều đình thọ giới pháp chỉ là hình tướng bên ngoài, còn tâm giới Bồ tát tại gia và những điều phải thực hành, giữ nhìn mới là chủ điểm tu tập từ bên trong:


“Thích nhân nghì, tu đạo đức, ai hay này chẳng Thích Ca,

Cầm giới hạnh, đoạn ghen tham,c hỉn thực ấy là Di Lặc” (Hội thứ tư).


Hay:


“Tịnh độ là lòng trong sạch, chớ còn ngờ hỏi đến Tây Phương,

Di Đà là tính sáng soi, mựa phải nhọc tìm về Cực Lạc.

Xét thân tâm,rèn tính thức,há rằng mong quã báo phô khoe,

Cầm giới hạnh, địch vô thường, nào có xá cầu danh bán chác” (Hội thứ hai).


Trước đó, vua Trần Thái Tông cũng từng có chỉ vào mái núi tu hành đề tìm Phật, nhưng ông đã được Quốc sư Phù Vân khuyên rằng: “Trong núi vốn không có Phật, Phật ở ngay trong lòng, lòng lặng mà hiểu, đó chính là chân Phật. Nay nếu bệ hạ giác ngộ điều đó thì lập tức thành phật, không cần khổ tâm tìm kiếm bên ngoài”. Trong bài Sơn phòng mạn hứng,Trần Nhân Tông đã viết: “Ai trói buộc mà phải tìm phương pháp giải thoát. Phẩm cách chẳng phàm tục cần gì tìm thần tiên”.


Như chúng tôi từng có dịp phân tích: Đặc điểm nhân sinh quan nổi bật trong tư tưởng Trần Nhân Tông chính là nhận thức và ứng dụng giới luật Phật giáo vào cuộc sống. Bởi giới luật là một yếu tố bổ túc quan trọng vào đạo đức xã hội, pháp luật, thậm chí cả trong đời sống chính trị .Giới không mâu thuẫn với hệ thống pháp luật, phong tục, tín ngưỡng mà còn thúc đẩy, khắc dấu ấn quan trọng vào nền văn hóa, văn minh Đại Việt. Vì thế Trần Nhân Tông đặt câu hỏi nghiêm túc với Tuệ Trung Thượng Sĩ: “Công phu giữ giới trong sạch không chút sao lãng là để làm gì?”.


Cũng chính ở đặc điểm này mà chúng ta thấy song song với việc khuyến hóa dân chúng giữ giới thập thiện, Trần Nhân Tông nhắc đến việc “tích nhân nghì” (nhân nghĩa), “mến nhân nghì”, “ở đời vui đạo”…Nếu dân chúng thực hành được những điều kể trên thì lo gì đến chuyện dụng Nho hay triển Pháp. Sau này, khi Nguyễn Trãi (1380-1442) nhận ra những sai lầm trong tư tưởng Nho giáo, ông cũng đã phát biểu: “Pháp lệnh không bằng nhân nghĩa cũng rõ lắm rồi…”, nhân việc có bảy tên ăn trộm can tội tái phạm mà bị hình quan chiếu luật xử chém.


Với nhiều quy tắc khắc khe, Nho giáo ở vào thời khủng hoảng lý luận (hình nhi thượng) đã phải vay mượn không ít các yếu tố tính ngưỡng tâm linh. Tuy nhiên, lý thuyết “đạo trời”, “mệnh trời” càng khiến cho thời đại ấy trở thành thời đại “tự cô lập”, sống trong “chủ nghĩa định mệnh” bóp nghẹt tự do của con người,nhất là người phụ nữ. Trong khi đối với Phật giáo, sức sống bình dị về niềm tin nhân quả báo ấn, nghiệp báo và lối sống từ bi, hỷ xả, làm phúc…vẫn trở thành nguồn cảm hứng phong phú của nhân dân.


Có thể nói, với 3 mối quan tâm hàng đầu kể trên, Trần Nhân Tông đã tạo ra thời đại của hào khí Đông Á, làm vẻ vang lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, khơi nguồn cảm hứng hào sảng cho các thời đại đi xa. Với con người cá nhân, Trần Nhân Tông đã làm chủ vận mệnh của đất nước, làm chủ được sinh tử của mình, vượt lên những nhân vật xuất sắc trở thành một nhà thiết kế vĩ đại cho công cuộc khẳng định nền độc lập tự chủ, cũng như tạo lập một dòng thiền.. “nhập thế”, “cư trần lạc đạo” mang bản sắc Đại Việt-dòng thiền Trúc Lâm, mà chính Ngài là người giữ cương vị Giáo Tổ.

 
Bậc thánh giác ngộ là vua trong các hàng vua (Giác Thánh Trung Vương),Trần Nhân Tông được nhân dân tôn xưng là Phật hoàng đã nói lên đầy đủ ý nghĩa đó. Không những thế, ít có triều đại nào trong lịch sử sánh kịp, khi nhiều trong số các vị vương tướng của Ngài đều đã hóa Thánh, hiển Thánh được thờ phụng rộng rãi trên khắp mọi miền đất nước. Ở đây, chúng tôi chỉ muốn nói, những nhận định đánh giá về Trần Nhân Tông là “nhà tư tưởng”, “nhà chính trị”, “nhà quân sự”, “nhà văn”, “nhà thơ”… đã trở thành những chiếc áo quá chật đối với tầm vóc của Ngài một mẫu hình triết vương của dân tộc và thời đại.

_____________

 

Thích Thanh Thắng

Nguồn: Liễu Quán - Số 1 | tháng 1 - 2014

(Trung tâm văn hóa Phật giáo Liễu Quán - Huế)

43 CÔNG ÁN TRẦN THÁI TÔNG

Trần Thái Tông là vị vua đầu của triều Trần. Ngài là đệ tử của thiền sư Viên Chứng trên núi Yên Tử. Ngài vừa làm vua vừa thực tập thiền. Ngài cũng từng thực tập thiền công án. Đây là 43 công án Vua đưa ra để cùng thực tập với tăng thân của Vua, gồm có giới xuất gia và tại gia. Thầy Làng Mai đã dịch những công án này ra tiếng Việt và tiếng Pháp năm 1968. Bản dịch tiếng Pháp xin xem ở phần phụ lục cuốn Clé Pour Le Zen, tác giả Nhất Hạnh, do nhà xuất bản JC Lattes ấn hành. Bản Hán Việt có trong Thơ Văn Lý Trần quyển II (Quyển thượng, trang 108-121), NXB Khoa Học Xã Hội.

 

Công án thứ nhất

Cử: Thế Tôn chưa rời cung Đâu Suất đã giáng sinh vương cung, chưa ra khỏi mẫu thai đã hoàn tất sự nghiệp cứu độ
Niêm: Gươm kích chưa vung, tướng quân đã để lộ tung  tích.
Tụng: 
Đứa bé hình hài chưa có ấy
Nửa đêm đưa dắt người đồng hương
Rong chơi khắp biển trời lồng lộng
Không cần phao nổi, không đò giang.

Công án thứ hai
Cử: Thế Tôn khi sơ sinh, một tay chỉ trời một tay chỉ đất: “trên trời dưới đất, duy ta độc tôn”.
Niêm: Một đám bạch vân qua cửa động
Bao nhiêu chim chóc lạc đường về
Tụng:   
Vì muốn giáng sinh cung Tịnh Phạn
Độ sinh nên phải lộ hành tung
Bảy bước chân đi, trời đất chỉ
Biết bao Phật tử táng gia phong.

Công án thứ ba
Cử: Thế Tôn cầm đóa hoa đưa lên, Ca Diếp mỉm cười.[1]
Niêm: Dương đôi mắt ra mà nhìn: tư duy đàm thuyết phía trước còn cách nghìn dãy núi.
Tụng:   
Thế Tôn tay nắm một cành hoa
Ca Diếp hôm nay trở lại nhà
Nếu gọi đó là “truyền pháp yếu”
Con đường Nam Bắc hẵng còn xa

Công án thứ tư
Cử: Có nhà triết học ngoại đạo[2] đến tham vấn Phật, nhưng không muốn nghe danh từ hữu cũng không muốn nghe danh từ vô.
Niêm: Trừ là con cái trong nhà ta, còn ai lại dám đi vào chốn ấy nữa.
Tụng: 
Cửa lao khôn buộc, nào ai biết
Ngôn ngữ mất rồi, níu tựa đâu?
Chẳng phải ngựa hay trên cõi thế
Bỗng dưng sao có được cơ mầu?

Công án thứ năm
Cử:  Thế Tôn vừa bước lên pháp tọa, Văn Thù đánh khánh bạch: “Hãy lắng nghe pháp của Pháp Vương: Pháp của Pháp Vương là như thế”.
Niêm: Gẩy khúc Dương Xuân trên chỗ không có tơ đồng, ngàn đời sau âm thanh mãi còn bất tuyệt.
Tụng:  
Tuy nói nên lời không dấu vết
Sừng dấu đuôi còn để ló ra
Nâng một cành tiêu không có lỗ
Vì ngươi, thổi khúc Thái Bình Ca


Công án thứ sáu
Cử: Tần Quốc Vương cầm kiếm gọi Tôn Giả, Tổ thứ 24, hỏi rằng: “Sư chứng được pháp uẩn không chưa?” Tổ nói: “Chứng”.Vua hỏi: “Lìa sinh tử chưa?” Tổnói: “Lìa”. Vua hỏi: “Có bố thí cho ta đầu Sư được không?” Tổ nói: “Thân còn không phải là của ta, huống là đầu”. Vua bèn chém. Sữa trắng tuôn lên. Tay vua tự rớt xuống.
Niêm:   Gươm trắng kề đầu tướng, như chém gió mùa Xuân.
Tụng:   Trên nước sáng lòe gươm báu chém
Trở ngại điều kia chẳng có gì
Xin biết hôm nay rời khói sóng
Ai hay riêng lại có tư duy.

Công án thứ bảy
Cử: Đạt Ma đại sư tới Lạc Dương núi Thiếu Thất, chín  năm ngồi xoay mặt vào vách.
Niêm: Mở mắt nhìn cho tỏ, đừng có mê ngủ.
Tụng:   
Chim bằng liệng cánh về Nam Hải
Chỉ uổng công lao vạn dặm đường
Đêm trước vì tham ăn tiệc sướng
Sáng nay say ngủ khó hồi dương.

Công án thứ tám
Cử: Nhị tổ xin Đạt Ma an tâm giùm. Đạt Ma nói: “Đem tâm tới đây ta an cho”. Nhị tổ đáp: “Tìm tâm mãi không đặng”. Đạt Ma nói: “Thế là ta an tâm cho ngươi rồi”.
Niêm: Đứa trẻ lên ba thì múa trống, ông già tám chục lại  chơi cầu.
Tụng:   
Tâm đã là không, nói với ai?
Hồn nhiên đâu lúc ở bào thai?
Lão tăng nói khoác: “An rồi đó”
Lừa kẻ bàng quan mà không hay.

Công án thứ chín
Cử: Văn Thù thấy một phụ nữ tọa tam muội một bên Phật. Văn Thù đánh thức người ấy mãi không được. Phật bảo Võng Minh đánh thức, Võng Minh đánh thức được ngay.[3]
Niêm: Đứa con oan gia làm tan nát cả gia phong ta.
Tụng:   
Trước Phật sao còn niệm sơ, thân
Định ấy còn chưa được chính chân
Nếu quả hóa công không hậu bạc
Xuân về, đâu lại chẳng mùa Xuân?

Công án thứ mười
Cử: Mã tổ Đạo Nhất, ba mươi năm sau cơn loạn Hồ, chưa từng thiếu muối thiếu tương.
Niêm: Dù là không mảy may vi phạm thì cũng còn cầm đũa mà mút ngón tay.
Tụng:   
Lưu Linh đã lỡ nên bầu bạn
Nhà là quán rượu ngủ quanh năm
Dù tự khoe mình trang hảo hán
Đóng vai mất áo giữa đường chăng?

Công án thứ mười một
Cử: Bách Trượng trở lại tham vấn Mã Tổ. Mã Tổ hét một cái, Bách Trượng đại ngộ.
Niêm:  Chùy ngọn đâm nghìn nhát, không bằng thuổng cùn ấn xuống một nhát.
Tụng:   
Xưa kia, xe, sách[4] chưa hòa hợp
Bốn bên giặc giã dậy bầy ong
Một lần vung kiếm thiêng trên ngựa
Đường đạo từ nay tin tức thông.

Công án thứ mười hai
Cử:  Quốc sư[5] một hôm kêu thị giả ba lần, thị giả dạ ba lần. Quốc sư nói: “Đâu phải là ta phụ ngươi, chính là ngươi phụ ta đó”.
Niêm:   Như người uống nước, nóng lạnh tự mình biết.
Tụng:   
Đôi bên xướng họa vẫn tương đương
So sánh vào đâu biết đoản trường?
Gan ruột đã bày ra tất cả
Lòng ta ta biết, ý ta tường.

Công án thứ mười ba
Cử:  Đại Quy nói: “Khái niệm về có và về không như giây leo quấn cây lớn”. Sơ Sơn hỏi: “Cây lớn ngã, giây quấn khô, thì có và không đi về đâu?” Nói rồi cười ha ha.
Niêm:   Nước tuy chảy đi nhưng vẫn còn nơi biển cả
Trăng tuy lặn mất nhưng không lìa khỏi bầu trời.
Tụng:   
Sóng lặng khi nào gió đứng yên
Mất công hướng ngoại luống lao phiền
Một tiếng cười tan nghi vạn mối
Phân thành sỏi ngọc rõ đôi bên.

Công án thứ mười bốn
Cử: Bách Trượng nói: “Thế nào gọi là pháp không vì người mà nói?” Nam Tuyền trả lời: “Không phải tâm, không phải Phật, cũng không phải vật”.
Niêm: Cả ngàn vị thánh đi tìm dấu chân nó cũng không được; toàn thân nó ẩn tại hư không lớn.
Tụng:   
Công án là kia, hãy đối đầu
Thẳng nhìn vào mặt của cao sâu
Nhà Phật lưu mời không chịu ở
Đêm đêm thói cũ ngủ bờ lau.

Công án thứ mười lăm
Cử: Nam Tuyền nói: “Tâm không phải là Phật, trí không phải là đạo”.
Niêm: Hô hấp tất cả lý lẽ huyền vi, trên đường về bước dưới ánh trăng.
Tụng:   
Vạn tiếng âm thầm tinh tú chuyển
Thái hư trầm lặng không vết gì
Nương gậy lên lần trông bốn phía
Tịch tịch liêu liêu nào ngại chi?

Công án thứ mười sáu
Cử: Lâm Tế sau khi xuất thế, chỉ dùng có phép bổng yết để khai thị đồ chúng. Hễ thấy một vị tăng nào vào cửa là hét.
Niêm: Giữa trưa mồng năm tháng năm, miệng lưỡi độc địa tiêu trừ sạch hết.
Tụng:   
Vừa tới cửa ngoài nghe tiếng hét
Tỉnh giấc hôn trầm lũ cháu con
Một tiếng sấm Xuân vừa chấn động
Khắp nơi cây cỏ nẩy mầm non.

Công án thứ mười bảy
Cử: Nam Tuyền nói: “Bình thường tâm thị đạo”.[6]
Niêm: Lạnh thì nói rằng lạnh, nóng thì nói rằng nóng.
Tụng:   
Ngọc trắng nguyên lai không tội trạng
Cứ gì mài giũa mới là xinh
Quê cũ không do đường lối ấy
Núi dốc buông tay, phó mặc mình.

Công án thứ mười tám
Cử: Triệu Châu nói: “Các người bị hăm bốn giờ trong một ngày sai sử, ta đây sai sử hăm bốn giờ trong một ngày”.
Niêm: Cậy thế khinh người, không căn cứ trên căn bản nào cả.
Tụng:   
Rồng thiêng cọp dữ nên thuần thục
Hăm bốn giờ vâng phép một ngày
Biến sắt thành vàng dù phép lạ
Ai đem tiết lộ cho người hay ?

Công án thứ mười chín
Cử: Có vị tăng hỏi Lâm Tế: “Thế nào là vô vị chân nhân ?” Lâm Tế nói: “Cọng cứt khô”.[7]
Niêm: Bắn chim sẻ thì sợ mất đạn, đập chuột lại sợ  dơ gậy.
Tụng:   
Cứt khô: vô vị chân nhân
Gia phong Phật tử nát bao lần
Kìa kìa chú mục mà quan sát:
Lội biển trâu bùn mất dấu chân.

Công án thứ hai mươi
Cử: Triệu Châu nói: “Ta đã khám phá ra được bà  già ở Ngũ Đài Sơn rồi”.[8]
Niêm: Kẻ phạm tội ngũ nghịch nghe sấm, không cho bịt tai.
Tụng:   
Đài Sơn nháy mắt không còn nữa
Chẳng cần bước mệt vẫn về nhà
Giặc hết, không ai chủ chiến
Gươm báu cần chi phải tuốt ra?

Công án thứ hai mươi mốt
Cử: Triệu Châu nói: “Phật bằng vàng không độ được lò, Phật bằng gỗ không độ được lửa, Phật bằng đất không độ được nước. Phật chân chính ngồi trong nhà”.
Niêm: Sơn là sơn, thủy là thủy. Phật ở đâu?
Tụng:   
Võng Xuyên[9] cảnh ấy đã thành tranh
Xưa cậy Vương Duy mới đắc danh
Uổng nét đan thanh không chỗ họa
Trời kia trăng sáng gió thơm lành.

Công án thứ hai mươi hai

Cử: Triệu Châu nói: Ở Thanh Châu, tôi làm được một chiếc áo gai bố nặng tới bảy cân”.[10]
Niêm:  Nói củ cải Trấn Châu còn nghe được, nói gai bố Thanh Châu chỉ khiến người ta rầu.[11]
Tụng:   
Một chiếc áo gai thật dị thường
Rương tre họ Triệu cất sao đương
Cân nhắc từng ly, phân với lượng
Tám chàng họ Mạnh chết không thương

Công án thứ hai mươi ba
Cử:  Có vị tăng hỏi Triệu Châu: “Con chó có Phật tính không?” Đáp: “Không”. Rồi có kẻ hỏi trở lại câu hỏi đó. Châu đáp:“Có”.
Niêm: Hai lần chọn một lần thi.
Tụng:   
Trước mặt tùy cơ nói hữu, vô
Lời ra, diệt hết cả quần Hồ
Một đời tự phụ trang anh hán
Rốt cuộc vẫn còn chưa trượng phu.

Công án thứ hai mươi bốn
Cử: Triệu Châu nói: “Chốn có Phật thì không được ở lại; chốn không Phật thì phải vượt qua cho mau”.
Niêm: Nước dồn lại thành vụng, gậy đánh xuống thành vết.
Tụng:   
Nơi có nơi không đều mất hết
Lời kia rốt cuộc vẫn chưa tròn
Sau bữa niêm hoa, tường thuật lại
Không rời nửa bước tới tây phương.

Công án thứ hai mươi lăm
Cử: Thủ Sơn cầm chiếc gậy tre nói: “Gọi cái này là gậy tre thì sẽ nhận một gậy, mà không gọi nói là gậy tre thì sai trái. Vậy thì gọi nó là cái gì?”[12]
Niêm: Đừng cựa quậy; ai cựa quậy sẽ lảnh đủ ba mươi gậy.
Tụng:   
Phải trái đôi bên phải rạch ròi
Nói cho minh bạch, đấy là ai?
Tuy là đường rộng thênh thang đó
Vẫn còn lận đận lắm chông gai.

Công án thứ hai mươi sáu
Cử:  Có vị tăng hỏi Động Sơn: “Phật là gì?” Động Sơn nói: “Ba cân gai trên vách”.
Niêm:   Gọi là một vật rốt cũng không đúng.
Tụng:   
Phật vốn là gì? Xin đáp rõ
Ba cân gai ấy của Động Sơn
Tuy không lặn lội phong trần nữa
Vẫn còn lấy cảnh chỉ bày tâm.[13]


Công án thứ hai mươi bảy
Cử: Có vị tăng hỏi Hiện Tử hòa thượng về ý của Tổ sư từ Tây Vức tới. Hiện nói: “Cái đài bàn cúng rượu trước miễu thờ thần”.
Niêm: Chưa phải sư tử con thì còn chưa miễn chạy theo cục đất.
Tụng:   
Dứt hết cội nguồn không chỗ tựa
Mượn điều trước mắt gọi chiều sâu
Tổ ý nếu là bàn cúng rượu
Gọi quần là khố được hay sao?


Công án thứ hai mươi tám
Cử:  Vô Nghiệp quốc sư nói: “Nếu trên đầu một mũi lông mà quan niệm phân biệt phàm thánh chưa dứt thì vẫn chưa miễn được cái cảnh đi vào thai lừa bụng ngựa”. Bạch Vân Đoan hòa thượng nói: “Thiết sử trên đầu một mũi lông mà quan niệm phân biệt phàm thánh đã dứt, thì cũng vẫn chưa miễn được cái cảnh đi vào thai lừa bụng ngựa kia mà”.
Niêm:   Đốt núi thì cọp chạy, khua bụi thì rắn hoảng.
Tụng:   
Lời nói vẫn còn chưa khí phách
Cần chi đập bụi để xà kinh
Trường An lối cũ đà thông thạo
Thì hỏi thăm chi nữa lộ trình?


Công án thứ hai mươi chín
Cử:  Huyền Sa khai thị chúng: “Các vị lão túc nói thường hết lòng tiếp vật độ sinh. Giá có một kẻ vừa mù vừa câm vừa điếc đi tới, làm sao tiếp độ? Cầm chùy đưa phất trần lên thì kẻ kia 
không thấy, giảng thiền tam muội thì kẻ kia không nghe, dạy đọc kinh thì kẻ kia mở miệng không được”.
Niêm: Khát thì uống, đói thì ăn, lạnh thì choàng áo, nóng thì phẩy quạt.
Tụng:   
Buồn thì xịu xuống; vui, cười lên
Mũi giọc mày ngang lẽ tự nhiên
Nóng lạnh đói no tùy xử sự
Nghi ngờ chi nữa luống ưu phiền ?


Công án thứ ba mươi
Cử: Thoại Nham thường tự gọi: “Này chủ nhân ông! Tỉnh tỉnh dậy! Từ nay về sau đừng để cho người ta khinh khi nữa !”
Niêm: Kêu được thì chỉ chảy máu miệng ra thôi, nào có ích gì đâu. Chẳng bằng ngậm miệng lại mà đợi mùa Xuân tàn.
Tụng:   
Tài lược trầm cơ đã dụng công
Ngờ đâu chưa đáng mặt anh hùng
Nếu quả tướng tài vô địch thật
Mặt trời bắn thử rớt hay không ?

Công án thứ ba mươi mốt
Cử: Tam Thánh[14] nói: “Ta gặp người thì ra, nhưng chẳng phải là ra vì người”. Hưng Hóa nói: “Ta gặp người thì không ra, nếu ra là vì người mà ra”.
Niêm: Một con rùa mù làm bạn với hai con ba ba què.
Tụng:   
Khi khát nào ai uống nước tương
Cả ngày bụng lép, nói “ăn” suông
Dao sắc đôi chiều, đừng liếm mật
Có ngày đứt lưỡi, chớ khinh thường.

Công án thứ ba mươi hai
Cử: Nam Tuyền thấy Đặng Ẩn Phong tới, liền chỉ vào tịnh bình mà nói: “Tịnh bình là cảnh, ông không nên dính vào cảnh”.
Niêm: Nói rằng có cảnh, nhưng dính vào đâu ?
Tụng:   
Gương trong thanh tịnh, bụi đâu ra,
Lau rửa mà chi nhọc sức ta
Nhàn tịnh vui theo từng cảnh giới
Cơm xong hãy uống một chung trà.

Công án thứ ba mươi ba
Cử: Thạch Đầu nói: “Như vậy cũng không được, không như vậy cũng không được, vừa như vậy vừa không như vậy cũng không được”.
Niêm: Chư hạnh vô thường, tất cả đều chứa chấp khổ não.
Tụng:   
Muốn kể cho người câu chuyện hay
Hiềm vì cửa động đám mây bay
Dù có tài tình trong lúc nói
Vạn dặm còn xa ý chỉ này.

Công án thứ ba mươi tư
Cử: Có vị tăng hỏi: “Cảnh giới Giáp Sơn thế nào?” Sơn đáp: “Sau khi vượn mẹ ôm con về rừng xanh, hoa rụng tơi bời nơi thung lũng biếc”.
Niêm: Đem theo cây gậy, gặp sân khấu ở đâu thì múa chơi ở đó.
Tụng:   
Giáp Sơn u tịch không ai tới,
Ai thấy cho tường cảnh giới xa?
Gặp bậc siêu phàm đôi mắt tuệ
Thì nghe trống ngọ giữa canh ba.

Công án thứ ba mươi lăm
Cử: Có vị tăng hỏi Mục Châu: “Trong một hơi thở, có thể thông qua một đại tạng kinh không ?” Châu nói: “Có anh chàng bán bánh Tất La [15] thì dắt tới đây mau”.
Niêm: Buông xuôi hai tay mà về được tới nhà, không cần bước mỏi.
Tụng:   
Kinh tạng chuyển hồi trong hơi thở
Tìm cành nhặt lá để làm chi
Diệu nghĩa thâm uyên đà hiện sáng
Tham vấn sơn tăng được ích gì ?

Công án thứ ba mươi sáu
Cử: Trong một kỳ chúng hội dưới sự chủ tọa của Lâm Tế, cả hai vị thủ tọa của hai thiền đường đồng thời hét lớn. Có vị tăng hỏi: “Như thế còn có chủ khách nữa thôi ?” Lâm Tế nói: “Thì chủ khách rõ ràng đó”.
Niêm: Cũng chỉ là khỉ bạch nói lăng nhăng.
Tụng:   
Phật tại trời cao reo tiếng gió
Ý sâu công án thế mà thôi
Cũng nhờ phân được rành cương giới
Mới hiểu lòng dân giúp đỡ đời.



Công án thứ ba mươi bảy
Cử: Huyền Sa nói: “Ta cũng như chủ nhân một thửa ruộng, đem cắt bán hết cho người khác, duy còn lại một cái cây ngay giữa trung tâm, ta giữ trong quyền sởhữu của ta”.
Niêm: Biển lớn không dung nạp tử thi.
Tụng:   
Nếu quả là người chân liễu ngộ
Thì tâm vô niệm hết phân vân
Dù xem vàng vạc như hơi bụi
Mắt vẫn còn rơi một mảy trần.

Công án thứ ba mươi tám
Cử: Có vị tăng hỏi Thiền Sư Huệ Tư về đại ý Phật pháp. Tư nói: “Gạo ở Lư Lăng giá bao nhiêu?”
Niêm: Bóng trúc quét thềm, bụi trên thềm không lay  động
Vầng trăng chiếu nước, mặt nước không vết ghi.
Tụng:   
Ngữ khí quả là trang hảo hán
Tùy theo căn tính độ quần sinh
Lư Lăng giá gạo bao nhiêu nhỉ?
Rút lại gang tay vạn lý trình.

Công án thứ ba mươi chín
Cử: Có vị tăng hỏi Văn Thù [16]“Vạn pháp đi về một, một đi về đâu?” Thù nói: “Sông Hoàng Hà chín khúc”.
Niêm: Có lúc vì trăng sáng quá, chẳng biết rằng thuyền đã vượt quá Thương Châu.
Tụng:   
Chín khúc sông Hoàng khai tuệ nhãn
Đường xa không bước vẫn về nhà
Mở mắt bao lần quan sát lưới
Không dè chim hạc đã bay qua!

Công án thứ bốn mươi
Cử: Nam Tuyền hỏi Triệu Châu: “Chú là sa di có chủ hay sa di chưa có chủ?” Triệu Châu nói: “Có chủ”. 
Nam Tuyền hỏi: “Chủ là ai?” Triệu Châu chấp tay trước ngực nói: “Hôm nay trời lạnh, mong hòa thượng giây phút nào cũng có hạnh phúc”.[17]
Niêm: Khéo tay thì dùi cũng như kim.
Kẻ khéo sử dụng thì vẫn thấy tiện lợi.
Tụng:   
Chú Triệu chấp tay mà nói khéo
Né hai thái cực, đứng trung dung
Đâu biết Hoa Lam Hàn lệnh thuật
Nào hay chàng Hội rút về không?

Công án thứ bốn mươi mốt

Cử: Có vị tăng hỏi Một Am: “Thế nào là nạp y hạ sự?”[18] Am nói: “Kim đâm không thủng”.
Niêm: Tĩnh tọa không còn một mảy bụi, hư không chẳng có lối thông thương.
Tụng:   
Mũi sắt dùi đồng xuyên chẳng thủng
Cầm lên mềm mại như bông tơ
Hư không lành lặn không khe hở
Đêm về hoa mộc nở thơm tho.

Công án thứ bốn mươi hai
Cử: Bàng cư sĩ [19] tuyên bố:
“Đây là trường thi tuyển
Phật, ai tâm không thì trúng tuyển vinh quy”.
Niêm: Danh đề tháp nhạn, không cho nạp quyển trắng đâu nhé.[20]
Tụng:   
Lông chim mà kết được giày rơm
Tuyển Phật trường kia vượt vũ môn
Nếu nói tâm không thì trúng tuyển
Coi chừng bầm tím vết roi đòn.

Công án thứ bốn mươi ba
Cử: Từ Minh hỏi Chân Điểm Trụ: “Thế nào là đại ý Phật pháp?” 
Chân nói: “Không có mây sinh trên đỉnh núi mà có mặt trăng rụng trong lòng sóng nước”. 
Minh hét: “Đầu bạc răng long mà còn có kiến giải tệ như thế ư?” Chân khóc một hồi rồi nói: “Như thế tôi quả thật chẳng biết thế nào là đại ý Phật pháp”. 
Từ Minh nói: “Không có mây sinh trên đỉnh núi mà có mặt trăng rụng trong lòng sóng nước”. 
Chân bèn đại ngộ.
Niêm: Kẻ nhàn giả thì cho đó là nhàn, kẻ trí giả thì cho đó là trí.
Tụng:   
Đây đó cùng chung một điệu đàn
Lòng xin trao gửi với tri âm
Non cao sông rộng dù sai khác
Trăng sáng mây quang nghĩ đại đồng. 

| Nhất Hạnh dịch 
Công phu khóa hư cử niêm tụng


[1]. Ca Diếp, Mahakasyāpa, là một trong mười vị đệ tử của Phật. Một hôm trên đại hội Linh Sơn, Phật cầm một cành hoa nhìn đại chúng không nói năng gì. Tất cảđại chúng đều giữ im lặng. Duy có Ca Diếp mỉm cười. Phật nói: “Ta có chánh pháp nhãn tạng, niết bàn diệu tâm, thật tướng vô tướng, pháp môn vi diệu, nay phú chúc cho Ma Ha Ca Diếp”.

[2]. Một nhà triết học ngoại đạo tới hỏi Phật; nhưng không muốn nghe về hữu mà cũng không muốn nghe về vô. Phật ngồi yên lặng hồi lâu trên pháp tọa, không nói năng gì. Nhà triết học khen ngợi: “Đức Thế Tôn đã phá tan màn mây vô minh khiến cho tôi thấy được chân lý”. Nói rồi làm lễ Phật và rút lui. A Nan hỏi Phật: “Người ngoại đạo đó đã chứng được gì? Tại sao ông ta làm lễ Phật rồi bỏ đi?” Phật nói: “Con ngựa hay chỉ cần thấy bóng của cây roi là đã chạy rồi”.

[3]. Khi Văn Thù tới Phật hội thì chư Phật đã tục tục giải tán đi về.  Chỉ có một phụ nữ tiến đến gần pháp tọa của đức Thế Tôn rồi ngồi nhập thiền định.  Văn Thù liền thưa với Phật: “Tại sao một phụ nữ còn được tiến lại gần pháp tọa của Ngài còn con thì không?” Phật nói: “Ngươi hãy đánh thức người đàn bà này dậy rồi hỏi ngay người đó”.  Văn Thù đi quanh ba lần và búng ngón tay.  Người đàn bà không xuất định.  Văn Thù bay lên trời Phạm Thiên và dùng thần thông kéo người đàn bà đứng dậy.  Cũng không thành công.  Phật nói: “Dù cho cả trăm ngàn Văn Thù hợp lại cũng không thể đánh thức người đàn bà này.  Chỉ có Bồ Tát Võng Minh cách đây hằng hà sa thế giới mới có thể đánh thức được”.  Sau đó, Võng Minh xuất hiện từ dưới đất lên và đảnh lễ Phật.  Phật ra hiệu cho Võng Minh.  Võng Minh búng ngón tay và người đàn bà xuất định.
Nên nhớ Văn Thù Bồ Tát tượng trưng cho trí tuệ còn Võng Minh thì trái lại.
[4]. Xe và sách: Sách Trung Dung có câu: “Nay cùng ở dưới gầm trời, xe chung đường, sách chung chữ”.  Ý nói: có sự liên lạc thông cảm giữa mọi người trong thiên hạ.

[5]. Huệ Trung Quốc Sư, người Chiết Quang, pháp tử của Lục Tổ Huệ Năng.

[6]. Triệu Châu hỏi Nam Tuyền: “Đạo là gì?” Nam Tuyền đáp: “Tâm hàng ngày của ta là đạo”.  Triệu Châu nói: “Như vậy thì không cần tu hành phải không?” Nam Tuyền nói: “Nếu ngươi có ý định tu hành thế là đạo không còn nữa”.  Triệu Châu nói: “Nếu tôi không có ý định, thì làm sao tôi biết đó là đạo?” Nam Tuyền nói: “Đạo không phải ở nơi biết hay là không biết.  Nếu nói là biết thì là biết cái gì; đó chỉ là vọng giác.  Nếu nói nó là không biết, thì là vô ký mất.  Nếu ngươi đạt đến trình độ không còn nghi ngờ gì nữa thì tự nhiên thái hư mở rộng, sự vật dung hợp.  Đạo không nằm ở chỗ phân biệt và phê phán phải trái”.

[7]. Lâm Tế Lục: Triệu Châu một hôm khai thị đại chúng: “Các ngươi biết không, có một bậc vô vị chân nhân trên đống thịt đỏ thường hay ra vào ở cái cửa phía trước mặt các ngươi.  Các ngươi có biết người ấy là ai không.  Nếu không biết thì hỏi ta”.  Có một vị tăng hỏi: “Thế nào là vô vị chân nhân?” Triệu Châu liền đánh một gậy và nói: “Vô vị chân nhân là cái cứt khô gì?” Trong bài Phổ Thuyết Sắc Thân ở Khóa Hư Lục, Trần Thái Tông cũng nhắc đến đề tài Vô Vị Chân Nhân nhưsau: “Đã mang lấy thân thể này thì bỏ nó đi thật là một chuyện thiên nan vạn nan.  Làm sao để không bị thân thể này ràng buộc?  Nếu còn bị ràng buộc thì hãy nghe đây:
Vô vị chân nhân thịt đỏ au
Hồng hồng trắng trắng khéo lừa nhau
Ai hay mây cuốn, trời quang tạnh
Hiện rõ bên trời đỉnh núi cao”.
[8]. Có một bà già lập quán nước trên đường đi Đài Sơn.  Những vị tăng hành cước sau khi uống trà xong thường hỏi: “Đường này đi lên Đài Sơn đây phải không bà cụ?” Bà già đáp: “Cứ đi thẳng lên đấy”.  Khi vị tăng vừa đi khỏi vài ba bước là bà già nói thầm: “Cái ông thầy tu a dua này cũng thế”.  Việc xảy ra nhiều lần, lọt đến tai Triệu Châu.  Triệu Châu nói: “Như vậy để ta thử đi xem sao!” Đến nơi, uống nước xong Triệu Châu hỏi: “Này bà cụ, có phải con đường lên Đài Sơn đây không?” Bà già đáp: “Cứ theo đường ấy là được”.  Triệu Châu vừa đi khỏi vài bước, bà cụ lại nói: “à cái ông thầy a dua này, lại cũng đi như thế nữa!” Triệu Châu không nói gì, về nói lại với đại chúng: “Cái bà già ở Đài Sơấy hôm nay ta đã khám phá ra tung tích  rồi!”

[9]. Địa danh huyện Lam Điền, tỉnh Thiểm Tây, phong cảnh thanh tú. Vương Duy đời Đường đã vẽ nhiều bức tranh về vùng này.

[10]. Câu nói này của Triệu Châu là để trả lời câu hỏi của một vị tăng: “Vạn pháp đi về một, một đi về đâu?”

[11]. Có vị xuất gia hỏi thiền sư Triệu Châu: “Nghe nói Ngài có đích thân gập thiền sư Nam Tuyền, phải không?” Triệu Châu nói: Ở Trấn Châu củ cải lớn lắm”.

[12]. Sau đó một vị tăng tên Quy Tỉnh đoạt chiếc gậy, liệng xuống đất nói: “Là cái gì?” Thủ Sơn nói: “Cái ông thầy mù chột”. Nghe câu ấy, Quy Tỉnh đại ngộ.

[13]. Về câu hỏi “Ý của Tổ sư từ Tây Vức lại”.  Một hôm Triệu Châu trả lời một vị tăng: “Cây bách ở trước sân”. Vị tăng nói: “Xin hòa thượng đừng lấy cảnh chỉ bày tâm”. Triệu Châu nói: “Lão tăng chưa từng lấy cảnh chỉ bày tâm bao giờ”. Vậy thì thế nào là “Ý của Tổ sư từ Tây Vức lại ?” Triệu Châu nói: “Cây bách ở trước sân”.

[14]. Tam Thánh: tên chữ và cũng là danh hiệu của thiền sư Tuệ Nhiên, môn đệ thiền sư Lâm Tế, người biên chép Lâm Tế Lục

[15]. Tất La là một thứ bánh.  Sách Tây Dương Tạp Trở kể chuyện có người nằm mơ vào ăn bánh Tất La trong quán, đến khi tỉnh dậy anh chàng bán quán tới nhà nói: “Ông là khách vào quán ăn hết hai cân bánh Tất La sao chưa trả tiền mà lại bỏ đi ?”

[16]. Văn Thù Viên Minh, người Phúc Châu.  Sau khi đắc pháp đi du hành tại Ngũ Đài Sơn cảm thụ được sự hóa hiện của Văn Thù Bồ Tát, nên ở lại lập Văn Thù Viện.  Sống tới 136 tuổi.

[17]. Bích Nham tập

[18]. Chiếc áo tầm thường của tăng sĩ kết lại bằng nhiều mảnh vải vụn.

[19]. Bàng cư sĩ, tên là Bàng Uẩn người Hồ Nam, tinh thâm Nho học, quy y Phật pháp, tham học với Thạch Đầu hòa thượng.

[20]. Bất dung duệ bạch: không được nộp quyển trắng. Quyển trắng là quyển của thí sinh không làm được bài nào.


Ý NGHĨA THỰC CỦA ĐÁM CƯỚI HUYỀN TRÂN


Thánh địa Mỹ Sơn - Quảng Nam

Lịch sử Phật giáo không có nhiều người tu hành đắc đạo, trong đó càng không có nhiều người từng là vua như Trần Nhân Tông. Và trong số đó càng không có nhiều vị vua hai lần trực tiếp cầm quân đánh tan xâm lược Nguyên Mông hùng mạnh từng chinh phục cả thế giới thời đó. Nhìn ở góc độ nào, thì việc mãi đến hôm nay mới làm lễ kỷ niệm, tưởng nhớ và đề nghị UNESCO công nhận Trần Nhân Tông danh nhân văn hóa thế giới là một thiếu sót và chậm trễ đáng tiếc. Và, cũng sẽ lại thêm một thiết sót đáng tiếc nữa nếu lần hội thảo khoa học về thân thế và sự nghiệp của vua Trần Nhân Tông này, chuyện gả công chúa Huyền Trân cho Chế Mân đem về Châu Ô, Châu Lý vì một lý do nào đó lại không được đem ra nhìn nhận một cách thấu đáo. 

Trong lịch sử mối quan hệ Việt Chăm có một thời kỳ vô cùng đặc biệt, đó là giai đoạn cùng nhau hợp tác chống lại quân Nguyên Mông. Sử ký Toàn thư và Cương Mục của Đại Việt chép lại thật ít các sự kiện này, thế nhưng trong các sách Trung Hoa, nhất là Nguyên sử, chúng ta tìm thấy nhiều chi tiết thật thú vị để từ đó có thể hiểu hơn việc Nước non ngàn dặm ra đi - cái tình chi - mượn màu son phấn - đền nợ Ô- Li... buồn hiu hắt trong câu ca Huế điệu Nam Bình.

Không được Đại Việt cho mượn đường bộ, năm 1282 Toa Đô dẫn 1.000 chiến thuyền tới cửa biển Chiêm Thành và chiếm thành Đồ Bàn, vua Chiêm là Indravarman phải rút chạy lên núi để cầm cự, cho đến năm 1285, khi Nhân Tông phản công, đánh bại Thoát Hoan, chém đầu Toa Đô, thì Chiêm Thành mới được giải phóng khỏi sự chiếm đóngcủa quân Mông Cổ. Trước đó, năm 1284, Nguyên sử chép: Nhân Tông phản đối lời vu cáo nói rằng ông đã viện trợ cho Chiêm Thành và đã gởi hai vạn quân và 500 chiến thuyền cho Chiêm Thành: “Nếu xứ này không giữ hết bổn phận đối với thiên triều thì đó cũng không phải là một lý do để tôi giúp Chiêm Thành” (Nguyên sử. Dẫn lại theo G.Masperro: Vương quốc Chămpa, tr 184). Đọc lời phản đối này chúng ta hiểu quả thật Đại Việt đã giúp Chiêm Thành rất nhiều, và cũng là để bảo vệ chính mình, trước sự xâm lược của quân Nguyên.

Năm 1293, Nhân Tông nhường ngôi cho con là Anh Tông, làm Thượng Hoàng và quyết chí tu hành. Năm 1301, ông đi vân du Chiêm Thành và ở lại đó đến 9 tháng. Cũng dễ để hình dung ông được Chiêm Thành kính trọng như thế nào. Mục đích chính của Nhân Tông là gì trong chuyến đi Chiêm Thành năm 1301 ấy sử sách chép lại thật ít; thế nhưng cứ suy từ tâm trí của một người đã dứt bỏ cả ngai vàng, quyết chí tu hành thì ta hiểu ông không có mục đích nào khác là tìm đạo. Phật giáo Đại Thừa lúc này đã phát triển mạnh ở Trung Hoa, tuy nhiêu điều đó dường như không làm ông vừa lòng. Chiêm Thành lúc này có nhiều tông thừa Phật giáo thế nhưng theo Pháp SưNghĩa Tịnh trong “Nam Hải Ký Quy Truyện” (thế kỷ 7) thì : “Trong xứ này, nhìn chung những người theo Phật giáo đều theo học kinh tạng Chính Lượng và kinh tạng Hữu bộ”. Chính lượng và Hữu Bộ là hai hệ phái gắn liền với Phật giáo Nguyên Thủy(Theravada), Tiểu Thừa. Bức tượng Trần Nhân Tông trong nếp áo Nam Tông tuy đã nói rõ hệ phái ông Tu tập, thế nhưng bên cạnh đó các yếu tố Đại Thừa từ Thần ThánhTông đến Tuệ Trung Thượng Sĩ cũng rõ ràng không kém. Không xác định bức tượng đá tạc được tạc vào lúc nào nhưng các hoa văn gắn liền trên bệ tượng cho thấy tượng được làm từ thời Trần.

Sử Ký Toàn Thư năm 1304 cũng chép một câu rất ngắn, như là vu vơ và rất lạ theo truyền thống chép sử: “Sư Du Già nước Chiêm Thành sang ta, chỉ ăn sữa bò”. Không thấy sử chép Nhân Tông có mời hay có tiếp vị sư này, thế nhưng việc Sử Ký Toàn Thư chép lại, dù chỉ một câu, cho thấy có thể vị sư này là quốc khách.

Mối quan hệ, quan tâm của Trần Nhân Tông với hệ phái Phật giáo phương Nam, qua ngã Chiêm Thành là có thể hiểu được, ông dường như thực sự đã tìm thấy điều gì đó ở giáo lý tu tập hệ phái này. Và qua bài phú “Cư trần lạc đạo” nổi tiếngtiêu biểu cho Trần Nhân Tông : “Ở đời vui đạo hãy tuỳ duyên, Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền. Trong nhà có báu thôi tìm kiếm, Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền” cũng thấm đẫm tinh thần giác ngộ của hệ phái Nguyên thuỷ, đó là đề cao nhận thức vạn pháp do duyên khởi, không đề cao Phật tánh như Đại Thừa, tức sự giác ngộ rốt ráo của thân và tâm, sống với sự nhận thức chứ không sống với sự giác ngộ, lấy đối cảnh vô tâm thay thế cho sự viên giác... Ngay trong bài kệ trước lúc nhập Niết Bàn cũng cho thấy tinh thần Nam Tôngcủa ông là rất rõ: “Các pháp vốn không sinh/ Các pháp vốn không diệt/ Nếu hiểu rõnhư thế/ Chư Phật thường hiện tiền…” Phật giáo Đại Thừa, hay chính xác hơn là Thiền Tông không đề cao sự HIỂU nào cả, mà ngược lại, lìa tri kiến mới khả dĩ nhập đạo.

Dài dòng ra ngoài bài một cái chuyện vô cùng to như vậy không nhằm chứng minh pháp môn chính thức của Trúc lâm Yên Tử là gì mà chỉ để góp phần hiểu mục đíchthực sự Trần Nhân Tông trong chuyến vân du đến Chiêm Thành là thực sự vì đạo chứ không phải vì mục đích chính trị, và gả con gái Huyền Trân cho Chế Mân để lấy về Ô, Lý không phải là tâm thứcmục đích của người đã thực sự vì đạo như Trần Nhân Tông lúc ấy.

Và chúng ta hãy xem lại các hiện vật mới được tìm thấy trong các hố đào khảo cổ kinh thành Thăng Long. Theo cố giáo sư Huỳnh Ngọc Trảng (trong tạp chí Tia Sáng5/2004) thì những hiện vật trong lớp văn hoá thời Lý Trần đều thấm đẫm dấu ấn văn hoá Chămpa. Đó là con ngan (vịt xiêm) trên các viên ngói Thăng Long (con vật mà theo truyền thống người Việt là con vật không may mắnthấp kém) chính là con vịt thần Hamsa, vật cưỡi của Brahma, và cũng là con vật bạn của nữ thần thơ ca Srasvati; đó là cái đầu rồng thời Lý có môi trên cong dài không khác mảy may với con rồng Chămpa Makara; đó là chiếc mặt quỷ giống hệt với các Kala, thần Thời gian, nằm quanh chân tháp G1 ...! Và cũng năm 2003 ấy, tháp G1 ở Mỹ Sơn, tháp được xây dựng vào thời Nhân Tông vân du Chiêm Thành, các nhà khảo cổ đã lần đầu tìm thấynhiều chữ Hán (như chữ Trần) được chạm vào các viên gạch, đá trong thân tháp.

Với cái nhìn đồng đại, lúc ấy, đất nước Chiêm Thành và văn hoá Chămpa không hề thua kém Đại Việt, nếu không nói là Thăng Long lúc ấy bị ảnh hưởng phương Nam nhiều hơn phương Bắc. Và việc gả công chúa Huyền Trân vì thế không phải là cái gì quá không hay cho quốc thể.

Việc hứa gả Huyền Trân của Nhân Tông là không kèm điều kiện mà thực sự xuất pháttừ sự nhận thấy Chế Mân là khả ái. Theo Masperro, Chế Mân vì thấy triều đình do dựnên đã tự tăng quà sính lễ. Và với hai châu Ô, Lý; Trần Anh Tông đã đồng ý gả em gái.

Nhiều đánh giá khác nhau về cuộc hôn nhân này cho đến tận hôm nay; nhưng cho dù thế nào chăng nữa thì điều đó cũng ở ngoài ý nghĩ của người tạo nên cuộc hôn nhânđó, tức Trần Nhân Tông

___________________

• Hồ Trung Tú

QUÊ HƯƠNG, NGÔI CHÙA VÀ THIÊN NHIÊN TRONG CÕI THƠ CỦA TRẦN NHÂN TÔNG

Thị phi, thành bại, vinh nhục cùng bao nhiêu chuyện đời lô nhô lố nhố khác cũng ra đi cùng với trận mưa đêm qua. Cuối cùng, chẳng còn lại gì cả, chỉ còn một chút "núi non tịch mịch" đọng lại trong hồn Thiền sư thi sĩ mà thôi.

I. Quê hương là gì?

 

Một bữa nọ về thăm quê của Tổ phụ, Trần Nhân Tông đã leo lên ngọn đồi cao sau làng. Ta có thể đoán chắc như vậy, vì phải đứng trên cao thì Trần Nhân Tông mới thấy toàn thể cảnh vật buổi chiều tà nơi phủ Thiên Trường. Như bài thơ mà ông đã làm sau đây:

 

Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên

Bán vô bán hữu tịch dương biên

Mục đồng địch lý quy ngưu tận

Bạch lệ song song phi hạ điên.

(Thiên trường vân vọng)

 

Thôn trước, thôn sau đều mờ mờ như khói phủ

Bên bóng chiều (cảnh vật) nửa như có, nửa như không

Trong tiếng sáo, mục đồng lùa trâu về hết

Từng đôi cò trắng hạ cánh xuống đồng.

 

Dù đó chỉ là buổi chiều tà trên làng Tức Mặc của phủ Thiên Trường, nơi chôn nhau cắt rốn của Tổ tiên Trần Nhân Tông, nhưng với chúng ta, là người Việt Nam, mà hầu hết cuộc đời đều gắn chặt với miếng ruộng, mảnh vườn, thì bốn câu thơ mà Trần Nhân Tông đã tả cảnh chiều trên quê hương của ông, cũng có thể là cảnh chiều tà trên quê hương của mỗi người trong chúng ta nữa.

 

Nhưng vì long đong chạy theo cuộc sống nên chúng ta bị bắt buộc phải sống tha hương. Rồi đến một lúc nào đó, khi ta đã bắt đầu cảm thấy già nua, tàn tạ, khi ta cảm thấy mất mát nơi tâm hồn, thì lúc bấy giờ ta mới ngoái nhìn lại tuổi thơ: Ở đó, có con đường làng êm ả, có đàn cò trắng đứng trên cánh đồng lúa xanh, có dăm ba đứa trẻ lùa trâu về chuồng, trong bóng chiều mờ mờ khói phủ.

Thứ bóng chiều mà Trần Nhân Tông đã quan sát rất tinh tế qua câu: "Bán vô bán hữu tịch sương biên". Tức là "Trời nhá nhem tối" hay "Trời chạng vạng" như người dân ở các miệt miền quê thuộc miền Trung vẫn thường gọi như vậy, để chỉ lúc ngày và đêm đang giao thoa với nhau.

 

Thật là một điều sai lầm, trong thi ca cổ điển của Việt Nam, ngay cả Nguyễn Du, một thi hào đã nhìn thấu suốt hết nỗi "đoạn trường" của kiếp nhân sinh, khiến mỗi lần chúng ta đọc đến là thấy tâm hồn buốt lạnh. Vậy mà khi tả về phong cảnh thì tuyệt nhiên không thấy con trâu, con bò, con cò trắng hay cánh đồng lúa xanh đâu cả. Phải đợi đến Nguyễn Khuyến, tức là đến tận cuối thế kỷ thứ 19 thì phong cảnh và đời sống "chân lấm tay bùn" của quê hương mới xuất hiện trong thi ca. Vì sao như vậy? Có lẽ, đó là kết quả đương nhiên của lối học từ chương chăng? Hay cũng có thể là vì mặc cảm nữa, rằng sự nghèo nàn và mộc mạc đối với họ không phải là cái đẹp mà thi ca họ muốn hướng đến.

 

Chính vì thế, mà mỗi khi tả về phong cảnh thì lúc nào cũng phải có "tuyết, nguyệt, phong, hoa" hay "hồ, đình, liễu, tạ", những cảnh mà ta bắt gặp đầy dẫy khi đọc thi ca Trung Quốc. Mặc dù, chính họ thì đang sống và đôi chân hằng ngày vẫn lê bước trên những con đường thôn dã của Việt Nam.

 

Trong khi đó, Trần Nhân Tông được sinh ra và lớn lên giữa chốn triều đình, không sống ở thôn dã. Thế mà Trần Nhân Tông đã làm một bài thơ phong cảnh, có thể nói là hoàn toàn Việt Nam. Như vậy, ta thấy rằng tấm lòng ông mộc mạc và gần gũi với quê hương đất nước đến chừng nào.

 

Một lần khác, cũng tại quê nhà, Trần Nhân Tông đi dạo một mình trên con đường đất có nhiều bùn lầy. Cơn mưa vừa tạnh, đã xóa sạch những đám bùn nhơ đó. Trước mắt Trần Nhân Tông hiện ra những màu sắc linh hoạt vô cùng:

 

"Lục ám hồng bi bội tịch liêu 

Tễ vân thôn vũ thổ hoa tiêu"

Màu xanh thẫm, màu đỏ thưa, cảnh thêm vắng vẻ

Mây quang, mưa tạnh, ngấn bùn đất cũng mất sạch

 

Trần Nhân Tông vừa đi vừa ngước nhìn ngôi chùa Phổ Minh rêu phủ thì lòng chợt u hoài vì nhớ đến vua cha:

 

"Phổ Minh phong cảnh hồn như tạc

Phảng phất canh trường nhập mộng nhiên"

Phong cảnh chùa Phổ Minh vẫn như trước,

Phảng phất trong chiêm bao hình dánh vua cha, như trông tường thấy bóng, ăn canh thấy hình...

 

Tại sao nhìn ngôi chùa mà lại nhớ đến vua cha? Phải nhìn những gì có liên hệ đến sinh hoạt của vua cha khi còn sanh tiền, như nơi làm việc của vua cha, lăng mộ của vua cha, nơi vua cha thường đi dạo như vườn ngự uyển thì nhớ vua cha mới hợp lý chứ? Có lẽ, đây là lần đầu tiên ngôi chùa và hình bóng người cha lại xuất hiện cùng một lúc trong cõi thơ của Việt Nam vậy.

 

Vì dường như, với Trần Nhân Tông, thì ngôi chùa, người cha, hay quê cha đất tổ cũng chỉ là một mà thôi?

 

Còn một biến cố này nữa, vào năm Mậu Thân, tức là năm 1308, chị của Trần Nhân Tông bị bệnh nặng. Thiên Thụy công chúa muốn thấy mặt em mình trước khi nhắm mắt, bèn sai người nhà lên Yên Tử báo tin. Trần Nhân Tông liền chống gậy xuống núi. Theo sách Thánh Đăng ngữ lục, thì Trần Nhân Tông bắt đầu rời núi từ mồng 3 nhưng đến mồng 10 mới đến kinh đô Thăng Long. Sau khi thăm và dặn dò chị xong, đến ngày Rằm Trần Nhân Tông lại chống gậy về núi trở lại.

 

Trên đường trở về, Trần Nhân Tông ghé và nghỉ lại trong một ngôi chùa cổ ở làng Hương Cổ Châu. Sáng hôm sau, trước khi tiếp tục lên đường, Trần Nhân Tông đã ghi lại bốn câu thơ này trên vách tường của chùa:

 

"Thế số nhất sách mạt

Thời tình lưỡng hải ngân

Ma cung hồn quản thậm

Phật quốc bất thắng xuân"

(Đề cổ Châu Hương thôn tự)

 

Số đời hoàn toàn mờ tịt

Tình người đổi thay qua đôi mắt

Khi cung ma bị quản chặt

Thì cõi Phật tràn ngập màu xuân.

 

Có những bài thơ, ta đọc mà không cần biết làm ở đâu và trong hoàn cảnh nào, nhưng đọc vẫn cứ thấy hay. Nhưng ngược lại, có những bài thơ mà ta phải biết lý do và hoàn cảnh khi tác giả làm, thì đọc mới thấy hay được. Đây là trường hợp bài "Đề cổ Châu Hương thôn tự" này chẳng hạn.

 

Đứng trước cái chết sắp xảy ra cho chị mình, Trần Nhân Tông không giữ được sự xúc động về số phận bi thảm của kiếp người.

 

Nhưng kiếp người càng đen tối bao nhiêu, thì ông lại càng tin tưởng mãnh liệt vào con đường đi lên đầy chông chênh mà ông đang đi bấy nhiêu. Vì, như Trần Nhân Tông đã viết:

 

"Phật Quốc bất thắng xuân"

Vì cõi Phật thì tràn ngập màu xuân

 

Và trên đỉnh cao của núi Yên Tử ấy, chắc Trần Nhân Tông đã tìm thấy một mùa xuân vô tận?

 

Nhưng bài thơ độc đáo ở chỗ, khi đọc lên ta thấy nỗi dằn vặt khôn nguôi của Trần Nhân Tông về thân phận bi thảm của kiếp người.

 

Đêm ấy, trong một ngôi chùa cổ ở làng Hương Cổ Châu, ta có thể đoán chắc rằng, cả đêm Trần Nhân Tông đã không chợp mắt được, vì ông đã bị đôi mắt của người chị mình ám ảnh. Trong đôi mắt ấy, hiện ra những mảnh đời: những năm tháng làm vua trong triều, cơ nghiệp nhà Trần, dù đang hồi hưng thịnh đấy, nhưng cuộc đời thì đầy dâu biển, chắc chắn một ngày nào đó không xa, rồi cũng sẽ như đôi mắt của chị mình, đôi mắt như đang luyến tiếc cả những năm tháng huy hoàng xưa, rồi cũng từ từ khép lại vĩnh viễn mà thôi.

 

Thì ra, ngôi chùa với Trần Nhân Tông, không chỉ là nơi ông trở về để an thân lập mệnh, mà cũng còn là nơi chốn để ông tâm sự về những nỗi dằn vặt và khổ đau của chính đời mình nữa.

 

II. Nếu ai đã từng đọc Thiền (Zen) và thi ca Nhật Bản, chắc khó quên được hai nhà thơ Tây Hành (Saigyo) và Ba Tiêu (Bashô).


Lịch sử thi ca Nhật Bản gọi họ là hai nhà thơ lãng tử, vì cả hai đều bỏ trọn cả đời để đi lang thang khắp mọi nẻo đường, nhất là những nẻo đường thôn dã của nước Nhật.

 

Họ đã đi tận đến những nơi xa xôi, đến tận những chân trời mênh mông bát ngát để lắng nghe niềm im lặng của cỏ nội hoa đồng.

 

Tây Hành và Trần Nhân Tông của Việt Nam có nhiều điểm tương đồng.

Tây Hành đã từ bỏ chức quan dưới triều Kiếm Thương (Kamakura). Và Trần Nhân Tông thì từ bỏ ngôi báu của nước Đại Việt. Như vậy là, cả hai cùng từ bỏ giai cấp quý tộc của mình để đi tu, và cả hai đều say mê Phật giáo Thiền Tông.

 

Ở Nhật Bản, chân dung của Tây Hành trong chiếc áo du tăng, đứng ngóng ngọn núi Phú Sĩ phủ đầy tuyết trắng được trưng bày khắp nơi như niềm hãnh diện của dân tộc Nhật.

 

Nhưng rất buồn là ở Việt Nam, hầu như chỉ biết Trần Nhân Tông như một nhà anh hùng dân tộc hay vị sơ tổ của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, chứ ít ai biết Trần Nhân Tông như một thi sĩ lang thang. Sách Tam Tổ Thực Lục có ghi: "Điều ngự (tức Trần Nhân Tông) đã đi khắp mọi nẻo đường thôn quê, khuyên dân phá bỏ các dâm từ và thực hành giáo lý Thập Thiện".

 

Dĩ nhiên trong tư cách một Thiền sư, mà lại là người đã sáng lập ra Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, thì sứ mạng chính là hoằng dương chánh pháp, khai mở yếu chỉ của Thiền tông. Nhưng khi bước chân của Trần Nhân Tông đã lang thang đây đó thì cái đẹp của thiên nhiên cũng đã quyến rũ tâm hồn ông rất nhiều. Mặc dù, đang gánh vác nhiều trách nhiệm nặng nề nhưng khi đứng trước cái đẹp của thiên nhiên, thì Trần Nhân Tông như muốn bỏ hết mọi hệ lụy của cuộc đời, để được đắm mình trọn vẹn vào cái đẹp hồn nhiên của thiên nhiên. Bởi vậy, ông gần như muốn đưa ra một điều kiện cho những ai muốn cùng ông thưởng thức cái đẹp của thiên nhiên. Ví dụ, khi đứng trước một mùa xuân như thế này:

 

"Dương liễu hoa thâm điểu ngữ trì 

Họa đường thiềm ảnh mộ vân phi" 

(Xuân cảnh)

 

Trong khóm hoa dương liễu rậm, chim hót chậm rãi 

Dưới bóng thềm ngôi nhà chạm vẽ, mây chiều lướt bay.

 

Thì điều kiện của Trần Nhân Tông đưa ra như sau:

 

"Khách lai bất vấn nhân gian sự 

Cộng ỷ lan can khán thúy vi"

 

Khách đến chơi không hỏi việc đời 

Mà nên cùng tựa lan can ngắm màu xanh mờ mịt ở chân trời.

 

Chuyện đời, với Trần Nhân Tông là chuyện gì?

 

"Thị phi niệm trục triêu hoa lạc 

Danh lợi tầm tùy dạ vũ hàn 

Hoa tận vũ tình sơn tịch tịch 

Nhất thanh đề hiểu hựu xuân tàn"

 

Niềm thị phi rụng theo hoa buổi sớm 

Lòng lợi danh lạnh theo trận mưa đêm 

Hoa rụng hết, mưa đã tạnh, núi non tịch mịch 

Một tiếng chim kêu, lại cảnh xuân tàn.

 

Thị phi, thành bại, vinh nhục cùng bao nhiêu chuyện đời lô nhô lố nhố khác cũng ra đi cùng với trận mưa đêm qua. Cuối cùng, chẳng còn lại gì cả, chỉ còn một chút "núi non tịch mịch" đọng lại trong hồn Thiền sư thi sĩ mà thôi.

 

Để tiếp tục cuộc lãng du của đời mình, vào năm 1301, Trần Nhân Tông quyết định đi Chiêm Thành, không phải đi trong tư cách một vị Thái Thượng Hoàng của nước Đại Việt, mà ông đã ra đi như một du tăng, vì lúc bấy giờ ông đã đi tu rồi.

 

Khởi hành từ mùng 3 nhưng mãi đến tháng 11 năm đó Trần Nhân Tông mới về lại Thăng Long.

 

Không còn hồ nghi gì nữa, chắc chắn Trần Nhân Tông đã mang thông điệp hoà bình của Phật Giáo Đại Việt đến cho Chế Mân, vua của nước Chiêm Thành, trong cuộc gặp gỡ giữa hai người tại kinh đô Đồ Bàn.

 

Và cũng nhân cơ hội này, để tạo tình hữu nghị lâu dài cho hai nước nên Trần Nhân Tông đã hứa gả con gái mình, tức Huyền Trân công chúa cho Chế Mân. Ta có thể xem đây như là một hy sinh lớn lao, vì Trần Nhân Tông đã đặt quyền lợi Tổ quốc lên trên quyền lợi gia đình.

 

Nhưng điều mà ta muốn nói ở đây là: Trần Nhân Tông đã ra đi như một thi nhân, một thi nhân rất khát khao đến những miền đất xa lạ.

 

Con đường thiên lý từ Thăng Long đến Đồ Bàn (Bình Định ngày nay) biết bao là kỳ hoa dị thảo trên bước chân của thi nhân. Thiên nhiên lúc ấy vẫn còn hoang sơ. Sở dĩ ta gọi là hoang sơ vì con người thời ấy chưa hề có ý nghĩ chinh phục thiên nhiên.

 

Và con người sẽ trơ trọi biết bao, nếu con người bị ly cách khỏi thiên nhiên!

 

Ta có thể tạm kết luận một cách thơ mộng rằng, Trần Nhân Tông là thi nhân đầu tiên của nước ta, đã nhìn được dãy Trường Sơn chạy dọc theo miền Trung bấy giờ.

 

Có lẽ, từ thủa con người mới biết làm thơ, thì núi non đã là nơi gợi hứng vô tận cho hồn thơ của họ rồi, nhất là các thi sĩ của Đông phương.

 

Chẳng hạn, Tây Hành và Ba Tiêu luôn luôn đứng ngóng đỉnh núi Phú Sĩ của Nhật Bản phủ đầy tuyết trắng, Tô Đông Pha của Trung Quốc vẫn ôm giấc mộng khám phá cho được chân diện mục của núi Lô Sơn khuất sau những tảng mây mù, và Nguyễn Du của Việt Nam vẫn thường rong chơi trên chín ngọn Hồng Lĩnh.

 

Có lẽ, vì núi cao và đầy hiểm hóc, nên núi non vẫn luôn luôn là biểu tượng cho những kẻ đi tìm tuyệt đối.

 

Mà thi nhân, chẳng phải là kẻ đi tìm tuyệt đối đó sao?

 

Với Trần Nhân Tông cũng thế, trong bài phú bằng tiếng Nôm, bài "Cư trần lạc đạo", ông viết:

 

"Núi hoang rừng quạnh, ấy là nơi dật sĩ tiêu dao 

Chiền vắng am thanh, chỉn thật đạo nhân du hí.." 

 

Trần Nhân Tông mất ngày 1 tháng 11 năm Mậu Thân (1308). Vậy mà tháng 9 năm đó, ông đã cùng với đệ tử là Bảo Sát đi dạo khắp các núi nằm trong dãy Yên Tử, thì ta biết lòng của Trần Nhân Tông yêu núi non biết chừng nào!

 

Và đây là bài thơ ông đã làm khi đứng trên đỉnh núi cao:

 

"Địa tịch đài du cổ 

Thời lai xuân vị thâm 

Vân sơn tương viễn cận 

Hoa kính bán tình âm. 

Vạn sự thủy lưu thủy 

Bách niên tâm ngữ tâm 

Ỷ lan hoàng ngọc địch 

Minh nguyệt mãn hung khâm"

 

Cảnh vắng đài thêm cổ 

Xuân sang mầu chửa hồng 

Xa gần mây núi hợp 

Rợp bóng nẻo hoa lồng.

Vạn sự nước xuôi nước

Trăm năm lòng ngỏ lòng

Tựa hiên nâng sáo thổi

Trăng sáng đầy cõi tâm

(Nguyễn Lang dịch)

 

Có cái gì thôi thúc trong lòng muốn nói thành lời, nhưng ngôn ngữ không diễn đạt được, nên Trần Nhân Tông đành:

 

"Bách niên tâm ngữ tâm" 

Trăm năm lòng ngỏ lòng.

 

Và trên đỉnh núi cao chót vót ấy, có lẽ ông đã thoáng thấy "thiên thu vĩnh cửu" đang khẽ động trong lòng:

 

"Minh nguyệt mãn hung khâm" 

Trăng sáng đầy cõi tâm. 

Và còn gì nữa trong cõi thơ ấy?

 

Còn mùa thu. Nhưng mùa thu ở đây không phải là mùa thu của "rừng phong đã nhuộm màu quan san" hay màu thu của "Dặm xa lữ thứ" đượm màu biệt ly sầu thảm, mà ta đã từng thấy qua nhiều thời đại thi ca. Mùa thu ở đây hoàn toàn khác.

 

Đây là mùa thu của những kẻ đi tìm kiếm con đường để vượt qua khỏi giới hạn của sự sống và chết, vì đó là cội nguồn của khổ đau:

 

"Lão dung ảnh lý tăng quan bế 

Đệ nhất thiền thanh thu tứ trương"

Dưới bóng đa già, vị sư đang đóng cửa chùa

Một tiếng ve sầu, tứ thu man mác.

 

Dù thời gian có đang đi nhanh qua mái đầu bạc trắng, nhưng họ vẫn như "trơ gan cùng tuế nguyệt":

 

"Tục đa biến thái vân trường cẩu

Tùng bất tri niên tăng bạch đầu"

Thói đời nhiều thay đổi

Như mây trắng hóa chó xanh

Cây tùng chẳng biết đến năm tháng

Nhà sư đầu đã bạc.

Cây tùng và nhà sư đầu bạc.

 

Ta có thể xem đây là hai hình ảnh mà Trần Nhân Tông muốn gởi đến cho những người đang kiên trì đi tìm ý nghĩa đích thực của đời sống vậy.

 

III. Nhưng khi thi nhân đã trở thành Thiền sư, thì cách nhìn về thiên nhiên và nhất là về cuộc đời cũng hoàn toàn đổi khác.


Như bài thơ sau đây của Trần Nhân Tông:

 

"Niên thiếu hà tằng liễu sắc không

Nhất xuân tâm tại bách hoa trung

Như kim khám phá đông hoàng diện

Thiền bản bồ đoàn khán trụy hồng"

Niên thiếu chưa từng hiểu sắc không

Xuân sang hoa sắc vướng tơ lòng

Diện mục xuân nay từng khám phá

Thiền tọa an nhiên ngắm rụng hồng.

(Nguyễn Lang dịch)

 

Khi đọc bài thơ này, sẽ có nhiều người nghĩ là tâm hồn của các Thiền sư đã nguội lạnh rồi, không còn biết rung động với bao nỗi vui buồn của nhân thế nữa, thì làm sao các Thiền sư có thể xuống núi để cứu khổ cho cuộc đời.

 

Để tránh ngộ nhận này, ta có thể lấy câu: "Nhậm vận thịnh suy vô bố úy" - "Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãi" của Thiền sư Vạn Hạnh đời Lý, mà giải thích câu: "Thiền bản bồ đoàn khán trụy hồng" - "Thiền tọa an nhiên ngắm rụng hồng"... của Thiền sư Trần Nhân Tông đời Trần.

 

Như vậy "Thiền tọa an nhiên ngắm rụng hồng" không phải là không còn thiết tha với cuộc đời, mà phải hiểu là các Thiền sư không còn sợ hãi mọi thịnh suy, hưng phế, thành bại mà con người vẫn thường nơm nớp lo sợ.

Chính tinh thần không sợ hãi (vô bố úy) này của Phật giáo, mà Trần Nhân Tông đã hai lần lãnh đạo toàn dân đánh tan đạo quân xâm lược của đế quốc Nguyên Mông đến xâm lược nước ta, trong khi từ Đông sang Tây vào thời bấy giờ đang nằm trong cơn sốt Thát Đát (Tartar).

 

Để rồi cuối cùng, Trần Nhân Tông đã cùng với dân tộc hát lên bài ca chiến thắng:

 

"Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã 

Sơn hà thiên cổ điện kim âu"

Xã tắc hai phen chồn ngựa đá

Non sông nghìn thuở vững âu vàng.

(Trần Trọng Kim dịch)

 

Nhưng khi đã thành công rồi thì rút lui về lại núi rừng, để tìm lại niềm vui muôn thuở:

 

Cảnh tịch an cư tại tâm

Hương phong xuy đệ nhập tùng âm

Thiền sàng thọ hạ nhất kinh quyển

Lưỡng lự thanh nhàn thắng vạn kim"

Cảnh lặng, sóng yên, lòng tự tại

Gió mát thổi đến dưới bóng cây tùng

Giường thiền dưới gốc cây, kinh một quyển

Hai chữ thanh nhàn quý hơn vạn nén vàng

 

Đã gần tám thế kỷ trôi qua, thế mà những người con của quê hương đất nước vẫn tiếp tục ngóng vọng về dãy núi Yên Tử ấy, như để tìm lại vết chân của người.

 

Phải chăng Người là biểu tượng cho sự trở về của dân tộc?

 

________________

Thích Phước An

Nguồn: phatgiao.org.vn

THIỀN SƯ HƯƠNG VÂN ĐẠI ĐẦU ĐÀ


Đỗ quyên đề đoạn nguyệt như trú
Bất nhị tầm thường không quá Xuân.

Tiếng quyên từng chập vừng trăng sáng
Đâu phải tầm thường qua một xuân”.


I. CON NGƯỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA VUA TRẦN NHÂN TÔNG

Thái Tử Tất Đạt Đa từ bỏ cung vàng điện ngọc vợ đẹp con thơ, để ra đi tìm phương giải thoát cho chính mình và chúng sanh. Lối 1332 năm sau Thái Tử Trần Khâm (1258-1308) cũng giã từ cung vàng tìm đến núi Yên Tử để xin xuất gia, mong trở thành sơn tăng sống cuộc đời thanh thoát. Nhưng vì vua cha ép buộc nên phải trở về để kế nghiệp trị dân. Ngay từ lúc nhỏ ông dốc lòng mộ đạo Phật ước muốn được đi tu, năm lên 16 tuổi Trần Khâm đã nhường ngôi vị Đông Cung Thái Tử cho em, vua cha nài ép mãi ông mới nhận lời. Dù không được đi xuất gia lúc bấy giờ, nhưng nơi ông đã thể hiện được con người siêu việt khác thường.

Mặc dù sống trong lâu đài hạnh phúc mà tâm lúc nào cũng muốn vượt thoát ra khỏi thành. Trong sách Tam Tổ Thực Lục viết " Một hôm vào lúc nửa đêm, ngài trèo thành trốn đi định vào núi Yên Tử. Đến chùa tháp ở núi Đông Cứu thì trời vừa sáng, trong người mệt nhọc, ngài bèn vào nằm nghỉ trong tháp. Vị sư trù trì ở đấy thấy ngài tướng mạo khác thường liền làm cơm thết đãi. Vua cha hay tin sai các quan đi tìm thấy. Ngài bất đắc dĩ phải trở về."

Thái Tử Trần Khâm lên ngôi năm 1728 và trở thành vua Trần Nhân Tông. Ông là người siêu dị, phi thường, thông minh ít thấy trong lịch sử cổ kim của nhân loại. Lấy thí dụ ông dám từ bỏ ngai vàng để đi xuất gia chứng tỏ ông coi thường công danh phú quí. Dầu có được một sự nghiệp to lớn vĩ đại, quyền uy chấn động cả sơn hà, đâu đó rồi bỗng chốc tiêu tan, chỉ có sự nghiệp tâm linh thực ngộ mới mong vượt ra khỏi sự chi phối tàn hại của vô thường. Con người thông minh trọn vẹn như Trần Nhân Tông quả thật ít tìm thấy. Sự thông minh nầy ông còn áp dụng suốt cả quãng đời, nổi bật nhất là từ bỏ tất cả để thể nghiệm dấn thân vào một lối đi khác, nhiều chông gai thử thách, kiên trì gấp trăm ngàn lần, đối nghịch lại với cái hiện trạng trái ngược mà ông đang nắm giữ. Con đường mà ông sẽ phải chấp nhận đi vào đó là rỗng không, chẳng có một cái gì là của mình, ngay thân mạng cũng không phải là thực bởi lẽ nó sẽ tàn tạ. Trong khi đó nếu còn là một vị vua, ông có cả giang sơn gấm vóc theo nghĩa có của quan niệm. Nếu không là sự thông minh phi thường ông đã không chọn lối rỗng không nầy. Rỗng không của nghĩa tương phản lại gò bó, nhốt kín con người vào những hư danh giả tạm phù ảo trong lâu đài thành quách, của những nắm bắt chấp lầm có không, điên loạn trôi lăn trong được mất. Ông xứng đáng được để ca ngợi là con người phi thường trong lịch sử, sự thông minh ông có được là nhìn xuyên thủng qua lớp vỏ thời gian, ở đó ông tìm ra sự thật đang nấp kín đàng sau những sơn phết, và nó là chủ lực tạo nên những khủng khiếp đe dọa triền miên và gây thống khổ tràn ngập cho con người. Nhìn để được xuyên qua và để trông thấy trọn vẹn những ẩn kín không phải là chuyện ai cũng làm được, hoặc nếu có cũng chỉ là hàn gắn thêm phương thức khác nhằm lừa dối ý thức. Lối nhìn nầy hoàn toàn khác biệt và trái ngược với những con người thực chứng về hiện tượng.

Trước hết với những con người nầy là không bao giờ gắn thêm định nghĩa nào về đối tượng, không bao giờ tạo thêm quan niệm sai biệt nào khi nhãn quan bắt gặp trần cảnh. Đặt nguyên ở vị trí là nguyên lý cơ bản quan trọng nhất trong việc truy lùng nguyên thể của chính nó, nếu xê dịch nó sẽ biến dạng và tạo thêm sự lừa dối khác cho tâm ý. Tìm đến nó với lối nhìn phong tỏa mọi ngõ ngách mà nó có thể lừa dối thêm một lần nữa, bao phủ và phong kín xong ta mới nhìn thật sâu xuyên thủng qua lớp vỏ dù cứng đến bao nhiêu nếu không thủng thì không thể tìm ra được bộ mặt tươi mát hoặc khủng khiếp của nó. Nếu được xuất hiện với tươi mát hay khủng khiếp chưa hẳn đó là sự khám phá đúng mức mà ta muốn truy quật. Đó cũng chỉ là lớp vỏ thứ hai. Nếu không khéo ta lại rơi vào những trá hình khác. Lối xử dụng và đạt đến vẫn tùy vào mỗi chúng ta. Nếu không thể nhập thực sự vào lớp vỏ thứ hai, thì muôn kiếp vẫn phải chìm lặng trong tử sinh. Dĩ nhiên nếu không có được bản ý của thực ngộ thì làm sao chúng ta có thể nhìn xuyên qua chứ chưa nói đến nhìn được lớp vỏ thứ hai, y cứ vào thực ngộ để đạt được thực chứng, chặng đường nầy mới thật sự là đi vào ngôi nhà của rỗng không tròn đầy.

Trần Nhân Tông đã tìm ra được lý lẽ nầy “Con người Ngài rất thông minh hiếu học, đọc hết các sách vở, thông suốt nội điển (kinh) và ngoại điển (thế học). Những khi nhàn rỗi Ngài mời các Thiền khách bàn giải về Tâm tông (Thiền) tham học Thiền với Tuệ Trung Thượng Sĩ thâm đắc đến chỗ Thiền Tủy. Đối với Thượng Sỹ ngài kính lễ làm thầy.”

Ngoài sự nghiệp tâm linh, ta còn thấy được cung cách vĩ đại của một ông vua trong công nghiệp trị quốc. Khi vừa lên ngôi Trần Nhân Tông đã phải đối đầu với sự thử thách khủng khiếp mạnh như giông bão. Đó là cuộc xâm lăng lần thứ hai và thứ ba của Đế quốc Mông Cổ, một đế quốc đã từng chinh phục 40 vương quốc ở khắp cả hai lục địa Á, Âu, đã từng làm run sợ những quốc gia lớn mạnh. Mông Cổ được kể như đạo quân bách chiến bách thắng lúc bấy giờ. Nhưng đã thất bại nhục nhã dưới tay Trần Nhân Tông và Dân Việt.

Nhờ kết hợp được tinh thần sắt son qua hội nghị Diên Hồng, thể hiện tinh thần dân chủ đoàn kết giữa quân dân, và cũng nhờ sự tác động tinh thần Bi Trí Dũng trong Phật Giáo mới có thể tạo nên những vẻ vang hy hữu đó. Sử gia Ngô Sỹ Liên viết về con người độc dị ấy như sau: “Vua được tinh anh của thánh nhân, đạo mạo thuần túy, nhan sắc như vàng, thể chất hoàn toàn, thần khí tươi sáng, hai cung đều cho là lạ, gọi là Kim Tiên Đồng Tử (hay Kim Phật) ở vai bên tả có nốt ruồi đen cho nên có thể cáng đáng được việc lớn, ở ngôi 14 năm, nhường ngôi 5 năm, xuất gia 8 năm, thọ 51 tuổi băng ở am Ngọa Vân núi Yên Tử. Hòa nhã, cố kết lòng dân sự nghiệp phục hưng làm vẻ vang đời trước, thực là vua hiền của nhà Trần. Nhân Tông trên thờ Từ Cung tỏ đạo hiếu, dưới dùng người hiền lập nên võ công, nếu không phải bậc nhân minh anh vũ thì sao được như vậy ?”

Nhân Tông còn là một vị vua nhân từ thương yêu dân vô cùng. Vào một buổi chiều đông giá rét đi dạo ngoài thành thấy dân co ro trong lạnh lẽo và bên vệ đường một ông lão đang run rẩy, vua cởi áo ngự bào đắp cho ông lão, rồi quay lại bảo với tả hữu một câu nói trở thành bất hủ, phát xuất tận đáy lòng “Trong nhân gian có người còn đói khổ, thì trẫm vẫn không được yên lòng”.

Vua Trần Nhân Tông xuất gia vào năm 1299 ở núi Yên Tử ngài chuyên tu khổ hạnh, lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà, và là sơ tổ phái Trúc Lâm.

II. TRÚC LÂM NGƯỜI XÂY DỰNG NỀN PHẬT GIÁO THỐNG NHẤT VÀ NHẬP THẾ

Trong lịch sử Thiền Tông Việt Nam người có được sự nghiệp lẫy lừng nhất trong hai phương diện chính trị và đạo pháp, ta phải kể đến vua Trần Nhân Tông. Khi còn là một vị vua ông đã có được sự nghiệp dựng nước và giữ nước phi thường, kết hợp tinh thần sinh động thuần nhất và thống hợp phương châm Từ Bi, Trí Tuệ trong Phật Giáo. Vì thế trên những căn bản tôn trọng quyền thống hợp đó, ông mở ra hội nghị Diên Hồng lấy quyết định của Dân làm quyết định số phận đất nước, nhờ vào tinh thần quyết chí đó, ông đã hai lần đánh đuổi quân Nguyên ra khỏi bờ cõi.

Bắt nguồn từ những căn bản độc đáo riêng biệt đó ông xây dựng được một dân tộc Việt hưng thịnh, huy hoàng, mà ảnh hưởng tồn tại mãi với núi sông. Trần Nhân Tông kết hợp và thống nhất được sinh mệnh Quốc Gia và Đạo Pháp. Guồng máy điều hành chính trị quốc gia là kinh thành Thăng Long nơi mà Trần Anh Tông trị vì, và núi Yên Tử thủ đô tâm linh, và linh hồn của Dân Việt do Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông chủ động. Ngài đã đào tạo ươm hạt giống phát huy chánh pháp vào người con là vua Anh Tông, sau nầy trở thành vị vua kết hợp chánh pháp trong việc trị quốc của mình.

Đóng góp to lớn vĩ đại của Trúc Lâm là xây dựng nền Phật Giáo thống nhất và nhập thế. Trước đó Thiền Tông là một tông phái lớn mạnh, đa diện trên mọi lãnh vực, hầu hết những Thiền Sư xuất thân từ Thiền Phái: Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường đã đóng góp tích cực trong mọi lãnh vực Văn Hóa, Nghệ Thuật, Thi Ca v.v… Nhờ sự tác động chỉ đạo của Thiền, tạo nên nội tâm siêu việt độc đáo, nên những Thiền Sư là người trực tiếp mang ánh sáng tâm linh và văn hóa trợ giúp quần chúng, điển hình đã có những Thiền Sư làm Quốc Sư lỗi lạc, cũng như cố vấn chính trị cho những triều đại đời Lý, Trần v.v…

Về khía cạnh Văn Hóa đã được lưu lại, những Thiền Sư trác việt, thừa khả năng và vượt hẳn trong nhiều lần tiếp xúc thơ văn với những nhà ngoại giao Trung Quốc khiến họ phải bái phục.

Sau đó những Thiền Phái nầy suy vi, như chính cái đổi thay của dòng đời, của sự hưng thịnh, mãi về sau Thiền Sư Thường Chiếu là người gạch nối và tổng hợp cả ba thiền phái, và Trúc Lâm là người độc đáo phát huy sự tổng hợp nầy, tạo nên những sắc thái riêng biệt cho Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử, vì vậy những đóng góp của Ngài được kể như quan trọng, trong việc thống hợp và tạo dựng cương lĩnh nhập thế tích cực nầy.

Chủ trương của Thiền Việt Nam là góp phần vào sự nghiệp phát huy Dân Tộc và Đạo Pháp, có khuynh hướng nhập thế cứu dân giúp đời, gần gũi với quần chúng, có mặt thiết thực trong sự thăng trầm vinh nhục của Dân Tộc. Sự hưng thịnh của Dân Tộc cũng chính là sự hưng thịnh của Đạo Pháp, bởi lẽ sự hiện hữu của Đạo Phật là vì cuộc đời, vì sự thống khổ của chúng sanh, thì làm sao có thể tách rời con người để hưng khởi? Vì điều đó, sự có mặt của Phật Giáo được kể như gắn liền trong tất cả những sinh hoạt để từ đó xoa dịu và góp phần trong việc thay đổi tâm linh hướng về chân thiện mỹ. Những Thiền Sư Việt Nam cực lực, phát huy và hưng khởi đại nguyện đi vào cuộc đời để đón nhận và chia xẻ những thống khổ đang bao phủ. Ta có thể tìm thấy những thiền sư nầy như: Pháp Hiền, Huệ Nghiêm, Thanh Biện, Long Tuyền, Định Không, Thông Thiện, La Quý An, Pháp Thuận, Thiền Ông, Sùng Phạm, Vạn Hạnh, Minh Không v.v… của Thiền Phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi.

Và thiền phái Vô Ngôn Thông có những Thiền sư tài ba lỗi lạc trong lãnh vực Văn Hóa và Chính Trị như: Thiền Sư Cẩm Thành, Thiên Hội, Vân Phong, Khuông Việt, Đạo Bảo, Định Hương, Thiền Lão, Viên Chiếu, Lý Thái Tông, Thông Biện, Mãn Giác, Ngô Ấn, Đạo Huệ, Thường Chiếu, Thần Nghi, Ẩn Không, Tiêu Diêu, Nhất Tông v.v…

Cũng như Thiền Phái Thảo Đường có nhiều đệ tử đã lãnh đạo quốc gia như: vua Lý Thánh Tông, Lý Anh Tông, Lý Cao Tông v.v… ảnh hưởng của Thiền Phái nầy trong giới vua quan và trí thức, nổi bật về mặt học thuật, tư tưởng, thi ca.

Trúc Lâm đã khéo léo dung hòa, tổng hợp những thiền phái nầy để trở nên một thể duy nhất trong việc nhập thế và giải thoát tâm linh. Ảnh hưởng mà Ngài đã xây dựng, tác động mạnh mẽ trên những lãnh vực: Văn Hóa, Xã hội, Học thuật v.v… lấy tinh thần tổng hợp của Thiền Việt Nam làm yếu tố tiên quyết trong việc chỉ đạo những lãnh vực trên. Đồng thời trên căn bản tâm linh, lấy sự siêu thoát giải phóng của mình song song với việc hưng phục xã hội và tâm linh của con người.

III. QUAN NIỆM VỀ THIỀN CỦA HƯƠNG VÂN ĐẦU ĐÀ

Trần Nhân Tông đạt được tinh yếu của Thiền với Tuệ Trung Thượng Sỹ khi còn làm vua. Sau khi đi tu, ngài chuyên cần tu tập theo hạnh đầu đà (khổ hạnh) và lập chùa tiếp độ tăng chúng.

Một hôm ngài đến chùa Sùng Nghiêm ở núi Linh Sơn, truyền bá Thiền Tông, ngài nói “Thích Ca Văn Phật vì một đại sự mà xuất hiện giữa cõi đời này, suốt 49 năm chuyển động đôi môi, mà chưa từng nói một lời. Nay ta vì các ngươi lên ngồi tòa nầy biết nói chuyện gì đây ?”

Ngồi giây lâu ngài ngâm:

Đỗ Quyên đề đoạn nguyệt như trú
Bất thị tầm thường không quá xuân.

Dịch:

Tiếng quyên từng chập vừng trăng sáng
Đâu phải tầm thường qua một Xuân.

Ngài vỗ bàn một cái nói:
Không có gì sao? Ra đây !Ra đây!

Đức Phật đã minh định trong kinh Kim Cang suốt 49 năm thuyết pháp ngài không nói một lời. Tinh thần vô chấp của kinh Kim Cang đã hất tung tất cả những ràng buộc trở ngại trong việc đạt được thực chứng. Trúc Lâm mở đầu tuyên ngôn nầy là cũng hé mở chân trời buông bỏ mọi nắm bắt tương quan trong việc khơi dậy chặng đường bùng lên giác ngộ trong mỗi tâm linh .

Có lần Pháp Loa hỏi :

“Nói huyền nói diệu, luận cổ bàn kim, đều thuộc thứ nói đùa, một câu không kẹt trong ngôn ngữ làm sao nói được?

Ngài đáp:

-Gió đông dìu dịu ngàn hoa nở
Lách cách vành xe một tiếng vang.

Pháp Loa toan mở miệng nói Ngài liền bảo:

-Chim hót máu tuôn vẫn vô dụng
Non tây như trước phủ mây chiều.

Cổ nhân rất ít khi sử dụng đến ngôn từ và nếu có dùng đến cũng chỉ là diệu dụng tùy nghi. Trong Thiền lối khai quật nội tâm đều chú trọng vào những thuật dụng như la, hét, đánh…Vì vậy, những câu nói nếu được nói ra thì trở nên lửng lơ, như chính câu nói bất hủ của Thiền Sư Chân Nguyên “Nói ra là bị kẹt”chỉ có im lìm nhìn trạng huống trôi qua, cảm nhận không thể nào dệt nên ngôn từ sợ nó bay mất, hoặc chính nó bất lực trước những diễn tả về nội tâm thâm sâu. Nhưng “không nói cũng chẳng xong”nếu không nói mà kẻ đối diện có thể lãnh hội trọn vẹn những gì mà mình mong muốn thì tuyệt hay biết mấy, nhưng khổ một nỗi đàng nào cũng thấy vương vướng một chút gì ngằn ngặn ở trong.

Đây không phải là không tìm được ngữ ngôn để trao gởi, nhưng sợ lời nói tạo nên những chấp trước cho kẻ khác. Thôi đành phải mặc nhiên trong tất cả những diệu dụng ấy. Có bao giờ nói mà không nói lại bị kẹt đâu?

Có một vị hỏi :Thế nào là gia phong Phật quá khứ?

Ngài đáp: Vườn rừng vắng vẻ ai xem sóc

Lý trắng đào hồng hoa tự nhiên.

Thế nào là gia phong Phật hiện tại?

Đáp: Gia phong sóng bạc mê yến sớm

Tiên uyển đào hồng say gió xuân.

-Thế nào là gia phong Phật vị lại?

Đáp: Bãi biển chờ triều trời đợi nguyệt

Xóm chài nghe sáo khách nhớ nhà.

- Gia phong Hòa Thượng thế nào?

Ngài đáp: Áo rách che mây sáng ăn cháo

Bình xưa rưới nguyệt tối uống trà.

Tìm hiểu về gia phong là muốn tìm đến cái cung cách xử dụng, nhưng ở đây là sự nghiệp tâm linh. Có thể đây là cách lối còn rơi vào quá khứ, hiện tại và vị lai. Nhưng nếu quá khứ, hiện tại và vị lai bất khả thuyết thì gia phong có ích gì? Nếu không tự mình đạt được chiều sâu tâm linh ngay trong hiện tại thì quá khứ bỗng trở thành ngăn lối, đàng trước mờ mịt, đàng sau chập chùng muôn vạn nẽo.

Lối trả lời của ngài cho chúng ta thấy được cách bỏ công chỉ biết mong đi tìm những lý lẽ không thực tiễn. Nếu từ những truy cứu đó bổ sung vào tâm thức để có cơ may bùng lên giác ngộ, thì đó là phương tiện nhưng nếu truy tìm với nghĩa của truy tìm mặc yên thì không giúp được gì, đúng như ngài đã nói “vườn rừng vắng vẻ ai xem sóc” hay “Bãi biển chờ triều trời đợi nguyệt”

Quan niệm của Hương Vân là không để kẻ đối diện kẹt vào ngữ ngôn dù đó là những lời Thiền ngữ. Ngài đã hé mở quan niệm này ngay lúc đăng bảo tọa mà đoạn trước chúng ta đã có dịp đọc qua. Việc Ngài phải hé mở ngữ ngôn là việc chẳng đặng đừng “không nói cũng chẳng xong” Nhưng dùng đến xảo dụng chấm phá lửng lơ thì may ra con người mới không rơi vào thế kẹt đó.

Điều này hoàn toàn tùy thuộc vào mức độ thẩm định tâm tư của cá nhân ấy, có những lúc ở những thế kẹt để rồi vẫy vùng trong đó may ra thoát đươc, nhưng không có nghĩa thoát ra, quá trình nầy chắc hẳn không còn bị kẹt trong khi dụng công. Chỉ có thể bị kẹt ở lúc đầu nhưng khi hạ thủ công phu thì buông rơi tất cả. Và nếu kẹt ở lúc đầu thì làm sao tìm ra được nguyên tố cơ bản để hạ thủ? Cũng có thể kẹt nhưng mà không, xử dụng không khéo trở nên nghịch lý và mâu thuẫn lại chính ta. Hễ con thấy kẹt thì phải thấy có cái không kẹt nhưng chính cái không kẹt có thể là kẹt thì sao?

Truy lùng cái thế kẹt và không thì suốt cả cuộc đời chúng ta cũng không tìm ra được lý lẽ này. Đàng nào giá trị chỉ được xuất hiện một khi ý thức không còn nằm trong hạn cuộc ngay khi trực diện với mọi tương quan, may ra ta mới vỡ tung ra khỏi những thế bí này. Cần nhất sống với những gì mà ta đã một lần tuyệt diệu bắt gặp trong ngõ ngách của tâm linh, sống với nhưng không có nghĩa lầm chấp đó là cứu cánh, phải thong dong trên lối về tắm mát dòng sông giải thoát, không cưu mang tất cả để không vướng bận đôi vai trần trụi.

Điều mà Hương Vân mong mỏi là chặng đường tìm đến phải thanh thản như chính cái “Bình xưa rưới nguyệt tối uống trà”.

IV. SỨ GIẢ CỦA TÌNH THƯƠNG VÀ HÒA BÌNH

Ngoài phong thái và tâm linh thực ngộ của một Thiền Sư, Hương Vân Đại Đầu Đà còn là sứ giả của tình yêu thương, gieo rắt lòng từ đến tận muôn phương. Một thân mình chống gậy để khuyên dân hướng đến nẻo thiện, quả thật Ngài xứng đáng là kẻ đem khả năng tâm linh châm ngòi cho quần chúng.

Đặc biệt nhất, những Thiền Sư Việt Nam không những lo giải thoát cho riêng mình mà còn đi vào cuộc đời để chuyển hóa những khắc khỏi trầm luân mà con người đang đối nhận. Khác hẳn với Thiền Sư Trung Hoa, chỉ tách khỏi cuộc đời lặng mình trong thực ngộ. Thể nhập vào cuộc đời của Thiền Việt Nam đã tạo nên những ảnh hưởng sâu đậm trong mọi tầng lớp quần chúng mà Hương Vân Thiền Sư đã tổng hợp và tạo dựng tông phái một cách rõ rệt.

Cuộc đời của Hương Vân Đầu Đà được kể như hoạt động tích cực trong công cuộc nhập thế và xuất thế. Sự giác ngộ được khai quật từ trong cuộc đời, trong những tương quan của mọi trạng huống, từ đó cho ta những ý lực kinh nghiệm thẩm định những gì trôi qua trước mắt. Bởi lẽ tử sinh phiền não không phải là thực thể có từ bên ngoài hay yếu tố phi ngoại. Không có sự phát động ở nội tại thì điều đó không có cơ hội bùng lên. Và nếu đây là điều hẳn nhiên thì cuộc đời chính là môi năng tạo nên những hưng khởi mạnh nhất.
Từ căn bản đó, nếu tách ra khỏi cuộc đời thì sự giác ngộ không có giá trị thực tiễn, trong việc đem lại hạnh phúc cho muôn loài và không có sự giác ngộ nào có thể tách rời cuộc đời mà đạt được. Cuộc đời ở đây được hiểu theo nghĩa những tương quan từ nội và ngoại tại. Yếu tố trong và ngoài đó tạo nên tương hợp với ta và tha nhân. Và giác ngộ lại càng không có nghĩa truy tầm với chính ta mà đạt được nếu không có những tương duyên về đối tượng và con người. Vì vậy muốn đạt được thực chứng phải đi vào cuộc đời, sống với cuộc đời để từ đó quật tung những nguyên lý tìm ẩn. Hẳn nhiên điều tiên quyết nhất để đạt được là phải chuyển hoán tâm thức để không bị ô nhiễm. Nương vào nhưng không có nghĩa bị lệ thuộc và sai sử bởi những dòng ý thức tạp nhiễm, nếu trong ta không liên tục duy trì trí tuệ toàn triệt

Hành trang đi vào phải được bao bọc bằng chính ý lực vượt thoát trong mỗi ý niệm hưng dậy, trực diện với những trạng huống phải như gió thoảng mây bay, như một cánh chim thoáng qua trên mặt nước, bóng chim nước chẳng bao giờ muốn lưu giữ. Tất cả chỉ mênh mang thấp thoáng như chính cái luân lưu đi qua của dòng sông, đâu đó sóng nước chập chùng xô đẩy thân phận chiếc thuyền đi về nơi mà chỉ có nước và thuyền mới biết sẽ về đâu.

Chưa một ai có thể mô tả phỏng đoán được bộ mặt muôn đời của nó, nếu không thể nghiệm nó từ trong cuộc đời, chứng nghiệm nó từ trong tâm linh của chính mình. Điều này nếu được có thể giản dị như sáng mai thức dậy nhìn chiếc lá vàng rơi trong chơ vơ. Ngược lại có thể khủng khiếp như thân phận muôn đời của con rùa tìm bộng cây trôi giữa đại dương.

Tất cả không phải là điều lo sợ nếu có được một tâm linh vững chải trước những giông tố của dòng đời. Trúc Lâm Hương Vân Đại Đầu Đà đã khơi dậy và chứng minh tâm linh thực ngộ ấy trong cả quảng đời đi vào trần gian để chuyển hóa mà ta có thể tìm thấy qua cung cách của một Thiền Sư mang trọng trách là sứ giả của tình thương và hòa bình. Tình thương và hòa bình ở đây còn có một nghĩa nữa. Thương như thương chính thân phận của mình và chúng sanh trước những khổ đau chồng chất và hòa bình ở đây là không tạo sự đối địch ở trong nội và ngoại tại

Điều mà Trúc Lâm thực hiện được thể hiện qua cung cách mà ông đã truyền trao. Trong sách Tam Tổ Thực Lục ghi rằng " Điều ngự (Trúc Lâm) đi khắp mọi nẻo thôn quê khuyên dân phá bỏ các dâm từ(miếu thờ không chánh đáng) thực hành giáo lý Thập Thiện. "

Trước hết truy tìm về hành động này ta thấy Trúc Lâm đã sống gần gũi với mọi người để tạo sự cảm thông giữa một vị vua trước đó với một người dân bình thường, giữa một Thiền Sư đạt được đời sống tâm linh,với những con người còn vướng bụi trần. Hành động nầy cho ta khái niệm vững chải là ngoài lòng từ và trách nhiệm của một vị thiền sư, Trúc Lâm còn là môi giới giữa hai tâm linh khác nhau. Ngài muốn tạo lại căn bản cho tâm linh mà không có sự ngự trị sai sử của những tác động không chính đáng do sự phong tỏa của vô minh. Phải thắp sáng giáo lý Thập Thiện là nền tảng toàn hảo trong nền luân lý của Phật Giáo, nhằm hoán chuyển nhân tố để đi vào ngôi nhà giải thoát. Trúc Lâm đã thành công trong việc tạo dựng một nền chính trị theo chánh pháp. Và thành công tạo nên xã hội từ bi, giải thoát trong Phật giáo.

Năm 1301 ,Trúc Lâm đã vân du đến quốc gia láng giềng đó là Chiêm Thành để xây dựng quan hệ thân hữu và nền Hòa Bình giữa hai Dân Tộc. Công chúa Huyền Trân được Trúc Lâm hứa gả cho vua Chiêm là yếu tố quan trọng thắt chặt được quan hệ giá trị thiết yếu nầy.

Trúc Lâm ý thức mãnh liệt sự tương quan thân tình giữa hai Dân Tộc, như vậy sẽ bớt đi những xung đột và không tạo cảnh chinh chiến khổ đau cho nhau. Trúc Lâm đã hy sinh người con gái yêu thương của mình, để tạo nên sự yêu thương rộng lớn cho hai Dân Tộc, việc làm nầy là những con người độc đáo phi thường .

Cái thế “môi hở răng lạnh” cái thế “bà con xa không bằng láng giềng” chưa đủ để Trúc Lâm phải gả con gái của mình. Nếu muốn tấn công tiêu diệt Chiêm Thành, lúc nầy quá dễ với Dân Việt, vì quân Mông Cổ lẫy lừng còn phải bị bại huống gì nước Chiêm nhỏ bé, nhưng Trúc Lâm đã không chủ trương điều nầy. Bảo vệ và duy trì tình yêu thương, chung sống trong Hòa Bình là lý tưởng tuyệt hảo mà ngài đã chọn lựa. Điều đó thể hiện được tinh thần Từ Bi trong Phật giáo mà ngài là người thực hiện rõ nét .

Điều đáng ca ngợi nhất là Trúc Lâm đã xây dựng nền Phật giáo nhập thế, ảnh hưởng mãnh liệt trên những bình diện: Văn hóa, Chính trị, Xã hội, Nghệ thuât v.v… Ở đó ta thấy sự có mặt của những quân vương Bồ Tát cai trị nhân dân trên căn bản Từ Bi, Trí Tuệ. Xây dựng được một xã hội thuần túy, lấy ý nguyện của dân làm ý nguyện của mình, và lấy tinh thần trác việt của Thiền, làm tông chỉ trong việc xử thế. Và lấy tinh yếu giải phóng con người ra khỏi khổ đau của Phật giáo, làm nền tảng để tạo sự quân bình trong quốc gia .
Trúc Lâm được kể như một sứ giả thành công trên hai bình diện ở trên. Và đã lưu lại hình ảnh cao quí cho những vị vua sau đó .

V. NHỮNG SÁNG TÁC CỦA TRÚC LÂM 

Cuộc đời và hình ảnh của Hương Vân Đại Đầu Đà đã là một tác phẩm vĩ đại, dù không được dệt nên bằng ngôn từ nhưng giá trị vô cùng thiết yếu trong việc hoán chuyển nội tâm kẻ khác bằng biểu hành . Ngoài những biểu tượng cao quí đó Ngài còn sáng tác những tác phẩm như sau:

- Thiền Lâm Thiết Chủy Ngữ Lục.

- Đại Hương Hải Ấn Thi Tập

- Tăng Già Toái Sự

- Thạch Thất Mỵ Ngữ, do Pháp Loa soạn lại lời của Ngài.

Chúng ta thử thưởng thức một vài sáng tác, như bài Đăng Bảo Đài Sơn của Trúc Lâm.

Thời lai thu vị thâm .

Vân sơn tương viễn cận
Hoa kình báo tình thâm
Vạn sự thủy lưu thủy
Bách niên tâm ngữ tâm
Ỷ lan hoành ngọc địch
Minh nguyệt mãn hung khâm.

Dịch:

Đất vắng đài thêm cổ
Ngày qua xuân chưa nồng
Gần xa mây núi ngất
Nắng rợp ngõ hoa thông
Muôn việc nước trôi nước
Trăm năm lòng như lòng
Tựa lan nâng ống sáo
Đầy ngực ánh trăng lồng.

(Ngô Tất Tố)

Đất vắng không lưu lại chân người nếu không có lầy lội từ những cơn mưa, đài đã phủ rêu phong trơ gan cùng trời đất, đâu đó xuân như vẫn hững hờ đến đi thoáng chốc, chỉ còn rêu phong trơ trụi không điểm tô cho đài đã uổng công chờ đợi.

Nắng đã đi rồi, ngõ hoa từ ẩn mình trong đêm cô quạnh, nhưng ánh trăng chênh vênh trên từng phiếm lá, sóng sõi trên ngọn liễu, mang hương dịu huyền nhè nhẹ chiếu sáng quả tim ấp ủ ánh trăng lồng lộng. Chỉ có quả tim vĩ đại mới mang cả sơn hà đại địa trong sự bé nhỏ của mình, nếu ánh trăng không đem lại thanh khí tuyệt vời, thì làm sao tìm được giá trị của những đêm trăng với núi đồi? Phải để ánh trăng chiếu sáng quả tim, vốn ngàn năm tạo những nhịp đập không hài hòa tương quan với đất trời, nhưng nếu quả tim, được thấm nhuần dòng máu giải thoát, thì ánh trăng là ánh sáng của tâm linh.

Tương quan của đất trời, của lòng người với ánh trăng, nếu trong tâm thức tìm được điểm tựa vững vàng, thì nó thơ mộng như chính cái thơ mộng của con người vô tư, tựa lan can nâng ống sáo khi hoàng hôn trở về. Ngày lại ngày qua, năm lại năm đến, thầm nhủ với lòng thôi nhé ta giã từ tử sinh, để lại một lần thôi không rong chơi, để một lần tạm biệt và rồi sau đó cũng để một lần vì đại nguyện đi vào trần gian tìm lại ánh trăng huyền nhiệm năm xưa chiếu rọi với đất trời.

Và đây là một bài thơ nữa của Trúc Lâm.

Xuân Văn

Niên thiếu hà tằng liễu sắc không
Nhất xuân tâm sự bách hoa trung
Như kim khám phá đông hoàng diện
Thiền bản đồ đoàn khan trụy hồng.

Dịch:

Thuở bé chưa từng rõ sắc không
Xuân về hoa nở rộn trong lòng
Chúa Xuân nay bị ta khám phá
Chiếu trải giường thiền ngắm cánh hồng.

(HT Thích Thanh Từ)

Lúc còn là một Đông cung Thái Tử chưa thấm nhuần đạo lý, ngài đã diễn tả nội tâm của mình qua hai câu thơ trên, mỗi độ xuân về nơi vườn Thượng Uyển, trăm ngàn đoá hoa thi nhau phơi sắc giữa ánh nắng hồng của mùa Xuân, cảnh vật tưng bừng, tâm ngài theo đó mà vui. Nhưng để rồi mai kia gió xuân thôi không còn mang theo hương lạ nữa, trăm hoa từ từ rơi rụng, còn nỗi buồn nào hơn. Sắc đến rồi không cũng đến, thay nhau tạo nên những triền miên sầu đau buồn nhớ, cảnh bây giờ tiêu hoang lòng người không còn nở rộn khi xuân đi qua tự bao giờ.

Nhưng không, kể từ khi thấm nhuần được dòng suối vi diệu tâm linh mà Tuệ Trung Thượng Sỹ đã truyền trao, Hương Vân vén mở bộ mặt nghìn đời của Chúa Xuân sắc không bỗng chốc tiêu tan, còn lại một thể duy nhất vượt ra ngoài thời gian. Bộ mặt đó như vậy, không còn duyên theo sự vật để khởi lên nội tâm lệ thuộc cảnh, biến tâm thức trở nên tinh luyện bình thản trước những đổi thay biến hiện; đó là cái giá tất hữu của những gì không bị chi phối bởi thời gian, một khi dòng tâm tách ra khỏi thế đứng đổ vỡ, thì thời gian không đành phải chào thua hay sao?

Ở đó còn lại sự thanh thoát, bình tĩnh, ung dung tự tại, đem chiếu ra trải dưới cành hoa hồng đang tỏa hương, ngắm trăng đang len lõi qua cành trúc và đôi tay từ nâng nhẹ ly trà thắm đượm trên đôi môi. Cảnh đó và thời gian ấy tuyệt diệu vô cùng, những gì đã từng làm run sợ, bây giờ trở nên bạn hữu như đóa hồng của đêm trăng ngồi uống trà, không một bâng khuâng tư lự.

Rồi sau đó giờ Tý của tháng mười một, đêm nay trời trong sao sáng, mọi vật đang yên lặng không dám khuấy động giấc ngủ thể nhập trong vô cùng, ngài nhắm mắt giã từ trần gian, sau khi đệ tử Bảo Sát hỏi “Tôn Đức đi đến chỗ nào? ” Ngài nói kệ đáp:

Nhất thiết pháp bất sanh
Nhất thiết pháp bất diệt
Nhược năng như thị giải
Chư Phật thường hiện tiền
Hà khứ lai chi hữu giả.

Dịch:

Tất cả pháp chẳng sanh
Tất cả pháp chẳng diệt
Nếu hay hiểu như thế
Chư Phật thường hiện tiền
Nào có đến đi ấy vậy.

(HT Thích Thanh Từ)

Sau khi ngài qua đời thọ 51 tuổi, vua Trần Anh Tông dâng tôn hiệu là: “Đại Thánh Thần Triều Trúc Lâm Đầu Đà Tĩnh Tuệ Giác Hoàng Điều Ngự Tổ Phật”.

Tất cả các pháp không sanh không diệt, như chính cái không sanh và không diệt mà cuộc đời của Hương Vân Đại Đầu Đà đã đến đi.

___________________

• Như Hùng
Nguồn: quangduc.com

THIỀN SƯ HƯƠNG HẢI - VỚI CÔNG CUỘC PHỤC HƯNG DÒNG THIỀN TRÚC LÂM

 

I. DẪN NHẬP

 

Dân tộc Việt Nam luôn tôn vinh tinh thần biết ơn và đền ơn “uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây” đối với cội nguồn dân tộc của mỗi người con Việt. Tinh thần này lại càng được khắc cốt ghi tâm sâu sắc đối với mỗi người con Phật chúng ta. Xuyên suốt chiều dài lịch sử, Phật giáo luôn đồng hành cùng dân tộc, dù bao thăng trầm biến cố Phật giáo vẫn luôn là cái nôi nương tựa của mỗi người.

 

Nói đến một trong những nét đặc trưng của Văn hóa Phật giáo Việt nam, thì phải nói đến dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử Việt Nam. Một dòng thiền thuần Việt, do vua Trần Nhân Tông sáng lập, Ngài với trí tuệ siêu phàm xuất chúng, với đạo lực dũng mãnh và quan trọng chính là bằng sự thân chứng thiền đến phần cốt tủy, Ngài đã dùng ánh sáng chân thật đó dung hợp ba dòng thiền trước đó là Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường thành dòng thiền đặc trưng Việt. Thiền Trúc Lâm Yên Tử mở ra phong trào Phật Học mới từ Vua quan cho đến các thường dân đều được thấm nhuần mưa pháp. Ánh sáng chân lý được thắp sáng, cuộc sống của nhân dân cũng được bình yên hạnh phúc, mọi người biết yêu thương đùm bọc nhau, đất nước an bình hòa lạc, cuộc sống đạo hạnh được quan dân tán dương tu hành theo, từ đây dòng thiền Trúc Lâm trở thành quốc giáo của Đại Việt.

 

Thế nhưng dòng chảy của lịch sử cũng không nằm ngoài cái quy luật vô thường của cuộc đời, khi thì hiển vinh, lúc thăng trầm lặng lẽ, triều đại nhà Trần cũng trong vòng xoay của vô thường, triều đại suy vi kể từ cuối đời Trần trở đi. Phật giáo cũng khó tránh khỏi sự ảnh hưởng của triều đại khi quân nhà Minh sang chiếm đất nước và đốt phá chùa chiền kinh sách, truyền bá những tín ngưỡng mê tín dị đoan vào các tầng lớp nhân dân. Với bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ, ta không khỏi ngỡ ngàng khi dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử Việt Nam đang thịnh hưng lại phải một thời chìm nổi ẩn dật.

 

Lịch sử Thiền Trúc Lâm một thời yên lặng là vậy, nhưng thiền là Tâm tông, sức sống thiền là ở nội tâm chứ không phải trên hình thức bên ngoài. Do đó, bên ngoài tưởng chừng như khuất bóng mà bên trong mạch ngầm vô tận vẫn cháy mãi với thời gian. Dù nơi non cao chót vót hay núi sâu rừng thẳm, vẫn có những vị Thiền sư âm thầm mồi đèn truyền tâm ấn, tâm tông vẫn luôn sáng ngời muôn thuở, chỉ chờ có đủ duyên ắt sẽ hiển bày. Và minh chứng cho sự phục hưng của dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử chính là sự xuất hiện của các vị thiền sư xuất cách siêu phàm, trong đó nổi bật nhất là hai vị thiền sư cùng thời Hậu Lê đó là Thiền Sư Minh Châu Hương Hải và Chân Nguyên Huệ Đăng.

 

Hôm nay nhân ngày húy kỵ lần thứ 300 của Thiền Sư Minh Châu Hương Hải, hàng hậu học chúng con cùng hướng tâm về Ngài với tấm lòng kính ngưỡng biết ơn sâu sắc.

 

Ân đức của Ngài đã toàn tâm toàn trí phục hưng lại Phật giáo Việt Nam thời kỳ đất nước phân tranh, trong lúc dòng thiền Trúc Lâm VN đang thời kỳ gần như vắng bóng, không có người hiểu rõ về việc học Phật và tu thiền và trong lúc chính bản thân Ngài cũng gặp muôn vàn khó khăn hoạn nạn, hiểu lầm nghi kỵ, thật không thể dùng trí phàm mà nói hết được đạo lực và tâm hạnh của các Ngài.

 

II. SƠ LƯỢC TIỂU SỬ

 

Hàng hậu học chúng con hôm nay để tưởng nhớ về Ngài xin được quy kính ngưỡng nguyện Ngài cho mạn phép dùng chút kiến giải của mình qua sử sách tư liệu để ôn lại về cuộc đời, công hạnh, hoài bão của Ngài đối với dân tộc, đặc biệt hơn nữa đối với công cuộc phục hưng Thiền Phái Trúc Lâm Việt Nam, ngõ hầu lấy đó để cùng nhau sách tấn công phu tu tập, noi theo gương hạnh của Ngài, quyết tâm gìn giữ mạng mạch Thiền Tông Việt Nam rạng ngời muôn thuở.

 

Thông qua sử sách chúng ta được biết, Thiền sư Hương Hải (1628 – 1715) là một Thiền Sư Việt Nam thời Hậu Lê, tục gọi Ngài là Tổ Cầu. Tổ tiên Ngài ở làng Áng Độ, Nghệ An. Ngài sinh năm Mậu Thìn (1628), sống ở làng Bính An Thượng phủ Thăng Hoa (nay thuộc Quảng Nam). Ngài từ nhỏ đã thông minh, hiếu học, năm 18 tuổi Ngài thi đỗ Hương tiến (cử nhân), được bổ vào làm Văn chức trong phủ chúa Nguyễn Phúc Lan (ở ngôi: 1635 – 1648). Năm 1652 được bổ làm Tri phủ Triệu Phong (nay thuộc Quảng Trị). Khi ấy, vì hâm mộ Phật pháp, Ngài tìm đến học đạo với một Thiền sư đang hành đạo ở Quảng Trị pháp hiệu Viên Cảnh. Ba năm sau 1655, năm 28 tuổi Ngài từ quan, và xin xuất gia với Thiền Sư Viên Cảnh, được pháp hiệu là Huyền Cơ Thiện Giác pháp tự Minh Châu Hương Hải. Sau đó Ngài tìm đến Thiền Sư Đại Thâm Viên Khoan để tham học.

 

Sau đó Ngài ra đảo Tim Bút La cất ba gian nhà tranh để tu học. Sư ở đây chuyên tu thiền định và giới luật tinh nghiêm được hơn tám tháng, nhân dân cùng quan trưởng xa gần đều quý kính, tiếng tăm vang dội. Sau chúa Hiền nghe danh sai xứ ra đảo mời sư về. Chúa Hiền lập Thiền Tịnh Viện ở núi Quy Kính mời Sư ra ở đây chúc lành cho Vương gia, hộ trì quốc mạch. Sư ở núi Quy Kính giáo hóa thạnh hành, rất nhiều người xin quy y học đạo, tu hành tại gia. Quan quân cũng đồng quy y học đạo rất nhiều, gồm bảy trăm vị chánh quan, hơn một trăm vị phó quan, quân lính trong ngoài hơn một ngàn hai trăm vị.

 

Ngoại đạo thấy Sư được Vua quan kính phục sinh lòng hiềm tỵ, thị phi, bạch với Chúa Hiền là Sư ngầm với Gia Quận Công âm mưu ra Bắc. Sư nghe lời dèm pha, tuy không tìm được bằng chứng nhưng vẫn truyền cho Sư về quê cũ ở Quảng Nam cách kinh thành ba ngày đường, bởi lý do ấy sư quyết chí trở về Bắc thực sự.

 

Ra tới Bắc, Sư được chúa Trịnh mời vào triều thăm hỏi, đồng thời thưởng tiền và vật dụng. Một hôm, Chúa sai Sư vẽ địa đồ hai xứ Quảng Nam và Thuận Hóa, sư vâng lệnh vẽ đầy đủ, rõ ràng, hai mươi mốt ngày thì xong, dâng lên chúa.

 

Lúc Sư 55 tuổi, chúa Trịnh Tạc mất, chúa mới lên ngôi lại cho sư về trấn Sơn Tây. Sự lập am tu hành, chuyên tâm lễ Phật tụng kinh, tinh tấn thiền định hơn 18 năm. Mỗi ngày sớm tối ba thời tu hành đàn Chuẩn đề không lười mỏi. Ngoài thời gian công phu ra thì Sư chuyên tâm dịch giải kinh từ chữ hán sang chữ nôm.

 

Năm Sư 70 tuổi, xét thấy việc đời vô thường, tỏ ngộ thân căn không lâu bền, một lòng nghĩ nhớ muốn xây dựng ngôi tam bảo, nhóm họp kẻ tăng người tục để kéo dài về sau, đèn thiền tiếp nỗi mãi không dứt nên sư nhờ thí chủ trùng tu lại ngôi chùa Nguyệt Đường, sau đó Sư ra trụ trì tại đây. Hàng ngày nhóm họp đại chúng, khai thị ngộ nhập, giảng kinh thuyết pháp, khai thị tâm tông. Tăng tục xa gần tề tựu về, hàng pháp tử pháp tôn kể không hết. Cuộc đời tu hành của Ngài từ đây có những định hướng vì đạo pháp dân tộc một cách rõ nét.

 

Năm Sư 88 tuổi, nhằm vào ngày đầu xuân năm Ất Mùi, Sư dặn dò hàng đệ tử trước khi Niết Bàn.

 

Vị thượng tọa bạch Sư:

 

Phật pháp vi diệu có gì thiết yếu mong Thầy truyền trao cho lý tột!

 

Sư bảo:

 

Đạo giáo từ xưa đến nay đã trao phó là bặt ngôn từ, không lời để nói, chính ta ngay lúc đó phó thác.

 

Thượng tọa lại hỏi: Đại chúng ứng dụng thế nào?

 

Sư đáp: Lấy tâm mà dùng.

 

Đến giờ Dậu ngày mùng 10 tháng 5 môn nhân trong chùa chợt thấy sao sáng xuất hiện, tỏa sáng soi suốt cả chùa, mới biết việc đó.

 

Sáng ngày 12/5 sư bảo thị giả:

 

Hãy đem nước đến nhà tắm, ta sẽ tắm rửa.

 

Tắm xong, sư trở về phòng bảo vị thượng tọa:

 

Ta đến lúc mạng chung, hãy báo khắp cho đại chúng.

 

Thượng tọa đem pháp phục ca sa cho Sư đắp, đội mũ chuẩn đề, đeo xâu chuỗi ngồi kiết già an định hai giờ, rồi phó chúc bài kệ:

 

Giờ đúng tám mươi tám
Bỗng nhiên lên ngồi thoát
Có đến cũng có đi
Không chết cũng không sống
Pháp tánh đồng hư không
Sắc thân như bọt nước
Đông Độ rời Ta Bà
Tây Phương hoa sen nở.

 

Sư ngâm kệ xong, đến giờ Mùi thì ngồi yên lặng mà tịch, nhục thân được nhập tháp (không có trà tỳ).

 

III. SỰ NGHIỆP PHỤC HƯNG DÒNG THIỀN TRÚC LÂM CỦA THIỀN SƯ HƯƠNG HẢI.

 

Theo sử sách thì TS Hương Hải thuộc thiền Lâm Tế dòng Trí Bảng Đột Không:

 

Trí tuệ thanh tịnh
Đạo đức viên minh
Chân như tính hải
Tịch chiếu phổ thông.

 

Nhưng tư tưởng và sự lãnh ngộ thiền của Ngài thì lại thuộc thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Điều này thể hiện qua tư tưởng cuộc đời hành đạo, giáo hóa chúng sanh và sự phục hưng thiền phái Trúc Lâm Yên Tử của Thiền Sư.

 

1. Ngài xiển dương đúng tông chỉ, tông phong thiền phái Trúc Lâm.

 

Tông chỉ của Thiền phái Trúc Lâm chính là “phản quan tự kỷ”, tông chỉ này bắt nguồn khi Vua Trần Nhân Tông khi xưa tham vấn đạo nơi Tuệ Trung Thượng Sỹ, Ngài hỏi: “Thế nào là tông chỉ của việc bổn phận?”. Thượng sĩ đáp: “soi sáng lại chính mình, đó là việc bổn phận, chẳng từ nơi nào khác để được”. Ngay đó Vua nhận được tông chỉ Thiền, mở sáng con mắt đạo. Từ đó “phản quan tự kỷ” chính là tông chỉ của thiền phái Trúc Lâm.

 

Thiền Sư Hương Hải thông suốt tư tưởng này nên đã nhắm đúng chỗ này mà xiển dương, phục hưng tông chỉ của Thiền phái khi Vua Lê Dụ Tông hỏi Sư rằng:

 

- Trẫm nghe Lão sư học rộng nhớ nhiều, vậy xin Lão sư thuyết pháp cho trẫm nghe để trẫm được liễu ngộ.

 

Sư tâu:

 

- Xin bệ hạ chí tâm nghe cho thật hiểu bốn câu kệ này:

 

Hàng ngày quán lại chính nơi mình
Xét nét kỹ càng chớ dễ khinh
Trong mộng tìm chi người tri thức
Mặt thầy sẽ thấy trên mặt mình.

 

Âm:

 

Phản văn tự kỷ mỗi thường quan
Thẩm sát tư duy tử tế khan
Mạc giáo mộng trung tầm tri thức
Tương lai diện thượng đổ sư nhan.

 

Quay lại chính mình là phận sự chính, không từ ngoài mà được đã được Thiền Sư chỉ dạy một cách đơn giản, rõ ràng mà trực chỉ. Bài kệ chỉ dạy này của Ngài thật thẳng thắn, trong mộng thì tâm của tất cả chúng sanh đều đầy dẫy những phiền não khổ đau, khi thì buồn thương giận ghét, khi thì tham sân si đầy dẫy, lúc lại chạy theo được mất, hơn thua, phải trái, đúng sai…muốn làm chủ tâm mình thì hàng ngày xoay lại chính mình để quán sát, tư duy một cách kỹ lưỡng, không phải đi đâu tìm xa xôi. Hãy tự mình là ngọn đuốc cho chính mình, quán sát kỹ lưỡng hàng ngày như vậy lần lần sẽ gột rửa được những phiền não, vọng tưởng lăng xăng trong đầu. Khi tất cả những tâm lăng xăng đó lắng xuống hay được buông bỏ thì sẽ nhận ra vị thiện tri thức chân thật nơi chính mình, chính là Tâm Phật nơi chính mình.

 

Tông chỉ của Thiền Trúc Lâm đã được Ngài xiển dương một cách cụ thể bắt đầu từ Vua Lê Dụ Tông này.

 

Tinh thần Thiền Việt Nam là tinh thần trực chỉ, nên Ngài nhấn mạnh tiếp chỗ rốt ráo cho vua Lê Dụ Tông khi vua hỏi: “Thế nào là ý của Phật?”.

 

Sư liền đáp:

 

Nhạn bay trên không
Bóng chìm đáy nước
Nhạn không để ý dấu
Nước không tâm lưu bóng.

 

Âm:

 

Nhạn quá trường không
Ảnh trầm hàn thủy
Nhạn vô di tích chi ý
Thủy vô lưu ảnh chi tâm.

 

Ngay khi “vô niệm”, “vô tâm” mà thường sáng rõ là Phật là Tổ rồi còn hỏi ý Phật ý Tổ chi nữa. Ngài thật khéo léo và linh động khi ứng cơ chỉ thẳng chỗ rốt ráo cho Vua nghe. Pháp Phật thậm thâm vi diệu sâu mầu, tùy cơ mà khế hợp.

 

Chúng ta lại thấy tinh thần xiển dương tông chỉ Thiền Trúc Lâm lại một lần nữa được Ngài nêu cao trong khi dạy đại chúng:

 

“Nếu biết quay ánh sáng soi lại nơi mình, ngay ngoại cảnh mà trực nhận tự tâm, thì Phật nhãn sáng suốt, bóng nghiệp tự tan, pháp thân hiện tiền, những vết trần tự rỗng. Ta phải dùng lưỡi dao trí của tâm tự giác mà rạch lấy tâm châu. Phải dùng mũi giáo tuệ chặt đứt lưới kiến chấp muôn đời. Ấy chính là tông chỉ cùng trực thuyết vậy.” (Hương Hải Thiền Sư Ngữ lục)

 

“Trí hay chiếu vốn không, cảnh bị duyên cũng lặng. Lặng mà không phải lặng, bởi không có người hay lặng. Soi mà không soi, bởi không có cảnh bị soi. Cảnh và trí đều lặng, tâm lo nghĩ an nhiên, đây chính là con đường cốt yếu trở về nguồn.” (Hương Hải Thiền Sư Ngữ Lục).

 

Tinh thần đạo Phật là tinh thần nhập thế, dòng thiền Trúc Lâm là dòng thiền nhập thế. Tinh thần của đạo Phật nói chung và tinh thần của thiền phái Trúc Lâm đều không câu nệ dân tộc, mầu da và các đẳng cấp.

 

Với cái nhìn của đạo Phật thì các chúng sanh đều đang khổ, đều đáng cứu độ. Và tất cả mọi loài đều có tri kiến Phật đáng tôn kính. Do vậy, với cái nhìn riêng đặc biệt của các Thiền sư Việt Nam, và rõ nét nhất là Sơ Tổ Trúc Lâm đã vận dụng tinh thần này, với Ngài ai ai cũng đều đáng được cứu độ, từ vua quan cho đến thần dân thiên hạ, kể cả các dân tộc Chiêm Thành, Ai Lao cho đến các dân tộc thiểu số. Ngài Minh Châu Hương Hải cũng có những nét như thế. Làm được vậy, các Ngài phải hòa mình vào trần thế mới mang ánh sáng giác ngộ cho chúng sinh. Đây là tinh thần nhập thế “hòa quang đồng trần”, cũng chính là tinh thần “tùy duyên bất biến” của Thiền Trúc Lâm.

 

· Hòa quang để hướng mọi người quy y Tam Bảo.

 

Thiền sư Hương Hải đã vận dụng tinh thần nhập thế này qua những việc như cầu an trị bênh cho phật tử, qua đó Ngài hướng dẫn họ quy y Tam bảo, phát lồ sám hối những tội lỗi trong quá khứ, giúp họ hiểu được lý nhân quả, nghiệp báo mà làm lành tránh dữ. Vì trong pháp trị bệnh của Ngài có đề ra pháp sám hối khi Ngài trả lời Hoa Lễ Hầu “trưởng quan quyền cao chức trọng giết hại nhiều người, phải nương sức đại sám hối mới mong được an lành khỏi bệnh.” - Hương Hải Thiền Sư Ngữ Lục.

 

Chú nguyện cầu an chỉ là một phần phương tiện trợ duyên cho người bệnh, cái chính là các ngài linh động nhờ phương tiện đó mà giúp họ tĩnh tâm sám hối tội lỗi. Nhờ có sự chí thành sám hối đó mà chuyển được phần nào nghiệp chướng quá khứ cho nên tâm bệnh được thuyên giảm, kèm thuốc thang nữa nên thân tâm khỏe khoắn, chứ không phải cứ bệnh cầu an là hết. Đó là phương tiện “nhiếp pháp” của các bậc cao tăng đem Phật pháp hóa nhân gian. Bằng trí tuệ và lòng từ bi các Ngài vận dụng mọi phương tiện có thể để giúp đỡ cho mọi người quay trở lại bản tâm mình cùng tu hành hết khổ an vui. Đây cũng chính là tinh thần khế cơ của Đạo Phật.

 

Công đức của Ngài vang dội, triều đình nhà Nguyễn mời Ngài về núi Quy Kính lập nên Thiền Tĩnh Viện để hàng ngày công phu thiền định và chúc nguyện cho Vương gia, hộ trì quốc mạch nước nhà. Vì lợi ích dân tộc, vì lợi ích quốc gia và lợi ích cho mọi người, nên Ngài nhận lời, nhờ công đức đó mà triều đình từ vua quan cho đến quân dân đều biết quy y Tam Bảo, tu nhân tích đức. Dù rằng triều đại Hậu Lê trước đó tuy mến mộ Phật pháp mà chưa vận dụng đạo pháp vào việc trị nước an dân như đời nhà Trần, nhưng việc vua quan quy y học Phật trên cả ngàn người cũng phần nào thấy được sức ảnh hưởng lớn của Thiền Sư Hương Hải như thế nào.

 

· Hòa quang để xiển dương Phật giáo qua tam giáo đồng nguyên.

 

Vua Trần Nhân Tông xiển dương tinh thần Phật giáo trong nhân gian, Ngài đã dung hòa ba dòng thiền trước đó, thành dòng thiền Trúc Lâm Việt Nam. Và với cái nhìn bình đẳng về các tôn giáo, Ngài cũng khéo dung hòa Phật Giáo, Nho Giáo, Lão giáo đang tồn tại trong xã hội vào một, thành tư tưởng tam giáo đồng nguyên.

 

Tiếp thu tư tưởng này từ Vua Trần Nhân Tông, Thiền Sư Hương Hải, với cái nhìn bình đẳng, Ngài cũng tán thán tinh thần tam giáo đồng nguyên, tư tưởng này được thể hiện khi Ngài làm kệ dặn dò người phật tử tại gia:

 

“Từ thành thị đến nghỉ chùa chiền,
Tùy cơ ứng hóa lẽ đương nhiên
Song vời trăng đến giường thiền mát
Gió thổi thông cười khách ngủ yên
Lầu đài rực rỡ, màu huyền diệu
Chuông trống vang rền, tiếng thâm uyên
Ba giáo nguyên lai đồng một thể
Hồn nhiên đâu có lẽ nào thiên”.

 

Bài 2:

 

“Thượng sĩ từng chơi cảnh tùng lâm
Phong trần không vướng hội thiền tâm
Liêm Khê, Trình Hiệu người thông suốt
Tô Tử, Hàn Văn hiểu diệu âm
Muôn ngàn cảnh vật cao dễ thấy
Tạo hóa một bầu kín khó tầm
Nguồn nho thăm thẳm lên càng rộng
Bể thích trùng trùng xuống lại thâm.”

 

Trước tiên ngài nhận định cho hàng phật tử biết là ba giáo, tên tuy khác, nhưng đều đồng một thể “tam giáo nguyên lai đồng một thể, hồn nhiên đâu có lẽ nào thiên”. Và Ngài khen Phật, khen nho “nguồn nho thăm thăm lên càng rộng, bể thích trùng trùng xuống lại thâm”. Ngài nhìn các đạo rất bình đẳng, không thiên vị, đạo nào cũng có giá trị riêng cả, trong Sự Lý dung thông Ngài viết:

 

“Trong nơi danh giáo có ba
Nho hay giúp nước sửa nhà trị dân
Đạo thì dưỡng khí an thần
Thuốc trừ tà bệnh chuyên cần luyện đan
Thích độ nhân miễn tam đồ khổ
Thoát cửu huyền thất tổ siêu phương
Nho dùng tam cương ngũ thường
Đạo gìn ngũ khí, giữ giàng ba nguyên
Thích giáo nhân tam quy ngũ giới
Thể một đường, xe phải dùng ba.”

 

Thế nhưng Ngài vốn xuất thân từ giới trí thức, nho học uyên thâm, lại thâm nhập và giác ngộ Phật giáo, do đó ở bài thứ hai chúng ta sẽ thấy rõ tư tưởng của Thiền Sư Hương Hải muốn đem tư tưởng tam giáo đồng nguyên để xiển dương Phật giáo một cách khéo léo khi Ngài nhắc tới các nhân vật nổi tiếng đời Tống là Liêm Khê, Trình Hiệu, Tô Đông Pha (Tô Tử) và Hàn Dũ (Hàn Văn) đời Đường. Đây là các bậc nho học nổi tiếng, ngộ lý thiền và tu thiền. Qua đó chúng ta phần nào thấy được tư tưởng của Thiền Sư đúng với tư tưởng của Thiên Phái Trúc Lâm đời vua Trần Nhân Tông.

 

3. Ngài xiển dương tinh thần hoằng pháp lợi sanh

 

Đây là tinh thần của Thiền Phái Trúc Lâm Việt Nam đời Trần. Tinh thần này được Thiền Sư tiếp nối một cách rõ nét.

 

· Chú trọng độ tăng, thuyết pháp.

 

Sau khi ngài trụ trì Nguyệt Đường, lập thiền Tịnh Viện thì đệ tử ở khắp nơi theo về đông đảo để quy y, học đạo, thảy đều ghi tên tất cả để rõ dấu tích. Các hàng đệ tử lớn nối tiếp truyền đăng rất nhiều, chẳng hạn như “hàng chữ Chân được bảy mươi vị, tạm ghi những vị lớn tiếp nối truyền đăng”, “hàng chữ Như khoảng hai trăm vị, tạm ghi hai mươi bốn vị hoặc có công với chùa, hoặc có sắc mệnh”, kế đến là hàng chữ Tánh, chữ Hải nhiều không kể xiết, “hàng chư ni khoảng ba mươi vị, cư sĩ nam nữ cả ngàn muôn vị đều quy hướng theo Sư”.

 

Thầy Lê Mạnh Thát trong Minh Châu Hương Hải toàn tập, có nhận định như sau: “Để dựng nên một dòng thiền phát triển rầm rộ như thế, Minh Châu Hương Hải đã biến thiền tịnh đơn sơ ban đầu vào những năm 1683, 1685 thành một ngôi tổ đình làm trung tâm văn hóa giáo dục, liên tục đào tạo ra những thế hệ thiền sư có danh tiếng”.

 

Và ngày nay, hoài bão, tâm nguyện của Sơ Tổ Trúc Lâm được tiếp nối qua Thiền Sư Hương Hải cũng đã, đang và tiếp tục được Hòa Thượng Tôn Sư Thượng Thanh hạ Từ xiển dương, Hòa Thượng từng nói: “Muốn cho giáo pháp thiền tông Trúc Lâm Yên Tử được khôi phục và phát huy sáng tỏ, bền bĩ, để mọi người hướng theo thì không gì hơn là phải tạo điều kiện cho Tăng Ni tu được sáng đạo. Có sáng đạo thì chánh pháp mới trường tồn. Sở nguyện của tôi muốn duy trì thiền tông Việt Nam lâu dài, nên tôi đã cố gắng tạo thiện duyên cho tăng ni tu học. Vì vậy, tăng ni phải ráng tu cho sáng đạo để khi tôi nhắm mắt, tôi vui vì đã được toại nguyện. Nếu quý vị tu lừng chừng qua ngày thì thật là đời tu của tôi chưa đủ phúc để vui hưởng lúc ra đi. Đó là hoài bão của tôi”. (Lời Giáo Huấn nhân ngày truyền thống 8/12/2015)

 

· Xiển dương thiền giáo đồng tu.

 

Giảng kinh thuyết pháp, hay Thiền giáo đồng hành là chủ trương của Thiền Phái trúc Lâm Yên Tử. Vua Trần Nhân Tông cũng dịch giảng rất nhiều bộ kinh, luật, luận. Hay như Thiền Sư Pháp Loa cũng rất nhiều lần thăng tòa thuyết giảng bộ Kinh Hoa Nghiêm tại chùa Báo Ân. Thiền Sư Minh Châu Hương Hải đã vận dụng được tư tưởng này một cách tích cực. Và ngày nay Hòa Thượng Tôn Sư Thượng Thanh Hạ Từ cũng chủ trương tinh thần Thiền giáo đồng hành trong các hệ thống thiền viện thuộc Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam.

 

Với cái nhìn của đạo Phật nói riêng và đặc biệt cái nhìn của Thiền Việt Nam thì xuyên suốt tất cả Kinh đều có thể làm sáng tỏ thiền, và ngược lại, khi ngộ thiền thì có thể thông suốt các loại Kinh qua cái nhìn của nhà thiền. Bởi người tu Thiền đã sáng tâm thì đọc kinh sẽ hiểu rõ ý nghĩa sâu xa ngoài câu lời, do đó càng giảng linh động sáng tạo, giúp người nghe dễ thâm nhập hơn. Cho nên Ngài không quản khó khăn dịch kinh sang chữ Việt (Nôm) và làm các bài văn thơ bằng chính chữ Việt, để lại cho kho tàng Văn Học Việt thời bấy giờ cho tới ngày nay những tác phẩm vô cùng quý giá. Đây là nét đặc trưng của Phật Giáo Việt Nam, nhất là của các Thiền Sư Việt Nam.

 

Những tác phẩm trước tác của Thiền Sư Hương Hải:

 

- Giải Pháp Hoa kinh 1 bộ

- Giải Kim Cương Kinh lý nghĩa 2 đạo

- Giải Sa Di giới luật 1 quyển

- Giải Phật tổ tam kinh 3 quyển

- Giải Di Đà kinh 1 quyển

- Giải Vô lượng thọ kinh 1 quyển

- Giải Địa Tạng kinh 3 quyển

- Giải Tâm Kinh đại điên 1 quyển

- Giải Tâm Kinh ngũ chỉ 1 quyển

- Giải Tâm châu nhất quán 1 quyển

- Giải Chân tâm trực thuyết 1 quyển

- Giải Pháp Bảo đàn kinh 6 quyển

- Giải Phổ khuyến tu hành 1 quyển

- Giải Bảng điều 1 thiên

- Soạn Cơ duyên vấn đáp tinh giải 1 quyển

- Soạn Sự lý dung thông 1 quyển

- Soạn Quán Vô lượng thọ kinh 1 quyển

-Soạn Cúng Phật tam khoa 1 quyển

- Soạn Cúng Dược Sư 1 khoa

- Soạn cúng cửu phẩm 1 khoa.

 

Trên đây là 20 tác phẩm gồm cả thảy 30 quyển, đều rất được thịnh hành thời bấy giờ.

 

Qua các tác phẩm Thiền Sư đã dịch ở trên, Thầy Lê Mạnh Thát trong Minh Châu Hương Hải toàn tập có nhận xét rằng: “điều này chứng tỏ Ngài Minh Châu Hương Hải đã nằm trong dòng chủ lưu của thiền Phật Giáo Việt Nam, không bị ảnh hưởng bởi các dòng thiền Trung Quốc”, hay “trong lịch sử Thiền tông Trung Quốc hầu như không bao giờ gặp một vị tổ nào vừa là thiền sư vừa là dịch giả”.

 

Sơ tổ Trúc Lâm khi hoằng truyền Phật pháp cũng đã dịch các kinh sách, luật luận sang chữ nôm và trước tác các tác phẩm lớn như Cư Trần Lạc Đạo phú, ngài Huyền Quang với tác phẩm Vân Yên tự phú… để lại cho dân tộc ta một kho tàng Văn Hóa rất lớn. Ngày nay Hòa Thượng Thiền Sư Thích Thanh Từ cũng dịch kinh sách sang chữ quốc ngữ để phật tử đọc có thể hiểu được giáo lý Phật. Việc dịch thuật này chính là thể hiện tinh thần dân tộc, tức là tinh thần tự chủ. Đó chính là tinh thần của Thiền Trúc Lâm “miễn được lòng rồi chẳng cần pháp khác”. Tinh thần này được Thiền Sư Minh Châu tiếp thu tư tưởng trong Sự Lý dung thông như sau:

 

“Đạo viên minh ngại chi chân tục
Miễn lòng rồi, tri túc thì nên
Năm mươi lăm phẩm dưới trên
Luyện tam muội hỏa, chí bền kim cương” .

 

· Hoằng pháp bằng thân giáo qua cuộc sống giản dị thường nhật.

 

Hàng ngày Sư chuyên tâm tinh tấn, hằng giữ tâm chánh định, giới luật tinh nghiêm, sớm hôm không khi nào lười mỏi.

 

Chỗ sống hàng ngày cũng rất bình dị, đúng với tinh thần “bình thường tâm thị đạo” một cách thi vị như Sơ Tổ Trần Nhân Tông “đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền”, thì Ngài cũng gần gũi giản dị mà trực chỉ:

 

“Phiền não do tâm nên có
Tâm không phiền não ở đâu?
Chẳng nhọc phân biệt lấy tướng
Tự nhiên được đạo chóng mau”.

 

Hoặc:

 

“Đạo tức hằng ngày dụng
Tâm an đó là thiền
Dừng nghỉ đáy hang mây
Nằm mơ bên lều tuyết”.

 

Người đạt đạo thì chỗ sống thật bình dị, thường nhật.

 

Cho nên dù mọi người có hiểu như thế nào đối với Ngài thì Ngài cũng vẫn trải lòng mình đem Phật pháp tới mọi người mà không hề phiền não, buồn giận ai: “cao nhân chi có nỡ hiềm, thanh trần hủy sự càng thêm đức dày” (Sự lý dung thông). Ngài đã khéo vận dung oan ức để làm cửa ngõ đạo hạnh “càng thêm đức dày”. Ngài từng nói “ Hoặc phải hoặc quấy nào ai biết, nghịch hạnh thuận hạnh trời khó xét”. Hay “Há còn chấp tướng ngại danh, tùy cơ thuận nghịch tung hoành cũng ưa” (sự lý dung thông). Không thuận Đàng Trong thì ngài ra Đàng Ngoài, miễn sao đến đâu cũng đem được ánh sáng phật pháp cho mọi người là ngài hoan hỷ “gần xa đầm ấm, hương thiền nức xông” (Sự lý dung thông).

 

IV. KẾT LUẬN

 

Xưa kia “Đức Phật Thích Ca Văn vì một việc lớn mà xuất hiện giữa cõi đời này”, Sơ Tổ Trúc Lâm cũng vì đại sự đó mà gầy dựng nên tông phong mạng mạch Thiền Việt Nam – dòng Trúc Lâm Yên Tử Việt Nam. Ánh sáng đó được truyền đăng tục diệm qua Thiền Sư Hương Hải, Thiền Sư Chân Nguyên và vẫn tiếp tục truyền sáng mãi cho tới ngày nay, thể hiện qua sự phục hưng dòng thiền Trúc Lâm Việt Nam của Hòa Thượng Thiền Sư thượng Thanh hạ Từ - tông chủ Thiền Phái Trúc Lâm Việt Nam.

 

Muốn thâm nhập được mạch nguồn thiền Trúc Lâm phải là một hành giả chứ không phải chỉ là một học giả. Hòa Thượng Ân Sư đã dạy “chúng ta là con cháu của Ngài, tu theo thiền phái Trúc Lâm cho nên phải đi theo con đường Tổ đã đi, hành trì theo pháp Tổ đã hành. “Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc” là cương lĩnh của thiền Trúc Lâm. Chư Tăng Ni tu theo sự hướng dẫn của tôi phải ghi nhớ và thực hành cho được điều này. Mỗi vị tự xoay lại quán chiếu, nhận ra của báu nhà mình, không còn làm gã cùng tử lang thang nữa.” (Lời Giáo Huấn nhân ngày truyền thống 8/12/2015)

 

Chúng con thật hãnh diện, tự hào khi được làm đệ tử Phật, là thiền sinh của thiền phái Trúc Lâm – Thiền Tông Việt Nam. Hôm nay nhân lễ kỷ niệm ngày húy kỵ lần thứ 300 của Thiền Sư Hương Hải, chúng con thành tâm đê đầu hướng về Ngài với tấm lòng kính ngưỡng biết ơn sâu sắc. Mạng mạch thiền phái Trúc Lâm đã được Ngài xiển dương và phục hưng, chúng con xin nguyện tinh tấn tu hành, trở thành những hành giả chân chính, nguyện đời đời tông phong vĩnh chấn, tổ ấn trùng quang, truyền đăng tục diệm, kính dâng lên Thiền Sư.

 

_______________

Thích Tâm Thuần

Nguồn: thuongchieu.net

TRẦN NHÂN TÔNG VỊ HOÀNG ĐẾ ĐƯỢC TÔN LÀM PHẬT


Về sự nghiệp của vua Trần Nhân Tông, đã có rất nhiều tài liệu và bài viết về hai lần lãnh đạo quân dân nước ta đánh thắng giặc Mông - Nguyên, trị quốc an dân, đối ngoại và mở cõi, nên ở đây chúng tôi không lặp lại nữa, mà chỉ đề cập đôi nét đến nội dung khác về: Trần Nhân Tông - một hoàng đế xuất gia, một thiền sư đắc đạo và là sơ tổ lập nên dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử độc đáo của Việt Nam

Vua Trần Nhân Tông (Trần Khâm) sinh ngày 11.11.1258. Khi sinh ra “màu da sáng như màu vàng ròng, vì thế vua cha là Trần Thánh Tông mới gọi ngài là: Kim Phật. Bên vai phải của ngài có một nốt ruồi đen to như hạt đậu, những thức giả thời ấy tiên đoán về sau thế nào ngài cũng gánh vác việc lớn” (theo Thánh đăng ngữ lục). 

Năm lên 16 tuổi (1274), Trần Nhân Tông được sắc phong làm hoàng thái tử, nghĩa là sau này sẽ nối ngôi, nhưng Trần Nhân Tông đã từ chối, hai lần thưa với Thánh Tông xin được nhường lại cho em mình là Đức Việp. 

Song vua cha không đồng ý, lại “cưới trưởng nữ của Nguyên Từ quốc mẫu cho ngài làm vợ”. Vào một đêm nọ, ngài trốn ra khỏi cung điện, định lên núi Yên Tử để đi tu như cuốn Thiền Tông bản hạnh lược kể: Thái tử lòng muốn tu hành. Nhìn xem phú quý trong lòng nhưng nhưng. Tuy ở điện bệ Đông cung. Lòng hằng giữ nhớ tôn phong nhà thiền. 

Hay tin ngài rời hoàng cung vào nửa khuya, vua Thánh Tông và quần thần sai người đi khắp nơi tìm kiếm. Bất đắc dĩ ngài phải trở về lên ngôi hoàng đế năm 21 tuổi (1279). Tuy ở ngôi vị cao nhất nhưng ngài vẫn tự mình giữ thanh tịnh. Cứ mỗi ngày, sau giờ nhóm triều, ngài đều đến chùa Tư Phước được xây trong đại nội để tĩnh tâmtu học.

Một buổi trưa, ngài đang nằm mơ màng, thấy một bông sen vàng to như bánh xe mọc lên từ rốn của mình, trên hoa sen ấy có đức Phật đang phóng hào quang và một người đứng bên cạnh hỏi ngài có biết đức Phật này chăng. Đó là đức Phật Biến Chiếu

Thức dậy ngài kể lại cho vua cha nghe, Thánh Tông rất hoan hỉ xem đó là giấc mộng cát tường hiếm thấy. Từ đó, ngài càng để tâm tham học về thiền với người thầy của mình là Thượng Sỹ Tuệ Trung. 

Gặp khi giặc Nguyên sang xâm lăng, ngài lãnh đạo tướng sĩ và toàn dân đánh đuổi, giữ vững cõi bờ, như câu đối ở chùa Hoa Yên trên Yên Tử nhắc đến: Dẹp giặc độ chúng sinh làm vua, làm Phật. Dạy dân tu thiền giáo yêu đạo, yêu đời. 

Đến năm 35 tuổi (1293), ngài nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông, nhưng vẫn ở lại cung điện trong sáu năm để giúp Anh Tông cùng lo việc nước và chuẩn bị xuất gia. Khi thấy nền trị quốc của triều đình đã vững vàng, ngài mới quyết định rời khỏi hoàng cung, dứt áo ra đi vào tháng 10 năm Kỷ Hợi (1299) để lên núi Yên Tử tu khổ hạnh, lấy hiệu là Hương Vân đại đầu-đà. 

Truyền bá thiền tông Trúc Lâm

Đến 5 năm sau (Giáp Thìn 1304), ngài xuống núi lúc 46 tuổi, đi khắp nơi để khuyên dân chúng hãy dẹp bỏ những miếu thờ thần quá sức mê tín, huyền hoặc (dâm từ), chỉ cho mọi người thực hành mười điều lành (thập thiện) và vào hoàng cung để truyền giới (Bồ Tát tại gia) cho các vương công bá quan theo lời thỉnh cầu của hoàng đế Anh Tông. 

Trước và trong cùng thời gian đó, ngài xây chùa, mở tịnh xágiảng giải đường lối tu tập để tiếp độ tăng chúng bốn phương, lập giảng đường ở chùa Phổ Minh (phủ Thiên Trường), lập am Tri Kiến (trại Bố Chính)... 

Nhưng quan trọng hơn cả là sự kiện xiển dương đạo pháp, gióng trống hội để bắt đầu truyền bá thiền tông Trúc Lâm ở chùa Sùng Nghiêm. 

Đây là sự kiện trọng đại trong lịch sử Phật giáo Việt Nam đã được ghi lại qua tài liệuThánh đăng ngữ lục mà hòa thượng Thích Thanh Từ - người đang phục hồi mạng mạch của thiền phái Trúc Lâm tại Việt Nam hiện nay - trích dịch như sau: “Ngài (Điều ngự Giác hoàng Trần Nhân Tông) chống gậy đến chùa Sùng Nghiêm ở núi Linh Sơn để truyền bá thiền tông. Mở đầu pháp hội, ngài niêm hương báo ân xong, bước lên tòa. 

Vị thượng thủ bạch chùy (đánh bảng mời ngài khai hội), ngài nói: Thích Ca Văn Phật vì một đại sự mà xuất hiện giữa cõi đời này, suốt 49 năm chuyển động đôi môi (thuyết pháp) mà chưa từng nói một lời. Nay ta vì các ngươi lên ngồi trên tòa này, biết nói chuyện gì đây? 

(Nói rồi) ngài ngồi giây lâu, ngâm (mấy câu sau): Thân như hơi thở ra vào mũi. Đời giống mây trôi đỉnh núi xa. Tiếng quyên từng chập vầng trăng sáng. Đâu phải tầm thường qua một xuân. 
(Ngâm xong) ngài vỗ bàn một cái, nói: Không có gì sao? Ra đây! Ra đây! Có vị tăng bước ra hỏi: Thế nào là Phật? Ngài đáp: Nhận đến (thấy biết) như xưa đều chẳng phải! (Lại hỏi): Thế nào là pháp? Ngài đáp: Nhận đến như xưa đều chẳng phải! (Lại hỏi): Thế nào là tăng? (ngài cũng đáp): Nhận đến như xưa đều chẳng phải!”. 

Tiếp đó, buổi giảng tiếp tục với cuộc đối thoại thiền giữa ngài với các thiền sinh mà học giả Lê Mạnh Thát nhận định: “Có thể nói đây là buổi giảng đầu tiên trong lịch sử (thiền Việt Nam) được ghi chép lại đầy đủ, cung cấp cho ta một điển hình về sinh hoạt diễn giảng của Phật giáo Việt Nam thế kỷ thứ 13 (...)." 

Một buổi giảng khác tại viện Kì Lân vào ngày mồng 9 tháng giêng năm Bính Ngọ (1306) đã được ghi lại trong Tam tổ thực lục (với những lời khai thị của ngài Trần Nhân Tông) như sau: “Này xem, đạo lớn trống rỗng, đâu buộc đâu ràng, bản tính sáng trong, chẳng lành chẳng dữ. Bởi do chọn lựa, lắm ngả sinh ngang, một nháy thoáng mờ dễ thành trời vực. Thánh phàm cùng chung một lối, phải trái há được phân ranh. (...) lỗ mũi thẳng xuống cửa mặt, lông mày vắt ngang hố mắt, há dễ tìm thấy được đâu? Nên hãy đi tìm cái đạo không thấy...”. 

Những buổi pháp thoại ấy diễn ra đúng theo tinh thần của truyền thống thiền tông

Những ngày cuối đời 

Những ngày cuối đời của ngài Trần Nhân Tông đã được hòa thượng Thích Thanh Từ trích lược dưới đây:

Đến đêm 1 tháng 11 năm Mậu Thân (1308) trời trong sao sáng, ngài hỏi Bảo Sát:

Hiện giờ là giờ gì?

Bảo Sát bạch:

- Giờ Tý. 

Ngài lấy tay vén màn cửa sổ nhìn xem, nói:

- Đến giờ ta đi.

Bảo Sát hỏi:

- Tôn đức đi đến chỗ nào?

Ngài nói kệ đáp:

- Tất cả pháp chẳng sinh 

Tất cả pháp chẳng diệt 

Nếu hay hiểu như thế 

Chư Phật thường hiện tiền.

(Nhất thiết pháp bất sanh 
Nhất thiết pháp bất diệt 
Nhược năng như bị giải 
Chư Phật thường hiện tiền). 


Nào có đến đi ấy vậy.

Bảo Sát hỏi:

- Chỉ khi chẳng sinh chẳng diệt là thế nào?

Ngài liền nhằm miệng Bảo Sát tát cho một cái, nói:

- Chớ có mớ.

Nói xong ngài bèn nằm như sư tử lặng lẽ mà tịch, nhằm niên hiệu Hưng Long thứ mười sáu (1308), thọ 51 tuổi. Theo lời di chúc của ngài, tổ kế vị là Pháp Loa đã làm lễ hỏa táng, thu lượm ngọc xá lợi năm màu và xây tháp ở chùa Vân Yên (vua Lê Thánh Tôn về sau đổi tên chùa là Hoa Yên) trên núi Yên Tử để thờ. Vua Trần Anh Tông dâng tôn hiệu là: Đại thánh Trần triều Trúc Lâm đầu đà Tĩnh Tuệ Giác Hoàng Điều Ngự Tổ Phật. 

Ngài để lại một số tác phẩm, nhiều ngữ lụcchỉ thẳng tâm người, tự tu tự chứng, như ngài dạy: không thể nhờ ai cởi dây phiền não cho mình, mà phải tự mình nhận rathanh tịnh và hạnh phúc nơi mình: Thùy phược cánh tương cầu giải thoát. Bất phàm hà tất mích thần tiên (nghĩa là: Ai trói lại mong cầu giải thoát. Chẳng phàm nào phải kiếm thần tiên).

 

Bài kệ kết thúc 
Cư trần lạc đạo phú của Trần Nhân Tông

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên
Cơ tắc xan hề khốn tắc miên, 
Gia trung hữu bảo hưu tầm mích, 
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền
 
Dịch nghĩa:
 
Ở trần vui đạo hãy tùy duyên
Đói đến thì ăn nhọc ngủ liền, 
Trong nhà có báu thôi tìm kiếm
Đối cảnh không tâm chớ hỏi thiền.

ĐĂNG BẢO ĐÀI SƠN

Địa tịch đài du cổ 
Thời lai xuân vị thâm 
Vân sơn tương viễn cận 
Hoa kính bán tình âm, 
Vạn sự thủy lưu thủy 
Bách niên tâm ngữ tâm 
Ỷ lan hoành ngọc địch 
Minh nguyệt mãn hung khâm. 

(Thơ Trần Nhân Tông)

Dịch nghĩa:

LÊN NÚI BẢO ĐÀI 

Đất vắng đài thêm cổ 
Ngày qua xuân chửa nồng. 
Gần xa mây núi ngất 
Nắng rợp ngõ hoa thông. 
Muôn việc nước trôi nước 
Trăm năm lòng nhủ lòng. 
Tựa lan, nâng ống sáo 
Đầy ngực ánh trăng lồng. 


(Ngô Tất Tố)


_____________________


• Giao Hưởng

Nguồn: thuvienhoasen.org

ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP – HẬU DUỆ PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG

Lúc về già, Đại tướng chọn cho mình cuộc sống giản dị bên vườn cây. Ông nghiên cứu kinh sách đạo Phật và hành thiền. Trong lòng dân, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã là một thánh nhân. Có người nói rằng, dân đã thờ ai thì không nhầm.

 

 

Sau khi Đại tướng Võ Nguyên Giáp qua đời, gia đình đã mời các sư thầy Chùa Sủi ở thôn Phú Mỹ, xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, Hà Nội đến tụng kinh, cầu siêu cho Người. Việc lập ban thờ đã nhanh chóng được hoàn thành để mở cửa cho đồng bào vào thăm viếng Đại tướng.

 

Theo thông tin từ gia đình Đại tướng, căn phòng hướng Tây ở số nhà 30 Hoàng Diệu, Hà Nội nhìn ra hồ cá rộng chừng 50 m2 được sử dụng là phòng thờ Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Hồ cá do cháu nội Đại tướng thiết kế nhân kỷ niệm sinh nhật lần thứ 100 của Đại tướng.

 

Hồ cá của Đại tướng, do người cháu nội tặng nhân kỷ niệm lần sinh nhật thứ 100

 

Còn nhớ, năm 2007, trong một lần thiền sư Thích Nhất Hạnh về nước cũng đến tận tư gia thăm Đại tướng. Khi thiền sư trở về, Đại tướng đã cho người nhà ra vườn hái chùm hoa cau tặng khách. Chùm hoa cau mang dấu ấn của quê hương đã đưa vị tướng huyền thoại và vị thiền sư khi đó từ Pháp trở về hàn gắn vết thương chiến tranh trên dải đất Thăng Long này.

 

Khi đó, Đại tướng nói rằng Phật giáo du nhập vào Việt Nam, hòa nhập với văn hóa dân tộc, góp phần to lớn vào sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Thời nhà Trần, chính vua Trần Nhân Tông, người khoác áo cà sa tu hành và lập nên một dòng Phật giáo ở Việt Nam đã trực tiếp lãnh đạo quân và dân Đại Việt đánh thắng giặc Nguyên Mông, mở mang bờ cõi.
Thiền sư Thích Nhất Hạnh cũng đã họa tặng lại Đại tướng Võ Nguyên Giáp bức thư pháp với dòng chữ “Bản môn xuân ấy còn nguyên vẹn”, ý nói con đường ấy, con người ấy, tất cả là chân thật, như mùa xuân chan hòa, ấm áp.

 

Lúc về già, Đại tướng chọn cho mình cuộc sống giản dị bên vườn cây. Ông rất thích trồng cây và hoa, trong nhà ông có một vườn lan và ông có nhiều kinh nghiệm trồng cây. Ông có nghiên cứu kinh sách đạo Phật và hành thiền.

 

Sống một cuộc đời phong phú, sự nghiệp hoành tráng và một tài năng kiệt xuất, tuy nhiên sinh thời Đại tướng Võ Nguyên Giáp tự nhận mình là Đại tướng của Hòa bình. Điều này không chỉ thể hiện rõ bản chất của cách mạng Việt Nam, mà còn thể hiện ông là con người đấu tranh cho Hòa bình. Điều này cũng đúng với triết lý trong Đạo Phật: Muốn xây hòa bình thế giới, trước hết hãy xây cái tâm Hòa bình của mỗi người.

 

Chứng kiến dòng người nối dài hàng cây số xếp hàng từ 3 – 4 giờ sáng để vào viếng Đại tướng tại tư gia khiến chúng tôi không khỏi xúc động.

 

“Gia đình chúng tôi rất cảm động vì tình cảm của nhân dân Khi bắt đầu mở cửa, thấy tình cảm của nhân dân, gia đình rất cảm động khi chứng kiến dòng người đứng xếp hàng. Có nhiều người lính là chiến sĩ cũ của ông, các cựu chiến binh, đủ mọi thành phần lớp nhân dân. Tình cảm của người dân khiến chúng tôi thật xúc động”, bà Võ Hạnh Phúc, con gái Đại tướng chia sẻ.

 

Có người nói rằng, dân đã thờ ai thì không nhầm. Còn theo lời nhà sử học Dương Trung Quốc, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã thu phục lòng dân bằng đức độ.

 

Những ngày qua, một “quốc tang trong lòng dân” đang diễn ra trên khắp đất nước Việt Nam.

 

Phật hoàng Trần Nhân Tông


Lịch sử đã có vua Trần Nhân Tông văn võ song toàn, người được nhân dân suy tôn như một vị Phật. Thời đại ngày nay, người Việt Nam một lần nữa lại chứng kiến một thầy giáo dạy sử vì đất nước lâm nguy đã xả thân vào hai cuộc kháng chiến và làm nên lịch sử.

 

Trong lòng dân, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã là một thánh nhân.

 

___________________

 

Tân Hoa

Nguồn: phatgiao.org.vn

TRẦN NHÂN TÔNG BIỂU TƯỢNG CỦA TRÍ TUỆ, LÒNG NHÂN ÁI VÀ SỰ HÒA GIẢI

Trần Nhân Tông (1258-1308) là vị vua thứ 3 của triều đại nhà Trần (1225-1400), được sử sách ngợi ca là một trong những hoàng đế anh minh nhất trong lịch sử Việt Nam. Dưới ngọn cờ đoàn kết toàn dân do ông lãnh đạo, người dân Việt Nam đã vượt qua bao khó khăn gian khổ, hai lần đè bẹp ý đồ bành trướng của Mông Cổ, đế quốc cường bạo nhất thế giới đã giành chiến thắng suốt từ Âu sang Á thời bấy giờ. Không chỉ là một lãnh tụ kiệt xuất, Trần Nhân Tông còn in đậm dấu ấn của một nhà văn hóa lớn và là vị tổ sư sáng lập ra Trúc Lâm, thiền phái đầu tiên đặc sắc Việt Nam. Cùng với thời gian, tư tưởng Trần Nhân Tông đã vươn ra toàn cầu như là sự kết tinh những giá trị cao cả nhất của nhân loại: Trí tuệ, lòng nhân ái và sự hòa giải.




Trần Nhân Tông là Hoàng thái tử của vua Trần Thánh Tông, lên ngôi nǎm 21 tuổi (1279). Ông làm vua 14 nǎm đến 35 tuổi thì nhường ngôi cho con là Anh Tông để làm Thái Thượng hoàng. Dưới sự dẫn dắt của ông, triều đại nhà Trần quả là một thời thịnh trị và trở thành một trong những triều đại hiển hách nhất cả về võ công và văn trị trong lịch sử Việt Nam. Đây cũng là thời kỳ nhà Trần phải đối diện cùng một lúc với vô số thử thách. Cương vực lãnh thổ vẫn còn nhỏ yếu và liên tiếp bị xâm hại bởi các lân bang. Ảnh hưởng của triều Lý vẫn còn gây nên nhiều nghi ngờ về vai trò của triều đại mới. Đặc biệt, đây là giai đoạn chứng kiến sự ra đời và bành trướng khắp thế giới của đế quốc Mông Cổ (1271-1368). Vó ngựa của chúng tung hoành khắp châu Âu và gần như toàn bộ châu Á tạo nên hình ảnh một đội quân chinh phạt bạo tàn, sở hữu một sức mạnh hủy diệt và không thể kháng cự.


Tuy nhiên, vó ngựa xâm lăng của đế chế Mông Cổ đã bị chặn đứng ở một quốc gia tưởng như nhược tiểu. Cùng với vua cha Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông đã trực tiếp lãnh đạo hai cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên-Mông (lần thứ 2 năm 1285 và lần thứ 3 cuối năm 1287 đến tháng 4 năm 1288 và giành được thắng lợi quân sự cuối cùng. Dưới thời của Ngài, tinh thần vệ quốc được phát huy ở mức cao nhất, toàn dân sục sôi chuẩn bị, quân sĩ tỏ thái độ quyết không đội trời chung với địch. Đây cũng là thời kỳ xuất hiện những vị nguyên soái, đại tướng lỗi lạc như Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão v.v… trong đó, tên tuổi của Trần Hưng Đạo đã vượt ra ngoài biên giới Việt Nam để trở thành một trong những danh tướng của thế giới. Những thắng lợi từ hai cuộc kháng chiến thần thánh này đã giúp nhà Trần giữ vững nền độc lập dân tộc, đặt nền móng cho việc mở mang bờ cõi, yên định biên cương và xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiêu biểu cho các giá trị truyền thống. Đặc biệt, đây chính là những chiến thắng đã khởi đầu cho sự sụp đổ của đế chế Nguyên Mông, giải thoát cho các quốc gia khác khỏi một ách thống trị tàn ác nhất nhì trong lịch sử.


Sau khi lãnh đạo toàn dân khuất phục xâm lược từ phương Bắc, Vua Nhân Tông đã bắt tay vào xây dựng đất nước bằng việc khởi xướng tinh thần yêu thương hoà giải. Ngài tâm niệm rằng những người bên cạnh mình là anh em thân thuộc, những người phải lưu lạc và lầm lỗi là những người con xa. Ngay sau khi về lại Thăng Long, vua đã ra lệnh đốt tất cả những bằng chứng có thể kết tội những người đã từng đồng lõa với giặc. Việc này được sử sách ca ngợi là tuy không phải mười phần đều đúng, nhưng có tác dụng an dân và định nhân tâm một cách sâu sắc và thành công, để rồi trong toàn bộ công cuộc mở rộng bờ cõi và xây dựng nền văn hóa, Ngài đã tụ hội được những người giỏi nhất giúp sức cho đại nghiệp.


Việc xoá bỏ mọi dấu tích về việc có những người trong lúc loạn lạc yếu lòng theo giặc, vua Nhân Tông đã dùng trí tuệ và sự nhân từ của đạo Phật kết hợp với tinh thần đoàn kết truyền thống của dân tộc Việt để tập hợp mọi người vào một sự nghiệp chung. Sự hoà hợp đó trở thành nền móng căn bản nhất cho việc hình thành và phát triển một nền văn hoá Việt Nam tiêu biêu cho các giá trị nhân văn, cao cả và yêu thương giữa con người. Các giá trị này, kể từ thời điểm đó đã là những giá trị phổ quát chung của nhiều dân tộc trên thế giới, bất chấp khoảng cách địa lý, khác biệt về văn hoá và ngôn ngữ.


Trí tuệ và tình thương không phân biệt của Ngài, đã trở thành điểm tựa cho sự phát triển tư duy dân tộc đạt đến một tầm vóc của một triết lý sống. 15 năm sau khi lên ngôi, vào thời điểm đang ở đỉnh cao của quyền lực, Vua Trần Nhân Tông đã quyết định nhường ngôi lại cho con trai để lùi vào hậu trường và sau đó một thời gian, Ngài đã quyết định xuất gia để trở thành một nhà tu hành. Dường như Ngài đã nhận ra chân lý rằng một dân tộc không nên chỉ được biết đến bởi những chiến thắng, những vị vua quyền lực hay những danh tướng tài ba. Thay vào đó, sức mạnh của một dân tộc còn được, và chủ yếu phải được thể hiện bởi những giá trị tinh thần khác như lòng nhân ái, tinh thần bác ái và khả năng hóa giải các mâu thuẫn để tạo nên sức mạnh đoàn kết. Nhận thức đó đã giúp Ngài kết hợp những tinh hoa của giáo lý Phật giáo với tư cách là một hệ tư tưởng, một hệ thống giáo dục lớn và những yếu tố căn bản nhất của nền văn hoá vốn có bề dày và được thử thách. Bắt đầu những ngày nhường ngôi, Trần Nhân Tông đã để tâm vào Phật giáo nghiên cứu những lẽ huyền vi để hệ thống các quan điểm. Cùng với những nhà tu hành có chung lý tưởng, Ngài đã sáng lập ra Thiền phái Trúc Lâm, một dòng tư tưởng phản ánh một cách ưu tú nhất bản lĩnh tinh thần và trí tuệ của dân tộc Việt Nam. Nền tảng của phái Trúc Lâm do Ngài khởi xướng là không kêu gọi tín đồ lìa bỏ cuộc sống trần tục, không ép xác khổ hạnh, mà đề cao nhân nghĩa, giáo dục lòng nhân đạo, không phân biệt giàu sang, luôn luôn nhớ đến cội nguồn. Từ đây, Vua Trần Nhân Tông đã vượt lên khỏi tầm vóc của một vị vua anh minh, một nhà quân sự lỗi lạc để trở thành một nhà tư tưởng có tầm vóc vượt thời đại.


Xã hội con người hiện tại đang chứng kiến vô số những mâu thuẫn, khác biệt và vẫn còn đó những hiềm khích, hận thù, xung đột tưởng như sẽ không bao giờ hóa giải được. Tất cả những yếu tố này đều tiểm ẩn những nguy cơ đẩy thế giới đến những cuộc chiến tranh có thể làm đổ vỡ hòa bình và tiêu tan tất cả sự sống. Trong bối cảnh đó, những giá trị từ di sản tinh thần của Vua Trần Nhân Tông từ cách đây nhiều thế kỷ phải chăng cũng chính là sự phản ánh giấc mơ nhân ái toàn nhân loại, khi các dân tộc, các quốc gia và mỗi con người sẽ chạy đua với nhau bằng tri thức, giao tiếp với nhau bằng sự hiểu biết văn hóa và sự tôn trọng đối với những điều khác biệt.


Và không còn nghi ngờ gì nữa, trí tuệ, lòng nhân ái và tinh thần hòa giải của một trong những nhà tư tưởng kiệt xuất nhất của dân tộc Việt Nam cũng chính là những giá trị cao đẹp từng kết tinh trong nền văn hóa của tất cả các dân tộc.

______________________

(Viện Trần Nhân Tông)

Nguồn: thuvienhoasen.org

ĐỨC VUA PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG VỊ TỔ NGƯỜI VIỆT NAM CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Trong lịch sử dựng nước, giữ nước và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc của dân tộc Việt Nam, vương triều Trần (1226-1400) được tôn vinh là triều đại sáng chói nhất thể hiện qua những chiến công hiển hách thắng giặc ngoại xâm cũng như chính sách hộ quốc an dân đã tổng hợp được sức mạnh của toàn dân ta cùng với vua quan trong việc bảo vệ và phát triển đất nước vô cùng tốt đẹp. 


Qua hơn 90 bài nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của Đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông trong cuộc hội thảo kỷ niệm 700 năm ngày Đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông Niết bàn, tất cả đều nhận định rằng Ngài là một nhân vật tiêu biểu sáng chói nhất của triều Trần. Không những Đức vua anh minh Trần Nhân Tông ghi đậm dấu ấn sáng ngời qua cuộc chiến thắng thần kỳ chống quân xâm lược Nguyên Mông, thế kỷ XIII, mà đặc biệt hơn cả, Ngài được tôn danh là đấng Điều ngự Giác hoàng Trần Nhân Tông vì nơi Ngài tỏa sáng tư chất của vị Thiền sư đắc đạo và là vị Tổ đã sáng lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, một dòng Thiền thuần túy của Phật giáo Việt Nam.

 

Thật vậy, lịch sử còn lưu dấu ấn son sắt về tài thao lược lỗi lạc của Đức vua Trần Nhân Tông. Năm 21 tuổi, khi Ngài lên ngôi là thời kỳ đế quốc Nguyên Mông hùng mạnh nhất thế giới đã đem quân xâm chiếm, gây kinh hoàng khắp các lục địa Á - Âu. Vậy mà đoàn quân tự hào bách chiến bách thắng ấy đã phải hai lần thảm bại trước tài điều binh khiển tướng của Đức vua Trần Nhân Tông, trong khi lúc bấy giờ Đại Việt của chúng ta chỉ là một nước nhỏ, binh sĩ không đông, vũ khí thô sơ và lương thực không nhiều. 

 

Sau khi đánh thắng quân Nguyên Mông lần thứ hai và thứ ba, cuối thế kỷ XIII, Đức vua Trần Nhân Tông đã dốc toàn tâm toàn lực cho việc xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân Đại Việt, tạo dựng xã hội Đại Việt được ổn định và hướng đến phát triển. Điển hình là Ngài cho mở các nông trang, làm các công trình thủy lợi, chia ruộng đất cho dân chúng, tuyển chọn nhân tài, miễn thuế cho những vùng bị thiên tai hạn hán, bão lụt v.v… Về văn hóa, Đức vua Trần Nhân Tông là người đi đầu trong việc sử dụng tiếng Việt để sáng tác văn học. Hai tác phẩm được vua Trần Nhân Tông viết bằng chữ Nôm là Cư trần lạc đạo và Đắc thủ lâm tuyền thành đạo ca còn lưu truyền đến ngày nay .

 

Một nét đặc sắc nổi bật của Đức vua Trần Nhân Tông, đó là thái độ khoan dung của Ngài đối với một số quan lại đã viết biểu dâng cho nhà Nguyên xin đầu hàng. Đức vua đã không truy cứu xử tội họ mà ra lệnh đốt bỏ các tờ biểu đó. Tấm lòng rộng mở tha thứ của Đức vua quả là hiếm có, đã cảm hóa được những quan lại phạm tội, khiến họ sanh tâm kính trọng và hết lòng với Đức vua sau này. 

 

Ngoài ra, một điểm đặc biệt nữa là sự cải cách thể chế chính trị đáng kể dưới thời vua Trần Nhân Tông. Chế độ vương hầu hùng cứ một vùng trước đó đã bị bãi bỏ và tất cả quyền hành được thống nhất tập trung về triều đình. Ngài thực hiện việc này một cách khéo léo, mang lại sự an cư lạc nghiệp cho nhân dân, phát triển được đời sống vật chất và tinh thần của người dân, làm lớn mạnh sức đoàn kết của toàn dân với triều đình.

 

Mười bốn năm trên ngôi vua, năm năm trên ngôi Thái thượng hoàng, Đức vua Trần Nhân Tông luôn luôn là vị minh quân có một không hai trong lịch sử nước ta. Ngài đã tổng hợp được tất cả sức mạnh tinh thần và vật chất của nhân dân Đại Việt để thành tựu được những việc làm lớn lao và tốt đẹp cho nước nhà. Mặc dù phải giải quyết công việc bộn bề của một vị minh quân trong thời kỳ còn nhiều khó khăn của đất nước, nhưng Ngài vẫn quyết chí tu hành. Khi còn là hoàng thái tử, ở tuổi thanh xuân, Ngài đã trường trai và tự khắc phục tất cả những dục vọng. Và đến khi ở trên ngôi vị tuyệt đỉnh đầy đủ thú vui trần thế, Ngài vẫn giữ mình thanh tịnh tu hành và thường đến chùa Tư Phước trong đại nội để tu tập.

 

Sau khi hoàn thành trách nhiệm của một vị minh quân đối với giang sơn xã tắc, năm 1929, Ngài từ bỏ ngôi vua một cách nhẹ nhàng, để xuất gia làm nhà tu khổ hạnh, mặc áo nâu, đi giày cỏ, ăn rau rừng, uống nước suối, miệt mài thể nghiệm tinh ba của Phật pháp trên núi Yên Tử. Điều này gợi cho chúng ta cảm nhận rằng Đức vua Trần Nhân Tông là vị Phật hiện thân làm vua ở Việt Nam để cứu giúp nhân dân ta thoát khỏi khổ ách của giặc ngoại xâm thời đó. Vì vậy, đối với Phật giáo Việt Nam, Đức vua Trần Nhân Tông chẳng những là vị đệ nhất Tổ của dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử, mà còn là vị Phật thể hiện trọn vẹn nét đặc sắc của Phật giáo Việt Nam, Phật giáo nhập thế tích cực trên tinh thần "Tùy thuận thế duyên vô quái ngại, Niết bàn sanh tử đẳng không hoa". 

 

Nếu xét về thời điểm xuất gia tu hành, Đức Phật hoàng Trần Nhân Tông của chúng ta khác với Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ở Ấn Độ. Đức Phật Thích Ca từ bỏ ngôi vị Thái tử rất sớm để dấn thân trên con đường khổ hạnh và Ngài tìm ra chân lý để giáo hóa độ sinh. Trong khi Đức Phật hoàng Trần Nhân Tông của Phật giáo Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân dẹp giặc ngoại xâm rồi Ngài mới nhường ngôi vua, lên núi Yên Tử tu hành miên mật và trở thành vị Phật của người Việt Nam. Nói cách khác, theo tinh thần Phật giáo Việt Nam, Đức vua Trần Nhân Tông đã lăn xả vào lằn tên mũi đạn, sẵn sàng hy sinh tất cả, kể cả thân mạng của Ngài để bảo vệ đồng bào, giữ gìn quê hương. Nhưng sau khi giữ yên bờ cõi và chăm lo cho trăm dân an vui no đủ rồi, Ngài từ bỏ ngai vàng một cách tự tại ví như vứt bỏ chiếc giày rách vậy. Điều này cho thấy Đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông làm vua để mang lại thái bình, thịnh vượng cho toàn dân Đại Việt, chứ không phải để hưởng thụ. Vì vậy, tuy khác nhau ở điểm xuất phát, nhưng Đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông cũng hành xử giống như Đức Phật Thích Ca ở điểm từ bỏ cung vàng điện ngọc, dấn thân vào con đường phát huy tâm linh đến tột đỉnh. Đức Phật Thích Ca rời bỏ ngôi vua, đi tìm con đường cứu khổ cho tất cả chúng sinh. Còn Đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông sau khi hoàn thành trách nhiệm của người lãnh đạo tối cao thì sẵn sàng cởi áo hoàng bào, giao lại ngôi vua để chuẩn bị trở về nguồn cội Phật tánh của Ngài, trở về thế giới Phật của Ngài. Vì vậy, Đức vua Trần Nhân Tông được nhân dân Việt Nam tôn kính là vị Phật của người Việt Nam.

 

Với trí tuệ và đạo lực của vị Thiền sư đắc đạo, trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, Đức vua Trần Nhân Tông đã thành công trong việc thống nhất thể chế chính trị theo hình thức trung ương tập quyền. Ngoài ra đối với đạo pháp, Ngài cũng hoàn thành một Phật sự vô cùng đặc biệt, đó là sự thống nhất các hệ phái Phật giáo có trước và khai sáng dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử. Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, đây là lần đầu tiên Phật giáo thời nhà Trần đã thống nhất được Phật giáo và thành lập một Giáo hội duy nhất với một Thiền phái duy nhất của người Việt Nam là Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Giáo hội Phật giáo Trúc Lâm duy nhất đã phát triển đến đỉnh cao mang đậm nét bản địa của Phật giáo Việt Nam, nhiều chùa tháp của Giáo hội Trúc Lâm được xây dựng, tinh thần học Phật lên cao, người xuất gia tăng nhiều, trong đó có nhiều người thuộc giới quyền quý và hàng cư sĩ quy y Tam bảo cũng nhiều hơn và nhất là ấn hành được Đại tạng kinh…

 

Thành quả thống nhất đối với đất nước và đạo pháp của Đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông gợi cho chúng ta liên tưởng đến điểm tương đồng với Giáo hội Phật giáo Việt Nam ngày nay. Năm 1975, khi nước nhà được độc lập và thống nhất, thì đến năm 1981, sinh hoạt của Phật giáo Việt Nam chúng ta cũng được chư tôn thiền đức của ba miền đồng lòng thống nhất trong một Giáo hội Phật giáo Việt Nam duy nhất. 

 

Có thể nói rằng Phật giáo Việt Nam ngày nay đã kế thừa sự nghiệp Phật giáo của Đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông 700 năm trước, nghĩa là thể hiện nét son truyền thống của Phật giáo bản địa, Phật giáo Việt Nam của người Việt Nam và do người Việt Nam lãnh đạo.

 

Tóm lại, Đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông là tấm gương sáng ngời của một bậc minh quân lỗi lạc, một vị Tổ sư đắc đạo đầy đủ tài đức, Ngài đã lưu lại những trang sử hào hùng cho đất nước Việt Nam cũng như để lại sự nghiệp vẻ vang cho Phật giáo Việt Nam.

 

Ngày nay, Phật giáo Việt Nam chúng ta được phước duyên kế thừa trí giác và đạo hạnh của một vị Tổ sư khai sáng và phát triển dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử, kế thừa một Giáo hội duy nhất hiện hữu từ thời Trần đã lưu dấu ấn vàng son trong lịch sử Phật giáo Việt Nam. Vì vậy, thiết nghĩ chúng ta tôn thờ Đức Phật hoàng Trần Nhân Tông là vị Tổ sư đắc đạo của Phật giáo Việt Nam là điều đúng đắn hoàn toàn và rất cần thiết. 

 

Chúng tôi đề nghị Giáo hội Phật giáo Việt Nam chính thức công bố Đức Phật hoàng Trần Nhân Tông là vị Tổ sư người Việt Nam đã thống nhất Phật giáo Việt Nam cách nay 700 năm; đồng thời, tất cả các chùa Việt Nam cần phải thờ phụng tôn tượng của Đức Điều ngự Giác hoàng Trần Nhân Tông và hàng năm, trên cả nước, Giáo hội Phật giáo Việt Nam chúng ta nên tổ chức ngày lễ giỗ Tổ tưởng nhớ đến công đức siêu tuyệt của Đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông thật long trọng như ngày lễ hội lớn của Phật giáo Việt Nam.

 

__________________

 

HT Thích Trí Quảng


Nguồn: thuvienhoasen.org

TÌM VỀ CHÙA HÀNH CUNG VŨ LÂM - NƠI TRẦN NHÂN TÔNG XUẤT GIA TU HÀNH

Vũ Lâm là nơi xuất gia tu Phật đầu tiên của đức Phật hoàng Trần Nhân tông. Các cụ còn kể đã đi Yên Tử, nơi Phật hoàng lập ra Thiền phái Trúc Lâm, một dòng Việt Phật đầu tiên của nước ta...

 

Sách Đại Việt sử ký toàn thư tờ 538 do Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin in năm 2004 có ghi: “Bấy giờ thượng hoàng (chỉ Trần Nhân tông sau khi đã nhường ngôi cho con từ tháng 3 năm 1293) ngự đi Vũ Lâm”.

Tượng Phật Hoàng Trần Nhân Tông

Thời gian này vào khoảng tháng 7 năm Giáp ngọ (1294).

 

Sang năm Ất mão (1295) Đại Việt sử ký toàn thư tờ 540 lại ghi: “Mùa hạ, tháng 6, thượng hoàng về kinh sư. Đã xuất gia ở hành cung Vũ Lâm, lại trở về vậy”.

 

Như vậy, Trần Nhân tông sau hai lần lãnh đạo toàn dân kháng chiến chống giặc dữ Mông - Nguyên đại thắng, và sau khi ngài nhường ngôi cho con chưa được hai năm thì ngài xuất gia. Nơi ngài tu Phật đầu tiên là chùa Hành Cung hay còn gọi là hành cung Vũ Lâm..

 

Ngày nay ở thôn Hành Cung xã Ninh Thắng huyện Hoa Lư có ngôi chùa cổ, dân quen gọi là chùa Hành Cung, nhưng chùa có tên riêng là “Khai phúc tự” tức là chùa Khai Phúc.

 

Theo ông Nguyễn Đức Long, Phó Giám đốc Sở Văn hóa-Thể thao-Du lịch tỉnh Ninh Bình trích theo nguồn thư tịch cổ như sách “Thái Vi quốc tế ngọc ký (viết trong tập Trần Gia ngọc phả , lập năm Cảnh Thịnh thứ 5 (1667), sao lại năm Bảo Đại thứ 3 (1924) lưu tại Bảo tàng tỉnh Ninh Bình thì: “Sau cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông Cổ lần thứ nhất (1258) vua Trần Thái tông 40 tuổi, đã nhường ngôi cho hoàng thái tử Hoảng (Trần Thánh tông) về vùng núi lập am Thái tử để tu hành, mở đầu cho việc xây dựng hành cung Vũ Lâm”.

 

Việc các vua Trần xây dựng hành cung Vũ Lâm cũng như các vua đi đến hành cung được sách Đại Việt sử ký toàn thư tờ 452 ghi: “Canh tí (1240), mùa xuân, tháng giêng, sai Phùng Tá Chu dựng 5 sở hành cung ở phủ Thanh Hóa”.

 

Và việc thượng hoàng Trần Nhân tông đi về hành cung Vũ Lâm và xuất gia tại đó như phần đầu bài viết này.

 

Ta chưa biết chính xác nhà Trần cho dựng hành cung Vũ Lâm vào năm nào; có thể là cùng hoặc muộn hơn thời gian Phùng Tá Chu dựng hành cung ở phủ Thanh Hóa. Nhưng rõ ràng đã có một hành cung và một ngôi chùa mà tại đó vào năm 1294, lần đầu tiên thượng hoàng Trần Nhân tông xuất gia tu Phật ở Vũ Lâm.

 

Chúng tôi đã nhiều lần về hành cung Vũ Lâm và chùa Khai Phúc. Gặp gỡ các vị trong Ban quản lý di tích, vị trưởng thôn hoặc các vị trong Ban Mặt trận Tổ quốc thôn Vũ Lâm. Các vị cũng như các cụ cao tuổi trong làng đều hết lòng gìn giữ và tôn tạo di tích. Tất cả bà con trong làng đều lấy làm vinh dự khi được biết, Vũ Lâm là nơi xuất gia tu Phật đầu tiên của đức Phật hoàng Trần Nhân tông. Các cụ còn kể đã đi Yên Tử, nơi Phật hoàng lập ra Thiền phái Trúc Lâm, một dòng Việt Phật đầu tiên của nước ta. Lại cũng được biết dòng thiền Trúc Lâm đang được phục hưng bởi Hòa thượng Thích Thanh Từ và nhiều vị thạc đức khác trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Nhiều thiền viện như Thường Chiếu (Vũng Tầu), Trúc Lâm (Đà Lạt), Long Động (Yên Tử), Tây Thiên (Vĩnh Phúc), Bạch Mã (Thừa Thiên-Huế) v.v… Tất cả các Thiền viện đều có tăng đoàn tu tập và thường xuyên hoằng pháp trong và ngoài tự viện, được dân chúng hoan hỷ hưởng ứng.

 

Trở lại thực trạng hành cung và ngôi chùa cổ Khai Phúc ở Vũ Lâm.

 

Hành cung, theo lời kể của bà con, xưa nằm trên một doi đất cao, xung quanh là rừng vầu quanh năm xanh tốt, chợt có làn gió nhẹ đã nghe thấy tiếng lá reo như tiếng nhạc. Hành cung là một ngôi nhà gỗ lợp ngói. Đó là một ngôi nhà vừa phải không có gì gọi là xa hoa cầu kỳ, vẫn tồn tại tới trước 1954. Chỉ có điều trong kháng chiến chống Pháp, giặc đốt cháy mất một góc. Sau đó ta vá sửa bằng chính tre vầu đốn chặt trong khuôn viên hành cung. Và được dùng cho một vài lớp học của trường cấp I trong thôn. Nhưng đến khoảng cuối những năm 70, đầu 80 của thế kỷ trước, khi hợp tác xã nông nghiệp đưa lên cấp cao với qui mô toàn xã. Nên xã quyết định phá ngôi nhà gọi là hành cung và cả rừng vầu, san phẳng đi để làm sân kho Hợp tác xã nông nghiệp, còn cột gỗ thì xẻ ra làm nhà kho. Sân kho này rộng khoảng hai hecta (hai vạn mét vuông), được liệt hạng là sân kho lớn nhất huyện Hoa Lư. Hiện nay Hợp tác xã coi như tan rã, sân kho là một bãi đất hoang, không ai dám lấn chiếm, xã cho đấu thầu nhưng không ai ngó tới.

 

Chùa Hành Cung hay Khai Phúc tự nằm ở phía trước hành cung, cách 60 mét. Ngôi chùa cũng bị tàn phá không còn gì. Tượng Phật, đồ thờ, tường mái đều mất hết. Nghe nói khoảng tháng 6 năm 1953, giặc Pháp đã đến làng, đốt chùa, nhà thờ Thiên Chúa và cả hành cung.

 

Khoảng năm 1990, các Phật tử đứng ra quyên góp cùng dân làng dựng lại ngôi chùa bằng tranh tre để thờ tạm, nhưng trải hơn hai chục năm đã mục và dột nát không thể vá víu được nữa.

 

Chúng tôi về chỉ nghe tiếng than thở của bà con. Tôi tìm hiểu về các cổ vật vĩnh cửu như bia đá, chuông đồng được bà con cho biết. Mặc dù giặc đốt phá nhưng chùa vẫn còn lưu giữ được 9 tấn bia đá khá to. Tôi lấy làm mừng lắm, nhờ bà con dẫn đi xem. Duy nhất còn một tấm “bia Hậu”. Tức là bia ghi tên tuổi những người mua “Hậu Phật”, không cho ta biết một chút gì về lịch sử ngôi chùa và lịch sử địa phương. Hỏi còn 8 tấm bia nữa ở đâu. Bà con cho biết, lệnh trên sai đập vỡ để lấy đá xây chân móng nhà kho hợp tác xã. Chúng tôi thật sự nghẹn ngào, và không biết nói như thế nào đối với hành vi ngược đãi văn hóa đến xấc xược như vậy.

 

Hiện chùa còn giữ được chiếc chuông nhỏ khá đẹp, đúc vào thời Lê trung hưng.

 

Mới đây, ngày 26 tháng 12 năm 2012, chúng tôi trở lại Vũ Lâm. Một sự thay đổi đáng kể. Chùa đã hưng công, dựng được bộ khung, nếu hoàn thiện cũng tạm gọi là rộng rãi và khang trang.

 

Tôi hỏi bà Minh, một cán bộ hưu trí đã hơn 80 tuổi, trong Ban quản lý di tích, rằng bà con lấy tiền đâu để dựng chùa. Bà Minh trả lời: “Đây là bà Nhân bà ấy vận động chứ dân làng làm gì có tiền. Các ông có gặp bà Nhân chúng tôi cho người đi tìm”.

 

Thực tình tôi nghĩ, bà Nhân là một đại gia, hay một nhà tài trợ độc quyền hay một người đấu thầu nào đó, nên tôi không muốn gặp. Tôi nói với bà Mai: “Chúng tôi chỉ là khách vãng lai, nên không muốn làm phiền bà Nhân”. Trong lòng tôi thầm nghĩ đến nhiều người thực tâm hiếu kính tiền nhân, nên không quản khó nhọc để gìn giữ hoặc tu bổ di tích. Nhưng cũng không thiếu nơi giả danh hiếu Phật để buôn Phật. Như ngôi chùa nọ đang trong thời gian xây dựng, đã rao bán một ngàn bức tượng Phật nhỏ, cao cỡ một gang tay, với giá 5 triệu đồng một bức, ai mua sẽ được ghi tên vào đít bụt và đặt trong hốc tường. Một ngàn bức tượng nhỏ kia, cái chùa buôn Phật ấy đã thu về 5 tỉ bạc. Và nếu đã làm hàng loạt như hàng hóa, giá mỗi bức tượng kia chỉ dăm trăm ngàn đồng là cùng.

 

Thời buổi này, ai buôn bán giỏi, lời 10 phần trăm coi như là thắng rồi, thế mà buôn Phật lãi gấp 10 lần, ai chẳng muốn mở cái tâm phàm ra mà đớp của thiên hạ.

 

Chúng tôi theo về nhà bà Mai để xem một số tài liệu về ngôi chùa cổ, mà các vị cao niên trong làng đã sưu tầm và ghi chép lại. Bà Mai chưa kịp pha trà thì thấy một Ni sư xuất hiện ở đầu sân.

 

Tôi vẫn giữ thái độ dè dặt. Nhưng Ni cô chạy ào vào nhà, giọng hồ hởi: “Từ ba ngày nay con đã quán chiếu thấy có khách về thăm chùa. Chiều nay, ruột nóng như sôi, thế là con chạy sang thẳng đây. May quá gặp quí khách”. Trong đoàn chúng tôi có một vài người mới chỉ gặp thoáng Ni cô một lần. Nay họ nhận ra nhau thân mật như những người bạn cũ.

 

Khi biết Ni cô chính là bà Nhân như bà Mai nói, tôi thật yên tâm. Nhưng trước đó bà lại không nói rõ là Ni cô Thích Diệu Nhân. Được biết Ni cô trụ trì tại chùa Yên Ninh, thôn Đông Trang xã Ninh An cùng huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình. Yên Ninh ở cách Vũ Lâm chừng 3 ki lô mét. “Thấy chốn tổ xuất gia đầu tiên điêu tàn quá, lòng con không yên, thế là cắp bát đi khắp thiên hạ, ai cho đồng nào bỏ vào đấy tích góp lại được hơn 1 tỉ đồng, mới làm xong được bộ khung thôi các cụ ạ. Con thiếu 500 triệu nữa thì hoàn thiện được ngôi Tam bảo”. Ni cô trần tình công việc của mình như vậy.

 

Tuyệt nhiên Ni cô Diệu Nhân không mở lời yêu cầu bất cứ một cá nhân hay tổ chức nào tài trợ, để bà hoàn thành nốt phần công việc còn lại.

 

Tôi hỏi: - Ni cô lấy tiền đâu để làm tiếp?

 

Nhà sư trẻ cười hồn hậu giãi bầy rất khiêm tốn- Dạ thưa, số tiền dựng lên được bộ khung chùa này là của bá tính thập phương, chứ nhà chùa con lấy đâu ra tiền. Thôi thì cái duyên mới tới đấy hãy dừng lại đấy. Con xin nguyện sẽ cùng bà con thôn Hành Cung dựng lại ngôi chùa Khai Phúc cho thật khang trang để thờ Phật hoàng Trần Nhân tông, nhưng tới lúc nào hoàn tất cũng còn tùy duyên, chứ con không dám nài nỉ thập phương bá tánh.

 

Ôi một nhà sư trẻ, một ni cô đi “ăn mày” thiên hạ lấy tiền xây chùa mà vẫn giữ được tâm hồn cao thượng. Thật đáng trọng thay nhân cách một con người. Thế mà những kẻ đang tay xâm hại các di tích lịch sử, những kẻ buôn thần bán Phật lại không biết hổ thẹn sao.

Am Ngọa Vân - nơi Trần Nhân Tông nhập cõi Niết Bàn

Địa danh Vũ Lâm đã đi vào lịch sử từ hơn 700 năm nay. Nó được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong bộ sử lớn nhất nước là Đại Việt sử ký toàn thư. Nó cũng được ghi rất trịnh trọng trong sách “Tam tổ thực lục”. Cũng không hiểu ông giám đốc Sở Văn hóa Ninh Bình đã báo cáo tình trạng di tích sắp trở thành phế tích với Cục Di sản chưa? Và Cục di sản Bộ Văn hóa TT-DL đã báo cáo việc này với ông Bộ trưởng Bộ Văn hóa TT-DL chưa.

 

Kinh nghiệm như năm 2001, khi chúng tôi không tin vào sách hướng dẫn về di tích danh thắng Yên Tử của ông giám đốc sở Văn hóa-Thông tin, Chủ tịch Hội khoa học lịch sử tỉnh Quảng Ninh, viết chung với một vị giáo sư tiến sỹ rất có uy tín trong giới sử học chỉ ra “Am Ngọa Vân nằm phía sau Thác ngự dội (Thác tử)”. So với những gì ghi lại trong sách “Thánh đăng lục” khiến tôi không tin, đã trở về Đông Triều và tìm thấy “Am Ngọa Vân”, có cả mấy tấm bia trùng tu từ đời Lê, đời Nguyễn, lại có cả “Tháp Phật hoàng”. Chúng tôi viết bài, chụp ảnh và dịch cả văn bia đăng Báo Văn Nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam.

 

Sau đó, Bộ Văn hóa - Thông Tin đã kịp thời nghiên cứu và cấp bằng xếp hạng DI TÍCH QUỐC GIA CHÙA NGỌA VÂN thuộc xã Bình Khê, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh theo quyết định số 55/2006/QĐ BVHTT ngày 29 tháng 5 năm 2006 do ông Bộ trưởng Phạm Quang Nghị ký.

 

Mong sao cụm di tích lịch sử Vũ Lâm sớm được đối xử như Am Ngọa Vân! Không lẽ gì Am Ngọa Vân là nơi Phật hoàng Trần Nhân tông nhập niết bàn thì được xếp hạng di tích quốc gia, còn Vũ Lâm là nơi đầu tiên Thượng hoàng Trần Nhân tông xuất gia tu Phật lại bỏ hoang phế và không được liệt hạng di tích lịch sử quốc gia?

 

_________________

 

Nhà văn Hoàng Quốc Hải

Nguồn: phatgiao.org.vn

TẠI SAO CÓ ÍT CHÙA THỜ PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG?

Tại sao các nhà tổ tại các chùa Việt Nam chỉ có thờ tổ Bồ Đề Đạt Ma? Tại sao rất ít chùa Việt có thờ Tổ người Việt ? Chẳng lẽ Phật Hoàng Trần Nhân Tông không phải là vị tổ đáng kính của Phật giáo Việt Nam?

Là một doanh nhân Phật tử tôi hay đi tham quan các chùa từ Nam chí Bắc. Rất nhiều chùa được xây đẹp, hoành tráng. Nhất là các chùa mới. Các chùa cũ giữ được cảnh quan tuyệt vời, tượng cổ, chuông mõ cổ thật uy nghi và linh thiêng. Các chùa phía bắc, ngoài chánh điện thường xây thêm nhà tổ để thờ các Tổ. Có điều lạ là rất ít nơi tại Việt Nam chúng ta thờ Phật hoàng Trần Nhân Tông. Tôi cứ suy nghĩ hoài cả chục năm nay!

 

Chúng ta ai cũng biết Phật Tổ Như Lai sinh quán tại vườn Lâm Tỳ Ni và đắc đạo tạo Bồ Đề Đạo Tràng. Ngài là con vua Tịnh Phạn đã quyết định xuất gia, từ bỏ tất cả để đi tìm con đường giải thoát. Đạo Phật được hình thành. Và đến 80% dân số Việt Nam ta là Phật tử và đều thờ cũng như tưởng nhớ đến công đức của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.

 

Chúng ta ai cũng biết, đất nước Việt Nam yêu quý có một vị vua tài ba Trần Nhân Tông cũng đã quyết định nhường ngôi cho con. Và cuối cùng Ngài vào núi tu. Tìm con đường giải thoát. Giác ngộ cho chính mình và là tấm gương sáng cho chúng ta noi theo.

 

Đích thân tôi đã đến Yên Tử quãng gần chục lần. Và có gần một nửa trong số đó là đi cáp treo. Nghĩ lại càng thấy hổ thẹn!

 

Ngày đó vua Trần Nhân Tông, một người rất tài giỏi, nổi tiếng, đang sống trong triều với đầu đủ tất cả về vật chất và tinh thần, không thiếu thứ gì trên đời mà lại trèo lên núi cao, rừng thẳm để tu. Mà thời đó đường lên đâu có bậc. Thời đó từ chân núi leo lên đâu có dễ. Chỉ nghĩ riêng về việc trèo núi thôi đã thấy Ngài vĩ đại!

 

Vua Trần Nhân Tông quyết định rời chốn đô thành về Yên Tử ẩn tu. Rừng núi hoang vắng, hoang thú không ít, khí hậu nơi rừng sâu đâu có dễ chịu. Tôi đã đứng trên núi và thấy rét run, mặc dù mặc bao quần áo trong người. Ấy vậy mà đức Vua của chúng ta tu ở đó 9 năm trời, đến khi nhập Niết Bàn. Ngài vĩ đại làm sao!

Tôi đã từng tham gia các khóa tu thiền. Trong ngôi nhà giữa rừng với biết bao thiền sinh cùng tham dự mà ban đêm tỉnh dậy vẫn thấy sợ. Chợt nghĩ, nếu một mình trong rừng này, liệu có dám ở lại. Mà nếu không có nhà cửa đàng hoàng, chỉ 1 mái lều hay hang đá, chắc mình bỏ về ngay. Còn thời đó rừng còn xa lắm, vắng lắm, hoang lắm. Đức Vua của chúng ta đâu có được ngôi nhà tử tế để tu. Ngài sao mà vĩ đại đến vậy!

 

Những gì Ngài đã để lại cho chúng ta ngày nay là quá nhiều. Di sản Phật giáo của Ngài vẫn còn đang hiện hữu khắp mọi miền đất nước. Cả 90 triệu dân Việt Nam tôn vinh. Hàng triệu người dân ngưỡng mộ. Công đức của Ngài quá bao la!

 

Và Ngài cũng là người Việt Nam duy nhất trong lịch sử 4 ngàn năm lập ra trường trường phái thiền riêng của người Việt. Mà dòng thiền tuyệt vời này vẫn đang được duy trì đến tận hôm nay.

 

Bao năm qua tôi cứ suy nghĩ về sự vĩ đại của một vị Vua. Một CON NGƯỜI quá vĩ đại! Tôi chưa nói đến việc Ngài đã tu đắc đạo mà chỉ muốn luôn cúi đầu lạy Ngài đã dám và quyết từ bỏ cuộc sống vương giả, đầy đủ để lên núi cao tu. Quyết tâm ba la mật của Ngài quá là bài hoc lớn, là tấm gương trời biển cho tôi và mỗi chúng ta noi theo.

 

Trên thế giới này có mấy vị vua đã quyết định rời ngôi để xuất gia? Còn đất nước Việt Nam ta có 1 vị Phật Hoàng. Tấm gương của ngài sáng chói và chắc chắn đã vượt xa khỏi biên giới Việt Nam.

 

Mà tại sao các nhà tổ tại các chùa Việt Nam chỉ có thờ tổ Bồ Đề Đạt Ma? Tại sao rất ít chùa Việt có thờ Tổ người Việt của chính chúng ta? Chẳng lẽ Phật Hoàng Trần Nhân Tông không đáng được thờ tại các nhà tổ, tại các chùa Việt ư?

 

Là người sơ cơ, mới tu tập chính thức hơn chục năm nay tôi cứ trăn trở một mình, không dám nói ra. Cứ nghĩ, chắc có nhiều điều quanh đây mà mình chưa hiểu hết. Chắc chắn có lý do của nó mà do mình vô minh không thấy. Thôi thì cứ mạo muội viết ra. Ít nhất để được nói ra trăn trở khó giãi bày. Rồi biết đâu, một ngày nào đó Phật Hoàng Trần Nhân Tông sẽ được thờ rộng rãi tại các chùa Việt Nam. Thậm chí tại nơi thờ tự của mỗi gia đình.

 

______________________

Thiện Đức Nguyễn Mạnh Hùng (Công ty sách Thái Hà)

Nguồn: phatgiao.org.vn

THƯ HỌA VỀ TRẦN NHÂN TÔNG DO NGƯỜI VIỆT VẼ

Mong sao người Việt ở khắp nơi không ngại nhọc công tìm thấy và công bố các tài liệu liên quan đến văn hóa, lịch sử, di sản của nước nhà để người nghiên cứu đi gần đến chỗ chính xác trong công việc.

Tập san Suối Nguồn đăng toàn bộ công trình nghiên cứu
Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ - Ảnh: L.Điền

Sau khi thông tin về cuộc đấu giá tranh vẽ Phật hoàng Trần Nhân Tông được TS Nguyễn Nam công bố cùng với bài khảo cứu bước đầu (Tuổi Trẻ 5-8), tập san Suối Nguồn gợi ý và TS Nguyễn Nam đã hoàn tất công trình nghiên cứu bức thư họa quan trọng này.

 

Toàn văn công trình được công bố trên kỳ 7 tập san Suối Nguồn vừa phát hành.

 

Tuổi Trẻ có cuộc trao đổi với nhà nghiên cứu Trần Đình Sơn - người sưu tập cổ vật và có thâm niên khảo cứu về di vật văn hóa. Ông Sơn cho biết:- Đối với tôi, một người yêu thích cổ ngoạn lâu nay, tôi nhận thấy cổ vật Lý Trần còn lại bấy nay chỉ là đồ gốm, bia đá, chứ các hiện vật bằng giấy như tranh, sách thì rất hiếm. Khi TS Nguyễn Nam công bố bức tranh Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ, tôi mừng khôn xiết, vì nghĩ rằng một di sản văn vật có gắn với tiền nhân nước mình còn lại là rất hi hữu.

 

Khi bản chụp bức tranh được lưu truyền trên mạng Internet, tôi cũng có chia sẻ cho nhiều người bạn cùng xem. Trong khi lâu nay hình ảnh Phật hoàng Trần Nhân Tông (1258-1308) chỉ nhìn thấy qua bức tượng đá ở bảo tháp Huệ Quang ngoài Bắc, thì với bức tranh này, lần đầu tôi nhìn thấy hình ảnh Phật hoàng Trần Nhân Tông qua nét vẽ truyền thần, thấy được nghi vệ triều đình nhà Trần, thấy hình ảnh nhân vật, phong cảnh nước non...

 

* Sau khi xem tranh và đọc công trình nghiên cứu của TS Nguyễn Nam, ông nghĩ gì về các yếu tố thật - giả và chi tiết nào khiến ông chú ý?

 

- Sau khi đọc công trình của TS Nguyễn Nam, tôi tin rằng có thật bức tranh Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ vẽ Phật hoàng Trần Nhân Tông. Vì vua Càn Long là người mê tranh, đã sưu tập bức tranh này vào cung, trên tranh lại còn có những họa gia, những trí thức đỉnh cao đã chấp bút cho ý kiến vào tranh.

 

Chỉ có điều bất ngờ là không hiểu sao Trần Quang Chỉ - người từng sở hữu tranh và mời nhiều trí thức khác viết lời tán, dẫn cho tranh - lại nhầm lẫn ở chỗ cho rằng Trần Nhân Tông là con của Trần Cảnh. Theo thông tin từ công trình này, Trần Quang Chỉ là người Việt Nam, được gọi là “người học Phật sông Lô”, sông Lô là một tên của sông Nhị Hà, tức là ông này ở Hà Nội. Trong Minh Thực Lục có ghi nhận Trần Quang Chỉ từng đi trong đoàn người An Nam đến triều đình nhà Minh nạp cống.

 

Như vậy, rất có thể ông này thuộc dòng tôn thất nhà Trần, không rõ Trần Quang Chỉ sang định cư ở Trung Quốc lúc nào, và quan trọng hơn, tại sao ông lại nhầm nhân thân của vua Trần Nhân Tông như vậy.

 

Bài ký của Dư Đỉnh trên tranh có nêu chi tiết “Người Nam Giao vẽ sự việc một thời này”, như vậy có thể tranh do người Việt mình vẽ. Và Trần Quang Chỉ cũng là người Việt, lại là người viết bài dẫn cho tranh. Như vậy, tôi nghĩ rất có thể bức tranh được vẽ vào triều Trần. Điều này có cơ sở, bởi nhà Trần là triều đình có quan tâm đến hội họa. Trong Đại Việt sử ký toàn thư còn ghi nhận ba sự kiện liên quan đến tranh vào đời Trần, chứng tỏ nhà Trần có chơi tranh, lại biết thưởng tranh, biết giá trị của tranh, từng dùng tranh làm vật ban thưởng cho các quan. Các quan cũng phẩm bình tranh, chứng tỏ họ am hiểu hội họa.

 

* TS Nguyễn Nam giả định Trần Giám Như là tác giả để nghiên cứu, điều này có đủ thuyết phục?

 

- Dòng lạc khoản (dòng chữ nhỏ ghi ngày tháng và tên người vẽ tranh - PV) ghi tên Trần Giám Như trên tranh có thể là thông tin được chép lại từ dòng lạc khoản chính đã bị hư hỏng hoặc bị cắt mất lúc bồi tranh. Bức tranh này được bồi lại nhiều lần và có thể người bồi tranh trong một lần nào đó nhận thấy dòng lạc khoản chính không còn giữ lại được, nên họ đã ghi lại thông tin của lạc khoản ấy vào một vị trí khác trên tranh như một cách sao lại cho đời sau được biết. Đây là một cách hiểu, và theo hướng đó thì thông tin “Trần Giám Như tả” vẫn có độ tin cậy để tham khảo, nghiên cứu.

 

* Như vậy tác phẩm này vẫn còn những tồn nghi chờ giới nghiên cứu tiếp tục làm sáng tỏ?


- Trước hết, bản thân tôi rất quan tâm đến ba người họ Trần: Trần Giám Như, Trần Đăng và Trần Quang Chỉ, liệu họ có mối quan hệ thân tộc nào không và liệu có liên quan gì đến tôn thất nhà Trần - những người đã sang định cư trên đất Trung Quốc không?

 

Còn về lai lịch bức tranh, tôi đoán định có thể tranh vẽ từ đời Nguyên, nhưng không công bố rộng rãi đến danh sĩ đương thời, vì đề tài vua Trần Nhân Tông còn úy kỵ với triều đình nhà Nguyên (nhà Trần ba lần đánh thắng quân Nguyên Mông - PV), mãi đến thời nhà Minh, vào năm Vĩnh Lạc, tranh này mới được công bố và được các danh sĩ đề tựa, tán tụng...

 

Tôi cũng nghĩ đến một khả năng bức tranh này được vẽ từ đời Nguyên và vẽ tại Thăng Long nhân một sự kiện xuất sơn cụ thể nào đó của vua Trần Nhân Tông, kèm theo nhiều lời tán tụng ca ngợi vua. Sau khi Trần mạt, con cháu nhà Trần mang sang Trung Quốc, và những lời ca ngợi kia bị cắt đi cùng với lạc khoản có ghi các thông tin cần thiết. Sau này, các trí thức Trung Quốc đã viết lại lời đánh giá bức tranh như đã thấy.

 

Những đoán định ấy chỉ có thể làm rõ nếu có thêm tài liệu, mong sao người Việt ở khắp nơi không ngại nhọc công tìm thấy và công bố các tài liệu liên quan đến văn hóa, lịch sử, di sản của nước nhà để người nghiên cứu đi gần đến chỗ chính xác trong công việc.

____________

Lam Điền

Nguồn: phatgiao.org.vn

THIỀN TÔNG VIỆT NAM

I/ Đôi điều về Thiền định


Thực ra, rất khó định nghĩa về Thiền, về Định một cách khái quát, Thiền (Phạn: dhyana, Pali: jhàna) có nghĩa là tư duy, tập trung tâm ý, tĩnh lặng, thông hội tâm mình với ngoại cảnh; từ đó hành giả tập trung vào một đề tài, một đối tượng, đấy là định (S. samadhi). Như thế, nếu không kể đến mức độ sâu cạn, thì thiền định là phương cách tư duy của mọi người, thuộc một tôn giáo hay không tôn giáo nào chứ không riêng của Phật giáo.

 

 

Trước thời và trong thời Đức Phật, các tu sĩ Ấn Độ cũng đã rất quen thuộc với Thiền định và rất nhiều vị đã đạt trình độ cao, đã đạt được một số thần thông. Tam vô lậu học của Phật giáo bao gồm Giới luật, Thiền định và Trí tuệ. Như vậy, tu học Phật pháp, là tu sĩ hay tín đồ Phật giáo, đều phải thực hành Thiền định. Khoảng một ngàn năm sau thời Đức Phật, truyền thuyết kể rằng Tổ Bồ-đề-đạt-ma, vị Tổ thứ 28 của Thiền tông Ấn Độ và là Sơ tổ của Thiền tông Trung Hoa, đưa Thiền tông vào Trung Quốc, truyền cho Nhị tổ Huệ Khả. Dòng Thiền được nối tiếp qua Tam tổ Tăng Xán, Tứ tổ Đạo Tín, Ngũ tổ Hoằng Nhẫn và Lục tổ Huệ Năng. Từ Lục tổ Huệ Năng, Thiền tông xuất hiện các thoại đầu, công án với những cách dạy dỗ, phóng túng, quát, đánh, những hành vi kỳ đặc, khác thường... Văn học Thiền thường nhắc đến sự việc Đức Phật tại núi Linh Thứu đã đưa cành hoa lên, cả hội chúng đều im lặng, chỉ có Tôn giả Đại Ca-diếp rạng mặt mỉm cười và được Đức Phật truyền mật pháp với lời dạy: "Ta có chánh pháp nhãn tạng, niết bàn diệu tâm, thực tướng vô tướng vi diệu pháp môn, bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, nay trao cho ma-ha Ca-diếp". Giai thoại này thực ra không hề thấy chép trong kinh điển nào cả, chỉ là sự phổ biến trong văn học Thiền Trung Hoa!

Kinh điển Đại thừa là một sự triền khai tài tình, thiện xảo, sáng tạo từ kinh điển Nguyên thủy, tạo triết học Phật giáo thành một nền triết học đỉnh cao. Thiền tông Trung Hoa cũng là một sự triển khai, tài tình, thiện xảo và sáng tạo từ Thiền tông Nguyên thủy. Thế nhưng sự triển khai này của Thiền tông (cũng như của Phật giáo Đại thừa) có khi mang tính cường điệu hóa. Cho nên, văn học Thiền Trung Hoa có khá nhiều các sự kiện, chi tiết khó có thể thuyết phục người đọc; lắm khi lối ghi chép sự kiện pha lẫn với tính chất tiểu thuyết, tưởng tượng, thậm chí hoang đường, hoặc đôi khi có vẻ hung bạo: ví dụ, Nhị tổ tự chặt tay, đứng suốt đêm ngoài tuyết để cầu đạo, Nam Truyền chém mèo để dạy chúng, Câu Chi chặt đứt ngón tay của chú tiểu... Ngay cả tôn chỉ "bất lập văn tự" trong Pháp bảo Đàn kinh cũng không nhất quán: Tổ Huệ Năng vẫn giảng kinh Kim Cương, Bát nhã, Niết bàn, Duy-ma-cật..., vẫn giảng nghĩa các thuật ngữ tiếng Phạn, và nhất là yêu cầu các đệ tử ghi chép "Pháp bảo Đàn kinh" do Tổ nói để phổ biến, cứu đời... Các tông phái Thiền từ Tổ Huệ Năng trở về sau cũng không khác gì nhau về nội dung tu tập: đó là sự triển khai kinh Đại thừa, trong một cung cách đặc biệt: vô ngã, vô niệm, vô đắc, không, bất nhị, phá chấp, tâm ấn, đốn ngộ, sự tự tại, thong dong, vô vi gần như của triết lý Lão Trang.

Thiền tông Việt Nam cũng mang nội dung và hình thức tương tợ như vậy và vì được truyền từ Thiền tông Trung Hoa, tất nhiên là chịu ảnh hưởng rất lớn của thiền tông Trung Hoa và cũng tất nhiên có một số khác biệt.

     
     
     

 

II. Các Thiền phái tại Việt Nam

Như trên đã nói, Tu học Phật pháp là phải tu học và thực hành Thiền định. Từ thế kỷ thứ I TL, Đạo Phật đã du nhập Giao Châu do các nhà sư Ấn Độ theo thuyền buôn mà đến. Đây chỉ là tư tưởng Phật giáo của người bình dân. Nhưng đến thế kỷ II hoặc đầu thế kỷ III, khi Trung tâm Phật giáo Luy Lâu được thành lập, chùa Phật ở Giao Châu đã có vài trăm và kinh điển đã được phổ biến, dịch thuật ra Hán ngữ, hoặc sáng tác, chú giải, luận giải như Lý hoặc luận, Lục độ tập kinh, Nê-hoàn phạm hối… Đáng chú nhất là Khương Tăng Hội, gốc người Sogdiane, đã dịch Lục độ tập kinh ra chữ Hán vào đầu thế kỷ III và các sách luận giải, chú sớ của ngài như Pháp kảnh kinh, Đạo thọ kinh, An-ban thủ ý (đề tựa)… Đây là các kinh sách đề cập đến Thiền định rất sâu sắc.

Trước thời Khương Tăng Hội, đất Giao Châu đã có hàng trăm chùa, nghĩa là Thiền tông đã có mặt tại vùng châu thổ sông Hồng và đến thời Khương Tăng Hội thì Thiền học đã có phần đậm đà bản sắc. Thế nhưng chưa có chứng cứ cụ thể nào để xác định ngài Khương Tăng Hội khai sơn ở đâu, mở Pháp hội nào, truyền pháp cho ai… Ta cũng không thấy tài liệu nào gọi ngài là Tổ thiền của một tông phái.

Các sách lịch sử Phật giáo Việt Nam ghi nhận cụ thể các vị Đại thiền sư từ Trung Hoa sang Việt Nam, đến ngôi chùa Việt, thành lập một tông phái Thiền và được xem là Tổ. Có tông phái này được kế thừa bởi nhiều thế hệ nhưng về sau có sự ảnh hưởng qua lại giữa tông phái này và tông phái khác, nhiều vị Sư thuộc tông phái này lại đến tu tập, cộng cư với các vị thuộc tông phái khác. Càng về sau, ý niệm về tông phái không còn đậm đà. Hiện nay, ý nghĩa tông phái tại các tự viện không còn sâu đậm, không mang nét đặc thù của từng tông phái.

1/ Thiền phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi (Vinitaruci, Nam Ấn) sang Trung Hoa năm 562, đệ tử của Tam Tổ Trung Hoa là Tăng Xán. Đại sư sang Việt Nam năm 580 đến chùa Pháp Vân, gặp Sư Pháp Hiền đang dạy chúng và truyền pháp cho Pháp Hiền. Thiền pháp Tỳ-ni-đa-lưu-chi kể từ Pháp Hiền thì được 18 thế hệ.

Đại sư Tỳ-ni-da-lưu-chi mang Thiền của Tổ Tăng Xán, vị Tổ nổi danh với bài "Tín tâm minh", biểu lộ tính tự tại, vô chấp, vô cầu. Thiền phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi cũng được xem là có nội dung tu tập gồm Thiền tông và Mật tông. Có lẽ các học giả về sau căn cứ vào sự việc Tỳ-ni-đa-lưu-chi dịch kinh Tượng đầu (tư tưởng Thiền), kinh Siêu việt hữu vô và kinh Tổng trì (tư tưởng Mật).

Các vị Đại sư kế tục Thiền phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi, ngoài tư tưởng Thiền, còn là những vị nghiêng về Mật tông, với Sấm ký, pháp thuật như Sùng Phạm, Vạn Hạnh, Từ Đạo Hạnh, Pháp Thuận…

2/ Thiền phái Vô Ngôn Thông:

Đại sư Vô Ngôn Thông người Quảng Châu, Trung Quốc từng ngộ pháp từ câu nói của Đại sư Bách Trượng (thuộc thế hệ thứ 3 từ sau Lục tổ Huệ Năng). Năm 820, Đại sư từ Quảng Châu sang Việt Nam, đến chùa Kiến Sơ, làng Phù Đổng ở Bắc Ninh, truyền pháp cho ngài Cảm Thành. Thiền phái Vô Ngôn Thông bắt nguồn từ đó, truyền được 16 thế hệ sau khi Vô Ngôn Thông tịch, tức gồm tất cả 17 thế hệ.

Thiền phái này chú trọng sự đốn ngộ, Phật chính là tâm, bất nhị, vô đắc. Có lẽ phương pháp thoại đầu thiền là rõ nét nhất trong việc giáo hóa, truyền pháp của Thiền phái Vô Ngôn Thông: các Thiền sư phái này như Thiện Hội (thế hệ 3), Định Hương (thế hệ 7), Ngộ Ấn (thế hệ 9). Ngoài ra, cần kể một nét đẹp, đặc sắc của Thiền phái này là các Thiền sư thường là những nhà thơ thiền, dùng thơ để giải đáp cho người vấn đạo, mở đầu cung cách nêu thoại đầu bằng thi ca, tạo thành nét đẹp, đặc sắc trong Văn học Thiền Việt Nam: Thiền Lão (thế hệ 7), Viên Chiếu (thế hệ 8), Trí Bảo (thế hệ 11), Tịnh Không (thế hệ 11).

3/ Thiền phái Thảo Đường


Đại sư Thảo Đường là người Trung Hoa, đệ tử của Thiền sư Tuyết Đậu (tịch năm 1052). Tuyết Đậu, Đệ tử của Đại sư Vân Môn Văn Yển (864 – 949) là một Thiền sư, một bậc trí giả Phật học, Tác giả của nhiều tác phẩm trong đó nổi tiếng nhất là bộ Tuyết Đậu ngữ lục. Ngài Thảo Đường thuộc thế hệ thứ 8 của dòng Thanh Nguyên Hành Tư, tức là thuộc thế hệ thứ 9 của Lục tổ Huệ Năng. Trong lúc hành hóa ở Chăm-pa, Đại sư Thảo Đường bị vua Lý Thánh Tông trong lúc đem quân chinh phạt Chăm-pa bắt làm tù binh (năm 1069) và đem về Đại Việt. Tại đây người ta phát hiện ngài là vị Đại sư, tài trí, đức độ cao vời, được vua phong làm Quốc sư. Từ đó, ngài Trụ trì chùa Khai Quốc tại kinh thành Thăng Long, lập ra Thiền phái Thảo Đường của Việt Nam, gồm 6 thế hệ, trong đó các Đại sư Bát Nhã (thế hệ 2), Không Lộ, Định Giác (thế hệ 3) là các Đại sư nổi tiếng.

Thiền phái Thảo Đường không có ảnh hưởng lâu dài nhưng so với thời trước đó, đây là Thiền phái trí thức, gồm vua quan và một số cư sĩ trí thức. Điều đáng lưu ý là Thiền phái này có sự dung hợp với Thiền phái Vô Ngôn Thông và một phần có sự ảnh hưởng của Mật tông, ví dụ trường hợp của Bát Nhã và Đại Điên - vốn đã có từ Thiền phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi và Thiền phái Vô Ngôn Thông.

4/ Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử

Tổ khai sơn của Thiền phái Yên Tử là Đại sư Hiện Quang (mất năm 1220), tu ở Chùa Lục Tổ do Đại sư Thiền Chiếu (Thiền phái Vô Ngôn Thông) trụ trì, về sau tham học với các ngài Trí Không, Pháp Giới rồi khai sơn núi Yên Tử, thường được là Trúc Lâm Đại Sa-môn được phong làm Quốc sư. Từ đó, truyền thống Trúc Lâm Yên Tử được hình thành.

Đại sư Hiện Quang tịch, nối tiếp truyền thống Trúc Lâm là Đạo Viên (thầy của vua Trần Thái Tông). Đại Đăng (thầy của vua Trần Thánh Tông), Tiêu Diêu (thầy của Tuệ Trung), Huệ Tuệ, Trúc Lâm (tức Trần Nhân Tông), Huyền Quang, Pháp Loa... cho đến Vô Phiền; tổng cộng là 23 vị, 5 thế hệ đầu của truyền thống Trúc Lâm Yên Tử , nổi bật về cung cách tu tập Thiền tông chỉ gồm vua Trần Thái Tông và Tuệ Trung Thượng Sĩ, nhưng hai vị này là cư sĩ và không cụ thể truyền pháp cho ai. Sự truyền thừa chỉ gần như là nối nghiệp trụ trì. Đến Trúc Lâm Đầu-đà Điều Ngự Trần Nhân Tông, vị vua anh minh, anh hùng, vị Thái thượng hoàng cao quý, bỏ ngai vàng để thành Sa-môn, Đại Thiền sư, lập Thiền am trên núi Yên Tử, trở thành vị Tổ của 17 Đại sư thuộc 17 thế hệ sau của truyền thống Trúc Lâm.

Đất nước và Phật giáo Đại thừa phát triển mạnh mẽ, rực rỡ nhất vào thời nhà Trần, tức vào thời Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử được thành lập. Nội dung thực hành chủ yếu nhằm vào tư tưởng của Trần Thái Tông, Tuệ Trung, Sơ tổ Trúc Lâm, Nhị tổ Pháp Loa và Tam tổ Huyền Quang: Phật tại tâm, Chân tâm, Bất nhị, Sự thong dong tự tại, Ý nghĩa truyền tâm, truyền y bát. Đặc biệt, Thiền phái này có lối ứng cơ tiếp vật qua các thoại đầu, chen lẫn thơ ứng khẩu nhưng nội dung thực hành thì không khác với Thiền tông Trung Hoa, lại có sự pha trộn ít nhiều với Thiền phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi và Vô Ngôn Thông.

Do việc mở mang đất nước, chống ngoại xâm của Trúc Lâm Sơ tổ Trần Nhân Tông mà nhiều nhà nghiên cứu hiện nay cho rằng Thiền học đời Trần, cụ thể là Trúc Lâm Yên Tử, mang màu sắc dân tộc, lòng yêu nước, ý chí độc lập tự cường… Thiết nghĩ, quan niệm như thế quả là không phù hợp với Thiền.

Đáng tiếc là thời kỳ hưng thịnh này của Thiền phái Trúc Lâm không kéo dài được bao lâu, 15 thế hệ sau Tam tổ Huyền Quang không thấy có hoạt động gì ngoài việc chỉ được nêu pháp danh, pháp tự của mỗi một người thuộc một thế hệ!

Một số học giả cho rằng Thiền sư Chơn Nguyên (mất 1722) đã phục hưng Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử vì ngài là người được truyền thừa y bát Trúc Lâm, ngoài việc ngài và các đệ tử trú tại Trúc Lâm và các ngôi chùa của phái này và trùng san một số sách đời Lý Trần; điều này không vững vàng và cũng không thấy chủ trương tu tập của ngài giống với Trúc Lâm. Gần đây, Hòa thượng Thích Thanh Từ từ 1971 đến 2011 đã xây dựng khoảng 40 Thiền viện, được cho rằng ngài khôi phục Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Công lao và trí tuệ, đạo đức của ngài là rất lớn, nhưng qua sinh hoạt của các Thiền viện (đặc biệt là các Thiền viện Trúc Lâm mới được tạo lập) vẫn không mang sắc thái của truyền thống Trúc Lâm.

5. Thiền phái Lâm Tế:

Một số sách về lịch sử Thiền Việt Nam ghi rằng từ thời chúa Nguyễn Hoàng (1559-1513), khoảng mười vị sư từ Trung Quốc sang Việt Nam, đến các tỉnh Quảng Trị, Thuận Hóa (Huế), Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên…lập chùa, phần lớn là thuộc dòng Thiền Lâm Tế. Thuận Hóa là kinh đô nên nhiều thiền sư đến hoằng hóa. Đáng kể nhất là Đại sư Minh Hoằng Tử Dung (nguyên quán Quảng Đông, đời thứ 34 dòng Lâm Tế) khai sơn cùa Ấn Tôn, truyền Thiền Lâm Tế cho Đại sư Liễu Quán vào năm 1708. Ngài Liễu Quán (mất năm 1793) trở thành Tổ của dòng Lâm Tế Việt Nam và thuộc thế hệ 35 dòng Lâm Tế, người xây dựng, trú trì các chùa Thiền Tông, Viên Thông ở Thuận Hóa, Hội Tông, Cổ Lâm, Bảo Tịnh tại Phú Yên. Thiền phái này vẫn theo truyền thống truyền tâm, truyền công án, thoại đầu.

Đến nay, Thiền phái này vẫn tồn tại nhiều nhất tại Thừa Thiên Huế. Đại sư Nhất Hạnh, xuất thân từ chùa Từ Hiếu, thuộc thế hệ thứ 8 dòng Liễu Quán và thứ 42 dòng Lâm Tế, người đã phát triển Thiền Việt Nam ở hải ngoại, trở thành vị Thiền sư nổi tiếng khắp thế giới.

Khoảng thời gian này có Đại sư Nguyên Thiều (phái Lâm Tế) và Đại sư Thạnh Liêm (phái Tào Động) đến Đại Việt, nhưng hai vị này dựng chùa, giảng Phật pháp chứ chưa thấy tài liệu nào ghi nhận hai ngài đã lập Thiền phái Lâm Tế hay Tào Động tại Việt Nam...

6/ Thiền phái Tào Động

Thiền phái Tào Động khởi từ phép tu của Động Sơn Lương Giới và Tào Sơn Bổn Tịch (thế kỷ IX) ở Trung Hoa, quan điểm của phái này được tượng trưng bằng nghiêng và thẳng. Thẳng là tuyệt đối, chân không pháp thân, nghiêng là tương đối hiện tượng diệu hữu. Thẳng và nghiêng vốn là một.

Tổ Thiền phái Tào Động Việt Nam là Đại sư Thủy Nguyệt (1636 – 1704), quê ở Thái Bình, sang Trung Quốc tu học. Đến năm 1667, sau ba năm ở Trung Quốc, ngài về nước, trú tại chùa Vọng Lão, huyện Đông Triều, Hải Dương. Đại sư thành lập Thiền phái Tào Động tại Đàng Ngoài, phát triển mạnh mẽ hơn 100 năm. Về sau, tuy Thiền phái này không còn mạnh như trước, có dấu hiệu lụi tàn dần nhưng không bị mai một. Đến ngày nay khá nhiều chùa và chư Tăng Ni thuộc Thiền phái Tào Động ở nhiều tỉnh thành ở miền Bắc.

III. Tổng quan về các Thiền phái ở Việt Nam

Các Thiền phái Việt Nam đều xuất phát từ các Thiền phái Trung Hoa, dĩ nhiên mang đậm tính chất Thiền Trung Hoa và dĩ nhiên cũng có đặc điểm riêng của Thiền Việt Nam. Những đặc điểm ấy là gì?

1/ Thiền Việt Nam không phân biệt các đặc điểm của từng Thiền phái, không phải vì các Đại sư Trung Hoa theo Thiền phái nào của Trung Hoa mà các Thiền phái Việt Nam phải theo đúng phương cách tu tập của Thiền phái ấy. Hơn nữa, các Đại sư Trung Hoa đến Việt Nam để hành đạo, thuyết giảng giáo lý Đại thừa chứ không nhằm phát triển Thiền phái của các ngài.

2/ Từ 2 ngàn năm qua, các chùa Việt Nam là chùa Phật giáo Đại thừa, trong thế kỷ XX, các chùa thuộc Phật giáo Nam tông, Khất sĩ Việt Nam, Phật giáo Hòa Hảo xuất hiện. Tất cả các chùa đều có tụng kinh, niệm Phật, hành thiền (tu Phật thì phải có hành thiền), không phân biệt chùa thuộc Thiền phái nào.

3/ Thiền tông Việt Nam không chú trọng "bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền" mà chú trọng vào sự tĩnh lặng, an định tâm thức để tiến đến sự lĩnh hội tâm mình, nhận biết khổ, vô ngã, vô thường mà Đức Phật đã dạy:

4/ Thiền Việt Nam "nhẹ nhàng, hiền lành" chứ không có những cách đối cơ tiếp vật "kỳ khu, khốc liệt" như Thiền Trung Hoa. Có lẽ đây cũng là do sự kết hợp giữa tâm tính của người Việt, do sự kết hợp chặt chẽ của Thiền và Tịnh.

5/ Thiền phái không phải là yếu tố quan trọng ở Việt Nam. Sự kế tục vị Thầy tổ khai sơn của một chùa, các đệ tử về sau thành lập chùa riêng và chùa đầu tiên, được gọi là Tổ đình, không mang ý nghĩa của một Thiền phái. Ý nghĩa Thiền phái hầu như không còn trong Tăng-già mà chỉ tồn tại của các dòng thầy trò kể từ vị sư khai sơn một chùa.

6/ Các Đại thiền sư Việt Nam thường là thi sĩ, những học giả tạo tác nhiều tác phẩm nghiên cứu, luận giảng Phật học. Các công trình của chư vị đã đóng góp lớn lao cho văn học Phật giáo và văn học Việt Nam nói chung.

Thời đại mới, quan niệm về Thiền cũng có phần đổi mới, ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam và có lẽ ở hầu hết tự viện trên thế giới đã bớt đi, hoặc chấm dứt sự quan trọng của Thiền phái. Cung cách trao truyền, công án, thoại đầu, tâm ấn v.v… của Tổ sư Thiền (Trung Quốc) cũng hầu như đã mai một, Thiền Việt Nam cũng vậy. Hiện nay có nhiều trung tâm dạy Thiền theo cung cách của các Thiền sư thời đại mới, không chú trọng gì đến Tổ sư Thiền của Trung Quốc và của Việt Nam và số Tăng Ni, cư sĩ tại Việt Nam cũng như tại rất nhiều quốc gia tham gia học tập và thực hành thiền là khá đông đảo./.



Tài liệu tham khảo:

- Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo Sử luận, I, II, III, nxb Văn Học, 1992.

- Thích Mật Thể, Lược sử Phật giáo Việt Nam, nxb Minh Đức, 1960.

- Trần Văn Giáp, Le Bouddhisme en Annam,Tuệ Sỹ dịch, Đại học Vạn Hạnh, 1967.

- Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, nxb Thuận Hóa, 1999.

- Nguyễn Đăng Thục, Thiền học Việt Nam, nxb Thuận Hóa, 1997.

- Lê Mạnh Thát, Nghiên cứu về Thiền uyển Tập anh, nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1999.

- Thích Thanh Từ, Kinh Pháp bảo đàn giảng giải, nxb Tôn Giáo, 2003.

- HT Thích Thanh Kiểm, Lịch sử Phật giáo Trung Quốc, nxb T/P Hồ Chí Minh, 1991.

- Vô Môn Huệ Khai, Vô môn quan, Trần Tuấn Mẫn dịch chú, nxb Lá Bối, 1972.

- Tứ Đại thiền gia ngữ lục, Trần Tuấn Mẫn dịch chú, nxb Phương Đông, 2006.

Hội Thảo về Thiền Định và Thiền Tông
tại Trúc Lâm Thiền Viện, ngày 4/6/2017


Bài đọc thêm:

Biểu Đồ Các Tông Phái Phật Giáo Từ Ấn Độ Đến Việt Nam
_____________________

Trần Tuấn Mẫn

Nguồn: thuvienhoasen.org

THƠ CHỮ HÁN VỀ PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG

Đức Vua đã không tham quyền cố vị, đã trút bỏ bụi trần “tham sân si” với tấm lòng bao dung hòa giải, hòa hợp, đức độ và tĩnh tâm đến tu tại nơi khí linh hội tụ rợp mây lành.

 

 

Các quốc gia và các dân tộc theo đạo Phật đều có những điểm chung là “Quy y Phật” nhưng mỗi nước cũng có những đặc thù của riêng mình, như phật giáo Trung Quốc, Phật giáo Nhật Bản, phật giáo Thái Lan, Phật giáo Việt Nam…Nói đến đặc trưng của Phật giáo Việt Nam chính là nói đến trung tâm Phật giáo Trúc Lâm Yên Tử và có thể nói Trúc Lâm Yên Tử là Kinh đô của Phật giáo Việt Nam:

 

Trúc Lâm Yên Tử tựa Kinh Đô
Hội tụ thập phương tử tôn hiền

 

Lễ hội Trúc Lâm Yên Tử thường kéo dài 3 tháng (bắt đầu từ ngày 10 tháng Giêng Âm lịch hàng năm) và mỗi năm có hàng triệu người hành hương về đây lễ Phật:

 

Triều bái Phật đường quy Thiền định *(1)
Phật Hoàng ân đức vĩnh thiên thu

 

Trúc Lâm Yên Tử trở thành Kinh đô Phật giáo kể từ khi đức Vua Trần Nhân Tông từ bỏ ngai vàng đến tu tịnh, làm chấn động cả đất trời về một Đức Chí Tôn nhân từ đức độ:

 

Từ bỏ ngai vàng quy y Phật
Chấn động càn khôn Đức Chí Tôn *(3)

 

Đức Vua đã không tham quyền cố vị, đã trút bỏ bụi trần “tham sân si” với tấm lòng bao dung hòa giải, hòa hợp, đức độ và tĩnh tâm đến tu tại nơi khí linh hội tụ rợp mây lành:

 

Siêu phàm thoát tục tâm thư thái *(4)
Hòa giải bao dung đức độ hiền
Tĩnh tâm tọa lạc tu Thiền định
Chung linh dục tú tập tường vân *(5)

 

Vị Vua hiền của nước Việt không chỉ tạo dựng một nền Phật giáo đặc trưng cho đất nước mà còn mưu tính cho đàn sau để nối đời truyền đạo Phật:

 

Yến dực di mưu truyền dịch diệp *(6)
Trinh tường biền tập “Chuyển Pháp Luân *(7)

 

Dưới đây là toàn bộ bài thơ chữ Hán về đức Phật hoàng Trần Nhân Tông:

 

佛 皇 陳 仁 宗竹 林 安 子 似 京 都會 聚 十 方 子 孫 賢朝 拜 佛 堂 皈 禪 定佛 皇 恩 德 永 千 秋息 肩 帝 祚 皈 依 佛震 動 乾 坤 德 至 尊超 凡 脫 俗 心 舒 泰和 解 包容 德 度 賢靜 心 座 樂修 禪 定鍾 靈 毓 秀 集 祥 雲燕 翼 詒 謀 傳 奕 葉禎 祥 騈 集 轉 法 輪

 

Dịch: Phật Hoàng Trần Nhân Tông

 

Trúc Lâm Yên Tử tự Kinh đô
Hội tụ thập phương tử tôn hiền
Triều bái Phật đường quy Thiền định*(1)
Phật hoàng ân đức vĩnh thiên thu
Tức kiên Đế tộ quy y Phật *(2)
Chấn động Càn Khôn Đức Chí Tôn *(3)
Siêu phàm thoát tục tâm thư thái*(4)
Hòa giải bao dung đức độ hiền
Tĩnh tâm tọa lạc tu Thiền định
Chung linh dục tú tập tường vân *(5)
Yến dực di mưu truyền dịch diệp *(6)
Trinh tường biền tập “Chuyển Pháp Luân” *(7)

 

Giải nghĩa một số từ:

 

*(1) Triều bái Phật đường quy Thiền định: Khách thập phương hành hương về lễ Phật. “Thiền định”:là một pháp môn tu tập để thanh lọc tâm thức,chứng thành quả vị giải thoát ,giác ngộ
*(2) Tức kiên Đế tộ quy y Phật: Nghĩa là từ bỏ Ngai vàng đi tu theo Phật.
*(3) Chấn động Càn Khôn Đức Chí Tôn: Chấn động cả Đất Trời về vị Vua tôn kính.
*(4) Siêu phàm thoát tục tâm thư thái: Trút bỏ “tham sân si” với thân tâm thanh tịnh.
*(5) Chung linh dục tú tập tường vân: Khí linh thiêng hội tụ cùng mây lành.
*(6) Yến dực di mưu truyền dịch diệp: Mưu tính cho đàn sau để nối đời.
*(7) Trinh tường biền tập “Chuyển Pháp Luân”: Đem đến phúc lành mỗi khi cùng sát vai nhau truyền giáo pháp của Đức Phật; “Pháp Luân”:là hình ảnh tượng trưng cho toàn thể giáo pháp của Đức Phật; “Chuyển Pháp Luân”:Là các hoạt động của Tăng Ni và Phật tử nhằm hướng dẫn người chưa biết Phật pháp vào đạo Phật.

_________________

 

Tác giả: Trần Đăng, Pháp danh: Chân Chính

Nguồn: phatgiao.org.vn

VẺ ĐẸP CỦA CÁI ĐẠM TRONG THƠ TRẦN NHÂN TÔNG

 

Thơ Trần Nhân Tông chỉ còn lại hơn ba chục bài. Trong đó nếu tạm gác lại những bài về thế tục, sáng tác khi ông ở cương vị một thi nhân – hoàng đế đang nắm trong tay vận mệnh cả giang sơn xã tắc, cả sự an nguy của dân tộc, số bài được làm với cái tâm, cái tứ, cái nhìn, cái cảm của thi nhân – thiền gia cũng chỉ chừng hai chục bài. Những bài ấy có lẽ được sáng tác trong thời gian nhà vua đã hoàn thành trách nhiệm mà vua cha giao phó, lãnh đạo dân tộc hai lần đánh bại kẻ thù xâm lược hùng mạnh nhất toàn cầu đương thời, và nếu chưa hoàn toàn “ trút bỏ được chiếc dép rách” mà ngồi nơi chưa hoàn toàn “nệm cỏ giường thiền” thì cũng đã giác ngộ, “hiểu rõ lẽ sắc không”. Trần Nhân Tông được coi là nhà thơ Thiền tiêu biểu thời Trần, chắc chắn những bài thơ ấy phải thể hiện ít hoặc nhiều, cảm quan, tư tưởng Thiền của Phật hoàng. Nhưng Thiền vốn “vô ngôn”, đem những lời thế tục để giảng giải thế tất khó có thể chuyển tải được những ý tưởng thâm thúy cao siêu, vi diệu của Thiền, như vậy hà tất phải nói gì! Tuy nhiên chủ thuyết của Phật hoàng lại là “Hòa quang đồng nhất”, “Cư trần lạc đạo”, và nếu như vậy thơ ca của Người cũng không hẳn là điều chúng nhân không thể cảm nhận và thụ hưởng. Tôi tin rằng, người đọc dù thế tục hay thiền giả chắc chắn đều cảm nhận được vẻ đẹp rất tinh tế, vừa cao siêu vừa gần gũi đến “quyến rũ” của thơ Người. Và như vậy, sự chia sẻ những cảm nhận có thể cũng là một cách để nhân lên niềm vui đạo “tùy duyên” khi con người đang ở cõi trần muôn vàn nhiêu khê này chăng? Với ý nghĩ như vậy, tôi xin phép được chia sẻ đôi điều cảm nhận của mình về thơ Phật hoàng.

Đọc thơ Trần Nhân Tông, tôi cảm nhận được một trong những vẻ đẹp của thơ Người là “cái đạm”. Thơ của Người là thi – họa, mỗi bài thơ như một bức tranh thủy mặc chấm phá, không có những cảnh náo nhiệt, những màu đậm gắt mà được vẽ bằng những gam màu nhạt, nhưng trong sáng. Có cái đạm một buổi chiều phủ Thiên Trường, có cái đạm một buổi chiều thu ở Vũ Lâm, một chiều thu ở Châu Lạng, một buổi cuối xuân ở sơn phòng, ở nhà thủy tạ chùa Phổ Minh, một buổi chớm xuân trên núi Bảo Đài, ngay cả một đêm xuân, một ngày xuân trong cung… Thơ của Trần Nhân Tông có nhiều khói sương mây gió, có ánh nắng tà, có trăng, hoa, chim nuông, núi sông, thuyền câu, chùa chiền, cây cỏ, thôn làng và có những “hình bóng” con người… Đấy là những khung cảnh có thật, hiện hữu, nhưng dường như trong cái nhìn của thi nhân, trong cái “sát na” ngắm nhìn đó, tất cả đều đã được chưng cất, thăng hoa để trở lên vĩnh hằng – cái sát na vĩnh hằng. Có thể kiểm nghiệm điều đó đối với từng cảnh thơ. Đó là buổi chiều thu ở Vũ Lâm còn một vệt nắng tà khiến có thể thấy lòng suối in bóng câu hoa, cảnh rõ và thật, nhưng rồi tiếng chuông chùa xa vắng trong những đám mây lặng hơi nước, cũng thật, nhưng vẫn khiến cho cảnh vật trở lên mơ hồ. Cái cảnh chiều thu Vũ Lâm vừa thực vừa mơ hồ đó sẽ là vĩnh cửu – một sát na vĩnh cửu trong tâm tưởng mà thi nhân gửi lại. Cái đạm của buổi chiều thu Châu Lạng lại có lá đỏ, có chim âu trắng, có tiếng chuông chùa, có thuyền câu nhưng bên cạnh đó vẫn là một cảnh chùa lạnh lẽo mờ trong khói sương. Chiều Châu Lạng nhiều xao động hơn chiều thu Vũ Lâm nhưng vẫn đẹp vì rất đạm. Có thể tìm những vẻ đẹp của cái đạm trong những bài thơ khác, Nguyệt, Sơn phòng mạn hứng…, nhưng tôi xin dừng lại để kiểm nghiệm cảm nghĩ của mình ở ba bài thơ sau đây: Thiên Trường vãn vọng, Đăng Bảo Đài Sơn và Tảo mai.

Thứ nhất là hai bài Ngắm cảnh chiều ở Thiên Trường (Thiên Trường vãn vọng). Bài thơ đã có quá nhiều lời giải (gần như ai đến với thơ Trần Nhân Tông đều để ý trước tiên đến bài Thiên Trường vãn vọng), đến mức có thể viết thành một mục “Lịch sử vấn đề”. Nếu tóm tắt lại có thể tạm nêu thành hai loại kiến giải. Sư Minh Đức Triều Tâm Ảnh(1) dường như cũng một cách lý giải với Nguyễn Kim Sơn và Trần Thị Mỹ Hoà, coi đó là bài thơ thể hiện ý tưởng thiền một cách “kín đáo ẩn tàng, không lộ liễu” (Minh Đức) và “ngộ được thiền ý trong đó không phải là đơn giản” (Nguyễn Kim Sơn và Mĩ Hà)(2); Lê Trí Viễn, Nguyễn Khắc Phi thì cho rằng bài thơ có cảm quan thiền, “nhuốm tư tưởng thiền”, nhưng chủ yếu là “chứa đựng tư tưởng lớn lao kỳ vĩ và có ý nghĩa hiện thực sâu rộng”. Có thể xem trên đây là hai xu hướng chính của cách hiểu bài Thiên Trường vãn vọng, người viết bài này chỉ muốn nêu một ý, đó là sở dĩ bài thơ đạt được đến vẻ đẹp lôi cuốn đến vậy chính là ở nét bút “đạm” của Nhân Tông. Bài thơ đúng ra không có màu xanh của đồng lúa, không có màu nắng rực rỡ, cũng không có màu lam của khói chiều, mà tất cả mọi màu sắc đều ở gam màu nhạt – “đạm”, có chăng chỉ có cánh cò trắng là hiển lộ, nhưng vì nó là màu trắng nên cũng là gam màu “đạm”. Bài thơ như một bức tranh mà nói như Gs. Nguyễn Khắc Phi “dựng lên được một không gian nghệ thuật mang tính lập thể”(3), có xa – thôn làng trong đường viền mờ như khói (trước thôn – sau thôn) dưới ánh chiều tà – và gần – cánh đồng, đàn trẻ trâu đang giong trâu về thong thả