Close

Trần Nhân Tông Library

Nghiên cứu thực tế

HUYỀN TRÂN CÔNG CHÚA LÀM VỢ CHẾ MÂN

Giữa Hội trường Thống Nhất và Cung văn hóa Lao động có một con đường nhỏ và ngắn đi ngang được mang tên Huyền Trân Công Chúa.

 

Trước năm 1975, con đường này từng được mệnh danh là “con đường không số nhà” vì không có một địa chỉ nào trên con đường này. Huyền Trân công chúa không được sử sách xưa nhắc đến nhiều nhưng công lao mở cõi không hề nhỏ khi góp phần đưa về cho nước Việt hai châu Ô, Rí (bao gồm địa bàn tỉnh Thừa Thiên-Huế đến bờ sông Thạch Hãn hiện nay).

 

Có những việc các sử gia ít khi nhắc đến. Nhiều người viết sử đã bỏ qua rất nhiều câu chuyện lịch sử trong quan hệ giữa nước ta với Chiêm Thành trong khi giữa hai nước cũng xảy ra nhiều cung bậc trong quan hệ, từ hòa bình hữu nghị cho đến xung đột.

Huyền Trân công chúa, tranh bìa sách của NXB Kim Đồng. 


Một lời hứa, một mối bang giao

 

Đại Việt và Chiêm Thành đã trải qua những trận chiến liên miên không dứt kéo dài trong hơn 200 năm từ đời nhà Lý đến nhà Trần; chỉ đến khi cùng bị quân Nguyên xâm lược hai bên mới ngừng xung đột, chống kẻ thù chung. Tháng 2 năm Tân Sửu (1301), Thượng hoàng Trần Nhân Tông, người đã cải thiện bang giao với Chiêm Thành, đến thăm Chiêm Thành và được nhà vua Chế Mân (Jaya Sinhavarman III) đón tiếp nồng hậu. Trần Nhân Tông ở Chiêm Thành đến chín tháng trời, vừa ngao du sơn thủy vừa trao đổi Phật pháp. Trước khi về, Thượng hoàng ngỏ ý muốn gả con gái là Huyền Trân công chúa cho Chế Mân để mở rộng bang giao hai nước. Từ đó, năm nào Chiêm Thành cũng cử sứ bộ tới Thăng Long xin cầu hôn. Triều đình nhà Trần phản đối cuộc hôn nhân dị tộc này, chỉ có Văn túc vương Trần Đạo Tái và Đại hành khiển Trần Khắc Chung ủng hộ. Đặc biệt đến năm 1305, khi Chế Mân đề nghị dâng hai châu Ô, Rí làm của hồi môn thì nhà Trần không thể chối từ nữa.

 

Tháng 6 năm Bính Ngọ (1336), Huyền Trân lên thuyền sang Chiêm Thành. Quan quân và dân chúng đến tiễn đưa công chúa rất đông. Truyền thuyết của người Chăm kể lại đích thân Chế Mân ra đón, mặc bộ quần áo màu trắng, giày đen thêu chim thần Garuda. Hôn lễ cử hành suốt ba ngày ba đêm và Huyền Trân đã được Chế Mân phong cho danh hiệu là hoàng hậu Paramecvari.

 

Vì sao Chế Mân lại nóng lòng muốn lấy Huyền Trân đến như vậy? Chế Mân được xem là một trong những bậc minh quân và anh hùng dân tộc của người Chiêm, ông là người đã lãnh đạo quân Chiêm đánh bại thủy quân Nguyên xâm lược (chiến công của ông có được cũng nhờ Đại Việt đã ngăn được quân Nguyên trên bộ), khi lên ngôi ông củng cố sự hòa hiếu với các quốc gia lân bang, kinh bang tế thế khiến dân chúng yêu quý, tôn trọng. Chế Mân muốn cưới Huyền Trân để phát triển bang giao hai nước lâu dài.

 

Đây hẳn là một đám cưới vì mục đích chính trị, bản thân Huyền Trân cũng chỉ là người vợ thứ ba của Chế Mân. Ngoài người vợ đầu người Chiêm, vợ thứ hai là Tapasi là người Java, Chế Mân có lẽ cũng muốn giữ hòa khí và bang giao với phía Nam.

 

Cuộc giải cứu Huyền Trân và những nghi vấn còn mãi

 

Chỉ mới làm vợ Chế Mân được 11 tháng, Huyền Trân công chúa đã trở thành góa phụ. Chế Mân chết khi mới 50 tuổi, trong một trường hợp rất “vô duyên”: Gió lốc bẻ gãy một cành cây trong vườn rơi trúng gáy khi ông đang nằm phơi nắng để trị bệnh ngoài da.

 

Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại: “Theo tục lệ Chiêm Thành, hễ vua mất thì hoàng hậu phải lên giàn hỏa thiêu để chết theo. Vua biết thế, sợ công chúa bị hại, bèn sai bọn Khắc Chung mượn cớ sang viếng tang, rồi nói, nếu hỏa táng công chúa trước thì việc làm chay không có người chủ trương, chi bằng trước ra bờ biển chiêu hồn ở chốn ven trời, đón linh hồn (Chế Mân) cùng về rồi hãy lên giàn hỏa thiêu. Người Chiêm nghe theo. (Ra biển), Khắc Chung dùng thuyền nhẹ, cướp lấy công chúa đem về…”.

 

Ngày nay, việc này được xem là vô lý vì với một số người thì theo phong tục của Chiêm Thành, việc hỏa táng hoàng hậu theo vua là ân sủng, chỉ dành cho hoàng hậu nào tự nguyện và có cả một hội đồng để xét duyệt nên trong suốt lịch sử của Chiêm Thành chỉ có vài hoàng hậu được hỏa táng theo vua mà thôi. Giả sử đích thân Huyền Trân tình nguyện xin được chết theo vua cũng không được duyệt vì thứ nhất bà không phải hoàng hậu chính thất, thứ hai bà là người ngoại tộc và cuối cùng, khi Chế Mân mất bà đang mang thai năm tháng, tục lệ người Chiêm không hỏa thiêu trẻ em, vị thành niên chứ đừng nói phụ nữ đang mang thai.

 

Ngoài ra còn các tình tiết khác, đó là Chế Mân mất tháng 6-1337 nhưng tới tháng 10 nhà Trần mới được Chiêm Thành báo tin và cử sứ bộ sang viếng, nếu Huyền Trân bị hỏa thiêu cùng với vua thì làm gì còn sống, đợi bốn tháng sau đến lúc thuyền Đại Việt vào cứu. Điều này dẫn đến nhiều giả thiết khác nhau.

 

Giả thiết đầu tiên cho rằng vì Huyền Trân đang có thai nên không hỏa thiêu ngay mà phải đợi khi sinh xong mới đưa lên giàn hỏa.

 

Giả thiết thứ hai cho biết hoàng hậu Tapasi sau đó đã được Chiêm Thành cho về nước nên không có chuyện hỏa thiêu ai cả, chẳng qua do nhà Trần không hiểu rõ phong tục của người Chiêm Thành nên vua Trần Anh Tông đã ra quyết định sai lầm.

 

Giả thiết thứ ba do ông Dominique Nguyễn, một người Việt gốc Chăm sống ở Pháp, đã viết khảo luận cho rằng Huyền Trân đã vâng lệnh vua dùng mỹ nhân kế để đầu độc Chế Mân nên nhà Trần phải tìm cách giải cứu trước khi sự việc bị phát hiện…

 

Giả thiết thứ tư là không có chuyện cướp công chúa mà chính Trần Khắc Chung bằng tài ngoại giao của mình đã thuyết phục Chiêm Thành cho đưa Huyền Trân về lại đất Việt.

 

Bất kể nguyên nhân chính là gì trong ba giả thuyết đầu tiên, hành động giải cứu Huyền Trân công chúa đều ảnh hưởng vô cùng xấu đến bang giao hai nước vì tạo ra sự thất tín giữa hai quốc gia...

 

Tình sử với Trần Khắc Chung

 

Đại Việt sử ký toàn thư cũng ghi rằng: “Khắc Chung dùng thuyền nhẹ, cướp lấy công chúa đem về, rồi tư thông với công chúa, đi đường biển loanh quanh chậm chạp, lâu ngày mới về đến kinh đô”.

 

Người đời sau dựa vào đoạn này mà vẽ ra một chuyện tình lãng mạn từ thơ văn đến sân khấu, rằng trai tài gái sắc gặp nhau, vì ngưỡng mộ người hùng liều thân vượt biển cứu mình khỏi giàn hỏa, nàng đã trao trái tim cho chàng. Chàng muốn kéo dài thời gian ở gần với người đẹp nên tìm cách cho thuyền đi loanh quanh, lấy cớ tránh thuyền chiến Chiêm Thành rồi tránh bão mà ghé vào nhiều vùng đảo hoang đẹp như tranh vẽ dọc theo duyên hải nước Việt để tận hưởng cảnh đẹp trần thế với mỹ nhân, cả năm sau cả hai mới chịu về đến kinh thành ra mắt triều thần…

 

Mọi chuyện đều có thể xảy ra, nhất là khi sử sách chỉ nhắc đến vẻn vẹn vài câu. Nhưng cần xem xét nhiều yếu tố khác:

 

Trần Khắc Chung là một đại thần của nhà Trần, ông nổi tiếng khi dám tình nguyện đi sứ gặp tướng giặc Ô Mã Nhi, đối đáp rành mạch khiến tướng Mông Cổ phải thán phục, sau đó Ô Mã Nhi cho người đuổi theo giết để trừ hậu họa nhưng không kịp. Thời điểm cứu Huyền Trân ông là một trụ cột của triều đình, lại đã 60 tuổi, ở thời đó là đã rất già yếu, sự chênh lệch tuổi tác khó tạo thành chuyện “lửa rơm”. Mặt khác, Trần Khắc Chung không đi một mình, trên thuyền còn có An phủ Đặng Vân là phó sứ và các thị nữ hầu hạ công chúa cùng các quân binh khác.

 

Dẫu biết rằng thời nhà Trần quan hệ nam nữ khá phóng túng nhưng bản thân Huyền Trân công chúa cũng được giáo dục lễ nghi ở mức đáng kể. Thời điểm đó bà đang trong giai đoạn có tang chồng, lại mới sinh con, còn đang ở cữ là lúc tránh các bệnh sản hậu, chuyện dan díu không chỉ trái đạo lý mà còn nguy hiểm cho sức khỏe.

 

Khi về đến đất Việt, Huyền Trân đã lên Yên Tử gặp phụ thân, sau đó bà quyết định quy y cửa Phật, xuất gia tại núi Trâu Sơn với pháp danh Hương Tràng. Sau này bà đến làng Hổ Sơn, huyện Thiên Bản (nay ở Nam Định) lập am, sau thành chùa Nộm Sơn. Huyền Trân công chúa (tức ni sư Hương Tràng) mất năm 1340, thọ 53 tuổi.

_____________

PHẠM TRƯỜNG GIANG

Nguồn: Báo Pháp Luật

SỰ THỰC VỤ OAN TÌNH CỦA DANH TƯỚNG TRẦN KHẮC CHUNG

Thực hư câu chuyện mối tình Trần Khắc Chung và công chúa Huyền Trân dưới thời vua Anh Tông diễn ra như thế nào, nhà sử học Lưu Anh Rô dẫn lại: Vào mùa hạ năm Đinh Mùi 1307, sau gần một năm công chúa Huyền Trân gả làm dâu Chiêm quốc được tấn phong Hoàng hậu với mỹ hiệu Paramesvari thì vua Chế Mân không may gặp bạo bệnh qua đời.

Công chúa Huyền Trân trở thành góa bụa khi mới bước vào tuổi 20. Theo tập tục của người Chăm lúc bấy giờ thì "Vua chết, hậu phải chết theo", nhưng do công chúa Huyền Trân đang mang thai thái tử Chế Đa Đa nên việc hỏa thiêu được phép lùi lại.

 

Đến tháng 10 năm đó chuyện công chúa chuẩn bị lên giàn hỏa thiêu truyền về Thăng Long khiến vua Trần Anh Tông xót xa, lo lắng không nguôi. Vua cho vời các triều thần đến bàn bạc kế sách nhưng không ai đưa ra được chủ kiến hay để giải cứu công chúa.

 

"Lúc này, võ tướng Trần Khắc Chung đứng ra giữa triều xin lĩnh trọng trách sẽ lên đường vào Nam đưa công chúa hồi quốc. Ông chỉ xin mang theo 5.000 quân sĩ, lương thảo cùng một số chiến thuyền lớn để vượt biển".

 

Trong cuốn "Đại Việt sử ký toàn thư" của sử gia Ngô Sĩ Liên biên soạn phát hành vào thời Hậu Lê - năm 1697, tức là sau 390 năm xảy ra vụ giải cứu công chúa Huyền Trân thoát họa "lửa thiêu" của người Chiêm Thành, ông lên án gay gắt đối với võ tướng Trần Khắc Chung, nhất là chuyện tư thông với công chúa Huyền Trân.

 

Có thể, từ cơ sở này nên nhiều người đời sau đã thêu dệt nên câu chuyện tình đầy lâm ly, bi đát giữa công chúa Huyền Trân và võ tướng Trần Khắc Chung. Thậm chí, có người còn dựa vào câu ca dao: "Tiếc thay hạt gạo trắng ngần. Đã vo nước đục, lại vần lửa rơm", cho là dân gian muốn ám chỉ câu chuyện thất tiết của nàng công chúa Đại Việt "Mượn màu son phấn. Đền nợ Ô, Lý".

 

Chuyện xưa đến nay còn truyền rằng, sau khi được viên tùy tướng chặn hậu, Trần Khắc Chung dẫn công chúa dong thuyền, vượt biển. Gặp lại vị tình lang trong mộng, hai người quấn quít bên nhau, bất chấp kẻ hầu, người hạ đứng vây quanh.

 

Tướng Khắc Chung đã yêu cầu công chúa cùng vào đồn trú ở thành Hóa Châu, không trở về Thăng Long nữa, để mãi mãi sống kiếp "phu - thê". Nhưng công chúa Huyền Trân không đồng ý, một mực khuyên can Khắc Chung về triều, rồi xin anh (vua Trần Anh Tông) đứng ra làm mai mối cho cuộc tình duyên dở dang. Tuy nhiên, phần đông sử gia ngày nay khẳng định, câu chuyện tình là sự gán ghép ác ý của các sử gia thời Hậu Lê.

 

Vì rằng, trên bước đường giải cứu công chúa Huyền Trân, không chỉ có mỗi võ tướng Trần Khắc Chung mà còn có An phủ sứ Đặng Văn và đoàn tùy tùng. Vả lại, Khắc Chung vốn người họ Đỗ, song do đã lập nên công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên năm 1285 nên được nhà vua ban quốc tính đổi thành Trần Khắc Chung, phong chức Nhập Nội Hành khiển Thượng thư Tả Bộc xạ thì con người đảm lược tài ba ấy đâu thể làm chuyện bại hoại danh tiếng.

 

Luật nay: Có thể buộc tội các sử gia thời Hậu Lê?

 

Câu chuyện về mối tình của Huyền Trân công chúa và Trần Khắc Chung cho đến đời sau này vẫn còn nhiều điều chưa thể lý giải hết được. Đâu là sự thực trong câu chuyện được thêu dệt nhiều đến mức như thế này. Có đúng là Trần Khắc Chung quan hệ với công chúa Huyền Trân hay không?

 

Bằng những bằng chứng từ những ghi chép của các sử gia sau này thì có thể nói Trần Khắc Chung không phải là người làm băng hoại đạo đức vốn có của mình. Sự thực về việc quan hệ với Huyền Trân công chúa là không có thực...

 

Chiếu theo những quy định của pháp luật ta thời nay thì khi có đơn thư yêu cầu giải quyết vụ việc thì cơ quan chức năng phải làm rõ Trần Khắc Chung có quan hệ với công chúa Huyền Trân hay không? Nếu không thì phải xử lý người có hành vi vu khống, bôi xấu danh dự nhân phẩm. Về lý mà nói, chuyện tình trên là sự gán ghép ác ý của các sử gia thời Hậu Lê. Như vậy, những người này phải bị xử lý theo quy định của pháp luật.

 

Hành vi vu khống người khác được quy định rất rõ tại Điều 122 BLHS năm 1999: Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

 

Trong trường hợp trên, có thể thấy các sử gia thời Hậu Lê đã vu khống cho Trần Khắc Chung vào tội rất nghiêm trọng? Ảnh hưởng đến danh dự uy tín của ông trước bá quan văn võ triều đình. Chính vì vậy nếu vụ án được đưa ra xét xử thì hành vi đó bị phạt tù từ một năm đến bảy năm (Khoản 2 điểm e Điều 122 ).

 

Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

________________

Tường Linh

Nguồn: www.nguoiduatin.vn

NGÔI MIẾU CỔ RỬA OAN TÌNH CHO CÔNG CHÚA HUYỀN TRÂN

Nằm dưới chân núi Xuân Dương của làng chài Nam Ô (thuộc phường Hòa Hiệp Nam, quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng), ngôi miếu cổ hàng trăm năm tuổi, rêu phong cổ kính được người đời truyền tụng là miếu thờ vọng Công chúa Huyền Trân. Nơi đây, gắn liền với câu chuyện của một vị võ tướng tài ba dưới quyền Nhập Nội Hành khiển Thượng thư Tả Bộc xạ Trần Khắc Chung một mình ngăn mấy vạn quân Chiêm để giải cứu công chúa Huyền Trân khỏi cái chết tuẫn táng nơi đất người.

Người đời đã thêu dệt nên những câu chuyện về mối tình oan nghiệt giữa Công chúa và vị võ tướng họ Trần. Ngay trong cuốn “Đại Việt sử ký toàn thư” của sử gia Ngô Sĩ Liên cũng lên án gay gắt đối với võ tướng Trần Khắc Chung tư thông với Công chúa Huyền Trân.

 

Nhưng theo các già làng ở Nam Ô kể lại thì từ thời các vị tổ đầu tiên rời đất Bắc vào mảnh đất dưới chân núi Xuân Dương này khai ấp, lập làng đã nghe truyền tụng chuyện về tấm gương trung liệt của vị tướng quân nhà Trần nọ, đã anh dũng hy sinh trong trận đánh chặn quân Chiêm truy đuổi Công chúa Huyền Trân trên bước đường hồi cố quốc.

 

Vì vậy, các chư phái tộc làng Nam Ô đã đồng lòng suy tôn vị tướng quân nhà Trần, mà họ không biết danh tính, quê quán là “Tiền hiền triệu cơ” (Tiền hiền mở cõi) của làng, bằng tất cả tấm lòng tri ân, ghi nhớ công đức tiền nhân mở cõi đất phương Nam.

 

Nghi án mối oan tình trăm năm chưa có lời giải


Tìm về làng chài Nam Ô (phường Hòa Hiệp Nam, quận Liên Chiểu, TP.Đà Nẵng) vào một buổi chiều cuối tháng ba, trước mặt chúng tôi không chỉ hiện ra bóng dáng Hải Vân quan kỳ vĩ chắn ngang dải sơn hà mà còn là nơi in dấu một thiên tình sử lắm vẻ vang mà cũng nhiều đau đớn từ tận 700 năm về trước.

 

Đó là mối oan tình trăm năm chưa được vén bức màn bí mật giữa công chúa Huyền Trân và vị võ tướng Trần Khắc Chung.

 

Chuyện kể rằng, năm 1293, Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông trong trang phục của một lữ tăng đã đặt chân đến xứ sở Vijaya (kinh đô của vương quốc Chiêm Thành) để tận mắt chiêm ngưỡng những tháp vàng, tháp bạc nguy nga, tráng lệ.

 

Vua Chiêm lúc đó là Chế Mân biết được nên đích thân đến mời ngài vào cung điện của mình đón tiếp long trọng như một vị thượng khách. Chế Mân dẫn vua Trần Nhân Tông đi du ngoạn khắp các đền đài, lăng tẩm của vương quốc Chiêm Thành.

 

Say mê trước vẻ đẹp hoang sơ nhưng không kém phần kỳ vĩ của xứ đàng trong, Thái Thượng Hoàng nước Việt đã lưu lại nơi đây gần chín tháng. Đến ngày về, cảm động trước thịnh tình của Chế Mân, vua Trần Nhân Tông đã hứa gả cô công chúa xinh đẹp của mình là Huyền Trần cho vua xứ Vijaya.

 

Theo “Đại Việt sử ký toàn thư” của sử gia Ngô Sĩ Liên chép lại thì khi nghe tin này, vua Chế Mân như mở cờ trong bụng bởi từ lâu ông đã nghe tiếng cô công chúa xinh đẹp nước Việt.

 

Dù đã có hoàng hậu nhưng Chế Mân vẫn sai sứ mang theo lễ vật đến kinh thành Thăng Lăng xin cưới công chúa Huyền Trân về làm vợ. Việc gả công chúa cho Chế Mân đã khiến quần thần trong triều xôn xao bàn tán.

 

Nhiều người đứng ra phản đối kịch liệt. Nhưng việc gã công chúa vốn đã được định liệu và sắp đặt từ trước trong một nước cờ chính trị dài lâu của hệ thống chính trị nhà Trần. Bởi lúc này, đất nước đang cần ổn định phía Nam để tập trung lo đối phó với bè lũ Nguyên – Mông đang dòm ngó từ phương Bắc.

 

Lúc này, công chúa Huyền Trân chỉ mới tròn 13 tuổi nên việc cưới hỏi được vua Trần Anh Tông trù trừ, chưa quyết định. Phải đến 5 năm sau, khi hoàng hậu vương quốc Chiêm Thành băng hà, Chế Mân lại tiếp tục sai người đưa lễ vật và dâng hai châu Ô – Lý cho triều đình Đại Việt.

 

Gạt nước mắt chia tay cố quốc, công chúa Huyền Trân quyết định sang làm hoàng hậu của đất nước mà dân gian bấy giờ vẫn gọi là “xứ man di”. Theo tích cũ truyền lại, trước khi lựa chọn về Nam làm dâu vì nghĩa nước non, Huyền Trân đã trãi qua những giờ phút ly biệt đầy nước mắt với “người tình cũ”, võ tướng Trần Khắc Chung.

Ngôi miếu cổ ở làng chài Nam Ô là nơi thờ vị võ tướng “Tiền quân oai”

 

Sử cũ chép lại, Trần Khắc Chung vốn là một trọng thần của triều đình nhà Trần trong hai lần chống quân Nguyên – Mông xâm lược, được nhà vua tín cẩn thường vời vào điện bàn việc quốc gia, đại sự. Trong khoảng thời gian vào chầu vua, Chung nhiều lần diện kiến công chúa Huyền Trân ngay trong nội điện.

 

Cặp “Trai tài – gái sắc”, mới nhìn nhau qua ánh mắt nhưng đã nảy sinh tình ý chỉ hiềm một nỗi là chưa có dịp để tỏ bày. Một lần, Khắc Chung được vua sai bảo vệ công chúa Huyền Trân lên am Ngọa Vân trên núi Yên Tử để thăm vua cha Trần Nhân Tông.

 

Trên đường đi, hai người có dịp chuyện trò và trao cho nhau những câu tâm tình thắm thiết. Nhưng tình yêu đôi lứa vừa mới chớm nở thì sớm đã lụy tàn bởi phận nhi nữ phải phục theo chiếu mệnh giang sơn.

 

Khi Huyền Trân Công chúa theo đoàn phu giá hướng về kinh đô Vijaya, nơi vua Chế Mân đang ngày đêm ngóng chờ thì Trần Khắc Chung lâm vào cảnh tuyệt vọng, suốt ngày tìm hình bóng người yêu trong những cơn say túy lúy.

 

Lúc ông tỉnh lại thì đoàn rước công chúa đã vào đến địa phận Thanh Hóa, Khắc Chung một mình một ngựa đuổi theo đưa tiễn người yêu một lần cuối. Cuối cùng Khắc Chung và Huyền Trân cũng gặp nhau ở dãy Hoành Sơn (đèo Ngang, đoạn giáp ranh giữa Quảng Bình và Hà Tĩnh – PV).

 

Một cuộc chia tay đầy nước mắt, Huyền Trân đã thề hẹn kiếp sau sẽ báo đáp mối ân tình của vị võ tướng. Còn Khắc Chung được dân gian miêu tả như kẻ điên tình cứ quấn lấy công chúa, không chịu rời bước.

 

Đoàn xa giá phải dừng chân ở Hoành Sơn gần hai ngày mới khởi hành. Công chúa Huyền Trân phải hết lời khuyên can vị võ tướng sớm quay lại kinh đô lo việc chống giặc, bảo vệ cương thổ, đừng vì chuyện nữ nhi mà đánh mất công danh. Nếu còn duyên phận, ngày sau sẽ gặp lại.

 

Trước khi đôi lứa chia lìa đôi ngã, công chúa Huyền Trân khóc than như những lời ai oán trong “Nước non ngàn dặm” được cho là lời tâm tình của nàng công chúa nước Việt:

 

“Nước non ngàn dặm ra đi/ Mối tình chi! Mượn màu son phấn/ Đền nợ Ô, Ly/ Xót thay vì/ Đương độ xuân thì/ Số lao đao hay là nợ duyên gì?/ Má hồng da tuyết/ Cũng như liều hoa tàn trắng khuyết/ Vàng lộn theo chì/ Khúc ly ca, sao còn mường tượng nghe gì…”

 

Nhưng cũng có tích xưa truyền lại rằng, lúc hai người gặp mặt nhau trong triều, cảm mến tài năng của Khắc Chung nên công chúa Huyền Trân xin bái làm thầy. Vị võ tướng trẻ tuổi tài ba đã dốc hết tâm huyết để dạy dỗ cho cô học trò chỉ kém mình tám tuổi.

 

Tuy được mọi người khen tụng là “đôi chim câu của trời Nam”, nhưng giữa Khắc Chung và công chúa vẫn giữ đúng đạo làm thầy – trò.

 

Ngoài những buổi học ở thiền cung, tướng Chung thường dẫn công chúa đi cưỡi ngựa, ngao du sơn thủy, ngắm cảnh hùng vĩ của sông núi, nhưng tuyệt nhiên không hề nghĩ đến tư tình.

 

“Lúc này Khắc Chung đã yên bề gia thất và có hai con nhỏ. Vợ của Khắc Chung là con gái của một vị quan trong triều, được tiếng đẹp người, đẹp nết. Còn công chúa chỉ mới bước vào tuổi cập kê (16-18 tuổi) nên giữa hai người khó xảy ra tình cảm riêng.

 

Dù đã gần ngàn năm trôi qua, nhưng việc khẳng định liệu có hay không mối duyên tình giữa vị võ tướng này và Công chúa Huyền Trân vẫn là một bí ẩn. Người đời đã thêu dệt nên nhiều câu chuyện khác nhau” – Thạc sĩ sử học Lưu Anh Rô cho biết.

Tượng Huyền Trân Công Chúa bằng đồng tại đền thờ ở Huế


Trận giải cứu đẫm máu ở Nam Ô của võ tướng nhà Trần


Câu chuyện tình của ngàn năm trước đã thôi thúc chúng tôi cùng nhà sử học Lưu Anh Rô tìm về những dấu tích xưa cũ, với hy vọng có được lời giải “hợp lý nhất”. Ngồi trên con thuyền nhỏ vượt đầm Nam Ô, phía trên là mây trời, núi cao trùng điệp, phía dưới là nước non ngàn dặm nhìn ra biển.

 

Cụ Lê Hào (93 tuổi), người giữ hồn trăm năm của làng chài Nam Ô cho biết “Ngày tôi mới lên năm tuổi thì đã nghe ông cụ cố (hơn 80 tuổi) ngồi kể chuyện với con cháu rằng:

 

Ở làng mình có một ngôi mộ ngoài mé biển (nay ở gần đồn biên phòng Nam Ô – PV), là ngôi mộ của vị tướng nhà Trần dưới trướng Nhập Nội Hành khiển Thượng thư Tả Bộc xạ Trần Khắc Chung. Ông hy sinh trong một trận chiến không cân sức với gần 5 vạn quân Chiêm để bảo vệ sự an toàn của Công chúa Huyền Trân trên đường hồi cố quốc.

 

Người đời sau vẫn lưu truyền lại những câu chuyện về sự anh dũng chiến đấu “một mình múa giáo địch vạn quân” của vị võ tướng tài ba”.

 

Thực hư câu chuyện diễn ra như thế nào, nhà sử học Lưu Anh Rô dẫn lại: Vào mùa hạ năm Đinh Mùi – 1307, sau gần một năm làm dâu Chiêm quốc được tấn phong Hoàng hậu với mỹ hiệu Paramesvari thì vua Chế Mân không may gặp bạo bệnh qua đời.

 

Công chúa Huyền Trân trở thành góa bụa khi mới bước vào tuổi 20. Theo tập tục của người Chăm lúc bấy giờ thì “Vua chết, hậu phải chết theo”, nhưng do Công chúa Huyền Trân đang mang thai Thái tử Chế Đa Đa nên việc hỏa thiêu được phép lùi lại.

 

Đến tháng 10 năm đó chuyện công chúa chuẩn bị lên giàn hỏa thiêu truyền về Thăng Long khiến vua Trần Anh Tông xót xa, lo lắng không nguôi. Vua cho vời các triều thần đến bàn bạc kế sách nhưng không ai đưa ra được chủ kiến hay để giải cứu công chúa.

 

“Lúc này, võ tướng Trần Khắc Chung đứng ra giữa triều xin lĩnh trọng trách sẽ lên đường vào Nam đưa công chúa hồi quốc. Ông chỉ xin mang theo 5.000 quân sĩ, lương thảo cùng một số chiến thuyền lớn để vượt biển.

 

Nghe có lý, vua Trần Anh Tông thuận lòng và ra chiếu chỉ sai quan Nhập Nội Hành khiển Thượng thư Tả Bộc xạ Trần Khắc Chung và An phủ sứ Đặng Văn cùng đoàn tùy tùng đi thuyền sang Chiêm quốc viếng tang, nhằm thực hiện kế hoạch giải cứu Công chúa Huyền Trân về Đại Việt” ông Rô kể.

 

Trước khi tiến vào địa phận của Chiêm Thành, Khắc Chung viết một bức mật thư sai người đưa cho công chúa để thông báo kế hoạch. Theo thư này, công chúa Huyền Trần sẽ yêu cầu được dựng đàn cầu siêu cho chồng ở một nơi hiểm yếu, gần biển, không ai được quấy rầy.

 

Lợi dụng lúc quân lính canh gác lơ là, xe ngựa của Huyền Trân nhìn về phương Bắc “trực chỉ”. Sau khi làm lễ tế ở bãi biển Thị Nại (Quy Nhơn), võ tướng Trần Khắc Chung cùng An phủ sứ Đặng Văn và đoàn tùy tùng theo mưu kế định sẵn, đã đưa Công chúa Huyền Trân xuống thuyền nhanh chóng dong buồm ra Bắc.

 

Quân Chiêm thấy hoàng hậu bỏ trốn liền rượt đuổi, nhưng bị quân Việt phục binh tiêu diệt toàn bộ số thiết kỵ của Chiêm Thành.

 

Tháo chạy khỏi Quy Nhơn (thủ phủ của Chiêm Thành), Đoàn chiến thuyền của võ tướng Trần Khắc Chung từ Bình Định ra Thăng Hoa, vào cửa Đại Chiêm (Cửa Đại) rồi theo đường sông Cổ Cò ra Cẩm Lệ (Đà Nẵng).

 

Từ đó, họ đi bằng đường bộ đến Xuân Sơn Hoa Ô (Nam Ô)… Tại làng Nam Ô, đoàn người nán lại để tìm cách vượt Ải Vân ra thành Hóa Châu (thuộc quyền quản lý của Đại Việt).

 

Khi biết Công chúa Huyền Trân cùng đoàn quân của võ tướng Trần Khắc Chung đang trên đường từ Chiêm quốc về lại Đại Việt, dân làng Nam Ô lúc bấy giờ đã tiếp đón và che chở một thời gian…

 

Nhưng, chẳng bao lâu sau, quân Chiêm nghe ngóng được sự tình, kéo đến bao vây bốn mặt. Dân làng đã cùng đoàn quân của võ tướng Trần Khắc Chung chống trả quyết liệt. Gia phả họ Đặng của làng chài Nam Ô còn chép lại:

 

“Tướng Trần Khắc Chung chỉ huy quân sĩ lập các chiến lũy ngăn cản quân Chiêm xông vào làng. Đích thân ông cầm giáo, dẫn quân chặn ở cửa ngõ chính dẫn vào đình làng, nơi công chúa Huyền Trân đang thiền tọa.

 

Giao tranh ác liệt diễn ra hơn bốn ngày, bốn đêm, quân sĩ hy sinh vô số. Bước sang ngày thứ 5 thì Đại Việt chỉ còn gần 300 lính quyết tử chiến ở bốn cửa ngõ, người làng buộc phải cầm vũ khí chống quân Chiêm”.

 

Lúc này, Trần Khắc Chung có hai vị tướng tài là: “Tiền quân oai” và “Hậu quân oai”. Nhưng vị hậu quân oai hi sinh ở sông Cẩm Lệ, chỉ còn lại vị tướng tiền quân xin nguyện ở lại chống giặc.

 

Vị tướng này đã chỉ huy toán quân gần 200 lính, liều chết đánh chặn hậu để ông dùng thuyền nhẹ đưa Công chúa Huyền Trân ra khơi và cả đoàn dong buồm thẳng hướng Hòn Hành, thoát ra thành Hóa Châu.

 

Phát hiện có đoàn người chạy trốn ra khỏi làng, quân Chiêm càng đẩy thế tấn công, dồn hết bốn điểm chống cự lại co cụm giữa sân đình. Nhưng viên tùy tướng vẫn anh dùng chiến đấu, cầm đao lao vào ngăn giặc, không cho quân binh truy đuổi theo đoàn hộ giá Công chúa.

 

Khi những chiếc thuyền của võ tướng Trần Khắc Chung mờ khuất trong màn sương khói khơi xa thì thế trận phòng ngự của quân Việt cũng tan vỡ. Viên tướng giữ nhiệm vụ đánh chặn hậu cùng hơn 200 binh lính cũng anh dũng hy sinh.

 

Sử cũ chép lại: “Ông là người Việt đầu tiên ở lại đất Chiêm Thành và chết trên đất Chiêm Thành. Sau vào thời Chế Bồng Nga, người Chiêm lấy lại đất này, phá bia mộ ông nên ông thành người vô danh”.

 

Ghi nhớ công đức mở đất phương Nam của Công chúa Huyền Trân, dân làng Nam Ô lập miếu thờ bà. Còn vị tướng dưới trướng Trần Khắc Chung lâm trận hy sinh cũng được chôn cất tử tế và phong làm tiên hiền của làng…

 

Trước di tích mộ tiền hiền làng Nam Ô, ông Lê Hào ngậm ngùi đọc mấy câu trong bài văn tế được truyền lại từ hàng trăm năm trước:

 

“Cổ vân lôi ư, tam cấp vũ môn, ninh kiến hà trừng thiên lý/ Chiêm phong lãng ư, kỷ trùng hoàng hải, vĩnh khang thốn tức thôn kình” (Tạm dịch: Sấm mây xưa hử, qua mấy màn mưa, lặng nhìn thấy đâu ngoài thiên lý/ Sóng gió Chàm hừ, bồn chồn nhớ nước, kiên gan chờ nuốt cả kình ngư).

 

Bài văn tế được xướng lên trong ngày giỗ tiền hiền của làng Nam Ô vào mỗi độ 24/6 âm lịch hằng năm.

 

Thực hư câu chuyện oan tình ở ngôi miếu cổ


Trên đường đưa tôi đến di tích ngôi mộ của vị tướng quân tử trận đã hơn 700 năm trước, cụ Hào cho hay, di tích mộ tiền hiền làng chài Nam Ô nằm trên một doi cát, bên chân sóng. Đứng ở nơi này phóng tầm mắt nhìn về núi Xuân Dương trông dải núi nhô ra phía biển tựa như một lưỡi kiếm.

 

Xa hơn nữa là Hòn Hành cũng tách biệt với dãy núi Hải Vân chơ vơ, cô độc giữa mênh mông sóng vỗ, ẩn hiện trong làn sương khói lênh đênh. Gió biển thổi lồng lộng, song chất giọng “ăn sóng, nói gió” của người đã ngoài lục tuần, cụ Hào cứ sang sảng khi đọc hai câu đối khắc trước trụ đá nhà bia:

 

“Hóa công lưu nghiệp thiên thu tại/ Ba huệ khai cơ vạn cổ tồn”. Rồi cụ Hào giải thích rằng, hai câu thơ trên đã lưu truyền từ hàng trăm năm qua để ghi nhớ người có công mở mang, bờ cõi.

 

Trong câu chuyện do cụ Hào và ông Rô kể, những chi tiết hư hư, thực thực đan xen lẫn nhau khiến câu chuyện càng trở nên kỳ bí, lạ lùng.

 

Theo ông Rô, trong cuốn “Đại Việt sử ký toàn thư” của sử gia Ngô Sĩ Liên biên soạn phát hành vào thời Hậu Lê – năm 1697, tức là sau 390 năm xảy ra vụ giải cứu Công chúa Huyền Trân thoát họa “lửa thiêu” của người Chiêm Thành, ông lên án gay gắt đối với võ tướng Trần Khắc Chung, nhất là chuyện tư thông với Công chúa Huyền Trân.

 

Có thể, từ cơ sở này nên nhiều người đời sau đã thêu dệt nên câu chuyện tình đầy lâm ly, bi đát giữa Công chúa Huyền Trân và võ tướng Trần Khắc Chung. Thậm chí, có người còn dựa vào câu ca dao:

 

“Tiếc thay hạt gạo trắng ngần. Đã vo nước đục, lại vần lửa rơm”, cho là dân gian muốn ám chỉ câu chuyện thất tiết của nàng công chúa Đại Việt “Mượn màu son phấn. Đền nợ Ô, Lý”.

 

Chuyện xưa đến nay còn truyền rằng, sau khi được viên tùy tướng chặn hậu, Trần Khắc Chung dẫn công chúa dong thuyền, vượt biển. Gặp lại vị tình lang trong mộng, hai người quấn quít bên nhau, bất chấp kẻ hầu, người hạ đứng vây quanh.

 

Tướng Khắc Chung đã yêu cầu công chúa cùng vào đồn trú ở thành Hóa Châu, không trở về Thăng Long nữa, để mãi mãi sống kiếp “phu – thê”. Nhưng công chúa Huyền Trân không đồng ý, một mực khuyên can Khắc Chung về triều, rồi xin anh (vua Trần Anh Tông) đứng ra làm mai mối cho cuộc tình duyên dở dang.

 

Tuy nhiên, phần đông sử gia ngày nay khẳng định, câu chuyện tình là sự gán ghép ác ý của các sử gia thời Hậu Lê. Vì rằng, trên bước đường giải cứu Công chúa Huyền Trân, không chỉ có mỗi võ tướng Trần Khắc Chung mà còn có An phủ sứ Đặng Văn và đoàn tùy tùng.

 

Vả lại, Khắc Chung vốn người họ Đỗ, song do đã lập nên công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên năm 1285 nên được nhà vua ban quốc tính đổi thành Trần Khắc Chung, phong chức Nhập Nội Hành khiển Thượng thư Tả Bộc xạ thì con người đảm lược tài ba ấy đâu thể làm chuyện bại hoại danh tiếng.

 

Thêm vào đó là sự chênh lệch tuổi tác giữa Trần Khắc Chung và Công chúa Huyền Trân… Ông Rô cũng bác bỏ giả thuyết võ tướng Trần Khắc Chung dùng thuyền nhẹ cướp Huyền Trân Công chúa từ bãi biển Thị Nại đưa ra biển lớn và đi loanh quanh trên biển một năm sau mới về tới Thăng Long.

 

“Điều ấy hoàn toàn vô lý, bởi vì tiết trời tháng 9, tháng 10 ở miền Trung mưa, bão liên miên. Một chiếc thuyền nhỏ làm sao có thể bám biển, chống chọi với phong ba bão tố.

 

Huống gì, thuyền nhỏ để cho võ tướng Trần Khắc Chung và Công chúa Huyền Trân tư tình thì thử hỏi An phủ sứ Đặng Văn cùng những người khác trong đoàn tùy tùng đi ngã nào?”.

 

Từ đó, ông Rô dẫn lại chuyện kể về trận đánh chặn hậu của vị tùy tướng ở làng Nam Ô, cùng miếu thờ vọng Huyền Trân Công chúa, cho thấy dù đây là chuyện ngoài chính sử, song cũng thêm một cứ liệu xác đáng để các nhà khoa học quan tâm mà có thể rửa sạch mối oan tình bấy lâu nay người đời đồn đại giữa võ tướng Trần Khắc Chung và Công chúa Huyền Trân.

 

Rời di tích mộ tiền hiền làng Nam Ô, tôi đến miếu thờ dưới núi Xuân Dương. Trước cảnh ngôi miếu cổ hàng trăm năm tuổi đổ nát theo thời gian mà không khỏi chạnh lòng. Các bô lão cho biết, khắc ghi lời dạy của cha, ông, hằng năm, cứ “xuân thu nhị kỳ” dân làng đều cúng tế tại miếu này.

 

Song, việc trùng tu, bảo tồn di tích thì chưa có sự quan tâm của cơ quan chức năng. Họ cũng tiết lộ về những bài vị trong miếu là do mới được làm lại sau này chứ không phải có cùng thời khi ngôi miếu được xây dựng.

 

Vì thế, có thể tên những vị thần ghi trên bài vị khác với ý nghĩa được truyền tụng trong dân gian… “Vùng đất rộng lớn thuộc hai châu Ô – Lý, kéo dài từ bờ Nam sông Hiếu (Đông Hà, Quảng Trị) vào đến bờ Bắc sông Thu Bồn (Quảng Nam), trở thành đất của Đại Việt, kể từ khi Chế Mân dâng cho vua Trần làm sính lễ để xin cưới Huyền Trân Công chúa (1306).

 

Cho nên, khắp dải đất này nhân dân lập nên nhiều ngôi miếu thờ tưởng nhớ công lao của nàng công chúa “lá ngọc cành vàng” phải ra đi làm dâu Chiêm quốc vì nghĩa nước non…

 

Nên cần phải làm sáng tỏ mối oan tình giữa võ tướng Trần Khắc Chung và Công chúa Huyền Trân để rửa sạch những vết nhơ trong lịch sử” – ông Rô nói.

 

Theo một tài liệu mang tên “Đà Sơn phổ chí” do Tiến sĩ sử học Lưu Trang phát hiện nhiều điều rất thú vị.

 

Đó là sau đám cưới của Công chúa Huyền Trân với Chế Mân khoảng 40 năm, Vua Trần Minh Tông còn gả một nàng công chúa khác cho vị tướng quốc người Việt gốc Chăm là ông Phan Công Thiên, người được hậu thế phong thành tiền hiền làng Đà Sơn (nay thuộc phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng).

 

Nàng công chúa này đã xin vua cha cho chở nhiều thóc, trâu vào và dạy cho dân từ đèo Hải Vân đến bờ Bắc sông Thu Bồn cày cấy. Nàng còn chỉ dạy người dân làm hàng chục kho lớn để chứa thóc giống…

 

Trở lại câu chuyện giải mối oan tình cho công chúa Huyền Trân, ông Rô và cụ Hào đều khẳng định, trận đánh chặn quân Chiêm ở làng Nam Ô là có thật và được gia phả của ba dòng họ lớn ở làng chép lại là: họ Đặng, họ Lê và họ Trần.

 

Nên câu chuyện thêu dệt, võ tướng Trần Khắc Chung dùng thuyền cướp công chúa Huyền Trân lênh đênh một năm trên biển và tư thông với nhau là không có cơ sở.

________________

Dương Thanh

Nguồn: nghiencuulichsu.com

NHỮNG CÁI NHẤT CỦA PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG

Không chỉ là vị vua anh minh, người duy nhất được tôn làm Phật hoàng, ông còn là vị vua có tầm ảnh hưởng quốc tế lớn nhất của dân tộc VN.Trần Nhân Tông( 1258 – 1308), tên thật là Trần Khâm, là vị vua thứ ba của nhà Trần, ở ngôi 15 năm, ông được nhiều sử gia đánh giá là vị vua anh minh nhất trong lịch sử Việt Nam.

Ảnh : Tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông được hộ thần nhập tượng tại đỉnh Yên Tử sáng sáng 3/12/2013 

Với tài cai trị xuất sắc, Trần Nhân Tông đưa đất nước Đại Việt đạt đến sự phát triển đỉnh cao trong lịch sử. Ông cũng có vai trò lãnh đạo quan trọng trong thắng lợi của hai cuộc kháng chiến chống Nguyên- Mông lần thứ hai và thứ ba. Với những cống hiến ấy, tên tuổi của vua Trần Nhân Tông đã được các học giả đưa vào danh sách 14 anh hùng dân tộc tiêu biểu nhất của Việt Nam.

Trần Nhân Tông là vị hoàng đế duy nhất được tôn làm Phật hoàng trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc

Sau khi nhường ngôi cho con trai là Trần Anh Tông, ông đã xuất gia tu hành và lập nên Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử- trường phái Phật giáo đặc sắc của Việt Nam. Là tổ thứ nhất của dòng thiền này, về sau vua được dân cung kính gọi là Phật hoàng.

Ảnh: Tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông bằng đá trong vườn tháp Huệ Quang ( Hoa Yên- Yên Tử).

Về mặt trí tuệ, Trần Nhân Tông là một trong những vị vua có học vấn uyên thâm nhất trong lịch sử Việt Nam.

 

Sử sách ghi lại, luc sinh thời, vua là người thông minh, hiếu học, đọc hết các sách vở, thông suốt nội điển và ngoại điển. Ông đã viết nhiều tác phẩm có giá trị, nhưng đáng tiếc phần lớn đều đã thất lạc, chỉ cònh lại 25 bài chép trong Việt âm thi tập và Toàn việt thi lục.

Ảnh : Tượng ngọc của Phật hoàng Trần Nhân tông được tôn tạc tại chùa Vĩnh Nghiêm

Trên phạm vi thế giới, Trần Nhân Tông là vị hoàng đế Việt Nam có tầm ảnh hưởng quốc tế lớn nhất của dân tộc.

Tên tuổi của ông đã được đặt cho một viện nghiên cứu đặt tại thành phố Boston của Mỹ, nơi nghiên cứu các giá trị từ di sản vua Trần Nhân Tông đối với thế giới.

Hình ảnh chụp từ Website viện Trần Nhân Tông


Một giải thưởng mang tên Trần Nhân Tông về hoà giải cũng đã được ra đời, là giải thưởng quốc tế đầu tiên mang tên Việt Nam, hàm chứa các giá trị Việt Nam được phổ quát tới toàn nhân loại.

________________

trungtamhuyentran.thuathienhue.gov.vn

CHIM PHỤNG – HỌA TIẾT TRANG TRÍ CHỦ ĐẠO TẠI ĐỀN THỜ HUYỀN TRÂN CÔNG CHÚA

Huế là một trong những vùng đất được đánh giá cao về việc sử dụng hình tượng trang trí trong kiến trúc truyền thống. Trong các công trình kiến trúc truyền thống Huế, đặc biệt là các cung đình hay đền chùa, miếu mạo thì mảng điêu khắc hay chạm trổ, đắp nổi được đánh giá là một trong những yếu tố quan trọng bậc nhất tạo nên vẻ đẹp cho công trình. Đền thờ Công chúa Huyền Trân tại núi Ngũ Phong, phường An Tây, thành phố Huế là một trong những cụm quần thể kiến trúc hội tụ những yếu tố đó.

Trung tâm Văn hóa Huyền Trân là một cụm quần thể kiến trúc tuy mới được xây dựng sau này (năm 2008) nhưng mang phong cách kiến trúc truyền thống Huế. Vì vậy, các biểu tượng trang trí trong đền thờ đều rất được chú trọng. Nếu hình tượng rồng xuất hiện nhiều tại các đền thờ, lăng tẩm của vua chúa thì hình tượng chim phụng là hoạ tiết trang trí chủ đạo tại Đền thờ công chúa Huyền Trân và điện nữ thần.

 

Huyền Trân công chúa - ái nữ của vua Trần Nhân Tông, là vị thần anh thư nước Việt đã có công mở cỏi đi về phương Nam. Bà là một trong những công chúa nổi danh nhất lịch sử Việt Nam. Được các triều đại sau sắc phong là thần hộ quốc, đặc biệt dưới triều vua Khải Định bà được phong là “Trai tĩnh trung đẳng thần”. Đền thờ Huyền Trân công chúa là sự tiếp nối ý nguyện của nhân dân Thừa Thiên Huế trong việc mở mang bờ cỏi. Tuy vậy, để diễn tả và truyền đạt hết ý nghĩa của công trình, bên cạnh yếu tố lịch sử thì việc lựa chọn các hoa văn, hoạ tiết để trang trí trong đền thờ góp một phần không nhỏ tạo nên các giá trị về yếu tố tâm linh. Phượng hoàng, loài chim tượng trưng cho hoàng hậu, công chúa, biểu tượng cho sự thiêng liêng, cao sang, quyền quý… là hoạ tiết chủ đạo được chọn để trang trí tại đền thờ công chúa Huyền Trân.

Chim phụng hay còn gọi là Phượng hoàng, là một loài chim chỉ có trong truyền thuyết.Theo quan niệm của người phương Đông nói chung, phượng được coi là chúa tể của các loài chim. Hình tượng chim phụng có cấu trúc phức tạp dựa trên cấu trúc có sẵn của các loài vật có trong tự nhiên. Mỗi loài vật có cấu trúc riêng và ưu thế riêng. Bởi vậy để miêu tả chim phượng thành một biểu trưng có sức mạnh siêu nhiên, con người đã tưởng tượng và đắp thêm một số yếu tố để chim phượng phù hợp với chức năng mà thần thoại quy định. Nó kết tinh được vẻ đẹp, sự mềm mại, duyên dáng của các loài chim. Phượng được mô tả có bộ lông rực rỡ, đầu là đầu chim trĩ, mào là mào của gà trống khuôn theo hình mây có chùm lông dài xoắn, mỏ chim nhạn, cổ rùa, lông của nó mượt như lụa, óng ánh rực lửa…

 

Chính vì thân hình quyến rũ, kết tinh được vẻ đẹp, sự mềm mại, duyên dáng của các loài chim nên phượng là đặc trưng tiêu biểu của hoàng hậu, vương phi, công chúa, gắn liền với hình ảnh của nữ giới.

 

Đến tham quan Trung tâm Văn hóa Huyền Trân, đi từ bên ngoài vào đền thờ Huyền Trân công chúa, ta dễ dàng bắt gặp hình ảnh chim phượng được đắp tạc, chạm trổ trên gờ mái của đền thờ.

Hoạ tiết chim phụng được trang trí trên gờ mái của đền thờ công chúa Huyền Trân

Tiếp đên là hình ảnh những con chim phụng quấn quanh các cột trụ phía trước đền thờ kết hợp với hoạ tiết mây xung quanh tạo nên một không gian sinh động. Tuy được đắp nổi bằng vôi vữa nhưng hình ảnh chim phụng vẫn mềm mại, thanh thoát mà vẫn không kém phần uy nghiêm.

Các bức hoành phi trước đền thờ được sơn son thếp vàng, ghi dòng chữ “ Huyền Trân công chúa điện”, phía bên phải khắc hai chữ Công đức, phía bên trái khắc hai chữ Lưu quang. Trên các hoành phi này cũng sử dụng hoạ tiết chim phụng để trang trí.

Vào bên trong chánh điện, hoạ tiết chim phụng được sử dụng với mật độ dày đặc hơn, tập trung nhiều ở xung quanh án thờ bà Huyền Trân. Gian giữa chánh điện là môtip chim phụng chầu mặt trời. Hoạ tiết chim phượng ở đây được thể hiện theo kiểu thức phượng vũ, tả theo lối nhìn nghiêng, tóc hình lá sắc nhọn được vuốt dài ra phía sau. Hai cánh phượng lớn và xoè rộng, giang hai bên, chiếm phần lớn mảng đắp nổi. Thân phượng có vảy, uốn mềm mại như dãi lụa đào hồng.

Kiến trúc điện thờ Huyền Trân công chúa chia thành hai không gian chính, tiền đường thiết án thờ công chúa Huyền Trân, hậu điện đặt án thờ Đoàn Nhữ Hài- người có công trong việc xây dựng hai châu Ô, Lý khi hai châu này thuộc về Đại Việt.

 

Tượng bà Huyền Trân công chúa bằng đồng ngồi trên ngai. Xung quanh là các hoạ tiết chim phụng với nhiều kiểu thức thể hiện khác nhau.Có khi là hình tượng chim phượng chầu mặt trời, chim phượng ngậm dãi lụa hay các biến thể khác. Tất cả đều được sơn son thếp vàng rực rỡ tạo nên một không gian uy nghiêm, linh thiêng và lộng lẫy làm ta liên tưởng đến hình ảnh công chúa với nhan sắc “tuyệt thế giai nhân”: đầu đội khăn vành, mặc áo hoàng hậu, mặt trái xoan, lông mi lá liễu, mũi sọc dừa, da trắng mịn, hồng hào, tóc dài ngang lưng, sắc đẹp không son phấn. Dù được thể hiện dưới kiểu thức nào nhưng với bàn tay tài hoa của những người thợ kép nổi tiếng xứ Huế, hình ảnh chim phượng hoàng như phát huy được hiệu quả trang trí, làm cho không gian điện thờ trở nên lộng lẫy hơn, uy nghiêm hơn và không kém phần sang trọng.

Ngoài ra, hoạ tiết chim phụng còn được trang trí trên trán bia của bia ký công chúa Huyền Trân.


Bên cạnh ý nghĩa tượng trưng cho sự cao sang và quyền quý của một công chúa, một vị nữ thần anh thư nước Việt, hình tượng chim phượng còn là biểu tượng cho điềm lành, sự thái bình và thịnh vượng. Do vậy nó cũng là môtip mang tính biểu trưng với ý nguyện đền thờ là điểm dừng chân lý tưởng, mang lại điềm lành và sự thịnh vượng cho du khách cũng như cho thế hệ mai sau.

_________________

Ái Nhàn

Nguồn: trungtamhuyentran.thuathienhue.gov.vn

VUA TRẦN NHÂN TÔNG “HÓA” PHẬT Ở ĐÂU?

Một công trình nghiên cứu khảo cổ cho thấy Am Ngọa Vân (ở huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh - nằm ngoài vùng núi Yên Tử - NV) là nơi Phật Hoàng Trần Nhân Tông “hóa Phật”. Vậy, công trình hơn 700 năm bao phủ bởi rừng rậm và mây mù này ra sao?.

 

Tượng Phật Hoàng trên núi Yên Tử. Ảnh: T.L

 

Hành trình phát hiện Ngọa Vân Am

 

Nhà khảo cổ học Nguyễn Văn Anh (Viện Khảo cổ học Việt Nam) đã ra mắt cuốn sách “Am Ngọa Vân” - một tư liệu quý về quần thể di tích Ngọa Vân trong hệ thống di tích nhà Trần ở Đông Triều và hệ thống chùa tháp của Thiền phái Trúc Lâm trên dãy Yên Tử. Quan trọng nhất là công trình khảo cổ đã khẳng định Ngọa Vân Am – thánh địa của thiền phái Trúc Lâm – nơi Phật Hoàng nhập niết bàn hơn 700 năm trước không nằm ở trong khu di tích non thiêng Yên Tử, mà ở khu Ngọa Vân (Bình Khê, Đông Triều, Quảng Ninh).

 

Sau hàng trăm chuyến khảo sát lên Am Ngọa Vân, các nhà khảo cổ đã khai quật và phát hiện một hệ thống các công trình Phật giáo hoang phế, với những bia đá, hoa văn kiến trúc, gạch ngói, nền móng, vật dụng… minh chứng về sự tồn tại và phát triển thịnh vượng của Phật giáo hơn 700 năm trước. Khi ấy Ngọa Vân, Hồ Thiên, Quỳnh Lâm, Yên Tử là những trung tâm quan trọng của Phật giáo Trúc Lâm. Và nếu coi Thăng Long là kinh đô chính trị thì Yên Tử - Ngọa Vân là thánh địa Phật giáo.

 

Khi xuất gia tu hành, vua Trần Nhân Tông về Yên Tử, nhưng Ngài đắc đạo và hóa Phật tại Am Ngọa Vân. Sau đó Ngọa Vân được triều Trần cho xây dựng và mở rộng thành một quần thể chùa tháp lớn (đầu thế kỷ XIV), bao quanh đỉnh Ngọa Vân ở phía Nam của núi Bảo Đài (nay là núi Vây Rồng). Dấu ấn các công trình kiến trúc trùng tu ở Ngọa Vân thời Lê trung hưng, thời Nguyễn còn rất nhiều, khẳng định quần thể chùa tháp lớn và không gian Yên Tử xưa không chỉ bó hẹp trong khu danh thắng Yên Tử ngày nay.

 

Kết quả nghiên cứu khảo cổ Khu Di tích lịch sử và danh thắng Yên Tử (ở xã Thượng Yên Công, Uông Bí) và Khu Di tích Ngoja Vân - Hồ Thiên (thuộc xã Bình Khê và An Sinh, huyện Đông Triều) cho thấy: Vị trí được coi là Am Ngọa Vân ở di tích Yên Tử hiện nay - là nơi xây dựng rất nhiều chùa làm nơi tu học của các tăng ni. Còn Am Ngọa Vân nằm trên đỉnh núi Ngọa Vân mới là nơi Phật Hoàng Trần Nhân Tông tu hành đắc đạo và nhập niết bàn lại thuộc xã An Sinh (huyện Đông Triều, Quảng Ninh). Cả hai đều nằm trên dãy núi Đông Triều (Quảng Ninh).

 

Huyền ảo đường lên Am Ngọa Vân

 

Tết đến, xuân về núi Ngọa Vân trở thành chốn tâm linh bậc nhất để các Phật tử và du khách hành hương. Núi Ngọa Vân có hình thế vòng cung như ngai vua, nằm ở nơi xa khuất, tới được không dễ dàng. Để tìm lại Ngọa Vân ngày nay, các nhà khảo cổ từng mò mẫm trên những con đường mòn mất dấu chân người, từng lạc rừng sâu phải ngủ lại để sáng ra đi tiếp, từng ngủ nhờ trong ngôi nhà nhỏ giữa thung lũng đẹp như cổ tích, nghe những câu chuyện kỳ bí, những địa danh lạ lùng.

 

Đầu tiên là Tàn Lọng, tương truyền đoạn này bắt đầu vào rừng già, ngợp cây rừng và hẹp chỉ đủ cho từng người lách qua, phải thu lọng vì không thể che được nữa mà thành tên. Tiếp đó là Cửa Phủ - nơi thờ thần rừng, thần núi. Ai trước khi vào rừng già cũng phải thắp hương làm “thủ tục đăng sơn”, có tên lạ là Phủ Am Trà. Có thể xưa đây là vị trí Am Trà, khi xây thành phủ đã lấy luôn tên am đặt cho tên phủ, thành tên Phủ Am Trà. Phủ Am Trà là một nền miếu cổ, có một bát hương, không tượng, không bài vị… nằm trên một mô đất hẹp cao hơn mặt suối chừng 5m.

 

Qua Phủ Am Trà là tới dốc Đô Kiệu ở ngã ba hai dòng suối đổ về suối Phủ Am Trà, là con dốc cao và dài, hai bên là vực sâu và không có bậc đá như bây giờ. Xưa kiệu của vua Trần khi đi đến đây phải đỗ lại, không thể đi tiếp được nữa, nên thành tên dốc Đỗ Kiệu, dân gian đọc chệch cái tên khởi thủy thành Đô Kiệu.

 

Hết dốc đi thêm ít phút là tới Thông Đàn - vốn là một dải rừng thông vi vu, cỏ lác lút đầu. Ở đây xưa là một rừng tháp lớn, giờ chỉ còn hệ thống nền móng là những khối đá lớn vuông vức, đá lát, đá viền, cả dấu vết bị con người đào xới, đánh mìn, lật đá tìm châu báu.

 

Rừng cổ thông vài trăm tuổi giờ còn rất ít, nhưng không một ai dám chặt hạ. Dân vùng này truyền nhau câu chuyện kỳ bí về một nông dân ở Trại Lốc. Ông ta theo con rể hạ một cây tùng từ Thông Đàn về đóng đồ. Một thời gian sau ông ta tự dưng phát điên. Anh con rể thì chết bất đắc kỳ tử. Chuyện loang ra, lâm tặc quanh vùng từ đó kinh sợ nên không dám động đến những gốc cổ tùng. Nhờ vậy mà nơi đây tinh mơ chim chóc đã hót ran, sóc cổ đỏ nhảy nhót…

 

Sẽ tiếp tục nghiên cứu, giải mã

 

Người ta vẫn truyền nhau những chuyện về sư Tiến, trụ trì chùa đã rất nhiệt tâm giúp các nhà khảo cổ nghiên cứu, khôi phục lại vùng linh địa Ngọa Vân. Sư Tiến cùng hai đồng môn lên chùa Ngọa Vân, một sư già đã mất, còn sư trẻ thì không ở lại chùa. Hồi sư lên, nền chùa cũ chỉ còn mấy bức tường trơ trụi. Am Ngọa Vân và các tháp đá lút trong cây dại um tùm, rắn rết xua không xuể. Mùa khô suối cạn vài mươi ngày sư xuống núi một lần. Mùa mưa thì không xuống núi được. Rau cỏ, cây thuốc sư đều tự trồng. Ăn uống chỉ có măng rừng, chuối rừng muối, lá vả luộc…

 

Thời gian làm nhiều tầng văn hóa Phật giáo nơi đây phai nhạt, nhưng Ngọa Vân luôn được trân quý với quá khứ vàng son của Phật giáo hơn 700 năm trước. Theo ThS Nguyễn Văn Anh, Ủy viên Ban Thông tin truyền thông, Giáo hội Phật giáo Việt Nam, các nhà khảo cổ đã điều tra, nghiên cứu hệ thống các di tích nhà Trần ở Đông Triều, ở vùng đất An Sinh xưa, chú tâm đến hệ thống di tích chùa, am, tháp của Thiền phái Trúc Lâm, đặc biệt là chú trọng tìm hiểu và giải quyết về vị trí của Am Ngọa Vân. Kết quả cho thấy, Am Ngọa Vân dưới thời Trần thuộc phạm vi ấp thang mộc của An Sinh vương Trần Liễu.

 

Giá trị của Ngọa Vân là một chuỗi mô phỏng hành trình tu hành khổ hạnh, đắc đạo, thuyết pháp, độ tăng giáo hóa chúng sinh rồi an nhiên hóa Phật của vua Trần Nhân Tông (Yên Tử là nơi Phật Hoàng tu hành, thuyết pháp, độ tăng... Ngọa Vân là điểm kết thúc trọn vẹn quá trình tu hành, đắc đạo). Các nhà khảo cổ sẽ tiếp tục nghiên cứu và làm rõ hơn một số vấn đề nữa về Ngọa Vân.

 

Du khách hành hương về Ngọa Vân sẽ đi theo tuyến du lịch hành hương từ Tây sang Đông. Bắt đầu từ đền An Sinh qua khu lăng tẩm nhà Trần - khu Tàn Lọng - suối Phủ Am Trà - dốc Đô Kiệu - Thông Đàn - chùa và Am Ngọa Vân, trở về phía Đông đến Ngọa Vân 1 - Ngọa Vân 2 - Đá Chồng đến khu Ba Bậc là kết thúc.

 

Theo PGS.TS Bùi Minh Trí (Trung tâm Nghiên cứu kinh thành, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam), lãnh đạo Trung tâm Nghiên cứu kinh thành đã giao ThS Nguyễn Vân Anh và các đồng sự làm nhiệm vụ này. Nơi Phật Hoàng nhập niết bàn hơn 700 năm trước không nằm ở trong khu di tích Yên Tử, mà ở khu Ngọa Vân (Bình Khê, Đông Triều, Quảng Ninh). Quần thể am chùa tháp ở Ngọa Vân có những giá trị rất đặc biệt nên UBND tỉnh Quảng Ninh chú trọng bảo tồn tôn tạo đúng với vị trí, ý nghĩa của nó. Từ năm 2012, một số tháp đã được trùng tu lại. Quảng Ninh đang xây dựng khu vực Ngọa Vân trên nền cũ, sắp khánh thành.

________________

Uyển Hương

Nguồn: giadinh.net.vn

NGỌA VÂN, THÁNH ĐỊA CỦA PHẬT GIÁO TRÚC LÂM

Đức vua Trần Nhân Tông, người sáng lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, sau khi nhường ngôi, xuất gia tu hành khổ hạnh lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà, xưng là Trúc Lâm Đại sĩ. Cuối đời ông tu và hóa tại Ngọa Vân am.

Tóm tắt bài viết

 

Ngọa Vân am là nơi đức vua Trần Nhân Tông tu hành và hóa Phật, tuy nhiên vị trí Ngọa Vân ở đâu, diện mạo Ngọa Vân như thế nào thì vẫn là vấn chưa có câu trả lời thỏa đáng. Bằng việc kết hợp các thư tịch và tư liệu khảo cổ học tác giả đã làm rõ:

 

- Vị trí của Ngọa Vân nằm trên đỉnh Ngọa Vân núi Bảo Đài trên dãy Yên Tử, nay gọi là núi Vây Rồng thuộc địa bàn hai xã An Sinh và Bình Khê huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Đồng thời khẳng định ở cả hai khía cạnh địa lý và văn hóa, núi Yên Tử nên/ phải được hiểu là một khu vực rộng lớn tương ứng với một phần của vòng cung Đông Triều chạy dài từ Uông Bí, qua Đông Triều đến Chí Linh.

 

- Đã đưa ra những phác thảo về quy mô của Ngọa Vân và sự thay đổi của Ngọa Vân từ thời Trần đến thời Nguyễn. Qua đó cho thấy vai trò của Ngọa Vân trong hệ thống của Thiền phái Trúc Lâm nói riêng và lịch sử Phật giáo Việt Nam nói chung.

 

- Bên cạnh đó tác giả cũng đề xuất những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu và làm rõ như: tiếp tục nghiên cứu làm rõ diện mạo của Ngọa Vân; Ý nghĩa của việc Trần Nhân Tông lựa chọn Ngọa Vân làm nơi kết thúc quá trình tu hành, thành Phật của mình.

 

Đức vua Trần Nhân Tông, người sáng lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, sau khi nhường ngôi, xuất gia tu hành khổ hạnh lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà, xưng là Trúc Lâm Đại sĩ. Cuối đời ông tu và hóa tại Ngọa Vân am.

 

Năm 2007, chúng tôi có cơ may được tiến hành điều tra, nghiên cứu hệ thống các di tích nhà Trần ở Đông Triều và đặt nó trong không gian văn hóa chung của vùng đất An Sinh xưa, vùng đất mà dưới thời Trần là ấp thang mộc của An Sinh vương Trần Liễu, trong đó chúng tôi đặc biệt chú tâm đến hệ thống di tích chùa, am, tháp của Thiền phái Trúc Lâm được xây dựng trong khu vực này, trong đó tìm hiểu và giải quyết vấn đề vị trí của am Ngọa Vân được chú trọng đặc biệt. Để khảo cứu vấn đề này chúng tôi căn cứ vào các nguồn tư liệu:

 

- Các sử liệu bằng chữ viết có liên quan như: Đại Việt sử ký toàn thư (Toàn thư); Tam tổ thực lục (Tam tổ); Tam tổ hành trạng; Trần triều thánh tổ các xứ địa đồ (Trần triều), các tài liệu văn bia; các sách địa chí, vv…;

- Tài liệu khảo cổ học: Điều tra, nghiên cứu hiện trường, thu thập tư liệu, đối chiếu và so sánh với các tài liệu chữ viết. Việc điều tra được tiến hành trên một khu vực rộng kéo dài từ Khu di tích danh thắng Yên Tử (Uông Bí, Quảng Ninh) (sau đây gọi tắt là Yên Tử) ngày nay đến Côn Sơn (Hải Dương), trong đó tập chung chính vào khu vực vòng cung Đông Triều theo quan niệm của địa lý hiện đại thuộc địa phận Uông Bí, Đông Triều. Kết quả điều tra, nghiên cứu tại hiện trường đã được trình bày một phần trong bài viết “Am Ngọa Vân qua các bằng chứng khảo cổ học”, trong bài viết đó, chúng tôi đã bước đầu giới thiệu các di tích, di vật phát hiện được trong quá trình điều tra, nghiên cứu, trên cơ sở tư liệu khảo cổ học đáng tin cậy chúng tôi cho rằng Yên Tử sơn theo quan niệm xưa là dãy núi có quy mô rộng lớn chạy dài từ Uông Bí, qua Đông Triều đến Chí Linh. Trên không gian rộng lớn đó Ngọa Vân nằm trên khu vực thuộc hai xã Bình Khê và An Sinh, đồng thời phủ nhận quan điểm Ngọa Vân nằm trong Khu danh thắng Yên Tử thuộc hai xã (nay là phường) Thượng Yên Công và Phương Đông thành phố Uông Bí.

 

1. Ngọa Vân nơi đức vua Trần Nhân Tông tu hành và hóa Phật

 

“Tháng Tám năm 1299 từ phủ Thiên Trường Trần Nhân Tông xuất gia vào núi Yên Tử tu hành khổ hạnh” (1), “lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà, khi tu trên đỉnh Tử Tiêu (Vân Tiêu-TG) ngài xưng là Trúc Lâm Đại Sĩ (2). Sau thời gian tu hành khổ hạnh tại Yên Tử, Ngài xuống núi, đi khắp xóm làng, dạy dân chúng phá bỏ dâm từ và thực hành thập thiện, ban thuốc chữa bệnh. Tìm người nối dòng pháp, Ngài gặp được Pháp Loa.

 

Năm Bính Ngọ, niên hiệu Hưng Long thứ 14 (1306), Ngài giao cho Pháp Loa làm chủ giảng tại chùa Siêu Loại và nhận Huyền Quang làm thị giả.

 

“Tháng Năm, năm Đinh Mùi, niên hiệu Hưng Long thứ 15 (1307) Điều Ngự lên tu tại một am trên ngọn Ngọa Vân (卧雲峯-Ngọa Vân Phong)”(3). Việc Trần Nhân Tông lên tu ở Ngọa Vân vào năm 1307 ngoài ghi chép của Tam tổ hiện chưa thấy tài liệu nào nhắc tới việc này. Như vậy, đây là lần đâu tiên địa danh Ngọa Vân được nhắc tới trong hành trạng của vua Trần Nhân Tông, đồng thời qua đây cũng có thể suy đoán, Trần Nhân Tông bắt đầu tu tại Ngọa Vân từ tháng Năm năm Đinh Mùi (1307).

 

Cũng theo ghi chép này của Tam tổ thì, Ngọa Vân là tên một ngọn núi (卧 雲峯 - Ngọa Vân Phong), am trên ngọn núi không được nhắc tên, nhưng chúng ta thấy tên am nơi Ngài tu sau này đều được gọi là am Ngọa Vân, tức là lấy tên ngọn núi để đặt tên cho am. Đây là hiện tượng khá phổ biến trong cách đặt tên chùa, am của Thiền phái Trúc Lâm như: am Tử Tiêu được xây dựng trên ngọn Tử Tiêu, chùa Trù Phong (chùa Hồ Thiên) được xây dựng trên núi Trù Phong,…

 

Ngày mồng Một, tháng Mười một, lúc nửa đêm, sao trời tỏ rạng, Điều Ngự hỏi “Bây giờ là mấy giờ, Bảo Sát đáp, giờ Tý, Điều Ngự nói, “Đây là lúc ta đi”, nói xong liền nằm theo thế sư tử, an nhiên viên tịch”. Bảo Sát (Sái) hỏa thiêu Điều Ngự ngay tại am Ngọa Vân, Pháp Loa tới tưới nước thơm lên hỏa đàn thu ngọc cốt và xá lị. Vua Trần Anh Tông liền tôn hiệu là Đại Thánh Trần Triều Trúc Lâm Đầu Đà Tịnh Tuệ Giác Hoàng Điều Ngự Tổ Phật(4).

 

Về ngày hóa của Điều Ngự Trần Nhân Tông các tài liệu có sự chưa thống nhất. Toàn thư chép “Ngày mồng Ba (tháng Mười một -1308), Thượng hoàng (Trần Nhân Tông – TG) băng ở am Ngọa Vân, núi Yên Tử, bấy giờ Thượng hoàng xuất gia ở ngọn Tử Phong núi Yên Tử”(5); Tam tổ chép “Giờ tý (tức từ 23 giờ đến 01 giờ) ngày mồng Một, tháng Mười một, đến đêm thứ 2 Bảo Sát phụng di chúc hỏa thiêu ngay nơi am ấy” (6). Ngoài ghi chép của Toàn thư và Tam Tổ, trong bia Thanh Mai Viên Thông tháp bi là tấm bia ghi chép hành trạng của đệ nhị tổ Pháp Loa dựng năm Đại Trị thứ 5 (1362) cũng chép ngày hóa của Phật Hoàng là ngày mồng Một. Do vậy chúng tôi cho rằng ghi chép của bia Thanh Mai Viên thông tháp bi và Tam tổ là đáng tin cậy và việc Toàn thư chép ngày kỵ của Phật Hoàng chậm hơn so với sách Tam Tổ có thể là do tin tức được chuyển về kinh đô chậm.

 

Như vậy, qua các ghi chép có thể xác định, ít nhất từ tháng Năm năm 1307 Điều Ngự bắt đầu tu tại am Ngọa Vân trên ngọn Ngọa Vân, Ngài “nhập niết bàn” tại Ngọa Vân vào ngày mồng Một, tháng Mười một năm Mậu Thân (1308) và sau đó, các đệ tử của ngài tổ chức hỏa thiêu rồi thu xá lỵ và ngọc cốt của Ngài ngay tại am Ngọa Vân, hay nói cách khác Ngọa Vân là điểm kết thúc của hành trình tu luyện, nhập diệt theo thế sư tử nằm của Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông.

 

2. Ngọa Vân am Ở đâu?

 

Am Ngọa Vân ở đâu là vấn đề được thảo luận trong nhiều thập kỷ qua. Năm 2008, trong bài “Am Ngọa Vân qua bằng chứng khảo cổ học”(7) trên cơ sở những bằng chứng khảo cổ học thu được qua các cuộc điều tra khảo cổ học tại Ngọa Vân, chúng tôi đã chứng minh “vị trí của Ngọa Vân nằm trên dãy núi Yên Tử thuộc địa bàn hai xã Bình Khê và An Sinh (Đông Triều) (8).

Như trên đã trình bày, sách Toàn thư và nhiều tài liệu khác đều ghi am Ngọa Vân thuộc “núi Yên Tử” (Yên Tử Sơn (安子山)). Rõ ràng việc hiểu khái niệm núi Yên Tử theo quan niệm xưa như thế nào? Phạm vị ra sao? Là cơ sở quan trọng cho việc nghiên cứu và giải quyết vấn đề vị trí của Ngọa Vân.

 

Sách Tam tổ có đoạn “Ngày 18, đến chùa Tú Lâm, núi Kỳ Đặc ở Yên Sinh,… Tỳ kheo Tử Doanh và Hoàng Trung đưa lên Am Ngọa Vân”(9), ghi chép này cho thấy Ngọa Vân thuộc địa phận của An Sinh.

 

Tài liệu văn bia và địa chí cũng cung cấp một số thông tin về mặt địa lý khu vực An Sinh, chúng tôi lấy đó làm hệ quy chiếu, để từ đó xác định vị trí của Ngọa Vân. Bia Trần Triều bi ký dựng tại đền An Sinh (nay thuộc xã An Sinh, huyện Đông Triều), bia dựng năm Thiệu Trị thứ 2 (1842), tấm bia này khắc lại nội dung văn bia được dựng năm Chính Hòa thứ 10 (1689) đời vua Lê Hy Tông, bia có khắc một số sắc chỉ của các chúa Trịnh phong cho dân xã An Sinh là “dân hộ nhi” và giao cho dân xã An Sinh có trách nhiệm thờ phụng lăng tẩm và “năm vị hoàng đế triều Trần tại điện An Sinh (nay là đền An Sinh) chùa Ngọa Vân và chùa Tư Phúc”, hàng năm được miễn các loại thuế phu dịch. Nội dung chỉ dụ này cũng được khắc lại trong tấm bia Trùng tu Ngọa Vân tự bi ký dựng năm Vĩnh Thịnh thứ 3 đời Lê Dụ Tông (1707), tấm bia này hiện còn tại chùa – am Ngọa Vân. Như vậy, các tư liệu trên cho biết chùa Ngọa Vân dưới thời Lê Trung hưng thuộc xã An Sinh.

 

Sách Trần triều thánh tổ các xứ địa đồ, một cuốn sách do Tiên chỉ xã Đốc Trại là Dương Văn Minh sao lại ngày 19 tháng 10 năm Bảo Đại thứ 17 (1944) có vẽ lược đồ giới hạn chùa Ngọa Vân cho biết chùa này thuộc xã Đốc Trại tổng Mễ Sơn, huyện Đông Triều, phủ Kinh Môn.

Ngày 25 tháng Bảy năm Khải Định thứ 9 (1924) nhân dịp lễ mừng vua Khải Định 40 tuổi,vua Khải Định đã cấp sắc phong thần cho 8 vị hoàng đế nhà Trần làm thành hoàng của xã Đốc Trại trong đó có 7 vị có bài vị thờ ở đình Đốc Trại. Thần tích của làng Đốc Trại cũng giải thích thêm: vua Trần Nhân Tông không có bài vị đặt ở đình Đốc Trại, vì vua đã được thờ ở chùa Ngọa Vân cũng thuộc bản xã (tức thuộc xã Đốc Trại)(10). Theo thần tích xã An Sinh và thần tích xã Đốc Trại thì, lăng tẩm các vua Trần và chùa Ngọa Vân vốn trước thuộc đất xã An Sinh, khi xã Đốc Trại được thành lập, chùa thuộc về xã Đốc Trại. Như vậy, đến thời Nguyễn xã An Sinh thuộc xã Đốc Trại, tổng Mễ Sơn, huyện Đông Triều. Xã Đốc Trại được thành lập trên phần đất lăng tẩm của các vua Trần vốn là một phần của xã An Sinh, khi thành lập xã Đốc Trại thì chùa Ngọa Vân thuộc về địa giới của xã Đốc Trại(11).

 

Khảo các tài liệu địa lý khác như: sách Các trấn tổng xã danh bị lãm; Đồng Khánh dư địa chí, Đông Triều huyện chí, Danh mục các làng xã Bắc Kỳ của Ngô Vi Liễn cho thấy, từ đầu thế kỷ 19 khu vực Thượng Yên Công và Nam Mẫu tức là khu di tích và danh thắng Yên Tử ngày nay vẫn thuộc địa giới huyện Đông Triều nhưng thuộc tổng Bí Giang; An Sinh, Đốc Trại thuộc tổng Mễ Sơn. Với cứ liệu này ta có thể xác định địa giới hành chính của An Sinh và sự biến đổi của nó từ thời Trần đến thời Nguyễn một cách tương đối chính xác.

 

Trong quá trình khảo cổ đã tìm thấy hệ thống di tích, di vật có niên đại từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 20. Trong đó tiêu biểu có thể kể đến:

 

- Dấu tích am Ngọa Vân: Am Ngọa Vân là kiến trúc được xây dựng vào khoảng đầu thế kỷ XX. Kiến trúc có mặt bằng hình chữ nhật, tường gạch, mái uốn vòm, hồi phía Nam mở 1 cửa, trên đề ba chữ Hán Ngọa Vân Am (卧雲庵, tức là Am Ngọa Vân).

 

Các sách: Đại Nam Nhất thống chí; Đông Triều huyện chí; Đông Triều huyện phong thổ ký cho biết am Ngọa Vân thờ tượng Trần Nhân Tông nằm theo thế sử tử nằm. Đặc biệt, trong phần kê khai thần tích làng Đốc Trại do Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp tại Hà Nội tiến hành điều tra năm 1938, Lý trưởng làng Đốc Trại là Thang Thành Trương cho biết “Nhân Tông hoàng đế thì ngài xuất gia đi tu đạo tại chùa Yên Tử, khi ngài về tới núi Ngọa Vân thuộc làng tôi thì Ngài hóa tại chốn Thạch Bàn (bàn đá). Đời trước đã làm chùa để thờ Ngài ở đây, nhưng sau giặc giã đốt phá, chùa bị đổ nát cả, chỉ còn một pho tượng đồng, đã bị cháy một đám ở chân,….Pho tượng ấy tạc hình Ngài nằm ghé trên một tấm đá, tay phải chống lên má, tay trái cầm quyển sách, ở chỗ đùi có khóm trúc mọc, hiện nay vẫn thờ trong cái am nhỏ”(12).

 

Qua các tài liệu kể trên có thể thấy, am Ngọa Vân là kiến trúc được xây lại sau khi kiến trúc trước đó đã bị sập đổ, trong am có thờ tượng

 

Phật Hoàng nhập Niết bàn, bức tượng đó nay không còn, người ta đã làm pho tượng mới để thay thế pho tượng cũ đã mất.

 

- Tháp Phật Hoàng: Cũng tại đây, ngoài dấu tích am Ngọa Vân hiện còn lại hai tòa tháp bằng đá, tháp thứ nhất là Phật Hoàng tháp và tháp thứ hai là Đoan Nghiêm tháp. Phật Hoàng tháp có mặt bằng hình vuông, một bệ, hai tầng, tầng 1 giống như một khám thờ, mặt trước mở 1 cửa, trong lòng đặt bài vị bằng đá xanh, bài vị ghi: “南無苐一祖竹林頭陀浄慧覺皇陳朝苐三仁宗聖帝 調御王佛”;(phiên âm) Nam mô đệ nhất tổ Trúc Lâm đầu đà Tĩnh tuệ giác hoàng Trần triều đệ tam Nhân Tông thánh đế Điều ngự vương Phật”, nghĩa là: Nam mô a di đà Phật. Bài vị thờ Điều ngự vương Phật Đầu đà Tĩnh tuệ giác hoàng, tổ thứ nhất phái Trúc Lâm, vua thứ 3 triều Trần Hoàng đế Nhân Tông.Ngoài ra, trước mặt tháp còn có tấm bia đá dựng năm Minh Mệnh thứ 21, trên bia ghi:“明命弍拾壹年玖月初稑日奉陳朝仁宗皇帝陵勅. (Phiên âm) Minh Mạng nhị thập nhất niên, cửu nguyệt, sơ lục nhật phụng, Trần triều Nhân Tông hoàng đế lăng sắc tạo”. Nghĩa là: ngày mồng 6 tháng 9 năm Minh Mệnh thứ 21 (1840), phụng sắc tạo (bia) lăng hoàng đế Trần Nhân Tông”. Năm 1840, vua Minh Mệnh đã có một sắc chỉ yêu cầu các địa phương có lăng tẩm của vua các triều trước phải dựng bia để ghi nhớ vị trí, đồng thời cấp đất và giao cho dân địa phương trông coi, thờ phụng. Lăng tẩm các vua nhà Trần ở An Sinh đều được dựng bia giống như ở Phật Hoàng tháp(13).

 

Sách Toàn thư và Tam tổ cho biết, sau khi Phật Hoàng Trần Nhân Tông hóa Phật, các đệ tử của ông cho hỏa thiêu ngay tại am Ngọa Vân, một phần xá lỵ được giữ tại Ngọa Vân, số xá lỵ còn lại và ngọc cốt được rước xuống thuyền vua, đưa về kinh đô Thăng Long, sau đó ngọc cốt đưa về an trí tại lăng Quy Đức (còn gọi là Đức lăng) phủ Long Hưng, nay là thôn Tam Đường, xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, Thái Bình. 

Tại Ngọa Vân, Pháp Loa cho xây bảo tháp Phật Hoàng (Phật Hoàng tháp) lưu giữ một phần xá lỵ của Ngài. Tuy nhiên, tháp Phật Hoàng do Pháp Loa xây dựng không còn, tòa tháp Phật Hoàng hiện còn là công trình được xây dựng vào đầu thế kỷ 18. Bia Trùng tu Ngọa Vân tự bi ký cho biết, nhờ sự phát tâm công đức của tín chủ Diệu Tín, một người dạy hát ở cung Thị Nội và bà Dương Thị Trinh, đệ nhất cung tần của cung Thị Nội, nhà sư trụ trì chùa Ngọa Vân khi đó là Thiền sư Đức Hưng, hiệu là Viên Minh đã cho trùng tu chùa Ngọa Vân. Bài vị đặt trong tháp Đoan Nghiên cho biết tháp Đoan Nghiêm chính là tháp mộ của Thiền sư Đức Hưng, so sánh về cấu trúc, hình dáng, đặc biệt là bài vị đặt trong hai tòa tháp cho thấy Đoan Nghiêm Tháp và Phật Hoàng tháp được xây dựng cùng thời với nhau. Từ đó có thể suy đoán rằng, có lẽ đến đầu thế kỷ XVIII tháp Phật Hoàng do đệ nhị tổ Pháp Loa xây dựng đã bị đổ nát nên Thiền sư Đức Hưng đã cho xây dựng lại Phật Hoàng tháp như hiện còn. Đến nay dấu vết tháp Phật Hoàng do Pháp Loa xây dựng cũng chưa được tìm thấy, hi vọng các nghiên cứu khảo cổ học tại đây trong tương lai sẽ làm rõ vấn đề này.

 

Bên cạnh các di tích, tại Ngọa Vân còn tìm thấy khá nhiều loại hình di vật có niên đại từ thời Trần cho đến thời Nguyễn. Đáng lưu ý, tại một số vị trí như chùa Ngọa Vân, am Ngọa Vân, Đô Kiệu còn tìm thấy những viên ngói mũi sen thời Lê Trung hưng có in nổi hai chữ Vân Phong (雲峯). Như trên đã trình bày, Vân Phong là cách viết tắt/ gọi tắt của Ngọa Vân Phong (卧雲峯) và là cách gọi khác của chùa – am Ngọa Vân, chữ in trên các viên ngói tìm được tại đây chính là tên của ngọn núi nơi vua Trần Nhân Tông dựng am và cũng là tên am nơi ông tu luyện - am Ngọa Vân.

Một di vật đặc biệt quan trọng khác ở chùa – am Ngọa Vân là tấm bia Trùng tu Ngọa Vân tự bi ký(重修卧雲寺碑記). Bia này được GS Nguyễn Huệ Chi phát hiện vào những năm 1990, hiện được dựng ở phía trước am Sơn thần. Bia làm bằng đá xanh gồm 2 phần đế và thân, đế bia hình chữ nhật, cao 20cm, dài 129cm, rộng 52cm; thân bia rộng 91cm, cao 125cm, diềm thân trang trí văn mây, trán bia hình bán nguyệt trang trí mặt nguyệt ở gữa, hai bên văn mây có hình rồng. Bia được dựng vào năm Vĩnh Thịnh thứ 3 (1707).

 

Nội dung của Văn bia không chỉ cho biết việc trùng tu chùa Ngọa Vân vào đầu thế kỷ XVIII mà còn biết, chùa Ngọa Vân chính là nơi đức vua Trần Nhân Tông đã đến đây dựng am tu hành. Tính từ khi vua Trần Nhân Tông lên tu ở am Ngọa Vân (năm 1307) đến khi chùa được trùng tu (1707) đúng vừa tròn 400 năm. Hơn nữa, nội dung văn bia còn cho biết thêm chùa Ngọa Vân được xây dựng trên núi Bảo Đài.

 

Núi Bảo Đài không được nói đến trong hành trạng của Phật hoàng Trần Nhân Tông nhưng trong di sản thơ ca của Ngài có bài Đăng Bảo Đài Sơn tức là Lên núi Bảo Đài 

 

“Lên núi Bảo Đài

Đất vắng đài thêm cổ,

Ngày qua xuân chưa nồng.

Gần xa mây núi ngất,

Nắng rợp ngõ hoa thông.

Muôn việc nước trôi nước,

Trăm năm lòng nhủ lòng.

Tựa lan, nâng sáo ngọc,

Đầy ngực ánh trăng trong.” (14)

 

Rõ ràng, qua bia Trùng tu Ngọa Vân tự bi và bài thơ Lên núi Bảo Đài cho biết thêm, Ngọa Vân (卧 雲峯 - Ngọa Vân Phong) là một đỉnh núi trên núi Bảo Đài. Đồng thời có thể suy đoán rằng núi Bảo Đài chính là núi Vây Rồng như cách gọi hiện nay.

 

Với các nguồn tư liệu khác nhau, đặc biệt các tư liệu khảo cổ học nêu trên đã cho phép khẳng định am Ngọa Vân được xây dựng trên đỉnh Ngọa Vân núi Bảo Đài trên dãy Yên Tử, nay gọi là núi Vây Rồng thuộc địa bàn hai xã An Sinh và Bình Khê huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Điều này đã không chỉ phủ nhận quan điểm cho rằng Ngọa Vân là một am nhỏ nằm trong Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử thuộc địa bàn hai phường Phương Đông và Thượng Yên Công ngày nay mà còn cho thấy không gian rộng lớn của Yên Tử xưa. Việc phát hiện và khẳng định được vị trí của Ngọa Vân tại núi Bảo Đài thuộc địa phận Đông Triều đã đồng thời giải mã và kết nối được Hoa Yên với Thanh Mai, nơi đệ nhị tổ Pháp Loa tu hành và chọn lựa làm nơi an trí nhục thể của mình thành một khu vực khép kín từ Hoa Yên - Long Động (chùa Lân) qua Ngọa Vân, Thanh Mai đến Côn Sơn thành một không gian liền mạch của Trúc Lâm Yên Tử. Và đó cũng chính là núi Yên Tử theo quan niệm của Thiền phái Trúc Lâm.

 

3. Quy mô của Ngọa Vân

 

Lâu nay nhiều người cho rằng Ngọa Vân chỉ là một am nhỏ nơi vua Trần Nhân Tông tu hành giai đoạn cuối đời, điều đó đúng nhưng chưa đủ.

 

Phan Huy Chú trong sách Lịch triều hiến chương loại chí khi đánh giá về vua Trần Anh Tông đã viết “Vua khéo nối nghiệp trước, thương dân, lập chích, đời được yên vui, chính trị tốt đẹp, chế độ rực rỡ, đáng khen. Nhưng vua họp thầy tu ở núi Yên Tử, làm nhọc sức dân ở am Ngọa Vân”(15). Qua đánh giá này có thể thấy, Ngọa Vân đã được triều đình mà trực tiếp là vua Trần Anh Tông cho xây dựng rất lớn.

Các cuộc điều tra, nghiên cứu tại khu vực Ngọa Vân đã phát hiện được 15 điểm có dấu vết nền móng kiến trúc chùa, am, tháp có niên đại từ thời Trần đến đầu thế kỷ 20, các di tích này tập trung thành 4 khu gồm Ngọa Vân, Thông Đàn – Đô Kiệu, Đá Chồng và Ba Bậc, trong đó Ngọa Vân được xây dựng trên núi Bảo Đài là trung tâm (xem bảng thống kê).

 

Số điểm di tích chắc chắn sẽ không chỉ dừng ở con số 15 vì còn nhiều khu vực hiện chưa có điều kiện để khảo sát kỹ. Trong số 15 điểm di tích có 10/15 điểm đã tìm thấy dấu tích của thời Trần; 14/15 điểm có dấu vết của thời Lê (chủ yếu là thời Lê Trung hưng) và 3/15 điểm có dấu vết của thời Nguyễn.

 

Như vậy, nhìn vào bảng thống kê trên chúng ta có thể thấy, các bằng chứng khảo cổ đã chứng minh và làm rõ rằng, từ thời Trần Ngọa Vân đã là một quần thể kiến trúc lớn mà ít nhất cho đến nay đã xác định được 10 vị trí. Với các bằng chứng trên có thể nói rằng sau khi Phật Hoàng Trần Nhân Tông hóa Phật, Ngọa Vân đã được nhà Trần mà trực tiếp là vua Trần Anh Tông cho mở mang xây dựng thành một quần thể chùa tháp rộng lớn trên khu vực núi Bảo Đài.

 

Với vai trò là thánh địa của Trúc Lâm Yên Tử, Ngọa Vân đã được xây dựng và mở rộng thành một quần thể chùa tháp, trở thành trung tâm mới của Phật giáo thời Trần. Cùng với sự phát triển và mở rộng Ngọa Vân, năm 1317 Pháp Loa cho xây dựng tự viện Quỳnh Lâm thành trung tâm đào tạo tăng tài lớn nhất của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, cùng với đó là hàng loạt các am, tháp và chùa lớn tại An Sinh được xây dựng như Hồ Thiên, Bác Mã,… được xây dựng đã biến An Sinh đến đời Trần Dụ Tông đổi thành Đông Triều) là “thủ đô” của Phật giáo Đại Việt thời Trần.

 

Thời Lê, đặc biệt là thời Lê Trung Hưng, Ngọa Vân được mở rộng, trong đó Khu Đá Chồng hoàn toàn được mở rộng vào giai đoạn này. Đá Chồng là một khu lớn với một tổ hợp công trình chùa tháp lớn với hồ nước phía trước, vườn tháp, khu chính điện và khu tịnh thất ở phía sau. Bên cạnh các công trình kiến trúc thì tại đây cũng đã tìm thấy dấu vết của sân vườn cho thấy đây là một tổ hợp kiến trúc, cảnh quan rất lớn trong quần thể Ngọa Vân dưới thời Lê Trung Hưng.

 

Thời Nguyễn, mặc dù dấu vết của giai đoạn này không nhiều 03/15 điểm. Theo kết quả điều tra, phỏng vấn người dân thì dưới thời Nguyễn, hầu hết các kiến trúc chùa (chủ yếu kiến trúc khung gỗ) xây dựng dưới thời Lê Trung Hưng đã bị đổ nát hoàn toàn; Một số tháp đá ở khu Đá Chồng, Ba Bậc, Thông Đàn vẫn còn tồn tại đến khoảng thập niên 70 của thế kỷ 20 mới bị đổ sập do nạn đào phá tìm kiếm của cải. Như vậy, có thể nói đến thời Nguyễn về cơ bản Ngọa Vân đã trở nên hoang phế. Việc trùng tu chỉ diễn ra ở khu vực chùa, am trong khu Ngọa Vân tức là khu Trung tâm của Ngọa Vân mà thôi. Việc xây dựng ở giai đoạn này cũng chỉ diễn ra trên quy mô nhỏ, các công trình xây mới thậm chí đã làm biến đổi chức năng của một số khu vực trong quần thể Ngọa Vân. Cụ thể, vị trí nơi Trúc Lâm đại sĩ dựng am tu hành và hóa Phật được vua Trần Anh Tông và Pháp Loa cho xây dựng thành khu am, tháp, đến thời Lê Trung hưng được duy trì và mở rộng thành khu am tháp và thờ Tam tổ của Trúc Lâm thì đến thời Nguyễn nơi thờ tam tổ được chuyển thành chùa Ngọa Vân; vị trí chùa Ngọa Vân xây dựng một kiến trúc nhỏ làm nơi thờ mẫu, vv…

 

4. Giá trị của Ngọa Vân và các vấn đề cần tiếp tục làm rõ

 

Với vai trò là Thánh địa Phật giáo, Ngọa Vân gắn liền với sự thăng trầm của lịch sử Phật giáo Việt Nam. Sau khi Phật Hoàng mất, Ngọa Vân đã được xây dựng, mở rộng thành một quần thể chùa tháp nơi có tháp tổ (Phật Hoàng tháp) và hàng loạt các chùa am khác. Sau thời gian Phật giáo suy vong, cuối thế kỷ XVII , đầu thế kỷ XVIII cùng với sự phục hưng của Phật giáo, Ngọa Vân đã được trùng tu, mở rộng thành một quần thể rộng lớn với nhiều công trình chùa tháp được xây mới. Các giá trị to lớn của quần thể chùa tháp Ngọa Vân và vị trí của nó trong lịch sử Phật giáo Việt Nam đã được khẳng định. Tuy nhiên vẫn cần được tiếp tục làm rõ tầm mức của nó ở cả chiều rộng lẫn chiều sâu:

 

-Tiếp tục nghiên cứu và làm rõ hơn nữa vị trí và vai trò của quần thể di tích Ngọa Vân trong lịch sử phát triển của Thiền phái Trúc Lâm nói riêng cũng như lịch sử phát triển của Phật giáo Việt Nam nói chung.

 

- Tại sao Ngọa Vân mới là điểm kết thúc hành trình tu hành, thành Phật của Phật Hoàng Trần Nhân Tông chứ không phải là Yên Tử? Việc lựa chọn Ngọa Vân là nơi kết thúc hành trình tu hành thành Phật của Phật Hoàng có ý nghĩa như thế nào trong việc phát triển và mở rộng của Trúc Lâm đến Thanh Mai, Côn Sơn sau này? Cách ứng xử đó của Phật Hoàng muốn nói với chúng ta điều gì? Hiểu rõ được vấn đề này, chắc hẳn sẽ cho chúng ta hiểu đầy đủ hơn về tư tưởng, nhân cách và tầm vóc của Ngài.

 

ThS.NguyễnVăn Anh, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tạp chí Nghiên cứu Phật học số tháng 3/2017

------------------------------------------------------------

 

CHÚ THÍCH:

1.Đại Việt sử ký toàn thư (2006). Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, tr.546

2. Tam tổ thực lục (1995). Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam,tr.19; tr.34.

3. Tam tổ thực lục. sđd, tr.40.

4. Tam tổ thực lục. sđd, tr.33-34.

5. Đại Việt sử ký toàn thư. Sđd, tr.570.

6. Tam tổ thực lục. sđd, tr.33.

7. Nguyễn Văn Anh (2008). Am Ngọa Vân qua bằng chứng khảo cổ học. T/c Nghiên cứu Phật học số 5/2008. tr28-35.

8. Tại Hội thảo “Đông Triều với lịch sử nhà Trần” do Ban quản lý các di tích trọng điểm tỉnh Quảng Ninh, UBND huyện Đông Triều tổ chức vào tháng 10/2008 tại Đông Triều. Chúng tôi đã trình bày về vấn đề này và nhận được sự chia sẻ của các đại biểu.

9. Tam tổ thực lục. sđd, tr.31.

10.Thần tích xã Đốc Trại, tổng Mễ Sơn, huyện Đông Triều. Hồ sơ số TT-TSFQ4018/IX, 18. Viện Thông tin KHXH.

11. Nguyễn Văn Anh (2011). Đền Thái, đình Đốc Trại và sự hình thành các Trại ở An Sinh. T/c Khảo cổ học, số 5/2011, tr.48-52.

12. Thần tích xã Đốc Trại, tổng Mễ Sơn, huyện Đông Triều. Tư liệu đã dẫn.

13. Nguyễn Văn Anh (2013). Nơi lưu giữ xá lỵ của Phật Hoàng Trần Nhân Tông. T/c Nghiên cứu Phật học số 2/2013 . tr12-13.

14. Bản dịch của Ngô Tất Tố.

15. Phan Huy Chú (2006). Lịch triều hiến chương loại chí. Nxb Giáo Dục, Hà Nội, tr.233.

____________________

phatgiao.org.vn

ĐƯỜNG LỐI TU THIỀN

GIỚI THIỆU ĐƯỜNG LỐI TU THIỀN


Nói đến Thiền tông Việt Nam cuối thế kỷ 20 là nói đường hướng tu thiền của Tu viện Chân Không (1970-1986) ngày trước, hay của Thiền viện Thường Chiếu... hiện nay (1974-1991...) do chúng tôi (Thích Thanh Từ) chủ trương hướng dẫn. Chúng tôi không theo các tông phái chi nhánh Thiền tông Trung Hoa sau này, như tông Tào Ðộng, Lâm Tế, Qui Ngưỡng, Vân Môn, Pháp Nhãn. Chúng tôi chỉ kết hợp ba cái mốc quan trọng trong dòng lịch sử truyền thừa Thiền tông từ Trung Hoa đến Việt Nam. Mốc thứ nhất là Nhị Tổ Huệ Khả, mốc thứ hai là Lục Tổ Huệ Năng, mốc thứ ba là Sơ Tổ Trúc Lâm. Hòa hội chỗ thấy, chỗ ngộ và sự ứng dụng tu hành của ba vị Tổ này thành phương pháp tu thiền trong các Thiền viện chúng tôi.

 

1. Nhị Tổ Huệ Khả 2. Lục Tổ Huệ Năng 3. Sơ Tổ Trúc Lâm

Dung Hợp Thiền Sư Thích Thanh Từ

 

TỔ HUỆ KHẢ (494 - 601)


Sau khi ngài Huệ Khả được Tổ Bồ-đề-đạt-ma (Bodhidharma) nhận làm đệ tử mà lòng vẫn còn thao thức, tại sao tâm mãi lăng xăng trong lúc ngồi thiền. Một hôm đến trước Tổ, Ngài bạch: "Bạch Hòa thượng, tâm con chẳng an, xin Hòa thượng dạy con pháp an tâm." Tổ Ðạt-ma nhìn thẳng, bảo: "Ðem tâm ra ta an cho." Ngài sửng sốt quay lại tìm tâm, không thấy bóng dáng, bạch Tổ: "Con tìm tâm không được." Tổ bảo: "Ta an tâm cho ngươi rồi." Ngay đây ngài Huệ Khả biết được đường vào.

 

Chỗ biết được đường vào của ngài Huệ Khả là một pháp tu mà không có pháp. Bởi vì từ xưa đến nay, tất cả chúng ta đều nhận cái suy nghĩ phân biệt lăng xăng là tâm của mình, ngài Huệ Khả cũng chung một thông lệ ấy. Cho nên ngồi lại tu, muốn cho tâm an mà nó không chịu an, khiến chúng ta rất khổ sở về vấn đề này. Cầu pháp an tâm là điều cấp thiết của người quyết chí tu hành. Ở đây Tổ Ðạt-ma không dạy phương pháp gì, Ngài chỉ bảo "Ðem tâm ra ta an cho". Câu này là một tiếng sấm dẹp tan mê lầm muôn thuở của ngài Huệ Khả.

 

Bình thường chúng ta nhận cái hay suy nghĩ là tâm của mình, chịu sự sai sử lôi kéo của nó. Bất thần chúng ta tìm lại nó thì nó mất tăm mất dạng. Khi nó không còn tăm dạng thì không an là gì? Cho nên Tổ nói "Ta an tâm cho ngươi rồi". Ngài Huệ Khả sáng ý nhận ra được lẽ này nên biết đường vào. Như vậy, Tổ Ðạt-ma có dạy phương pháp gì an tâm không? Nếu không, tại sao ngài Huệ Khả biết đường vào? Rõ ràng pháp an tâm mà không có pháp, chỉ xoay ánh sáng trí tuệ soi rọi xem cái tâm bất an ấy thế nào thì nó biến mất. Thuật ngữ nhà Thiền gọi là "Hồi quang phản chiếu". Chúng tôi gọi "Biết vọng không theo". Chính đây là "Biết được đường vào" của ngài Huệ Khả.

 

Tại sao nhà Thiền không chấp nhận cái tâm suy nghĩ so tính ấy? Bởi vì, nếu chấp nhận nó làm tâm mình sẽ mắc phải những lầm lỗi như sau:

 

Cái tâm suy nghĩ ấy khi có khi không, còn chúng ta thì lúc nào cũng hằng hữu. Nếu chấp nhận nó là mình thì khi không suy nghĩ là không có mình sao?

 

Bình thường nó suy nghĩ lăng xăng, khi nhìn lại tìm kiếm nó thì mất tăm mất dạng. Nếu nó là thật mình thì lúc nào cũng phải có. Trái lại khi tìm thì mất, chẳng qua nó chỉ là bóng dáng mà thôi. Chấp nhận cái bóng làm mình thì thật là đau khổ cho con người.

 

Chúng ta ai cũng thừa nhận mình trước sau vẫn là mình, mình là một từ bé đến già. Thế mà, tâm suy nghĩ ấy lại trăm ngàn thứ, có khi nghĩ lành như hiền thánh, có nghĩ dữ như cọp sói... thì cái nào là mình?

 

Lúc đang suy nghĩ, chúng ta biết mình đang suy nghĩ, lúc không suy nghĩ biết không suy nghĩ. Cái suy nghĩ ấy là đối tượng bị biết của chúng ta. Ðã là đối tượng tức là khách, là cái bên ngoài không phải mình. Nếu cái suy nghĩ là thật mình, lúc không suy nghĩ, ai biết không suy nghĩ? Ðã có cái biết lúc không suy nghĩ thì làm sao nhận cái suy nghĩ làm mình được?

 

Cái không phải mình mà lầm nhận là mình, trong kinh Phật gọi là "Nhận giặc làm con", tai họa không thể lường được. Cho nên bao nhiêu kinh điển, bao nhiêu pháp tu, đức Phật đều dạy xoay quanh cái trục "Chận đứng tâm suy nghĩ lăng xăng này". Tụng kinh phải nhiếp tâm, niệm Phật phải nhất tâm, tọa thiền phải định... Song đặc biệt là Thiền tông, chư Tổ không dùng phương tiện để đè bẹp, để ngăn chận nó, mà dùng trí biết rõ bản chất không thật của nó thì nó hết tác quái. Chính câu "Ðem tâm ra ta an cho" của Tổ Ðạt-ma đủ thể hiện ý nghĩa này.

 

"Biết đường vào" chưa phải là kẻ đến nhà, phải trải thời gian lâu xa, ngài Huệ Khả mới bạch với Tổ Ðạt-ma: "Từ đây trở đi con dứt hết các duyên." Tổ Ðạt-ma bảo: "Chớ rơi vào đoạn diệt." Huệ Khả thưa: "Không rơi." Tổ Ðạt-ma hỏi: "Con làm thế nào?" Huệ Khả thưa: "Con thường biết rõ ràng, nói không thể đến." Tổ Ðạt-ma dạy: "Ðây là chỗ truyền của chư Phật, chớ nên hoài nghi." Ðến đây mới thật là người về tới nhà, không còn nghi ngờ gì nữa.

 

Khi Tổ Ðạt-ma sắp tịch, hỏi lại chỗ sở ngộ của các đồ đệ, đến lượt Huệ Khả, Ngài chỉ bước ra đảnh lễ ba lạy rồi lui. Tổ Ðạt-ma nói: "Ông được phần tủy của ta." Ðến chỗ cứu kính không còn ngôn ngữ để trình bày, vì ngôn ngữ là phương tiện tương đối, không thể diễn tả được cái chân thật tuyệt đối. Từ đó ngài Huệ Khả được truyền y bát làm Tổ thứ hai ở Trung Hoa.

 

TỔ HUỆ NĂNG (638 - 713)


Chỗ sở ngộ của Tổ Huệ Năng là do nghe kinh Kim Cang Bát-nhã. Sau khi được Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn cho vào thất và nghe giảng kinh Kim Cang đến đoạn Tôn giả Tu-bồ-đề hỏi: "Khi phát tâm cầu vô thượng chánh giác, làm sao an trụ tâm?" Phật đáp: "Chẳng nên trụ sắc, chẳng nên trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp mà sanh tâm kia; nên không chỗ trụ mà sanh tâm ấy." Ngài đại ngộ kêu lên: "Ðâu ngờ tánh mình vốn tự thanh tịnh! Ðâu ngờ tánh mình vốn không sanh diệt! Ðâu ngờ tánh mình vốn tự đầy đủ! Ðâu ngờ tánh mình vốn không dao động! Ðâu ngờ tánh mình hay sanh muôn pháp!" Ngũ Tổ bảo: "Chẳng biết bản tâm học pháp vô ích, nếu nhận được bản tâm mình, gọi là Trượng phu, Thiên nhân sư, Phật..." Thế là Ngài được Ngũ Tổ truyền y bát làm Tổ thứ sáu.

 

Qua câu chuyện ngộ đạo của Lục Tổ, chúng ta thấy từ lý Bát-nhã không cho sáu căn dính mắc (trụ) với sáu trần là phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, Lục Tổ không dừng ở chỗ không dính mắc, mà nhảy vọt vào thể tánh thanh tịnh, bất sanh bất diệt của chính mình. Chính thể tánh này gọi là Pháp thân hay Bản Lai Diện Mục, đã có sẵn từ vô thủy nơi tất cả chúng ta. Thấy tột chỗ này và sống được với nó là Ðốn ngộ, là Kiến tánh. Bản thân Lục Tổ được như vậy, song khi dạy người Ngài cũng có phương tiện.

 

Lục Tổ vì phương tiện lập Tam vô: Vô Niệm làm Tông, Vô Tướng làm Thể, Vô Trụ làm Bổn. Theo Lục Tổ giải: Ðối trên các pháp mỗi niệm không trụ, tức là không phược, đây là lấy Vô trụ làm gốc. Ngoài lìa tất cả tướng gọi là Vô tướng, hay lìa tướng tức là pháp thể thanh tịnh, đây là lấy Vô tướng làm thể. Ðối trên các cảnh tâm không nhiễm, gọi là Vô niệm (Kinh Pháp Bảo Ðàn, phẩm Ðịnh Huệ). Không nhiễm các pháp, không kẹt các tướng, không dính mắc các pháp, đây là chủ trương của Lục Tổ. Không nhiễm, không kẹt, không dính, ngay khi tiếp xúc với sáu trần là thiền định. Không phải chạy trốn cảnh trần, rồi sau tâm mới an định như các lối thiền định khác.

 

SƠ TỔ TRÚC LÂM (1258 - 1308)


 

Vua Trần Nhân Tông lúc còn làm Thái tử đã thông suốt Thiền tông do sự giáo dục của Tuệ Trung Thượng sĩ. Sau khi bỏ ngôi đi xuất gia, lấy hiệu là Hương Vân Ðại Ðầu-đà, Ngài hòa hội các phái thiền Tỳ-ni-đa-lưu-chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Ðường đã truyền bá trên đất nước Việt Nam, lập thành phái thiền Trúc Lâm Yên Tử. Ðây là phái thiền hoàn toàn Việt Nam. Ở đây chúng tôi chỉ chắt lọc một vài nét nổi bật trong sự chỉ dạy của Ngài để làm tiêu chuẩn, đó là bài kệ Hữu Cú Vô Cú:

 

Hữu cú vô cú

Ðằng khô thọ đảo

Cơ cá nạp tăng

Chàng đầu khái não. 

 

Hữu cú vô cú

Thể lộ kim phong

Hằng hà sa số

Phạm nhẫn thương phong.

 

Hữu cú vô cú

Lập tông lập chỉ

Ðả ngỏa toản qui

Ðăng sơn thiệp thủy.

 

Hữu cú vô cú

Phi hữu phi vô

Khắc chu cầu kiếm

Sách ký án đồ.

 

Hữu cú vô cú

Hỗ bất hồi hỗ

Lạp tuyết hài hoa

Thủ chu đãi thố.

 

Hữu cú vô cú

Tự cổ tự kim

Chấp chỉ vong nguyệt

Bình địa lục trầm.

 

Hữu cú vô cú

Như thị như thị

Bát tự đả khai

Toàn vô bả tỷ.

 

Hữu cú vô cú

Cố tả cố hữu

A thích thích địa

Náo quát quát địa.

 

Hữu cú vô cú

Ðao đao phạ phạ

Tiệt đoạn cát đằng

Bỉ thử khoái hoạt

___

 

Câu có câu không

Bìm khô cây ngã

Mấy kẻ nạp tăng

U đầu sứt trán.


Câu có câu không

Thể bày gió thu

Hằng hà sa số

Va đao chạm bén.


Câu có câu không

Lập tông lập chỉ

Ðập ngói dùi rùa

Trèo non lội nước.


Câu có câu không

Chẳng có chẳng không

Khắc thuyền mò kiếm

Tìm ngựa bản đồ.


Câu có câu không

Hồi hỗ hay không

Nón tuyết giày hoa

Ôm cây đợi thỏ.


Câu có câu không

Tự xưa tự nay

Nhìn tay quên trăng

Ðất bằng chết chìm.


Câu có câu không

Như thế như thế

Chữ bát mở ra

Sao không nắm mũi.


Câu có câu không

Ngó tả ngó hữu

Lau chau mồm mép

Ồn ào náo động.


Câu có câu không

Ðau đáu lo sợ

Cắt đứt sắn bìm

Ðó đây vui thích.

 

Qua bài kệ này chúng ta thấy Ngài phản đối cái chấp hai bên biểu trưng bằng Có và Không. Song cái chấp hai bên có vô số loại: có không, phải quấy, hơn thua, tốt xấu, thắng bại, hay dở, lành dữ v.v. và v.v. Chính cái chấp hai bên là mầm tranh đấu, là nhân phiền não, kết quả khổ đau không thấy chân lý.

 

Cho nên chín đoạn trong bài kệ này, Ngài vừa quở trách, vừa chỉ dạy rất đầy đủ. Như đoạn một: "Mấy kẻ nạp tăng, u đầu sứt trán", đoạn hai: "Hằng hà sa số, va đao chạm bén", đoạn ba: "Ðập ngói dùi rùa, trèo non lội nước", đoạn bốn: "Khắc thuyền mò kiếm, tìm ngựa bản đồ", đoạn năm: "Nón tuyết giày hoa, ôm cây đợi thỏ", đoạn sáu: "Nhìn tay quên trăng, đất bằng chết chìm", đoạn bảy: "Chữ bát mở ra, sao không nắm mũi", đoạn tám: "Lau chau mồm mép, ồn ào náo động", đoạn chín: "Cắt đứt sắn bìm, đó đây vui thích".

 

Ðoạn một và hai, Ngài quở người chấp hai bên là tự chuốc khổ vào mình. Ðoạn ba và bốn, Ngài chê kẻ chấp hai bên là dại khờ, chỉ nhọc nhằn luống công. Ðoạn năm và sáu, Ngài trách những phương tiện tạm bợ mà người vì cố chấp hai bên nên không thấy chân lý. Ðoạn bảy và tám, Ngài chỉ thẳng chân lý ngay trước mắt như lỗ mũi nằm sẵn dưới chân mày mà người ta không nhận, cứ lý luận ồn ào vô ích. Ðoạn chín, Ngài nói ai dứt chấp hai bên mới thật vui thích. Ngay đoạn chín này hẳn là chỗ Nhị Tổ trình kiến giải bằng ba lễ mà không có một lời. Không kẹt hai bên làø căn bản của Thiền tông, cũng chính là cốt tủy của Phật giáo.

 

Lại một bài kệ kết thúc bài phú "Cư Trần Lạc Ðạo" của Sơ Tổ Trúc Lâm là cô đọng những gì Lục Tổ đã thấy và ứng

 

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên

Cơ tắc xan hề khốn tắc miên.

Gia trung hữu bảo hưu tầm mích

Ðối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.

 

Ở đời vui đạo hãy tùy duyên

Ðói đến thì ăn, mệt ngủ liền.

Trong nhà có báu, thôi tìm kiếm

Ðối cảnh không tâm chớ hỏi thiền.

 

Chỉ hai câu chót trong bài kệ cũng đủ kết thúc chỗ sở ngộ và mục tiêu dạy tu hành của Lục Tổ một cách kỳ diệu. Thấy hòn ngọc sẵn có trong nhà, chính là chỗ Lục Tổ thốt lên "Ðâu ngờ tánh mình vốn tự thanh tịnh!..." Thiền là đối cảnh không tâm thì làm gì có niệm nhiễm, là vô niệm; không tâm thì đâu kẹt cảnh bên ngoài, là lìa tướng tức vô tướng; không tâm thì lấy gì để dính mắc, là vô trụ. Một câu kết này đã bao gồm cả Vô Niệm, Vô Tướng, Vô Trụ hay Tông, Thể, Bổn của Lục Tổ dạy. Thiền là đối cảnh không nhiễm, không kẹt, không mắc, chính đây là chủ trương của Lục Tổ. Ngài Trúc Lâm Ðầu-đà đã ứng dụng tuyệt vời chỗ thấy của Nhị Tổ, chỗ ngộ và hành của Lục Tổ. Chúng ta là kẻ hậu học, tự hãnh diện ở Việt Nam xuất phát một phái thiền trọn vẹn mang dấu ấn của chư Tổ tiền bối và dung hội tài tình đường lối tu hành của người xưa, làm kim chỉ nam cho hành giả Việt Nam chúng ta.

 

DUNG HỢP


Chúng tôi dung hợp pháp tu của ba vị Tổ trên thành một lối tu cụ thể như sau:

 

- Nơi Nhị Tổ, chúng tôi ứng dụng pháp an tâm. Nghĩa là biết rõ tâm suy tưởng lâu nay là hư ảo, không để nó đánh lừa, lôi dẫn chúng ta chạy theo trần cảnh, nên nói "Vọng tưởng không theo". Mỗi khi nó dấy lên đều biết rõ như vậy. Một khi hành giả nhận diện bản chất hư ảo của chúng thì chúng tự biến mất. Khi tọa thiền cũng như lúc tiếp duyên xúc cảnh đều thấy rõ, không lầm chúng. Ðến bao giờ được như Nhị Tổ nói "Ðoạn hết các duyên mà rõ ràng thường biết, nói không thể đến" là đạt kết quả. 

 

Tuy nhiên vọng tưởng này không phải dễ lắng, dứt cái này khởi cái khác liên miên không dừng. Hành giả phải bền chí theo dõi, soi sáng mãi chúng mới từ từ thưa dần. Nhận vọng tưởng hư ảo làm tâm mình là mê lầm, biết vọng tưởng hư dối không thật là tỉnh giác. Lối tu này là dùng "cái dụng của trí để phá si mê", chớ không có pháp gì dùng để đè bẹp, nên nói "pháp an tâm mà không có pháp". Khi hết si mê vọng tưởng lặng thì trí dụng cũng dừng, như trong mười mục chăn trâu, khi trâu mất thì người chăn cũng không còn. Trí dụng hết đối trị, liền hội nhập trí thể.

 

- Với Lục Tổ, chúng tôi ứng dụng sáu căn không dính mắc sáu trần làm hướng tiến tu. Ðó là câu "Bất ưng trụ sắc sanh tâm..." trong kinh Kim Cang được Ngũ Tổ giảng cho Lục Tổ. Nhưng làm sao căn không dính trần? Ðương nhiên phải dùng trí tuệ Bát-nhã quán chiếu, thấy các pháp duyên hợp hư dối như huyễn như hóa. Vì thế trong kinh Pháp Bảo Ðàn, sau phẩm Hành Do là đến phẩm Bát-nhã. Nhờ trí tuệ Bát-nhã soi rọi thấy rõ các pháp duyên sanh, không có chủ thể (vô ngã), không cố định (vô thường) nên tâm không nhiễm trước sắc... do đó căn, cảnh không dính mắc nhau. Căn, cảnh không dính mắc nhau là Vô Niệm, Vô Tướng, Vô Trụ, đó là chủ trương của Lục Tổ.

 

Lại có một cách khác, nếu hành giả kiến tánh như Lục Tổ, hằng sống với thể tánh bất sanh bất diệt của mình thì còn gì bận bịu với vọng tưởng hư dối, với sáu trần giả hợp. Ði đứng nằm ngồi không lúc nào rời tự tánh chính mình. Ðược thế thì ung dung tự tại, nên nói "đói ăn khát uống".

 

- Ðến Sơ Tổ Trúc Lâm, trong bài kệ "Câu Có Câu Không", đoạn thứ tư nói "Nón tuyết giày hoa, ôm cây đợi thỏ", là tinh thần Bát-nhã của Lục Tổ. Các pháp hư giả như nón tuyết, như đôi giày bằng hoa, tạm có rồi tan mất, mới thấy đẹp rồi héo xàu, có gì lâu bền. Nếu chấp giữ nó là người ngu, như kẻ "ôm cây đợi thỏ". Toàn thể pháp đối đãi đều không thật, do phương tiện bày lập, giống như dây sắn dây bìm, một phen cắt đứt chúng mới là an vui tự tại. Ðấy là tinh thần hai câu kết của bài kệ "Cắt đứt sắn bìm, đó đây vui thích". Vừa dấy niệm là đối đãi, vừa thốt lời là đối đãi, nếu dứt hết đối đãi thì còn niệm nào để khởi, còn lời gì để nói. Ðây là hằng sống thật với thiền.

 

Phần sau ở hai câu kệ "Trong nhà có báu thôi tìm kiếm. Ðối cảnh không tâm chớ hỏi Thiền", là hình ảnh Lục Tổ thốt lên "Ðâu ngờ tánh mình vốn tự thanh tịnh!..." Thấu triệt tánh mình như thấy hòn ngọc quí vô giá có sẵn trong nhà, còn gì phải tìm kiếm đâu xa. Thấy tánh mình thanh tịnh, chẳng sanh chẳng diệt, so với thân vô thường tạm bợ và tâm vọng tưởng hư ảo thì thân tâm này còn có giá trị gì. Trong không chấp thân, không chấp vọng tưởng làm mình, ngoài đối cảnh không còn dính mắc, chính đây là chủ yếu của Thiền tông, cũng là cội nguồn của Phật pháp. Ở đây chúng tôi lấy "Ðối cảnh không tâm" làm tiêu chuẩn tu hành. Không tâm là không tâm vọng tưởng chạy đuổi theo ngoại trần, chớ chẳng phải không tâm là vô tri vô giác như cây gỗ. Không tâm hư ảo sanh diệt mà vẫn có tâm hằng giác hằng tri, bất sanh bất diệt. Ðây là chỗ giải thoát sanh tử của người tu Phật.

 

Nhị Tổ Huệ Khả sau khi ngộ đạo vẫn được Tổ Ðạt-ma giới thiệu bốn quyển kinh Lăng-già để ấn tâm. Lục Tổ Huệ Năng nghe giảng kinh Kim Cang ngộ đạo. Thế là đủ minh chứng Thiền tông không rời Kinh, vì Thiền là tâm của Phật, Kinh là miệng của Phật. Ðức Phật tâm miệng không khác thì Thiền và Giáo làm sao tách rời được. Cho nên chúng tôi chủ trương "Thiền, Giáo đồng hành".

 

Ðể thấy rõ nét lối dung hợp pháp tu qua ba vị Tổ trên, chúng tôi cô đọng lại bằng những lối tu:

 

Biết vọng không theo, vì vọng tưởng là những tâm niệm hư ảo.


Ðối cảnh không tâm, vì nó là tướng duyên hợp giả dối tạm bợ.


Không kẹt hai bên, vì đối đãi là không thật.


Hằng sống với cái thật, không theo cái giả, vì giả là luân hồi, thật là giải thoát.

 

Ðây là bốn phương tiện chúng tôi tạm lập để hướng dẫn người tu. Tùy theo căn cơ trình độ nhanh chậm, cao thấp của hành giả mà lối ứng dụng có khác. Cũng có thể bốn lối tu này, hành giả linh động ứng dụng theo thứ tự từ pháp thứ nhất đến pháp thứ tư để tu hành cũng tốt. Những nét cô đọng trên là kết thúc bài này của chúng tôi.

 

Trích yếu: Thiền Tông Việt Nam Cuối TK 20

(Nguồn thientongvietnam.net)

ĐÔI NÉT VỀ VUA TRẦN NHÂN TÔNG VÀ HOÀNG HẬU BẢO THÁNH

Trần Nhân Tông

 

Vua Trần Nhân Tông tên huý là Trần Khâm, ngoài ra lúc nhỏ còn có tên là Nhật Tôn hay Kim Phật. Ông là vị vua thứ 3 của triều Trần, con trai trưởng vua Trần Thánh Tông và hoàng hậu Thiên Cảm. Hoàng hậu Thiên Cảm là con gái Trần Liễu, chị em gái của Trần Hưng Đạo và Tuệ Trung thượng sĩ Trần Tung (người có khá nhiều ảnh hưởng đến tư tưởng tôn giáo của Trần Nhân Tông về sau).

 

Ông sinh năm 1258. Lúc mới sinh, Đại Việt sử ký toàn thư đã miêu tả ông là “được tinh anh của thánh nhân, đạo mạo thuần túy, nhan sắc như vàng, thể chất hoàn toàn, thần khí tươi sáng, hai cung đều cho là lạ, gọi là Kim Tiên đồng tử, vai bên tả có nốt ruồi đen, cho nên có thể cáng đáng được việc lớn”, vua Thánh Tông đặt tên cho ông là Kim Phật. Trong phần đề từ của bức tranh “Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ” đương thời, hoạ sĩ Trần Quang Chỉ thời Nguyên đã ghi lại “Khi lớn, ngài học thông tam giáo và hiểu sâu Phật điển. Ngay cả thiên văn, lịch số, binh pháp, y thuật, âm luật, không thứ gì là không mau chóng nắm được sâu sắc”.

 

Tháng 12 năm 1274, ông 16 tuổi, được sắc phong thái tử, kết hôn với con gái của Trần Hưng Đạo là Quyên Thanh công chúa.

 

Theo "Thánh đăng ngữ lục" thì ông từ nhỏ đã có lòng hướng Phật, không có ý làm vua nên nhiều lần xin nhường ngôi thái tử lại cho em trai mình là Đức Việp, nhưng vua Thánh Tông không chấp nhận. Sau khi kết hôn vài tháng, ông trốn khỏi hoàng cung vào giữa đêm khuya, tá túc ở một ngôi chùa trên Yên Tử. Vua Thánh Tông và hoàng hậu sau khi phát hiện ông biến mất thì vội vàng cho người tìm kiếm, khuyên giải ông về, cuối cùng ông đồng ý trở về. Sau khi về cung, ông nằm mộng thấy một đoá sen vàng mọc ra từ rốn mình nên từ đấy ngày ngày đều ăn chay, cả người gầy guộc. Vua Thánh Tông thấy vậy đau lòng, vừa khóc vừa khuyên ông, ông mới thôi việc ăn chay.

 

Năm 1276, con trai trưởng Trần Thuyên của ông ra đời, người sau này trở thành vua Trần Anh Tông.

 

Năm 1278, ông 20 tuổi. Trần Thánh Tông truyền ngôi vua cho ông để lên làm thái thượng hoàng.

 

Ý đồ đánh chiếm nước ta của nhà Nguyên càng ngày càng rõ. Đoàn sứ giả của Sài Thung do vua Nguyên phái đến nước ta lúc ấy vô cùng ngang ngược. Trên đường thì hà hiếp bá tánh, vào triều thì khinh rẻ quần thần. Theo sử nhà Nguyên, lúc Sài Thung truyền ý chỉ của Hốt Tất Liệt bắt ông phải sang chầu để nhận sắc phong, ông đã đáp: “Trộm nghe ấu chúa nhà Tống nhỏ dại, thiên tử còn thương xót mà phong cho tước công thì chắc tiểu quốc đây cũng được gia ân thương xót. Trước đây đã được tha miễn 6 việc. Còn lễ tự thân vào chầu, thì tôi sinh trưởng ở thâm cung, không tập cưỡi ngựa, không quen thủy thổ, sợ chết dọc đường. Em tôi là Thái úy trở xuống cũng đều như vậy. Khi thiên sứ trở về chầu vua, xin dâng biểu tâu rõ lòng thành, cùng cho biếu của lạ”.

 

Sài Thung trở về báo việc này lại với Hốt Tất Liệt, nội mật viện của Hốt Tất Liệt đề xuất khởi binh đánh nước ta, nhưng rốt cuộc vẫn chưa vội tấn công, chỉ bắt nước ta đúc tượng vàng ròng to bằng người thật để cống sang triều đình bên ấy, nếu không làm theo sẽ xuất quân.

 

Nhận thấy nguy cơ chiến tranh càng lúc càng gần, ông và triều đình đã gấp rút củng cố đất nước về mọi mặt để có thể sẵn sàng ứng chiến. Ví dụ như tiến hành đại xá, giải oan, sai Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật đến chiêu hàng tù trưởng Trịnh Giác Mật đang làm phản ở Đà Giang, khuyến khích nông nghiệp, thống nhất đo lường, tạo điều kiện cho buôn bán, thống kê dân số để tuyển lính, luyện binh… Đồng thời, triều đình nhà Trần cũng ra sức thắt chặt quan hệ ngoại giao với Chiêm Thành.

 

Sứ giả nhà Nguyên yêu cầu nước ta cho quân Nguyên mượn đường để tấn công Chiêm Thành, nhưng triều đình nhà Trần biết rõ ý đồ của quân Nguyên muốn chiếm Chiêm Thành trước đề về sau tạo thế gọng kềm đánh chiếm nước ta từ hai phía, nên đã mềm mỏng từ chối. Chiêm Thành biết tham vọng của quân Nguyên nên cũng tỏ ý giao hảo với nước ta. Theo ghi chép của sử nhà Nguyên, triều đình nhà Trần đã cho 2 vạn quân và 500 chiến thuyền đến chi viện cho Chiêm Thành. Tuy vua và triều đình nhà Trần không thừa nhận việc này, nhưng nhà Nguyên đã lấy đó làm cớ khép nước ta vào tội phản nghịch để tấn công.

 

Năm 1282, vua Trần Nhân Tông triệu tập Hội nghị Bình Than, họp cùng vương hầu và các quan bàn kế sách chống quân Nguyên. Sự kiện Trần Quốc Toản bóp nát quả cam cũng xảy ra vào thời điểm này.

 

Trần Hưng Đạo được phong chức Quốc công tiết chế, thống lĩnh quân đội toàn quốc. Trần Quang Khải được phong chức Thượng tướng thái sư.

 

Cuối năm 1284, sau khi được tin Hốt Tất Liệt phái Trấn Nam vương Thoát Hoan và các tướng dẫn quân chuẩn bị tấn công, thái thượng hoàng Trần Thánh Tông đã tổ chức hội nghị Diên Hồng để hỏi ý các phụ lão về việc nên hoà hay nên đánh. Khác với hội nghị Bình Than diễn ra vào 2 năm trước đó - là nơi bàn bạc với quan lại và quý tộc, đối tượng trưng cầu ý kiến của hội nghị Diên Hồng là những đại biểu của nhân dân. Trong hội nghĩ Diên Hồng, mọi người đều đồng ý đánh chứ không hoà.

 

Trần Hưng Đạo viết "Hịch tướng sĩ" để cổ vũ lòng quân.

 

Đầu năm 1285, quân Nguyên chia làm 3 đạo tiếng vào Đại Việt. Triều đình nhà Trần cho quân chặn ở cửa khẩu phía Bắc nhưng thất bại. Quân Nguyên vượt qua ải Chi Lăng. Trần Hưng Đạo ra lệnh cho quân lui về Vạn Kiếp.

 

Tướng giặc là Ô Mã Nhi tấn công Vạn Kiếp. Trần Hưng Đạo muốn bảo toàn lực lượng, đồng thời kéo dài thời gian để nhử cho giặc mệt mỏi nên tiến hành rút khỏi Vạn Kiếp. Ô Mã Nhi đuổi theo. Trong trận thuỷ chiến này, vua Trần Nhân Tông đã mang quân đến hỗ trợ đội quân của Trần Hưng Đạo rút lui khỏi Vạn Kiếp. Quân Trần sau khi rút khỏi Vạn Kiếp thì dàn trận ở sông Hồng gần Thăng Long.

 

Quân Nguyên đi đường bộ, dựng trại bên sông Hồng. Vua Trần Nhân Tông chỉ huy việc nghênh chiến ở sông Hồng, nhằm mục đích đánh lạc hướng giặc để người trong cung và dân chúng sơ tán khỏi Thăng Long, thực hiện kế hoạch “vườn không nhà trống”. Để kéo dài thời gian và thu hút sự chú ý của giặc, Trần Nhân Tông cho người sang giả vờ đưa thư cầu hoà. Quân Nguyên không đồng ý. Sau khi nhận được tin việc sơ tán đã xong, thuỷ quân Trần theo sông Hồng rút khỏi Thăng Long, tiến về phủ Thiên Trường.

 

Đây là một cuộc chiến hết sức cam go. Trong suốt cuộc kháng chiến này, quân Trần từng thua nhiều trận, vua cũng suýt gặp nguy hiểm, nhưng nhờ kế hoạch tác chiến toàn cục được tiến hành tương đối tốt, các cánh quân phối hợp hiệu quả, thắng được những trận mang tính chiến lược nên cuối cùng quân ta giành thắng lợi. Các thủ thuật “vườn không nhà trống”, du kích, ly gián (gây chia rẽ người Hán và người Mông Cổ trong nội bộ quân Nguyên, dùng người Hán trong quân Trần tác động người Hán trong quân Nguyên), cũng được phát huy hiệu quả.

 

Cuối tháng 6 năm 1285, quân Nguyên bị quân ta đuổi giết, tháo chạy về nước.

 

Tháng giêng năm 1286, triều đình nhà Trần thả những tù binh bắt được cho về nước.

 

Hốt Tất Liệt muốn phục thù, chuẩn bị tấn công lần nữa. Nhân lúc quân Nguyên chưa thể xuất quân do người Hán đang nổi dậy trong nước, Đại Việt tăng cường luyện binh ứng chiến.

 

Tháng 12 năm 1287, quân Nguyên tấn công Đại Việt. Đây là cuộc chiến tranh chống Nguyên Mông lần thứ 3 của Đại Việt. Vua Trần Nhân Tông một lần nữa tiến hành đại xá, nhiều tù nhân được thả đã nhập ngũ để báo ơn. Thái thượng hoàng Thánh Tông giao cho Trần Nhân Tông quyền chỉ toàn cuộc. Trần Hưng Đạo chỉ huy quân ngũ. Cũng như lần trước, quân Nguyên thắng những trận đầu, về sau nhà Trần mới phản công. Cuộc chiến này diễn ra trong vòng 4 tháng gồm nhiều trận đánh, trong đó có trận thuỷ chiến dùng cọc nhọn ở Bạch Đằng.

 

Cuối tháng 3 năm 1288, quân Nguyên một lần nữa phải trốn chạy về nước, bị quân ta tập kích.

 

Tháng 4 năm 1288, nhà Trần trả tù binh về nước, trong đó có Ô Mã Nhi. Lúc đi thuyền về nước, Ô Mã Nhi bị đắm thuyền và chết. Triều đình nhà Nguyên cho rằng quân Trần cho người ám sát, nhưng không có chứng cứ.

 

Đại Việt tiến hành phục hồi các tổn thất sau kháng chiến.

 

Năm 1290, quân Ai Lao nhiều lần quấy phá biên giới phía tây. Binh lực Đại Việt lúc này đã chịu nhiều thiệt hại sau cuộc chiến với quân Nguyên, nhưng Trần Nhân Tông vẫn quyết định ngự giá thân chinh để thị uy. Theo lý giải của ông, nếu lúc này hoà hoãn, quân Ai Lao sẽ biết Đại Việt đang suy yếu mà tấn công dữ dội hơn.

 

Tháng 3 năm 1292, hoàng tử trưởng Trần Thuyên được lập làm thái tử, kết hôn với con gái của Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng (con trai Trần Hưng Đạo).

 

Tháng 3 năm 1293, vua Trần Nhân Tông nhường ngôi cho thái tử, lên làm thái thượng hoàng.

 

Tháng 9 năm 1293, thái thượng hoàng hậu Bảo Thánh qua đời.

 

Tháng 8 năm 1294, thái thượng hoàng Trần Nhân Tông thân chinh đánh Ai Lao lần thứ 2.

 

Sau khi thắng trận trở về, Trần Nhân Tông xuất gia ở Vũ Lâm (thuộc Ninh Bình) nhưng vẫn can thiệp việc nước, dẫn dắt vua con.

 

Tháng 8 năm 1299, Trần Nhân Tông núi Yên Tử tu khổ hạnh. Theo truyền thuyết, vua Trần Anh Tông sợ cha cực khổ nên cho nhiều cung nữ đến Yên Tử chăm sóc, nhưng Trần Nhân Tông từ chối, bảo các cung nữ trở về. Một số cung nữ đã trầm mình xuống suối tự vẫn. Trần Nhân Tông thương tiếc, làm lễ cầu siêu, đặt tên suối là suối Giải Oan.

 

Năm 1301, Trần Nhân Tông du ngoạn Chiêm Thành.

 

Tháng 3 năm 1308, Trần Nhân Tông qua đời ở am Ngọa Vân núi Yên Tử.

 

Tháng 9 năm 1309, linh cữu được đưa về chôn ở lăng Quy Đức, phủ Long Hưng, hợp táng cùng thái hậu Bảo Thánh. Một phần xá lỵ của ông được cất ở bảo tháp am Ngọa Vân.

 

Hoàng hậu Bảo Thánh

 

Bà tên huý là Trinh, tước hiệu Quyên Thanh công chúa, là con gái duy nhất của Trần Hưng Đạo và công chúa Thiên Thành.

 

Năm 1274, được lập làm hoàng thái tử phi.

 

Năm 1276, sinh trưởng hoàng tử Trần Thuyên, người sau này là vua Trần Anh Tông.

 

Năm 1279, được lập làm hoàng hậu.

 

Tháng 3 năm 1293, được tôn làm thái thượng hoàng hậu.

 

Tháng 9 năm 1293, bà qua đời ở Lỗ Giang, phủ Long Hưng.

 

Đại Việt sử ký toàn thư nhận định về bà:

 

"Thái hậu nhu mì đức tốt, thông minh sáng suốt, nhân hậu với kẻ dưới.

 

Thượng hoàng có lần làm chuồng hổ ở thềm Vọng Lâu, sai quân sĩ đánh nhau với hổ, thượng hoàng ngự trên lầu để xem, thái hậu và phi tần đều theo hầu. Lầu thấp, song chuồng hổ và thềm cũng thấp, hổ bỗng nhiên thoát khỏi chuồng trèo lên lầu. Người trên lầu đều tan chạy cả. Chỉ có Thượng hoàng và Thái hậu cùng 4, 5 thị nữ còn ở đó. Thái hậu nghĩ không khỏi bị hại, mới lấy chiếc chiếu che cho Thượng hoàng và tự che mình. Hổ lên lầu gầm rống rồi nhảy xuống không vồ hại ai cả.

 

Lại một lần Thượng hoàng ngự điện Thiên An xem đấu voi ở Long Trì. Con voi bỗng nhiên xổng thoát,xông tới, định lên điện, tả hữu đều sợ hãi tan chạy cả, chỉ có Thái hậu vẫn ở đó."

-----

Nguồn tư liệu: Wikipedia, Đại Việt sử ký toàn thư, "Trần Nhân Tông - Con người và tác phẩm"

__________

Internet

TRẦN NHÂN TÔNG VÀ CHUYẾN VIỄN DU CHIÊM THÀNH NĂM TÂN SỬU(1301(*))

Cuộc đời của Thượng hoàng, Phật hoàng Trần Nhân tông là một chuỗi của sự xuất xử gắn liền việc Đạo với việc Đời và tất cả đều thuận theo qui luật, tức là tùy duyên chứ không hề khiên cưỡng.


Thời gian của Hội thảo giới hạn tới mức tối thiểu, vì vậy tôi chỉ khảo sát riêng một việc thượng hoàng qua thăm Chiêm Thành năm Tân sửu (1301 ).

 

Việc này Đại Việt sử ký toàn thư chỉ ghi vẻn vẹn có 12 chữ: “ Tháng 3, thượng hoàng đi chơi các địa phương, sang Chiêm Thành”. Dưới đó một đoạn lại ghi tiếp: “ Mùa đông tháng 11, thượng hoàng từ Chiêm Thành về”.


Các sử gia không hề cho ta biết nội dung cuộc viếng thăm nước Chămpa của thượng hoàng.


Năm năm sau, tức năm Bính ngọ ( 1306 ), Toàn thư lại chép: “ Mùa hạ, tháng 6, gả công chúa Huyền Trân cho vua nước Chiêm Thành là Chế Mân. Trước đây, thượng hoàng đi chơi các địa phương sang Chiêm Thành, đã trót hứa gả con gái cho. Các văn sĩ trong triều ngoài nội nhiều người mượn điển vua nhà Hán đem Chiêu quân gả cho Hung Nô làm thơ bằng quốc ngữ để chê cười.”


Việc này ta có thể lấy thêm một thông tin nữa từ Trần Chí Chính, theo khảo sát của học giả Lê Mạnh Thát trong lời đề từ bức tranh “Trúc lâm đại sĩ xuất sơn đồ”, Trần Chí Chính viết: “Có lúc ngài viễn du hóa độ cho các nước lân bang, phía nam đến tận Chiêm Thành, đã từng khất thực ở trong thành. Vua nước Chiêm Thành biết được điều đó, hết sức kính trọng thỉnh mời, dâng cúng trai lễ, sắp sẵn thuyền bè nghi trượng, thân hành tiễn ngài về nước và đem hai châu làm lễ dâng cho ngài. Ấy là


Thần Châu, Hóa châu nay vậy”[1].


Hai đoạn văn mà Đại việt sử ký toàn thư ghi vào năm Tân sửu ( 1301) và năm Bính ngọ ( 1306) cùng với lời đề từ bức tranh “ Trúc lâm đại sĩ xuất sơn đồ” của Trần Chí Chính cho ta một thông tin rằng việc thượng hoàng Trần Nhân tông qua thăm Chiêm Thành chỉ là chuyện ngẫu nhiên, và việc vua Chiêm là Chế Mân dâng miền đất hai châu của mình cho Đại việt cũng là một việc tùy hứng, khiến ta có cảm giác sự biếu tặng lãnh thổ này cũng bình thường như các món đồ khác.


Tôi không tin những điều đã chép ấy là sự thật lịch sử, mà tôi ngờ rằng các nhà chép sử cố ý làm mờ nhòe sự thật để giảm bớt tầm quan trọng của sự việc vì một lý do tế nhị nào đấy. Tuy nhiên trong hơn 700 năm qua vấn đề này đã không được hậu thế lý giải cho minh bạch, khiến đời sau cứ tin đó là sự thật lịch sử.


Tôi thật sự không tin vào sự ghi chép và lý giải mù mờ đó của các sử gia.


Sự thật cuộc viếng thăm vương quốc Chămpa của thượng hoàng Trần Nhân tông không phải là sự ngẫu nhiên “ đi chơi các địa phương” rồi tiện thể “sang Chiêm Thành”.


Ta biết tháng 3 năm Tân sửu (1301) thượng hoàng Trần Nhân tông sang viếng thăm Chiêm Thành thì trước đó toàn thư chép : “Tháng 2 nước Chiêm Thành sang cống”.


Chính đoàn cống sứ của Chiêm Thành sang là thương thảo một vấn đề gì nghiêm trọng lắm, có quan hệ đến hai nước Việt – Chăm. Đương nhiên đây là vấn đề cực kỳ hệ trọng mà quan gia tức vua Trần Anh tông và triều đình không giải quyết được, nên thượng hoàng phải tự mình đảm nhiệm. Nên biết, đây không phải là việc thăm viếng bình thường, càng không phải ngài đi truyền giáo. Đây hẳn là một vấn đề hết sức nhạy cảm và cả sự tế nhị nữa nên Đại Việt mới phải xuất tướng.


Để lý giải việc xuất tướng này, ta trở lại tình hình nước Đại Việt sau chiến thắng đế quốc Nguyên năm Mậu tí (1288).


Khi Thoát Hoan dẫn đoàn quân thất trận mười phần chết mất 5, 6 trở về và run sợ ra mắt vua cha ở Yên Kinh (Bắc Kinh) xin chịu tội.


Hốt Tất Liệt đùng đùng nổi giận, trị tội tên nghịch tử đã đem sự ô nhục trở về. Y đầy Thoát Hoan ra Dương châu, và cấm suốt đời không được gặp mặt. Còn Áo Lỗ Xích viên phó tướng của Thoát Hoan, bị đuổi ra Giang Tây.


Hốt Tất Liệt một mặt sai lập ngay Hồ Quảng An Nam hành tỉnh  tức bộ chỉ huy quân sự đánh Đại Việt), tập hợp binh lực chuẩn bị Nam chinh, mặt khác y xuống chiếu đổ hết trách nhiệm về cuộc chiến tranh vừa qua cho triều đình Đại Việt.


Vua Trần Nhân tông biết nhà Nguyên khó có thể tiến hành xâm lược nước ta trong ngày một ngày hai, mặc dù Hốt Tất Liệt hết sức cay cú vì mất thể diện. Bởi vì nội bộ người Nguyên đang gặp khó do nhiều tỉnh mất mùa, dân bị đói không huy động được lương thực, lại nhiều nơi dân Trung Hoa không chịu được sự cai trị hà khắc của người Mông Cổ đã nổi dậy đánh đuổi bọn quan lại. Điều băn khoăn nhất của Hốt Tất Liệt là hầu hết các danh tướng của nhà Nguyên, đều đổ dồn vào hai cuộc xâm lược Đại Việt tại các năm Ất dậu (1285) và Mậu tí ( 1288 ), tất cả đều trở thành bại tướng, nhưng hầu hết các danh tướng hàng đầu đều bị giết hoặc bị bắt như Lý hằng, Lý quán, Toa Đô, Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ Cơ v.v… Vậy đánh Đại Việt lúc này lấy đâu ra tướng soái chỉ huy chiến trận. Nên một mặt y vừa tập trung lực lượng vừa dùng sức ép bang giao với triều đình Đại Việt.


Biết khó khăn của giặc, Trần Nhân tông hết sức tỉnh táo đối phó trong cuộc chiến ngoại giao này. Một mặt nhà vua cho khôi phục nền sản xuất đã bị giặc tàn phá trong chiến tranh, chăm lo sức dân, xem xét tha hẳn hoặc tha một phần tô thuế cho dân tùy theo sự thiệt hại nhiều hay ít của từng vùng. Mặt khác, đích thân Trần Nhân tông chỉ huy việc đối ngoại với nhà Nguyên, các văn thư ngoại giao gửi Hốt Tất Liệt do chính nhà vua thủ bút.


Ta nhớ trong lá thư gửi Hốt Tất Liệt, vua Trần Nhân tông đã khéo léo nói rõ ai là kẻ gây chiến, và luôn thể ngài kịch liệt lên án tội ác chiến tranh của kẻ thù. Thư viết: “ Năm Chí nguyên thứ 22 (1285) Bình chương A-lí-hải-nha tham công ngoài biên giới, làm trái thánh chỉ. Do thế tiểu quốc sinh linh một phương phải chịu lầm than… Mùa đông năm Chí nguyên thứ 24 (1287) lại thấy đại quân thủy bộ đều tiến sang, thiêu đốt chùa chiền khắp nước, đào bới mồ mả tổ tiên, bắt giết người dân già trẻ, đập phá sản nghiệp trăm họ, các hành động tàn nhẫn phá phách không gì là không làm…


Tham chính Ô Mã Nhi lâu năm nắm binh thuyền riêng ra ngoài biển, bắt hết biên dân vùng biển, lớn thì giết chết, nhỏ thì bắt đi, cho đến cả treo trói xẻ mổ, mình đầu khắp chốn. Trăm họ bị bức tới chỗ chết, bèn dấy lên cái họa con thú chân tường”.


Lời lẽ của nhà vua thật sự khôn ngoan, kín kẽ, đanh thép và cả sự tế nhị không làm mất mặt kẻ thù hơn nữa. Theo dõi sát tình hình bên Đại Đô, vua Trần Nhân tông thừa biết Hốt-tất-liệt lúc này chẳng khác chi một con sư tử già chỉ nằm tại chỗ mà gầm rống chứ móng vuốt đều đã long, rụng; mặc dù y đã lập xong bộ chỉ huy và đã bàn bạc với tên bán nước Trần Ích Tắc vẫn trú ngụ tại Ngạc Châu.


Tuy vậy, nhà vua vẫn không loại bỏ khả năng giặc Bắc lại sang.


Đột nhiên tháng Giêng năm Quí tị (1293) Hốt Tất Liệt lăn ra chết, con trai y lên ngôi, hiệu là Nguyên Thành tổ. Thấy tình thế không thuận cho một cuộc chiến tranh nữa, Nguyên Thành tổ ra lệnh bãi binh.


Thời cơ đã đến, Trần Nhân tông nhằm ngày đại cát, tức 9 tháng 3 năm Quí tị (1293 ) nhường ngôi cho con là thái tử Thuyển và lên làm thái thượng hoàng.


Mười tháng sau khi nhường ngôi cho con, nhằm tháng 7 năm Giáp ngọ ( 1294 ), thượng hoàng Trần Nhân tông du ngoạn tới hành cung Vũ Lâm, và tại đây cái duyên đã khởi, thượng hoàng quyết định xuất gia tu Phật ở hành cung này. Sau đó ít bữa, nhà vua cho dựng một nếp chùa ngay phía trước hành cung để ngài tu tập.


Rõ ràng là với Trần Nhân tông việc đời hay việc đạo, tức là việc xuất xử đều tùy duyên. Việc nào túc duyên ắt nó tròn đầy. Vì vậy sau này trong bài phú “Cư trần lạc đạo”, mở đầu ngài viết: ‘ Cư trần lạc đạo thả tùy duyên”. Thế nhưng tất cả cái “duyên” ấy của ngài đều thuộc về lợi ích quốc gia và con đường tinh tấn của chính pháp.


Kỳ lạ thay, đúng một tháng sau khi ngài quyết định xuất gia, ngài lại cầm quân chinh phạt Ai Lao, vì trong khi giặc Nguyên xâm lược ta ở mặt đông, thì mặt tây Ai Lao cho quân sang cướp phá, giết tróc nhân dân ta. Việc này Toàn thư chép: ‘Tháng 8 năm Giáp ngọ (1294), thượng hoàng thân chinh Ai Lao, bắt sống người và súc vật không kể xiết”.


Và đến ngày mùng 1 tháng 2 năm sau, tức năm Ất mùi ( 1295 ) phái bộ nhà Nguyên là Lý Hành và Tiêu Thái Đăng qua báo về việc vua Thành tông nhà Nguyên lên ngôi và đã cho bãi binh, thượng hoàng Trần Nhân tông đích thân tiếp sứ và chỉ huy mọi việc giao dịch với sứ cho thật chu đáo, đồng thời tỏ rõ khí phách Đại Việt, đè bẹp ý chí xâm lược và thói quen ngạo mạn của kẻ thù. Khi sứ về, thư phúc đáp gửi Nguyên Thành tông, vẫn do thượng hoàng Trần Nhân tông thủ bút. Ngài còn cử viên ngoại lang Trần Khắc Dụng và Phạm Thảo đem thư của ngài sang Đại Đô xin Kinh Đại Tạng nữa. Đó là nghệ thuật bang giao thượng thừa của ngài khiến cho đối phương hạ nhiệt, và gây dựng mối rường cho sự giao hảo về sau.


Trong mấy năm tiếp không có việc gì lớn xảy ra, cho đến tháng 8 năm Kỷ hợi ( 1299 ) thượng hoàng Trần Nhân tông lên núi Yên Tử tu khổ hạnh. Và tới tháng 2 năm Tân sửu (1301) có phái đoàn của Chiêm Thành sang cống, liền đó tháng 3, thượng hoàng sang Chiêm tới tháng 11 mới về.


Xét ra trong nước có việc gì cực lớn, cực trọng yếu thượng hoàng Nhân tông mới đứng ra đảm trách, thế mà giữa thời bình, có gì hệ trọng tới mức phải đích thân thượng hoàng sang Chiêm. Và sang làm gì với khoảng thời gian dài dằng dặc tới cả 9 tháng?


Ta có thể lý giải việc này bằng một giả định tựa như hai nước đang lâm vào một tình thế căng thẳng có thể dẫn tới đối đầu. Phải chăng sau khi đại thắng hai cuộc xâm lược của nhà Nguyên, uy thế của Đại Việt lên rất cao, và với tiềm lực quân sự khiến các nước phương nam rất kiêng dè, nể trọng. Hơn nữa đích thân Nguyên Thành tông phải phái sứ đoàn sang Đại Việt tuyên cáo việc bãi binh, từ đó các tướng lĩnh gây sức ép với triều đình phải tiến về phương nam, để mở rộng lãnh thổ. Tin tức này lọt tới Chămpa, nên triều đình Chămpa cử sứ sang triều cống Đại Việt đồng thời thương thảo khá gay cấn.


Mở mang bờ cõi vào thời điểm lịch sử lúc ấy là hợp lý, Trần Nhân tông không thể không biết đến nhu cầu của quốc gia và nguyện vọng của tướng lĩnh, nhưng thực tình nhà vua không muốn cho nhân dân hai nước phải đổ máu. Vả lại sự ủng hộ lẫn nhau, kề vai sát cánh cùng chiến đấu giữa Đại Việt và Chămpa để chống kẻ thù chung trong mấy cuộc chiến tranh vừa qua đã gắn kết hai dân tộc lại với nhau. Như cuộc xâm lược của nhà Nguyên vào Chămpa năm Quí mùi (1283), do viên dũng tướng Toa Đô cầm đầu 5 vạn quân hùm sói, tưởng ăn tươi nuốt sống được vương quốc nhỏ bé này. Trước nguy cơ đó, vương quốc Chămpa phải cầu viện Đại Việt. Nhà Trần đã phái hai vạn quân thiện chiến có cả tàu thuyền sang sát cánh cùng quân dân Chămpa chiến đấu chống kẻ thù chung thắng lợi.


Để ngăn chặn tình huống xấu có thể xảy ra bất cứ lúc nào, nên thượng hoàng Trần Nhân tông phải đích thân qua Chiêm Thành.


Lại nói Chế Mân là ai? Đương nhiên ông là vua nước Chămpa, nhưng trong cuộc đối đầu lịch sử với Toa Đô năm Quí mùi, ông là hoàng thái tử Harijit, tổng chỉ huy cuộc kháng chiến kình chống với Toa-đô. Đánh nhau suốt một năm trời, Toa Đô không vào được cửa biển Thị Nại, không bén mảng được tới chân kinh thành Trà Bàn. Harijit đã dùng kế trá hàng suýt bắt được Toa Đô, khiến y phải đóng quân cả năm trời ngoài bãi biển, sau rút về đóng tại vùng giáp ranh với biên giới phía nam của Đại Việt để chờ thời. Chămpa thoát hiểm. Harijit trở thành vị anh hùng và nhà vua lỗi lạc của xứ sở. Một con người kiệt hiệt như thế không dễ gì để cho ai bắt nạt, không dễ gì để cho ai xâm chiếm đất đai của mình. Thế mà ngài Trần Chí Chính lại viết Chế Mân “ thân hành tiễn ngài (Trần Nhân tông) về nước và đem đất hai Châu làm lễ cúng dâng cho ngàiẤy là Thần Châu và Hóa Châu nay vậy”.


Sự việc đâu có dễ dàng như thế. Chín tháng ở Chămpa của thượng hoàng Trần Nhân tông là chín tháng thuyết phục, thương thảo căng thẳng và cả quyết liệt, cuối cùng mới đi tới giải pháp hôn nhân. Và miền đất hai châu dùng làm sính lễ. Như thế có vẻ hợp lý hơn và người Chiêm đỡ bẽ mặt hơn, hai dân tộc tránh được một cuộc chiến tranh, không gieo rắc hận thù cho nhau. Chấp nhận cuộc hôn nhân, chấp nhận cắt đất làm sính lễ, trên thực tế quốc vương Chế Mân phải kìm chế đến cực độ, chấp nhận cuộc hôn nhân cũng có nghĩa là buộc ông phải thừa nhận sức mạnh của Đại Việt.


Rõ ràng cuộc hôn nhân này không phải là nhu cầu của quốc vương Chămpa, bởi đây là giải pháp chính trị, giải pháp tình thế, và là một lối thoát cho cả hai phía. Nếu cần mỹ nhân thì vương quốc Chămpa thiếu gì mỹ nữ. Vả lại vua nước Chămpa đâu còn trẻ nữa, nếu không hơn, ít ra ông cũng bằng tuổi với thượng hoàng Trần Nhân tông. Bởi lẽ năm Quí mùi ( 1283 ) ông đã chỉ huy cuộc kháng chiến chống quân Nguyên xâm lược, đối đầu với Toa Đô, năm ấy vua Nhân tông của Đại Việt mới 25 tuổi.


Đạt được thỏa thuận này, phải nói hai bậc vĩ nhân đều có tầm nhìn xa rộng, đành rằng về phía Chế Mân, ông hết sức đau lòng.


Sự việc đến đây, có thể nói giả định đặt ra ở phần trước là có thể chấp nhận được.


Sự thật việc công chúa Huyền Trân về Chiêm, và việc Chiêm Thành cắt đất cho Đại Việt như thỏa thuận của hai vị quốc vương, không dễ gì đã thực hiện được.


Bằng chứng là sau này đem ra bàn ở Đại Việt cả triều đình không ai chấp nhận trừ Trần Đạo Tái và Đỗ Khắc Chung. Các nho sĩ trong triều ngoài nội, nhiều người còn làm thơ đả kích.


Đối với Chiêm Thành, sự việc chắc còn trắc trở hơn nhiều. Sử không cho ta biết gì thêm, nhưng chỉ riêng việc hai quốc vương đã quyết rồi mà 5 năm sau hôn lễ mới được cử hành. Điều đó chứng tỏ nội bộ Chiêm Thành đã đấu tranh dai dẳng và quyết liệt, cuối cùng sự việc mới thành.


Dẫu sao thì cuộc qua thăm Chiêm Thành 9 tháng của thượng hoàng Trần Nhân tông cũng kết thúc có hậu. Trước hết là tháo gỡ tình hình căng thẳng giữa hai nước, đặt mối quan hệ thân hữu bằng cuộc hôn nhân và loại bỏ được một cuộc chiến tranh (rất có thể) ra khỏi đời sống của hai dân tộc; “Hai châu Ô, Lý vuông ngàn dậm”  vĩnh viễn trở thành đất đai của Đại Việt.


Qua một chuỗi sự việc trên, ta thấy việc đời, việc đạo đối với thượng hoàng Trần Nhân tông đều là việc nước cả, nên lúc nào cần vai gì thì ngài thủ vai đó, tựa như các đấng Bồ Tát cứu thế, khi thấy thế gian cần gì thì ngài thị hiện đúng cương vị đó để cứu vớt. Qua các sự việc kể trên cũng chứng minh một cách sinh động trong lịch sử dựng nước và giữ nước, Phật giáo đã đồng hành cùng dân tộc là vậy đó.


Việc sáp nhập hai châu Ô, Lý vào cương thổ Đại Việt là thắng lợi ngoại giao cực kỳ vĩ đại của thượng hoàng Trần Nhân tông, chứng tỏ người có con mắt nhìn thấu nghìn tầm. Vì rằng từ đây mở ra con đường nam tiến của dân tộc vô cùng thuận lợi. Nên biết rằng tới cuối đời Trần, Hồ thì cương giới của Đại Việt đã mở tới Thăng Hoa, Tư Nghĩa (Quảng Nam, Quảng Ngãi). Và chỉ hơn nửa thế kỷ từ sau Hồ Quý Ly, thì Lê Thánh tông đã cắm bia cương giới trên đỉnh núi Đá Bia tận Phú Yên. Phần còn lại thuộc về các chúa Nguyễn và triều Nguyễn.


Sự nghiệp vào Chiêm năm Tân sửu (1301) của thượng hoàng Trần Nhân tông rực rỡ là vậy, mà các sử gia chỉ chép được vài dòng hết sức lạnh lùng và vô cảm, tựa như người thiểu năng trí tuệ. Tiếc thay suốt mấy trăm năm sau đó, các nhà làm sử nhận thức sự việc này cũng chẳng khác mấy người khiếm thính, khiếm thị, khiến hậu thế mang tội vô ơn đối với tiền nhân.


Tổ tiên đã để lại cho dân tộc ta cả một kho tàng kinh nghiệm đầy trí tuệ, nếu biết khai thác kinh nghiệm được tích lũy từ lịch sử, dân tộc ta sẽ có trí khôn và sức mạnh gấp nhiều lần. Khốn thay, cái sự nhỡn tiền cho ta thấy bài học lớn nhất của lịch sử là người ta đã không chịu rút ra từ lịch sử những bài học

 

______________


Hoàng Quốc Hải

Nguồn: www.vanhoanghean.com.vn

 

THIỀN TÔNG LÀ CỘI GỐC CỦA ĐẠO PHẬT

Chúng tôi là những người tu thiền ở Việt Nam, nhưng thời chúng tôi không được sự kế thừa của các vị Tổ trong Ngũ gia tông phái ở Trung Quốc. Song tôi quyết tâm tu thiền nên dồn hết sức mình vào việc nghiên cứu tu Thiền. Điều đáng tiếc là Thiền tông Việt Nam đã vắng bóng gần một thế kỷ, nên chúng tôi phải tự tra cứu, học hỏi trong kinh sách và lịch sử để tìm ra một lối tu.

 

 

Riêng tôi, trước hết tôi tu Lục diệu pháp môn, là phương pháp của Thiền sư Trí Khải ở Trung Hoa, lấy đó làm cương lĩnh ban đầu. Lục diệu pháp môn gồm có sáu pháp: Sổ tức, Tùy tức, Chỉ, Quán, Hoàn, Tịnh. Khi đi sâu vào tu hành, chúng tôi cũng có tiến bộ đôi chút. Dù vậy, tôi rất băn khoăn, muốn thấu hiểu được đường lối tu thiền của chư Tổ để ứng dụng tu, đồng thời kế thừa sự nghiệp của những bậc tôn túc thời trước.

 

Nhưng khi nghiên cứu thiền của chư Tổ chúng tôi thấy rất khó, đọc tác phẩm của các Ngài không hiểu gì cả. Như câu chuyện Tổ Bồ-đề-đạt-ma sang Trung Hoa, ngồi xoay mặt vào vách chín năm. Sau đó có một người tên Thần Quang đến xin tu tập và được Tổ nhận cho làm đệ tử đổi tên thành Huệ Khả, luôn theo hầu Tổ. Một hôm, Ngài Huệ Khả bạch với Tổ Đạt-ma: “Bạch Hòa thượng, tâm con không an, xin Hòa thượng dạy con pháp an tâm”. Tổ Đạt-ma bảo: “Đem tâm ra ta an cho”. Ngài Huệ Khả tìm lại tâm mình, tìm mãi không được, bèn thưa: “Bạch Hòa thượng, con tìm tâm không được”. Tổ bảo: “Ta đã an tâm cho ngươi rồi!”.

 

Câu chuyện đối đáp giữa hai thầy trò, chúng tôi mò mẫm mãi không ra. Tại sao Tổ bảo đem tâm ra ta an cho, rồi ngài Huệ Khả thưa tìm tâm không được, Tổ liền nói: “Ta đã an tâm cho người rồi !”. Lời nói đó bí ẩn ở chỗ nào mà tôi đọc mãi không lãnh hội được, còn ngài Huệ Khả nghe câu đó lại biết lối vào. Điều này ngày xưa chúng tôi rất đau đầu, nghĩ mãi không ra. Thời gian sau, đủ duyên nhập thất tu, tôi cũng đọc đi đọc lại câu chuyện đó, bỗng dưng thấy được lối vào của Tổ Huệ Khả.

 

Nghe câu chuyện trên chúng ta lấy làm lạ, tại sao các ngài không dạy một pháp an tâm mà lại bảo “đem tâm ra ta an cho”? Chúng ta lâu nay cứ nghĩ rằng tâm là cái suy nghĩ, phân biệt tốt xấu, phải quấy của mình. Vì vậy khi ngồi thiền, tâm đó chạy nghĩ tứ tung khiến cho ta bất an. Lúc Tổ Đạt-ma bảo “Đem tâm ra ta an cho”, đó là lời nói của một vị Tổ siêu thoát, phi thường nên Ngài Huệ Khả không dám xem thường. Ngài liền xoay tìm cái tâm lăng xăng của mình. Khi tìm Ngài không thấy hình bóng của nó nữa, tức nó đã lặng. Thế nên Tổ Đạt-ma bảo: “Ta đã an tâm cho ngươi rồi!”.

 

 

Tu Thiền theo Tổ Đạt-ma là cốt quay lại tìm xem cái tâm nghĩ suy lăng xăng đó ở đâu, thật hay giả. Phương pháp này danh từ chuyên môn gọi là “Phản quan tự kỷ”. Bởi vì chúng ta mê lầm tâm hư dối bóng dáng là tâm mình, nên lâu nay bị nó dẫn chạy ngược chạy xuôi. Giờ đây, nhìn kỹ lại nó tan biến. Đó là lối tu của Tổ Đạt-ma dạy, không có trong kinh điển. Vì vậy được gọi là “Giáo ngoại biệt truyền”, tức truyền ngoài giáo lý. Đây chính là chân tinh thần của Thiền tông.

 

Chúng tôi lãnh hội được yếu chỉ đó, nên ứng dụng tu và dạy Tăng Ni, Phật tử Việt Nam tu thiền như thế. Nghĩa là phải nhìn tường tận những tâm niệm vừa dấy khởi, liền biết nó là vọng tưởng hư dối, không theo thì nó tự lặng. Khi nào nó mạnh, làm ồn thì chúng ta phản quan lại, xem nó xuất phát từ đâu, khi đó nó mất tăm mất dạng. Ngài Huệ Khả nhận được yếu chỉ đó rồi, tu một thời gian và trình với Tổ Đạt-ma: “Hiện con đã dứt hết các duyên”. Tổ Đạt-ma bảo: “Coi chừng rơi vào không”. Ngài Huệ Khả thưa: “Rõ ràng thường biết, làm sao không được”. Tổ Đạt-ma liền ấn chứng cho ngài Huệ Khả.

 

Chúng ta thấy đường lối tu của Thiền tông là phải làm sao dứt bặt tâm duyên theo ngoại cảnh. Tâm đó lặng hết, thì cái rõ ràng thường biết hiện tiền, đó là gốc của tu thiền. Khi sáu căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý tiếp xúc với sáu trần bên ngoài là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp mà không dính không nhiễm, lúc đó chúng ta được an tâm.

 

Sau này, Lục tổ Huệ Năng nhân nghe Ngũ tổ dạy kinh Kim cang, đến câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, nghĩa là không có chỗ trụ mà sanh tâm kia, Ngài bừng sáng liền tỉnh ngộ, thốt lên rằng: “Đâu ngờ tâm mình xưa nay thanh tịnh. Đâu ngờ tâm mình xưa nay trùm khắp. Đâu ngờ tâm mình hay sanh muôn pháp”… Lục tổ biết rõ khi tâm không chạy theo, không dính mắc với sáu trần thì đó là tâm an nhiên, thanh tịnh, trong sáng, hằng hữu của chúng ta, nhưng lâu nay mình quên. Giờ đây, không dính với sáu trần nữa nên nó hiển lộ ra, chính là thể thanh tịnh sẵn có xưa nay của chúng ta.

 

Nghe thế Ngũ tổ biết ngài đã triệt ngộ liền truyền tâm ấn và trao y bát cho, rồi dạy ngài về phương Nam giáo hóa. Trên đường Tổ trở về phương Nam, có một đoàn người đuổi theo để giành lại y bát trong đó có Thượng tọa Minh đuổi theo kịp. Thấy vậy, Tổ Huệ Năng liền để y bát trên một tảng đá, rồi chui vào bụi cây trốn. Thượng tọa Minh tới thấy y bát mừng quá liền ôm lên, nhưng ôm không nổi, buộc lòng kêu lên: “Hành giả! Hành giả! Tôi đến đây vì pháp chứ không phải vì y bát”. Nghe vậy, Tổ từ trong bụi cây chui ra, bảo: “Nếu ông đến đây vì cầu pháp, thì hãy đứng yên lặng, ta sẽ nói cho”. Khi Thượng tọa Minh đứng yên lặng giây lâu, Tổ bảo: “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, cái gì là bản lai diện mục của Thượng tọa Minh?”. Ngay câu nói đó, Thượng tọa Minh liền lãnh hội được. Bởi vì tâm vừa nghĩ lành, vừa nghĩ dữ là đã loạn rồi, là tâm vọng tưởng. Một khi khởi nghĩ thì luôn luôn là đối đãi, mà đối đãi là sanh diệt. Không còn mắc kẹt trong đối đãi nữa thì khuôn mặt thật muôn đời sẵn có của mình hiện bày. Cho nên Thiền sư Vô Nghiệp, khi có người hỏi bất cứ câu gì, ngài chỉ trả lời: “Chớ vọng tưởng!”.

 

Tinh thần Thiền này truyền mãi đến Việt Nam vào thế kỷ thứ mười ba. Vua Trần Nhân Tông, khi đi tu Ngài lên núi Yên Tử, lập một hệ phái tên là Trúc Lâm Yên Tử. Ngài có làm bài phú “Cư trần lạc đạo”. Trong đó, câu chót thế này “Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền”. Nghĩa là đối với cảnh mà không có tâm dính mắc thì đừng hỏi thiền chi nữa, vì ngay đó là thiền rồi. Đối với cảnh mà tâm không dính mắc tức là chỗ kinh Kim cang bảo sáu căn đừng dính với sáu trần. Do không dính mắc với sáu trần nên tâm an định. Đó là Thiền. Như vậy, Thiền của Thiền tông là cốt không cho tâm dính mắc với sáu trần. Đó là gốc, là đường lối căn bản của nhà Thiền.

 

Trước khi xuất gia, vua Trần Nhân Tông đã được học với ngài Tuệ Trung thượng sĩ. Khi sắp trở về lên ngôi Thái tử, Ngài hỏi Tuệ Trung chủ đích của thiền là gì. Tuệ Trung đáp thế này: “Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc”, nghĩa là nhìn lại mình là phận sự chính, đừng chạy ra bên ngoài. Quay lại ngay nơi tâm mình đó là bổn phận chính của người tu thiền, không thể hướng bên ngoài mà được. Ngay câu đó, nhà vua lãnh hội được yếu chỉ thiền. Phương hướng tu hành của Thiền tông là phải biết xoay lại nơi mình để nhìn thẳng nội tâm, biết cái gì hư dối buông xả, cái gì chân thật nhận lại, chứ không có gì xa lạ hết.

 

Vườn tháp chùa Hoa Yên, Yên Tử - Ảnh: T.Uyên

 

Tại sao tôi nói Thiền là cội gốc của đạo Phật? Bởi vì trong kinh A-hàm, Đức Phật dạy người tu hiền phải quán Tứ niệm xứ. Quán Tứ niệm xứ là quán thân bất tịnh, quán thọ là khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã. Bốn pháp quán ấy đều xoay lại mình, để thấy cho tường tận cho đúng. Như vậy tu Thiền theo giáo lý Nguyên thủy cũng phải phản quan. 

 

Nếu tu Thiền theo kinh Kim cang thì không cho sáu căn dính mắc với sáu trần. Rõ ràng kinh Phật từ hệ Nguyên thủy cho đến hệ Bắc tông đều dạy phải xoay lại, tự quán chiếu chính mình và tự gìn giữ, đừng để tâm phóng theo sáu trần. Cho đến kinh Lăng nghiêm thuộc Bắc truyền, có một đoạn kể lại ngài A-nan bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, cái gì là cội gốc của sanh tử luân hồi? Cái gì là cội gốc của Bồ-đề Niết-bàn?” Đức Phật im lặng. Lúc đó mười phương chư Phật đồng thinh bảo rằng: “Cội gốc luân hồi sinh tử là sáu căn của ông. Cội gốc Bồ-đề Niết-bàn cũng là sáu căn của ông”.

 

Như vậy, từ kinh Phật cho đến đường lối Thiền tông của chư Tổ rất phù hợp, rất thích ứng nhau. Vì vậy chúng tôi mới quả quyết Thiền tông là cội gốc của đạo Phật. Ngày nay chúng tôi cũng căn cứ theo đó tu và hướng dẫn Phật tử hâm mộ tu Thiền cùng tu. Do tính khế hợp từ Đức Phật cho đến chư vị Tổ sư nên tôi nói “Thiền là cội gốc của đạo Phật”. Mong tất cả ghi nhận và hiểu đúng điều này. Được vậy, chúng ta sẽ vững niềm tin hơn trong pháp tu Thiền của mình.

_______________

HT.Thích Thanh Từ

Nguồn: giacngo.vn

TRỊ QUỐC MÀ CỰC ĐOAN THÌ HỎNG

GS.Cao Huy Thuần: Phật giáo đời Trần vừa rộng vừa sâu, rộng ở nền móng, sâu ở thượng đỉnh, dưới trên đều cùng một tư tưởng thông suốt. Muốn biết hệ tư tưởng đó sâu rộng thế nào, thắt chặt đoàn kết đến đâu, chỉ cần đọc mấy câu của nho gia Lê Quát: "Nhà Phật lấy họa phúc để cảm động lòng người sao mà được người tin theo sâu bền như thế! Trên từ vương công, dưới đến dân thường, hễ bố thí vào việc nhà Phật dù đến hết tiền của cũng không sẻn tiếc... Cho nên trong tự kinh thành, ngoài đến châu phủ, cho đến thôn cùng ngõ hẻm, không phải ra lệnh mà tuân theo, không bắt phải thề mà giữ đúng". 


LTS: Cả hai cùng tu một pháp, cùng vào một cửa, cùng ngộ như nhau, nhưng khi truyền đạt, giáo huấn, dạy dỗ, áp dụng, một bên thì cực đoan, một bên thì diệu dụng. Tại sao? Tại vì một bên chỉ là ông thiền sư, bên kia ông thiền sư còn là ông vua! Ông thiền sư chỉ có vài trăm đệ tử, ông vua có cả một nước! Cả triệu dân! Trị quốc mà cực đoan thì hỏng.
 
Để rộng đường dư luận, Tuần Việt Nam giới thiệu bài viết của GS Cao Huy Thuần về đề tài Thiền đời Trần, thiền Việt Nam.

Tôi sẽ trả lời hai câu hỏi:

1. Có hay không một dòng thiền mang sắc thái Việt Nam?

2. Có đúng hay không dòng thiền Yên Tử đã tạo nên sức mạnh cho Việt Nam để đánh bại xâm lăng Nguyên Mông?

Đó là hai câu hỏi mà Tuần Việt Nam đã đặt ra cho tôi để trò chuyện về Phật giáo đời Trần nhân dịp kỷ niệm Ngàn năm Thăng Long. Tôi hứa sẽ trả lời, không phải trong một cuộc phỏng vấn mà trong một dịp khác, và dịp đó là đây, giữa Tuần Lễ Văn Hóa Phật Giáo này.

Thật lòng, tôi đã rất ngạc nhiên khi nghe hai câu hỏi này. Phật hoàng Trần Nhân Tông, thiền Trúc Lâm Yên Tử, và ảnh hưởng của Phật giáo trong chiến thắng Nguyên Mông đã được thảo luận nhiều rồi trong sách vở và trong các cuộc hội thảo, làm sao tôi có thể nói thêm điều gì mới lạ trong tình trạng tư liệu ít ỏi đã được khai thác lâu nay? Riêng về thiền tông đời Trần, có ai giảng giải rành mạch và đủ thẩm quyền hơn Hòa thượng Thanh Từ? Có ai vừa giàu tưởng tượng vừa không sợ đưa ra những giả thuyết độc đáo bằng học giả Lê Mạnh Thát? Ấy là chưa kể bao nhiêu bài viết công phu, đầy giá trị, của các nhà trí thức trong và ngoài Phật giáo. Để trả lời hai câu hỏi đó, tôi chỉ cần nói: xin đọc lại những gì mà các vị ấy đã viết.

Nhưng tôi lại nghĩ, và điều này lại càng làm tôi ngạc nhiên hơn: chẳng lẽ, với bao nhiêu công trình nghiên cứu đó, vẫn cứ có câu hỏi đặt ra, như tuồng vẫn còn hoài nghi về sự có thực của của một dòng thiền đặc biệt Việt Nam? Chẳng lẽ vấn đề cần làm sáng tỏ hơn nữa? Chẳng lẽ lý luận chưa đủ vững chắc? Chẳng lẽ vẫn cần phải nói thêm?

Vì bắt buộc phải trả lời hai câu hỏi nói trên, tôi đánh liều nói thêm, hy vọng không phải là thừa. Tôi nói thêm bằng cách mở một cánh cửa hình như chưa mở: cánh cửa của phương pháp so sánh, so người để biết ta. Tôi muốn so ta với Nhật, vì cả hai cùng có chung một vấn đề: làm thế nào thu nhập thiền từ Trung Hoa đến, làm thế nào chuyển một của báu từ ngoài vào để biến thành của báu của mình? Người Nhật tự hào đã chuyển biến được, và ai cũng đều công nhận có một thiền tông Nhật Bản chẳng giống ai, vậy ta xét trường hợp của họ để so sánh với ta xem sao. Cái gì làm họ đã thành họ, xét cho kỹ, biết đâu ta sẽ thấy ra cái gì đã làm ta thành ta? Vậy, từ đầu, thiền đã nảy mầm ở Nhật như thế nào?

Phật giáo ở Nhật

Thiền vào đất Nhật rất trễ, sau ta 5 thế kỷ, nhưng trước khi Trần Thái Tông viết Khóa Hư Lục vài chục năm, Nhật đã sản sinh ra một thiền sư xuất chúng, một triết gia lỗi lạc bậc nhất trong lịch sử Nhật mà ảnh hưởng vẫn còn sâu đậm trên thiền học thế giới cho đến ngày nay: đó là Đạo Nguyên (Dogen), người đã xây dựng nên thiền tông Nhật. Cùng một thời đại, cùng là những nhà cải cách Phật giáo, cùng là những tư tưởng gia cỡ lớn, cùng bắt tay đặt nền móng cho ngôi nhà thiền, mỗi người trên dải đất của mình, sự so sánh hoàn toàn có thể được giữa thiền học đời Trần và thiền học của Đạo Nguyên để biết đâu là Nhật đâu là ta, đâu là nét đặc thù của Việt Nam, đâu là ảnh hưởng của nét đặc thù đó trên xã hội, trên chính trị, trên quân sự, trên chiến thắng ngoại xâm.

Bởi vậy, tôi bắt đầu với Đạo Nguyên và thiền học của ông. Nhưng để hiểu Đạo Nguyên đã cải cách Phật giáo như thế nào và tại sao, tôi lại phải nói sơ lược về tình hình Phật giáo ở Nhật trước Đạo Nguyên. Trên điểm này, có nhiều chỗ tương đồng thú vị giữa Phật giáo ở ta và Phật giáo ở bạn. Tương đồng thứ nhất là ở chỗ thịnh suy, có thịnh suy mới có cải cách. Tương đồng thứ hai là mối liên hệ giữa mật tông với Phật giáo cung đình, và giữa tịnh độ với Phật giáo quần chúng. Tôi đi vào chi tiết.

Phật giáo được du nhập vào Nhật từ Triều Tiên giữa thế kỷ thứ 6. Như đất khô gặp mưa, triết lý mới, văn hóa mới, tôn giáo mới, ánh sáng mới đó được vua Thái Đức (Shotoku) trọng dụng để xây dựng Nhà nước và củng cố xã hội. Rất thịnh cho đến cuối thế kỷ thứ 8 với kinh đô ở Nara, Phật giáo bắt đầu suy thoái vì một lý do giản dị muôn đời: hễ thịnh thì sinh ra lạm dụng. Chùa chiền xây nhiều quá, kỷ luật tu hành lỏng lẻo quá. Ở ta, cuối đời Lý, tình trạng không khác.

Suy thoái ở Nara, Phật giáo chấn chỉnh lại khi kinh đô được dời từ Nara về Kyôto. Hai tông phái mới phát triển ở kinh đô mới: thiên thai tông và mật tông. Thiên thai thì quá triết lý, cao siêu, mật tông thì quá hình thức, nghi lễ, cầu đảo, cả hai đều thích hợp với tầng lớp quý tộc ở cung đình. Đến cuối thế kỷ 11 thì hầu hết giới tăng lữ ở cấp cao của tông thiên thai đều xuất thân từ quý tộc. Phật giáo ở Kyôto là Phật giáo quý tộc, cung đình.

Suốt hậu bán thế kỷ 12, nước Nhật lâm vào một trận nội chiến khủng khiếp, thậm chí cha con, anh em giết nhau. Từ nội chiến đó, lịch sử nước Nhật bước qua một giai đoạn khác hẳn, vì quyền hành không còn thuộc về vua nữa. mà về tay các samourai. Giai cấp quý tộc nhường chỗ cho giới võ sĩ  trong đó lắm người thất học. Kamakura là thủ phủ của họ, cầm đầu là Tướng Quân (Shogun), trị vì suốt 7 thế kỷ.

Giữa thời đại hỗn loạn đó, đạo Phật vẫn còn giữ được hào nhoáng bề ngoài, nhưng bên trong thì mất nhuệ khí, sáng tạo, không đủ sức để cung cấp cho con người một niềm tin giản dị, dễ nhận, dễ hiểu. Từ đó, xuất hiện ba hình thức Phật giáo mới mà các sách Nhật gọi là mang sắc thái tâm linh đặc biệt Nhật: một là tông Tịnh Độ, hai là Thiền tông và ba là Nhật Liên tông. Phật giáo của kinh đô Kyôto biến thành Phật giáo của tướng phủ Kamakura và thiền tông bắt gặp hưởng ứng nồng nhiệt của Tướng Quân và của giai cấp võ sĩ.

Như vậy, trước Đạo Nguyên, thiền đã du nhập vào đất Nhật, với Eisai (1141-1215). Nhưng Đạo Nguyên vẫn cho rằng đó chưa phải là thiền thực sự, cho nên ông vượt biển sang Trung Hoa của nhà Tống để tìm thầy học đạo. Và ông đã học, đã ngộ, đã trở thành người khai sáng dòng thiền của Nhật.

Đạo Nguyên: Ngồi!

Thầy đầu tiên của Đạo Nguyên là Jou-tsing. Ông học gì trước hết? Tọa thiền. Jou-tsing ngồi thiền cả ngày, cho đến 11 giờ khuya, rồi lại dậy ngồi thiền từ 3 giờ sáng. Chỉ thế thôi. Không dạy gì khác. Đạo Nguyên cũng ngồi như vậy, hết ngày đến đêm, thề chết cũng ngồi, mà nếu chết thì cứ lấy ngồi làm vốn, kiếp sau ngồi nữa. Về sau, ông dạy: giác ngộ là nhờ tọa thiền; ngay cả người không hiểu gì cả, người dốt, người ngu vẫn có thể vượt qua người thông minh, đầy kiến thức, nếu cứ kiên trì tọa thiền, lấy ánh sáng từ định. Bởi vậy, ai muốn học đạo chỉ cần duy nhất tọa thiền, không học gì khác.

Thế có học quán không? Có quán công án? Đạo Nguyên trả lời dứt khoát: "Dù cho ai đó nghĩ rằng mình có hiểu đôi chút công án, điều đó cũng dẫn xa Phật, xa Tổ. Cứ ngồi cho đúng, chẳng cần muốn được gì hay hiểu gì. Cứ ngồi mãi như vậy. Đó là Đạo của Tổ. Các vị tiền bối cũng khuyên kết hợp quán công án với tọa thiền, nhưng các vị ấy khuyên trước hết hãy tọa thiền. Cũng có người ngộ đạo nhờ công án, nhưng điều đó là nhờ công năng duy nhất của thiền tọa. Muốn thành công phải tìm trong tọa thiền" (1). Quả quyết chắc nịch.

Như vậy mà Đạo Nguyên chứng ngộ. Ông chứng ngộ lúc 26 tuổi, trở thành tổ thứ 8 của phái thiền Tào Động. Trở về Nhật, có người hỏi ông đã học được gì ở Trung Hoa, ông nói: học được mắt ngang mũi dọc.

Chân lý của ông cũng chắc nịch như mũi dọc mắt ngang. Chỉ ngồi, chỉ ngồi, chỉ ngồi. Không làm gì. Không tìm gì. Không chờ đợi gì. Nhờ định, tuệ sáng. Như con rồng gặp nước, như con cọp gặp rừng. Thực hành, thực hành, thực hành: tọa thiền với giác ngộ là một.

Giác ngộ đến từ thực hành
Vì vậy giác ngộ là vô biên.
Thực hành đến từ giác ngộ
Vì vậy thực hành không có khởi thủy (2) .

Ông đả kích kịch liệt việc tụng kinh: tụng kinh cũng giống như ễnh ương kêu ngoài ruộng. Ông coi trọng việc giữ giới, nhưng ông quả quyết rằng tọa thiền sâu và đúng thì đương nhiên giới cũng được giữ. Thế người tu thiền có được tu theo pháp môn nào khác không? Không! Nhất quyết không! "Đừng bám vào lời, vào chữ; hãy nhìn vào mình mà quán. Như vậy, thân và tâm tự nhiên biến mất và Phật tính nguyên thủy hiện ra" (3). Buông cả thân lẫn tâm, vất cả thân lẫn tâm vào nhà của Như Lai: đó là lời dạy căn bản của Đạo Nguyên. Ông đã giác ngộ trên khám phá đó.

Thiền của Đạo Nguyên trở thành một tông phái độc lập, vừa thay thế cho Phật giáo cung đình đã biến chất, vừa đối lập với tông phái tịnh độ đang phát triển song song. Khỏi cần nói, Đạo Nguyên đả kích Khổng và Lão. Ông đanh thép, cứng rắn với cả quan niệm thông thường về chữ hiếu. Tôi nói thêm chút ít về điểm này để nhấn mạnh lòng tin tuyệt đối của ông về cách tu thiền thuần túy, khai tuệ nhờ định:

Học trò của ông, Ejô, có mẹ đau, gần chết, muốn thấy mặt con lần cuối. Theo luật của tu viện, mỗi tháng thiền sinh chỉ được phép ra ngoài hai lần, mỗi lần không quá ba ngày. Ejô về nhà thăm mẹ hấp hối là việc gần như tự nhiên, nhưng ông đã hết phép rồi. Ông hỏi ý kiến mọi người và ai cũng đồng ý là ông chỉ cần xin phép là xong: thăm mẹ gần chết là việc trọng đại, khác với các duyên cớ lặt vặt thông thường.

Câu chuyện đến tai Đạo Nguyên. Đạo Nguyên nói: "Chắc chắn Ejô không ra khỏi tu viện, chắc chắn Ejô không đồng ý với các thiền sinh khác". Quả thật vậy. Ejô trả lời bạn bè: "Nguyên tắc của tu viện quan trọng hơn là lời khuyên của tập thể. Nếu tôi làm theo ý mẹ và vì vậy mà vi phạm nguyên tắc của chư Phật, chẳng phải tôi cũng làm trái với đạo hiếu hay sao? Nếu tôi vi phạm nguyên tắc của chư Phật, đó là tội lớn nhất cuối cùng mà mẹ tôi phạm. Người tu hành phải đưa cha mẹ vào con đường giác ngộ. Chẳng lẽ tôi làm mẹ tôi vĩnh viễn sa xuống địa ngục bằng cách buông theo tình cảm mẹ con trong chốc lát? (4)

Đây không phải chỉ là chi tiết. Đạo Nguyên cực kỳ nghiêm minh trong kỷ luật. Từng sự việc cụ thể trong ngày, dù nhỏ đến bao nhiêu, cũng phải làm cho đúng: từ súc miệng, rửa mặt, gội đầu. Ông than phiền về mấy ông sư bên Tàu, không chịu súc miệng, xỉa răng, miệng nói có mùi. Ông viết cả một chương trong sách để nói về rửa mặt. Từng chi tiết đó, ông dạy cho đệ tử với tất cả nghệ thuật, như một đạo diễn tài ba dạy cho diễn viên từng cử động nhỏ của bàn tay. Nói gì việc ngồi thiền! Ông dạy rất kỹ về kỹ thuật ngồi, gian phòng phải như thế nào, ăn uống làm sao, áo quần làm sao, tai phải ngang vai thế nào, mũi phải ngang rốn làm sao... Đâu phải chi tiết! Đâu phải tự nhiên mà thiền được tầng lớp võ sĩ hưởng ứng! Đâu phải tình cờ mà thiền đi vào văn hóa của Nhật! Cho đến ngày nay tiếng nói của Đạo Nguyên vẫn còn thét lên bên tai các thiền sinh ở Mỹ, ở Tây phương: "Ngồi! Ngồi! Just sit!"

Nhưng có thật just sit là đủ để giác ngộ? Nếu chắc chắn Đạo Nguyên nói không sai thì cũng chắc chắn Đạo Nguyên không phải là người chỉ biết ngồi. Ông là triết gia hàng đầu của Nhật, sách ông viết vẫn còn là chữ nghĩa gối đầu giường ở Âu Mỹ, ông thuộc làu kinh kệ, thơ của ông thơm tho trong sử thiền của thế giới, vậy nếu ông bảo vất hết chữ nghĩa thì ai dám làm theo một cách máy móc? Sử thiền ngày nay trách ông đã quá cực đoan, tự cho mình là Phật giáo chính thống, còn tất cả đều trật hướng, kể cả thiền Lâm Tế, nói gì Tịnh Độ. Ông dám chỉ trích, dù chỉ là gián tiếp, cả Lục Tổ Huệ Năng, cho rằng kinh Pháp bảo đàn không phải là của ngài.

Nhưng thế đấy, sử sách xem Đạo Nguyên như đích thực là người khai sáng thiền tông ở Nhật, và phái Tào Động mà ông là Tổ ở Nhật vẫn còn giữ được tính thống nhất cho đến ngày nay như là nhánh chính của cây thiền ở đất Phù Tang.

Vậy nghĩ gì khi so sánh nhà tư tưởng lớn nhất của Nhật và nhà tư tưởng lớn nhất của Việt Nam, Trần Thái Tông, đồng thời với nhau, đồng thời là những nhà cải cách, đồng thời là những Tổ thiền - nếu ta so sánh thêm với Trần Nhân Tông? Đã đành, không thể so sánh tình trạng của thiền tông ở Nhật với thiền tông ở Việt Nam lúc đó, vì thiền được truyền vào Nhật sau Việt Nam đến 5 thế kỷ, và thiền tông đã phát triển rất mạnh, đã có nhiều thiền sư rất lớn ở Việt Nam suốt đời Lý. Thế nhưng, đứng về mặt chứng ngộ, đứng về mặt uyên bác, đứng về mặt cá nhân, ba vị tổ sư thiền đó có thể so sánh với nhau, và qua đó, thấy rõ sắc thái của nhau, ở Nhật và ở ta.

Cái gì là khác biệt căn bản giữa thiền của Đạo Nguyên và thiền của đời Trần? Một điểm thôi, nhưng đó là tinh túy: thiền của Đạo Nguyên cực đoan, thiền của đời Trần không cực đoan.

Trần Thái Tông: Dung thông

Chữ "cực đoan" ở đâykhông bao hàm một phán đoán tốt xấu; vỏn vẹn chỉ là một nhận xét. Nếu ta đọc lại cuộc đời của các thiền sư đời Lý, hầu như ai cũng lấy nhập định làm cách tu hành, nhập định cả ngày cả đêm, không thua gì Đạo Nguyên, có vị ngồi suốt ba ngày mới xuất định, nhưng chẳng ai chủ trương just sit. Đến Trần Thái Tông thì tinh thần dung thông, tránh cực đoan, nổi bật như trăng sáng giữa trời. Mở Khóa Hư Lục, thấy gì đầu tiên? Năm giới. Gì nữa? Niệm Phật. Gì nữa? Sám hối. Dâng hương. Gì nữa? Giảng kinh. Ngồi thiền không loại bỏ niệm Phật, học kinh, và gì nữa? Nhận ra Di Đà! "Nên biết mạng người khó thường, chớ để thời này qua rỗng. Nhìn thấy Tịnh Độ trước mắt, nhận ra trong tâm Di Đà".

Đường lối tu thiền đời Trần, bắt đầu từ Trần Thái Tông, là như thế: thiền, giáo, tịnh, không loại bỏ ai. Thú thật, tôi tụng kinh Di Đà nhiều lần mà chỉ hiểu được tướng lưỡi dài rộng của Phật sau khi đọc Khóa Hư Lục. Trong mười hai nguyện đọc khi dâng hương đầu hôm, nguyện thứ chín là "chín nguyện lưỡi dài cùng Phật phủ". Tại sao lưỡi Phật lại dài rộng phủ cả mặt? Là vì trong ba đời, Phật chưa hề nói dối! Khuyên chúng ta đừng nói dối, Trần Thái Tông trích kinh Di Đà! Hèn gì lưỡi tôi ngắn ngủn!

Mà Trần Thái Tông cũng không loại bỏ Khổng với Lão. Khổng Tử, Lão Tử xuất hiện nhiều lần trong Khóa Hư Lục, với tất cả thành kính của Vua. "Sách Nho dạy: "Thi ân bố đức". Kinh Đạo dạy: "Ái vật háo sanh". Ấy là Vua trích Khổng Lão để dạy giới cấm sát sanh trong đạo Phật. Vua còn khen Tử Cơ, Nhan Hồi ngồi yên cả ngày "thân như cây khô", "tay chân rời rã": Tử Cơ tu tiên, Nhan Hồi là học trò cưng của Khổng. Dung thông thiền, giáo, tịnh, Trần Thái Tông còn dung thông cả Khổng với Lão, không cực đoan với ai. Sách vở đã nói nhiều về điểm này, tôi không cần phải nói thêm. Chỉ xin đặt một câu hỏi: như vậy phải chăng thiền của Trần Thái Tông là một thứ cháo hổ lốn? Một tả pí lù?

Đâu phải! Đặt câu hỏi một cách vô lễ như vậy cốt để biết rằng thiền của đời Trần cao vòi vọi mà lại đặc biệt Việt Nam. Trần Thái Tông dung thông tất cả dưới ánh sáng của thiền. Tu Tịnh Độ? Rất hay, nhưng phải tu thế nào cho đúng nghĩa, đúng phép. Niệm Di Đà? Rất hay, nhưng ý nghĩa của niệm Di Đà là gì. Niệm Phật? Rất hay, nhưng Phật ở đâu? Dưới ánh sáng của thiền, Trần Thái Tông cắt nghĩa: Phật ở trong tâm, "phản chiếu hồi quang", xoay ánh sáng trở về chiếu soi lại mình, thấy tánh giác của mình nơi mình là thấy Phật.

Tôi khó lòng không trở lại với Đạo Nguyên để so sánh. Trước khi đi qua Trung Hoa để học thiền, Đạo Nguyên đã đọc rất nhiều kinh sách, và câu hỏi mà ông cho là căn bản, khiến ông trăn trở hoài không yên là một câu hỏi triết lý: "Kinh sách nói ai cũng có Phật tánh, vậy tại sao chư Phật còn phải tu hành gian khổ để tìm giác ngộ?". Nếu Phật tánh đã có, tại sao phải tìm? Còn nếu Phật tánh phải tu mới thấy, tại sao nói chỗ nào cũng có tánh Phật? Đạo Nguyên lang thang từ ông thầy này đến ông thầy khác cũng để trả lời câu hỏi đó. Nhưng câu hỏi ấy có khác gì câu của ông tăng hỏi Trần Thái Tông trong Khóa Hư Lục :

Người người vốn tự người ngưòi đủ
Mỗi mỗi xưa nay mỗi mỗi tròn.
Vì sao Thế Tôn vào núi tu hành?
Vua đáp:
Kiếm vì bất bình mở hộp báu
Thuốc do trị bệnh ra khỏi bình.

Tánh giác ai cũng đủ, ai cũng đầy, vào núi tu hành chi nữa? Câu trả lời của Trần Thái Tông đúng là câu trả lời của ông vua thắng giặc Nguyên. Trong hộp lúc nào cũng nằm sẵn thanh kiếm báu, nhưng vì bất bình, vì để cứu dân, trừ loạn, nên kiếm phải ra khỏi hộp. Thuốc hay vẫn nằm sẵn trong bình vàng, nhưng vì để trị bệnh nên thuốc phải ra. Vì lợi ích của chúng sinh, vì bệnh của chúng sinh, Thế Tôn phải đi tu.

Nhưng tu có phải để đi tìm tánh giác không? Cũng không! Đạo Nguyên dạy: cứ ngồi, đừng làm gì cả, đừng tìm gì, tìm là hỏng, vướng vào cái chuyện tìm, dính mắc chuyện chứng đắc là tâm dính bụi, là kẹt. Trần Thái Tông cũng dạy như vậy, bằng thơ:
Nước chảy xuống non đâu có ý
Mây bay qua núi vốn không tâm.

Cả hai cùng tu một pháp, cùng vào một cửa, cùng ngộ như nhau, nhưng khi truyền đạt, giáo huấn, dạy dỗ, áp dụng, một bên thì cực đoan, một bên thì diệu dụng. Tại sao? Tại vì một bên chỉ là ông thiền sư, bên kia ông thiền sư còn là ông vua! Ông thiền sư chỉ có vài trăm đệ tử, ông vua có cả một nước! Cả triệu dân! Trị nước mà cực đoan thì hỏng. Huống hồ trị một nước nhỏ phải đối phó với xâm lăng như mối họa truyền kiếp. Đố ai tìm được một mưu chước nào khác để giữ nước ngoài quốc sách đoàn kết toàn dân.

Và như vậy, tôi đã bước qua câu hỏi thứ hai: phải chăng dòng thiền Yên Tử đã giúp Việt Nam đánh bại xâm lăng?

Thiền đời Trần và chiến thắng xâm lăng

1. Đoàn kết quốc gia. Thử ngẫm mà xem: có đoàn kết nào bền chặt hơn đoàn kết tư tưởng? Rồi ngẫm mà xem đời Trần: vua Phật tử, vua thiền sư, vua tư tưởng gia, vậy mà Trần Thái Tông sùng kính Khổng Lão trong chính tư tưởng, chứ không phải chỉ dùng Khổng Mạnh như một dụng cụ chính trị. Khóa Hư Lục tôn trọng đến thế này: nếu liễu ngộ thì tam giáo đều giống nhau, bởi vì chỉ cần xoay lại ánh sáng rọi vào mình thì tánh giác ở ai cũng giống nhau. "Người chưa rõ dối chia tam giáo, liễu được rồi đồng ngộ nhất tâm. Nếu hay phản chiếu hồi quan, đều được kiến tánh thành Phật".

Hòa thượng Thanh Từ giảng giải: "Dầu người tu theo Khổng giáo cũng có Phật, người tu theo Lão giáo cũng có Phật, và chúng ta tu theo Phật cũng có Phật. Ai cũng có Phật thì đều giống nhau. Không thể ông Phật này khác ông Phật kia được" (5). Thưa Hòa thượng, không phải ở đâu cũng được thế đâu. Trên thế giới hiện nay, ông thượng đế của tôi không phải là ông thượng đế của anh và chiến tranh hiện nay là chiến tranh giữa các ông thượng đế.

Đời Trần để lại một gia bảo vô song cho văn hóa Việt Nam: "lấy thiền tông làm chỗ tựa để dung hợp Khổng Lão vào một nhà", như Hòa thượng Thanh Từ đã viết.Triết lý đoàn kết, nhưng không phải là triết lý ba phải. Từ lâu, ai cũng nói: tam giáo đồng nguyên là nền tảng của văn hóa Việt Nam. Đúng. Nhưng đừng quên: tam giáo đồng nguyên ở thời Lê không phải như vậy. Thời Lê đã để mất cái đặc sắc nhất của tinh hoa Việt Nam, nét độc đáo nhất, độc lập nhất của tư tưởng Việt Nam: lấy thiền tông làm chỗ tựa để dung hợp. Bất cứ dung hợp nào cũng phải có chỗ tựa, và nếu chỗ tựa đó là vay mượn thì văn hóa đó cũng chỉ là vay mượn mà thôi.

Thiền đời Trần là nét văn hóa độc đáo Việt Nam chính là vì vậy: vì dung hợp mà có chỗ tựa. Thiền của Đạo Nguyên, của Nhật Bản, không như vậy. Thiền đời Trần là thiền Việt Nam, tư tưởng của Việt Nam. Việt Nam cần đoàn kết để chống xâm lăng trước mắt; ông vua là tư tưởng gia; dung hợp là quốc sách; thực tế ấy đi vào tư tưởng thiền của ông vua; thiền ấy kết tinh thực tiễn Việt Nam; ấy là thiền Việt Nam, đặc biệt Việt Nam.

Đoàn kết tư tưởng lại còn được thực hiện trong chính tư tưởng Phật giáo, giữa thiền và tịnh. Từ trong bản chất, thiền đòi hỏi một khả năng trí tuệ mà không phải ai cũng có, trong khi đại đa số quần chúng đến với Phật giáo nhiều hơn vì lòng tin, nhất là tin ở họa phúc và ở vãng sanh tịnh độ. Là thiền sư, Trần Thái Tông trọng thiền. Nhưng là ông vua, ông thừa hiểu lòng dạ của quần chúng. Kết hợp cả hai thiền và tịnh mà không để mất tinh túy của thiền, đó là Phật giáo của mọi giai tầng xã hội, từ bậc thượng trí đến bậc hạ trí mà Thái Tông xem như căn bản. Ông dạy: "Bậc hạ trí thì miệng siêng niệm lời Phật, tâm muốn thấy tướng Phật, thân nguyện sanh về nước Phật".

Rất thực tiễn, ông giải thích: "Như muốn niệm Phật, tức lấy bậc hạ trí làm trước. Tại sao? Vì có chú ý vậy". Có khác gì ngồi thiền? Mà ngồi thiền có khác gì "nhất tâm bất loạn" trong kinh Di Đà? Tu như vậy, đúng như ông quả quyết: không phân biệt xuất gia tại gia, người tăng kẻ tục, nam hay nữ, ai tu cũng được. Phật giáo của quảng đại quần chúng được nâng cấp để kết hợp làm một với Phật giáo của giới ưu tú, uyên bác. Sau này, vua Trần Nhân Tông, sơ tổ của thiền Trúc Lâm, vân du nhiều nơi trong nước để khuyên dân tu trì ngũ giới và làm mười điều thiện. Bởi vì Vua biết: tu thiền không phải ai cũng tu được, khó như "trúc hóa nên rồng" (6) 
.
Ngược lại, trì ngũ giới và hành thập thiện thì toàn dân ai cũng tu được cả, Phật giáo không bị kẹt trong một thế khu biệt chuyên môn nào. Đó là, nói như Hòa thượng Thanh Từ, Phật giáo được quần chúng hóa, thiền tông được quần chúng hóa, ta ở giữa bụi đời mà vẫn "cư trần lạc đạo"(7). Ông thiền sư ở Nhật thấy một mặt; ông vua thiền ở Việt Nam thấy cả hai. Ông thiền sư ở Nhật chỉ thấy trên cao; ông vua thiền Việt Nam thấy cả cao lẫn thấp. Cho nên Phật giáo đời Trần vừa rộng vừa sâu, rộng ở nền móng, sâu ở thượng đỉnh, dưới trên đều cùng một tư tưởng thông suốt.

Muốn biết hệ tư tưởng đó sâu rộng thế nào, thắt chặt đoàn kết đến đâu, chỉ cần đọc mấy câu của nho gia Lê Quát: "Nhà Phật lấy họa phúc để cảm động lòng người sao mà được người tin theo sâu bền như thế! Trên từ vương công, dưới đến dân thường, hễ bố thí vào việc nhà Phật dù đến hết tiền của cũng không sẻn tiếc... Cho nên trong tự kinh thành, ngoài đến châu phủ, cho đến thôn cùng ngõ hẻm, không phải ra lệnh mà tuân theo, không bắt phải thề mà giữ đúng" (8). Đố bất cứ thời nào và bất cứ nước nào, Nhà nước không ra lệnh mà dân vẫn tuân theo, và tự ý tuân theo, cho đến tận thôn cùng ngõ hẻm. Điều lạ lùng ấy, nhấn mạnh bao nhiêu vẫn thấy thần kỳ, đố luật pháp trên thế gian này chỗ nào có. Có sức mạnh nào bền chặt hơn để chống xâm lăng?

2. Lãnh đạo tài ba. Đó là nói về yếu tố thắng lợi thứ nhất: đoàn kết dân tộc. Yếu tố thắng lợi thứ hai là lãnh đạo tài ba. Tôi không nói ở đây tài ba lãnh đạo của các vua Trần về chính trị và quân sự. Tôi chỉ nói về lãnh đạo trong tư tưởng. Bất cứ ở đâu và bất cứ thời nào, không Nhà nước nào cai trị mà không dựa trên một hệ ý thức. Vấn đề là hệ ý thức đó phục vụ ai và có được chấp nhận không. Nho thần Lê Quát đã trả lời câu hỏi này. Còn lại phải xét là: hệ tư tưởng đó đã ảnh hưởng lên thế nào trên tài ba lãnh đạo của các vua Trần của ta.

Về điểm này, tôi lại đem Nhật ra để so sánh. Giống ta, Nhật cũng bị Mông Cổ uy hiếp. Năm 1274, Hốt Tất Liệt huy động chiến thuyền để xâm lăng; may cho Nhật, trời xấu, biển động, chưa đánh, tàu thuyền của Mông Cổ đã bị đắm. Biết là Mông Cổ sẽ không tha, Tướng Quân Tokimune bắt chước cha (Tokyiuri) rèn luyện tính khí của mình và tính khí của tả hữu bằng cách học thiền thực sự.

Trong thời gian đó, nhiều thiền sư Trung Hoa đã qua lánh nạn tại Nhật khi nhà Tống bị Mông chinh phục, và chính Tokimune cũng có một thiền sư như vậy là thầy. Một chi tiết nhỏ cho vui: các ông thiền sư đó không biết nói tiếng Nhật nên phải nhờ thông dịch viên; khi ngồi thiền, thay vì quất thiền trượng vào lưng ông tướng, sư phụ quất nhẹ nhẹ vào lưng... thông dịch viên! Chuyện đáng nói hơn là tầng lớp võ sĩ đặc biệt thích thiền vì hợp với tính kỷ luật, tính thực tiễn, tính đơn giản, phi trí thức, chuộng hành động của họ. Đặc biệt hơn, có lẽ chỉ thấy ở đất Nhật, thiền lại còn đáp ứng được bổn phận trung thành đối với chủ, dù chết cũng không từ. Về phía các ông thiền sư Trung Hoa, vì ngôn ngữ không thông, các ông giản dị hóa thiền để dễ thích hợp hơn nữa với giới võ biền mà đa số kém chữ nghĩa.

Năm 1281, Mông Cổ cất đại quân đánh Nhật, mười vạn binh Nhật đang cầm cự thì một trận thần phong nổi lên đánh đắm cả hạm đội Mông Cổ. Thiền đã đóng góp đến mức nào vào thắng trận, đó là chuyện có thể bàn luận, nhưng không ai có thể chối cãi lòng can đảm của Tokimune và quân đội của ông, phát xuất từ luyện tập kỷ luật sắt đá dưới ảnh hưởng của thiền. Chính ông tướng này tuyên dương thiền bằng cách ra lệnh xây một ngôi chùa ở Kamakura để kỷ niệm thắng trận (9).

Bởi vậy, nói đến thiền ở Nhật là phải nói đến mối liên hệ với giai tầng võ sĩ. Ngôn ngữ thiền đặc biệt hợp với tai họ: "không làm không ăn"; "mỗi ngày đều là ngày tốt"; "đạo là tâm hàng ngày"; sống là dạy"; "đi đứng nằm ngồi đều là đạo" ... tất cả đều thể hiện lý tưởng của họ. Thiền dạy họ nghe tiếng nói trong im lặng, tìm thấy hành động trong bất động, di chuyển trong bất di, khuấy động trong hòa bình, không sợ trước cái chết: tất cả đã tạo thành đạo của họ, võ sĩ đạo. Các tác giả Nhật cho rằng chính mối liên hệ đó đã tạo thành sắc thái đặc biệt của thiền Nhật Bản, khác với thiền Trung Hoa, khác với thiền Ấn Độ (10).

Ta không có giai cấp võ sĩ, nhưng hãy tưởng tượng quân đội thiện chiến đời Trần, luôn luôn tự đặt trong tinh thần sẵn sàng chiến đấu vì bị đe dọa ba lần, mà lần nào cũng đại chiến, lại đặt dưới sự chỉ huy của các tướng lĩnh được luyện tập trong khí thế thiền, chẳng lẽ thiền chỉ có ảnh hưởng trên quân đội Nhật Bản hay sao? Chẳng lẽ quân đội ta không được thừa hưởng về tính kỷ luật? Về lòng can đảm, gan dạ?

Cái gì khiến Trần Hưng Đạo tin chắc ở thắng trận ngay lúc đầu, khi thế giặc đang mạnh như chẻ tre, cái gì khiến ông quả quyết: "Nếu Bệ Hạ muốn hàng, hãy chặt đầu thần trước đã"? Cái gì làm ông quả quyết chắc nịch lần thứ hai, khi quân Nguyên lại chuẩn bị xâm lăng năm 1287: "Năm nay giặc đến dễ đánh"? (11) Ông tin ở gan dạ của quân đội, ông tin ở khí thế của các tướng, ông tin ở ông, và trên hết, ông tin ở tài lãnh đạo. Tài của ông và tài của Vua. Bởi vì vua này là vua thiền. Các tác giả Nhật cho rằng trong thiền ngấm ngầm một sức mạnh vô song do sự tin tưởng rằng con người có đủ khả năng để tự mình thấy được tánh giác. Nơi người lãnh đạo, sức mạnh đó đem lại bình tỉnh, ung dung, khi chỉ huy ở giữa gian nguy vẫn bình yên, sáng suốt.

Hãy đọc lại sử sách để xem Trần Nhân Tông ung dung như thế nào giữa trận mạc, có khi bị giặc đuổi trên sông nước, vẫn bình yên lấy gươm khắc thơ lạc quan vào mạn thuyền. Vua như thế, tướng như thế, làm sao quân không như thế? Lấy một chọi mười là chuyện thường nghe trong chiến trận ngày xưa và cả ngày nay.

Hơn ai hết, ông vua thiền của chúng ta đã đưa vào trận mạc, vào chính sự, vào đời sống, vào hành động, tính không khiếp sợ của triết lý có/không trong Bát Nhã, kinh ruột của thiền tông. "Bồ tát nương trí tuệ bát nhã nên tâm không ngăn ngại; vì tâm không ngăn ngại nên không sợ hãi..." Có gì mà sợ hãi khi đã thâm nhập triết lý có/không, vượt lên trên cả không lẫn có?

Câu có câu không
Đau đáu lo sợ
Cắt đứt sắn bìm
Đó đây vui thích (12)

Trong hành động, vượt lên trên có/không còn bao hàm một ý nghĩa tích cực cùng tột:

Có thì có tự mảy may
Không thì cả thế gian này cũng không

Cho nên khi Nhân Tông nói "không" thì ngài lên Yên Tử. Mà khi ngài nói "có" thì đích thân ngài lãnh đạo chống xâm lăng.

Mà đã nói "có" thì tam thiên đại thiên thế giới đều nằm gọn trên một mũi kim, như thiền tông nói. Vua, tướng, quân, dân cùng nói "có" với nhau trong tiếng "có" phi thường của người lãnh đạo, có đoàn kết nào vững hơn, có lãnh đạo nào chắc hơn? Nhân Tông không cần cho xây chùa như Tokimune để kỷ niệm chiến thắng. Bởi vì, đơn giản quá:

Bụt ở trong nhà
Chẳng phải tìm xa

Bụt ở nơi ngài. Lịch sử gọi ngài là vua Phật, là Phật Hoàng. Vua Phật lãnh đạo cuộc chiến chống xâm lăng, làm sao tách rời đâu là vua, đâu là Phật trong mỗi hành động của ngài? Ở Nhật có tinh thần samourai trong cuộc chiến, nhưng ở Việt Nam có cả một ông vua Phật và cả một hàng ngũ tướng lĩnh thấm nhuần thiền: cứ đem so sánh, ảnh hưởng của thiền ai nhiều hơn ai trong chiến thắng?

Cho nên, Phật giáo Việt Nam ở đời Trần là một hiện tượng kỳ lạ, độc đáo: không ở đâu khác, một ông vua vừa là tướng cầm quân, vừa là thiền tổ. Nơi ông vua ấy, kết tinh một tư tưởng, vừa là cơ sở lý thuyết, vừa là nền tảng giáo dục, lại vừa là thực tiễn hành động. Đó là một đạo Phật đặc biệt Việt Nam.

°°°

Tôi đã trả lời hai câu hỏi nêu lên ở đầu bài này. Trả lời của tôi chỉ xác nhận lại những gì mà các vị trước đã viết, chỉ khác ở chỗ tôi nhìn vấn đề dưới một góc cạnh khác. Bây giờ, trước khi kết thúc, tôi phải trả lời một chất vấn mà chắc có người sẽ đặt ra, cũng dưới khía cạnh so sánh: nếu nói thiền đời Trần dung hợp Khổng, Lão và Tịnh Độ, thì thiền ở Nhật sau Đạo Nguyên cũng vậy, có khác gì nhau?

Quả thật vậy, sau Đạo Nguyên, thiền ở Nhật bắt buộc phải kết hợp với tịnh và đó cũng là đề tài lớn của các vị thiền sư lớn. Người kết hợp giỏi nhất để thích ứng hài hòa nhất với thời đại mới của thế kỷ 18 là Bạch Ẩn Tuệ Hạc (Hakuin, 1685-1769). Thế nhưng, nhiều diễn tiến đã xảy ra khiến thiền ở Nhật đặc biệt ở điểm khác, không phải chỉ ở mối tương giao giữa thiền và tịnh.

Trước hết, ở Nhật không phải chỉ có hai tông thiền và tịnh, mà còn xuất hiện rất sớm, ngay từ thế kỷ 13, một tông thứ ba, phát triển không kém, là Nhật Liên tông mà ở ta không có. Chưa kể thần đạo, vẫn được xem như tôn giáo của dân Nhật.

Thứ hai, cũng rất sớm, thiền ở Nhật mất dần chất tôn giáo để phát triển thành chất văn hóa đi sâu vào đời sống của người Nhật. Chỉ sinh sau khi Đạo Nguyên mất 23 năm, thiền sư Muso (1275-1351) đã đưa thiền vào nghệ thuật vườn. Từ đó, thiền đầu thai vào kiếm đạo, cung đạo, trà đạo, hoa đạo, võ thuật đạo, thư pháp, thâm nhập vào tận nhà ốc, khuê phòng, vào mọi chi tiết của nghệ thuật, tạo thành một văn hóa đặc biệt, có bản sắc riêng mà thế giới đều biết. Ta thán phục bản sắc đó, nhưng chắc có lẽ cũng nên để ý một nhận xét của chính Muso - một nhận xét từ nội bộ: các sư đã trở thành "những cư sĩ xuống tóc", nhập cửa thiền để vẽ và để làm thơ! (13)

Còn thiền của ta thì sao? Thiền ở Nhật phát triển thành văn hóa thiền, còn ở ta đâu rồi cái chất trí tuệ vạm vỡ của dòng thiền Yên Tử? Trong tình trạng Phật giáo phát triển bề rộng mà thiếu chiều sâu hiện nay, những cố gắng để làm sống lại tinh túy Yên Tử của Hòa thượng Thanh Từ phải được mọi Phật tử xem như cố gắng của chính mình. Và không phải chỉ riêng Phật tử! Bất cứ người Việt Nm nào hãnh diện về lịch sử của nước mình đều muốn nước mình có một triều đại rực rỡ như thế, nhất là trong tình trạng xâm lấn hiện nay. Triều đại rực rỡ đó đã được xây dựng trên một văn hóa rực rỡ. Rực rỡ và độc lập.



_____________________

• Cao Huy Thuần
Nguồn: tuanvietnam.net

Chú thích:
1. Masumi Shibata, Les maîtres du Zen au Japon, Robert Laffont, 1974, tr. 41.
2. Như trên, tr. 47.
3. Thomas Hoover, L'Expérience Zen, Albin Michel, 1989, tr. 228.
4. Shibata, tr. 64-65.
5. Thích Thanh Từ, Khóa Hư Lục giảng giải, NXB Tổng Hợp, TPHCM, 2008, tr. 249.
6. Trong "Đắc thú lâm tuyền thành đạo". Xem Lê Mạnh Thát, Toàn Tập Trần Nhân Tông, NWB Thành Phố HCM, 2000, tr. 260-261.
7. Thích Thanh Từ, trong Thiền học đời Trần (nhiều tác giả), NXB Tôn Giáo,2003, tr. 56.
8. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, tập 2, NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1985, tr. 161.
9. Thomas Hoover, sđd, tr.239.
10. Junjiro Takakusu, Buddhism as philosophy of "thusness", Philosophy-East and West (ed. by Charles A. Moore), Freeport, New York, 1970, tr. 106.
11. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, tr. 59.
12. Thích Thanh Từ, Tam tổ Trúc Lâm, NXB Tổng Hợp TPHCM, 2008, tr. 114.
13. Thomas Hoover, sđd., tr. 241.

Ý NGHĨA TÙY DUYÊN

 

Hôm nay chúng tôi sẽ nói chuyện với quí Phật tử về đề tài "Ý nghĩa tùy duyên". Ý nghĩa này rất sâu xa không phải tầm thường, và lâu nay nó cũng đã bị lạm dụng nhiều.

 

Về ý nghĩa tùy duyên, thì đây là một chỗ sống, không phải là chỗ lý luận hay chỗ bắt chước, bởi vì khi chúng ta bắt chước thì nó không còn là tùy duyên nữa, bởi khi bắt chước là nó có cái khuôn rồi. Cho nên ý nghĩa này rất quan trọng mà lâu nay nhiều người lại hiểu lầm rồi cũng dễ lạm dụng nó nữa.

 

Như vậy muốn tùy duyên thì thế nào là biết tùy duyên cho đúng ý nghĩa ?

 

1- Thứ nhất là phải thấy đúng lý mới tùy duyên được, còn chưa thấy đúng lý mà nói tùy duyên thì chỉ là lạm dụng, là hiểu lầm vậy thôi. Nghe nói tùy duyên, rồi mặc tình buông thả theo duyên thì tùy duyên kiểu đó là chạy theo cảnh chớ không phải tùy duyên, đó là bị duyên nó cuốn, nó lôi đi. Tùy duyên theo kiểu đó gọi là "tùy duyên tiêu sự nghiệp", tiêu tan sự nghiệp hết, rất nguy hiểm !

 

Cho nên muốn sống, muốn thấy được đúng ý nghĩa tùy duyên thì phải thấy đúng lý. Trong cái thấy đúng lý này, thứ nhất là cần rõ lý Tánh không của Bát-nhã.

 

Tánh không là sao? Bát-nhã dạy tất cả các pháp trên đời này "không có một pháp gì là thật cố định", nghĩa là từ bản thân của mình cho đến sự vật bên ngoài đều là duyên khởi. Duyên khởi tạm có cho nên gọi là Tánh không, là không có tánh cố định, không có Thể thật của nó. Chính vì Tánh không mới tùy duyên mà hiện khởi tất cả được, chớ nó cố định thì đâu còn tùy duyên. Ví dụ cố định là một khối cứng thì đâu thể tùy duyên mà biến thành các vật khác được.

 

Cũng giống như cái gương, nó không có một hình gì trong đó, cho nên nó có thể hiện đủ tất cả mọi hình bóng, nếu nó có một cái hình gì cố định bên trong, thí dụ hình tròn, thì nó không thể hiện được hình vuông, mà vuông tròn đẹp xấu gì cũng hiện được hết, là vì nó không có một cái gì trong đó, không cố định là cái gì.

 

Hoặc như hư không, hư không không phải là cái gì hết, cho nên nó cũng hiện được đủ mọi thứ.

 

Rồi gần nhất là cái gì? - Tâm của mình. Tâm mình không là một cái gì hết, cho nên nó mới nghĩ được đủ tất cả, nếu nó cố định là một cái gì rồi, chắc chắn nó không thể nghĩ tất cả được. Mà nó nghĩ đủ hết, cái gì nó cũng nghĩ tới, kể cả những cái gọi là không có, nó cũng nghĩ ra được nữa bởi vì nó không có gì hết.

 

Qua điểm nữa là, ngay thân mình là thân năm uẩn thì Tâm kinh Bát-nhã nói “ngũ uẩn giai không”, năm uẩn đều Tánh không, không thật, cho nên nó mới tùy duyên hiện được lớn được nhỏ, được tốt được xấu, mập ốm vui buồn, trời người nó cũng hiện được đủ hết, chính vì nó Tánh không, không cố định là gì. Nếu nó cố định, thí dụ năm uẩn này cố định là người rồi, tức nhiên nó không thể hiện thành trời được, cũng như nó cố định là mập rồi thì không thể hiện ốm được. Do nó không cố định gì, nên nó hiện được tất cả. Bởi vậy Bồ-tát Quán Thế Âm có ba mươi hai Ứng thân, có khi hiện nam hiện nữ, rồi hiện Tỳ-kheo, hiện Tỳ-kheo ni, hiện vua hiện quan, hiện đủ hết, làm sao hiện được như vậy ?

 

Do đó xét cho kỹ, rõ ràng không có một cái gì cố định, vậy thì mình bám chặt một chỗ, một cái làm gì để chịu khổ ? Như vậy cho thấy, hiểu được tùy duyên thì phải thấy lý Tánh không. Rõ được Tánh không của các pháp rồi thì tùy duyên, lúc đó luôn luôn có ánh sáng Bát-nhã đi theo, nên tùy duyên mà không có lầm lẫn. Còn nhắm mắt tùy duyên là đi xuống hố, mình phải thấy rõ cái ý nghĩa đó, thí dụ như người mù nhắm mắt đi bừa là phải lọt hố thôi.

 

Nhớ lại câu chuyện của ngài Tăng Triệu khi bị án tử hình, Ngài xin phép hoãn lại bảy bữa để viết cho xong bộ Luận Bảo Tạng rồi Ngài sẽ chết. Thử hỏi tới lúc đó còn tâm hồn gì ngồi để mà viết luận! Nhưng mà Ngài thấy chuyện đó như là chuyện chơi thôi, và đến trước khi chết Ngài còn đọc bài kệ :

 

Ngũ ấm nguyên phi hữu

Tứ đại bản lai không

Tương đầu lâm bạch nhẫn

Nhất tự trảm xuân phong.

 

Tức là:

 

Năm ấm nguyên chẳng có

Bốn đại xưa nay không

Đem đầu đến dao bén

Giống hệt chém gió xuân.

 

Có ai bị chém bị chết trong đó đâu? Cho nên Ngài thản nhiên coi như không có chuyện gì. Nếu mình thì lúc đó rụng rời tay chân, còn tâm hồn đâu mà ngồi viết sách, huống nữa là tới khi sắp chết còn nói kệ nữa! Như vậy đó mới thật sự là biết tùy duyên. Và tùy duyên kiểu đó dễ bắt chước không ?

 

Bởi vì Ngài thấy rõ năm uẩn bốn đại đều là không, đều là vô ngã hết, không có cái ta thật, thì trong đó cái gì chết, cái gì bị chém? Không thấy có cái gì bị chém thì đâu có gì mà khổ ? Còn mình vì thấy có “cái ta” bị chém bị chết, cho nên mới có khổ.

 

Do Ngài thấy rõ không có gì thật hết, bởi vậy hễ còn duyên thì làm Phật sự tiếp, hết duyên thì thôi ra đi, chớ không cố ghì lại một chỗ để chịu khổ. Còn mình vì thấy có cái ta trong đó cho nên cố ghì lại để sống, ghì không được thì phải kiếm cái ta mới ráp vào, chính cái ta mới đó lại đi trong sanh tử. Hiểu như vậy, thấy được cái lý như vậy thì mới khéo biết tùy duyên. Đó là điểm thứ nhất là phải thấy rõ được Tánh không.

 

2- Thứ hai, tiến bước nữa là nhận ra Bản tánh chân thật của mình, nghĩa là thấy được, nhận rõ được Bản tánh chân thật luôn luôn hiện hữu nơi mình, cho nên mình tùy duyên là để chi? - Tùy duyên là để sống trở về Bản tánh chân thật đó chớ không sanh những niệm, những tâm hoặc lấy hoặc bỏ, chỉ thuận với tánh để sống, làm sao không để mất nó, đó là chỗ sống của mình rồi.

 

Như bài kệ của vua Trần Nhân Tông, nhiều người nghe quen quá thành ra xem thường:

 

Ở đời vui đạo hãy tùy duyên

Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền

Trong nhà có báu thôi tìm kiếm

Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền.

 

Nghĩa là sao ? Nghĩa là ở đây nhận ra Bản tánh chân thật của mình hay của báu sẵn có trong mình rồi, thì khỏi cần phải chạy, phải tìm kiếm đeo đuổi cái gì bên ngoài nữa, nghĩa là không để cho cảnh nó lôi mình, nó làm mất mình. Như vậy mình sống ngay trong lòng đời này, ở giữa thế gian này mà vẫn vui với đạo, đó là biết tùy duyên, mà tùy duyên như vậy là để làm chi? - Là để sống với Bản tánh của mình, sống trở về với Bản tánh chân thật, ngoài ra không có gì quan trọng. Đó gọi là tùy duyên sống với Bản tánh, tiêu nghiệp cũ mà không tạo thêm nghiệp mới.

 

Như vậy tùy duyên mà thường sáng tỏ không có mê, không có mờ, tùy duyên mà không đặt thành một “cái ta” trong đó. Đó là điều quan trọng, còn tùy duyên mà có cái ta trong đó thì không phải tùy duyên. Cũng như ở đây “đói đến thì ăn, mệt ngủ liền” nhưng nếu còn có cái ý niệm là đói nên ăn hay không nên ăn thì sao? - Đó là chen cái ta vào trong đó, tức là cái gì nên ăn hay không nên ăn ? Đó là hết tùy duyên. Cho nên tùy duyên ở đây là thuận theo Tự tánh để sống trên đời, để cho nó luôn luôn được hiện hữu khắp nơi, đó mới là tùy duyên chân thật.

 

Ngài Sùng Tín sau khi ngộ đạo, Ngài hỏi vị thầy là Thiền sư Đạo Ngộ: “Làm sao để bảo nhậm ( giữ gìn ) ?” Ngài Đạo Ngộ bảo rằng: “Mặc tánh tiêu dao, tùy duyên phóng khoáng, chỉ hết phàm tình, không thánh giải khác.” Nghĩa là mặc tình thuận theo cái tánh đó mà tiêu dao tự tại, tùy duyên phóng khoáng thôi, chỉ cốt làm sao hết được cái tình phàm này, tình mê này chớ không có thêm một cái kiến giải thánh gì khác, không thấy có chứng có đắc gì khác nữa, đó là tùy duyên. Tùy duyên như vậy làm sao bắt chước đây ?

 

Chỗ này là phải sống, biết rõ mình có cái chân thật rồi thì sống tùy duyên, duyên đến thì tiếp, duyên qua thì thôi, không có cố chấp, không có mong cầu thêm nữa. Đó là vì có được chỗ sống vững vàng trong này rồi, nên mới tùy duyên được như vậy, mới tiêu được những nghiệp cũ và nghiệp mới không tạo thêm.

 

Thiền sư Thiên Y Nghĩa Hoài có bài kệ:

 

Nhạn quá trường không

Ảnh trầm hàn thủy

Nhạn vô di tích chi ý

Thủy vô lưu ảnh chi tâm.

 

Giống như con nhạn bay trên không, nhạn bay qua thì bóng hiện dưới nước, nhạn không có ý lưu dấu vết lại dưới nước. Và bay qua rồi thì bóng mất, nước cũng không có tâm giữ bóng con nhạn lại. Đó là tùy duyên, nhạn bay qua là duyên đến thì bóng nó hiện trong nước, duyên qua rồi thì nước không lưu bóng lại. Còn mình thì sao? Có khi duyên chưa đến mà kêu nó đến! Rồi duyên qua thì giữ lại không cho nó qua! Chính vì vậy cho nên khổ. Ngay trong lúc ngồi thiền cũng còn muốn giữ lại nữa. Ngồi thiền nhớ lại, giữ lại, lưu lại trong này, đó là không biết tùy duyên, còn biết tùy duyên thì tâm lúc nào cũng trong sáng, đâu có cái gì lưu lại trong đó thì có gì mà ngăn ngại ?

 

Có vị Tăng hỏi ngài Triệu Châu:

 

- Thế nào là cầu đá Triệu Châu?

 

Ngài đáp:

 

- Độ lừa độ ngựa.

 

Ở gần chỗ ngài Triệu Châu Tùng Thẩm có cái cầu đá do ông Lý Ưng làm, cầu đá cũng nổi tiếng, cho nên nghe nói tới cầu đá Triệu Châu là ai cũng biết. Nhưng ở đây ông Tăng hỏi “thế nào là cầu đá Triệu Châu” ý lại khác. Ngài đáp : "Độ lừa độ ngựa", độ tức là đưa, đưa lừa đưa ngựa qua hết. Như vậy quí vị hiểu sao là “cầu đá Triệu Châu”? thấy được “cầu đá Triệu Châu” chưa ?

 

Thường nghe hỏi cầu đá, người ta tưởng ngay cái cầu bằng đá. Nhưng ở đây, ý ông Tăng này chuyện đó ai cũng biết rồi, ông cũng ở đó thì ông biết rồi, đâu cần hỏi làm chi nữa. Vậy hỏi cầu đá này là hỏi cái gì? - Đó là chỉ cho cái lý thật. Cho nên ngài Triệu Châu đáp “độ lừa độ ngựa”. Lừa ngựa gì cũng độ hết, đều cho đi qua hết. Lừa là loài vật, ngựa cũng là loài vật mà cái cầu đá độ hết, cho đạp đi qua hết, nhưng cầu đá không phải là lừa, không phải là ngựa, không đồng hóa nó với lừa với ngựa, đó là tùy duyên.

 

Còn mình thì sao ? Độ thì phải độ làm sao? - Phải độ những hạng thượng căn, hạng Bồ-tát chớ lừa ngựa đâu để cho đi qua. Mà không để cho đi qua tức là còn cái ngã trong này, bị cái ngã nó che. Cho nên ở đây muốn thấy lý thật thì phải như vậy, độ lừa độ ngựa, cái gì cũng là tùy duyên hết, cái gì cũng cho đi qua nhưng nó không là cái gì, không đồng hóa với cái gì .

 

Không đòi hỏi theo một cái ngã, không sanh những niệm sanh diệt hay lấy bỏ gì hết, đó là tùy duyên. Còn mình thì phải lựa, độ thì cũng phải lựa, người đó mình thương mình mới độ, còn không thương thì đâu có độ, đó là còn mắc kẹt. Còn ở đây thì độ hết, chỉ thuận theo duyên để sống trở về với Tự tánh, để làm sao cho Tự tánh của mình luôn luôn có mặt, không có vắng, vẫn luôn luôn sáng ngời trong tất cả mọi duyên, đó là khéo tùy duyên, tùy duyên mà đúng lý không lầm lẫn. Như vậy với nghĩa tùy duyên này mình làm được chừng bao nhiêu? Hiểu được như vậy mới thấy nghĩa tùy duyên rất là sâu.

 

3- Một điểm nữa, tùy duyên thì phải hiểu rõ được thế gian là tương đối, đó là lẽ thật của thế gian (thế đế). Thế gian luôn luôn là tương đối, mọi cái có ra đều nằm trong đối đãi hết. Nhưng thấy ở đây không phải là cái thấy hiểu tầm thường, lâu nay người nghe pháp nhiều quá cũng hiểu rồi, cũng thấy rồi nhưng chưa phải. Tức là phải thấy trong lúc mình tu, thấy rõ bằng chính trí tuệ của mình cái đó mới giúp mình sống được. Chớ hiểu theo kiểu ngồi đây hiểu nhưng ra ngoài quên, ngồi đây thì hiểu thế gian tương đối, cái gì cũng đối đãi nhau mới có, không có gì là thật, nhưng khi ra ngoài đụng chuyện thì cái gì cũng thật hết, cái hiểu đó không phải.

 

Cho nên ở đây phải thấy bằng chính trí tuệ của mình. Xét thấy rõ trên thế gian này đều là tương đối hết, thiện đối với ác, phải đối với quấy mà có, cũng như vui đối với buồn mà có, ngay cả thầy đối với trò mà có, không trò thì đâu có thầy, cũng như mẹ đối với con mà có, không con lấy gì có mẹ. Luôn luôn là đối đãi nhau, không có một cái gì đứng riêng, như vậy tại sao mình phải đòi hỏi một chiều? Có nhiều người còn đòi hỏi hơn nữa, đòi hỏi cái toàn mỹ, cái gì cũng phải cho toàn mỹ, toàn vẹn ! Nhưng sự thật thế gian nói toàn mỹ chỉ là nói chơi, không bao giờ có, chỉ tuởng tượng, không thể có cái toàn mỹ nếu chưa sống được với cái chân thật. Thế gian là tương đối thì làm sao có cái toàn mỹ được !

 

Đức Phật có nói bài kệ:

 

Kẻ hơn thì thêm oán

Người thua ngủ chẳng yên

Hơn thua hai đều xả

Ấy được an ổn ngủ.

 

Nghĩa là có hơn thì có thua, làm sao mà toàn mỹ được? Mà chính có hơn có thua, từ đó có oán có hờn, có khổ, có cái này thì có cái kia. Như vậy thì hơn không hẳn là yên, còn thua cũng không hẳn là xong. Thua còn ấm ức trong lòng cũng khổ, như vậy làm sao mà toàn mỹ được? Thường thường mình thích đòi hỏi cái toàn mỹ, sống với ai mình cũng đòi hỏi người đó phải tốt với mình, lâu lâu thấy không tốt thì bực tức, nhưng thử hỏi chính mình có toàn mỹ chưa ?

 

Thế gian là tương đối, tâm người là vô thường, bữa nay như vậy, nhưng mai mốt vô thường nó đổi đâu còn như vậy nữa. Bởi vậy không có cái toàn mỹ, đòi cái toàn mỹ là mê. Bởi vì xét kỹ thì chính mình còn chưa toàn mỹ, ngay nội tâm của mình, có khi còn tự mình mâu thuẫn với mình nữa nói chi tới bên ngoài. Như vậy làm sao muốn mọi người toàn mỹ được, muốn mọi cái bên ngoài toàn mỹ được!

 

Thí dụ bên ngoài coi giống như vui vẻ nhưng có khi đau khổ trong lòng, ngoài làm bộ vui nhưng trong lòng đau khổ, hoặc có lúc thấy giống như muốn xả hết để tu hành nhưng rồi ít bữa đổi ý tiếc thế gian trở lại. Như vậy lúc muốn xả thì ai muốn xả, rồi lúc tiếc trở lại thì ai tiếc, ai chen vào trong đó? - Cũng là trong tâm mình thôi. Chính mình đã mâu thuẫn với mình rồi, hoặc có lúc bữa nay tính đi nghe pháp nhưng rồi lại tính đi chơi, hoặc ngược lại tính đi chơi rồi đổi ý tính đi nghe pháp. Cũng là mình với mình nhưng tại sao nó có cái đó? Như vậy để thấy rằng ngay nơi mình cũng còn mâu thuẫn, vậy làm sao đòi có cái toàn mỹ trọn vẹn bên ngoài được. Đòi không được thì sao? - Khổ, thật là đơn giản!

 

Bởi vậy, ngay như đức Phật mà mình gọi là bậc toàn giác, bậc có công đức phước trí trang nghiêm, nhưng Phật có bị người chê không? Phật cũng còn có người chê nữa, có người chê Phật là bất hiếu bỏ cha bỏ mẹ đi tu, bỏ vợ bỏ con vô rừng. Có người khen thì cũng có người chê. Rồi kẻ uống rượu say sưa có người khen không? Cũng có người khen, đồng bọn khen nhau.

 

Như vậy cho thấy không có cái gọi là hoàn toàn. Bởi vậy Phật mới dạy trong kinh Pháp Cú: “Xưa, vị lai và nay, đâu có cái sự kiện này: người hoàn toàn bị chê, người trọn vẹn được khen.” Ngài nói rằng trong cả ba thời không bao giờ có sự kiện là có người hoàn toàn được khen cũng như có người hoàn toàn bị chê.

 

Do đó chê khen không thành vấn đề. Cho đến được mất cũng vậy, có được là có mất chớ không bao giờ có cái gọi là nguyên vẹn. Biết rõ ý nghĩa như vậy, hiểu được như vậy, mình khéo chuyển thì sống được an vui, còn cố chấp một bên thì khổ, thí dụ cố chấp là phải được cái đó mà nó không được thì khổ.

 

Như bà Tì-xá-khư (Visàkhà), bà là đại thí chủ trong thời đức Phật, một hôm đi nghe pháp, bà cởi chiếc áo choàng rất quí giá cho đứa tớ gái giữ ở ngoài rồi đi vô nghe pháp. Khi ra về không biết đứa tớ gái làm sao mà nó bỏ quên luôn. Mình gặp như vậy thì sao? - Chắc là chửi mắng, đánh đập đứa tớ đó dữ lắm, bởi đây là chiếc áo choàng rất đắt giá. Nhưng với bà thì bà kêu đứa tớ gái lại nói rằng: “Con trở lại tịnh xá kiếm, nhưng tới đó nhớ hỏi xem nếu có vị Tỳ-kheo nào đụng tay tới cái áo rồi thì con đừng lấy về nữa.” Cô tớ gái đi tới hỏi thăm nghe nói ngài A-nan thấy của ai bỏ quên thì Ngài lấy cất giùm rồi.

 

Cô tớ gái về thưa lại, bà nghe như vậy, liền tới bạch với Phật là xin bán cái áo để cúng dường làm một Phật sự gì cho xứng đáng. Phật bảo làm một cái tăng xá để cho chư Tăng ở, bà rất là hoan hỉ. Nhưng cái áo đắt giá quá không ai mua nổi, bà bèn bỏ tiền mua lại cái áo, rồi lấy tiền đó xây tăng xá cho chư Tăng. Khi xây xong đến ngày cúng dường dâng lên Phật, tác bạch xong, bà kêu đứa tớ gái lại nói rằng: “Hôm nay sở dĩ bà được công đức này là cũng nhờ có con, công đức này bà xin chia hai, cho con nửa, bà nửa.”

 

Ai thấy mình làm nổi chuyện đó không? Cái được cái mất mình chuyển một cái thành ra tốt đẹp mà còn vui vẻ nữa. Mất cái áo không buồn, chuyển lại thành được phước lành rồi vui vẻ nữa, mà vui vẻ cả mấy phần trong đó: chư Tăng có tăng xá ở cũng vui, rồi bà được cúng dường hoan hỉ cũng vui, đứa tớ gái cũng được vui vàø ngay cả mình bây giờ nghe kể lại cũng vui theo. Nếu lúc đó mà giận lên chửi mắng đánh đập thì sao? - Chẳng những không vui mà còn tạo thêm cái khẩu nghiệp khổ nữa, rồi cái thân đánh đập người tạo thêm cái thân nghiệp khổ, vậy là khổ lại càng thêm khổ!

 

Cho thấy chỉ vì bám chấp vào cái được, cái mất mà khổ. Bây giờ biết rõ cái mất không thành vấn đề, cho nên chuyển lại thì được vui. Cho nên khéo sống thì được, không cố chấp một bên, cố chấp là chịu khổ. Chính vì vậy trong cuốn Pháp Hoa Đề Cương của Thiền sư Minh Chánh ở Việt Nam có bài kệ nói về ông Thuần-đà:

 

Hay lắm Thuần-đà,

Hay lắm Thuần-đà !

Thôi nói dở, chớ bàn hay,

Dở hay tốt xấu bận lòng chi.

Người muốn tìm khéo trở thành vụng,

Kẻ toan bắn sẻ sói chực hờ.

Công danh cái thế màn sương sớm,

Phú quí kinh nhân giấc mộng dài.

Chẳng rõ xưa nay không một vật,

Công phu luống uổng một đời ai.

 

Thuần-đà là người cúng bữa cơm cuối cùng cho đức Phật trước khi Phật nhập Niết-bàn. Sau này có người phê phán như vậy là ông tổn phước, vì Phật thọ xong bữa cơm của ông rồi Phật tịch. Phật biết vậy nên Phật mới khen, Phật nói hai người có phước đức lớn nhất là người cúng bữa cơm cho Phật trước khi Phật thành đạo, và người cúng bữa cơm cuối cùng trước khi Phật nhập Niết-bàn. Phật khen vậy để ông không có lòng hối hận.

 

Cho nên ở đây ngài Minh Chánh mới lấy việc đó để nói lên ý nghĩa là thế gian tương đối, mình phải vượt qua ý nghĩa tương đối, đừng mắc kẹt trong cái khen chê. Ông nói: “Hay lắm Thuần-đà, hay lắm Thuần-đà! Thôi nói dở chớ bàn hay, dở hay tốt xấu bận lòng chi.” Cái chuyện hay, chuyện dở là chuyện đối đãi thôi, có người khen thì cũng có người chê, đừng bận lòng chuyện đó. Rồi sao? "Người mà muốn tìm khéo thì trở thành vụng", muốn khéo nhưng thành vụng, bởi vì cái khéo ở kế bên cái vụng, cũng như người đang rình bắn chim sẻ nhưng đâu ngờ dưới này có con chó sói nó chực hờ, vừa rớt xuống nó chụp chạy mất. Bắn được con chim sẻ nhưng được đó rồi mất đó, cái được cái mất kề bên nhau.

 

"Công danh cái thế" tức là công danh trùm cả thế gian đi nữa cũng như màn sương sớm vậy thôi, có đó rồi mất đó. Chỗ này mình sống thấy có kinh nghiệm rõ ràng, người đang có tiếng tăm nhưng bỗng bị một nạn gì đó tiêu hết. Cũng như là "phú quí kinh nhân", phú quí làm giật mình người, cũng như giấc mộng vậy thôi. Giàu sang bao nhiêu nhưng mà gặp cơn nạn cũng trắng tay. Chuyện thực tế nó là như vậy.

 

Căn bản là “chẳng rõ xưa nay không một vật” tức là không rõ được cái lẽ thật "xưa nay không một vật" đó thì "công phu luống uổng một đời ai", nghĩa là phải thấu suốt được cái lẽ thật xưa nay đó, sống được chỗ chân thật đó thì mới không luống uổng công phu một đời của mình; còn nếu không cứ bám vào những cái công phu, những cái được mất, những cái đối đãi nằm trong sanh diệt thì rốt cuộc cũng bị sanh diệt thôi.

 

Thí dụ cũng như ở đây, chán thế gian này đi tu, tu rồi cầu lên cõi trời, có hết khổ không? Cầu lên đó ít bữa hết phước cũng rớt trở lại! Vì đó là công phu sanh diệt, cho nên rồi nó cũng lẩn quẩn trong đó. Cần phải thấu rõ chỗ “xưa nay không một vật” đó, sống được với cái đó thì mới vượt ra ngoài cái đối đãi, còn bám chặt vào trong cái đối đãi thì khổ. Mà sở dĩ bám chặt vào trong này là bởi vì sao? - Là bởi thấy có ta cho nên bám chặt vào cái ta đó, rồi mới có khổ, có tức tối, có chửi rủa than trách này nọ.

 

Hiểu rõ được lẽ thật của thế gian là tương đối, là đối đãi thì mình cởi mở được những tình chấp, là biết sống tùy duyên, tùy duyên như vậy là hết khổ. Hiểu như vậy thì tùy duyên mới thật, còn tùy duyên đụng đâu làm đó thì không phải.

 

4- Rồi một điểm nữa, mình hiểu được lý này rồi thì phải biết linh động không cố chấp. Bởi tùy duyên là linh động, là không cố chấp. Mình khổ là vì cố chấp, mà cố chấp là không biết tùy duyên. Đã hiểu rõ được lẽ thật như trên, không có cái gì gọi là toàn vẹn, không có cái gì là cố định thì cố chấp làm gì? Mình làm sao cho cuộc sống linh động sáng ngời, chớ còn khư khư ôm chấp một chỗ, đó gọi là bệnh.

 

Ở trong nhà Nho có câu chuyện: Ông Lưu Ngưng Chi một hôm đang đi thì bất thần có người lại nhận lầm ông mang đôi giày của họ. Giày của mình đang mang mà họ nói mình mang lầm giày của họ thì phải sử xự sao? Ông nghe vậy liền cởi giày đưa cho họ :“Giày của ông thì thôi ông cứ nhận đi”. Nhưng sau đó người này tìm thấy đôi giày của họ, liền vội vàng đem giày trả lại ông nhưng ông nhất định không nhận : “Anh nhận rồi thôi là của anh, tôi không nhận”.

 

Rồi có một trường hợp giống như vậy, ông Thẩm Lân Sĩ một hôm đang đi cũng có người cũng lại nhận lầm ông đi giày của họ, ông cũng cởi ra đưa cho họ. Nhưng sau đó biết lầm, họ tới trả ông thì ông vui vẻ : “Không phải của anh hả, thôi tôi nhận”.

 

Vậy quí vị muốn bắt chước theo ai ? Ông Tô Thức, tức Tô Đông Pha, có lời bình rằng : “Việc này tuy là việc nhỏ mọn, song ở đời ta nên cư xử như ông Lân Sĩ, không nên như ông Ngưng Chi.” Bởi vì sao? Đôi giày của mình đang mang mà có người đến nhận của họ, mình sẵn sàng cởi cho, cái đó là thật quí rồi. Nhưng người ta biết lầm rồi và người ta đem trả thì phải cảm thông nhận cho họ hối lỗi, chớ bây giờ người ta biết lỗi rồi mà mình không tạo cái duyên cho họ sửa, cứ khư khư ôm giữ cái phải của mình hoài thì sao? E có lúc cũng không được phải. Ở đây người ta biết lỗi rồi, biết lầm rồi, thôi thì cứ nhận có phải tốt không, ổn không? Còn mình cứ khư khư không nhận để cho họ hối hận trong lòng hoài thì đâu có tốt. Khéo biết như vậy đó là hiểu được linh động tùy duyên, còn cái kia là cố chấp. Tuy là tốt nhưng mà cố chấp cái tốt thành ra cũng không được trọn tốt.

 

Đó là nói về bên Nho, còn trong nhà thiền thì có Thiền sư Bạch Ẩn Huệ Hạc, sư rất nổi tiếng, ai nấy đều ca tụng sư là một con người rất trong sạch, rất tốt. Ở gần chùa sư có một gia đình bán thực phẩm, một hôm gia đình này phát hiện cô con gái của họ có thai, gia đình nổi giận đánh mắng hỏi ai là tác giả cái bào thai đó thì cô nói là Bạch Ẩn. Cha cô nghe nói vậy, quá giận tìm tới chùa gặp sư. Ông xổ ra đủ những lời nặng nề nhất trên đời. Sư nghe như vậy chỉ nói :“Thế à!” Vậy thôi.

 

Sau khi đứa bé được sanh ra, gia đình này mang tới chùa giao cho sư thì sư cũng nhận. Sau một thời gian nuôi đứa bé sư bị mất hết tiếng tăm, không còn ai nghĩ tới sư nữa.

 

Một thời gian sau, cô gái cảm thấy bị ray rứt trong lòng chịu không nổi, cô mới thú thật là cha đứa bé không phải là Bạch Ẩn mà là một chàng thanh niên bán cá ngoài chợ. Nghe tới đó cha mẹ cô mới bật ngửa, hoảng sợ lật đật tới chùa để sám hối và xin đứa bé trở lại. Lúc đó Thiền sư Bạch Ẩn cũng chỉ nói :“Thế à!” Vậy thôi, đơn giản.

 

Đó là tùy duyên, mà tùy duyên thế này mới thực sự là tùy duyên, tùy duyên cao tuyệt. Được, mất tiếng tăm không thành vấn đề, nhận việc đó coi như tiếng tăm mất hết rồi, như mình thì buồn biết bao nhiêu nhưng với sư chỉ “thế à!” là xong. Bởi vì sư thấy không có gì quan trọng, người nói oan, người bị lầm thì sư cũng vẫn thản nhiên không buồn lòng gì hết. Khi nhận đứa bé sư không buồn giận, mà trả đứa bé cũng không trách mắng,

 

Tùy duyên theo kiểu này thì ở trong đây ai bắt chước được? Đó là vì sư thấy rõ trên đời này không có gì quan trọng, nhất là không có “cái ta”. Không có cái ta thì lấy cái gì mà được mà mất, có được có mất là bởi vì có cái ta này, “ta được” tiếng tăm, bây giờ “ta mất” tiếng tăm, còn không có cái ta thì cái gì mất? ai mất? Thấy rõ vậy nên đối với sư được mất tiếng tăm không thành vấn đề, nhận đứa bé cũng thản nhiên, trả đứa bé cũng thản nhiên thôi.

 

Trong kinh Viên Giác có câu: “Thân này còn chẳng thật có thì yêu ghét từ đâu sanh?” Cái thân còn chẳng thật có thì cái yêu cái ghét từ đâu mà sanh, bám vào đâu mà có? Sở dĩ mình thấy có yêu có ghét, có được có mất là bởi vì thấy có cái ta này. Nếu cái ta này không thật thì lấy gì được mất, yêu ghét ? Thấy rõ như vậy mới thật sự biết tùy duyên. Tùy duyên này là một điểm rất sâu.

 

5- Một điểm kế nữa, tùy duyên là để phá cái ngã kiến, tức cái kiến chấp ngã. Bởi vì chúng ta luôn luôn thấy có cái ta thật, có vật thật, có người thật, tất cả đều thật, rồi cái thấy, cái nghĩ của ta cũng thật luôn, cho nên mới cố chấp bám vào một chỗ. Với thế gian thì luôn luôn là sao? Ta nói một là một, hai là hai, chớ không thể thay đổi. Mình bảo vệ tối đa cái nghĩ của mình. Chính vì vậy cho nên mới có đấu tranh, mới có chết chóc, bởi vì ta nghĩ như vậy là phải, khác đi là không được. Nhưng cái gì là cái nghĩ của ta? Xét cho kỹ thì cái nghĩ của ta cũng không có gì cố định, mình nghĩ vậy ít bữa rồi cũng đổi ý nghĩ khác, nó không có cố định, không có Thật thể.

 

Cho nên trong kinh Kim Cang, Phật có dạy: “Như Lai nói ngã kiến tức chẳng phải ngã kiến, đó gọi là ngã kiến.” Nghĩa là, nói cái ngã kiến không phải thật có, chỉ do cái lầm chấp của người thôi. Mình nghe nói có cái kiến chấp, có cái chấp ngã thì mình tưởng đâu có cái chấp ngã thật, chớ sự thật Ngài nói đó chỉ là cái mê lầm, cái vọng chấp của mình chớ không có thật. Như cái nghĩ của ta, xét cho kỹ, tìm cho tột cái gì là cái thể cố định cái nghĩ của ta thì tìm không ra, chỉ không ra.

 

Khi xét tột được như vậy tức là mở sáng được con mắt Bát-nhã, thấy được cái lầm như vậy thì hết lầm. Mới thấy cái nghĩ của ta không có gì là cố định thì làm sao mà bám chắc ? Không bám chắc vào một chỗ thì mới có tùy duyên, cho nên nói tùy duyên là phá cái ngã kiến, phá cái chấp chặt một chỗ, chấp chặt là ta nghĩ như thế là phải. Sự thật là không có cái ta nghĩ cố định thật được.

 

Một chuyện đơn giản tầm thường, thí dụ một viên kim cương đối với cái nghĩ của mình là quí, nhưng nếu đem cho đứa bé thì sao? Nó làm viên bi nó bắn chơi. Như vậy cái nghĩ của ai đúng? Tùy theo tâm tưởng của người thôi, mình quen suy nghĩ như vậy rồi mình cho như vậy là đúng chớ sự thật chưa hẳn là đúng với người khác. Mình nghĩ nó quí nhưng với đứa bé nó thấy giống như viên đạn nó bắn chơi thì có gì đâu là quí. Nếu mình thấy nó đem bắn chơi rồi mình chấp vào cái nghĩ của mình là đúng, mình rầy phạt nó thì sao? Là cố chấp, rồi khổ.

 

Hiểu như vậy mới thấy tùy theo tâm tưởng của người mà thành ra có cái nghĩ sai khác chớ không có cố định, là bớt chấp. Ở đây nói bớt chấp thôi, chớ nói hết chấp thì chưa. Bớt chấp thì bớt khổ. Học thiền cởi được những tình chấp của mình ra cho nhẹ bớt.

 

Ở trong Tuyệt Quán Luận có một đoạn, có người đặt câu hỏi: “Con thấy người học đạo phần nhiều họ chẳng chuyên cần giữ giới luật, cũng chẳng chăm lo gìn giữ oai nghi, cũng chẳng giáo hóa chúng sanh mà cứ mặc tình sống thoải mái thì đó là ý gì?” Trong đó đáp: “Nhưng bên trong thực hành không có gián đoạn.” Bên ngoài nhìn giống như thoải mái nhưng bên trong người ta thực hành không có gián đoạn thì đó mới gọi là khéo tùy duyên.

 

Có những trường hợp các ngài làm như vậy để phá cái niệm chấp về sạch, về nhơ. Thí dụ như chấp ta đây tu hành thanh tịnh, ta đây tu hành đàng hoàng. Nhưng có ai nói mình tu hành không thanh tịnh, không đàng hoàng thì sao? Thì tức giận, đó là chấp vào cái thanh tịnh của mình, tới chừng người ta nói không thanh tịnh thì nổi giận. Còn ở đây là phá cái niệm sạch nhơ, ai nói sao thì nói, không thành vấn đề với mình.

 

Nhưng điểm này cũng phải xét ngược lại. Tuy là vậy nhưng không phải dễ bắt chước, bởi vì cũng dễ lầm. Nghe nói làm những chuyện như vậy là sống không chấp vào hình thức rồi mình cũng bắt chước làm như vậy để cho giống như tự tại, nhưng đó là bắt chước chớ không phải sống thật sự. Ở đây cần phải chú ý, điểm quan trọng là tuy bên ngoài như vậy nhưng bên trong thì thực hành không có gián đoạn, tức là bên trong luôn luôn sáng ngời, không có mê thì mới là lẽ thật, chớ theo cái kiểu bắt chước làm như vậy mà đụng đâu dính đó thì không phải.

 

Cũng có trường hợp làm như vậy để tỏ ra ta đây là người hiểu thiền, ta đây là người không chấp gì hết, là người sống tự tại. Nhưng nói ta không chấp gì hết mà chính cái đó lại thành ra chấp, tức là “chấp vào cái không chấp”.Thường người ta chấp cái này chấp cái kia, nhưng bây giờ chấp trở lại cái không chấp, tức là ta không chấp cho nên mọi chuyện coi như không thành vấn đề. Cái đó mới là cái nguy hiểm, chấp vào cái không chấp lại là bệnh. Nhưng bệnh mà lại không biết bệnh nên mới khó trị, làm sao mà trị? Nên nhớ đây là chỗ thực sống của các vị đã sáng tỏ được đạo, nếu không được như vậy thì không được bắt chước.

 

Ở đây còn một điểm nữa, phải nhớ là khi chúng ta nói rằng làm như vậy để phá cái tâm phân biệt, thì còn có tâm phân biệt không? Chưa sạch hết phân biệt mới phá, chớ sạch hết rồi thì phá cái gì nữa? Như vậy thì cũng chưa phải thật sự tự tại, đó là chỗ mình phải thấy cho kỹ. Đừng nói rằng tôi làm vậy là để phá chấp, tôi tự tại rồi, nhưng sự thật nếu đã hết chấp thì phá cái gì? Còn phá tức là còn phân biệt, còn phân biệt tức chưa tự tại. Cho nên nếu nghe ai nói tôi phá chấp thế này, tôi phá chấp thế kia, tức là còn chấp mới phá, chưa phải thật hết đâu. Đó là những điều phải thấy cho thật tế nhị.

 

6- Một điểm nữa, tùy duyên là mình nên sống khéo hòa với tất cả chớ không nên làm khác người, không phải là lập dị, bởi vì tùy duyên mà. Không làm khác với người, không lập dị để cho thấy ta đây là người đạt đạo, ta đây là người tự tại, đó mới là tùy duyên. Bởi vì khi mình làm khác người để chứng tỏ mình đạt đạo thì đó là một tướng khác của ngã tướng. Ở đây làm tất cả, cũng ăn cũng ngủ như mọi người nhưng luôn luôn không rời Tự tánh, không mất ánh sáng của Tự tâm, đó mới là khéo tùy duyên. Chớ tùy duyên mà làm khác biệt với người ta, để cho thấy rằng “ta đây” là người không chấp, là người tự tại, như vậy là có chấp trong đó rồi, có ngã tướng trong đó rồi. Làm để cho người ta chú ý tới mình, cái đó là bệnh.

 

Bởi vậy, tùy duyên mà luôn luôn sáng ngời ở trong, sống bình thường nhưng không mất chỗ sống chân thật của mình, mới là đúng tùy duyên, nếu không được như vậy thì mắc kẹt. Tóm lại tùy duyên thì không thể bám chấp vào một chỗ nào. Vì không có gì cố định hết. Vừa bám chấp một cái gì đó là hết tùy duyên, mà còn sống trở lại với quá khứ nữa.
Trong sử ghi một hôm có vị ngoại đạo đến hỏi Phật:

 

- Hôm qua Ngài thuyết pháp gì?

 

Phật nói:

 

- Hôm qua ta thuyết định pháp (tức là cái pháp nhất định).

 

Vị ngoại đạo hỏi thêm:

 

- Vậy còn hôm nay Ngài thuyết pháp gì?

 

Phật nói:

 

- Hôm nay ta thuyết bất định pháp.

 

Vị ngoại đạo gạn lại:

 

- Hôm qua giảng định pháp, hôm nay vì sao lại giảng bất định pháp?

 

Phật đáp:

 

- Hôm qua định, hôm nay bất định.

 

Đức Phật đáp quá hay, đó là để phá cái chấp cố định của mình. Nếu thật sự một bề là định pháp thì làm sao mà có hôm nay? Có hôm qua, có hôm nay tức là bất định, bởi vậy Phật mới nói rằng hôm qua thuyết định pháp, bữa nay thuyết bất định pháp, đó là linh động.

 

Mình cố chấp một bề là mình chết ở trong quá khứ, tức là thiếu cái linh động sáng tạo. Mình nghe nói định pháp thì chấp chặt là định pháp, cho nên nghe nói bất định thì thắc mắc liền.Ở đây Phật nói ro,õ vì bất định cho nên mới có hôm nay, mới có hôm qua. Lẽ thật rõ ràng là như vậy, thấy như vậy thì làm sao chấp?

 

Mình nghe hôm qua nói định, bữa nay nói bất định thì mình thấy Phật nói chuyện sao mà mâu thuẫn quá. Nhưng như vậy là không thấy được ý nghĩa tùy duyên không cố định, tức là không có một pháp thật. Mình bám vào cái hôm qua là mình chỉ nhớ cái quá khứ, sống lui về quá khứ, không có sáng tạo. Hiểu như vậy thì mới thấy được ý nghĩa tùy duyên là luôn luôn linh động.

 

Ngài Lâm Tế lúc từ giã ngài Hoàng Bá đi, Hoàng Bá hỏi đi đâu thì Ngài nói: “Chẳng về Hà Nam tức về Hà Bắc.” Lời này nói lên tâm của Ngài sống tùy duyên thật sự. Tùy duyên ở đây là gì? - Là lúc nào cũng hiện tiền, cũng sáng ngời, cái chân thật đó luôn luôn theo sát bên mình, cho nên nó không dừng ở một chỗ nào, không về Hà Nam thì về Hà Bắc, mình đi đâu nó có ở đó. Mình bây giờ có thể nói là “Không ở thành phố thì ở Trúc Lâm”, chớ thân đến Trúc Lâm mà niệm một bề cứ trụ ở thành phố đó là đóng khung ở trong chỗ chết, không linh động.

 

7- Thêm một điểm nữa, tùy duyên tức là vô trụ. Sống được vô trụ thì mới tùy duyên, chớ có trụ là hết tùy duyên, bởi vì có trụ là có chết. Trong cuốn “Góp Nhặt Cát Đá” có chuyện hai sư huynh đệ đi qua con suối thấy một cô gái mặc đồ đẹp muốn đi qua suối nhưng sợ bị ướt không dám qua. Ông sư huynh nói “cô bé lại đây, ta đưa qua cho”, rồi ông bồng cô đưa qua suối. Từ đó về tới chùa hai người làm thinh không nói chuyện. Tới chùa ông sư đệ hậm hực nói rằng:

 

- Huynh sao bữa nay không giữ giới gì hết?

 

- Làm sao mà không giữ giới?

 

- Tại sao huynh bồng cô gái qua suối vậy?

 

Ông sư huynh cười nói:

 

- Vậy hả? Ta đã buông cô gái ở đó rồi, còn ông lại ôm về tới đây sao?

 

Rõ ràng là ông sư huynh thì tùy duyên, gặp đưa qua rồi thôi, còn ông sư đệ thì ôm ấp việc đó mãi, đi từ suối về chùa qua bao nhiêu đoạn đường, qua bao nhiêu bước chân mà cái tâm của ông thì vẫn trụ ở chỗ suối đó. Trụ như vậy là mất cái hiện tiền này tức là mất ông chủ. Còn ông sư huynh buông hết rồi, cho nên luôn luôn lúc nào ông chủ cũng sống hiện tiền. Cho nên tùy duyên tức là vô trụ, vô trụ là sống như vậy đó. Khéo như vậy mới thật sự là khéo tùy duyên, chuyện qua rồi là thôi không có giữ lại, không có trụ lại.

 

8- Đến đây thì quí vị thấy ý nghĩa tùy duyên hơi sâu rồi. Lên một tầng nữa tùy duyên phải lý sự đầy đủ, tùy duyên thường hiện hữu, không nghiêng không lệch một bên. Đó mới gọi là tùy duyên sâu xa.

 

Có vị Tăng hỏi Thiền sư Quang Dũng:

 

- Văn-thù là thầy của bảy đức Phật, vậy Văn-thù có thầy chăng?

 

Ngài Quang Dũng đáp:

 

- Gặp duyên liền có.

 

Ông Tăng hỏi:

 

- Thế nào là thầy Văn-thù?

 

Ngài Quang Dũng liền dựng đứng cây phất tử. Ông Tăng nói:

 

- Phải chăng chỉ cái ấy liền là phải?

 

Ngài Quang Dũng liền ném cây phất tử đứng khoanh tay. Đây mới gọi là tùy duyên mà thường hiện hữu, lý sự đầy đủ.

 

Văn-thù là chỉ cho Căn bản trí, là cái Lý tánh chân thật. Chư Phật sở dĩ thành Phật là cũng ngộ cái lý Căn bản trí này, sống được với Căn bản trí trọn vẹn thì thành Phật. Cho nên gọi Văn-thù là thầy của bảy đức Phật, đã gọi như vậy thì còn ai là thầy của Văn-thù nữa. Nhưng ở đây ngài Quang Dũng nói “gặp duyên thì liền có” tức là sao? Tức là nó không phải hoàn toàn không ngơ, đủ duyên thì nó liền hiện, cái đó không ai làm thầy nó được hết.

 

Ngay khi đưa phất tử lên tức là gặp duyên, nó liền hiện, thì thầy là như vậy đó. "Cái sẵn có", đó là lý, "gặp duyên liền hiện" đó là sự, lý sự luôn luôn đầy đủ. Còn mình nếu thấy không thầy là thấy một bên lý, hoặc là thấy một bên có thầy là thấy một bên sự . Ở đây lý sự luôn luôn đầy đủ, thấy như vậy thì không mắc kẹt bên nào.

 

Khi đưa cây phất tử lên thì cái chân thật đó vẫn luôn luôn hiện hữu nơi cây phất tử rồi, cái thấy nó luôn luôn có mặt rồi. Khi quăng cây phất tử đứng khoanh tay thì sao? Ai đứng khoanh tay đó? Thì nó cũng có mặt ở đó luôn. Cái Thể chân thật nó luôn luôn có mặt nhưng nó không có hình tướng gì để thấy, mà chỗ nào nó cũng ứng hiện được hết. Như vậy mới gọi là có thể có dụng, hoặc có lý có sự, luôn luôn đầy đủ.

 

Cũng vậy, tâm mình đâu có hình tướng gì nhưng gặp duyên thì nó hiện đủ mọi hình tướng. Gặp duyên gì thì nó hiện ra tướng đó. Nó hiện hữu khắp mọi nơi, tùy duyên mà thường hiện hữu chớ không mắc kẹt một bên. Thấy được như vậy mới là thấy được cái ý sâu ở trong nhà thiền.

 

Kết lại thì tùy duyên là gì? Tùy duyên tức là không có chỗ bám, linh động, không dừng không trụ. Tất cả các pháp đều là nhân duyên, không có một pháp thật thì tại sao mình phải bám một chỗ để mà chịu khổ.Cho nên biết tùy duyên là phải quên cái ngã này, còn nhớ cái ngã này là không có tùy duyên. Và tùy duyên có bắt chước được không? Khi bắt chước là hết tùy duyên, bởi vì bắt chước là đã có cái khuôn, có khuôn mới bắt chước, cho nên bắt chước là hết tùy duyên . Ngoài ra điểm quan trọng phải nhớ là, tùy duyên mà còn có ngã là lầm, phải nhớ điểm đó !

 

Đây nhắc câu chuyện này kết thúc bài tùy duyên:

 

Xưa có một vị Thiền sư, Ngài sống ăn uống hỗn tạp, không có chọn lựa gì hết, gặp mặn ăn mặn, gặp chay ăn chay, gặp gì là ăn nấy, gặp rượu cũng uống luôn. Có nhiều đệ tử thấy vậy bắt chước, sống như vậy thoải mái. Một hôm Ngài kêu hết đệ tử đến chỗ người ta thiêu xác người rồi đem đồ ăn bày ra, Ngài lấy những miếng thịt người ta thiêu còn sót lại, chưa cháy hết, trộn vô đồ ăn rồi nói:

 

- Các ngươi lại đây ăn với ta bữa này.

 

Các đệ tử ói mửa chạy hết. Ngài ngồi ăn thản nhiên, sau đó mới bảo rằng:

 

- Các ngươi cùng ăn được với ta cái món này thì mới có thể tiếp tục ăn uống như ta được, còn nếu không được thì thôi từ nay đừng có bắt chước.

 

Chúng sợ hãi không dám bắt chước nữa, lo gìn giữ giới luật đàng hoàng. Bởi vì Ngài đã nhiều năm tu hành thanh tịnh rồi mới được như vậy, còn các đệ tử chưa được vậy thì làm sao mà bắt chước được! Như vậy để thấy rằng, nếu tâm mình còn phân biệt nhơ sạch thì làm sao có thể tùy duyên theo kiểu đó được, còn tâm Ngài sạch hết phân biệt rồi, cho nên ăn tự nhiên thôi.

 

hi tâm mình còn phân biệt nặng nề, còn thích ngon chán dở, còn thích đẹp chán xấu mà bảo là tùy duyên không ngại gì thì coi chừng bệnh hoạn, phải hiểu được cái ý đó. Như vậy một ý nghĩa tùy duyên này mà thấu cho thật suốt có dễ dàng không? - Không dễ dàng, cho nên phải thật sống chớ không phải bắt chước được.

 

Bởi vậy tùy duyên mà còn có cái ta trong đây là còn dính mắc, mà còn dính mắc là không đúng ý nghĩa tùy duyên. Nhiều khi mình mắc kẹt là mắc kẹt cái lý tùy duyên nữa, mình phải sống cho thật chân thật t mới thấy ý nghĩa tùy duyên, chỉ là cái lý thông thường thôi nhưng muốn hiểu cho rốt ráo để sống không phải là đơn giản, làm cả đời không hết, đâu phải nói tới những lý cao tột mây xanh.

 

Để kết thúc lại, tùy duyên là luôn luôn sáng ngời tự tại, không có chỗ nào để bám, đó là tùy duyên. Mong rằng tất cả khéo sống được tùy duyên, đúng ý nghĩa tùy duyên .

 

_______________

Nguồn: thuongchieu.net

CẦN KHAI THÁC THẾ MẠNH DU LỊCH TÂM LINH Ở HUẾ

Thừa Thiên - Huế là một trong số ít địa phương có rất nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch tâm linh, một loại hình du lịch hấp dẫn, đem lại giá trị kinh tế và làm phong phú thêm đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân.

Dâng hương đền thờ Phật hoàng Trần Nhân Tông

Trước tiên, Thừa Thiên - Huế là vùng đất có tới 55 vạn tín đồ Phật giáo với hơn 100 ngôi chùa, niệm phật đường, trong đó có nhiều Tổ đình như Từ Đàm, Thiên Mụ rất khang trang và bề thế. Từ sau khi được UNESCO công nhận là di sản thế giới, chùa Thiên Mụ đã được bảo tồn, tu bổ với tổng số vốn đầu tư là 27 tỷ đồng từ ngân sách nhà nước. Bên cạnh những công trình kiến trúc như tháp Phước Duyên, điện Đại Hùng, điện Địa Tạng, điện Quan Âm... cùng bia đá, chuông đồng, chùa Thiên Mụ còn có nhiều cổ vật quí không chỉ về mặt lịch sử mà cả về nghệ thuật, là điểm đến không thể thiếu trong hành trình đến Huế của du khách.

 

Hàng năm, lễ hội Điện Huệ Nam (còn gọi Lễ hội Điện Hòn Chén) được tổ chức vào tháng Ba và tháng Bảy Âm lịch tại ngôi điện nằm trên núi Ngọc Trản bên bờ sông Hương, thuộc xã Hương Thọ, thị xã Hương Trà, nơi thờ Thiên Y A Na Thánh Mẫu. Đây là lễ hội dân gian truyền thống được phục hồi theo các tập tục đậm màu sắc văn hóa dân gian địa phương, mang yếu tố văn hóa tâm linh, đề cao đạo hiếu, đạo làm người. Lễ hội bắt đầu từ việc rước Thánh Mẫu đi từ điện Huệ Nam tới đình làng Hải Cát trên những chiếc thuyền được ghép lại thành bè; với long kiệu Thánh Mẫu và hòm sắc vua phong, cùng các khí tự như tán, tàn, cờ, quạt, đội hầu bóng, những người phục dịch và khách hành hương. Từ đình làng Hải Cát, lễ cung nghinh Thánh Mẫu hồi loan về điện, sau đó diễn ra lễ phóng sanh, phóng đăng... sôi động trong tiếng nhạc của phường hát văn và phường bát âm, với sự tham dự của đông đảo bà con địa phương và du khách. Lễ hội thu hút hàng vạn người dân và du khách thập phương mỗi khi mở hội.

 

Từ năm 2008, tại Thừa Thiên - Huế còn hình thành thêm Trung tâm văn hóa Huyền Trân, tạo thành điểm du lịch văn hóa tâm linh hấp dẫn. Hàng năm, tỉnh Thừa Thiên - Huế lấy ngày 9 tháng Giêng Âm lịch (tức ngày 3/2) để tổ chức Lễ hội đền Huyền Trân. Cùng với ý nghĩa tri ân người có công mở nước, tạo lập vùng đất Thuận Hóa - Phú Xuân cách đây 700 năm trước, lễ hội đền Huyền Trân cũng là dịp quảng bá sản phẩm du lịch mới của tỉnh Thừa Thiên - Huế. Từ khi đưa vào hoạt động đến nay, mỗi ngày Trung tâm văn hóa Huyền Trân thu hút hàng ngàn lượt khách đến vãn cảnh và thắp hương tưởng niệm vị công chúa đã có công mở mang bờ cõi nước Việt.

Lễ hội Đền Huyền Trân Công chúa

Trung tâm văn hóa Huyền Trân được xây dựng nằm cách thành phố Huế 7km về phía tây, tại vùng núi Ngũ Phong thuộc xã Thủy An trên khuôn viên rộng 28 ha, có đồi núi thoai thoải, rừng thông xung quanh, bốn mặt là đồi núi trùng điệp. Không gian thâm nghiêm, kỳ vĩ, phù hợp với những công trình văn hóa mang tính tâm linh, về nguồn. Công trình bao gồm đền thờ và tượng đồng Huyền Trân công chúa, tháp chuông Hòa Bình, hệ thống đường đạo, công viên. Bên trong đền thờ Huyền Trân có pho tượng Công chúa Huyền Trân ngồi trên ngai được đúc bằng đồng. Tượng cao 2,37m, do các nghệ nhân đúc đồng nổi tiếng của phường Đúc, thành phố Huế cẩn tác. Phía sau là đền thờ đức vua Trần Nhân Tông - vị vua có công lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, có pho tượng nhà vua bằng đồng đỏ nguyên chất, cao 3m, nặng 2 tấn được đúc theo phiên bản lấy từ đền thờ các vua Trần tại Nam Định.

 

Trong tiếng nhạc dập dìu, tiếng chuông vọng ngân vang, sau khi thắp hương cầu nguyện Công chúa Huyền Trân và các bậc công thần khai quốc, đến với Trung tâm văn hóa Huyền Trân, du khách còn có dịp thả bước dưới những tán thông già. Ngắm nhìn tượng ni sư Hương Tràng, cầu nguyện ở tượng Di Lặc, bước lên 246 bậc cấp để chinh phục đỉnh núi Ngũ Phong và đến với tháp chuông Hòa Bình. Ở độ cao 108m, tháp chuông Hòa Bình với quả chuông đồng nguyên chất nặng 1,6 tấn, cao 2,16m, tiếng chuông ngân vang lan tỏa trong cõi thinh không tĩnh lặng để cầu nguyện cho sự an lành của mỗi con người, đúng như 8 chữ khắc trên mặt chuông: "Thế giới - Hòa Bình - Nhân loại- Hạnh phúc" cùng hình ảnh tượng trưng của 4 chùa: Giác Lâm (TP Hồ Chí Minh), Thiên Mụ (Huế), Diên Hựu (Hà Nội) và chùa Trúc Lâm Yên Tử (Quảng Ninh). Tất cả đã tạo nên một không gian rất đặc biệt, hướng du khách về với cội nguồn, về với lịch sử hào hùng của dân tộc và chiêm bái, tri ân người có công mở cõi.

 

Thực tế cho thấy, các điểm đến cho loại hình du lịch tâm linh ở Thừa Thiên - Huế đều được hình thành một cách tự nhiên, do sự tích hợp lâu dài của quá trình phát triển lịch sử, của đời sống kinh tế - xã hội, tín ngưỡng và tôn giáo.

___________________

Báo Tin tức - TTXVN

THÁP CHÀM - PHÚ DIÊN

Vượt chừng 30km từ trung tâm thành phố Huế, xuôi về theo hướng Đông Nam, du khách đến với dải đất trải dài theo hướng Bắc – Nam nằm giữa biển Đông và đầm phá Tam Giang rộng lớn. Tiếp tục xuôi về hướng Nam cách thị trấn Thuận An 14 km là đến xã Phú Diên, huyện Phú Vang. Đi thẳng trục đường này, các bạn sẽ gặp một tấm biển cắm mốc Di tích kiến trúc nghệ thuật Tháp Phú Diên, rẽ phải 200m nữa là tới.

Tháp Phú Diên (hay còn gọi là Tháp Chàm) là một di tích lịch sử, văn hóa độc đáo vừa được các nhà khảo cổ học tìm thấy vào năm 2001 (do trước đó bị cát phủ lấp), thuộc địa phận thôn Mỹ Khánh (xã Phú Diên, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế) với cấu trúc nguyên khối đất nung, không có mái và có vị trí đơn lẻ, khác xa các di tích Tháp Chàm khác.

Theo báo Người đại biểu nhân dân điện tử, Cục văn thư lưu trữ Việt Nam: Kết quả khai quật khảo cổ cho thấy, tháp có hình chữ nhật hướng Đông-Tây. Mặt bằng lớp dưới cùng của tháp dài 8,22m, rộng 7,12m, càng lên cao càng giật cấp thu nhỏ dần với các phần khác nhau gồm móng, chân tháp, thân và diềm mái. Toàn bộ chiều cao tháp còn lại từ 3,1-3,26m, do tháp bị lún nghiêng. Đế tháp có hình chữ nhật cắt góc, cao 0,29m gồm 4 lớp gạch xây liền khít tạo nền vững chắc cho thân tháp. Chân tháp cao 1,25m, kể cả phần thân và phần vòm cửa giả với nhiều lớp trang trí khác nhau. Thân tháp cao 1,36m. Lòng tháp hình chữ nhật hướng Đông-Tây, dài 3,9m, rộng 3,3m. Giữa có bệ thờ cao 0,73m, trên bệ có Yoni bằng sa thạch. Cách 5m phía trước cửa chính của tháp có một bệ thờ được xây hình khối vuông bằng chất liệu gạch với kỹ thuật mài xếp liền khít cao 1,4m, cạnh dài 1,38m, chính giữa bệ còn một lỗ tròn đường kính 0,19m mà các nhà nghiên cứu nghi rằng trước kia đây là nơi đặt tượng thờ.

Quá trình khai quật, người ta còn tìm thấy ở đây một số đồ tế tự như hộp gốm, chân đèn… Kết quả phóng xạ carbon cho thấy tháp được xây dựng từ đầu thế kỷ thứ VIII, thuộc một trong những tháp Chăm cổ nhất Việt Nam. Giới nghiên cứu nhận định, tháp Chăm này nằm trong phong cách chuyển tiếp giữa phong cách kiến trúc cổ Mỹ Sơn E1 sang phong cách kiến trúc tháp Hòa Lai… Đây chính là vùng đất thuộc đất Chămpa và trở thành đất Đại Việt trong sự kiện vua Chămpa Chế Mân dâng Châu Ô và Châu Rí để làm sính lễ cầu hôn công chúa Huyền Trân.

Tháp Chàm được vùi sâu dưới lòng cát từ 5-7m, thấp hơn mực nước biển hiện tại là 3-4 m và chỉ cách mép nước biển 120m nên được gia cố xung quanh rất chắc chắn bằng bê tông để ngăn tình trạng cát lún. Ngoài ra, vì để chống sự xuống cấp của công trình bởi ánh nắng trực tiếp từ khi lộ thiên, Tháp Chàm cũng được bảo vệ bằng lớp kính dày nên gây khó khăn cho du khách khi muốn chụp ảnh và nghiên cứu kỹ hơn về công trình. Tuy nhiên, bạn vẫn có thể chụp ảnh được từ trên cao nhìn xuống và cận cảnh khi lựa chọn góc độ phù hợp.

 

 

Bên cạnh Tháp Chàm là bãi biển Phú Diên trong xanh, luôn thu hút đông đảo du khách tới tham quan, nghỉ mát. Với bãi cát rộng, hiện tại biển Phú Diên cho xây dựng rất nhiều chòi để đảm bảo không bị quá tải lượng khách vào mùa cao điểm như mùa hè này.

 

_____________

khamphahue.com.vn

VUA TRẦN NHÂN TÔNG NÓI "CHÍN BỤT LÀ LÒNG": HIỂU THẾ NÀO CHO ĐÚNG VỀ SỐNG TỐT?

Tất cả những cái gọi là rủi ro, bất hạnh xảy ra cho mình trong cuộc đời đều là do thiếu lòng tốt. Câu nói “Chín Bụt là lòng” của vua Trần Nhân Tông trong Cư trần lạc đạo phú (hội thứ ba) hẳn là chúng ta chưa hiểu hết và chưa khai thác hết dù cho đến cả những thời đại tương lai.

Nếu có một cái gì mà khi gặp bất cứ người nào, dù nam hay nữ, già hay trẻ, chúng ta có thể “rút từ trong túi ra” trao tặng ngay cho người ấy, thì cái đó chính là lòng tốt. Chưa chắc chúng ta có thể trao cho trọn vẹn bằng ngôn ngữ, vì đôi khi không rành tiếng của người đó, chưa chắc có thể trao cho tri thức, vì cần có trình độ tương đương giữa hai người, cũng chưa chắc chúng ta có thể trao cho tiền bạc, giúp đỡ cơ hội, vì lỡ người đó giàu có và thế lực hơn thì sao? Những sự trao cho đều đòi hỏi điều kiện, chỉ có lòng tốt là không cần điều kiện. Và cái gì không cần điều kiện, cái đó được gọi là tự do (người phương Tây dịch chữ giải thoát của Đức Phật là tự do). Tự do có nghĩa là không lệ thuộc vào nguyên do nào chính nó.

 

Chúng ta thấy người phương Tây mở miệng ra là xin lỗi, cám ơn, cho phép…Đó là cách biểu lộ lòng tốt ra trong ngôn ngữ hàng ngày. Đó cũng là cái lịch sự, văn minh của người phương Tây khi mục tiêu của chúng ta là hướng tới một xã hội “công bằng, dân chủ, văn minh”, thì xét kỹ, cả ba khái niệm trên đều có nền tảng là lòng tốt. Dầu có bao nhiêu luật lệ, nhưng nếu không có lòng tốt đàng sau những luật lệ ấy thì chúng ta dễ dàng o ép người khác khi họ yếu thế hơn. Sẽ không có công bằng nếu không có lòng tốt. Dầu có bao nhiêu quyền cho con người, nếu không có lòng tốt, chúng ta dễ dàng nhũng nhiễu, thậm chí “hành” người dân. Pháp luật và dân chủ chỉ thể hiện trọn vẹn ý nghĩa của nó khi thật sự có lòng tốt giữa con người và xã hội. Và ngay cả theo quan niệm của phương Tây, văn minh không chỉ là nhà cao cửa rộng, xe tốt mà còn là sự đối xử văn hóa giữa người với người, giữa người với thiên nhiên, giữa từng cá nhân với chính mình dựa trên lòng tốt.

 

Chúng ta thấy mọi tệ nạn xã hội đều do thiếu lòng tốt. Tham nhũng, dù dưới bất cứ hình thức nào, là do thiếu lòng tốt đối với đa số dân chúng còn khó khăn nghèo khổ; tai nạn giao thông vì chạy ẩu, say rượu, xe không an toàn; không có lòng tốt nghĩ đến những người trên xe và giữa đường; thực phẩm xuất khẩu bị trả về vì có chất độc hại quá mức cho phép, không có lòng tốt nghĩ đến sức khỏe người khác, ai chết mặc ai miễn có lợi nhiều là được, xì ke, SIDA: không có lòng tốt với chính thân thể mình và với cộng đồng. Điều ngược lại, cũng dĩ nhiên tất cả những gì tốt đẹp trên đời đều do lòng tốt mà có.

 

Tôi có một người bạn tu sĩ trẻ hiện đang sống ở Canada. Những năm trước khi xuất gia, anh đọc nhiều sách Phật giáo, nhưng khi về quê Nha Trang thăm mẹ, anh thường rủ bạn bè đi ăn ở những nhà hàng ven biển, đủ mọi hải sản tươi sống, thích con gì thì vớt lên. Một hôm đang đứng nơi trạm chờ xe bus ở Canada, anh thấy một cô gái phương Tây chạy vội ra đường gặp một con sâu đang bò giữa đường bò vào bụi cây bên lề, từ đó anh không hề dám tới những nhà hàng “tươi sống” ấy nữa. Vài năm sau, khi trên đường đi đến tu viện Dharamsala của Kalu Rinpoche, anh chán nản muốn trở về, vì khí hậu khắc nghiệt, vì bị trộm cắp, vì tình trạng lộn xộn bất ổn ở Ấn Độ. Đang ngồi thừ người trong phòng trọ tồi tàn, thì thấy một em bé gái Ấn Độ bước vào, tay cầm trái cam, em bóc vỏ trái cam và đưa mời anh. Kết quả là anh ở lại Ấn Độ và tiếp tục lên đường về phương Bắc.

 

Lòng tốt tạo ra những điều kỳ diện, những phép lạ. Như trong các truyện cổ tích Việt Nam, có những ông già râu tóc bạc phơ, những bà tiên, ông Bụt… tất cả đều là sự hiện ra để cứu giúp, đem lại may mắn, phước lành. Suy nghĩ sâu xa, tất cả những cái gọi là rủi ro, bất hạnh xảy ra cho mình trong cuộc đời đều là do thiếu lòng tốt. Câu nói “Chín Bụt là lòng” của vua Trần Nhân Tông trong Cư trần lạc đạo phú (hội thứ ba) hẳn là chúng ta chưa hiểu hết và chưa khai thác hết dù cho đến cả những thời đại tương lai.

 

Mỗi người chúng ta đều có kho tàng lòng tốt nơi mình. Chúng ta biểu lộ, thể hiện nó ra bao nhiêu thì chúng ta sẽ khám phá ra nó bấy nhiêu. Và khám phá ra lòng tốt là khám phá ra chính con người mình. Khám phá con người mình, đây là mục đích và ý nghĩa của đời người, là khám phá ra lòng tốt ở trong lòng mình. Và càng thể hiện lòng tốt ra bao nhiêu, người ta càng khám phá ra chính mình, càng làm đẹp cho cuộc đời mình (mà từ ngữ Phật giáo gọi là “trang nghiêm”) bấy nhiêu. Đó cũng là con đường của hạnh phúc, của hài hòa, với tất cả mọi người, mọi vật.

 

Tận trong đây lòng mỗi người là một kho tàng lòng tốt. Khổng Tử đã nói: “Có lòng nhân là người vậy” (Nhân giả, nhân dã). Đức Phật đã nói: “Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh”. Nếu chúng ta biết sử dụng lòng tốt, khai thác nó, thể hiện nó thì chúng ta sẽ biến cuộc đời chúng ta và những người, những vật chung quanh thành một môi trường hạnh phúc an vui.

 

Có một thứ mà khi càng cho đi thì càng có thêm nhiều, đó là lòng tốt. Có một loại năng lượng mà càng sử dụng, thậm chí càng “xài phí” thì càng có nhiều thêm, đó là lòng tốt. Một năng lượng có thể biến cải tâm hồn con người, điều mà tất cả những năng lượng vật chất khác không thể nào làm được, biến thế giới này thành một thế giới đáng sống, biến con người thành những nhân cách muốn được sống cùng, đó là lòng tốt. Đây là một cuộc cách mạng không đòi hỏi gì (vũ khí, nguồn vốn tư bản, nguồn vốn tri thức…)nó chỉ nằm nơi quyết định và hành động của mỗi chúng ta. Chúng ta có quyền, vì không ai có thể ngăn cấm, biến cuộc đời chúng ta thành một sự thể hiện của lòng tốt, nghĩa là của hạnh phúc, và có quyền biến cả thế giới này, thậm chí cả vũ trụ này thành thế giới của lòng tốt: thế giới nơi lòng tốt lưu thông, nơi lòng tốt giao thiệp, nơi lòng tốt trao đổi, gặp gỡ,đối thoại, nơi lòng tốt làm chính trị,thương mại, kinh tế, xã hội…nghĩa là một nơi vinh danh cho con người, thế giới và thiên nhiên, mà không cần đặt tên nơi đó là Niết Bàn, Thiên đàng hay cần phải mang tên bất kỳ một chữ nghĩa hoặc tôn giáo nào.

________________

 

Nguyễn Thế Đăng - Tạp chí Văn hóa Phật giáo số 24 năm 2007

Bài có tiêu đề: Kho tàng lòng tốt - Tiêu đề đăng trên trang tin do www.phatgiao.org.vn đặt

Nguồn: phatgiao.org.vn

 

LẤY TÂM THIÊN HẠ LÀM TÂM CỦA MÌNH

Mỗi khi đất nước gặp nguy biến, người Việt Nam lại nhắc đến Hội nghị Diên Hồng và Hội nghị Bình Than...

Ảnh minh họa: Hội nghị Diên Hồng


Đức vua Trần Nhân Tông ở ngôi 15 năm (1278 - 1293), trong thời gian này đã diễn ra hai hội nghị quan trọng của đất nước: Hội nghị Bình Than (năm 1282), triệu tập quân dân bàn phương hướng kháng chiến chống quân Nguyên Mông và Hội nghị Diên Hồng * (năm 1284), triệu họp các phụ lão trong cả nước để trưng cầu dân ý về chủ trương hòa hay chiến khi quân Nguyên Mông chuẩn bị xâm lược nước ta lần thứ hai. Khi đất nước thanh bình, vua nhường ngôi cho con trai là Trần Anh Tông, về ở cung Vũ Lâm, Ninh Bình, sau dời đến núi Yên Tử (Quảng Ninh) tu hành và thành lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, lấy đạo hiệu là Điều ngự Giác hoàng. Trần Nhân Tông được sử sách ca tụng là một trong những vị vua anh minh nhất trong lịch sử Việt Nam.

 

Hội nghị Diên Hồng mang ý nghĩa thời đại vì không chỉ minh chứng cho tư tưởng độc lập dân tộc và còn phát huy mạnh mẽ tinh thần dân chủ bằng việc lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, một nhà nước quân chủ đã trưng cầu dân ý trước sự tồn vong của đất nước. Hội nghị đó đã lấp đầy những khuyết điểm nội thù cố hữu của dân tộc, đó chính là sự chia rẽ, mất đoàn kết và hành động cầu cứu ngoại bang đem quân giày xéo quê hương.

 

Dưới thời Trần, đạo Phật là quốc đạo. Với tinh thần “hoà quang đồng trần” (hòa ánh sáng cùng cát bụi), đạo Phật đã sản sinh ra những trí thức có tinh thần phóng nhiệm, dấn thân, nhập thế, coi sinh tử là lẽ thường… Văn hóa Phật giáo trở thành những ứng xử chủ đạo trong đời sống xã hội. Từ những tư tưởng tích cực của đạo Phật, người Việt tiếp tục vun bồi, sáng tạo, điều chỉnh và tự hoàn thiện nền văn hóa của dân tộc mình. Lối sống thuần thiện, hòa hiếu của cộng đồng được ghi lại trong lịch sử đã phản ánh rất rõ điều đó. Trần Nhân Tông là người giữ trọng trách quốc gia, nên ông không bao giờ ngừng thao thức để tìm kiếm chân lý trên căn bản tư tưởng Phật giáo, nhằm nhận ra những giới hạn của bản thân: giới hạn của lòng từ, giới hạn của sự trong sạch, giới hạn của tinh thần yêu dân và thái độ coi trọng hiền tài…

 

Trước đó, Trúc Lâm quốc sư từng nhắn nhủ vị vua mở đầu triều đại nhà Trần - Trần Thái Tông rằng: “Phàm đã là bậc nhân quân tất phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tâm của thiên hạ làm tâm của mình”.

 

Khi triều đại đã sản sinh ra những con người biết lấy tâm ý của thiên hạ làm tâm ý của mình thì lẽ nào thiên hạ lại phụ lòng của họ. Đó là lý giải vì sao trước sức mạnh của quân Nguyên Mông, từ vua đến dân đều trên dưới một lòng, bỏ qua những tị hiềm, mâu thuẫn, ích kỷ, tư thù cá nhân để cùng nhau đoàn kết, bảo vệ non sông, văn hiến của dân tộc.

 

Trần Nhân Tông đã tiếp tục khai mở được nội lực và tinh thần dân tộc bằng chính đời sống làm gương trên cả hai vị thế quân vương và thiền sĩ. Trong thời gian trị vì đất nước, ông luôn là người đứng mũi chịu sào, lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ, coi trọng việc định quốc an dân, giữ gìn tâm ý của thiên hạ, đề cao tâm ý của thiên hạ và không bao giờ cho phép mình giẫm đạp lên tâm ý của thiên hạ. Khi rời bỏ ngai vàng, ông chống gậy trúc đi khắp trong thôn, ngoài làng khuyên dân giữ gìn mười điều thiện.

 

Niềm tin của đời Trần là niềm tin được phát khởi bởi lòng chân thành vì dân vì nước và lời sám hối tha thiết cho những giới hạn của bản thân trước nghịch cảnh tranh danh, đoạt lợi. Nhiều vị vua đời Trần đã tỏ rõ sự hơn người khi mang niềm tin và hành động ấy đến với nhân dân.

 

Vì mục đích dân cường nước thịnh, triều Trần dấn thân dựng nghiệp như bao khởi sự khó khăn của các triều đại khác, nhưng trước sức ép của ngoại xâm, họ sẵn sàng bỏ đi mọi tị hiềm, mọi chấp nhặt nhỏ nhen, không phải để khẳng định bản ngã vương triều, mà chính trong tuyệt đích của ước muốn, triều Trần, cụ thể là Trần Nhân Tông đã không ngừng triển khai tư tưởng cư trần lạc đạo để bồi dưỡng tinh thần và đạo lý dân tộc.

 

Người cầm cân nảy mực quốc gia mà nhận biết được những khuyết điểm và giới hạn của mình thì dân tộc đó nhất định sẽ lớn mạnh. Những sửa chữa khuyết điểm của họ mang giá trị và tầm ảnh hưởng lịch sử. Bởi khuyết điểm lớn nhất mà lịch sử của hầu hết các dân tộc phải trải qua đó chính là thanh trừng tư tưởng và phát động chiến tranh tương tàn để duy trì một trạng thái quyền lực đang có nguy cơ mất thế cân bằng. Dĩ nhiên, quyền lực tập trung lúc đó thuộc về thiên tử và bộ máy quan lại cầm quyền. Tuy nhiên, việc hoàn chỉnh nhân cách để người đứng đầu quốc gia thay trời hành đạo, nối dòng trị dân luôn phải xuất phát từ những hành vi đạo đức có chuẩn. Định mức để cân bằng cho những hành vi đạo đức có chuẩn chính là mọi hành động của người đứng đầu đều phải phù hợp với thiên ý và nhân luân.

 

Đạo Phật đã bổ sung nhiều những hành vi ứng xử có chuẩn vào phong thái sống của các bậc quân vương. Vì vậy, ý nghĩa cai trị và giá trị giải thoát không những không mâu thuẫn và đối lập nhau mà còn xác lập một mẫu hình hoàng đế - hiền triết đầy đủ Bi - Trí - Dũng trong lịch sử dân tộc.

 

Kinh Pháp Hoa nói đến hình ảnh một gã say không biết mình có hạt châu vô giá cột trong áo, nên cực khổ kiếm sống bên ngoài mà vẫn không có được hạnh phúc. Trúc Lâm quốc sư từng khuyên vua Trần Thái Tông rằng: “Trong núi vốn không có Phật, Phật ở trong tâm ta. Nếu tâm ta lắng lại và trí tuệ xuất hiện thì đó chính là Phật. Nếu bệ hạ giác ngộ được chân lý ấy thì tức khắc thành Phật ngay tại chỗ, không phải đi tìm cực nhọc bên ngoài (Bài tựa Thiền Tông Chỉ Nam).

 

Trần Nhân Tông tiếp tục triển khai tư tưởng “cư trần lạc đạo” bằng việc khẳng định: “Trong nhà có sẵn của báu đừng tìm đâu khác”. Ông đã đặt “của báu” sẵn có đó trong một trục ngang, bình đẳng, có nghĩa rằng mọi người không phân biệt địa vị đều có cơ hội khám phá và sở hữu “tài sản” vô giá đó. Khi không còn nhọc lòng tìm cầu ở bên ngoài thì các cá nhân sẽ biết tiêu dùng và hưởng thụ “của báu” đó một cách có ích nhất. Phát huy nội lực, sở trường của dân tộc, nhằm hạn chế những ảnh hưởng của sở đoản từ những khuyết điểm dòng họ (huyết thống), thái độ độc tôn tư tưởng, hành vi hướng ngoại để trục lợi, Trần Nhân Tông đã “làm giàu” cho xã hội bằng cách kêu gọi mọi người cùng mở ra nguồn vốn sẵn đủ đó của mình.

 

Tâm là nguồn báu truyền đời. Giữ được tâm ban đầu ấy thì giữ được hạnh phúc và an lạc quốc gia. Trong cả ý chí và hành động, họ quyết giữ vốn quý đó vì họ hiểu rằng đó là di sản truyền đời mà các thế hệ con cháu phải được thừa hưởng. Cắt đứt dòng nhận thức về nội lực và khả năng khai mở, phóng nhiệm, dấn thân của nguồn tâm đó, rất có thể dân tộc lại rơi vào cảnh tương tàn, lầm than và khổ nhục.

 

Nhận thức đầy đủ về những giới hạn của chính bản thân, của dòng họ và dân tộc, vấn đề sửa chữa khiếm khuyết trong nhận thức của người đứng đầu đất nước luôn được đặt ra một cách cấp thiết và thu hút mọi quan tâm của bộ máy quyền lực. Vương đạo hay bá đạo, hiền nhân hay bạo chúa đều tuỳ thuộc vào sự chọn lựa đường hướng tư tưởng và lối sống của những người đang nắm giữ thể diện quốc gia.

 

Sự phân định trong nhận thức xã hội về kẻ ngu - người trí ở thời Trần đã thúc đẩy những nỗ lực tiếp cận tư tưởng giải thoát của đạo Phật, nhằm lý giải cặn kẽ phạm trù (ngu - trí) này, từ đó xuất hiện hình mẫu những bậc triết vương xuất trần trên cả hai bình diện tri thức và thực nghiệm tâm linh. Trong sự phân định tư tưởng rõ ràng và dứt khoát đó, cần nhìn nhận phạm trù ngu - trí, như một cặp song hành, phản chiếu vào tinh thần thời đại.

 

Người ngu thì lo âu, chán đời trị thế. Chán đời trị thế biểu hiện qua hành động diệt khai quốc công thần, thanh trừng tư tưởng vì sợ mất ngai vàng, thúc bách việc tìm thuốc trường sinh để sự hưởng thụ được lâu dài hơn… Người trí thì lo truyền hiền, tìm người tài đức kế cận. Chính trong suy nghĩ đó, người trí biết đặt lợi ích dân tộc, sự thanh bình của nhân dân lên trên hết. Vượt qua nỗi lo sợ thường trực về việc mất ngai, mất quyền, chết yểu, họ đã tiến đến làm chủ tinh thần vạn nhà bằng việc mở ra nguồn của báu sẵn đủ để dân làm chủ tài sản và vận mệnh của mình. Ở đó quốc gia được sở hữu những giá trị an lạc, biết đủ, khi người dân sống hòa hợp với thiên nhiên, người lãnh đạo không vì những toan tính ích kỷ đẩy dân tộc vào thế cùng tranh, loạn tranh.

 

Sự dịch chuyển của quyền lực không thể tính bằng những thái độ độc tôn tư tưởng hay bằng những chiến dịch bàn tay sắt trong thanh trừng, mà chính thời gian, dòng biến chuyển vô thường sẽ tự động kết thúc cho cuộc chạy đua quyền lực đó. Nhận thức “vô thường” là điều hiển nhiên, người trí biết tìm cách làm mạnh nội lực dân tộc bằng những giá trị tinh thần nhân đạo, nhân văn để đời, cẩn thận xét gốc chỉnh ngọn, tu bổ lại các giá trị văn hóa mà tổ tiên bao đời đã gầy dựng.

 

Sức mạnh của văn hóa là sức mạnh bao trùm mọi biên cương, lãnh thổ. Sự hủy diệt của chiến tranh càng làm cho những vị vua Phật tử nhận thức nhiều hơn về cảnh bãi biển nương dâu, chợ chiều quyền lực. Chợ chiều quyền lực là cảnh thất thế, dọc ngang, lênh đênh của các thân phận con người khi danh lợi một ngày nào đó rời xa họ.

 

Tâm lý tranh đoạt, nghi kỵ thường giả biến những chuyện vặt vãnh trong đời sống thường nhật thành mối nguy quốc gia. Đó cũng là hành vi kém nghiêm chỉnh nhất trong thái độ của kẻ cầm quyền. Điển hình cho thái độ này là hành động “qua cầu rút ván”, “được chim quên ná”, “diệt khai quốc công thần”... Nội lực dân tộc nhất định sẽ giảm đi rất nhiều, nếu những người cầm quyền cố biến những điều vặt vãnh thành những quan tâm nghiêm trọng, hay cho người giả bệnh để kê những “toa thuốc” (bổ - độc) lãng phí lòng tin của nhân dân. Chính khi ấy, lòng khoan thứ bao dung trong tư tưởng Phật giáo đã trở nên sáng tỏ trước những lòng dạ chật hẹp, đố kỵ, tị hiềm.

 

Đem lòng, lấy ý mà hiểu người trên kẻ dưới, mà đối đãi với nhân dân là lời khuyên của người trí. Thay vì phòng bệnh bằng những cung cách ứng xử có chuẩn, không ít thế lực trong lịch sử lại đi chữa bệnh bằng những toa thuốc bốc nhầm bệnh. Kê nhầm toa thuốc là lỗi ở người trị bệnh, còn người khác có bệnh hay không, nhiệm vụ của lương y là phải làm sáng tỏ căn bệnh, chữa trị cho họ lành mạnh, để họ tiếp tục đóng góp “của báu” cho xã hội, cộng đồng.

 

Hành vi “đang yên tự tìm nguy” mà Trần Nhân Tông nhắc đến, chính là ông muốn nhắm đến những người ngu tự lừa phỉnh mình bằng những cơn đau trầm trọng, tự thêm bướu vào thân, rồi cùng quằn quại và đối phó lẫn nhau.

 

Trong lịch sử dân tộc, mọi “dỗ nín” về tư tưởng đã không ngừng được truyền vào nước ta, nhằm phủ trùm tư tưởng yên mệnh và yên phận. Nhưng trong thời đại mà triết lý dân tộc tỏa sáng, thiên ý - nhân luân thuận hợp với nhau, “của báu” của mỗi cá nhân được khai mở thì sẽ nhanh chóng bù đắp vào khuyết điểm nghèo đói tha phương cầu thực, tranh hại lẫn nhau.

 

Mỗi người đều có một viên ngọc báu vô giá. Đó là tài sản chứng minh sự giàu có chung của cả cộng đồng. Mục đích yên dân không bao giờ đi ra ngoài việc làm mạnh nội lực dân tộc từ mỗi cá nhân. Nói cách khác, tư tưởng yên dân phải xuất phát từ những hành động thiết thực “lấy ý thiên hạ làm ý của mình, lấy tâm của thiên hạ làm tâm của mình”.

 

Thích Thanh Thắng


Trích từ:


Nguyệt san Xuân Giác Ngộ Canh Dần

(Thư Viện Hoa Sen)


*** HỘI NGHỊ DIÊN HỒNG ***


Toàn dân! Nghe chăng? Sơn hà nguy biến!

Hận thù đằng đằng! Biên thủy rung chuyển.

Tuông giày non sông rền vang tiếng vó câu.

Gây oán nghìn thu,

Toàn dân Tiên Long! Sơn hà nguy biến!

Hận thù đằng đằng! Nên hòa hay chiến?

Diên Hồng tâu lên cùng Minh đế báo ân,

Hỡi đâu tứ dân!

Kìa vừng hồng tràn lan trên đĩnh núi,

Ôi, Thăng long! Khói kinh kỳ phơi phớ.i

Loa vang vang, chiếu ban truyền bốn phương,

Theo gió bay khắp miền sông núi réo đòi.

Lòng dân Lạc Hồng nhìn non nước yêu quê hương.

Giống anh hùng nâng cao chí lớn, 

Giống anh hùng đua sức tráng cường.

Ta lên đường lòng mong tâu lên Long nhan,

Giòng Lạc Hồng xin thề liều than liều thân!

Đường còn dài,

Hồn vương trên quan tái,

Xa xa trông áng mây đầu non đoài.

Trông quân Nguyên tàn phá non sông nhà,

Đọat thành trì toan xéo giày lăng miếu.

Nhìn quân gian ác lấn xâm tràn nước ta,

Ôi sông núi nhà rền tiếng muôn dân kêu la!

(Hỏi) Trước nhục nước nên hòa hay nên chiến?

(Đáp) Quyết chiến!

(Hỏi) Trước nhục nước nên hòa hay nên chiến?

(Đáp) Quyết chiến!

Quyết chiến luôn!

Cứu nước nhà,

Nối chí dân anh hùng.

(Hỏi) Thế nước yếu lấy gì lo chiến chinh?

(Đáp) Hy sinh!

(Hỏi) Thế nước yếu lấy gì lo chiến chinh?

(Đáp) Hy sinh!

Thề liêu thân cho sông núi.

Muôn năm lừng uy!

_______________

thuvienhoasen.org

NỀN TẢNG ĐẠO PHẬT VÀ HỌC THUYẾT TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC

 

Lời giới thiệu: Chúng tôi viết quyển sách này với mong muốn được trình bày theo cái hiểu và suy nghĩ của riêng mình. Kính mong rằng các bậc cao Tăng thạc đức niềm tình tha thứ nếu có chỗ nào sai xót. Chúng con hàng hậu học, vừa học, vừa tu vừa hướng dẫn lấy Kinh luật luận làm nền tảng. Trước tiên, chúng ta cần phải hiểu biết rõ ràng về Phật giáo và ứng dụng lời Phật dạy trong đời sống hằng ngày. Chuyển nghiệp là quá trình nỗ lực làm cho phàm tính trong con người trở thành Thánh tính của bậc hiền. Phàm phu chuyển hóa, lữ khách xoay đầu. Tuy nhiên chỗ này, ranh giới mê ngộ trong đường tơ kẻ tóc, phải thật là cẩn thận mới được. Chiếc chìa khóa vạn năng của việc này không gì khác hơn là sự quyết tâm đổi đời, làm mới lại chính mình với những chất liệu của bình yên, hạnh phúc ngay tại đây và bây giờ. Mấu chốt của việc này nằm ở chỗ khởi phát lòng tự tin chính mình, quyết tâm nỗ lực làm mới để chuyển hóa những thói quen làm tổn hại cho người vật mà sống đời an vui, hạnh phúc.

Hiện nay, chúng ta đang sống trong thời đại văn minh vật chất dưới sự tiếp cận của khoa học hiện đại, do đó cần phải truyền bá Phật giáo thích hợp với căn cơ, trình độ của mọi người mà vẫn giữ được bản chất giác ngộ, giải thoát. Ở đây, chiêu thuật của nhà Thiền chỉ là “tâm cảnh như như”, vào được thì sống, không vào được thì chết. Tuy nhiên cũng phải mất mấy mươi năm tương chao mới có thể thốt ra được lời “à, thì ra là vậy” trước muôn ngàn ngỗn ngang của cuộc tồn sinh nhiễu nhương này.

Mục đích của đạo Phật là tìm ra lẽ thật của thân tâm và hoàn cảnh. Chúng ta phải nói ra những gì chân thật để mọi người hiểu đúng Phật giáo mà không còn nghi ngờ điều gì. Phá bỏ những tập tục mê tín của các truyền thuyết khác xen vào làm mờ tối đạo Phật là việc cần thiết tối quan trọng nhằm giúp mọi người tin sâu nhân quả theo nguyên lý duyên sinh, làm lành được hưởng phước, làm ác chịu khổ đau. Này cácthiện hữu tri thức! Không có gì là kết thúc, không có gì không thể làm được, miễn là ta không nản lòng, không thất vọng, hay bỏ cuộc nửa chừng. Với một quyết tâm cao độ, với ý chí sắt đá, với nhận thức làm mới, tôi tin chắc rằng, ta sẽ làm chủ được bản thân, làm chủ được vận mệnh của mình.

Bài kinh Chuyển Pháp Luân của đức Phật, giảng tại vườn Nai cho năm anh em Kiều Trần Như nghe, Bát Chính Đạo là nội dung chính Đức Phật muốn nói ra, khi Ngài đã lìa khỏi hai cực đoan. Đức Phật đã trải qua hai lối sống hưởng thụ lợi lạc, đam mê ái dục, danh lợi, quyền lực trong cung điện, và sáu năm tu khổ hạnh nhưng không tìm ra lối thoát. Ý nghĩa chính của con đường trung đạo là sự thức tỉnh và thấy biết đúng như thật của đức Phật qua hai kinh nghiệm từng trải trong đời, để rút ra một kết luận và khuyên nhủ mọi người đừng để bị rơi vào hai cực đoan ấy.

Thứ nhất là đắm mình trong dục lạc thế gian như tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn ngon, ngủ nhiều, dẫn đến nguy hại, là một điều chúng ta cần phải tránh xa. Tự hành hạ mình bằng các hình thức tu khổ hạnh, ép xác, dẫn đến thân đau khổ, tâm u mê, không sáng suốt, tác hại vô cùng là điều ta không bao giờ nên làm.

Đức Phật cho thấy, cuộc sống của chúng ta ít bao giờ được hoàn hảo với bất cứ một ai. Ai cũng có một nỗi khổ, niềm đau riêng, bởi bản chất của con người, ai cũng đều có khát vọng, mong muốn, tìm cầu hưởng thụ tiện nghi vật chất. Khi những chướng duyên, nghịch cảnh của xã hội làm cho con người phiền muộn, đau khổ, họ sẽ tìm về với gia đình, người thân, mong được an ủi, sẻ chia và nâng đỡ. Đức Phật có tầm nhìn và sự hiểu biết sâu rộng hơn, nhờ trải qua hai lối sống thái quá, nên Ngài biết cách tìm về con đường trung đạo, nhằm giúp bản thân hoàn thiện, cùng nâng đỡ, sẻ chia, để mọi người cùng đạt đến sự an lạc, hạnh phúc trong cuộc sống hiện tại.

Chánh kiến, chánh tư duy thuộc về trí tuệ. Chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng thuộc về giữ giới. Chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định thuộc về định lực.

Tám nguyên tắc hành động Bát Chánh Đạo không phải là một tiến trình sắp xếp theo thứ tự nhất định, như việc yếu tố này phải đứng trước yếu tố kia. Trên phương diện thiết lập để tu học, tám yếu tố này được chia ra làm ba nhóm:

Nhóm giới luật được liên kết nhau bởi chánh ngữ, chánh nghiệp và chánh mạng. Nhóm định lực được kết hợp hài hòa bởi chánh tin tấn, chánh niệm và chánh định. Nhóm trí tuệ được chiêm nghiệm và tu tập bởi chánh kiến và chánh tư duy.

Nói rộng ra là Bát Chánh Đạo, nói gọn lại là Giới-Định-Huệ. Do đó, trí tuệ là một phương tiện tu tập thiện xảo, hầu giúp mọi người thức tỉnh để mở mang tâm trí, và thấy biết đúng như thật. Bát Chánh Đạo là tám con đường ngay thẳng, hay là tám phương pháp nhiệm mầu mật thiết, luôn giúp người Phật tử đạt đến an lạc, hạnh phúc trong đời sống hằng ngày. Trong đạo Phật, Bát Chánh Đạo được xem như phương pháp số một, giúp chúng ta biết cách dứt trừ phiền muộn, khổ đau để đạt đến an vui, tự tại, giải thoát. Đây là sự hiểu biết thông suốt toàn diện về mọi mặt từ thân, tâm và mọi hiện tượng sự vật, giúp ta thức tỉnh để vượt thoát sự ràng buộc ra khỏi cái thấy biết sai lầm, tham lam, ích kỷ, oán giận, thù hằn, ngu si, mê muội thuộc chủ nghĩa cá nhân.

Đức Phật chỉ cho ta biết cách làm chủ bản thân, quay lại chính mình để chuyển hóa nỗi khổ, niềm đau thành an lạc, hạnh phúc ngay tại đây và bây giờ. Vì thấy biết sai lầm mà ta phải chịu khuất phục bởi một đấng thần linh giả tạo, với niềm hy vọng mong mình được cứu rỗi, thoát khỏi bao cảnh lầm than, khổ sở mà chính mình đã tạo ra. Trí tuệ không phải là sự hiểu biết bình thường của tri thức? Mà là một sự thẩm thấu qua quá trình văn, tư, tu đúng phương pháp.

Phật dạy Tứ diệu đế là nền tảng sâu sắc của đạo Phật chân chính, mỗi hành giả phải thấm nhuần và thẩm thấu bốn nguyên lý chắc thật này:

Đây là đau khổ, tức khổ đế là một sự thật.

Đây là nguyên nhân sinh ra đau khổ, tức tham sân si mạn nghi, ác kiến là sự thật.

Đây là sự chấm dứt đau khổ tức là diệt đế hay còn gọi là Niết-bàn hoặc tâm Phật như như…. là sự thật.

Đây là con đường dẫn đến sự chấm dứt khổ đau hoàn toàn, đó là Bát chính đạo, nói gọn lại là giới định tuệ là một sự thật.

Kính ghi

Sa môn Thích Đạt Ma Phổ Giác


- LỜI PHẬT DẠY TRÁNH XA HAI CỰC ĐOAN

Thân và tâm là hai yếu tố quan trọng luôn liên hệ chặt chẽ, mật thiết với nhau trong một cơ thể con người. Nếu ta luôn tỉnh giác hằng ngày, ý thức ba việc thường chớ đủ là ăn mặc, ngủ; hay nói cho đúng hơn, ta phải muốn ít, biết đủ, chỉ ăn uống điều độ vừa đủ để nuôi thân, làm việc, vận động hợp lý, ngủ nghỉ cho có chừng mực, nên thân khỏe mạnh, tinh thần sáng suốt, nhờ vậy mình dễ dàng buông xả mọi dính mắc trong cuộc đời mà thành tựu đạo pháp.

Khi Phật còn tại thế, Ngài thường dạy các đệ tử. Này các Tỳ kheo, có hai cực đoan mà người xuất gia cần phải tránh xa:

-Một là đắm say các dục vọng, tham muốn thấp hèn, thô bỉ, có tính cách phàm phu tục tử, không dẫn đến đức hạnh Thánh nhân, không liên hệ đến mục đích tu tập, giác ngộ, giải thoát.

-Hai là tự mình ép xác, khổ hạnh quá mức, làm thân đau đớn, mệt mỏi, tâm không được thanh tịnh, sáng suốt, không xứng đáng là bậc hiền Thánh, không liên hệ đến mục đích tu tập, giác ngộ, giải thoát.

-Này các Tỳ kheo, ai tu theo đạo giác ngộ, giải thoát, cần phải có chánh trí, tránh xa hai cực đoan này, biết quay trở lại pháp tu trung đạo, làm cho thân tâm hài hòa để thành tựu đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Giác.

-Này các Tỳ kheo, chúng ta hãy theo con đường Trung đạo do Như Lai tu tập, chứng ngộ, có khả năng chịu đựng sự khắc nghiệt trong mọi hoàn cảnh, có được tuệ giác thấu rõ mọi sự vật dẫn đến bình an, hạnh phúc, Niết Bàn và giải thoát.

-Này các Tỳ kheo, con đường Trung đạo, chính là 8 phương pháp nhiệm mầu, chánh đáng: Quan niệm chân chính, tư duy chân chính, lời nói chân chính, hành vi chân chính, nghề nghiệp chân chính, nỗ lực chân chính, ý niệm chân chính và thiền định chân chính. Đây là con đường trung đạo, do Như Lai thấy biết đúng như thật nhờ biết buông xả, nên phát sinh trí tuệ, đưa đến an lạc, hạnh phúc, thể nhập Niết Bàn, giải thoát.

Pháp thoại này Như Lai Thế Tôn nói khi đến vườn Nai để độ năm anh em Kiều Trần Như. Đức Phật khẳng định con đường trung đạo là con đường vượt lên trên hai cực đoan, hưởng thụ dục lạc và khổ hạnh ép xác.

Như vậy, sự hưởng thụ, đắm say theo các cảm xúc khoái lạc giác quan mà đa số nhiều người cho đó là hạnh phúc cao nhất trần đời, những tham vọng trần tục, hay lối tu chịu cực khổ quá mức, đều không phải là chánh đạo, không liên hệ đến mục đích giải thoát.

Hưởng thụ khoái lạc giác quan là lối sống của đức Phật khi còn là hoàng thái tử, Ngài đâu có thiếu thốn thứ gì. Tại sao Phật vẫn từ bỏ hết tất cả, để rồi cuối cùng Ngài được tất cả. Suốt 49 năm giáo hóa độ sinh, Phật chỉ có ba y một bình bát, sống đời rày đây mai đó, tùy bệnh cho thuốc, giúp đỡ mọi người không biết mệt mỏi nhàm chán.

Với lối tu khổ hạnh ép xác, Phật đã từng khổ hạnh như thế suốt sáu năm dài đăng đẳng; cuối cùng, thân thể kiệt quệ, dẫn đến ngất xỉu, may nhờ có cô thôn nữ chăn bò giúp cho bát sữa, nên Ngài hồi tỉnh và chiêm nghiệm lại sự tu tập trong những năm qua. Cuối cùng, Phật đã tìm ra con đường trung đạo. Đây cũng là kim chỉ nam tu tập cho tất cả những người con Phật, nhất là hàng xuất gia. Cả hai cực đoan đều thấp kém, hạ liệt, đắm say trong các dục và tự mình hành xác khổ đau, đều không dẫn đến an lạc, hạnh phúc và giải thoát.

Con đường hưởng thụ dục lạc thế gian như chúng ta đã biết, trong cái vui đó luôn đi đôi với mầm móng khổ đau, nhưng lại vô thường, tạm bợ, mong manh. Vì sao? Vì thương yêu mà xa lìa khổ, oán ghét gặp nhau khổ, mong cầu không được khổ và cuối cùng là chết khổ. Con đường khổ hạnh ép xác làm cho thân thể bại hoại, suy yếu, làm hành giả không đủ sáng suốt, minh mẫn, để hướng tâm vào mục đích giác ngộ, giải thoát.

Chính đức Phật đã trải qua hai lối sống đó, Ngài đã thật sự trải nghiệm trong tu tập chứ không phải lý thuyết suông do suy luận nghĩ bàn. Nhờ vậy, sau khi chứng ngộ, Phật đến vườn Nai để chỉ cho năm người bạn đồng tu khi xưa. Từ xa, năm người này thấy Phật đang đi đến, họ nói với nhau rằng, “Sa môn Cồ Đàm đã tu theo lối hưởng thụ rồi, chúng ta không nên tiếp”. Tuy đã thỏa thuận như thế, nhưng khi Phật đến, người thì lấy nước rửa chân, người thì mời ngồi và tất cả đều cung kính vái chào. Phật bảo: Này các thầy con đường trung đạo là xa lìa hai cực đoan, hưởng thụ và ép xác. Nhờ sự khai mở mà năm anh em đồng tu khi xưa chứng quả giác ngộ, giải thoát.

Như vậy, trong chừng mực nào đó, con đường trung đạo chính là con đường thiết lập lại quân bình, làm cho thân tâm được an ổn, hài hòa và biết cách hướng tâm về mục đích. Muốn được như vậy, ta phải có cái nhìn sáng suốt, nghĩa là muốn ít, biết đủ, ăn vừa đủ để nuôi cơ thể, nhờ vậy thân mạnh khỏe, tâm sáng suốt, nên dễ dàng tu tập để chuyển hóa nỗi khổ, niềm đau thành an lạc, hạnh phúc.

Trong bối cảnh ngày nay, con người văn minh, tiến bộ vượt bực, nền kinh tế xã hội phát triển vật chất dồi dào, nhờ đó mà chùa to Phật lớn được xây dựng theo kiến trúc hiện đại. Đời sống của người xuất gia được nâng cao với nhiều tiện nghi vật chất, phòng cao cửa kính, sang trọng, bề thế và nhiều nhu cầu xa hoa khác. Chúng ta có thể xem đó là lối sống trung đạo hay không? Thế cho nên, ta cần phải tìm hiểu lời Phật dạy cho rõ ràng, chín chắn, để biết cách áp dụng sao cho phù hợp với con đường trung đạo.

Quan trọng hơn hết, đức Phật đã dạy, tinh thần trung đạo của Ngài là thấy biết chân chính, tư duy chân chính, lời nói chân chính, hành vi chân chính, nghề nghiệp chân chính, nỗ lực chân chính, ý niệm chân chính và thiền định chân chính. Như vậy, khi ta tránh xa hai cực đoan chính là dẹp bớt những trở ngại có tính cách thái quá, sang trọng, vì nhiều tiện nghi vật chất quá thì khó tu. Nói chung, ta phải biết tùy thời, tuỳ duyên không nên quá cố chấp, để rơi vào trạng thái tham đắm, dính mắc, bằng cách muốn ít, biết đủ.

Cốt tủy của con đường này là thành tựu chánh kiến, thấu triệt được nguyên lý duyên khởi, vô thường, vô ngã, tất cả thân, tâm và cảnh đều do duyên hợp không thật có. Do đó, ta không chấp ngã, nên không chiếm hữu mà vượt thoát mọi sự ràng buộc của tham-sân-si, nhờ vậy không bị dính mắc vào cái ta và của ta, nên chứng ngộ Niết Bàn, giải thoát.

Ở cực đoan thứ nhất, lúc còn ở trong cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con ngoan, Thái tử Sĩ Đạt Ta đã hưởng thụ đầy đủ mọi lạc thú trên trần đời này, với danh vọng, quyền uy tột đỉnh nhất trong thiên hạ. Với con mắt bình thường của chúng ta, ai cũng ước mơ và mong muốn để được tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn ngon, ngủ ấm, mặc sang, ở và làm việc được đầy đủ tiện nghi, vật chất.

Nhưng đối với Phật khi xưa, Ngài thấy những thứ đó là cạm bẫy cuộc đời, chôn vùi con người vào sự ràng buộc, bởi tham đắm, luyến ái vợ con, còn hơn gông cùm, ngục tối, vì khi hết hạn thì có ngày ra khỏi, còn hưởng thụ khoái lạc giác quan, luyến ái vợ con, coi như bị giam cầm mãi mãi từ đời này sang kiếp nọ không có ngày thôi dứt.

Ở cực đoan thứ nhất, đời sống lợi dưỡng và sự cám dỗ của ngũ dục như tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn ngon, ngủ nhiều, thường làm chúng ta bám víu, chấp vào tự ngã là ta và của ta, nên khởi lên tham muốn chiếm hữu về mình. Cho nên, con người càng trở nên nhu nhược, yếu đuối, thấp hèn hơn, và cuối cùng sẽ không có thời gian, cơ hội để tu tập mà thể nhập con người tâm linh sáng suốt.

Ở cực đoan thứ hai, Ngài cùng tu khổ hạnh ép xác với năm anh em kiều Trần Như ròng rã suốt sáu năm trường, đến độ thân thể tiều tụy chỉ còn da bọc xương, tinh thần u ám, tâm tư không được minh mẫn, sáng suốt, nên không tìm ra lối thoát.

Thân và tâm là hai yếu tố quan trọng luôn liên hệ chặt chẽ, mật thiết với nhau trong một cơ thể con người. Nếu ta luôn tỉnh giác hằng ngày, ý thức ba việc thường chớ đủ là ăn mặc, ngủ; hay nói cho đúng hơn, ta phải muốn ít, biết đủ, chỉ ăn uống điều độ vừa đủ để nuôi thân, làm việc, vận động hợp lý, ngủ nghỉ cho có chừng mực, nên thân khỏe mạnh, tinh thần sáng suốt, nhờ vậy mình dễ dàng buông xả mọi dính mắc trong cuộc đời mà thành tựu đạo pháp.

Nói tóm lại, đức Phật khi xưa đã trải qua hai cực đoan, hưởng thụ và hành xác, để rồi cuối cùng, dưới sự quyết tâm dũng mãnh của bản thân, Ngài đã vượt khỏi hai lối sống cực đoan mà thành tựu con đường trung đạo.

Bát chánh đạo là tám con đường tâm linh mầu nhiệm chân chính. Tám nguyên tắc mầu nhiệm ấy có liên hệ nhân quả rất mật thiết với nhau như sau:

1-Chánh kiến: là hiểu biết đúng đắn, hay thấy biết đúng như thật.

2-Chánh tư duy: Suy nghĩ, xem xét, chiêm nghiệm đúng.

3-Chánh ngữ: Nói lời chân thật, đúng lý lẽ.

4-Chánh nghiệp: Hành động chân chính.

5. Chánh mạng: Làm việc mưu sinh chân chính.

6-Chánh tinh tấn: Cần mẫn và nỗ lực chân chính.

7-Chánh niệm: Ý thức chân chính nhờ sự quán chiếu, soi rọi.

8-Chánh định: kiên định tập trung tâm tư vào con đường chân chính, không để bất cứ điều gì lay chuyển, làm thoái chí, phân tâm.

-TỨ DIỆU ĐẾ LÀ NỀN TẢNG ĐẠO PHẬT

Ngày xưa khi Phật còn tại thế, kinh luật luận được truyền tụng lại bằng miệng, sau này mới được ghi chép lại thành sách. Kinh thì có tam sao thất bổn do người sau thêm thắt vào, để kiểm chứng lại cho chính xác Kinh nào nói dựa trên bốn chân lý tứ diệu đế dựa trên nền tảng nhân quả đạo đức thì đó là Kinh Phật nguyên chất. Đây là một công thức siêu khoa học để xác định Kinh Phật giáo chân chính và Kinh ngụy tạo. Gọi là Kinh tức có Phật nói và đệ tử Phật nói, bây giờ thì các tổ nói cũng dựa trên nền tảng Tứ diệu đế, để triển khai rộng hơn. Bồ-tát Sĩ Đạt Ta từ khi ra đời đến khi xuất gia và thành đạo dưới cội Bồ-đề, thuyết giảng 49 năm hơn ba mươi ngàn quyển Kinh và an nhiên tự tại báo trước ba tháng trước khi nhập Niết-bàn đều nói đến bốn chân lý Tứ diệu đế. Thế cho nên, xưa và nay đã tốn biết bao giấy mực sách vở và những diễn đàn tranh luận để phân biệt Kinh luật luận chính tà mà tới giờ này cũng chưa có học thuyết nào làm sáng tỏ chân lý Phật-đà. Chúng tôi, kẻ hậu học theo suy nghĩ riêng của mình đưa ra phương pháp để xác định Kinh Phật nguyên chất và Kinh Phật đời sau thêm thắt vào để cho phù hợp với phong tục tập quán của nước đó. Phật dạy Tứ diệu đế:

Đây là đau khổ, tức khổ đế.

Đây là nguyên nhân sinh ra đau khổ, tức tham sân si mạn nghi, ác kiến.

Đây là sự chấm dứt đau khổ tức là diệt đế hay còn gọi là Niết-bàn.

Đây là con đường dẫn đến sự chấm dứt đau khổ, đó là Bát chính đạo.

1-Khổ đế: Khổ đế là sự thật rõ ràng, là chân lý chắc chắn cho thấy tất cả nỗi khổ đau của mọi chúng sinh trên trần thế này đều phải gánh chịu, như sinh sống là có khổ, đau ốm là khổ, già nua là khổ, chết là khổ v.v…Yêu thương xa lìa khổ, oán ghét gặp nhau khổ, mong cầu không được như ý khổ, thân tâm không hòa hợp khổ. Những nỗi khổ niềm đau ấy tràn ngập khắp thế gian. Chính vì vậy đức Phật thường ví cuộc đời như là một biển khổ mênh mông vô cùng tận.

2-Tập đế: Tập đế là chân lý chỉ rõ nguyên nhân nguồn gốc của thực trạng đau khổ của kiếp con người. Tập có nghĩa là nhóm lại, gộp lại, là sự huân tập lâu dài rồi trở thành thói quen thâm căn cố đế khó chừa bỏ. Con người và chúng sinh nói chung thấy khổ, biết khổ trong cuộc sống của mình, nhưng thực ra không biết được nguyên nhân sâu xa gây ra nỗi khổ niềm đau. Đức Phật đã chỉ rõ: do vô minh che lấp nên con người không nhận ra thực tướng của vạn vật mà cứ tham đắm chạy theo cái hư ảo nên tạo ra nghiệp. Đó là nguyên nhân dẫn đến đau khổ.

3-Diệt đế: Diệt đế là chân lý thực sự nói về về cảnh giới tốt đẹp mà chúng sinh đạt được khi đã diệt trừ những nỗi khổ cùng những nguyên nhân gây ra đau khổ và được giải thoát. Đó là sự chấm dứt khổ đau. Diệt tức là tịch diệt, nghĩa là không còn khổ đau trong luân hồi sống chết. Khi đó liền thể nhập trạng thái Niết-bàn (Hữu dư Niết bàn). Khi xả bỏ huyễn thân, thân tứ đại không còn (chết, tịch, tịch diệt nay nhập Niết-bàn), khi đó gọi là Vô dư Niết-bàn. Diệt đế còn được gọi là Niết-bàn.

4-Đạo đế: Đạo đế là con đường, là phương pháp hữu hiệu để diệt trừ đau khổ. Đó là chân lý, là thể nhập Niết-bàn, là trạng thái tâm hoàn toàn không còn khổ não. Hay nói khác đi, đó là những phương pháp đúng đắn đưa ta đến con đường diệt mọi đau khổ.

Khi Kinh Phật được phát triển lan rộng đến các nước thì tùy theo phong tục của nước đó mà Kinh Phật có sự thay đổi về ngôn ngữ và Kinh nào vẫn giữ được bản chất chân lý bốn sự thật Tứ diệu đế thì coi như kinh đó là Kinh sống đáng được mọi người tin và tu theo. Văn tư tu là ba dấu móc quan trọng trong cuộc đời của người tu, Kinh Phật chân chính đều dựa trên nền tảng nhân quả hãy tự mình thắp đuốc lên với ánh sáng trí tuệ của chính mình, thắp lên với chính pháp, ta là chủ nhân của bao điều họa phúc. Còn học thuyết nào chỉ cho con người hướng ra bên ngoài, cầu bên ngoài với tư tưởng ỷ lại và nhờ vả thì đó là Kinh ngụy tạo hư dối. Ngày hôm nay Tăng Ni cả nước gần 50.000 ngàn người, nhưng số thầy giảng Kinh thuyết pháp mở khóa tu chỉ đếm trên đầu ngón tay, đây là một thực trạng đau buồn, là nguyên nhân dẫn đến Phật giáo suy đồi bởi do nhiều thế lực chính trị đồng hóa. Các tu sĩ thực tu thực học thì ít, các tu sĩ mượn đạo tạo đời thì nhiều do ảnh hưởng nền văn hóa thực tại của đất nước Việt Nam. Một số người là cán bộ cấp cao sở văn hóa cấp Tỉnh, họ nói rằng xây chùa và phục hưng chùa để thờ cúng tính ngưỡng dân gian. Họ đồng hóa chức năng chùa với đền, miếu giống nhau, vậy mà họ vẫn nắm giữ các chức vụ cao trong nghành văn hóa cấp Tỉnh. Chùa được xây dựng để hướng dẫn đạo đức làm người, hướng dẫn chân lý sống đạo đức Phật giáo chân chính, mở các khóa tu để hướng dẫn cho Phật tử tại gia tu học, chứ không phải như nhiều người lầm tưởng đền, chùa, miếu, phủ giống nhau như một. Chúng ta cùng nghe bài pháp đầu tiên sau khi thành đạo dưới cội Bồ-đề đức Phật dạy 5 anh em Kiều Trần Như:

Chúng tôi xin dẫn bài kinh đầu tiên Chuyển Pháp Luân, đức Phật dạy năm vị Tỳ-kheo trước kia đã từng theo Ngài tu khổ hạnh. Đó là bài kinh nói về Tứ diệu đế. Đây là bài kinh hết sức cụ thể, thực tế, không có gì khó hiểu hay huyền hoặc.

-KINH CHUYỂN PHÁP LUÂN

Tôi nghe như vầy, sau khi thành đạo, lần đầu tiên Đức Thế Tôn chuyển bánh xe chánh pháp tại Vườn Nai. Tại đây, Ngài dạy năm vị Tỳ-kheo đầu tiên rằng:

Này các Tỳ-kheo, có hai cực đoan mà người xuất gia không nên làm theo. Những gì là hai. Một là đam mê say đắm các dục lạc thấp hèn, có tính cách thô bỉ, phàm tục, không dẫn đến phẩm hạnh cao quý thánh nhân, làm xa rời mục đích tu tập. Hai là tự làm khổ mình bằng các lối tu khổ hạnh ép xác, không thích hợp với các phẩm hạnh bậc thánh, không dẫn đến mục đích giác ngộ, giải thoát.

Này các Tỳ-kheo, các vị phải loại bỏ và tránh xa hai cực đoan vô ích này. Hãy đi theo con đường Trung Đạo do Như Lai chứng ngộ, có khả năng đem lại pháp nhãn và trí tuệ thấy biết đúng như thật, dẫn đến sự an tịnh, thánh trí, giác ngộ và Niết-bàn.

Này các Tỳ-kheo, đây là Thánh đế con đường Trung Đạo diệt khổ, chính là tám phương pháp nhiệm mầu: quan điểm chân chính, tư duy chân chính, lời nói chân chính, hành vi chân chính, nghề nghiệp chân chính, nỗ lực chân chính, ý niệm chân chính và thiền định chân chính.

Này các Tỳ-kheo, sau đây là bốn chân lý cao quý vi diệu của cuộc đời:

Chân lý thứ nhất là thực tại đau khổ. Sinh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, thương yêu mà phải xa nhau là khổ, thù ghét mà phải gặp nhau là khổ, mong cầu mà không toại nguyện là khổ, chấp vào thân năm uẫn là khổ và cuối cùng là sầu bi khổ não.

Chân lý thứ hai là nguyên nhân dẫn đến đau khổ. Đó là phiền não nhiễm ô, là tâm dính mắc ái dục, là sự tham đắm và chấp thủ về cái ta, cái của ta, là dục ái, hữu ái và phi hữu ái.

Chân lý thứ ba là Niết-bàn, tức là sự trừ diệt hoàn toàn gốc rễ của khổ đau và những nguyên nhân dẫn đến đau khổ. Đó là sự không còn chấp trước bởi đam mê say đắm ham muốn, biết buông xả và dẫn đến giác ngộ, giải thoát.

Chân lý thứ tư là con đường dẫn đến Niết-bàn, đó là tám phương pháp tâm linh mầu nhiệm, là con đường Trung đạo.

Này các Tỳ-kheo, mỗi hành giả cần phải thấu hiểu về thực tại khổ đau. Đó là điều trước đây ta chưa từng được nghe biết, nay ta đã khám phá, có khả năng đem lại pháp nhãn và trí tuệ thấu rõ mọi sự vật.

Này các Tỳ-kheo, mỗi hành giả cần phải trừ diệt hoàn toàn gốc rễ dẫn đến khổ đau. Đó là điều trước đây ta chưa từng được nghe biết, nay ta đã khám phá, có khả năng đem lại pháp nhãn và trí tuệ thấu rõ mọi sự vật.

Này các Tỳ-kheo, mỗi hành giả cần phải tu tập trọn vẹn con đường dẫn đến Niết-bàn. Đó là điều trước đây ta chưa từng được nghe biết, nay ta đã khám phá, có khả năng đem lại pháp nhãn và trí tuệ thấu rõ mọi sự vật.

Như vậy, này các Tỳ-kheo chỉ khi nào tri kiến tuyệt đối như thực của Như Lai về bốn chân lý vi diệu của cuộc đời dưới ba sắc thái, gồm mười hai khía cạnh đã trở nên hoàn toàn sáng tỏ, thì khi ấy Như Lai mới xác nhận với thế gian, gồm chư thiên, ma vương, Phạm Thiên, giữa các đoàn thể Sa-môn, Bà-la-môn, giữa loài trời và loài người rằng Như Lai đã chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Tâm Như Lai đã giải thoát và an tịnh tuyệt đối, đời sống này là cuối cùng, Như Lai không còn bị luân hồi sinh tử nữa. (Bản dịch Hòa thượng Minh Châu)

”Khổ Đế là một sự thật, khi những đau khổ về vật chất và tinh thần bất kỳ ai từ khi bắt đầu nhận thức đã buộc phải trải qua ở các mức độ khác nhau. Khi chúng ta chưa được giải thoát hoàn toàn khỏi sự khổ, tam chuyển vẫn có ý nghĩa lớn trong việc làm giảm bớt nỗi đau thế gian, nếu mỗi người đều biết nhận diện, ôm ấp vỗ về và chuyển hóa nỗi đau của chính mình và người xung quanh. Bước đầu tiên phải là công nhận có sự đau khổ đó, chúng ta mới thể giúp mình và giúp người khác vượt qua nó.

Tập Đế là căn nguyên gây ra sự Khổ, là do “ tham ái”, những ham muốn của chúng ta, thường là vì ta bám vào chính ta. Dục ái thể hiện những tham muốn khoái lạc qua năm giác quan, ví dụ như là ở trong cái gì mắt thấy đẹp thì ưa, tai nghe âm thanh êm dịu thì say mê, mũi ngửi mùi thơm thì vui, ăn thì thích món ngon, xúc chạm thì muốn sự thoải mái. Hữu ái là bị phụ thuộc lôi kéo bởi “tôi là” và những thứ “tôi muốn, tôi có, tôi nhất định phải có”. Phi hữu ái là bị khó chịu vì những thứ “không phải là tôi” và “tôi không chấp nhận được”. Bám víu vào “luyến ái” làm ta khổ. Mức độ tham ái càng cao, thì con người chúng ta càng xa con đường trí tuệ và càng sa lầy vào vũng bùn đau khổ.

Diệt Đế là diệt bỏ những căn nguyên gây ra sự khổ, không tham ái, không chấp trước, không dính vào thân tâm và hoàn cảnh. Sự buông bỏ chấp trước, giúp chúng ta tu tập về quán sát canh giữ tâm mình, để có cái nhìn khách quan về bản thân và ngoại cảnh, và không bị những ý thích chủ quan che mờ lý trí, từ đó sinh ra tâm không phân biệt, khởi đầu của trí tuệ giải thoát. Ngoài ra cũng có một số Sa-môn, Bà-la-môn khác xuyên tạc đức Phật một cách hồ đồ, họ bảo rằng: “Sa-môn Gotama chủ trương chủ nghĩa Hư vô, đề cao đoạn diệt, nhằm tiêu diệt các loài hữu tình”. Để trả lời những người này, đức Phật giải thích: “Này các Bà-la-môn, Ta chỉ nói lên sự khổ và phương pháp diệt khổ. Do vậy, nếu có người hủy báng, nhục mạ làm cho Ta tức giận, thì ở đây Ta không tức giận. Trái lại, nếu có người tôn kính, tán thán Ta, thì ở đây Ta không hãnh diện. Vì sao vậy? Vì Ta nghĩ rằng: pháp này đã có từ nghìn xưa, và đây là những bổn phận mà Ta phải thực hiện.”

Đạo Đế chỉ ra con đường đưa đến Khổ diệt, hay còn gọi là Bát chánh đạo, bao gồm Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định.

-KHỔ ĐẾ LÀ MỘT SỰ THẬT?

Khổ là sự khó chịu, bất như ý, không toại nguyện, là trạng thái tâm lý trái ngược lại với vui vẻ, sung sướng, hạnh phúc, thoải mái, dễ chịu, hài lòng, lạc quan và thỏa mãn... Nỗi đau đớn, buồn phiền, lo lắng, sợ hãi, bất mãn, thất vọng, tuyệt vọng, đau nhức... đều được xem là khổ.

Chúng ta thường nghe nói "có thân là có bệnh", hay nói cho rõ ràng hơn "có thân phải khổ vì thân”, chính vì thế ta cũng đừng trách tại sao phải như thế, con người đều khốn khổ vì mang thân bệnh. Khổ vì thân" có hai loại chính: bệnh khổ và tai nạn khổ, còn vô số cái khổ khác cũng làm cho con người ta điên đảo từ chuyện nhức đầu, đau răng, cảm mạo cho đến những bệnh nan y do ảnh hưởng ô nhiễm của môi trường độc hại gây ra.

Như vậy, ai làm người cũng khổ vì thân hay bệnh khổ là điều tất yếu trên thế gian này. Nhưng, những cái khổ đó chưa quan trọng bằng cái khổ bởi vô minh trong nhiều đời gây ra, có nghĩa là không phân biệt được đúng sai, chánh tà, phải quấy, tốt xấu. Một người bình thường nhìn thấy người khiếm thị hoặc tật nguyền, họ nghĩ rằng nạn nhân chắc là thống khổ lắm, nếu nạn nhân đó bị bẩm sinh thì họ cũng có cảm giác bình thường như bao người bình thường khác về thân thể. Nếu người đang mù bổng nhiên được chữa trị, cặp mắt sáng lại thì họ có cảm giác sung sướng hơn người đang bình thường.

Chính vì vậy một người đang sáng mắt và một bệnh nhân được chữa lành mắt sáng, cảm thọ của hai người khác nhau, là do sự tác động tâm lý mà có. Nếu thân vật lý không bị tác động bởi trạng thái tâm lý thì cái gọi là khổ của thân vật chất chưa hẳn là thật khổ.

Cuộc sống của chúng ta có quá nhiều nỗi khổ niềm đau, luôn luôn bám víu vào thân phận con người. Khổ về bản thân như đau ốm bệnh tật, già nua. Khổ vì người thân trong gia đình bị mất mát chia lìa. Khổ vì vợ chồng không cảm thông và tha thứ cho nhau nên dẫn đến ly dị. Khổ vì con cái bụi đời nghiện ngập hút sách bê tha hư hỏng. Khổ vì phải làm việc nhọc nhằn, vất vả để lo cho gia đình người thân: Như lo ăn, lo uống, lo mặc, lo chỗ ăn ở, lo nghèo giàu đủ thứ…

Khổ vì hoàn cảnh như chiến tranh, thiên tai lũ lụt, hạn hán, mất mùa, dịch bệnh. Khổ vì thi rớt, vì thất tình, vì của cải bị phá sản, vì thua bài bạc bán hết gia tài, vì bị giựt hụi mất hết một số tiền lớn .v..v. Luận về những nỗi khổ ở đời, thì bất cứ ai cũng có những nỗi khổ niềm đau của riêng mình. Khổ được biểu hiện qua phần thân và tâm. Cơ thể đau nhức là nỗi khổ ở thân này, chẳng hạn như cảm giác đau đớn do bệnh tật hay tai nạn, và cảm thấy khó chịu do nóng lạnh, đói khát. Tâm đau khổ như bất mãn, phiền muộn, buồn rầu, lo lắng, sợ hãi, bất an bởi những thứ không được hài lòng vừa ý.

“Ai không biết tu sẽ vui ít khổ nhiều.

Thế gian có mấy người được hạnh phúc trọn vẹn”?

-KHỔ ĐẾ GỒM CÓ HAI LOẠI VẬT CHẤT VÀ TINH THẦN:

a-Khổ đau khi mới sinh ra: Phật giáo đã du nhập vào Việt Nam trên hai ngàn năm nay, hầu như đã thấm nhuần trong lòng dân tộc về lẽ thật hư của cuộc đời. Chính là nhờ Phật giáo nói đúng lẽ thật, phù hợp với tinh thần khoa học hiện nay, giúp cho con người có nhận thức sáng suốt và hiểu biết đúng như thật, cho nên Phật giáo rất thực tế, không phải huyền hoặc.

Nhất là những người lớn tuổi không tìm hiểu đúng chánh pháp, do ảnh hưởng quá nhiều các tín ngưỡng dân gian, chính vì vậy mà một số người cho rằng đạo Phật là bi quan, yếm thế, chán chường. Đó chính là những nguyên nhân khiến cho Phật pháp đi đến suy tàn. Nếu chúng ta cứ để cái đà này như thế mãi, các thế hệ phật tử về sau, chắc chắn sẽ tránh xa đạo Phật, vì thấy đạo Phật không còn thích hợp với thời đại mới, với nền khoa học hiện đại.

Bây giờ chúng ta sẽ tìm hiểu tám loại khổ qua cách nhìn của đạo Phật: sinh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ, yêu thương xa lìa khổ, mong cầu không như ý khổ, oán ghét gặp nhau khổ, thân này thịnh hay suy cũng đều khổ.

Khổ đế, chữ “đế” nghĩa là chắc thật, không sai chạy. Như vậy cái khổ Phật đưa ra là một lẽ thật, không ai chối cãi được. Khổ có mấy thứ? Đầu tiên là khổ về thân. Thân này có sinh, già, bệnh, chết, bốn thứ đó Phật nói là khổ. Có người chưa chịu sanh là khổ, vì lúc mới lọt lòng mẹ có biết gì đâu mà khổ. Nói không biết gì hơi quá đáng, không biết, vậy chớ ai khóc? Biết khóc tức là có cảm giác khổ. Trăm đứa bé lọt lòng mẹ đều khóc, chứng tỏ chúng có cảm thọ khổ. Đó là khổ khi sinh.

Như vậy đời sống của chúng ta thường gặp khổ nhiều hơn vui. Khi lọt lòng mẹ đã có cảm giác khổ, rồi trong cuộc sống kéo dài mấy mươi năm cũng khổ. Vì vậy Phật nói sinh khổ, chúng ta không thể chối cãi được? Thế nhưng nhiều người lại cứ tưởng như vui, đó là vui trong tưởng tượng thôi chớ không có thật. Vậy mà thiên hạ cứ bảo cuộc đời là hạnh phúc bởi vì nó có nhiều thú vui làm cho con người ta đam mê say đắm dính mắc vào đấy mà chịu muôn vàn sự khổ đau. Thực tế hạnh phúc thì quá ít, còn đau khổ thì quá nhiều. Đó là khổ thứ nhất, sinh khổ.

Là nỗi khổ trong sự sinh ra. Loài người khi ở trong thai đã có tình thức. Do có tình thức nên có sự cử động cảm xúc. Khi mẹ ăn thức lạnh vào cảm thấy như ở trong giá băng; lúc ăn thức nóng vào cảm thấy như bị nung đốt. Thai nhi sống trong chỗ chật hẹp, tối tăm và nhơ nhớp, vừa lọt lòng đã kêu khóc oa oa. Rồi từ đó khi lạnh, nóng, đói, khát, muỗi, kiến cắn đốt, chỉ biết kêu khóc mà thôi. Huệ nhãn của Phật thấy rõ những chi tiết ấy, nên Ngài mới xác quyết rằng sinh là khổ. Sinh khổ theo tuệ giác của Thế tôn có 5 loại:

– Thọ thai: Lúc thần thức gá vào thai mẹ, ở trong bụng mẹ chật chội và dơ bẩn chịu nhiều bó buộc.

– Chủng tử: Sau khi thần thức gá vào tinh trùng của cha và noãn cầu của mẹ, thân thể sẽ tùy theo hơi thở của mẹ mà tồn tại, không được tự do thoải mái bởi do nghiệp lực chiêu cảm.

– Tăng trưởng: Thần thức, thân thể ở trong bụng mẹ, tăng trưởng mỗi ngày, dưới ruột non, trên ruột già, nằm ở giữa như ở tù sống nhờ thức ăn, thức uống của mẹ và sự hô hấp mà thai nhi phát triển theo từng giai đoạn.

– Khi được sinh ra: Trải qua gần 10 tháng thân hình đã phát triển đầy đủ, đây là thời điểm người mẹ chuyển dạ để sinh thai nhi. Suốt thời gian dài nằm trong bụng mẹ, sự sống hoàn toàn nương vào mẹ, được mẹ nuôi dưỡng, nâng niu, che chở. Những khi thai nhi rời khỏi bụng mẹ, thân thể với da thịt non mềm của bé phải tiếp xúc môi trường mới với khí trời lạnh, nóng, gió, mưa, các vật dụng xúc chạm… sẽ cảm nhận đau buốt như bị châm chích. Bé đau nhưng chưa nói được mà chỉ biết khóc, vì thế chúng ta cần phải có thao tác nhẹ nhàng với em bé mới sinh ra.

– Chủng loại: Tức mỗi thai nhi đều có một hình tướng thân mạng nam hay nữ của mình trước khi được sinh ra bởi tướng mạo đầy đủ, xinh đẹp hay khiếm khuyết, xấu xí…

Con người khổ trong sự sinh sống. Người ta khổ từ khi còn là bào thai trong bụng mẹ. Con phải nằm trong bụng mẹ chật hẹp, cũng là khổ. Mẹ phải mang nặng đẻ đau biết bao khó nhọc, đó là khổ. Sinh con ra rồi thì cha mẹ cũng khổ vì phải lo lắng cưu mang và cho ăn uống để duy trì mạng sống. Con người sống trên đời phải mưu kế sinh nhai, làm việc nhọc nhằn, vất vả cho nên khổ.

Sự sinh sống của con người có hai phần khổ: Khổ trong lúc mới sinh ra và kế tiếp là khổ trong đời sống. Khổ trong lúc sinh. Người sinh và kẻ bị sinh đều khổ cả. Khi người mẹ mới có thai là đã bắt đầu biếng ăn, mất ngủ, nôn ọe, dã dượi, bất thần, mệt mỏi... Thai mỗi ngày mỗi lớn, thì người mẹ mỗi ngày mỗi thêm mệt mỏi, nặng nề, đi đứng khó khăn, làm lụng chậm chạp.

Đến khi gần sinh, sự đau đớn hành hạ xác thân người mẹ không sao nói xiết, chỉ có những người từng làm mẹ mới cảm thông cho nỗi đau này. Dầu được thuận thai đi nữa, mẹ cũng phải chịu sự dơ uế cả tháng trời, yếu đuối nhiều tháng, vì tinh huyết hao mòn, ngũ tạng suy kém, nếu không có cha mẹ hai bên chắm sóc thì lại càng khỗ não nhiều hơn. Còn rủi bị nghịch thai, thì mẹ phải bị mổ xẻ, đau đớn trăm bề. Có khi sau một lần sinh bị giải phẩu, mẹ phải chịu tật nguyền suốt cả cuộc đời.

Còn con, từ khi mới đầu thai cho đến lúc chào đời, cũng phải chịu nhiều điều khổ sở. Trải qua chín tháng mười ngày, con bị giam hãm trong khoảng tối tăm, chật hẹp, còn hơn cả lao tù ngục tối! Mẹ đói cơm, khát nước, thì con ở trong thai bào lỏng bỏng như bong bóng phập phều. Mẹ ăn no thì con bị ép như bồng bột bị đè dưới thớt cối, khó bề cựa quậy. Đến kỳ sinh sản, thân con phải chen qua chỗ chật hẹp như bị đá ép bốn bể, nên khi vừa thoát ra ngoài, liền cất tiếng khóc vang: "khổ a! Khổ a!".

-Khổ trong đời sống. Về phương diện vật chất hay tinh thần, đời sống đều có nhiều khổ sở. Về vật chất, con người đòi hỏi những nhu cầu thiết yếu như món ăn, thức uống, đồ mặc, nhà ở, thuốc men.

Để có được những nhu cầu cần thiết ấy, con người phải siêng năng làm việc vất vả nhọc nhằn, đổ mồi hôi, sôi nước mắt, mới mua được chén gạo, bát cơm, manh quần, tấm áo và các phương tiện sống khác. Về phương diện nhà ở, thì có những gia đình phải thuê phòng trọ ở tạm qua ngày, vì không có khả năng tạo dựng được một ngôi nhà nho nhỏ.

Cuộc sống của con người chẳng phải đợi đến cảnh đói khát mới gọi khổ, ăn uống thất thường, thiếu thốn đủ mọi thứ cũng đã là khổ rồi. Đâu phải chỉ có những người nghèo hèn thiếu thốn khó khăn mới khổ đâu? Người giàu có sang trọng cũng vẫn khổ như thường. Muốn có tiền bạc vật chất dồi dào, tất nhiên họ phải thức khuya dậy sớm, buôn tảo bán tần, đầu tắt mặt tối trong công việc, đổ mồ hôi, sôi nước mắt mới có được.

Về phương diện tinh thần, đời người cũng có nhiều điều khổ tâm, có nhiều khi còn đau khổ hơn cả những thiếu thốn vật chất. Tóm lại, về vật chất hay tinh thần, sự sống mang theo nhiều cái khổ. Sinh khổ là như thế bởi vì có nó sự tiếp nối theo quy luật nhân quả, nên đời người khổ là lẽ đương nhiên.

b- Khổ đau khi tuổi già

Sự khổ trong lúc tuổi già. Con người khi già yếu, mắt mờ, tai điếc, gối mỏi lưng còng, chân tay run rẫy, ăn không có cảm giác ngon miệng, ngủ không ngon giấc, trí nhớ giảm sút đáng kể, làn da khô nhăn, răng thường đau nhức, rụng bớt. Dù cho thanh niên cường tráng, hay thiếu nữ khỏe mạnh, theo thời gian rồi cũng phải đối đầu với cái tuổi già yếu này. Người tuổi già thường hay lú lẫn, đây là nỗi khổ niềm đau của người già.

Chúng ta hồi tưởng lại cuộc đời của đức Phật, có một lần đi ra khỏi cổng thành, thái tử thấy một người già ốm o gầy mòn, dung nhan tiều tụy, đi phải dùng gậy chống đỡ, vừa đi vừa thở hỗn hễn rất là đau khổ. Thái tử thấy cảnh người già như thế mới quán xét và chiêm nghiệm, rồi đây mình sẽ già nua, yếu ớt và cũng tàn tạ như vậy. Càng chiêm nghiệm, càng thấm thía sâu sắc, cảnh người già khốn khổ thái tử nghĩ ngay rồi mình cũng sẽ già khổ nên cảm thương họ nhiều hơn.

Chúng ta bây giờ thấy người già mà không biết soi xét lại chính mình để có sự cảm thông và thương tâm những người già nhiều hơn. Thấy người khác già thì chúng ta cũng sẽ già, từ đó ta có sự tôn trọng, kính mến, quan tâm giúp đỡ những người già nhiều hơn. Đồng thời chúng ta quyết tâm sống và tu tập, biết cách làm chủ bản thân để thoát khỏi sự chi phối khổ sở của tuổi già.

Phật dạy: sinh già bệnh chết khổ đó là một sự thật của kiếp người. Già là khổ. Vì sao già lại khổ? Hiểu biết nhận thức giảm sút, mắt mờ tai điếc, đi đứng lọng cọng, gối mõi lưng còng, ăn uống khó khăn…. già như vậy quả thật là khổ. Rồi sao nữa bệnh là khổ, quý vị nào có vào bệnh viện sẽ thấy từ em bé sơ sinh cho đến người già bệnh mà không đủ chỗ nằm thậm chí phải nằm ngoài hành lang. Người già lại thường chậm chạp, luống cuống trong mọi sinh hoạt hằng ngày khi ăn uống, lúc đi đại tiểu tiện… và thường làm nhớp nhơ. Con cháu dù thân thương đến đâu cũng sanh nhàm chán, bực bội, xa lánh, sao nhãng bổn phận. Chính những hành động, thái độ thiếu hiểu biết, vô trách nhiệm của con cháu đã khiến người tuổi già chịu nhiều đau khổ.

Chỉ có những người con chí hiếu, thì dù ở vào hoàn cảnh nào cũng thương yêu, kính quí, chăm sóc chu toàn cho ông bà, cha mẹ. Quả thật tuổi già thật đáng buồn tủi, khổ sầu nếu không biết tu sửa. Thời thanh niên cường tráng đã qua, thời già nua suy yếu đến, mạng sống con người cứ rút ngắn theo thời gian và cuối cùng thể xác đi dần đến hư hoại. Có những người lớn tuổi già yếu rồi, nhưng khi ngồi với nhau nói toàn những chuyện quá khứ hào hùng của mình thuở trước như để khoe hay, khoe giỏi cho nên khi con cháu không đáp ứng nhu cầu cần thiết thì cau có, giận dỗi buồn phiền. Nhiều người bây giờ đã già mà vẫn không chịu biết mình đang già, nếu khéo nhìn lại, thấy mình đã già yếu.

Bây giờ chỉ dốc tâm tu tập, kiếm chút ít tư lương, tích tạo phước đức để ngày ra đi được an ổn, nhẹ nhàng. Chúng ta dám nhìn thẳng vào sự thật là đã biết cách học theo hạnh giác ngộ của đức Phật. Lúc còn trai tráng, thái tử đang là một người có đầy đủ tất cả quyền uy, thế lực, văn võ song toàn. Vậy mà khi thấy người già thì liền biết mình rồi cũng sẽ già nua và yếu ốm như người kia. Thấy rõ cuộc đời không có gì đáng để gọi là vui cho nên Ngài quyết chí xuất trần. Nhìn nhận, chiêm nghiệm và thấu tột được như vậy là chúng ta đã biết học theo cái nhìn của bậc giác ngộ.

Trong thực tế khi con người khi già rồi, các căn đều suy yếu, mắt mờ, tai lãng, lưng mỏi, chân run, ăn thấy kém ngon, ngủ không an giấc, trí nhớ chẳng còn minh mẫn, làn da khô nhăn, răng lần lần đau nhức chuyển rụng. Lắm kẻ tuổi già lờ lẫn, khi ăn mặc, lúc đại tiểu tiện đều nhớp nhơ, con cháu dù thương tiếc giúp đỡ, nhưng lâu ngày rồi cũng sanh nhàm chán muốn bỏ bê. Xét ra cái già thật không có gì là vui thú nếu chúng ta không biết tu tập chuyển hóa thì càng già, càng khổ hơn.

c-Khổ đau khi bệnh tật

Là sự khổ đau trong cơn đau bệnh. Có thân là có bịnh, từ những loại bệnh nhẹ thuộc ngoại cảm, đến các chứng bịnh nặng thuộc nội thương. Trong cuộc thế, có rất nhiều người vướng phải những bệnh nan y như: ung thư, lao, cùi, tiểu đường, tai biến... Vướng vào những bệnh nan y, tự thân cảm thấy đau đớn, lại tốn kém, hoặc không có tiền chạy chữa lại càng khổ hơn. Sự khổ lụy không chỉ riêng mình, mà còn khiến cho gia đình người thân bị ảnh hưởng theo. Bệnh khổ có 2 loại:

Thân bệnh: Thân bệnh là tất cả những chứng bệnh con người mắc phải, gánh chịu. những chứng bệnh này đều do tứ đại không điều hòa mà phát sanh, như địa đại không điều hòa, thì thân thể nặng nề; phong đại không điều hòa, thì thân thể bị tê cứng; thủy đại không điều hòa, thì thân thể bị phù thũng; hỏa đại không điều hòa, thì thân thể bị nóng bức..
Tâm bệnh: Trong lòng luôn ôm ấp những tâm lý khổ não, buồn thảm, bi ai, lo lắng bất an, sợ hãi, cô đơn trong tuyệt vọng...

Rồi một lần khác thấy một người bệnh đang rên đau, thái tử nghĩ, hóa ra con người ta cũng có khi phải bệnh đau như vậy! Cùng là thân người như nhau, nhưng người kia đang bị bệnh thì có lúc mình cũng phải bị bệnh như mọi người. Đã bệnh thì phải đớn đau, khổ sở trăm bề không có gì là vui hết. Từ đó thái tử thấy được sự tạm bợ của thân người và sự sống này không có gì bền chắc, ý chí xuất trần trong thái tử được nung nấu mạnh mẽ hơn. Chúng ta thấy được như vậy thì không còn nhầm tưởng thấy mình khỏe mạnh mãi để sanh tâm ngã mạn, xem thường người khác. Đồng thời chúng ta sẽ cảm thông, thương yêu người bệnh và tìm cách để vượt lên, không bị bệnh hoạn khổ đau chi phối.

Từ đó chúng ta sẽ có sự thông cảm, thương yêu bệnh nhân, tôn trọng mọi người, không thờ ơ hay xem thường một ai. Chúng ta thấy người khác bệnh thì liền biết rồi mình cũng sẽ bệnh như mọi người. Người đó bệnh đau, lo sợ, hoang mang thì đến lúc chúng ta bệnh, cũng có những nỗi đau và tâm trạng giống như họ vậy thôi.

Thấy người khác bệnh, biết mình rồi cũng sẽ bệnh. Từ đó thấy rõ thân này mong manh, giả tạm, không chắc thật, nên ta không bám víu dính mắc. Khi chúng ta không bám víu thân này, cảnh sống này thì các mê lầm, khổ não, rắc rối khác sẽ không có ra. Đồng thời, chúng ta sẽ cảm thông, thương yêu, tôn trọng người bệnh, từ đó thiện căn được tăng trưởng và giảm sự chấp ngã về thân này.

d-Chết là nỗi khổ ai cũng sợ hãi

Thứ tư là chết khổ. Như chúng ta thấy người thân khi sắp lâm chung đau đớn quằn quại rất thống khổ. Đó là chưa kể thần thức hôn mê, người sắp chết thấy những cảnh họ đã làm lúc hiện tiện, lòng họ hoảng sợ, kêu gào than khóc, thật là thảm thương. Ai cũng tham sống sợ chết muốn sống dai, sống già, sống thọ cho nên nhiều người tìm cách để luyện trường sanh bất tử nhưng cuối cùng rồi ai cũng phải chết. Và chết là một sự thật không tha bất cứ một ai, dù là đức Phật cũng phải xả thọ mạng này khi hết duyên đời. Mình muốn sống hoài mà không được, cho nên nếu ai không biết tu, gần chết rất khổ sở vì không biết mình sẽ đi về đâu.

Mọi người đều muốn sống an vui, chết nhẹ nhàng, nhưng việc ấy rất khó toại nguyện, mà phần nhiều thân thể con người luôn bị bịnh khổ hành hạ đau đớn cho đến khi chết. Thân đã bị bệnh khổ như thế, tâm lại càng hãi hùng, lo sợ, tham tiếc tài sản của cải mình tạo ra, luyến tiếc vợ con trước khi nhắm mắt lìa đời nên lại càng khốn khổ hơn. Chết, quả thật là rất khổ nên ai cũng sợ. Chết khổ có 2 loại:

Cơn bệnh kéo lâu dài, mạng sống hết phải chết. Chết do duyên bên ngoài đưa đến bất đắc kỳ tử: Gặp chuyện không may bị người giết hại hoặc bị tai nạn mà chết, bị chết nước, lửa thiêu... vì chiến tranh loạn lạc mà chết. Khi đi ra bốn cửa thành, thái tử thấy một người chết. Thấy vậy, thái tử liền nhìn lại và nhận ra rằng, người ấy chết rồi đến lúc mình cũng sẽ chết. Càng thấy rõ sự tạm bợ của kiếp người, chí xuất trần của thái tử càng nung nấu mãnh liệt hơn. Mới ngày nào đây còn liệt liệt, oanh oanh, sao bây giờ chỉ còn lại một tấm thân tàn ma dại, nằm bất động, ai làm gì cũng không biết. Chúng ta bây giờ tận mắt chứng kiến cảnh người chết, chúng ta mới thấy tấm thân này quá mỏng manh, kiếp người quá ngắn ngủi, cõi đời thật phù du, giả tạm.

Nếu chúng ta thấy rõ được sự mong manh của kiếp sống con người, thấy được khoảng thời gian sống và chết kề cận một bên thì chúng ta sẽ tỉnh giác mạnh hơn, không bao giờ có sự tranh cãi nhau nữa. Tranh cãi, giận dữ là do người kia không tự làm chủ được chính họ. Chính khi đang giận dữ họ cũng rất khổ sở chứ không sung sướng gì. Mình là người tỉnh táo làm chủ được mới thấy rõ nên thông cảm và thương họ, tội nghiệp cho người ta. Thấy được như vậy thì chúng ta sẽ thương được người hại mình, không tạo nghiệp khổ đau.

Phật nói thân hiện tại của chúng ta đây, mang tính chất đau khổ từ lúc mới sinh, cho đến khi trưởng thành rồi già, bệnh, chết đều phải trải qua nhiều thống khổ. Đó là một lẽ thật. Mới nghe người ta thấy đạo Phật như bi quan, nhưng thực tế đạo Phật rất lạc quan và yêu đời. Đạo Phật nói rõ lẽ thật của cuộc đời, để cho mọi người không lầm lẫn, biết cách làm chủ bản thân trên những khổ vui đó.

Như một ai đó, đang gánh một gánh nặng suốt một chặng đường dài lâu quá cảm thấy mỏi mệt, đuối sức nếu lúc đó để gánh nặng xuống vui hay khổ? Chắc chắn là vui. Còn gánh nặng trên vai thì khổ, để xuống hết nặng là vui. Sau khi biết khổ rồi mới thấy vui, chớ cái vui ấy không ngoài sự khổ. Cũng chính vì thế, đạo Phật nói rõ nguyên nhân của sự khổ đau để chúng ta biết cách chuyển hóa tiêu trừ, khi đó khổ hết thì vui đến.

-BỐN NỖI KHỔ TINH THẦN

a-Yêu thương xa lìa khổ

Kế đến còn bốn thứ khổ về tâm nữa, tổng cộng vừa thân tâm là tám thứ. Nếu kể tiếp theo thì thứ năm là “yêu thương xa lìa khổ”: khổ do thương mến nhau mà phải bị mất mát, xa lìa. Trong cái tình yêu thương giữa vợ chồng, con cái, anh em đang mặn nồng, thắm thiết mà bị chia ly, thì thật không có gì đau đớn hơn. Sự chia ly có hai loại: sanh ly và tử biệt.

Sanh ly khổ: Một gia đình đang sống trong cảnh đàm ấm vui vầy, bỗng bì hoàn cảnh bắt buộc, hay vì một tai họa thình lình xảy ra như giặc giã, bão lụt, hỏa hoạn... làm cho kẻ ở đầu này trông đợi, người ở góc kia nhớ chờ. Thật đau lòng xót dạ tiếc thương!

Điều này trong hoàn cảnh chiến tranh loạn lạc, ta càng thấy rõ. Biết bao thanh niên xa gia đình người thân dấn thân nơi chiến trận chết chóc đau thương không ngày gặp mặt. Người ở nhớ thương, kẻ đi sầu khổ não nề ... Ái nhiều thì khổ nhiều, nếu không có ái thì khổ không thành. Khổ này gốc từ tham ái mà ra. Do khao khát, mong muốn được sống gần người mình thương yêu mà phải xa lìa cho nên khổ. Đó là cái khổ của "Sinh ly".

Chết vĩnh biệt khổ: Nhưng mặc dù xa cách nhau người sống còn có ngày gặp gỡ,chứ chết rồi bao thuở mới được vum vầy! Chính vì vậy, đứng trước cảnh chết chóc đau thương, kẻ ở người đi thương tiếc ngậm ngùi. Do đó, lâm phải cảnh tử biệt này, có người đã xót thương rầu rĩ đến quên ăn, bỏ ngủ, có người đau đớn, khổ sở cho đến tuyệt vọng muốn chết theo người quá cố.

Trong bốn hiện tượng của vô thường; sinh, già, bệnh, chết thì "chết" là cái làm cho mọi người lo lắng sợ hãi nhất. Những người không được may mắn nên bị bịnh nan y như ung thư, bịnh hủi, sida sống thêm một ngày là khổ thêm một ngày, thế mà những người bạc phước ấy cũng vẫn muốn sống đời mà thôi. Chúng ta thấy một người bệnh khi hấp hối bị hành hạ xác thân đau đớn trong khổ sở rồi mới biết cái chết là đáng sợ. Người sắp chết, mệt mỏi thở không ra hơi, méo miệng, uốn mình, giăng tay, bẻ chân... Chúng ta thử rờ vào người chết, thì thấy lạnh ngắt như đồng, thân thể cứng đơ như khúc gỗ.

Con người đang trong cảnh thương yêu mặn nồng, chẳng ai muốn xa lìa nhưng hoàn cảnh trớ trêu kẻ ở người đi trong nỗi nhớ niềm thương! Cái khổ phải biệt ly đối với hai người thương yêu nhau như thế nào, thì cái khổ phải hội ngộ đối với hai người ghét nhau cũng như thế ấy.

b-Oán ghét gặp nhau khổ

Thứ sáu là “oán ghét mà gặp nhau hoài cho nên khổ”. Ngược lại với mến thương là oán ghét. Người mình ghét mà cứ hiện diện trước mặt hoài, ta rất bực bội khó chịu, muốn họ đi đâu cho khuất mắt. Nhưng ngặt nỗi, trên đời này người mình thương thì cứ phải chịu xa lìa, còn kẻ mình ghét thường hay gặp gỡ. Cái khổ oán ghét này gốc từ sân hận mà ra. Do sân hận nên chúng ta rất khổ sở khi làm việc chung với người mà mình oán ghét.

Chưa nói đến trường hợp những người xa lạ, ngay trong gia đình bà con quyến thuộc, giữa vợ chồng, anh em, khi vì một lý do gì đó, sanh ra bất hòa với nhau, cũng đã khổ rồi. Muốn lánh mặt nhau, mà mỗi khi đi ra đi vào lại phải gặp nhau mãi! Quyết không nói chuyện với nhau, mà nhiều khi bắt buộc nín không được, phải nói ra với sự ngượng ngùng khó chịu.

Oán tắng hội khổ, tức là đối với những người mình không ưa thích hay ghét cay ghét đắng, muốn tránh cho khuất mắt mà không thể tránh được, vì phải làm việc và sống chung với nhau. Trong cuộc đời ai cũng có người mến thương ưa thích, nhưng cũng có người thù hằn ghét bỏ vì một lý do nào đó.

Ngược lại với thương yêu là sự thù hằn, ghét bỏ. Không có gì đau khổ bằng thù ghét mà gặp nhau hoài. Thương và ghét là hai vế đối nghịch nhau, đã thương thì không ghét, đã ghét thì không thương; nhưng vì ta hay ích kỷ, hẹp hòi, nên khi thương không được thì sinh ra thù hằn, ghét bỏ, và từ sự ganh ghét đó mà mình có thể hãm hại người kia bằng mọi cách. Thù ghét sẽ làm cho ta xấu xí, khổ đau hơn, vì tâm niệm ích kỷ, oán giận, hờn mát trong lòng, nên lúc nào cũng mong muốn người ấy bị hại, bị khổ, bị mất mát, bị đau thương, thậm chí còn muốn người đó mau chết đi càng sớm càng tốt. Khi ta thù ghét ai, trước tiên ta khổ trước, vì thái độ bực tức không bằng lòng với hiện tại. Người kia chưa khổ, nhưng ta đã tự tàn phá sắc đẹp của mình, thậm chí có khi ta không giằng được cơn nóng giận, nên đánh đập, hành hạ người thân, vì không biết cảm thông và tha thứ. Ta cứ muốn người kia như bản sao của mình, khác đi một chút thì mình không chịu, mình bám víu, chấp trước, thậm chí nhiều khi mình còn ngoan cố, ép buộc người kia phải làm theo. Ta bây giờ đâu phải như đứa trẻ khi còn tấm bé, ta đang lớn khôn và trưởng thành, nên khi mất mát hay bị tổn thất vấn đề nào đó, ta phải biết bình tĩnh để suy xét, nhận định. Nhờ vậy, mình không bị mê mờ bởi thói quen ích kỷ, hẹp hòi mà sinh ra thù ghét.

Thế giới con người do không có tình thương chân thật, nên lúc nào cũng oán giận, thù hằn, ghét bỏ nhau mà sinh ra chiến tranh, binh đao, tàn sát, giết hại lẫn nhau không thương tiếc. Có khi ta nhân danh đấng thần linh thượng đế để trừng phạt thiên hạ, tạo ra biết bao nỗi khổ niềm đau, làm tổn hại cho nhau. Vì ta thương yêu trong ích kỷ, hẹp hòi do không có hiểu biết, nên mình dễ dàng hành hạ, đánh đập người thân khi không làm chủ được cơn sân giận. Ai có tâm niệm thù ghét như thế sẽ không bao giờ tìm được sự an lạc nội tâm, vì trong lòng lúc nào cũng chất chứa bao phiền muộn đau khổ.

Khi ta thương yêu, quý trọng lẫn nhau một cách chân tình, tình thương đó có sự bù đắp lâu dài, nên mình tìm cách bảo vệ và gìn giữ chúng, đến khi cảm thấy bị người phụ bạc, ruồng bỏ, tìm đến người bạn khác, mình cảm thấy bơ vơ, lạc lỏng giữa chợ đời yêu thương, nên tiếc nuối, khóc lóc, hờn giận và cuối cùng dẫn đến thù hằn, ghét bỏ. Một khi ai đã ôm cảm xúc đó vào lòng, thì giống như một lưỡi dao bén đang từ từ cứa vào thân thể, làm ta thất vọng, đau khổ đến tột cùng. Ta không còn sáng suốt nữa mà điên cuồng trong vô vọng. Nếu đã dùng hết cách mà không chuyển hóa được cảm xúc thù ghét, ta phải biết rằng, mình đang rơi vào hố sâu của ngục tù tội lỗi.

Ai dại gì phải chịu như thế trong khi ta có trái tim biết yêu thương, hiểu biết, trái tim tha thứ, biết cảm thông. Ta chỉ nhớ, biết mình như thế thì bao nhiêu cảm xúc oán giận, thù hằn, ghét bỏ không có chỗ ẩn núp. Như ta đã biết, mình là chủ nhân của bao điều họa phúc, mình có trái tim hoàn hảo và đẹp nhất, tại sao phải tự trói buộc lấy nhau vì tâm niệm thù ghét đó, để làm cho gia đình, người thân, bè bạn không có cơ hội gần gũi, sống yêu thương nhau. Một khi đã thù ghét nhau rồi thì thế giới bao la sẽ trở thành một góc trời đen tối, nhỏ hẹp. Gặp một người mà ta hằng oán ghét bấy lâu nay muốn tránh xa mãi lại cũng không sao tránh được. Hoàn cảnh này nếu nằm trong gia đình người thân thì lại càng thống khổ hơn nữa.

Thương và ghét là hai điều kiện có thể làm cho con người khổ đau hay hạnh phúc, thương quá sinh nhớ nhung bi lụy cũng khổ, ghét quá mà ngày nào cũng gặp càng khổ hơn. Đúng ra ta rất khó thương một người chưa từng thương mình, có khi họ thù ghét mình và đã làm cho mình đau khổ. Thương yêu là bản chất của con người, nhưng đa số chỉ thương yêu trong sự ích kỷ, hẹp hòi và có điều kiện, nên không bao giờ có lòng khoan dung, độ lượng, cảm thông và tha thứ. Chính vì sự thương yêu hẹp hòi đó mà dẫn đến ghen tuông, ganh ghét rồi làm khổ cho nhau.

Ai nắm được chiếc chìa khóa của sự yêu thương và ghét bỏ nhờ biết tin sâu nhân quả, tin chính mình là chủ nhân của bao điều họa phúc, sống thành thật, biết sẻ chia và quý kính, tôn trọng lẫn nhau bằng tình người trong cuộc sống, thì thế gian này sẽ là thiên đường của hạnh phúc.

c-Mong cầu không được như ý khổ

Thứ bảy là “mong muốn mà không được như ý khổ”. Những gì mình muốn mà không được thì khổ. Ví dụ đi thi mong muốn được đậu, mà lỡ rớt thì sao? - Khổ quá. Ngoài việc thi cử ra, còn bao nhiêu thứ cầu mong khác nữa. Như trong công việc làm ăn, trong tình cảm… nhiều người muốn tự vận vì cầu mong mà không được toại nguyện. Con người khổ khi không được toại nguyện, như ý do tham muốn, khao khát quá đáng những nhu cầu cần có của bản thân. Chẳng hạn như lúc đói thì muốn có cái ăn cái mặc đầy đủ, lúc no lại muốn giàu sang phú quý có kẻ hầu người hạ.

Ngoài ra còn có những nỗi khổ trong cuộc sống. Ở đời nếu được những việc như ý thì người ta vui, không như ý thì buồn, buồn tức là khổ. Mỗi người chúng ta thử nhìn lại cuộc đời mình xem được nhiều điều như ý hay bất hạnh khổ đau? Người có diễm phúc thì điều bất như ý ít hơn, nhưng tất cả đều có gặp việc bất như ý. Đã bất như ý thì khổ hay vui? Đương nhiên là khổ. Con người chịu khổ khi phải tiếp xúc với những thứ mà không thích hoặc oán ghét. Người ta ở đời, hễ hy vọng càng nhiều thì thất vọng càng lắm. Bất luận trong một vấn đề gì, số người được toại nguyện thì quá hiếm hoi, mà kẻ bất như ý, thì không sao kể xiết. Muốn được kết quả tốt đẹp, người ta phải vận dụng không biết bao nhiêu năng lực, lao tâm, tổn trí, mất ăn, bỏ ngủ, chỉ mong sao cho chóng đến ngày thành công. Thế rồi, chẳng may những điều mong ước ấy không thành, sự đau khổ không biết đâu là bờ bến. Dưới đây, xin nêu lên vài thí dụ về những thất vọng mà người đời thường gặp nhiều nhất.

Thất vọng vì công danh: Trong đời, danh vọng thường là một miếng mồi ngon mà phần đông người đời ưa thích. Nhưng miếng mồi ấy, phải đâu dễ giành giật được? Không nói gì đến những kẻ nhảy dù, muốn làm quan tắt, nên phần nhiều hay thất bại, chỉ nói đến trường hợp những kẻ mong cầu danh vọng một cách chánh đáng, bằng năng lực, tài trí, học hỏi của mình. Đối với những hạng người này, cũng phải nếm bao mùi thất bại, cuối cùng mới được thành công.

Thất vọng vì phú quý: Số người thất vọng vì công danh đã nhiều. Nhưng số người thất vọng vì phú quý cũng không phải ít. Muốn cho mau giàu, nhiều người tìm mưu này chước nọ để lừa phỉnh người ta; nhưng rồi mưu gian chước lận đỗ bể ra, tài sản bị tịch thu, bản thân bị tù tội, gia quyến bị nhục nhã theo, thực là khổ!

Thất vọng vì tình duyên: Tình duyên cũng là một điều làm cho bao người phải điêu đứng, khổ sở. Trong trường tình ái, thử hỏi đã mấy ai được toại nguyện? Nhan nhãn trên báo chí hằng ngày, những câu chuyện tình duyên trắc trở đưa đến sự quyên sinh, thật không sao kể xiết. Đấy là "Cầu không được cho nên khổ".

d-Thân năm ấm không hòa hợp nhau khổ

Điều thứ tám là ngũ ấm xí thạnh khổ, tức sự khổ về năm ấm hưng thịnh. Năm ấm là: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Sắc ấm thuộc về thân, bốn ấm kia thuộc về tâm hay còn gọi là phần tinh thần.

Điều thứ tám này bao quát bảy món khổ trước: thân thì sanh, già, bịnh, chết, đói, khát, nóng, lạnh, vất vả nhọc nhằn; tâm thì buồn giận, thương ghét, phải quấu, tốt xấu, đúng sai, trăm điều phiền lụy. Khổ do thân năm ấm này chung hợp lại. Vì sự chung hợp này được kết nối bởi các nhân duyên có khuynh hướng trái nghịch, bên trong luôn mâu thuẫn, chống trái nhau. Vì vậy mà khổ. Nhiều người còn trẻ nghe nói thân này khổ không tin, vì họ nghĩ đến tương lai hạnh phúc, làm sao khổ được? Có người nói rằng khi nào xúc chạm phải những điều trái ý mới khổ, nếu xúc chạm những điều như ý thì đâu có khổ.

Phật nói thân này là gốc của khổ. Tại sao? Tại vì thân này vô thường đổi thay nên rồi ai cũng sẽ già, bệnh và cuối cùng là chết. Quý Phật tử khi ba mươi tuổi ít ai nhớ rằng mình sẽ già chết, mà cứ nhớ hồi còn mười tám, hai mươi. Phật nói thân này biến hoại vô thường cho nên khổ, chớ không có cái vui lâu dài. Thật ra Phật dạy khổ không có nghĩa để chúng ta ôm ấp nỗi khổ đó suốt đời. Phật nói khổ để mình biết rõ nguyên nhân để tìm cách chuyển hóa nỗi khổ niềm đau thành an vui, hạnh phúc.

Khổ không phải tự dưng mà có, chính tập đế là những cội gốc của phiền não, là tập nhân tạo thành nên quả khổ. Cội gốc phiền não đó còn được gọi là căn bản phiền não. Có sáu thứ: tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến. Sáu thứ này là nhân tạo thành quả khổ cho con người. Nếu ai diệt hết sáu thứ đó sẽ hết quả khổ.

Cho đến ngã mạn tức thấy ta cao, ta quan trọng. Do thấy như thế nên khi sắp mất rất khổ. Bây giờ nếu thấy ta là hư giả, tạm bợ thì có phách lối với ai không, thân này sắp hoại có khổ không? Sở dĩ chúng ta khinh người là vì thấy mình cao quí quá, quan trọng quá. Bây giờ thấy mình là tạm bợ, giả dối thì đâu có gì quan trọng. Không trọng mình nên đâu có khinh người. Rõ ràng chỉ cần chúng ta có một chút trí tuệ thấy đúng như thật, thì khổ về sinh già bệnh chết từ từ sẽ giảm bớt.

Nếu lý giải bằng trí tuệ thì thật thân này không có gì quan trọng hết. Chẳng qua chỉ là một nhóm nhân duyên tụ hội lại chớ có gì đâu. Nhiều người thường vỗ ngực xưng tôi, nhưng hỏi cái gì là tôi thì trả lời không chạy. Nếu da thịt là tôi thì khi nó bệnh bác sĩ mổ bỏ đi, cái tôi đó thành gì? Chỉ cần da thịt có vết thương hôi thối, lúc đó mình quí hay muốn bỏ? Khi còn lành lặn ta thấy quí, khi nó hư hoại xem không ra gì, bỏ đi không chút thương tiếc. Rõ ràng cái ta không phải những gì mình đang mang đây.

Lúc nào mình cũng thấy cái ngã là quí là thật nên khổ vì nó. Nếu chúng ta biết cái ngã không thật, không quí thì bỏ nó một cách dễ dàng, không đau khổ tí nào hết. Còn ngã mạn vì thân là còn đau khổ, hết ngã mạn mới hết đau khổ. Đó là năm ấm xí thạnh khổ. Con người vì lòng ham muốn quá mức như giếng sâu không đáy, khi chưa được thì muốn cho bằng được, khi được rồi thì lại sanh nhàm chám muốn tìm thứ khác. Người biết tiết chế được lòng tham thì cuộc sống an nhàn và thảnh thơi không bị cuộc sống ràng buộc.

Từ nghiệp nhân ngu si mê muội, mà nhân loại đã tạo ra từ vô thủy kiếp đến nay nếu chúng ta không có duyên và may mắn gặp được thầy lành bạn tốt thì cuộc đời của ta có thể rơi vào ngõ cụt, đó là một sự thật. Do si mê, tham đắm chấp thân-tâm làm ngã, từ đó muốn chiếm hữu về mình nên suy nghĩ, hành động sai lầm, thấy có ta, người và muôn loài, muôn vật nên bám chấp vào đó. Ý là đầu dây mối nhợ của phiền não, nó thường hay suy tư, nghĩ ngợi nên gọi là ý nghĩ; nó hay nhớ nghĩ về quá khứ hoặc hiện tại gọi là ý niệm; nó hay tưởng tượng, mơ mộng hão huyền nên gọi là ý tưởng và nó có công năng phân biệt, hiểu biết nên gọi là ý thức.

Do phân biệt, hiểu biết sai lầm nên ý thức không rõ được thực tướng của các pháp là vô ngã, không chủ thể cố định, từ đó sinh ra thấy biết sai lầm mà chấp ta, người, chúng sinh. Sự bám víu vào “cái ta” rồi đến “cái của ta” như vợ ta, con ta, nhà ta, tài sản của ta, đất nước của ta. Dưới cái nhìn của người thế gian như thế đâu có gì sai quấy, thế gian này nếu không bám víu vào “cái ta” và “của ta” thì con người sẽ sống ra sao?

Thân này sinh già bệnh chết, mà chúng ta muốn nó không già bệnh chết làm sao được? Chúng ta thường xuyên quán chiếu về thân như thế và luôn sẵn sàng giúp đỡ mọi người khi có nhân duyên, nhờ vậy những tâm niệm tham sân si dần dần rơi rụng bớt theo thời gian cho đến khi, ý không còn suy nghĩ xấu nữa mà hay làm các điều thiện lành và không bám víu vào việc làm tốt đó, thì thành tựu viên mãn công hạnh Bồ tát.

-TẬP ĐẾ LÀ NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN CÁC KHỔ ĐAU

Cái nguyên nhân chính là dục tức là lòng ham muốn không có giới hạn như biển sâu không đáy. Con người khổ vì ham muốn sống đời không chết nên cố luyện trường sanh bất tử, ham muốn chiếm đoạt, ham muốn khoái lạc về vật chất lẫn tinh thần, ham muốn tình cảm, nói tóm lại con người ham muốn đủ thứ hết dù phải rơi vào vòng tội lỗi. Tham, sân, si, mạn, nghi và ác kiến là những nguyên nhân dẫn đến khổ đau của kiếp người.

a-Tham muốn khác với mong muốn

Có hai loại muốn mà ai cũng có thể bị nó chi phối là tham muốn và mong muốn. Tham muốn là sao? Là nhất quyết muốn cho bằng được, nếu không được thì bất mãn, tức tối, khó chịu; phiền muộn, giận dỗi phát sinh và tìm cách chiếm đoạt. Do đó, tham muốn càng nhiều thì càng phát sinh các thứ phiền não vì tham muốn mà không được như ý, nếu được thì tham càng thêm tham, nếu tham không được thì sinh ra giận hờn, khó chịu rồi tìm cách trả thù.

Như chúng ta đã biết, ít ai trong cuộc đời này sống không tham muốn. Có sự sống là có tham muốn, nhưng tham muốn nhiều hay ít là tùy theo sở thích của mỗi người mà thôi. Tham có nghĩa là tham lam, ích kỷ, nhỏ mọn, làm cái gì cũng muốn đem về cho riêng mình, dù có của dư thà để mục nát chứ không dám đem ra giúp đỡ một ai. Mong muốn có nghĩa là mong cầu, ước mơ, nếu có cũng được, không có cũng không sao. Tham muốn và mong muốn khác nhau ở chỗ đó, một đàng muốn cho bằng được, nếu không được thì nổi giận, oán hờn, tìm cách trả đũa và quyết tâm chiếm đoạt cho mình nên bất chấp luân thường đạo lý, có khi cũng phải giết người để thỏa mãn lòng tham muốn. Trong cuộc sống này chúng ta có quyền ước mơ, mong muốn chớ đừng nên tham muốn quá đáng mà làm khổ đau cho nhau.

Khi tham muốn được rồi lại muốn nhiều thêm nữa, muốn mà không được thì sinh ra sân hận tìm cách trả thù. Con người khi thiếu thốn quá cho rằng đó là khổ, bởi thiếu thốn nên ta mong muốn có được đầy đủ, nhưng mong muốn mà không được như ý là khổ, được rồi lại mất càng khổ hơn, mọi đau khổ ở đời đều do nguyên nhân chính là dục. Thân xác chúng ta luôn luôn có những nhu cầu cần được thoả mãn như: ăn no, mặc ấm, ngủ nghỉ thoải mái, vui chơi giải trí nhà cao cửa rộng là những điều kiện mà ta cho là hạnh phúc, rồi đến các nhu cầu sinh hoạt khác như hưởng thụ khoái lạc, danh vọng, chức tước và quyền lực.

Vì cuộc sống này như vậy nên chúng ta không thể làm khác được, còn sự sống là còn có tham muốn, nhưng ta phải tham muốn thế nào cho phải lẽ. Ở đây Phật vì lòng từ bi chỉ cho ta biết thân-tâm này không thật ngã để mọi người bớt luyến ái, chấp trước mà làm khổ cho nhau. Thật ra, đã làm người khó có ai muốn ít biết đủ, chỉ một bề mong cầu được nhiều mà không bao giờ nhàm chán. Tham muốn càng nhiều thì tội lỗi càng phát sinh, càng gây ân oán, hận thù cho nhau không có ngày thôi dứt.

Do vô minh mà sinh ra vọng động. Do có vọng động mà sinh ra vọng thức. Do có vọng thức mà sinh ra phân biệt có đủ thứ ta, người, chúng sinh. Do có sự phân biệt ta người, mà sinh ra xúc chạm. Do có sự xúc chạm mà sinh ra cảm thọ. Do có cảm thọ mà sinh ra tham ái, luyến tiếc, và từ đó bám víu, dính mắc vào sự hiện hữu của nó, nên sống chết, khổ não, ưu sầu, buồn lo đủ thứ.

Chữ sân trong Hán cổ biểu hiện một môi trường sống, như khi con người cảm thấy không hài lòng, vừa ý, bực tức, xung đột, bất bình dẫn đến mâu thuẫn đối kháng, gây hận thù và làm khổ đau cho nhau. Sự tức giận của con người có nhiều cấp độ khác nhau, như nói lời mỉa mai, cay cú, hằn học, mắng chửi, giận dữ, quát tháo, hờn mát, oán thù, đánh đập, chửi bới, hù dọa, triệt tiêu và hủy diệt nhau.

Sân hận là âm Hán Việt, là từ ngữ chỉ chung cho loại phiền não có tính cách bốc lửa. Sân có nghĩa là nóng giận, mỗi khi có sự việc bất bình không được hài lòng, vừa ý là nó bộc phát mạnh ra bên ngoài. Hận có nghĩa là hờn mát âm ỉ sôi sục bên trong, nói cho đủ là giận hờn.

Một khi con người sân hận, cộng với giận hờn mà không đủ khả năng hóa giải, thì lâu ngày trở thành thù ghét, do đó lúc nào cũng muốn tìm cách trả thù hay rửa hận. Giận là lời nói tắt của từ nóng giận, hờn là từ nói tắt của chữ hờn mát, gọp chung lại là giận hờn.

Sân hận có nghĩa là giận hờn. Khi chúng ta giận hờn ai đó mà cứ ghìm mãi trong lòng thì lâu ngày trở nên thù hằn, ghét bỏ, âm ỉ tìm cách trả thù thích đáng, khi có cơ hội là ra tay liền. Giận hờn là một thói quen xấu có tính cách hại người, hại vật, dù nặng hay nhẹ thì chắc chắn cũng làm tổn hại đến những người xung quanh. Không phải ai khi đã thức tỉnh chỉ một lúc là các tập khí, thói quen xấu dứt trừ được hết. Kết quả còn tùy theo sự huân tập tật xấu nhiều hay ít của mỗi người.

Trong khi đó, Phật dạy thân này do bốn chất đất, nước, gió, lửa hòa hợp lại mà thành, nên không có gì là thực thể cố định cả. Cái được gọi là ta, là của ta, nó cũng không thật, ai chấp vào đó thì sinh ra luyến ái, bám víu mà lầm tưởng là thật ta, nên mới chấp ngã rồi từ đó sinh ra chiếm hữu, ai nghĩ và làm như vậy tức là người vô minh nên lúc nào cũng sống trong đau khổ lầm mê.

Ý thức được khổ đau do sự si mê chấp ngã gây ra, mà con người đành lòng nhẫn tâm giết hại lẫn nhau để bảo tồn cái thân vô thường bại hoại này. Chúng ta thử lắng dừng tâm tư một chút, để nhìn thấy rõ cuộc đời là một dòng trôi chảy biến thiên, không dừng hẳn ở một phút giây nào, không đứng mãi một vị trí nào.

Quan niệm cố giữ và chiếm hữu, là nguyên nhân của sự thấy biết sai lầm do sự si mê chấp ngã mà ra. Thân này rồi cũng phải già nua mà chúng ta muốn trẻ mãi không già, thân này bệnh hoạn đau nhức mà chúng ta muốn sống hoài không bệnh, thân này thở ra mà không còn thở vào thì coi như bị ngủm cù đeo mà chúng ta muốn sống hoài không chết. Một sự thật quá rõ ràng mà ít ai nhìn thấy, chúng ta thử quán chiếu cuộc đời này với những cái có hình tướng, coi nó có mãi trường tồn hay không.

Khi chúng ta mưu cầu tìm kiếm hạnh phúc cá nhân, tất nhiên ta phải đụng chạm đến nhiều người khác cũng đang tìm như ta vậy. Sự ham muốn quá đáng làm cho ta mù quáng, do đó chúng ta chỉ muốn hưởng thụ trên sự đau khổ của kẻ khác."Chiến thắng mười vạn quân còn dễ hơn chiến thắng lòng mình, chúng ta tự thắng được mình là chiến công oanh liệt nhất".

Tương lai của chúng ta luôn là sự kết tinh với hiện tại, ngay tại đây và bây giờ ta được bình yên, hạnh phúc thì tương lai cũng sẽ hưởng được nhân quả tốt. Khi rơi vào trạng thái khổ đau quá lớn, ta hay trách móc người thân yêu, để rồi gặm nhấm nỗi đau mà than thân trách phận chứ không tự tìm ra lối thoát. Ta tự chấp nhận mình là kẻ khổ đau nhất trên đời này, chứ không chịu cho ai kéo mình thoát khỏi vực thẳm đen tối ấy.

Khi còn nhỏ dại và không đủ nhận thức sáng suốt thì em bé dễ hờn dễ khóc, nhưng chỉ cần người khác vỗ về đôi chút là em bé trở lại trạng thái bình thường. Vậy nên ta muốn có ánh sáng bình minh, muốn vượt thoát cơn khổ đau tuyệt vọng thì ta phải làm mới lại chính mình, bằng cách làm chủ bản thân từ thân miệng ý. Cây khô mọc theo triền núi một khi đã sống rồi thì dù có phong ba bão táp cũng không thể làm nghiêng ngã được. Ta cần phải sống lại con người chân thật thuở ban đầu như trẻ thơ hồn nhiên suốt năm tháng khi còn nhỏ.

Chúng ta phải dám nhìn nhận sự thật mới thấy thân tâm này là vô thường tạm bợ nên bớt tham đắm luyến ái mà tạo ra nỗi khổ niềm đau cho mình và người. Chúng ta hãy thường xuyên quán chiếu như vậy nên thấy rõ mạng sống trong hơi thở là giảm bớt tham muốn quá đáng.

Vậy mà chúng ta cứ cắm đầu lo hết việc này đến việc khác, còn việc làm sao để gạn lọc thân tâm cho được trong sáng, tốt đẹp bớt tham sân si thì ta ít quan tâm tới. Phần nhiều Phật tử đi chùa học Phật, chỉ muốn tu để đời sau được sung sướng hơn, đẹp đẽ hơn, nhiều của cải vật chất hơn, chớ không muốn được giác ngộ, giải thoát hoàn toàn. Nhân quả báo ứng theo ta như bóng với hình, nổi khổ niềm đau sẽ theo ta từ đời này cho đến kiếp khác không có ngày thôi dứt, chính vì sự sống của mình mà chúng ta phải giết hại các loài vật.

Người tin theo truyền thống có ông trời tạo ra, cuộc đời của ta do trời sắp đặt, mọi sự thăng trầm nên hư thành bại đều do trời quyết định, con người không có khả năng và quyền lực gì cả, cuối cùng chấp nhận số phận đã an bài.

Học thuyết này chỉ phù hợp khi con người còn ăn lông ở lỗ, chưa có kiến thức nhận định đúng sai nên mới tin rằng có một đấng sáng tạo và con người bị điều hành, sai sử bởi đấng này. Ai tôn thờ và nương theo đấng quyền năng ấy thì có được cuộc sống tốt đẹp, hạnh phúc, còn ai không theo sẽ bị đọa đày, đau khổ. Con người chỉ có con đường duy nhất, theo thì nên, không theo thì hư. Vậy học thuyết đó có đúng hay không?

Ngày nay, nhờ sự tiến bộ của khoa học, con người dễ nhận ra nguyên lý sống của vũ trụ, tất cả mọi hiện tượng sự vật đều do nhiều yếu tố hợp lại mà thành, không có gì là do một nhân mà có thể tồn tại trên thế gian này. Thời xa xưa, những hiện tượng như mưa gió bão bùng, sấm sét long trời lở đất, người ta cho rằng, đó là do thần linh hay thượng đế muốn răn dạy con người bớt làm các việc xấu ác. Nếu có ai chẳng may là nạn nhân của các hiện tượng này thì họ phương tiện nói rằng, có đấng quyền năng tối cao trừng phạt người làm việc xấu ác. Từ đó, lâu ngày thành ra phong tục, tập quán, rồi người ta cứ chấp chặt vào đó mà lung lạc lòng người, họ quên đi những điều rất thực tiễn gieo nhân nào thì được quả nấy.

Thường thì con người thế gian lấy bản ngã làm tâm điểm, nhân danh đấng thần linh thượng đế, để tạo ra sự bất công và muốn chiếm hữu, nên đã gây ra nhiều tội lỗi cho muôn loài vật. Tất cả những điều này là do cái thấy biết sai lầm của một số người thế gian, họ lạm dụng sự thiếu hiểu biết của nhân sinh mà áp đặt số mệnh, để con người phải chấp nhận phục tùng một cách mù quáng như một tín đồ, mà không có quyền góp ý xây dựng trên tinh thần yêu thương, đùm bọc, giúp đỡ, sẻ chia, để cùng nhau sống với trái tim hiểu biết.

Từ cái thấy thân kiến là cái thấy sai lầm về thân, tức chấp vào sự hiện hữu của cơ thể con người là tôi, là của tôi, nên từ đó bắt đầu chiếm hữu. Ai đụng đến cái tôi này thì có sự phản kháng mãnh liệt, do đó dấy khởi phiền não tham sân si, mà dẫn đến tranh đấu giành phần thắng lợi về cho riêng mình để loại trừ lẫn nhau.

Quan niệm về thân kiến này sẽ trường tồn mãi mãi và chỉ có hai con đường để ta chọn lựa, một là lên thiên đàng hưởng phước báo tối cao, hai là xuống địa ngục chịu khổ đau lâu dài. Đó là cái thấy sai lầm do không có sự thể nghiệm thực tế, không có sự trải nghiệm bản thân, mà làm cho con người mất hết quyền làm chủ chính mình trong cuộc sống hiện tại.

Biên kiến là cái thấy một bên, nghĩa là có một linh hồn bất tử sống đời không thay đổi, tức là thường còn mãi mãi và quan niệm chết là hết, tức là không còn gì nữa, chỉ có một đời sống hiện tại mà thôi. Linh hồn bất tử là cái hồn sáng không bao giờ mất, nói như vậy có phù hợp với chân lý hay không?

Trên đời này có hai hạng người. Một hạng cho rằng, sau khi chết là hết, chỉ có một đời sống hiện tại, làm ác hay làm thiện gì cũng đều chung một số phận như thế. Đến khi nhắm mắt xuôi tay, từ giã cõi đời, thân thể trở về cát bụi và sự thấy nghe hay biết cũng không còn gì nữa, coi như hoàn toàn mất hẳn.

Hạng người thứ hai cho rằng có một linh hồn bất tử. Sau khi chết, thân thể tan rã, bại hoại, nhưng linh hồn vẫn còn mãi theo thời gian, nên người chết sinh người, trời chết sinh trời, thú vật chết sinh thú vật, trước sau như một không thể đổi thay. Vậy chết là hết hay sao? Làm gì có chuyện đó được! Nếu không hết thì làm sao mất hẳn? Chết không phải là hết, mà chỉ là thay hình, đổi dạng, để có một đời sống mới tiếp theo, tùy sự gieo tạo nghiệp nhân tốt hay xấu ngay nơi hiện tại mà cho ra kết quả ở tương lai. Nghiệp lực tuy không có hình tướng cụ thể, không ai có thể trông thấy được, nhưng nó có sức mạnh chi phối, cuốn hút, hấp dẫn lạ thường. Cũng như gió, tuy không thấy hình tướng ra sao mà nó có thể làm nên phong ba bão táp, cuốn trôi tất cả khi đủ nhân duyên. Nghiệp lực cũng lại như thế.

-DIỆT ĐẾ CHẤM DỨT MỌI KHỔ NÃO

Diệt đế tức là tiêu diệt, trừ diệt dục vọng lòng tham muốn quá đáng. Đế có nghĩa là lý lẽ chắc thật, đúng đắn do trí tuệ sáng suốt soi thấu một cách rõ ràng không có mờ mịt, trừu tượng, ảo tưởng bằng ý thức. Diệt Đế không phải là một cảnh giới siêu hình như các nhà học giả thường lầm tưởng, khi một người đã đoạn diệt lòng tham muốn và các ác pháp thì người đó sẽ thể nhập Niết Bàn, chứ không phải tìm cầu đâu xa.

Diệt đế là trạng thái tâm đã hoàn toàn lắng trong không còn chút bợn nhơ, trong trạng thái này con người làm chủ sống chết an nhiên tự tại trong mỗi hoàn cảnh. Đức Phật gọi Diệt Đế là một trạng thái tâm lý thật sự không còn khổ NÃO của kiếp người. Niết-bàn có nghĩa là vô sinh. Thế cho nên, Diệt đế là Niết-bàn, là cảnh giới không còn đau khổ luân hồi sống chết. Diệt đế là cuộc sống toàn thiện, chân thiện, thánh thiện. Diệt đế là cuộc sống độc cư trọn vẹn nhưng vẫn làm lợi ích cho cuộc đời mà không toan tính. Diệt đế không phải là cảnh giới siêu hình để người tu hành chết được sinh vào đó. Diệt đế không phải là cảnh giới mơ hồ, trìu tượng, tưởng tượng hão huyền do sự tưởng tượng mà ra. Diệt đế là trạng thái chấm dứt khỗ não hoàn toàn.

Danh từ để chỉ Niết-bàn hay Diệt đế, có khi gọi là Phật tính, Chân như, Bản thể, Bản lai diện mục, Ông chủ. Thế cho nên, Niết bàn không phải là cảnh giới đến được mà là trạng thái tâm thường biết rõ ràng nói không thể đến. Khi chúng ta dừng tất cả mọi tham muốn lo âu, sợ hãi, giận hờn, ganh tỵ, tật đố đam mê thì ngay đó chính là Niết-bàn.

-BÁT CHÁNH ĐẠO CON ĐƯỜNG DIỆT KHỔ HOÀN TOÀN

Trong cuộc sống, nếu ta biết xem xét, chiêm nghiệm và áp dụng tám nguyên tắc trên trong mọi hoàn cảnh, ta sẽ thấy rõ ràng sự liên hệ nhân quả mật thiết, tương quan giữa những nguyên tắc ấy. Chúng ta hãy xem xét cho tường tận nguyên tắc thứ nhất là hiểu biết chân chính, tức là sự thấy biết đúng như thật, thì hành động mới tốt đẹp, không làm tổn hại cho ai. Do đó, chánh kiến là rất cần thiết trong việc chọn lựa nghề nghiệp. Nhưng ta phải làm thế nào để thấy biết đúng?

Chi thứ nhất trong Bát Chánh Đạo là chánh kiến, có nghĩa là sở kiến, kiến giải, ý kiến, quan điểm. Chánh kiến ở đây không phải là sự thấy đơn thuần như mắt nhìn thấy các hình ảnh sự vật, mà phải là cái thấy đúng như thật, có nghĩa là thật biết thật, giả biết giả. Người có chánh kiến luôn luôn lúc nào cũng biết phân biệt và kiểm soát chặt chẽ các mặt hoạt động của thân và tâm, như suy nghĩ chân chính về lời nói, việc làm, mạng sống và sự nỗ lực tinh tấn, để đạt được chánh niệm nhờ có định lực sâu dày.

Hiểu biết chân chính là cái nhìn mọi hiện tượng, sự vật dưới nguyên lý duyên khởi, vô thường và vô ngã, tức không có chủ thể cố định, không có nguyên nhân đầu tiên của thế giới, không có thượng đế ban phước giáng họa, tất cả đều biến thiên, thay đổi, không thực thể.

Nếu sự tu tập đó được bắt nguồn từ chánh kiến, chánh tư duy, thì ắt hẳn chúng ta sẽ có lời nói chân chánh, không nói lời giả dối để lường gạt người. Ngược lại, nếu như không có chánh kiến mà là tà kiến, sẽ dẫn đến suy nghĩ bất chính và làm những việc xấu ác, cuối cùng sẽ gặt lấy quả phiền muộn, khổ đau. Theo lời Phật dạy, sự thấy biết đúng như thật không phải do sự học hỏi trong sách vở hay suy tư, phân tích bằng trí thức. Sự thấy biết đúng như thật là kết quả của sự trải nghiệm, và nhờ vào sự chứng ngộ của bản thân do tu tập đúng pháp.

Muốn thành tựu con đường trung đạo, ta phải biết áp dụng Bát Chánh Đạo, như sự liên hệ tương quan, tương duyên mật thiết với nhau, bồi đắp cho nhau, mà không thể thiếu nhau. Tám nguyên tắc hành động này lúc nào cũng làm nhân và quả để hỗ trợ cho nhau, nếu mất một chi thì không thành tựu con đường trung đạo.

Thế nào là chánh kiến? Phật nói, khi ta hiểu lý nhân quả, không còn nghi ngờ, tức là chánh kiến; tức là thấy biết tất cả mọi hành động lành hay dữ, sẽ cho ra kết quả tốt hay xấu của mình. Đời trước, chúng ta có khi làm lành, có khi làm dữ, nên thân này có khi được vui vẻ, hạnh phúc, có lúc bị phiền muộn, khổ đau. Khi ta đã biết thân tổng báo này chịu ảnh hưởng nhân quả, nghiệp báo đời quá khứ, nên hiện tại mình phải nỗ lực tu hạnh lành, để chuyển hóa và thay đổi những nghiệp xấu ác trước nhẹ bớt. Ai thấy biết như thế là chánh kiến.

Chánh là ngay thẳng, đúng đắn. Kiến là nhận thấy, nhận biết. Nói cho đầy đủ, chánh kiến là thấy, nghe, hay, biết một cách đúng đắn, công minh, đúng với sự thật khách quan, mọi sự vật, hiện tượng như thế nào thì thấy rõ như thế đó. Người có chánh kiến lúc nào cũng thấy đúng chân lý, thật biết thật, giả biết giả, không thấy trắng thành đen, không thấy tốt thành xấu, thấy rõ ràng như vậy, tuy không phân biệt mà vẫn thường biết rõ ràng. Chánh tư duy là chi thứ hai trong Bát Chánh Đạo, có nghĩa là suy nghĩ, nghiệm xét, suy tư, bằng sự ý thức của mình.

Chánh tư duy là sự suy nghĩ hợp lý. Suy nghĩ hợp lý có nghĩa là, tất cả mọi hiện tượng sự vật như thế nào thì chúng ta suy nghĩ như thế ấy, tức là suy nghĩ của mình và thực tế cuộc sống phù hợp nhau. Chánh tư duy là suy nghĩ chân chính, đúng với lẽ phải, do có nghiệm xét, có nghĩa là suy tư phù hợp với nguyên lý duyên khởi, vô thường, vô ngã, như việc mình muốn có một cái nhìn chính xác về tình trạng xã hội hiện giờ đang tiến bộ hay bị tha hóa về mặt đạo đức tâm linh. Chánh tư duy là sự suy nghĩ chân chính. Muốn vậy ta phải xem xét, soi rọi, quán chiếu, chiêm nghiệm, không trái với sự thật mà vẫn phù hợp chân lý và đem áp dụng vào trong đời sống hằng ngày có lợi ích thiết thực cho mình và người khác. Chúng ta thường suy tư, quán chiếu tại sao con người phải chịu nhiều phiền muộn, đau khổ, bất hạnh trong đời, nguyên nhân vì sao? Nhờ thường xuyên suy nghiệm như vậy, ta biết do chấp ngã là ta, là của ta, nên muốn chiếm hữu và tham-sân-si từ đó phát sinh, làm cho người khác phiền muộn, khổ đau. Nhờ có chánh tư duy, ta mới sáng suốt, biết phân biệt những điều hay lẽ phải trong cuộc đời.

Đây là chi thứ 3 trong giáo lý Bát Chánh Đạo, được gọi là chánh ngữ, hay lời nói chân chính, đúng đắn. Lời nói chân chính bao gồm nhiều khía cạnh như nói lời thành thật, không nói lời giả dối nhằm mục đích để lường gạt mọi người; không nói lời nặng nề, thô lỗ, chát chúa, móc méo, mắng chửi làm người oán giận, thù hằn, mà sinh ra phiền muộn, khổ đau; không nói lời gây chia rẽ làm hai bên hiểu lầm nhau mà ganh ghét, tạo ra oan gia trái chủ, chống đối lẫn nhau; không nói lời mê hoặc để dụ dỗ người khác, không nói tán dóc đầu trên xóm dưới, và những điều không có lợi cho cộng đồng xã hội. Tuy nhiên, cuộc sống của chúng ta cùng sự diễn biến của xã hội con người rất phức tạp và nhiều mâu thuẫn, nên mình cần phải ăn nói thận trọng, nên nói và làm tương ưng với mục đích mình đang đeo đuổi.

Thế cho nên, dân gian có câu, “học nói ba năm, nhưng thực hành cả đời chưa chắc đã xong”. Ai hoàn thiện được lời nói chân chính, Phật giáo gọi là chánh ngữ. Lời nói chân chính bao hàm nhiều khía cạnh; Khi chúng ta muốn phát biểu một vấn đề gì, ta cần phải cân nhắc vào vấn đề cần nói, coi lúc này đã hợp thời chưa. Khi nói, ta cần phải xem xét lại vấn đề mình muốn nói đó có đúng với sự thật hay không, nếu chưa biết chính xác thì không nên nói. Có hai cách thể hiện lời nói của mình là, chúng ta nên dùng cách nào cho phù hợp, nên cứng rắn, mạnh mẽ, hay khéo léo, uyển chuyển, nhẹ nhàng. Trước khi muốn phát biểu lời nói nào, ta cần phải cân nhắc xem lời nói ấy có lợi ích, hay ảnh hưởng không tốt trong hiện tại và mai sau hay không. Có hai cách thể hiện lòng mình qua lời nói, ta nói với lòng từ bi, thương xót, hay vì lòng ganh ghét, oán giận, thù hằn.

Nói lời thành thật là người sống có nhân cách đạo đức, là chất liệu của sự yêu thương chân thành, thuốc đắng dã tật, lời thật mất lòng, nhưng giúp ta có cơ hội sửa sai và chuyển hóa được lỗi lầm. Ngược lại, lời nói êm tai, ru ngủ rất được lòng người, nhưng đó là lời giả dối, nịnh bợ, ta gọi đó là ngọt mật chết ruồi, dễ làm hại người. Để đạt được những tình cảm qua lời ăn tiếng nói, thể hiện sự thành thật, chân tình, ta cần phải kiềm chế các cảm xúc tiêu cực như nóng nảy, giận dữ, để được sống vui vẻ, hài hòa với người thân yêu.

Ta không nên nói lời giả dối để lường gạt hoặc hại người, mà cần nói lời thành thật với nhau bằng trái tim yêu thương, hiểu biết. Để cuộc sống ngày càng thăng hoa tâm linh, ta cần phải biết chọn lời hay ý đẹp mà nói, nói lẽ phải, tôn trọng sự thật. Sống trung thực giúp ta nâng cao phẩm chất đạo đức, làm lành mạnh các mối quan hệ gia đình, nên xã hội được tốt đẹp.

Có những lời nói thốt ra làm cho tan nhà nát cửa, mất nước, hại dân, nhưng cũng có những lời nói làm chúng ta biết sống yêu thương bằng trái tim hiểu biết. Chính vì vậy, ta cần phải có chánh kiến, và biết tư duy để soi xét mọi sự vật để thấy đúng như thật. Cho nên, ta chuyện không nói không, chuyện có nói có, không nói dốc láo, nói lời bịa đặt, nói lời móc họng, nói lời hằn học, mắng chửi, không nói lời dụ dỗ, nói xấu sau lưng, làm cho mọi người nghi kỵ, thù địch nhau.

Chánh ngữ là lời nói hợp với chánh pháp, có lợi ích, đem lại an vui, hạnh phúc, bình yên cho nhiều người. Ta phải cẩn thận giữ gìn lời nói, nói lời chân thật, không nên nói lời vô nghĩa. Trong kinh Phật dạy, “nói một lời đúng chánh pháp giúp cho người nghe cảm thấy an ổn, nhẹ nhàng, hơn là nói tràng giang đại hải mà không có lợi ích gì cho ai”.

Người biết nói lời chân chính luôn luôn thận trọng, dè dặt khẩu nghiệp, không bao giờ nói sai sự thật, không xuyên tạc, không thiên vị, không nói lời dụ dỗ, không nói lời hằn học, mắng chửi, không nói lời vu oan giá họa. Lời nói chân chính luôn giúp mọi người sống an vui, hạnh phúc, ngược lại là lời nói làm tan vỡ hạnh phúc gia đình người khác, đó là lời nói thêm bớt, thêm mắm thêm muối, thay trắng đổi đen, làm sự việc trở nên căng thẳng, làm mọi người hiểu lầm nhau mà gây ra oán giận, thù hằn.

Chi thứ 4 trong bát chánh đạo là chánh nghiệp, hay còn gọi là nghề nghiệp chân chính. Trong đó, bao gồm các thứ như nghề nghiệp, sự nghiệp, gia nghiệp, chức nghiệp, thương nghiệp, nghiệp vụ. Nói một cách dễ hiểu là nghề nghiệp, hay phương cách làm ra tiền để nuôi sống bản thân và gia đình. Có khá nhiều cách để kiếm tiền sinh sống, nhưng ở đây, Phật giáo muốn đề cập đến những nghề nghiệp chính đáng, hợp pháp, không làm tổn hại cho người và vật, nghề đó được gọi là nghề nghiệp chân chính.

Chánh nghiệp là việc làm chân chính, đúng đắn, phù hợp với lẽ phải, đúng với chân lý; ở đây cũng có nghĩa là việc làm phù hợp nguyên lý duyên sinh, nên lúc nào cũng được lợi ích cho mình và người. Ai biết thận trọng, giữ gìn mọi hành động thuận theo lý duyên sinh, chắc chắn sẽ đem lại kết quả tốt, không làm tổn hại đến quyền lợi, hạnh phúc của người khác.

Nghề nghiệp chân chính là những nghề nghiệp nuôi mạng sống con người như làm ruộng, trồng hoa màu, các loại cây ăn trái, làm ra thức uống tinh khiết, nghề giáo dục, bác sĩ, bác học, khoa học, tâm linh. Ngược lại, dối trá, lừa đảo bằng nhiều hình thức để mưu cầu lợi ích cá nhân, mặc kệ sự tác hại của nó về lâu, về dài, là những nghề nghiệp làm tổn hại cho nhân loạị.

Chánh mạng là chi thứ 5 trong giáo lý Bát Chánh Đạo, hay còn gọi là cuộc sống chân chính. Nếu nói chánh nghiệp là việc làm không ảnh hưởng và tổn hại đến người vật, nên nghề nghiệp chân chính và cuộc sống phải phù hợp với lý duyên sinh. Sự khác biệt trong hai chi này là giữa việc làm và cuộc sống, nhưng nó sẽ hỗ trợ cho nhau, tạo nên nghề nghiệp và cuộc sống chân chính.

Chánh mạng là nỗ lực chân chính, một nghề nghiệp lương thiện, đó là mạng sống chân chính. Nhưng thế nào là một nghề nghiệp được coi là lương thiện? Điều này cũng chỉ có thể trả lời bằng sự nhận xét về xã hội trên nguyên lý duyên sinh. Những phương tiện sinh sống không gây tai họa, khổ đau cho kẻ khác trong hiện tại cũng như trong tương lai, những phương tiện sinh sống không lừa đảo, không gieo rắc lầm lạc, không bóc lột kẻ khác, không vi phạm quyền tự do và bình đẳng của kẻ khác, không phá hoại môi trường sinh hoạt của con người, đó là chánh mạng.

Chánh mạng là mạng sống chân chính, có nghĩa là con người sinh sống một cách chính đáng, có đời sống lương thiện, ngay thẳng, trong sạch, có tính đóng góp, phục vụ lợi ích cho tất cả mọi người. Người biết giữ gìn chánh mạng là người biết sống một đời có ý nghĩa, không bao giờ biết làm tổn hại cho ai. Sống bằng sự lao động chân tay hoặc trí óc thánh thiện, biết tôn trọng lẽ phải, biết tôn trọng quyền bình đẳng của con người và luôn sống đóng góp, sẻ chia, giúp đỡ nhân loại bằng tình người trong cuộc sống.

Chánh tinh tấn là chi thứ 6 trong Bát Chánh Đạo, có nghĩa là tinh tấn, nỗ lực, cố gắng đúng theo chánh pháp; hay nói cách khác là sự nỗ lực chân chánh, có ý nghĩa, lợi ích cho mình và người. Thế nào là sự nỗ lực chân chánh? Mục đích giáo dục của đạo Phật là tìm kiếm sự an lạc, hạnh phúc, giác ngộ và giải thoát, nhờ ta siêng năng dứt trừ các điều ác từ trong ý nghĩ, hay làm việc thiện ích để giúp đỡ tha nhân.

Chánh tinh tấn là nỗ lực chân chính tức là sự cố gắng liên tục trên mọi lãnh vực làm việc và tu tập. Đây cũng là một phương pháp quan trọng liên kết trong Bát Chánh Đạo, nếu thiếu một chi nào thì cũng khó mà thành tựu đạo pháp. Nếu ta nỗ lực không theo nguyên lý duyên sinh thì không được gọi là chánh tinh tấn. Những nỗ lực nào hướng đến tham lam ích kỷ, oán giận, thù hằn, hay si mê, dại dột, làm đều bất chính, thì không được gọi là chánh tinh tấn, bởi những kết quả của sự nỗ lực này có thể làm mọi người phiền muộn, khổ đau, và không dẫn đến mục đích chính đáng.

Tinh tấn nỗ lực là hành động kiên trì, củng cố vững chắc cho sự tu tập hằng ngày của chúng ta, nhằm mục đích ngăn ngừa, tránh xa những điều tội lỗi, lại còn hay tăng trưởng các việc làm lợi ích để mang lại sự an lạc, bình yên trong cuộc sống. Tinh tấn mà không có trí tuệ thì không đạt được mục đích mong muốn. Tinh tấn có trí tuệ sẽ giúp ta lần hồi chuyển hóa phiền não tham-sân-si thành vô lượng an lạc, hạnh phúc và trí tuệ, từ bi.

Ai siêng năng tinh cần, nỗ lực không biết mệt mỏi trong việc tu tập, sẽ có được năng lực chuyển hóa để tự mình thoát khỏi những cám dỗ có tính cách làm tổn hại người vật, và giúp mình thoát khỏi xiềng xích ngục tù của tội lỗi. Tinh tấn là nền tảng căn bản giúp ta biết cách từ bỏ sự nản chí, bất mãn, lười biếng, nhờ vậy các việc xấu, tội lỗi không có cơ hội phát triển. Tinh tấn là sự rèn luyện tâm linh cao thượng qua những việc làm chân chính, bởi vì đó là những hành động mang lại an vui, hạnh phúc cho bản thân, gia đình và xã hội.

Chánh tinh tấn là không làm các điều ác mà hay làm các việc thiện lành, tốt đẹp. Một ý nghĩ ác, một lời nói ác, một hành động ác, dù nhỏ nhặt đến đâu ta cũng quyết chí không làm, nếu đã lỡ làm thì tìm cách sám hối và dứt trừ. Ta không làm điều ác và hay làm các việc lành, hay giúp đỡ người khác để làm vơi bớt nỗi đau bất hạnh.

Chánh niệm là chi thứ 7 trong Bát Chánh Đạo, hay nói cho đầy đủ nghĩa lý hơn là cột tâm, hay chú tâm vào một đối tượng nào đó, được gọi là chánh niệm. Như niệm Phật, Bồ Tát, quán sổ tức, quán hơi thở.

Phật dạy, “này các Tỳ-kheo, thế nào là các công việc đáng phải làm hơn hết? Chúng ta phải biết chánh niệm tỉnh giác từng tâm niệm của mình, khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác; khi mặc y, ôm bình bát đi khất thực đều tỉnh giác; khi ăn uống đều tỉnh giác; khi đi đại tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi đứng, nằm, thức, ngủ, nói năng hay yên lặng đều tỉnh giác”.

Tu theo phương pháp chánh niệm tỉnh giác, ta nhận biết rõ ràng từ ý nghĩ, lời nói, hành động, như thế nào mình biết như thế ấy; ta tham ta biết ta tham, ta si ta biết ta si, không khởi tâm bám víu chạy theo, không khởi tâm buông xả, ta chỉ nhìn thấy và quán sát chúng tường tận như vậy.

Chúng ta phải thực tập chánh niệm trong đời sống hằng ngày, ta biết mình đang nghĩ gì, nói gì và làm gì? Ta cần phải biết cách làm chủ bản thân trong đời sống và không bị lôi kéo bởi những hoàn cảnh xấu dữ, làm ảnh hưởng đến sự tu tập chánh niệm tỉnh giác.

Đây là một phương pháp tu tâm siêu tột để dẫn đến viên mãn của đạo Phật. Phương pháp này không bắt đầu bằng sự phân biệt những ý niệm thiện ác mà bằng sự quán sát sự sống của bản thân mình. Có nhiều người tuy sống mà thật ra không sống, bởi họ không có ý thức về sự sống của mình như thế nào là tốt, là xấu. Sống trong sự quên lãng, tự để mình bị kéo theo ngày tháng và hoàn cảnh mà không tự chủ được, không thấy được mình đang sống, không thấy được sự sống là mầu nhiệm, đó không phải là sống có ý thức, mà là trôi lăn trong dòng sinh tử, luân hồi. Khi đang ăn, ta biết mình đang ăn, khi đang ngồi, ta biết mình đang ngồi, và cứ như thế mọi việc đều như vậy.

Nói tóm lại, ta phải ý thức được mỗi giây phút trong đời sống mình. Ta phải biết làm thế nào để sống ngày hôm nay cho an lạc, hạnh phúc; ta đừng để cho những tên giặc tham lam, giận hờn, si mê, ganh ghét, tật đố và vội vàng, hối hả đến quấy phá, cướp mất đi 24 giờ quý báu của ta trong ngày. Chánh niệm là sự nhớ nghĩ chân chính. Chúng ta đừng lầm hai chữ chánh niệm với chánh tư duy. Tư duy là sự suy tưởng, trong khi niệm là sự nhớ nghĩ, trái với sự quên lãng. Chánh niệm là một phương pháp tu luyện rất mầu nhiệm của đạo Phật.

Chánh định là chi cuối cùng của giáo lý Bát Chánh Đạo, là sự định tĩnh, tinh thần trong sáng, thanh tịnh. Như vậy, ý nghĩa của từ này là một loại định chân chánh, thấu rõ mọi hiện tượng, sự vật. Nếu như chi thứ 7 là chánh niệm, mang ý nghĩa cột tâm vào một đối tượng nào đó, thì chi thứ 8 là chánh định, chi này có trách nhiệm làm cho đối tượng càng được thông suốt rõ ràng hơn; từ chuyên môn gọi là Thiền Quán, có nghĩa là soi sáng mọi sự vật mà không bị sự ngăn ngại. Đó là sự khác biệt giữa chánh niệm và chánh định.

Chánh định nghĩa là tập trung tư tưởng vào một vấn đề gì để thấy cho rõ ràng, nói cách khác là tập trung tư tưởng vào một vấn đề chính đáng, đúng với chân lý, có lợi ích cho mình cho người. Chánh định là phương pháp thiền định chân chính. Thiền định là sự tập trung ý thức cao độ để đạt tới chánh kiến tức là cái thấy chân chính. Định ở đây không có nghĩa là tư duy hay suy tưởng, mà là những phương pháp tập trung tâm ý và thiền quán, nhằm phát khởi trí tuệ thấy biết đúng như thật. Những phương pháp này không nhắm đến sự tu luyện thôi miên, pháp thuật và trường sinh, mà nhắm đến sự phát triển trí tuệ giác ngộ, giải thoát, nên gọi là chánh định.

-VUA A XÀ THẾ VÀ HỌC THUYẾT TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC

Vua A Xà Thế vốn là vị vua có tài, nhờ Phật chuyển hóa mà nhận ra sai lầm, biết sám hối, ăn năn, làm mới lại chính mình, làm lại cuộc đời. Bằng những việc làm thiết thực Ngài đã giúp dân an cư lạc nghiệp theo tinh thần Phật dạy, biết quy hướng Tam bảo, trọn đời gìn giữ 5 điều đạo đức, sống gương mẫu, biết hy sinh vì mọi người, lấy niềm vui thiên hạ làm niềm vui chính mình.

Trong kinh có một câu chuyện xảy ra làm đau lòng mọi người khi đức Phật còn tại thế. Một người vì quá tham tàn, bạo ngược, bất chấp cả tình cha con, chính là thái tử A Xà Thế khi bị mê hoặc bởi sa môn Đề Bà Đạt Đa. Việc cướp ngôi bị bại lộ không thành, vua cha Tần Bà Sa La thay vì giết đi đứa con phản nghịch thì lại thoái vị, nhường ngôi cho thái tử.

Ngài làm như thế để thái tử không mang tội cướp ngôi, nhưng vì bản tính hung hăng, tàn bạo, thái tử đáp lại tấm chân tình ấy bằng cách ra lệnh nhốt vua cha vào ngục tối, sau khi chính thức lên ngôi.

Ông cấm không cho một ai được quyền mang thức ăn vào, chỉ ngoại trừ hoàng hậu Vi Đề Hy là mẹ Ngài được quyền vào thăm. Vì sợ chồng chết đói nên bà tìm đủ mọi cách giấu thức ăn mang vào trong ngục nhưng đ iều bị Vua A Xà Thế phát hiện. Bà rất khổ tâm vì có đứa con ngang tàn, bạo ngược nên bèn tắm rửa sạch sẽ rồi trét bơ sữa lên người, ấy vậy mà bà cũng bị phát giác.

Tàn nhẫn hơn nữa, A Xà Thế cho người vào gọt da chân vua cha rồi trét muối, hơ lửa cho đến chết trong oằn oại, đau thương. Khi cái chết đang dần hành hạ vua cha trong ngục tối , đúng ngay lúc ấy đứa con đầu lòng của vua A Xà Thế chào đời, ông vội vàng chạy đi tìm mẹ để tâm sự với lòng thương yêu trìu mến !

Thưa mẹ hiền, con vừa được tin hoàng nhi chào đời, trong lòng con giờ đây trào dâng niềm thương yêu vô hạn, một niềm cảm xúc dạt dào xưa nay con chưa từng biết đến. Dạ thưa mẹ, n gay bây giờ con yêu hoàng nhi hơn chính bản thân con, không biết ngày xưa phụ hoàng có yêu con như vậ y hay không ?

Nghe đến đây mẫu hậu Vi Đề Hy nghẹn ngào, tức tưởi, “Sao con hỏi mẹ điều ấy? Mẹ dám chắc trên cõi đời này không ai giàu lòng nhân ái như cha con khi còn tại vị . Cha con lúc vừa nghe tin mẹ có thai, đã vui mừng tột độ dẫn đến quên ăn mất ngủ để chăm sóc cho mẹ .

Rồi mẹ bỗng dưng thèm máu của cha con mà không dám nói ra vì sợ Ngài buồn . Thấy mẹ càng ngày càng xanh xao, gầy yếu, cha con tìm cách an ủi, vỗ về. Mẹ mới thú thật cùng cha con như vậy.

Cha con liền trách sao mẹ không nói sớm để đến nỗi thế này. Nói xong cha liền cắt tay cho mẹ nếm máu, kể từ đó mẹ ăn uống lại bình thường. Do điềm ấy mà các nhà tiên tri phỏng đoán con sau này có thể giết cha để cướp ngôi vua, nên mới đặt tên cho con là A Xà Thế, tức “kẻ thù trong bào thai”.

Nghe đến đây mẹ vô cùng sợ hãi nên định phá thai nhưng cha con không chịu, và con chào đời trong niềm vui mừng vô hạn của cha con , mẹ thì trong lòng lo lắng vô cùng , vì sợ điềm ấy sẽ trở thành sự thật ”.

Vua A Xà Thế nghe đến đây trong lòng cảm thấy nghẹn ngào xúc động, hai hàng nước mắt tuôn trào trong khóe mắt , ông ngồi đơ người ra như kẻ mất hồn.

Hoàng hậu Vi Đề Hy mới kể tiếp: Con biết không, thuở nhỏ có lần con bị mụn nhọt nơi ngón tay đau đớn không chịu nổi, con gào thét rất nhiều khiến cho vua cha động lòng chịu không nỗi .

Đang họp cùng triều thần nhưng cha con vội bãi trào để vào cung ôm chầm lấy con, ngậm ngón tay vào miệng cho con đỡ đau nhức mà yên giấc ngủ ngon lành . Ngờ đâu mụn nhọt bị vỡ ra khiến máu và mủ tuôn trào, sợ con tỉnh giấc nên cha con đã nuốt hết vào bụng. Nghe đến đây vua A Xà Thế liền hoảng hốt kêu la thất thanh, “quân bây đâu, quân bây đâu, mau thả cha ta ra liền lập tức!” Vua A Xà Thế miệng la, chân chạy như kẻ mất hồn để tìm đến ngục tối , nhưng khi đến nơi vua Tần Bà Sa La đã chết từ lâu rồi .

Ôi cha chết, hai tiếng buồn thê thảm.
Giờ ăn năn, thì đã quá muộn rồi.
Ôi trần thế, con tìm cha đâu nữa.
Khi làm cha mới quý tình phụ tử .

Tình đời là thế đó! Khi lòng tham lam, ích kỷ con người khởi lên thì lý trí, lương tâm bị mê mờ. Được vua cha tha tội chết vì nghĩ con còn non dại và sẵn sàng nhường ngôi báu, ấy vậy mà đứa con vẫn ngang tàng, ngỗ nghịch, không hiểu luân thường đạo lý là gì, nên đã hành hạ cha cho đến chết.

Vậy mà vua Tần Bà Sa La sau khi chết đi , vẫn về báo mộng cho đứa con bất hiếu người đã được sanh Thiên nên dặn con cứ an lòng và đừng đau buồn nữa. Vua Tần Bà Sa La đúng là người cha nhân từ, đức độ có một không hai trên thế gian này .

Trước đó vài năm, thái tử Sĩ Đạt Ta vượt thành xuất gia cầu đạo, nghe nói thành Vương Xá đất nước Kiều Tát La là nơi có đời sống tâm linh cao độ nên N gài đã tìm đến nước này để học đạo giác ngộ, giải thoát .

Vua Tần Bà Sa La nghe tin mới tìm đến gặp thái tử, ông sẵn sàng chia nửa giang sơn để cùng N gài giúp dân chúng an cư lạc nghiệp. Thái tử vốn không màng đến danh lợi, quyền quý cao sang nên đã nói, “tôi đã bỏ hết tất cả cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con xinh để ra đi t ìm cầu chân lý mong ngày thành tựu đạo quả bồ đề, để cứu độ tất cả chúng sinh, xin bệ hạ thông cảm và lượng thứ dùm cho ”.

Biết không thể nào thuyết phục được thái tử, vua Tần Bà Sa La nói, “khi nào Ngài thành đạo, xin N gài nhớ về độ tôi cùng gia quyến!” Sau khi thành đạo dưới cội bồ đề, trước tiên Phật độ 5 anh em Kiều Trần Như, kế tiếp Ng ài độ 3 anh em Ca Diếp, sau đó Ng ài về thành Vương Xá độ vua Tần Bà Sa La và quyến thuộc .

Từ khi vua Tần Bà Sa La tiếp nhận giáo p háp của Như Lai, ngài không còn thiết tha việc triều chính nữa mà chỉ vì thái tử còn quá nhỏ. Biết A Xà Thế có dã tâm muốn cướp đoạt ngôi vua N gài cũng không buồn lòng.

Đọc lịch sử chúng ta h iếm thấy có vị vua nào được như vậy, vinh hoa phú quý sờ sờ trước mắt nhưng N gài vẫn không đắm nhiễm, chỉ coi ngai vàng như dép rách, một lòng giữ đạo chân ch í nh, không phiền muộn, oán than một điều gì. Chúng ta chẳng có gì để buông mà cứ dính mắc hoài, thật là hết sức hổ thẹn cho hàng hậu học sau này !

Giáo dục gia đình là nền tảng quan trọng để tiếp cận cộng đồng xã hội. Cha mẹ là vị thầy đầu tiên của con cái xưa nay. Mẹ thì mang nặng đẻ đau, cha thì cung phụng, nuôi dưỡng, mong con sau này khôn lớn tiếp tục kế thừa truyền thống tốt đẹp của gia đình.

Vua A Xà Thế vì quá tham tàn, bạo ngược nên đã đành đoạn giết cha một cách tàn nhẫn, đến khi đứa con đầu lòng chào đời ông mới biết trân quý tình cha con; dù rất ăn năn, hối hận cũng đã muộn, có làm cha mới quý tình phụ tử, mới cảm thông nỗi lòng cha mẹ đối với con cái .

Còn cha gót đỏ như son
Đến khi cha chết gót con đen sì.

Nếu vua A Xà Thế không vì một phút si mê dại dột thì giờ đây không hạnh phúc nào bằng , khi có người cha làm thái thượng hoàng hướng dẫn cho mình những kinh nghiệm quý báu để ích nước lợi dân, đỡ phải hao công tốn sức nhiều.

Câu chuyện trên răn dạy một bài học nhớ đời về cách đối nhân xử thế sao cho phù hợp đạo lý làm con đối với cha mẹ, nếu luận về tội thì không tội nào nặng bằng tội giết cha, dù bị đọa đày suốt đời suốt kiếp cũng chưa gội rửa hết.

Chính vì vậy mà vua A Xà Thế lúc nào cũng bị ám ảnh dày vò khi nhớ tới vua cha chết dần chết mòn trong lao tù ngục tối. Trong cơn sầu đau não nề, quả báo xảy đến làm toàn thân ông đầy ghẻ lở.

Các danh y nổi tiếng cả nước được dời đến chữa trị nhưng tất cả đều bó tay xin chào thua . Trong cơn đau tưởng chừng như tuyệt vọng, ông than thở cùng bà Vi Đề Hy , con nay thân tâm đều khốn khổ, phụ hoàng hiền lương, đức độ mà con đành lòng giết hại.

Con từng nghe nói tội giết cha là một trong 5 tội lớn sẽ bị đọa địa ngục và chịu nhiều thống khổ liên tục…vì nghĩ như vậy nên vua A Xà Thế lúc nào cũng bi lụy, sầu khổ vì nỗi ám ảnh giết cha.

Sau nhờ quan ngự y Kỳ Bà khuyên nhủ, “bệnh tình của bệ hạ chỉ có đ ức Phật mới có thể cứu khỏi. Thần xin cam kết lấy thân mạng mình bảo đảm điều này. Đức Phật là bậc giác ngộ hoàn toàn giải thoát, Ngài lúc nào cũng từ-bi-hỷ-xả, khoan dung và độ lượng. Bệ hạ nên nghe theo lời hạ thần, trong tối nay phải đến nhờ Phật cứu chữa”.

Vua sợ quá nói, “Kỳ Bà, ông có điên không? Ông không nhớ sao, lúc trước ta đã cho sa môn Đề Bà Đạt Đa mượn voi say để giết Phật, ta còn mặt mũi nào đến nhờ Ngài chữa trị? Phật làm sao có thể tha thứ cho ta được.”

Kỳ Bà nói: “Không sao đâu, bệ hạ cứ yên tâm, Ngài là bậc giác ngộ hoàn toàn có một không hai trên thế gian này, vì thế Ngài mới chinh phục được ba anh em Ca Diếp nổi tiếng nhất thành Vương Xá, ngay đến hai nhà Bà La Môn thông thái như Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên cũng đầu phục làm đệ tử Ngài. Hung tợn như tên tướng cướp Ương Quật Ma La một thời làm náo lọan đất nước Kiều Tát La, từng giết hại hàng ngàn người không gớm tay mà giờ đây cũng quy y đầu Phật”.

Vua A Xà Thế mới hỏi : “có phải tên giết người chặt ngón tay làm xâu chuỗi để đeo không?” “Dạ muôn tâu bệ hạ, đúng thật là như thế! Tên cùng hung cực ác như Ương Quật Ma La cũng nhờ Phật nhiếp phục, sau khi hồi đầu do siêng năng tinh tấn tu hành nên đã chứng quả A La Hán, huống hồ là bậc anh tài như bệ hạ”.

Ngay đêm ấy, vua cùng Kỳ Bà đến chùa Kỳ Viên, Phật biết trước nên ra cổng đón, “thưa đại vương, ngài đến chùa trong đêm khuya thế này chắc có việc gì quan trọng?”

Vua A Xà Thế nghe Phật nói vậy mới cảm động và khâm phục trước tấm lòng bao dung của Ngài, quả thật lời quan Kỳ Bà nói không sai, nghĩ vậy hồi lâu vua mới lấy lại bình tĩnh và thú thật, “con chính là vua A Xà Thế trị vì đất nước Ma Kiệt Đà thành Vương Xá, con đã lỡ lầm giết chết người cha vô cùng hiền lương, đức độ, vì thế ngày nay thân tâm con đều đau khổ tột cùng. Con kính mong Phật mở lượng hải hà một lòng từ bi thương xót giúp con vượt qua tội lỗi. Từ ngày phụ hoàng mất đi , con chưa một giây phút nào được thảnh thơi, lúc nào con cũng thấy hình bóng phụ hoàng rên la thảm thiết”.

Phật nói : “này đại vương nên biết, trên đời có 2 hạng người có thể đạt được hạnh phúc chân thật. Hạng người thứ nhất từ nhỏ đến lớn chưa từng làm điều xấc ác, lại hay giúp người cứu vật. Hạng người thứ hai đã từng gây tạo tội lỗi mà biết ăn năn hối cải, sám hối hứa chừa bỏ không tái phạm. Cả hai đều có khả năng giác ngộ như nhau.”

“ Vua A Xà Thế mới phân trần n hưng con đã phạm tội giết cha.” “Đành rằng nhân quả không sai, gieo gió ắt gặt bão, giết người phải đền mạng, nhân quả lúc nào cũng công bằng khi đủ nhân duyên sẽ cho ra kết quả. N hưng nói như vậy , vô tình cái gì cũng trở thành cố định hết thì trên đời này đâu c ó ai còn tu được nữa , thành ra người ác sẽ ác mãi, không thể làm mới lại chính mình .

Nếu đại vương cứ một bề hối tiếc, mặc cảm thì rốt cuộc không làm gì được cả mà còn làm cho thân tâm này bi lụy .” “Vậy Thế Tôn có thể giúp cho con sám hối lại lỗi lầm bằng cách nào?”

“Người đã chết không bao giờ sống lại được, nếu đại vương cứ ưu sầu, thương xót thì cũng không lợi ích gì, chi bằng hiện tại đại vương phát nguyện sám hối, dứt khoát không làm các điều ác mà hay làm các điều lành, giúp dân chúng an cư lạc nghiệp, ổn định đời sống dài lâu, luôn thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ mọi người trên tinh thần vô ngã, vị tha, lấy tình thương chuyển hóa hận thù, luôn từ bi, độ lượng, bao dung và tha thứ”.

Sau khi được Đức Phật khai thị, vua A Xà Thế đã bình tâm, hoàn hồn, không còn ưu sầu nữa và liền phát nguyện quy y Tam bảo, nương tựa 3 ngôi báu Phật-Pháp-Tăng, đời đời kiếp kiếp khuyên mọi người gìn giữ 5 điều đạo đức và làm 10 việc thiện.

Vua A Xà Thế từ khi tiếp nhận giáo pháp của Như Lai tâm tình trở nên cởi mở, quyết tâm gầy dựng lại cuộc đời theo lời Phật dạy, lấy tình thương xóa bỏ hận thù, xây dựng cuộc sống dân giàu nước mạnh trên tinh thần từ-bi-hỷ-xả, coi thần dân như con đẻ của mình.

Nhờ vậy, trong triều đại vua A Xà Thế đã làm được những việc không thể ngờ. Một ông vua ngang tàng, bạo ngược, nhờ gặp đức Phật mà thay tâm đổi tánh, từ một người giết cha để cướp đọat ngôi vua trở thành một vị vua nhân từ, đức độ, hướng dẫn mọi người sống theo lời Phật dạy trên tinh thần đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau.

Kinh A Xà Thế là một triết lý sâu sắc về tình người mà đức Thế tôn đã giáo hóa cho những ông vua, bà hoàng trong thời đại phong kiến. Rất nhiều vị vua đã quy hướng về Tam Bảo như vua Tần Bà Sa La, vua Ba Tư Nặc và kẻ đã từng âm mưu cùng Đề Bà Đạt Đa hại Phật để thống trị thiên hạ. Tuy nhiên Phật vẫn mở rộng bàn tay để độ vua A Xà Thế vì đức Thế tôn không thấy ai là kẻ thù mà chỉ có người chưa thông cảm.

Trong bài kinh có hai vế mà người hậu học chúng ta đáng quan tâm và suy gẫm, nhân vật chính mà đức Phật muốn giáo hóa kẻ tội đồ giết cha là Vua A Xà Thế ngay nơi cuộc đời này, bằng những hành động thiết thực có lợi ích cho mình và nhiều người khác.

Nhân vật phụ là bà Vi Đề Hy là những người có thể thừa hưởng ân sủng tối cao muốn gì được nấy với cương vị là Hoàng thái hậu. Ngược lại, bà rất đau khổ tột cùng khi vua Tần Bà Sa La là chồng bà bị đứa con ngỗ nghịch giam vào ngục tối và không cho ăn uống gì để bị chết dần mòn thể xác lẫn tinh thần.

Bà tìm đủ mọi cách để đem thức ăn vào cho chồng nhưng đều bị A Xà Thế phát giác và cấm đoán nghiêm ngặt. Đứng vào hoàn cảnh của bà trong thời điểm hiện tại, bà cảm thấy đau khổ vô cùng tận, chính vì nỗi khổ niềm đau này mà bà khởi lên tư tưởng trên đời này có còn cõi nào không bao giớ có đau khổ?

Phật biết được tâm ý của bà nên phương tiện giúp cho bà bớt khổ bằng cách nói có một cõi Cực lạc do Phật A Mi Đà làm chủ với bảy báo trang nghiêm, toàn là bậc thượng thiện nhân cư trú, nhờ vậy bà bớt khổ được vui trong kiếp sống hiện tại.

Bà Vi Đề Hy là một hoàng hậu với đầy đủ kẻ hầu, người hạ muốn gì được nấy là chỗ thiên hạ ai cũng mong muốn. Ấy thế mà, cuộc sống của bà rơi vào hoàn cảnh éo le, thật là khổ não bởi đứa con tham tàn bạo ngược. Thân thì sống trong cung vàng điện ngọc nhưng tâm bà vô cùng đau đớn và tuyệt vọng, nỗi khổ niềm đau thương chồng vì bị đứa con bức tử hành hạ thân xác trong từng phút giây. Người làm cho bà đau khổ đến tột cùng là đứa con trai duy nhất do mình đẻ ra, bà cảm thấy chơi vơi lạc loài với tâm trạng tuyệt vọng, nên bà khởi lên mong muốn có cõi nào không khổ đau? Đức Phật biết được tâm ý của bà nên nói ở Phương tây có cõi cực lạc, ai được sinh về cõi này thì sẽ hết khổ. Sau đó Phật dạy pháp lục niệm, niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới, niệm Thiên và niệm Thí. Nhờ tin lời Phật dạy bà chuyên niệm nên tâm ý không còn bấn loạn, do đó bớt khổ đau mà an trú trong giây phút hiện tại. Đây là phương tiện thiện xảo đối với những người đang bị khổ đau cùng cực. Trong hoàn cảnh này, chồng bà là vua xưa nay muốn gì được nấy mà bị chính con ruột mình giam cầm và bỏ đói, nhiều lần bà dấu thức ăn đem vào đều bị giữ lại. Có lần bà phải tắm rửa sạch sẽ rồi trét bơ sữa đây người để vào thăm chồng. Bà đau khổ tột cùng vì hai bên đều là những người thân thương nhất của bà. Phật phương tiện để bà thoát qua cơn tuyệt vọng, khi con người tuyệt vọng có thể dẫn đến quyên sinh tự tử. Đức Phật là vị đạo sư biết rõ được tâm ý của từng con người, từng hoàn cảnh sống nên đã được vô số người quy hướng về chính mình mà sống đời đạo đức.

Chúng sinh ở cõi dục bản chất là tham lam mong cầu quá đáng, làm ít mà muốn hưởng thụ nhiều nên một số người đã lợi dụng bài ra có một đấng tối cao ban phước giáng họa để dễ bề cai trị và sai khiến con người. Người tin theo truyền thống có ông trời tạo ra, cuộc đời của ta do trời sắp đặt, mọi sự thăng trầm nên hư thành bại đều do trời quyết định, con người không có khả năng và quyền lực gì cả, cuối cùng chấp nhận số phận đã an bài.

Học thuyết này chỉ phù hợp khi con người còn ăn lông ở lỗ, chưa có kiến thức hiểu biết nhận định đúng sai nên mới tin rằng có một đấng sáng tạo và con người bị điều hành, sai sử bởi đấng này. Ai tôn thờ và nương theo đấng quyền năng ấy thì có được cuộc sống tốt đẹp, hạnh phúc, còn ai không theo sẽ bị đọa đày, đau khổ. Con người chỉ có con đường duy nhất, theo thì được lên thiên đàng, không theo thì bị xuống địa ngục. Con người vì thiếu hiểu biết và si mê nên phải tin theo như một tín đồ. Vậy học thuyết đó đến giờ này có đúng hay không? Nếu sai, sau một số nơi vẫn còn tồn tại thậm chí con người vẫn tin theo nhiều hơn. Nhà Phật nói cái gì huân tập và làm theo lâu ngày sẽ trở thành thói quen, thói dù tốt hay xấu dù đúng hay sai thì rất khó dứt bỏ. Đơn giản nhất là thói quen hút thuốc lá thôi, nó đâu có giá trị thực, vậy mà khi đã lỡ nghiện rồi ngàn người ,vạn người khó bỏ khó dứt trừ.

Ngày nay, nhờ sự tiến bộ của khoa học, con người dễ nhận ra nguyên lý sống của vũ trụ, tất cả mọi hiện tượng sự vật đều do nhiều yếu tố hợp lại mà thành, không có gì là do một nhân mà có thể tồn tại trên thế gian này. Thời xa xưa, những hiện tượng như mưa gió bão bùng, sấm sét long trời lở đất, người ta cho rằng, đó là do thần linh hay thượng đế muốn răn dạy con người bớt làm các việc xấu ác. Nếu có ai chẳng may là nạn nhân của các hiện tượng này thì họ phương tiện nói rằng, có đấng quyền năng tối cao trừng phạt người làm việc xấu ác. Từ đó, lâu ngày thành ra phong tục, tập quán, rồi người ta cứ chấp chặt vào đó mà lung lạc lòng người, họ quên đi những điều rất thực tiễn gieo nhân nào thì được quả nấy.

Vua A Xà Thế trong quá trình văn tư tu ứng dụng năm giới, mười điều lành cho mình và người khác

Đạo Phật dạy người tu hành chân chính bắt đầu từ văn, tư và tu, gọi là tam học. Văn có nghĩa là học hỏi từ sách vở hoặc nghe quý thầy giảng dạy, là những người nghe giáo lý để tu học. Chúng ta khi nghe giảng dạy về nhân quả, khi nghiên cứu, khi thảo luận và thưa hỏi, tức là ta đang thực tập về văn học.

Khi nghe, chúng ta phải có thái độ cởi mở, phải thao thức muốn hiểu biết rõ ràng và muốn được thực hành những lời hướng dẫn ấy, như thế mới gọi là người biết nghe. Còn nếu chúng ta nghe chỉ để đàm luận hơn thua, nghe để phê phán, chỉ trích người khác, nghe như vậy chỉ chất chứa thêm kiến thức mà sinh cống cao ngã mạn tự thấy mình giỏi hơn thiên hạ.

Tư có nghĩa là suy gẫm, quán chiếu, nghiệm xét những điều mình được đọc lại từ các kinh sách hoặc học hỏi từ lời dạy của quý thầy. Phật dạy khi ta nghe một điều gì, dù lời dạy đó từ một vị đạo sư nổi tiếng nói ra chúng ta cũng phải xem xét, tư duy, phân tích mổ xẻ một cách thấu đáo, biết rõ mục đích rõ ràng, khi ấy ta mới bắt đầu tu.

Khi nghe và tư duy về điều đó, giống như ta đã gieo hạt giống trí tuệ vào lòng, bắt đầu ta thực tập hạt giống trí tuệ đó để buông xả tham lam, sân giận và si mê. Nếu sau khi nghe rồi mà không đem ra thực tập thì việc nghe không có lợi ích gì cả, bởi gì ta chỉ nghe suông. Trong quá trình văn, tư, tu về con đường chuyển hóa nỗi khổ niềm đau do thấy biết sai lầm mà gây ra nhiều tội lỗi cho mình và người khác.

Nhờ quá trình văn, tư và tu mà chúng ta ai cũng có thể thấy rõ ràng nguyên nhân dẫn đến khổ đau luân hồi sống chết vô cùng tận, do si mê tham ái và sự chấp ngã của thân tâm này. Từ đó ta sẽ suy nghĩ, nói năng và hành động của ta không làm tổn thương đến người và vật. Vua A Xà Thế khi nghe lời Phật dạy đã biết tư duy, nghiệm xét về những lời dạy đó và thành tâm sám hối ăn năn, quy hướng về Tam bảo với lòng thành của mình mà phát nguyện sống đời đạo đức và giúp cho dân chúng an cư lạc nghiệp bằng mười điều lành.

Mục đích chính của bản kinh là giáo dục nhân quả cho con người có đủ niềm tin bằng sự hiểu biết của chính mình, thông qua phương pháp văn, tư, tu nghe rồi suy gẫm tư duy và áp dụng tu tập để dứt trừ phiền não khổ đau. Nhờ vậy mà đức Phật mới độ được ông Vua A Xà Thế, đầu tiên là nhờ nghe lời khuyên của Kỳ Bà thuyết phục đến gặp đức Thế tôn, sau đó được sự chỉ dạy của Ngài mà sau này trở thành vị vua Phật tử, có rất nhiều đóng góp lớn lao trong công cuộc hoằng truyền chánh pháp “tốt đạo đẹp đời”.

Ngài là vị vua đầu tiên đứng ra bảo trì kết tập Kinh điển Phật giáo lần thứ nhất tại núi Kỳ Xà Quật. Sau khi Phật viên mãn, ngài đứng ra phân chia Xá Lợi Phật cho 8 nước. Đọc chuyện xưa để chúng ta cùng nhau suy gẫm! Một ông vua hung tàn, bạo ngược nếu không gặp Phật thì biết bao chuyện lầm than đã xảy ra cho dân chúng đất nước Kiều Tát La .

Thường những vị vua hung bạo đều có tài, nếu biết sử dụng tài đúng chỗ, đúng nơi sẽ giúp muôn dân sống an vui, hạnh phúc bằng tình người trong cuộc sống. Nếu sử dụng sai lầm sẽ làm thiên hạ khổ đau vì mộng bành trướng bá quyền, thôn tính xâm lăng, mở mang bờ cõi, gây bao tang tóc, đau thương cho nhiều người.

Vua A Xà Thế vốn là vị vua có tài, nhờ Phật chuyển hóa mà nhận ra sai lầm, biết sám hối, ăn năn, làm mới lại chính mình, làm lại cuộc đời. Bằng những việc làm thiết thực N gài đã giúp dân an cư lạc nghiệp theo tinh thần Phật dạy , biết quy hướng Tam bảo , trọn đời gìn giữ 5 điều đạo đức, sống gương mẫu, biết hy sinh vì mọi người, lấy niềm vui thiên hạ làm niềm vui ch ính mình.

Nhà vua thường khuyên mọi người hạn chế tối đa việc giết hại chúng s i nh và hay phóng sinh cứu người cứu vật, luôn sống chân thật, không dùng quyền hạn để bóc lột của người hay cướp giật của kẻ khác, khuyên người bố thí cúng dường, cung kính hiếu dưỡng ông bà cha mẹ và các bậc trưởng thượng, giúp đỡ chia sẻ khi gặp người bất hạnh, không ủng hộ quan điểm chồng chúa vợ tôi, khuyên bảo mọi người sống chung thủy một vợ một chồng, không nói dối hại người và luôn nói lời chân thật, không dùng rượu quá chén hay vui chơi quá đáng mà tác hại đến đời sống con người. Vua nhờ tiếp nhận giáo pháp của Như Lai nên một đời giúp dân chúng an cư lạc nghiệp theo tinh thần Phật dạy, đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau vì lợi ích chúng sinh bằng tình người trong cuộc sống.

-HỌC THUYẾT TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC VÀ THỂ NGHIỆM TÂM NGAY NƠI THÂN NÀY

Đứng trên phương diện thực tế trong cuộc sống, chưa có ai từng biết rõ thế giới Tây phương cực lạc ra sao? Và cũng chưa có ai dám xác định rõ ràng hoặc đã từng sinh hoạt ở cõi đó? Một ví dụ rất thực tế, tôi chưa từng đến đất nước Ấn Độ, nhưng tôi có thể biết qua phim ảnh sách báo hoặc truyền thông Internet toàn cầu. Nhờ vậy tôi có thể biết rõ đất nước Ấn Độ mà không cần đến nơi, đó là một sự thật không ai có thể phủ nhận được. Tuy nhiên, nếu quan niệm thế giới Cực lạc là thế giới lý tưởng, thìchúng ta phải y cứ vào kinh văn do đức Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết giảng hơn ba mươi ngàn bài kinh. Từ đó chúng ta có thể đối chiếu và so sánh, để tìm ra tiếng nói chung và đây là suy nghĩ của riêng cá nhân chúng tôi. Sau đây chúng tôi trích nguyên văn trong Kinh A Di Đà ở phẩm Điện kiện vãng sanh:

-Điều kiện vãng sinh: Này Xá-lợi-phất, bất luận nữ nam, muốn được vãng sanh, thì hãy chuyên cần, khởi lòng khát ngưỡng, nhớ nghĩ không quên, thực tập quán niệm, “nhất tâm bất loạn,” trong vòng một ngày, cho đến bảy ngày. Trong giờ phút này, tâm ý người ấy phải thật yên tĩnh, như vào thiền định, không còn tán loạn, đảo điên mộng tưởng. Đến lúc qua đời, Phật A-di-đà, thánh chúng hà sa, dang tay tiếp dẫn, khiến được vãng sanh, dự hàng chúng thánh, không hề chia phân. Này Xá-lợi-phất, vì nhìn thấy được lợi lạc hà sa do niệm Di-đà, ta khuyên các vị, hãy nên chuyên tâm, niệm Phật vãng sanh.

Lời bàn: Trong phần này nội dung chính để quyết định vãng sanh đó là câu”nhất tâm bất loạn” Có lẽ các nhà Phật học cũng đã từng bàn luận về câu này rất nhiều tức là một tâm không loạn. Một tâm không loạn phải từ một ngày cho đến bảy ngày thì Phật A Di Đà và Thánh chúng sẽ rước về cõi Tây phương Cực lạc? Một câu hỏi được đặt ra, tâm không loạn là gì? Các nhà nghiên cứu thường lầm lẫn chỗ này, tâm không loạn và nhất niệm tương ưng khác nhau một trời một vực. Một đàng là còn niệm, một đàng là vô niệm, tuy vô niệm nhưng vẫn thường biết rõ ràng nói không thể đến. Nhất niệm tương ưng tức là câu niệm Phật đó đã thành phiến, thành đá rồi tức là còn niệm, nhưng mà thuần nhất chỉ một niệm. Chữ niệm ở đây có hai nghĩa, một là nhớ, một là niệm danh từ đại khái giống như đọc thần chú vậy! Mà còn niệm là còn luân hồi, vô niệm tức vô sinh an nhiên tự tại trong mọi hoàn cảnh vì không còn đến đi.

Giải thích ý nghĩa Cực lạc tức là không còn khổ còn vui, như vậy sẽ đồng nghĩa với Niết-bàn tức vô sinh. Vô sinh là không còn khổ vui mà vẫn thường biết. Ai biết? Thì rõ ràng đây là cảnh giới Niết-bàn chứ không phải là cõi nước nữa….Học Kinh Phật chúng ta biết ý sâu xa ở chỗ nào? Nếu luận trên ngôn ngữ thì càng bị ngôn ngữ trói buộc, các nhà Phật học cần phải thoát ra….

-Kế đến chúng ta sẽ luận về tâm, tâm thì có hai phần tâm vọng và tâm chơn. Tâm là một danh từ ai cũng có thể nói được, nhưng tâm là gì thì chẳng ai biết rõ ràng. Cái gốc của Phật pháp chính là tâm. Người học Phật pháp phải biết rõ nguồn gốc đó chính là tâm của mình chứ chẳng phải tìm cầu nơi khác mà được. Trong thực tế cuộc sống, Phật giáo là nền giáo dục nhân bản, giúp cho con người nhận ra tâm pháp để giác ngộ, giải thoát và thành Phật ngay nơi thân này.

Nhưng tâm chia ra làm hai phần: Tâm chơn còn gọi là tâm thường biết rõ ràng, tâm vọng còn gọi là tâm phân biệt hư dối. Tâm chơn thì không thể dùng lời nói luận bàn, hay ý thức suy nghĩ mà được, chỉ thấy nghe hay biết mà không vọng động, hình ảnh sự vật như thế nào thì biết rõ như thế đó. Tâm vọng hư dối là hay suy nghĩ phân biệt tốt xấu, đúng sai, ta người…..

Tâm vọng hư dối là "cái hiểu biết phân biệt tốt xấu, đúng sai", hay còn gọi là phần tinh thần. Tâm không có hình tướng dài, ngắn, vuông, tròn, hay có màu sắc xanh, đỏ, vàng, trắng, đen, nâu. Chúng ta không thể dùng con mắt mà thấy được tâm; cũng không thể dùng tay chơn sờ mó rờ đụng được tâm; chỉ thấy cái tác dụng của nó qua mắt tai mũi lưỡi thân ý, nên biết có tâm.

Tâm chân thật được hiển lộ qua sự thấy và nghe, khi thấy chỉ là thấy mà vẫn thường biết rõ ràng mọi hình ảnh sự vật, màu sắc xanh, trắng, đỏ, vàng. Khi nghe chỉ là nghe mà không dính mắc vào âm thanh lớn nhỏ, dễ chịu hay không dễ chịu, nhờ vậy ta luôn sống với tính nghe thường hằng.

Cũng như "điện", người ta không thể thấy nghe hay rờ mó được điện; chỉ do thấy cái tác dụng của nó mà biết có điện. Như cho điện vào bóng đèn thì thấy đèn sáng, cho điện vào quạt thì thấy quạt xoay, cho điện vào bàn ủi thì thấy nóng, cho điện vào tủ lạnh thì thể lỏng đông đặc lại v.v…. Chính vì vậy mà người ta biết là có điện. Tâm Phật cũng lại như thế, vì nó có tác dụng thấy, nghe hay biết nương nơi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý mà không dấy niệm phân biệt tốt xấu, đúng sai v.v… nên chúng ta biết là có tâm Phật sáng suốt ngay nơi thân này.

Đây mới là vấn đề quan trọng trong việc tu hành, ai có tu sẽ có lúc thể nhập được tâm Phật ngay nơi thân của mỗi người. Chỗ này người tu thiền gọi tâm đang tan hòa vào hư không mà vẫn thường biết rõ ràng. Hành giả chuyên tu thiền sẽ thể nhập chỗ này rất nhiều, nhưng chỉ lóe lên rồi hết hoặc chỉ là một thời gian ngắn vài ba phút…..? Ở đây Phật dạy phải nhất tâm bất loạn từ một ngày đến bảy ngày thì Phật sẽ rước về Cực lạc….? Cho đến tận bây giờ chưa có ai dám xác nhận cõi Cực lạc ở đâu, trong văn kinh nói vô số ức kiếp về hướng Tây. Nhưng thể nhập tâm trong vài ba phút hoặc một hai giờ thì các hành giả tu thiền….có thể trải nghiệm được. Bàn đến đây chúng ta đã tìm ra yếu chỉ của một tâm không loạn. Hành giả tu thiền muốn tâm không loạn phải làm sao?

-Đối chiếu kinh Lăng Nghiêm: Mắt của chúng ta thấy tất cả mọi hình ảnh sự vật, biết được rõ ràng các màu sắc xanh, đỏ, trắng, đen, nâu, vàng v.v… Cái biết này không thuộc về con mắt mà nương nơi mắt để thấy biết rõ ràng hình ảnh màu sắc một cách không lầm lẫn, sự vật như thế nào thì biết rõ như thế đó, nên gọi là nhãn thức, cái biết nương nơi mắt, tai mũi lưỡi thân ý cũng lại như thế.

Trong Kinh Lăng Nghiêm vua Ba-tư-nặc đứng dậy bạch Phật: Con xưa nay chưa từng nghe sự chỉ dạy của Phật, gặp bọn Ca-chiên-diên, Tỳ-la-chi-tử đều nói: “Thân này sau khi chết không còn gì nữa, gọi là Niết-bàn.” Nay con tuy gặp Phật vẫn còn hồ nghi “làm sao phát huy chứng biết chỗ tâm này chẳng sanh chẳng diệt”?

Phật hỏi: Đại vương! Sắc thân hiện tại của ông là thường trụ chẳng hoại hay là biến hoại? Vua thưa: Bạch Thế Tôn! Thân con hiện nay sinh diệt thay đổi liên tục. Phật bảo: Đại vương! Ông chưa từng diệt làm sao biết nó diệt? Vua thưa: Bạch Thế Tôn! Thân biến hoại vô thường của con tuy chưa từng diệt, song con xem hiện tiền niệm niệm đổi dời luôn luôn chẳng dừng, như lửa tàn thành tro dần dần tiêu mất, nên con có thể biết thân này sẽ từ từ bị tiêu diệt.

Phật bảo: Đại vương! Đúng thế. Nay ông đã già đi theo thời gian, nhan mạo đâu giống lúc còn trẻ? Vua thưa : Bạch Thế Tôn! Thuở xưa con còn trẻ da dẻ tươi nhuận, đến lúc trưởng thành khí huyết sung mãn, nay con già cả suy yếu hình sắc khô khan, tinh thần mờ tối, tóc bạc mặt nhăn không còn bao lâu sẽ chết, làm sao sánh được với lúc khỏe mạnh sung mãn?

Phật bảo: Đại vương! Hình dung của ông đâu có thể già liền? Vua thưa: Bạch Thế Tôn! Nó thầm biến hóa đổi dời thật con chẳng biết, nóng lạnh đổi thay dần dần đến như thế. Vì sao? Khi con hai mươi tuổi tuy nói còn trẻ, hình tướng mặt mũi đã già hơn lúc mười tuổi, đến ba mươi tuổi lại suy hơn hai mươi tuổi, nay con đã sáu mươi hai tuổi rồi nhìn lại khi mới năm mươi tuổi rõ ràng cường tráng khỏe mạnh.

Kính bạch Thế Tôn! Sự thầm đổi dời tuy đặt thời hạn mười năm, song con suy xét kỹ nó biến đổi đâu những mười năm hai mươi năm, mà thật dời đổi từng năm; đâu chỉ từng năm, mà dời đổi từng tháng, đâu những từng tháng mà dời đổi từng ngày. Nhưng nếu suy xét chín chắn tế nhị hơn thì khoảng mỗi sát-na, mỗi niệm luôn đổi dời. Vì thế, nên con biết thân này trọn theo sự biến diệt.

Phật bảo: Đại vương! Ông thấy sự biến hóa đổi dời chẳng dừng, ngộ biết thân ông tiêu diệt; cũng chính khi diệt đó, ông biết trong thân có cái chẳng diệt chăng? Vua chấp tay bạch Phật: Thật con chẳng biết.

Phật bảo: Nay tôi chỉ cho ông biết cái tánh chẳng sanh diệt đó. Đại vương! Ông khi mấy tuổi được thấy sông Hằng? Vua thưa: Khi con được ba tuổi mẹ bồng đi yết kiến Thần Kỳ Bà Thiên ngay nơi sông này, khi ấy con mới biết sông Hằng.

Phật bảo: Đại vương! Như ông đã nói, khi hai mươi tuổi già hơn mười tuổi, cho đến sáu mươi tuổi, năm tháng ngày giờ niệm niệm đổi dời, ắt khi ông ba tuổi thấy sông Hằng đến năm mười ba tuổi thấy sông Hằng, vậy cái thấy ấy ra sao?

Vua thưa: Như lúc ba tuổi rõ ràng không đổi, cho đến hiện nay sáu mươi hai tuổi cái thấy ấy vẫn không có khác. Phật bảo: Nay ông tự lo tóc bạc mặt nhăn, quyết định mặt nhăn hơn lúc còn trẻ, song hiện nay ông thấy sông Hằng cùng với cái thấy sông Hằng thuở xưa có trẻ, có già chăng?

Vua thưa: Kính bạch Thế Tôn! Dạ không ạ. Phật bảo: Đại vương! Mặt ông tuy nhăn, song tánh thấy của ông chưa từng nhăn; nhăn thì biến đổi, chẳng nhăn thì không biến đổi; biến đổi thì bị sanh diệt, cái không biến đổi vốn không sanh diệt, tại sao ở trong ấy chịu sanh tử với ông, mà ông dẫn lời Mạc-dà-lê... đều nói thân này sau khi chết là diệt hết?

Rồi cũng trong kinh Lăng Nghiêm Phật ở trong đại chúng đưa tay lên nắm lại xoè ra, nắm lại xoè ra, hỏi A-nan: "Nay ông thấy cái gì?" A-nan thưa: "Con thấy bàn tay trăm báu của Như Lai ở trong chúng xòe nắm". Phật bảo A-nan: "Ông thấy tay ta ở trong chúng xòe nắm, hay cái thấy của ông có xòe nắm"? A-nan thưa: "Tay trăm báu của Thế Tôn ở trong chúng xòe nắm, con thấy tay Như Lai tự xòe nắm, chẳng phải tánh thấy của con có xòe nắm". Phật hỏi: "Cái nào động, cái nào tịnh”? A-nan thưa: "Tay Phật động, tánh thấy của con còn không có tịnh, huống là động". Phật khen: "Đúng thế".

Khi đọc đoạn kinh trên, chúng ta thấy Phật chỉ rõ ràng ngay nơi thân này cái nào sanh diệt, cái nào chẳng sanh diệt. Thân là dòng biến động thay đổi từng phút giây, từ khi mở mắt chào đời cho đến khi khôn lớn trưởng thành rồi già, bệnh, chết tức là thân này không thật có cho nên vô thường hoại diệt. Tánh thấy nương nơi mắt xưa nay chưa từng thay đổi, thì làm gì có vô thường hoại diệt, bởi vì khi thấy mọi hình ảnh sự vật như thế nào, thì biết rõ như thế ấy mà vẫn thường biết rõ ràng.

Kinh Lăng Nghiêm Phật bảo ngài A Nan đánh tiếng chuông rồi hỏi ngài có nghe không, ngài A Nan trả lời có. Đợi khi tiếng chuông im bặt một hồi lâu, Phật hỏi lại: “Ông có nghe không?”. Ngài A Nan trả lời: “Không nghe!”, liền bị Phật quở: “Tại sao ông quên mình theo vật?” Phật nói tiếp: “khi có tiếng, nghe có tiếng, khi không tiếng, nghe không tiếng”. Tính nghe luôn thường hằng nên có tiếng biết có tiếng, không tiếng biết không tiếng, vậy mà chúng ta không chịu thừa nhận nên luôn sống trong đau khổ lầm mê bởi vì chạy theo âm thanh lớn nhỏ, vừa ý hay không vừa ý.

Trong cái thấy biết mọi hình ảnh sự vật, chúng ta chạy theo phân biệt là gốc vô minh; trong cái thấy biết, thấy chỉ là thấy không phân biệt là Niết-bàn. Đó À là con đường trở về thể tánh chân thật hằng tri, hằng giác. Đó là sự chỉ dạy trong kinh Lăng Nghiêm và các thiền sư đồng một điểm, không có chỗ nào sai khác.

-Đối chiếu thiền sư: Thiền sư Sùng Tín là con nhà bán bánh bao gần chùa, mỗi ngày đem bánh đến cúng dường Thiền sư Đạo Ngộ. Mỗi lần nhận bánh, thiền sư Đạo Ngộ để lại một cái cho sư và nói: "Ta cho ngươi lại một cái, để dành ân huệ cho con cháu về sau." và cứ như thế một thời gian dài. Thầy rất ngạc nhiên nên mới hỏi thì được thiền sư trả lời: "Bánh của ngươi đem đến, ta cho lại ngươi một cái, có lỗi lầm gì"?

Sùng Tín từ đó mới thắc mắc mà không tìm ra đáp số, một hôm ông đến tìm gặp thiền sư hỏi cho biết rõ sự thật. Thiền sư nói: Nếu nhà ngươi muốn biết thì hãy phát tâm xuất gia học đạo đi, ta sẽ vì ông nói. Sùng Tín nghe nói vậy thu xếp việc gia đình xong xuôi, sau đó xuất gia học đạo. Tuy nhiên khi vào Thiền viện đã hơn 3 năm mà sư phụ chẳng chỉ dạy điều gì, làm cho ngài càng thêm thắc mắc hơn, nên tâm mới thành một khối?

Một hôm sư thưa: "Từ ngày con đến đây chưa từng được thầy chỉ dạy tâm yếu". Đạo Ngộ đáp: "Từ ngày ngươi đến đây, ta chưa từng chẳng dạy ngươi". Sư hỏi lại: "Chỉ dạy ở chỗ nào"? Đạo Ngộ bảo: "Ngươi dâng trà, ta vì ngươi mà tiếp. Ngươi bưng cơm đến, ta vì ngươi mà nhận. Ngươi xá lui, ta gật đầu. Chỗ nào chẳng chỉ dạy tâm yếu"? Sư cuối đầu lặng thinh giây lâu. Đạo Ngộ bảo: Thấy thì thẳng đó liền thấy suy nghĩ liền sai. Nghe câu nói này sư có chút tỏ ngộ, rồi lại hỏi thêm: "Con làm sao gìn giữ"? Đạo Ngộ bảo: "Mặc tính tiêu dao, tuỳ duyên phóng khoáng, chỉ hết tâm phàm, chẳng có thánh giải khác". Ngay nơi câu nói này thầy triệt ngộ. Sau thầy đến trụ tại Long Đàm, dạy đồ chúng tu học.

Nói tánh thấy tức là chỉ cái thấy biết thường xuyên ngay nơi mắt chúng ta, khi chưa khởi niệm phân biệt để so sánh đẹp xấu, hơn thua. Thiền sư Sùng Tín lúc còn cư sĩ mỗi ngày phát tâm cúng dường mười cái bánh bao, khi nhận xong thiền sư cho lại Sùng Tín một cái, làm cho ông cư sĩ này phải thắc mắc và ấp ủ trong lòng vì sao có chuyện kỳ lạ như thế! Ngài tự nghĩ thầm, chắc có ý chỉ cao siêu gì đây? Sau nhiều lần gặp thiền sư mong được giải đáp thắc mắc trên, nhưng thiền sư không trả lời mà chỉ nói: “Bánh ngươi cúng, ta cho lại một cái có lỗi lầm gì”?

Hằng ngày ông ta làm bánh bao vừa bán, vừa cúng dường, chúng ta lưu ý, cái gì thấy mà biết là bánh bao. Chính chỗ này, thiền sư muốn chỉ tánh thấy nương nơi mắt để ông nhận ra ông chủ của mình là chơn tâm Phật tính mà sau này chỉ dạy lại cho con cháu về sau. Khi Sùng Tín nhận lại một cái bánh bao, cái gì thấy, cái gì biết, thấy biết cái bánh bao mà chưa khởi niệm phân biệt, vậy ngay khi ấy là gì? Thiền sư quá từ bi cho nên dồn đệ tử vào đường cùng, bắt buộc đệ tử phải chú tâm cao độ vào đó mà không còn nhớ những chuyện gì khác, nhờ vậy lâu ngày trở thành một khối.

Và một giải pháp cuối cùng muốn biết được điều đó thì anh cư sĩ này phải xuất gia. Nhưng khi được xuất gia rồi ông thầy bắt làm thị giả mà chẳng có lời nào chỉ dạy. Mỗi khi hỏi đến thì thiền sư gạt ngang chẳng thèm trả lời. Đây là chiêu thuật của các thiền sư muốn làm cho đệ tử chỉ thắc mắc một vấn đề đó thôi, nhờ vậy bao nhiêu tạp niệm khác, lần hồi rơi rụng theo thời gian vì sự chuyên nhất vào một chỗ.

Đợi cho đến lúc vị đệ tử của mình quá khát khao, thiền sư chỉ nói: Ta lúc nào cũng chỉ dạy tâm yếu? Ông cúng dường bánh cho ta! Ta cho lại ông một cái đó, ông mắt thấy tai nghe rõ ràng như vậy chỗ nào không phải là tâm yếu? Đến chỗ này thì trời đất mênh mông vô cùng tận cũng không ngoài cái thấy biết thanh tịnh như như.

Cho đến khi chúng ta mở hay nhắm mắt, nó cũng luôn luôn hiển lộ. Nó không lệ thuộc hoàn toàn vào mắt, cơ quan mắt tốt thì nó hiện sáng tỏ, cơ quan mắt xấu thì nó hiện lu mờ, cho đến cơ quan mắt hoại nó cũng không bị hoại theo. Người bị mù thì nhắm mắt thấy tối, đồng như người sáng mắt vào trong nhà tối đều vẫn thấy như nhau.

Đó là đặc tính thường biết rõ ràng nói không thể đến của tánh thấy nương nơi mắt, thiền sư Sùng tín nhận được tâm yếu từ tánh thấy, nên sau này giáo hóa mọi người cũng bằng phương pháp này.Cũng trong Kinh Lăng Nghiêm Phật dạy: "sáu căn là gốc luân hồi, sáu căn cũng là gốc Niết-bàn". Người muốn trở về chân tánh thường biết rõ ràng, không có cách nào khác hơn là phải nương vào mắt tai mũi lưỡi thân ý. Sáu căn là gốc luân hồi sinh tử, sáu căn cũng là gốc giải thoát, nguyên nhân vì sao lại có sai biệt như thế? Trong cái thấy biết mọi hình ảnh sự vật, chúng ta chạy theo phân biệt là gốc vô minh; trong cái thấy biết, thấy chỉ là thấy không phân biệt là Niết-bàn. Đó là con đường trở về thể tánh chân thật hằng tri, hằng giác. Đó là sự chỉ dạy trong kinh Lăng Nghiêm và các thiền sư đồng một điểm, không có chỗ nào sai khác.

-MUỐN ĐẠT ĐƯỢC NHẤT TÂM BẤT LOẠN PHẢI ĐẦY ĐỦ GIỚI ĐỊNH TUỆ

Giới định tuệ: Giới như ngọn đèn sáng hay phá tan tối tăm, mờ mịt. Giới như sức mạnh hay dựng đứng những gì đã ngã. Giới như ánh sáng trí tuệ hay chuyển hóa các phiền muộn, khổ đau. Giới là phương thuốc nhiệm mầu, Chữa lành các bệnh khổ đau ở đời.

-Không trực tiếp sát sinh hại vật, xúi bảo người khác giết hại hoặc vui vẻ đồng tình khi thấy người khác giết hại. Người có tâm sát sinh hại vật thì không bao giờ có thể Thiền định, vì trong các nghiệp xấu ác nặng nhất là tội giết hại. Kẻ giết người cùng kẻ bất hiếu với cha mẹ cũng không thể Thiền định. Muốn tu Thiền được kết quả tốt đẹp chúng ta phải từ bỏ giết hại, bởi khi giết vật mắt thấy, tai nghe chúng giãy giụa đau thương nên chủng tử đó huân tập vào tàng thức, lâu ngày ta thấy con vật la khóc đến đòi nợ.

-Người giết hại nhiều hay lo lắng, sợ hãi, bất an nên trong tâm lúc nào cũng day dứt, khó chịu. Người tại gia vì gia đình, người thân nên phải làm việc để có nguồn thu nhập, vẫn phải ăn mặn để đủ sức khoẻ mà dấn thân đóng góp, phục vụ; nhưng nên ăn mặn theo Tam tịnh nhục, không trực tiếp giết hại, không xúi bảo người khác giết hại, không vui vẻ đồng tình khi thấy người khác giết hại. Ta có quyền mua thịt cá đã làm sẵn hoặc đã nấu chín, nếu mua thịt cá mần sẵn thì phải để ý kiểm tra, đừng mua đồ ương thối tuỳ theo kinh nghiệm mỗi người. Người hay sát sinh hại vật tức làm khổ chúng sinh nên không có lòng từ bi, do đó khó mà Thiền định được kết quả tốt đẹp.

-Không gian tham trộm cướp, lấy tài sản của cải người khác. Trộm là lén lấy, cướp là công khai lấy. Muốn Thiền định mà trong tâm cứ tính toán làm sao để lấy của người khác thì chắc chắn không bao giờ tâm an định. Nhân trộm cướp quả hiện đời bị tù tội và nghèo khổ, thiếu thốn. Cho nên, người tại gia tu Thiền mà còn bệnh này tức lòng tham lam, ích kỷ quá nhiều, do đó không thể đạt kết quả như ý muốn.

-Người hay tà dâm cũng vậy, vì lòng dục nặng nề thích đắm sắc mê hoa nên lúc nào cũng toan tính, tìm cách chiếm đoạt để hưởng thụ khoái lạc dục tính. Muốn được như vậy trước nhất người tà dâm phải nói dối “tôi không hạnh phúc” hay “tôi bị bắt buộc”, cốt để làm sao cho người khác phái tin mình. Tham lam, dối gạt để hưởng thụ cho riêng mình là thói quen xấu nhiều đời nhất của đấng mày râu. Dù có vợ đẹp con xinh nhưng vẫn muốn kiếm thêm, vẫn ham thích của lạ để chứng tỏ khả năng chinh phục. Báo chí vừa qua cũng đã đăng tin các đại gia bỏ tiền mua dâm với một số người mẫu, hoa hậu với số tiền quá cao trong một lần quan hệ. Quan niệm chồng chúa vợ tôi, trai năm thê bảy thiếp là tập tục trọng nam khinh nữ phát xuất từ thời phong kiến. Vua có quá nhiều cung phi mỹ nữ nên ít có ông nào sống thọ. Vậy muốn tu Thiền có kết quả tốt chúng ta phải biết tiết chế trong sinh hoạt tình dục bằng cách sống thuỷ chung “một vợ một chồng”. Người quá nặng tính dục sẽ giảm sức khoẻ, tinh thần không sáng suốt nên ngồi Thiền khó an định, do đó tâm niệm cứ lăng xăng dính mắc “ta-người-chúng sinh”.

-Người hay nói dối để lường gạt hoặc hại người cũng khó lòng Thiền định vì tâm tư lúc nào cũng tính toán hơn thua, tìm cách sén bớt của người. Tâm không ngay thẳng, hay nghĩ điều tà dại như nói dóc, nói láo để lường gạt, khoe khoang, nói lời mắng chửi nặng nề tức tâm nóng giận, thù hằn chất chứa nhiều trong lòng. Hạng người như vậy cũng khó mà Thiền định an ổn. Cho nên, muốn tu Thiền đạt được kết quả phải buông xả phiền não tham-sân-si, phải giữ giới không nói dối hại người hoặc nói lời hằn học, mắng chửi.

-Uống rượu hoặc dùng các chất kích thích, ăn uống đồ độc hại, hút chích xì ke ma tuý thì càng không thể Thiền định vì tinh thần mê muội, thân thể bất an, không có tinh thần tự chủ. Khi ta tiêu thụ những thứ trên quá nhiều sẽ làm tàn hại thân tâm, bệnh hoạn, si mê, cuồng loạn; làm hại mình, hại gia đình, người thân và xã hội. Hạng người như thế lúc nào cũng tìm cách lường gạt của người khác, nếu làm có tiền cũng tiêu tốn hết vào đó. Gia đình nào có những con người như thế sẽ khổ đau vô cùng cực vì làm khổ chính mình lẫn gia đình, người thân. Nếu ghiền những thứ đó mà không có tiền thì phải trộm cướp, lường gạt của người khác bằng mọi cách. Một xã hội có nhiều con người như vậy trước sau cũng sẽ tan nhà nát cửa, đất nước loạn lạc, khủng hoảng nhân cách đạo đức làm mất tính người. Biện pháp duy nhất giúp cho con nghiện là sống cách ly xã hội, được hướng dẫn đạo đức tâm linh để tin sâu nhân quả, được tạo công ăn việc làm tại chỗ, sống đơn giản, đạm bạc thì hoạ may mới cứu chữa được; bằng không xã hội phải xây cất nhiều trung tâm thần kinh và trung tâm cai nghiện để chứa những con người này, dần hồi nhà tù sẽ được mở rộng để dung nạp nhiều kẻ lường gạt, trộm cướp, biếng nhác, ăn không ngồi rồi. Hiện nay xã hội chỉ chữa bệnh tạm thời trên phần ngọn nên tốn kém, mất mát, hao hụt quá nhiều; muốn giúp thế gian giảm bớt tệ nạn xã hội chỉ có cách duy nhất làm sao hướng dẫn mọi người tin sâu nhân quả, gieo nhân tốt gặt quả tốt, gieo nhân xấu gặt quả xấu.

Đất nước chúng ta đang trên đà phát triển toàn diện về mọi mặt, nếu con người không ý thức và có hiểu biết chân chính thì chỉ được lợi ích vật chất bên ngoài. Trong bối cảnh hiện nay chúng ta đang sống chung với ô nhiễm môi trường, ô nhiễm văn hóa phẩm đồi truỵ, ô nhiễm thực phẩm đồ ăn thức uống, hầu như đại đa số mọi người đều dùng những hoá chất độc hại đưa vào cơ thể do nhu cầu sự sống. Ngành quản lý chức năng cần hạn chế cấp giấy phép một số hoạt động có tác hại lớn như các quán nhậu, các làng nướng, vũ trường… đang mọc lên như nấm mà không có giờ giấc hạn chế. Cơ sở giáo dục chưa phù hợp với sự hiểu biết của con người nên không có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa học tập, làm việc và tu dưỡng đạo đức tâm linh. Việc thay đổi, phát triển, mở mang là điều tốt nhưng phải dựa theo trình độ dân trí, nếu phát triển quá nhanh sẽ làm con người không theo kịp, thành ra phản tác dụng và làm tổn hại trở lại. Có tiện nghi vật chất đầy đủ mà không có tinh thần sáng suốt, cùng hiểu biết chân chính thì nguy hiểm vô cùng vì sẽ đưa con người vào hố sâu tội lỗi.

Theo sự hiểu biết của chúng tôi, muốn mọi người sống thương yêu đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau trên tinh thần vị tha, biết cảm thông và tha thứ, biết bao dung và độ lượng, hay san sẻ và nâng đỡ bằng tình người trong cuộc sống thì trước nhất ta phải tin sâu nhân quả, tin nhân quả luôn theo ta như bóng với hình, dù trăm kiếp ngàn đời vẫn không mất, khi hội đủ nhân duyên quả báo hoàn tự hiện. Ta tin tâm mình là Phật, siêng năng cố gắng làm lành, buông xả tâm niệm về hành động xấu ác. Ta tin bản thân có khả năng làm được tất cả mọi việc trên thế gian mà không phải cầu khẩn, van xin một đấng quyền năng nào đó. Chính ta là chủ nhân ông của bao điều hoạ phúc.

Ngày xưa khi ta chưa biết tu thì ý nghĩ xấu phát sinh ra lời nói, dẫn đến thân giết hại, trộm cướp, lường gạt của người khác; bây giờ biết tu rồi ta suy nghĩ điều thiện, miệng nói lời từ ái, chân thật, sống bao dung, giúp đỡ người khác. Chúng ta chỉ cần thay đổi nhận thức thì nhân quả xấu sẽ từ từ thay đổi theo chiều hướng tốt đẹp, nhưng ta phải bền chí, kiên trì, đừng ham mau lẹ mà trở thành tham lam. Mình mới tu Thiền chỉ có vài năm mà muốn có kết quả liền thì không thể được vì vô số kiếp khi chưa biết tu ta đã huân tập biết bao nhiêu thói hư, tật xấu; nay biết tu rồi chỉ cần kiên trì, bền bỉ lâu dài thì việc gì cũng có thể làm được; ví như tấm gương sáng lâu ngày bị bụi bám đầy, ta chỉ cần lau bụi phiền não tham-sân-si, ganh ghét, tật đố, ích kỷ, mê muội chất chứa hại người cho đến khi nào bụi hết thì gương tự trong sáng.

Thiền mà chúng tôi đang hướng dẫn ở đây là đi vào đời sống gia đình và xã hội, ai muốn sống tốt, không làm tổn hại người khác thì ngay bây giờ phải biết tu tâm sửa tánh để quay về con người tâm linh của chính mình. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni sau khi tu Thiền thành tựu đã giáo hoá 49 năm không biết mệt mỏi, nhàm chán vì Ngài không thấy ai là kẻ thù mà chỉ thấy người chưa thông cảm với nhau mà thôi. Dù bị người hãm hại đủ mọi cách nhưng Phật vẫn không buồn phiền mà còn thương họ nhiều hơn vì Ngài đã sống được với tâm thanh tịnh, sáng suốt. Người không biết tu Thiền khi gặp việc xấu sẽ tìm cách trả thù trở lại nên nhân quả vay trả, trả vay không có ngày thôi dứt.

_Miệng niệm hơi thở hay biết vọng không theo hoặc niệm Phật Bồ-tát, tai chú tâm lắng nghe từng tiếng một rõ ràng, nhờ vậy không bị thất niệm, do đó dễ dàng định tâm. Hành giả Thiền Chỉ một thời gian, nhờ chú tâm nên lâu ngày dẫn đến nhất niệm, chỉ nghe âm thanh niệm Phật Bồ-tát một cách rõ ràng. Hành giả tu đến đây đã được định nên tâm an trú vào câu niệm Phật Bồ-tát.

_Nếu có định mà không có tuệ thì không thể buông xả hết phiền não tham-sân-si và phát tâm giúp đỡ hay san sẻ với mọi người. Do đó, bước thứ hai hành giả phải tu Thiền Quán. “Quán” có nghĩa là xem xét, tìm tòi, soi sáng thân tâm và hoàn cảnh để tìm ra lẽ thật-hư của nó. Trước nhất hành giả quán sát về thân xem có “thật ngã” hay không; sau đó quán sát tâm suy tư, nghĩ tưởng của mình có thật hay không; kế đến là quán sát mọi hiện tượng, sự vật trên thế gian này xem có thật hay không. Khi quán sát như vậy hành giả thấy tất cả đều do nhân duyên hoà hợp mà thành, không có gì là thực thể cố định nên thân tâm, hoàn cảnh đều vô thường hoại diệt, nhờ vậy buông xả hết tâm niệm cố chấp xưa nay khi cho thân tâm này là “thật ngã”.

Hai pháp Thiền Chỉ và Thiền Quán phải được hỗ tương lẫn nhau, có khi hành giả dùng Thiền Chỉ để dừng vọng niệm, có khi dùng Thiền Quán để phát sinh trí tuệ thấy biết đúng như thật. Có định mà không có tuệ gọi là “si định”, có tuệ mà không có định thì vọng niệm mãi lăng xăng.

_Khi hành giả Thiền trong mọi hoàn cảnh và đã định tâm và phát sinh trí tuệ thì sanggiai đoạn bảo trì tính giác, nương nơi mắt thì thấy biết rõ ràng không lầm lẫn, thấy chỉ là thấy nhưng không dính mắc vào sự thấy nên tâm thanh tịnh, sáng suốt; giống như chiếc gương lâu ngày bị bụi bám, bây giờ bụi không còn nữa nên chiếc gương tự sáng trở lại. Giai đoạn này hành giả từ từ chuyển hoá tập khí, thói quen nhiều đời còn xót lại cho đến khi nào vọng niệm hết sạch thì gương trong sáng hoàn toàn, không tỳ vết. Tai có tiếng thì nghe có tiếng, không tiếng nghe không tiếng. Tất cả âm thanh lớn nhỏ đều nghe nhưng không bám dính vào một âm thanh nào, nhờ vậy hành giả thành tựu được tánh nghe. Mũi-lưỡi-thân-ý cũng lại như thế. Đến giai đoạn này hành giả không cần trụ tâm vào Chỉ hay Quán nữa mà chỉ cần nhận diện rõ ràng từng vọng niệm của mình, nó như thế nào thì biết như thế đó thì vọng niệm từ tan hoà vào hư không.

Sau khi niệm Phật Bồ-tát hay quán hơi thở và biết vọng không theo đã thuần thụctức là đang tu thiền chỉ, chúng ta dùng pháp quán chiếu - tức Thiền quán xem xét, soi sáng các pháp duyên sinh vô ngã, vô thường ngay nơi thân tâm, hoàn cảnh; nhờ vậy hành giả biết được lẽ thật của các pháp không thực thể cố định nên dễ dàng buông xả tâm dính mắc “ta-người” và hoàn cảnh bên ngoài; do đó hằng sống với tâm thanh tịnh sáng suốt, không nhơ, không sạch.

Muốn vậy Bồ-tát phải quán trí tuệ rộng lớn để chuyển hóa tối tăm, si mê và sống với tính biết sáng suốt, nương nơi mắt thấy tai nghe không lầm lẫn, thấy chỉ là thấy, nghe chỉ là nghe, mũi-lưỡi-thân-ý cũng lại như thế; từ đó phát khởi lòng từ bi rộng lớn đi vào đời cứu độ chúng sinh mà không thấy mình ban cho, người được cho và vật đã cho.

Thiền chỉ là bước đầu để cột tâm con khỉ ý thức của chính mình, xưa nay chúng ta quen chạy rong ruỗi đầu này đầu kia, muốn cho tâm an định thì phải chú tâm vàoPhật Bồ-tát, hoặc niệm hơi thở hay biết vọng không theo, chú tâm vào mọi oai nghi đi-đứng-nằm-ngồi, nhờ vậy mới từ từ đánh bạt những vọng niệm lăng xăng khác. Thiền Chỉ lâu ngày thuần thục thì phát sinh định tĩnh, nhưng trụ vào đây mãi sẽ trở thành si định vì không có trí tuệ nên không đủ sức hoá giải phiền não tham-sân-si.

Thiền Quán để thấy rõ thực chất thân tâm và hoàn cảnh. Nhờ xem xét, quán chiếu, ta thấy thân này không thật có, do bốn chất đất-nước-gió-lửa hợp thành bởi tinh cha, huyết mẹ cùng với thần thức một chúng sinh. Nếu thân này thiệt thì trước sau như một không biến chuyển, đổi thay, bởi nó giả nên phải già-bệnh-chết. Rồi hằng ngày ta phải vay mượn các thức ăn uống để nuôi thân, mượn vô rồi phải trả ra, cứ như thế hết vay mượn lại trả ra, cho đến khi nào không còn vay mượn nữa thì mạng sống chấm dứt. Nhưng chết không phải là hết, chết chỉ là thay hình đổi dạng, nếu trong đời này ta không biết tu tâm sửa tánh để sống có nhân cách đạo đức và giúp đỡ người khác thì mình khó có cơ hội làm người trở lại khi mất thân này.

Đức Phật có tầm nhìn và sự hiểu biết sâu rộng hơn, nhờ trải qua hai lối sống thái quá, nên Ngài biết cách tìm về con đường trung đạo, nhằm giúp bản thân hoàn thiện, cùng nâng đỡ, sẻ chia, để mọi người cùng đạt đến sự an lạc, hạnh phúc trong cuộc sống hiện tại.

Chính vì vậy, ai biết tu Thiền sẽ sống một đời bình yên, hạnh phúc trong hiện tại và mai sau. Ai không biết tu Thiền khi phước hết hoạ đến sẽ trả quả xấu ác, lúc này dù có ăn năn hối hận cũng đã muộn. Phật dạy “giống như con rùa mù 100 năm mới trồi lên trong biển cả, để tìm được bọng cây chui vào rất khó”. Cũng vậy, nếu ngay trong hiện đời ta không biết gieo trồng phước báo thì khó có cơ hội được làm người trở lại. Người tại gia phải cố gắng gia công Thiền định trong bốn oai nghi cho đến khi nào tâm dứt hết các tạp niệm phải quấy, hơn thua, buồn thương, giận ghét mà lặng lẽ, thanh tịnh mới thật là an nhiên, tự tại. Thật ra không phải vậy, người tu bỏ những niệm lăng xăng tạp loạn để tập trung vào một việc thì sáng thêm chớ làm sao ngu được.

Khi làm việc cũng vậy, nếu buông hết chuyện tạp, tập trung, chú tâm vào công việc thì kết quả sẽ tốt hơn. Khi ta càng buông lại càng nhớ, nhớ một cách tự nhiên, trong sáng nên mọi việc hiện ra rất rõ ràng, phân minh. Chúng ta thử nghiệm xét lại xem khi nào mình rối mà việc này, việc kia cứ dồn dập đến thì mình quên trước, quên sau, không có đầu đuôi gì hết. Khi ấy chúng ta chỉ cần ngồi Thiền, tập trung lại một chút sẽ nhớ rõ ràng trở lại, chính vì vậy nhiều người mới tập tu Thiền. Nhiều người nói không nhớ gì hết nhưng sao đến lúc ngồi Thiền lại nhớ nghĩ đủ chuyện trên đời.

Lúc chưa Thiền ta không có thời gian định tâm nên việc này việc kia chồng chéo lên nhau nên mình không nhớ, khi ngồi Thiền tâm an tịnh nên ta nhớ biết rõ ràng đủ thứ chuyện. Xưa nay ta lãng quên không biết ứng dụng Thiền vào cuộc sống nên thấy khó tu, giờ đã tu nên khi ngồi lại thấy rõ ràng từng vọng niệm thương ghét phát sinh nhưng không dính mắc theo, chỉ nhìn chúng rõ ràng thì tự động chúng lặng xuống, ta khỏi cần phải xua đuổi hay đối trị gì hết.

- TÂM PHẬT VÀ NIẾT BÀN:

Ngày xưa khi Đức Phật ngồi Thiền dưới cội bồ-đề và chứng được Túc Mạng Minh, Ngài nhớ lại vô số kiếp trước đã làm gì, ở đâu như nhớ chuyện ngày hôm qua. Khi buông hết các tạp niệm lăng xăng ta tưởng như quên hết mọi việc nhưng trái lại càng Thiền càng nhớ rõ nhưng tâm không dính mắc, việc gì cần nhớ thì nhớ, không cần thì thôi. Hiểu như vậy ta mới thấy tâm mình là kho chứa đựng các thứ buồn thương, giận ghét, tốt xấu, phải quấy, hơn thua. Những thứ cần biết thì ta không biết, những thứ không cần biết ta lại tìm tòi để dính mắc vào đó nên sinh ra phiền muộn, khổ đau.

Chúng ta nên nhớ việc gì đáng lo thì mình lo, việc gì không đáng lo thì đừng bận tâm đến. Người khéo tu Thiền trong mọi hoàn cảnh lúc nào cũng nhớ quay lại chính mình, nhận ra và sống được với Phật tính sáng suốt; ngoài ra tất cả đều là vô thường hư ảo nên không cần chú tâm đến làm gì, như thế các tạp niệm lăng xăng từ từ không có chỗ bám víu, sẽ tan hoà vào chân tâm. Đến đây thì,

Ở đời vui đạo hãy tuỳ duyên,

Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền.

Trong nhà có báu thôi tìm kiếm,

Đối cảnh không tâm chớ hỏi thiền.

Đây là bài kệ của vua Trần Nhân Tông khi còn làm Thái Thượng Hoàng. Ở giữa cuộc đời này mà ta luôn sống làm tròn trách nhiệm, bổn phận đối với gia đình người thân và còn đóng góp lợi ích cho xã hội. Sống và làm việc như vậy mà không bị dính nhiễm bụi trần nên thân tâm an ổn, nhẹ nhàng. Người đã thể nhập chân lý không còn lo toan, bận bịu một thứ gì. Việc gì cần làm thì làm, làm trong vui vẻ, an nhiên; cho nên đói thì ăn mà không thèm khát, khi mệt thì đi ngủ một giấc ngon lành như Lục tổ nói, “duỗi thẳng hai chân ngủ”.

Ngay nơi thân này mình đã sống với ông Phật của chính mình nên đâu cần tìm cầu, tìm kiếm nơi khác, khỏi phải lăng xăng chạy tìm Phật pháp ở phương nào. Ý nghĩa câu kệ cuối cùng rất quan trọng, khi làm việc, tiếp xúc, đối duyên chạm cảnh thì tâm hằng biết mà không tính toán so đo, do đó bình an, tự tại nên không cần phải hỏi tới Thiền. Tâm không vướng mắc với trần cảnh, thấy tức là biết mà không dính vào hình ảnh sự vật, như vậy không phải Thiền là gì? Còn đi tìm kiếm, còn hỏi Thiền là dư rồi, tới đó trong nhà đã có báu nên thôi tìm kiếm, đối cảnh đã vô tâm nên không phải hỏi Thiền.

Như vậy, quyền cao chức trọng, địa vị danh vọng, nhà lầu xe hơi, tiền bạc dư dã, vợ đẹp con xinh, những thứ này người thế gian ai cũng ước ao mong muốn; nhưng vị vua Thiền sư Trần Nhân Tông tuy có đầy đủ mà dám bỏ hết để lên núi tu hành và thành tựu đạo pháp. Gương sáng của Phật hoàng Trần Nhân Tông là ông vua thiền sư đã biết áp dụng Thiền khi làm Thái thượng hoàng, đã truyền mãi đến bây giờ hơn 700 năm, chúng ta may mắn là người dân đất Việt nên được thừa hưởng trực tiếp tinh ba của ngài nhờ biết Thiền trong cuộc sống.

Vua Trần Nhân Tông đã biết áp dụng “Thiền” trong cuộc sống, nên khi xuất gia lên núi Yên Tử tu hành chỉ trong thời gian ngắn đã sáng đạo. Thiền sư xuống núi khuyên dạy mọi người giữ năm giới, tu mười điều thiện và phá bỏ những tập tục mê tín có tính cách làm tổn hại nhân loại. Nhờ vậy Phật giáo đời Trần là một nét son vàng chiếu sáng khắp toàn thể nhân gian nước Việt, phát triển tinh thần làm chủ bản thân nhờ biết “thiền” trong gia đình và cuộc sống.

Chỉ cần mọi người chúng ta noi theo gương hạnh của người xưa qua sự hướng dẫn của chư Tăng ni trong thời hiện tại. Chúng ta có đầy đủ lòng kính trọng Tam bảo vàtin tâm mình là Phật mà cố gắng kiên trì, bền bỉ, dù không thành tựu trọn vẹn trong kiếp này, ta vẫn là người tốt trong hiện tại và mai sau vì đã ta có chất Thiền trong người.

Muốn được thành tựu viên mãn ta phải dùng cây cung Thiền định và lưỡi kiếm trí tuệ để quét sạch mọi ma mị trong tâm, cho đến khi nào thanh tịnh, sáng suốt, lặng lẽ mà hằng chiếu soi muôn sự vật. Cảnh là cảnh, vật là vật, ta là ta cùng hoà hợp nhịp nhàng với nhau bằng tình người trong cuộc sống với trái tim yêu thương và hiểu biết. Mỗi hành giả tu Thiền nên lấy bài kệ của Thiền sư Huyền Giác để nghiệm xét chính mình:

Tỉnh tỉnh lặng lặng phải,
Vô ký lặng lặng sai,
Lặng lặng tỉnh tỉnh phải,
Loạn tưởng tỉnh tỉnh sai.

“Tỉnh tỉnh lặng lặng phải” là sao? “Tỉnh tỉnh” có nghĩa là chúng ta thường biết rõ ràng, “lặng lặng” có nghĩa là không vọng niệm lăng xăng, cho nên “tỉnh tỉnh lặng lặng” là thành tựu viên mãn. Phật đã sống được như vậy trọn vẹn nên không có gì làm cho Ngài dao động, suốt 49 năm giáo hoá bị người mắng chửi, vu oan giá họa bằng mọi thủ đoạn nhưng Phật vẫn an nhiên, tự tại mà chứng minh sự trong sáng của mình. “Vô ký lặng lặng sai” là sao? Ở đây ý nói người tu Thiền nhờ chú tâm vào một chỗ nên tâm an định nhưng không có trí tuệ, do đó rơi vào hôn trầm, không biết gì. “Lặng lặng tỉnh tỉnh phải” cũng giống như đã nói, còn “loạn tưởng tỉnh tỉnh sai” ý nói chúng ta xử dụng Thiền quán nhiều mà phát sinh trí tuệ, nhưng có trí tuệ mà cứ nhớ hoài Thiện pháp, không buông xả được nên khi đó chúng là vọng niệm lăng xăng, tức loạn tưởng. Chỉ có “tỉnh tỉnh lặng lặng” là đúng, coi như thành tựu Phật đạo mà bình thản, an nhiên, tự tại.

Cái biết ai cũng có

Ngay nơi thân mọi người

Chỉ vì ta không nhận

Nên đành chịu khổ đau.

Khi mê thì Phật độ

Khi biết thì tự độ

Đó là lý nhiệm mầu

Của tất cả chư Phật.

Bây giờ chúng ta hãy nghe ông vua thiền sư Trần Thái Tông, ông Tổ của Phật hoàng Trần Nhân Tông lên núi xin Quốc sư Trúc Lâm làm Phật. Quốc sư ân cần nắm tay vua bảo: “ trong núi vốn không có Phật, Phật ở trong tâm ta, nếu tâm lắng lặng thường biết rõ ràng thì đó chính là tâm Phật. Bệ hạ giác ngộ được tâm ấy thì tức khắc thành Phật, không cần phải khổ nhọc tìm cầu bên ngoài”. Ngay nơi đây mọi hành giả tu thiền sẽ nhận lại cái sẵn có nơi mình, cái đó rỗng rang sáng suốt nhiệm mầu nói không thể đến. Trong nhà Phật có nhiều danh từ để chỉ ra cái biết sáng suốt của mình. Để nói lên sự bình đẳng của một chúng sinh Phật đã từng xác quyết rằng “ ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành”. Phật là danh từ chung, ai cũng có quyền sống với cái biết sáng suốt của mình nương nơi mắt tai mũi lưỡi thân ý hay còn gọi là Phật tánh.

Như ngài Thần Quang trước khi gặp Tổ Bồ-Đề-Đạt-Ma là ông tổ của Thiền tông, hành giả Thần Quang dù có ngồi Thiền cả ngày mà tâm niệm vẫn cứ lăng xăng, loạn động. Cho nên một hôm gặp được Tổ, Ngài thưa hỏi pháp yếu liễu thoát sinh sử!

Ngài Thần Quang thưa rằng: “tâm con không an, xin thầy chỉ dạy”. Tổ bảo, ngươi đem tâm ra đây ta an cho. Theo thói quen hằng ngày, ai cũng thấy tâm của mình là thật có, cho nên tôi suy nghĩ, tôi tính toán mọi đúng sai trong cuộc đời, và tôi là tất cả… Ở đây, bằng diệu thuật trong nhà thiền Tổ không nói cái gì cao siêu mà chỉ bảo rằng, “ông đem tâm ra ta an cho”. Ngài Thần Quang quay lại tìm tâm không thể được vì tâm có lúc ẩn, lúc hiện không rõ ràng, nên khi nhìn lại không thấy tâm ở đâu, do đó Ngài thưa với Tổ: Con tìm tâm không thể được. Tổ bảo: “Ta đã an tâm cho ngươi rồi”.

Như vậy, an tâm là ở chỗ nào? Chỗ này quý vị phải nhìn kỹ lại mới thấy rõ ý sâu xa của nó. Đây là diệu thuật của Tổ Bồ-Đề-Đạt-Ma, “pháp an tâm” của Tổ rất đơn giản và bình thường, bình thường đến nỗi ta khó mà chấp nhận được. Khi có niệm tham khởi lên, ta biết ta đang tham, biết một cách rõ ràng, không nhầm lẫn, đó là “pháp an tâm”. Khi biết như vậy niệm tham tự nhiên biến mất, ngay khi đó không phải an tâm là gì? An mà không có chỗ để an, chỉ đơn giản vậy thôi.

Một hôm, tổ Huệ Khả sau thời gian nhận pháp an tâm, rồi đến trình Tổ sư: Con đã dứt hết các duyên. Tổ nói: Coi chừng rơi vào không. Huệ Khả thưa: Không rơi được. Tổ hỏi lại: Làm sao con biết? Con rõ ràng thường biết, nói không thể đến. Tổ bảo: Đây là chỗ truyền của chư Phật, xin chớ có hoài nghi.

Đến đây, ông tổ thiền tông ấn chứng cho tổ Huệ Khả đã sống trọn vẹn với pháp an tâm. Cái chỗ con tìm tâm không thể được mà vẫn thường biết rõ ràng đó, ai biết? Khi mắt chúng ta nhìn thấy mọi hình ảnh sự vật, đen biết đen, đỏ biết đỏ, sự vật như thế nào biết rõ như thế đó, thấy chỉ là thấy, thấy tức là biết, biết tức là tâm, tâm tức Phật.

Thân là cây Bồ Đề
Tâm như đài gương sáng
Luôn luôn siêng lau chùi
Chớ để dính bụi bặm.

Ngài Thần Tú ví thân này như cây Bồ đề cũng đúng, nếu không có thân làm sao mình có cơ hội làm những điều thiện ích. Do đó, ngài Thần Tú nói “tâm như đài gương sáng”. Thân và tâm không thể tách rời nhau, thân làm việc tốt hay xấu là do tâm điều khiển, chỉ đạo. Mặc dù tâm như đài gương sáng, trong sạch, tinh khiết, thuần nhất nhưng nếu ta cứ để cho lòng tham lam, ích kỷ, hờn giận, si mê, ghen ghét, hận thù chen vào thì sẽ dẫn đến tranh đấu, giành giựt, tìm cách sát phạt, triệt buộc lẫn nhau để vơ vét về cho riêng mình mà làm tổn hại cho người và vật. Tâm si mê, mù quáng do thấy biết sai lầm nên đưa thân đi tới những hành động nông nổi, thấp hèn mà tạo nghiệp tày trời làm khổ đau nhân loại. Tâm nóng giận, hờn mát dẫn đến ăn không tiêu, khó ngủ, lâu ngày phát sinh bệnh suy nhược thần kinh. Bởi vậy, tâm là chủ nhân của bao điều họa phúc, thiện ác, nên hư, thành bại trong cuộc đời.

Chính vì thế, muốn thân đứng vững mà không làm các việc xấu ác để sống lâu dài thì phải an tâm. Tâm an thì họa trở thành phúc, ngu trở thành trí, khổ đau phiền muộn trở thành an lạc hạnh phúc. Tâm không an thì họa khổ đau sẽ làm cho thân dễ bị nghiêng ngã. Cho nên từ xưa đến nay các bậc hiền thánh đều tu tâm trước rồi mới lập thân, nhờ đó mà thân đứng vững vàng để đi vào đời làm lợi ích cho tha nhân mà không bị dòng đời cuốn trôi. Ngài Thần Tú cũng vì thế mới chỉ dạy phải luôn luôn dọn dẹp phiền não tham-sân-si, muốn vậy ta phải siêng năng lau chùi bụi bặm bám dính đầy nơi thân.

Lời dạy của ngài Thần Tú phù hợp với số đông nên dễ hành trì vì chúng sinh nghiệp tập sâu dày. Bản chất của tâm được ví như đài gương sáng nhưng vì bị bụi phiền não dính vào, ta chỉ việc lau chụi bụi bám dính trên mặt gương, khi bụi hết gương sẽ trong sáng trở lại. Bài kệ của ngài Thần Tú khi được viết trên vách khi được Ngũ tổ đọc xong liền nói chỉ để lại một bài kệ này cho mọi người đọc tụng, thọ trì y như bài kệ này mà tu hành khỏi bị đọa vào ba đường ác địa ngục, quỷ đói, súc sinh. Những ai y bài kệ này mà tu hành thì lợi ích rất lớn. Tất cả mọi người trong chùa khi tụng đọc bài kệ thảy đều khen hay. Rõ ràng, nếu nhìn ở chiều có sự quán chiếu thực thể hai mặt, kẻ si mê chấp thân là thật ta, rồi đến của ta. Ngược lại với kẻ si mê là những người trí tuệ, tuy biết thân này giả có, không thực thể cố định nhưng không vì thế mà họ bi quan, chán nản. Họ biết lợi dụng thân này để tu tập chuyển hóa, nhờ vậy biết kết hợp nhuần nhuyễn tu thân-miệng-ý, do đó đạt được lợi ích thật sự. Kẻ mê thì bám víu vào thân để gây tạo những điều tội lỗi, người trí tỉnh giác nương nơi thân để làm những việc thiện lành, tốt đẹp mà giúp người, cứu vật. Trong Kinh Pháp Cú Phật dạy:

Trong các pháp do tâm làm chủ
Tâm dẫn đầu tạo đủ các duyên
Tâm mê tạo nghiệp chẳng lành
Như xe lăn bánh, khổ liền theo sau.
Tâm giác tạo nghiệp thiện lành
Như hình với bóng, vui liền theo sau.

Đức Phật nói tâm làm chủ, tức là nói đến cái biết của con người; cái biết phân biệt do ý thức và cái biết thường hằng, tức là cái thường biết rõ ràng. Bài kệ xác định tâm làm chủ tạo ra các duyên tốt hay xấu, nếu biết cách vận dụng nó chúng ta sẽ thoát khỏi khổ đau luân hồi-sinh tử, bằng không sẽ sống trong đau khổ lầm mê. Một số người cho rằng thân là thật và quan trọng hơn hết. Ngược lại, Phật cho rằng nghiệp ý là quan trọng. Khi ý suy nghĩ, miệng nói năng rồi thân mới hành động. Cho nên, đức Phật nói tâm làm chủ, tâm tạo tác tất cả. Chính yếu của sự tu hành là tu ngay nơi thân-miệng-ý mà tâm là chính vì sự tu hành của chúng ta phát xuất từ tâm. Tâm suy nghĩ chân chính rồi mới phát sinh ra hành động tốt đẹp. Tâm suy nghĩ tà thì phát sinh ra những hành động xấu ác. Vậy thân này hành động tốt hay xấu đều do tâm chủ động điều hành nên tâm là quan trọng hơn hết, không có tâm thân này như phế bỏ.

Đi xa hơn nữa, ngài Lục tổ Huệ Năng đi thẳng vào phần tinh thần, có nghĩa là trực chỉ nơi tâm mà thể nhập cái gốc ban đầu là Phật tính sáng suốt nương nơi mắt-tai-mũi-lưỡi-thân-ý. Chính vì vậy mà Ngài nói bài kệ:

Bồ đề vốn không cây
Gương sáng chẳng phải đài.
Xưa nay không một vật
Chỗ nào dính bụi bặm?

Bồ đề là chỉ cho cái biết sáng suốt nương nơi mắt-tai-mũi-lưỡi-thân-ý, cái biết ấy không có hình tướng mà chỉ thường biết rõ ràng thì làm sao thân là cây Bồ đề được. Thân tuy hiện hữu nhưng lại không có thực thể cố định nên có sinh-già-bệnh-chết thì làm gì có hình tướng thật. Cho nên, ngài Thần Tú nói thân là cây Bồ đề, còn Lục tổ nói Bồ đề là tính giác sáng suốt. Qua câu nói này ta thấy thân tâm không tách rời nhau. Tâm trong sáng, thanh tịnh thì biến hiện ra thân đẹp đẽ, trang nghiêm. Câu nói “tâm như đài gương sáng” của ngài Thần Tú ý nói gương thì nó tự sáng chớ không phải do đài mà gương được sáng trong. Cái gì thật thì trước sau như một, không cần thứ gì tô điểm thêm cho nó. Bản chất của gương xưa nay là tự sáng, chỉ vì bị bụi lâu ngày bám dính nên bị lu mờ, khi bụi hết thì gương sáng rỡ chiếu khắp cả nhân gian. Ngài Huệ Năng lại nói chỗ đó không hình tướng nên xưa nay không có vật nào. Vậy chỗ nào dính bụi bặm?

Lục tổ Huệ Năng thể nhập tính biết thanh tịnh, sáng suốt nên chỗ thấy của ngài trong sạch, lặng lẽ, sáng trong mà hay soi sáng muôn loài vật. Cái thấy của Lục tổ Huệ Năng là nói theo thể tánh không có hình tướng đối đãi, đó là đỉnh cao của Phật pháp. Chúng ta bị dính mắc đủ thứ nên phải xả bỏ từ từ, chính vì vậy mà chúng ta phải siêng năng lau chùi, bữa nào làm biếng thì lại để bụi dính bám đầy.

Ngài Thần Tú và cả Lục tổ Huệ Năng đều nói đúng. Ngài Thần Tú thì chỉ dạy theo thứ lớp để số đông dễ tiếp thu mà cố gắng kiên trì bền bỉ lau chùi, dọn dẹp cho đến khi bụi phiền não hết rồi cũng đồng một chỗ sáng. Ngày nay, có một số người không chịu tu sửa mà chỉ biết lấy lời tổ để dẫn chứng lý luận suông nên rơi vào Thiền trên miệng lưỡi, thực tế thì phiền não tham-sân-si đầy dẫy. Người sau này lại có bệnh người xưa nói sao mình nghe vậy mà không có sự chiêm nghiệm, quán xét, chiếu soi. Do vậy mà có tổ nói: “Việc lớn chưa sáng như đưa ma mẹ, nhưng việc lớn sáng rồi cũng như đưa ma mẹ.” Bởi vì chúng ta mới thấy biết Phật nhân mà thôi, còn quá trình sống với Phật quả cần phải có thời gian lâu dài mới được. Chính vì vậy mà Lục tổ phải mất 18 năm mới thành tựu viên mãn và bắt đầu ra giáo hóa.

Khi niệm Phật đến chỗ “nhất tâm bất loạn” , thì tâm đã là cõi Tịnh Độ rồi.Kinh Di Đà là kinh biểu tượng mang ẩn dụ sâu sắc, cho nên ta phải đọc ra đằng sau ngôn ngữ và đằng sau hình ảnh biểu tượng đề tìm cho ra cái thực là một tâm không loạn.

Vào thời Phật giáo Lý-Trần, Thiền tông ở Việt Nam được tồn tại rất lâu dài. Đời Trần, pháp môn niệm Phật đã trở thành quan trọng. Vua Trần Thái Tông và vua Phật hoàng Trần Nhân Tông đã tu thiền. Chúng ta hãy lắng nghe tổ tiên Việt Nam nói về Tịnh độ. Trước hết, vua Trần Thái Tông, trong tác phẩm Khóa Hư Lục đã viết như sau:

"Niệm Phật là do tâm phát khởi, tâm phát khởi về nẻo Thiện thì đó là thiện niệm, thiện niệm đã phát khởi thì thiện nghiệp sẽ đền bồi.Tâm phát khởi về nẻo Ác thì đó là ác niệm, ác niệm đã sinh thì ác nghiệp sẽ ứng nghiệm. Như gương hiện ảnh, như bóng theo hình. Vì bản chất của gương là tự sáng, nếu gương sáng thì ảnh sẽ hiện ra, bây giờ ta chỉ cần chùi bụi, bụi hết thì gương sáng nhưng ta cứ lầm tưởng là phải chùi gương. Gương sáng rồi thì mọi hình ảnh sự vật sẽ hiển bày ra đó.

Vua Trần Thái Tông nói tất cả đều do tâm. Nếu tâm mình niệm Thiện thì hành động và nếp sống của mình sẽ là thiện nghiệp nhờ vậy mình an vui hạnh phúc chẳng phải tìm cầu xa.

Phật hoàng Trần Nhân Tông nói Tịnh độ là lòng trong sạch. Chớ nhọc tìm cõi Tây phương Cực Lạc. Tổ tiên của chúng ta đã thấy được như thế. Nếu niệm Phật mà niệm theo kiểu thượng thừa đó, thì Phật không phải là một thực tại bên ngoài nữa mà Phật ở trong tâm.

Tin tâm mình là Phật: Chúng ta tin tâm mình là Phật, giống như chiếc gương sáng vì để lâu ngày bị bụi bám vào, muốn gương sáng trở lại phải chịu khó lau chùi, hết bụi tự nhiên gương sẽ sáng. Cũng vậy, chính tâm mình là Phật nhưng vì lâu ngày ta để bụi phiền não tham-sân-si bám vào nên tâm Phật không hiển lộ, đến khi buông bỏ hết mọi vọng niệm thì tâm Phật hằng soi sáng. Không tin tâm mình là Phật thì chúng ta sẽ không cố gắng chuyển hoá phiền não tham-sân-si để được giác ngộ, giải thoát ngay trong cõi đời này. Quả quyết tin tâm mình là Phật là ta đã thành tựu đức tin mãnh liệt, nhờ vậy khi tu Thiền dễ dàng buông xả sự tham đắm, dính mắc từ trước đến giờ.

Trong sự tu hành chúng ta phải khẳng định, tâm mình là Phật mới có thể tự giải thoát sống chết, không một đức Phật hoặc chư vị Bồ-tát nào có thể giải thoát thay thế cho chính mình được. Cuộc sống ngoài xã hội cũng vậy, mọi việc nên hư, thành bại, tốt xấu đều tự chúng ta gầy dựng tạo nên. Chính ta là chủ nhân ông của bao điều hoạ phúc, mình làm lành được hưởng phước, mình làm ác chịu khổ đau, thành Phật hay không là do sự quyết tâm của mỗi người. Ai có đầy đủ đức tin mãnh liệt nơi chính mình thì sẽ không trốn tránh trách nhiệm về mọi hành vi của bản thân, không ỷ lại hay cầu cạnh, nhờ vã kẻ khác, không yếu đuối, hèn nhát trước mọi khó khăn. Chúng ta can đảm đối diện với cuộc sống để tìm cách vươn lên vượt qua cạm bẫy cuộc đời nhằm chuyển hoá nỗi khổ, niềm đau thành an vui, hạnh phúc ngay tại đây và bây giờ.

Sau khi đối chiếu so sánh phân tích dưới nhiều gốc độ khác nhau, thì học thuyết Tây phương Cực lạc đồng nghĩa với Niết-bàn mà Niệt-bàn là vô sinh thì không có đến đi, còn sinh là còn luân hồi sinh tử. Cực lạc nghĩa rốt ráo là không khổ không vui, còn khổ là còn phiền não nhiễm ô, còn vui là còn dính mắc vào pháp mình đang tu. Vậy Cực lạc đã lìa khổ vui, khổ vui hết thì Niết-bàn hiện tiền. Phật hoàng Trần Nhân Tông nói Tịnh độ là lòng trong sạch, tâm hết sạch phiền não thì như như mà vẫn thường biết rõ ràng. Phật, Phật, Phật không thể thấy…Phật, Phật, Phật không thể nghe….Vậy ai biết, ai nghe…thấy nghe hay biết trong xúc chạm mà vẫn an nhiên tự tại.

____________________

 

Thích Đạt Ma Phổ Giác

Nguồn: thuvienhoasen.org

ĐẾN VỚI ĐỀN HUYỀN TRÂN CÔNG CHÚA

Suốt mấy trăm năm, Huế là cuộc đất từng được các chúa Nguyễn chọn lập thủ phủ, rồi trở thành kinh đô Phú Xuân của nhà Tây Sơn, đầu thế kỷ 19, Huế là quốc đô của nước Việt Nam thống nhất dưới triều đại các vua Nguyễn. Sau năm 1945, Huế trở thành cố đô lịch sử của cả nước. Huế là vùng đất linh diệu, nơi sản sinh ra nhiều nhân tài tuấn kiệt; cuộc đất ấy là chốn tiếp thu, hội tụ, giao thoa và lan tỏa những giá trị văn hóa dân tộc. Huế từ ngàn xưa cho đến hôm nay và cả ngàn sau vẫn là mảnh đất diệu kỳ ẩn chứa những giá trị về văn hóa, lịch sử, tôn giáo. Là nơi “Mặt đất thì non sông tươi đẹp, biển cả thì sông nước mênh mông” [1]. Thế đất ấy, sông nước ấy, ngọn gió ấy đã nuôi dưỡng, hun đúc nên chiều sâu đa cảm và phong phú giàu bản sắc của văn hóa, lịch sử, tôn giáo, văn học nghệ thuật của người Việt… đã làm cho Huế nghiễm nhiên trở thành một trung tâm có nhiều lợi thế về du lịch để các nhà quản trị có cơ sở hoạch định chiến lược phát triển du lịch theo hướng văn hóa tâm linh.

Trở về với vùng đất cố đô, đắm mình trong dòng chảy của văn hóa dân tộc, du khách thập phương sẽ gặp ở đây những thành quách, cung điện, đền đài và lăng tẩm, những chùa chiền miếu mạo gắn với từng giai đoạn lịch sử của chốn kinh kỳ xưa. Có thể nhận thấy, di sản văn hóa hòa quyện trong với đời sống tâm linh đã trở thành một nét đặc trưng rất riêng của du lịch Huế. Nhưng khi lạ thì ta đến hay quen lại trở về với vùng đất cố đô này, người ta không thể không nhắc đến ngôi đền thờ nữ thần linh ứng trong quần thể kiến trúc của Trung tâm Văn hóa Huyền Trân - một trong những điểm đến thu hút đông đảo du khách thập phương liên kết thành chuỗi hệ thống du lịch văn hóa tâm linh của tỉnh Thừa Thiên Huế hơn mười năm nay.

 

Ẩn giữa rừng thông u tịch, tọa lạc dưới chân ngọn Ngũ Phong thuộc địa phận thôn Ngũ Tây, xã Thủy An (nay là phường An Tây), thành phố Huế; Đền Huyền Trân – nơi thờ vị Công chúa nhà Trần là một quần thể kiến trúc tiêu biểu về văn hóa tín ngưỡng vừa đậm chất dân gian vừa pha nét cung đình, là nơi nối tiếp truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc. Ngôi đền không chỉ là kiểu dáng kiến trúc có giá trị nghệ thuật, mà còn là một thiết chế văn hóa du lịch, có ý nghĩa sâu sắc trong việc tri ân, tưởng nhớ công đức Thần Nữ Huyền Trân – người đã có công mở mang bờ cõi vào đấu thế kỷ 14.

Huyền Trân Công Chúa (1287 - 1340) là ái nữ độc nhất của Vua Trần Nhân Tông. Bà là một trong ba vị công chúa nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam đã có công mở mang bờ cõi đất nước cùng với Ngọc Vạn, Ngọc Khoa thời chúa Sãi. Minh chứng cho công lao to lớn của Huyền Trân, sử Việt từng chép việc này:

 

...“Năm 1305, tháng 2, Chiêm Thành sai Chế Bồ Đài và bộ đảng hơn trăm người dâng hiến vàng bạc, hương quý, vật lạ làm lễ vật cầu hôn. Năm 1306, mùa hạ, tháng 6, gả Công Chúa Huyền Trân cho chúa Chiêm Thành Chế Mân...”[2]. Từ cuộc hôn nhân mang tính chính trị này đã đem về cho Đại Việt đất đai của “Hai châu Ô và Lý vuông ngàn dặm” (vào đầu năm 1307, vua Trần Anh Tông sai đại thần vào sắp đặt phên dậu đã cho đổi thành châu Thuận, châu Hóa – nghĩa là thuận lòng theo giáo hóa của người Việt). Dải đất sính lễ ấy trải dài từ bờ nam sông Hiếu, Đông Hà, tỉnh Quảng Trị vào đến bắc sông Thu Bồn tỉnh Quảng Nam ngày nay.

 

Sách Đại Việt Sử ký toàn thư cho biết thêm: “Năm 1307, mùa hạ, tháng 5 chúa Chiêm Thành Chế Mân chết....” [2]. Theo tục Chiêm Thành, chúa chết thì Hoàng hậu của chúa cũng phải vào giàn thiêu để chết theo. Vua Anh Tông biết thế, sợ Công Chúa bị hại nên sai tướng mượn cớ sang viếng tang tìm cách để giải cứu. Ngày 18 tháng 8 năm 1308, Huyền Trân về đến Thăng Long, rồi nàng theo gót của vua cha, chọn cửa thiền tu tập. Ghi nhớ công ơn của bà, các triều đại sau đều sắc phong bà làm thần hộ quốc. Triều nhà Nguyễn từ vua Thành Thái trở về sau đều ban chiếu ghi ơn công lao của Huyền Trân “trong việc giữ nước giúp dân, có nhiều linh ứng”, Năm Khải Định thứ 9 (1925) sắc phong bà là “Trai Tĩnh Trung Đẳng Thần”.

 

Mặc dù mới tạo lập, nhưng linh ứng thị hiện nên nhiều người cho rằng, quần thể kiến trúc Trung tâm Văn hóa Huyền Trân chính là một biểu trưng tín ngưỡng tri ân cội nguồn của dân tộc, sự ngưỡng vọng trước công lao to lớn của Huyền Trân mà nhân dân khắp nơi đã theo lối tìm về chiêm bái. Trước khi có Trung tâm Văn hóa Huyền Trân – nhiều làng quê ở Quảng Trị, Thừa Thiên Huế và Quảng Nam – Đà Nẵng, nhân dân đã tự nguyện lập những ngôi miếu nhỏ quanh năm hương khói thờ Bà! Sự tri ơn những người có công với đấy nước là lẽ sống tự nhiên có từ bao đời nay của người Việt.

 

Cùng với sự ngưỡng vọng ấy và để tưởng nhớ, tri ân công lao của Huyền Trân trên mảnh đất Ô Lý xưa với một nơi thờ tự bề thế, thể theo ước vọng của nhân dân, ngày 26/3/2006, lãnh đạo tỉnh Thừa Thiên Huế đã cho phép Công ty Du Lịch Hương Giang khởi công xây dựng Trung Tâm Văn hoá Huyền Trân. Nhờ sự đồng lòng góp sức của nhiều người, đúng một năm sau, vào ngày 26/03/2007, công trình được khánh thành nhân kỷ niệm 700 năm Thuận Hóa – Phú Xuân. Gần chục năm đi vào hoạt động, dưới sự quản lý của Công ty Du lịch Hương Giang, nhiều hoạt động văn hóa tâm linh đặc sắc đã được tổ chức tại nơi đây. Có thể nói, chính những mô hình hoạt động văn hóa diễn ra hàng năm tại Đền Huyền Trân đã góp phần quảng bá, thu hút đông đảo du khách thập phương và quần chúng nhân dân cả nước đến tham quan, chiêm ngưỡng, đồng thời góp phần tôn vinh, ngợi ca những giá trị truyền thống văn hóa của dân tộc. 

 

Trước những yêu cầu thay đổi của mô hình quản lý, ngày 21/9/2016, Ủy ban Nhân tỉnh Thừa Thiên Huế đã ban hành Quyết định số 2198/QĐ-UBND, chuyển giao Trung tâm Văn hóa Huyền Trân cho Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh quản lý, khai thác, phát huy giá trị của Đền Huyền Trân.

 

Quần thể kiến trúc của Trung tâm này trải rộng trên 28 ha. Vị trí và quy mô của nó đã tạo nên một không gian văn hóa vừa thâm nghiêm vừa kỳ vỹ. Đây cũng chính là yếu tố tạo nên sức hút mầu nhiệm của du lịch văn hóa tâm linh đối với du khách thập phương. Điều đặc biệt của ngôi đền được xây dựng nằm trên một trục thẳng, kiến trúc theo lối truyền thống, trụ biểu vươn cao, nền móng kiên cố, điện thờ tôn nghiêm: Phía sau tựa vào núi Ngũ Phong, phía trước là hồ Trường Xuân soi bóng nhật nguyệt, sơn mạch tả hữu hai bên như bức tường thành.

 

Từ bên ngoài, đường dẫn vào đền Huyền Trân đột khởi lên bốn trụ biểu khá lớn, dưới chân có nghê đá chầu phục. Qua khoảng sân rộng được lát gạch Bát Tràng, du khách sẽ được chiêm ngưỡng hình ảnh mô phỏng tương tự như cầu Trung Đạo bắc qua hồ Thái Dịch trước Điện Thái Hòa của Đại Nội Huế. Để đến được nơi thờ chính, du khách phải qua tam quan, theo một đường thẳng, chỉ vài trăm bước là đến nội điện thờ Công Chúa.

 

Điện thờ Huyền Trân được bố cục theo lối kiến trúc truyền thống của các điện thờ Mẫu. Chính điện là nơi đặt pho tượng bằng đồng mô phỏng hình tượng Huyền Trân ngồi trên ngai. Tượng cao 2,37m do các nghệ nhân đúc đồng nổi tiếng của Phường Đúc Huế cẩn tác. Hậu điện thiết án thờ Đốc tướng Đoàn Nhữ Hài – một vị quan thanh liên có nhiều công lao với Thuận Hóa và đất nước.

 

Nằm trong quần thể kiến trúc của Trung tâm Văn hóa Huyền Trân, còn có đền thờ Đức vua – Phật hoàng Trần Nhân Tông, là điểm đến tiếp theo ngay sau đền thờ Huyền Trân Công Chúa. Lối dẫn lên đền có đôi rồng canh chầu uy nghi đã góp phần tạo nên tính chất ẩn dụ cho quần thể kiến trúc thờ tự. Trần Nhân Tông là một vi vua anh minh, người có công lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, Ngài còn được tôn xưng là vị Tổ của Thiền phái Trúc Lâm, vua Phật Việt Nam. Bên trong đền thờ là bức tượng đúc bằng đồng nguyên chất cao khoảng 3m, nặng 2 tấn phỏng theo mẫu tượng nhà vua qua phiên bản lấy từ đền thờ các vị vua Trần tại Nam Định.

 

Bên cạnh các bộ phận kiến trúc chính, trong khuôn viên của Trung tâm Văn hóa Huyền Trân còn có nhiều công trình kiến trúc lớn nhỏ khác. Đáng chú ý là cái Tháp chuông Hòa Bình. Để đến được đây, du khách phải vượt qua 246 bậc cấp, dẫn lên độ cao 108m, nơi có lầu bát giác treo lơ lửng quả chuông Hòa Bình. Chuông được đúc bằng đồng, nặng 1,6 tấn, cao 2,16 m, đường kính rộng 1,26m. Đặc biệt là, trên thân chuông có khắc tám chữ: Thế giới hòa bình, nhân loại hạnh phúc. Cùng với đó là hình ảnh tượng trưng cho bốn ngôi chùa nổi tiếng: Giác Lâm, Thiên Mụ, Diên Hựu, và Trúc Lâm. Mang ý nghĩa thống nhất giang sơn, nhân văn cao cả mà tiếng chuông hòa bình đem lại – tiếng chuông của an bình, hạnh phúc, du khách khi đến đây có thể tự mình dóng lên những hồi chuông kỳ vọng. Bên cạnh đó còn các công trình kiến trúc khác như: Tượng Di Lạc, Tượng Ni Sư Hương Tràng, miếu thờ Sơn Thần, Thủy Thần.... Tất cả đã góp phần tạo nên một chỉnh thể kiến trúc đặc sắc chứa đựng vẻ đẹp thâm nghiêm của núi rừng Ngũ Phong về phía tây nam của thành phố Huế.

 

Nằm trong chuỗi các hoạt động phục vụ cho nhu cầu đời sống văn hóa tâm linh thông qua du lịch, từ khi đi vào hoạt động cho đến nay, Trung tâm Văn hóa Huyền Trân đã tổ chức nhiều mô hình hoạt động có ý nghĩa. Đánh dấu bước ngoặt chuyển mình, sau khi tiếp quản quần thể kiến trúc Đền Huyền Trân từ Công ty Du lịch Hương Giang, Trung tâm Văn hóa Thông tin được lãnh đạo Sở giao nhiệm vụ, không những tiếp tục duy trì tổ chức các mô hình hoạt động văn hóa thường niên mà còn tiếp cận, làm mới và tổ chức nhiều hoạt động quảng bá có ý nghĩa. Đáng chú ý là hoạt động lễ hội Huyền Trân được tổ chức vào ngày mồng 9 tháng Giêng hàng năm. Việc tổ chức các hoạt động giới thiệu, tuyên truyền, quảng bá, các nghi thức lễ hội văn hóa hằng năm đã góp phần vào việc mở rộng nghiên cứu, tiếp nhận, giáo dục và tôn vinh công lao dựng nước và mở nước, cùng những giá trị nhân văn, cốt cách, tư tưởng của các bậc tiền nhân. Với ý nghĩa tri ân công đức của Huyền Trân Công Chúa vì sự nghiệp mở mang bờ cõi, phát triển của đất nước, lễ hội diễn ra nhiều hoạt động: Đại lễ cầu nguyện “quốc thái dân an”, Nghi thức dâng hương; Hội hoa đăng; cùng các hoạt động trưng bày, triển lãm, trò chơi dân gian.... Đa dạng và phong phú trong muôn màu hình thái tổ chức. Lễ hội Huyền Trân đã thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân, bà con tăng ni phật tử, các chức sắc tôn giáo và du khách gần xa về tham dự. Gần đây nhất, thành công của Đại lễ “Đền Huyền Trân – Ngưỡng vọng tiền nhân” được diễn ra vào dịp đầu xuân Đinh Dậu 2017, đã cho thấy những bước đi ban đầu của Trung tâm là đúng hướng, hứa hẹn một chặng đường mới đầy tin tưởng. Dựa vào những con số thống kê cụ thể chúng ta thấy: năm 2017 có hơn 40 ngàn lượt khách đến đây tham quan, chiêm bái, thu từ nguồn bán vé, tài trợ và công đức, được hơn 1 tỷ 400 triệu đồng, tăng 10% so với cùng kỳ năm ngoái.... Điều này là minh chứng cụ thể nhất cho những nỗ lực và cố gắng mà Trung tâm Văn hóa Thông tin tỉnh đã làm trong một năm qua. Kết quả đạt được của ngày hôm nay cũng chính là bước đệm, là tiền đề cơ sở để chúng ta tin tưởng rằng Trung tâm Văn hóa Huyền Trân sẽ ngày một phát triển, các hoạt động văn hóa diễn ra tại đây sẽ ngày càng nổi bật, mang hơi thở cuộc sống giàu chất nhân văn thông qua các lễ hội tri ân Huyền Trân Công Chúa và các bậc tiền nhân có công với đất nước sẽ ngày càng thu hút đông đảo du khách từ khắp nơi tìm về. Điều ấy đã thổi vào ký ức dân gian theo một lẽ tự nhiên. Nhờ nhân duyên ấy mà gần đây ở Huế mới có câu truyền tụng:

 

Những ai con cháu vua Trần/ Tháng Giêng mở hội Huyền Trân thì về.

 

Có thể nói, Trung tâm Văn hóa Huyền Trân là một trong những mô hình du lịch văn hóa tâm linh đặc sắc vừa gần với đạo, vừa sát với đời của tỉnh Thừa Thiên Huế. Đến với Đền Huyền Trân, giữa cảnh núi rừng u tịch như chốn Bồng Lai, từ trong mênh mang tiên giới của đất trời cố đô... du khách sẽ được đắm mình trong không gian tĩnh lặng của cõi thiền, tự mình dâng hoa cúng Phật và chư Tiên những nén hương trầm thơm ngát sẽ làm cho tâm hồn ta thanh sảng tựa như giải thoát phiền muộn mà bất cứ nơi đâu cũng khó tìm thấy được.

-----------------------------------

[1] Dương Văn An, Ô Châu Cận Lục.

[2] Đại Việt Sử ký toàn thư

__________

Trung tâm Văn hóa Huyền Trân

VUA DỰC TÔNG NHÀ NGUYỄN THÁN PHỤC CÔNG ĐỨC GIỮ NƯỚC CỦA VUA NHÂN TÔNG NHÀ TRẦN

Vua Dực Tông nhà Nguyễn (tức vua Tự Đức) hết sức chú trọng đến Lịch sử Việt Nam. Nhà vua đã giao cho Quốc sử quán biên soạn bộ Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục và đích thân nhà vua đã soạn bộ Ngự Chế Việt Sử Tổng Vịnh hòng quảng bá cho trăm họ suy nghiệm về những nhân vật và giai thoại để rút tỉa những bài học về đạo đức đối với quốc gia dân tộc. Mỗi đề tài ngâm vịnh đều có sử liệu giải thích. Ngự Chế Việt Sử Tổng Vịnh có 10 quyển, gồm 212 bài thơ thất tuyệt bao trùm lịch sử từ đời Lạc Long Quân đến nhà Hậu Lê, chia làm 11 mục: Đế vương các triều đại, Hoàng hậu và phi tần, tôn thần, hiền thần, trung nghĩa, văn thần, võ tướng, liệt nữ, tiếm nguỵ, gian thần, bổ vịnh.

Bài thơ vua Dực Tông vịnh công đức của vua Trần Nhân Tông in trong quyển 2, từ tr.3a đến tr.4b Ngự Chế Việt Sử Tổng Vịnh .

 

Nguyên văn sử liệu và thơ vua Nguyễn Dực Tông vịnh vua Trần Nhân Tông như sau:

 

“Theo Sử ký bản chỉ chép, thì vua Trần Nhân Tông tên huý là Khâm, là con trưởng của vua Trần Thánh Tông.

 

Năm thứ tư niên hiệu Thiệu Bảo [1] (1282), người nhà Nguyên sai bọn Toa Đô đánh nước Chiêm Thành. Nhà Nguyên lại khiến Thái tử Thoát Hoan đem 50 vạn binh đánh tiếng mượn đường nước ta để chinh phạt Chiêm thành, nhưng sự thực là họ tới để xâm lấn nước ta.

 

Nhà vua ngự giá đến Bình Than, nhóm họp với các vị Vương Hầu và bách quan trong triều đình để bàn bạc sách lược công và thủ.

 

Ngài chọn Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn làm chức Tiết chế thống lãnh các đạo quân của nước ta.

 

Tháng 12 năm Thiệu Bảo thứ sáu (1284), quân nhà Nguyên xâm phạm biên cảnh nước ta, quan quân ta đánh nhau với quân nhà Nguyên nhưng quân ta không thắng được địch, nhà vua phải dời đến vùng Đông Hải.

 

Năm đầu niên hiệu Trùng Hưng (1285, niên hiệu thứ hai của vua Trần Nhân Tông) quân nhà Nguyên đến phạm kinh thành của ta, nhà vua rước đức Thượng hoàng (tức Trần Thánh Tông) đi vào tỉnh Thanh Hoá.

 

Mùa hạ tháng 4 năm ấy (Trùng Hưng nguyên niên) Chiêu Văn Vương là Trần Nhật Duật đánh bại quân Nguyên ở cửa sông Hàm Tử.

 

Tháng 5 năm ấy (1285), sau khi nhà vua rước đấng Thượng hoàng vào Thanh Hoá rồi, Ngài tự làm tướng đem binh đánh quân Nguyên, đánh cho Toa Đô đại bại ở đất Tây Kết và chém đầu Toa Đô ở đấy.

 

Trần Quốc Tuấn lại đánh quân Nguyên thua lớn ở Vạn Kiếp, Thoát Hoan phải chạy trốn về Tàu.

 

Vua lại rước đức Thượng hoàng trở về nơi cung điện.

 

Lúc bấy giờ, xã tắc đã gần lâm nguy mà trở lại yên ổn, thiên hạ đã phân ly mà trở lại hoà hợp, công đức nhà Trần thật là to lớn vô cùng, kể từ đời họ Hồng Bàng trở xuống, chưa bao giờ nước ta được thịnh trị như đời Trần Nhân Tông vậy. (do NĐX nhấn mạnh)

 

Vua Trần Nhân Tông ở ngôi Hoàng đế được 14 năm.

 

Thơ vịnh Trần Nhân Tông:

Phân âm:

 

Lưỡng khước Nguyên binh điện cựu bang.

Trùng hưng công đức quán Hồng bàng

Đương niên nhị Đế hồi cung khuyết,

Tu sát Huy Khâm phụng biểu hàng

 

Tạm dịch:

 

Hai bận xua Nguyên giữ nước nhà,

Trùng hưng công nhất nước Nam ta.

Trong năm hai Đế về cung khuyết

Hàng địch Huy (a), Khâm (b) thẹn lắm mà.

 

Bình luận bài thơ trên:

 

“Trong bài thơ trên, tác giả đã áp dụng những vần rất hiểm, mà những vần ấy đều vững vàng và thoả đáng cả”.

 

Thần: Tùng Thiện công Miên Thẩm [2] phụng duyệt.

 

“Trong bài thơ trên, phần nghị luận vốn đã chính đại không thể nào thay đổi được, mà việc mượn kẻ nầy để hình dung kẻ khác hay là mượn việc nầy để nói lên việc khác, lại càng tinh vi kỹ lưỡng vô cùng”.

 

Thần: Nguyễn Tư Giảng [3] phụng duyệt.

 

Hồng Liên Lê Xuân Giáo và Nguyễn Quang Tô, phiên âm và dịch toàn bộ đoạn sao lục trên. Hai dịch giả đã chú thích và bình luận hai danh từ riêng Huy (a) và Khâm (b) như sau:

 

(a) Huy: vua Tống Huy Tông, hiệu Kiến trung, tức vị năm Tân tị (1101), bị người Kim truất phế và bắt về phương Bắc. Huy Tông xin hàng người Kim mà cũng không được tha.

 

(b) Khâm: vua Tống Khâm Tông, hiệu Tịnh Khang, tức vị năm Bính Ngọ (1126) cũng bị người Kim truất phế và bắt về phương Bắc. Khâm Tông xin hàng người Kim mà cũng không được tha.

 

Trái lại vua Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông đánh đuổi quân Nguyên rồi trở về cung khuyết một lần. Đem Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông mà so sánh với Huy Tông, Khâm Tông thì Huy, Khâm có thể chết thẹn được [4].

 

Các sử thần triều Nguyễn biên soạn bộ Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục với quan điểm lịch sử của vua Dực Tông nêu trên. Đọc các sự kiện vua quan triều Trần chiến thắng quân Nguyên trong Cương Mục, vua Dực Tồng châu phê một lời bình rằng:

 

“Lúc bấy giờ nhà Nguyên mới nổi lên, khi thế rất ngang ngược; nhà Trần cũng may gặp lúc mới nổi lên được các vua Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông và tướng văn tướng võ phần nhiều người tài, mới có thể đánh bại được giặc, giữ được nước, chứ nếu gặp người khác thì chưa biết thế nào”.

 

Dịch lời phê nầy từ chữ Hán, các dịch giả của Viện Sử học Việt Nam đã chú thích thêm rằng:

 

“Lời phê kết thúc bằng tám chữ “nhược ngộ kỳ tha, vị khả chí dã” Tám chữ nầy nghĩa không được rõ cho lắm, vì chữ “tha” có thể là người khác hoặc lúc khác. Vậy tám chữ nầy ý nói nếu gặp vua tôi khác không anh dũng được như vua tôi nhà Trần hoặc lúc khác không được hưng thịnh như lúc nhà Trần mới nổi lên, thì chưa biết tình thế sẽ biến chuyển ra sao”[5].

***

Vua Dực Tông là một người sùng Đạo Nho, giỏi thơ văn kinh sử, tự hào về sự huy hoàng thịnh trị của triều Nguyễn thế mà ông đã phải hạ bút viết:

 

“Công đức nhà Trần thật là to lớn vô cùng, kể từ đời họ Hồng Bàng trở xuống, chưa bao giờ nước ta được thịnh trị như đời Trần Nhân Tông vậy.”

 

Có lẽ không còn lời thán phục công đức của Trần Nhân Tông nào sáng giá hơn thế nữa. Công đức giữ nước của Trần Nhân Tông đánh dấu một cái mốc lịch sử quan trọng. Nếu không có hoàn cảnh, tài năng, công đức của vua quan triều Trần Nhân Tông thì sự thể nước ta sau đó không thể đoán định được sẽ suy sụp đến như thế nào. Sự xuất hiện của triều đại Trần Nhân Tông là một hồng phúc của dân tộc Việt. 

 

Vua Dực Tông nhà Nguyễn không những đặt công đức của vua Nhân Tông nhà Trần đứng đầu trong lịch sử Việt Nam từ xưa cho đến đời Trần mà còn so sánh với các ông vua nổi tiếng của Thượng quốc là Huy Tông và Khâm Tông nhà Tống nữa. Hai ông Huy Tông, Khâm Tông có cùng hoàn cảnh đất nước bị người ngoài chinh phục như Trần Nhân Tông. Nhưng Huy Tông và Khâm Tông đã đầu hàng giặc và đã bị giết một cách nhục nhã. Vua Trần Nhân Tông quyết đánh và đã thắng lợi vẻ vang. Như thế sự nghiệp giữ nước của vua Trần Nhân Tông hơn xa nhiều Hoàng đế của Trung Quốc.

 

Vẻ vang thay sự nghiệp giữ nước của vua Trần Nhân Tông.

____________________

Nguyễn Đắc Xuân

Nguồn: trungtamhuyentran.thuathienhue.gov.vn

TRUNG TÂM VĂN HÓA HUYỀN TRÂN - ĐỊA DANH VĂN HOÁ LỊCH SỬ, TÂM LINH Ở CỐ ĐÔ HUẾ.

Tọa lạc dưới chân núi Ngũ Phong, phường An Tây, nằm cách thành phố Huế khoảng 7km về phía Tây, Trung tâm Văn hóa Huyền Trân là một điểm du lịch hấp dẫn thu hút đông đảo người dân địa phương và khách du lịch mỗi khi đến Huế. Nơi đây là điểm du lịch lịch sử có giá trị văn hoá tâm linh, đưa du khách trở về sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước Việt Nam trong việc bảo vệ và mở mang bờ cõi vào thời nhà Trần, thế kỷ XIII.

Theo sử liệu, vua Chiêm Thành Jaya Simhavarman III (Chế Mân) để cưới được Công chúa Huyền Trân đã đem hai châu Ô, Lý dâng lên vua Trần làm sính lễ. Vâng mệnh vua cha là Trần Nhân Tông và vua anh Trần Anh Tông, Huyền Trân đã gác tình riêng, gạt lệ xuống thuyền theo chồng, lập mối hòa hiếu và mở mang bờ cõi của đất nước về phương Nam. Đất Thuận Hóa - Phú Xuân - Thừa Thiên Huế cũng được khai sinh từ đó, đến nay đã hơn 700 năm. Để ghi nhớ công ơn của Công chúa, Triều đình nhà Nguyễn (1802 - 1945) đã lập miếu Đại Đế Vương ở làng Lịch Đợi, phường Đúc, TP Huế, thờ các vị khai quốc công thần, trong đó có Công chúa Huyền Trân. Miếu thờ này ngày nay không còn nữa. Năm 2006, nhân kỷ niệm 700 năm Thuận Hóa - Phú Xuân - Thừa Thiên Huế (1306-2006), UBND tỉnh Thừa Thiên Huế đã cho phép Công ty Du lịch Hương Giang đầu tư xây dựng Trung tâm Văn hóa Huyền Trân tại thôn Ngũ Tây, phường An Tây, TP Huế, trên một không gian rộng 28 ha nằm dưới chân núi Ngũ Phong để tri ân công đức của công chúa Huyền Trân. Đây là khu vực có rừng thông xanh bạt ngàn xung quanh, bốn mặt đồi núi trùng điệp. Không gian tĩnh lặng, kỳ vĩ, những làn gió thoang thoảng, mát nhẹ vào mùa hè, toát lên hơi ấm từ lòng đất của núi rừng vào mùa đông, phù hợp với những công trình kiến trúc văn hóa mang tính tâm linh.Từ ngoài dẫn vào là bốn trụ biểu lớn, dưới chân có nghê đá phục chầu, tiếp đến là ba bậc sân rộng lát gạch Bát Tràng, có hồ nước và cầu bắc qua tương tự như cầu Trung Đạo bắc qua hồ Thái Dịch trước điện Thái Hòa của Đại Nội Huế; tiếp nữa là tam quan, rồi đến đền thờ Huyền Trân. Trong đền thờ Huyền Trân có pho tượng Công chúa Huyền Trân ngồi trên ngai được đúc bằng đồng, tượng cao 2,37m, do các nghệ nhân đúc đồng nổi tiếng của phường Đúc, TP Huế cẩn tác. Hậu điện thiết án thờ Đoàn Nhữ Hài, người tương truyền là vị quan người Việt đầu tiên theo lệnh vua vào trấn giữ và yên dân 2 châu Ô, Lý khi 2 châu này về với Đại Việt. Đôi rồng chầu đạt kỷ lục dài nhất Việt Nam sẽ dẫn du khách đến với ngôi đền thờ uy nghi đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông - vị vua có công lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Trong đền thờ đức vua Trần Nhân Tông có pho tượng nhà vua rất lớn được làm bằng đồng đỏ nguyên chất, cao 3m, nặng 2 tấn, đúc theo phiên bản lấy từ đền thờ các vua Trần tại Nam Định. Trên đỉnh núi Ngũ Phong ở độ cao 108 mét có tháp chuông Hoà Bình, một quả chuông đồng nguyên chất nặng 1,6 tấn, cao 2,16 mét, tiếng chuông ngân vang lan toả trong cõi thinh không tĩnh lặng để cầu nguyện cho Thế giới Hoà bình - Nhân loại Hạnh phúc. Ngày 30 tháng 12 năm 2016, thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế tại Quyết định số 2198/QĐ-UBND ngày 21/9/2016 về việc chuyển giao chức năng quản lý Trung tâm Văn hóa Huyền Trân, Sở Văn hóa và Thể thao phối hợp với Công ty Cổ phần Du lịch Hương Giang tổ chức lễ bàn giao Trung tâm Văn hóa Huyền Trân cho Sở Văn hóa và Thể thao quản lý. Sau khi tiếp nhận, Sở Văn hóa và Thể thao giao trách nhiệm cho Trung tâm Văn hóa Thông tin tỉnh trực tiếp quản lý, khai thác và phát huy các giá trị văn hóa tâm linh, lịch sử. Để phục vụ nhu cầu khách tham quan, dâng hương, chiêm bái, Trung tâm Văn hoa Huyền Trân mở cưa thường xuyên các ngày trong tuần kể cả Thứ Bảy và Chủ Nhật. Đặc biệt, vào mồng 9 tháng Giêng Âm lịch hàng năm, Lễ hội Huyền Trân được tổ chức quy mô và long trọng nhân ngày mất của công chúa Huyền Trân. Đây là một hoạt động thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc nhằm tri ân các bậc tiền nhân đã có công với dân, với nước trong việc mở mang bờ cõi. Lễ hội đền Huyền Trân Xuân Đinh Dậu 2017 lần đầu tiên được Sở Văn hóa và Thể thao tổ chức có quy mô lớn nhất từ trước đến nay, đầy đủ hai phần lễ và hội. Bên cạnh các phần lễ chính, như: Khai hội, Lễ Tiên Thường (cáo giỗ), Lễ kỵ Công chúa Huyền Trân, còn nhiều hoạt động khác như: Biểu diễn võ cổ truyền, chơi bài Chòi, biểu diễn vật dân tộc, đẩy gậy, trình diễn nghề dệt Zèng, chằm nón, thư pháp, trưng bày các sản phẩm thủ công truyền thống…đã tạo không khí tươi vui phấn khởi trong lễ hội, thu hút đông đảo nhân dân và du khách tham gia. Hiện nay, Trung tâm văn hoá Huyền Trân đã trở thành một điểm du lịch văn hoá tâm linh, lịch sử, thu hút đông đảo người dân địa phương và du khách đến tham quan, chiêm bái tưởng niệm vị công chúa đã có công mở mang bờ cõi nước Việt, góp phần làm phong phú thêm danh sách các địa danh du lịch hấp dẫn ở Huế, thành phố văn hóa ASEAN, thành phố Festival của Việt Nam với quần thể kiến trúc di tích cố đô Huế cùng với nhã nhạc cung đình đã được UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại.

_____________

Hương Linh

Nguồn: trungtamhuyentran.thuathienhue.gov.vn

DI SẢN VĂN HỌC CỦA PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG

Thơ văn chữ Hán của vua Trần Nhân Tông đúng đã thể hiện được “một sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cảm quan triết học và cảm quan thế sự, có tinh thần lạc quan, yêu đời, tấm lòng vị tha của một nhân cách cỡ lớn và sự rung động tinh tế, lòng yêu tự do thích thảng của một nhà nghệ sĩ”, chứ không phải chỉ chứa đựng những ý tưởng “cực kỳ chán đời” như có người đã nhận xét.


Chỉ đến thời vua Trần Nhân Tông, với hai tác phẩm của mình là Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca cùng Vịnh Vân Yên tự phú của Huyền Quang (1254 -1334) và Giáo tử phú của Mạc Đỉnh Chi (1284 -1361), nền văn học tiếng Việt mới có những tác phẩm đầu tiên hoàn chỉnh của mình còn được bảo tồn đến ngày nay.

Tiếng nói của dân tộc ta chắc chắn tồn tại từ lâu lắm rồi. Nhưng phải tới cuối thời kỳ triều đại Hùng Vương, tức vào khoảng những thế kỷ trước và sau Tây lịch, ta mới có một số thông tin về tiếng nói này qua bài Việt ca và một số cấu trúc được tìm thấy trong Lục độ tập kinh và Tạp thí dụ kinh. Đặc biệt hai bản kinh vừa nói có khả năng đã tồn tại như những bản kinh tiếng Việt đầu tiên mà ta hiện biết và đã lưu hành vào những thế kỷ đầu sau Tây lịch, tối thiểu cho tới lúc Khương Tăng Hội (? – 280) dịch ra tiếng Trung Quốc. Vào thời điểm này, tiếng Việt đã phát triển phong phú và đa dạng, đến nỗi Sĩ Nhiếp (137-226) tương truyền đã viết bộ từ điển Hán Việt đầu tiên được biết, đó là Chỉ nam phẩm vựng hai cuốn. Đà phát triển này vẫn tiếp tục tới cuối thế kỷ thứ tư với sự ra đời các tác phẩm có thể coi như tự điển chữ Việt và cách thức ghi âm chữ Việt biết dưới tên Tá âm và Tá âm tự của Đạo Cao (370 -450?)1.

Rồi sau đó tiếng Việt như một văn tự vẫn tiếp tục được sử dụng mạnh mẽ. Dân ta đã dùng tên Bố Cái Đại Vương để gọi cho người anh hùng Phùng Hưng.Và khi nền độc lập dân tộc được phục hưng, các triều đại có khả năng đã dùng tiếng Việt để ban bố các mệnh lệnh hành chánh của triều đình cho dân chúng. Ta có thể mạnh dạn đưa ra giả thiết này nhờ vào một sự cố giữa hàn lâm phụng chỉ Đinh Củng Viên và hành khiển Lê Tòng Giáo năm 1288, theo đó có lệ cũ là phải viết và đọc chiếu chỉ của vua bằng hai thứ tiếng, tiếng Việt và tiếng Hán. Như thế, đến giữa thế kỷ thứ 13 tiếng Việt như một văn tự đã thực hiện mọi chức năng của nó. Điều bất hạnh là do thiên tai và địch họa, hàng loạt các tác phẩm viết bằng tiếng nói của dân tộc ta từ những bản kinh đầu tiên như Lục độ tập kinh và các bản chiếu chỉ của nhà vua cho đến các tác phẩm văn học như Tiều ẩn quốc ngữ thi tập của Chu Văn An đã bị tán thất.

Bài thơ tiếng Việt tương truyền đầu tiên hiện biết là bài Giáo trò cho các buổi hát chèo thường được gắn cho tên tuổi của Thiền sư Đạo Hạnh (? -1117). Vì đây là một bài thơ ngắn chỉ gồm 32 chữ và vấn đề văn bản học vẫn chưa được xác định rõ ràng, cho nên nhiều nghi vấn đã đặt ra. Chỉ đến thời vua Trần Nhân Tông, với hai tác phẩm của mình là Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca cùng Vịnh Vân Yên tự phú của Huyền Quang (1254 -1334) và Giáo tử phú của Mạc Đỉnh Chi (1284 -1361), nền văn học tiếng Việt mới có những tác phẩm đầu tiên hoàn chỉnh của mình còn được bảo tồn đến ngày nay. Vị trí văn học của vua Trần Nhân Tông do thế đối với dân tộc ta rất là vĩ đại.

Không phải là một ngẫu nhiên của lịch sử mà vinh dự này thuộc về con người Trần Nhân Tông. Phần trên, ta đã thấy sự nghiệp và con người vua Trần Nhân Tông, một sự nghiệp văn trị và võ công quá lớn lao, đến nỗi qua thời gian và sự phá hoại của kẻ thù vẫn không làm phai mờ đi được trong tâm thức của những người dân Việt. Chính họ đã giữ gìn các tác phẩm văn học ấy cho ta, trong số hàng trăm hàng ngàn các tác phẩm tiếng Việt khác đã ra đời cùng thời với chúng, mà bây giờ ta chỉ biết tên, chứ không biết chúng có nội dung cụ thể là gì. Nói khác đi, công ơn của Trần Nhân tông đối với dân tộc ta quá sâu đậm, nhờ thế những tác phẩm như Cư trần lạc đạo phú, Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca đã được trân trọng và giữ gìn.

Thế nhưng, không phải chỉ vì công ơn và uy tín cá nhân của vua Trần Nhân Tông, mà hai tác phẩm ấy được trân trọng và giữ gìn. Hai tác phẩm đó được trân trọng và giữ gìn còn vì giá trị nội tại của bản thân chúng, đặc biệt là Cư trần lạc đạo phú. Có thể nói Cư trần lạc đạo phú là một bản tuyên ngôn của con đường sống đạo, mà Phật giáo Việt Nam đã đề ra và đã chi phối cuộc sống của hàng triệu triệu người phật tử Việt Nam thời vua Trần Nhân Tông và những thế kỷ sau. Nó cũng là một trong số ít tác phẩm Phật giáo Việt Nam được trích dẫn đích danh như một quyền uy, khi Thiền sư Chân Nguyên trình bày những vấn đề Phật giáo cho vua Lê Chính Hòa vào khoảng những năm 1692 trong Kiến tính thành Phật lục.1 Vì thế tư tưởng của Cư trần lạc đạo phú đã giúp một phần nào cho sự tồn tại của nó trong quá trình truyền đạt.

Ít lắm là trong khoảng 300 năm trở lại đây, thế kỷ nào Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca cũng đều được in và phổ biến rộng rãi. Bản in xưa nhất chúng ta hiện còn là bản in năm 1745 do sa di ni Diệu Liên vâng lệnh thầy mình in lại và bản gỗ lưu lại chùa Liên Hoa ở kinh đô Thăng Long. Nó được in kèm chung sau tác phẩm Thiền tông bản hạnh của Chân Nguyên ở những tờ 47 -57. Trong bản in này có kèm theo Vịnh Hoa Yên tự phú của Huyền Quang và Ngộ đạo nhân duyên kệ của chính Chân Nguyên. Việc in kèm theo như thế này chứng tỏ văn bản mà ni cô Diệu Liên dùng để in, chắc chắn phải đến từ một truyền bản của thiền sư Chân Nguyên, nghĩa là từ một truyền bản của nửa cuối thế kỷ thứ 17. Trước thế kỷ đó, số phận của Cư trần lạc đạo thế nào ta hiện nay chưa có một thông tin nào cả.

Nếu trước thế kỷ thứ 17 ta hiện chưa có thông tin gì về truyền bản của Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca thì sau thế kỷ thứ 18, tức sau lần in của ni cô Diệu Liên, vấn đề truyền bản của hai tác phẩm này tương đối rõ ràng. Trong lời dẫn cho lần in năm 1930 của Thiền tông bản hạnh, Thiền sư Thanh Hanh (1840 -1936) cho biết vào năm Gia Long thứ 12 (1814) bản Thiền tông bản hạnh đã được in lại, và cùng với nó chắc chắn phải có Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca. Hơn nữa khi thiết lập bản mục lục các kinh sách Phật giáo lưu hành vào nửa đầu thế kỷ thứ 19 trong Đạo giáo nguyên lưu quyển thượng tờ 5a6, An Thiền có ghi tên một tác phẩm gọi là Trần triều thập hội lục. Rõ ràng Thập hội lục của triều Trần chính là 10 hội của Cư trần lạc đạo phú.

Trong vòng hơn 300 năm trở lại đây, Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca đã được in nhiều lần.

Điều này chứng tỏ tư tưởng Cư trần lạc đạo vẫn tiếp tục được học tập và truyền bá dù Phật giáo cũng như đất nước đang chuyển mình qua một giai đoạn mới. Giá trị lý luận của tư tưởng Cư trần lạc đạo từ đó vẫn còn có sức hấp dẫn mạnh mẽ, đặc biệt là vào cuối thế kỷ thứ 18 với những chiến công Ngọc Hồi, Đống Đa oanh liệt của quân và dân Tây Sơn, trong đó nổi bật những gương mặt phật tử tự nhận mình là người kế thừa truyền thống Trúc Lâm như binh bộ thượng thư Tỉnh Phái Hầu Ngô Thời Nhiệm là Thiền sư Hải Lượng, Hương Lĩnh Bá tiến sĩ Nguyễn Đăng Sở là Thiền sư Hải Âu v.v.

Hơn 300 năm qua, Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca đã được trân trọng, giữ gìn và học tập như thế, thì chắc chắn hơn 300 năm trước nó cũng có chung một diễm phúc. Bởi vì nếu không có diễm phúc ấy, thì qua ngọn lửa đốt sách bạo tàn của giặc Minh xâm lược trong gần 20 năm chiếm đóng, chúng chắc chắn đã chịu chung một số phận với các tác phẩm của dân tộc ta thời Lý Trần về trước. Hơn nữa, thời Lê sơ và thời Mạc là thời kỳ Phật giáo phục hưng mạnh mẽ trong phong trào dân tộc hóa với việc dịch kinh sách ra tiếng Việt như Đại báo phụ mẫu ân trọng kinh của Thiền sư Viên Thái, việc in lại các tác phẩm sử học Phật giáo như Nam tông tự pháp đồ của trạng nguyên Lương Thế Vinh, Thánh đăng ngữ lục của Thiền sư Chân Nguyên, và đặc biệt việc thiết định và cổ xúy dùng tiếng Việt của Thiền sư Pháp Tính trong Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa.

Trong một thời kỳ Phật giáo hoạt động sôi nổi và mạnh mẽ như vậy, việc học tập và nghiên cứu hai tác phẩm vừa nêu của vua Trần Nhân Tông chắc chắn đã xảy ra. Điều đáng tiếc là, cho đến lúc này ta vẫn chưa tìm ra một thông tin nào xác nhận về sự hiện diện của hai tác phẩm ấy trong giai đoạn đó. Dẫu thế, chúng chắc chắn đã được lưu truyền để đến cuối thế kỷ thứ 17 Chân Nguyên mới có dịp trích dẫn trong Kiến tính thành Phật của mình. Nói khác đi chúng đã nằm trong dòng chủ lưu của nền văn học và tư tưởng tiếng Việt. Cho nên, như đã nói, thật là một vinh dự cho nền văn học tiếng Việt của nước ta đã bắt đầu với ngòi bút của một anh hùng dân tộc có những chiến công oanh liệt như Trần Nhân Tông và với những tác phẩm đã có một tác động sâu rộng trên truyền thống dân tộc, chứ không phải chỉ của Phật giáo, như Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca.

Hai tác phẩm này thuộc loại văn học luận đề. Chúng là những bản văn chính luận tập trung trình bày một số vấn đề tư tưởng và lý luận. Chúng đã dùng tiếng Việt như một ngôn ngữ để phát biểu những tư tưởng trừu tượng tương đối khó nắm bắt một cách khéo léo và dễ hiểu. Từ đó tiếng Việt đã trở thành một ngôn ngữ đủ khả năng chuyển tải bất cứ nội dung tư tưởng khác nhau nào và có một vẻ đẹp của riêng nó. Nhờ thế, các tác phẩm ấy không những đã lôi cuốn được sự chú ý của người đương thời, mà còn có sức hấp dẫn đối với hậu thế. Tiếng Việt tự bản thân nó đã trở thành một ngôn ngữ văn học. Đây chính là một trong những cống hiến lớn, mà hai tác phẩm này đã mang lại cho văn học Việt Nam.

Để có được hai tác phẩm ấy vào cuối thế kỷ thứ 13, tiếng Việt từ bao đời, hơn cả ngàn năm trước, từng là một ngôn ngữ văn học. Chúng đã kế thừa những thành tựu và tinh hoa của nền văn học trong hơn ngàn năm đó, nên đến ngày nay mỗi khi đọc lại, chúng ta vẫn cảm thấy chúng gần gũi, đẹp đẽ và dễ hiểu, khác hẳn với những câu văn ngọng nghịu khó chịu do người ngoại quốc ghi lại mới chỉ cách ta hơn 300 năm. Thực tế để có được giọng văn lý luận như đã xuất hiện trong Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca, tiếng Việt đã trải qua hàng ngàn năm thử thách và sử dụng, chứ không phải đến thời vua Trần Nhân Tông nó mới bắt đầu được đưa vào sự nghiệp sáng tác của thơ văn.

Quả vậy, nếu tiếng Việt không tồn tại trong hơn một ngàn năm đó, đối lập lại với tiếng Hán và trở thành một trong những bức trường thành chặn đứng mưu đồ Hán hóa do các nhà nườc Trung Quốc trong cùng thời gian đã ra sức quyết tâm thực hiện, thì dân tộc ta ngày nay cũng không còn, chứ nói chi đến một nền độc lập nhà nước và một tiếng nói riêng biệt. Do thế, Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca là một kết tụ của những nỗ lực phi thường và đầy gian khổ trong quá trình đấu tranh bi tráng để bảo vệ dân tộc và giữ vững chủ quyền quốc gia. Giá trị văn học của hai tác phẩm này từ đó càng nhân lên gấp bội.

Do tính kết tụ vừa nói, không một ngôn ngữ nào trên thế giới bỗng chốc có thể nhảy lên vũ đài văn học, để trở thành một ngôn ngữ văn học. Ngay cả những ngôn ngữ lớn có văn bản lâu đời trên thế giới như tiếng Hán, tiếng Phạn, Hy Lạp v.v. cũng đều trải qua một quá trình kiểu ấy, để từ những văn bản bói quẻ thô sơ hoặc những bài ca vịnh đơn giản, mà tiến lên thành những ngôn ngữ văn học nổi tiếng trên thế giới. Tiếng Việt ta cũng thế. Để có những tác phẩm lý luận có vẻ đẹp văn học như Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca, nó cũng đã trải qua một quá trình kết tụ lâu dài từ bài Việt ca đầu tiên được biết cho đến các mẩu chuyện trong Lục độ tập kinh và Tạp thí dụ kinh, cho đến bài Giáo trò của Thiền sư Đạo Hạnh. Cả quá trình sử dụng thành thạo và nhuần nhuyễn tiếng nói dân tộc đã tạo cơ hội cho sự ra đời của hai tác phẩm vừa nêu.

Sự xuất hiện của tiếng Việt như một ngôn ngữ văn học, do thế, là một quá trình đấu tranh gian khổ đầy thử thách và nguy cơ. Qua quá trình đấu tranh đó, tiếng Việt đã chứng tỏ tính ưu việt của mình, làm tiền đề cho sự xuất hiện của Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca. Không qua một quá trình như thế thì không bao giờ có được những tác phẩm kể trên. Đây là điểm mà những người nghiên cứu văn học Việt Nam từ trước đến nay chưa bao giờ chú ý tới.

Người ta cứ loay hoay đi tìm nguồn gốc chữ Nôm trong mấy bản văn bia còn lại của thời Lý Trần, rồi cứ đẩy lên đẩy xuống thời điểm ra đời của thứ chữ này trong khoảng từ thế kỷ thứ 8 cho đến thế kỷ thứ 13. Họ quên rằng để vào cuối thế kỷ thứ 13 có các tác phẩm như Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca thì tiếng Việt và chữ Việt phải xuất hiện rất sớm, ít lắm cũng năm bảy trăm năm trở lên. Đây là một quá trình bắt buộc có tính khách quan đối với bất cứ ngôn ngữ nào, chứ không phải chỉ riêng tiếng Việt ta. Vì vậy, nghiên cứu hai tác phẩm này chính là nghiên cứu quá trình kết tụ của nó.

Ngày nay, ta không biết đích xác vua Trần Nhân Tông đã viết hai tác phẩm ấy vào thời điểm nào. Nhưng chắc chắn là Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca, qua nội dung của chính nó, phải được vua Trần Nhân Tông viết vào thời gian sau khi đã sống ở núi Yên Tử, tức sau tháng 8 năm Kỷ Hợi (1299), năm mà ĐVSKTT đã ghi “Thượng hoàng từ phủ Thiên Trường lại xuất gia vào núi Yên Tử tu khổ hạnh”, vì bài ca này đã nói tới việc:

Yên bề phận khó
Kiếm chốn dưỡng thân
Khuất tĩnh non cao
Náu mình sơn dã
Vượn mừng hủ hỷ
Làm bạn cùng ta
Vắng vẻ ngàn kia
Thân làm hỷ xả…
Đem mình náu tới
Cảnh vắng ngàn kia
Dốc chí tu hành
Giấy sồi bô bả.

Viết như thế này, rất gần với những gì mà Huyền Quang tả về chùa Vân Yên và cuộc sống của vua Trần Nhân Tông ở đây:

Cảnh tốt hòa lành
Đồ tựa vẽ tranh
Chỉn ấy trời thiêng mẽ khéo
Hèn chi vua Bụt tu hành…
Chim óc bạn cắn hoa nâng cúng
Vượn bồng con kề cửa nghe kinh
Nương am vắng Bụt hiện từ bi,
gió hiu hiu mây nhè nhẹ
Kề song thưa thầy ngồi thiền định,
trăng vằng vặc núi xanh xanh…
Mặc cà sa, nằm trướng giấy,
màng chi châu đầy lẫm, ngọc đầy rương.
Quên ngọc thực, bỏ hương giao
cắp nạnh cà một vò, tương một hũ…
Thầy tu trước đã nên Phật quả
Tiểu tu sau còn vị tỳ kheo.

Còn Cư trần lạc đạo phú, thì thật khó mà xác định vua Trần Nhân Tông đã viết ra vào lúc nào trong cuộc đời mình.

Có người bảo là nó được viết ra trước lúc vua đi xuất gia, tức trước năm 1299. Chắc hẳn khi nói thế họ đã dựa vào hai câu mở đầu của bài phú này:

Mình ngồi thành thị
Nết dụng sơn lâm

Để khẳng định vua Trần Nhân Tông đang còn sống ở thành Thăng Long, mà lòng vua đã hoàn toàn an nhàn tự tại như sống ở rừng núi. Nhưng cũng chính trong bài phú đó ở Hội thứ 5 ta đã gặp:

Thiền ngỏ năm câu, nằm nhãng trong quê Hà Hữu
Kinh xem ba biến, ngồi ngơi mái quốc Tân La
Trong đạo nghĩa, khoáng cơ quan,
đà lọt lẫn trường kinh cửa tổ
Lánh thị phi, ghê thanh sắc,
ngại chơi bời dặm liễu đường hoa
Áo miễn chăn đầm ấm qua mùa,
hoặc chằm hoặc xể
Cơm cùng cháo, đói no đòi bữa, dầu bạc dầu thoa

Viết như thế rõ ràng đây không phải là cuộc sống cung đình thị thành, mà là cuộc sống dân dã rừng núi. Cho nên, thật khó mà dựa vào nội dung của bài phú này để xác định thời điểm ra đời của nó. Điều chắc chắn là nó được viết vào lúc vua Trần Nhân Tông đã có ít nhiều quan tâm đến núi Yên Tử. Ta biết trong Phật giáo đời Trần, Yên Tử có vị thế trung tâm. Thời ông nội mình là vua Thái Tông đã từng tới đó. Khi còn trẻ vua Nhân Tông cũng đã có ý định lên sống ở đó. Dẫu sao đi nữa, chủ trương “Cư trần lạc đạo, Trần tục mà nên” vẫn đóng vai trò mà từ năm 1287, khi Tuệ Trung Trần Quốc Tung đã ấn chứng cho vua, thì chủ trương đó càng trở nên rõ rệt. Nói cách khác, thời điểm ra đời của Cư trần lạc đạo phú phải từ sau năm 1287 trở đi và chắc chắn là sau năm 1288, khi quân thù đã bị quét sạch khỏi bờ cõi và cả nước đang ra sức lao động để kiến tạo cuộc sống ấm no cho gia đình và bản thân người dân.

Bộ từ vựng của Cư trần lạc đạo phú gồm cả thảy 1688 hạng từ, kể luôn các tên đầu đề, tên các hội và bài thơ chữ Hán kết thúc bài phú. Nếu chỉ kể riêng số từ vựng trong các hội thì nó chỉ gồm 1623 hạng từ, trong đó có những hạng từ Việt xuất hiện khá nhiều lần như lòng (18 lần), cho (13 lần), chẳng (13 lần), mới (12 lần, hay 11 lần), Bụt (10 lần).v. v..Và số 1623 hạng từ này nếu chúng ta thiết lập một bản từ gồm những tên người, tên đất, những từ chuyên môn và những từ phiên âm, chúng ta còn số hạng từ ít hơn nữa, tức khoảng hơn 1400 từ. Chẳng hạn các từ như Thích Ca, Di Đà, Di Lặc, bát nhã, chiêm bặc, chiên đàn, bồ đề, bồ tát, đàn việt, ưu đàm, Câu Chi, Diễn Nhã Đạt Đa. Đấy là những từ phiên âm của tiếng Phạn và chúng ta chỉ có 12 hạng từ thay vì 26 hạng từ khi tách rời chúng ra thành từng hạng từ một.

Các từ chuyên môn như bát phong, bát thức, cực lạc, đại thừa, tiểu thừa, hữu lậu, kim cương, vô lậu, lục căn, lục tặc, tam độc, tam thân, tam tạng, tam huyền, tam yếu, tam nghiệp, tịnh độ, thái bình, thượng sĩ, trí tuệ, tri âm, tri thức, tri kiến, tri cơ, trượng phu, trưởng lão, viên giác, vô thường, vô minh, vô sinh, vô tâm, vô vi cũng thế. Nếu đưa chúng vào những hạng mục từ, ta chỉ có 32 hạng từ thay vì có đến 64. Các tên đất, tên người như Yên Tử, Cánh Diều, Hà Hữu, Hùng Nhĩ, Tân La, Thiên Trúc, Thiếu Lâm, Tào Khê, Thiếu Thất, Lư Lăng, Phá Táo, Thạch Đầu, Lâm Tế, Bí Ma, Thuyền Tử, Đạo Ngô, Thiều Dương, Triệu Lão, Thiên Cang, Thái Bạch cũng vậy.

Với số lượng trên dưới 1400 từ này, ta có một bộ từ vựng tương đối phong phú để nghiên cứu ngôn ngữ của dân tộc ta vào thời vua Trần Nhân Tông. Và đó là chỉ mới kể số hạng từ có trong Cư trần lạc đạo phú. Nếu gộp luôn số hạng từ của Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca, mà số lượng lên đến 336, trong đó trừ những trùng lặp đã có đến 238 hạng từ.

Gộp chung lại với Cư trần lạc đạo phú, ta sẽ có một bộ từ vựng với gần 2000 từ, tức cỡ loại từ điển nhỏ, và cho ta một nhận thức tương đối hoàn chỉnh về ngôn ngữ dân tộc ta vào thời đại Trần Nhân Tông, tức thế kỷ thứ 13, cách chúng ta gần 700 năm.

Đến đây chúng ta cần phân tích sơ bộ hai tác phẩm viết bằng tiếng Việt của vua Trần Nhân Tông. Nhưng sự nghiệp văn học của nhà vua không chỉ giới hạn vào các tác phẩm tiếng Việt. Nhà vua còn là tác giả của 30 bài thơ và đoạn thơ, 22 lá thư viết cho vua quan nhà Nguyên cùng hai bài giảng ở chùa Sùng Nghiêm và viện Kỳ Lân. Trong hai bài giảng này cũng có một số bài thơ và đoạn thơ dùng để trả lời cho các câu hỏi mà người đối thoại đã đặt ra, và vẫn chưa được kê vào số lượng thơ và đoạn thơ của vua Trần Nhân Tông. Nói thế tức cũng muốn nói số lượng tác phẩm vua Trần Nhân Tông còn lại cho chúng ta ngày nay không phải là ít, dù rằng phần lớn chúng đều được viết bằng chữ Hán.

Với sự nghiệp thơ văn chữ Hán của vua Trần Nhân Tông, hầu hết những nhà nghiên cứu từ trước đến nay đều thống nhất coi vua Trần Nhân Tông là một “tên tuổi lẫy lừng” trong lãnh vực hoạt động sáng tạo này. Thực tế, đọc các bài thơ chữ Hán do vua Trần Nhân Tông sáng tác, người ta không thể không cảm nhận những vẻ đẹp khác nhau của đất nước, từ một buổi chiều làng quê yên tĩnh cạnh nơi ở của hoàng gia tại phủ Thiên Trường ở đồng bằng sông Hồng:

Xóm trước thôn sau tợ khói nhòa
Nửa không nửa có mé chiều sa
Mục đồng sáo vẳng trâu về hết
Cò trắng từng đôi ruộng xuống sà

(Thôn hậu thôn tiền đạm tợ yên
Bán vô bán hữu tịch dương biên
Mục đồng địch lý quy ngưu tận
Bạch lộ song song phi hạ điền)

Cho đến một ngôi chùa tại Lạng Châu thuộc miền trung du Bắc bộ:

Chùa cổ đìu hiu thu khói mờ
Thuyền câu chiều quạnh tiếng chuông đưa
Nước quang non lặng bay âu trắng
Gió đứng mây đùa cây đỏ thưa.

(Cổ tự thê lương thu ái ngoại
Ngư thuyền tiêu sắt mộ chung sơ
Thủy minh sơn tĩnh bạch âu quá
Phong định vân nhàn hồng thụ sơ)

Ngay trong cuộc sống thường nhật, một ánh trăng ban đêm cùng tiếng rơi tí tách của sương thu trên lá cây trước sân nhà và xa xa tiếng chày nện vải từ một ngôi làng dệt nào đưa tới đã gợi nên những xao xuyến trong tâm hồn, cảm thấy vẻ đẹp của một đất nước thanh bình:

Đầy sách giường song chếch bóng đèn
Sân thu sương bủa thoáng hơi đêm
Tiếng chày thức dậy đâu không biết
Hoa mộc trên cành trăng mới lên.

(Bán song đăng ảnh mãn sàng thư
Lộ trích thu đình dạ khí hư
Thụy khởi châm thanh vô mịch xứ
Mộc tê hoa thượng nguyệt lai sơ)

Nhưng cuộc đời vua Trần Nhân Tông không giống cuộc đời những ông vua sinh ra, lớn lên, rồi thụ hưởng một đất nước thái bình. Năm vua ra đời cũng chính là thời điểm vua Trần Thái Tông vừa đánh tan đạo quân xâm lược thứ nhất của đế chế Nguyên Mông lần đầu tiên tiến công nước ta, dưới sự chỉ huy của một tên tướng khét tiếng tàn bạo Ngột Lương Hợp Thai (Uryangqadai). Hơn 20 năm tiếp theo là một cuộc đấu tranh gian khổ về ngoại giao nhằm vừa bảo vệ chủ quyền đất nước, vừa mang lại nền hòa bình để cho người dân có cơ hội lao động sinh sống và đất nước chuẩn bị tiềm lực để chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu.

Kịp đến khi lên ngôi vào tháng 10 năm Mậu Dần (1278) thì vua Trần Nhân Tông đã phải trực tiếp đối phó với những tên sứ giả “uốn tấc lưỡi cú diều mà lăng nhục triều đình, đem tấm thân dê chó mà khinh rẻ tể phụ”, như Trần Hưng Đạo đã mô tả. Thế là cả nước phát động một phong trào chuẩn bị diệt giặc cứu nước. Tuy hào khí Nguyên Phong của cuộc chiến tranh năm Đinh Tỡ (1257) vẫn còn đó, mà nhà vua cảm thấy khi đến thăm lăng mộ của ông nội mình vào một ngày xuân trước cuộc chiến tranh 1285.

Hùm gấu nghiêm nghìn cửa
Áo mão bảy phẩm đầy
Lính bạc đầu còn đó
Nguyên Phong mãi kể say

(Tỉ hổ thiên môn túc
Y quan thất phẩm thông
Bạch đầu quân sĩ tại
Vãng vãng thuyết Nguyên Phong)

Và hơn ai hết, bản thân vua Trần Nhân Tông đã từng cầm quân xông pha trận mạc. Thực tế, ta đã thấy nhà vua đã từng trực tiếp chỉ huy những trận đánh lớn, sống gần gũi với tướng lĩnh và binh sĩ, nên dễ cảm thông, thương xót cho những người vợ phải sống lẻ loi, khi người chồng vì nhiệm vụ phải ra mặt trận ở một nơi xa xôi nào đó của tổ quốc.

Ngủ dậy vén rèm hoa thấy rơi
Hoàng ly không hót giận xuân rồi
Lầu tây vô cớ vầng dương lặn
Bóng ngả về đông hoa lẫn chồi.

(Thụy khởi câu liêm khán trụy hồng
Hoàng ly bất ngữ oán đông phong
Vô đoan lạc nhật tây lâu ngoại
Hoa ảnh chi đầu tận hướng đông)

Chiến tranh vệ quốc chống lại các thế lực xâm lược lớn mạnh hơn ta rất nhiều lần, còn gợi lên những nỗi buồn như thế, huống nữa những cuộc chiến tranh để bảo vệ an ninh biên giới do các thế lực nhỏ yếu hơn ta quấy phá. Trong một bài thơ viết nhân chiến dịch bình định Ai Lao vào mùa xuân năm Canh Dần (1290), mà vì nghĩa vụ bảo vệ cuộc sống an lành cho nhân dân và một biên cương ổn định cho tổ quốc, vua Trần Nhân Tông phải cầm quân đi đánh dẹp. Thế mà vua vẫn tỏ ra không thích thú gì:

Hoa sóng tung lên buồm gấm bay
Dưới mui đầu mệt chẳng buồn quay
Mây chiều Tam Giáp nhạn không đến
Trăng sáng Cửu Than rồng có đây
Lạnh lẽo đường đi cung mộng cũ
Ngổn ngang sầu vướng rượu ly đầy
Hán hoàng mang tiếng say chinh chiến
Vội vã nam nhi chi lắm vầy.

(Cẩm phàm khinh sấn lãng hoa khai,
Bồng để yêm yêm thủ bất đài.
Tam giáp mộ vân vô nhạn đáo,
Cửu than minh nguyệt hữu long lai.
Thê lương hành sắc thiêm cung mộng,
Liêu loan nhàn sấu đáo tửu bôi.
Hán Vũ phiêu chiêu cùng độc báng,
Nam nhi cấp cấp nhược vi tai.)

Một cuộc chiến tranh do vua chủ trương vì lợi ích chung như ĐVSKTT 5 tờ 58b5 -59a1 đã ghi: “Vua thân chinh Ai Lao. Triều thần nói: ‘Giặc Nguyên vừa rút lui, vết thương chưa khỏi sao có thể dấy binh’. Vua nói:

‘Chỉ có thể vào lúc này mới ra quân được, vì sau khi giặc rút lui thì ba vùng (Ai Lao, Chiêm Thành và Chân Lạp – LMT) tất cho quân ngựa và của cải ta bị tan mất, thế không thể tránh khỏi được, sẽ có sự khinh nhờn đối với ta, cho nên đem đại quân đi để thị uy’. Quần thần đều nói: ‘Vua há không biết dân mệt sao, mà chỉ vì có việc đáng lo lớn hơn thế nữa’. Đó là thánh nhân lo xa, chẳng phải bọn thần nghĩ kịp được”.

Việc đem quân đi thị uy đối với Ai Lao, chỉ vì quyền lợi của đất nước mà vua Trần Nhân Tông phải làm. Và thực tế chỉ chưa tới 4 năm sau khi đã truyền ngôi cho con là Anh Tông và trở thành Thượng hoàng, vua Trần Nhân Tông còn phải thân chinh Ai Lao một lần nữa, vào tháng 8 năm Giáp Ngọ (1294) với sự tham gia của các tướng Phạm Ngũ Lão, Trung Thành Vương. Mối đe dọa của Ai Lao đối với biên cương Đại Việt như thế không phải là không có.

Và việc đánh dẹp Ai Lao như thế là một yêu cầu của an ninh quốc gia. Thế mà, dù bài thơ vừa trích được làm vào chiến dịch Ai Lao năm 1290 hay 1294, nó vẫn toát lên một sự chán ghét đối với chiến tranh, đối với cái mà người thường gọi là “cùng binh độc vũ”, tức dùng chiến tranh để thỏa mãn những tham vọng cá nhân của người lãnh đạo.

Trong cuộc đời mình, vua Trần Nhân Tông đã từng sống qua hai cuộc chiến tranh tàn khốc, nên hơn ai hết đã hiểu thế nào là những nỗi khổ do chiến tranh đem lại cho phía ta cũng như phía địch. Việc sử dụng chiến tranh để chống lại chiến tranh chỉ là một biện pháp bất đắc dĩ, khi mọi biện pháp khác không thể dùng được nữa. Do vậy, tự thâm tâm vua Trần Nhân Tông không bao giờ tán thành chiến tranh. Và sự không tán thành này xuất phát từ một cái nhìn về tính chung đồng loại của những con người dù ở chiến tuyến nào đi nữa, họ cũng đều có xúc cảm, suy nghĩ, nguyện vọng giống nhau. Không ít người từ hơn 500 năm trở lại đây, đã ca ngợi tính nhân bản và cao thượng của hành động cởi ngự bào phủ lên thủ cấp của tên tướng giặc Toa Đô, vừa bị quân ta chém đầu trong trận Tây Kết thứ hai năm 1285, do chính bản thân vua Trần Nhân Tông trực tiếp chỉ huy.

Từ một sự chán ghét chiến tranh như vậy, vua Trần Nhân Tông tập trung mọi nỗ lực của mình để xây dựng một nền hòa bình lâu dài, không chỉ cho đất nước và dân tộc mình, mà còn cho các dân tộc và quốc gia láng giềng, đặc biệt là đất nước và nhân dân Trung Quốc. Ngay khi khói lửa của cuộc chiến tranh năm 1288 đang còn vướng vất trên các chiến trường Thăng Long, Bạch Đằng, lúc tiếp phái bộ Lưu Đình Trực và Lý Tư Diễn, do Hốt Tất Liệt gửi qua để đòi lại các tướng tá giặc như Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Sầm Đoạn do ta bắt được, vua Nhân Tông đã nói đến

Bụi chiến sông trời rửa sạch trơn.
(Thác khai địa giác giai hòa khí
Tịnh hiệp thiên hà tẩy chiến trần)

trong bài thơ tiễn đưa phái bộ này, thể hiện ý chí và nguyện vọng bảo vệ và xây dựng hòa bình của nhân dân Đại Việt và của chính bản thân nhà vua. Đây là một nội dung đặc biệt của thơ văn vua Trần Nhân Tông, bộc lộ một sự tha thiết đối với hòa bình. Thật cũng lạ, một con người đã từng chỉ đạo, trực tiếp tham gia chiến tranh và đã có những chiến thắng oanh liệt. Vậy mà qua thơ văn vẫn luôn luôn biểu hiện một ước ao nóng bỏng đối với hòa bình.

Điều này cũng có nghĩa vua Trần Nhân Tông không bao giờ coi chiến tranh như một nấc thang để bước lên đài danh vọng, để đi tới bến vinh quang. Suốt cuộc đời, ngay cả sau khi xuất gia, vua cũng luôn lao động miệt mài cho hòa bình, nhất là một nền hòa bình ở biên cương phía Nam của tổ quốc tiếp giáp với nước Chiêm Thành.

Trước đây, nhiều người thường cho giai đoạn vua Trần Nhân Tông xuất gia là giai đoạn nhà vua rút lui khỏi cuộc đời, khỏi xã hội, “càng tu hành càng xa với thực tế xã hội, càng xa với ý muốn cứu khổ cứu nạn của Phật tổ” . Thế mà chính trong giai đoạn xuất gia này của nhà vua, biên cương của Đại Việt đã nối dài trên 200 cây số, và nền hòa bình Việt Chiêm đã duy trì được gần mấy chục năm, làm tiền đề cho sự nghiệp Nam tiến của dân tộc ngày càng phát triển dồn dập như cơn thủy triều đang buổi dâng lên của nó. Cũng có người đọc hai câu thơ:

Phải trái lòng theo hoa sớm rơi
Lợi danh tâm lạnh tối mưa thôi

đã không biết đặt chúng vào trong bối cảnh lý luận của tư tưởng vua Trần Nhân Tông, rồi vội vã bình luận đấy là những “câu thơ cực kỳ chán đời”, thể hiện “tư tưởng hư vô chủ nghĩa triệt để, bắt nguồn từ trong triết học Phật giáo… trong chế độ điền trang, sự phú quý cực độ của nhiều nhà chùa và tất cả sự suy đồi của nó”. Bình luận thế là họ đã quên vua Trần Nhân Tông là một trong “những tên tuổi lẫy lừng nhất” của những nhà thơ nhà văn đời Trần.

Và những tên tuổi lẫy lừng nàỵ “đều bộc lộ một niềm tin, một tinh thần quyết thắng và một ý chí kiên cường qua một loạt vần thơ bất hủ”. Cho dù những bình luận trên được phát biểu vì mục đích gì, có phần nào gây nhiễu loạn thông tin hoặc sai lệch quá khứ đi chăng nữa, thì sự nghiệp vua Trần Nhân Tông, những đóng góp của cá nhân và triều đại nhà vua đối với dân tộc là không thể phủ nhận, là giai đoạn đáng ghi công, đáng tự hào của lịch sử dân tộc Việt Nam.

Ta đã thấy trong tư tưởng của vua Trần Nhân Tông có một cái nhìn về thời gian một chiều, một ngày đã qua là không bao giờ trở lại, như một bài thơ của Tuệ Trung Thượng Sĩ Trần Quốc Tung đã từng nói tới:

Trăng lặn trời tây khôn bóng lại
Nước trôi đổ biển sóng đâu quây

(Tây nguyệt trầm không nan phục ảnh
Đông lưu phó hải khởi hồi ba)

Cho nên đối với bản thân mình cũng như đối với mọi người, thời gian trở nên rất quý báu, cuộc đời con người quá ngắn ngủi cho một công việc phải làm:

Thời gian dễ trôi qua
Mạng người khôn dừng lại

(Thời quang dung dị quá
Nhân mạng bất định lưu)

Vì thế, sự sống trở nên quý giá. Một ngày đi qua không bao giờ chúng ta có lại. Chúng ta phải huy động toàn bộ thời gian cho những việc có ích cho mình cũng như cho người. Ta tưởng tượng dân tộc ta vào thời đó sống vội vã dồn dập.

Họ sống vội vã dồn dập không phải vì cuộc sống là một đày ải mà ta cố hưởng lạc để cho xong đời. Họ sống vội vã dồn dập vì cuộc sống quá quý báu, không thể để nó trôi qua một cách vô vị, phí hoài. Chưa bao giờ trong lịch sử dân tộc ta thấy ánh lên một sự thôi thúc cho cuộc sống, cảm thấy nếu mình để mất đi một phút giây là mất đi một phần của sự sống. Họ hối hả xây dựng, chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ cuộc sống và gia đình họ. Cả một đất nước tràn ngập, chứa chan sự lạc quan yêu đời. Chính vì quá lạc quan yêu đời mới cảm thấy thời gian dễ mất đi và cuộc sống của chúng ta không bao giờ trở lại, như vua Trần Nhân Tông thường nhắc nhở:

Đỗ quyên rền rĩ trăng ngày sáng
Đừng để tầm thường xuân luống qua

(Đỗ quyên đề đoạn nguyệt như trú
Bất thị tầm thường không quá xuân)

Lâu nay nhiều người thường cho rằng quan niệm thời gian của phương Đông là một quan niệm thời gian vòng tròn, thời gian luân hồi, cứ thịnh suy bĩ thái, rồi thịnh suy bĩ thái kế tục nhau, giống như xuân hạ thu đông, rồi xuân hạ thu đông. Nhưng họ đâu biết rằng bên cạnh quan niệm thời gian vòng tròn ấy, còn hiện diện quan niệm thời gian một chiều. Cứ mỗi ngày đi qua là một ngày vĩnh viễn mất đi không bao giờ trở lại, giống như mặt trăng lặn về phía Tây rồi không bao giờ có mặt trăng thứ hai của nó.

Tổ tiên ta từ xưa đã có một quan niệm thời gian rất gần với quan niệm thời gian của thời hiện đại chúng ta. Có người đã diễn tả quan niệm thời gian này bằng một hình ảnh rất sống động. Đó là thời gian giống như chiếc xe. Chiếc xe chỉ có một hướng đi tới, giống như thời gian một chiều. Nhưng để chiếc xe đi tới được thì phải có 4 chiếc bánh quay tròn bên dưới nó. Cũng vậy, thời gian một chiều đi tới, nhưng nó đi tới trên những thời gian vòng tròn, tức xuân hạ thu đông, tức thịnh suy bĩ thái.

Xuất phát từ quan niệm thời gian như vậy, mà trong chiến tranh đất nước Đại Việt đã làm nên một chiến công Chương Dương, Hàm Tử, Tây Kết, Bạch Đằng oanh liệt. Và trong thời bình họ đã xây dựng nên một cuộc sống chỉ mấy năm sau chiến tranh với những cánh đồng lúa trĩu hạt, những nương dâu xanh ngắt bốn mùa và những chiếc cầu thượng gia hạ kiều, đã làm cho tên sứ Nguyên Trần Phu phải nể phục. Quân và dân Đại Việt đã sống theo những gì mà vua Trần Nhân Tông đã đề ra trong Cư trần lạc đạo phú.

Dựng cầu đò, xây chiền tháp,
Ngoại trang nghiêm sự tướng hãy tu…
Ngay thờ chúa, thảo thờ cha,
Đi đỗ mới trượng phu trung hiếu

Dân tộc ta vào thời đại Trần Nhân Tông đã chiến đấu và xây dựng hăng say như thế, thực tế không phải vì danh vì lợi, vì thị vì phi, mà chính vì bản thân cuộc sống. Cuộc sống ngắn ngủi mà họ cho là đáng quý, đáng sống, cho nên người dân Đại Việt cố gắng sống xứng đáng với cuộc sống quý giá ngắn ngủi của mình. Chính vua Trần Nhân Tông cũng đã nói đến việc “chuộng công danh, lồng nhân ngãi, thực ấy phàm ngu” trong Cư trần lạc đạo phú. Cho nên ta không ngạc nhiên khi ở tại sơn phòng vua Trần Nhân Tông đã cảm xúc và viết ra bài thơ:

Phải trái lòng theo hoa sớm rơi
Lợi danh tâm lạnh mưa đêm thôi
Hoa tàn, mưa tạnh, non im ắng
Một tiếng chim kêu xuân hết rồi

(Thị phi niệm trục triêu hoa lạc
Danh lợi tâm tùy dạ vũ hàn
Hoa tận, vũ tình sơn tịch tịch
Nhất thanh đề điểu hựu xuân tàn)

Quên danh, quên lợi, quên thị phi, vua Trần Nhân Tông vẫn nhớ đến mùa xuân. Và chỉ một tiếng chim hót vào một buổi sáng nào đó, sau trận mưa đêm làm hoa rụng hết, đã làm vua giật mình, mùa xuân đã qua rồi. Thời gian trôi đi chóng vánh, mới ngày nào đó năm cũ mới hết, vậy mà mùa xuân bây giờ đã không còn thấy nữa. Cảm thức thời gian này là một trong những cảm thức đã chi phối mọi suy nghĩ và hành động của chính bản thân vua Trần Nhân Tông.

Trong Cư trần lạc đạo phú vua hằng mong “Nửa ngày rồi, tự tại thân tâm”. Thế mà công việc cứ dồn dập đổ tới tưởng như không bao giờ dứt. Ngay cả khi vua đến sống những nơi có vẻ như xa lánh hết mọi buộc ràng, công việc vẫn theo nhau kéo tới. ĐVSKTT 6 tờ 37a5-9 kể chuyện: “Nguyễn Quốc Phụ làm nội thư chính chưởng, là cận thần của vua Trần Nhân Tông. Trong khoảng Hưng Long (1293 -1314), chức hành khiển thiếu người, Thượng hoàng (tức vua Trần Anh Tông, LMT) chầu vua Nhân Tông ở chùa Sùng Nghiêm. Vua Nhân Tông bảo Quốc Phụ làm được, Thượng hoàng thưa: ‘Nếu lấy ngôi thứ mà nói thì được, nhưng chỉ thích uống rượu thôi’, vua Nhân Tông không nói gì. Bèn không dùng”. Và ta cũng thấy ở trên, trước lúc đi sứ ở Chiêm Thành vào tháng 10 năm Kỷ Mão (1303) Đoàn Nhữ Hài đến gặp vua Trần Nhân Tông cũng tại chùa Sùng Nghiêm này.

Một cuộc sống đầy ắp những công việc như thế, rõ ràng không vì lợi cho bản thân mình, và tất nhiên càng không thể vì danh. Có gì là lợi, khi bản thân mình thì “mặc cà sa nằm trướng giấy”, “cà một vò tương một hũ”, lợi đã không có thì làm gì có danh. Vì danh thường kết với lợi. Nhưng nói thế không phải để buông xuôi. Chỉ có vấn đề là không đặt chúng thành mục đích của cuộc sống. Cuộc sống của vua Trần Nhân Tông và nhân dân Đại Việt thời đại ấy có một mục đích khác, đó là “tự tại thân tâm”, là “an nhàn thể tính”. Nói theo ngôn ngữ hiện đại, đó là một sự theo đuổi hạnh phúc. Nhưng hạnh phúc là gì, thì mỗi người phải tự trả lời lấy. Vua Trần Nhân Tông đã xuất gia trên núi Yên Tử cũng như trong khi cầm quân chiến đấu với giặc thù ở Tây Kết, có thể vua đã cảm thấy mình tự tại an nhàn. Ai giới hạn mình mà mình không tự tại nếu không phải là chính mình. Ai ngăn trở mình mà mình không an nhàn nếu không phải là chính mình. Mình phải cải tạo chính mình và thế giới để tạo cho mình tự tại và an nhàn.

Đây chính là thông điệp mà thơ văn Trần Nhân Tông đã gửi đến cho chúng ta hôm nay và bao nhiêu thế hệ trước nữa:

Ai buộc mà đi giải thoát tìm
Không phàm sao phải kiếm thần tiên
Vượn đùa ngựa mỏi người già phải
Như cũ am mây một sập thiền

(Thùy trược cánh tương cầu giải thoát
Bất phàm hà tất mích thần tiên
Viên nhàn mã quyện nhân ưng lão
Y cựu vân trang nhất tháp thiền)

Cuộc đời vua Trần Nhân Tông và thông qua cuộc đời này, ta thấy nhân dân Đại Việt lúc ấy đã sống vui vẻ trong đất nước mình, hăng say lao động và chiến đấu để bảo vệ cuộc sống ấy. Họ không tìm một thế giới khác để thoát ly, một thế giới khác để mơ tưởng tới. Cuộc sống ở đời này quá ngắn ngủi đối với họ nên họ cố sống cho hết những giây phút vàng ngọc của cuộc đời ấy qua từng chi tiết nho nhỏ của nó. Có thể đó là những đĩa bánh cuốn mà vua Trần Nhân Tông đãi tên sứ giả giặc Trương Lập Đạo vào những ngày vừa mới quét sạch quân thù ra khỏi đất nước.

Xong múa giá chi, thử áo xuân
Hôm nay huống gặp tiết cỏ xanh
Đầy mâm bánh cuốn như hồng ngọc
Phong tục từ xưa của nước Nam

(Thác chi vũ bãi thí xuân sam
Huống trĩ kim triêu tam nguyệt tam
Hồng ngọc đôi bàn xuân thái bĩnh
Tùng lai phong tục cựu An Nam)

hay chỉ đơn giản đứng tựa lan can lặng lẽ ngắm nhìn núi xa vào một buổi chiều:

Chim hót nhởn nha hoa liễu dày
Bóng thềm nhà vẽ mây chiều bay
Chuyện đời khách đến thôi không hỏi
Cùng tựa lan can ngắm núi mây

(Dương liễu hoa thâm điểu ngữ trì
Họa đường thiền mẫn mộ vân phi
Khách lai bất vấn nhân gian sự
Cọng ỷ lan can khán thúy vi)

Thơ văn chữ Hán của vua Trần Nhân Tông đúng đã thể hiện được “một sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cảm quan triết học và cảm quan thế sự, có tinh thần lạc quan, yêu đời, tấm lòng vị tha của một nhân cách cỡ lớn và sự rung động tinh tế, lòng yêu tự do thích thảng của một nhà nghệ sĩ”, chứ không phải chỉ chứa đựng những ý tưởng “cực kỳ chán đời” như có người đã nhận xét. Vị thế văn học của vua Trần Nhân Tông từ đó là rất lớn. Với Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca, vua Trần Nhân Tông là người mở đầu một giai đoạn văn học mới của lịch sử văn học Việt Nam, đó là giai đoạn văn học, mà tiếng Việt là chủ ngữ. Không những thế, với những vần thơ chữ Hán và những tác phẩm văn xuôi sắc sảo, vua Trần Nhân Tông đã cống hiến cho ta những cảm thụ mới mẻ về những vấn đề muôn đời của con người như thời gian và sự sống.

Trên đây, chúng ta mới đề cập đến mảng văn tiếng Việt và thơ chữ Hán của vua Trần Nhân Tông. Vua còn có một mảng văn chữ Hán mà cho đến nay chưa được công bố và nghiên cứu chưa đầy đủ. Đó là 22 lá thư vua Trần Nhân Tông đã viết gửi cho vua quan nhà Nguyên, trong cuộc đấu tranh chính trị và ngoại giao với chúng để bảo vệ chủ quyền đất nước, và kéo dài thời gian để củng cố và phát triển lực lượng nhằm đối phó với cuộc chiến tranh do kẻ thù áp đặt. Trong số những lá thư này, có những lá còn giữ được nguyên vẹn, có những lá chỉ còn đoạn phiến. Điểm đặc biệt là chúng hầu hết được bảo tồn trong các tư liệu Trung Quốc, chủ yếu là Nguyên sử, Thiên Nam hành ký, Trần Cương Trung thi tập và An Nam chí lược. Phía các sử liệu nước ta hình như không bảo lưu một văn bản nào. Có chăng thì cũng chép lại văn bản từ các tác phẩm vừa nêu.

Đọc những lá thư này, điểm đầu tiên dễ nhận thấy nhất là quan điểm trước sau như một của vua Trần Nhân Tông:

Quan điểm không chịu đầu hàng giặc, không chấp nhận đánh mất chủ quyền quốc gia bằng cách thỏa mãn đòi hỏi của Hốt Tất Liệt, yêu cầu vua phải đích thân vào chầu tại Đại Đô ở Trung Quốc. Hốt Tất Liệt đã dùng nhiều mánh khóe lý luận khác nhau, từ lời dụ dỗ đường mật về quan tước mà y hứa ban cho, cho tới những lời đe dọa dùng vũ lực, và trên thực tế y đã hai lần dùng vũ lực để thực hiện ý đồ của mình, nhưng hoàn toàn thảm bại trước sức chiến đấu ngoan cường của quân và dân Đại Việt dưới sự lãnh đạo của vua Trần Nhân Tông. Không những thế, vua Trần Nhân Tông còn vạch trần bộ mặt giả nhân giả nghĩa của những lý lẽ mà Hốt Tất Liệt đưa ra.

Chẳng hạn, Hốt Tất Liệt khoe khoang rằng y đối đãi rất nồng hậu với những người chịu đến chầu, coi họ như con cái mà y có trách nhiệm thương yêu. Những sứ giả do y cử đến, đều nói lòng thương của y bao la như trời biển phủ khắp mọi nơi. Chúng thường dùng tới câu “Nhất thị đồng nhân”, tức đem lòng nhân từ ra mà thương yêu khắp hết mọi người như nhau cả. Trước những luận điệu ấy, vua Trần Nhân Tông vạch ra rằng, nếu Hốt Tất Liệt có lòng thương như thế, thì tại sao phải bắt vua vào chầu ? Bắt vua vào chầu, lỡ dọc đường chết phơi xương thì thế nào?
Điều đó chắc chắn làm tổn thương đến lòng nhân của hoàng đế thiên triều. Ta sẽ thấy trong các lá thư hai lý luận này thường được nêu ra để trả lời tại sao vua ta không chịu vào chầu Hốt Tất Liệt.

Vua Trần Nhân Tông hiểu rõ hơn bất cứ ai rằng, vào chầu tức đầu hàng giặc, tức đem chủ quyền quốc gia mà trao cho giặc. Cho nên về điểm này nhà vua dứt khoát không có sự nhượng bộ nào. Hốt Tất Liệt tưởng dùng vài ba lá thư có thể khuất phục được ý chí cương quyết bảo vệ chủ quyền quốc gia của vua Trần Nhân Tông. Nhưng y đồng thời cũng biết rằng, vài ba lá thư với lời lẽ dụ dỗ đường mật thế nào đi nữa, cũng không thể khuất phục được ý chí bảo vệ chủ quyền ấy. Cho nên, bên cạnh những lá thư đó, y đã vung sẵn lưỡi gươm qua hai lần liên tiếp xua quân tiến đánh nước ta với đám tướng lĩnh dày dạn kinh nghiệm chiến trường và hàng chục vạn quân binh thuyền bè.

Vậy mà y đã thất bại thảm hại.

Những lá thư viết cho các viên chức nhà Nguyên, mà chủ yếu là viết cho phái bộ Lương Tăng đến nước ta vào năm 1293, cũng thế. Đây là những lá thư vừa mềm mỏng, vừa đanh thép, lên án chính sách giả nhân giả nghĩa vừa nói, vạch trần những âm mưu đen tối nằm đằng sau những lời lẽ có vẻ quang minh chính đại. Một mặt khác, những lá thư này cho thấy thái độ khinh thường của triều đình ta đối với những kẻ đại diện cho thiên triều và thử thách khả năng chịu đựng của chúng.

Trong An Nam tức sự của Trần Cương Trung thi tập 2 tờ 34a3-4, Trần Phu đã kể lại việc sứ bộ của y ngay khi đến nước ta đã bị triều đình Đại Việt đưa đi theo những con đường mới phát quang nhằm gây nỗi kinh hoàng cho chúng: “Sứ thần đến nước ấy, lại không đi theo lối cũ, đều phải đục núi mở đường, trèo vượt quanh co, ý là muốn tỏ ra xa hiểm”. Chúng biết thế, mà đành phải ngậm miệng đi theo, không dám đưa ra bất cứ một đòi hỏi nào.

Rồi khi đến Thăng Long, chúng phải qua nhiều lần đấu tranh, chúng mới được đi vào cửa Dương Minh, tức là cửa chính Nam của kinh thành, thay vì phải đi vào cửa Vân Hội hay cửa Nhật Tân mà triều đình ta đề nghị, như Lương Tằng truyện của Nguyên sử 178 tờ 1b3-6 đã ghi: “Tháng Giêng năm Chí Nguyên 30 (1293) đến An Nam, Nước đó có 3 cửa. Giữa gọi là Dương Minh, trái gọi là Nhật Tân và phải gọi là Vân Hội. Bồi thần ra đón ngoài thành, sắp do cửa Nhật Tân để đi vào. Tăng rất giận, nói: ‘Đón chiếu không do cửa giữa, thế là ta làm nhục mệnh vua’. Liền trở về sứ quán. Thế rồi, mời mở cửa Vân Hội để đi vào. Tăng lại cho là không thể được. Rồi mới tự cửa Dương Minh đón chiếu vào. Tăng trách Nhật Tôn không tự mình ra đón chiếu”.

Đây có thể nói là những đòn nắn gân phái bộ thiên triều. Đòn nắn gân này trước đó vua Trần Nhân Tông đã cho Sài Thung nếm thử vào năm vua mới lên ngôi (1278), khi vua thiết yến hắn tại hành lang. Hắn tức giận trở về sứ quán. Đến khi vua ta báo sẽ thết tại điện Tập Hiền thì hắn mới đến, như An Nam truyện của Nguyên sử 209, tờ 4a11-12 đã ghi: “Nhật Huyên theo lệ cũ, thết yến ở dưới hành lang. Bọn Thung không chịu đến dự yến. Khi đã trở về sứ quán, Nhật Huyên sai Phạm Minh Tự đưa thư tạ lỗi, đổi thết yến đến điện Tập Hiền”.

Phái bộ Trương Lập Đạo đến nước ta vào năm 1291 cũng nếm thử những đòn này, dù sau đó vua Trần Nhân Tông đã tiếp đãi chúng rất vui vẻ, như chính bản thân Trương Lập Đạo đã ghi nhận trong Trương thượng thư hành lục do tên Việt gian Lê Thực chép lại trong An Nam chí lược 3 tờ 45-47.

Hai mươi hai lá thư vua Trần Nhân Tông viết cho vua quan nhà Nguyên, do thế, là một tập văn đáng cho chúng ta đọc để thấy cuộc đấu tranh ngoại giao và tư tưởng đầy cam go và thử thách giữa ta và kẻ thù. Chúng thể hiện ý chí sắt đá không chỉ của vua Trần Nhân Tông, mà của cả dân tộc ta trong việc bảo vệ chủ quyền quốc gia, cương quyết không nhượng bộ kẻ thù bất cứ dưới hình thức nào. Chúng vì vậy, có thể coi như mở đường cho sự ra đời của loại văn phục vụ trực tiếp sự nghiệp đấu tranh chính trị và quân sự, mà sau này Nguyễn Trãi nhân danh Lê Lợi đã thực hiện trong Quân trung từ mệnh tập.

Loại văn này có đặc trưng của nó. Lời văn phải vừa tao nhã mềm dẻo, lại vừa đanh thép sắc bén. Phải có đủ lý lẽ để khuất phục kẻ thù về mặt tư tưởng, đánh trúng và đánh mạnh vào những tín niệm mà chúng coi như chân lý bất di bất dịch và tưởng không bao giờ có thể bị bác bỏ. Hốt Tất Liệt đã vạch ra cho vua Trần Nhân Tông thấy rằng, ở đời làm gì có người không chết, và trên cõi đất này làm gì có nơi bất tử. Nhưng vua Trần Nhân Tông cũng vạch cho y thấy rằng vấn đề không phải là chết hay không chết, mà vấn đề nằm ở chỗ cái chết ấy có lợi hại gì cho ai không.

Cũng như Hốt Tất Liệt tự hào về lòng nhân từ của y mà bao nhiêu đám quần thần xung quanh ra sức hết lời ca tụng, thì vua Trần Nhân Tông vạch ra rằng nếu y có một lòng thương như thế thì làm sao phải bắt vua vào chầu? Hốt Tất Liệt trả lời vào chầu sẽ được ban thưởng tước vị trọng hậu. Vua Trần Nhân Tông đáp lại rằng, vua không những muốn được ban thưởng trọng hậu mà chính mắt mình muốn thấy được quang cảnh Trung Quốc, song chỉ sợ chết dọc đường thì sự ban thưởng có ích gì nữa. Chết dọc đường thì đối với bản thân vua Trần Nhân Tông đã không có lợi, mà ngay cả đối với Hốt Tất Liệt cũng chẳng có lợi gì, thậm chí còn làm tổn thương đến lòng nhân từ bao la của y.

Những lá thư này không chỉ lý luận để khuất phục kẻ thù, mà còn tố cáo tội ác của chúng đối với nhân dân Đại Việt.

Trong lá thư gửi cho vua Nguyên vào năm 1291 do Từ Minh Thiện chép lại trong Thiên Nam hành ký ở Thuyết phu 51 tờ 18b 6-7 vua Trần Nhân Tông đã kể những hành động tàn bạo cướp của giết người đốt nhà phá chùa của Ô Mã Nhi: “Đến mùa đông năm Chí Nguyên 24 (1287) lại thấy đại quân thủy bộ cùng tiến, thiêu đốt chùa chiền khắp nước, đào bới mồ mả tổ tiên, bắt giết người dân già trẻ, đập phá sản nghiệp trăm họ, các việc tàn ngược không gì là không làm (…). Tham chính Ô Mã Nhi lâu nắm quân thuyền, riêng ra ngoài biển, bắt hết biên dân vùng biển, lớn thì giết, nhỏ thì bắt đi, đến nỗi treo trói mổ xẻ, thân một nơi đầu một ngã”. Đây có thể nói là bản cáo trạng đầu tiên về tội ác chiến tranh do những tên xâm lược hiếu chiến gây ra, và nhất định chúng phải bị nhân dân ta trừng phạt đích đáng, mà lá thư năm 1291 gửi cho vua Nguyên đã chỉ ra.

Những lá thư vua Trần Nhân Tông viết cho vua quan nhà Nguyên, như thế có một vị trí văn học nhất định. Đặc biệt chúng đã đi đầu, tạo nên thể loại văn học mà sau này Quân trung từ mênh tập đã kế thừa và phát huy tới đỉnh cao hiệu lực của nó trong sự nghiệp đấu tranh với quân thù. Đây là loại văn học vừa đánh vừa đàm. Trọng lượng của lời nói trong những lá thư đàm phán được quyết định bằng những chiến thắng ngoài mặt trận. Nói cách khác, lời nói phải được yểm trợ và thể hiện bằng những hành động bạo lực. Cho nên, có những lúc, có những nơi dù lời nói có chính nghĩa, mà không có bạo lực thành công, đặc biệt trong quan hệ bang giao giữa hai nước, cũng không đạt được mục tiêu nó nhắm tới, là bảo vệ chính nghĩa, bảo vệ chủ quyền quốc gia.

Những lá thư trên do vậy, có một vị trí văn học hết sức to lớn. Vị trí này cho đến nay vẫn chưa được đánh giá đúng mức, thậm chí có nơi còn lệnh lạc, đặc biệt là trong các giáo trình văn học sử Việt Nam. Cho nên chúng tôi nhấn mạnh một lần nữa ở đây để điều chỉnh lại cách đánh giá, nhằm làm rõ hơn những cống hiến đặc sắc mà vua Trần Nhân Tông đã đóng góp cho lịch sử văn học dân tộc ta. Đây cũng chính là lý do để cho chúng tôi sưu tập và công bố toàn bộ các lá thư do vua Trần Nhân Tông gửi cho vua quan nhà Nguyên. Từ trước tới nay, những lá thư này chưa hề được sưu tập và công bố một cách trọn vẹn, tối thiểu là trong giới hạn những tư liệu mà ta hiện biết.

Lối văn chữ Hán của những là thư này ít nhiều chịu ảnh hưởng văn phong tiếng Việt, đặc biệt có một số cấu trúc mà ta đã tìm thấy trong Lục độ tập kinh. Chẳng hạn trong lá thư thứ 5, theo cách đánh số của chúng tôi dưới đây, có câu: “Bất năng thân kiến mạc quan, nhiên trung tâm hân hạnh”. Cấu trúc trung tâm hân hạnh này là một cấu trúc tương đối đặc biệt. Dạng trung tâm chỉ thấy xuất hiện trong Kinh Thi, rồi sau đó trong bản dịch Lục độ tập kinh của Khương Tăng Hội.

Thế mà đến thế kỷ thứ 13, ngoài lá thư thứ 5 của vua Trần Nhân Tông vừa dẫn, ta còn gặp trong lá thư của vua Trần Thánh Tông viết gửi cho Hốt Tất Liệt vào tháng giêng năm Chí Nguyên thứ 12 (1275) chép trong An Nam truyện của Nguyên sử tờ 3b2-10 với câu “trung tâm hỷ duyệt”. Đây rõ ràng biểu thị ảnh hưởng của Lục độ tập kinh. Trong thơ của Tuệ Trung Trần Quốc Tung, ảnh hưởng của kinh này rất rõ qua bài Vật bất năng dung.

Như vậy, thông qua những văn thư ngoại giao ấy ta còn biết thêm về những ảnh hưởng của kinh điển Phật giáo đối với loại văn chính luận không chỉ của vua Trần Nhân Tông, mà còn của những nhà thơ, nhà văn khác của triều Trần. Không chỉ có thế, những hình ảnh vua Trần Nhân Tông dùng trong văn thơ ngoại giao này bộc lộ ít nhiều quan điểm đánh giá của vua đối với Hốt Tất Liệt. Trong những lá thư, ta đọc thấy vua tự xưng mình là “bề tôi nhỏ bé” của Hốt Tất Liệt, nhưng hình ảnh mà vua dùng để có vẻ ca ngợi Hốt Tất Liệt thì hóa ra đó là một hình ảnh chê bai bóng gió.

Ta nhiều lần bắt gặp vua Trần Nhân Tông nói đến Hốt Tất Liệt như “núi biển bao hàm, dơ bẩn chứa hết”(Văn thư số 9), hoặc “với lượng càn khôn bao chứa đồ dơ” (Văn thư số 20). Rõ ràng qua những lần xâm lược nước ta, lòng dạ Hốt Tất Liệt dĩ nhiên toàn bao chứa “đồ dơ” cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.

Các văn thư ngoại giao của vua Trần Nhân Tông, do thế, đáng được đọc và nghiên cứu kỹ, để thấy sự sâu sắc và hoành tráng của một con người đã từng dựng nên một thời đại anh hùng của dân tộc. Đấy là con người vừa kiên cường bất khuất, vừa mềm dẻo thâm trầm, đầy lòng độ lượng vị tha nhưng cũng tràn trề ý chí quyết chiến quyết thắng, cương quyết đè bẹp mọi ý đồ xâm phạm chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ. Chúng tôi công bố toàn bộ các văn thư hiện thu thập được với mục đích như thế.
___________________

Thiền sư Lê Mạnh Thát

Trích từ "Trần Nhân Tông con người & Tác phẩm" – Lê Mạnh Thát

Nguồn: phatgiao.org.vn

VỀ ĐẤT KHỞI NGHIỆP NHÀ TRẦN

Nhiều năm lần theo dấu xưa của nàng Huyền Trân, Công Chúa nhà Trần mở đất Thuận Hóa, hễ có dịp là tôi lại trở về xứ Bắc; trở về để được viếng đền thờ các vua anh hùng nhà Trần ở làng Tức Mặc, nơi ấy nay thuộc phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định.

Người Việt dẫu xa quê mấy đời vẫn giữ thói thường tận trong sâu thẳm, mỗi khi trở về cố hương, kính cẩn viếng thăm nơi thờ tự tổ tiên thì viếng luôn mồ mả của các vị anh hùng, liệt nữ, chỗ người xưa nằm. Tôi cũng vậy. Và trộm nghĩ rằng: “Bổn mộc thủy nguyên”, cây có gốc, nước có nguồn, có cổ mới có kim, có tiền nhân mới có hậu thế, việc ấy rất đáng phải làm lắm.

 

Đầu xuân năm Canh Dần 2010, tôi lại ra Tức Mặc. Mới hay, tổ tiên mấy đời xa trước của họ Trần đứng chân ở làng Thái Đường, tức hương Tinh Cương, thuộc lộ Long Hưng – nay là Tam Đường, xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Một vòng lướt quanh làng đã thấy hiện lộ, đền miếu thờ tự, lăng vua mộ tướng ngày xưa vẫn còn.

 

Thì ra, sự tích lưu truyền bởi có căn nguyên, dấu tích hiển nhiên là chứng cứ, mà quốc sử cũng đã ghi rằng: Đất Tinh Cương nhà Trần khởi nghiệp.

 

Là dân quê xứ Huế, ở cuộc đất vốn chọn làm vật sính lễ dẫn cưới Công Chúa Huyền Trân của vua Chiêm, tôi đã về Tinh Cương nhiều lần. Mỗi lần về đây tôi thường lội ra cánh đồng thấp trũng trước làng Tam Đường, thắp hương viếng mộ ba vị vua anh hùng đầu triều Trần. Nhìn dãy mộ ba vị vua kiệt hiệt chống Nguyên Mông, trầm mặc xếp hàng như ba trái núi nhỏ nằm giữa cánh đồng, tôi thấy nao lòng. Ôi những anh hùng kiệt hiệt chống ngoại xâm đang yên nghỉ nơi đây! Phải chăng linh mạch khởi nghiệp từ đất Tinh Cương cũng chính là chốn cát địa dẫn lối quay về nơi yên giấc ngàn thu của các bậc đế vương nhà Trần? Phải mấy lần đứng trước án thờ vị vua mở nghiệp Trần Thái Tông ở Tam Đường, tôi mới được biết rằng: Họ Trần nước ta, viễn tổ xa xưa sống ở vùng Yên Sinh, thuộc tỉnh Quảng Ninh bây giờ. Mấy đời làm nhà trên sông nước, theo nghề chài lưới. Đến giữa cuối thế kỷ XI, đời vua Lý Nhân Tông, cụ Trần Kinh rời đất Yên Sinh, thả con thuyền trôi theo các dòng sông, về vùng Hải Thanh (sau đổi là Thiên Trường), nhập cư vào hương Tức Mặc, lấy vợ, sinh con đẻ cái.

 

Cụ Trần Kinh sinh được hai trai: Trần Hấp là anh, Trần Tự Duy là em. Nối nghề cha, anh em Trần Hấp vẫn lấy con thuyền làm nhà, theo đuôi con cá. Năm tháng côi qua, cụ Trần Kinh tuổi già mà mất, người ta rước cụ ra táng ở cồn đất thuộc hương Tức Mặc.

 

Trần Hấp lo xong tang lễ cho cha, chống thuyền ngược sông Hồng lên vùng Hải Ấp, quăng chài bủa lưới.

 

Vùng Hải Ấp - đất Thái Đường xưa mà người đời thường truyền tụng là chốn có nhiều mả sao. Bởi quanh vùng này nổi lên vô số gò đống, ở trên các gò ấy có những chòm cỏ xanh hình tròn, từ xa nhìn lại trông giống như hình những ngôi sao. Vì những gò đống ấy mà khi lập làng, người xưa đã lấy tên chữ là hương Tinh Cương (hương ở đây có nghĩa là làng; tinh là ngôi sao; cương là gò đất nổi). Trong quá trình bồi đắp, phù sa đã tạo nên cho Tinh Cương thế địa mà theo cách nhìn của nhà phong thủy: “Tiền có tam thai, hậu có thất tinh, nam có voi phục, bắc có phượng chầu”, là chốn linh khí phúc địa, sau này ắt sẽ phát giàu, phát tướng, phát vương.

 

Sông nước đẩy đưa con thuyền, anh em Trần Hấp đến đất Tinh Cương. Trần Tự Duy sống bên Lưu Gia, Trần Hấp sang Thái Đường, hai ấp chỉ cách nhau chừng nửa dặm, buông chài thả lưới.

 

Chuyện xưa kể rằng: Một buổi sớm mùa thu năm ấy, Trần Hấp chống thuyền qua bãi nổi, ông trông thấy một chiếc rọ tre mắc cạn, cùng lúc lại nghe tiếng người kêu cứu, ông vội cho thuyền đến ngay. Trong chiếc rọ ấy nhốt một người đàn ông khoảng ngũ tuần, bị trói co quắp, sắp chết vì lạnh. Bẩm tính nhân hậu, gặp cảnh thương tâm, Trần Hấp bàn với vợ tìm cách cứu người. Mặc dù kiếm ăn khó nhọc, nhưng Trần Hấp vẫn quyết dốc sạch cắc bạc cuối cùng tìm thầy cứu chữa. Sau mấy ngày thuốc thang cơm cháo, người gặp nạn phục hồi khí lực. Thấy gia cảnh Trần Hấp bần hàn, lênh đênh sông nước, nhưng lại giàu lòng từ bi, ông mới kể rằng: Ông là thầy địa lý (sử cũ chép là Khách nhân), từ phương Bắc sang Đại Việt tìm đất phong thủy. Đến vùng này thấy có một gò hỏa tinh nổi trên mặt nước, chung quanh có nhiều gò nhỏ quần tụ chầu vào gò lớn, ông nghĩ rằng: giữa vùng sông nước, gần với đất bằng mà có những gò đống nổi lên, hẳn không thể là nơi hung dữ. Quan sát kỹ, ông thấy linh khí từ gò hỏa tinh bốc lên ngùn ngụt.

 

Bấy giờ, ở thôn Tây Nha gần đấy có nhà giàu Nguyễn Cố, người từng thuê thầy địa tìm cát địa đặt mộ tổ. Nghe tiếng, Khách nhân tìm vào nhà Nguyễn Cố xin ở lại vài ngày. Biết ông là thầy thuật số, Nguyễn Cố muốn lấy lòng, mở tiệc thiết đãi tử tế. Nhân đấy Khách nhân bày cho Nguyễn Cố, hãy dời mộ tổ tiên đến táng ở gò Hỏa Tinh. Và quả quyết rằng, chỉ một thời gian ngắn nhất định gia tộc Nguyễn Cố sẽ phát (không làm vua thì cũng nhất phẩm triều đình); khi thành đạt, giàu sang Khách nhân mới tính chuyện tiền nong.

 

Nghe theo lời thầy địa lý, Nguyễn Cố bí mật dời mộ tổ tiên, âm thầm táng vào gò Hỏa Tinh. Xong việc, mở tiệc tiễn Khách nhân về nước…

 

Ba năm sau Khách nhân lại đến Long Hưng. Ông muốn xem gia tộc Nguyễn Cố có gì biến đổi, cốt là để kiểm chứng lời phán của mình có ứng nghiệm. Sự xuất hiện của thầy địa làm cho vợ chồng Nguyễn Cố lo sợ vỡ chuyện phong thủy ở gò Hỏa Tinh. Vợ chồng họ bàn nhau, tối ấy đãi thầy bữa rượu thịt no say, rồi tìm cách hại chết thầy.

 

Bữa cơm tri ân ấy thành ra bữa tiệc máu. Nguyễn Cố phục cho thầy địa say chí tử, rồi trói lại, nhốt vào cái rọ tre, đem thả trôi sông những mong dìm chết. Nhưng mệnh ông thầy này chưa dứt. Buổi ấy nước triều đang xuống cạn, rọ tre trôi dạt vào cồn cát. Gặp lúc Trần Hấp chống thuyền ngang qua nghe tiếng kêu nên đã ra tay cứu giúp.

 

Để trả ơn cứu mạng, thầy địa mới hiến cho Trần Hấp một kế, đưa mộ tổ tiên đến táng ở gò Hoa Tinh. Nếu quyết làm theo thì gia tộc Trần Hấp nhất định sẽ thành tựu, lưu danh muôn thuở. Đồng thời ông lại đến nhà Nguyễn Cố trong một buổi chiều u ám. Nguyễn Cố thấy ông xuất hiện, cứ tưởng hồn ma, sợ hãi sụp lạy xin tha mạng. Thầy địa nói với Nguyễn Cố, số tôi có trời phù hộ, không thể chết được. Mấy năm trước tôi khuyên ông táng mộ cha vào gò Hỏa Tinh, vội quá nên chưa bày hết thuật. Nay lại sang cốt chỉ bày tiếp để được ứng nghiệm. Nhưng ông đã phản phúc, phản thầy, giết người bịt miệng. Sự nghiệp tạo dựng chưa thành đã tiêu tan. Muốn bình yên thì ông phải sám hối, cầu nguyện thần linh long mạch hóa giải. Nếu ông thành tâm thì nghe ta nói đây: Mấy hôm nữa, hễ trời nổi giông tố, vào lúc mưa lặng gió dừng, ông ra mộ cha ở gò Hỏa Tinh mà thấy những đường nứt nẻ, máu chảy đỏ dòng thì phải dời ngay, để chậm họa chết cả nhà.

 

Thầy địa lại dặn Trần Hấp, khi mưa gió nổi lên, ông ra mộ cha Nguyễn Cố rạch mấy đường ngang dọc, rồi lấy máu chó đổ xuống. Nguyễn Cố ra xem, thấy vậy sẽ dời ngay. Sau quả đúng như thầy địa đã bày.

 

Theo thuật kế của thầy địa lý, Trần Hấp trở về hương Tức Mặc, lẳng lặng dời mộ cụ Trần Kinh đưa sang Long Hưng. Vào ngày Tân Dậu, tháng Đinh Tỵ, năm Quí Sửu, triều Lý Thần Tông, niên hiệu Thiên Chương Bảo Tự thứ nhất, 1133, Trần Hấp bí mật làm lễ táng di cốt cụ Trần Kinh vào gò Hỏa Tinh. Để tiện việc trông nom hương khói và đề phòng người nhà Nguyễn Cố nghi ngờ đào phá long mạch, Trần Hấp bèn dựng lều bên cạnh mộ cha vừa để ở, vừa canh chừng.

 

Âm trạch táng cụ Trần Kinh được thầy địa lựa chọn tọa thế:

 

“Phấn đại dương giao chiếu

Liên hoa đối diện sinh

Tha nhật nhân dĩ sắc

Đắc thiên hạ do tình”.

Nghĩa là:

(Phấn son chiếu dọi vừng dương

Hoa sen đối mặt nở bừng thắm tươi

Mai này nhờ sắc của người

Chiếm được thiên hạ không rời tình yêu).

 

Thế địa này ẩn ý rằng, sau này (họ Trần) ắt nhờ một người con gái có nhan sắc mà đoạt được thiên hạ.

 

Bỏ qua tất cả chuyện phong thủy đi tìm cát địa đặt mộ của họ Trần, chắt lọc tính uyên nguyên của sự tích, ta thấy được phần nào nguyên nhân bấy giờ mà cụ Trần Hấp dời nhà từ hương Tức Mặc đến định cư ở làng Thái Đường, thuộc lộ Long Hưng.

 

Năm tháng lưới chài thuộc mọi luồng lạch dòng sông, nhờ vận đến và biết sống tiện tặn thu xếp, gia cảnh Trần Hấp ngày một khá lên, trở nên giàu có, nổi tiếng trong vùng.

 

Cụ Trần Hấp đến ấp Thái Đường, sinh được hai người con: Trần Lý là anh, Trần Nghị là em. Cả hai đều là những chàng trai tuấn tú, chịu khó học hành. Bấy giờ gia đình cụ Trần Hấp tạo lập ruộng vườn vô số, kẻ ở người làm đông đến vài trăm. Nhờ phúc ấm, anh em Trần Lý bỏ hẳn nghề chài lưới, sống với điền trang, tuyển mộ người dưới, mở mang việc học cả văn lẫn võ. Gia tộc họ Trần ở Tinh Cương dần dần có địa vi, trở thành tầng lớp trên của xã hội bấy giờ.

 

Người con cả của cụ Trần Hấp là Trần Lý, đến tuổi trưởng thành Trần Lý lấy Tô Thị Hiền, con gái của Tô Tân, một hoa khôi nhất làng Lưu Gia, sinh được bốn người con: Trần Thừa, Trần Tự Khánh, Trần Thị Dung, Trần Thị Tam Nương.

 

Tô Thị Hiền có người em ruột là Tô Trung Từ, giữ chức Thái úy Phụ chính, tước Thuận Lưu bá, dưới triều Lý Huệ Tông.

 

Người em là Trần Nghị lấy vợ họ Phùng, cùng thôn Lưu Gia, sinh ba người con: Trần An Quốc, Trần An Hạ, Trần Thủ Độ.

 

Trần Thừa là huynh trưởng, phái đại tông, sớm phải gánh vác chức trách kế nghiệp nhà, kịp khi vừa lớn, ông lập chính thất với người họ Lê, con gái của Lê Điện, làm quan Thái phó triều Lý. Trần Thừa và Lê Thị sinh được ba trai: Trần Liễu, Trần Cảnh, Trần Nhật Hiệu, hai ái nữ là Thụy Bà và Thiên Thành…

 

Vào những năm đầu thế kỷ XIII, vận hạn triều Lý bắt đầu mục rỗng, vua tôi bất tín, dân chúng lầm than, nạn cướp bóc mọc lên như nấm. Trong triều gian thần lộng quyền, vua thì ham mê tửu sắc, chính sự tan nát. Dẫn đến tháng 7 năm Kỷ Tỵ, 1209, nổ ra loạn Quách Bốc đem quân đánh thốc vào kinh thành Thăng Long. Vua Cao Tông đang đêm phải rời cung chạy lên vùng núi Qui Hóa, Hoàng Thái hậu Đàm Thị và Thái tử Sảm dạt về miền biển Long Hưng tránh họa. Bấy giờ được sự hộ giá của tướng quân Đỗ Quảng, Thái tử Sảm đến thôn Lưu Gia, trú ở nhà Lê Mỵ. Một hôm, Thái tử bơi thuyền dạo chơi ngang ấp Thái Đường, nghe tiếng Trần Thị Dung con gái nhà giàu Trần Lý, sắc đẹp tài hoa hơn người, sai bầy tôi thân tín vời Thị Dung đến hành cung, mới thấy mặt người đẹp Thái tử Sảm liền thích ngay, bèn quyết lấy làm vợ. Nhân đấy trao cho nhạc phụ Trần Lý tước Minh Tự, cho cậu của vợ là Tô Trung Từ làm Điện tiền chỉ huy sứ. Sau buổi ấy, anh em họ Trần, họ Tô liền họp hương binh Tinh Cương dẹp loạn Quách Bốc, dựng cờ phò nhà Lý, rước Thái tử trở về Thăng Long, khôi phục chính thống.

 

Tháng 10 năm Canh Ngọ, 1210, vua Cao Tông bệnh hoạn không chữa khỏi mà băng. Thái tử Sảm lên ngôi trước linh cửu, tức Lý Huệ Tông, bấy giờ vua mới 16 tuổi. Trước tình thế vua mới nối ngôi, triều đình năm phe bảy phái, rối loạn khắp nước. Trần Lý quyết dốc toàn lực phò vua, dẫn binh dẹp loạn, nhưng chẳng may ông bị giặc giết, vua thương tiếc vô cùng. Sự nghiệp dở dang của tướng quân Trần Lý đành phó mặc cho người con trai thứ là Trần Tự Khánh gánh vác.

 

Lại nói về vua Lý Huệ Tông, từ ông hoàng sa cơ chạy loạn, may nhờ anh em họ Trần, họ Tô phò tá mà lên nối ngôi vua. Sau khi yên vị, được mấy tháng liền sai bầy tôi là Phạm Bố về Thái Đường đón người đẹp Trần Thị Dung vào cung, lập làm Nguyên phi; lại cho Tô Trung Từ làm Thái úy Phụ chính, anh của phi là Trần Tự Khánh làm Chương Tín hầu.

 

Trải mấy năm xông pha dưới đao tên, đánh đông dẹp bắc, trung hưng triều Lý, công đầu thuộc về anh em họ Trần, có sự giúp sức của anh em họ Tô. Tháng 12 năm Bính Tý, 1216, Lý Huệ Tông phong Trần Thị Dung làm Hoàng hậu, Chương Tín hầu Trần Tự Khánh làm Thái úy Phụ chính, anh cả của Hoàng hậu là Trần Thừa làm Nội thị Phán thủ.

 

Hoàng hậu Trần Thị Dung sinh được hai công chúa: Thuận Thiên và Chiêu Thánh. Thuận Thiên sau là Lý Thuận Thánh, lấy Trần Liễu; Chiêu Thánh sau là Lý Chiêu Hoàng, lấy Trần Cảnh. Cả hai nàng đều nổi tiếng xinh đẹp nhất kinh thành. Vậy là hai chị em công chúa con vua Lý Huệ Tông, lấy hai anh em ruột con của đại điền chủ Trần Thừa. Lúc ấy ở Thăng Long bắt đầu có chuyện anh em cô cậu ruột mà lại lấy nhau…

 

Nước nhà đương buổi loạn ly, nghiêng ngửa. Vua Lý Huệ Tông mới ngoài hai mươi, thể lực suy nhược, mắc bệnh trúng phong đã mấy năm, ngự y chữa thuốc không khỏi, lại chưa có thái tử nối ngôi. Rồi bệnh vua nặng dần, có lúc vua nói như thiên tướng nhập vào, tay cầm giáo và mộc, cắm cờ nhỏ vào tai, phát điên nhảy múa cả ngày, chính sự không thể màng đến được, mọi việc giao hết cho Thái úy Trần Tự Khánh quyết định. Thế là quyền lớn của nhà Lý chuyển dần về tay họ Trần.

 

Nhưng cũng như cha mình là Trần Lý, sự nghiệp cơ đồ còn dở dang thì tháng 12 năm Quí Mùi, 1223, Trần Tự Khánh chẳng may chết sớm, hưởng dương mới 40 tuổi, đưa thi hài về chôn ở Thiên Trường, sau được truy phong Kiến Quốc đại vương. Tự Khánh vừa mất, vua Lý Huệ Tông liền phong Trần Thừa làm Phụ quốc Thái úy, khi vào chầu miễn cần xưng tên.

 

Qua năm Giáp Thân, 1224, bệnh vua Huệ Tông càng nặng, không có con trai nối nghiệp lớn tiên tổ, đành ủy nhiệm cho Trần Thủ Độ, lúc này đang giữ chức quan trong nội, làm Chỉ huy sứ, lãnh các quân Điện tiền mà hộ vệ cấm binh. Quyền bính nhà Lý chuyển dần về tay Trần Thủ Độ từ cơ hội này.

 

Mùa đông tháng 10 năm ấy, cực chẳng đã vua phải xuống chiếu lập Công chúa Chiêu Thánh làm Hoàng Thái tử để truyền ngôi. Thế rồi Lý Huệ Tông xuất gia ra ở chùa Chân Giáo trong đại nội làm Thái Thượng hoàng. Chiêu Thánh lên ngôi, tôn hiệu là Chiêu Hoàng. Liền đấy, Chiêu Hoàng ban lệnh chọn con em của các quan viên trong ngoài sung vào các sắc dịch trong nội.
Theo chính sử thì buổi ấy, Trần Thủ Độ nắm quyền nội ngoại, là người quyết đoán, dám làm chuyện lớn; cháu gọi Thủ Độ bằng chú là Trần Cảnh, con thứ của Trần Thừa, mới vừa 8 tuổi, được chọn vào làm Chánh thủ, trực hầu bên ngoài cung vua. Một hôm đến phiên giữ việc bưng nước rửa, nhân thế mà vào hầu bên trong. Lý Chiêu Hoàng trông thấy yêu lắm, vẫy đến chuyện trò. Mỗi khi vua chơi đêm, hay cho gọi Trần Cảnh đến cùng chơi; thấy Cảnh chỗ tối thì chạy đến trêu chọc, hoặc nắm lấy tóc, hoặc đứng vào bóng. Có một hôm Trần Cảnh bưng chậu nước đứng hầu, Chiêu Hoàng rửa mặt, lấy tay té nước ướt cả mặt rồi trêu cười, đến khi Trần Cảnh bưng khăn trầu thì vua lấy khăn ném cho Cảnh. Cảnh không dám nói gì, về mách ngầm với Thủ Độ, Thủ Độ nói: “Nếu thực có thế thì họ ta làm vua chăng? Chết cả họ chăng?”. Lại một hôm, Chiêu Hoàng lấy khăn trầu ném cho Trần Cảnh, Cảnh sụp xuống lạy nói: “Bệ hạ có tha tội cho thần không? Thần xin vâng mệnh”. Chiêu Hoàng cười và nói: “Tha tội cho ngươi. Nay ngươi đã biết nói khôn rồi đó”. Cảnh lạy, lui về báo cho Thủ Độ biết. Thủ Độ sợ việc tiết lộ ra thì bị giết cả họ. Bấy giờ Thủ Độ mới tự đem gia thuộc thân thích vào trong cung cấm, sai đóng cửa thành và các cửa cung, cắt người coi giữ. Các quan chực chầu không được vào. Thủ Độ loan báo rằng: “Bệ hạ đã có chồng rồi”. Các quan đồng lòng đều nói là được, xin chọn ngày 21 tháng ấy, vào chầu lạy mừng. Sắp đặt xong mọi việc chưa từng có trước đó, Trần Thủ Độ mới tâu vua nên tuyên chỉ. Lý Chiêu Hoàng liền xuống chiếu rằng: “Từ xưa nước Việt ta, đã có đế vương trị thiên hạ. Nghĩ triều Lý ta vâng chịu mệnh trời, gồm có bốn biển, các Tiên thánh truyền nối hơn hai trăm năm, chỉ vì Thượng hoàng có bệnh, không người nối dõi, thế nước gian nguy, sai trẫm nhận minh chiếu, cố gượng lên ngôi, từ xưa đến giờ, chưa từng có việc ấy. Khốn nỗi, trẫm là nữ chúa, tài đức đều thiếu, không có người giúp đỡ, giặc cướp nổi lên như ong, giữ thế nào nổi ngôi báu nặng nề? Trẫm dậy sớm thức khuya, chỉ sợ không cáng đáng nổi, vẫn nghĩ tìm người hiền lương quân tử cùng giúp chính trị, đêm ngày khẩn khoản, đến thế là cùng cực rồi. Nay trẫm suy đi tính lại một mình, duy có Trần Cảnh là người văn chất vẹn tuyền, thực là thể cách hiền nhân quân tử, uy nghi chễm chệ, có tư chất thánh thần văn võ, dù đến Hán Cao Tổ, Đường Thái Tông cũng không hơn được, sớm tối nghĩ kỹ, xét nghiệm từ lâu, nên nhường ngôi báu, để thuận lòng trời... Mong rằng bách tính đồng lòng, các bầy tôi hết sức cùng giúp việc nước, để hưởng phúc thái bình. Vậy bố cáo thiên hạ, để mọi người biết”.

 

Ngày 11 tháng 12, năm 1225, Chiêu Hoàng thiết triều ở điện Thiên An, ngự trên bảo sàng, các quan vào chầu lạy ở dưới sân. Chiêu Hoàng trút bỏ ngự y, khuyên mời phu quân Trần Cảnh lên ngôi hoàng đế. Vua mới lên ngôi đổi niên hiệu làm Kiến Trung, đại xá thiên hạ, xưng là Thiên Hoàng. Phong cho Trần Thủ Độ làm Quốc Thượng phụ, coi sóc việc thiên hạ. Thủ Độ nói: “Hiện nay giặc cướp đều nổi, họa loạn mỗi ngày càng thêm. Nhà Lý suy yếu, thế nước nghiêng đổ nguy ngập, nữ chúa Chiêu Hoàng không gánh vác nổi, mới ủy thác cho Nhị lang (Trần Cảnh). Nhị lang lại là người chưa am hiểu việc nước, chính sự nhiều chỗ thiếu sót, vận nước mới mở, lòng dân chưa phục, mối họa không phải là nhỏ. Ta tuy là chú, không biết chữ nghĩa gì, còn phải bôn đông tẩu tây để chống với bọn giặc cướp, không gì bằng mời Thánh phụ tạm coi việc nước làm Thượng hoàng, một hai năm sau, thiên hạ nhất thống, giao trả lại quyền cho Nhị lang”.

 

Lời bàn ấy của Trần Thủ Độ, các quan đều cho là phải. Liền sai sửa soạn thuyền xe về phủ Tinh Cương đón Thánh phụ Trần Thừa vào nhiếp chính.

 

Như vậy, cho đến lúc Trần Cảnh lên ngôi Hoàng đế ở thành Thăng Long, Thánh phụ Trần Thừa vẫn bám trụ tại đất Tinh Cương.

 

Tục truyền rằng vua Lý Thái Tổ khi mới được thiên hạ, xá giá về Cổ Pháp, ngự chơi chùa làng Phù Đổng, có thần nhân đề thơ ở cột chùa rằng: “Nhất bát công đức thủy/ Tùy duyên hóa thế gian/ Quang quang trùng chiếu chúc/ Một ảnh nhật đăng san”. Nghĩa là: Một bát nước công đức của Phật, theo cơ duyên sinh thành thế gian. Vằng vặc hai lần đuốc so sáng; mặt trời gác núi là hết bóng. Sư Vạn Hạnh đương trụ trì chùa ấy liền đem bài thơ dâng lên vua, Lý Thái Tổ xem xong rồi nói: “Việc của thần nhân thị không thể hiểu được”. Người đời truyền tụng, không ai biết thơ ấy nói ẩn ý thế nào. Đến khi họ Lý mất mới cho bài thơ ấy là nghiệm. Vì từ Lý Huệ Tông trở lên đến Lý Thái Tổ là tám đời, mà Huệ Tông húy là Sảm (chữ sảm, chiết tự, nghĩa là mặt trời gác núi). Thế là sau 216 năm trị vì đất nước, nhà Lý mất ngôi, mở đầu sự nghiệp hưng vận oai hùng của nhà Trần.

 

Đến đây mới thấy rằng, âm trạch ở gò Hỏa Tinh táng mộ cụ Trần Kinh có thế “Phấn đại dương giao chiếu/ Liên hoa đối diện sinh…”, mới chỉ gần một thế kỷ mà họ Trần đã làm chủ cả thiên hạ. Xem ra lời sấm của Khách nhân năm xưa thực có ứng nghiệm.

 

Trần Cảnh nhận vương vị từ Lý Chiêu Hoàng, lên ngôi vua. Hơn mười năm sau, Hoàng hậu Chiêu Thánh vẫn chưa có con nối nghiệp; trong thế buộc phải làm, từ ngôi hoàng hậu, bà bị phế xuống làm thân phận công chúa, rồi ở vậy đến hơn hai mươi năm sau vua mới thưởng gả bà cho công thần Lê Phụ Trần, dòng dõi nhà Tiền Lê. Thực hiện theo khổ kế của Trần Thủ Độ, Trần Cảnh bị ép lấy Thuận Thánh, vợ của Trần Liễu lúc này đã có thai ba tháng, sắc phong làm Hoàng hậu. Mấy tháng sau, Thuận Thánh sinh ra Trần Quốc Khang (Quốc Khang lớn lên được nhận đất phong ở trại Diễn Châu, Nghệ An, làm chủ một vùng rộng lớn). Ba năm sau Hoàng hậu Thuận Thánh lại sinh ra Trần Hoảng, người kế thừa nghiệp lớn về sau, tức vua Trần Thánh Tông.

 

Tháng 2 năm Mậu Ngọ, 1258, Trần Hoảng lấy con gái thứ năm của Trần Liễu; sau Trần Hoảng lên ngôi, bà được phong làm Hoàng hậu, hiệu là Nguyên Thánh Thiên Cảm, sinh ra Trần Khâm, tức vua Nhân Tông.

 

Tháng 12 năm Giáp Tuất, 1274, Trần Khâm lấy trưởng nữ Quyên Thanh của Trần Quốc Tuấn, sau được phong lên ngôi Hoàng hậu, hiệu là Khâm Từ, sinh ra Trần Thuyên, tức vua Anh Tông… Kế tục nghiệp lớn, họ Trần làm vua nước Đại Việt được 12 đời (về sau kể thêm 2 vua Hậu Trần dấy binh khởi nghĩa chống nhà Minh đầu thế kỷ XV là 14 đời vua) tổng cộng 175 năm có lẻ.

 

Trở lại nơi táng mộ tổ của họ Trần ở gò Hỏa Tinh. Năm 1133, Trần Hấp dời mộ cụ Trần Kinh từ hương Tức Mặc, Nam Định sang Long Hưng, Thái Bình. Khi Trần Hấp mất cũng được chôn ở nơi ấy. Năm 1210, Trần Lý dẫn quân dẹp loạn, bị giặc giết đưa về táng ở gò Tinh Cương. Ngày 18 tháng Giêng năm Giáp Ngọ, 1234, Thượng hoàng Trần Thừa băng ở cung Phụ Thiên, thọ 51 tuổi, đưa về táng ở Thọ Lăng.

 

Thượng hoàng Thái Tông Trần Cảnh băng ngày 1 tháng 4 năm Đinh Sửu, 1277 ở cung Vạn Thọ, tháng 10 năm ấy rước về táng ở Chiêu Lăng.

 

Ngày 25 tháng 5 năm Canh Dần, 1290, Thượng hoàng Thánh Tông Trần Hoảng băng ở cung Nhân Thọ, đến ngày 15 tháng 12 đưa về táng ở Dụ Lăng.

 

Ngày 1 tháng 11 năm Mậu Thân, 1308, Trúc Lâm Điều Ngự Trần Nhân Tông băng ở am Ngọa Vân trên núi Yên Tử; hỏa táng xong, chia xá lỵ để nhiều nơi. Đến ngày 16 tháng 9 năm Canh Tuất, 1310, rước linh cửu về táng ở Đức Lăng. Lại đem Khâm Từ Bảo thánh Thái hoàng Thái hậu (mẹ của Huyền Trân Công Chúa, mất từ tháng 9 năm 1293, trước quàn tạm ở cung Long Hưng) hợp táng ở Đức Lăng. Đến khi Tuyên Từ Thái hậu mất (Tuyên Từ là dì ruột đồng thời là kế mẫu của Huyền Trân Công Chúa) ngày 19 tháng 8 năm Mậu Ngọ, 1318, vua Anh Tông theo di mệnh của Thượng hoàng Nhân Tông, phụ táng dì Tuyên Từ bên cạnh Đức Lăng.

 

Như vậy, Thọ Lăng của Trần Thừa, Chiêu Lăng của Trần Cảnh, Dụ Lăng của Trần Hoảng, Đức Lăng của Trần Khâm đều táng ở phủ Long Hưng, nơi âm trạch Hỏa Tinh khởi nên nghiệp nhà Trần.

 

Đến mấy đời sau, khi các đế vương nhà Trần mất đều đưa về táng ở xứ Yên Sinh, cố thổ xa xưa của họ Trần. Ví như ngày 16 tháng 3 năm Canh Thân, 1320, Thượng hoàng Anh Tông Trần Thuyên băng ở cung Trùng Quang, phủ Thiên Trường. Đến ngày 12 tháng 12 cùng năm, rước linh cửu về Yên Sinh, táng ở Thái Lăng. Rồi Mục Lăng của vua Minh Tông, Ngải Lăng của vua Hiến Tông, Phụ Lăng của vua Dụ Tông, Đồng Hi Lăng của vua Nghệ Tông và Thuận Tông (Thuận Tông tự thân làm tướng đi đánh Chiêm Thành bị chết ở trận, làm mộ giả táng ở Hi Lăng) đều nằm ở Yên Sinh…

 

Còn nhớ, mùa thu, năm Nhâm Tý, 1312, chiến thắng Chiêm Thành trở về. Vua Anh Tông đến trước lăng miếu ở phủ Long Hưng, làm lễ truy tôn công đức các vị Tổ của mình: Ý Vương Trần Kinh làm Mục Tổ Hoàng Đế; Cung Vương Trần Hấp làm Ninh Tổ Hoàng Đế; Chiêu Vương Trần Lý làm Nguyên Tổ Hoàng Đế. Còn Trần Thừa thì trước đó đã tôn làm Thái Tổ Hoàng Đế rồi…
Tôi về đất Tinh Cương – Thái Đường xưa, nay là Tam Đường. Gọi tên làng như thế vì Tam Đường có ba thôn: Phúc Đường, Thái Đường và Ngọc Đường thuộc xã tiến Đức, huyện Hưng Hà. Sừng sửng ngôi Đền Cả được Nhà nước tôn dựng lại trên nền cũ đã mấy năm, để thờ tiên tổ và các vị Hoàng đế nhà Trần. Phía cánh đồng trước ngôi Đền Cả là khu lăng mộ ba vua Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông như ba trái núi nhỏ xanh um cỏ cây. Phía sau ngôi đền một quãng là nơi yên nghỉ của bốn vị Hoàng thượng mà theo cách gọi của dân địa phương là nơi: Mục Tổ, Ninh Tổ, Nguyên Tổ và Thái Tổ yên giấc ngàn thu.

 

Cạnh Tam Đường là thôn Lưu Gia, khi từ hương Tức Mặc sang, Trần Tự Duy đã đến đây sinh sống. Và chính tại cái thôn nhỏ này, tháng 7 năm 1209, Thái tử Sảm dạt về ẩn náu khi chạy loạn Quách Bốc, rồi lấy con gái Trần Lý. Sự nghiệp họ Trần bắt đầu khởi lên từ cái ấp nhỏ này. Lưu Gia sau là đất phong của Linh Từ Quốc mẫu Trần Thị Dung, nên còn gọi theo tên nôm của bà là làng Ngừ. Thôn Lưu Gia nay là Lưu Xá, thuộc xã Liên Hiệp, hiện khu lăng mộ bà Trần Thị Dung và Thái sư Trần Thủ Độ vẫn còn, đã được trùng tu khang trang, bề thế…
Để hiểu thêm về cuộc đất Tinh Cương, tôi đọc lại cuốn Lịch sử nước ta của Nhà văn hóa Hồ Chí Minh, thấy Người đã tổng kết một cách khách quan và khúc chiết về triều đại này rằng: “Đời Trần văn giỏi võ nhiều/ Ngoài dân thịnh vượng trong triều hiền minh…”. Thì ra vương nghiệp nhà Trần năm xưa, với những con người kiệt hiệt giữ nước và mở nước, lưu danh ngàn đời trong chính sử và cả trong tâm thức thần dân Đại Việt đã được khởi lên từ những dòng sông bến nước quê nhà, từ những thôn ấp bé nhỏ thơm mùi cỏ cây rơm rạ của vùng đất phù sa Tinh Cương, Thái Bình ngày nay.

______________

Dương Phước Thu

Nguồn: trungtamhuyentran.thuathienhue.gov.vn

NỐT RUỒI, ĐIỀM BÁO NGÔI THIÊN TỬ CỦA CÁC ÔNG VUA VIỆT

Ngay từ lúc chào đời, Lý Thái Tông đã mang tướng lạ, sau gáy có đến 7 cái nốt ruồi tụ lại như chòm sao thất tinh (sao Bắc Đẩu), được xem là "điềm báo xứng đáng nối ngôi thiên tử".

 

 

Lê Thái Tổ: Miệng rộng, mũi cao và bả vai có 7 nốt ruồi

 

Về lý lịch xuất thân của Lê Thái Tổ (Lê Lợi), sách Đại Việt thông sử chép: "Vua sinh giờ Tí (tức từ khoảng 23h đến 1h sáng) ngày mùng 6 tháng 8 năm Ất Sửu (1385), niên hiệu Xương Phù thứ 9 nhà Trần, tại làng Chủ Sơn, huyện Lôi Dương.

 

Nguyên trước, xứ Du Sơn, thôn Như Áng Hậu thuộc làng này (Chủ Sơn), có một cây quế, dưới cây quế này có con hùm xám thường xuất hiện, nhưng nó hiền lành, vẫn thường thân cận với người mà chưa từng hại ai.

 

Từ khi Vua ra đời thì không thấy con hùm ấy đâu nữa. Người ta cho là một sự lạ. Ngày Vua ra đời thì trong nhà có hào quang đô chiếu sáng rực và mùi thơm ngào ngạt khắp làng.

 

Khi lớn lên thì thông minh dũng lược, độ lượng hơn người, vẻ người tươi đẹp hùng vĩ, mắt sáng, miệng rộng, sống mũi cao, xương mi mắt gồ lên, bả vai bên trái có 7 nốt ruồi, bước đi như rồng như hổ, tiếng nói vang vang như tiếng chuông. Các bậc thức giả biết ngay là một người phi thường".

 

Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế ở Đông Kinh, mở đầu triều Lê sơ,

triều đại lâu dài nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam.

 

Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế ở Đông Kinh, mở đầu triều Lê sơ, triều đại lâu dài nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam.

 

Lê Lợi sinh ra trong một gia đình "đời đời làm quân trưởng một phương". Năm ông 21 tuổi cũng là năm nhà Minh đem 80 vạn quân sang xâm lược nước Việt. Cuộc kháng chiến chống Minh của vương triều Hồ thất bại, nước Đại Việt rơi vào ách thống trị tàn bạo của giặc Minh. Trước cảnh đất nước bị kẻ thù giày xéo, tàn phá, Lê Lợi đã nung nấu một quyết tâm đánh đuổi chúng ra khỏi bờ cõi.

 

Đầu năm 1416, tại núi rừng Lam Sơn trên đất Thanh Hóa, Lê Lợi cùng với 18 người bạn thân thiết, đồng tâm cứu nước đã làm lễ thề đánh giặc giữ yên quê hương. Đó là hội Thề Lũng Nhai đã đi vào sử sách. Rồi sau một thời gian chuẩn bị chín muồi, đầu năm 1418, Lê Lợi xưng là Bình Định Vương, truyền hịch đi khắp nơi, kêu gọi nhân dân đứng lên đánh giặc cứu nước. Lê Lợi là linh hồn, là lãnh tụ tối cao của cuộc khởi nghĩa ấy.

 

Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế ở Đông Kinh, mở đầu triều Lê sơ, triều đại lâu dài nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Sách Đại Việt sử ký toàn thư viết: "Mặc dù ở ngôi ngắn ngủi được có 6 năm nhưng những việc làm của ông vua này có ý nghĩa đặt nền móng vững chắc cho cả một triều đại và nên độc lập phồn vinh của quốc gia Đại Việt. Việc làm đầu tiên của Lê Thái Tổ là bàn định luật lệnh. Và nhờ cố gắng đó, hai năm sau (1430), Lê Thái Tổ đă cho ban hành những điều luật đầu tiên của triều đại mình".

 

Lý Thái Tông: Sau gáy có 7 nốt ruồi tụ lại như chòm sao Bắc Đẩu

 

Lý Thái Tông tên húy Phật Mã, sinh năm Canh Tý (1000) ở chùa Duyên Ninh thuộc cố đô Hoa Lư. Ông là con trai trưởng của Vua Lý Thái Tổ và bà Lê Thị Phất Ngân, con gái Vua Lê Đại Hành (Lê Hoàn) và Dương Vân Nga.

 

Tượng Lý Thái Tông tại đền Lý Bát Đế


Tương truyền, ngay từ thuở lọt lòng, Lý Phật Mã đã có những dấu hiệu lạ lùng. Ông có tướng lạ, sau gáy có đến 7 cái nốt ruồi tụ lại như chòm sao thất tinh (sao Bắc Đẩu).

 

Lúc bé, chơi đùa với bọn trẻ trong cung, ông thường bắt chúng dàn hàng tả hữu trước sau để làm quân hầu hộ vệ cho mình. Ông cho một vị đạo sĩ cái áo. Đạo sĩ treo cái áo trong quán, nửa đêm thấy rồng vàng hiện ra, khiến người ta duy tâm đây là lời "sấm truyền" cho một đế vương.

 

Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn) rất chú ý tới Phật Mã và có ý nuôi dạy ông kế vị. Năm Nhâm Tý (1012), lúc mới 13 tuổi, Lý Phật Mã đã được lập làm Đông cung Thái tử, rồi được phong làm Khai Thiện Vương, đồng thời nhiều lần được cử làm tướng cầm quân đi dẹp loạn và lập được công lớn. Vì thế, triều thần cũng như thần dân lúc bấy giờ rất tôn kính Phật Mã. Năm 1028, vua cha mất, Lý Phật Mã lên ngôi.

 

Sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư nhận xét về Lý Thái Tông: “Vua là người trầm mặc, cơ trí, biết trước mọi việc, giống như Hán Quang Vũ đánh đâu được đấy, công tích sánh với Đường Thái Tông". Ông là vị vua giỏi thời nhà Lý. Hơn 30 năm chinh chiến và trị quốc, ông đã củng cố nền cai trị của nhà Lý, chống lại những nguy cơ chia cắt, bạo loạn, xâm lấn, thu phục lòng dân, khiến cho nước Đại Cồ Việt trở nên vững mạnh.

 

Trần Nhân Tông: Nốt ruồi đen gánh vác việc nước

 

Trần Nhân Tông tên thật là Trần Khâm, sinh ngày 11/11 năm Mậu Ngọ (1258), là con trưởng của Vua Trần Thánh Tông và Nguyên Thánh Hoàng thái hậu. Khi mới sinh toàn thân màu da như vàng ròng - sáng chói. Vua cha đặt tên là Phật Kim. Sách Thánh Đăng ngữ lục chép: "Đến khi vua ra đời, màu da như vàng ròng. Thánh Tông đặt tên là Kim Phật...”.

 

Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi: "Được tinh anh của Thánh nhân, đạo mạo thuần túy, nhan sắc như vàng ròng, thể chất hoàn toàn, thần khí tươi sáng... Vai bên tả có một nốt ruồi đen, các nhà tướng số cho rằng: ngày sau sẽ gánh vác việc lớn".

 

Ảnh thờ Vua Trần Nhân Tông


Trần Khâm được vua cha Trần Thánh Tông nhường ngôi vào ngày 22/10 năm Mậu Dần (1278). Ông ở ngôi 14 năm, nhường ngôi 5 năm, xuất gia 8 năm, thọ 51 tuổi, qua đời ở am Ngọa Vân núi Yên Tử, đưa về táng ở Đức lăng (nay thuộc tỉnh Thái Bình).

 

Các sử gia thời Hậu Lê đã viết về Trần Nhân Tông: "Vua nhân từ hòa nhã, cố kết lòng dân, sự nghiệp trùng hưng sáng ngời thuở trước, thực là bậc vua hiền của nhà Trần. Song để tâm nơi kinh Phật, tuy nói là để siêu thoát, nhưng đó không phải là đạo trung dung của thánh nhân".

___________________

danviet.vn

TƯ TƯỞNG THIỀN CỦA PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG

I/ DẪN NHẬP

 

Lâu nay đã có nhiều vị nghiên cứu về Phật Hoàng – Trần Nhân Tông và đã mở ra nhiều điều lý thú, làm sáng tỏ nhiều điều không ngờ. Tuy nhiên, đào sâu về tư tưởng Thiền của Ngài thì cũng còn hạn chế. Song đã gọi là Phật Hoàng, là Đệ nhất Tổ Thiền phái Trúc Lâm thì tư tưởng Thiền của Ngài là điểm trọng yếu, là mạch sống của Ngài, là chỗ lưu truyền lâu dài về sau, cần được soi sáng rõ ràng. Nhưng điều này đúng thực phải người có thực hành, có sống được, có thể nghiệm trong đó mới cảm sâu, nhận sâu, như phải thực sự ăn thì mới cảm nhận thực tế món ăn đó, biết kỹ mùi vị thực của món ăn hơn là chỉ nghiên cứu qua trung gian. Cho nên, hôm nay chúng tôi với phần chuyên môn của mình, xin được đóng góp một phần về tư tưởng Thiền của Ngài, nhằm góp thêm cho cái nhìn về Ngài được toàn diện hơn.

 

II/ TINH THẦN PHẢN QUAN TỰ KỶ, ẢNH HƯỞNG TỪ THƯỢNG SĨ TUỆ TRUNG

 

Khi còn là thái tử, Ngài đã được vua Trần Thánh Tông gửi đến học với Thượng sĩ Tuệ Trung, nên được thấm sâu tư tưởng Thiền của Thượng sĩ. Ngài thuật lại: từng hỏi Thượng sĩ: "Thế nào là tông chỉ của việc bổn phận?" Thượng sĩ đáp:

 

khác mà được". Ngài tiếp nhận sâu yếu chỉ đó! Cho đến sau này xuất gia tu hành, khai đường thuyết pháp, đều không đi lệch ra ngoài yếu chỉ đó. Bởi đó cũng chính là căn bản giáo lý một đời của Đức Phật, là ý chỉ của Thiền tông. Phật ra đời nói pháp giáo hóa chúng sanh có đến tám mươi bốn ngàn pháp môn, nhưng cốt yếu không ngoài đánh thức cho người soi sáng lại chính mình, rõ lẽ thật nơi chính mình đã tự mê. Các Thiền sư ra đời cũng thế, đều nhắm đến đánh thức cho người thức tỉnh trở lại việc lớn nơi chính mình, thôi chạy tìm kiếm bên ngoài. Nhà thiền có câu: "Từ cửa vào chẳng phải của báu trong nhà" là của báu trong nhà phải tự trong đó mà lấy ra dùng, còn từ cửa vào là thuộc về khách, là của người khác.

 

Có vị tăng hỏi thiền sư Trí Cự hiệu Khương Tuệ ở Tào Sơn, Phủ Châu:

 

- Người xưa nêu bày người bên kia, học nhơn làm sao thể nhận?

 

Sư đáp:

 

- Lùi bước về chính mình, muôn người không mất một.

 

Nêu bày người bên kia, tức chỉ cho "lẽ thật xưa nay", là chân lý tuyệt đối mà người người đang mê, nhưng mỗi người đang sống trong tương đối thì làm sao đây?

 

Sư đáp rõ, chỉ cần lui bước về chính mình, đó là yếu chỉ bậc nhất, khéo được như thế thì muôn người không mất một, là quyết định thành tựu kết quả.

 

Chính thấm nhuần tư tưởng đó, trong buổi giảng tại viện Kỳ Lân ngày mùng 09 tháng giêng năm Mậu Ngọ(1306), Ngài đã nói: "Ngày tháng dễ trôi qua, mạng người không chờ đợi, sao cam ăn cháo, ăn cơm mà chẳng rõ việc bát, việc muỗng (thìa)"!

 

Đó là Ngài muốn đánh thức cho người học phải soi sáng lại việc lớn nơi chính mình, việc mình đang sống hàng ngày mà tự mê. Ăn cháo, ăn cơm mà cứ lo nhớ theo cháo, cơm, ngon dỡ..., quên mất lẽ thật đang hằng hữu, cái gì đang cầm bát, cầm muỗng, cầm thìa đó? Cần soi sáng lại chỗ này, để sáng tỏ việc lớn nơi chính mình, đó là tông chỉ Thiền mà Ngài muốn khai thị.

 

III/ LẤY TÂM LÀM GỐC

 

Qua bài Phú Cư Trần Lạc Đạo, đây là bài phú biểu lộ tư tưởng Thiền của Ngài rất rõ, bằng chữ Nôm, là ngôn ngữ bình thường dùng hằng ngày. Trong đó Ngài bảo: "Miễn được lòng rồi, chẳng còn phép khác". Được lòng rồi, tức nhận rõ được bản tâm mình, là thành tựu công phu, không còn pháp nào khác nữa. Vì bao nhiêu pháp môn cũng không ngoài làm sáng tỏ bản tâm là chủ yếu nhưng cách dùng có sai biệt tùy người.

 

Trong bài phú, Ngài cũng có câu:

 

"Tịnh độ là lòng trong sạch,

chớ còn ngờ hỏi đến Tây phương.

Di Đà là tánh sáng soi,

mựa phải nhọc tìm về Cực lạc."

 

Đó là Ngài muốn đánh thức người xoay trở lại tự tâm, tự tánh để sáng tỏ tự tâm Tịnh độ, tự tánh Di Đà, cũng là lấy Tâm làm Gốc.

 

Trong lời vấn đáp ở buổi khai đường tại chùa Sùng Nghiêm, núi Chí Linh, có vị tăng hỏi:

 

- Đại tôn đức tu hành khổ nhọc, đã trải qua nhiều năm, đối với sáu thông của Phật, Ngài đã được mấy thông?

 

Ngài đáp:

 

- Cũng được sáu thông.

 

- Năm thông kia xin gác lại, thế nào là tha tâm thông?

 

- Đầy cả các cõi nước, có bao nhiêu thứ tâm, Như Lai đều biết, Như Lai đều thấy.

 

Tức dẫn trong kinh Kim Cang, Phật nói tất cả chúng sanh ở trong hằng sa cõi nước có bao nhiêu thứ tâm, Như Lai đều biết hết, thấy hết, tức đều không phải bản tâm.

 

Đây là Sơ Tổ Trúc Lâm nhấn mạnh cần sáng tỏ trở lại bản tâm là chính, tha tâm thông không giải thích theo thần thông bên ngoài. Đó là đánh thức cho người sống trở về Gốc, là căn bản của Thiền tông.

 

IV/ KIẾN SẮC MINH TÂM

 

Trong bài Phú Cư Trần Lạc Đạo, Ngài có biểu lộ:

 

"Chơi nước biếc, ẩn non xanh,

nhân gian có nhiều người thích ý.

Biết đào hồng, hay liễu lục,

thiên hạ năng mấy chủ tri âm."

 

Thấy đào hồng biết đào hồng, thấy liễu lục biết liễu lục, nhưng thiên hạ có mấy người sáng tỏ được "Tâm thiền" ngay lúc ấy, hay chỉ có nhớ đào hồng, liễu lục thôi ? Đó là ngay trong trần cảnh mà vượt qua trần cảnh, không bị trần cảnh mê hoặc. Tâm thiền của Ngài sáng ngời ngay trong cuộc sống hiện tại, rất thực tế, không xa vời ! Người có chứng nghiệm qua liền tự cảm thông ngay.

 

Rồi bài thơ Xuân Hiểu, Ngài đã thổ lộ:

 

Thụy khởi khải song phi

Bất tri xuân dĩ qui

Nhất song bạch hồ điệp

Phách phách sấn hoa phi.

 

Dịch:

 

Ngủ dậy mở cửa sổ.

Ngờ đâu xuân đã về!

Một đôi bươm bướm trắng

Nhịp cánh nhắm hoa bay.

 

Ngủ dậy, tỉnh giấc mê, mở cửa sổ nào? là cửa con mắt này đây!

 

Ngờ đâu xuân đã về! xuân gì? tức là xuân giác ngộ, ánh sáng giác ngộ đã bừng dậy.

 

Thì, kìa! ngay trước mắt, một đôi bươm bướm trắng nhịp cánh nhẹ nhàng nhắm đến cánh hoa bay tới.

 

Là gợi nhắc đến con mắt ai kia, là tâm Thiền biểu lộ ra đó! nhưng nếu nhìn theo tâm tình thế gian, đây chỉ là một bài thơ tả cảnh. Cho nên, đọc thơ của Thiền sư, phải đọc bằng con mắt Thiền sư mới cảm thông ý thơ sâu xa trong đó.

 

V/ DỨT TÂM SUY NGHĨ ĐỐI ĐÃI.

 

Có vị tăng hỏi Điều Ngự:

 

- Thế nào là pháp thân thanh tịnh?

 

Ngài đáp:

 

- Chén mạ vàng đựng phân sư tử

Người đen đúa vác bó hương thơm.

 

Âm:

 

(Kim tạc lạc trung sư tử thỉ

Thiết côn lôn thượng chá cô ban).

 

Pháp thân thanh tịnh là chỉ cho tâm thể vô tướng, lìa mọi thứ đối đãi, là nguồn gốc chân thật của tất cả chúng sanh. Muốn nhận được pháp thân phải lìa niệm phân biệt đối đãi.

 

Trong câu đáp của Điều Ngự: chén mạ vàng là quí, là sạch; phân sư tử là tiện, là nhơ. Hương thơm là sạch, là tốt; người đen đúa là nhơ, là xấu. Ngài muốn chỉ thẳng tâm thể luôn hiện tiền, dứt bặt niệm phân biệt nhơ sạch, tốt xấu, chính đó là pháp thân thanh tịnh, không phải giải thích dài dòng. Bởi Tâm thiền của Thiền sư là ở trước khi động niệm, trước khi có ngôn ngữ, do đó nó vượt lên trên tâm suy nghĩ, phân biệt đối đãi, là thuộc tâm sanh diệt.

 

Có vị tăng khác hỏi Ngài:

 

- Câu có câu không như dây bìm nương theo cây, khi ấy thế nào?

 

Ngài bèn nói bài kệ, lược dẫn:

 

Câu có câu không

Bìm khô cây ngã

Mấy kẻ nạp tăng

U đầu sứt trán.

***

Câu có câu không

Tự xưa tự nay

Chấp tay quên trăng

Đất bằng chết chìm

 

Âm:

 

(Hữu cú vô cú

Đằng khô thọ đảo.

Kỷ cá nạp tăng,

Chàng đầu khái não.

***

Hữu cú vô cú,

Tự cổ tự kim

Chấp chỉ vong nguyệt

Bình địa lục trầm).

 

Đây là gốc từ câu chuyện Sơ Sơn đến hỏi Qui Sơn – Đại An:

 

- Được nghe Thầy nói "Câu có câu không như bìm leo cây", chợt khi cây ngã, bìm khô thế nào?

 

Đại An cười to ha hả. Sơ Sơn thưa:

 

- Con từ bốn ngàn dặm mang khăn gói đến đây, sao Hòa Thượng lại đùa như thế?

 

Đại An bảo:

 

- Thị giả! Hãy lấy tiền trả tiền giày cỏ cho Thượng tọa này!

 

Sư lại dặn:

 

- Về sau có con rồng một mắt sẽ vì ông nói phá.

 

Sau này, Sơ Sơn đến chỗ Minh Chiêu thuật lại việc trên. Minh Chiêu bảo:

 

- Qui Sơn đáng gọi là đầu chánh đuôi chánh, chỉ là chẳng gặp tri âm.

 

Sơ Sơn hỏi:

 

- Cây ngã bìm khô, câu về đâu?

 

Minh Chiêu đáp:

 

- Nụ cười Qui Sơn càng thêm tươi.

 

Sơ Sơn tỉnh ngộ, nói:

 

- Té ra trong nụ cười Qui Sơn có đao.

 

Minh Chiêu vốn chột một mắt, đúng như lời dự ký của Đại An ở trước.

 

Ông tăng dẫn lại ý đó để hỏi Điều Ngự. Điều Ngự chỉ ra, câu có câu không là lời nói hai bên, giống như dây sắn, dây bìm nương nơi cây mà leo lên cao, tự nó không có chỗ tựa. Chợt khi cây ngã, đổ xuống thì dây bìm hết chỗ tựa, bị héo khô theo, lúc đó mình nương vào đâu để hiểu? Biết bao nhiêu kẻ nạp tăng không vượt qua được cửa đối đãi này, bị u đầu sứt trán vì nó.Vừa rơi vào có không là trái xa tâm Thiền, là rơi bên ngoài cửa Thiền.

 

VI/ TÂM TRUYỀN TÂM – ĐẠT Ý QUÊN LỜI.

 

Buổi thượng đường ở chùa Sùng Nghiêm, mở đầu pháp hội, Ngài niêm hương báo ân xong bước lên tòa. Vị Thượng thủ bạch chùy, v.v... rồi Ngài nói:

 

- Đức Phật Thích Ca Văn vì một đại sự mà xuất hiện giữa cõi đời này, suốt 49 năm chuyển động đôi môi mà chưa từng nói một lời. Nay ta vì các ngươi lên ngồi tòa này, biết nói chuyện gì đây?

 

Thượng đường là sắp nói pháp, nhưng Ngài chặn đầu trước, khiến người vượt qua ngôn ngữ nói năng. Bởi chân lý hiện thực vốn không ở trên ngôn ngữ văn tự chết đó, mà ở ngay trong tâm người. Đóng khung trong ngôn ngữ là thành chân lý chết, thành Thiền chết.

 

Đây là Ngài muốn đem tâm mình truyền thẳng vào tâm người, khiến người thầm cảm thông nhau trực tiếp vượt qua ngôn ngữ.

 

Thiền sư Pháp Loa hỏi:

 

- Nói huyền nói diệu, luận cổ bàn kim đều thuộc thứ nói đùa, một câu không kẹt trong ngôn ngữ, làm sao nói được?

 

Ngài đáp:

 

- Gió đông dìu dịu ngàn hoa nở

Lách cách vành xe một tiếng vang.

 

Pháp Loa toan mở miệng nói, Ngài liền bảo:

 

- Chim hót máu tuôn vẫn vô dụng

Non tây như trước phủ non chiều.

 

Hỏi một câu không kẹt trong ngôn ngữ thì nói thế nào? Ngài trả lời khéo, nhằm đánh thức cái đang thấy, nghe hiện hữu đó, đâu thuộc trong ngôn ngữ luận bàn.

 

Thiền Sư Pháp Loa định nói tiếp, Ngài liền chặn ngay. Đã nói hết tình rồi, như chim hót đến máu tuôn ra, ông còn chưa nhận, lại muốn nói gì nữa?

 

Thiền sư Pháp Loa hỏi thêm:

 

- Khi muôn dặm mây tạnh thì như thế nào?

 

Ngài đáp:

 

- Mưa tầm tã.

 

Hỏi:

 

- Khi muôn dặm mây che kín thì như thế nào?

 

Đáp:

 

- Trăng vằng vặc.

 

Đây làThiền ngữ, ý vốn ở ngoài lời. Nói mây tạnh không phải hiểu theo mây tạnh; nói mây che kín không thể hiểu theo mây che kín. Trong đây ngầm chỉ mây mê mờ che bầu trời tâm.

 

Vậy, đã là mây tạnh, tức bầu trời tâm trong sáng không có mây mờ, thì tại sao còn khởi niệm hỏi? Khởi niệm tức tâm động, là mây che, là mưa tầm tã rồi.

 

Còn muôn dặm mây che kín bầu trời tâm, thì còn cái gì biết hỏi đó? Còn biết hỏi tức tâm đã lộ ra rồi, đâu thể che mất được!

 

Đó chính là cách tâm truyền tâm của Thiền tông, khiến người học thấu qua ngôn ngữ, đạt ý quên lời, không kẹt trên chữ nghĩa.

 

Tuy nhiên chỗ này phải người thực tu, thực ngộ mới tự cảm thông nhau, trái lại phân tích trên chữ nghĩa thì khó thấu được, do đó có khi hiểu lầm người xưa thành xuyên tạc.

 

VII/ TÓM KẾT

 

Trên đây là tạm gợi ý về tư tưởng Thiền của Phật Hoàng – Trần Nhân Tông, vị Sơ Tổ Thiền phái Trúc Lâm. Tư tưởng Thiền của Ngài rõ ràng là Thiền Tông hay Tổ Sư Thiền – tức Thiền "Trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật", lấy tâm làm gốc, thành Phật ngay trong tự tâm, nên ngộ tâm là điều thiết yếu.

 

Người tu Thiền này mà chưa tỏ ngộ được tâm, là còn ở ngoài cửa Tổ. Song tâm đó là tâm gì? Chính là bản tâm xưa nay, là nguồn tâm chân thật trước khi niệm khởi, trước khi chia thành nhị nguyên, không thể lầm lộn với tâm sanh diệt đối đãi. Do đó, muốn thấy được cốt tủy tư tưởng Thiền của Ngài, cần tiến thêm một bước, vượt lên tâm hiểu biết bằng tri thức tích lũy có giới hạn này, hay nương tri thức này mà tiến đến chỗ phi tri thức. Và đó mới chính là ý nghĩa đích thực đúng với tên Phật Hoàng, tên Tổ của một Thiền phái.

 

Phật Hoàng là vua Phật, bậc vua giác ngộ, vậy vua giác ngộ đó ở đâu? Không thể là ở trong số chữ nghĩa nghiên cứu trên giấy mực, đó là chữ nghĩa chết. Và Tổ của Thiền, thì gì là Tổ? Tổ đó không thể là Tổ của những định nghĩa trong tri thức hiểu biết bằng suy luận, mà phải là trực giác trên bản tâm xưa nay. Đây mới đúng là giá trị bất diệt trong con người thực Phật Hoàng. Thiền phái Trúc Lâm ra đời là ra đời từ trong đó! Còn có người tỏ ngộ được lẽ thật này là Thiền phái còn bền vững lâu dài ở thế gian, chính đó là mạch sống Thiền tông Việt Nam còn chảy mãi không dứt.

___________________

Nguồn: thuongchieu.net

ĐƯỜNG HUYỀN TRÂN CÔNG CHÚA Ở HUẾ, XƯA VÀ NAY

Trước hết xin thưa, đây không phải là bài viết có tính khảo cứu lịch sử, cũng không phải là bài chuyên khảo thiên về dân tộc học hay văn hoá chuyên ngành, mà chỉ là những dòng cảm quan theo suy nghĩ, cảm xúc và cái nhìn của một người dân thường, có cái duyên được sinh ra và lớn lên trên một vùng đất may mắn có nhiều chứng tích văn hoá lịch sử còn tồn tại đến nay. Và con đường đi xuyên qua vùng địa dư này cũng được mang tên của một nhân vật lịch sử đã in đậm dấu son tình cảm biết ơn của biết bao thế hệ người dân Thuận Hoá – Phú Xuân – Cố đô Huế xưa và nay. Đó là con đường Huyền Trân Công chúa với vùng đất Dương Xuân Thượng - Hạ, Nguyệt Biều – Lương Quán của Phủ Dương Xuân ngày trước và là Phường Đúc, Thuỷ Xuân, Thuỷ Biều của Thành phố Huế ngày nay.

 


 

Điều tôi muốn nói là những dấu tích văn hoá – lịch sử còn tiềm tàng, như là những ẩn hiện của một vùng khoáng sản lộ thiên nằm dọc hai bên con đường Huyền Trân Công Chúa ngày trước (Bùi Thị Xuân ngày nay), từ cầu Ga Huế lên cầu Long Thọ, xã Thuỷ Biều cũng như dọc con đường Huyền Trân Công Chúa hiện nay, từ ngã ba Thành Lồi lên Lăng Tự Đức và đồi Vọng Cảnh. Cả hai tuyến đường cũ và mới này còn nhiều khả năng du lịch tiềm tàng mà chúng ta chưa có điều kiện làm hiển lộ và khai thác hết.


Trở lại vấn đề liên quan văn hoá và lịch sử, tôi xin được phép tản mạn nói lên một số điều không đầu không cuối và cũng không theo một trật tự thuần nhất nào.


Thưa Quý vị, con người làm nên lịch sử và ngược lại, lịch sử cũng cuốn trôi các bước sinh tồn, sinh hoạt của con người theo dòng chảy của mình, kể cả dòng truyền thống tâm linh của con người.


Mùa hè 2006, Festival Huế có chủ đề “700 năm Thuận Hoá – Phú Xuân (1306 – 2006). Nói đến 700 năm Thuận Hoá – Phú Xuân, mà tôi nhớ không nhầm thì trong các Lễ hội và Hội thảo năm ấy chưa đề cập đậm đà đến tấm gương hy sinh vô cùng dũng cảm của Công chúa Huyền Trân và sự thân lâm đàm phán của Phụ hoàng Trần Nhân Tông để lãnh thổ đất nước Đại Việt chúng ta mở rộng thêm vùng Thuận châu và Hoá châu, kết thành đất Thuận – Hoá một cách hoà bình…Vì thế, tôi cảm thấy buồn buồn và một buổi trưa núp mưa ở một quán nước vắng khách, tôi cảm tác bài thơ “Độc thoại về quê hương”:


Phần đầu bài thơ có những dòng sau:


Quán trưa

Mưa lưa thưa

Mùa hạ,

Giữa lòng cố đô

Qua đợt gió mùa còn rớt lại

Lạ thường!

Ngồi một mình


Độc thoại:


Cũng có dịp nhìn lại quê hương

Với bảy trăm năm Thuận Hoá – Phú Xuân.

Thương một Huyền Trân hết lòng dũng cảm

Đem phận mình hoá giải chiến chinh,

Lập lại thanh bình

Hòng mở rộng biên cương cho Tổ quốc

Tạo giao hảo thân tình cùng nước bạn…

(Phần sau của bài thơ nói tiếp đến ngày nay)


Và rất vui là đến mùa Xuân năm 2007 thì đã có Lễ khánh thành khu Trung tâm Văn hóa Huyền Trân, mới lấp đầy được nỗi hụt hẫng tình cảm “Uống nước nhớ nguồn” của biết bao tâm hồn khách thập phương xa gần, đối với tấm gương nhân hậu và dũng cảm của Công chúa vua Trần ngày ấy. Câu chuyện xây dựng đền thờ Huyền Trân và vua cha Trần Nhân Tông ở Huế, trong thập kỷ trước đã có nhiều bậc thức giả đề cập tới. Cũng vui là các ngành chức năng đã thực hiện được khá kịp thời!


Trở lại vấn đề, dòng chảy lịch sử đã cuống theo bao thế hệ sinh tồn và sinh hoạt của con người, bao biến đổi của xã hội và mọi sự hưng suy của bao dòng tộc, họ hàng cũng bị lịch sử cuống theo… Cái chung đã cuộn tròn biết bao cái riêng và cái riêng đã hoà quyện vào cái chung một cách nhuần nhị. Lý nhân duyên của nhà Phật thật vô cùng xác thực và kỳ diệu!


Nếu ngày trước Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng không xin vào trấn thủ đất biên cương Thuận Hoá và nếu năm 1598 ông không ra Bắc phò Lê diệt Mạc, để 3 năm sau (1600) trở về đất Thuận Hoá mà không tuyển và đem theo một đoàn dân binh đông đảo với đủ loại ngành nghề, thì ít nhất là Huế không có làng nghề đúc gốc Kinh Bắc (Bắc Ninh) còn tồn tại đến ngày nay. Và địa danh Phường Đúc cũng không có luôn. Nhưng cái duyên mắt xích để có làng nghề Phường Đúc nó chỉ bé tí, nằm gọn trong vô số những nhân duyên khác. Giá mà năm 1636 chúa Nguyễn Phúc Lan không cho dời dinh phủ Phúc Yên về Kim Long thì Phủ đệ Dương Xuân án ngự ở bờ nam sông Hương với bao nhiêu cơ quan quan yếu phục vụ Phủ Chúa cũng không có. Nhưng lịch sử đã như thế và ít nhất cũng đã hơn 370 năm qua lịch sử của vùng đất Thuận Hoá – Phú Xuân đã xoay quanh một trục chính với vô số trợ duyên khác.


Được sinh ra và lớn lên trên đất Cố đô Huế, vốn đất không rộng và không màu mỡ, lại không được thiên nhiên ưu đãi; nhưng lại giàu truyền thống văn hoá và đời sống tâm linh, trong một không gian vốn giàu di sản văn hoá lịch sử. Với 60 – 70 năm sinh hoạt trong cuộc sống, được nhìn và cứ đi – về hàng trăm, thậm chí cả hàng ngàn lần trên một vài con đường hầu như quen thuộc nằm lòng. Và với một tình yêu quê hương đậm đà, thì ai mà không quan tâm mọi hiện hữu và di sản văn hoá lịch sử tồn tại trên các tuyến đường thân quen mình đã đi qua trong suốt cuộc đời?


Ngay từ gần cuối thập kỷ 50 thế kỷ trước, con lộ nhỏ chỉ hơn 4m bề ngang và dài chỉ 3 – 4 cây số nối liền từ cầu Ga Huế lên cầu Long Thọ, được cào xới, rải lại dăm đá thô, xe lu đằn và tưới dầu hắc rồi rải sạn “cai-du” thì đã là một hiện tượng quá lớn đối với mọi người dân trong vùng! Rồi lại được đặt tên đường là Huyền Trân Công Chúa thì rất chi là hãnh diện. Từ đó yêu con đường hơn, yêu quê hương mình hơn. Và cũng bắt đầu tìm hiểu do duyên cớ gì mà được đặt tên đường như thế?


Sự thắc mắc nguyên do ấy đã sớm được giãi bày. Câu chuyện nàng Công chúa Huyền Trân con vua Trần nước Đại Việt biết thuận lời cha làm sứ giả hoà bình “hóa giải chiến chinh” mà kết duyên cùng Quốc Vương Chăm-pa họ Chế. Nghĩa cử đó là một sự hy sinh cao cả, đem lại cuộc sống thanh bình cho quân dân hai nước, lại còn mở rộng được biên cương cho Tổ quốc với hai châu Ô, Lý… Tên con đường Huyền Trân Công Chúa là một biểu tượng hoà bình, một tấm gương hy sinh vĩ đại, mặc cho bao lời đàm tiếu xúc phạm của cửa miệng người đời thuở ấy! Và cuộc chiến tranh dai dẳng giữa hai nước đã được minh chứng hùng hồn bằng một giai thoại truyền khẩu hết sức ly kỳ.


Chẳng biết câu chuyện xảy ra vào ngày tháng năm nào mà bản thân chúng tôi cũng chưa có dịp được đọc trong chính sử. Chỉ biết nghe và tin vào câu chuyện lý thú và ly kỳ được kể lại từ các bậc trưởng thượng: Để chấm dứt cuộc chiến thư hùng kéo dài trên vùng đất biên cương này, hai bên đã giao ước chỉ sau một đêm mà dọc hai bờ đối diện Bắc – Nam sông Hương ngày nay, từ Kim Long lên Linh Mụ, hễ bên nào huy động quân dân xây hoặc đắp được một thành luỹ cao, dài và kiên cố hơn, thì bên thua sẽ tự động rút quân lui. Thế là ở bờ bắc hì hụi xây thành thâu đêm. Còn bờ nam thì quan quân Chăm-pa ráo riết tập trung lực lượng khuân đá đào đất dốc sức đắp một bức trường thành kiên cố dài cả ngàn mét, từ mé chân đồi Thọ Cương (Long Thọ) chạy dài về phía Đông Nam, giáp sau đình làng Dương Xuân Thượng sau này. Và hy vọng là sẽ cao to, vĩ đại hơn thành luỹ phía bờ bắc con sông. Nhưng tờ mờ sáng hôm sau, leo lên đỉnh “Thành Lồi” cao mà chỉ qua một đêm đã đắp được để quan sát sang phía đối diện. Khi sương phủ trên sông còn mờ mịt, thì đã thấy ở bờ bắc con sông lộ ra một bức tường thành xây gạch đỏ chói cao, kiên cố và thật dài. Trên thành thì dày đặc quan quân tuần canh lui tới với cờ xí, gươm giáo, cung tên rợp trời, hết sức hùng hậu! Vậy là phía bờ nam thấy mình thua cuộc nên lặng lẽ rút quân lui xa.


Những tháng ngày thơ ấu trước năm 1954, bọn trẻ chúng tôi học tiểu học tại Trường đình làng Dương Xuân Thượng, ngày nghỉ có lần rủ nhau lên đồi Thành Lồi tổ chức đánh trận giả. Quân Việt Minh phục kích đánh Tây đi lùng, bắn nhau bằng súng hột sân hoặc cuống bời lời. Có lúc cả bằng “súng miệng”. Nhưng kết cục thì bao giờ giặc Pháp cũng thua to, lính Tây bị bắt làm tù binh hàng loạt. Có lúc rũ nhau cùng đi dọc trên đỉnh đồi Thành Lồi mà quan sát xung quanh thật là thú vị. Ngày ấy, khi Thành Lồi chưa bị bàn tay con người xâm phạm và lấn chiếm, thì cả dãy còn thật cao và dài. Đứng trên đỉnh đồi quan sát thật xa, rồi hướng về bờ bắc sông Hương mà tưởng tượng về một bức thành gót được ráp vào một bộ giàn giáo bằng tre cao và đồ sộ với bao quân sĩ đang tuần canh oai hùng mà thích thú. Còn ngay tại mé đồi không xa là một khoảng đất rộng, chỉ còn trơ lại nền đất cùng những khối đá tảng vuông và to… mà người lớn bảo là đền thờ các vua Chăm. Nghe vậy mà sợ, chẳng dám đụng đến một thứ gì ở đó, dù chỉ là một viên đá nhỏ.


Xuyên qua giữa dãy đồi Thành Lồi là một con đường dốc khá cao, đổ xuống con đường dọc là Huyền Trần Công Chúa cũ, tạo thành một ngã ba, mà xưa nay vẫn được gọi là “Ngã ba Thành Lồi”. Ngày nay đã có trụ sở của Công ty khai thác đá. Vậy là con đường nối với đường Huyền Trân Công Chúa ngày trước (nay được đổi thành đường Bùi Thị Xuân) có liên quan với di tích Chăm-pa chạy thẳng lên tận lăng Tự Đức và đồi Vọng Cảnh, ngày ấy chưa có tên và vẫn được gọi là đường Thành Lồi thì nay đã chính thức mang tên Huyền Trân Công Chúa.


Trở lại với đường Huyền Trần Công chúa cũ (tức Bùi Thị Xuân hiện nay) chạy từ cầu Ga lên cầu Long Thọ và nối dài tận cuối làng Nguyệt Biều. Một con đường mà nhiều người vẫn bảo còn tàng ẩn bao nhiêu di tích văn hoá lịch sử chưa được làm hiển lộ. Xin điểm xuyết đôi nét gợi mở về những di tích còn tảng ẩn ấy. Có lẽ cũng có rất nhiều người biết rõ nhưng chưa có dịp quan tâm nói tới. Và những điều hiểu biết này cũng chỉ ở dạng hời hợt “cưỡi ngựa xem hoa”, mong quí vị thức giả miễn chấp.


Trước hết, không xa chỉ khoảng 300m từ Cầu Ga lên hướng Long Thọ, ta có ngay bến đò Trường Súng, nay là khu vực Bến Cát, Phường Đúc. Có lẽ bến sông này là nơi tập kết các loại súng thần công được chế tác tại Chú Súng Trường (còn gọi là Trường Đồng, khu gò đất cao sát bờ sông Hương, gần đối diện với Nhà thờ Giáo xứ Phường Đúc), trước khi được vận chuyển vượt sông sang bờ bắc sông Hương. Đến vị trí cầu Lòn, phía trái đường cái không xa, chỉ khoảng 300m -500m, tiếp giáp với Bàu Vá là khu gò đất cao dần, được gọi là Lịch Đợi. Danh từ Lịch Đợi, có thể là đọc trại của Lịch Đại (qua các thời đại), là một từ khiến ta suy nghĩ về gốc nguyên ngữ, có liên quan gì với vùng đất thế nào, mới được chọn làm địa danh ở đó. Và trên vùng gò dân cư sầm uất này có di tích đền thờ các Vua Hùng và đền thờ các vua đầu của Vương triều Trần, được xây dựng vào năm thứ 4 triều Minh Mạng (1823) mà nay đã bị lấn chiếm nhiều. Có lẽ ngành văn hoá và bảo tồn nên quan tâm.


Dọc hai bên con đường, từ cầu Lòn lên giáp Cống Trắng có địa danh là ấp Xuân Giang, một cái tên thật thơ mộng đầy nét thanh bình: Con sông mùa Xuân. Với chiều dài khoản một cây số mà cũng ẩn chứa một số di tích văn hoá lịch sử đáng để tâm tìm hiểu và chiêm bái. Dọc theo phía trái đường nhựa là cánh đồng Bàu Vá mà nay đang được lấp dần làm khu dân cư và thị tứ tương lai. Tít tận cùng phía đông nam cánh đồng này tiếp giáp với rìa gò đồi của thôn Hạ 2 xã Thuỷ Xuân, có Đình làng Dương Xuân Hạ không kém phần uy nghi cổ kính. Ngôi đình làng có nhiều duyên nợ với Cách mạng Tháng tám 1945 và với hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Gần đây có các bài báo viết về ngôi đình này và đề nghị được xếp loại di tích cách mạng…


Cũng tiếp liền với đồng Bàu Vá này, nằm cạnh đường Bùi Thị Xuân, chúng ta có khu di tích Lăng mộ của nhà thơ yêu nước Hoàng Tộc Tuy Lý Vương mà qua giai đoạn chiến tranh đã bị lấn chiếm nhiều! Nay được giải toả dần để bảo vệ, nhưng cũng chưa được tôn tạo gì. Và cách đó không xa, cũng bên phía trái đường nhựa, trong khuôn viên Trường Tiểu học Phường Đúc là Đài Sơn Xuyên – nơi thờ sông núi. Chưa nắm rõ được xây dựng từ bao giờ. Nhưng trong thập kỷ 50-60 của thế kỷ trước thấy vẫn được bảo quản nghiêm túc. Có đài trên, đài dưới hình vuông xung quanh có lan can và bờ tường bao quanh. Bao quanh bốn phía nền dưới là khoản đất rộng, được trồng dương liễu ngay ngắn và xanh tốt. Mùa hè vẫn có các đoàn sinh hoạt thanh niên tới cắm trại. Nay thì cái uy nghi và xanh tốt ấy đã bị mất đi quá nhiều, để mọc lên những dãy nhà dài ngang dọc làm trường học. Đây cũng là hình thức vi phạm di tích. Nhưng cũng may là khoảng sân Đài Sơn Xuyên bên trên vẫn còn được bảo quản tương đối tốt. Và hoa quả, hương đèn vẫn có trên bệ thờ, ít nhất là trong các ngày sóc – vọng.


Vượt qua Cống Trắng, mé dọc bờ sông là ấp Bồi Thành mà phạm vi tiếp giáp với kiệt xuống bến đò Phường Đúc cũ. Có lẽ đến nay, hai địa danh này không có trong tâm trí người dân đang cư ngụ ở đó. Bởi ngày trước, nơi đây là xóm vắng với dân cư rất thưa thớt, nay thì nhà cửa đã quá sầm uất, mà phần lớn là người mới nhập cư, nhất là ở phạm vi Bồi Thành.


Đối diện với ấp Bồi Thành là cánh đồng Bàu Sa không rộng, theo ông Nguyễn Hữu Thông đây là vị trí lấy đất sét phục vụ cho việc làm khuôn đúc ở Trường Đồng. Nay thì khu ruộng sâu này đã được lấp đầy làm khu dân cư và một nửa thì xây dựng Trung tâm giới thiệu sản phẩm đúc đồng truyền thống Huế. Tiếp đến dọc bờ sông Hương, với chiều dài độ 500m, từ bến đò phường Đúc cũ tiếp giáp Bến Chung, nằm ngay ngã ba của hai con đường Bùi Thị Xuân và Huyền Trân Công Chúa, là phạm vi của “Năm dãy thợ đúc”. Đây là địa giới của làng nghề Phường Đúc cũ từ hơn 300 năm trước mà trong Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn đã mô tả rất cụ thể. Nơi đây có sự qui hoạch rõ ràng với địa danh 5 ấp là Giang Dinh (hay Giang Doanh), Giang Tiền, Kinh Nhơn, Bản Bộ và Trường Đồng, mà hầu hết ở cuối mỗi dãy xóm, cạnh mé bờ sông, đều có mỗi đình xóm được xây dựng khá uy nghi. Năm ấp này tên thường gọi ngày trước đến nay là “Năm dãy thợ đúc”.


Giang Dinh và Giang Tiền là nơi đóng quân của các đội lính thuỷ bảo vệ Phủ chúa Nguyễn ở Kim Long. Kinh Nhơn và Bản Bộ là nơi cư ngụ của những người lính thợ đúc gốc Kinh Bắc và Thuận Hoá, được gọi là Chú tượng Kinh Nhơn Ty và Bản bộ Ty, đứng đầu mỗi ty là một vị Cai quan. Trong gia phả họ Nguyễn Kinh Nhơn nhiều vị có chức danh là Chú tượng Kinh nhơn ty Cai quan. Lại có vị là Chánh dinh Suất nội Chú tượng Ngũ ty, với tước hiệu là Tuần Thành Bá.


Trường Đồng hay còn gọi là Chú Súng Trường (trong Bình Nam đồ phát hành năm 1774, ghi Chú Súng Trường nằm cạnh sông Hương, bên dưới Linh Mụ tự và bên trên Đại Sa châu) là nơi đúc súng và các loại đồ dùng, thờ tự trong phủ chúa. Đây là một gò đất cao, dù là cạnh bờ sông mà trận lũ lịch sử năm 1999 nhưng nước chỉ lên thấu thềm nhà ở đỉnh gò ấy. Vì thế mới được chọn nơi đây làm công trường sản xuất thời các chúa Nguyễn.


Đối diện với Trường Đồng là Nhà thờ Giáo xứ Phường Đúc mà ngày trước có tên gọi là Giáo xứ Trường An (có lẽ được ghép từ chữ đầu của Trường đồng và chữ sau của Vĩnh An, một ấp thuộc phạm vi gần tiếp giáp với Thành Lồi). Nhà thờ Giáo xứ này mới đầu năm 2008 đã tổ chức kỷ niệm 300 năm hình thành. Theo Việt sử giai thoại, đây là ngôi nhà nguyện được Chúa Nguyễn cho phép xây dựng đơn sơ theo yêu cầu của kỹ sư đúc tượng Jean de la Croix, người Bồ Đào Nha, làm cố vấn kỹ thuật cho công tượng đúc súng Trường Đồng để làm nơi cầu nguyện theo tín ngưỡng của mình. Và cũng là nơi tổ chức lễ đám cưới cho ông kỹ sư này với một cô gái người bản xứ. Mà sách ấy gọi đây là mối tình Âu – Á đầu tiên ở Phú Xuân… Với những tư liệu vừa trình bày, ngược dòng lịch sử thì nơi “Năm dãy thợ đúc” này ngày trước cũng thật là sôi động!


Trở lại bến đò Phường Đúc cũ, từ ngã tư giao điểm đường nhựa và đường bê-tông, lên phía gò đồi của thôn Thượng 4 độ khoảng 300m, ngày trước vẫn có tên là Độn Kho thuốc. Có lẽ đây là nơi làm kho chứa thuốc súng, dùng cho các loại súng thần công đúc tại Chú Súng Trường nói trên.


Lên tiếp phía Long Thọ, chỉ trong một phạm vi không rộng mà có đến hai di tích là Hổ Quyền và điện Voi Ré. Cách nay 60 năm, tôi vẫn còn nghe người lớn đọc câu ca dao:


Con ai nhỏ nhỏ mà hoang,

Cầm que củi mục xoi hang Hổ Quyền!


Dạo ấy chưa nắm rõ Hổ Quyền là gì mà nghe cụm từ “xoi hang Hổ Quyền” thì cũng đã phát khiếp. Tiếp sau lưng điện Voi Ré là đồi Thọ Cương. Trên đồi thì có Kho Thượng – nơi chứa sản phẩm sành sứ sản xuất ở đó – rồi chuyển xuống bến đò Kho Thượng, ở mé sông cạnh chân đồi, vận chuyển đi phục vụ xây dựng cung điện đó đây. Ở mé nam của đồi Thọ Cương có Phủ thờ của Hòa Quốc Công.


Vượt qua cầu và Nhà máy xi-măng Long Thọ là con đường nhựa tuy nhỏ nhưng khá thẳng, chạy dọc suốt làng Nguyệt Biều, tiếp giáp với bãi sa bồi thôn Lương Quán. Đây là một đoạn trên của đường Bùi Thị Xuân. Và nghe đâu các cấp liên quan đang có kế hoạch xây dựng Nguyệt Biều – Lương Quán làm khu du lịch sinh thái vườn, mà đặc chủng là cây thanh trà nổi tiếng nơi đây. Bên cạnh những vườn cây thanh trà xanh mát và tươi tốt, thì Nguyệt Biều xưa vẫn là nơi xuất thân một số vị đại công thần vừa là phu quân của các Công chúa triều Nguyễn. Tiêu biểu như Phủ thờ Công chúa Mai An, con vua Minh Mạng, vừa là một nhà thơ; Công chúa Trang Nhàn con thứ 23 vua Minh Mạng và gần cuối đường nhựa là Phủ thờ Lễ bộ Thượng thư Đặng Đức Siêu dưới thời vua Gia Long, được phong tước Hầu lúc qua đời (vợ ông Siêu được treo bảng vàng là “Tiết phụ khả phong”), có con trai làm Tổng trấn Nghệ An. Trước cổng phủ này nay vẫn còn ghi “Biểu sinh phường” ...


Như thế, nhìn lại chỉ trên tuyến đường Huyền Trân Công Chúa cũ, được nối dài đến cuối làng Nguyệt Biều với độ dài khoảng 5 cây số mà nay đã được đổi tên là Bùi Thị Xuân, với hơn 600 số nhà và đường kiệt, đến nay vẫn còn tồn tại một con số không nhỏ những di tích văn hóa lịch sử, mà một số lớn vẫn còn trong dạng tàng ẩn. Thiết nghĩ, các ngành chức năng bảo tồn và du lịch phối hợp và cùng nổ lực khôi phục, làm hiển lộ đầy đủ những di tích này và thiết lập một tour du lịch liên hoàn thì có lẽ tiềm năng cũng không nhỏ.

_________________

Nguyễn Văn Tạo

trungtamhuyentran.thuathienhue.gov.vn

HOA SEN TRONG BÙN



Có lắm người xuất gia cũng như tại gia cho rằng, chúng ta tu không thể nào giác ngộ thành Phật. Vì đức Phật ra đời có những nhân duyên kỳ đặc, bản chất Ngài đã thánh sẵn rồi; còn chúng ta nào là ham mê dục lạc, nào là tội lỗi đầy đầu, nào là sanh nhằm thời mạt pháp căn cơ yếu kém ngu độn v.v... làm sao tu thành Phật được? Ở đây chúng tahãy nhìn Thái tử là một con người, thật là người để lấy làm mẫu mực hướng theo tu hành

THÁI TỬ TẤT-ĐẠT-ĐA (Siddharta) - SỐNG TRONG HOÀNG CUNG

Khi là một ông hoàng ở trong cung cấm, Thái tử bị mọi thứ dục lạc bủa vây: nào là vợ đẹp, hầu xinh, Ngài có cả thảy ba bà vợ, bà Cu-tỳ-gia (Gapica), bà Gia-du-đà-la (Yasodhara), bà Lộc giả (Urganica) và cung phi mỹ nữ. Nào là đàn ngọt hát hay, cả ngày âm thanh dằng dặc không dừng nghỉ. Nào là sự chiều chuộng của vua cha, xây cung điện thích hợp bốn mùa, tạo cảnh vui thích không để Ngài có một phút đăm chiêu. Đây là cảnh thiên đàng ngay trong trần thế, Ngài vui hưởng cảnh này đến năm mười chín tuổi.

THÁI TỬ ĐI TU VÀ THÀNH PHẬT

Chỉ một lần Thái tử trông thấy cảnh già, bệnh, chết của con người, Ngài khổ đau trằn trọc. Tại sao người ta phải chấp nhận lớp người này sanh ra, già, bệnh, chết, rồi lớp khác tiếp tục, cứ thế tiếp tục mãi không có ngày cùng? Ngài cương quyết đập tan cái tiền lệ ấy. Vì thế, bao đêm Ngài thức trắng, lòng Ngài băn khoăn đau xót giày vò, cốt tìm ra lối thoát để cứu mình, cứu chúng sanh. Từ đây, sắc đẹp hát hay, trở thành trơ trẽn tầm thường trước mắt Ngài. Thức ngon vị ngọt, trở thành nhạt nhẽo chán ngán, khi chúng để vào miệng Ngài. Ngài ê chề ngán ngẩm mọi thứ dục lạc tạm bợ trá hình. Ngài cương quyết rời hoàng cung xuất gia tầm đạo. Mặc dù con đường này giăng trải trước mắt Ngài muôn vàn nguy hiểm thập tử nhất sanh, Ngài chấp nhận phải dấn bước. Thế là Ngài xuất gia lúc mười chín tuổi. 

Bao nhiêu năm lang thang trong rừng sâu học đạo, con người vương giả của Ngài đã pha màu sương gió, đã từng trải mọi thứ đắng cay, song ý chí kiên cường quả cảm của Ngài không suy giảmHọc đạo không thỏa mãn, Ngài nguyện thực hành khổ hạnh tột cùng. Nhưng thân sắp hoại mà đạo chưa thấy, Ngài phải sống trung hòa và đến dưới cội bồ-đề ngồi tu bốn mươi chín ngày đêm liền ngộ đạo. Ngang đây, Ngài thành Phật hiệu là Thích-ca Mâu-ni. Đã qua rồi, con đường tầm đạo ngót mười một năm.

Sau khi Ngài thành Phật, Ngài nhìn hồ sen thấy có những hoa đã nở tròn đầy, có những hoa còn búp son trinh, có những hoa đang trụ hình trong nước, có những mầm sen còn vùi trong bùn nhơ. Song tất cả đều có khả năng nở tròn khoe sắc, nhả hương tinh khiết. Chúng đồng trong lòng đất nhớp nhúa vươn lên, khi được hớp sương phơi nắng, chúng đều tròn đủ sắc hương như nhau. Ngài thấy con người cũng thế, khi sanh ra và lớn lên trong vòng mê dục, một phen tỉnh giác con người sẽ tiến lên bậc giác ngộ khó gì. Thế là, Ngài lấy hoa sen để biểu trưng cuộc sống và giáo lý của Ngài. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa là hình ảnh cụ thể nhất. 

PHẬT NGỒI TRÊN ĐÀI SEN

Chúng ta đọc lịch sử Phật, ai cũng biết Bồ-tát đến cội bồ-đề trải cỏ làm tòa ngồi, và thành đạo ngay dưới cội cây này. Hiện nay chúng ta thờ Phật đúng theo tài liệu lịch sử, phải để Ngài ngồi trên tòa cỏ. Tại sao ngày nay chùa nào thờ Phật cũng ngồi trên tòa sen? Đây là để biểu trưng con người của Ngài. Vì trước kia là ông hoàng, Ngài cũng nhiễm ô ngũ dục, như mầm sen còn ở trong bùn. Khi Ngài vượt thành xuất gia là mầm sen ra khỏi bùn, mà còn ở trong nước. Lúc Ngài ngồi tu ở dưới cội bồ-đề và thành đạo là hoa sen ra khỏi nước nở tròn đầy hương thơm ngào ngạt. Hoa sen lại tượng trưng cho sự bình đẳng giữa mọi người. Đã là mầm sen thì mầm sen nào cũng có khả năng vươn lên khỏi bùn, khỏi nước và trổ hoa tươi thắm hương thơm ngạt ngào. Đã là con người thì con người nào cũng có khả năng thoát khỏi dục lạc ô nhiễmthức tỉnh tu hành và đạt thành đạo quả. Phật quả không phải của riêng một người nào, mà của chung tất cả ai có ý chíthoát trần, có quyết tâm đạt đạo. Vì vậyPhật quả gọi là Vô thượng giác, là giác ngộ không ai trên, song có người bằng; Phật cũng dùng hình ảnh hoa sen để nhắc nhở Phật tử, ở giữa chốn ô nhiễm mà khéo vượt ra bằng trí tuệ sáng ngời của mình. 

Bài kệ nói :

Như giữa đống rác nhớp. 
Quăng bỏ nơi bờ đầm 
Chỗ ấy hoa sen nở. 
Thơm sạch đẹp ý người. 
Cũng vậy, giữa quần sanh. 
Uế, nhiễm, mù, phàm tục 
Đệ tử bậc Chánh Giác
Sáng ngời với trí tuệ. -- (Pháp cú câu 58-59)

Hoa sen mọc chỗ nhớp nhúa mà thơm tho tươi đẹp, sống trong đời nhiễm nhơ mù tối, người Phật tử chúng ta phải khéo dùng trí tuệ vượt ra để cứu mình, và cứu người. Cái quí của hoa sen là sanh từ chốn bùn lầy mà tinh khiết, cái cao cả của người tu là sống trong mọi dục lạc nhiễm ô mà vượt ra an toàn siêu thoát. Hoa hường, hoa lan thơm hơn hoa sen, mà không được nhắc tới, vì sanh ở chỗ đất sạch. Nếu Thái tử là người từ trên trời rơi xuống mà đắc đạo thì không có giá trị gì. Chính trong vòng kềm tỏa của dục trần, mà thoát được mới là bậc đại hùng

CÁ NHẢY KHỎI LƯỚI

Đời Tống ở Trung Hoa có hai Thượng tọa Thâm và Minh. Hai vị có duyên sự cùng sang đò qua sông Hoài. Đang sang sông, thấy người bủa lưới đang kéo, có con cá to nhảy khỏi lưới ra ngoài. Thượng tọa Thâm vỗ tay khen: "Hay thay! Như Thiền sư." Thượng tọa Minh không đồng ý bảo: "Phải ở ngoài lưới mới hay, đợi vào lưới rồi mới nhảy là muộn." Thượng tọa Thâm nói: "Huynh Minh chưa hiểu." Đi hơn dặm đường, Thượng tọa Minh bỗng nhận ra chỗ sai, liền sám hối.

Qua câu chuyện trên, chúng ta thấy thế nào? Con cá trong lưới nhảy là hay, con cá thong dong ngoài lưới là hay? Đạo lý nhà Phật dạy, trong cảnh bủa vây của phiền não mà thoát ra được mới thật là hay. Đây mới thi thố được sức mạnh phi thường của con người thoát tục. Nếu ở ngoài lưới nói gì nhảy, không nhảy làm sao biết được sức mạnhcủa mình. Hơn nữa, bản thân con người đầy đủ tam bành (tam độc), lục tặc (sáu giặc) lại sáu trần dụ dỗ cuốn lôi, nếu không phải là bậc siêu quần bạt tụy làm sao thắng trận giặc nội công ngoại kích này. Cùng là cá, bao nhiêu con khác bị lưới cuốn không thể giãy vùng, cuối cùng bị người đánh cá bắt bỏ vào giỏ, chỉ một con này nhảy vọt khỏi lưới, không đồng với người xuất trần thoát tục là gì? Nếu chúng ta sanh ra đã là Thánh thì còn nói gì tu. Chính vì chúng ta mang đầy đủ thói hư tật xấu trong mình, chứa đầy tham sân si trong lòng, cho nên gặp cảnh thì nhiễm, trái ý thì sân, quẳng chúng thoát ra, thật là điều khó khăn trăm phần, ai làm được điều đó, đáng cho chúng ta chắp tay tán thán. Vì thế, Tuệ Trung Thượng Sĩ đã làm bài kệ:

XUẤT TRẦN

Tằng vi vật dục dịch lao khu 
Bài lạc trần hiêu thế ngoại du 
Tán thủ na biên siêu Phật Tổ 
Nhất hồi đẩu tẩu nhất hồi hưu.

Dịch:

RA KHỎI BỤI HỒNG

Đã từng ham muốn phải long đong 
Ném quách mà ra khỏi bụi hồng 
Buông thõng bờ kia lên Phật Tổ 
Một lần phủi giũ một lần xong.

Bởi vì chúng ta chạy theo vật dục nhân gian nên phải khổ sở gian nan. Nếu can đảm ném phắt hết, vượt ra ngoài vòng trần lụy, quả là can đảm phi thường. Có thể, mới buông thõng tay bước lên ngôi nhà Phật Tổ được. Song phải mạnh dạn dứt khoátmột lần bỏ đi không thèm ngó lại. Chớ đừng học thói nhầy nhụa, dùng dùng thẳng thẳng cắt không đứt, bứt không rời, một chân bước tới hai chân bước lui, không làm nên trò trống gì, chỉ chuốc trò cười cho hàng thức giả. Bởi vậy nên nhà thiền thường dùng câu "giết người không ngó lại" là ý này. Phải can đảm dứt khoát thì việc khó mấy cũng thành công. 

TRẦN NHÂN TÔNG: ÔNG VUA, TU SĨ

Vua Trần Nhân Tông sanh năm 1258, lên ngôi vua năm hai mươi tuổi, xuất gia năm bốn mươi mốt tuổi và năm mươi mốt tuổi tịch (1308). Suốt hai mươi năm, Ngài là bậc nhân chủ lãnh đạo quốc gia giữ nước chăn dân, ngồi trên ngai vàng sống trong cung ngọc, mọi thứ dục lạc đều dư thừa. Hai phen cầm quân chống giặc xâm lăng, nhân mạng hy sinh rất lớn. Bổn phận giữ nước chăn dân, Ngài làm đầy đủ. Năm bốn mươi mốt tuổi, Ngài nhường ngôi cho con, đi xuất gia. Lúc nhỏ Ngài đã được vua cha và thầy là Tuệ Trung Thượng sĩ chỉ dạy đạo lý thiền nhuần thấm sâu xa, nên khi xuất gia Ngài không cần tầm học, chỉ thực hiện điều đã học được.

Trong mười năm, là kẻ xuất gia Ngài mang hiệu Trúc Lâm Đầu-đà, tích cực hoạt độngtruyền bá chánh pháp. Trong giới xuất gia, Ngài giáo dục chúng Tăng, có khả năng đảm đang giáo hội. Trong dân chúng, Ngài đem pháp Thập thiện giáo hóa toàn dân, khiến Phật pháp mở rộng trong nhân gian. Công tác hoằng truyền Phật phápgiáo hóa nhân dân, Ngài làm suốt đời không dừng nghỉ.

Khi sắp tịch, Ngài nằm tại Ngọa Vân am sai người gọi Bảo Sát đến. Ngày một tháng mười một, đúng nửa đêm, sao sáng đầy trời, Ngài hỏi: Bây giờ là giờ gì? Bảo Sát thưa: Giờ Tý. Ngài đưa tay ra hiệu mở cửa sổ để nhìn ra ngoài, nói: Đến giờ ta đi vậy. Bảo Sáthỏi: Tôn đức đi đâu bây giờ? Ngài đọc lại bài kệ:

Nhất thiết pháp bất sanh 
Nhất thiết pháp bất diệt 
Nhược năng như thị giải 
Chư Phật thường hiện tiền 
Hà khứ lai chi hữu?

Dịch:

Tất cả pháp chẳng sanh 
Tất cả pháp chẳng diệt 
Nếu hiểu được như thế 
Chư Phật thường hiện tiền 
Nào có đi có lại?

Bảo Sát hỏi thêm: Khi chẳng sanh chẳng diệt thì sao? Ngài khua tay nói: Thôi đừng nói mê nữa. Rồi Ngài ngồi theo kiểu sư tử tọa mà tịch... (Tam Tổ thực lục).

Qua ba giai đoạn trên, chúng ta thấy Ngài sống giai đoạn nào ra giai đoạn ấy. Lúc làm vua thì quên mình giữ nước, hết dạ chăn dân. Khi đi tu, nhiệt tâm vì đạo mài miệt tu hành, chẳng ngại nhọc nhằn hết tình với tăng tục. Vì thế, trên đường đời Ngài thành công viên mãn, trên đường đạo thì đạo quả viên thành. Chính thái độ dứt khoát tích cực, nên lãnh vực nào Ngài cũng thành công. Ngài cũng hưởng dục lạc trong hoàng cung, cũng cầm binh khiển tướng ngoài trận mạc, nếu nói là tội lỗi thì cũng tràn trề. Song khi dứt khoát tiến tu thì cắt đứt mọi quá khứ, sống kham khổ tu hành, nên lấy hiệu đầu-đà (khổ hạnh). Với ý chí cương quyết đó, chỉ trong vòng mười năm, Ngài đã tiến đến chỗ sanh tử tự tại. Đây là tấm gương sáng rỡ để nhắc nhở chúng ta, không sợ mình trước mê lầm tội lỗi, chỉ sợ xuất gia rồi mà thái độ vẫn mập mờ. Ngài là con người thấy được đạo lý và sống được đạo lýChúng ta đọc bài kệ kết thúc bài phú Cư Trần Lạc Đạo của Ngài thì rõ:

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên 
Cơ tắc xan hề khốn tắc miên 
Gia trung hữu bảo hưu tầm mích 
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.

Dịch:

Trong đời vui đạo hãy tùy duyên 
Đói đến thì ăn mệt nghỉ liền 
Nhà mình báu sẵn thôi tìm kiếm 
Đối cảnh không tâm, chớ hỏi thiền.

Sống ngay trong lòng trần tục mà khéo biết đạo vẫn thấy an vui. Duyên cảnh đổi thay tùy thời linh động, như khi đói thì ăn, khi mệt thì nghỉ, đừng cố chấp cứng nhắc mà tự khổ đau. Phật đã sẵn nơi ta, khỏi phải nhọc nhằn sang đông tìm tây. Cái khôn ngoan khéo léo của chúng ta là "đối cảnh tâm không động", chính nơi đây là thiền rồi, còn thưa hỏi đâu nữa. Người học đạo nhận thấy Phật đã sẵn nơi tâm mình, song muốn Phật hiện thì tâm đừng chạy theo cảnh. Đây là lối tu thật giản đơn, thật cụ thể, mà người đời khó tin khó nhận. Người ta chỉ tin Phật ở Tây phương, phải siêng năng lễ bái thì được phước, được Phật rước về cõi Phật. Bởi vậy Tổ Lâm Tế nói: "Người ngu cười ta, kẻ trí biết ta." Cười, vì thấy không tụng kinh lễ bái, chẳng biết tu cái gì? Biết, vì thấy lối tu tế nhị cụ thểthiết thực, không còn gì nghi ngờ. Một ông vua, xuất gia chỉ có mười năm mà đạt đạo như vậy, thật đáng quí kính biết dường nào. Cho nên triều đình tôn xưng Ngài là Điều Ngự Giác Hoàng. 

THÁI TỬ TẤT-ĐẠT-ĐA VÀ TRẦN NHÂN TÔNG

Thái tử là ông hoàng chưa từng đối đầu với mọi việc khó khăn ở đời, chỉ thấy cảnh già, bệnh, chết là phát tâm đi tu. Mục đích Ngài đi tu để tìm phương pháp phá vỡ cái luật khắc nghiệt của kiếp con người mà muôn thuở đã chấp nhận. Ngài phải trả cái giá rất đắt là, mười một năm nằm gió phơi sương lang thang trong rừng núi, ăn uống sơ sài cho đến kiệt sức. Đến khi giác ngộ viên mãn phương pháp giải thoát sanh tử tuyên bố thành Phật. Đây là người khai mở con đường đạo giác ngộ giải thoát. Tức là Ngài đã phá vỡ luật khắc nghiệt (già bệnh chết) chi phối mình và đem ra chỉ dạy mọi ngườiViệc làm của Ngài là muôn thuở không hai.

Vua Trần Nhân Tông là người kế thừa con đường của Phật đã vạch sẵn. Bởi kế thừanên công phu đơn giản và nhẹ nhàng, chỉ cần đem đuốc mình mồi vào đuốc Phật là cháy sáng. Do đó đi tu Ngài không khổ công tầm đạo, chỉ cần ứng dụng đạo đã sẵn vào việc tu hành là thành công. Tuy vậy cũng không phải là việc dễ dàng, mặc dù có công thứcchỉ rõ, muốn ứng dụng công thức ấy phải gan góc cùng mình, phải mạnh tay chặt đứt mọi xiềng vàng xích ngọc, phải hùng dũng nhảy vọt khỏi mấy lớp rào tình cảm bịt bùng.

Hai Ngài đều chôn mình trong cung vàng điện ngọc, bị bao vây bởi đám cung nữ phi tần, bị phủ kín trong tiếng đàn ngọt hát hay, bị siết chặt bởi mùi thơm vị quí. Song cả hai đều quả cảm thoát ra không chút đoái hoài luyến tiếc. Do đó hai Ngài làm được việc khó làm, để lại cho đời tấm gương phi phàm xuất chúng. Hai Ngài là hai mầm sen chôn sâu trong vũng bùn ngũ dục, vươn lên khỏi nước nở tròn tươi thắm và tỏa ra mùi hương tinh anh thanh khiết bủa khắp cả trần gian.

Qua những hình ảnh trên, chúng ta có đủ kinh nghiệm trong việc tiến tu, không còn e dènghi ngại gì nữa. Bởi vì không có vị nào đã là thánh rồi thành thánh, mà tất cả đều bị bao vây bởi phiền não dục trần. Cái đặc điểm của các ngài là nhạy cảm sớm thức tỉnh và anh dũng khi cần thoát nó. Điều đó chúng ta có thể học được, có ai thấy cảnh già bệnh chết mà chẳng buồn, có ai không khí khái khi thốt ra những lời thề bán mạng. Chỉ cần chúng ta triệt để ứng dụng cái nhạy cảm của mình để phát chí tu hành, khéo xoay chuyển cái khí khái của mình vào con đường quyết tử cầu đạo. Dám hạ quyết tâm trên đường hành đạochúng ta sẽ thu gặt được kết quả chắc chắn không nghi. Chúng ta là những mầm sen phơi mình trên bùn ngũ dụcthoát khỏi nó để vươn lên có khó gì? Chúng ta đâu có cung vàng điện ngọc, đâu có cung phi mỹ nữ... mọi dục lạc tìm cầu rất khó, nếu thoát nó thì hết sức nhẹ nhàng, chỉ cần một cái nhảy nhẹ đã ra khỏi rồi, thế mà chúng ta cứ chần chừ không ưng nhảy. Đây là yếu điểm muôn kiếp chịu trầm luân của chúng ta.

_________________________


• Thích Thanh Từ

Nguồn: thuvienhoasen.org

KHÁM PHÁ CON ĐƯỜNG BÍ HIỂM LÊN AM NGỌA VÂN - YÊN TỬ

Đây là chuyến đi tôi không bao giờ quên. Lạc đường, ngủ lại rừng sâu, những câu chuyện kì bí của am Ngọa Vân, những câu chuyện tìm mộ kì lạ ở bãi đá Chồng và ngôi nhà nhỏ giữa thung lũng đẹp mơ màng.


Con đường mòn này từ lâu chẳng có ai đi và gần như mất dấu. Sau nhiều lần bị lạc, 10h tối, chúng tôi quyết định ngủ lại trong rừng sâu để sáng lại tiếp tục lên đường, cuối cùng chúng tôi cũng lên được am Ngọa Vân.






Chúng tôi trở về trên con đường khác với đường lên, con đường mòn thông thuộc cho du khách


Con đường đi qua bãi đá Chồng cùng nhiều câu chuyện kì lạ


Quang cảnh hùng vĩ nhìn từ bãi đá


Một ngôi mộ được tìm rất kỳ lạ


Ngôi nhà hết sức lên thơ của vợ chồng ông lão chăn bò gần bãi đá Chồng.

Và Ngôi nhà bỏ hoang bên sườn núi. Ngôi nhà là chỗ chú qua đêm cho những

du khách muốn khám phá những điều kì bí nơi đây. Ngôi nhà nhìn ra sườn núi đẹp mê hồn


Nhìn từ ngôi nhà ra


Tạm biệt Ngọa Vân Am chúng tôi trở về trong chiều hoàng hôn đỏ rực



Tây Yên Tử vẫn còn nhiều điều kì bí chúng tôi chưa khám phá


Để đến am Ngọa Vân con đường thú vị là đi qua dốc Đô Kiệu, theo lối Thông Đàn. Xuất phát từ Hà Nội, bạn hãy đến làng Trại Lốc (Đông Triều - Quảng Ninh). Chúng tôi xuất phát từ Trại Lốc. Đoạn đường trước khi đến dốc Đô Kiệu không quá khó đi, vì phần lớn là đi theo lối mòn. Nhưng con dốc Đô Kiệu thì quả không sai với ý nghĩa của cái tên. Dốc dựng đứng, và không có bậc, xưa kia kiệu của vua Trần khi đi theo lối này, đến đây cũng đành dừng lại (vậy nên tên gọi khởi thủy của nó là Đỗ Kiệu).

___________

Phan Phan

Nguồn: news.zing.vn

TRẦN NHÂN TÔNG SỞ ĐẮC GIẢI THOÁT VÀ TƯ TƯỞNG PHẬT HỌC

 
Về cuộc đời và sự nghiệp lịch sửgiải thoát của vua Trần Nhân Tông, đã có nhiều công trình biên khảo: Trần Nhân Tôngthiền sư Việt NamTrần Nhân Tông, nhà văn hóaTrần Nhân Tông, nhà thơ; Trần Nhân Tông, nhà quân sự; Trần Nhân Tông, nhà lãnh đạo lỗi lạcTrần Nhân Tông, nhà tư tưởng... 
 
Trong bài khảo luận ngắn này, người viết chỉ đề cập đến một số nét tiêu biểu về Tiểu sử, sở đắc giải thoát và Tư tưởng Phật học của Người.
 
Về tiểu sử
 
Dựa theo sử liệu của Nguyễn Lang trong Phật Giáo Việt Nam Sử Luận, tập I, NXB Văn học, Hà Nội 1994, và sử liệu trong Thơ văn Lý Trần, tập II, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội 1989, thì Người tên thật là Trần Khâm, sinh năm 1258; con cả của vua Trần Thánh Tông; năm 20 tuổi lên ngôi báu, hiệu Nhân Tông; năm 36 tuổi làm Thái thượng hoàng, nhường ngôi cho Anh Tông; năm 41 tuổi xuất gia; năm 51 tuổi, 1308, viên tịch ở am Ngọa Vân, núi Yên Tử
 
Thiếu thời, Người đòi nhường địa vị Đông cung thái tử cho em để xuất gia. Người thông lãm nội và ngoại điển, học Phật từ nhỏ, học Thiền định dưới sự chỉ dẫn của Tuệ Trung Thượng Sĩ
 
Người đã cùng tướng sỹ triều Trần hai lần đánh bại đoàn quân xâm lược Nguyên Mông (năm 1285 và năm 1288) - đoàn quân bách chiến bách thắng đã từng đánh bại nhiều nước ở châu Âu và Tống triềuTrung Quốc; là vị vua yêu nước, anh hùng, rất “thân dân”, đã thực hiện thành công đại đoàn kết dân tộc (triều đình và nhân dân), mở Hội nghị dân chủ Bình Than và Diên Hồng, chủ trương “Tam giáo đồng nguyên”, viết nên trang sử lẫy lừng của dân tộc, và cả thế giới đương thời. Người còn là nhà thơ, nhà văn hóa Việt Nam, là một nhân cách lớn của dân tộc. 
 
Xuất gia, là tổ thứ sáu của thiền phái Yên Tử, và là sơ tổ dòng thiền Trúc Lâm, chủ trương thống nhất các thiền phái Phật Giáo tại Việt Nam (Tỳ-ni-đa-lưu-chi, Vô Ngôn ThôngThảo Đường) mang nét đặc thù Việt Namtích cực dấn thân vào xã hội xây dựng hưng vượng xứ sở bằng từ bitrí tuệ và đạo đức của Phật giáo
 
Người thường giảng dạy kinh, luận và đạo Thiền cho các Tăng sĩ, truyền bá Thập thiện giới cho quần chúng, khuyên dân từ bỏ các dị đoan, hủ tục, đề cao đạo đức Phật giáo
Một lần Người vân du qua Champa thiết lập bang giao hữu nghị với vua Chiêm là Chế Mân, hứa gả công chúa Huyền Trân cho Chế Mân. Vua Chiêm đã dâng cho Việt Namhai châu Ô và Rý (Thuận và Hóa) làm sính lễ. 
 
Trần Nhân Tông đã biểu hiện rõ Người là một vị vua anh minh, một nhà lãnh đạo giỏi, một nhà tôn giáo tài ba, và là một thiền sư lỗi lạc.

Sở đắc giải thoát của Trần Nhân Tông
 
Rất khó có thể biết được sở đắc giải thoát của một người qua sự khảo sát bên ngoài, nhất là người ấy lại là Điều Ngự Giác Hoàng Nhân Tông. Càng khó hơn khi người biên khảo chưa từng trải nghiệm giải thoát (tâm và tuệ giải thoát). Điều duy nhất người biên khảo có thể đề cập là theo dấu các sự kiện biểu hiện thái độ sống, cung cách hành xử, và thi cakệ tán của Người để hình dung ra dòng vận hành tâm thức của Điều Ngự
 
a) Là một thanh niên thông rõ nội và ngoại điển, hiếu học, hiếu từ, nhân ái, từng trốn khỏi hoàng cung xuất gia tầm đạo, xem ngôi báu như đôi dép cỏ, hẳn là đã có một nhân tố giải thoát hiện diện trong tâm thức người từ thơ ấu: nhân tố ấy đã giục Người vào nơi vắng vẻ, xa xôi của núi Yên Tử, đã giục tâm thức người vươn dậy hướng về ánh sáng núi rừng, rời xa vùng ngã tướng, ngã niệm, cấu uếthị phi phiền não
 
Đây là sự choàng tỉnh của tâm thanh tịnh thuộc Dục giới và Sắc giới - còn gọi là tịnh quang tâm của cõi Dục và cõi Sắc - cái tâm thức mở cửa đi vào thiền định, vào “tâm giải thoát”. 
 
b) Năm 20 tuổi đăng quang, đã liền đi vào hai cuộc chiến chống ngoại xâm Nguyên Mông đầy ác liệt và gian khổ: đây là dịp để Người thể nghiệm sâu sắc cái vị đắng của sinh tửvô thường, mộng mị của nhân tình thế thái, từ đó hào tâm trỗi dậy, tâm khoan dung trỗi dậy, và tâm từ bỏ danh sắclợi lộc trần thế trỗi dậy giục Người quyết địnhhướng sống xả ly của tự thân và xây dựng kỷ cươngđạo đức cho xã hội, như là sự kiện đại đế A-Dục (Asoka) thức tỉnh giữa trận chiến đẫm máu Kalinga, xứ Ấn vào thế kỷ thứ III trước Tây lịch kỷ nguyên, từ bỏ đao, kiếm dùng đạo đức Phật giáo để nhiếp dân. 
 
c) Người được thân cận học hỏi giáo lý trí tuệ từ bậc thạc đức vô nhị thượng nhân Tuệ Trung Thượng Sĩ là nhân duyên lớn giúp Điều Ngự cắm rễ tâm thức vào sâu lòng đất giải thoátThượng Sĩ như là một bệ phóng an toàn đẩy phi thuyền Điều Ngự đi vàovùng trời giải thoát bao lamột thể cách giải thoát thực hiện trong đời sống chính trị, xã hội rất thiết thực, rất nhân bản và rất trí tuệ
 
Đây là nhân duyên dẫn đến sự ra đời của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đậm đà sắc thái Việt Nam: “Sống đời vui đạo cứ tùy duyên” - cái tinh thần “tùy duyên nhi bất biến”, hay “dĩ bất biến ứng vạn biến”. 
 
d) Chùa Hoa Yên ở trên vùng cao của núi Yên Tử. Chỉ cần ở đó Điều Ngự lên xuống núi đôi lần trong một tuần lễ thì đủ duyên để chứng nghiệm cái rã rời , hư ảo của thân tâm (ngũ uẩnthành tựu công phu hành trì Tứ Niệm Xứ (thiền định Phật giáo), buông xả tự nhiên hết thảy vọng niệmcấu uế tâm, thanh thản với núi rừng, và sản sinh ra các thi, kệ, tư tưởng cao vời. 
 
Tất cả, ít nhất, bốn duyên nói trên là nhân tố xác định - hay dấu hiệu xác chứng - tất yếu sở đắc giải thoát rất sâu của Điều Ngự mà về sau Người đã ghi lại trong các thi, kệ cảm tác của Người. 
 
e) Sở đắc giải thoát 
 
Các nhân duyên trên là ánh sáng rọi vào thi, kệ của Người hầu có thể bắt gặp cấp độ tâm thức giải thoát mà Người đã trải nghiệm, như là: 
 
- Trong một buổi “đại tham” ở chùa Sùng Nghiêm, Điều Ngự Giác Hoàng đã mở lời với bài kệ: “Thân như hơi thở qua buồng phổi/ Kiếp tựa mây luồn đỉnh núi xa/ Chim Quyên kêu rã bao ngày tháng/ Đâu phải mùa xuân dễ luống qua (Thân như hô hấp tỵ trung khí/ Thế tự phong hành lĩnh ngoại vân/ Đỗ quyên đề đoạn nguyệt như trú/ Bất thị tâm thường không quá xuân). 

(VNPGSL, ibid., tr 374)
 
Bài kệ ghi rõ một kinh nghiệm thiền quán về thân ngũ uẩn của con ngườihành giảhành thiền cần thấy rõ nơi thân, tâm mình cái mỏng manh, vô thường, tạm bợ, không thật; những gì ở trên thân và ngoài thân là vô hộ, vô chủ, không thuộc về ta, không phải là ta, không thuộc về ai, không phải là ai. 
 
Từ kinh nghiệm đó, tâm thức tự động rời xa dục vọngsân hậnvị kỷxan thamđố kỵ... mà giáp mặt với hân hoanhỷ lạckhinh anthanh thản. Được vậy thì không uổng phí thời giantiếp tục nỗ lựctinh cần thể nghiệm. Đây là lời lẽ nhắc nhở và đánh thứcTăng chúng đi vào thực nghiệm lời đức Phật dạy ở kinh Niết Bàn, phẩm Thánh hạnh, rằng: Chư hành vô thường/ Thị sinh diệt pháp/ Sinh diệt diệt dĩ/ Tịch diệt vi lạc.
 
Hai câu cuối bài kệ trên là chỗ về của người tu sỹ Phật giáo, là nội dung mà Bồ tát Tuyết Sơn (trong bản kinh) sẵn sàng đổi thân mình cho quỷ La Sát ăn thịt để được nghe. Đó cũng là sở đắc, sở chứng mà Điều Ngự Giác Hoàng muốn trao truyền cho các Tăng sỹ Việt Namđánh thức họ đi ra khỏi vùng tâm thức của ngã niệm, của các nghi vấn, thắc mắc nêu ra nhiều câu hỏi ách yếu về sự thật của nhân sinh và thế giới: Họ luôn luôn mong chờ các câu trả lời, các lời giải đáp về thế nào là Phật? Thế nào là Pháp? Thế nào là Tăng? Thế nào là gia phong của chư Phật, chư Tổ?... 
 
Điều Ngự luôn nhấn mạnh vào 8 chữ “sinh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc”, nhắc nhở Tăng sỹ hãy quay trở về tự tâm mình để dập tắt các ngã tưởngvọng tưởng ấy: Khi các ngã tưởng, ngã niệm được dập tắt thì các ngã tướng sinh diệt cũng bị dập tắt - đó là sự dập tắt sinh diệt, trong câu “sinh diệt diệt dĩ - thì tham áichấp thủ bị dập tắt theo: đây là thời điểm chứng nghiệm an lạcgiải thoát - điều mà kinh gọi là “Tịch diệt vi lạc” - Điều Ngự cứ mãi dồn Tăng sỹ vào một điểm duy nhất là: vấn đề trọng yếu là chứng nghiệm an lạcgiải thoát, mà không phải nói về, nghĩ về an lạc, không phải là hỏi hay trả lời! Đây cũng là kinh nghiệm tuyệt vời của Tuệ Trung Thượng Sĩ khi Thượng Sĩbảo: “Đạo bất tại vấn, vấn bất tại đạo”. 
 
Điểm trao truyền kinh nghiệm tâm thức giải thoát này của Điều Ngự Giác Hoàng và của Tuệ Trung Vô nhị Thượng Sĩ đích thị là linh hồn, là sức mạnh tinh thần (hay tâm linh) của Phật giáo đời Trần, của Phật giáo Lý-Trần, đỉnh cao của tư tưởng Phật giáo Việt Nam và tư tưởng Việt Nam vậy: lúc nào mà sức sống thiền định này chuyển vào tư thế yên nghỉ của tư tưởng và văn học thì Phật Giáo Việt Nam và Việt Nam đi vàosuy yếu; ngược lại, khi nào tư tưởng và văn học Lý Trần chuyển hiện vào sự sống thì Phật Giáo Việt Nam và Việt Nam ắt hẳn đi vào hùng cường, hưng vượng. 
 
 - Ý nghĩa “sinh diệt diệt dĩ” là ý nghĩa “bất sinh bất diệt”, vốn là sự thật muôn thuở của vạn hữu: tất cả hiện hữu đang tồn tại bất sinh bất diệt trong vận hành của Duyên khởimãi mãi tồn tại như thế. 
 
Chỉ có các ngã tướng do các ngã niệm, ngã tưởng ảo vọng của con người dựng nên là sinh diệtSự thật này thật sự đã được Điều Ngự Giác Hoàng chứng đắc lúc sinh tiền, và an trú vào sự thật đó cho đến thời điểm trút bỏ hơi thở sau cùng - giờ tý, ngày 21 tháng 10 âm lịch, năm 1308 - khi Người nói lên bài Kệ thị tịch giã từ Tăng chúngrằng: Mọi pháp đều không sinh/ Mọi pháp đều không diệt/ Nếu hiểu rõ như thế/ Thì thấy chư Phật thường hiện diện/ Có đi lại, sinh diệt gì đâu? (!) (Nhất thiết pháp bất sinh/ Nhất thiết pháp bất diệt/ Nhược năng như thị giải/ Chư Phật thường hiện tiền/ Hà khứ lai chi hữu?) 

(VNPGSL, ibid, tr.395)
 
Tư tưởng Phật họcthái độ tự tại của Điều Ngự 
 
Từ sở chứng, sở đắc về Định và Tuệ nói trên, qua từng giai đoạn đời sốngĐiều NgựGiác Hoàng đã biểu hiện mức độ uyên áo khác nhau qua thái độ sống và hành xử đầy khoan dungnhân áidũng cảmtrí tuệ mà an nhiên tự tại
 
- Lúc tại vị, Người là vị vua yêu nước, anh hùng, “thân dân”, đầy trách nhiệm và thể hiện tốt đẹp đại đoàn kết dân tộc. 
 
- Lúc làm Thái thượng hoàng cũng vậy. 
 
- Lúc tu hành xuất thế thì tự giácgiác thaxây dựng một Giáo Hội PGVN có kỷ cương, có hồn, thống nhất tư tưởng và tổ chức các hệ phái. Người quan tâm đến việc giới thiệu một nếp sống đạo đức Phật giáo cho nhân dân, và cả việc giữ yên bờ cõi, thiết lập bang giao hữu nghị với Chiêm Thành. 
 
Đời sống thì tự nhiêntự tạidung dịđạm bạc. Người bảo: Niên thiếu chưa từng hiểu sắc, không/ Xuân đến, hoa sắc vướng tơ lòng/ Nay thì thấy rõ bộ mặt thật của chúa Xuân/ Người an nhiên ngắm đóa hồng nở, rụng (Niên thiếu hà tằng liễu sắc, không/ Nhất xuân, tâm sự bách hoa trung/ Như kim khám phá Đông Hoàng diện/ Thiền bảnbồ đoàn khán trụy hồng) 

(VNPGSL, ibid, tr.391)
 
Đấy là thái độ sống an nhiên của trí tuệ trước cảnh đời biến độngvô thường, hệt như thái độ của Nhiếp Chính Ỷ Lan thể hiện cẩm nang mà Lý Thánh Tông để lại từ kinh nghiệm sống giá trị rút ra từ Phật giáo: “Vạn biến như lôi, nhất tâm thiền định”. 
 
Trong Cư trần lạc đạo phú, Điều Ngự xác nhận: “... Tranh công danh, lồng nhân ngã, thật ấy phàm ngu/ Xây đạo đức, dời thân tâm, định nên thánh trí...” và “Sống đời vui đạo cứ tùy duyên/ Hễ đói thì ăn, mệt nghỉ liền/ Trong nhà có báu, đừng chạy kiếm/ Vô tâm đối cảnh, hỏi chi thiền? 

(vô tâm đối cảnh = trước các sắc trần... tâm không khởi lên lòng tham, lòng sân, lòng si, không ưu bisợ hãi) -không dính mắc. 
 
Đây cũng là hệ quả tất nhiên của sự thực hành Định, Tuệ Phật Giáo - nói đủ là Giới, Định, Tuệ.
 
Tại đây, chúng ta có thể mạnh dạn phát biểu rằng: tư tưởng, triết lý thời Lý, Trần (ở Việt Nam) là tư tưởng, triết lý sống, hay sống triết lý, mà không phải là triết lý thuần túyhuyền đàm
 
Chúng ta hãy tiếp tục lắng nghe “triết lý sống-sống triết lý” ấy của Điều Ngự khi Điều Ngự nói đến các vấn đề triết lý ách yếu xưa nay của Đông, Tây: Có có không không/ Giây khô cây ngã/ Thầy tu áo vá/ Nhức não, đau đầu (Hữu cú, vô cú/ Đằng khô, thụ đảo/ Kỷ cá nạp tăng/ Chàng đầu hạp não)
 
Có có không không/ Chẳng có chẳng không/ Ghi dấu mạn thuyền/ Sau nầy tìm kiếm(thanh kiếm)/ Theo bức tranh vẽ/ Đi tìm ngựa đẹp (Hữu cú, vô cú/ Phi hữu, phi vô/ Khắc chu cầu kiếm/ Sách ký án đồ)
 
Có có không không/ Từ xưa đến nay/ Chấp vào ngón tay/ Quên mất mặt trăng/ Chết đuối trên cạn (đất bằng) (Hữu cú vô cú/ Tự cổ tự kim/ Chấp chỉ vong nguyệt/ Bình địa lục trầm)
 
Có có không không/ Như thế, như thế/ Tám chữ mở xong/ Không còn gì quan trọng (Hữu cú vô cú/ Như thị, như thị/ Bát tự đả khai/ Toàn vô ba tỵ) 

(ba tỵ là cái mũi lớn, ý nói vấn đề nổi bật, quan trọng; Tám chữ: Sinh diệt diệt dĩ. Tịch diệt vi lạc (phẩm Thánh HạnhKinh Niết Bàn)) 


(VNPGSL, ibid., tr.382-385)
 
Các nhà tư tưởng xưa nay đều đi vào các tri kiến chủ trương thường hằngđoạn diệt, vừa thường hằng vừa đoạn diệt, hoặc phi thường phi đoạn... 
 
Các tri kiến ấy đều rơi vào ngã tưởng, ngã niệm cả khi nói đến chân nhưtuyệt đối. Đó là hiện tượng ngỡ ngón tay chỉ mặt trăng là mặt trăng, hệt như tưởng rằng nói về thực tại, sự diễn đạt thực tại là thực tại
 
Vấn đề là đi vào thực tại để thể nghiệm thực tại mà không phải là nói về hay nghĩ về. Nói khác đi, thực tại thì khác với triết lý, hoặc thực tại là triết lý siêu đẳngCon đườngsống của Điều Ngự Giác Hoàng quả là con đường triết lý siêu đẳngcon đường trở về chính mình để thể nghiệm ở tâm thức mình sự thật và hạnh phúcĐiều Ngự viết: 
 
Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch/ Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền (Cư trần lạc đạophú)
 
Tịnh độ là lòng trong sạch, chớ còn ngờ hỏi đến Tây phương/ Di-đà là tính sáng soi, mựa phải nhọc tìm về cực lạc (Cư trần lạc đạo phú)
 
Đó là sự trở về với “dừng tham ái”,”lắng thị phi” và để tâm an nhàn, tịnh lạc: Mình ngồi thành thị/ Nết dùng sơn lâm/ Muôn nghiệp lặng, an nhàn thể tính/ Nửa ngày rỗi, tự tạithân tâm/ Tham ái nguồn dừng, chẳng còn nhớ châu yêu, ngọc qúy/ Thị phi tiếng lặng, được dầu nghe yến thốt, oanh ngâm. (Cư trần lạc đạo phú)
 
Đó là sự trở về an trú vào giác tỉnh Tính Không (Chân không: Sunyatà), chứng ngộthực tướng để không còn vướng bận, vướng mắc vào các quan điểm bộ phái Tiểu, Đại, Nam, Bắc, và không còn ngại tránh các thanh sắc trần thế, để “sống đời vui đạo”, tùy duyên mà xử sự: Hỏi phép chân không, hề chi lánh ngại thanh chấp sắc/ Biết chân như, tin bát nhã, chớ còn tìm Phật, Tổ Tây, Đông/ Chứng thực tướng, ngộ vô vi, nào nhọc hỏi kinh thiền Nam Bắc. (Cư trần lạc đạo phú).
 
Với sự trở về ấy thì mọi sự khác biệt về giai cấpchủng tộc, màu da, quan điểm hay phái tính đều có đất thực tại nhân bản để gặp gỡ. Đấy là cái nhìn và thái độ sống rất trí tuệ Phật giáo nhằm giúp tự thân tự tại đi ra khỏi các vướng mắc, và giúp xã hội thực hiện được đại đoàn kết dân tộc, giáo hội thống nhất được các bộ phái làm sống dậy mạnh mẽ tiềm năng của dân tộc.
 
Nếu muốn nói thái độ sống đó của Điều Ngự là rất hiền triết, rất triết lý, rất tư tưởng, thì cần hiểu đó là triết lý rất riêng của Việt Nam gọi là Siêu vượt triết lý (Transcendental Philosophy) hay triết lý Nhân bản thực tại luận (Humanist Realism) vừa giải quyết Vấn đề giải thoát của nhân sinh, vừa giải quyết các vấn đề của quốc giaxã hội
 
Thế là, vào thế kỷ XIII (có thể nói từ thế kỷ XI) Việt Nam đã hình thành một hệ nhân sinh quan và vũ trụ quan rất riêng, mang đậm dấu ấn của trí tuệ và đạo đức Phật giáocủa đức Phật Gotama. 
 
Từ đầu thế kỷ XXI này, trước các khủng hoảng của các tư tưởng hệ, bao gồm tư tưởng khoa học, khủng khoảng môi sinh và đạo đức xã hội, triết lý nhân bản thực tại luận của Điều Ngự Giác Hoàng càng nổi bật nét đặc thù rất đáng được thời đại tham cứuĐiều Ngự và Trúc Lâm Yên Tử như đang tỏa sáng hơn bao giờ!
 
_______________________


• Thích Chơn Thiện

GIỮ GIỚI TRONG SẠCH ĐỂ LÀM GÌ


Vua Trần Nhân Tông (1258-1308) sau khi khoác tăng bào ở tuổi 40 đã chu du khắp nơi để thuyết phápgiảng kinh, khuyên dân chúng giữ gìn mười điều lành, và từng trở vềkinh đô Thăng Long tổ chức lễ thụ Bồ tát giới cho vua Trần Anh Tông và quan lại triều đình. 
Tam tổ thực lục chép rằng, mùa Đông năm Giáp Thìn, niên hiệu Hưng Long thứ 12 (1304), Trần Anh Tông (1293-1314) đã “dâng biểu mời Điều Ngự [Trần Nhân Tông] vào Đại Nội để thọ tâm giới tại gia Bồ tát. Ngày [Điều Ngự] vào thành, vương công, bách quan sắm lễ nghi đầy đủ đón rước xa giá của Điều Ngự, rồi cùng thọ giới pháp” (1).
Nhiều những vị vua nhà Trần đều mộ đạo và tích cực ủng hộ Phật pháphành trạng của họ không khác hành trạng của những vị thiền sư xuất trần. Vua Trần Thái Tông là người quan tâm đặc biệt tới giới luật, ông từng viết văn răn về năm giới và bàn luận về vấn đềthụ giới: “… Giới như mặt đất bằng, mọi điều thiện từ đó sinh ra. Giới như thầy thuốc giỏi chữa được các bệnh. Giới như hạt minh châu phá vỡ mọi tối tăm. Giới như thuyền bè vượt qua bể khổ. Giới như chuỗi ngọc làm pháp thân trang nghiêm… Bậc cổ đức có nói: qua sông nên dùng mảng, đến bến hết cần thuyền. Như vậy người xưa coi giới là thuyền là mảng. Ngày nay những người không dùng phương tiện đó qua sông mà tới được bờ bên kia thì thực là hiếm vậy” (Bàn về thụ giới) (2). 
Vì vậy, thời Trần xuất hiện tình trạng “lấy địa vị vua chúa mà làm đại sĩ, hoàng hậu mà làm tỳ khưu, khanh tướng mà làm thầy chùa” (Kiến văn tiểu lục, Lê Quý Đôn) (3). 
Thời điểm đó, Phật giáo làm quốc giáo, nhưng các tôn giáo khác như Nho giáoLão giáovới các nguyên tắc đạo đức được quy định chặt chẽ trong đời sống ứng xử phổ biến từ vua tôi đến cha con, chồng vợ…, cũng phần nào có những điểm phù hợp, bổ sung vào hệ thống luật pháp và quan điểm của nhà cầm quyền. 
Những tệ đoan dần phát sinh khi Phật giáo quá thịnh, số lượng người đi xuất gia không được tuyển chọn kỹ, thanh quy chốn thiền môn bị mai mộtVì vậy vấn đề giới luật càng trở thành mối quan tâm hàng đầu của triều đình và giáo hội nhà Trần.