Close

Trần Nhân Tông Library

Nghiên cứu thực tế

SỨC SỐNG CỦA VĂN HÓA KHOAN DUNG THỜI THỊNH TRẦN

Khoan dung là khái niệm xuất hiện khá sớm trong văn hóa Á Đông. Theo một số tài liệu, thuật ngữ này được bàn đến trong Kinh Thư, có nghĩa là bao dung, độ lượng, rộng lòng tha thứ. Ngày nay, khái niệm khoan dung được hiểu theo nghĩa rộng hơn. Khoan dung trở thành một vấn đề mang tính thời sự toàn cầu, trong bối cảnh tính đa dạng ở từng quốc gia và trên toàn thế giới đang bị xâm hại nghiêm trọng kéo theo nguy cơ xung đột văn hóa, kinh tế, chính trị, xã hội dẫn đến những tranh chấp, khủng bố, chiến tranh… diễn ra ngày càng phổ biến và phức tạp. Yêu cầu về một sự chung sống hòa bình, thái độ khoan dung, đối thoại, tôn trọng sự khác biệt của các nền văn hóa trên thế giới đặt ra cấp thiết.

Ngày 16-11-1995, tại Hội nghị toàn thể lần thứ 28, UNESCO đã khởi xướng Ngày khoan dung quốc tế, thông qua bản Tuyên bố về các nguyên tắc (nguyên lý) của khoan dung. Trong bản tuyên bố, khoan dung được định nghĩa là “tôn trọng, chấp nhận và cảm thông đối với tính đa dạng của các nền văn hóa trên thế giới, các hình thức biểu hiện và các cách thức tồn tại của con người. Lòng khoan dung được nuôi dưỡng bởi kiến thức, sự cởi mở, sự giao tiếp, sự tự do tư tưởng, khả năng nhận thức và đức tin. Khoan dung là hài hòa trong khác biệt. Khoan dung vừa là một bổn phận đạo đức, vừa là một đòi hỏi pháp lý và chính trị” (1). Quan điểm của UNESCO hàm chứa một ý niệm mới mẻ về lòng khoan dung. Theo đó, khoan dung không chỉ là một lối hành xử có văn hóa giữa các cá nhân trong một cộng đồng, giữa cộng đồng này với cộng đồng khác mà quan trọng hơn, khoan dung còn là một nghĩa vụ chính trị mà tất cả các nhà nước đều phải có trách nhiệm thực hiện. Nó thuộc phạm trù văn hóa chính trị mà bất cứchủ thể chính trị tiến bộ nào cũng phải thấm nhuần và hiện thực hóa.

 

Những vấn đề mang tầm thời đại và tính phổ quát của nhân loại ấy đã được đặc biệt đề cao, coi trọng và thực thi rất hiệu quả với những cách thức độc đáo ở đất nước ta, ngay từ thời đại nhà Trần, biểu hiện qua nhận thức và ứng xử của các chủ thể chính trị đối với những phương diện thử thách tinh thần khoan dung hơn cả, khi mà họ chưa biết và chưa đề cập đến những khái niệm lý luận, những nguyên lý của khoan dung.

 

1. Ứng xử đối với mâu thuẫn, lỗi lầm

 

Thứ nhất, hóa giải mâu thuẫn. Sử liệu ghi lại rất nhiều câu chuyện về việc hóa giải mâu thuẫn trong chính trị cũng như đời thường của nhà Trần. Một điểm thường thấy là mỗi khi xảy ra hiềm khích, mâu thuẫn, nhà Trần luôn đem tinh thần bao dung, độ lượng để hóa giải. Vua Trần Thái Tông tha tội nổi loạn, che chở và ban đất, ban chức An Sinh Vương cho Trần Liễu. Các vua Trần sau đó luôn tin tưởng giao cho Trần Quốc Tuấn và con em của ông trọng trách đánh giặc giữ nước. Còn Trần Quốc Tuấn cũng đã biết gạt bỏ tư thù, bỏ tiểu hiếu (không nghe theo lời cha giành lại thiên hạ) để thực hành đại hiếu (trung thành tuyệt đối với với đất nước và triều đình), cư xử hòa ái với các vương tôn quý tộc trong chi thứ họ Trần. Còn Trần Nhân Tông, với nhiều hành xử bao dung giúp người hòa giải như chuyện giúp Lê Tòng Giáo và Đinh Củng Viên, đã trở thành “thiên tử của hòa giải”. Đặt lợi ích quốc gia cao hơn lợi ích cá nhân, gia đình, nên vua quan, tướng lĩnh triều Trần đã vượt qua được những rào cản của tư thù nhỏ hẹp để đạt đến những ứng xử khoan dung đáng trân trọng.

 

Thứ hai, tha thứ lỗi lầm. Với những hành vi sai trái và lỗi lầm, nhà Trần luôn rộng lượng tha thứ. Thế cho nên một tên tiểu tốt như Hoàng Cự Đà chỉ vì không được vua Trần Thái Tông ban cho món xoài ngon, mà tỏ ra giận dỗi, thậm chí tỏ ý phạm thượng, sinh lòng phản trắc lại được vua tha tội và thậm chí còn làm vua phải ăn năn. Hay một Trần Khánh Dư nhiều tật xấu và lỗi lầm từng bị cách chức xuống làm nghề bán than cuối cùng lại được vua Nhân Tông ban áo ngự, cho bàn việc binh lại hạ chiếu phục chức và phong làm Phó Đô tướng quân. Rồi chính sách khoan hồng thời hậu chiến của vua Trần như cho đốt hết thư biểu xin hàng của tướng lĩnh nhằm yên lòng kẻ phản trắc... Đó là những ứng xử đẹp, đầy nhân văn.

2. Ứng xử đối với chiến tranh

 

Chiến tranh là đỉnh điểm của xung đột, là sự thất bại của đối thoại, sự bất lực của khoan dung. Là triều đại của khoan dung, nhà Trần đặc biệt yêu chuộng hòa bình, hạn chế tối đa chiến tranh, xung đột và luôn có đường lối ngoại giao đối thoại. Đối thoại trở thành một trong những nguyên tắc khôn ngoan để nhà Trần duy trì hòa bình, độc lập dân tộc. Trong đường lối chính trị, nhà Trần luôn giữ quan hệ hòa hiếu với Chiêm Thành, Ai Lao, Mông Nguyên…; thắt chặt khối đoàn kết với các dân tộc miền núi phía Bắc, phía Tây… Trong 175 năm trị vì của nhà Trần và khoảng 100 năm thịnh Trần, dân tộc ta đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh, đặc biệt là ba lần kháng chiến chống quân xâm lược Mông - Nguyên, nhưng đó là những cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Dù phải củng cố, phát triển bộ máy quyền lực, bình trị thiên hạ hay mở rộng cương vực quốc gia…, nhưng nhà Trần đã hạn chế tối đa các cuộc chiến tranh phân quyền, cát cứ, nồi da xáo thịt, tránh nạn binh đao, loạn lạc cho quốc gia… Những ứng xử chính trị đó thể hiện tầm nhìn chiến lược xa rộng, tầm cao văn hóa khoan dung, tấm lòng yêu chuộng hòa bình, tinh thần đối thoại, hòa giải yêu thương… mà nhân loại tiến bộ ngày nay đang phấn đấu vươn tới.

 

3. Ứng xử đối với vấn đề nhân quyền

 

Tôn trọng tự do cá nhân và giải phóng các vấn đề riêng tư. Thời đại phong kiến là thời đại của những định chế, định kiến, lễ giáo tiết chế, trói buộc con người, đặc biệt đối với những vấn đề luyến ái. Tuy nhiên, nhà Trần đã có những câu chuyện vượt ra ngoài khuôn khổ bởi những nhân vật khác thường, thể hiện thái độ khoan dung, khai phóng hiếm có. Việc thái hậu Trần Thị Dung tái giá với Trần Thủ Độ, Lý Chiêu Hoàng được “gả” cho tướng Lê Phụ Trần, hay việc Trần Quốc Tuấn kết hôn với công chúa Thiên Thành,… thực chất là tôn trọng khát vọng làm vợ, làm mẹ của người phụ nữ, khát vọng tình yêu, hạnh phúc chính đáng của con người. Những câu chuyện hôn nhân của hoàng gia nhà Trần nói trên đến ngày nay có thể vẫn còn nhiều tranh cãi, thậm chí bị sử sách chỉ trích (1)… Nhưng, nếu chúng ta nhìn nhận lịch sử với cái nhìn công tâm hơn thì sẽ thấy những câu chuyện khác thường trong thời đại ấy lại có một mạch ngầm của khát vọng nhân bản, nhân quyền mà các minh quân triều Trần đã rộng lòng bảo vệ.

 

Có thể nói đỉnh cao của tinh thần bao dung, độ lượng được thể hiện trong ứng xử nhân đạo của nhà Trần với kẻ thù bại trận. Sau mỗi cuộc chiến, tù binh không những không bị giết hại, không bị ngược đãi mà được nuôi sống tử tế, chu cấp ngựa, chiến thuyền và lương thảo cho về nước an toàn… Điều đáng nói là việc đối xử nhân đạo với tù binh chiến tranh của nhà Trần không phải là việc tuân thủ theo những nguyên tắc cứng nhắc mà xuất phát từ tinh thần nhân ái, độ lượng. Đây cũng không chỉ là hành động cao thượng với kẻ bại trận, mà cao cả hơn, nó thể hiện tầm cao của văn hóa chính trị và đạo đức nhân văn, vươn tới khát vọng nhân bản, nhân quyền của nhân loại tiến bộ.

 

4. Ứng xử đối với sự khác biệt

 

Thứ nhất, khác biệt về tôn giáo. Bản thân mỗi tôn giáo đã hàm chứa những sự khác biệt. Ba tôn giáo lớn xuất hiện ở Đại Việt lúc bấy giờ (Nho, Phật, Đạo) đều có những điểm riêng. Nhưng không như thời Lê sơ độc tôn Nho giáo, triều Trần tìm thấy trong mỗi giáo những điều bổ ích cho sự phát triển của chế độ quân chủ và của đất nước, của xã hội, đón nhận những tinh hoa của chúng đồng thời biến đổi cho phù hợp với truyền thống văn hóa dân tộc. Vì vậy, giữa các tôn giáo, tín ngưỡng không có sự bài xích lẫn nhau mà là sự chung sống hòa bình. Triều Trần coi trọng cả nhà nho, nhà sư và đạo sĩ. Những kỳ thi tam giáo đã sớm được tổ chức một cách nghiêm túc để chọn lựa những người theo các tư tưởng khác nhau, hiện thực hóa những giáo lý đa dạng đó, đưa họ về cùng giới tuyến để họ có điều kiện đóng góp cho đất nước. Nhà Trần đã vượt qua những lối tư duy cảm tính, nhận thức chủ quan và định kiến - rào cản của sự khoan dung, đối thoại - để những yếu tố dị biệt trong từng tôn giáo thống nhất được với nhau trên nền tảng của văn hóa dân tộc. Có thể coi hiện tượng tam giáo đồng nguyên là một minh chứng đẹp đẽ, một nét son cho văn hóa khoan dung triều Trần.

Thứ hai, khác biệt về đẳng cấp, địa vị xã hội. Đẳng cấp, địa vị xã hội là rào cản, ranh giới chia tách con người. Nhà Trần, tuy có sự phân chia đẳng cấp và địa vị xã hội như bao triều đại quân chủ khác, nhưng chính những nhà cầm quyền đã xóa nhòa ranh giới, khác biệt ấy bằng sự hòa đồng hiếm có. Trước hết, đó là sự hòa đồng giữa quân và thần. Vua Thánh Tông “xuống chiếu cho các vương hầu, tôn thất, khi bãi triều thì vào trong điện và lan đình. Vua cùng ăn uống với họ. Hôm nào trời tối không về được thì xếp gối dài, trải khăn rộng, kê giường liền cùng ngủ với nhau để tỏ hết lòng yêu quý nhau” (2). Sự hòa đồng đã lan rộng từ hoàng cung ra khắp dân gian. Giữa nhà cầm quyền và tầng lớp bình dân đôi khi không còn khoảng cách. Lúc chiến tranh loạn lạc hay đất nước thái bình thịnh trị, vua Trần và thần dân đã đồng cam cộng khổ, sống trong tình yêu thương. Nhà Trần đã không tự coi mình là tầng lớp quý tộc hay kẻ thống trị đứng cao hơn cộng đồng, coi thường dân chúng. Sự hài hòa trong ứng xử đời thường ấy đã góp phần tạo nên màu sắc hài hòa giữa văn hóa dân gian và văn hóa cung đình. Các nghệ thuật dân gian cũng được trình diễn trong sinh hoạt và nghi lễ cung đình. Trong triều có đại nhạc dùng trong đại lễ, còn tiểu nhạc dùng cả trong sinh hoạt văn hóa quý tộc và dân gian. Trong các lễ hội truyền thống, vua quan và thần dân cùng nắm tay nhau múa hát không phân biệt. Có buổi yến tiệc trong hoàng cung, khi vua quan cùng nhau uống rượu, múa hát, một vị quan đã “đội mo nang, cầm dùi làm tửu lệnh” (3). Tín ngưỡng phồn thực dân gian đã vượt qua bức tường thành kiên cố để vào chốn hoàng cung thâm nghiêm, thật là hiện tượng hiếm có trong thời phong kiến. Điều này, trong con mắt Nho gia các triều đại sau này, thật là khó chấp nhận (4).

 

Thứ ba, khác biệt giữa cái chính thống và cái phi chính thống. Trong thời đại khai phóng như thịnh Trần, nhiều khuôn phép đã không còn vuông tròn được nữa. Chẳng hạn chuyện vua Trần Minh Tông, khi có người dâng sớ nói rằng hiện dân gian có nhiều kẻ du thủ du thực, đến tuổi già vẫn không có tên trong sổ bộ, mà lại không đóng góp phu thuế và sưu dịch, đã trả lời: “Nếu không như thế thì sao gọi là cảnh đời thái bình? Nhà ngươi lại muốn ta bắt chúng nó làm nên trò trống gì nữa?”. Như vậy, trong sự hình dung của ngài, cảnh đời thái bình - một xã hội không chiến tranh, có trật tự, kỷ cương - không phải là một xã hội mà tất thảy mọi thứ đều nằm trong khuôn phép định sẵn. Những kẻ du thủ du thực nói trên, trong cách nghĩ của Trần Minh Tông, chính là những cái ngoài khuôn khổ, là cái phi chính thống khác biệt với cái chính thống nhưng cũng có quyền được tồn tại trong sự bao dung, không thành kiến của cuộc đời. Đây là cách tư duy cởi mở, hiện đại, tiệm cận với tư duy của con người ở thời đại dân chủ hôm nay.

 

Có thể nói hiếm có triều đại phong kiến nào ở nước ta có bầu không khí xã hội thông thoáng như thời thịnh Trần. Đây là triều đại mà xã hội đủ rộng để dung chứa mọi sự khác biệt, dung chứa những thứ ngoài khuôn khổ, những thứ tưởng chừng khó dung chứa. Triều Trần trở thành triều đại của khai phóng, khoan dung.

 

Có thể tạm lý giải hiện tượng này qua một số căn nguyên cơ bản. Thứ nhất, do bối cảnh hào hùng của thời đại với các cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông vĩ đại, thời đại vẫy vùng của cánh tay Sát Thát và hào khí Đông A.Thứ hai, do ảnh hưởng của Phật giáo (chính xác hơn là Thiền học theo phái Nam Tông của Lục tổ Huệ Năng) với tinh thần vô chấp, phóng túng, nhập thế. Lựa chọn Thiền tông như một quốc giáo, nhà cầm quyền thời đại này coi đó là “một hệ tư tưởng triết học để xây dựng được con người phù hợp với thời đại: dũng cảm, tự tin, cởi mở, nhân ái, bao dung…” (5). Thứ ba, do nền kinh tế với chế độ ruộng đất đa sở hữu khiến quan hệ hoàng tộc và nội bộ triều đình tránh được những mâu thuẫn về quyền lực, khiến xã hội triều Trần cởi mở, khai phóng hơn. Thứ tư, do xuất thân là dân chài ven biển, nên nhà Trần đã “mang lên kinh đô Thăng Long chất dân dã, chất biển, cái tinh thần phóng khoáng, khỏe khoắn và cởi mở” (6). Sự cộng hưởng đó đã làm nên một sức mạnh kỳ diệu nâng cánh cho tư duy chính trị của nhà Trần vượt ra ngoài những giới hạn của đẳng cấp hay kiềm tỏa của Nho giáo, làm nên màu sắc độc đáo cho văn hóa chính trị thời đại này.

 

Tinh thần khoan dung, khai phóng của triều Trần đã mở ra những năng lực to lớn: tạo nên lối ứng xử và nhận thức biện chứng, mềm dẻo, linh hoạt; tạo sự đồng thuận xã hội, tổng hợp được sức mạnh của toàn dân tộc, thu phục nhân tâm, phát huy sĩ khí; tạo mối quan hệ bang giao hòa hiếu, giữ cho đất nước thái bình, độc lập; tạo sự đa dạng văn hóa… Tinh thần khoan dung, khai phóng cũng thể hiện bản lĩnh văn hóa, tầm cao trí tuệ, tâm hồn nhân ái, bao dung của những nhà cầm quyền, của trí thức thời đại bấy giờ.

 

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế nhiều biến động hiện nay, sự nghiệp phát triển đất nước của chúng ta không thể tách rời triết lý khoan dung. Việt Nam đã hưởng ứng sự kiện Năm quốc tế khoan dung như một sự hòa nhịp khát vọng hòa hợp, đồng thuận cao của nhân loại tiến bộ. Đây cũng là dịp để nước ta chủ động hội nhập với cộng đồng thế giới và cũng làm cho thế giới hiểu rõ hơn những di sản văn hóa truyền thống của mình. Những giá trị của văn hóa khoan dung mà cha ông ta đã gây dựng từ xa xưa, đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Những ứng xử đẹp như bao dung với lỗi lầm, yêu chuộng hòa bình, phản đối chiến tranh, đề cao nhân quyền, tôn trọng sự khác biệt… mà nhà Trần đã thực hiện chính là những vấn đề cốt lõi và vĩnh cửu của văn hóa khoan dung. Vì thế, kế thừa, phát huy tinh thần khoan dung vừa là niềm tự hào, vừa là nhiệm vụ, vừa là mục tiêu để ngày nay chúng ta kiến tạo một hình ảnh Việt Nam văn minh, tiến bộ và cường thịnh.

___________

Nguồn: Tạp chí VHNT số 407, tháng 5 - 2018

HAI VỊ VUA, HAI PHƯƠNG TRỜI, MỘT HẠNH NGUYỆN

Từ những con người bình thường, không được sinh ra ở cung vàng điện ngọc, nhưng rồi trở thành những vị vua anh minh tài kiêm văn võtư tưởng và nhân cách cao siêu, mãi còn đọng lại với thời gian. Dù sống ở hoàng cung nhưng tâm lúc nào cũng vượt thoát, làm bậc đế vương nhưng hạnh vẫn là một sơn Tăng, ưa vui với gió nội mây ngàn, thở nhịp cùng đất trời nhân gian cây cỏ. Để rồi trở thành những người con Phật vĩ đại, trí tuệ và công hạnh thắm đượm cả không gianthức tỉnh chúng ta trên bến bờ sinh tử của mê ngộ, đậm nét trong lòng người đến tận hôm nay. Bồ Tát Lương Võ Đế ( 463-549 ) của Trung Hoa và Trần Thái Tông ( 1218-1277) của Việt Nam, dù ở hai phương trời xa cách, sinh ra ở hai thời điểm khác nhau, nhưng cùng chung một tấm lòng, mang an lạc thịnh vượng đến cho nhân dân, và một hạnh nguyện chuyển hoá cứu độ quần sanh.

Lương Võ Đế thọ Bồ Tát giới với pháp sư Huệ Ước, sau khi thọ giới ông thổ lộ tấm chân tình: "Tôi nghĩ nếu không thọ Bồ tát giới thì làm sao có tâm từ bi, làm hạnh bình đẳng ? Vì vậy nên tôi mong cho ức triệu sanh linh đều được sung sướng".
Nội điển lục nói : " Lương Vũ Đế, vị Bồ Tát bất tư nghì "
Trong Thiền Tông Bản HạnhThiền Sư Chân Nguyên ( 1647-1726) viết về vua Trần Thái Tông như sau:
Chư tổ truyền đến nước ta
Thiền tông ý chỉ chép ra lời này
Trước kể Trần triều cho hay
Đế vương học đạo là Trần Thái Tông.
Trị vì thiên hạ đông tây
Vạn dân phú quý no lòng âu ca
Thái Tông trị vì quốc gia
Lòng muốn tu đạo để hoà độ thân
Bề trên báo được tứ ân
Bề dưới chửa khỏi trầm luân Tam đồ ".
Chúng ta đang sống với muôn ngàn đau khổ phủ ngập, từng hơi thở phủ kín bởi âu lo, thường xuyên đối diện với bất an biến động, bước đi với bao nỗi nhọc nhằn trỉu nặng, tâm tư đong đầy lụy phiền ấp ủ. Hai chữ hạnh phúc lúc nào cũng xa vời, yêu thương lúc nào cũng vắng bóngthân phận con người vốn đã mong manh lại càng mong manh hơn. Từ vô thường chi phối đến vô minh tham sân si lũng đoạn, từ nổi trôi sinh tử đến trầm luân đau khổ, lúc nào cũng chờ chực chung quanh, không ngôn từ bút mực nào tả cho hết nỗi đau sự khổ, những mất mát đau đớn ta đang gánh chịu, không biết lúc nào có cơ may vượt thoát. Ta bằng lòng với số phận không một lời tìm hiểu, ta lắc đầu trốn chạy, nghiệp quả vẫn không buông tha. Đó là điều hẳn nhiên của sự tác nghiệp, mà ta đã và đang tạo ra, nhưng ta quyết không để cho điều đó chi phối mình mãi. Làm sao có được hạnh phúc an lạc thường hằng trong cõi nhân sinh? Con đường thoát ra, để viên thànhđạo nghiệp giải thoát, đều phải đi qua chặng đường phát khởi và thực hành tâm hạnh của Bồ Tát, đó cũng là phương cách tối hậu để thành tựu Phật quả. Sự xuất hiện của những bậc Bồ Tát ở trong từng tâm cảnh quốc độ, mở ra cánh cửa giác ngộ và cứu độ, dấn thân đi vào cõi đời ô trọc, vào nơi lầm than để ban vui cứu khổ, san sẽ từ bi chia sớt trí tuệ, làm nơi nương tựa tâm linh kiên cốxoa dịu nổi thống khổ mà chúng sanh đang lặn hụp. Dù ở đâu, cương vị nào, tấm lòng bi nguyện sắc son ấy không bao giờ thay đổi, quyết đem an lạc đến với muôn loài. Để hoàn thành sứ mạng giải thoát cao cả ấy, cho dù dấn thân hay xả thân cũng trong tinh thần hồi hướng đến tất cả chúng sanh, không phân biệt nỗi khổ màu da chủng loại, tất cả cho và vì muôn loài.
Muốn phát khởi Bồ Tát Hạnh ta phải nương vào đạo lực của chư Phật và Bồ Tát, đem hết tâm thành trong sự hợp nhất tương tác, quyết không gián đoạn, dấn thân đi vào cuộc đờiđi vào nơi thống khổ điêu linh ra tay chuyển hoá, bắt nhịp từ đây, từ cõi tử sinh nầy để hoá độTinh thần nhập thế cứu độ của Bồ Tát thật thâm sâu, vì hoàn thành sự nghiệpđộ sanh, lúc nào cũng hy sinh không màng đến tự thân, lấy sự cứu độ giải thoát an lạccủa chúng sanh, làm công hạnh tu tập. Dù đạt quả vị Phật cùng cảnh giới Niết Bàn cũng không riêng mình an hưởngliên tục xả thân vì muôn loài. Nếu chúng ta thường xuyênthực hành tâm nguyện Bồ Tát thì lúc nào Bồ Tát cũng hiện hữu trong ta, nếu ta biết tu tậpquán chiếu thật sâu, tinh tường, thì lúc nào cũng thấy Bồ Tát ở chung quanh. Vấn đềở chổ ta có phát khởi liên tụcthực tập tâm hạnh của Bồ Tátthường xuyên tạo công đứclành, và hướng nguyện đến cho chúng sanh? Sự hữu hạn của tâm thức không thể nào hiểu nỗi vô hạn của nguyện lựcnếu không phát khởi Bồ Tát hạnh thì làm sao hiểu được Bồ Tát nguyện. Sự chuyển tiếp để giác ngộ bùng lên, đòi hỏi chúng ta phá vỡ tập quán cố hữu, chấm dứt sự tác động chi phối của vô minhtham sân si, nổ lực chuyển đổi toàn diện thân khẩu ýthường xuyên sống với tỉnh thứcBồ Tát một lòng độ sanh trì hoãnthành Phậttâm lượng vô biên ấy không thể nghĩ bàn, nguyện lực ấy khởi đi từ vô lượngkiếp về trước, tồn tại mãi đến vô lượng kiếp về sau, như hư không lồng lộng dung chứa tất cả không hề ngăn ngại, một sự lặng thinh bao trùm trên cõi tử sinh không lưu lại dấu vết.
Trong thế giới vô tận đau khổ nầy, có hằng hà sa số Bồ Tát đang ra tay cứu độ. Nếu chúng ta thường xuyên tu tập Bồ Đề Tâm, thì nhìn đâu cũng thấy chất Phật, tâm Phậtngự trị, chỉ cần một phút lắng lòng bình yên với tâm lượng hải hà ta sẽ nhận ra ngay, đang ở thật gần chung quanh mà ta tiếp xúc mỗi ngày, một khi ta biết mở rộng cõi lòng, để cho tâm thức nhẹ nhàng thì nhìn đâu thấy đâu cũng đều an tịnh. Trong sự buồn vui của đời sống, từ mái ấm gia đình đến thiên nhiên muôn vật đều mang lại cho ta những sắc màu tươi đẹp. Nhìn với con mắt ngăn ngại, với cái tâm nhỏ hẹp thì ta chỉ thấy phiền não dẫy đầy đau đớn phủ ngập. Ta cố tập tu để thấy tất cả đều như nhau, đều có chủng tử của Phật tánh và đều bình đẳng trong luân hồi. Ta phải tạ ơn đời sống vừa đau đớnnhưng cũng vừa hạnh phúc nầy, cả hai khía cạnh mê ngộ được mất, vừa đem đến cho ta những phút giây yêu thương nhưng cũng vừa tước đoạt, như hai mặt sấp ngữa của bàn tay, đưa qua lấy lại. Trong cõi muôn màu lắm sắc ấy nó làm ta choáng ngợp, không phân biệt thật giả, hạnh phúc luôn đi kèm với khổ đau, vui buồn lẫn lộn. Nhưng với một người biết tu tập, là phải duyên theo cảnh mà thăng hoa cái tâm, nhận chân ra được mọi vấn đề trong sự tỉnh thức sáng soi bởi tuệ giác, như thế cõi tử sinh mới không làm cho ta chùn bước. Bởi lẽ cuộc đời như một quán trọ đến rồi đi, ta dừng chân ghé lại đến lúc thì phải ra đi, tìm cầu gì trong thế giới hư ảo nầy, đến như thế nào và đi như thế nào đều do ta định đoạt?
Đời sống chúng ta thật giới hạn, chỉ một sát na hơi thở đã biến đổi, ta sống trong tâm cảnh nào thì cũng phải sống, chết trong tâm cảnh nào thì cũng phải chết. Ta ghi nhận một điều, sống với cái tâm nào thì chết cũng với cái tâm ấy, đi về đâu đến đâu nó cũng đeo bám mãi theo ta, cứ thế tạo thành nhân quả, nghiệp lực cho sự tái sinh. Muốn thay đổi, ta phải đổi thay từ chính cái tâm ấy. Nếu không nổ lực tu tập, thì những phiền lụy đau đớn, sẽ liên tục đong đầy trong ta từng phút giây, theo ta trên từng bến bờ sinh tử, kéo lê ta trong muôn kiếp luân hồi. Điều quan trọng nhất, ta phải sống và chuyển đổi trong một tâm cảnh như thế nào, dứt bỏ không vướng bận, để có được sự tỉnh thứcan lạc ngay từ bây giờ. Nổi đau sự khổ lúc nào cũng có mặt, hạnh phúc an lạc lúc nào cũng hiện hữu, ta có nhận chân và tìm thấy hay không đều do ta quyết định. Sự ý thức và trãi nghiệm một cách minh mẫn về nhân quả nghiệp lựcvô minh, khiến ta có đủ bình tâm để nhận ra từng vấn đề, có đủ trí tuệ để quán chiếu trong từng tâm cảnh, ta biết rõ ràng không gì xảy ra, không gì tự nhiên vô cớ đến với ta mà không do nhân quả. Tất cả đều có sự liên kết của tương duyên, tương sanh, tương hợp. Thay vì phải sống với vô thường bất định, ta phải làm sao sống trong sự tự nhiên của muôn vật, trong sự chuyển hoá tột cùng, nhiệm mầu thường hằng của Phật tính, thấu rõ được bản thể vô sinh diệt của Chân Như, cho " thân nhẹ, tâm an, miệng mĩm cười " trong thế giới của hôm nay và ngày mai.
Bồ Tát có mặt khắp chốn mọi nơi, nhập dòng nhập cảnh với vô số tâm nguyện khác nhau, tùy theo từng tâm cảnh của mỗi chúng sanh mà hiện thân tướng cùng cảnh ngộ để hoá độ. Ta thực tập theo mười hạnh nguyện rộng lớn của ngài Phổ Hiền Bồ Tát, ta noi theo công hạnh của ngài Quán Thế Âm Bồ Tát, cứu giúp chúng sanh ở hai cõi sanh và tử, ta tu tập hạnh hy sinh cho muôn loài đến không cùng tận, không cần đáp trả, như ngài Địa Tạng Vương Bồ Tát cứu độ trong cảnh giới địa ngục. Trong Kinh Điạ Tạng, phẩm thứ tư Nghiệp Cảm Của Chúng Sanh, ông vua nước lân cận. " Vô lượng vô số na do tha bất khả thuyết kiếp về thuở trước, lúc đó, có đức Phật ra đời hiệu là Nhứt Thiết TríThành Tựu Như LaiỨng cúngChánh Biến TriMinh Hạnh TúcThiện ThệThế Gian GiảiVô Thượng SĩĐiều Ngự Trượng PhuThiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn.
Đức Phật đó thọ sáu muôn kiếp. Khi ngài chưa xuất gia, thời ngài làm vua một nước nhỏ kia, kết bạn cùng với vua nước lân cận; hai Vua đồng thật hành mười hạnh lành làm lợi ích cho nhơn dân.
Nhơn dân trong nước lân cận đó phần nhiều tạo những việc ác. Hai vua cùng nhau bàn tính tìm những phương chước để dắt dìu dân chúng ấy.
Một ông phát nguyện: " Tôi nguyện sớm thành Phật sẽ độ dân chúng ấy làm cho đều được giải thoát không còn thừa".
Một ông phát nguyện; " Như tôi chẳng trước độ những kẻ tội khổ làm cho đều đặng an vui chứng quả Bồ Đề thời tôi nguyện chưa thành Phật".
Đức Phật bảo ngài Định Tự Tại Vương Bồ Tát rằng: " Ông Vua phát nguyện sớm thành Phật đó, chính là đức Nhứt Thiết trí Thành Tựu Như Lai.
Còn ông vua phát nguyện độ chưa hết những chúng sanh tội khổ thời chưa nguyện thành Phật, đó chính là ngài Điạ Tạng Bồ Tát đây vậy." Việt dịch, Hoà Thượng Thích Trí Tịnh.
Quả thật Lương Võ Đế và Trần Thái Tông đều là những người con Phật cao cả, xem ngai vàng như chiếc dép rách, ung dung liệng bỏ bất cứ lúc nào, một lòng tu theo Bồ Tát Hạnh không biết mõi mệt. Lương Võ Đế, ông vua với đầy uy quyền, với cao lương mỹ vị, lầu son gác tiá, với bao cung phi mỹ nữ hầu hạ, nhưng Lương Võ Đế không màng đến, vẫn làm một sơn Tăngquyết tâm đi theo con đường của chư Phật cùng Bồ Tát. Từ khi hoàng hậu Hy Thị mất, hơn bốn mươi năm ông không chạm đến nữ sắc, không gần thê thiếp. Ông sống và tu trong một khung cảnh uy quyền và dư thừa của một quân vương, thức ngon vật lạ sẵn sàng dâng đến, với bao tiên nữ giáng trần thi nhau quyến rũ, nhưng một lòng kiên định tu tập ông không bận tâm. Quả thật ông là một con người vĩ đại, xứng với câu " gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn ". Là một ông vua đầu tiên của Trung Hoa tự mình ăn chay, khuyến khích việc ăn chaythực hành tâm nguyện Từ Bi yêu thươngcứu khổ muôn loài cho được viên mãn, ông không vì cung phụng cho bản thân, thật ngon khoái khẩu mà tước đi sanh mạng của sinh vật. Không những thế, ông còn dùng Sám Pháp đã sáng tácliên tục thực hành công phu bái sám lạy Phật không ngơi nghĩ, hành trì Bồ Tát giớiBồ Tát hạnhBồ Tát đạo, không một phút xao lãng, lấy phước huệsong tu làm sự nghiệp, tự mình nổ lực tu mà còn ra tay tế độ chúng sanh. Không vì, chỉ lo tu tập cho bản thân mà ông quên đi bổn phận của một ông vua, chỉ biết lo việc đạo mà quên việc đời, ông chăm sóc đời sống vật chất cho dân chúng được ấm no, mà đời sốngtinh thần cũng được đầy đủ, hạnh phúc nhất đó là việc ông chọn đi theo con đường của Đức Phật, và phát huy Đạo Phật lớn mạnh ở Trung Hoa.
Theo những nhà nghiên cứu, trung bình mỗi năm ở Hoa Kỳ có khoảng trên 27 tỷ gia cầm bị giết để dùng làm thức ăn cho con người, và mỗi người tiêu thụ khoảng trên 100 gia cầm. Nếu chúng ta làm phép tính, trên thế giới có 195 quốc gia lớn nhỏ, có gần 7 tỷ người, thì con số gia cầm bị giết hại để cung phụng cho con người thì thật là khủng khiếp. Với sự tiến bộ của khoa học ngày nay, người ta còn phân tích ra sự lợi ích của việc ăn chay giúp cho cơ thể giảm nhiều bệnh tật, tuổi thọ tăng từ 6-10 năm, so với người ăn thịt gia cầmăn chay còn giúp ích đến môi trường thiên nhiêncải thiện môi trường sống của muôn vật nữa. Ta có quyền lựa chọn thức ăn cho mình, ăn chay là một sự lựa chọn bình đẳng nhất. Những sinh vật bị giết hại, vì cung phụng miếng ăn cho mình, không hề có sự lựa chọn nào cả. Nếu sinh mạng là điều đáng trân qúy, thì không một ai, nhân danh điều gì, có quyền tước đi sinh mạng của kẻ khác, dù đó là một chúng sanh bé nhỏ. Mười mấy thế kỷ trước Lương Võ Đế đi theo chân lý của Phật, đã lựa chọnăn chay để không giết hại sinh mệnh của chúng sinh, ông không hề nhân danh một điều gì cả, chỉ thể hiện tinh thần Từ Bi một cách rốt ráo trọn vẹn, ông đã ăn chay và khuyến khích dân chúng ăn chay. Nếu tính đến hôm nay, thì ông đã cứu được biết bao sinh mạng? Công ơn của ông đối với muôn loài vô cùng to lớn vậy.
Trần Thái Tông, một con người siêu việt, một thiền sư cư sỹ nổi bậtcông hạnh và tâm nguyện Bồ Tát của ông, đong đầy theo từng nhịp bước của mê ngộ, dong ruỗi trong cõi tử sinh tìm về nơi an tịnh giải thoát. Là ông vua đầu tiên của nhà Trần và cũng là người khai mở nên triều đại thuần nhất, mang lại sự hưng thịnh cho Dân Tộc. Ông có được ngai vàng từ khi còn trẻ, do sự chọn lựa của Trần Thủ Độ, không vì thế mà ông không làm tròn bổn phận, ông còn làm cho sáng lạng xứng đáng hơn. Ông cùng với dân quân nước Việt, đánh đuổi quân Nguyên xâm lăng ra khỏi bờ cõi. Song song với việc bảo vệquốc gia đem lại an bình cho dân tộc, Trần Thái Tông còn nổ lực tu tập đem ánh sáng giác ngộ chiếu rọi muôn nơi, đem từ bi yêu thương gieo rắc muôn nẽo. Tâm lượng Bồ Tát trong ông không những mang lại an lạc cho muôn dân, mà còn cho cả một triều đạinhà Trần tiếp nối theo dấu chân ông, không những ông mang lại sự lợi lạc cho một đờimà còn nhiều đời, cho một thế hệ mà còn nhiều thế hệ nữa, đến tận hôm nay và ngàn sau.

1, Lương Võ Đế

" Theo Trung quốc sử lược, vua nhà Tề là Phế Đế Bảo Quyên chơi bời vô độ, bỏ bê triều chánh, ngược đãi đại thần. Tôn thất nhà Tề tên Tiêu Diễn đang làm Thứ Sử Ung Châu, hợp binh với em của vua Tề là Bảo Dung, dấy lên ở Giang Lăngchống lại Phế Đế Bảo Quyên. Bảo Dung tự lập làm vua, hiệu là Hòa Đế. Tiêu Diễn đánh lấy Quách Thành, phá Tầm Dương, vây Kiến Nghiệp, Hòa Đế bị giết. Tiêu Diễn vào kinh đô, buộc vua Tề nhường ngôi cho. Tiêu Diễn lên làm vua, đổi quốc hiệu là Lương, xưng là Lương Võ Đế, năm 502.
Lương Võ Đế giết hại tôn thất nhà Tề. Tôn thất nhà Tề cầu cứu nước Ngụy. Hai nước Lương và Ngụy đánh nhau, tướng của Ngụy là Hầu Cảnh chạy sang đầu Lương Võ Đế, được Lương Võ Đế trọng dụng, phong làm Hà Nam Vương.
Lương Võ Đế có tài kiêm văn võ, nên đã làm nước Lương một thời hùng mạnh. Nhưng nhà vua rất hâm mộ Đạo Phật, và qui y Phật pháp vào năm 517.
Năm 527, Lương Võ Đế vào chùa làm sư tu hành. Các quan yêu cầu dữ lắm, vua mới trở lại ngôi.
Năm 529, vua lại vào chùa tu lần nữa.
Năm 538, có sứ đưa về nước xá lợi của Phật. Vua Lương Võ Đế dạy lập đền thờ. Trong dịp nầy, vua bố thí cho dân chúng và ra lịnh ân xá các tội nhân bị cầm ngục.
Nhà vua lấy của kho cho xây dựng rất nhiều chùa chiền ở khắp nơi trong nước, ủng hộTam bảo, được các tín đồ Phật giáo tôn nhà vua là Phật Tâm Thiên Tử.
Năm 547, Lương Võ Đế lại vào chùa tu nữa."
Trong Tịnh Nghiệp Phú, Lương Võ Đế viết : "Chính trị trên thì hôn bạo, dân tình dưới thì loạn ly, đạo quân tử ẩn mặt, đường tiểu nhân lớn thêm... Người ngay thẳng phải mất đầu, tôi trung dũng bị giết chóc, sắc phục đồng nhà Tề mà đầu ai cắm thân ấy, ai cũng xưng mình là đế chúa tôn cao, dối trá quần chúngnghi hoặc lòng người.... Tôi phải phấn lực đứng dậy san phẳng những kẻ ấy. Khi gian hùng đã trừ, dân tình hết khổ rồi thì tôi định về vườn, cuốc rau lặt cỏ. Nhưng dưới vì lòng người thúc ép, trên sợ lẽ phải, nên bất đắc dĩ phải nhận lấy ngôi báu. Thiệt như bước xuống vực sâu, như đi trên băng mỏng... Đời có kẻ dư luận so sánh tôi với Thang, Vũ. Nhưng Thang, Vũ là Thánh, tôi là kẻ phàm phu. Tôi khi còn nhỏ vì chưa có chánh tín, chánh giải nên sát hại sanh mạng, ăn thịt ăn cá, cho đến khi lên ngôisơn hào hải vị đầy dẫy, nhưng trước cảnh đó, nhờ Phật phápmà phải sa nước mắt, nghĩ rằng đây là máu thịt của cha mẹ bà con mình, giận mình chưa xả thân cúng dường họ được, bây giờ nỡ nào ngồi ăn. Nhưng chỉ tự làm, không cho ai hay. Lâu rồi có người biết, thiệt lòng khuyên tôi, nhưng điều đó đâu phải là chí trung đối với tôi. Tôi nghĩ thống trị thiên hạ không phải bản chí của tôi. Lời Đỗ Thứ nói rất đúng : Cắt lòng quăng ra giữa đất thì cũng chỉ là vài miếng thịt mà thôi. Nên ai biết được tôi không tham thiên hạ ? Chỉ người nào làm được việc mà người khác không làm nổi mới đủ điều kiện hiểu biết tâm tôi. Tôi xa lánh phòng thất, không dùng thị thiếp cung tần đã hơn 40 năm nay".
Cuộc gặp gở với Bồ Đề Đạt Ma
Đó là cuộc diện kiến ly kỳ giữa Lương Võ Đế với Bồ Đề Đạt Ma ( Bodhidharma ) một nhân vật đầy huyền thoại, một kẻ được mệnh danh siêu việt phi thường độc đáo trong lịch sử Thiền Tônghiên ngang sừng sững lồng lộng trên bầu trời Đông Độthong dongquảy dép về Tây, phi hành trên ngọn thông lãnh, mấy mươi thế kỷ trôi qua vẫn không một ai có thể sánh bằng.
Lương Võ Đế hỏi: Từ ngày tôi làm vua đến nay lập nhiều chùa, in kinh, độ tăng rất nhiều không thể kể hết, như vậy có được công đức không?
Bồ Đề Đạt Ma đáp: Không có công đức gì cả.
- Vua hỏi: Tại sao không?
Công đức ấy chỉ được tiểu quả ở cõi nhơn thiên mà thôi, vì còn thuộc nhân hữu lậu, tuy có mà không thực.
- Làm thế nào mới gọi là chân công đức?
Bồ Đề Đạt Ma trả lời:
- Trí thanh tịnh, thể vốn lặng nhiệm mầu, công đức như vậy không thể lấy thế pháp mà cầu được.
Vua hỏi: Thánh Đế đệ nhất nghĩa là gì?
Bồ Đề Đạt Ma: Trống rỗng, không gì gọi là Thánh ( Quách nhiên vô thánh).
Vua hỏi: Vậy chứ ai đang đối diện trước mặt trẩm đây?
Bồ Đề Đạt Ma trả lời:
- Không biết ( Bất thức ).
Bao nhiêu công sức và phước báo in kinh độ tăng lập chùa, chỉ một chưởng lực của Bồ Đề Đạt Ma tất cả trở thành tro buị, xoá nhoà mọi dấu vết. Với một người chưa hề tiếp cận Thiền Tông như Lương Võ Đế thì làm sao hiểu được thâm ý vượt thoát đó. Chặng đường đi đến giải thoát, phải bỏ lại sau lưng tất cả mọi thứ, từ hành trang đến bao phiền lụytừ tâm thức đến những tác nghiệpđâu đó bỗng chốc vỡ tan để cho giác ngộ thường hằng toả chiếu. Chỉ có chân thường chân lạc mới không bị thời gian đào thảingoài rađều bị chi phối bởi thành trụ hoại diệt, chỉ có cái tâm chất đầy tuệ giáctỉnh thức trên từng lối đi lại của tử sinh, tháo gở mọi dính mắc mới rốt ráo viên thành.
Lương Võ Đế đã không vứt bỏ những gì do chính mình tạo, nên đã không trực nhậnđược những gì Bồ Đề Đạt Ma đáp, lời nói ấy quả như một chưởng lực siêu phàm, làm cho Lương Võ Đế chới với không biết phải bám vào đâu. Và nếu Võ Đế cảm nhận đi chăng nữa thì sự cảm nhận đó vẫn chưa là dấu hiệu của một cảm thông tương quan, có thể nói đó chỉ là một thoại ngữ và họ Lương cần phải tốn cả tâm huyết mới hoàn thànhđược. Nó tựa như dòng sông trong xanh sâu thăm thẳm công năng của nó có thể cuốn phăng đi tất cả cặn bã của cuộc đời và ngược lại làm cho kẻ đứng ngắm hoảng kinh,dòng tâm của Ngài sâu hun hút không một lối đi vào nếu, không bằng vào cửa ngõ đi là vào cõi chết để biến dạng thành một con nguời hoàn toàn vượt thoát ra khỏi tử sinh, và Lương Võ Đế là một con người đã không muốn chết theo nghĩa đó, như vậy dĩ nhiên họ Lương đã không tìm thấy sinh lộ cho tiến trình giác ngộ ấy nơi Ngài ".
Thánh Đế đệ nhất nghĩa là gì? Lương Võ Đế mang ra hỏi tổ Đạt Ma. Có thể đây là sự tra vấn mãnh liệt nơi nội tâm của ông, một sự phân vân mù mờ chưa tìm ra được đầu mối, một sự bí lối chưa rõ đâu là nguyên nhân, đâu là tục đế chân đế, và đâu là chân lý trọn vẹn? Tất cả những điều ấy nối kết tạo thành dấu hỏi to lớn khiến Lương Võ Đế không biết phải bám vào đâu để phăng ra nguồn cội. Nó nhập nhằng giữa cái nầy với cái kia, giữa đối tượng và nhận thức, dằng co bám víu vào thành quả công đức. Khi vua Lương đặt ra câu hỏi " Thánh Đế đệ nhất nghĩa là gì "? Ông đã đi một bước lớn khá dài trong tiến trình tâm linh, nhờ đó vén lên, mở ra chân lý tối hậu của thánh đế, mà sự diêu dụng vô cùng không tận, không gì có thể so sánh đuợc, nó lặng yên tương tác trên từng hiện hữu, không có khởi đầu hay kết thúcNếu không có câu hỏi ấy, thì sẽ không bao giờ có được công án tuyệt vời đầu tiên trong lịch sử Thiền tông " Trống rỗng không gì gọi là thánh " ( Quách nhiên vô thánh ) mà âm vang ấy chấn động trong thiền môn, tạo thành cơn dông bão quét sạch mọi trì trệ ứ đọng, trong tiến trình đi tới của tâm linh, mở ra phương trời rực sáng của trí tuệ, mà tâm thức dong ruỗi của ta không bao giờ đo lường bắt kịp. Đó là sự lặng thinh tối thắng của Niết Bàn tịch diệt, một sự rỗng không tròn đầy tuyệt vời, vượt thoát thánh phàm, năng sở tri, nhị nguyên. Thông thường chúng ta đứng ở khía cạnh chứng đắc " Quách nhiên vô thánh" của Bồ Đề Đạt Ma để suy luận nhận định, nhưng có được bản lãnh như Lương Võ Đế, dám đối đầu với Bồ Đề Đạt Ma một kẻ siêu việt, với nội tâm giác ngộ cao tột, để nêu ra câu hỏi " Thánh đế đệ nhất là gì" không phải điều dễ dàng. Mặt khác nếu không có " Thánh đế đệ nhất nghĩa là gì? ", thì sẽ không có " Quách nhiên vô thánh." Nếu không có " Thân là cội bồ đề " (Thân thị bồ đề thọ ) của ngài Thần Tú, ắt hẳn sẽ không có " Bồ đề vốn không cội " ( Bồ đề bổn vô thọ ) của lục tổ Huệ Năng, với pháp môn đốn ngộ lừng lẫy trong thiền tông mà mấy mươi thế kỷ trôi qualiên tục sống dậy trong từng tâm thức. Có phải Thần Tú đã châm ngòi cho sự bùng lên giác ngộ của Huệ Năng? Nếu không có Thần Tú hẳn đã không có Huệ Năng? Chính nhờ Thần Tú đẩy Huệ Năng tung mình lên cao, đạt đến đỉnh của Giác Ngộ, để rồi được ngũ tổ Hoằng Nhẫn ấn chứngCông ơn của Thần Tú vô cùng to lớn đối với Huệ Năng vây. Khi trực diện với Bồ Đề Đạt Ma, dù Lương Võ Đế có nắm được yếu chỉ, có được giác ngộ hay không, nhưng đã khiến cho Bồ Đề Đạt Ma để lại một công án vô cùngđộc đáo trong Thiền tông, nhờ đó không biết bao nhiêu hành giả tìm thấy giác ngộCông ơn của Lương Võ Đế lớn lao không thể nghĩ bàn.
Có điều chúng ta cần ghi nhận Thiền Tông chưa có măt ở Trung Hoa lúc bấy giờ, vua Lương chưa bắt kịp tư tưởng của Bồ Đề Đạt Ma lúc đó cũng là điều dễ hiểu. Đứng về phương diện tu tập giác ngộ Lương Võ Đế vẫn có những sở ngộ riêng biệt, về khía cạnh truyền thừa mà đạo Phật ở Trung Hoa lúc bấy giờ mang lại. Hơn nữa sự giác ngộ trong mỗi chúng ta, không ai giống ai, do vì tâm cảnhnghiệp quả, giai tầng tri thức trong mỗi con người vốn không đồng đều, nếu đứng ở khía cạnh giác ngộ do bùng vỡ của tâm thức, lập nguyện dấn thân thì càng khó khăn. Vì giác ngộ là giác ngộ chính cái tâm nầy, cái tâm thuộc về ta, chỉ có chính ta mới nhận biết. Sự đánh giá của kẻ khác không có giá trị, vì sự biến động của tâm thức thường xuyên sai sử tác động bởi vô minh, vì thế quan điểm nhận thức thuộc về riêng họ và của chính họ. Sự sâu thẳm của dòng tâm, sự mênh mang vô tận không cùng của giác ngộ, không một ngôn từ nào có thể diễn tả trọn vẹn, không một hình thái tướng trạng nào trông thấy đuổi bắt nắm giữ, nó vượt ra ngoài mọi phán đoán luận bàn. Ta không thể dùng cái tâm lăng xăng để thẩm định cái lặng thinh không dong ruỗi, ta không thể dùng ngôn từ để diễn tả cái vô ngôn câm nín, ta không thể dùng hữu hạn để thẩm định cái vô hạn, ta không thể dùng thế gian pháp để đo lường xuất thế gian pháp. Nó vốn khước từ tất cả mọi nhãn hiệu phù phiếm mà ta cố tình đóng khung nhét vào, xóa sạch tất cả mọi dấu vết, chỉ có sự nổ lực tỉnh thức lặng thinh gõ nhịp trên từng hiện hữu may ra mới đưa ta đến gần xúc tác.
Ta ngồi ở đây, sống thở nơi đây nhưng tâm thức không ở cùng ta, nó làm cuộc viễn du lang thang đâu đó, đến chổ nầy ghé chổ kia, tách rời sự kiểm soát, nên ta mãi làm kẻ lữ hành cô độc, đến đi trong sinh tử mà chẳng chịu dừng chân. Nếu để cho mình lang thang đếm buớc vô định như thế, thì luân hồi cứ mãi đẩy ta đến tân cùng hố thẳm, sầu đau thương nhớ, bám theo ta trên từng nẽo đường sinh tử vô tận. Đến lúc ta phải lên đườngphá trừ tận diệt vô minh, để ánh sáng trí tuệ bùng lên, vượt ra ngoài ràng buộcthong dong không bị trần lao ngăn cách, không còn lo sợ mong cầu, không đớn đau phủ ngập, an lạc trong từng đến đi, để thấy cuộc đời vẫn chỉ là cuộc đời, với đầy đủ cung bậc của sinh tử, như một chặng đường dừng chân thăm viếng, một hành trình phụng sự cho chính mình và tha nhân trong ý nghĩa vượt thắng. Để từ đó ta biết quán chiếu lẽ tất nhiên của vô thường sinh diệt, tìm cho mình một sinh lộ, một lý tưởng cao cả để hành trì tu tậpphụng sự, trong sự sáng soi của tuệ giác. Sự giác ngộ phải được thể hiện ở ngay lúc nầy, cuộc đời nầy, cảnh giới nầy, chúng sanh nầy, con người nầy, tâm thức nầy, ngoài ratất cả đều vô nghĩa, như gió thoảng mây bay, như mặt nước hồ chưa từng in bóng.
Cuộc diện kiến ấy vẫn còn gay cấn, khi năng, ngã, sở, được Lương Võ Đế nêu ra: " Vậy chứ ai đang đối diện trước mặt trẩm đây " ? Bồ Đề Đạt Ma trả lời: Không biết ( bất thức). Đó là sự khẳng định, và cũng là một xác quyết kinh khiếp về thực tại, khiến cho vua Lương đã chới với lại càng chới với hơn, đẩy Lương Võ Đế lên tận mây ngàn không biết phải bám vào đâu, không còn gì, có gì để mà níu kéo, không có năng tri, sở tri, đối tượng nhận thức nhân ngã, nó vượt ra ngoài những lầm chấp mời gọi. Vì lẽ tiến trình đi đến giác ngộ, tất cả mọi thứ đều phải vỡ tung đổ sập, xoá nhoà mọi biên cương dấu vết, không ràng buộc nhọc nhằn, buông bỏ tất cả không một thứ gì dính mắc, dù đó chặng đường tra vấn hay thành quả nổ lực đạt được. Còn móng ý động tâm, tức khắc phải bung xuống vực sâu tử sinhgiác ngộ là như vậy, tự đào thải và vượt ra ngoài sự đào thải của tâm thức, của thời gian lẫn không gian.
Chúng ta không thể dùng đến cái tâm lăng xăng vọng động, mê thì nhiều ngộ khôngđược bao nhiêu, cái tâm đong đầy vô minh phiền não để so sánh ai giác ngộ hơn ai, ai chưa giác ngộ. Không thể và không bao giờ làm được, ta không thể đứng ở bên ngoài để đánh giá điều ở bên trong của người khác. Chỉ có những bậc chứng ngộ mới đủ tuệ giác năng lực nhận biết điều đó. Có những điều chúng ta cho là thiện, là phước, chỉ có trong hành động tướng trạng, nhưng trong tận cùng bản chất lại là bất thiện. Đo lường ở hành động ta dễ dàng bị chính cái tâm thức của mình lừa dối, như đã từng lừa dối ta trong vô lượng kiếp. Ta khắc ghi một điều đức Phật dạy " Ta là Phật đã thành các con là Phật sẽ thành ". Mọi hành động từ thân khẩu ýtham sân sixuất phát và điều khiển bởi chính cái tâm của ta, hoán chuyển thay đổi cũng phải từ đó, muốn được giác ngộ cũng phải khởi đi cái tâm đó, dồn tất cả mọi công năng tu tập hướng nguyện đến cho muôn loài, đem giới định tuệ tâm hương rãi đến muôn nơi, có như thế ta mới báo đáp thâm ân của chư Phật, Bồ Tát.
Lương Hoàng Sám ( Từ Bi Đạo Tràng Sám Pháp)
Lương Võ Đế có bà hoàng hậu là Hy Thị, tánh tình ghen tương ác độc hay hành hạ các cung phi. Vì tức giận quá bà đâm đầu xuống giếng tự tử, bị đọa làm con rắn mãng xà, thường vào cung tác quái, một hôm báo mộng cho Lương Võ Đế xin vua làm phép giải cứu. Nhà vua thỉnh vị Thánh tăng là Thích Bảo Chí ( Chí Công Hoà Thượng ) làm Sám chủ, soạn ra bộ Từ Bi Đạo Tràng Sám Pháp ( Lương Hoàng Sám) rồi nhờ chư tăng trì tụng kinh ấy cầu siêu cho bà Hy Thị, nhờ đó bà được siêu sanh.
Lương Hoàng Sám do " Các vị đại pháp sư đời Lương tập hợp biên soạn. " Có lẽ Lương Võ Đế chủ biên và góp nhiều công sức trong việc biên soạn nầy, chứ không hẳn chỉ do các đại sư biên tập. " Lương Hoàng Sám nồng hậu, chân thành, bác lãm, mà những điều nầy chính là văn khí của Lương Võ Đế. " " Nội dung Lương Hoàng Sám quả thật đặc biệt, đối với tất cả sám pháp sau sách ấy. Trước sách ấy, sám pháp chưa hề có. Điều đặc biệt đầu tiên là cái tên Từ Bi Đạo Tràng do mộng thấy Di Lặc Thế Tôn đặt cho. Rồi trong tất cả danh hiệu phật và Bồ Tát mà Lương Hoàng Sám lễ báidanh hiệu Di LặcThế Tôn được để lên trên hết. Cuối cùngLương Hoàng Sám nguyện cầu được cùng Di Lặc Thế tôn sinh ra thế giới nầy, dự pháp hội đầu tiên của ngài. Tâm nguyện này, về nhiều phương diện quả thật đặc biệt. " Trong phần: Tiểu Dẫn, dịch giả Lương Hoàng SámHoà Thượng Thích Trí Quang.
Lương Võ Đế ngày đêm nổ lực hành trì công phú bái sám lạy Phật, ông đã được nhẹ nhàng thong dongChúng ta theo bước chân ông, ra công gắng sức sám hối lổi lầm của mình, quyết không tái phạm, để chuyển đổi nghiệp lực ngay từ bây giờ cho được an tịnh.Lương Hoàng Sám, song hành sánh bước trên từng bến bờ mê ngộ, làm thay đổi hoán chuyển tâm thức chúng ta bây giờ và tận ngàn sau.
2, Trần Thái Tông
Trần Thái Tông được kể như một vị vua anh hùngtài kiêm văn võ, ông lấy tấm lòng trung hậu của dân làm nỗi lòng sâu xa chân thật của mình, tâm ấy cùng nguyện ấy ông không đạt được ở nơi bình thường tự nhiên, mà nó vất vả xông pha, lên thác xuống gềnh vào sinh ra tử, được mài dũa tinh luyệntừ nơi cuộc đời, từ trong nỗi đau nổi khổ của chúng sinh, không chỉ nỗi đau nơi thể xác, mà ông còn thể hiện bằng mọi cách để mang lại sự an lạc trong tâm hồn đến cho họ. Sự trãi nghiệm vô cùng qúi báu, với tấm lòng vì nước quên thân, vì sự giải thoát cho nhân sinh, đã tạo nên một Trần Thái Tông còn sống mãi với thời gianthành tựu được cả hai sự nghiệp chính trị và tâm linh, đem lại an bình hạnh phúc cho dân tộc, sách Khoá Hư Lục một áng văn bất hủ lớn mãi theo nhịp thời gian của nền văn học Việt Nam, và cũng là một tác phẩm tuyệt vời vô giá của Đạo Phật Việt.
Cuộc gặp gở với Trúc Lâm Quốc Sư
Trong lời tựa Thiền Tông Chỉ Nam, Trần Thái Tông thuật lại buổi găp gỡ, qua đó ta thấy Quốc sư Trúc Lâm đã khai mở cho ông hai khía cạnh, chính trị và tâm linh vô cùng lợi lạc. Về tâm linh: " Thấy Trẫm, Quốc Sư mừng rỡ. Người ung dung bảo Trẫm: Lão tăng ở chốn sơn dã đã lâu, xương cứng mặt gầy, ăn rau răm nhai hạt dẻ, chơi cảnh rừng, uống nước suối, vui cảnh núi rừng đã quen, lòng nhẹ như đám mây nỗi, cho nên mới theo gió mà đến đây. Nay bệ hạ bỏ địa vị nhân chủ mà nghĩ cảnh quê mùa rừng núi, hẳn là muốn tìm cầu gì ở đây cho nên mới đến, phải không? Trẫm nghe lời thầy hỏi, hai hàng nước mắt ứa ra liền thưa với thầy rằng: Trẫm còn thơ ấu, đã sớm mất mẹ cha, chơ vơ đứng trên sĩ dân, không có nơi nào để nương tựa. Lại nghĩ rằng sự nghiệp các đế vương đời trước, hưng phế bất thường, cho nên mới vào đây, chỉ muốn cầu thành Phật, chứ chẳng muốn tìm gì khác. Thầy đáp: Trong núi vốn không có Phật, Phật ở trong tâm ta. Nếu tâm lắng đọng trí tuệ xuất hiện, đó chính là Phật. Nếu bệ hạ giác ngộ được tâm ấy thì tức khắc thành Phật ngay tại chổ, không cần đi tìm cực khổ từ bên ngoài ". Về chính trị xây dựng quốc gia dân tộc, Quốc Sư Trúc Lâm khuyên vua như sau: " Phàm làm đấng nhân quân, thì phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, và tâm thiên hạ làm tâm của mình. Nay thiên hạ muốn đón bệ hạ về, bệ hạ không về sao được? tuy nhiên sự nghiên cứu nội điển xin bệ hạ đừng phút nào quên ". Thiền sư Thích Thanh Từ dịch, Thiền Sư Việt Nam, trang 221,222.
Cuộc gặp gỡ tuyệt vời, với Trúc Lâm Quốc Sư đã chuyển hướng hoàn toàn con ngườicủa Trần Thái Tông, bao nhiêu đau khổ, lụy phiền bí lối đều tan biến, như ông nói " Dập tắt ngay mọi điều vương vấn ". Và cuộc gặp gỡ ấy đã để lại dấu ấn tư tưởng, hành động vô cùng to lớn, không những cho chính bản thân ông mà còn cho cả dân tộc. Ở đó ta thấy một Trần Thái Tông anh minh lỗi lạc, vì nước quên thân đem lại thịnh trị cho nhân dân, và một Trần Thái Tông với tâm linh cao vút, độ mình và độ người trong ý nghĩa cùng tuyệt của giác ngộ. Không những vậy cuộc gặp gỡ ấy còn đóng góp vào vào nền thiền học Việt Nam, những công án vô cùng ý nghĩa. " Trong núi vốn không có Phật". " Phật ở trong tâm ta". " Tâm lắng đọng, trí tuệ xuất hiện đó là Phật ". " Giác ngộ được tâm ấy thì tức khắc thành Phật ngay tại chổ ". " Không cần đi tìm cực khổ ở bên ngoài ". Chúng tagõ thật mạnh vào trong tận cùng, hít thở thật sâu vào từng công án, muốn thấy được Phật là phải tìm ngay trong chính cái tâm của mình, ngoài tâm ra không có Phật, không có gì để ngộ. Đó là sự lắng đọng an lạc viên mãn trùng khắp. Tâm chính là nguồn gốc khiến ta trôi lăn trong sinh tử, cũng là mấu chốt đưa ta đến giải thoát. Ta phải làm sao để cho Phật tính ở trong ta thức dậy, nó vốn có mặt ở trong ta từ vô lượng kiếp về trước, đến vô tận kiếp về sau không hề biến đổi, không đến, không đi, không tìm, không gọị, không cầu, không mong, thường hằng trong vô tận của thời không, chẳng hề suy chuyển.
Vua Trần Thái Tông đã nối tiếp kết hợp, đặt nền móng vững chắc cho Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, một thiền phái mang đậm dấu ấn của người Việt, mang hạnh nguyện đi vàocuộc đời để chuyển hoá khổ đau, tìm sự giác ngộgiải thoát từ trong cuộc đời. Mấy thế kỷ đã trôi quatư tưởng và công hạnh của ông để lại cho hậu thế vẫn còn đậm nét, con đường mà ông đã đi đã đến vẫn theo nhịp thời gian khắc ghi trong từng tâm khảm, khiến chúng ta phải nổ lực thật nhiều mong theo kịp bước, để khổ đau hoá thành an lạcsinh tử không còn làm hể hấn, để được thong dong trên nẽo đi về, không còn so sợ hụt hẩng.
Lục Thời Sám Hối Khoa Nghi (trong sách Khoá Hư Lục)
Bộ kinh Khoá Hư của Ngài rất phổ thông ở các chùa Việt Bắc đáng là bộ sách Thiền học đặc biệt Việt Nam vô cùng qúy giá không những cho nhà chùa mà cho cả giới tưtưởng và nghệ thuật trong nước và ngoài nước. Nó vừa là sách triết học căn bản, vừa là Thánh thơ tôn giáo. Vua Trần Thái Tông là bậc anh hùng tài kiêm văn võ, không những đã có công khai sơn phá thạch cho cả một triều đại anh dũng bậc nhất của lịch sử dân tộc, Ngài còn mở đuờng cho cả một dòng tư tưởng Thiền học riêng biệt Việt Nam phản chiếu cả một giai đoạn lịch sử dân tộc. " ( Nguyễn Đăng Thục, Lịch Sử Tư Tưởng Việt Nam, tập 4 trang 11 )
Là một con người bình thuờng có thất tình lục dụctham sân si như chúng ta, nhưng nhờ biết tu biết đoạn trừ nên ông được an nhiên tự tại. Niềm hối hận lớn nhất của Trần Thái Tông có lẽ trong việc phế hoàng hậu Lý Chiêu Hoàng, và việc sát hại tôn thất nhà Lý, dù cả hai việc nầy đều do Trần Thủ Độ chủ trương, mặc cho Thái Tông ra sức phản đối, vì quyền uy của Trần thủ Độ quá lớn, Thái Tông không cách nào làm khác hơn. Những oái ăm và nghiệp quả đó, đè nặng lên tâm tư Trần Thái Tông, không nhiều thì ít dự phầnsáng tác ra Lục Thời Sám Hối Khoa Nghi. Ông sáng tác ra tác phẩm ấy không chỉ cho riêng ông hay vì một cá nhân nào, mà trước là tự mình sám hối những lỗi lầm do mình tác tạo, và sau để lại cho hậu thế. Ông khẳng định " Lợi mình tức lợi người " một câu nói đầy bao dung. Nếu áp dụng vào đời sống tu tậpsám pháp nầy rất thiết thực, nhằm cảnh tỉnh, nhắc nhở chúng ta sự gây hại thường xuyên của sáu căn, ( mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý ) khiến ta nhận biết rõ ràng để không tái phạmthành tâm phát nguyện thực hành, sẽ chuyển hóa sự tác nghiệp, chỉ có sự trãi lòng sám hối và liên tục cảnh tỉnh ta mới nổ lực thăng hoa cuộc sống, mang lại lợi lạc cho mình và tha nhân.
Khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần sinh ra sáu thức, đó cửa ngõ đi lại, phát sinh đắm nhiễm, cũng là nguyên nhân trực tiếp khiến ta đắm chìm trong bể khổ trầm luân, dẫn đưa chúng ta đi dài dài đi mãi mãi vẫn chưa đi hết ba cõi sáu đườngSự quán chiếu, một cánh bền bĩ thâm sâuchuyển hoá sự dính mắt từ sáu căn thức ấy, trở thành sáu độ Ba La Mật, là chúng ta đang đi trên con đường thực hạnh Bồ Tát Hạnh nguyện một cách vi diệu. Trong sáu thời tu tập cho sáu căn, mỗi thời dành cho mỗi căn, từ khuya đến tối lúc nào cũng nổ lực sám hối. Chỉ có sự thành tâm trọn ý, hiệp cùng với quyết tâm không tái phạm, mới khiến ác nghiệp của ta tiêu trừthiện nghiệp phát sinh, khi có được thiện nghiệp thì ta mới đủ năng lực trí tuệ, đoạn trừ vô minhtham sân si, để tiếp tục đạt đếnsự an tịnh tròn đầy. Trong Lục thời Sám Hối Khoa Nghi, Trần Thái Tông chú trọng đến: Dâng hương hoa, tâu bạch, sám hốiphát nguyệnhồi hướng, kệ vô thường. Trong sự sám hối từng căn, có sự thành tâm, trãi lòng chí thành sám hối, hướng nguyện, khuyên răn, nhắc nhở. Sau khi đã sám hối mỗi căn, đều có mười hai lời phát nguyện thực hành. Nếu chúng ta biết áp dụng phương cách tu tập như ông, thì sẽ mang lại ích lợi một cách hoàn mỹ.
Chúng ta thử đọc đoạn:
Trước hết sám hối, về tội của mắt gồm có những điều lược kể như sau:
Đệ tử chúng con, chí tâm sám hối,
Từ kiếp vô thủy cho đến ngày nay,
Bỏ mất bản tâm, không biết chánh đạo.
Rơi ba đường khổ, bởi sáu căn lầm.
Không sám lỗi trước, khó tránh hối sau.
Tội mắt gồm có, các điều như sau:
Nhân ác xem kỷ, nghiệp thiện coi khinh.
Lầm nhận hoa giả, quên ngắm trăng thật.
Yêu ghét nổi dậy, đẹp xấu tranh giành:
Chợt mắt dối sanh, mờ đường chánh kiến.
Trắng qua xanh lại, tiá phải vàng sai:
Nhìn lệch các thứ, nào khác kẻ mù.
Gặp người sắc đẹp, liếc trộm nhìn ngang:
Lòa mắt chưa sanh, bản lai diện mục.
Thấy ai giàu có, giương mắt mãi nhìn:
Gặp kẻ bần cùng, lờ đi chẳng đoái.
Người dưng chết chóc, nước mắt ráo khô:
Thân quyến qua đời, đầm đìa lệ máu.
Hoặc đến Tam Bảo, hoặc vào chùa chiền,
Gần tượng thấy kinh, mắt không thèm ngó.
Phòng Tăng điện Phật, gặp gỡ gái trai,
Mắt liếc mày đưa, đam mê sắc dục.
Không ngại Hộ Pháp, chẳng sợ Long Thần:
Trố mắt ham vui, đầu chưa từng cúi.
Những tội như thế, vô lượng vô biên:
Đều từ mắt sanh, phải sa địa ngục.
Trải hằng sa kiếp, mới được làm người:
Dù được làm người, lại bị mù chột.
Nếu không sám hối, khó được tiêu trừ.
Nay trước Phật đài, thảy đều sám hối.
Đệ tử chúng con, chí tâm phát nguyện:
Một nguyện rộng mở, cặp mắt chánh kiến,
Hai nguyện lau sạch, cát bụi trần lao,
Ba nguyện nhìn hình, mắt không đắm mến,
Bốn nguyện thấy sắc, tâm chẳng lay động,
Năm nguyện quên đầu, cần kíp nhận ra,
Sáu nguyện mắt tuệ, tự tròn đầy đủ,
Bảy nguyện hiện nay, sớm tỉnh mộng trần,
Tám nguyện hằng được, sáng xưa trong suốt,
Chín nguyện khi nhìn, trừ che huyễn uế,
Mười nguyện chổ thấy, chấm dứt hoa sanh,
Nguyện thứ mười một, trông xa mây cuốn,
Và nguyện mười hai, chớp mắt nghiệp băng.
Nghi thức Sám Hối Sáu Căn, chùa Quang Nghiêm, Hoa Kỳ thực hiệnHòa thượng Thích Thanh Từ dịch,
Con đường Bồ Tát Hạnh, mà Lương Võ Đế và Trần Thái Tông đã tu tập và hoàn thiệnmột cách mỹ mãn, độ mình và độ người, cứu mình và cứu chúng sanhan lạc và phân hưởng sự an lạc đến cho chúng sanh. Tâm hạnh ấy vẫn mỗi ngày một lớn dần theo nhịp tử sinhhạnh nguyện ấy ngày càng toả chiếu theo từng chuyển động của tâm thức, lớn theo từng nhọc nhằn đau khổ, hay vơi dần khi an lạc phủ vây. Chừng nào, lúc nào, đến được với chúng ta, chỉ có chính ta mới có câu trả lời.

__________________

• Như Hùng

TRẦN NHÂN TÔNG VÀ CHUYẾN VIỄN DU CHIÊM THÀNH NĂM TÂN SỬU(1301(*))

Cuộc đời của Thượng hoàng, Phật hoàng Trần Nhân tông là một chuỗi của sự xuất xứ gắn liền việc Đạo với việc Đời và tất cả đều thuận theo qui luật, tức là tùy duyên chứ không hề khiên cưỡng.


Thời gian của Hội thảo giới hạn tới mức tối thiểu, vì vậy tôi chỉ khảo sát riêng một việc thượng hoàng qua thăm Chiêm Thành năm Tân sửu (1301 ).

 

Việc này Đại Việt sử ký toàn thư chỉ ghi vẻn vẹn có 12 chữ: “ Tháng 3, thượng hoàng đi chơi các địa phương, sang Chiêm Thành”. Dưới đó một đoạn lại ghi tiếp: “ Mùa đông tháng 11, thượng hoàng từ Chiêm Thành về”.


Các sử gia không hề cho ta biết nội dung cuộc viếng thăm nước Chămpa của thượng hoàng.


Năm năm sau, tức năm Bính ngọ ( 1306 ), Toàn thư lại chép: “ Mùa hạ, tháng 6, gả công chúa Huyền Trân cho vua nước Chiêm Thành là Chế Mân. Trước đây, thượng hoàng đi chơi các địa phương sang Chiêm Thành, đã trót hứa gả con gái cho. Các văn sĩ trong triều ngoài nội nhiều người mượn điển vua nhà Hán đem Chiêu quân gả cho Hung Nô làm thơ bằng quốc ngữ để chê cười.”


Việc này ta có thể lấy thêm một thông tin nữa từ Trần Chí Chính, theo khảo sát của học giả Lê Mạnh Thát trong lời đề từ bức tranh “Trúc lâm đại sĩ xuất sơn đồ”, Trần Chí Chính viết: “Có lúc ngài viễn du hóa độ cho các nước lân bang, phía nam đến tận Chiêm Thành, đã từng khất thực ở trong thành. Vua nước Chiêm Thành biết được điều đó, hết sức kính trọng thỉnh mời, dâng cúng trai lễ, sắp sẵn thuyền bè nghi trượng, thân hành tiễn ngài về nước và đem hai châu làm lễ dâng cho ngài. Ấy là


Thần Châu, Hóa châu nay vậy”[1].


Hai đoạn văn mà Đại việt sử ký toàn thư ghi vào năm Tân sửu ( 1301) và năm Bính ngọ ( 1306) cùng với lời đề từ bức tranh “ Trúc lâm đại sĩ xuất sơn đồ” của Trần Chí Chính cho ta một thông tin rằng việc thượng hoàng Trần Nhân tông qua thăm Chiêm Thành chỉ là chuyện ngẫu nhiên, và việc vua Chiêm là Chế Mân dâng miền đất hai châu của mình cho Đại việt cũng là một việc tùy hứng, khiến ta có cảm giác sự biếu tặng lãnh thổ này cũng bình thường như các món đồ khác.


Tôi không tin những điều đã chép ấy là sự thật lịch sử, mà tôi ngờ rằng các nhà chép sử cố ý làm mờ nhòe sự thật để giảm bớt tầm quan trọng của sự việc vì một lý do tế nhị nào đấy. Tuy nhiên trong hơn 700 năm qua vấn đề này đã không được hậu thế lý giải cho minh bạch, khiến đời sau cứ tin đó là sự thật lịch sử.


Tôi thật sự không tin vào sự ghi chép và lý giải mù mờ đó của các sử gia.


Sự thật cuộc viếng thăm vương quốc Chămpa của thượng hoàng Trần Nhân tông không phải là sự ngẫu nhiên “ đi chơi các địa phương” rồi tiện thể “sang Chiêm Thành”.


Ta biết tháng 3 năm Tân sửu (1301) thượng hoàng Trần Nhân tông sang viếng thăm Chiêm Thành thì trước đó toàn thư chép : “Tháng 2 nước Chiêm Thành sang cống”.


Chính đoàn cống sứ của Chiêm Thành sang là thương thảo một vấn đề gì nghiêm trọng lắm, có quan hệ đến hai nước Việt – Chăm. Đương nhiên đây là vấn đề cực kỳ hệ trọng mà quan gia tức vua Trần Anh tông và triều đình không giải quyết được, nên thượng hoàng phải tự mình đảm nhiệm. Nên biết, đây không phải là việc thăm viếng bình thường, càng không phải ngài đi truyền giáo. Đây hẳn là một vấn đề hết sức nhạy cảm và cả sự tế nhị nữa nên Đại Việt mới phải xuất tướng.


Để lý giải việc xuất tướng này, ta trở lại tình hình nước Đại Việt sau chiến thắng đế quốc Nguyên năm Mậu tí (1288).


Khi Thoát Hoan dẫn đoàn quân thất trận mười phần chết mất 5, 6 trở về và run sợ ra mắt vua cha ở Yên Kinh (Bắc Kinh) xin chịu tội.


Hốt Tất Liệt đùng đùng nổi giận, trị tội tên nghịch tử đã đem sự ô nhục trở về. Y đầy Thoát Hoan ra Dương châu, và cấm suốt đời không được gặp mặt. Còn Áo Lỗ Xích viên phó tướng của Thoát Hoan, bị đuổi ra Giang Tây.


Hốt Tất Liệt một mặt sai lập ngay Hồ Quảng An Nam hành tỉnh  tức bộ chỉ huy quân sự đánh Đại Việt), tập hợp binh lực chuẩn bị Nam chinh, mặt khác y xuống chiếu đổ hết trách nhiệm về cuộc chiến tranh vừa qua cho triều đình Đại Việt.


Vua Trần Nhân tông biết nhà Nguyên khó có thể tiến hành xâm lược nước ta trong ngày một ngày hai, mặc dù Hốt Tất Liệt hết sức cay cú vì mất thể diện. Bởi vì nội bộ người Nguyên đang gặp khó do nhiều tỉnh mất mùa, dân bị đói không huy động được lương thực, lại nhiều nơi dân Trung Hoa không chịu được sự cai trị hà khắc của người Mông Cổ đã nổi dậy đánh đuổi bọn quan lại. Điều băn khoăn nhất của Hốt Tất Liệt là hầu hết các danh tướng của nhà Nguyên, đều đổ dồn vào hai cuộc xâm lược Đại Việt tại các năm Ất dậu (1285) và Mậu tí ( 1288 ), tất cả đều trở thành bại tướng, nhưng hầu hết các danh tướng hàng đầu đều bị giết hoặc bị bắt như Lý hằng, Lý quán, Toa Đô, Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ Cơ v.v… Vậy đánh Đại Việt lúc này lấy đâu ra tướng soái chỉ huy chiến trận. Nên một mặt y vừa tập trung lực lượng vừa dùng sức ép bang giao với triều đình Đại Việt.


Biết khó khăn của giặc, Trần Nhân tông hết sức tỉnh táo đối phó trong cuộc chiến ngoại giao này. Một mặt nhà vua cho khôi phục nền sản xuất đã bị giặc tàn phá trong chiến tranh, chăm lo sức dân, xem xét tha hẳn hoặc tha một phần tô thuế cho dân tùy theo sự thiệt hại nhiều hay ít của từng vùng. Mặt khác, đích thân Trần Nhân tông chỉ huy việc đối ngoại với nhà Nguyên, các văn thư ngoại giao gửi Hốt Tất Liệt do chính nhà vua thủ bút.


Ta nhớ trong lá thư gửi Hốt Tất Liệt, vua Trần Nhân tông đã khéo léo nói rõ ai là kẻ gây chiến, và luôn thể ngài kịch liệt lên án tội ác chiến tranh của kẻ thù. Thư viết: “ Năm Chí nguyên thứ 22 (1285) Bình chương A-lí-hải-nha tham công ngoài biên giới, làm trái thánh chỉ. Do thế tiểu quốc sinh linh một phương phải chịu lầm than… Mùa đông năm Chí nguyên thứ 24 (1287) lại thấy đại quân thủy bộ đều tiến sang, thiêu đốt chùa chiền khắp nước, đào bới mồ mả tổ tiên, bắt giết người dân già trẻ, đập phá sản nghiệp trăm họ, các hành động tàn nhẫn phá phách không gì là không làm…


Tham chính Ô Mã Nhi lâu năm nắm binh thuyền riêng ra ngoài biển, bắt hết biên dân vùng biển, lớn thì giết chết, nhỏ thì bắt đi, cho đến cả treo trói xẻ mổ, mình đầu khắp chốn. Trăm họ bị bức tới chỗ chết, bèn dấy lên cái họa con thú chân tường”.


Lời lẽ của nhà vua thật sự khôn ngoan, kín kẽ, đanh thép và cả sự tế nhị không làm mất mặt kẻ thù hơn nữa. Theo dõi sát tình hình bên Đại Đô, vua Trần Nhân tông thừa biết Hốt-tất-liệt lúc này chẳng khác chi một con sư tử già chỉ nằm tại chỗ mà gầm rống chứ móng vuốt đều đã long, rụng; mặc dù y đã lập xong bộ chỉ huy và đã bàn bạc với tên bán nước Trần Ích Tắc vẫn trú ngụ tại Ngạc Châu.


Tuy vậy, nhà vua vẫn không loại bỏ khả năng giặc Bắc lại sang.


Đột nhiên tháng Giêng năm Quí tị (1293) Hốt Tất Liệt lăn ra chết, con trai y lên ngôi, hiệu là Nguyên Thành tổ. Thấy tình thế không thuận cho một cuộc chiến tranh nữa, Nguyên Thành tổ ra lệnh bãi binh.


Thời cơ đã đến, Trần Nhân tông nhằm ngày đại cát, tức 9 tháng 3 năm Quí tị (1293 ) nhường ngôi cho con là thái tử Thuyển và lên làm thái thượng hoàng.


Mười tháng sau khi nhường ngôi cho con, nhằm tháng 7 năm Giáp ngọ ( 1294 ), thượng hoàng Trần Nhân tông du ngoạn tới hành cung Vũ Lâm, và tại đây cái duyên đã khởi, thượng hoàng quyết định xuất gia tu Phật ở hành cung này. Sau đó ít bữa, nhà vua cho dựng một nếp chùa ngay phía trước hành cung để ngài tu tập.


Rõ ràng là với Trần Nhân tông việc đời hay việc đạo, tức là việc xuất xử đều tùy duyên. Việc nào túc duyên ắt nó tròn đầy. Vì vậy sau này trong bài phú “Cư trần lạc đạo”, mở đầu ngài viết: ‘ Cư trần lạc đạo thả tùy duyên”. Thế nhưng tất cả cái “duyên” ấy của ngài đều thuộc về lợi ích quốc gia và con đường tinh tấn của chính pháp.


Kỳ lạ thay, đúng một tháng sau khi ngài quyết định xuất gia, ngài lại cầm quân chinh phạt Ai Lao, vì trong khi giặc Nguyên xâm lược ta ở mặt đông, thì mặt tây Ai Lao cho quân sang cướp phá, giết tróc nhân dân ta. Việc này Toàn thư chép: ‘Tháng 8 năm Giáp ngọ (1294), thượng hoàng thân chinh Ai Lao, bắt sống người và súc vật không kể xiết”.


Và đến ngày mùng 1 tháng 2 năm sau, tức năm Ất mùi ( 1295 ) phái bộ nhà Nguyên là Lý Hành và Tiêu Thái Đăng qua báo về việc vua Thành tông nhà Nguyên lên ngôi và đã cho bãi binh, thượng hoàng Trần Nhân tông đích thân tiếp sứ và chỉ huy mọi việc giao dịch với sứ cho thật chu đáo, đồng thời tỏ rõ khí phách Đại Việt, đè bẹp ý chí xâm lược và thói quen ngạo mạn của kẻ thù. Khi sứ về, thư phúc đáp gửi Nguyên Thành tông, vẫn do thượng hoàng Trần Nhân tông thủ bút. Ngài còn cử viên ngoại lang Trần Khắc Dụng và Phạm Thảo đem thư của ngài sang Đại Đô xin Kinh Đại Tạng nữa. Đó là nghệ thuật bang giao thượng thừa của ngài khiến cho đối phương hạ nhiệt, và gây dựng mối rường cho sự giao hảo về sau.


Trong mấy năm tiếp không có việc gì lớn xảy ra, cho đến tháng 8 năm Kỷ hợi ( 1299 ) thượng hoàng Trần Nhân tông lên núi Yên Tử tu khổ hạnh. Và tới tháng 2 năm Tân sửu (1301) có phái đoàn của Chiêm Thành sang cống, liền đó tháng 3, thượng hoàng sang Chiêm tới tháng 11 mới về.


Xét ra trong nước có việc gì cực lớn, cực trọng yếu thượng hoàng Nhân tông mới đứng ra đảm trách, thế mà giữa thời bình, có gì hệ trọng tới mức phải đích thân thượng hoàng sang Chiêm. Và sang làm gì với khoảng thời gian dài dằng dặc tới cả 9 tháng?


Ta có thể lý giải việc này bằng một giả định tựa như hai nước đang lâm vào một tình thế căng thẳng có thể dẫn tới đối đầu. Phải chăng sau khi đại thắng hai cuộc xâm lược của nhà Nguyên, uy thế của Đại Việt lên rất cao, và với tiềm lực quân sự khiến các nước phương nam rất kiêng dè, nể trọng. Hơn nữa đích thân Nguyên Thành tông phải phái sứ đoàn sang Đại Việt tuyên cáo việc bãi binh, từ đó các tướng lĩnh gây sức ép với triều đình phải tiến về phương nam, để mở rộng lãnh thổ. Tin tức này lọt tới Chămpa, nên triều đình Chămpa cử sứ sang triều cống Đại Việt đồng thời thương thảo khá gay cấn.


Mở mang bờ cõi vào thời điểm lịch sử lúc ấy là hợp lý, Trần Nhân tông không thể không biết đến nhu cầu của quốc gia và nguyện vọng của tướng lĩnh, nhưng thực tình nhà vua không muốn cho nhân dân hai nước phải đổ máu. Vả lại sự ủng hộ lẫn nhau, kề vai sát cánh cùng chiến đấu giữa Đại Việt và Chămpa để chống kẻ thù chung trong mấy cuộc chiến tranh vừa qua đã gắn kết hai dân tộc lại với nhau. Như cuộc xâm lược của nhà Nguyên vào Chămpa năm Quí mùi (1283), do viên dũng tướng Toa Đô cầm đầu 5 vạn quân hùm sói, tưởng ăn tươi nuốt sống được vương quốc nhỏ bé này. Trước nguy cơ đó, vương quốc Chămpa phải cầu viện Đại Việt. Nhà Trần đã phái hai vạn quân thiện chiến có cả tàu thuyền sang sát cánh cùng quân dân Chămpa chiến đấu chống kẻ thù chung thắng lợi.


Để ngăn chặn tình huống xấu có thể xảy ra bất cứ lúc nào, nên thượng hoàng Trần Nhân tông phải đích thân qua Chiêm Thành.


Lại nói Chế Mân là ai? Đương nhiên ông là vua nước Chămpa, nhưng trong cuộc đối đầu lịch sử với Toa Đô năm Quí mùi, ông là hoàng thái tử Harijit, tổng chỉ huy cuộc kháng chiến kình chống với Toa-đô. Đánh nhau suốt một năm trời, Toa Đô không vào được cửa biển Thị Nại, không bén mảng được tới chân kinh thành Trà Bàn. Harijit đã dùng kế trá hàng suýt bắt được Toa Đô, khiến y phải đóng quân cả năm trời ngoài bãi biển, sau rút về đóng tại vùng giáp ranh với biên giới phía nam của Đại Việt để chờ thời. Chămpa thoát hiểm. Harijit trở thành vị anh hùng và nhà vua lỗi lạc của xứ sở. Một con người kiệt hiệt như thế không dễ gì để cho ai bắt nạt, không dễ gì để cho ai xâm chiếm đất đai của mình. Thế mà ngài Trần Chí Chính lại viết Chế Mân “ thân hành tiễn ngài (Trần Nhân tông) về nước và đem đất hai Châu làm lễ cúng dâng cho ngàiẤy là Thần Châu và Hóa Châu nay vậy”.


Sự việc đâu có dễ dàng như thế. Chín tháng ở Chămpa của thượng hoàng Trần Nhân tông là chín tháng thuyết phục, thương thảo căng thẳng và cả quyết liệt, cuối cùng mới đi tới giải pháp hôn nhân. Và miền đất hai châu dùng làm sính lễ. Như thế có vẻ hợp lý hơn và người Chiêm đỡ bẽ mặt hơn, hai dân tộc tránh được một cuộc chiến tranh, không gieo rắc hận thù cho nhau. Chấp nhận cuộc hôn nhân, chấp nhận cắt đất làm sính lễ, trên thực tế quốc vương Chế Mân phải kìm chế đến cực độ, chấp nhận cuộc hôn nhân cũng có nghĩa là buộc ông phải thừa nhận sức mạnh của Đại Việt.


Rõ ràng cuộc hôn nhân này không phải là nhu cầu của quốc vương Chămpa, bởi đây là giải pháp chính trị, giải pháp tình thế, và là một lối thoát cho cả hai phía. Nếu cần mỹ nhân thì vương quốc Chămpa thiếu gì mỹ nữ. Vả lại vua nước Chămpa đâu còn trẻ nữa, nếu không hơn, ít ra ông cũng bằng tuổi với thượng hoàng Trần Nhân tông. Bởi lẽ năm Quí mùi ( 1283 ) ông đã chỉ huy cuộc kháng chiến chống quân Nguyên xâm lược, đối đầu với Toa Đô, năm ấy vua Nhân tông của Đại Việt mới 25 tuổi.


Đạt được thỏa thuận này, phải nói hai bậc vĩ nhân đều có tầm nhìn xa rộng, đành rằng về phía Chế Mân, ông hết sức đau lòng.


Sự việc đến đây, có thể nói giả định đặt ra ở phần trước là có thể chấp nhận được.


Sự thật việc công chúa Huyền Trân về Chiêm, và việc Chiêm Thành cắt đất cho Đại Việt như thỏa thuận của hai vị quốc vương, không dễ gì đã thực hiện được.


Bằng chứng là sau này đem ra bàn ở Đại Việt cả triều đình không ai chấp nhận trừ Trần Đạo Tái và Đỗ Khắc Chung. Các nho sĩ trong triều ngoài nội, nhiều người còn làm thơ đả kích.


Đối với Chiêm Thành, sự việc chắc còn trắc trở hơn nhiều. Sử không cho ta biết gì thêm, nhưng chỉ riêng việc hai quốc vương đã quyết rồi mà 5 năm sau hôn lễ mới được cử hành. Điều đó chứng tỏ nội bộ Chiêm Thành đã đấu tranh dai dẳng và quyết liệt, cuối cùng sự việc mới thành.


Dẫu sao thì cuộc qua thăm Chiêm Thành 9 tháng của thượng hoàng Trần Nhân tông cũng kết thúc có hậu. Trước hết là tháo gỡ tình hình căng thẳng giữa hai nước, đặt mối quan hệ thân hữu bằng cuộc hôn nhân và loại bỏ được một cuộc chiến tranh (rất có thể) ra khỏi đời sống của hai dân tộc; “Hai châu Ô, Lý vuông ngàn dậm”  vĩnh viễn trở thành đất đai của Đại Việt.


Qua một chuỗi sự việc trên, ta thấy việc đời, việc đạo đối với thượng hoàng Trần Nhân tông đều là việc nước cả, nên lúc nào cần vai gì thì ngài thủ vai đó, tựa như các đấng Bồ Tát cứu thế, khi thấy thế gian cần gì thì ngài thị hiện đúng cương vị đó để cứu vớt. Qua các sự việc kể trên cũng chứng minh một cách sinh động trong lịch sử dựng nước và giữ nước, Phật giáo đã đồng hành cùng dân tộc là vậy đó.


Việc sáp nhập hai châu Ô, Lý vào cương thổ Đại Việt là thắng lợi ngoại giao cực kỳ vĩ đại của thượng hoàng Trần Nhân tông, chứng tỏ người có con mắt nhìn thấu nghìn tầm. Vì rằng từ đây mở ra con đường nam tiến của dân tộc vô cùng thuận lợi. Nên biết rằng tới cuối đời Trần, Hồ thì cương giới của Đại Việt đã mở tới Thăng Hoa, Tư Nghĩa (Quảng Nam, Quảng Ngãi). Và chỉ hơn nửa thế kỷ từ sau Hồ Quý Ly, thì Lê Thánh tông đã cắm bia cương giới trên đỉnh núi Đá Bia tận Phú Yên. Phần còn lại thuộc về các chúa Nguyễn và triều Nguyễn.


Sự nghiệp vào Chiêm năm Tân sửu (1301) của thượng hoàng Trần Nhân tông rực rỡ là vậy, mà các sử gia chỉ chép được vài dòng hết sức lạnh lùng và vô cảm, tựa như người thiểu năng trí tuệ. Tiếc thay suốt mấy trăm năm sau đó, các nhà làm sử nhận thức sự việc này cũng chẳng khác mấy người khiếm thính, khiếm thị, khiến hậu thế mang tội vô ơn đối với tiền nhân.


Tổ tiên đã để lại cho dân tộc ta cả một kho tàng kinh nghiệm đầy trí tuệ, nếu biết khai thác kinh nghiệm được tích lũy từ lịch sử, dân tộc ta sẽ có trí khôn và sức mạnh gấp nhiều lần. Khốn thay, cái sự nhỡn tiền cho ta thấy bài học lớn nhất của lịch sử là người ta đã không chịu rút ra từ lịch sử những bài học

 

______________


Hoàng Quốc Hải

Nguồn: www.vanhoanghean.com.vn

 

HỊCH TƯỚNG SĨ (1919) CỦA ĐỨC TRẦN HƯNG ĐẠO, DO TRẦN TRỌNG KIM DỊCH

Dụ chư tỳ tướng hịch văn (諭諸裨將檄文), thường được gọi là Hịch Tướng Sĩ, là bài hịch của Trần Hưng Đạo. Dưới đây là nguyên bản và phiên-âm của Trần Trọng Kim trong "Việt Nam Sử Lược" Quyển I, Trần Trọng Kim, Trung tâm Học liệu xuất bản, Sài Gòn, 1971.


« Ta thường nghe chuyện: Kỷ Tín 紀 信 liều thân chịu chết thay cho vua Cao-đế; Do Vu 由 于 lấy mình đỡ ngọn giáo cho vua Chiêu-vượng; Dự Nhượng 豫 讓 nuốt than để báo thù cho chủ; Thân Khoái 申 蒯 chặt tay để cứu nạn cho nước; Kính Đức 敬 德 là một chức quan còn nhỏ, mà liều thân cứu vua Thái-tông được thoát vòng vây; Kiểu Khanh 杲 卿 là một bề tôi ở xa, mà kể tội mắng thằng Lộc Sơn 祿 山 là quân nghịch-tặc. Các bậc trung-thần nghĩa-sĩ ngày xưa, bỏ mình vì nước, đời nào không có? Giả-sử mấy người ấy cũng cứ bo bo theo lối thường tình, chết già ở xó nhà, thì sao cho lưu danh sử-sách đến nghìn muôn đời như thế được?


« Nay các ngươi vốn dòng vũ-tướng, không hiểu văn-nghĩa, nghe những chuyện cổ-tích ấy, nửa tin nửa ngờ, ta không nói làm gì nữa; ta hãy đem chuyện đời Tống, Nguyên mới rồi mà nói: Vương công Kiên 王 公 堅 là người thế nào? Tỳ-tướng của Vương công Kiên là Nguyễn văn Lập 阮 文 立 lại là người thế nào, mà giữ một thành Điếu-ngư[1] nhỏ mọn, chống với quân Mông-kha[2] kể hàng trăm vạn, khiến cho dân sự nhà Tống, đến nay còn đội ơn sâu. Đường ngột Ngại là người thế nào? Tỳ-tướng của Đường ngột Ngại là Xích tu Tư lại là người thế nào, mà xông vào chỗ lam-chướng xa xôi, đánh được quân Nam-chiếu trong vài ba tuần, khiến cho quân-trướng đời Nguyên đến nay còn lưu tiếng tốt. Huống chi ta cùng các ngươi sinh ở đời nhiễu-nhương, gặp phải buổi gian-nan này, trông thấy những ngụy-sứ đi lại rầm-rập ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà xỉ-mắng triều-đình, đem thân dê chó mà bắt-nạt tổ-phụ, lại cậy thế Hốt tất Liệt 忽 必 烈 mà đòi ngọc-lụa, ỷ thế Vân-nam-vương[3] để vét bạc vàng; của kho có hạn, lòng tham không cùng, khác nào như đem thịt mà nuôi hổ đói, giữ sao cho khỏi tai-vạ về sau!


« Ta đây, ngày thì quên ăn, đêm thì quên ngủ, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm-tức rằng chưa được sả thịt lột da của quân giặc, dẫu thân này phơi ngoài nội cỏ, xác này gói trong da ngựa, thì cũng đành lòng. Các ngươi ở cùng ta coi giữ binh-quyền, cũng đã lâu ngày, không có áo thì ta cho áo, không có ăn thì ta cho ăn, quan còn nhỏ thì ta thăng thưởng, lương có ít thì ta tăng cấp, đi thủy thì ta cho thuyền, đi bộ thì ta cho ngựa, lúc hoạn-nạn thì cùng nhau sống chết, lúc nhàn-hạ thì cùng nhau vui cười, những cách cư-xử so với Vương công Kiên, Đường ngột Ngại ngày xưa cũng chẳng kém gì.


« Nay các ngươi trông thấy chủ nhục mà không biết lo, trông thấy quốc-sỉ mà không biết thẹn, thân làm tướng phải hầu giặc, mà không biết tức, tai nghe nhạc để hiến ngụy sứ, mà không biết căm; hoặc lấy việc chọi gà làm vui-đùa, hoặc lấy việc đánh bạc làm tiêu-khiển, hoặc vui thú về vườn ruộng, hoặc quyến-luyến về vợ con, hoặc nghĩ về lợi riêng mà quên việc nước, hoặc ham về săn-bắn mà quên việc binh, hoặc thích rượu ngon, hoặc mê tiếng hát. Nếu có giặc đến, thì cựa gà trống sao cho đâm thủng được áo-giáp; mẹo cờ-bạc sao cho dùng nổi được quân-mưu; dẫu rằng ruộng lắm vườn nhiều, thân ấy nghìn vàng khôn chuộc; vả lại vợ bìu con díu, nước này trăm sự nghĩ sao; tiền-của đâu mà mua cho được đầu giặc; chó săn ấy thì địch sao nổi quân thù; chén rượu ngon không làm được cho giặc say chết, tiếng hát hay không làm được cho giặc điếc tai; khi bấy giờ chẳng những là thái-ấp của ta không còn, mà bổng-lộc của các ngươi cũng hết; chẳng những là gia-quyến của ta bị đuổi, mà vợ con của các ngươi cũng nguy; chẳng những là ta chịu nhục bây giờ, mà trăm năm về sau, tiếng xấu hãy còn mãi mãi; mà gia-thanh của các ngươi cũng chẳng khỏi mang tiếng nhục, đến lúc bấy giờ các ngươi dẫu muốn vui-vẻ, phỏng có được hay không?


« Nay ta bảo thật các ngươi: nên cẩn-thận như nơi củi lửa, nên giữ-gìn như kẻ húp canh, dạy-bảo quân-sĩ, luyện-tập cung tên, khiến cho người nào cũng có sức khỏe như Bàng Mông và Hậu Nghệ, thì mới có thể dẹp tan được quân giặc, mà lập nên được công-danh. Chẳng những là thái-ấp ta được vững bền, mà các ngươi cũng đều được hưởng bổng-lộc; chẳng những là gia-quyến của ta được yên-ổn, mà các ngươi cũng đều được vui với vợ con, chẳng những là tiên-nhân ta được vẻ-vang, mà các ngươi cũng được phụng-thờ tổ-phụ, trăm năm vinh-hiển; chẳng những là một mình ta được sung-sướng, mà các ngươi cũng được lưu-truyền sử sách, nghìn đời thơm-tho; đến bấy giờ các ngươi dầu không vui-vẻ, cũng tự khắc được vui-vẻ.


« Nay ta soạn hết các binh-pháp của các nhà danh-gia hợp lại làm một quyển gọi là « Binh-thư yếu-lược ». Nếu các ngươi biết chuyên-tập sách này, theo lời dạy-bảo, thì mới phải đạo thần-tử; nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời dạy-bảo, thì tức là kẻ nghịch-thù.


« Bởi cớ sao? Bởi giặc Nguyên cùng ta, là kẻ thù không đội trời chung, thế mà các ngươi cứ điềm-nhiên không nghĩ đến việc báo thù, lại không biết dạy quân-sĩ, khác nào như quay ngọn giáo mà đi theo kẻ thù, giơ tay không mà chịu thua quân giặc, khiến cho sau trận Bình-lỗ[4] mà ta phải chịu tiếng xấu muôn đời, thì còn mặt-mũi nào đứng trong trời đất nữa. Vậy nên ta phải làm ra bài hịch này để cho các ngươi biết bụng ta ».


Chú thích


▲ Điếu-ngư là tên núi, thuộc phủ Trùng-khánh tỉnh Tứ xuyên.

▲ Mông-kha (Mungke) là vua Mông-cổ, anh Hốt tất Liệt.

▲ Khi quân Mông-cổ lấy được đất Vân nam rồi, Hốt tất Liệt phong cho con là Hốt kha Kích là Vân-nam-vương.

▲ Bình-lỗ là tên thành, nhưng sử cũ không chép rõ ở đâu và ai xây lên. Sách « Khâm-định Việt-sử » chép rằng theo bộ « Địa-dư-chí » của ông Nguyễn Trãi, thì đời nhà Lý có đào con sông Bình-lỗ để đi lên Thái-nguyên cho tiện. Vậy thành Bình-lỗ có lẽ ở vào hạt Thái-nguyên. Xem lời dặn của Trần Hưng-đạo-vương thì thành Bình-lỗ này xây vào đời Đinh hay đời Tiền-Lê, rồi Lý thường Kiệt đời Lý đã đánh quân Tống ở đó.

_____________

vi.wikisource.org

TÂM PHẬT HAY TÂM MA

Có một chàng nghệ nhân rất nỗi tiếng vì tài năng của mình, nhưng anh ta lúc nào cũng tỏ vẻ khó chịu vì muốn tạc một tượng Phật và ma quỷ. Thực tế thì anh chưa tìm ra hình mẫu lý tưởng nào cho phù hợp với ước muốn của mình, trong lúc đang suy tư tìm tòi thì có một người bạn rủ đi chùa lễ Phật. Anh ta hỏi, Phật ở đâu. Người bạn nói đi thì biết. Một cơ hội ngẫu nhiên anh ta cùng bạn đến chùa lễ Phật, được vị sư trụ trì tiếp đãi, với phong cách trang nghiêm, điềm đạm và có vẻ tự tại trong cuộc sống nên đã hấp dẫn anh nghệ nhân.

Lần đầu tiên được gặp vị sư, anh ta hoan hỷ phát tâm cúng dường một số tiền lớn với điều kiện, ngài phải làm người mẫu để anh ta tạc tượng. Bức tượng đã làm xong trong thời gian ngắn, ai nhìn qua cũng trầm trồ khen ngợi vì phong thái trang nghiêm trong sáng lạ thường. Ai được thấy cũng đều quỳ xuống đảnh lễ với tâm cung kính hết sức chân thành. Từ đó về sau không ai còn gọi anh ta là nghệ nhân nữa, mà gọi anh ta là bậc Thánh tượng.

Tiếp theo đó anh ta chuẩn bị công trình tạc tượng ma quỷ, nhưng hình dáng của ma quỷ ở đâu để anh tạc đây, đó là vấn đề nan giải. Phải mất một thời gian dài để tìm người nào hung dữ nhất, nhưng không có người nào có hình dáng làm anh vừa ý. Cuối cùng anh cũng tìm được người như ý muốn đang ở trong tù, với tội giết người đang chờ bản án tử hình. Anh rất phấn khởi vì tìm được một người giống ma quỷ đâu phải dễ, nên khi đối diện với tử tù để chuẩn bị tạc tượng, tên tử tù khóc rống lên như đưa ma mẹ. Anh nghệ nhân ngạc nhiên hỏi, bộ ông sợ chết hả. Ngươi có nhớ ta không, lần trước tạc tượng Phật lấy ta làm mẫu, giờ tạc tượng ma cũng lấy ta làm mẫu, sao lại oan gia trái chủ như thế này.

Ngươi tự nhiên, biến ta từ Phật thành ma quỷ liền. Anh nghệ nhân nói, sao có chuyện lạ kỳ như vậy, chỉ trong một thời gian ngắn. Tôi khi trước tạc tượng Phật lấy hình dáng ngài làm chuẩn, với phong thái siêu phàm thoát tục, còn ông bây giờ hãy xem lại hình dáng của mình đi, thật đáng giống ma quỷ quá trời. Ông không biết đó sao, vì trước kia ông cúng cho ta một số tiền quá lớn, nên ta không kiềm chế được bản thân, do đó vui chơi trác táng rơi vào nghiện ngập ma túy, cuối cùng tiền hết tật mang. Ta vì không chịu nỗi cơn nghiện hoành hành, nên túng thế đi cướp giựt của người khác và phạm tội cướp của giết người, giờ phải chịu bản án tử hình chờ ngày xử trảm. Giờ đây ta vì buồn rầu, lo sợ, tiếc nuối thân mạng nên không ăn, không ngủ được mà ra nông nỗi này. Anh nghệ nhân nghe lời trình bày thống thiết đó cảm thấy xúc động nghẹn ngào, không ngờ bản tính con người thay đổi quá nhanh, vì chút đam mê dục vọng thấp hèn mà thân tàn ma dại như thế này.

Anh ta mắt thấy tai nghe sự thật quá phủ phàng, nên không còn tâm huyết làm việc nữa quyết định từ bỏ nghề nghiệp này, do đó bức tượng ma quỷ dang dỡ không thành. Vì vậy cho đến ngày hôm nay, không ai biết chính xác về tướng trạng của ma quỷ như thế nào. Chỉ biết rằng nếu tâm tư suy nghĩ xấu ác và hành động vô lương tâm luôn làm hại người, hại vật, làm khổ đau cho thiên hạ thì ma quỷ hiện tiền. Ngược lại nếu tâm trong sáng thanh tịnh không chút bợn nhơ hay làm việc thánh thiện giúp người, cứu vật, thì Phật hiện tiền, Phật hay ma cũng từ tâm niệm tốt xấu của chính mình tạo ra.

Vị sư ở câu chuyện trên trước kia nhờ nương thầy lành bạn tốt, nên có nhân duyên xuất gia tu hành thanh tịnh do đó phát ra tướng tốt giống Phật, nhưng vì ỷ lại mình đã thành tựu đạo pháp nên mặc tình ăn chơi dong ruỗi, lấy phòng trà tửu điếm làm bạn, để rồi bị dòng đời cuốn trôi và cuối cùng phải chịu thân tàn ma dại chờ ngày xử án. Tâm Phật hay ma chỉ trong một niệm, nếu ta huân tập tâm ma thì hiện hình ma, nếu ta biết gieo trồng hạt giống Phật, thì Phật có mặt khắp nơi. Tâm Phật hay ma là do chính mình tạo lấy, không có một đấng quyền năng hay một phép lạ nào làm cho ta thành Phật hay thành ma. Trong thiền sử Trung Hoa có câu chuyện hết sức thú vị cũng nói về ma với Phật. Cư sĩ Tô Đông Pha một hôm đến chùa Kim Sơn để đàm đạo với thiền sư Phật Ấn.

Cư sĩ hỏi này thiền sư, ngài thấy tôi giống cái gì?

Ô, ông rất trang nghiêm, trông giống Phật hết sức.

Tô Đông Pha nghe xong cảm thấy hưng phấn và tâm đắc vô cùng.

Thiền sư Phật Ấn mới hỏi lại cư sĩ, ông thấy tôi giống cái gì?

Trông thiền sư giống một đống phân bò.

Thiền sư nghe xong, mà chỉ mỉm cười.

Cô em gái cắc cớ hỏi, hôm nay anh đánh cờ thắng thiền sư hả ?

Đâu phải, chuyện này mới quan trọng chớ. Anh đối đáp lý thiền. Cái lão già ấy không còn lý lẽ để nói, đành câm miệng lại.

Nghe kể xong, biết anh mình bị thất bại mà không biết. Anh thua rồi anh ơi.

Thua chỗ nào, em nói nghe coi.

Tâm của thiền sư như tâm Phật, cho nên nhìn anh chẳng khác gì Phật. Còn tâm anh như đống phân bò, cho nên nhìn thiền sư giống như phân bò.

Tô Đông Pha nghe nói vậy lấy làm hổ thẹn, vì biết mình hiểu thiền chỉ trên đầu môi chót lưỡi. Thiền sư, mới đúng thật là thiền sư.

Thiền không phải là hiểu biết suông, mà cần phải vận dụng vào trong thực tế đời sống hằng ngày. Không phải biện luận giỏi là trí tuệ sáng suốt Tô Đông Pha cứ nghĩ rằng đối đáp trôi chảy là chứng ngộ lý thiền, nhưng tâm ông ta còn ma mị nhiều quá thấy cái gì cũng đen tối hết, do đó cống cao ngã mạn sinh tâm coi thường Thiền sư. Nào ngờ mình chỉ hiểu thiền trong kiến thức tối đen, vậy mà dám ngông nghênh coi thường thiên hạ. Quả thật Tô Đông Pha có mắt như mù, may nhờ có cô em gái lanh lợi nên chặt cho anh ta một phát, bao nhiêu hiểu biết suông đều rơi rụng hết.

Trong cuộc hành trình trở về đất Phật, không phải ai cũng dễ dàng lãnh hội và sống được với chính mình. Tâm ta ma thì thấy ai cũng ma, tâm ta Phật thì thấy bầu trời quang đảng và trong sáng không ngần mé. Khi mới sinh ra con người bản tính vốn thiện, khi bắt đầu lớn lên tiếp xúc với cuộc đời thì nó sẽ phát triển theo hai hướng tốt hoặc xấu. Được thân cận gần gũi bậc thiện tri thức, thì con người có thể có một nhân cách sống đạo đức chừng mực và đi theo chiều hướng tốt đẹp. Ma hay Phật ngay nơi một tâm niệm, tâm thanh tịnh sáng suốt thì thấy biết rõ ràng không sai lệch và ngược lại thì thấy biết chạy theo điên đảo vọng tưởng vậy.

Muốn vượt qua phải trái cuộc đời, người con Phật cần nắm vững các nguyên tắc sau đây để làm kim chỉ nam trong cuộc sống.

Tình thương yêu là nguồn an ủi vô biên, giúp chúng sinh vượt qua biển khổ sông mê, song tình thương thế gian hoàn toàn còn giới hạn trong phạm vi gia đình nhỏ hẹp hoặc lớn hơn là đối với một đất nước. Chúng ta có một người bạn tốt để giúp con người vượt qua phải trái cuộc đời đó là từ, bi, hỷ, xả. Người bạn này luôn sát cánh và kề cận bên ta, chỉ vì chúng ta chẳng chịu thừa nhận nên lãng quên, đó thôi.

Từ có nghĩa là ban vui, Bi là cứu khổ. Từ bi là đem niềm vui đến và chia sẻ nỗi đau của nhân loại, bình đẳng không phân biệt kẻ oán người thù. Lòng từ này bao la không ngần mé, nên nó không giới hạn ở con người hay muôn vật.

Trong bài thơ của vua Trần Nhân Tông, có nói lên việc phải trái cuộc đời, giống như gió thoảng mây bay. Sau khi từ bỏ ngai vàng giao lại cho con, Ngài lên núi tu tập cảm nhận được niềm vui thật sự, do biết buông xả việc đời, nên tâm ngài thanh tịnh trong sáng mà cảm tác bài kệ:

Phải trái rụng theo hoa buổi sớm.

Danh lợi lạnh với trận mưa đêm.

Hoa tàn mưa tạnh non im vắng.

Xuân cỗi còn nguyên một tiếng chim.

( Hòa Thượng Thanh Từ dịch )

Việc đời lúc nào cũng như thế, không bao giờ có được những giây phút bình yên, hết chuyện này đến chuyện kia, việc phải, việc trái, việc đúng, việc sai, việc tốt, việc xấu, việc hơn, việc thua, suốt ngày cứ như thế và lúc nào cũng có mặt trong cuộc sống. Vua Trần Nhân Tông khi còn ở ngai vàng, mỗi ngày phải tiếp xúc và giải quyết biết bao chuyện thị phi phải quấy của thế nhân, thân thì sống hưởng đầy đủ lạc thú trên trần gian muốn gì được nấy, nhưng tâm thì phải bận rộn lo toan đủ thứ mọi chuyện rắc rối trong cuộc đời.

Giờ đi tu rồi cảm thấy hạnh phúc, an lạc, thảnh thơi, không còn bị dòng đời lôi cuốn và chi phối nữa, nên tâm tư ngài trong sáng thanh tịnh nhận biết rõ ràng bản chất thực hư của cuộc đời. Nếu chúng ta không thấy rõ được bản chất thực hư của nó, suốt ngày cứ dính mắc vào đó, để rồi gây thêm phiền muộn khổ đau cho nhau. Ngài thấy rõ ràng những niệm phải quấy, hơn thua, giống như những cánh hoa rơi rụng buổi sáng vậy. Bởi bản chất của hoa là sớm nở tối tàn nó không thực có, thấy phải thấy quấy là theo cách nhìn của người đời, vậy thì chúng ta chấp mắc vào đó làm chi cho thêm phiền muộn khổ đau. Còn tâm danh lợi cũng lạnh theo đám mưa đêm.

Ở đời ai cũng cầu mong làm sao có danh vọng địa vị lớn trong xã hội, đã có danh vọng thì quyền lực nắm trong tay và quyền lợi cũng được đi kèm theo, do đó khó có ai đủ can đảm để buông bỏ. Nhưng ông vua thiền sư Việt Nam Phật hoàng Trần Nhân Tông xem ngai vàng như dép rách, dám từ bỏ hết tất cả để lên núi tu hành. Còn chúng ta bây giờ có gì đâu, vậy mà cứ ôm hoài rồi than phân trách phận, đổ thừa tại bị thì là…. thật là đáng tội nghiệp quá chừng.

Thiền sư khi tu hành viên mãn rồi, thấy việc đời giống như những chiếc lá rơi, không có gì phải bận tâm lo lắng nên tham sân si, mạn, nghi, ác kiến không còn khả năng chi phối được nữa. Nhưng không phải đến đây là hết, không phải là gỗ đá, không phải là vật vô tri, không phải là không biết gì mà:

“ Hoa tàn mưa tạnh non im vắng,

Xuân cỗi còn nguyên một tiếng chim”.

Vẫn còn lại cái biết sáng suốt hằng giác, hằng tri, chứ đâu phải không còn gì hết. Cái biết này ngay nơi mắt vẫn nhìn thấy rõ ràng, xanh biết xanh, đỏ biết đỏ, vàng biết vàng, nhưng không bị nó làm biến dạng, làm méo mó, nó như thế nào thấy như thế đó, nên không dính mắc và bám víu vào một thứ nào hết, do đó cuộc sống khỏe ru, à. Có gì phải bận rộn lo lắng để dẫn đến khổ đau. Tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng lại như thế. Thiền sư nhìn đời như vậy đó, an lạc thảnh thơi làm sao đâu chỗ này tiền bạc, danh vọng, quyền lực có mua được không? Khi làm vua ngài có thiếu cái gì đâu, nếu không có an lạc và hạnh phúc thật sự, thì làm sao ngài nói lên được như thế và dám từ bỏ hết tất cả quyền lực thế gian!

Ngài tu một thời gian cảm nhận được đạo lý chân thật rồi xuống núi, khuyên mọi người hãy phá bỏ những tập tục mê tín dị đoan làm con người mất tự chủ, tự do trong cuộc sống. Ngài khuyên mọi người nên lánh ác làm lành, tin sâu nhân quả, làm lành được hưởng phước, làm ác chịu khổ đau, không ai có quyền ban phước giáng họa, chính mình là đấng tối cao của bao điều họa phúc. Cho nên chúng ta phải có trách nhiệm và bổn phận, yêu thương đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau trên tinh thần vô ngã vị tha.

Muốn vậy, người con Phật phải phát nguyện gìn giữ năm điều đạo đức. Không giết hại, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối hại người, không uống rượu say sưa và nghiện xì ke, ma túy và đưa các độc tố có hại vào cơ thể. Không giết người và hạn chế tối đa việc giết hại súc vật. Nhất là những tập tục giết hại súc vật để cúng tế quỷ thần, cúng tế thần linh. Người ưa giết hại có lòng từ bi hay không? Chắc chắn là không rồi, đã không có lòng từ bi thì làm sao giúp người cứu vật được. Phật đã mở cho chúng ta con đường sáng để vượt qua si mê tối tăm, đã thương thì không giết, đã giết thì không thương, người con Phật cần phải hiểu thấu đáo chỗ này để không bị lầm lẫn. Không được gian tham trộm cướp vậy trộm cướp có từ bi hay không? Dĩ nhiên là không rồi. Tài sản của cải làm ra được bằng công sức khó khổ của mình, thức khuya dậy sớm chắt chiu dành dụm từng ly, từng tí, làm mà chẳng dám ăn xài hoang phí. Đùng một cái, mọi thứ đều đội nón ra đi hỏi sao không buồn đau cho được!

Lòng từ bi là một chất liệu sống không thể thiếu trên cõi đời này, người sống với tâm từ nhờ đó thanh lọc và chuyển hóa những mưu sâu kế độc toan tính hại người, hại vật. Một người tu tâm từ, người người tu tâm từ thì thế gian này tràn ngập tình yêu thương. Nhân loại sẽ tránh được khổ đau do tâm từ được trải rộng ra, nên thế giới bớt xung đột, tranh chấp, hận thù và chiến tranh sẽ không bao giờ có mặt. Uống rượu say sưa, nghiện ngập ma túy và dùng các chất kích thích có hại cho sức khỏe, làm hủy diệt sự sáng suốt của con người, là căn bệnh trầm kha của thế kỷ thứ 21 này. Như thế, nhiều người dùng những thứ đó có từ bi không, hay đang lần hồi hủy diệt sự sống của con người đến bờ vực thẳm.

Đó là một trong những vấn nạn lớn nhất làm đau đầu thế giới con người. Lịch sử thời hoàng kim của đời Trần Việt Nam là một minh chứng hùng hồn, đã biết áp dụng tâm linh vào cuộc sống nên con người sống với nhau hiểu biết và thương yêu hơn. Không có những tệ nạn xã hội trầm trọng như ngày hôm nay, lòng từ bi luôn đi kèm với trí tuệ, mới có thể cứu giúp được nhân loại thoát ra chỗ si mê tối tăm bao đời kiếp. Niềm vui đích thực là biết cho ra, mà không đòi hỏi để được nhận lại, hoàn toàn không có tính vị kỷ bám víu của sự chấp ngã, mới thật sự bền vững và lâu dài.

Vậy chúng ta ứng dụng tu từ bi tâm bằng cách nào? Thứ nhất là quán tình thương thấy ai cũng là người thân, người thương của mình. Đã thương thì không oán trách, giận hờn, ghét bỏ, nhờ vậy chúng ta dễ dàng bao dung và tha thứ. Cứ mỗi ngày, sáng sớm thức dậy chúng ta nguyện cầu cho tất cả chúng sinh luôn được sống yêu thương và hiểu biết, dấn thân và phục vụ, với tinh thần vô ngã vị tha. Mỗi ngày sáng, trưa, chiều, tối, đều nên quán chiếu và cầu nguyện như vậy thì tâm từ bi của chúng ta ngày càng thêm rộng lớn.

Cách quán thứ hai thấy ai cũng là cha mẹ của mình, thường thì ai cũng kính trọng và yêu thương cha mẹ hết. Nên, quán tất cả chúng sinh là cha mẹ của mình, vì ân cha mẹ khó đáp đền công sinh thành dưỡng nuôi khó nhọc cho nên ai cũng thương yêu hiếu kính với cha mẹ, do đó không gây buồn phiền giận dỗi nên không làm đau khổ cho nhau. Nếu cuộc sống này tất cả mọi người đều như vậy hết, thì còn gì sung sướng và hạnh phúc cho bằng.

Tu tập lòng từ bi rất khó vì nó đi ngược lại lòng tham lam, sân giận, si mê của mọi người, muốn vậy trước tiên ta phải tập cảm thông nỗi khổ niềm đau của tất cả chúng sinh. Đầu tiên chúng ta tập cảm thông với người thân trước, kế đến những người cùng chung làm việc, rồi đến những người xa lạ không quen biết, cuối cùng là kẻ oán thù chuyên làm hại mình và tất cả muôn loài. Tập dần như vậy cho đến khi nào viên mãn mới thôi. Muốn được như thế chúng phải cố gắng buông xả tâm hại người hại vật, mở rộng tấm lòng bố thí cung kính cúng dường, giúp đỡ chia sẻ khi gặp người khó khăn hoạn nạn.

Đạo Phật là đạo của từ bi luôn mang yêu thương đến với muôn loài và sẵn sàng chia sẻ những nỗi khổ niềm đau, hầu giúp cho tất cả chúng sinh vượt qua biển khổ sông mê. Kính chúc mọi người luôn đem nước mát từ bi trải rộng khắp thế gian này, để tất cả chúng ta được sống yêu thương và hiểu biết.
_______________

Thích Đạt Ma Phổ Giác

Nguồn: thuvienhoasen.org

SỐ PHẬN NHỮNG TÔN THẤT NHÀ TRẦN ĐẦU HÀNG QUÂN NGUYÊN

Sau khi quân Mông Cổ chinh phục khắp thế giới từ Á sang Âu, rồi nhà Nguyên được lập ra. Quân Nguyên Mông chuẩn bị lực lượng tiến xuống Đại Việt. Trước sức mạnh quân Nguyên, nhiều Hoàng thân quốc thích nhà Trần đã đầu hàng, số phận của họ sau này ra sao?

 

Nhà Trần có những người quyết chống giặc đến cùng để bảo vệ Giang Sơn,

cũng có kẻ sợ hãi đầu hàng giặc. (Tranh minh họa của họa sĩ Đức Hòa trong bộ

“Lịch sử Việt Nam bằng tranh” – Sử dụng dưới sự đồng ý của tác giả)


Trần Di Ái: Chú vua Trần Thánh Tông

 

Năm 1281, hoàng đế nhà Nguyên đòi vua Trần Nhân Tông phải sang chầu, vua Trần lấy cớ khước từ không sang, hoàng đế Nguyên gửi thư nói: “Nếu vua nước Nam không sang chầu được thì phải đưa vàng ngọc sang thay, và phải nộp hiền sĩ, thầy âm dương bói toán, thợ khéo mỗi hạng 2 người “.

 

Thượng hoàng Trần Thánh Tông liền đưa chú của mình là Trần Di Ái cùng Lê Tuân và Lê Mục sang thay. Nhưng hoàng đế Nguyên không bằng lòng, muốn lập ngay bộ máy cai trị Đại Việt, bèn xuống chỉ lập tòa Tuyên phủ ti, đặt quan liêu thuộc để sang giám trị các châu huyện. Thế nhưng khi quan nhà Nguyên đến nơi, nhà Trần không chấp nhận và đuổi về.

 

Hoàng đế Nguyên tức tối bèn phong Trần Di Ái làm An Nam quốc vương, phong cho Lê Mục làm Hàn lâm học sĩ, Lê Tuân làm Thượng thư rồi đưa về nước cùng lá thư cho vua Trần: “Ngươi cáo bệnh không vào chầu, nay cho người được nghỉ để thuốc thang điều dưỡng. Ta lập chú ngươi là Di Ái thay ngươi làm quốc vương An Nam cai quản dân chúng”

 

Trần Di Ái cũng mừng thầm, hy vọng dựa vào sức mạnh của quân Nguyên thì mình sẽ được làm vua, còn nếu không được thì sẽ viện lý do bị ép. Hoàng đế Nguyên là Hốt Tất Liệt sai Bột Nham Thiết Mộc Nhi cùng Sài Thung đưa 1.000 quân cùng Trần Di Ái về nước.

 

Khi Trần Di Ái đến ải Nam Quan, tin lập tức báo về kinh thành. Vua Trần Nhân Tông sai tướng đón đánh đội quân này, quân Nguyên bị đánh tan, Sài Thung bị trúng tên mù một mắt. Trần Di Ái bị bắt sống đưa về triều, được tha tội chết nhưng phải làm lính hầu ở phủ Thiên Trường, suốt đời không dám ngẩng mặt lên nhìn ai.

 

Trần Kiện: Cháu nội vua Trần Thái Tông

 

Năm 1285, nhà Nguyên đem quân xâm lược Đại Việt lần thứ hai. Phía Bắc Thoát Hoan cùng A Lý Hải Nha thống lĩnh 50 vạn đại quân tiến sang.

 

Lúc này cánh quân 20 vạn của Toa Đô bị sa lầy ở Chiêm Thành được lệnh từ phía Nam tiến đánh vùng Thanh Hóa – Nghệ An. Tháng Giêng năm 1285, Trấn thủ Thanh Hóa là Trần Kiện (con Trần Quốc Khang, cháu nội vua Trần Thái Tông) đem toàn gia quyến đầu hàng. Trần Kiện cũng chỉ điểm cho quân Nguyên khiến quân Đại Việt nhiều trận bị thiệt hại.

 

Trần Kiện đầu hàng khiến phía Nam bị bỏ ngỏ, Trần Quang Khải được lệnh

thống lĩnh quân đến phía Nam chặn Toa Đô. Tranh minh họa của họa sĩ Đức Hòa

trong bộ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” – Sử dụng dưới sự đồng ý của tác giả)


Tháng 4 năm 1285, Thoát Hoan sai quân hộ tống Trần Kiện cùng các tôn thất nhà Trần đã đầu hàng về Bắc diện kiến hoàng đế Nguyên là Hốt Tất Liệt.

 

Thế nhưng đến ải Chi Lăng, toán quân này bị quân Đại Việt phục kích vây đánh. Trần Kiện phá vòng vây chạy lên phía trước lại bị toán dân quân đón đánh. Gia tướng của Hưng Đạo Vương là Nguyễn Địa Lô dùng tên bắn chết Trần Kiện trên lưng ngựa.

 

Trần Văn Lộng: Cháu của Thái sư Trần Thủ Độ

 

Trần Văn Lộng là cháu của Thái sư Trần Thủ Độ, được cử làm tướng trấn giữ vùng Tam Đái. Năm 1284 quân Nguyên tiến đánh, Văn Lộng đem cả gia quyến ra đầu hàng rồi mang quân tấn công lại quân Đại Việt.

 

Thế nhưng kết quả Đại Việt đại thắng, Trần Văn Lộng phải chạy trối chết sang Trung Quốc, sau này được làm quan rồi chết nơi đất khách quê người.

 

Hoàng tử Trần Ích Tắc: Con vua Trần Thái Tông

 

Trần Ích Tắc là hoàng tử thứ năm, con của vua Trần Thái Tông, em vua Trần Thánh Tông, vốn là người giỏi văn hay chữ chứ không giỏi võ. Khi Giang Sơn bị nhà Nguyên dòm ngó, các võ tướng được coi trọng, vì thế mà Trần Ích Tắc không được xem trọng. Ông bất phục các hoàng tử khác, đặc biệt là Trần Hoảng (sau này được lên ngôi vua hiệu là Trần Thánh Tông).

 

Thấy mình tài giỏi mà không được xem trọng, văn tài giỏi nhất nhưng lại không được lên ngôi vua, Trần Ích Tắc rất bất bình. Khi quân Nguyên chuẩn bị tiến đánh Đại Việt lần thứ hai, Trần Ích Tắc thấy đây là cơ hội tốt nhất để có thể lên ngôi vua, nên thông qua các lái buôn ở Vân Đồn đưa thư đầu hàng giặc.

 

Khi quân Nguyên tiến sang, Trần Ích Tắc được cử đưa quân trấn giữ miền Đà Giang. Khi quân Nguyên đến, Ích Tắc đưa toàn bộ gia quyến đến đầu hàng và được phong là An Nam Quốc Vương.

 

Thế nhưng Đại Việt đã giành chiến thắng khiến âm mưu lên ngôi vua của Ích Tắc sụp đổ, Trần Ích Tắc sang sống và mất ở Trung Quốc.

 

Sách Đại Việt Sử ký Toàn thư có ghi chép rằng: “Đến nay, người Nguyên vào cướp, Ích Tắc xin hàng chúng để mong làm vua. Người Nguyên phong là An Nam Quốc Vương. Sau khi người Nguyên thất bại, Ích Tắc lòng hổ thẹn, chết ở đất Bắc“.

 

Tại Đại Việt, nhà Trần loại Trần Ích Tắc ra khỏi tông thất, đặt tên là Ả Trần, vĩnh viễn không còn liên hệ huyết thống với con cháu của Trần Ích Tắc sau này.

 

Sau này con trai của Ích Tắc là Trần Hữu Lượng tham gia cuộc khởi nghĩa chống lại quân Nguyên ở Trung Quốc, chiếm được cả một vùng rộng lớn, lên ngôi Hoàng Đế, đặt quốc hiệu là Đại Hán, niên hiệu là Đại Nghĩa (Xem bài: Hậu duệ nhà Trần của Đại Việt trở thành Hoàng đế Trung Hoa?).

 

Trong cuộc chiến với Chu Nguyên Chương, Trần Hữu Lượng gặp bất lợi, nhiều lần muốn giảng hòa với nhà Trần nhưng đều bị cự tuyệt. Năm 1363, Trần Hữu Lượng tử trận trong trận đánh ở hồ Bà Dương.

 

Nhà Trần luận tội hàng tướng. (Ảnh từ nghiencuulichsu.com)


Tổng kết lại, trong cuộc chiến chống quân Nguyên, trước thế giặc hùng mạnh, rất nhiều người dao động sợ hãi mà bí mật âm thầm viết thư xin hàng quân Nguyên.

 

Về số phận của những người này, Đại Việt Sử ký Toàn thư có ghi chép như sau: “Năm [1289], tháng 5, sau khi đánh thắng quân Nguyên lần thứ ba, bắt được cả một hòm biểu xin hàng. Thượng hoàng [Trần Thánh Tông] sai đốt hết đi để yên lòng những kẻ phản trắc. Chỉ có kẻ nào đầu hàng trước đây, thì dẫu bản thân ở triều đình giặc, cũng kết án vắng mặt, xử tội đi đày hoặc tử hình, tịch thu điền sản, sung công, tước bỏ quốc tính”.

_____________

Trần Hưng

Nguồn: https://trithucvn.net/

ĐÔI NÉT VỀ TAM TỔ HUYỀN QUANG

Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là một dòng thiền mang bản sắc của dân tộc Việt Nam, sức sống của nó đã vang vọng vào cuộc đời, thắp sáng ngọn đèn “phản quan tự kỷ”, đồng thời soi đường cho những ai còn lạc bước lợi danh. Từ trên đỉnh núi Yên Tử hùng vĩ, vẫn còn thoáng hiện đâu đó, một bóng người lặng lẽ lên núi, bỏ lại sau lưng những áo mão cân đai, thoát ra khỏi ngục tù hoàng cung, cắt đứt những buộc ràng của cung tần mỹ nữ. Thế rồi, giữa sự u tịch của cuộc sống núi rừng, giữa sự giá buốt của bầu trời đêm đông, vua Trần Nhân Tông đã tỏa sáng như vì sao, nhận ra chính mình rõ suốt xưa nay, từ đó làm nên trang sử thiền vẻ vang cho dân tộc.

 

 

Trong lúc cuối đời, Sơ Tổ Trúc Lâm đã đem mạng mạch của dòng thiền Trúc Lâm truyền trao cho Nhị Tổ Pháp Loa. Từ một cậu bé sinh ra trong làng quê Cữu La tỉnh Hải Dương, từ một chàng thanh niên trưởng thành bên dòng sông Nam Sách, để rồi hoá thân làm chú sa di theo hầu Sơ Tổ. Không ai có thể ngờ được, Chú sa di này lại có thể biến thành bậc long Tượng của Thiền môn. Qua mấy lần thưa thỉnh, trải mấy phen trình kệ, chú đã được Sơ Tổ phủi sạch tri kiến, dồn vào lối cụt, buộc phải tự tham. Lúc đó đầu óc chú nặng trĩu, vì không tìm ra giải đáp, nghi tình đóng băng, thức tình chết lặng, màng đêm đã phủ xuống, rét buốt lại bao trùm. Không gian lúc nữa đêm dường như thu nhỏ, thời gian trong nhịp canh tàn chợt đứng yên. Đúng vào lúc giao thoa của đất trời, bông đèn tàn bỗng rụng xuống, chú sa di vén sạch mây mù, triệt ngộ bản tâm, xứng đáng trở thành Nhị Tổ, kế thừa sự nghiệp của thiền phái Trúc Lâm.

 

Sau đó, Thiền sư Pháp Loa đem cả vận mạng của Tông phái, giao lại cho Tam tổ Huyền Quang. Lúc đầu Sư xuất gia tu hành làm thị giả cho Sơ Tổ, được pháp hiệu là Huyền Quang. Y theo lời phó chúc của Sơ tổ sư theo hầu nhị Tổ Pháp Loa. Về sau Sư làm trụ trì ở chùa Vân Yên (nay là chùa Hoa Yên) trên núi Yên Tử, vì ngưỡng mộ sở học uyên bác của Sư, học chúng ở bốn phương tụ hội về tham vấn rất đông.

 

Thế rồi trời nổi cuồng phong, đất dấy bụi bặm, lòng người khởi hoài nghi, khiến sư phải một phen điêu đứng. Vì muốn thử lòng Sư còn vẩn đục hay không, vua Minh Tông sai Điểm Bích tìm đủ cách khiêu gợi nhưng chẳng thể nào khiến Sư khởi tâm tà, cuối cùng Điểm Bích đã dùng man kế lợi dụng lòng từ bi của Sư, rồi về triều tâu dối với vua, khiến cho Sư mang tai tiếng với nữ sắc. Nhưng sau cuộc lễ chẩn tế của Sư, thấy sự linh nghiệm lạ thường, nhà Vua không còn nghi ngờ.

 

Mặc dù sau cuộc lễ chẩn tế, hiển bày những linh nghiệm, Vua Minh Tông chẳng còn nghi ngờ đối với Sư, nhưng thế hệ ngày nay vẫn đặt nghi vấn. Vì sao sự trong sạch của Sư lại phải dựa vào cuộc lễ chẩn tế mang đầy màu sắc thần bí? Nếu thật như thế có trái ngược với tông chỉ thiền phái Trúc Lâm hay không? Ở phương diện khác, trong sử liệu lại không có nhắc đến thời kỳ ngộ đạo, chỉ khen ngợi Sư là người quảng học đa văn. Thế thì trọng trách kế thừa Tổ vị của Sư không phải bắt đầu từ sự khai ngộ, mà là sự uyên thâm Phật học. Còn một vấn đề nữa hết sức nan giải, đó là sau thời kỳ Tam Tổ Huyền Quang, trong sử liệu không có nhắc đến sự trao truyền y bát, kế thừa tâm tông. Khiến cho sự truyền đăng tục diệm dường như tắt lịm. Nguyên nhân đứt đoạn việc truyền thừa là do ai?

 

Những học giả cận đại có nhận xét tương đối khách quan. Họ cho rằng Nhị Tổ Pháp Loa đã đem trọng trách vô cùng nặng nề, đặt lên vai của một cụ già 77 tuổi, thì làm sao có thể đảm đương việc kế thừa tông phong một cách chu toàn, làm sao có thể thắp sáng ngọn tâm đăng cho thế hệ mai sau khi mà sức cùng lực tận?

 

Nhưng nếu chỉ có một chuyện này sẽ không đủ sức làm sáng tỏ vấn đề vì sao dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử đến đời thứ ba thì không có người kế thừa. Phải chăng vào thời điểm đó không có ai ngộ đạo? Hoàn toàn không đúng! Bởi vì sau ngài Huyền Quang còn có Quốc sư An Tâm, Quốc Sư Tĩnh Lự, Quốc Sư Vô Trước… Nhưng tại sao trong sử liệu không ghi chép về việc kế thừa Tổ vị? Phải chăng vấn đề này có liên quan đến ý thức hệ tôn giáo, và còn nhiều việc phức tạp khác, chúng ta cần phải tìm hiểu cho thấu đáo.

 

Trong quyển “Tam Tổ Trúc Lâm giảng giải”, Hòa Thượng có giải thích lý do vì sao đến ngài Huyền Quang khiến cho dòng thiền Trúc Lâm xem như chấm dứt?

 

Lý do thứ nhất thiền sư Huyền Quang được ngài Pháp Loa trao tâm kệ và y bát, để nhận trách nhiệm làm tổ thứ ba của hệ phái Trúc Lâm, lúc đó Ngài đã 77 tuổi. Một người đã vượt qua ngưỡng cửa 70 sẽ cảm thấy vô cùng mệt mỏi đối với công việc, nhất là phải gánh vác trọng trách của một người lãnh đạo Tăng đoàn. Ngài than trong bài kệ “Nhân sự đề cứu lan tự ”.

 

Âm:

Đức bạc thường tàm kế Tổ đăng,

Không giao Hàn Thập khởi oan tăng.

Tranh như trục bạn qui sơn khứ,

Điệp chướng trùng sơn vạn vạn tằng.

 

Dịch:

 

Đức mỏng thẹn mình nối Tổ đăng,

Luống cho Hàn Thập dấy hờn căm.

Chi bằng theo bạn về non quách,

Núi chất chập chùng muôn vạn tầng.

(Trích thơ trong “Tam tổ Trúc Lâm giảng giải”)

 

Trong bài kệ này, Ngài tự cho rằng không xứng đáng kế thừa Tổ đăng, khiến cho hai vị Hàn Sơn, Thập Đắc nổi giận, thôi thì theo bạn về núi tu hành, nơi đó có núi chập chùng cao muôn vạn tầng. Đó là tâm trạng mệt mỏi của một người khi nhận một trách nhiệm quá lớn. Tuổi càng lúc càng già, sức khỏe càng lúc càng cạn kiệt, cho nên ngao ngán muốn giao lại cho người khác để về núi ẩn tu.

 

Lý do thứ hai là vào thời điểm đó vua Trần Nhân Tông xuất gia, cho nên dân chúng rất quý trọng chư tăng, chính vì như thế, khi người nào gặp cảnh khó khổ, cũng thích vào chùa tu cho đỡ vất vả. Sử ghi năm 1344 do mất mùa đói rét nên có 6129 người đi tu. Như vậy, người tu không có chí thoát trần cầu thành Phật, mà tu để lánh nạn đói thiếu nên trở thành tệ nạn trong chốn thiền môn.

 

Lý do thứ ba là vào thời điểm đó đang có sự tranh chấp ý thức hệ giữa Phật và Nho. Cuối đời Trần các Nho sĩ đã giữ những chức vụ quan trọng trong triều đình. Lúc đó tình hình Phật giáo đang trên đà xuống dốc, phía Đạo Nho thường vạch ra cho nhà vua thấy điều xấu tệ của những người theo Phật giáo. Từ đó nhà vua mất niềm tin, uy tín Phật giáo xuống thấp.

 

Lý do thứ tư, Vua là vị tổ sáng lập ra thiền phái Trúc Lâm, như vậy Phật giáo phát triển là nhờ vào thế lực của nhà Trần. Nhưng khi chuyển qua nhà Hồ thì Phật giáo hết chỗ dựa. Cho nên những vị tăng được giao trách nhiệm lo cho giáo hội Trúc Lâm thời đó đành phải ẩn trong rừng núi, thành ra hệ phái này không ai nhắc đến. Mặt khác, Phật giáo cũng có những kỳ tích đáng được đưa vào sử liệu, nhưng các nhà viết sử không có công tâm ghi chép.

 

Như vào niên hiệu Vĩnh Trị, năm 1678 Vua Lê Hy Tông ra lệnh đuổi hết Tăng Ni về núi rừng. Ngài Tông Viễn biết được tin này, liền rời chốn thâm sơn đến đất thần kinh tìm cách cảnh tỉnh nhà vua, cứu vãn Phật giáo qua cơn pháp nạn. Ngài đã dùng phương tiện dâng ngọc quí để vua Lê hồi tâm thức tỉnh. Sau cùng vua Lê cũng nhận ra được lỗi lầm của mình, tự nghĩ Đạo Phật là viên ngọc quí, chẳng lẽ trong nước không biết dùng. Tăng Ni hay khuyên người làm thiện tại sao lại vất bỏ đi? Người đem Phật pháp khai hoá dân chúng cũng là giúp cho triều đình trị dân. Sau đó nhà vua xem ngài Tông Viễn như một Quốc Sư, thu hồi lệnh trước kia, để Tăng Ni trở về bổn tự của mình, tùy duyên giáo hóa. Đồng thời nhà vua còn phát tâm tạc hình của mình quì mọp để tượng Phật trên lưng, một hình thức sám hối được truyền tụng đến ngày nay. Hình ảnh hiện còn thờ tại chùa Hồng Phúc (tức chùa Hòe Nhai).

 

Thế nên, sử liệu của Phật giáo vào đời Lê rất nghèo nàn, một phần do các nhà viết sử không ghi chép, một phần do nhà Minh trong lúc cai trị nước ta đã thiêu hủy gần hết. Người sau nghiên cứu Phật Giáo, cứ đinh ninh Thiền Phái Trúc Lâm dường như đã chấm dứt, nhưng trên thực tế, sau Tam Tổ Huyền Quang vẫn còn những bậc thạc đức chân tu. Trong sách Đại Nam Thiền Uyển Truyền Đăng Tập Lục (quyển hai), Hòa Thượng Phúc Điền ghi lại 23 vị tổ Trúc Lâm Yên Tử được truyền thừa:

 

1. Hiện Quang Tổ Sư

2. Viên Chứng Quốc Sư.

3. Đại Đăng Quốc Sư.

4. Tiêu Dao Tổ Sư.

5. Huệ Tuệ Tổ Sư.

6. Nhân Tông Tổ Sư.

7. Pháp Loa Tổ Sư

8. Huyền Quang Tổ Sư.

9. An Tâm Quốc Sư.

10. Tĩnh Lự Quốc Sư.

11. Vô Trước Quốc Sư.

12. Quốc Nhất Quốc Sư.

13. Viên Minh Tổ Sư.

14. Đạo Huệ Tổ Sư.

15. Viên Ngộ Tổ Sư.

16. Tổng Trì Tổ Sư.

17. Khuê Thám Quốc Sư.

18. Sơn Đằng Quốc Sư.

19. Hương Sơn Đại Sư.

20. Trí Dũng Quốc Sư.

21. Tuệ Quang Tổ Sư.

22. Chân Trú Tổ Sư.

23. Vô phiền Đại Sư.

 

Căn cứ vào sự truyền thừa này, sau Tam Tổ Huyền Quang vẫn còn 15 đời nữa, chứ không phải là chấm dứt như bao nhiêu người đã nhận xét. Bởi vì bối cảnh lịch sử lúc đó không cho phép các Ngài xuất đầu lộ diện tự nhận là kế thừa Tổ vị của dòng thiền Trúc lâm. Thêm vào đó, trải qua thời kỳ chiến tranh sử liệu bị mất mác thất lạc, cho nên chúng ta không thể nào thấy được sự truyền thừa liên tục rõ ràng. Tài liệu cổ xưa mà hiện nay các nhà nghiên cứu thường y cứ vào, đó là quyển “Tổ Gia Thực Lục”. Nhưng quyển sách này không ghi chép ngài Huyền Quang xuất gia với ai vào lúc nào, lý do ngộ đạo và khoảnh khắc được truyền tâm ấn ra sao? Thậm chí những lời khai thị chúng tăng, cho đến cuối đời Ngài đã truyền tâm ấn cho ai, đều không thấy nhắc đến. Câu chuyện ngài Huyền Quang làm lễ chẩn tế xuất hiện những thần bí, cũng từ trong quyển sách này trích dẫn ra. Cho nên trong quyển “Tam Tổ Trúc Lâm Giảng Giải” Hòa Thượng Trúc Lâm Phụng Hoàng đã nhận xét: “bản Tổ Gia Thực Lục này, có lẽ do người trong gia tộc biên soạn, chớ không phải là một đệ tử kế thừa ghi lại ngữ lục của Thầy.”

 

Qua lời khai thị của Hòa Thượng, chúng ta có thể cảm nhận một Tam Tổ Huyền Quang không còn bị ngộ nhận vì sao không đem tâm tông truyền lại cho đời sau. Một Thiền phái Trúc Lâm thuần túy Phật giáo, không pha trộn tín ngưỡng của dân gian, không bị mờ nhạt bởi truyền thống ngàn đời của gia tộc, mà nó vẫn còn lan tỏa đến hôm nay. Bởi vì sự ghi chép sử liệu trong “Tổ Gia Thực Lục” mang đầy tính gia tộc dân gian, chứ không phải là một người đệ tử ghi lại Ngữ lục của Thầy, nên hành trạng của Thiền sư mà lại không ghi lý do ngộ đạo và lời khai thị, mà chỉ ca ngợi việc quảng học đa văn, chú trọng những điều thần bí. Mặc dù trong quyển “Tổ Gia Thực Lục” không có ghi lại khoảnh khắc ngộ đạo của Tam Tổ Huyền Quang, nhưng chúng ta thử đọc bài thơ của Ngài.

 

(Hoa tại trung đình, nhân tại lâu,

Phần hương độc tọa tự vong ưu.

Chủ nhân dữ vật hồn vô cạnh,

Hoa hướng quần phương xuất nhất đầu)

 

Dịch:

 

Người ở trên lầu hoa dưới sân,

Vô ưu ngồi ngắm khói trầm xông.

Hồn nhiên người với hoa vô biệt,

Một đóa hoa vừa mới nở tung.

 

(Trích Tam Tổ Trúc Lâm Giảng Giải, Nguyễn Lang dịch thơ.)

 

Nội dung của bài thơ này, diễn tả người và cảnh không khác biệt, thể hiện tâm và cảnh nhất như, lúc đó một đóa hoa vừa nở. Đóa hoa này đâu chẳng phải là cái nhìn của người đã khai ngộ.

 

Tóm lại, Thiền phái Trúc Lâm truyền đến Tam Tổ Huyền Quang thì trong sử liệu không nhắc đến người kế thừa Tổ vị. Nhưng sức sống của Thiền phái Trúc Lâm vẫn luôn cuộn chảy như dòng sông xuôi về biển cả, vẫn còn đó những hành trạng đã vang bóng một thời, vẫn còn đó những chứng tích vẻ vang của một triều đại từng chấn hưng Phật giáo. Thế thì tại sao chúng ta không chịu tiếp bước con đường của người xưa? Tại sao chúng ta không tìm lại mình qua dấu vết của thiền sử Trúc Lâm? Để dòng thiền này sẽ sống dậy sau thời gian dài ngủ vùi trong quên lãng. Từ đó chúng ta có thể ngẩng cao đầu tự hào một dòng thiền chính thống của dân tộc. Một ngọn đuốc tâm tông, một hương thiền Tổ vị, một tư chất phi phàm, sẽ hội tụ một dòng thiền Việt Nam lưu truyền đến ngàn sau.

 

-------***-------

 

Lân Sự Cảnh Quan

(Chùa lân - Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử)

 

Long động, Lân uy, Phượng dựt thùy

Linh Qui, Hồng ngọc, Phổ quang huy

Phật đô Việt quốc miên trường thịnh

Tứ hải nhân sinh ngưỡng vọng kỳ

 

Tạm Lược Dịch

 

Động rồng, Lân trấn, cánh phượng che

Rùa thiêng, ngọc quý chiếu sáng lòe

Phật cảnh Việt Nam nghìn năm thịnh

Lòng dân bốn bể thiết tha về

 

Ngày 2 tháng 6 năm 2008 (29/4 năm Mậu Tý)

Hòa thượng Pháp sư Thích Huệ Đăng

ở chùa Sắc tứ minh thiện, tỉnh Khánh Hòa

cảm tác tại Chùa Lân, ở chốn Tổ Trúc Lâm Yên Tử.

Hòa Thượng Huệ Đăng cảm tác.

____________

http://www.thuongchieu.net

MUÔN SỰ NƯỚC TRÔI NƯỚC, TRĂM NĂM LÒNG NÓI LÒNG

Muôn sự nước trôi nước, trăm năm lòng nói lòng. (Vạn sự thủy lưu thủy, bách niên tâm ngữ tâm) là hai câu thơ trong bài thơ năm chữ tám câu Đăng Bảo Đài Sơn của Trần Nhân Tông.
Chúng ta đi vào hai câu thơ này để thấu cảm “tâm sự” của ông: “Một mùa xuân mà tâm sự ở trong trăm đóa hoa”, (Nhất xuân tâm sự bách hoa trung _ bài Xuân Vãn).
 

 

1. Cái nhìn thời gian và lịch sử: vạn sự nước trôi nước.

Ai cũng biết Trần Nhân Tông ở trên đỉnh cao nhất của ngọn triều lịch sử đời Trần. Ông đã đánh thắng quân Nguyên Mông trong hai lần sau cùng, lần thứ hai và lần thứ ba, hai lần khó khăn nhất, vì quân Nguyên Mông đã rút kinh nghiệm thất bại lần đầu và cử Thoát Hoan, con của đại hãn thứ năm là Hốt Tất Liệt và những tướng của chiến trường Á Âu qua đánh Đại Việt. Đế chế Mông Cổ là đế chế hùng mạnh và rộng lớn nhất thời đó, kéo dài từ Á sang Âu và cả Trung Đông. Thế nên Trần Nhân Tông là nhân vật lịch sử của thế giới.
Lịch sử, đó là cảm xúc đời lớn nhất của ông. Khi trở lại Thăng Long trong lần chiến thắng sau cùng , thấy những con ngựa đá lấm bùn, ông thốt lên hai câu thơ đầy hứng khởi, cả đời lẫn đạo, về đất nước:
Xã tắc hai phen phiền ngựa đá
Non sông nghìn thuở vững âu vàng.
Khi làm bài thơ Đăng Bảo Đài Sơn, đất nước đã qua chiến tranh, ông đã nhường ngôi vua cho Trần Anh Tông, lên làm Thái thượng hoàng. Ông đã là một người lính già của những chiến trận oanh liệt ngày xưa:
Người lính già đầu bạc
Kể mãi chuyện Nguyên Phong.
Đứng ở đỉnh cao của ngọn triều lịch sử, ông đã nhìn những biến cố lịch sử như thế nào ?
Muôn sự nước trôi nước
Những biến cố của lịch sử, dù có vinh quang cỡ nào, rồi cũng trôi qua, bởi vì lịch sử là sựtrôi qua, như một dòng sông nhấp nhô những con sóng không hế quay trở lại. Những ngọn triều lịch sử, dù có đỉnh cao cỡ nào, dù có vinh quang cỡ nào, cũng phải “muôn sự nước trôi”.
Nhưng ông không phải là một người tầm thường của cuộc đời sanh tử. Ông là một “người lính già” đặc biệt, một “người lính già” bất tử, vì ông cũng đồng thời là một thiền sư, vì ông đã ngộ đạo với Thượng sĩ Huệ Trung trước đó. Ông là một người “vô sự” trong khi đang tạo nên lịch sử. Thế nên, nếu là một người tầm thường của sanh tử như chúng tachúng tasẽ than thở, tiếc nuối lịch sử: ‘ôi, thời oanh liệt nay còn đâu!’, ‘muôn sự nước trôi rồi!’
Cái nhìn về thời gian, về lịch sử của ông vượt khỏi đời thường, rất siêu xuất, rất đạo Phật, để ông không phải là một tù nhân của lịch sử, dù ông đã tạo ra nó, mà là một người vượt lên lịch sử:
Muôn sự nước trôi nước
“Muôn sự nước trôi”, muôn sự là nước trôi thì hẵn rồi.Làm người ai chẳng thấy thế, ai chẳng chịu như thế.Nhưng cái nhìn của ông rất khác, “muôn sự nước trôi nước”.Muôn sự là nước trôi, và trôi để trở lại thành nước.Lịch sử là những hiện tượng.Những hiện tượngấy trôi qua, tan chìm, biến mất để trở lại thành bản thể vô hình vô hướng của chúng. Lịch sử là những con sóng, khởi lên, dâng cao nhất rồi đi xuống, tan trở lại thành nước.
“Nước trôi nước”: ngay khi nước đang trôi thì vẫn là nước đấy thôi. Ngay khi là sóng nó vẫn là nước đấy thôi.Ngay khi là thời gian, nó vẫn là cái không phải thời gian, cái không cóthời gian.Kinh Lăng Già nói: “Nơi tất cả sự vật, sát na là phi sát na”. Ngay khi đang sanh nó vẫn vô sanh đấy thôi.Ngay khi là thời gian, nó vẫn là cái không phải thời gian, cái không cóthời gian, cái vĩnh cữu vô sanh đấy thôi.
Chúng ta có thể nói đây là cái nhìn “Chân Như duyên khởi”, hay “duyên khởi từ tánh Khôngnên tất cả pháp Không”…..Nhưng với ông, đã vượt khỏi những ý niệm mà thấy trực tiếp sự giải thoát của thời gian, của lịch sử:
Muôn sự nước trôi nước.
Ông là người làm ra lịch sửđồng thời cũng giải thoát khỏi lịch sử. Ở Việt Nam và cả thế giới, đã có mấy người được như thế ?
Khi nói câu trên, tưởng là tôn vinh ông, nhưng tôi mới thấy mình ngu muội. Ông đứng ngoàilịch sử, thế thì nói ông đứng trên đỉnh cao nhất của lịch sử Việt Nam hay ở đáy thấp nhất của lịch sử Việt Nam thì có nghĩa gì? Nói có mấy người được như thế hay tất cả đều được như thế hay hoàn toàn không có ai đã và sẽ được như thế thì có nghĩa gì?
 


2. Sống trong vĩnh cửu: trăm năm lòng nói lòng.

Với người bình thường như chúng ta, thơ ca là để nói lên lòng mình: những buồn vui, những chí khí, những được mất, những ước mơ, những nuối tiếc….. Ông thì khác, bởi vì lòng ông thì khác. Lòng ông là tất cả đời sống trước mắt: “Ở đời vui đạo hãy tùy duyên; đói thì ăn, hề, mệt ngủ yên”.
Lòng ông là tấm gương sáng: “Thân Bồ đề, lòng gương sáng”(Cư trần lạc đạo phú _Hội thứ 9). Vì lòng gương sáng nên sự vật gì ở trong đó cũng là lòng: “Cây bách là lòng” (Hội thứ 9).
Lòng ông là “lòng của trời đất”, thiên địa chi tâm, một từ ngữ của kinh Dịch mà chúng ta có thể dùng như một tham khảo để hiểu lòng ông.
Hơn nữa, lòng ông là Phật, là Như Lai, là Chân Như: “Chỉn Bụt là lòng” (Hội thứ 3). Trong lòng Chân Như đó, tất cả các pháp, tất cả mọi sự vật đều là Chân Như, là tánh Không. Nhưlời nói sau cùng của ông:
Tất cả pháp chẳng sanh
Tất cả pháp chẳng diệt
Nếu thấy hiểu như vậy
Chư Phật thường hiện tiền.
Làm gì có chuyện đến đi?
Lòng ông không phải là một sự vật cụ thể giới hạn ở đâu đó trong không gian và thời gian.Lòng ông không phải là lòng của một đức vua, của một chiến sĩ linh thiêng, không phải của một bậc minh quân, thậm chí không phải của một thiền sư.Lòng ông là tất cả mọi vật, tất cả đời sống, tất cả hiện hữu. Và tất cả hiện hữu này là hiện hữu của Chân Như. Lòng ông là một mùa xuân mà tâm sự ở trong tất cả mọi đóa hoa: “Nhất xuân tâm sự bách hoa trung”.
Lòng ông là “Ba cõi duy chỉ là Tâm, muôn pháp duy chỉ là thức”. Lòng ông là Nhất Tâm: “Ba cõi duy chỉ là Nhất Tâm” (Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Thập Địa). Ba cõi duy chỉ là Nhất Tâmbiểu lộ Nhất Tâm:
Trăm năm lòng nói lòng
Hành động nói ấy cũng là vĩnh cửu, trăm năm, ngàn năm, vạn năm, tỷ năm…. Sự việc nói ấy đã nói, đang nói và sẽ nói.Mãi mãi.Với đạo Phật, cái vĩnh cửu là cái vô sanh.Cho nênvĩnh viễn nói cũng có nghĩa là vĩnh viễn không nói, không nói một lời nào.
Sự việc nói ấy hiện giờ đang nói. Và cái hiện giờ đang nói ấy chúng ta tạm gọi là cái vĩnh cửuvĩnh viễn đang nói. Nói là sự hài hòa đầu tiên và cuối cùngVĩnh cửu hài hòa với vĩnh cửuvĩnh cửu đang nói với, nói về, nói lên vĩnh cửu qua mọi sự việc thế gian:
Trăm năm lòng nói lòng.
Cho nên, dù đang đứng, đang đi, đang ngồi hay đang làm, chúng ta thấy mọi sự vẫn đang nói, đang nói với, nói về, nói lên, nói qua nhau, đám mây nói với bầu trời, cỏ cây nói với đất đá, cây cau nói với bờ rào, em bé nói với mùa xuân…..lúc ấy chúng ta đang đi vào lòngTrần Nhân Tông đồng thời cũng là lòng của chính chúng ta. Và chúng ta thấy mình chẳng tách lìa Trần Nhân Tông một mảy ly, chúng ta đang sống, đang nghe, đang nhìn, đang nói như mọi sự đang sống, đang nghe, đang nhìn, đang nói trong sự hài hòa vĩnh cửu. Như lòng Trần Nhân Tông đang nói qua tất cả, dẫu cho trăm năm, ngàn năm, tỷ năm…..LòngTrần Nhân Tông, hay cái vĩnh cửu vô sanh, hay Chân Như, hay tánh Không….đang nói qua mọi sự chúng ta thấy nghe, hay biết:

Trăm năm lòng nói lòng.

________________

Nguyễn Thế Đăng

Nguồn: thuvienhoasen.org

CÓ PHẢI GS. NGUYỄN HUỆ CHI TÌM RA TÊN CỦA TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ LÀ TRẦN TUNG?

Nguyễn Huệ Chi tìm ra Trần Tung sau Nguyễn Lang 4 năm, từ 1973 đến 1977. Sau năm 1975, đất nước thống nhất, giới nghiên cứu KHXH miền Bắc đã dễ dàng được tiếp xúc với các tài liệu và thành quả nghiên cứu ở miền Nam. Chuyện Nguyễn Huệ Chi có thể đã có cuốn “Việt Nam Phật giáo sử luận” của Nguyễn Lang và biến kết quả của thiền sư thành của mình là điều hoàn toàn có thể xảy ra.

 

Tuệ Trung Thượng Sĩ (1230-1291) là một nhân vật lịch sử nổi tiếng thời Trần, người đã từng 2 lần tham gia cầm quân trong cuộc kháng chiến đánh bại quân Nguyên Mông. Ông cũng là thầy dạy, người dẫn dắt vua Trần Nhân Tông đến cửa Thiền và đặt nền móng cho sự phát triển của Thiền phái Trúc Lâm ở thế kỉ XIII-XIV.

 

Với giới nghiên cứu văn học sử đây còn là một trường hợp đặc biệt vì trong nhiều thế kỉ tên thật của Tuệ Trung Thượng Sĩ đã không được xác định đúng. Ngay Bùi Huy Bích (1744-1818) cũng đã nhầm ông thành Trần Quốc Tảng, con thứ của Trần Hưng Đạo. Năm 1973, nhà nghiên cứu Nguyễn Lang (thiền sư Thích Nhất Hạnh) trong cuốn Việt Nam Phật giáo sử luận (NXB Lá bối)[1] công bố việc ông đã xác định được Tuệ Trung Thượng Sĩ chính là Trần Quốc Tung, anh cả chứ không phải là Trần Quốc Tảng con lớn của Trần Hưng Đạo. Ông đã cung cấp đầy đủ những biện lý chứng minh cho điều phát hiện của mình.

 

Năm 1977, tức 4 năm sau, trong Thơ văn Lý – Trần (quyển 1, trang 113-115, Phần khảo luận)[2] và trong bài viết Trần Tung một gương mặt lạ trong làng thơ Thiền thời Lý – Trần[3] Nguyễn Huệ Chi công bố mình đã độc lập tìm ra Trần Tung (bớt một chữ Quốc) chính là Tuệ Trung Thượng Sĩ. Nếu đúng Nguyễn Huệ Chi tự mình tìm ra Trần Tung thì việc này xảy ra sau 4 năm. Có lẽ, chính vì vậy mà Nguyễn Huệ Chi cũng cảm thấy dư luận sẽ có những nghi ngờ nên ông đã chủ động nhắc tới Nguyễn Lang và rào đón:

 

“Tuy vậy, cho đến nay, dư luận bạn đọc vẫn phân vân nửa tin nửa ngờ. Có người còn cho là quá táo bạo và lạ lẫm. Chúng tôi rất hiểu tình thế khó khăn là phải làm sao chiến thắng được một tâm lý quen thuộc vốn đã gắn quá chặt bộ Thượng Sĩ ngữ lục cũng như những sợi dây tinh thần giữa Thiền phái Trúc Lâm với cái tên Trần Quốc Tảng”[3]

 

Dư luận có những ngờ vực cũng là điều dễ hiểu. Một mặt, chưa biết thực hư thế nào nhưng Nguyễn Huệ Chi là người dính líu đến nhiều vụ lình xình và bị không ít người chất vấn về đạo đức khoa học, liêm chính học thuật. Mặt khác, Nguyễn Huệ Chi tìm ra Trần Tung sau Nguyễn Lang 4 năm, từ 1973 đến 1977. Sau năm 1975, đất nước thống nhất, giới nghiên cứu KHXH miền Bắc đã dễ dàng được tiếp xúc với các tài liệu và thành quả nghiên cứu ở miền Nam. Chuyện Nguyễn Huệ Chi có thể đã có cuốn “Việt Nam Phật giáo sử luận” của Nguyễn Lang và biến kết quả của thiền sư thành của mình là điều hoàn toàn có thể xảy ra. Thêm nữa, nếu như phát hiện ra Trần Tung là Tuệ Trung Thượng Sĩ thì đó là một phát hiện khoa học cực kỳ chấn động. Lẽ nào một người nhạy bén như Nguyễn Huệ Chi trong suốt gần 10 năm từ 1968 (khi đọc sách “Cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông” của Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm) đến 1977 khi “Thơ văn Lý – Trần” tập 1 được ra đời, lại không công bố bất cứ bài viết nào của mình trên các tạp chí khoa học, mà gần gũi nhất là Tạp chí Văn học? Chính vì vậy, bạn đọc có quyền nghi ngờ và một số người đã nêu lên nghi ngờ này. Tuy nhiên, nghi ngờ mới chỉ là giả thiết, chưa được chứng minh một cách đầy đủ.

 

Tháng 10-2013, trong bài Đôi điều gửi tới GS Nguyễn Huệ Chi[4] đăng trên Tuần báo Văn Nghệ, nhà phê bình Nguyễn Hòa đã dẫn lại và so sánh 2 đoạn văn bản: một trích từ Thượng Sĩ hành trạng (Tuệ Trung Thượng Sĩ ngữ lục) của Trần Nhân Tông, một từ Trần Tung một gương mặt lạ trong làng thơ Thiền thời Lý – Trần in trong Văn học cổ cận đại Việt Nam – Từ góc nhìn văn hóa đến các mã nghệ thuật của Nguyễn Huệ Chi và ông Nguyễn Hòa viết:

 

“Không khó để thấy hai đoạn văn trên đây na ná nhau, từ diễn giải đến sự kiện và tư liệu, riêng đoạn của GS Nguyễn Huệ Chi có “thêm mắm thêm muối, vẽ rắn thêm chân” nên dài dòng hơn. Vì GS Nguyễn Huệ Chi sử dụng tài liệu từ Thượng Sĩ hành trạng của Trần Nhân Tông mà không cho biết rõ xuất xứ, nên ở đây có một câu hỏi cần đặt ra: GS Nguyễn Huệ Chi “đạo văn” hay “phóng tác” từ tác phẩm của Trần Nhân Tông nhưng lờ đi, không nói rõ nguồn gốc, hoặc ông bắt chước Nguyễn Lang (đoạn của Nguyễn Lang khá dài nên không dẫn lại, có thể tìm đọc trong: Việt Nam Phật giáo sử luận, tập 1, NXB Lá bối, SG.1973, từ tr.276 đến tr.279; và Việt Nam Phật giáo sử luận, NXB Văn học, H.2008, từ tr.256 đến tr.258), rất mong GS Nguyễn Huệ Chi tường minh vấn đề này”.

 

Với những nghi vấn của Nguyễn Hòa, Nguyễn Huệ Chi im tiếng không trả lời. Thay vào đó tháng 11, tác giả Đặng Văn Sinh đã có bài trả lời: Giáo sư Huệ Chi “đạo văn” hay là nhà phê bình Nguyễn Hoà vu khống?[5]. Đặng Văn Sinh đã bảo vệ Nguyễn Huệ Chi bởi những lập luận sau:

 

1) Ông trích dẫn đoạn văn trong Thượng Sĩ hành trạng của Trần Nhân Tông (bản dịch của Đỗ Văn Hỷ – Nguyễn Huệ Chi dịch, Thơ văn Lý – Trần, tập II, Q. thượng, NXB Khoa học xã hội, H. 1989) và đoạn văn trong Tuệ Trung Thượng Sĩ của Nguyễn Lang (Việt Nam Phật giáo sử luận, phần Tuệ Trung Thượng Sĩ, NXB Lá bối, Sài Gòn, 1973; langmai.org, chương 11) rồi viết: “Xin hỏi ông Nguyễn Hòa nghĩ gì khi học giả Nguyễn Lang cũng tóm lược câu chuyện về Tuệ Trung từ một gốc “Thượng Sĩ hành trạng” của Trần Nhân Tông hệt như học giả Nguyễn Huệ Chi chứ đâu có gì khác? Hay là người này đã tóm lược rồi thì người kia mà “tóm” nữa ắt bị coi là… “đạo văn”?”. Logic của Đặng Văn Sinh là: 2 người cùng tóm lược từ một văn bản gốc “Thượng Sĩ hành trạng” của Trần Nhân Tông thì chuyện có những điều giống nhau là bình thường, không thể nói Nguyễn Huệ Chi đạo văn của Nguyễn Lang.

 

2) Kể lại việc Nguyễn Huệ Chi đã “Huy động rất nhiều tài liệu, sự kiện rồi dùng phương pháp loại suy để chứng minh Tuệ Trung Thượng Sĩ là Trần Quốc Tung, chứ không phải là Trần Quốc Tảng”.

 

3) Trả lời cho “dấu hỏi nghi ngờ” của Nguyễn Hòa: “bản thảo Thơ văn Lý – Trần hoàn thành vào cuối năm 1973, đưa vào nhà in năm 1974 nhưng mãi đến năm 1977 mới ra mắt bạn đọc, vậy trong khoảng thời gian ba năm ấy, ai dám chắc nhóm biên soạn không sửa chữa, bổ sung tư liệu?” Đặng Văn Sinh dẫn lại đoạn văn kể của Nguyễn Huệ Chi trong bài Những năm tháng với Phong Lê[6] để chứng minh cho việc Thơ văn Lý – Trần, tập 1 in xong năm 1977, nhưng thực ra đã hoàn thành từ năm 1974, quá trình in bị kéo dài mất 4 năm.

 

Về lập luận 1, tôi sẽ bàn ở phần tiếp theo trong bài viết này. Trước hết tôi xin nói qua về 2 lập luận sau của Đặng Văn Sinh. Ở lập luận thứ 2, ông Đặng Văn Sinh quên mất một điều: tìm ra Trần Tung và chứng minh Tuệ Trung Thượng Sĩ chính là Trần Tung là 2 bài toán hoàn toàn khác nhau! Tìm ra Trần Tung (Trần Quốc Tung) sau hàng trăm năm nhầm lẫn là một đóng góp có giá trị lớn và khó hơn nhiều so với việc sau khi đã biết thân nhân ông là ai, chứng minh để khẳng định điều đó. Việc chứng minh có lẽ không phải là khó khăn lắm đối với người nghiên cứu lịch sử và văn học cổ trung đại Việt Nam. Đấy là chưa nói, bản thân Nguyễn Lang cũng đã đưa ra những biện lý chứng minh cho điều phát hiện của mình. Về lập luận thứ 3, có lẽ chẳng cần phải bàn nhiều. Lấy những lời kể lể không có chứng minh, không thể kiểm tra của người bị cáo buộc để bảo vệ cho “thân chủ” hoàn toàn không có giá trị.

 

Quay lại về lập luận 1.

 

Lập luận của Đặng Văn Sinh nếu đọc thoáng qua nghe có vẻ có lí, nhưng thực tình không phải như vậy! Tôi sẽ giải thích tại sao.

 

Ở đây chúng ta có 4 văn bản chứ không phải 3 (Thượng Sĩ hành trạng của Trần Nhân Tông và 2 đoạn văn của Nguyễn Lang và Nguyễn Huệ Chi). Xin liệt kê lại đây:

 

- Vb1: Thượng Sĩ hành trạng (Thượng Sĩ ngữ lục) của Trần Nhân Tông (1258-1308), bản gốc chữ Hán[7].

 

- Vb2a: Thượng Sĩ hành trạng, bản dịch nghĩa (Nguyễn Hòa dẫn bản dịch lấy từ sách Tuệ Trung Thượng Sĩ ngữ lục với Lời đầu sách của Hòa thượng Thích Thanh Từ) [8].

 

- Vb2b: Thượng Sĩ hành trạng, bản dịch nghĩa (Đặng Văn Sinh dẫn bản dịch của Đỗ Văn Hỷ – Nguyễn Huệ Chi trong Thơ văn Lý – Trần, tập II, Q. thượng, NXB Khoa học xã hội, 1989).

 

- Vb3: Đoạn văn của Nguyễn Lang kể lại câu chuyện về Tuệ Trung (trích từ Tuệ Trung Thượng Sĩ, NXB Lá bối, Sài Gòn, 1973).

 

- Vb4: Đoạn văn của Nguyễn Huệ Chi kể lại câu chuyện về Tuệ Trung (trích từ Trần Tung một gương mặt lạ trong làng thơ Thiền thời Lý – Trần. Văn học cổ cận đại Việt Nam -

 

Từ góc nhìn văn hóa đến các mã nghệ thuật. NXB Giáo dục, 2013).

 

Tôi nhắc lại đây cả 2 bản dịch Vb2a và Vb2b là vì Nguyễn Hòa và Đặng Văn Sinh mỗi người dẫn ra một bản trong bài viết của mình.

 

Với các văn bản kể trên ta có những nhận xét sau:

 

- Bản gốc chữ Hán chỉ có thể chuyển tải nội dung, thông tin sang các bản dịch (Vb2a, Vb2b) còn văn phong, câu chữ là do người dịch.

 

- Ngoài bản gốc Thượng Sĩ hành trạng bằng chữ Hán của Trần Nhân Tông, theo trình tự thời gian thì đoạn văn của Nguyễn Lang (năm 1973) có trước bản dịch Vb2b (của Đỗ Văn Hỷ – Nguyễn Huệ Chi) và đoạn văn của Nguyễn Huệ Chi.

 

- Người đi sau có thể đạo văn hay bắt chước người đi trước chứ không thể ngược lại.

 

- Văn bản được tính là gốc để xem xét phải là bản gốc chữ Hán Thượng Sĩ hành trạng của Trần Nhân Tông chứ không phải là các bản dịch của nó.

 

- Vì cùng xuất phát từ 1 gốc (bản chữ Hán) thì văn bản của Nguyễn Lang và Nguyễn Huệ Chi (nếu ông thực sự tìm ra Trần Tung một cách độc lập với Nguyễn Lang) chỉ có thể có những điểm giống nhau về nội dung/thông tin có trong bản gốc chữ Hán của Trần Nhân Tông chứ khó có thể giống nhau về câu chữ, từ ngữ sử dụng. Thêm nữa, những nội dung/thông tin không có trong bản gốc chữ Hán mà có cả trong 2 văn bản của Nguyễn Lang và Nguyễn Huệ Chi sẽ là những dấu hiệu nói lên việc người đi sau đã có và sử dụng văn bản của người đi trước.

 

Để tiện theo rõi, các văn bản: Vb2a, Vb2b, Vb3, Vb4 được dẫn lại ở phần Mục lục 2 phía dưới. Qua phân tích 4 văn bản nói trên ta thu được 4 loại nhận xét sau:

 

- Hai đoạn văn của Nguyễn Lang và Nguyễn Huệ Chi hao hao, từa tựa nhau.

 

- Có 1 chỗ câu chữ trong các đoạn văn của Nguyễn Lang và Nguyễn Huệ Chi giống nhau gần như tuyệt đối.

 

- Có 4 chỗ câu chữ trong các đoạn văn của Nguyễn Lang và Nguyễn Huệ Chi giống nhau gần như tuyệt đối, nhưng khác với trong các bản dịch Vb2a, Vb2b.

 

- Có 3 chỗ trong các văn bản của Nguyễn Lang và Nguyễn Huệ Chi có nội dung/thông tin nhưng không có hoặc khác với trong các bản dịch Vb2a, Vb2b.

 

Để làm ví dụ, tôi dẫn lại khổ đầu trong 2 đoạn văn của Nguyễn Lang (Vb3) và của Nguyễn Huệ Chi (Vb4):

 

“Hồi em gái Tuệ Trung Hoàng hậu Thiên Cảm còn sống, một hôm ông được bà mời vào cung ăn tiệc. Trên bàn có những món mặn và món chay, ông đã gắp thức ăn một cách không phân biệt. Hoàng hậu hỏi: “Anh tu thiền mà ăn thịt cá thì làm sao mà thành Phật được?”. Ông cười đáp: “Phật là Phật, anh là anh; anh không cần thành Phật. Phật không cần thành anh. Em chẳng nghe cổ đức nói “Văn Thù là Văn Thù, giải thoát là giải thoát” đó sao?”

 

(Vb3, Nguyễn Lang).

 

“Một lần, Hoàng hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm, vợ Trần Thánh Tông, mời ông anh Tuệ Trung vào cung ăn tiệc. Trên bàn tiệc có cả cỗ mặn lẫn cỗ chay. Thấy anh mình trong bữa ăn quên cả kiêng khem mà nhúng đũa cả vào cỗ mặn một cách phóng túng, Hoàng hậu khẽ nhắc ông: “Anh tu thiền mà ăn thịt cá thì làm sao thành Phật được?”.

 

Tuệ Trung Thượng Sĩ cả cười đáp:

 

“Phật là Phật, anh là anh; anh không hề muốn làm Phật, Phật cũng không hề muốn làm anh. Em chẳng nghe cổ đức có nói: Văn Thù là Văn Thù, giải thoát là giải thoát, đó sao?”

 

(Vb4, Nguyễn Huệ Chi).

 

So sánh 2 đoạn văn nói trên ta có các nhận xét:

 

- Nhận xét 2. Trong cả 2 văn bản của Nguyễn Lang (Vb3) và của Nguyễn Huệ Chi (Vb4) đều có câu “Em chẳng nghe cổ đức (có) nói “Anh tu thiền mà ăn thịt cá thì làm sao mà thành Phật được?” giống nhau gần như đến từng chữ, từng từ và câu chữ khác với 2 bản dịch (Vb2a, Vb2b). Bình luận: 2 văn bản dựa từ một gốc chỉ có thể giống nhau về nội dung chứ cách hành văn khó giống nhau, nhất là giống nhau đến từng từ, từng chữ như vậy. Khả năng Nguyễn Huệ Chi đạo lại của Nguyễn Lang là rất lớn.

 

- Nhận xét 3. Các câu “Em chẳng nghe cổ đức nói “Văn Thù là Văn Thù, giải thoát là giải thoát” đó sao?” (Vb3, Nguyễn Lang) và “Em chẳng nghe cổ đức có nói: Văn Thù là Văn Thù, giải thoát là giải thoát, đó sao?” (Vb4, Nguyễn Huệ Chi) gần như giống nhau hoàn toàn. Riêng câu “Văn Thù là Văn Thù, giải thoát là giải thoát” thì trong cả 4 văn bản đều giống nhau như đúc. Bình luận: Câu chữ giống nhau gần như tuyệt đối chứng tỏ khả năng Nguyễn Huệ Chi đạo lại của Nguyễn Lang.

 

Thấy gì qua việc phân tích các văn bản?

 

Cả 4 loại nhận xét nói trên (2 đoạn văn hao hao, từa tựa nhau; câu chữ trong các đoạn văn của Nguyễn Lang và Nguyễn Huệ Chi giống nhau gần như tuyệt đối, nhưng khác với các bản dịch; trong các văn bản của Nguyễn Lang và Nguyễn Huệ Chi có nội dung/thông tin nhưng không có hoặc khác với trong các bản dịch) đều nói lên việc người đi sau (Nguyễn Huệ Chi) đạo của người đi trước (Nguyễn Lang). Một nhận xét cũng đã nói đến khả năng khá cao là Nguyễn Huệ Chi đạo văn. Trong 1 đoạn văn ngắn ngoài việc hai văn bản hao hao như nhau, rút ra 8 nhận xét/chỗ như vậy thì xác suất đạo văn gần như là tuyệt đối.

 

Mà việc đạo văn của Nguyễn Huệ Chi cũng đồng nghĩa với việc ông ăn cắp kết quả của Nguyễn Lang và gán cho mình!

 

Sau những phân tích ở trên, liệu các bạn đọc có còn tin là Nguyễn Huệ Chi đã tự mình phát hiện Tuệ Trung Thượng Sĩ là Trần Tung nữa không? Còn tôi, tôi không tin!

 

Hà Nội, tháng 9-2018

 

Boristo Nguyen

(CHLB Nga)

Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 526

——————————-

1) Nguyễn Lang. Việt Nam Phật giáo sử luận. Chương 11: Tuệ Trung Thượng Sĩ. NXB Lá bối, Sài Gòn, 1973 (có thể xem tại trang Langmai.org).

2) Thơ văn Lý – Trần, quyển 1. NXB KHXH, 1977.

3) Nguyễn Huệ Chi. Trần Tung một gương mặt lạ trong làng thơ Thiền thời Lý – Trần. Tạp chí Văn học, số 4, năm 1977. Đăng lại trong tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 3-4, 2014, trang 169-191. 

4) Nguyễn Hòa. Đôi điều gửi tới GS Nguyễn Huệ Chi. Văn nghệ số 41, 2013, trang 16, 24.

5) Đặng Văn Sinh. Giáo sư Huệ Chi “đạo văn” hay là nhà phê bình Nguyễn Hòa vu khống? Forum Diễn Đàn (www.diendan.org). 13-11-2013.

Hoặc có thể đọc trên trang mạng Trần Nhương.

6) Nguyễn Huệ Chi. Những năm tháng với Phong Lê. Talawas, 14-06-2008.

7) Trần Nhân Tông. Thượng Sĩ hành trạng, bản chữ Hán. Thơ văn Lý – Trần, tập 2, quyển Thượng, NXB KHXH, 1989.

8) Trần Nhân Tông. Thượng Sĩ hành trạng trong sách Tuệ Trung Thượng Sĩ ngữ lục với Lời đầu sách của Hòa thượng Thích Thanh Từ. Đã đăng trên Thư viện Hoa sen (thuvienhoasen.org).

KHÁM PHÁ KHÔNG GIAN VĂN HÓA THỜI TRẦN DƯỚI CHÂN NÚI YÊN TỬ

Một trải nghiệm độc đáo cho du khách khi đến với Khu di tích và danh thắng Yên Tử (Quảng Ninh) hiện nay, đó là hòa mình vào không gian của Trung tâm Văn hóa Trúc Lâm Yên Tử tái hiện sinh động không gian văn hóa thời Trần từ cách đây 700 năm.


Hình thành và đi vào hoạt động từ năm 2018, Trung tâm Văn hóa Trúc Lâm Yên Tử do Công ty Cổ phần Phát triển Tùng Lâm đầu tư, kiến trúc sư hàng đầu thế giới Bill Bensley thiết kế, đã bổ sung thêm cho non thiêng Yên Tử một không gian độc đáo mang hồn văn hóa Việt, nét đặc trưng của thời Trần, hòa cùng tinh thần thiền.

 

Qua Tam quan Khai Tâm, du khách bước vào không gian rộng của Trung tâm Văn hoá Trúc Lâm Yên Tử

 

Bước qua Tam quan Khai Tâm được thiết kế như một cổng thành thời nhà Trần, được coi như biểu tượng của Trung tâm Văn hóa Trúc Lâm Yên Tử, cũng là nơi đầu tiên du khách đến với trung tâm Khu di tích và danh thắng Yên Tử. Tam quan Khai Tâm mang cảm hứng từ các tam quan truyền thống của người Việt và mẫu kiến trúc ở tháp Huệ Quang với cổng vòm, tường dày, mái ngắn, lợp bằng ngói cánh sen đã sẫm màu thời gian.

 

Tọa lạc ở vị trí trang trọng nhất của Tam quan Khai Tâm, Gương thiền với hình ảnh “gương soi bóng trúc” thể hiện một cách trực quan sinh động phương châm “soi sáng lại chính mình” giúp du khách cảm nhận một triết lý sâu xa mà gần gũi của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Đi qua cổng thành là một không gian văn hóa rộng 16ha chào đón du khách. Quảng trường Minh Tâm với sức chứa 10.000 người, là nơi du khách có thể tham gia vào sự kiện lớn của cộng đồng, cũng là nơi tốt nhất để bao quát toàn cảnh khu Trung tâm Văn hóa Trúc Lâm và khu vực trung tâm Khu di tích và danh thắng Yên Tử.

 

Những nếp nhà mộc mạc tại làng Nương

 

Không văn hóa thời Trần được tái hiện rõ nét tại làng Nương dưới chân dãy Yên Tử. Tương truyền khi vua Trần Nhân Tông từ bỏ ngai vàng về Yên Tử tu hành, nhiều phi tần đã đi theo ngài. Khi đến suối Giải Oan, vua đã truyền chiếu chỉ cho các nàng về quê, nhưng nhiều người vẫn trụ lại dưới chân núi để sinh sống, lập nên làng Nương. Trải qua thời gian, những ngôi làng này dần biến mất.

 

Nằm dọc theo dòng suối tự nhiên thơ mộng, làng Nương được tái hiện với 50 nếp nhà mộc mạc cùng tường đá ong, tường đất, mái ngói rêu phong trên con đường làng được lát bằng gạch nung già. Từ tổng thể đến từng góc nhỏ, với thiết kế cầu kỳ trong việc lựa chọn và sử dụng vật liệu gỗ, đá, gốm đậm nét đời Trần thế kỷ 13, làng Nương tái hiện không gian đời sống văn hóa xóm làng đặc trưng dưới thời Trần.

 

Du khách trải nghiệm trực tiếp nghề truyền thống tại làng

 

Tại làng có khu vực các cửa hàng làng nghề truyền thống - nơi quảng bá, giới thiệu các sản phẩm, quy trình sản xuất để du khách có thể tham gia trải nghiệm cũng như tương tác trực tiếp với các nghệ nhân; khu vực thuốc Đông y, ẩm thực và trình diễn nghệ thuật thư pháp... Điểm nhấn của làng Nương là ngôi đình nằm ở giữa làng, là trung tâm sinh hoạt cộng đồng và là nơi tổ chức nhiều hoạt động nghệ thuật đặc sắc phục vụ du khách như: hát chèo, hát xẩm, quan họ, tích truyện lịch sử, văn hóa thời Trần…

 

Du khách có thể trải nghiệm cảm xúc đêm tại làng Hành hương

trong những căn phòng nhỏ như những “am thiền” độc đáo

 

Cũng tại đây, du khách có thể trải nghiệm sự tĩnh lặng của thiên nhiên và của chính mình bên trong kén ngủ được ví như những “am thiền” tại khu nghỉ 3 sao làng Hành hương Yên Tử, gồm 9 ngôi nhà nằm dọc theo suối Giải Oan với 75 phòng tương ứng với 300 giường (dự kiến cuối năm 2019 sẽ tăng lên 400 giường). Toàn bộ phòng theo phong cách giường tầng (4 giường 1 phòng hoặc 2 phòng connecting 8 giường), với trang thiết bị được thiết kế giản dị, đậm nét tinh thần thiền nhưng vẫn đầy đủ tiện nghi.

 

Được lấy cảm hứng từ chợ làng quê xưa của Việt Nam, nhà hàng Chợ Quê nằm ngay trong khuôn viên của làng Hành hương, cùng với nhà hàng Tùng Lâm nằm trên đường ra ga cáp treo, mang phong cách nhà sàn của người dân tộc ở vùng núi phía Bắc, phục vụ thực khách cả ngày với sức chứa tối đa 1.500 người, có dàn nhạc dân tộc phục vụ trong các bữa ăn.

 

Vui đêm hội làng tại đình làng

 

Đến với Trung tâm Văn hóa Trúc Lâm Yên Tử, du khách không chỉ trải nghiệm không gian văn hóa thời Trần mà còn được thưởng thức các sản vật địa phương của tỉnh Quảng Ninh như bánh chưng nếp cẩm, bánh gio, nem chua… cũng như được tham gia vào nhiều dịch vụ khác như học thiền, tập yoga, tìm hiểu văn hóa thiền phái Trúc Lâm - Yên Tử, khám phá Legacy Yên Tử - Mgallery…

_________________

Hạ Tinh

Nguồn: http://www.vtr.org.vn/

VÉN MÂY LÊN NGỌA VÂN NGẮM NƠI PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG NHẬP NIẾT BÀN

Chùa Ngọa Vân là một di tích quan trọng nằm trong vùng địa linh của Phật giáo Trúc Lâm Yên Tử. Đây chính là điểm dừng chân cuối cùng trong cuộc đời tu hành của Phật hoàng Trần Nhân Tông.

 

Chùa Ngọa Vân nhìn từ trên cao


Nằm trên núi Bảo Đài thuộc địa phận 2 xã An Sinh và Bình Khê, TX.Đông Triều, Quảng Ninh, chùa Ngọa Vân là một quần thể kiến trúc chùa tháp lớn của Thiền Phái Trúc Lâm trên dãy Yên Tử, nơi Phật Hoàng Trần Nhân Tông tu hành đắc đạo. Chính vì lí do này, Ngọa Vân được coi là thánh địa của Phật Giáo Trúc Lâm.

 

Chùa nằm ở vị trí trung tâm sườn phía Nam của núi Bảo Đài (Nay là núi Vây Rồng), ở độ cao trung bình 588m – 644m so với mặt nước biển, tựa lưng vào núi Bảo Đài. Chùa là một cụm các công trình phân bố từ chân lên đỉnh của ngọn Ngọa Vân nơi nhân dân hiện nay quen gọi là khu Chùa đổ hay Nhà Mẫu và Bàn Cờ tiên.

 

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, tháng 5 năm 1307, Trúc Lâm Đại Sĩ (tên hiệu của Phật hoàng) đã lên tu tại một am trên đỉnh Ngọa Vân- một đỉnh cao quanh năm mây phủ nằm trên núi Bảo Đài thuộc dãy Yên Tử linh thiêng,. Ngày 1 tháng 11 năm 1308, Phật hoàng Trần Nhân Tông đã nhập niết bàn tại am Ngọc Vân (nay thuộc xã An Sinh và xã Bình Khê, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh).

 

Di tích Ngọa Vân ngày nay là một quần thể chùa tháp lớn được bố trí thành 3 lớp trên núi Bảo Đài:

 

Lớp thấp nhất là 15 di tích dưới chân núi như: khu rừng già Tàn Lọng, Phủ Am Trà, Đô Kiệu, Thông Đàn, Đá Chồng, Ba Bậc… Những di tích này được kết nối với nhau bằng một con đường uốn lượn chạy dần lên đỉnh núi.

 

Lớp thứ 2 của khu di tích là chùa Ngọa Vân Trung nằm ở sườn phía Nam của núi Bảo Đài. Sau khi được trùng tu xây dựng trên nền chùa cũ vào năm 2014, Ngọa Vân Trung ngày nay là một ngôi chùa khang trang với lối kiến trúc kiểu chữ Nhị (mô phỏng kiến trúc của chùa Ngọa Vân được xây dựng từ thời Lê Trung Hưng) và được tạo thành bởi hai tòa chính: Tiền đường và Hậu đường. Chùa Ngọa Vân Trung cũng được xem là khu vực trung tâm của lễ hội xuân Ngọa Vân (diễn ra từ mùng 9 tháng Giêng đến hết tháng 3 Âm lịch hàng năm). Những nghi lễ quan trọng của lễ hội như lễ hội khai xuân, lễ cầu quốc thái dân an… đều được tổ chức tại chùa Ngọa Vân Trung.

 

Lớp thứ 3, cũng là lớp cao nhất của di tích Ngọa Vân, là nơi được người xưa ca tụng: "Vạn cổ anh linh tự/ Tứ thời cảnh sắc tân" (Dịch thơ: "Muôn thuở chùa linh ứng/ Bốn mùa cảnh sắc tươi"). Đỉnh núi huyền ảo, quanh năm mây phủ này chính là nơi còn lưu giữ được nhiều dấu tích thiêng liêng liên quan đến những ngày tháng cuối cùng trong cuộc đời tu hành của Phật hoàng Trần Nhân Tông, như chùa Ngọa Vân Thượng, Am Ngọa Vân- nơi mà theo truyền thuyết, Phật hoàng Trần Nhân Tông đã nhập cõi niết bàn trên một tảng đá lớn trong dáng nằm sư tử, Phật hoàng Tháp- nơi lưu giữ một phần xá lị của Phật hoàng và Bàn Cờ tiên nằm trên đỉnh cao nhất, nhìn ra xung quanh là một vùng núi nơn sơn thủy hữu tình.

 

Hơn 2000 phật tử chùa Tân Hải (Đan Phượng, Hà Nội) đã làm lễ dâng hương và chiêm bái

tại chùa Ngọa vân nhân kỷ niệm 710 Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập niết bàn


Không chỉ lưu giữ những dấu tích thiêng liêng về Phật hoàng Trần Nhân Tông, khu di tích Ngọa Vân còn là một nơi có khung cảnh thiên nhiên nguyên sơ và tuyệt đẹp. Nằm trong khu vực vòng cung Đông Triều, Ngọa Vân như được bao bọc, ôm ấp bởi những ngọn núi xanh mướt, trùng trùng điệp điệp. Thảm thực vật nơi đây gần như còn nguyên vẹn với rất nhiều loài thực vật và động vật quý hiếm. Đến với Ngọa Vân, người ta có dịp được chiêm người những cây thông trăm tuổi, những rừng trúc bạt ngàn.

 

Hành hương lên đỉnh Ngọa Vân, thắp một nén nhang chiêm bái Phật hoàng rồi bước ra sân tiền đường, cả một vùng núi non tuyệt đẹp nằm xen lẫn trong mây trắng mở ra trước mắt như một bức tranh thủy mặc. Đó là lúc con người ta như được trở về với tất cả những gì đẹp đẽ, nguyên sơ nhất trong tâm hồn. Cũng là món quà mà đất Phật Ngọa Vân ban tặng cho mỗi người.

 

Là nơi Phật hoàng tu hành và đắc đạo, Ngọa Vân trở thành thánh địa của Thiền phái Trúc Lâm,

ngay sau khi Ngài mất, tổ Pháp Loa đã cho xây dựng và mở mang Ngọa Vân. Đến nay,

Ngọa Vân đã trở thành một quần thể kiến trúc chùa tháp lớn trên dãy Yên Tử.

 

Trong chuyến hành hương "Về miền đất Phật" 2018 cuối tuần qua, Đại đức Thích Quảng Hiếu cùng hơn 2000 phật tử chùa Tân Hải (Đan Phượng, Hà Nội) đã làm lễ dâng hương và chiêm bái Phật hoàng Trần Nhân Tông tại chùa Ngoạ Vân thuộc thị xã Đông Triều tỉnh Quảng Ninh. Đây được coi là hoạt động nghi lễ lớn với sự tham gia của nhiều người mang ý nghĩa khép lại năm đại lễ tưởng niệm 710 năm Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập cõi niết bàn tại Khu di tích Chùa – am Ngọa Vân.

_____________

 

Thanh Tâm (Tổng hợp)

Nguồn: https://phatgiao.org.vn/

ĐIỀU GIÚP NHÀ TRẦN BA LẦN ĐÁNH BẠI ĐỘI QUÂN HÙNG MẠNH NHẤT THẾ GIỚI

Điều gì đã khiến nhà Trần đánh bại đội quân hùng mạnh nhất thế giới thời bấy giờ? Có phải là do tướng tài? Có phải là do vua giỏi? Có phải là do quân đội hùng mạnh? Hay còn một nguyên nhân gì khác sâu xa hơn thế?

 

Chiến thuyền quân Nguyên Mông. (Ảnh qua YouTube.com)


Trước khi tiến đánh Đại Việt, vó ngựa quân Mông Cổ đã tung hoành từ Á sang Âu và reo rắc nỗi kinh hoàng ở khắp nơi, phía Bắc đến tận dải Bai Can, phía Nam đến sông Hoàng Hà, phía Đông đến sông Tùng Hoa, phía Tây đến Lý Hải (biển Casienne).

 

Vùng đất mà Mông Cổ chinh phạt được bao gồm phần đất liền mênh mông Nam Sibere, Trung Quốc, Trung Á và một phần ngoại Cáp-ca-do (Caucasus)… Biên niên sử châu Âu mô tả một cách sợ hãi rằng: “Vó ngựa quân Mông Cổ đi đến đâu cỏ không mọc được đến đó”.

 

Quân Mông Cổ làm cả châu Âu kinh sợ. (Ảnh qua todayinhistory.blog)


Thế nhưng cả 3 lần đội quân Nguyên Mông đến Đại Việt đều bị đánh bại, đặc biệt là lần thứ 2 (năm 1285) và lần thứ 3 (năm 1288). Chỉ trong vỏn vẹn 3 năm, Đại Việt phải đương đầu với hàng chục vạn quân hùng mạnh nhất thế giới lúc đó. Nhưng quân Đại Việt không chỉ đánh bại mà còn khiến đội quân này phải ê chề chạy trối chết về nước để mong thoát thân.

 

Rất nhiều phân tích nói về nguyên nhân Đại Việt chiến thắng, trong đó phải kể tới tài thao lược của vị Quốc Công Tiết Chế Trần Hưng Đạo cùng sự đồng lòng của quân dân nhà Trần. Nhưng xét cho cùng đó là những nguyên nhân bề mặt, dễ thấy nhất. Để có được chiến công ấy còn phải có một nền tảng gốc rễ vững chãi, giúp Đại Việt có được sức mạnh to lớn.

 

Vậy nền tảng gốc rễ ấy là gì?

 

Nguồn gốc thượng võ sùng đạo của nhà Trần

 

Theo gia phả nhà Trần, thì cụ tổ nhà Trần là Trần Tự Minh thuộc nhóm tộc người Bách Việt ở đất Mân (Phúc Kiến – Trung Quốc). Trước những mâu thuẫn giữa người Bách Việt và người Hán, năm 227 trước Công Nguyên, Trần Tự Minh đã theo dòng người Bách Việt xuống phía Nam, sau đó đầu quân cho vua An Dương Vương.

 

Là võ tướng, Trần Tự Minh huấn luyện quân sĩ, cùng với Cao Lỗ trở thành hai vị tướng trụ cột thời bấy giờ. Cả hai ông là hai cánh tay đắc lực giúp An Dương Vương nhiều lần đánh bại cuộc xâm lăng của Triệu Đà.

 

Sau đó do nhà vua không nghe lời khuyên can của các tướng lĩnh cùng hiền thần, chấp nhận thông gia với Triệu đà, chủ quan mà dẫn đến mất nước. Trần Tự Minh lui về sống ở vùng Kinh Bắc.

 

Dòng dõi nhà Trần ở Kinh Bắc kéo dài 700 năm, đến năm 582 thì sinh ra Trần Tự Viễn ở Từ Sơn. Trần Tự Viễn mồ côi từ nhỏ, hàng ngày phải kiếm củi để sống qua ngày.

 

Ở Từ Sơn lúc đó có sư Pháp Hiền vốn là đệ tử của Đại sư Tì-ni-đa-lưu-chi (Ấn Độ) truyền bá Thiền Tông, rất nhiều người theo.

 

Lịch sử nhà Phật chép rằng:

 

Sau khi Tì-ni-đa-lưu-chi tịch, Pháp Hiền vào Từ Sơn tập định. Thân hình ngài như cây khô, vật ngã đều quên, giống chim bay đến thân mật, loài thú rừng quấn quít… Người bấy giờ mộ tiếng ngài đến học đông không kể xiết. Ngài bèn dựng chùa dạy học, cư tăng lúc nào cũng hơn 300 người. Thiền tông phương Nam bấy giờ thịnh nhất.

 

Chú bé Trần Tự Viễn vẫn hay đi qua ngôi chùa của sư Pháp Hiền. Nhận thấy chú bé này có bản tính tiên thiên, tấm lòng lương thiện, sư Pháp Hiền quý lắm, thu nạp và dạy học cho thông tam giáo (Phật – Nho – Lão) và cả võ công nữa.

 

Trần Tự Viễn được thu nạp làm đệ tử, được truyền thụ tam giáo. (Tranh: Trí Thức VN)


Sau nhiều năm, với bản tính tiên thiên cùng căn cơ ngộ tính tốt, Trần Tự Viễn trở thành môn đệ xuất sắc nhất của Phật phái Thiền Tông. Ông cũng nổi tiếng cả vùng với võ công cao cường. Môn phái võ thuật đặc sắc nhất của ông là Hổ quyền và Ưng – Xà quyền.

 

Trần Tự Viễn kế nghiệp sư Pháp Hiền, say sưa truyền bá Thiền Tông. Ông cũng truyền thụ võ công cho các đệ tử. Dân chúng nhờ môn võ của ông mà đã chống lại sự cai trị hà khắc của nhà Tùy – Đường. Người dân khắp nơi đều sùng kính, tôn ông là Phật sống.

 

Sự sùng võ của nhà Trần cũng bắt đầu từ Trần Tự Viễn. (Tranh minh họa sưu tầm)


Cũng từ đó dòng võ họ Trần nổi tiếng khắp cả nước. Đến đời Trần Tự An (1010 – 1077) thì võ phái này được đặt tên là Đông A (chiết tự từ chữ Trần).

 

Truyền thống thượng võ và tôn sùng Phật Pháp vẫn được kế thừa từ đời Trần Tự Viễn đến tận đời vua Trần Anh Tông. Nhiều người chọn con đường tu hành, nhiều đời vua đều chọn cách bỏ lại mọi quyền lực, của cải, thú vui, cũng như sự kính ngưỡng của người đời để đi tu.

 

Bởi vì vua hồng dương Phật Pháp, quan lại được tuyển chọn đều thuộc hàng mẫu mực, phải thông tỏ Bách gia, Chư tử, Cửu lưu, Tam giáo, và thi đậu Thái học sinh. Nhiều người là danh nhân thời đó như Đặng Kế, Đỗ Quốc Tá, Đoàn Nhữ Hài, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Hiền, Nguyễn Trung Ngạn, Trương Hán Siêu, Chu Văn An, Trần Quang Triều…

 

Điều đặc biệt nhất là Phật Pháp được sử dụng để giáo hóa muôn dân, khiến đạo đức thăng hoa, xã hội ổn định. Đó là nền tảng gốc rễ vững chắc nhất để nhà Trần đánh bại các cuộc xâm lăng từ nước ngoài.

 

Ngày nay có nhiều người quan niệm rằng, thường chỉ những ai thất bại hay gặp đau khổ trong cuộc sống mới tìm đến nơi cửa Phật. Tuy nhiên vào thời nhà Trần, các vị vua khi thấy hoàng tử trưởng thành thì đều nhường ngôi cho con, rồi lên làm thượng hoàng, chọn con đường tu luyện.

 

Dưới đây chúng ta cùng điểm qua các đời vua nhà Trần:

 

Vua Trần Thái Tông


Ông là người rất mộ đạo, kính ngưỡng Phật Pháp, nhà vua có người bạn thân là Quốc sư Phù Vân ở núi Yên Tử, và thường đến nơi đây đàm đạo về Phật Pháp, cách dùng Phật Pháp để giáo hóa muôn dân, giúp xã tắc luôn ổn định và cường thịnh.

 

Vua Trần Thái Tông chuyên chú theo Thiền Tông mà cụ tổ Trần Tự Viễn từng theo học, đồng thời ông cũng thông tỏ cả Nho giáo. Nhà vua tu học với sự hỗ trợ của các thiền sư như Đạo Viên ở Yên Tử, Ứng Thuận, Tức Lực và Đại Đăng ở Thăng Long, cùng các vị tăng người Tống là Đức Thành, Thiên Phong. Ngoài ra, Trần Thái Tông còn dựng chùa Tư Phúc để trao đổi thêm kiến thức với các cao tăng, đồng thời giảng dạy Thiền học cho lớp hậu sinh.

 

Vua Trần Thái Tông áp dụng Nho giáo và Phật Pháp để giáo hóa dân chúng. Đây là nền tảng giúp Đại Việt đánh bại cuộc xâm lăng của đế quốc mạnh nhất lúc bấy giờ là quân Nguyên Mông vào năm 1258.

 

Quân Nguyên Mông. (Tranh qua about-history.com)


Sau khi đánh bại quân Nguyên Mông, cũng vào năm 1258, vua Trần Thái Tông nhường ngôi cho con là Trần Hoảng (tức Trần Thánh Tông), bản thân mình lui về Thánh Từ làm thái thượng hoàng. Ông bỏ lại mọi thú vui chuyên tâm vào con đường tu luyện.

 

Vua Trần Thánh Tông


Vua Trần Thánh Tông lúc còn nhỏ không chỉ tinh thông Nho gia mà còn hiểu sâu Pháp lý của nhà Phật. Ông thường hay sáng tác thơ ca về thiền như “Di hậu lục”, “Thiền tông liễu ngộ”, “Trần Thánh Tông thi tập”…

 

Vua Thánh Tông cũng dùng Nho giáo để giáo hóa dân chúng. Nho giáo ảnh hưởng mạnh đến các cơ quan nhà nước Đại Việt, rất nhiều vị trí quan trọng đều sử dụng Nho sĩ.

 

Sau đó Trần Thánh Tông nhường ngôi vua cho con là Trần Nhân Tông, vứt bỏ hết mọi danh lợi đi tu tại chùa Tư Phúc dưới sự hướng dẫn của thiền sư Đại Đăng.

 

Sự vững mạnh của nhà nước cùng một xã hội ổn định tạo tiền đề cho Đại Việt thêm 2 lần nữa đánh bại quân Nguyên Mông sau này, vào năm 1285 và 1288 – 1289.

 

Vua Trần Nhân Tông


Nhà vua tên thật là Trần Khâm. Theo các ghi chép để lại thì ngay từ nhỏ Trần Khâm đã học thông tam giáo, hiểu sâu Phật điển. Nhà vua duy trì chính sách của các vua Trần trước đó, duy trì tín ngưỡng Nho giáo và Phật giáo.

 

Khi 16 tuổi ông được vua Trần Thánh Tông chỉ định làm thái tử nối ngôi. Khi Trần Khâm muốn nhường lại cho em mình, vua Thánh Tông không đồng ý.

 

Vua Trần Nhân Tông cùng phụ hoàng và Trần Hưng Đạo đã cầm quân đánh bại quân Nguyên Mông vào năm 1285 và 1288 – 1289.

 

Sau khi chiến thắng, do ảnh hưởng của chiến tranh và thời tiết nên sản xuất nông nghiệp bị đình trệ, nạn đói xảy ra liên miên. Vua Nhân Tông cho phát thóc và bãi bỏ hoàn toàn thuế cho người dân. Nhà vua dùng từ bi đối xử với dân chúng, các quan lại được giáo dục bởi tam giáo đều yêu thương dân chúng. Dù những năm này đói kém liên miên nhưng lòng dân ổn định, không ghi nhận có bất kỳ sự nổi dậy nào. Lòng dân ổn định khiến nông nghiệp nhanh chóng hồi phục.

 

Năm 1293 sứ nhà Nguyên là Lương Tăng và Trần Phu sang Đại Việt đã vô cùng kinh ngạc vì mới sau chiến tranh đã có một Đại Việt phồn vinh “lúa mỗi năm gặt bốn lần, tuy vào mùa đông rét, mạ vẫn phơi phới” hay “thôn xóm đều có chợ, mỗi hai ngày họp một lần, trăm món tạp hóa đều dồi dào” và “thuyền bè các nước mọi ngoài biển đều đến rất đông, buôn bán trên thuyền rất rộn rịp” (Theo “An nam tức sự” của Trần Phu).

 

Năm 1299, nhận thấy Anh Tông trưởng thành, Trần Nhân Tông nhường ngôi lại cho con rồi đi tu hành, sáng lập ra thiền phái Trúc Lâm, thống nhất Phật giáo Việt Nam.

 

Dùng đức độ của nhà Phật nhằm giáo hóa dân chúng, khuyến khích người dân tu dưỡng đức hạnh, Đại Việt ngày càng cường thịnh, ngoại bang không dám ngó ngàng đến.

 

Trúc Lâm Yên Tử. (Ảnh qua giacngo.vn)


Vua Trần Anh Tông


Giống như các đời vua Trần trước, vua Anh Tông rất mộ đạo, ông đã góp nhiều công sức cho việc phát triển Phật giáo và nâng cao tín ngưỡng vào Phật trong dân chúng.

 

Mùa đông năm 1304, vua Anh Tông thỉnh cầu Điều Ngự để truyền tâm “Tâm giới Bồ Tát” tại gia cho ông. Việc làm này của nhà vua đã khiến cho nhiều tôn thất và quan lại thêm tin yêu và tín ngưỡng Phật Pháp, dùng đức độ học được từ tam giáo nhằm giáo dưỡng muôn dân, giúp Đại Việt kéo dài thời kỳ thịnh trị.

 

Năm 1313 và 1319, nông nghiệp gặp khó khăn do thiên tai, nhà vua lấy hầu hết vàng bạc của mình và quốc khố dâng cho sư Pháp Loa để phân phát lại cho người dân nghèo, xem xét tường tận để không có bất kỳ người dân nào của mình phải chịu cảnh đói khổ cả.

 

Có thể nói rằng, từ đời Thái Tông tới Anh Tông, Đại Việt nằm trong ánh hoàng kim của Phật Pháp.

 

Không còn tín ngưỡng, nhà Trần suy yếu


Sau vua Anh Tông, các đời vua Trần càng ngày càng không còn tín ngưỡng Phật Pháp như trước, khiến vương triều yếu dần, bắt đầu từ vua Trần Dụ Tông thì suy yếu hẳn. Lúc này ngoại bang bắt đầu nhòm ngó, Chiêm Thành nhiều lần cho quân đánh chiếm cả thành Thăng Long.

 

Vua Dụ Tông dù được đánh giá là thông minh, nhưng khác các đời vua trước, ông không có được niềm tin tín ngưỡng, không lo giữ gìn đạo đức tinh thần xã hội; bản thân ham mê tửu sắc, xây cung điện, đánh sưu cao thuế nặng khiến dân chúng ca thán.

 

Thượng bất chính, hạ tắc loạn. Một vị vua ham mê sa đọa thì các quan lại cũng chỉ lo ăn chơi sa đọa, vơ vét của dân. Trong nước nhiều nơi nổi lên chống lại triều đình.

 

Những vị hiền thần ít ỏi từ các đời vua trước như Chu Văn An đã dâng biểu xin trị tội tham quan ô lại nhưng vua không nghe, khiến Chu Văn An phải từ quan về quê dạy học.

 

Tượng thờ Chu Văn An. (Ảnh qua Wikipedia)


Hiền thần đều rời xa vua, chỉ còn những kẻ tham quan ô lại, nịnh bợ ở gần. Cuối cùng nhà Trần sụp đổ và mất về tay Hồ Qúy Ly.

 

Nhà Trần có thể đánh bại đội quân hung hãn và hùng mạnh nhất thế giới nhờ có một xã hội ổn định, thăng hoa đạo đạo đức tinh thần dựa trên nền tảng là niềm tin vào tín ngưỡng. Một khi tín ngưỡng không còn, khiến đạo đức tinh thần từ vua, quan đến người dân đều trượt dốc, thì một vương triều dù hùng mạnh đến thế cũng suy yếu rồi mất.

 

Ngày nay trên thế giới, những quốc gia giàu có, cuộc sống văn minh, phúc lợi người dân cao đều là những quốc gia có niềm tin tín ngưỡng; còn những quốc gia tuyên truyền thuyết vô Thần thì thường xảy ra tình trạng bất bình đẳng trong thu nhập, phúc lợi người dân kém, đạo đức tinh thần xã hội thấp, mỗi người đều sống vì mình khiến tệ nạn và tham nhũng lan tràn khắp nơi. Niềm tin tín ngưỡng chẳng phải là cái cốt lõi của mọi sự trong xã hội hay sao?

__________________

Trần Hưng

Nguồn: https://trithucvn.net

TÌM VỀ CHỐN TỔ THIỀN TRÚC LÂM TỪ NHỮNG LÁT CẮT KHẢO CỔ

Tưởng niệm 710 năm Ngày Đức Vua Trần Nhân Tông hóa Phật (1-11 âm lịch), chúng tôi đã có cuộc phỏng vấn nhà khảo cổ học TS Nguyễn Văn Anh về những nghiên cứu khảo cổ trong khu vực chốn Tổ Thiền Trúc Lâm và Am Ngọa Vân nơi Đức Vua Trần Nhân Tông nhập Niết bàn.

 

Tháp Phật Hoàng tại chùa Ngọa Vân, xã An Sinh, thị xã Đông Triều, Quảng Ninh.


Phóng viên: Là một nhà nghiên cứu đã giành tâm huyết điều tra, khai quật và nghiên cứu khảo cổ học hơn 10 năm qua tại các di tích chùa tháp của Thiền phái Trúc Lâm, và tìm hiểu quá trình tu luyện thành Phật của Đức Vua Trần Nhân Tông, Tiến sĩ có thể cho biết hành trình đó tiến hành như thế nào?

 

TS Nguyễn Văn Anh: Tháng 8-1299, Thượng hoàng Trần Nhân Tông (1279 -1293) rời bỏ cung Trùng Quang Phủ Thiên Trường (Nam Định) xuất gia vào núi Yên Tử tu hành khổ hạnh, lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà và xưng là Trúc Lâm Đại Sĩ. Tháng 5 năm Đinh Mùi (1307), Trúc Lâm Đại Sĩ lên núi Bảo Đài, lập am nhỏ trên đỉnh Vân Phong làm nơi tu hành, am đó gọi là Am Ngọa Vân. Ngày 1-11 năm Mậu Thân (1308), Ngài “an nhiên viên tịch” ở tư thế sư tử nằm tại Am Ngọa Vân, kết thúc trọn vẹn quá trình tu hành, đắc đạo và hóa Phật của Ngài. Trong hành trình đó, Vân Yên, Tử Tiêu là nơi Ngài tu hành, đắc đạo, giảng pháp, độ tăng còn Ngọa Vân là nơi Ngài thành Phật.

 

Sau khi Trúc Lâm Đại Sĩ hóa Phật, đệ tử của Ngài là Pháp Loa đã tiến hành hỏa táng nhục thể của Ngài ngay tại Ngọa Vân, thu hơn 3.000 viên xá lợi. Tại Ngọa Vân, Pháp Loa cho dựng một tòa bảo tháp gọi là Phật Hoàng tháp làm nơi lưu giữ xá lợi, số còn lại đích thân Vua Trần Anh Tông rước về an trí trong bảo tháp chùa Tư Phúc, một ngôi chùa của Hoàng gia trong Hoàng cung Thăng Long.

 

Là nơi Phật Hoàng Trần Nhân Tông tu hành và hóa Phật, Ngọa Vân cũng chính là chốn Tổ của Thiền Phái Trúc Lâm. Do vậy, sau khi Ngài hóa, được sự trợ duyên của Vua Trần Anh Tông, Tổ thứ hai của Thiền phái Trúc Lâm là Pháp Loa đã xây dựng và mở rộng Ngọa Vân thành một chốn tùng lâm. Nếu trước đây Ngọa Vân chỉ có một am nhỏ làm nơi tu thiền của Phật hoàng, thì đến thời điểm đó, Ngọa Vân đã trở thành một quần thể Chùa-Am với nhiều công trình kiến trúc chùa, tháp. Trong đó, Am Ngọa Vân là nơi thờ Đệ nhất Tổ Phật Hoàng Trần Nhân Tông.

 

Phóng viên: Theo Tiến sĩ, dấu vết về xá lợi của Phật hoàng Trần Nhân Tông hiện lưu ở đâu?

 

TS Nguyễn Văn Anh: Theo ghi chép của các nguồn sử liệu và những nghiên cứu gần đây cho biết, xá lợi của Phật hoàng được rước về an trí tại bảo tháp của chùa Tư Phúc trong Hoàng thành Thăng Long, sau đó được phân phát đi nhiều nơi, bao gồm: Bảo tháp ở Đức Lăng phủ Long Hưng, nay thuộc thôn Tam Đường, Hưng Hà, Thái Bình, nơi có một số lăng tẩm của các vua đầu triều nhà Trần; Bảo tháp Phổ Minh tại chùa Phổ Minh phủ Thiên Trường, nay là chùa Phổ Minh TP Nam Định; Tháp Báo Thiên bên hồ Lục Thủy (hồ Hoàn Kiếm); Tháp Tuệ Quang tại Hoa Yên (thường gọi là Tháp Tổ tại chùa Hoa Yên), nay thuộc Khu di tích danh thắng Yên Tử, TP Uông Bí, Quảng Ninh. Năm 1327 sau khi mở Quỳnh Lâm viện, một trung tâm đào tạo tăng tài lớn và quan trọng nhất của thiền phái Trúc Lâm, có hai tòa bảo tháp để lưu giữ xá lợi Phật hoàng tại Quỳnh Lâm và một phần được an trí tại bảo tháp chùa Tư Phúc.

 

Ngày nay, hầu hết các điển an trí xá lợi của Phật hoàng đều trở thành phế tích, có lẽ xá lợi còn lại được biết chính xác nhất là tại Tháp Phổ Minh. Sách Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú có chép lại chuyện, khi quân Tây Sơn đánh ra ngoài bắc, quân sĩ phá chóp tháp để lấy đồng đúc vũ khí, khi phá đến tầng 11, họ phát hiện trong đó có một cái hòm. Khi mở, hòm phát tia sáng nên họ sợ để lại. Năm 1986, khi trùng tu Tháp Phổ Minh, lãnh đạo tỉnh có cho kiểm tra lại xem ghi chép lịch sử có đúng hay không? thì đã tìm thấy hòm xá lỵ ở tầng thứ 11 như ghi chép của sử cũ. Những người trực tiếp tham gia việc trùng tu cho biết, hòm được xích sắt và rất nhiều lớp, nhưng người ta không dám mở ra, vì vậy thực hư trong đó có gì và bao nhiêu lớp thì hiện nay cũng không ai biết.

 

Phóng viên: Một di tích quan trọng vốn là chốn Tổ không chỉ của Phật giáo Trúc Lâm mà là của Phật giáo Việt Nam nhưng sao đến nay vẫn ít người biết đến như vậy?

 

TS Nguyễn Văn Anh: Rất đáng buồn vì điều anh băn khoăn lại là thực tế. Ít người biết đến Ngọa Vân và Ngọa Vân nằm ở đâu, mặc dù việc tìm hiểu về Ngọa Vân đã từng là vấn đề quan trọng trong chương trình nghiên cứu về thời Trần và văn thời Lý - Trần của nhiều viện nghiên cứu chuyên ngành như Viện Khảo cổ học, Viện Văn học, Viện Mỹ thuật,v.v. liên quan đến vấn đề này cũng có nhiều ý kiến khác nhau, thậm trí là trái chiều, nhưng nhìn chung mọi ý kiến đều cho rằng Ngọa Vân là một am nhỏ nằm trong khu vực Yên Tử thuộc Uông Bí. Vấn đề là việc các nhà nghiên cứu tự khoanh cho mình giới hạn của Yên Tử xưa trong quan niệm của Yên Tử nay. Do vậy, người ta đã loại trừ các vị trí bên ngoài Yên Tử, kết quả không ai đưa ra được bằng chứng nào có tính thuyết phục về vị trí của Ngọa Vân, và Ngọa Vân vẫn là một khoảng trống không được lấp đầy và dần đi vào lãng quên, giới tu hành hầu như cũng không để tâm đến, ngoài nỗ lực của Hòa thượng Thích Thanh Từ. Bản thân Sư ông Thích Nhất Hạnh khi viết cuốn tiểu thuyết lịch sử Am mây ngủ, tức là về Am Ngọa Vân cũng nhầm lẫn khi cho rằng Am Ngọa Vân nằm ở đâu đó gần kề với Tử Tiêu, Vân Yên.

 

Phóng viên: Tại sao vấn đề Ngọa Vân dường như chìm vào quên lãng trong một thời gian dài lại khiến TS quan tâm một cách nhiệt thành đến vậy? Và bằng chứng nào có thể khẳng định Ngọa Vân chính là nơi Trần Nhân Tông lập am tu hành và hóa thân?

 

TS Nguyễn Văn Anh: Có nhiều người cũng hỏi tôi câu hỏi tại sao anh lại quan tâm đến Ngọa Vân, thực lòng tôi cũng không biết là tại sao. Có lẽ đó là cơ duyên của tôi. Năm 2007, sau sáu năm tốt nghiệp cử nhân ngành khảo cổ học và về công tác tại Viện Khảo cổ học, lần đầu tiên tôi được giao nhiệm vụ chủ trì một cuộc khai quật, tất nhiên là cuộc khai quật thăm dò thôi. Viện giao cho tôi chủ trì khai quật thăm dò di tích Thái Lăng là lăng tẩm của vua Trần Anh Tông. Trong quá trình khai quật tại đây, tôi được nghe mọi người nói về chùa Ngọa Vân. Thực lòng tôi cũng không chú ý lắm vì có lẽ lúc ấy với tôi chùa Ngọa Vân cũng như bao chùa khác. Tôi chưa có khái niệm gì về Ngọa Vân. Rồi tôi được giao thêm nhiệm vụ khai quật thăm dò Di tích chùa Quỳnh Lâm. Chùa Quỳnh Lâm là một đại danh lam trong lịch sử, nổi tiếng bởi chùa có tượng Phật Di Lặc là một trong An Nam tứ khí. Không chỉ có vậy, Quỳnh Lâm là trung tâm đào tạo tăng tài lớn và quan trọng nhất của Thiền phái Trúc Lâm dưới thời Trần, thế kỷ 13. Khai quật một di tích quan trọng như vậy quả là quá sức đối với tôi, vì thế tôi phải tập trung để đọc tư liệu, khảo sát và tìm hiểu các di tích liên quan và tôi bắt đầu chú ý đến Ngọa Vân.

 

Cuối năm 2007, tôi được giao tiến hành điều tra khảo cổ học Di tích Hồ Thiên-Ngọa Vân, cuộc điều tra được tiến hành trong ba tháng, từ tháng 11-2007 đến tháng 2-2008, chúng tôi kết thúc cuộc điều tra và trở về Hà Nội vào ngày 27 tháng Chạp. Trước khi chia tay về Hà Nội, chúng tôi có tranh thủ báo cáo vắn tắt kết quả cuộc điều tra với ông Nguyễn Văn Lương, Phó Chủ tịch UBND huyện (nay là thị xã) Đông Triều, người phụ trách mảng văn xã và cũng là người thầy luôn đưa ra những đòi hỏi và phản biện lại những ý tưởng cũng như nhận định của tôi về các di tích tại Đông Triều. Khi chia tay, tôi hứa với ông Phó Chủ tịch là tôi sẽ viết một bài để công bố kết quả của cuộc điều tra.

 

Về Hà Nội, sau những ngày nghỉ Tết Nguyên đán, ông Lương có gọi báo cho tôi về bài viết của tác giả Trần Ngọc Linh công bố phát hiện Am Ngọa Vân tại Yên Tử. Ông bảo, nên xem lại kết quả điều tra vừa qua để có ý kiến chính thức về mặt khoa học. Đọc xong bài của tác giả Trần Ngọc Linh trên Vietnamnet, tôi bắt tay vào viết bài trao đổi trên Vietnamnet với tựa đề: Am Ngọa Vân ở đâu trên dãy núi thiêng Yên Tử. Thế là hoàn thành nhiệm vụ, Ngọa Vân cũng tạm được gác lại. Tháng 3-2008, tôi đã bắt tay vào việc khai quật Di tích Thái Lăng. Bỗng một hôm tôi nhận được cuộc điện thoại. Đầu dây là một người đàn ông, giọng nói ấm áp giới thiệu: “Anh là Trần Cẩm, đạo diễn của phòng Phim tài liệu khoa học, Đài Truyền hình Việt Nam. Anh đọc bài của em trên Vietnamnet về Am Ngọa Vân, muốn gặp em để bàn có thể dựng một bộ phim tài liệu”. Lần thứ nhất các anh đến gặp nhưng không báo trước nên hai bên không gặp được nhau do tôi về Hà Nội. Lần thứ hai, hai bên gặp nhau tại Đông Triều. Việc quay bộ phim Hành trình đi tìm nơi vua hóa Phật được thực hiện trong bối cảnh không có kịch bản như vậy. Ngồi dựng phim chúng tôi mới chợt nhận ra năm 2008 là tròn 700 năm ngày Trần Nhân Tông hóa Phật, có lẽ đó là một cơ duyên nữa khiến tôi gắn bó với Am Ngọa Vân.

 

Tháng 10-2008, tại Hội thảo khoa học Đông Triều với Lịch sử nhà Trần, tôi chính thức công bố kết quả nghiên cứu đầu tiên của mình về Ngọa Vân với tựa đề “Chùa Ngọa Vân qua các tư liệu khảo cổ học”. Trong bài viết đó, tôi cung cấp ba cứ liệu quan trọng: Cứ liệu về lịch sử địa lý để thấy không gian Yên Tử theo cách hiểu trước đây rộng lớn hơn nhiều so với cách hiểu ngày nay, theo đó, Yên Tử sơn là một không gian rộng lớn tương đương với một phần vòng cung Đông Triều từ Uông Bí đến Côn Sơn.

 

Cứ liệu thứ hai là tư liệu thư tịch liên quan đến Ngọa Vân, trong đó quan trọng nhất là những ghi chép trong sách Tam tổ thực lục và Văn bia Viên thông tháp bi, cuối cùng là các bằng chứng khảo cổ học phát hiện tại di tích bao gồm di tích và di vật. Tại chùa Ngọa Vân thuộc Đông Triều, các di tích đều gắn với địa danh Ngọa Vân như: Chùa Ngọa Vân, Am Ngọa Vân,v.v. Cũng tại đây còn lại Tháp Phật Hoàng, trong tháp đặt bài vị cho biết, tháp thờ vua thứ ba của nhà Trần, Tổ thứ nhất của Thiền phái Trúc Lâm Trần Nhân Tông hoàng đế. Mặc dù đây là tòa tháp được xây dựng lại vào năm 1707 nhưng Văn bia trùng tu Ngọa Vân tự ở đây cho biết, tháp được xây dựng lại do sau 400 năm ngày đức vua đến đây tu hành hóa Phật thì các công trình đã bị đổ nát. Văn bia còn khắc lại nội dung sắc chỉ của Chúa Trịnh giao cho dân xã An Sinh là dân tạo lệ, có nhiệm vụ trông nom thờ phụng các lăng tẩm của vua Trần và chùa Ngọa Vân. Đặc biệt, tại đây còn tìm thấy một số viên ngói mũi sen thời Lê Trung Hưng trên lưng in nổi hai chữ Hán “雲峯 (Vân Phong)”. Vân Phong là tên gọi khác của Ngọa Vân, cách gọi này được ghi chép trong Tam tổ thực lục.

 

Trước những bằng chứng quan trọng đó, hầu hết các nhà khoa học tham gia Hội thảo đã thống nhất với kết luận: “Ngọa Vân, nơi đức vua Trần Nhân Tông tu hành và hóa Phật, nay là chùa Ngọa Vân thuộc địa bàn hai xã An Sinh và Bình Khê của huyện (nay là thị xã) Đông Triều”. Kết luận này đã chấm dứt cuộc tranh luận về vị trí của Am Ngọa Vân .

 

Phóng viên: Hiện cơ quan nào đang chịu trách nhiệm chính trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản đặc biệt này ?

 

TS Nguyễn Văn Anh: Năm 2013, Thủ tướng Chính phủ đã công nhận chùa Ngọa Vân và 13 di tích lăng tẩm, đền miếu và chùa tháp khác trong Khu di tích nhà Trần tại Đông Triều là di tích cấp quốc gia đặc biệt. Công tác quản lý các di tích này được phân cấp cho thị xã Đông Triều trực tiếp quản lý. Để làm tốt công tác quản lý, một mặt thị xã Đông Triều đã thông qua đề án Quản lý bảo tồn, tôn tạo di tích và danh thắng trên địa bàn thị xã từ năm 2014 đến 2020 và tầm nhìn 2030 với trọng tâm là Khu di tích nhà Trần; thành lập Ban quản lý di tích nhà Trần để thực hiện công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị. Mặc dù đã rất cố gắng nhưng công tác quản lý bảo tồn các di tích nhà Trần nói chung và di tích Ngọa Vân nói riêng còn gặp nhiều khó khăn và cần tiếp tục được tỉnh và Trung ương quan tâm.

 

Phóng viên: Xin cảm ơn TS Nguyễn Văn Anh và mong rằng, cá nhân ông cùng ngành khảo cổ sẽ tiếp tục có những nghiên cứu, phát hiện mới, giúp mọi người hiểu rõ hơn về một dòng phái Phật Việt Nam mang tên Trúc Lâm Yên Tử.

_______________

THÁI HÀ (thực hiện)

Nguồn: http://nhandan.com.vn

VẤN ĐỀ PHÁP PHÁI TRUYỀN THỪA CỦA HẢI LƯỢNG THIỀN SƯ NGÔ THÌ NHẬM

Ngô Thì Nhậm


Chỉ xét riêng về lĩnh vực văn học, ông đã để lại một khối lượng tác phẩm đồ sộ với nhiều thể loại khác nhau. Về thơ, có các tác phẩm như:Bút hải tùng đàm, Thủy vân nhàn vịnh, Ngọc đường xuân khiếu, Cúc hoa thi trận, Thu cận dương ngôn, Hoàng hoa đồ phả, Cẩm đường nhàn thoại. Về văn có các tập:Bang giao hảo thoại, Xuân thu quản kiến, Hào mân ai lục, Hàn các anh hoa, Kim mã hành dư, Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh.
 
Ngô Thì Nhậm 吳時任 vì kiêng phạm húy vua Tự Đức Nguyễn Phúc Thì tự Hồng Nhậm nên đổi thành Ngô Thời Nhiệm, tên Phó付, tự Hy Doãn希尹, hiệu Đạt Hiên達軒, sinh ngày 11-9-Bính Dần, tức ngày 25-10-1746, mất năm 1803, người xã Tả Thanh Oai (làng Tó), huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông (nay là huyện Thanh Trì, Hà Nội) trong một “thế gia vọng tộc” có truyền thống đạo đức, khoa bảng. Qua tên, tự, hiệu của ông, ít nhiều hé lộ mong mỏi, hoài bão của gia đình ông. Chữ “Thì Nhậm” có nghĩa là gánh vác đúng lúc; “Hy Doãn” là mong ước được như Tể tướng Y Doãn có công an bang tế thế thời nhà Thương ở Trung Quốc. Vì Ngô Thì Nhậm tu theo Phật, viết sách, dạy thiền nên được các pháp hữu đệ tử tôn xưng Hải Lượng đại thiền sư 海量大禅師. Sách Ngô Thì Nhậm toàn tập, tập 1, trang 9, phần chữ Hán chép nhầm là 海亮
 
Ngô Thì Nhậm có pháp danh là Hải Lượng, vậy ông là đệ tử của thiền sư nào? Theo truyền thống của nhà Thiền, pháp danh của đệ tử là do sư phụ dựa theo bài kệ truyền pháp của tổ sư mà đặt cho. Dựa theo chữ “Hải” trong pháp danh của ông, chúng ta có thể nhận ra ông là đệ tử truyền thừa của một trong ba dòng kệ sau:
 
- Một là dòng kệ của Thiền sư Minh Hành Tại Tại (1596 - 1659), đệ tử Thiền sư Viên Văn Chiết Chiết:
 
“Minh chân như tính hải/ Kim tường phổ chiếu thông/ Chí đạo thành chính quả/ Giác ngộ chứng chân không”(1).
 
- Hai là dòng kệ của Thiền sư Thiệt Diệu Liễu Quán (1667 - 1742):
 
“Thiệt tế đại đạo/ Tính hải thanh trừng/ Tâm nguyên quảng nhuận/ Đức bổn từ phong/ Giới định phúc tuệ/ Thể dụng viên thông/ Vĩnh siêu trí quả/ Một khế thành công/ Truyền trì diệu lý/ Diễn xướng chính tông/ Hành giải tương ứng/ Đạt ngộ chân không”(2).
 
- Ba là dòng kệ của Thiền sư Trí Bản Đột Không:
 
“Trí huệ thanh tịnh/ Đạo đức viên minh/ Chân như tính hải/Tịch chiếu phổ thông/ Tâm nguyên quảng nhuận/ Bản giác xương long/ Năng nhân thánh quả/ Thường diễn khoan hằng/ Tính truyền pháp ấn/ Chứng ngộ hội dung/ Truyền trì giới định/ Vĩnh kế tổ tông”(3).
 
Như vậy, chắc chắn là sư phụ của Hải Lượng thiền sư thuộc thế hệ chữ “Tính”. Hơn nữa, là đệ tử truyền thừa theo dòng kệ của Thiền sư Minh Hành Tại Tại, cùng môn phái với Thiền sư Chân Nguyên chứ không phải dòng kệ truyền pháp của Thiền sư Trí Bản Đột Không dòng Lâm Tế như học giả Lê Mạnh Thát khẳng định: “Tính Quảng có thể là bổn sư trao pháp danh Hải Lượng cho Ngô Thời Nhiệm, nếu ta căn cứ vào pháp danh của hai người này được đặt theo dòng kệ truyền pháp của phái Trí Bản Đột Không thuộc dòng Lâm Tế:
 
Trí tuệ thanh tịnh/ Đạo đức viên minh/ Chân như tính hải/ Tịch chiếu phổ thông/ Tâm nguyên quảng tục/ Bản giác xương long/ Năng nhân thánh quả/ Thường diễn khoan hằng/ Duy truyền pháp ấn/ Chứng ngộ hội dung/ Kiên trì giới hạnh/ Vĩnh thiệu tổ tông.
 
Sau khi trình bày với Tính Quảng, một kế hoạch đã hoàn thành. Đó là lấy phần tiểu sử của Trần Nhân Tông trong Thánh đăng ngữ lục và bản niên phổ khắc trên bia đá dựng trước tháp Viên Thông của Pháp Loa tại chùa Thanh Mai cùng với bản Tổ gia thực lục để tạo nên sách Tam tổ thực lục ta hiện có cùng với mấy đoạn phiến các tác phẩm của ba vị tổ vừa nêu này đang nằm rơi rớt tại các chùa biết dưới tên Thiền đạo yếu học”. (Lê Mạnh Thát, 2006, Trần Nhân Tông toàn tập, trang 296, 297, NXB.Tổng Hợp TPHCM).
 
Bởi vì, căn cứ vào tác phẩm Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh, chương 11, Trác thanh, tăng Hải Hòa Nguyễn Đăng Sở có nhắc đến Thiền sư Viên Văn Chiết Chiết như sau: “Chiết công (Thiền sư Chiết Chiết) ta đi bộ đến phương Nam, ở lộ thiên dưới gốc cây ba tháng trời mới đến trụ trì ở chùa Nhạn Tháp ở Siêu Loại, sau đó phò mã Quốc công phải cờ quạt đến đón rước. Nay ở chùa còn thờ làm Tổ”(4).
 
Mặc dù Thiền sư Minh Hành Tại Tại là đệ tử của phái Trí Bản Đột Không, nhưng ngài đã xuất kệ truyền pháp riêng như trên đã đề cập. Minh Hành và Minh Lương là hai đệ tử xuất sắc của Thiền sư Chiết Chiết. Minh Hành là người Trung Hoa, còn Minh Lương là người Đại Việt. Minh Lương là sư phụ của Thiền sư Chân Nguyên. Các vị đệ tử xuất sắc có công phục hưng thiền phái Trúc Lâm và trùng san những tác phẩm Phật học thời Lý - Trần của Chân Nguyên gồm có: Như Hiện, Như Trừng, Như Sơn, Như Trí… Năm 1750, khi Tính Lương trùng san Thánh đăng lục, có nhờ Tính Quảng đề tựa. Có thể Tính Lương và Tính Quảng là sư huynh đệ cùng thế hệ chữ “Tính” và là thế hệ đệ tử của thế hệ chữ “Như”: Như Hiện, Như Trừng, Như Sơn, Như Trí…
 
Theo học giả Lê Mạnh Thát, thì có thể Hải Lượng là đệ tử của Thiền sư Tính Quảng: “Việc trình bày lịch sử phát triển của thiền phái Trúc Lâm qua ba vị tổ Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang có thể nói là một sáng tạo đặc biệt của Phật giáo Việt Nam thế kỷ XVIII, khi Tính Quảng và người học trò của mình là Hải Lượng Ngô Thời Nhiệm đã sao trích những mảng tư liệu khác nhau, để tập hợp lại và cho ra đời sáchTam tổ thực lục(5).
 
Trong Việt Nam Phật giáo sử luậncủa Nguyễn Lang, Thiền sư Tính Quảng còn được nhắc đến dưới vai trò là người đề tựa sách Thánh đăng lục, bản trùng san năm 1750 do Tính Lương thực hiện.
Căn cứ trên văn bia Thừa Bình Tháp Ký tại chùa Dâu do Tính Quảng Thích Điều Điều soạn lập năm Cảnh Hưng thứ 17 (1756), thác bản lưu tại tủ sách Pháp Đăng, ghi lại hành trạng Thiền sư Hải Mộ, còn gọi là Tính Mộ mà các tư liệu khác đề cập. Trong văn bia có câu: “Thật Long Đức nguyên niên Nhâm Tý nãi quy tông thụ giáo bản sư ư Nhạn Tháp Ninh Phúc tự. Bản sư chính Ba Tiêu Thiên Tâm chi pháp tử, Trúc lâm Long Động chi pháp tôn, hệ Đông Đô thủy tổ chi chính mạch dã.”

寔龍德元年壬子乃皈宗受教本師於雁塔寧福禪寺本師正芭蕉天心之法子竹林龍洞之法孫系東都始祖之正脈也. (Năm Long Đức thứ nhất, Nhâm Tý 1732, ngài quy tông thụ giáo bản sư ở chùa Ninh Phúc, Nhạn Tháp. Bản sư chính là pháp tử của chùa Thiên Tâm, Ba Tiêu, là pháp tôn của Trúc Lâm Long Động thuộc hệ chính mạch Đông đô Thủy tổ). Đông Đô thủy tổ tức chỉ cho Hòa thượng Chuyết Công Viên Văn do Thánh thiên tử Thần tông Uyên hoàng đế sắc tứ thụy Năm Phúc Thái Giáp Dần 1674. Thiền sư Tính Quảng còn soạn văn bia Kết Liên Hoa tuyển Phật đồ tại chùa Bảo Quang ở Bắc Ninh lập năm Cảnh Hưng thứ 24 (1763).
 
Với những tư liệu hiện có như trình bày ở trên, chúng ta có thể thấy được vị sư phụ truyền pháp danh Hải Lượng cho Binh bộ thượng thư, Thị trung đại học sĩ, Hy Doãn Công Ngô Thì Nhậm là Thiền sư Tính Quảng Thích Điều Điều (1740 - 1780) thuộc dòng thiền Minh Hành Tại Tại.
 
________________________

• Thích Hạnh Tuệ

(*)Giảng viên HVPG tại TP.HCM, Hiệu trưởng Trường Ngoại ngữ Thanh Nhân
(1) Nguyễn Lang (2008),Việt Nam Phật giáo sử luận, NXB. Văn Học. HN, trang 538.
(2)Nguyễn Lang, sđd, trang 603.
(3)Thích Như Tịnh (2009), Lịch Sử truyền thừa thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh, NXB. Phương Đông, trang 557.
(4) Lâm Giang (chủ biên), (2006), Ngô Thì Nhậm toàn tập, Tập 5, NXB. Khoa học Xã hội, trang 263.
(5)Lê Mạnh Thát (2006), Trần Nhân Tông toàn tập, NXB. Tổng Hợp TP.HCM, trang 291.

ĐÃ SỐNG NHƯ MÂY

Sơ Tổ Trần Nhân Tông khi còn trên ngôi cửu trùng, đã xem ngai vàng như dép rách, danh lợi như phù hư. Tổ thích cuộc sống thanh đạm mà lòng nhẹ như mây. Có lẽ vì thế mà sau khi giao hết vương quyền và trọng trách cho Anh Tông, Người lên núi xuất gia tu hạnh đầu đà, buổi đầu lấy hiệu là Hương Vân.


Hương Vân là mây thơm, mây thì bay muôn phương và che mát cho chúng sanh khắp chốn. Nếu cần bóng râm, mây kết tụ lại che bớt sức nóng của mặt trời. Nếu cần mưa, mây kéo lại dày hơn, đen kịt, tuôn nước xuống rưới khắp mọi nơi. Nếu không cần bóng râm, không cần nước mưa thì mây là mây, thênh thang cùng trời đất. Mây là thế, và Tổ đã sống cuộc đời như mây.



Khi còn tại vị vua Nhân Tông sẵn sàng hy sinh thân mạng để giữ gìn đất nước được vẹn toàn, đánh đuổi giặc Nguyên Mông ra khỏi bờ cõi, mang lại thái bình cho nước cho dân. Sau khi tu hành ngộ đạo, Người chống gậy đi khắp đất nước truyền dạy Phật pháp cho mọi người, giúp họ thăng hoa đời sống tâm linh. Ngài làm muôn sự mà lòng không vướng bận, thanh thoát như mây. Chính vì vậy mà người đời đã tôn xưng Ngài là Tổ, mãi đến hôm nay nếu có ai lần về Yên Tử, đứng trên non cao nhìn về dấu tích chốn xưa Tổ ở mà lòng cũng nhẹ như mây.

Thế thì tâm xưa tâm nay đâu khác, chốn xưa cảnh nay đâu thay đổi gì, nếu ta nhìn bằng cái tâm thực tại hiện tiền sáng rỡ, thì tâm ta tâm Tổ đồng. Chỉ một tâm ấy ta cùng chư Phật không sai không khác. Nhưng sở dĩ ta vẫn là chúng sanh vì tâm ta chưa nhẹ hẳn như mây, ta còn vương mang nhiều quá, tư lự nhiều quá nên tâm ta cách Phật Tổ khá xa.

Trong bài Phú Cư Trần Lạc Đạo, Tổ Nhân Tông có nói: “Gia trung hữu bảo hưu tầm mích”. Tạm dịch: Châu báu đầy nhà thôi đừng chạy kiếm. Tổ khuyên chúng ta hãy ngay nơi ngôi nhà tự tâm mà xoay lại nhìn thì châu báu dùng không hết. Nhưng ta cứ bôn ba tìm cầu, cái gì cũng chụp, cái gì cũng nắm, nên ngôi nhà tâm linh chỉ toàn là đá sỏi. Càng chạy càng nhọc nhằn mà chẳng được tí ti châu báu nào. Đáng thương thay!

Có vị tăng hỏi Tổ:

- Gia phong Hòa thượng thế nào?

Tổ đáp:

“Phá nạp ủng vân triêu khiết chúc,
Cổ bình tả nguyệt dạ tiên trà.”

Tạm dịch:

Áo rách che mây, sáng ăn cháo,
Bình xưa tưới nguyệt, tối uống trà.

Học nhân hỏi về gia phong của Tổ, tức là chỗ sống, chỗ dụng tâm hằng ngày của Tổ thì thế nào? Tổ đáp rất dung dị: Ngày ngày Tổ mặc áo rách, sáng ăn cháo, tối uống trà. Bình thường, đơn giản, đâu có xa xôi. Đó là gia phong của Tổ.

Nhưng trong cái bình thường ta thấy toát lên nét siêu thoát của một vị tăng nhàn đầu núi. Tổ ăn rau cháo qua ngày mà lòng sảng khoái tiêu dao. Tổ mặc áo rách mà tâm không vướng bận, không ưu tư, không toan tính hơn thua, không khổ chuyện mất còn. Từ một bậc đế vương uy quyền tột đỉnh buông tất cả để làm một sơn tăng, sáng vui với cỏ nội mây ngàn, tối bầu bạn với trăng sao, bần mà thanh, nghèo mà sạch, quý ở vô tâm.

Vậy chúng ta có sống được như Tổ chăng? Hiện tại thì chưa được rồi. Vì ta ăn còn phân biệt vị ngon hay dở, mặc vải mà xem là tốt hay xấu,… như thế thì phan duyên nhiều quá. Nếu có lên núi ở chắc ta cũng lục đục quay về, vì tâm còn nặng lợi danh nên bị tuột xuống đất. Để thấy rằng, nói là một chuyện mà hành lại là một chuyện khác, hai cái cách nhau xa như núi với đất bằng. Vì vậy Tổ nhắc chúng ta đừng có vong thân nhiều, phải biết thương mình, thương mình thì đừng có chạy theo cảnh, theo duyên. Phải đối cảnh vô tâm mới hợp với đạo. Vô tâm là sao? Là ta thấy sắc thì chỉ biết thấy. Thấy cái gì biết cái đó rõ ràng mà không khởi tâm phân biệt, không khen chê dính mắc theo duyên bên ngoài. Đó gọi là vô tâm. Chứ không phải vô tâm là không thấy không biết gì cả, như cây khô củi mục. Nếu ta luôn sống trở về với bản tâm chân thật thì ta sẽ không khổ, được an vui. Mới có thể làm sơn tăng sớm đầu núi, tối cuối nghềnh, khát uống nước suối, đói ăn trái rừng, mà tâm nhẹ như mây. Và có thể nói rằng Tổ đã sống bằng tâm mây. Tâm mây không phải là tâm trôi nổi, mà là nhẹ nhàng thanh thoát như mây, hành sự như mây. Để rồi cuối đời Tổ đã chọn am mây làm nơi thị tịch (Ngọa Vân am).

Trong Tam Tổ Trúc Lâm có ghi: Thị giả Bảo Sát trên đường đến am Ngọa Vân theo lời chỉ dạy của Tổ đã “thấy một vầng mây đen từ ngọn Ngọa Vân bay qua Lỗi Sơn và hạ xuống Doanh Tuyền, nước đầy tràn lên cao mấy trượng, giây lát lại bình xuống…”. Khi đến am, Tổ mỉm cười và bảo “Ta sắp đi đây”. Trước khi Tổ vào cõi Niết Bàn, người đệ tử đã thấy trước điềm chẳng lành là vầng mây đen từ am Ngọa Vân bay qua và hạ xuống. Mây tụ mây tan là chuyện thường. Nước từ biển, sông, suối… nhờ sức nóng mặt trời bốc hơi lên tạo thành mây, mây kết tụ tuôn nước xuống lại biển, sông,… đâu hoại đâu thành, chỉ là do duyên. Đủ duyên thì đến hết duyên đi, đi trong cái nhẹ nhàng thanh thoát như mây mới là điều đáng nói, đi trong sự tỉnh giác làm chủ được tử sinh mới là điều đáng cho ta trân quý. Và Tổ đã làm được điều đó, đêm mùng 01 tháng 11 năm Mậu Thân (1308), trời trong sao sáng, Tổ hỏi Bảo Sát: “Hiện giờ là giờ gì?” Bảo Sát bạch: “Giờ Tý”. Tổ lấy tay vén màn cửa sổ nhìn xem, nói: “Đến giờ ta đi”. Thế rồi Ngài nằm theo thế sư tử, an nhiên thị tịch.

Không còn ngôn từ nào để ca ngợi sự tự tại của Tổ giữa lằn ranh sống và chết. Tổ đã tự tại như mây, bay nhẹ như mây, mây tan để rồi trở về cùng hư không, hòa với núi sông. Đâu có mất bao giờ! Và Người đã sống cuộc đời như mây.
__________________

Linh Cẩn

Nguồn: thuongchieu.net

VUA TRẦN NHÂN TÔNG NÓI "CHÍN BỤT LÀ LÒNG": HIỂU THẾ NÀO CHO ĐÚNG VỀ SỐNG TỐT?

Tất cả những cái gọi là rủi ro, bất hạnh xảy ra cho mình trong cuộc đời đều là do thiếu lòng tốt. Câu nói “Chín Bụt là lòng” của vua Trần Nhân Tông trong Cư trần lạc đạo phú (hội thứ ba) hẳn là chúng ta chưa hiểu hết và chưa khai thác hết dù cho đến cả những thời đại tương lai.

Nếu có một cái gì mà khi gặp bất cứ người nào, dù nam hay nữ, già hay trẻ, chúng ta có thể “rút từ trong túi ra” trao tặng ngay cho người ấy, thì cái đó chính là lòng tốt. Chưa chắc chúng ta có thể trao cho trọn vẹn bằng ngôn ngữ, vì đôi khi không rành tiếng của người đó, chưa chắc có thể trao cho tri thức, vì cần có trình độ tương đương giữa hai người, cũng chưa chắc chúng ta có thể trao cho tiền bạc, giúp đỡ cơ hội, vì lỡ người đó giàu có và thế lực hơn thì sao? Những sự trao cho đều đòi hỏi điều kiện, chỉ có lòng tốt là không cần điều kiện. Và cái gì không cần điều kiện, cái đó được gọi là tự do (người phương Tây dịch chữ giải thoát của Đức Phật là tự do). Tự do có nghĩa là không lệ thuộc vào nguyên do nào chính nó.

 

Chúng ta thấy người phương Tây mở miệng ra là xin lỗi, cám ơn, cho phép…Đó là cách biểu lộ lòng tốt ra trong ngôn ngữ hàng ngày. Đó cũng là cái lịch sự, văn minh của người phương Tây khi mục tiêu của chúng ta là hướng tới một xã hội “công bằng, dân chủ, văn minh”, thì xét kỹ, cả ba khái niệm trên đều có nền tảng là lòng tốt. Dầu có bao nhiêu luật lệ, nhưng nếu không có lòng tốt đàng sau những luật lệ ấy thì chúng ta dễ dàng o ép người khác khi họ yếu thế hơn. Sẽ không có công bằng nếu không có lòng tốt. Dầu có bao nhiêu quyền cho con người, nếu không có lòng tốt, chúng ta dễ dàng nhũng nhiễu, thậm chí “hành” người dân. Pháp luật và dân chủ chỉ thể hiện trọn vẹn ý nghĩa của nó khi thật sự có lòng tốt giữa con người và xã hội. Và ngay cả theo quan niệm của phương Tây, văn minh không chỉ là nhà cao cửa rộng, xe tốt mà còn là sự đối xử văn hóa giữa người với người, giữa người với thiên nhiên, giữa từng cá nhân với chính mình dựa trên lòng tốt.

 

Chúng ta thấy mọi tệ nạn xã hội đều do thiếu lòng tốt. Tham nhũng, dù dưới bất cứ hình thức nào, là do thiếu lòng tốt đối với đa số dân chúng còn khó khăn nghèo khổ; tai nạn giao thông vì chạy ẩu, say rượu, xe không an toàn; không có lòng tốt nghĩ đến những người trên xe và giữa đường; thực phẩm xuất khẩu bị trả về vì có chất độc hại quá mức cho phép, không có lòng tốt nghĩ đến sức khỏe người khác, ai chết mặc ai miễn có lợi nhiều là được, xì ke, SIDA: không có lòng tốt với chính thân thể mình và với cộng đồng. Điều ngược lại, cũng dĩ nhiên tất cả những gì tốt đẹp trên đời đều do lòng tốt mà có.

 

Tôi có một người bạn tu sĩ trẻ hiện đang sống ở Canada. Những năm trước khi xuất gia, anh đọc nhiều sách Phật giáo, nhưng khi về quê Nha Trang thăm mẹ, anh thường rủ bạn bè đi ăn ở những nhà hàng ven biển, đủ mọi hải sản tươi sống, thích con gì thì vớt lên. Một hôm đang đứng nơi trạm chờ xe bus ở Canada, anh thấy một cô gái phương Tây chạy vội ra đường gặp một con sâu đang bò giữa đường bò vào bụi cây bên lề, từ đó anh không hề dám tới những nhà hàng “tươi sống” ấy nữa. Vài năm sau, khi trên đường đi đến tu viện Dharamsala của Kalu Rinpoche, anh chán nản muốn trở về, vì khí hậu khắc nghiệt, vì bị trộm cắp, vì tình trạng lộn xộn bất ổn ở Ấn Độ. Đang ngồi thừ người trong phòng trọ tồi tàn, thì thấy một em bé gái Ấn Độ bước vào, tay cầm trái cam, em bóc vỏ trái cam và đưa mời anh. Kết quả là anh ở lại Ấn Độ và tiếp tục lên đường về phương Bắc.

 

Lòng tốt tạo ra những điều kỳ diện, những phép lạ. Như trong các truyện cổ tích Việt Nam, có những ông già râu tóc bạc phơ, những bà tiên, ông Bụt… tất cả đều là sự hiện ra để cứu giúp, đem lại may mắn, phước lành. Suy nghĩ sâu xa, tất cả những cái gọi là rủi ro, bất hạnh xảy ra cho mình trong cuộc đời đều là do thiếu lòng tốt. Câu nói “Chín Bụt là lòng” của vua Trần Nhân Tông trong Cư trần lạc đạo phú (hội thứ ba) hẳn là chúng ta chưa hiểu hết và chưa khai thác hết dù cho đến cả những thời đại tương lai.

 

Mỗi người chúng ta đều có kho tàng lòng tốt nơi mình. Chúng ta biểu lộ, thể hiện nó ra bao nhiêu thì chúng ta sẽ khám phá ra nó bấy nhiêu. Và khám phá ra lòng tốt là khám phá ra chính con người mình. Khám phá con người mình, đây là mục đích và ý nghĩa của đời người, là khám phá ra lòng tốt ở trong lòng mình. Và càng thể hiện lòng tốt ra bao nhiêu, người ta càng khám phá ra chính mình, càng làm đẹp cho cuộc đời mình (mà từ ngữ Phật giáo gọi là “trang nghiêm”) bấy nhiêu. Đó cũng là con đường của hạnh phúc, của hài hòa, với tất cả mọi người, mọi vật.

 

Tận trong đây lòng mỗi người là một kho tàng lòng tốt. Khổng Tử đã nói: “Có lòng nhân là người vậy” (Nhân giả, nhân dã). Đức Phật đã nói: “Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh”. Nếu chúng ta biết sử dụng lòng tốt, khai thác nó, thể hiện nó thì chúng ta sẽ biến cuộc đời chúng ta và những người, những vật chung quanh thành một môi trường hạnh phúc an vui.

 

Có một thứ mà khi càng cho đi thì càng có thêm nhiều, đó là lòng tốt. Có một loại năng lượng mà càng sử dụng, thậm chí càng “xài phí” thì càng có nhiều thêm, đó là lòng tốt. Một năng lượng có thể biến cải tâm hồn con người, điều mà tất cả những năng lượng vật chất khác không thể nào làm được, biến thế giới này thành một thế giới đáng sống, biến con người thành những nhân cách muốn được sống cùng, đó là lòng tốt. Đây là một cuộc cách mạng không đòi hỏi gì (vũ khí, nguồn vốn tư bản, nguồn vốn tri thức…)nó chỉ nằm nơi quyết định và hành động của mỗi chúng ta. Chúng ta có quyền, vì không ai có thể ngăn cấm, biến cuộc đời chúng ta thành một sự thể hiện của lòng tốt, nghĩa là của hạnh phúc, và có quyền biến cả thế giới này, thậm chí cả vũ trụ này thành thế giới của lòng tốt: thế giới nơi lòng tốt lưu thông, nơi lòng tốt giao thiệp, nơi lòng tốt trao đổi, gặp gỡ,đối thoại, nơi lòng tốt làm chính trị,thương mại, kinh tế, xã hội…nghĩa là một nơi vinh danh cho con người, thế giới và thiên nhiên, mà không cần đặt tên nơi đó là Niết Bàn, Thiên đàng hay cần phải mang tên bất kỳ một chữ nghĩa hoặc tôn giáo nào.

________________

 

Nguyễn Thế Đăng - Tạp chí Văn hóa Phật giáo số 24 năm 2007

Bài có tiêu đề: Kho tàng lòng tốt - Tiêu đề đăng trên trang tin do www.phatgiao.org.vn đặt

Nguồn: phatgiao.org.vn

 

TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ HIỆN THÂN CỦA DUY MA CẬT VÀ BÀNG LONG UẨN

Tuệ Trung đã từng vứt bỏ những phê phán thị phi, vì đó là quan niệm cố hữu nằm trong lăng kính, với những sắc màu lôi kéo. Nên không thể cảm nhận sâu xa về con người đã đạt được chiều sâu thực chứng. Ông đã từng liệng nó vào hố thẳm trần gian. Vì thế những ai gần ông đều qui phục, cảm cách.


Tuệ Trung Thượng Sĩ hiện thân của Duy Ma Cật và Bàng Long Uẩn


I. THƯỢNG SĨ ĐI GIỮA CUỘC ĐỜI

 

Tuệ Trung Thượng Sĩ người có được một phong thái siêu việt độc đáo, sống giữa cuộc đời trong sự tự do phóng khoáng không hề bị lệ thuộc. Ông bước vào trần gian sống như tất cả mọi người nhưng, với phong thái Thiền Sư vượt ra ngoài những hệ lụy, không đắm chìm trong danh sắc, cởi tung những triền phược mà con người bình thường không thể lãnh hội và làm được.

 

Thượng Sĩ có tất cả, như tất cả những con người cư ngụ trên mặt đất đã có, nhưng Thượng Sỹ lại có cái “không” mà những người cư ngụ trên mặt đất không hề có. Cái không ấy là bản năng tuyệt luân vượt ra ngoài định kiến, phán đoán suy luận, gò bó trong mọi định thước. Hành hoạt một cách siêu dị không câu nệ chấp trước, chỉ tìm thấy trong những con người đạt được sự chứng ngộ giải thoát ở nội tâm.

 

Tuệ Trung đi vào vuộc đời, sống với cuộc đời với con người để từ đó hoán chuyển mọi tăm tối, hành động nầy là việc làm của những Bồ Tát mang đại nguyện trùm kín cả vũ trụ, hy sinh thân mạng để xoa dịu những thống khổ đang bao phủ vùng trời tâm linh mà con người đang trực diện. Giá trị đó được tiềm ẩn qua con người Thượng Sĩ, ông đã từng đem bản thân mình ngăn chận những cuộc xâm lăng của nhà Nguyên. Đã từng được phong tước Hưng Ninh Vương. Nhưng ông vứt tất cả còn lại phong cách Thiền Sư, đối diện với trần thế bằng tình thương bao dung, không bị giới hạn.

 

Trộn lẫn với cuộc đời hay không, vượt thoát hay đắm chìm trong tử sinh, bỏ tung tất cả hay gánh trọn trên đôi vai. Đối với những người giác ngộ, thực chứng thì hành động nào cũng đều ung dung thanh thoát giữa dòng đời trôi nổi. Với những kẻ siêu việt nầy, tất cả chỉ là ảo ảnh, phù vân một trò đùa được dựng nên từ hý trường, đâu đó bỗng chốc phiêu bồng như chính cái hiện hữu phi thực của nó. Những tăm tối trầm luân tạo đau khổ cho những ai trong cuộc. Tuệ Trung Thượng Sĩ đã từ đó mà đi ra nên ung dung tự tại, vung tay là bóng tối liền tan, mở miệng là ngàn hoa phơi sắc, và nhắm mắt là tịch nhiên chiếu rọi.

 

Bóng dáng nào mà không bị đẩy lùi, hình ảnh nào mà không tan hủy. Nhưng, con người và ảnh tượng của Tuệ Trung trở nên siêu thực, tồn tại trong hố thẳm ngàn hoa, nên mãi là biểu tượng cho những kẻ muốn đạt đến một thứ tự do siêu nghĩa, trong việc tìm thấy ánh sáng chiếu rọi của thực chứng.

 

Sự tự do độc nhất mà Tuệ Trung có được, là vượt ra ngoài định mức tự do. Ở đó còn duy nhất kẻ đứng chơ vơ giữa đất trời, không bóng dáng hình tượng nào chung quanh, nếu có cũng chỉ là thể dụng hiển hiện của tâm thức vượt tung. Không bao giờ có thể đo lường ngăn ngại được tâm tư vĩ đại của Tuệ Trung, kẻ đã tự do rong chơi dạo khắp nẽo luân hồi, chưa một lần chùng bước trước những thử thách.

 

Em gái Tuệ Trung là Hoàng Hậu Thiên Cẩm, một hôm thiết tiệc mời ông tham dự, trong bàn tiệc có đầy đủ thịt cá, chay mặn. Gặp thịt cá ông cũng không từ, tự nhiên gắp ăn, thấy thế Hoàng Hậu ngạc nhiên hỏi: “Anh tu Thiền mà ăn thịt cá thì thành Phật sao được?”

 

Thượng Sĩ cười đáp: “Phật là Phật, anh là anh. Anh chả cần làm Phật. Phật chả cần làm anh. Em chẳng nghe cổ đức nói “Văn Thù là Văn Thù, giải thoát là giải thoát đó sao?””

 

Con người Tuệ Trung không phải điển hình sự phóng khoáng nầy là đủ, trong ông còn nhiều sự tự do. Ông đã là con người tùy tục làm giống như cuộc đời, những gì kẻ khác có ông cũng có nhưng, có nầy là lẽ của tương đồng, của tỉnh thức, và thực ngộ.

 

Khi mê thấy không sắc

Khi ngộ hết sắc không

Sắc không và mê ngộ 

Xưa nay một lẽ đồng


Chính vì chúng ta ràng buộc trong những tính toán, nên hầu hết tạo thêm những triền phược lấp kín lối vào giác ngộ. Nhìn sắc sanh ra đắm nhiễm, ngửi nghe khởi lên muôn ngàn vọng tưởng, nên trần lao trở thành ngôi mộ vĩ đại nhốt kín con người. Với Thiền Sư đi vào tử sinh như đi trên thảm hoa, uống nước ái dục như uống cam lồ vị, sống giữa cuộc đời như sống với thực ngộ. Thì cuộc đời không phải là những hổ tương cần thiết cho thực chứng ấy vươn lên tận mây ngàn hay sao?

 

Tuệ Trung mất trong vòng tay yêu thương của thê thiếp, trong giọt nước mắt bi ai của nữ tỳ, trong sự khóc thương buồn đau chồng chất ai oán để tiễn đưa người yêu thương đến nghìn thu vĩnh biệt. Ông đã ung dung ra đi với phong cách người rũ sạch nợ trần, như chưa một lần cột được con người ấy. Ông nghe tiếng khóc mở mắt ngồi dậy, sai lấy nước rửa tay súc miệng, trách nhẹ vài lời “Sống chết là lẽ thường nhiên, sao buồn thảm luyến tiếc chi làm náo chân tánh ta.”

 

Trong khi sống, Thượng Sĩ đã tự do, nhưng khi sắp chết ta mới thấy cái phi thường tự do của người giải thoát. Nếu con người bình thường, hẳn đã không đủ tâm thần bình tĩnh trách nhẹ kẻ khác, làm quấy giấc ngủ ngàn thu của mình. Thần chết bất lực trước những bản thể thực chứng về hiện tượng tử sinh, nên đành chào thua để Tuệ Trung tự do đến đi trong cuộc đời. Điểm khởi mà ngài đến chỉ là nhịp cầu gạch nối giữa hiện thực và phi thực. Hiện thực nầy là nguyên lý của những gì vượt ra khỏi sự chi phối tác động về thời gian và hiện thực nầy là kết quả thực chứng, nên sự tàn hủy chỉ là môi năng cho những sinh khởi. Với kẻ có được ý thức về thực ngộ, đã trông thấy đâu là ngọn ngành nên không vì đó khởi lên những sai biệt.

 

Phi thực có thể tạo những triền miên thống hận cho những ai chưa khám phá ra bộ mặt nghìn đời của nó. Vì đối đãi tương duyên với có không nên nó hiện hữu. Nhưng với người uống được ngụm nước đầu nguồn, đến đi không vướng gót giày, tất cả chỉ là mây giăng trên lối, thong dong trên đỉnh đồi trơ trụi với tuyết sương.

 

Ý lực nào đã đưa đẩy Tuệ Trung dám bỏ lại sau lưng những biến động của trần thế? Ý lực nào đã tạo nên một Tuệ Trung trác việt, siêu dị? Có phải đó là kết quả do những khám phá, truy tầm, đạp tung và khơi dậy cái linh năng, tri giác, vốn đã tiềm ẩn trong mỗi con người ?

 

Muốn quật tung và hiển nở bản thể linh diệu nầy trước hết phải ngắm nhìn thực trạng sanh diệt bằng con mắt trí huệ, quán chiếu đến tận cùng vật thể. Những thành trì suy luận lừa đảo phải đập vỡ ngay, vận dụng mọi cơ năng quyết chống lại, đẩy tung phiền trược. Chỉ còn lại cái vắng không tròn đầy linh diệu mà Tuệ Trung đã đạt được. May ra ta mới trở thành như ông. Hình thức mà ông đang có đó, một con người không hề cạo tóc làm Sư, nhưng với tâm linh ông cao vút lên tận mây ngàn, hình thức có thể là lớp son phấn bao bọc bên ngoài. Không cần thiết, nhất là hành trình tìm đến giải thoát. Sự phân biệt giữa một người xuất gia với tại gia theo nghĩa thông thường, thì đó là điểm tựa để tạo nên môi giới, nhưng tìm đến thực chứng của những Thiền Sư thì không có ranh giới hữu hạn, mà là mấu chốt quật khởi tâm linh. Đạt được điều này thì đâu cũng là giải đất bằng mầu mỡ, ranh giới nào mà không bị san bằng tiêu hủy. 

 

Tuệ Trung đã từng vứt bỏ những phê phán thị phi, vì đó là quan niệm cố hữu nằm trong lăng kính, với những sắc màu lôi kéo. Nên không thể cảm nhận sâu xa về con người đã đạt được chiều sâu thực chứng. Ông đã từng liệng nó vào hố thẳm trần gian. Vì thế những ai gần ông đều qui phục, cảm cách.

 

Vua Trần Nhân Tông viết về Thầy mình (Tuệ Trung) như sau: “Thượng Sĩ sống giữa lòng thế tục, hòa ánh sáng mình trong cuộc đời bụi bặm, trong mọi cuộc tiếp xúc, thượng sĩ luôn luôn giữ thái độ hòa ái nên chưa bao giờ gặp phải những trường hợp phiền nghịch. Do đó ngài có thể làm tiếp nối hạt giống chánh pháp dìu dắt được những kẻ mới học. Ai đến tham cứu tìm học với ngài cũng được ngài chỉ dẫn sơ lược cho thấy phần cương yếu của đạo pháp khiến tâm họ có thể nương tựa. Thượng Sĩ không bị ràng buộc bởi hình thức khi thì ẩn tàng, khi thì lộ diện, ngài không chấp vào hình thức và danh từ". 

 

II. HÌNH ẢNH DUY MA CẬT VÀ BÀNG LONG UẨN TRONG CON NGƯỜI TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ

 

Duy Ma Cật và Tuệ Trung hai con người ở hai phương trời cách biệt, ở hai thời đại và bối cảnh xã hội khác nhau. Nhưng đã gặp nhau ở điểm, đó là hạnh nguyện và phong thái của những con người trác dị siêu nhân.

 

Duy Ma Cật, một cư sĩ vĩ đại, đã từng khai thị cho những đại đệ tử của Phật. Vì muốn độ chúng sanh nên ông thị hiện làm vị trưởng giả giàu có để nhiếp độ các hạng dân nghèo. Vì đại nguyện cao cả ông thị hiện kẻ bạch y hộ Pháp đắc lực cho đức Phật Thích Ca, hạnh nguyện của những bậc Bồ Tát là trong đời ngũ trược làm kẻ tiên phong đi vào nhiếp độ chúng sanh lầm than. Và phong thái ông một người có vợ con giàu sang tột bực nhưng, không vì thế mà vướng bận tâm của người giải thoát.

 

Tư tưởng Duy Ma Cật là loại tư tưởng siêu thể, không nằm ở định mức, một khi tung ra là chấn động cả càn khôn, có thể lấy núi tu di nhét vào trong hột cải, có thể lấy nước bốn biển cho vào lỗ chơn lông mà không khuấy động loài thủy tộc. Duy Ma Cật đã từng trong nhà Như Lai đi ra, nên mọi hành hoạt đều hướng đến tịch nhiên an lạc, giàu có vương giả, thê thiếp vợ con, có kẻ hầu hạ nhưng tu hạnh thanh tịnh, ngoài hiện tướng phàm nhưng trong là tâm Phật, đi vào nơi cờ bạc rượu chè nhưng là hạnh nguyện của đại Bồ Tát cứu độ muôn loài.

 

Ông đã từng khai thị cho Xá Lợi Phất đại đệ tử của Đức Phật khi đang ngồi tọa thiền dưới gốc cây. “Thưa ngài Xá Lợi phất ! Bất tất ngồi sững đó mới ngồi yên lặng. Vả chăng ngồi yên lặng là ở trong ba cõi mà không hiện thân ý mới là ngồi yên lặng, không khởi diệt tận định mà hiện các oai nghi mới là ngồi yên lặng, không rời đạo pháp mà hiện các việc phàm phu mới là ngồi yên lặng, tâm không trụ trong cũng không ở ngoài mới là ngồi yên lặng, đối với các kiến chấp không động mà tu ba mươi bảy phẩm trợ đạo mới là ngồi yên lặng, không đoạn phiền não mà vào Niết Bàn mới là ngồi yên lặng. Nếu ngồi được như thế là chổ Phật ấn khả vậy".

 

Có như thế những đại đệ tử của Phật như: Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Đại Ca Diếp, Tu Bồ Đề, Phú Lâu Na, Ma Ha Ca Chiên Diên, A Na Luật, Ưu Bà Ly, La Hầu La v.v… Và ngay cả những bậc Bồ Tát cũng không dám đối diện. Không một ai dám đương đầu nổi với Duy Ma Cật, ông quật tung ngã nhào tất cả. Với ông không phải ngồi yên lặng dưới gốc cây mà có thể thành Phật, muốn thành Phật phải lăn xả vào cuộc đời, hành động trong ý tưởng vượt thoát mới có cơ may đạt được chặng đường nầy. Không chấp vào đâu, dù đó là những lời dạy của Đức Phật, phải có cái tâm thanh tịnh không nhơ cấu đón nhận các pháp. Y vào kinh điển giải nghĩa thì oan cho ba đời chư Phật, mà rời bỏ một chữ thì đi vào con đường ma quỷ. Ở trong đó tha hồ rong chơi dạo khắp, đừng mang tâm chấp trước. Hễ còn chấp thì rơi vào cửa ngõ triền miên điên loạn, vượt tung ra khỏi màng lưới chằng chịt ngữ ngôn, đạt ý quên lời thì con đường nào không thênh thang rộng mở, lối nào có thể cột được tâm tư kẻ không nhiễm bụi trần. Vào chỗ đông người như vào chỗ không có ai.

 

Tuệ Trung Thượng Sĩ (1230-1291) sau Duy Ma Cật đã mấy ngàn năm nhưng phong thái trác việt của Tuệ Trung đi vào cuộc đời tương tự như Duy Ma Cật, những gì phiến động, đạp đổ trong con người Duy Ma Cật với Tuệ Trung cũng đều có. Chỉ có những con người vĩ đại mới bắt gặp nhau ở một cấp độ mà con người mê muội không thể tìm gặp. Cấp độ đó tựa như dòng sóng khủng khiếp cuốn phăng những trì trệ trong hành trình đạt được thức giác ở tâm linh. Cuốn đi những cặn bã bao phủ cuộc đời. 

 

Thiền Tổ Trúc Lâm Trần Nhân Tông ca ngợi Tuệ Trung Thượng Sĩ như sau:


Ngóng càng thêm cao

Khen càng thêm bền

Bỗng sau lưng đó

Xem lại trước liền

Đó là Thượng Sĩ

Vậy mới là Thiền.

 

Tất cả những gì tuyệt độc nhất trong ngữ ngôn cũng không thể xưng tụng được trọn vẹn con người Thượng Sĩ, trông lên thì vời vợi, quay đầu nhìn lại thì Thượng Sĩ đã ở sau lưng. Ông chưa một lần đến nên chẳng để lại dấu vết khi ra đi, nhưng những tương quan nhìn ngắm về ông, đâu đó bóng dáng siêu việt ấy in tự bao giờ, chỉ cần quay đầu không dong ruổi thì lúc nào ông cũng hiện diện. Thượng Sĩ là cây đuốc rực sáng trong thời đại vàng son của Thiền học đời nhà Trần, vì thế những người có cơ duyên muôn thuở gặp được ông đều thấm nhuần giáo pháp. Nhưng nếu không thường nghiệm nơi tâm thức chính mình, thì không thấy được sự có mặt của Thượng Sĩ. Ông chỉ khơi dậy những gì yên ngủ bấy lâu, yếu tố để được dậy hay không tùy thuộc vào chính kẻ đó.

 

Một nhân vật khác nữa có những tương quan, những nét độc dị, và đã lưu lại hình ảnh cũng như âm vang cao vút ở bên Tàu. Đó là Thiền Sư Bàng Uẩn, được kể như một trong những cư sĩ thượng thặng có khuynh hướng lập dị, tùy tục nhưng phong thái trác việt. Ông sống gần gũi với mọi người để tùy bịnh cho thuốc. Lương dược nầy nếu uống đúng cách thì tử sinh không bao giờ đụng đến. Và nếu có thì đó là đại nguyện. Thượng Sĩ được kể như có những nét tương đồng với Bàng Long Uẩn.

 

Bàng Uẩn một cư sĩ Thiền Sư vĩ đại, đệ tử của Mã Tổ một hôm hỏi Mã Tổ “Ai là người chẳng cùng vạn pháp làm bạn lử?”

 

Mã Tổ đáp: “Đợi khi nào ông một ngụm uống cạn nước Tây Giang ta sẽ trả lời cho ông”. Lối trả lời nầy khiến cho Bàng cư sĩ chới với trước những thuật ngữ có không. Và sau những tháng ngày mài dũa công án Mã Tổ đã trao. Một hôm, Bàng Uẩn bỗng chốc vỡ tung ra, đạt được “Tâm không” và trình kệ cho Mã Tổ.

 

Mười phương cùng tụ hội

Người người học vô vi

Đây là chỗ tuyển Phật

Tâm không thi đậu về.

 

Bàng cư sĩ chủ trương Tánh Không “Đừng sợ rơi vào không, rơi vào không chưa phải chuyện dữ. Chỉ mong coi tất cả những cái có đấy là không, chứ đừng lấy cái không chi làm thật, vì bản tính của chúng là không.”

 

Ông là một trong những cư sĩ Thiền Sư mà ảnh hưởng rất đậm trong giới Thiền. Ông vẫn có vợ con, và cả gia đình của ông đều là những người chứng đắc, nên khi ông sắp qua đời, con của ông thi nhau tịch trong tự tại an nhiên trước ông. Quả thật những con người siêu dị có khác kẻ chưa đạt được chút gì an nhiên trong cuộc đời.

 

III. THƯỢNG SĨ NGỮ LỤC

 

Nếu những lời khai thị của Duy Ma Cật làm cho đại đệ tử của Phật run sợ không dám đối đầu, thì những lời pháp của Tuệ Trung cũng làm cho kẻ đối diện khiếp đảm không ít. Lối nói Pháp của Tuệ Trung gần như phủ định sự có mặt của ngôn ngữ, hiển lộ nên biểu tượng cho một sự thể đang nấp kín đàng sau ngôn từ, dù rằng đó là hiện hữu trừu tượng, để từ đó tìm ra cái tuyệt đối của ngôn từ theo nghĩa đạt ý quên lời.

 

Có một vị Tăng hỏi: "Thế nào là đạo ?"

 

Thượng Sĩ đáp: "Đạo không có trong câu hỏi, câu hỏi không có trong đạo"

 

Nếu y cứ vào luận lý học thì lối trả lời này thuộc loại siêu nghĩa, không ăn nhập gì đến nguyên tắc luận lý, nhưng chính điều đó mới tạo nên cái lửng lơ cho người hỏi, không một điểm tựa để bám vào, hễ còn bám được thì lại rơi vào sở tri chướng, ngăn ngại trí tuệ phát sinh. Nên hầu hết các vị Thiền Sư không nằm ở điểm nào, chúng ta không thể căn cứ vào đâu để tra vấn. Và nếu có thì sự tra vấn ấy không giải quyết gì cho con đường giác ngộ. Nếu không tự mình tra vấn với chính ta. Không khéo điều nầy đưa ta rơi vào cửa ngõ của chấp trước. Cần nhất đừng trụ bám vào dù không hay có. Tuệ Trung đề cập đến “muôn vật trở về” như sau đây:

 

Từ không khởi có, có không thông

Có có không không, rốt cuộc đồng

Phiền não bồ đề nguyên chẳng khác

Chân như vọng niệm thảy đều không

Thân như cảnh giả nghiệp như bóng

Tâm tợ gió đưa tánh tợ bồng

Chớ hỏi tử sinh ma với Phật

Sao chầu hướng bắc nước về đông.


Phiền não và Bồ Đề là hai thể đối lập nhau theo quan niệm con người. Vì chúng ta đắm chìm trong phiền não không nhận ra được chân tướng nó, nên mới có đối tượng Bồ Đề để ta y cứ vào đó vượt thoát. Thật ra nó đều hỗ tương với nhau, bởi lẽ cái này lập nên cái kia cũng lập, vì thế trong phiền não vốn có Bồ Đề, chỉ cần ta nhích mạnh tay then chốt nầy vỡ tung ngay.

 

Xưa có vị khách đến hỏi Thiền Sư. Thế nào là Phiền Não; Thế nào là Bồ Đề? Thiền Sư bèn quát lên một tiếng và chê trách anh ta. Thế là vị khách nổi giận rút gươm ra định chém. Thiền Sư từ tốn bảo: Phiền não là thế đó. Anh ta bỏ gươm xuống, Thiền Sư nói tiếp Bồ Đề là thế đó.

 

Tuệ Trung không thừa nhận việc tìm đến Chân Như mà dứt đi vọng niệm. Hễ còn mong ý cầu Chân tức là vọng rồi. Sự mong cầu nào cũng trá hình của dục vọng dù đó là Chân hay không. Nếu chúng ta dụng công đúng với như thị chánh pháp, thì không cầu nó cũng tới vì đó là kết quả tất nhiên của việc hạ thủ công phu, cần gì phải cầu ?

 

“Cầu chân như mà dứt vọng niệm, tợ hét to để át tiếng vang.

Bỏ phiền não mà giữ Niết Bàn, như sợ bóng chạy vào nắng trốn.”

 

Nếu không có được tâm thức sinh động, chúng ta sẽ mù mờ trước những ngữ ngôn của Tuệ Trung. Đâu đó chỉ thấy những đập vỡ, cách mạng để lập nên hiển lộ những bí ẩn núp sau những vỏ khô cứng, ru ngủ ta trong những lâu đài thành quách phong tỏa bởi trần lao. Phải bung ra để được vỡ tung một lần, đi vào bụi hồng thể nghiệm tâm năng thực ngộ, phải vào vòng cát bụi với những ca khúc tuyệt diệu. Nhưng phải là tâm thức của không ô nhiễm. Chỉ có yếu chỉ nầy ta mới đủ bản năng rong chơi mọi nẽo không ai có thể ngăn trở bước đi, và chẳng gì có thể để cho bụi hồng vướng được. Vào chỗ đông người tợ đi vào rừng sâu, không bóng dáng che kín được nhãn quan mình, khởi lên lòng từ bi yêu thương không bờ bến, nhưng không một ai có thể núp mình trong quả tim vĩ đại đó. Bước vào tựa như nghe được khúc ca không khuất trong vô cùng, đôi chân nhịp nhàng theo điệu múa chưa bao giờ được cất lên.

 

Diễn tả những trạng huống nầy Tuệ Trung cho chúng ta một quan niệm vượt thoát như sau:

 

“Vào vòng cát bụi nhịp chân đưa

Vàng óng bờ mi chớp chớp đùa

Xóm bắc rong chơi gieo bụng ngựa

Nhà đông vui bước nhập thai lừa

Roi vàng đuổi mất trâu bùn chạy

Gậy sắc lôi về cọp đá thua

Rồi một ngày mai băng giá hết

Trăm hoa như cũ rộn Xuân xưa”

 

Sự giác ngộ vốn không tách khỏi những triền phược mà có, trong đó nếu khơi dậy dòng ý thức luân lưu không ô nhiễm thì tất cả những tương quan bỗng chốc bùng lên ánh sáng quét sạch bóng tối ngàn năm trong chốc lát. Chưa một ai có thể từ chối cuộc đời mà đạt được giải thoát và cũng chưa có ai trốn chạy khổ đau mà đạt được con đường thoát khổ. Cần nhất du hí trong đó với tâm lực tùy duyên bất biến. Phải mài dũa tâm ý trong dòng đời dông tố nhưng, không bị ràng buộc bởi những tháo gỡ. Với cái tâm linh diệu. Trong bài “Vui thích giang hồ” Tuệ Trung đề cập:

 

“Giang hồ tâm ấy chửa từng lau

Ngày tháng như thoi như bóng câu

Gió mát trăng thanh luôn vẫn đó

Non xanh nước biếc thiếu gì đâu

Chiều nghiêng sáo thổi sương lồng khói

Sáng quấn bườm phăng sóng bạc đầu

Tăm bóng Tạ Tam nay vẫn bặt

Thuyền không bỏ đó gối cồn nâu.”

 

Điểm nổi bật khi Thượng Sĩ đề cập về Tâm. Ở đó ta thấy được sự bất nhị mà ông muốn nói đến

 

Tâm tức Phật

Phật tức Tâm

Linh diệu chiếu cùng kim cổ thông

Xuân đến tự hoa xuân mỉm miệng

Thu về, đâu chẳng nước thu trong

 

Và một đoạn khác

 

Bỏ vọng tâm

Giữ chân tánh

Khác nào tìm ảnh mà quên kính

Nào hay ảnh vốn tự gương ra 

Chẳng biết vọng do từ chân hiện

Vọng lên chẳng thực cũng chẳng hư

Gương nhận không tà cũng không chánh.


Tâm con người vốn không chân cũng không vọng. Vì do những chấp trước sai biệt nên có chân, vọng. Hầu như trong chúng ta đều ghét vọng tìm chân. Có thể cái chân ta muốn tìm đến sẽ trở nên ngăn ngại chính ta, bởi lẽ vọng chân tuy hai là một, nương với nhau mà có, ngay trong vọng vốn đã có chân, chỉ cần vén bộ mặt nghìn đời của nó lên thì chân xuất hiện. Không cần phải tìm cầu đâu xa. Nó ở ngay trong cuộc đời và trong ta. Cũng như tấm gương chỉ in hình bóng dù là tà hay chánh, ô uế hay sạch. Có được như thế thì sự nghiệp giác ngộ hẳn nhiên hiển lộ.

 

Vọng tưởng và ảo ảnh đã lừa dối tri thức con người một cách phi lý, tạo cho cảm quan rơi vào trạng thái mặc nhiên để nó chi phối sai sử. Giống như khi ta nghe kẻ khác nói về một hiện tượng có vẻ quái lạ, thì ảo tưởng sẽ khiến cho ta duyên theo đó gắn thật nhiều những suy tưởng tô điểm thêm cho hiện tượng đó. Trước hết ta bị lôi cuốn bởi ý thức của kẻ khác. Và chính ý thức kẻ cung cấp cho ta dữ kiện đã là không thực, ta lại gắn thêm cái không thực nữa, thì làm sao Chân tánh của mình xuất hiện? Cần nhất từ đó chuyển hướng thì bóng tối liền tiêu, vén mở tâm linh toàn giác. 

 

IV. HÌNH THỨC VÔ NGHĨA TRƯỚC NHỮNG THIỀN SƯ 

 

Thiền vốn quăng đi những hình tướng câu nệ trói buộc ngăn ngại tâm linh giác ngộ, với Thiền cần nhất khai quật nội tâm. Tất cả những hình tướng đều bị vỡ tung, vì tự nó vốn đã không thực. Đó chỉ là cái vỏ rỗng tuếch, ngược lại nó là điểm quan trọng, hầu hết con người căn cứ vào để phán xét và gắn những nhãn hiệu lố bịch một cách phi lý. Dù rằng trong tâm của họ mê mờ lừa đảo, nhưng ngược lại có bóng dáng “dễ coi” thì được kể như tốt rồi.

 

Với Thiền điều này hoàn toàn vô nghĩa không thiết thực. Phải phơi bày nội tâm để hạt giống giác ngộ có cơ may bùng trỗi dậy, tuyệt đối không sơn phết cái vỏ bên ngoài. Vì thế có những Thiền Sư vượt ra khỏi cuộc đời với phong thái lạ lùng quái đản, quần áo tóc tai không màng trau chuốt, nhưng mở miệng là chứa đựng một nội tâm siêu việt, coi thường sống chết, có những vị dị hình kỳ tướng, nhưng là bậc kỳ tài trong thiên hạ. Không cần phải cạo đầu mới gọi là tu, nếu không cạo sạch phiền não trong tâm.

 

Trong lịch sử Thiền những người như Thượng Sỹ đã chiếm một vị trí quan trọng. Miễn sao nội tâm cao vút lên tận trời cao là được. Trước Tuệ Trung có những Thiền Sư cư sĩ như Ứng Thuận thầy của Thiền Sư Tiêu Diêu, thiền sư Giới Minh, thiền sư Giới Viên, và quốc sư Nhất Tông. Trước đó có Thiền Sư Thần Nghi và Thiền Sư Thần Chiếu. Không một ai trong chúng ta có thể phủ nhận công nghiệp tâm linh vĩ đại của những vị này. 

 

Ngay cả Lục Tổ Huệ Năng lúc được trao truyền y pháp vẫn còn là một cư sĩ, nhưng đã thống lãnh Đông Sơn pháp môn và cho đến bây giờ dòng suối vi diệu ở Tào Khê vẫn chảy mãi xuống cuộc đời. Đối với những con người siêu việt nầy ngữ ngôn thị phi như lời pháp, như chiếc dép cũ mòn cần quăng ngay vào bụi. Đứng đi trong cuộc đời như đi vào chỗ không có người, bởi lẽ dòng tâm của những vị đã ở trên cao điểm ngút ngàn thì sá gì vọng động của trần gian. Nếu không phải ngôn ngữ bế tắc trước những hành hoạt phi thường mà đối tượng khủng khiếp là những Thiền Sư hay sao? Lúc nào các vị cũng cười lên những tiếng chấn động màng nhĩ, từ trên chót vót hùng vĩ những ngọn núi cô độc chơ vơ vọng xuống cuộc đời, tiếng cười đinh tai nhức óc, xé cả hư không lồng lộng, tạo nên mây mờ sấm sét trút những trận mưa rào xuống tưới mát triền phược mà ta đang lặn hụp.

 

Tất cả hình tướng đều phải đổ ào trước khi đối diện với Thiền, có như thế những Thiền Sư mới đốt rụi cháy tan những gì mà con người ra sức tô son điểm phấn. Nếu không, điều này chỉ ngăn ngại chứ không giúp được gì trong việc hướng đến tỉnh ngộ. Nếu chúng ta không vượt ra khỏi hình thức đã kèm giữ ta một cách phi lý, thì mộng trần gian mãi là bến bờ không thuyền đưa ta sang sông.

 

Đời nhà Trần đã tạo nên những Thiền Sư trác việt, hầu hết các vị là vua quan, nhưng công danh phú quý không vướng bận lòng. Nhờ thấm nhuần được chánh pháp nên thời đại nhà Trần một trong những thời vàng son nhất của Dân Tộc. Những đóng góp của các Thiền Sư tác động mãnh liệt trong mọi khía cạnh văn hóa, chính trị, xã hội – dựng nên thời vẻ vang cho dân tộc. Đến bây giờ mỗi khi đề cập đến thời kỳ này, ta có cảm nhận sự huy hoàng, thịnh vượng hãy còn phảng phất đâu đây.

 

Tuệ Trung Thượng Sĩ đã đi vào cõi vô cùng, nhưng ngữ lục của ngài vẫn còn chấn động mãnh liệt trong tâm thức mỗi người. Ngữ lục trở thành bửu bối cho những ai muốn tìm về uyên nguyên giác ngộ. Để kết thúc bài nầy với những lời kính cẩn của Thiền Tổ Trúc Lâm Pháp Loa, tán dương Tuệ Trung Thượng Sĩ.

 

A !

Gang ròng nhồi lại

Sắt sống đúc thành

Thước trời tấc đất

Gió mát trăng thanh

Ối! ..................

_____________________

 

Trích "Thiền Sư và Tư Tưởng Giác Ngộ" xuất bản 1987

Nguồn: vuonhoaphatgiao.com

MỘT TÁCH TRÀ

 

Nan-In, một thiền sư Nhật Bản vào thời Minh Trị (1868 - 1912), tiếp một ông giáo sư đại học đến tìm hiểu về Thiền.

Nan-In mời dùng trà. Ông đã rót đầy vào tách của khách và vẫn tiếp tục rót thêm.

Ông giáo sư nhìn nước tràn cho đến khi tự mình không nhịn được thêm nữa. "Tách đã đầy tràn rồi. Không thêm vào được nữa đâu!"

"Giống như cái tách này" Nan-In nói, "ông mang đầy ý kiến và suy đoán riêng của ông. Làm sao tôi có thể chỉ cho ông về Thiền trừ phi ông cạn cái tách của ông trước đã?"

___________

http://www.buddhistedu.org

THIỀN LÀ SỰ SỐNG CỦA CON NGƯỜI

LỜI GIỚI THIỆU

Xưa nay Thiền pháp là mạch nguồn của Phật pháp. Thiền pháp đủ sức tháo gỡ mọi dính mắc tăm tối của con người. Hiện thực Thiền pháp tháo tung mọi dây mơ rễ má, các thứ buộc ràng từ lâu nay trong cuộc sống. Thấy phủng chỗ này là đạp nhào rào giậu chông gai mọi thứ trong nhân thế. Tuy nhiên phải đầy đủ dũng lực Bát-Nhã một tráng sĩ, giáng ma xử trong tay huy động vẹn toàn quân ma, tất cả trở thành bến bờ thanh lương giải thoát.

Nơi đây, giới thiệu thiền là sự sống của con người, có thể thiền trong cuộc sống gia đình và xã hội, hành giả Phổ Giác đã nói lên được tinh thần này trong tác phẩm “Thiền là sự sống của con người”. Đồng cảm, chia sẻ và khích lệ tác giả, tôi hoan hỷ viết đôi dòng giới thiệu. Rất mong tác phẩm đem đến cho bạn đọc nhiều lợi ích thiết thực và niềm an vui trong cuộc sống.

Trân trọng!

Tổ đình Thường Chiếu, 20-08-2013

THÍCH NHẬT QUANG

THIỀN TRONG CUỘC SỐNG GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI

Thiền là chân lý sống nên không thể dùng ngôn ngữ hay định nghĩa để diển tả Thiền, đến chỗ đó thì mỗi hành giả nóng lạnh tự biết; nhưng Thiền không thể tách rời cuộc sống, không thể tìm thấy ở một nơi xa xôi nào mà ngay nơi cuộc đời chúng ta. Thiền trong cuộc sống là sự biết cách hoà hợp nhịp nhàng giữa một khối óc sáng suốt và một trái tim hiểu biết, nhân hậu để phát sinh trí tuệ và từ bi. Con đường Thiền tập là tỉnh giác trong mọi lúc, mọi nơi để mỗi hành giả thể nhập chứng ngộ Phật tính sáng suốt ngay nơi thân này. Nói đến Thiền là nói đến sự gắn liền với đời sống con người, không phải như nhiều người thường lầm tưởng là Thiền chỉ dành cho bậc thượng căn, Thiền chỉ áp dụng trong các Thiền viện hoặc phải vào thâm sơn cùng cốc mới có thể tu Thiền, hiểu như vậy vô tình đánh mất giá trị thiết thực của nó. Thiền là con đường ngắn nhất cho nhân loại ứng dụng trong cuộc sống hằng ngày, tuỳ theo hoàn cảnh cuộc sống mỗi người mà ta khéo sắp xếp để Thiền trong đi, đứng, nằm, ngồi, ăn uống, ngủ nghỉ và làm việc.

Sở dĩ xưa nay chúng ta thấy nó xa lạ bởi có quá nhiều tạp chất lẫn lộn trong nhà Thiền nên làm mọi người cảm thấy mông lung, huyền bí, xa vời, khó nắm bắt; cũng vì có nhiều người tu theo Thiền ngoại đạo nên bị tẩu quả nhập ma hay bị điên khùng, từ đó người ta quy kết Thiền và cảm thấy sợ sệt khi nói đến Thiền. Con người hay xa rời thực tế để tìm hiểu những điều cao siêu, huyền bí, trong khi cuộc sống đang dàn trải trước mắt chúng ta tất cả đều là Thiền. Thấy sắc là Thiền, nghe tiếng là Thiền. Mắt thấy, tai nghe là hai căn chúng ta tiếp xúc hằng ngày, ta chỉ Thiền ngay nơi thấy-nghe chớ không phải tìm cầu đâu xa. Con người thường hay nhớ nghĩ về quá khứ, luyến tiếc thời vàng son và mơ mộng viễn vông về tương lai xa tít. Người lớn tuổi hay nhớ về kỷ niệm quá khứ vui buồn, người trẻ thường mong muốn đến tương lai, do đó đánh mất mình trong hiện tại. Người tu Thiền sống ngay tại đây và bây giờ để nhìn thấy rõ những tâm niệm tốt xấu, đúng sai, phải quấy, hơn thua đang phát khởi trong tâm nhằm chuyển hoá chúng trở về với cái gốc ban đầu. Thiền là chất liệu sống giúp con người thông suốt mọi hiện tượng, sự vật trên thế gian này và sống bình yên, hạnh phúc nhờ thấy biết đúng như thật. Nhờ có Thiền chúng ta hiểu rõ bản chất thực hư của thân tâm mình và hoàn cảnh, nên con người sống thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau bằng trái tim hiểu biết với tấm lòng vô ngã, vị tha.

Trong đạo Phật có nhiều phương pháp Thiền để giúp cho nhân loại thể nghiệm sâu sắc vào đời sống gia đình và xã hội. Chính đức Phật Thích Ca Mâu Ni ra đời tại Ấn Độ trên 2600 năm cũng do tu Thiền mà thành tựu đạo giác ngộ, giải thoát. Bên cạnh đó, Ngài thành Phật nhờ hành Bồ tát đạo vô số kiếp về trước và cũng do tu Thiền mà thành tựu trong kiếp hiện tại. Nếu chúng ta giác ngộ, giải thoát cho mình mà không giúp đỡ người khác cùng giác ngộ theo là hạnh của hàng Thanh Văn, Duyên Giác thủ chứng quả vị A La Hán nên không thể thành Phật. “Phật” là danh từ chung nói cho đủ là “Phật đà”, là người giác ngộ, là người tỉnh thức, nghĩa là tự giác, giác tha và giác hạnh viên mãn. Phật là con người bằng xương bằng thịt như tất cả mọi người, cũng được sinh ra từ bụng mẹ, không phải biến hoá từ nơi khác đến. Chúng ta cũng là người giống như Phật, Phật tu hành thành Phật, ta cũng có thể tu hành thành Phật và ai muốn thành Phật thì phải biết tu Thiền.

Trở về quá khứ khi Bồ tát Sĩ Đạt Ta bỏ cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con ngoan để ra đi tìm cầu chân lý. Trước nhất Ngài tu Thiền 5 năm đầu với hai vị Thiền sư lỗi lạc nhất thời bấy giờ, nhưng chỗ đến chưa đạt được mục đích giác ngộ, giải thoát hoàn toàn. Ngài từ giã ra đi và tự tu Thiền khổ hạnh ép xác đến 6 năm trời, có khi chỉ ăn mỗi ngày một hạt mè, hạt bắp mà cũng không tìm ra chân lý tối cao. Ngài tu Thiền với hai vị đạo sư nổi tiếng cũng chưa đạt kết quả viên mãn, rồi tự mình Thiền theo cách khổ hạnh ép xác đến tột cùng, dẫn đến ngất xỉu, nhờ cô thôn nữ chăn bò cúng dường bát sữa giúp Ngài dần hồi tỉnh lại. Từ đó, Ngài quán sát trở lại và thấy rõ Thiền nếu ép xác khổ hạnh quá mức sẽ dẫn đến thân thể suy yếu, tinh thần bạc nhược nên không đủ sức thể nhập chân lý. Thiền mà lợi dưỡng đầy đủ cũng không thực chứng bản tâm, do đó Ngài quay về Trung đạo, ăn vừa đủ để nuôi sống thân này, nhờ vậy Ngài dễ dàng vào Thiền nên tâm an định và trí tuệ phát sinh mà thành tựu Phật đạo.

Những lời dạy vàng ngọc của đức Phật do tu Thiền mà thành tựu đã trải qua hơn 26 thế kỷ vẫn còn là ngọn đuốc sáng soi đường cho con người xây dựng nếp sống bình yên, an vui và hạnh phúc trọn vẹn. Đạo Phật đã hiện hữu sáng ngời theo dòng thời gian và tồn tại cho đến ngày hôm nay chính yếu vào việc thăng hoa tuệ giác tâm linh và đạo đức con người. Từ đó, đức Phật hiện thân người, biết rõ thực tại khổ đau của con người và tìm được lối thoát cho con người. Ngài từ bỏ con đường tư duy và cuộc sống bế tắc của các lối Thiền ngoại đạo, đến cội bồ đề tham Thiền nhập định. Trong suốt 49 ngày đêm, Ngài đạt đến sự giác ngộ hoàn toàn, thấy rõ con người từ đâu đến, sau khi chết đi về đâu và biết rõ phương cách thoát khỏi sinh-già-bệnh-chết của kiếp người. Trạng thái giác ngộ ấy trải qua ba giai đoạn: đầu đêm Ngài chứng tuệ giác Túc Mạng Minh, giữa đêm chứng tuệ giác Thiên Nhãn Minh và cuối đêm chứng tuệ giác Lậu Tận Minh. Ngài ngồi dưới cội Bồ-đề 49 ngày đêm Thiền định nhằm phát minh chân lý cuộc đời. Khi định đã sâu, tâm an nhiên, lặng lẽ nên trí tuệ sáng suốt, do đó chứng Tam minh và thành Phật.

Khi tâm an định, trong sáng, Ngài liền nhớ lại vô số kiếp về trước đã từng ở đâu, làm gì, giàu nghèo hay sang hèn… Đây gọi là chứng được Túc Mạng Minh, khi ấy tâm hoàn toàn thanh tịnh, trong sáng, lặng lẽ mà hằng chiếu soi. Túc Mạng Minh đức Phật chứng đắc không phải một thứ thần thông huyền bí nào đó mà do tâm Ngài yên lắng nên nhớ lại vô số kiếp về trước như nhớ chuyện ngày hôm qua. Tất cả suy tư ấy đã nung nấu, thúc đẩy Ngài dấn thân tìm phương cách đưa người thoát khỏi khổ đau, trầm luân và an hưởng hạnh phúc chân thật, vĩnh hằng. Ngài nhớ lại vô số kiếp về trước một cách rõ ràng, tường tận, không thiếu xót một chi tiết nào; từ đó Ngài biết được con người từ đâu đến. Chúng ta không phải ngẫu nhiên có mặt một lần trong cuộc đời mà đã sống chết luân hồi từ vô số kiếp đến nay. Khi chứng được đạo quả sẽ thấy được lẽ thật, ai nói đúng sai về chân lý cuộc đời chúng ta đều biết rõ. Thế nên, trong kinh A-hàm Phật nói “nước mắt chúng sinh nhiều hơn nước biển cả”. Chúng ta phải hiểu xa hơn vì Phật nói nước mắt chúng sinh đâu chỉ một kiếp này mà vô số kiếp sống chết luân hồi, nên nước mắt ấy nhiều hơn nước biển cả.

Trạng thái chứng thứ hai là Thiên Nhãn Minh. Túc Mạng Minh là cái thấy biết về thời gian quá khứ-hiện tại-vị lai trong vô số kiếp. Thiên Nhãn Minh là cái thấy biết về không gian, thấy được sự vật hết sức nhỏ nhiệm và xa vô cùng; thấy tường tận, rõ ràng nhân quả nghiệp báo của tất cả chúng sinh. Chúng sinh có mặt trên thế gian này là do nghiệp quá khứ tạo nên tốt hay xấu mà dẫn tới thọ sanh trong hiện tại, tuy là con người nhưng không ai giống ai vì nghiệp báo bất đồng. Trong Kinh đã nói khi chứng được Thiên Nhãn Minh Ngài thấy trong bát nước có vô số vi trùng, 26 thế kỷ trước khoa học chưa tiến bộ nên không có kính hiển vi nhưng đức Phật đã thấy được vô số vi trùng trong bát nước. Hồi xưa ít ai tin lời Phật vì đâu có gì chứng minh. Có một lần, vị Tỳ-kheo chứng A-la-hán đi đường xa, khi qua sa mạc ngài khát nước quá lại gặp cái ao hơi cạn nên định lấy nước uống. Khi dùng Thiên Nhãn Minh ngài thấy vô số vi trùng trong nước nên không dám uống, đành chịu khát mà về đến Tịnh xá. Về đến nơi Ngài trình cho Phật biết, Phật nói “tại sao ông không dùng con mắt thường của mình để nhìn”. Như vậy, rõ ràng cách nay hơn 2600 năm Phật đã thấy được vi trùng, các vị A-la-hán cũng thấy được vi trùng, nên trong Luật dạy quý Tăng ni đi đâu phải mang theo đãy lọc nước vì sợ uống nước sẽ giết hại vi trùng. Ngày nay chúng ta không mang đồ lọc nước theo vì nước đã được lọc sẵn. Đó là nói về vật rất nhỏ; còn vật xa, Phật nhìn trong bầu vũ trụ thấy có hằng hà sa số thế giới, tức là thế giới nhiều như cát sông Hằng Ấn Độ.

Ngày xưa, một số người cho rằng trời tròn đất vuông có giới hạn, nhưng Phật nhìn thấy ngoài hành tinh của chúng ta còn có vô số hành tinh khác. Hồi xưa đâu có kính viễn vọng, Phật dùng Thiên nhãn thấy được vật ở rất xa, rất nhỏ; do đó Ngài thấy được tường tận nghiệp quả của tất cả chúng sinh thăng lên lộn xuống luân hồi tái sinh, hưởng phước an vui hạnh phúc hay bị sa đọa khổ đau là do mình tạo lấy. Trong một bài Kinh Phật nói, “Ta nhìn thấy chúng sinh theo nghiệp tái sinh luân hồi trong ba cõi sáu đường giống như người đứng trên lầu cao nhìn xuống ngã tư đường, thấy kẻ đi qua người đi lại rõ ràng”. Chính vì vậy, Phật khuyên chúng ta không làm các việc xấu ác mà hãy làm các việc thiện lành, tốt đẹp để hưởng phước báo trong cõi lành; còn tạo nghiệp dữ thì bị đọa vào chỗ xấu ác, khổ đau. Những gì Phật thấy và nói lại trong Kinh điển là do Ngài tu chứng và thấy biết đúng như thật chớ không phải do ý thức suy luận viễn vông. Những bài Kinh Bổn Sanh hay Bổn Sự chúng ta đọc được trong tạng chữ Pali hoặc chữ Hán là những bài Kinh nói vô số kiếp về trước của đức Phật và các vị Thánh đệ tử. Kinh Bổn Sanh nói về tiền kiếp nhiều đời của đức Phật. Kinh Bổn Sự nói về quá khứ của các vị Bà-la-môn hay các vị Tỳ-kheo đời trước đã từng làm gì, ở đâu và bây giờ thọ quả báo thế nào. Như vậy, những sự việc của chư Tăng xảy ra trong thời đức Phật Ngài đều thấy rõ từ những kiếp trước, Ngài nói và người sau ghi chép lại gọi là Kinh Bổn Sự. Những sự việc của Ngài về vô số kiếp trước gọi là Kinh Bổn Sanh. Do nghiệp đã tạo mà sinh ra chỗ tốt hay chỗ xấu chớ không phải ngẫu nhiên, cũng không phải do đấng thần linh, thượng đế nào có quyền sắp đặt, định đoạt số phận của muôn loài chúng sinh.

Trạng thái chứng thứ ba là Lậu Tận Minh. “Lậu” là lọt, là rớt, không còn rớt trong ba cõi sáu đường tức là chứng được Lậu Tận Minh. Đây là vấn đề then chốt và chủ yếu mà Ngài muốn tìm để giúp thân phận con người thoát khỏi sinh-già-bệnh-chết. Do chứng được Lậu Tận Minh nên Ngài biết rõ nguyên nhân đi trong sanh tử luân hồi và cách dứt khỏi luân hồi sống-chết. Chính bản thân Ngài đã thoát ra được và đi giáo hóa suốt 49 năm; bị người vu oan giá họa, bị người chửi mắng, hãm hại đủ mọi cách nhưng Phật vẫn bình thản, an nhiên, tự tại chứng minh cho đời sự trong sạch của mình, đã hoàn toàn giác ngộ, giải thoát và thành Phật. Trước khi nhập diệt, Ngài báo cho tứ chúng đồng tu biết được ngày giờ ra đi trước ba tháng. Cho nên, Thiền định là con đường thể nghiệm sâu sắc về chính mình, giúp mọi người vượt qua cạm bẫy cuộc đời để sống bình yên, hạnh phúc và tự tại, giải thoát.

Tam Minh là quá trình Thiền của đức Phật trong đêm Thành đạo dưới cội Bồ đề, đánh dấu sự chuyển đổi quan trọng từ sa môn Cù Đàm dấn thân tìm chân lý, trở thành bậc giác ngộ Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Phật là một con người giống như tất cả mọi người, Ngài là một hoàng thái tử dám từ bỏ quyền uy thế lực, cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con ngoan, từ bỏ tất cả những gì chúng ta hằng mong muốn để đi tìm chân lý sống cho con người. Như Lai là người giác ngộ hoàn toàn, không còn bị ràng buộc và dính mắc các pháp thế gian như tham lam, sân giận, si mê, mạn nghi và ác kiến. Như Lai là một trong mười danh hiệu của Phật mà Ngài thường dùng trong các bản Kinh, chúng tôi tạm gọi là “không từ đâu đến và cũng không đi về đâu”. Nó là một thực tại nhiệm mầu không thể diễn tả bằng ngôn ngữ, Như Lai là bậc giác ngộ, bậc tỉnh thức và thấy biết đúng như thật. Như Lai là bậc Ứng Cúng xứng đáng được trời người tôn trọng và cung kính cúng dường, là bậc đã phá trừ các phiền não khổ đau. Như Lai là bậc Chánh Biến Tri, là người đã giác ngộ rộng lớn, thấy biết chân chính và không còn dính mắc các Pháp trần tục ở đời như si mê, tham ái, giận dữ, ghen ghét, hận thù, cống cao ngã mạn và các sự trói buộc khác. Ngài tự do an lạc, thảnh thơi và sống có hiểu biết, thương yêu chân thành mà không phân biệt người thân hay thù. Như Lai là bậc Minh Hạnh Túc, có nghĩa là cái thấy đầy đủ về nhận thức, hành động đạt đến mức sáng suốt tột cùng. Cái thấy về vô số kiếp về trước làm gì, ở đâu, cái thấy tất cả chúng sinh luân hồi sinh tử, tái sinh trong ba cõi sáu đường đều do mình tạo ra và cái thấy biết cách làm cho con người không còn bị sinh-già-bệnh-chết chi phối. Như Lai là bậc Thiện Thệ, là người đã khéo vượt qua sống chết, đã hoàn toàn được giải thoát một cách viên mãn. Như Lai là bậc Thế Gian Giải, là người đã thấu hiểu được tâm tư, tình cảm, bản chất của mọi chúng sinh, cũng như tất cả mọi hiện tượng, sự vật trên thế gian này. Như Lai là bậc Vô Thượng Sĩ, là người đạt tới nhân cách, phẩm chất cao thượng nhất. Như Lai là bậc Điều Ngự Trượng Phu, là người có khả năng chinh phục, chế ngự, điều động, rèn luyện, giúp cho con người vượt qua cạm bẫy cuộc đời, kể cả những người khó điều phục. Như Lai là bậc Thiên Nhân Sư, là thầy của trời người. Loài trời ở đây chúng ta thường gọi là chư thiên, là loài có phước báu hơn con người. Như Lai là Phật, nói cho đủ là Phật Đà, là người giác ngộ, là người tỉnh thức, là người thấy biết đúng như thật. Như Lai là bậc Thế Tôn, là người tôn quý trong thế gian. Sở dĩ được tôn quý vì nhân cách, phẩm chất sống của Người luôn từ bi và trí tuệ, hiểu biết và yêu thương, dấn thân và phục vụ, bao dung và tha thứ, sẻ chia và thông cảm vì lợi ích của tất cả chúng sinh. Người cư sĩ tại gia thường xuyên quán niệm như thế về Phật thì tâm tư càng ngày càng có sức định tĩnh, lắng trong, nhờ vậy chúng ta luôn sáng suốt khi học và làm việc và có được niềm vui sống trong tỉnh giác.

Riêng tại Việt Nam, ánh sáng tuệ giác Tam Minh của đức Từ Tôn đã được các Thiền sư, cư sĩ Phật tử tiếp tục thắp sáng, tạo thành những trang sử vàng son cho ngôi nhà Phật giáo Việt Nam. Tiêu biểu như ở thời Lý, Trần, vua quan và Thiền sư đã khéo vận dụng tuệ giác và sống đúng như thật qua những đóng góp quan trọng vào việc giữ gìn đất nước độc lập, xây dựng, phát triển quốc gia. Nhất là đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông do tu Thiền mà giác ngộ, giải thoát, mở ra dòng Thiền hiện đại Trúc Lâm Yên Tử Việt Nam hướng dẫn tất cả mọi người cùng tu. Ở Ấn Độ có Thái tử đi tu và thành Phật. Ở Việt Nam ta có vị vua từ bỏ ngai vàng, xuất gia và ngộ đạo. Đó là điểm sáng chiếu soi cho ngôi nhà Phật giáo Việt Nam. Phật do tu Thiền mà giác ngộ, các vị Tổ cũng do tu Thiền mà giác ngộ, và đặc biệt cư sĩ tại gia Tuệ Trung Thượng Sĩ cũng do tu Thiền mà tự tại. Trước lúc sắp ra đi, thê thiếp, con cháu trong nhà khóc lóc um sùm, ngài mở mắt ra nói “các ngươi làm mờ chân tánh ta”, nói xong ngài an nhiên, tự tại ra đi.

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT KHI TU THIỀN

Tu Thiền muốn có kết quả tốt đẹp, tâm an định và trí tuệ phát sinh để sống bình yên, an vui, hạnh phúc thì mọi người cần phải nắm vững những điều căn bản sau đây:

1- Không trực tiếp sát sinh hại vật, xúi bảo người khác giết hại hoặc vui vẻ đồng tình khi thấy người khác giết hại. Người có tâm sát sinh hại vật thì không bao giờ có thể Thiền định, vì trong các nghiệp xấu ác nặng nhất là tội giết hại. Kẻ giết người cùng kẻ bất hiếu với cha mẹ cũng không thể Thiền định. Muốn tu Thiền được kết quả tốt đẹp chúng ta phải từ bỏ giết hại, bởi khi giết vật mắt thấy, tai nghe chúng giãy giụa đau thương nên chủng tử đó huân tập vào tàng thức, lâu ngày ta thấy con vật la khóc đến đòi nợ. Người giết hại nhiều hay lo lắng, sợ hãi, bất an nên trong tâm lúc nào cũng day dứt, khó chịu. Người tại gia vì gia đình, người thân nên phải làm việc để có nguồn thu nhập, vẫn phải ăn mặn để đủ sức khoẻ mà dấn thân đóng góp, phục vụ; nhưng nên ăn mặn theo Tam tịnh nhục, không trực tiếp giết hại, không xúi bảo người khác giết hại, không vui vẻ đồng tình khi thấy người khác giết hại. Ta có quyền mua thịt cá đã làm sẵn hoặc đã nấu chín, nếu mua thịt cá mần sẵn thì phải để ý kiểm tra, đừng mua đồ ương thối tuỳ theo kinh nghiệm mỗi người. Người hay sát sinh hại vật tức làm khổ chúng sinh nên không có lòng từ bi, do đó khó mà Thiền định được kết quả tốt đẹp.

2- Không gian tham trộm cướp, lấy tài sản của cải người khác. Trộm là lén lấy, cướp là công khai lấy. Muốn Thiền định mà trong tâm cứ tính toán làm sao để lấy của người khác thì chắc chắn không bao giờ tâm an định. Nhân trộm cướp quả hiện đời bị tù tội và nghèo khổ, thiếu thốn. Cho nên, người tại gia tu Thiền mà còn bệnh này tức lòng tham lam, ích kỷ quá nhiều, do đó không thể đạt kết quả như ý muốn.

3- Người hay tà dâm cũng vậy, vì lòng dục nặng nề thích đắm sắc mê hoa nên lúc nào cũng toan tính, tìm cách chiếm đoạt để hưởng thụ khoái lạc dục tính. Muốn được như vậy trước nhất người tà dâm phải nói dối “tôi không hạnh phúc” hay “tôi bị bắt buộc”, cốt để làm sao cho người khác phái tin mình. Tham lam, dối gạt để hưởng thụ cho riêng mình là thói quen xấu nhiều đời nhất của đấng mày râu. Dù có vợ đẹp con xinh nhưng vẫn muốn kiếm thêm, vẫn ham thích của lạ để chứng tỏ khả năng chinh phục. Báo chí vừa qua cũng đã đăng tin các đại gia bỏ tiền mua dâm với một số người mẫu, hoa hậu với số tiền quá cao trong một lần quan hệ. Quan niệm chồng chúa vợ tôi, trai năm thê bảy thiếp là tập tục trọng nam khinh nữ phát xuất từ thời phong kiến. Vua có quá nhiều cung phi mỹ nữ nên ít có ông nào sống thọ. Vậy muốn tu Thiền có kết quả tốt chúng ta phải biết tiết chế trong sinh hoạt tình dục bằng cách sống thuỷ chung “một vợ một chồng”. Người quá nặng tính dục sẽ giảm sức khoẻ, tinh thần không sáng suốt nên ngồi Thiền khó an định, do đó tâm niệm cứ lăng xăng dính mắc “ta-người-chúng sinh”.

4- Người hay nói dối để lường gạt hoặc hại người cũng khó lòng Thiền định vì tâm tư lúc nào cũng tính toán hơn thua, tìm cách sén bớt của người. Tâm không ngay thẳng, hay nghĩ điều tà dại như nói dóc, nói láo để lường gạt, khoe khoang, nói lời mắng chửi nặng nề tức tâm nóng giận, thù hằn chất chứa nhiều trong lòng. Hạng người như vậy cũng khó mà Thiền định an ổn. Cho nên, muốn tu Thiền đạt được kết quả phải buông xả phiền não tham-sân-si, phải giữ giới không nói dối hại người hoặc nói lời hằn học, mắng chửi.

5- Uống rượu hoặc dùng các chất kích thích, ăn uống đồ độc hại, hút chích xì ke ma tuý thì càng không thể Thiền định vì tinh thần mê muội, thân thể bất an, không có tinh thần tự chủ. Khi ta tiêu thụ những thứ trên quá nhiều sẽ làm tàn hại thân tâm, bệnh hoạn, si mê, cuồng loạn; làm hại mình, hại gia đình, người thân và xã hội. Hạng người như thế lúc nào cũng tìm cách lường gạt của người khác, nếu làm có tiền cũng tiêu tốn hết vào đó. Gia đình nào có những con người như thế sẽ khổ đau vô cùng cực vì làm khổ chính mình lẫn gia đình, người thân. Nếu ghiền những thứ đó mà không có tiền thì phải trộm cướp, lường gạt của người khác bằng mọi cách. Một xã hội có nhiều con người như vậy trước sau cũng sẽ tan nhà nát cửa, đất nước loạn lạc, khủng hoảng nhân cách đạo đức làm mất tính người. Biện pháp duy nhất giúp cho con nghiện là sống cách ly xã hội, được hướng dẫn đạo đức tâm linh để tin sâu nhân quả, được tạo công ăn việc làm tại chỗ, sống đơn giản, đạm bạc thì họa may mới cứu chữa được; bằng không xã hội phải xây cất nhiều trung tâm thần kinh và trung tâm cai nghiện để chứa những con người này, dần hồi nhà tù sẽ được mở rộng để dung nạp nhiều kẻ lường gạt, trộm cướp, biếng nhác, ăn không ngồi rồi. Hiện nay xã hội chỉ chữa bệnh tạm thời trên phần ngọn nên tốn kém, mất mát, hao hụt quá nhiều; muốn giúp thế gian giảm bớt tệ nạn xã hội chỉ có cách duy nhất làm sao hướng dẫn mọi người tin sâu nhân quả, gieo nhân tốt gặt quả tốt, gieo nhân xấu gặt quả xấu.

Đất nước chúng ta đang trên đà phát triển toàn diện về mọi mặt, nếu con người không ý thức và có hiểu biết chân chính thì chỉ được lợi ích vật chất bên ngoài. Trong bối cảnh hiện nay chúng ta đang sống chung với ô nhiễm môi trường, ô nhiễm văn hóa phẩm đồi trụy, ô nhiễm thực phẩm đồ ăn thức uống, hầu như đại đa số mọi người đều dùng những hóa chất độc hại đưa vào cơ thể do nhu cầu sự sống. Ngành quản lý chức năng cần hạn chế cấp giấy phép một số hoạt động có tác hại lớn như các quán nhậu, các làng nướng, vũ trường… đang mọc lên như nấm mà không có giờ giấc hạn chế. Cơ sở giáo dục chưa phù hợp với sự hiểu biết của con người nên không có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa học tập, làm việc và tu dưỡng đạo đức tâm linh. Việc thay đổi, phát triển, mở mang là điều tốt nhưng phải dựa theo trình độ dân trí, nếu phát triển quá nhanh sẽ làm con người không theo kịp, thành ra phản tác dụng và làm tổn hại trở lại. Có tiện nghi vật chất đầy đủ mà không có tinh thần sáng suốt cùng hiểu biết chân chính thì nguy hiểm vô cùng vì sẽ đưa con người vào hố sâu tội lỗi.

Theo sự hiểu biết của chúng tôi, muốn mọi người sống thương yêu đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau trên tinh thần vị tha, biết cảm thông và tha thứ, biết bao dung và độ lượng, hay san sẻ và nâng đỡ bằng tình người trong cuộc sống thì trước nhất ta phải tin sâu nhân quả, tin nhân quả luôn theo ta như bóng với hình, dù trăm kiếp ngàn đời vẫn không mất, khi hội đủ nhân duyên quả báo hoàn tự hiện. Ta tin tâm mình là Phật, siêng năng cố gắng làm lành, buông xả tâm niệm về hành động xấu ác. Ta tin bản thân có khả năng làm được tất cả mọi việc trên thế gian mà không phải cầu khẩn, van xin một đấng quyền năng nào đó. Chính ta là ông chủ nhân của bao điều họa phúc. Ngày xưa khi ta chưa biết tu thì ý nghĩ xấu phát sinh ra lời nói, dẫn đến thân giết hại, trộm cướp, lường gạt của người khác; bây giờ biết tu rồi ta suy nghĩ điều thiện, miệng nói lời từ ái, chân thật, sống bao dung, giúp đỡ người khác. Chúng ta chỉ cần thay đổi nhận thức thì nhân quả xấu sẽ từ từ thay đổi theo chiều hướng tốt đẹp, nhưng ta phải bền chí, kiên trì, đừng ham mau lẹ mà trở thành tham lam. Mình mới tu Thiền chỉ có vài năm mà muốn có kết quả liền thì không thể được vì vô số kiếp khi chưa biết tu ta đã huân tập biết bao nhiêu thói hư, tật xấu; nay biết tu rồi chỉ cần kiên trì, bền bỉ lâu dài thì việc gì cũng có thể làm được; ví như tấm gương sáng lâu ngày bị bụi bám đầy, ta chỉ cần lau bụi phiền não tham-sân-si, ganh ghét, tật đố, ích kỷ, mê muội chất chứa hại người cho đến khi nào bụi hết thì gương tự trong sáng.

6- Người tu Thiền mập quá cũng khó tu vì ăn nhiều là do lòng tham đắm, không biết làm chủ trong ăn uống, thân thể chậm chạp, mệt mỏi, ngồi lại vọng niệm lăng xăng khó điều phục. Người quá mập nếu là phụ nữ có chồng sẽ bị chồng chê và khó có được hạnh phúc thật sự, khó Thiền định được vì khi ngồi lại cảm thấy khó khăn, chộn rộn, mệt mỏi, hoặc Thiền đi, Thiền lạy cũng chậm lụt hơn người thường. Muốn tu Thiền để được kết quả tốt đẹp ta phải điều hoà, cân bằng sức khoẻ. Thí dụ mình cao 1m60 thì trong lượng cơ thể cho phép 56 kg, giữ quân bình như vậy thì ta tu Thiền rất nhẹ nhàng vì mình làm chủ được ăn uống là đã biết tu rồi. Nếu không có đủ khả năng làm chủ trong ăn uống thì ta điều hoà thân thể tối đa là 59 kg hoặc thấp nhất là 53 kg, chỉ cần làm chủ trọng lượng cơ thể là chúng ta đã biết cách tu Thiền.

7- Người ốm quá là người bệnh hoạn, suy dinh dưỡng, thiếu sức khoẻ nên thân thể đau nhức, mệt mỏi, tinh thần rối loạn, hay lo lắng. Thân thể không khoẻ mạnh thì tinh thần không sáng suốt nên cũng khó định tâm trong lúc Thiền.

Ngoài những đòi hỏi trên thì người tu Thiền phải biết cung kính, hiếu thảo với ông bà cha mẹ, phải chăm sóc dưỡng nuôi khi cần thiết và khi tuổi già sức yếu; ngoài ra còn biết bố thí, cúng dường người tu hành chân chính và người khó khăn, nghèo khổ, biết làm các việc phước thiện như ấn tống kinh sách, băng đĩa, từ thiện giúp đỡ người bất hạnh khi có nhân duyên. Có bố thí, giúp đỡ, sẻ chia ta mới xả bỏ tâm tham lam, ích kỷ, bỏn sẻn, keo kiết nhiều đời; nhờ vậy tâm từ bi giúp người cứu vật được phát triển từ trong gia đình, người thân rồi lan rộng đến người ngoài xã hội.

Nói tóm lại, trước khi tu Thiền chúng ta cần phải có một hiểu biết chân chính, nhận thức sáng suốt, tin sâu nhân quả, tin chính mình và quyết tâm bền chí phải Thiền trong mọi oai nghi đi-đứng-nằm-ngồi, ăn uống, ngủ nghỉ, sinh hoạt cho có chừng mực, giữ giới không làm tổn hại thân tâm mình, người và vật. Đó là phương pháp chung dành cho người tu Thiền, nhưng còn tuỳ sức khoẻ, hoàn cảnh cuộc sống của mỗi người mà chúng ta biết cách áp dụng sao cho bản thân được bình yên, an vui, hạnh phúc ngay tại đây và bây giờ. Chúng ta biết áp dụng Thiền đúng lúc, đúng chỗ, đúng nơi thì ngày càng giảm bớt phiền não tham-sân-si và phát sinh trí tuệ, nhờ vậy tăng trưởng lòng từ bi thương xót giúp đỡ người và vật khi có nhân duyên. Cứu giúp một người qua cơn hoạn nạn và giúp họ biết tin sâu nhân quả, hay nói cách khác ta cho họ con cá cũng cần phải cho họ cần câu và chỉ cách câu. Con cá chỉ là phương tiện ban đầu, cho họ cái cần câu thì họ mới biết cách vượt qua nỗi khổ, niềm đau và sống an vui, hạnh phúc.

Thiền mà chúng tôi đang hướng dẫn ở đây là đi vào đời sống gia đình và xã hội, ai muốn sống tốt, không làm tổn hại người khác thì ngay bây giờ phải biết tu tâm sửa tánh để quay về con người tâm linh của chính mình. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni sau khi tu Thiền thành tựu đã giáo hoá 49 năm không biết mệt mỏi, nhàm chán vì Ngài không thấy ai là kẻ thù mà chỉ thấy người chưa thông cảm với nhau mà thôi. Dù bị người hãm hại đủ mọi cách nhưng Phật vẫn không buồn phiền mà còn thương họ nhiều hơn vì Ngài đã sống được với tâm thanh tịnh, sáng suốt. Người không biết tu Thiền khi gặp việc xấu sẽ tìm cách trả thù trở lại nên nhân quả vay trả, trả vay không có ngày thôi dứt.

TU THIỀN TRƯỚC NHẤT PHẢI TỰ TIN CHÍNH MÌNH

Người tu Thiền trước nhất phải quyết tâm tin mình sẽ thành Phật, tâm Phật thanh tịnh, sáng suốt nương nơi 6 căn của mỗi người là mắt-tai-mũi-lưỡi-thân-ý; nương nơi mắt thì thấy biết rõ ràng không lầm lẫn, hình ảnh sự vật như thế nào thì biết rõ như thế mà không dính mắc; nghe chỉ là nghe, có tiếng nghe có tiếng, không tiếng nghe không tiếng, tiếng lớn tiếng nhỏ là âm thanh bên ngoài, tính nghe thì luôn thường biết rõ ràng; mũi-lưỡi-thân-ý cũng lại như thế. Chúng ta tin tâm mình là Phật, giống như chiếc gương sáng vì để lâu ngày bị bụi bám vào, muốn gương sáng trở lại phải chịu khó lau chùi, hết bụi tự nhiên gương sẽ sáng. Cũng vậy, chính tâm mình là Phật nhưng vì lâu ngày ta để bụi phiền não tham-sân-si bám vào nên tâm Phật không hiển lộ, đến khi buông bỏ hết mọi vọng niệm thì tâm Phật hằng soi sáng. Không tin tâm mình là Phật thì chúng ta sẽ không cố gắng chuyển hoá phiền não tham-sân-si để được giác ngộ, giải thoát ngay trong cõi đời này. Quả quyết tin tâm mình là Phật là ta đã thành tựu đức tin mãnh liệt, nhờ vậy khi tu Thiền dễ dàng buông xả sự tham đắm, dính mắc từ trước đến giờ.

Trong sự tu hành chúng ta phải khẳng định, tâm mình là Phật mới có thể tự giải thoát sống chết, không một đức Phật hoặc chư vị Bồ-tát nào có thể giải thoát thay thế cho chính mình được. Cuộc sống ngoài xã hội cũng vậy, mọi việc nên hư, thành bại, tốt xấu đều tự chúng ta gầy dựng tạo nên. Chính ta là ông chủ nhân của bao điều hoạ phúc, mình làm lành được hưởng phước, mình làm ác chịu khổ đau, thành Phật hay không là do sự quyết tâm của mỗi người. Ai có đầy đủ đức tin mãnh liệt nơi chính mình thì sẽ không trốn tránh trách nhiệm về mọi hành vi của bản thân, không ỷ lại hay cầu cạnh, nhờ vã kẻ khác, không yếu đuối, hèn nhát trước mọi khó khăn. Chúng ta can đảm đối diện với cuộc sống để tìm cách vươn lên vượt qua cạm bẫy cuộc đời nhằm chuyển hoá nỗi khổ, niềm đau thành an vui, hạnh phúc ngay tại đây và bây giờ.

TU THIỀN PHẢI CÓ LÒNG QUẢ CẢM

Nhờ tự tin chính mình chúng ta mới can đảm vượt qua mọi khó khăn, gian nan, thử thách, cương quyết quả cảm tiến lên, phấn đấu chiến thắng bọn quân ma phiền não làm trở ngại. Chúng ta biết rõ chính mình có khả năng thành Phật nên quyết chí tu hành cho đến khi thành tựu viên mãn mới thôi. Đức tự tin và lòng quả cảm giúp ta mạnh dạn, gan dạ dấn thân đóng góp, phục vụ tất cả chúng sinh không biết mệt mỏi, nhàm chán để mình và người cùng được bình yên, hạnh phúc. Nếu chúng ta không tự tin chính mình và không có lòng quả cảm thì ta sẽ không bao giờ kiên trì, bền chí khi gặp khó khăn, vấp ngã. Nhờ tin tâm mình là Phật nên ta xem thường mọi nguy hiểm, sống đơn giản, đạm bạc để tu hành như vua Trần Nhân Tông. Vị vua Thiền Sư đã nhường ngôi lại cho con lên núi Yên Tử tu hành nơi đồi núi hiểm trở, khó khăn, thú dữ chực chờ. Trước những hiểm nguy như thế nhưng Phật hoàng Trần Nhân Tông vẫn ung dung, tự tại, không bất an, lo lắng, sợ hãi mà quyết chí tu hành. Thật là một tâm hồn quả cảm tràn trề! Nếu chúng ta ai cũng ứng dụng được tinh thần quả cảm này vào xã hội để dấn thân, đóng góp và phục vụ tốt cho mọi người, thì việc gì cũng có thể thành công tốt đẹp.

TU THIỀN PHẢI BỀN CHÍ SIÊNG NĂNG LÂU DÀI

Có lòng tự tin chính mình chúng ta mới cố gắng nỗ lực tiến tu để buông xả mọi tham đắm, dính mắc ở đời. Bất cứ làm một việc gì mà không tin mình làm được thì chắc chắn việc ấy sẽ bỏ dở nửa chừng, hoặc có làm cũng không tới đâu. Chúng ta tin chắc việc này mình làm được thì ngày đêm siêng năng, cần mẫn, không dám lơi là, giải đãi. Tin chính mình giúp ta cố gắng, siêng năng, bền chí, kiên trì, không chán nản hay bỏ dở nửa chừng. Tin tâm mình là Phật giúp người tu Thiền tinh tấn, bền chí, nhẫn nại, cố gắng thực hành cho đến khi công thành quả mãn mới thôi. Tin tâm mình là Phật là đã có nhân thành Phật, chỉ cần cố gắng tu hành sẽ thành Phật quả. Từ nhân đến quả đều do sự siêng năng tu hành của bản thân, không phải ai khác có thể làm thế cho ta được dù đó là đức Phật. Ở thế gian ai cũng tự tin chính mình thì chắc chắn mọi việc sẽ được thành công tốt đẹp. Tin tưởng mình có khả năng nên mới siêng năng, cố gắng trong mọi nhiệm vụ. Thế cho nên muốn làm việc được thành công viên mãn thì chúng ta trước tiên phải tự tin chính mình, có lòng quả cảm và bền chí, siêng năng, cần mẫn.

TU THIỀN TÙY THUỘC VÀO VẬN MỆNH ĐẤT NƯỚC DÂN TỘC

Xã hội và tôn giáo luôn liên quan, ảnh hưởng mật thiết với nhau, tu Thiền nói riêng cũng vậy. Trong Phật giáo có quá nhiều pháp môn nhưng chính yếu vẫn là Thiền, tuy nhiên Thiền cũng có nhiều loại. Có hai phương pháp chính yếu khi tu Thiền là Thiền Chỉ và Thiền Quán, hai loại này gọi là Thiền Đối Trị và Thiền Trực Chỉ, tức là đi thẳng vào nội tâm để buông xả. Thiền Chỉ và Thiền Quán luôn dung thông, hỗ trợ cho nhau và phải có sự liên kết chặt chẽ mới có thể thành tựu mục đích sau cùng. Khi dân tộc không bị chiến tranh loạn lạc, có chủ quyền độc lập thì pháp môn tu nhà Phật hướng về tự lực hoàn toàn. Khi dân tộc mất chủ quyền, bị lệ thuộc thì pháp môn tu hướng về tha lực nhiều hơn, nhưng chính yếu vẫn là tự lực. Chúng ta thấy sự thịnh suy của dân tộc là sự thịnh suy của Thiền, một đất nước mất chủ quyền thì người dân sao có thể tin vào khả năng tu tập của chính mình nên dễ dàng đánh mất tự chủ mà tin vào tha lực bên ngoài. Chính vì thế tu Thiền cũng chịu ảnh hưởng theo vận mệnh của đất nước. Tuy nhiên, nếu chúng ta đã tin sâu nhân quả thì dù trong hoàn cảnh nào ta cũng có thể tu Thiền, vì Thiền luôn song hành với đời sống của chúng ta. Ăn uống, mặc quần áo, đi tiểu, đi đại hằng ngày nếu không biết Thiền ta sẽ tự đánh mất mình, vì những điều này ta phải tự giải quyết chứ người khác không thể thay thế được.

THIỀN RẤT THỰC TẾ TRONG ĐỜI SỐNG MỌI NGƯỜI

Chủ trương của Thiền là khai sáng trí tuệ, phục hưng lại con người tâm linh của bản thân mà ta đã lãng quên từ lâu vì bị phiền não tham-sân-si che lấp do chấp thân tâm này làm ngã. Chính nơi thân chúng ta đã có sẵn con người chân thật, đó là Phật tính sáng suốt nương nơi mắt-tai-mũi-lưỡi-thân-ý. Con người thật của mình không phải do Phật cho hay do một đấng thần linh, thượng đế nào tạo nên. Chính tâm Phật là cái có sẵn nơi chúng ta, một phút giây vắng nó thân này sẽ ngừng hoạt động và chuyển sang đời khác. Ví như gió không có hình tướng cụ thể nhưng thấy lá cây động, thân người mát ta mới cảm nhận có gió, lúc bình thường thì không. Cũng vậy, ngay nơi thân này có tâm Phật sáng suốt nhưng vì vô minh, phiền não che chướng mà chúng ta lãng quên, bây giờ ta chỉ cần thừa nhận mình có sẵn thì một đời an vui, giải thoát. Thực tế hơn nữa khi người tu Thiền chỉ cần khéo biết cách áp dụng vào đời sống hằng ngày, từ khi mở mắt thức dậy, tắm rửa, đi đại, đi tiểu, ăn uống, làm việc, cho đến đi ngủ cũng đều Thiền được cả, không phải cứ vào chùa hay thâm sơn cùng cốc mới tu Thiền. Để thấy rõ tánh cách thực tế của Thiền, chúng ta cùng nghe Lục Tổ nói trong bài tụng “Vô Tướng”:

Phật pháp ở thế gian

Chẳng lìa thế gian giác

Lìa thế kiếm bồ-đề

Giống như tìm sừng thỏ.


Bấy nhiêu đó cũng đủ cho ta thấy rõ tính cách thực tế của sự tu Thiền như thế nào rồi. Đạo và đời luôn gắn liền với nhau, nếu chúng ta muốn giải thoát thì phải tu ngay nơi trần gian này. Lông rùa và sừng thỏ là những vật xem như không có thực, người tu Thiền mà xa lánh thế gian để tìm cầu giải thoát cũng giống như kiếm lông rùa, sừng thỏ. Tu Thiền chính yếu là chuyển hoá tâm phiền não tham-sân-si thành vô lượng trí tuệ từ bi để được giác ngộ, giải thoát. Hoa sen mọc tươi tốt và nở thơm ngát từ bùn nhơ nước đục, nên tu Thiền là ứng dụng ngay nơi cuộc sống trong bốn oai nghi đi-đứng-nằm-ngồi. Điều này chắc chắn ai cũng có thể làm được tuỳ theo khả năng và sự quyết tâm tu tập của mỗi người.

TU THIỀN RẤT HỢP VỚI THUẬT DƯỠNG SINH VÀ RÈN LUYỆN THÂN THỂ

Người tu Thiền biết điều hòa thân thể, điều hòa hơi thở và nội tâm nên ít bệnh hoạn, đau yếu. Về thân thể người tu Thiền ăn uống có tiết độ, ngủ nghỉ có chừng mực, làm việc đúng thời khóa, cấm kỵ những việc trác táng, rượu chè, đam mê sắc dục quá đáng. Về hơi thở người tu Thiền biết điều hòa hơi thở dài và nhẹ. Hơi thở là chủ yếu của sức khỏe, là quyết định của mạng sống. Khi mệt thì thở hổn hển, khi khỏe thì thở nhẹ nhàng. Mạng sống chúng ta còn hay mất là do hơi thở quyết định, thở ra mà không thở vào thì thân này bại hoại, chuyển sang đời khác. Thế mà đa số người đời sống không biết hơi thở mình đang thế nào, dường như họ đã quên mất khi mình thở ra mà không thở vào là mạng sống chấm dứt. Về tâm tư con người cũng vậy, có những lo nghĩ bất thường hoặc tức giận, hoặc sợ sệt, hoặc lo lắng, phiền muộn, khổ đau, tất cả đều là nguyên nhân phát sinh bệnh hoạn. Người tu Thiền khéo buông xả những tâm tư vọng động khiến nội tâm trong sáng, tĩnh lặng nên thân tâm an ổn, nhẹ nhàng. Buông xả mọi tâm niệm xáo động nơi mình thì hành giả được an nhiên, bình tĩnh trước mọi sóng gió cuộc đời. Những khi thân bị gió lạnh xâm nhập chỉ cần ngồi Thiền trong một giờ thì tan hết, bởi lẽ ngồi Thiền thì hơi nóng trong người xông lên nên khí lạnh tan biến. Con người do thân bất an nên sanh bệnh, tâm lo lắng, sợ hãi, phiền muộn nên cũng sanh bệnh. Người tu Thiền khéo điều hòa thân an ổn, tâm yên định nên phù hợp với thuật dưỡng sinh.

Thiền theo lời Phật dạy có hai phương pháp hỗ tương cho nhau là Thiền Chỉ và Thiền Quán. “Chỉ” là trụ tâm vào một chỗ như niệm Phật, niệm Bồ tát, niệm hơi thở. “Quán” là dùng nhận thức để xem xét thân tâm, vạn vật nhằm biết rõ bản chất thật-hư của nó. Thiền Chỉ với mục đích dừng tâm vọng niệm lăng xăng nhờ chú tâm vào một chỗ nên được định. Thiền Quán giúp hành giả phát sinh trí tuệ nên buông bỏ được phiền não tham-sân-si, nhưng nếu quán hoài thì lăng xăng, không an định. Do đó, khi tu Thiền chúng ta phải biết dùng Chỉ và Quán để dung hoà thân tâm. Khi thì ta dùng Chỉ, khi thì ta dùng Quán để điều hoà tâm vọng động. Chỉ nhiều thì được định nhưng không có trí tuệ nên không thể buông xả tâm phải-quấy, đúng-sai, tốt-xấu, do đó cũng không thành tựu đạo pháp. Có trí tuệ nhiều thì tâm lăng xăng, không an định, do đó phải quay về Trung đạo để sống với tâm Phật của mình. Khi hai pháp Chỉ và Quán đã được dung thông thì mỗi hành giả phải xả chúng để không trụ vào bên nào mà thể nhập Phật tính sáng suốt, nương nơi mắt thì thấy biết rõ ràng không lầm lẫn, sự vật như thế nào thấy rõ như thế đó nên thấy chỉ là thấy, thấy tức biết, tai-mũi-lưỡi-thân-ý cũng lại như thế. Thiền theo lời dạy của đức Phật Thích Ca Mâu Ni có thứ lớp từ thấp đến cao, tuỳ theo căn cơ, trình độ của mỗi người mà ứng dụng tu theo nhiều cấp độ khác nhau.

THIỀN ĐẠO PHẬT KHÁC VỚI CÁC LOẠI THIỀN NGOẠI ĐẠO

Để khỏi lầm lẫn ý nghĩa chống đối hay khinh rẻ, chúng ta nên định nghĩa chữ "ngoại đạo" cho rõ ràng. Nhà Phật định nghĩa rất rõ, ngoài tâm cầu Phật là ngoại đạo. Như thế, dù cho người xuất gia theo Phật mà chỉ một bề hướng ngoại cầu mong cũng gọi là ngoại đạo. Bất cứ một pháp tu nào chỉ trông cậy bên ngoài, tìm kiếm bên ngoài đều gọi là ngoại đạo, vì chủ trương nhà Phật người tu phải "minh tâm kiến tánh" mới thành Phật. Tâm tánh đâu phải việc bên ngoài, nếu tìm bên ngoài là trái với tông chỉ nhà Phật nên gọi là ngoại đạo. Chúng tôi liệt kê những lối tu Thiền theo ngoại đạo đang hiện hành ở Việt Nam như Thiền xuất hồn, Thiền chuyển luân xa, Thiền chuyển tinh hóa khí, chuyển khí hóa thần, Thiền thai tức, Thiền điện thiêng liêng, Thiền Du-già… Những lối tu Thiền này không ngoài hai tiêu chuẩn mầu nhiệm và sống lâu. Mầu nhiệm thuộc huyền bí, hấp dẫn những người hiếu kỳ. Sống lâu thuộc thân thể khỏe mạnh, hấp dẫn người thích sống dai. Hai tiêu chuẩn ấy trái hẳn với đạo Phật. Đạo Phật chủ trương tu để mở mang trí Tuệ, thấy được chân lý, không cần sự mầu nhiệm. Có trí tuệ liền thấy tất cả giả tướng ở thế gian đều là vô thường, dù cố dụng công bảo vệ, duy trì cách mấy rốt cuộc cũng hoại diệt. Cái giả mà cố giữ không phải si mê là gì? Thiền đạo Phật thấy tất cả pháp duyên hợp hư giả, thể tánh là không, nhận ra Phật tính sáng suốt ngay nơi thân này nên khác hẳn với pháp Thiền ngoại đạo. Thiền đạo Phật nhằm mục đích giác ngộ, giải thoát và giúp nhiều người cùng được sống bình yên, an vui hạnh phúc nên đi theo con đường Bồ tát đạo, giúp đỡ tha nhân cho đến khi thành Phật viên mãn mới thôi.

THIỀN TRONG SINH HOẠT ĐỜI THƯỜNG

Chúng ta bắt đầu hành Thiền từ khi mở mắt thức dậy cho đến khi đi ngủ, Thiền như vậy mới đạt hiệu quả cao vì liên tục, không bị gián đoạn. Nếu tọa Thiền một mình trong phòng riêng hành giả có thể mặc trang phục rộng rãi, thoáng mát, nếu cùng tu với nhiều người thì nên mặc áo Tràng cho trang nghiêm. Dụng cụ tọa Thiền của mỗi người gồm một bồ đoàn để ngồi với kích thước phù hợp, nếu không có thể lấy mền lót đỡ để dễ dàng ngồi thẳng lưng. Hành giả có thể ngồi Thiền theo tư thế Kiết Già (kiểu hoa sen), Bán Già hay các tư thế khác tùy theo sức khỏe, tuổi tác của mỗi người. Mục đích chính là điều phục cho tâm được an định. Hành giả nên chọn thời điểm và nơi chốn tọa Thiền hằng ngày tùy hoàn cảnh, công việc và sức khỏe sao cho có kết quả tốt nhất, không nên tọa Thiền lúc mới ăn no, ít nhất là trên một tiếng đồng hồ hoặc lúc quá mệt hay buồn ngủ. Người tại gia bắt đầu tọa Thiền lần lượt theo hai bước là điều thân và điều hơi thở để chuẩn bị tốt cho việc điều tâm không chạy tán loạn, lăng xăng khi hành Thiền. Sau đây là chi tiết thực hiện từng bước từ lúc bắt đầu cho tới lúc xả Thiền:

1. Điều thân

Hành giả lần lượt thực hiện các bước sau:

_ Ngồi trên bồ đoàn, xương cùng đặt ngay giữa bồ đoàn, vận động nghiêng người qua hai bên vài lần rồi ngồi theo tư thế thích hợp.

_ Cởi nút áo cổ, nới dây thắt lưng, chỉnh áo quần chỉnh tề, ngay ngắn sao cho thoải mái, trang nghiêm.

_ Thân cúi xuống ngẩng lên 3 lần, lúc đầu mạnh, sau nhẹ dần.

_ Bàn tay phải để trên bàn tay trái hoặc ngược lại, hai bàn tay đan chéo, hai ngón cái chạm nhẹ vào nhau, đặt nằm ngay chiều rốn phía dưới hai ba phân. Hai cánh tay vừa chạm vào hông.

_ Chóp mũi, rốn và hai đầu ngón tay cái nằm trên một mặt phẳng thẳng đứng. Đầu hơi cuối xuống để hai trái tai dóng thẳng xuống vai.

_ Lưng thẳng vừa phải, ngồi một cách tự nhiên, thoải mái. Gương mặt tươi tỉnh, bình thản. Mắt khép hờ độ 2/3 hoặc có thể nhắm hay mở tùy người, tùy lúc; nên mở mắt trong thời gian đầu để điều chỉnh cho thân ngồi ngay ngắn, không bị niễng hai bên.

2. Điều hơi thở

Hành giả thở 3 hơi dài, hít vô bằng mũi, thở ra bằng miệng, trước mạnh, sau nhẹ dần.

3. Bắt đầu hành Thiền

Có 3 bước lần lượt từ thấp lên cao khi bắt đầu hành Thiền:

Mỗi hành giả tuỳ theo sở thích hoàn cảnh mà có thể niệm Phật bổn sư Thích Ca Mâu Ni, phật A Di Đà, hoặc Bồ tát Quán Thế Âm hay các Bồ tát khác hoặc niệm hơi thở. Tuy danh từ và tên có khác vì đây là phương tiện bước đầu, nhưng tất cả đều quy về một chỗ là tu thiền để thành Phật và cứu độ chúng sinh. Ở đây, chúng tôi hướng dẫn thiền Quán Thế Âm Bồ tát để mình được bình yên, hạnh phúc và giúp đỡ mọi người cùng vượt qua biển khổ sông mê ngay nơi cõi đời này cho đến khi nào thành tựu viên mãn mới thôi.

_ Miệng niệm Quán Thế Âm Bồ tát, tai chú tâm lắng nghe từng tiếng một rõ ràng, nhờ vậy không bị thất niệm, do đó dễ dàng định tâm. Hành giả Thiền Chỉ một thời gian, nhờ chú tâm nên lâu ngày dẫn đến nhất niệm, chỉ nghe âm thanh niệm Bồ tát một cách rõ ràng. Hành giả tu đến đây đã được định nên tâm an trú vào câu niệm Bồ tát.

_ Nếu có định mà không có tuệ thì không thể buông xả hết phiền não tham-sân-si và phát tâm giúp đỡ hay san sẻ với mọi người. Do đó, bước thứ hai hành giả phải tu Thiền Quán. “Quán” có nghĩa là xem xét, tìm tòi, soi sáng thân tâm và hoàn cảnh để tìm ra lẽ thật-hư của nó. Trước nhất hành giả quán sát về thân xem có “thật ngã” hay không; sau đó quán sát tâm suy tư, nghĩ tưởng của mình có thật hay không; kế đến là quán sát mọi hiện tượng, sự vật trên thế gian này xem có thật hay không. Khi quán sát như vậy hành giả thấy tất cả đều do nhân duyên hoà hợp mà thành, không có gì là thực thể cố định nên thân tâm, hoàn cảnh đều vô thường hoại diệt, nhờ vậy buông xả hết tâm niệm cố chấp xưa nay khi cho thân tâm này là “thật ngã”. Hai pháp Thiền Chỉ và Thiền Quán phải được hỗ tương lẫn nhau, có khi hành giả dùng Thiền Chỉ để dừng vọng niệm, có khi dùng Thiền Quán để phát sinh trí tuệ thấy biết đúng như thật. Có định mà không có tuệ gọi là “si định”, có tuệ mà không có định thì vọng niệm mãi lăng xăng.

_ Khi hành giả Thiền trong mọi hoàn cảnh và đã định tâm và phát sinh trí tuệ thì sang giai đoạn bảo trì tính giác, nương nơi mắt thì thấy biết rõ ràng không lầm lẫn, thấy chỉ là thấy nhưng không dính mắc vào sự thấy nên tâm thanh tịnh, sáng suốt; giống như chiếc gương lâu ngày bị bụi bám, bây giờ bụi không còn nữa nên chiếc gương tự sáng trở lại. Giai đoạn này hành giả từ từ chuyển hoá tập khí, thói quen nhiều đời còn xót lại cho đến khi nào vọng niệm hết sạch thì gương trong sáng hoàn toàn, không tỳ vết. Tai có tiếng thì nghe có tiếng, không tiếng nghe không tiếng. Tất cả âm thanh lớn nhỏ đều nghe nhưng không bám dính vào một âm thanh nào, nhờ vậy hành giả thành tựu được tánh nghe. Mũi-lưỡi-thân-ý cũng lại như thế. Đến giai đoạn này hành giả không cần trụ tâm vào Chỉ hay Quán nữa mà chỉ cần nhận diện rõ ràng từng vọng niệm của mình, nó như thế nào thì biết như thế đó thì vọng niệm từ tan hoà vào hư không.

4. Xả thiền

Hành giả Xả thiền theo thứ tự ngược với lúc vào Thiền. Đầu tiên là xả tâm, kế đến xả hơi thở, sau cùng là xả thân.

_ Xả tâm: Khi nghe tiếng khánh hay chuông báo xả Thiền, hành giả tâm duyên theo tiếng chuông, khánh biết rõ từ lúc có tiếng đến khi tiếng chấm dứt và đọc thầm bài kệ hồi hướng:

Nguyện đem công đức này,

Hướng về khắp tất cả,

Đệ tử và chúng sinh,

Đều trọn thành Phật đạo.

_ Xả hơi thở: Hành giả thở 3 lần từ nhẹ đến mạnh. Hít vào bằng mũi, tưởng “máu huyết theo hơi thở lưu thông khắp châu thân”. Thở ra bằng miệng, tưởng “bao nhiêu phiền não, cấu uế, bệnh hoạn đều theo hơi thở ra ngoài”.

_ Xả thân: Hành giả làm lần lượt các động tác sau.

+ Chuyển động luân phiên hai bả vai mỗi bên 5 lần.

+ Đầu cúi xuống ngước lên 5 lần, xoay qua trái qua phải 5 lần rồi cúi xuống ngước lên 1 lần nữa.

+ Co duỗi các ngón tay 5 lần và chuyển động thân từ nhẹ đến mạnh 5 lần, lần cuối úp hai bàn tay lên đầu gối rồi ấn mạnh xuống.

+ Chà xát hai bàn tay cho ấm lên rồi xoa mặt, tai, gáy, cổ mỗi nơi 20 lần.

+ Dùng đầu ngón tay cào nhẹ trên đầu từ trước ra sau 5 lần.

+ Bàn tay phải xoa từ vai trái xuống cánh tay, bàn tay trái xoa từ nách xuống hông phải, làm 5 lần rồi đổi tay.

+ Lòng bàn tay phải đặt trước ngực, lưng bàn tay trái đặt nơi lưng, hai tay đồng thời xoa theo chiều ngang ở 3 vị trí, mỗi nơi 5 lần: Thượng tiêu (trước ngực), Trung tiêu (giữa ngực và bụng), Hạ tiêu (bụng dưới).

+ Hai bàn tay chà xát mạnh vùng thận, thắt lưng, mông, dọc hai bên đùi đến đầu gối (vẫn còn xếp bằng theo tư thế lúc đầu), chà xát lâu mau tùy sự đau tê nhiều hay ít. Xoa kỹ những chỗ bị đau nhiều, nếu không lâu ngày sinh bệnh đau nhức.

+ Chà hai bàn tay vào nhau cho nóng lên rồi áp vào mắt 5 lần.

+ Tay nắm các đầu ngón chân, đặt bàn chân xuống tọa cụ. Xoa bóp kỹ hai chân và lòng bàn chân cho đến khi bớt đau tê mới duỗi thẳng hai chân ra.

+ Gập người xuống, hai cánh tay duỗi thẳng sao cho các ngón tay chạm vào đầu ngón chân, gập xuống thẳng lên 3 lần.

+ Cuối cùng, bỏ bồ đoàn ra, tiếp tục xoa bóp kỹ những chỗ còn đau tê.

Thời gian xả Thiền từ 10 đến 15 phút. Nếu nhiều người cùng ngồi với nhau thì sau khi xả Thiền người xong trước vẫn ngồi xếp bằng ngay ngắn để chờ mọi người hoàn tất việc xả Thiền rồi tiếp tục tụng kinh theo nghi thức thống nhất. Nếu một mình thì tuỳ theo hoàn cảnh mà sắp xếp hài hoà để thân tâm được an lạc. Người tại gia ngồi Thiền tối thiểu 15 phút cho đến 2 tiếng, tuỳ theo điều kiện và hoàn cảnh sống của mỗi người mà chúng ta áp dụng hành Thiền cho hài hoà.

TU THIỀN QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT

1. Thiền niệm Quán Thế Âm
Hiện nay một số hành giả tu theo pháp môn niệm Phật để cầu vãng sanh Tây phương Cực Lạc của đức Phật A Di Đà, lấy tín-hạnh-nguyện làm Tông chỉ. “Tín” là tin có cõi Phật A Di Đà ở Tây phương Cực Lạc. “Hạnh” là niệm Phật đến nhất tâm bất loạn. “Nguyện” là nguyện về Tây phương Cực Lạc. Đây là quan điểm của Tông chỉ Tịnh Độ trong bản kinh A Di Đà. Chúng tôi căn cứ theo lời Phật dạy trong Tam tạng Kinh điển thì thấy tất cả đều phải tu Thiền ngay nơi cõi này chứ không phải tìm cầu đâu xa. Thiền của đạo Phật mục đích đạt đến giác ngộ, giải thoát cho chính mình và phát nguyện độ tất cả chúng sinh. Chính đức Phật Thích Ca Mâu Ni do tu Thiền dưới cội Bồ đề mà thực chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Giác. Chúng ta là những người tu theo Phật thì cũng phải tu Thiền, nhưng tu Thiền như thế nào để được lợi ích thật sự? Thiền mà chúng tôi đang hướng dẫn đi thẳng vào đời sống gia đình và xã hội. Thiền ngồi tịnh tâm, Thiền lạy trong sám hối, Thiền đi trong sinh hoạt đời thường, Thiền tỉnh giác trong ăn uống, lúc tắm rửa, đi tiểu, đi đại, lúc lái xe, lúc làm việc, lúc mua bán, giảng dạy, nghiên cứu, gánh nước lặt rau, nấu nướng… và Thiền nằm trong lúc nghỉ ngơi hay trước khi đi ngủ. Vì người cư sĩ tại gia còn nhiều nhân duyên ràng buộc nên chúng tôi hướng dẫn phương tiện tu Thiền niệm Bồ tát Quán Thế Âm, cũng lấy tín-hạnh-nguyện làm Tông chỉ nhưng tín-hạnh-nguyện của người niệm Quán Thế Âm khác với niệm Phật cầu vãng sanh.

“Tín” ở đây có nghĩa tin vào thần lực nhiệm mầu của Bồ tát Quán Thế Âm có đủ khả năng giúp chúng sinh chuyển hóa nỗi khổ, niềm đau thành an vui, hạnh phúc, đạt được kết quả như ý muốn. Mỗi hành giả đều tin chính mình là Bồ tát Quán Thế Âm nhờ tu hạnh lắng nghe, buông xả và biết bố thí chia vui sớt khổ và bố thí không sợ hãi. “Hạnh” có nghĩa là thực hành niệm danh hiệu Bồ tát một cách tinh chuyên, ròng rặc, miên mật, thường xuyên mỗi ngày không lơ là, giải đãi. Chúng ta cung kính, chí thành niệm danh hiệu Bồ tát trong mọi hoàn cảnh, trong bốn oai nghi đi-đứng-nằm-ngồi mà không bị ngoại cảnh chi phối làm thất niệm. Cuộc sống thế gian vốn nhiều đau khổ, bất an, tham lam, thù hận, đố kỵ, tranh chấp, xung đột, sợ hãi và sẵn sàng triệt tiêu lẫn nhau vì quyền lợi riêng tư. Nếu chúng ta không thường xuyên cung kính niệm Bồ tát Quán Thế Âm mà chờ đến khi gặp hoạn nạn mới khẩn cầu van xin thì e rằng không có kết quả như đã nguyện. Lúc này tinh thần không sáng suốt, khủng hoảng, sợ hãi, mất bình tĩnh thì làm sao đủ khả năng cầu sự gia hộ của Bồ tát. “Nguyện” ở đây có nghĩa là chí nguyện độ sinh, cứu vớt chúng sinh tai qua nạn khỏi, vượt thoát khổ đau và luôn đem niềm vui đến với tất cả muôn loài. Bồ tát sau khi thành tựu đạo quả, phát nguyện dấn thân đi vào đời để làm lợi ích chúng sinh, cùng đồng hành, cùng làm việc, cùng đóng góp, cùng gánh vác, cùng sẻ chia, cùng chia vui và cùng sớt khổ với tất cả chúng sinh. Chúng ta phải thường xuyên quán chiếu thế gian lúc nào cũng đầy dẫy khổ đau, bất hạnh như đang sống trong nhà lửa, chịu sự nóng bức của phiền não trong từng phút giây.

Tu và học theo hạnh nguyện của Bồ tát Quán Thế Âm như nhịp cầu nối kết yêu thương, sẻ chia cuộc sống, luôn giúp mọi người sống gần gũi, gắn bó với nhau bằng sự thương yêu và hiểu biết, dấn thân và phục vụ, bao dung và độ lượng, cảm thông và tha thứ, sẻ chia và giúp đỡ, không thấy ai là người thù mà chỉ có người chưa thông cảm với nhau mà thôi. Phương pháp Thiền Quán Thế Âm là miệng niệm, tai lắng nghe khi ngồi, khi đi, khi lạy, khi nằm; tức là hành giả chú tâm vào câu “Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát”, nhờ chú tâm nên không bị các vọng niệm buồn thương, giận ghét, phải quấy, tốt xấu chi phối. Hành giả tu theo pháp niệm Quán Thế Âm Bồ tát trong khi ngồi thì miệng niệm “Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát”, tai lắng nghe rõ ràng từng tiếng một.

2. Thiền trong lúc ngồi

Hành giả mỗi buổi sáng thức dậy lễ Phật xong mới bắt đầu vào Thiền. Ai có bàn thờ Phật tại nhà thì ngồi Thiền ngay đó, ai chưa thờ Phật thì tự sắp xếp chỗ ngồi hợp lý vì Thiền dành chung cho mọi người. Ngồi Thiền có nhiều cách, cách thứ nhất là tư thế ngồi hoa sen Kiết Già, hai chân đang chéo vào nhau, hoặc ngồi tư thế Bán Già hay ngồi cách nào cho thoải mái cũng được. Điều quan trọng là mỗi hành giả điều phục tâm mình sao cho được an định. Trước khi tịnh tâm hành giả ngồi tư thế lưng thẳng, hai bàn tay xỏ hình bánh vế, hai ngón tay cái đâu nhau và để ở giữa bụng, dưới rún; mắt nhìn thẳng về phía trước, ngó xuống điểm trước mắt cách 8 tấc đến 1 thước, 2 mắt mở vừa chừng, không nên nhắm lại để tránh tình trạng bị ngủ gật hoặc ngồi lệch một bên; khi ngồi nên động thân vài lần để máu huyết lưu thông đều rồi sau đó hít vào 3 hơi bằng mũi và thở ra bằng miệng. Bắt đầu vào Thiền hành giả sẽ niệm “Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát” chậm rãi, từ từ, nhẹ nhàng vừa đủ nghe. Miệng niệm, tai lắng nghe, chúng ta nghe từng tiếng niệm Bồ tát rõ ràng. Khi mới bắt đầu tập tu Thiền, hành giả thường bị các vọng niệm thương ghét, vui buồn, phải quấy, tốt xấu, đúng sai chen vào làm thất niệm, mất tập trung. Đây là lẽ đương nhiên, nhưng khi hành giả cố gắng chú tâm vào từng tiếng niệm Bồ tát sẽ dần dần đánh bạt các vọng niệm khác, nhờ khéo nhiếp tâm thuần thục.

Chúng ta nên nhớ, Thiền niệm Quán Thế Âm Bồ tát rất đơn giản, dễ dàng, chỉ cần chúng ta có đủ lòng tin, kiên trì, bền chí, siêng năng, tinh tấn tu hành đều đặn ắt sẽ thành công trong nay mai. Tu Thiền Quán Thế Âm mục đích để cầu giác ngộ, giải thoát cho chính mình và phát nguyện cứu độ chúng sinh bằng trái tim yêu thương và hiểu biết. Phật dạy chúng ta sở dĩ tồn tại trên thế gian này là phải nương nhờ lẫn nhau về mọi phương diện, ai dù tài giỏi đến đâu cũng không thể sống một mình độc lập mà không nhờ vào sự đóng góp của người khác. Vì lẽ đó chúng ta tu theo hạnh nguyện Quán Thế Âm Bồ tát để cùng nhau chia vui, sớt khổ với tấm lòng vô ngã, vị tha bằng tình người trong cuộc sống. Ta khỏi cần cầu đi đâu mà ngay nơi cõi đời này cùng chia vui sớt khổ với mọi người, cùng san sẻ hay nâng đỡ cho nhau để cùng nhau dìu dắt những người còn chìm đắm trong biển khổ sông mê quay về bờ giác ngộ mà sống đời an vui hạnh phúc.

Đức Phật đã dạy nước mắt chúng sinh còn nhiều hơn nước bốn biển vì chúng sinh luân hồi, sống chết từ vô thuỷ kiếp đến nay. Bởi luân hồi vô số kiếp như thế nên chúng ta đã từng làm cha mẹ, anh em, vợ chồng, con cái, họ hàng, bà con quyến thuộc với nhau nên có nghĩa tình sâu nặng trong mối tương giao của cuộc sống. Do đó khi chúng ta tu được bình yên, hạnh phúc phải nguyện giúp đỡ tha nhân và cứu độ tất cả chúng sinh, trong đó có người thân người thương của ta hằng hà vô số. Thiền niệm Quán Thế Âm Bồ tát có ba cấp độ. Thứ nhất là miệng niệm, tai lắng nghe cho đến khi nào thành tựu được nhất niệm, chỉ nhớ nghĩ Bồ tát Quán Thế Âm mà không nhớ vọng niệm khác thì mỗi hành giả chuyển sang pháp thứ hai là miệng niệm, tâm lắng nghe. Đến đây ta không cần phải chú tâm vào câu niệm Bồ tát mà dùng tánh nghe sáng suốt của mình để thể nhập tánh biết nương nơi tai. Bước ba hành giả không còn miệng niệm nữa mà tâm niệm, tâm lắng nghe, hằng thấy nghe, hay biết với tâm thanh tịnh, sáng suốt của chính mình nên thành tựu viên mãn.

3. Thiền trong lúc lễ lạy sám hối

Pháp Thiền lạy này được lợi ích ba yếu tố. Thứ nhất là vừa lạy vừa tập thể dục, rút ngắn được thời gian buổi sáng. Khi lạy như vậy toàn thân năm vóc cung kính lễ, hai tay chắp trước ngực rồi niệm “Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát”; kế đến đưa hai tay lên trán và gập người xuống lạy, hai chân giữ nguyên, chỉ nhón gót lên, hai tay úp xuống, đầu sát đất và sau đó đứng lên theo vị trí cũ mà không cần di chuyển tay chân, giống như chiếc lò xo bật ra và rút lại, cứ như thế thoải mái, nhẹ nhàng miệng niệm Quán Thế Âm Bồ tát, tai chú tâm lắng nghe tiếng niệm của mình rõ ràng từng tiếng một. Mỗi hành giả lạy tối thiểu từ 30 lạy hoặc một vài trăm lạy tùy theo khả năng, sức khoẻ và hoàn cảnh mỗi người. Thiền lạy này có ba công dụng hữu ích, vừa tập thể dục vừa cung kính lạy, miệng niệm tai lắng nghe là thành tựu ba điều kiện. Một là đỡ phải mất thời gian đi tập thể dục vì khi lạy như thế toàn thân năm vóc đứng lên, lạy xuống làm máu huyết lưu thông khắp toàn thân, hành giả khi lạy cảm thấy an ổn, nhẹ nhàng, không mất sức. Hai là khi lễ lạy sẽ xả được tâm chấp trước, cống cao ngã mạn, hành giả nhờ vậy càng tu lại càng khiêm tốn, lễ phép, biết kính trên nhường dưới thương yêu bình đẳng với tất cả mọi người. Ba là khi lạy chỉ nhớ miệng niệm Bồ tát Quán Thế Âm, tai chú tâm lắng nghe nên không bị các tạp niệm khác làm loạn động, hành giả do đó thân khoẻ, tâm an định.

4. Thiền trong lúc đi tới đi lui

Đây là nhu cầu cần thiết hằng ngày, hành giả phải đi đứng qua lại thường xuyên nên khó bề làm chủ bản thân, do đó lúc nào cũng bị nhiều vọng niệm lăng xăng chi phối làm thất niệm. Với Thiền đi hai tay hành giả chắp trước ngực, đi tới đi lui tùy thích, miệng niệm “Quán Thế Âm Bồ tát”, tai chú tâm lắng nghe. Hành giả chỉ một bề miệng niệm, tai lắng nghe, không cần chú ý đến chân đi nhanh hay chậm. Thiền đi này có một công dụng rất hay là khi đi hành giả chắp hai tay trước ngực, lâu ngày trở thành thói quen tốt, khi gặp ai chúng ta sẽ chắp tay xá chào một cách lễ phép, nhờ vậy dễ gây cảm tình và lòng tôn kính với nhiều người.

Ba pháp Thiền ngồi, Thiền lạy, Thiền đi nhất như chỉ miệng niệm, tai chú tâm lắng nghe trong thời gian sáng sớm khoảng một tiếng đồng hồ. Hành giả kết hợp vừa tu, vừa rèn luyện thân thể, vừa tiết kiệm thời gian. Nhờ miệng niệm “Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát”, tai chú tâm lắng nghe nên thân khoẻ, tâm an ổn, nhẹ nhàng trong định tĩnh, sáng suốt.

5. Thiền trong lúc nằm, ngủ nghỉ

Thiền nằm cũng đơn giản, nhẹ nhàng như những pháp Thiền đã nói, cũng miệng niệm, tai chú tâm lắng nghe, không cần niệm lớn tiếng mà chỉ niệm thầm trong miệng nên dễ dàng đi vào giấc ngủ. Hành giả hành Thiền trong lúc nằm để thư giãn, nghỉ ngơi, cũng chỉ nhẹ nhàng niệm thầm, tai lắng nghe, nhờ vậy tâm an ổn, nhẹ nhàng mà không bị các tạp niệm thương ghét, phải quấy làm loạn động.

6. Thiền trong lúc ăn uống

Dù là người mua bán, người đi chợ, người đến công sở thì tất cả đều phải ăn để có sức khoẻ làm việc. Qua pháp Thiền ăn hành giả không cần niệm danh hiệu Bồ tát nữa mà chỉ chú tâm vào việc ăn, ăn ngon biết ngon, ăn dở biết dở, đắng chát, chua cay, ngọt mặn đều biết rõ ràng nhưng không khởi niệm thích thú hay chán ghét. Thường món nào hợp với khẩu vị thì ta thích thú, bám víu vào đó nên mất chánh niệm trong khi ăn. Món nào dở thì ta ngao ngán không muốn ăn, do đó không làm chủ tâm mình trong lúc ăn. Chúng ta nên nhớ “ăn để mà sống, chớ không phải sống để mà ăn”. Khi hiểu được như vậy ta sẽ ý thức, làm chủ trong việc ăn uống. Đa số phụ nữ trong thời hiện đại bị bệnh béo phì quá nhiều làm mất vẻ đẹp duyên dáng của phái đẹp. Khi mập quá thì uống thuốc giảm cân, tập đủ thứ phương pháp thể dục thẩm mỹ mà không chịu kiêng cử trong ăn uống, như vậy vừa làm hao tiền tốn của, mất nhiều thời gian mà không có hiệu quả. Người thông hiểu pháp Thiền ăn uống sẽ biết cách quân bình cơ thể, ví dụ chiều cao 1m60 thì trọng lượng cho phép là 55 kg. Ta căn cứ theo đó mà điều hoà, nếu mập quá là 57 kg, ốm quá là 53 kg, làm được vậy sẽ có một thân hình cân đối, thon thả, duyên dáng và nhẹ nhàng. Bệnh hoạn cũng từ ăn uống mà ra, ăn quá nhiều cũng sinh bệnh, ăn quá ít cũng không đủ sức khoẻ để làm việc và tu hành, người biết tu sẽ ý thức điều hoà trong mọi phương diện.

Ăn và uống là hai nhu cầu cần thiết của một con người, ăn uống để có sức khoẻ mà làm việc phục vụ gia đình và xã hội. Nhiều người không hiểu do chấp thân làm ngã là tôi, là ta, là mình, nên khi ăn phải cao lương mỹ vị, do đó giết hại vô số các loài vật để bồi bổ thân này. Mục đích của chúng ta ăn để mà sống chứ không phải sống để mà ăn, chính vì thiếu hiểu biết nên ta nỡ nhẫn tâm ăn trên sự đau khổ của các con vật. Mỗi hành giả tu Thiền phải nên tiết chế trong việc ăn uống của mình, không nên vì mình mà làm tổn thương các loài vật khác. Khi uống cũng vậy, mục đích uống để cơ thể đỡ khát, lúc làm việc đổ nhiều mồ hôi ta uống nước để cơ thể quân bình trở lại. Người nam có thói quen uống rượu bia, rượu Tây, rượu Tàu nên đưa vào cơ thể quá nhiều chất độc hại, vừa hao tiền tốn của, vừa say sưa, vừa làm thần kinh mê mờ. Có phước mới được hưởng lộc, nhưng ăn thịt cá, các loài hải sản tươi sống và uống rượu bia quá đà thì tâm từ bi thương người cứu vật sẽ không có được với những hạng người này.

Tất cả chúng ta vì bị vô minh che lấp nên khi có mặt trên thế gian này đều không có nhận thức sáng suốt, do đó thường lo cho phần ngọn nhiều hơn phần gốc. Vậy cái gì là phần ngọn, cái gì là phần gốc? Có những việc cần thiết mà chúng ta không lo, chỉ cố tâm lo phần không quan trọng mà lãng quên phần lợi ích lâu dài là tài sản quý giá của chính mình. Trong cuộc sống chúng ta có ba việc quan trọng như ăn, uống, thở, thường thì chúng ta lo việc nào nhiều nhất? Đa số mọi người trên thế gian này lo ăn với uống là chính. Tối ngày làm lụng vất vả chỉ để lo ăn nên tham đắm, dính mắc vào đó. Ăn thì phải món ngon vật lạ hoặc cao lương mỹ vị, nên làm vua thì bắt người khác phải cung phụng đầy đủ dù ở tận rừng sâu hay dưới biển cả mênh mông, trong khi xét kỹ ta nhịn ăn trên 60 ngày mới chết. Kế đó là uống, người có hiểu biết chỉ cần dùng nước tinh khiết hoặc nước đun sôi để nguội, nhưng vì không hiểu biết nên ta cứ đưa các thứ nước ngọt, rượu bia vào, nhất là cánh đàn ông, trong khi nhịn uống phải trên 10 ngày mới chết. Vấn đề thở là điều quan trọng nhất trong cuộc sống, nhưng ít ai nghĩ đến mình nhịn thở bao lâu mới chết. Trong tích tắc thở ra mà không thở vào là chết ngay. Vậy mà người đời lại quan trọng việc ăn với uống, còn thở ra sao không cần biết. Rõ ràng, việc tối quan trọng chúng ta lại lơ là, việc không chính đáng thì ta nỗ lực, làm việc nhọc nhằn, vất vả để thoả mãn bản thân. Như vậy hằng ngày ta chỉ lo việc bồi bổ thân này mà quên đi làm thế nào để được phước đức lâu dài, quên đi tài sản quý giá không bao giờ bị mai một.

Cuộc sống của chúng ta trong thời đại hiện nay có quá nhiều thứ bệnh thuộc bộ máy tiêu hóa và hô hấp phát sinh từ sự ăn uống, hít thở không đúng đắn. Một số người ít hoạt động tay chân nên phát sinh rất nhiều bệnh tật. Chính vì thế, muốn thân khỏe mạnh, tâm an ổn nhẹ nhàng, chúng ta cần phải biết điều hòa trong ăn uống, hít thở đúng cách và vận động thân thể nhiều bằng cách lạy Phật, Bồ tát, vừa sám hối nghiệp tập nhiều đời, vừa rèn luyện sức khoẻ để khí huyết lưu thông đều đặn toàn thân. Theo sự hiểu biết của chúng tôi, cơ thể mỗi người có nhu cầu tiêu thụ thức ăn uống khác nhau nên cần tổ chức cho đại chúng ăn theo cách tự chọn hoặc ăn kiêng. Người bình thường ít bệnh thì ăn theo tiêu chuẩn chung. Người có thân bệnh nhiều cần phải ăn kiêng theo sức khoẻ của mình, vừa hợp vệ sinh, vừa hợp khẩu vị mà lại không tốn kém.

Nói về thức ăn, Phật dạy chúng ta rất kỹ lưỡng. Theo Ngài, người xuất gia hay tại gia có bốn món ăn là Đoàn thực, Xúc thực, Tư niệm thực và Thức thực. Đoàn thực là thức ăn vật chất được ăn bằng miệng để nuôi cơ thể sống còn mà tu hành. Đối với thức ăn vật chất, Đức Phật dạy không nên ăn nhiều, chỉ ăn vừa đủ giúp cơ thể khỏe mạnh, không nên ăn những gì không thích hợp với cơ thể. Đó là cách ăn của chư vị Tổ sư đã thể nghiệm nên đưa ra pháp tu tương ứng nhằm duy trì mạng sống chúng Tăng được khỏe mạnh. Cách thức ăn uống của người Việt tương đối lành mạnh, nhưng chế độ ăn uống thường mang tính cách thói quen, ngon miệng, hợp khẩu vị mà có thể thiếu các chất bổ dưỡng cần thiết hoặc dư chất bổ dưỡng. Đại đa số chúng ta không ý thức được tầm quan trọng của nước đối với cơ thể con người nên thường uống quá ít nước, hoặc có uống thì dùng các chất khác như các loại nước ngọt hay rượu bia. Cách tốt nhất là uống nước mỗi ngày từ 2 lít đến 2,5 lít bằng nước đun sôi để nguội. Thân thể thiếu nước nên sinh ra nhiều bệnh tật như táo bón, nhức đầu, trĩ, sạn thận, thận suy, áp huyết cao, viêm gan siêu vi B và bụng hay sình chướng, khó tiêu… Từ đó chúng ta dễ trở nên giận dỗi, cáu gắt, hay nóng nảy, khó chịu, khiến cho không khí gia đình trở nên căng thẳng, mất tươi vui, hạnh phúc. Lượng nước trong cơ thể chiếm 70% dưới mọi hình thái của nó, do đó các tế bào và mọi bộ phận trong thân thể cần có lượng nước nhất định. Ngoài việc tắm rửa hằng ngày để da dẻ sạch sẽ, mịn màng, chúng ta ta cần uống lượng nước cần thiết để điều hoà thân thể khoẻ mạnh. Muốn tránh các thứ bệnh nói trên chúng ta cần phải uống nhiều nước, chừng hai ba ly ngay sau khi ngủ dậy mỗi sáng và trước khi đi ngủ buổi tối để giúp bộ máy tiêu hóa và tuần hoàn hoạt động tốt, dễ dàng lọc máu và thải mọi cặn bã ra ngoài.

Người cư sĩ tại gia nên ăn nhiều rau và trái cây, ăn ít thịt, nhiều cá, nhưng phải biết chọn lựa loại nào ít nhiễm độc. Một số lớn các bệnh tật phát xuất từ việc ăn uống không điều độ hay không biết chọn lựa thức ăn. Giảm bớt chất béo trong máu sẽ tránh được bệnh tim, huyết áp cao và ung thư gan. Để quân bình trong cuộc sống ăn uống hằng ngày, cơ thể chúng ta cần có đủ chất bổ đến từ thịt, cá và chất xơ trong các thứ rau, đậu và trái cây. Chất xơ giúp tiêu hóa dễ dàng và loại bỏ các thứ mỡ không cần thiết cho cơ thể. Nói chung, thức ăn kho và lu