Close

Trần Nhân Tông Library

Nghiên cứu thực tế

HUYỀN TRÂN CÔNG CHÚA

Trần Huyền Trân Công chúa (1287 – 1340) ( Huyền Trân Công chúa) con gái út của Đức vua Trần Nhân Tông và Hoàng hậu Khâm Từ [1]. Trần Nhân Tông là bậc minh quân đã hai lần lãnh đạo quân dân Đại Việt đánh tan đế quốc Nguyên Mông, đội quân xâm lược mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ.

 

 

Thắng giặc, Ngài nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông rồi làm Thái thượng hoàng để giúp con vững chãi trên ngai vàng, sau đó Ngài xuất gia tu hành theo Phật giáo ở núi Yên Tử, mong tìm pháp tu theo Phật giáo phù hợp với căn cơ người Việt, để người người có đạo, qua triết lý đạo Phật, giáo hóa dân chúng, đoàn kết nhân tâm, vun bồi trí đức mà cùng nhau bảo vệ và xây dựng đất nước. Trần Nhân Tông đã tìm ra phương pháp tu phù hợp với căn cơ người Việt, đó là dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử riêng có ở Việt Nam còn tồn tại tới ngày nay. Ơn công hạnh to lớn của Ngài với đời, với đạo, Ngài được nhân dân tôn vinh là Vua đời Vua đạo (Phật hoàng Trần Nhân Tông). Khâm Từ Hoàng hậu là người hết mực nhân từ, đức độ, Hoàng hậu là con gái của Đức Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn bậc khanh tướng lẫy lừng của triều Trần, được nhân dân tôn là Đức Thánh Trần. Vốn con nhà dòng dõi trâm anh, Huyền Trân Công chúa là người mang đủ tố chất trác việt của cha, mẹ và nhờ được làm học trò của Văn Túc vương Đạo Tái, một trong những văn sĩ giỏi nhất thời bấy giờ nên trí, đức, dung nhan của Công chúa luôn là niềm tự hào của cả Hoàng tộc [2].

 

Năm 1301, Huyền Trân 14 tuổi, Thượng hoàng Trần Nhân Tông lúc đó đã là người xuất gia tu Phật theo hạnh đầu đà, Ngài chống gậy trúc đi khắp nơi để khuyên dân học Phật, từ bỏ mê tín. Trên đường du hóa, Ngài tới đất Chiêm Thành, với mong muốn kết tình hòa hiếu giữa hai dân tộc Việt- Chăm để cùng nhau chống giặc Nguyên Mông ở phương Bắc, là kẻ thù chung của cả hai dân tộc. Gặp Quốc vương Chiêm thành là Harijit, nghĩa là sư tử chiến thắng (người Đại Việt gọi tên là Chế Mân), Trần Nhân Tông rất có cảm tình với vị vua trẻ thông minh, dũng cảm cũng đã từng trực tiếp lãnh đạo quân dân Chiêm Thành đánh đuổi đội quân Nguyên Mông do Toa Đô cầm đầu [3]. Quý trọng vị sư Đại Việt cũng đã từng là bậc minh quân xuất chúng hai lần đánh tan đế quốc Nguyên Mông, nay lại mang tâm hòa hiếu đi đoàn kết lân bang, Chế Mân đã mời Trần Nhân Tông làm thượng khách ở Chiêm Thành trong 9 tháng, để tìm hiểu phong tục tập quán và chia sẻ Phật pháp với các vị sư Chiêm Thành. Trước khi về nước Trần Nhân Tông đã hứa gả con gái cho Chế Mân với mong muốn kết giao hai nước cùng nhau đoàn kết chống giặc ngoại xâm, hôn sự sẽ được tiến hành khi Huyền Trân tròn 18 tuổi ( có nghĩa là 4 năm sau).

 

Năm 1305, Huyền Trân 18 tuổi, Chế Mân cho sứ giả mang sính lễ và địa đồ, dân số hai châu Ô, Rí sang cầu hôn Huyền Trân. Trong triều lúc bấy giờ có hai luồng ý kiến khác nhau: phía phản đối đứng đầu là quan Tham tri Chính sự Đoàn Nhữ Hài cho rằng cuộc hôn nhân như thế là không môn đăng hậu đối, công chúa nước lớn không thể làm vợ lẽ của vua nước nhỏ, nhất là Huyền Trân có vị thế rất lớn trong Hoàng tộc triều Trần; Phía đồng thuận đứng đầu là Văn Túc vương Đạo Tái và Thượng thư Tả bộc xa Trần Khắc Chung, cho rằng đây là cơ duyên ít có để kết tình hòa hiếu hai nước, là cơ hội để hóa giải những vướng mắc do các cuộc chiến chinh giữa hai dân tộc từ trước đã để lại, là thời cơ để vô hiệu hóa sự kích động, chia rẽ nhằm thôn tính các dân tộc phương Nam của Nguyên Mông và cũng là điều tốt khi đất đai được mở rộng [4]. Đôi bên trao đổi khó phân vì lý của bên nào cũng đúng, ruốt cuộc Vua Trần Anh Tông quyết định theo lời đã nói của Thượng Hoàng Trần Nhân Tông. Lễ rước dâu sẽ được thực hiện vào năm sau (1306). Trong thời gian gần một năm, Huyền Trân đã học tiếng, học chữ viết và phong tục tập quán của người Chăm. Với thiên bẩm thông minh, trong thời gian ngắn Huyền Trân đã thông thạo ngôn ngữ, nắm vững phong tục Chăm và quy tắc ứng xử của Hoàng cung Chiêm Thành.

 

Năm 1306, Huyền Trân về Chiêm Thành, được Chế Mân phong là Vương hậu. Chế Mân và nhân dân Chiêm Thành yêu quý Vương hậu Huyền Trân bởi sự đoan trang, tính tình đôn hậu và sự cảm thông chia sẽ của Vương hậu với mọi người. Mối nhân duyên của Huyền Trân với Chế Mân đã tạo nên tình giao hảo tốt đẹp giữa hai nước nhưng đẹp hơn là hình ảnh Vương hậu người con gái nước Đại Việt nhân từ thương quý gần gũi mọi người. Tiếc thay, chưa tròn một năm làm Vương hậu, trong khi còn mang thai chưa tới kỳ sinh nở, Chế Mân do bạo bệnh đã băng hà. Cái chết của Chế Mân là một uẩn khúc về sự phân hóa trong vương triều Chiêm Thành lúc bấy giờ. Theo phong tục Chiêm Thành ,Vua băng hà các Vương hậu và một số cung phi phải chết theo, nhưng Huyền Trân vì còn mang thai con Vua mà được trì hoản tới sau khi sinh con [5].

 

Đầu năm 1307, Huyền Trân sinh con trai, theo ý kiến của Chế Mân khi còn sống, đặt tên con là Thế tử Dayada (có nghĩa là con trai, là hậu duệ, là người nối dõi). Sau khi Chế Mân chết, vua Chiêm Thành nối ngôi là Harijitputra (người Đại Việt gọi là Chế Chí con trai trưởng của Chế Mân) cho sứ giả sang Đại Việt báo tin mừng lên Hoàng đế Đại Việt đã có cháu và đồng thời báo tang Chế Mân. Được tin, vua Trần Anh Tông và triều đình nghị luận, thấy rõ cái chết của Chế Mân đã làm thay đổi cục diện trong mối quan hệ Việt-Chăm. Trước bối cảnh ấy vua phái quan Thượng thư Tả bộc xa Trần Khắc Chung một danh tướng, một nhà ngoại giao lão luyện đã từng đi sứ Bắc quốc, cùng bốn vị đại sư và đoàn tùy tòng tới Chiêm Thành viếng tang và cầu siêu cho Chế Mân theo phong tục nước Đại Việt, tháng 11 năm 1307 đoàn tới kinh đô Chiêm Thành [6].

 

Đoàn sứ bộ Đại Việt tới Chiêm Thành, trong lễ gọi hồn, cầu siêu cho Chế Mân ngoài biển có Huyền Trân và các tì nữ cùng theo, nhưng Thế tử con trai của Huyền Trân còn nhỏ nên phải ở lại trên bờ. Trên biển, Trần Khắc Chung đã lập mưu đưa Huyền Trân lên thuyền nhỏ, có người khỏe, thạo sóng nước để chạy về hướng Bắc, sau lên thuyền lớn để đi. Huyền Trân được cứu sống để đưa về nước nhưng phải để lại đứa con bé bỏng là kết quả của tình yêu thương với bậc Quân vương vắn số. Huyền Trân không khỏi ngậm ngùi, phải chăng đây là duyên, phận của một kiếp hồng nhan. Đau khổ hơn là sự ra đi không từ biệt của Huyền Trân và phái đoàn sứ bộ dường như đi ngược lại với tâm nguyện của Thượng hoàng Trần Nhân Tông vì bao công sức của Ngài nhằm kết tình hòa hiếu hai nước, vì chuyện này mà lại rạn nứt. Thoát chết nhưng trong tâm Huyền Trân như có cả trăm mối tơ vò, phải xa đứa con bé bỏng, ray rứt về tình cảm của những người Chăm nơi xứ sở của người chồng mà Huyền Trân rất yêu quý. Ai hiểu tấc lòng Huyền Trân với chí nguyện mang hết tình yêu thương vì hòa hiếu hai nước.

 

Thuyền chở Huyền Trân và đoàn sứ bộ đã qua vùng biển Chiêm Thành nguy hiểm nhưng không may đoàn gặp bão biển, thuyền hỏng khá nặng phải cho vào bờ lánh bão và sửa thuyền, dù ở vùng biển thuộc đất Đại Việt nhưng xưa thuộc châu Ô, Rí. Trong lúc lánh nạn, sửa thuyền, đoàn phải đóng giả làm thương nhân để tránh lộ tung tích, sợ quân Chiêm Thành đuổi theo. Mặt khác vì không đưa được Thế tử con Huyền Trân về nước nên Trần Khắc Chung cho người Chăm thân tín tiếp tục trở lại tìm cơ hội đưa Thế tử cùng về [7]. Sau nửa năm với nhiều nhóm được phái đi nhưng biệt vô âm tín, biết là chuyện không thành, đoàn đành phải hành trình về Thăng Long.

 

Tháng 8 năm 1308, đoàn sứ bộ đưa Huyền Trân về tới Thăng Long, sau đó không lâu Huyền Trân lên Yên Tử gặp Thượng Hoàng Trần Nhân Tông. Tại Yên Tử, Trần Nhân Tông đã an ủi con gái: duyên sự âu cũng do nghiệp quả phải qua của hai dân tộc và của mỗi con người, luật nhân quả còn cao hơn nhân định [8]. Và để vãn hồi sự việc đã qua, Trần Nhân Tông cho người nói với vua Trần Anh Tông đưa hơn ba trăm tù binh Chiêm Thành về nước để gắn bớt sự rạn nứt do đoàn sứ bộ tạo nên [9]. Thượng Hoàng khuyên Huyền Trân xuất gia làm ni sư để xả bỏ nỗi niềm nhưng cũng là mang tâm đức để giúp đời, giúp cho tình giao hảo giữ hai nước và tạo phúc cho thế tử Dayada khi đã không còn cha và xa mẹ .

 

Huyền Trân xuất gia để phát túc siêu phương, Quốc sư Bảo Sát là người xuống tóc quy y cho Huyền Trân tại chùa Vũ Ninh, đặt pháp danh Hương Tràng. Sau một thời gian ngắn được học với thầy ở chùa Vũ Ninh, năm 1311, Ni sư Hương Tràng về tu tại chùa Hổ sơn (Nộn sơn) thuộc Thiên Bản (xã Liên Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định hiện nay). Từ đây trong đời sống tu hành ni sư Hương Tràng được nhân dân kính trọng vì đức hiếu sinh, vì thiện tâm luôn giúp đỡ dân nghèo, mang tâm sức dạy cho trẻ thơ biết chữ để làm người có ích. Việc làm của vị ni sư giúp dân, giúp nước đã được nhân dân ca tụng như là tấm gương sáng về đạo đức nhân sinh.

 

Năm 1340 (bắt đầu thời kỳ suy vi của nhà Trần) ni sư Hương Tràng viên tịch. Tri ân công hạnh của Huyền Trân với dân với nước, nhân dân nhiều nơi đã lập đền thờ Huyền Trân Công chúa, tại Hổ sơn, nơi Huyền Trân tu hành, nhân dân lập đền thờ tôn là Thánh mẫu. Sau khi Công chúa Huyền Trân viên tịch, các triều đại về sau đều sắc phong Công chúa Huyền Trân là Thần hộ Quốc. Nhà Nguyễn ban Chiếu ghi nhận “công đức của Công chúa Huyền Trân trong việc giữ nước giúp dân có nhiều linh ứng”, nâng bậc tăng là “ Trai Tĩnh Trung Đẳng Thần”.

 

Hữu Tâm

Tài liệu tham khảo:

-[1,2,3,4,5,6,7,8,9,10] Am mây ngủ- Thích Nhất hạnh, 2012

-[11] Huyền Trân, Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

________________

http://btgcp.gov.vn

MỘ ĐỨC VUA TRẦN NHÂN TÔNG HIỆN Ở ĐÂU?

- Khi vua Trần Nhân Tông mất, sách "Đại Việt sử ký toàn thư" viết: "Ngày 3, Thượng hoàng băng ở am Ngọa Vân, núi Yên Tử"; và: "Mùa thu, tháng 9, ngày 16, rước linh cữu của Thượng hoàng về chôn ở lăng Quy Đức, phủ Long Hưng, Thái Bình ngày nay".

Đức vua Trần Nhân Tông (tên tục là Trần Khâm)- con trưởng của vua Trần Thánh Tông - sinh năm Giáp Ngọ, Nguyên Phong thứ 8, tháng 11, ngày 11 (1258). "Đại Việt sử ký toàn thư" viết: "Vua được tinh anh của Thánh nhân, đạo mạo thuần túy, nhan sắc như vàng, thể chất hoàn toàn, thần khí tươi sáng, hai cung đều cho là lạ, gọi là kim tiên đồng tử! ở hai bên tả hữu có nốt ruồi đen, cho nên có thể cáng đáng được việc lớn, ở ngôi 14 năm, nhường ngôi 5 năm, xuất gia 8 năm, thọ 51 tuổi, băng ở am Ngọa Vân, núi Yên Tử, hòa nhã, cố kết lòng dân, sự nghiệp phục hưng, làm vẻ vang đời trước, thực là vua hiền của nhà Trần".

 

Vua Trần Nhân Tông là vị vua văn võ song toàn, thông hiểu Phật pháp. Một ông vua đã hai lần đánh bại cuộc xâm lăng của giặc Nguyên Mông, đem lại hòa bình thịnh trị về cho nhân dân Đại Việt. Một vị vua như thế khi xuất gia chắc chắn đã gây tiếng vang lớn và khiến tất cả mọi người trong nước hướng nhìn về ngọn núi Yên Tử với lòng ngưỡng mộ thành kính nhất. (Đức vua Trần Nhân Tông được coi là người đứng đầu của Thiền phái Phật giáo Trúc Lâm Yên Tử).

 

Khi người mất, sách "Đại Việt sử ký toàn thư" viết: "Ngày 3, Thượng hoàng băng ở am Ngọa Vân, núi Yên Tử" (tr.570); và: "Mùa thu, tháng 9, ngày 16, rước linh cữu của Thượng hoàng về chôn ở lăng Quy Đức, phủ Long Hưng, Thái Bình ngày nay".

 

Có đúng là phần mộ của vua Trần Nhân Tông (trong có đựng ngọc cốt hoặc xá lỵ) được an táng ở lăng Quy Đức (phủ Long Hưng)?

 

Không ít người cho rằng nhà vua là người xuất gia, tu hành tại chùa Hoa Yên, núi Yên Tử, lấy hiệu là Hương Đầu Đà (sau đổi thành Trúc Lâm Đầu Đà), được nhận là người truyền thừa chính thức của phái Yên Tử thế hệ thứ 6, tiếp nối vị tổ sư thứ 5 là Thiền sư Huệ Tuệ. Khi mất, thi thể của Người được đệ tử là Pháp Loa hỏa táng, các viên xá lỵ (từ thân thể Người sau khi hỏa táng) được để vào kim tháp ở chùa Vân Yên, núi Yên Tử.

 

Nếu vậy thì việc rước linh cữu của người về táng ở đất Long Hưng có thực là thi thể (ngọc cốt) hoặc xá lỵ của người không?

 

Những trăn trở, thắc mắc nêu trên không phải là không có cơ sở. Sách "Đại Việt sử ký toàn thư" khi viết về việc này cũng không cho chúng ta biết rõ hơn ngoài những dòng sau: "Mùa thu, tháng 9, ngày 16, rước linh cữu của Thượng hoàng về chôn ở lăng Quy Đức, phủ Long Hưng. Xá lỵ thì để ở bảo tháp am Ngọa Vân, miếu hiệu là Nhân tôn, thụy là "Pháp Thiên sùng đạo ứng thế hóa dân Long từ hiển huệ Thánh văn thần võ Nguyên minh tuệ hiếu Hoàng đế". Đem Khâm Từ Bảo Thánh Hoàng Thái hậu hợp táng ở đấy". Việc hỏa thiêu và có xá lỵ của vua Trần Nhân Tông, "Đại Việt sử ký toàn thư" đã ghi rất rõ: "Pháp Loa đem xác của Thượng hoàng thiêu đi, nhặt được hơn ba nghìn viên xá lỵ mang về chùa Tư Phúc ở Kinh sư. Vua lấy làm ngờ, các quan nhiều người xin bắt tội Pháp Loa. Khi ấy Hoàng tử Mạnh (vua Trần Minh Tông sau này) mới lên 9 tuổi, đứng hầu bên cạnh, chợt thấy có mấy hạt xá lỵ ở trong bọc, đưa ra cho mọi người xem. Vua sai kiểm lại những hạt xá lỵ ở trong hộp, thì thấy thiếu số. Vua cảm động khóc lên, trong lòng mới khỏi ngờ".

 

Nếu chỉ đọc những đoạn văn trên thì việc nghi ngờ không có xương cốt hoặc xá lỵ của vua Trần Nhân Tông ở lăng Quy Đức (Tiến Đức, Hưng Hà, Thái Bình) là có cơ sở. Nhưng một số tài liệu của Phật giáo, trong đó có sách "Tam tổ thục lục" đã cho chúng ta biết rõ việc an táng xá lỵ của vua Trần Nhân Tông ở Long Hưng: "Ngày 1, tháng 11, đúng nửa đêm, sao sáng đầy trời, Điều Ngự (vua Trần Nhân Tông) hỏi:

 

"Bây giờ là giờ gì?"

 

Bảo Sát (đệ tử của đức vua Trần Nhân Tông) thưa:

 

"Giờ tý".

 

Điều Ngự đưa tay ra hiệu mở cửa sổ để nhìn ra ngoài, nói:

 

"Đến giờ ta đi rồi".

 

Bảo Sát hỏi:

 

"Tôn Đức đi đâu bây giờ?"

 

Điều Ngự nói:

 

"Mọi pháp đều không sinh. Mọi pháp đều không diệt. Nếu hiểu được như thế Chư Phật thường hiện tiền. Chẳng đi cũng chẳng lại".

 

Bảo Sát hỏi thêm:

 

"Còn khi bất diệt thì sao?"

 

Điều Ngự khua tay nói:

 

"Thôi đừng nói mê nữa"

 

rồi người ngồi thế sư tử tọa mà hóa. Xá lợi của Điều Ngự phân làm hai phần, một phần để vào Bảo tháp nơi Đức Lăng (lăng Quy Đức), một phần để ở Kim Tháp, chùa Yên Vân, núi Yên Tử". Sách "Tam tổ thục lục" trong các phần nói về Trúc Lâm (chỉ vua Trần Nhân Tông) và Pháp Loa đã có những đoạn nói tỉ mỉ về các sự kiện lịch sử có ghi ngày tháng và các chi tiết nhỏ như đoạn văn trên. Những tài liệu này rất quý và đáng tin cậy hơn những tài liệu của một số bộ sử đang lưu hành. Bởi vì "Tam tổ thục lục" được bảo vệ trong các chùa chiền, trừ những sai lầm trong khi biên chép, ít ai dám sửa chữa dù chỉ là một chữ. Trái lại, các bộ sử thường được các sử quan biên tập theo các quan điểm của mình, đôi khi có thành kiến hoặc do ý thức hệ mà thêm bớt, khiến cho nhiều chi tiết mất độ chuẩn xác. Sách "Tam tổ Trúc Lâm" có tham khảo các sách "Tam Tổ thục lục", "Tam tổ hành trạng" và tra cứu các sách "Thánh đăng lục", "Thiên Tông bản hạnh"... đã cho chúng ta thấy rõ hơn về việc hỏa táng và chôn cất xá lỵ của vua Trần Nhân Tông: "Pháp Loa theo lời di chúc của Ngài làm lễ hỏa táng, lượm ngọc cốt có năm màu để vào bình. Vua Anh Tông cùng đình thần đem long giá rước ngọc cốt về tôn thờ ở Đức Lăng (lăng Quy Đức) và xây tháp ở chùa Vân Yên trên núi Yên Tử, đề hiệu là "Huệ Quang Kim Tháp". Như vậy, việc tổ chức tang lễ, chôn cất ngọc cốt của Điều Ngự Giác Hoàng (vua Trần Nhân Tông) ở lăng Quy Đức (Đức Lăng), Long Hưng là có thật. Hiện tại ở xã Tiến Đức (làng Tam Đường), Hưng Hà, Thái Bình vẫn còn phần mộ của Thái Tổ Trần Thừa, vua Trần Cảnh, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông. Sách "Kiến văn tiểu lục" của Lê Quý Đôn chép: "Xã Thái Đường, huyện Ngự Thiên có bốn cái lăng: Thái Tổ, Thái Tông, Thánh Tông và Nhân Tông, lại có lăng của bốn hoàng hậu".

 

Thật đáng tiếc, chiến tranh, thiên tai và nhiều nguyên nhân khác cùng với thời gian bảy, tám trăm năm trôi qua... hiện ở Thái Đường, Tiến Đức chỉ còn lại ba lăng mộ của các vua Trần, nhân dân vẫn quen gọi là mộ Phần Bụt, Phần Trung, Phần Đa. Còn ngôi mộ Phần Cựu đã được khai quật năm 1980, có quy mô to lớn như các ngôi mộ hiện còn ở Tam Đường.

 

Theo ông Vũ Đức Thơm (Bảo tàng Thái Bình) thì qua khảo cứu của các nhà khảo cổ học Trung ương và địa phương, đã xác nhận đây là một ngôi mộ thời Trần và đặc biệt là ngôi mộ này lại nằm trong những "gò Mả Vua" như nhân dân địa phương vẫn truyền khẩu từ đời này sang đời khác. Đáng chú ý là ngôi mộ vẫn được nhân dân truyền tụng gọi là mộ phần Bụt hay còn gọi là phần Sỏi. Phải chăng đây là ngôi mộ của vị vua đi tu Trần Nhân Tông? Bụt có thể hiểu là Phật. Theo Thiền sư Thích Nhất Hạnh, trong tác phẩm "Theo gót chân Bụt" (Đường xưa mây trắng) thì lúc đầu, khi giác ngộ chân lý của đạo Phật, Đức Phật Tổ cho rằng đạo của người là đạo "Tỉnh thức". "Tỉnh thức" nói theo tiếng Magadhi là Budn (tức là Bụt). Như vậy, rất có thể ngôi mộ "Phần Bụt" được nhân dân truyền khẩu ở làng Tam Đường, Tiến Đức, Hưng Hà là mộ của đức vua Trần Nhân Tông (Điều Ngự Giác Hoàng). Ngôi mộ này trước đây cũng đã bị hư hại (hiện nay đã được sửa sang, đắp ấp lại).

 

Theo tư liệu của Bảo tàng Thái Bình thì dưới cùng của mộ là quách gỗ, trên quách gỗ là lớp đất sét, trên lớp đất sét là vách đá, xung quanh rải hàng ngàn mét khối cát sỏi, trên lớp sỏi lại có một lớp đất sét được nện nén rất chặt. Phía trên của lớp đất sét và xung quanh mộ nhân dân địa phương đã tìm thấy nhiều viên gạch (loại gạch vẫn dùng để xây tháp thời nhà Trần). Điều đáng chú ý là những viên gạch này có hình dạng kích thước như được đúc ra cùng một khuôn với những viên gạch rìa các mái hiên tháp Phổ Minh (Nam Định). Rõ ràng, ở sát ngôi mộ Phần Bụt này đã từng tồn tại một cây bảo tháp. Có lẽ trải qua thời gian, các cuộc chiến tranh cùng thiên tai tàn phá nên cây tháp ấy đã bị hủy hoại, nay chỉ còn lại phế tích. Điều đó hoàn toàn phù hợp với những ghi chép trong sách "Tam tổ thục lục": "Xá Lợi của Điều Ngự phân làm hai phần, một phần để vào bảo tháp nơi Đức Lăng (lăng Quy Đức), một phần để ở Kim Tháp, chùa Vân Yên, núi Yên Tử".

 

Trong sách "Chùa tháp Phổ Minh", ông Nguyễn Xuân Năm, Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin Nam Định, viết: "Theo sách "Tam tổ Thục lục" thì "khi vua Trần Nhân Tông mất, thi hài được hỏa táng, sau đó phần ngọc cốt được an táng vào Đức Lăng (lăng Quy Đức), một phần xá lỵ thì để ở tháp Huệ Quang, một phần xá lỵ để ở Bảo Tháp để trấn áp đất đai ở Đức Lăng". Như vậy đã rõ tại Thái Đường, Tiến Đức, Hưng Hà hiện tại đã và đang lưu giữ (ngọc cốt) của Điều Ngự Giác Hoàng (vua Trần Nhân Tông). Con người mà tài năng đức độ đã được sử sách ca ngợi như một người anh hùng dân tộc và được muôn dân Đại Việt cùng với Phật giáo Việt Nam tôn xưng là ông Tổ của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.

______________

Đặng Hùng - Chi Bảo (trích sách Long Hưng - đất phát nghiệp vương triều Trần)

baomoi.com

QUÊ HƯƠNG, NGÔI CHÙA VÀ THIÊN NHIÊN TRONG CÕI THƠ CỦA TRẦN NHÂN TÔNG

Thị phi, thành bại, vinh nhục cùng bao nhiêu chuyện đời lô nhô lố nhố khác cũng ra đi cùng với trận mưa đêm qua. Cuối cùng, chẳng còn lại gì cả, chỉ còn một chút "núi non tịch mịch" đọng lại trong hồn Thiền sư thi sĩ mà thôi.

I. Quê hương là gì?

 

Một bữa nọ về thăm quê của Tổ phụ, Trần Nhân Tông đã leo lên ngọn đồi cao sau làng. Ta có thể đoán chắc như vậy, vì phải đứng trên cao thì Trần Nhân Tông mới thấy toàn thể cảnh vật buổi chiều tà nơi phủ Thiên Trường. Như bài thơ mà ông đã làm sau đây:

 

Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên

Bán vô bán hữu tịch dương biên

Mục đồng địch lý quy ngưu tận

Bạch lệ song song phi hạ điên.

(Thiên trường vân vọng)

 

Thôn trước, thôn sau đều mờ mờ như khói phủ

Bên bóng chiều (cảnh vật) nửa như có, nửa như không

Trong tiếng sáo, mục đồng lùa trâu về hết

Từng đôi cò trắng hạ cánh xuống đồng.

 

Dù đó chỉ là buổi chiều tà trên làng Tức Mặc của phủ Thiên Trường, nơi chôn nhau cắt rốn của Tổ tiên Trần Nhân Tông, nhưng với chúng ta, là người Việt Nam, mà hầu hết cuộc đời đều gắn chặt với miếng ruộng, mảnh vườn, thì bốn câu thơ mà Trần Nhân Tông đã tả cảnh chiều trên quê hương của ông, cũng có thể là cảnh chiều tà trên quê hương của mỗi người trong chúng ta nữa.

 

Nhưng vì long đong chạy theo cuộc sống nên chúng ta bị bắt buộc phải sống tha hương. Rồi đến một lúc nào đó, khi ta đã bắt đầu cảm thấy già nua, tàn tạ, khi ta cảm thấy mất mát nơi tâm hồn, thì lúc bấy giờ ta mới ngoái nhìn lại tuổi thơ: Ở đó, có con đường làng êm ả, có đàn cò trắng đứng trên cánh đồng lúa xanh, có dăm ba đứa trẻ lùa trâu về chuồng, trong bóng chiều mờ mờ khói phủ.

Thứ bóng chiều mà Trần Nhân Tông đã quan sát rất tinh tế qua câu: "Bán vô bán hữu tịch sương biên". Tức là "Trời nhá nhem tối" hay "Trời chạng vạng" như người dân ở các miệt miền quê thuộc miền Trung vẫn thường gọi như vậy, để chỉ lúc ngày và đêm đang giao thoa với nhau.

 

Thật là một điều sai lầm, trong thi ca cổ điển của Việt Nam, ngay cả Nguyễn Du, một thi hào đã nhìn thấu suốt hết nỗi "đoạn trường" của kiếp nhân sinh, khiến mỗi lần chúng ta đọc đến là thấy tâm hồn buốt lạnh. Vậy mà khi tả về phong cảnh thì tuyệt nhiên không thấy con trâu, con bò, con cò trắng hay cánh đồng lúa xanh đâu cả. Phải đợi đến Nguyễn Khuyến, tức là đến tận cuối thế kỷ thứ 19 thì phong cảnh và đời sống "chân lấm tay bùn" của quê hương mới xuất hiện trong thi ca. Vì sao như vậy? Có lẽ, đó là kết quả đương nhiên của lối học từ chương chăng? Hay cũng có thể là vì mặc cảm nữa, rằng sự nghèo nàn và mộc mạc đối với họ không phải là cái đẹp mà thi ca họ muốn hướng đến.

 

Chính vì thế, mà mỗi khi tả về phong cảnh thì lúc nào cũng phải có "tuyết, nguyệt, phong, hoa" hay "hồ, đình, liễu, tạ", những cảnh mà ta bắt gặp đầy dẫy khi đọc thi ca Trung Quốc. Mặc dù, chính họ thì đang sống và đôi chân hằng ngày vẫn lê bước trên những con đường thôn dã của Việt Nam.

 

Trong khi đó, Trần Nhân Tông được sinh ra và lớn lên giữa chốn triều đình, không sống ở thôn dã. Thế mà Trần Nhân Tông đã làm một bài thơ phong cảnh, có thể nói là hoàn toàn Việt Nam. Như vậy, ta thấy rằng tấm lòng ông mộc mạc và gần gũi với quê hương đất nước đến chừng nào.

 

Một lần khác, cũng tại quê nhà, Trần Nhân Tông đi dạo một mình trên con đường đất có nhiều bùn lầy. Cơn mưa vừa tạnh, đã xóa sạch những đám bùn nhơ đó. Trước mắt Trần Nhân Tông hiện ra những màu sắc linh hoạt vô cùng:

 

"Lục ám hồng bi bội tịch liêu 

Tễ vân thôn vũ thổ hoa tiêu"

Màu xanh thẫm, màu đỏ thưa, cảnh thêm vắng vẻ

Mây quang, mưa tạnh, ngấn bùn đất cũng mất sạch

 

Trần Nhân Tông vừa đi vừa ngước nhìn ngôi chùa Phổ Minh rêu phủ thì lòng chợt u hoài vì nhớ đến vua cha:

 

"Phổ Minh phong cảnh hồn như tạc

Phảng phất canh trường nhập mộng nhiên"

Phong cảnh chùa Phổ Minh vẫn như trước,

Phảng phất trong chiêm bao hình dánh vua cha, như trông tường thấy bóng, ăn canh thấy hình...

 

Tại sao nhìn ngôi chùa mà lại nhớ đến vua cha? Phải nhìn những gì có liên hệ đến sinh hoạt của vua cha khi còn sanh tiền, như nơi làm việc của vua cha, lăng mộ của vua cha, nơi vua cha thường đi dạo như vườn ngự uyển thì nhớ vua cha mới hợp lý chứ? Có lẽ, đây là lần đầu tiên ngôi chùa và hình bóng người cha lại xuất hiện cùng một lúc trong cõi thơ của Việt Nam vậy.

 

Vì dường như, với Trần Nhân Tông, thì ngôi chùa, người cha, hay quê cha đất tổ cũng chỉ là một mà thôi?

 

Còn một biến cố này nữa, vào năm Mậu Thân, tức là năm 1308, chị của Trần Nhân Tông bị bệnh nặng. Thiên Thụy công chúa muốn thấy mặt em mình trước khi nhắm mắt, bèn sai người nhà lên Yên Tử báo tin. Trần Nhân Tông liền chống gậy xuống núi. Theo sách Thánh Đăng ngữ lục, thì Trần Nhân Tông bắt đầu rời núi từ mồng 3 nhưng đến mồng 10 mới đến kinh đô Thăng Long. Sau khi thăm và dặn dò chị xong, đến ngày Rằm Trần Nhân Tông lại chống gậy về núi trở lại.

 

Trên đường trở về, Trần Nhân Tông ghé và nghỉ lại trong một ngôi chùa cổ ở làng Hương Cổ Châu. Sáng hôm sau, trước khi tiếp tục lên đường, Trần Nhân Tông đã ghi lại bốn câu thơ này trên vách tường của chùa:

 

"Thế số nhất sách mạt

Thời tình lưỡng hải ngân

Ma cung hồn quản thậm

Phật quốc bất thắng xuân"

(Đề cổ Châu Hương thôn tự)

 

Số đời hoàn toàn mờ tịt

Tình người đổi thay qua đôi mắt

Khi cung ma bị quản chặt

Thì cõi Phật tràn ngập màu xuân.

 

Có những bài thơ, ta đọc mà không cần biết làm ở đâu và trong hoàn cảnh nào, nhưng đọc vẫn cứ thấy hay. Nhưng ngược lại, có những bài thơ mà ta phải biết lý do và hoàn cảnh khi tác giả làm, thì đọc mới thấy hay được. Đây là trường hợp bài "Đề cổ Châu Hương thôn tự" này chẳng hạn.

 

Đứng trước cái chết sắp xảy ra cho chị mình, Trần Nhân Tông không giữ được sự xúc động về số phận bi thảm của kiếp người.

 

Nhưng kiếp người càng đen tối bao nhiêu, thì ông lại càng tin tưởng mãnh liệt vào con đường đi lên đầy chông chênh mà ông đang đi bấy nhiêu. Vì, như Trần Nhân Tông đã viết:

 

"Phật Quốc bất thắng xuân"

Vì cõi Phật thì tràn ngập màu xuân

 

Và trên đỉnh cao của núi Yên Tử ấy, chắc Trần Nhân Tông đã tìm thấy một mùa xuân vô tận?

 

Nhưng bài thơ độc đáo ở chỗ, khi đọc lên ta thấy nỗi dằn vặt khôn nguôi của Trần Nhân Tông về thân phận bi thảm của kiếp người.

 

Đêm ấy, trong một ngôi chùa cổ ở làng Hương Cổ Châu, ta có thể đoán chắc rằng, cả đêm Trần Nhân Tông đã không chợp mắt được, vì ông đã bị đôi mắt của người chị mình ám ảnh. Trong đôi mắt ấy, hiện ra những mảnh đời: những năm tháng làm vua trong triều, cơ nghiệp nhà Trần, dù đang hồi hưng thịnh đấy, nhưng cuộc đời thì đầy dâu biển, chắc chắn một ngày nào đó không xa, rồi cũng sẽ như đôi mắt của chị mình, đôi mắt như đang luyến tiếc cả những năm tháng huy hoàng xưa, rồi cũng từ từ khép lại vĩnh viễn mà thôi.

 

Thì ra, ngôi chùa với Trần Nhân Tông, không chỉ là nơi ông trở về để an thân lập mệnh, mà cũng còn là nơi chốn để ông tâm sự về những nỗi dằn vặt và khổ đau của chính đời mình nữa.

 

II. Nếu ai đã từng đọc Thiền (Zen) và thi ca Nhật Bản, chắc khó quên được hai nhà thơ Tây Hành (Saigyo) và Ba Tiêu (Bashô).


Lịch sử thi ca Nhật Bản gọi họ là hai nhà thơ lãng tử, vì cả hai đều bỏ trọn cả đời để đi lang thang khắp mọi nẻo đường, nhất là những nẻo đường thôn dã của nước Nhật.

 

Họ đã đi tận đến những nơi xa xôi, đến tận những chân trời mênh mông bát ngát để lắng nghe niềm im lặng của cỏ nội hoa đồng.

 

Tây Hành và Trần Nhân Tông của Việt Nam có nhiều điểm tương đồng.

Tây Hành đã từ bỏ chức quan dưới triều Kiếm Thương (Kamakura). Và Trần Nhân Tông thì từ bỏ ngôi báu của nước Đại Việt. Như vậy là, cả hai cùng từ bỏ giai cấp quý tộc của mình để đi tu, và cả hai đều say mê Phật giáo Thiền Tông.

 

Ở Nhật Bản, chân dung của Tây Hành trong chiếc áo du tăng, đứng ngóng ngọn núi Phú Sĩ phủ đầy tuyết trắng được trưng bày khắp nơi như niềm hãnh diện của dân tộc Nhật.

 

Nhưng rất buồn là ở Việt Nam, hầu như chỉ biết Trần Nhân Tông như một nhà anh hùng dân tộc hay vị sơ tổ của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, chứ ít ai biết Trần Nhân Tông như một thi sĩ lang thang. Sách Tam Tổ Thực Lục có ghi: "Điều ngự (tức Trần Nhân Tông) đã đi khắp mọi nẻo đường thôn quê, khuyên dân phá bỏ các dâm từ và thực hành giáo lý Thập Thiện".

 

Dĩ nhiên trong tư cách một Thiền sư, mà lại là người đã sáng lập ra Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, thì sứ mạng chính là hoằng dương chánh pháp, khai mở yếu chỉ của Thiền tông. Nhưng khi bước chân của Trần Nhân Tông đã lang thang đây đó thì cái đẹp của thiên nhiên cũng đã quyến rũ tâm hồn ông rất nhiều. Mặc dù, đang gánh vác nhiều trách nhiệm nặng nề nhưng khi đứng trước cái đẹp của thiên nhiên, thì Trần Nhân Tông như muốn bỏ hết mọi hệ lụy của cuộc đời, để được đắm mình trọn vẹn vào cái đẹp hồn nhiên của thiên nhiên. Bởi vậy, ông gần như muốn đưa ra một điều kiện cho những ai muốn cùng ông thưởng thức cái đẹp của thiên nhiên. Ví dụ, khi đứng trước một mùa xuân như thế này:

 

"Dương liễu hoa thâm điểu ngữ trì 

Họa đường thiềm ảnh mộ vân phi" 

(Xuân cảnh)

 

Trong khóm hoa dương liễu rậm, chim hót chậm rãi 

Dưới bóng thềm ngôi nhà chạm vẽ, mây chiều lướt bay.

 

Thì điều kiện của Trần Nhân Tông đưa ra như sau:

 

"Khách lai bất vấn nhân gian sự 

Cộng ỷ lan can khán thúy vi"

 

Khách đến chơi không hỏi việc đời 

Mà nên cùng tựa lan can ngắm màu xanh mờ mịt ở chân trời.

 

Chuyện đời, với Trần Nhân Tông là chuyện gì?

 

"Thị phi niệm trục triêu hoa lạc 

Danh lợi tầm tùy dạ vũ hàn 

Hoa tận vũ tình sơn tịch tịch 

Nhất thanh đề hiểu hựu xuân tàn"

 

Niềm thị phi rụng theo hoa buổi sớm 

Lòng lợi danh lạnh theo trận mưa đêm 

Hoa rụng hết, mưa đã tạnh, núi non tịch mịch 

Một tiếng chim kêu, lại cảnh xuân tàn.

 

Thị phi, thành bại, vinh nhục cùng bao nhiêu chuyện đời lô nhô lố nhố khác cũng ra đi cùng với trận mưa đêm qua. Cuối cùng, chẳng còn lại gì cả, chỉ còn một chút "núi non tịch mịch" đọng lại trong hồn Thiền sư thi sĩ mà thôi.

 

Để tiếp tục cuộc lãng du của đời mình, vào năm 1301, Trần Nhân Tông quyết định đi Chiêm Thành, không phải đi trong tư cách một vị Thái Thượng Hoàng của nước Đại Việt, mà ông đã ra đi như một du tăng, vì lúc bấy giờ ông đã đi tu rồi.

 

Khởi hành từ mùng 3 nhưng mãi đến tháng 11 năm đó Trần Nhân Tông mới về lại Thăng Long.

 

Không còn hồ nghi gì nữa, chắc chắn Trần Nhân Tông đã mang thông điệp hoà bình của Phật Giáo Đại Việt đến cho Chế Mân, vua của nước Chiêm Thành, trong cuộc gặp gỡ giữa hai người tại kinh đô Đồ Bàn.

 

Và cũng nhân cơ hội này, để tạo tình hữu nghị lâu dài cho hai nước nên Trần Nhân Tông đã hứa gả con gái mình, tức Huyền Trân công chúa cho Chế Mân. Ta có thể xem đây như là một hy sinh lớn lao, vì Trần Nhân Tông đã đặt quyền lợi Tổ quốc lên trên quyền lợi gia đình.

 

Nhưng điều mà ta muốn nói ở đây là: Trần Nhân Tông đã ra đi như một thi nhân, một thi nhân rất khát khao đến những miền đất xa lạ.

 

Con đường thiên lý từ Thăng Long đến Đồ Bàn (Bình Định ngày nay) biết bao là kỳ hoa dị thảo trên bước chân của thi nhân. Thiên nhiên lúc ấy vẫn còn hoang sơ. Sở dĩ ta gọi là hoang sơ vì con người thời ấy chưa hề có ý nghĩ chinh phục thiên nhiên.

 

Và con người sẽ trơ trọi biết bao, nếu con người bị ly cách khỏi thiên nhiên!

 

Ta có thể tạm kết luận một cách thơ mộng rằng, Trần Nhân Tông là thi nhân đầu tiên của nước ta, đã nhìn được dãy Trường Sơn chạy dọc theo miền Trung bấy giờ.

 

Có lẽ, từ thủa con người mới biết làm thơ, thì núi non đã là nơi gợi hứng vô tận cho hồn thơ của họ rồi, nhất là các thi sĩ của Đông phương.

 

Chẳng hạn, Tây Hành và Ba Tiêu luôn luôn đứng ngóng đỉnh núi Phú Sĩ của Nhật Bản phủ đầy tuyết trắng, Tô Đông Pha của Trung Quốc vẫn ôm giấc mộng khám phá cho được chân diện mục của núi Lô Sơn khuất sau những tảng mây mù, và Nguyễn Du của Việt Nam vẫn thường rong chơi trên chín ngọn Hồng Lĩnh.

 

Có lẽ, vì núi cao và đầy hiểm hóc, nên núi non vẫn luôn luôn là biểu tượng cho những kẻ đi tìm tuyệt đối.

 

Mà thi nhân, chẳng phải là kẻ đi tìm tuyệt đối đó sao?

 

Với Trần Nhân Tông cũng thế, trong bài phú bằng tiếng Nôm, bài "Cư trần lạc đạo", ông viết:

 

"Núi hoang rừng quạnh, ấy là nơi dật sĩ tiêu dao 

Chiền vắng am thanh, chỉn thật đạo nhân du hí.." 

 

Trần Nhân Tông mất ngày 1 tháng 11 năm Mậu Thân (1308). Vậy mà tháng 9 năm đó, ông đã cùng với đệ tử là Bảo Sát đi dạo khắp các núi nằm trong dãy Yên Tử, thì ta biết lòng của Trần Nhân Tông yêu núi non biết chừng nào!

 

Và đây là bài thơ ông đã làm khi đứng trên đỉnh núi cao:

 

"Địa tịch đài du cổ 

Thời lai xuân vị thâm 

Vân sơn tương viễn cận 

Hoa kính bán tình âm. 

Vạn sự thủy lưu thủy 

Bách niên tâm ngữ tâm 

Ỷ lan hoàng ngọc địch 

Minh nguyệt mãn hung khâm"

 

Cảnh vắng đài thêm cổ 

Xuân sang mầu chửa hồng 

Xa gần mây núi hợp 

Rợp bóng nẻo hoa lồng.

Vạn sự nước xuôi nước

Trăm năm lòng ngỏ lòng

Tựa hiên nâng sáo thổi

Trăng sáng đầy cõi tâm

(Nguyễn Lang dịch)

 

Có cái gì thôi thúc trong lòng muốn nói thành lời, nhưng ngôn ngữ không diễn đạt được, nên Trần Nhân Tông đành:

 

"Bách niên tâm ngữ tâm" 

Trăm năm lòng ngỏ lòng.

 

Và trên đỉnh núi cao chót vót ấy, có lẽ ông đã thoáng thấy "thiên thu vĩnh cửu" đang khẽ động trong lòng:

 

"Minh nguyệt mãn hung khâm" 

Trăng sáng đầy cõi tâm. 

Và còn gì nữa trong cõi thơ ấy?

 

Còn mùa thu. Nhưng mùa thu ở đây không phải là mùa thu của "rừng phong đã nhuộm màu quan san" hay màu thu của "Dặm xa lữ thứ" đượm màu biệt ly sầu thảm, mà ta đã từng thấy qua nhiều thời đại thi ca. Mùa thu ở đây hoàn toàn khác.

 

Đây là mùa thu của những kẻ đi tìm kiếm con đường để vượt qua khỏi giới hạn của sự sống và chết, vì đó là cội nguồn của khổ đau:

 

"Lão dung ảnh lý tăng quan bế 

Đệ nhất thiền thanh thu tứ trương"

Dưới bóng đa già, vị sư đang đóng cửa chùa

Một tiếng ve sầu, tứ thu man mác.

 

Dù thời gian có đang đi nhanh qua mái đầu bạc trắng, nhưng họ vẫn như "trơ gan cùng tuế nguyệt":

 

"Tục đa biến thái vân trường cẩu

Tùng bất tri niên tăng bạch đầu"

Thói đời nhiều thay đổi

Như mây trắng hóa chó xanh

Cây tùng chẳng biết đến năm tháng

Nhà sư đầu đã bạc.

Cây tùng và nhà sư đầu bạc.

 

Ta có thể xem đây là hai hình ảnh mà Trần Nhân Tông muốn gởi đến cho những người đang kiên trì đi tìm ý nghĩa đích thực của đời sống vậy.

 

III. Nhưng khi thi nhân đã trở thành Thiền sư, thì cách nhìn về thiên nhiên và nhất là về cuộc đời cũng hoàn toàn đổi khác.


Như bài thơ sau đây của Trần Nhân Tông:

 

"Niên thiếu hà tằng liễu sắc không

Nhất xuân tâm tại bách hoa trung

Như kim khám phá đông hoàng diện

Thiền bản bồ đoàn khán trụy hồng"

Niên thiếu chưa từng hiểu sắc không

Xuân sang hoa sắc vướng tơ lòng

Diện mục xuân nay từng khám phá

Thiền tọa an nhiên ngắm rụng hồng.

(Nguyễn Lang dịch)

 

Khi đọc bài thơ này, sẽ có nhiều người nghĩ là tâm hồn của các Thiền sư đã nguội lạnh rồi, không còn biết rung động với bao nỗi vui buồn của nhân thế nữa, thì làm sao các Thiền sư có thể xuống núi để cứu khổ cho cuộc đời.

 

Để tránh ngộ nhận này, ta có thể lấy câu: "Nhậm vận thịnh suy vô bố úy" - "Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãi" của Thiền sư Vạn Hạnh đời Lý, mà giải thích câu: "Thiền bản bồ đoàn khán trụy hồng" - "Thiền tọa an nhiên ngắm rụng hồng"... của Thiền sư Trần Nhân Tông đời Trần.

 

Như vậy "Thiền tọa an nhiên ngắm rụng hồng" không phải là không còn thiết tha với cuộc đời, mà phải hiểu là các Thiền sư không còn sợ hãi mọi thịnh suy, hưng phế, thành bại mà con người vẫn thường nơm nớp lo sợ.

Chính tinh thần không sợ hãi (vô bố úy) này của Phật giáo, mà Trần Nhân Tông đã hai lần lãnh đạo toàn dân đánh tan đạo quân xâm lược của đế quốc Nguyên Mông đến xâm lược nước ta, trong khi từ Đông sang Tây vào thời bấy giờ đang nằm trong cơn sốt Thát Đát (Tartar).

 

Để rồi cuối cùng, Trần Nhân Tông đã cùng với dân tộc hát lên bài ca chiến thắng:

 

"Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã 

Sơn hà thiên cổ điện kim âu"

Xã tắc hai phen chồn ngựa đá

Non sông nghìn thuở vững âu vàng.

(Trần Trọng Kim dịch)

 

Nhưng khi đã thành công rồi thì rút lui về lại núi rừng, để tìm lại niềm vui muôn thuở:

 

Cảnh tịch an cư tại tâm

Hương phong xuy đệ nhập tùng âm

Thiền sàng thọ hạ nhất kinh quyển

Lưỡng lự thanh nhàn thắng vạn kim"

Cảnh lặng, sóng yên, lòng tự tại

Gió mát thổi đến dưới bóng cây tùng

Giường thiền dưới gốc cây, kinh một quyển

Hai chữ thanh nhàn quý hơn vạn nén vàng

 

Đã gần tám thế kỷ trôi qua, thế mà những người con của quê hương đất nước vẫn tiếp tục ngóng vọng về dãy núi Yên Tử ấy, như để tìm lại vết chân của người.

 

Phải chăng Người là biểu tượng cho sự trở về của dân tộc?

 

________________

Thích Phước An

Nguồn: phatgiao.org.vn

HUYỀN TRÂN CÔNG CHÚA LÀM VỢ CHẾ MÂN

Giữa Hội trường Thống Nhất và Cung văn hóa Lao động có một con đường nhỏ và ngắn đi ngang được mang tên Huyền Trân Công Chúa.

 

Trước năm 1975, con đường này từng được mệnh danh là “con đường không số nhà” vì không có một địa chỉ nào trên con đường này. Huyền Trân công chúa không được sử sách xưa nhắc đến nhiều nhưng công lao mở cõi không hề nhỏ khi góp phần đưa về cho nước Việt hai châu Ô, Rí (bao gồm địa bàn tỉnh Thừa Thiên-Huế đến bờ sông Thạch Hãn hiện nay).

 

Có những việc các sử gia ít khi nhắc đến. Nhiều người viết sử đã bỏ qua rất nhiều câu chuyện lịch sử trong quan hệ giữa nước ta với Chiêm Thành trong khi giữa hai nước cũng xảy ra nhiều cung bậc trong quan hệ, từ hòa bình hữu nghị cho đến xung đột.

Huyền Trân công chúa, tranh bìa sách của NXB Kim Đồng. 


Một lời hứa, một mối bang giao

 

Đại Việt và Chiêm Thành đã trải qua những trận chiến liên miên không dứt kéo dài trong hơn 200 năm từ đời nhà Lý đến nhà Trần; chỉ đến khi cùng bị quân Nguyên xâm lược hai bên mới ngừng xung đột, chống kẻ thù chung. Tháng 2 năm Tân Sửu (1301), Thượng hoàng Trần Nhân Tông, người đã cải thiện bang giao với Chiêm Thành, đến thăm Chiêm Thành và được nhà vua Chế Mân (Jaya Sinhavarman III) đón tiếp nồng hậu. Trần Nhân Tông ở Chiêm Thành đến chín tháng trời, vừa ngao du sơn thủy vừa trao đổi Phật pháp. Trước khi về, Thượng hoàng ngỏ ý muốn gả con gái là Huyền Trân công chúa cho Chế Mân để mở rộng bang giao hai nước. Từ đó, năm nào Chiêm Thành cũng cử sứ bộ tới Thăng Long xin cầu hôn. Triều đình nhà Trần phản đối cuộc hôn nhân dị tộc này, chỉ có Văn túc vương Trần Đạo Tái và Đại hành khiển Trần Khắc Chung ủng hộ. Đặc biệt đến năm 1305, khi Chế Mân đề nghị dâng hai châu Ô, Rí làm của hồi môn thì nhà Trần không thể chối từ nữa.

 

Tháng 6 năm Bính Ngọ (1336), Huyền Trân lên thuyền sang Chiêm Thành. Quan quân và dân chúng đến tiễn đưa công chúa rất đông. Truyền thuyết của người Chăm kể lại đích thân Chế Mân ra đón, mặc bộ quần áo màu trắng, giày đen thêu chim thần Garuda. Hôn lễ cử hành suốt ba ngày ba đêm và Huyền Trân đã được Chế Mân phong cho danh hiệu là hoàng hậu Paramecvari.

 

Vì sao Chế Mân lại nóng lòng muốn lấy Huyền Trân đến như vậy? Chế Mân được xem là một trong những bậc minh quân và anh hùng dân tộc của người Chiêm, ông là người đã lãnh đạo quân Chiêm đánh bại thủy quân Nguyên xâm lược (chiến công của ông có được cũng nhờ Đại Việt đã ngăn được quân Nguyên trên bộ), khi lên ngôi ông củng cố sự hòa hiếu với các quốc gia lân bang, kinh bang tế thế khiến dân chúng yêu quý, tôn trọng. Chế Mân muốn cưới Huyền Trân để phát triển bang giao hai nước lâu dài.

 

Đây hẳn là một đám cưới vì mục đích chính trị, bản thân Huyền Trân cũng chỉ là người vợ thứ ba của Chế Mân. Ngoài người vợ đầu người Chiêm, vợ thứ hai là Tapasi là người Java, Chế Mân có lẽ cũng muốn giữ hòa khí và bang giao với phía Nam.

 

Cuộc giải cứu Huyền Trân và những nghi vấn còn mãi

 

Chỉ mới làm vợ Chế Mân được 11 tháng, Huyền Trân công chúa đã trở thành góa phụ. Chế Mân chết khi mới 50 tuổi, trong một trường hợp rất “vô duyên”: Gió lốc bẻ gãy một cành cây trong vườn rơi trúng gáy khi ông đang nằm phơi nắng để trị bệnh ngoài da.

 

Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại: “Theo tục lệ Chiêm Thành, hễ vua mất thì hoàng hậu phải lên giàn hỏa thiêu để chết theo. Vua biết thế, sợ công chúa bị hại, bèn sai bọn Khắc Chung mượn cớ sang viếng tang, rồi nói, nếu hỏa táng công chúa trước thì việc làm chay không có người chủ trương, chi bằng trước ra bờ biển chiêu hồn ở chốn ven trời, đón linh hồn (Chế Mân) cùng về rồi hãy lên giàn hỏa thiêu. Người Chiêm nghe theo. (Ra biển), Khắc Chung dùng thuyền nhẹ, cướp lấy công chúa đem về…”.

 

Ngày nay, việc này được xem là vô lý vì với một số người thì theo phong tục của Chiêm Thành, việc hỏa táng hoàng hậu theo vua là ân sủng, chỉ dành cho hoàng hậu nào tự nguyện và có cả một hội đồng để xét duyệt nên trong suốt lịch sử của Chiêm Thành chỉ có vài hoàng hậu được hỏa táng theo vua mà thôi. Giả sử đích thân Huyền Trân tình nguyện xin được chết theo vua cũng không được duyệt vì thứ nhất bà không phải hoàng hậu chính thất, thứ hai bà là người ngoại tộc và cuối cùng, khi Chế Mân mất bà đang mang thai năm tháng, tục lệ người Chiêm không hỏa thiêu trẻ em, vị thành niên chứ đừng nói phụ nữ đang mang thai.

 

Ngoài ra còn các tình tiết khác, đó là Chế Mân mất tháng 6-1337 nhưng tới tháng 10 nhà Trần mới được Chiêm Thành báo tin và cử sứ bộ sang viếng, nếu Huyền Trân bị hỏa thiêu cùng với vua thì làm gì còn sống, đợi bốn tháng sau đến lúc thuyền Đại Việt vào cứu. Điều này dẫn đến nhiều giả thiết khác nhau.

 

Giả thiết đầu tiên cho rằng vì Huyền Trân đang có thai nên không hỏa thiêu ngay mà phải đợi khi sinh xong mới đưa lên giàn hỏa.

 

Giả thiết thứ hai cho biết hoàng hậu Tapasi sau đó đã được Chiêm Thành cho về nước nên không có chuyện hỏa thiêu ai cả, chẳng qua do nhà Trần không hiểu rõ phong tục của người Chiêm Thành nên vua Trần Anh Tông đã ra quyết định sai lầm.

 

Giả thiết thứ ba do ông Dominique Nguyễn, một người Việt gốc Chăm sống ở Pháp, đã viết khảo luận cho rằng Huyền Trân đã vâng lệnh vua dùng mỹ nhân kế để đầu độc Chế Mân nên nhà Trần phải tìm cách giải cứu trước khi sự việc bị phát hiện…

 

Giả thiết thứ tư là không có chuyện cướp công chúa mà chính Trần Khắc Chung bằng tài ngoại giao của mình đã thuyết phục Chiêm Thành cho đưa Huyền Trân về lại đất Việt.

 

Bất kể nguyên nhân chính là gì trong ba giả thuyết đầu tiên, hành động giải cứu Huyền Trân công chúa đều ảnh hưởng vô cùng xấu đến bang giao hai nước vì tạo ra sự thất tín giữa hai quốc gia...

 

Tình sử với Trần Khắc Chung

 

Đại Việt sử ký toàn thư cũng ghi rằng: “Khắc Chung dùng thuyền nhẹ, cướp lấy công chúa đem về, rồi tư thông với công chúa, đi đường biển loanh quanh chậm chạp, lâu ngày mới về đến kinh đô”.

 

Người đời sau dựa vào đoạn này mà vẽ ra một chuyện tình lãng mạn từ thơ văn đến sân khấu, rằng trai tài gái sắc gặp nhau, vì ngưỡng mộ người hùng liều thân vượt biển cứu mình khỏi giàn hỏa, nàng đã trao trái tim cho chàng. Chàng muốn kéo dài thời gian ở gần với người đẹp nên tìm cách cho thuyền đi loanh quanh, lấy cớ tránh thuyền chiến Chiêm Thành rồi tránh bão mà ghé vào nhiều vùng đảo hoang đẹp như tranh vẽ dọc theo duyên hải nước Việt để tận hưởng cảnh đẹp trần thế với mỹ nhân, cả năm sau cả hai mới chịu về đến kinh thành ra mắt triều thần…

 

Mọi chuyện đều có thể xảy ra, nhất là khi sử sách chỉ nhắc đến vẻn vẹn vài câu. Nhưng cần xem xét nhiều yếu tố khác:

 

Trần Khắc Chung là một đại thần của nhà Trần, ông nổi tiếng khi dám tình nguyện đi sứ gặp tướng giặc Ô Mã Nhi, đối đáp rành mạch khiến tướng Mông Cổ phải thán phục, sau đó Ô Mã Nhi cho người đuổi theo giết để trừ hậu họa nhưng không kịp. Thời điểm cứu Huyền Trân ông là một trụ cột của triều đình, lại đã 60 tuổi, ở thời đó là đã rất già yếu, sự chênh lệch tuổi tác khó tạo thành chuyện “lửa rơm”. Mặt khác, Trần Khắc Chung không đi một mình, trên thuyền còn có An phủ Đặng Vân là phó sứ và các thị nữ hầu hạ công chúa cùng các quân binh khác.

 

Dẫu biết rằng thời nhà Trần quan hệ nam nữ khá phóng túng nhưng bản thân Huyền Trân công chúa cũng được giáo dục lễ nghi ở mức đáng kể. Thời điểm đó bà đang trong giai đoạn có tang chồng, lại mới sinh con, còn đang ở cữ là lúc tránh các bệnh sản hậu, chuyện dan díu không chỉ trái đạo lý mà còn nguy hiểm cho sức khỏe.

 

Khi về đến đất Việt, Huyền Trân đã lên Yên Tử gặp phụ thân, sau đó bà quyết định quy y cửa Phật, xuất gia tại núi Trâu Sơn với pháp danh Hương Tràng. Sau này bà đến làng Hổ Sơn, huyện Thiên Bản (nay ở Nam Định) lập am, sau thành chùa Nộm Sơn. Huyền Trân công chúa (tức ni sư Hương Tràng) mất năm 1340, thọ 53 tuổi.

_____________

PHẠM TRƯỜNG GIANG

Nguồn: Báo Pháp Luật

THUẬN LÒNG DÂN NÊN GIỮ ĐƯỢC NƯỚC; TRÁI LÒNG DÂN, TRÁI ĐẠO LÝ THÌ ĐỂ MẤT NƯỚC...

TNC: Cha ông ta đã làm nên lịch sử hào hùng và để lại bao bài học đáng giá. Hậu thế nếu ngạo mạn coi thường những bài học của cha ông thì chắc chắn chuốc lấy thất bại. Chúng tôi trân trọng giới thiệu bài trả lời Tạp chí Văn hóa Nghệ An của nhà văn Hoàng Quốc Hải về vấn đề này...

Trò chuyện với nhà văn Hoàng Quốc Hải

LTS: Lịch sử sẽ được hậu thế nhìn nhận như thế nào? Câu hỏi đó luôn tồn tại trong đời sống xã hội vì lịch sử là điểm bắt đầu của hiện tại và tương lai. Một hiện tượng, sự kiện, nhân vật…trong lịch sử sẽ có những những nhận diện và nhận định khác nhau tùy vào cách tiếp cận, cách nhìn khác nhau. Sử học, là đương nhiên, nhưng văn học cũng có thể lấy lịch sử làm đối tượng nghiên cứu, phản ánh...Lịch sử có thể là cảm hứng sáng tạo cho nhà văn. Hai phương pháp tiếp cận, nghiên cứu, sáng tác khác nhau nhưng sử học và văn học luôn có sự giao thoa, ảnh hưởng lẫn nhau, nhưng/và luôn có các sản phẩm khác nhau. Tiểu thuyết lịch sử là một điểm gặp thú vị nhất giữa sử học và văn học. Tiểu thuyết lịch sử ở Việt Nam thời gian gần đây đang nổi lên bởi các tác phẩm khá bề thế và đi theo đó đang có những đánh giá, bình luận khác về phương pháp sáng tác, về sự thật/chân dung lịch sử trong các tác phẩm. Để tiếp cận vấn đề này, VHNA đã có cuộc trao đổi với nhà văn Hoàng Quốc Hải, tác giả của hai bộ tiểu thuyết Bão táp triều Trần và Tám đời vua Lý đang được dư luận quan tâm. Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

PV: Thưa nhà văn, chúng tôi được biết ông vào nghề văn từ lâu, thế nhưng tai sao đến cách đây 20 năm ông mới chọn lịch sử làm đề tài sáng tác của mình?

Nhà văn Hoàng Quốc Hải (NV. HQH): Có nhẽ tôi chớm nhận ra xã hội có khuynh hướng lãng quên quá khứ. Bởi chương trình giảng dạy cũng như thi cử trong hệ thống giáo dục của nước ta từ trước thập niên 60 của thế kỷ 20, thường chỉ chú trọng đến giai đoạn lịch sử cận đại, lịch sử cách mạng. Quan sát hệ thống các nhà bảo tàng cũng đủ rõ.

Bảo tàng lịch sử thì quy mô nhỏ, hoạt động rời rạc như bị chìm khuất, còn bảo tàng cách mạng từ Trung ương xuống các tỉnh ngày một phình to và cứ xem cách họ trưng bày hiện vật, cách hướng dẫn khách tham quan, khiến ta có cảm giác lịch sử dân tộc đã được đồng hóa với lịch sử cách mạng. Mặc dù lịch sử cách mạng cũng chiếm phần quan trọng trong lịch sử dân tộc, song nó chỉ là một phân kỳ ngắn ngủi so với tiến trình lịch sử. Việc làm đó không chỉ là việc làm phản khoa học lịch sử, mà nó còn tiềm ẩn nguy cơ suy thoái về mặt đạo lý, chắc sẽ phải gánh chịu hậu quả lâu dài.

Giật mình hơn nữa, khi thấy nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đã tiên lượng và cảnh báo từ thập niên 40 của thế kỷ 20 rằng: “Người không biết lịch sử nước mình tựa như một con trâu đi cày ruộng, nó cày bất cứ thửa ruộng nào cũng được, và cày với người chủ nào cũng được”.

Vì những lý do trên mà tôi tìm về lịch sử, và lấy đề tài sáng tác từ trong lịch sử của dân tộc.

PV: Và tại sao ông lại chọn thời đại Lý – Trần làm bối cảnh lịch sử cho các sáng tạo văn học của mình? Phải chăng ở thời đại đó sự nghiệt ngã của lịch sử đã tạo nên trí tuệ, văn hóa và bản lĩnh Việt mà các thời kì lịch sử trước đó chưa làm nên?

NV. HQH: Sở dĩ tôi chọn hai thời đại Lý - Trần, là bởi hai thời đại đó để lại cho hậu thế nhiều bài học mang tính kinh điển trong công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.

Và chính trong câu hỏi của ông cũng đã có hàm ý trả lời. Rõ ràng là trong khoảng đầu thế kỷ 11 và nửa cuối thế kỷ 13, lịch sử đặt dân tộc ta đứng trước nguy cơ tồn tại hay không tồn tại.

Nhà Lý tiếp thu một gia tài xộc xệch và nghèo xác cả từ văn hóa đến vật chất, do bạo chúa Lê Long Đĩnh để lại. Nếu tầm nhìn hạn hẹp và tư kỷ, Lý Công Uẩn bước tiếp vết chân của Lê Long Đĩnh, chắc chắn cả dân tộc đã bị bức tử, cả quốc gia đã bị hủy hoại.

May thay, vương triều nhà Lý được tạo dựng bởi trí tuệ của giới đại trí thức Phật giáo. Không những họ ý thức mà còn tỉnh thức trước nguy cơ sụp đổ, nếu không chịu lột xác, tức là không triệt để cách tân nền chính trị đã bị tha hóa dưới triều Lê Long Đĩnh. Vì vậy họ bắt tay ngay vào công cuộc cải cách đất nước một cách hết sức có trí tuệ, có bài bản; lấy bình đẳng, từ bi, bác ái làm động lực xây dựng xã hội, trên cơ sở “Tam giáo đồng nguyên” được triển khai bởi cương lĩnh: xã hội Nho, tâm linh Phật, thiên nhiên Đạo.

Từ đó nhà Lý đưa nước ta trở thành một nước cường thịnh trong khu vực, đặt dấu ấn vững vàng cho nền văn hiến Đại Việt, mở đầu cho một giai đoạn phát triển rực rỡ khá dài. Nhà Trần khi được nước, không những họ không phủ định những thành tựu chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của nhà Lý mà còn tiếp nhận và phát triển lên mức cao hơn.

Ví dụ về tôn giáo, vẫn lấy đạo Phật làm quốc đạo. Về giáo dục, hệ thống trường học được mở mang nhiều hơn. Các khoa thi tiến sĩ để chọn người có học thức, người tài giỏi bổ dụng cho bộ máy cai trị ngày một nhiều thêm. Về quân sự, vẫn dùng chế độ “Ngụ binh ư nông” của nhà Lý, đồng thời khuyến khích các vương, hầu có điền trang, thái ấp lập ra các đội dân binh và tinh binh. Khi thường, họ vẫn ở nơi hương ấp làm ruộng, tham gia việc giữ gìn an ninh trật tự tại địa phương, khi nước có giặc, các đội dân binh này là nguồn bổ sung phong phú cho quân thường trực của triều đình.

Sau cuộc xâm lăng mở đầu của Hốt - Tất - Liệt mang tính thăm dò Đại Việt vào cuối năm Đinh Tỵ (1257), nhà Trần dự liệu đất nước ta đã nằm trong tầm ngắm của người Mông Cổ.

Nhà Trần ý thức được sức mạnh của đế quốc Mông Cổ, nên sớm có chủ trương củng cố đất nước để tạo sức mạnh kháng giặc từ trong lòng dân. Nhà nước chăm lo đời sống cụ thể cho mỗi phận người.

Về nông nghiệp, nếu như trước đây nhà Lý chỉ đắp đê quai vụ (đỉnh nhĩ) để bảo vệ kinh thành và một số vùng phụ cận Thăng Long, thì nhà Trần lo đắp ngăn lũ từ nguồn tới biển, lại đặt chức Hà đê chánh phó sứ để giám sát đê điều. Tiếp đó là chia thêm ruộng quốc điền cho dân, giải phóng bớt nông nô, biến họ từ người nô lệ thành người tự do, người có sản nghiệp bằng cách bán ruộng công điền cho họ, cứ mỗi diện (mẫu) là 5 quan, ai thiếu tiền cho mua chịu. Cuộc cải cách này là bước quan trọng để cố kết lòng dân.

Khi thấy nhà Tống có nguy cơ bị quân Mông Cổ tiêu diệt hoàn toàn, nhà Trần ráo riết chuẩn bị lực lượng giữ nước bằng cách huy động triệt để sức mạnh vật chất và trí tuệ của toàn dân tộc. Dùng người tài không phân biệt nguồn gốc xuất thân. Đặc biệt, triều đình đặt niềm tin vào lực lượng trẻ. Mở đầu là việc Hoàng thái tử Trần Khẩm mới 20 tuổi được vua cha (Trần Thánh Tông) trao truyền ngôi báu. Hàng loạt các tướng trẻ xuất hiện. Phạm Ngũ Lão chàng trai nông dân mới 18 tuổi được Trần Hưng Đạo dùng làm tướng. Yết Kiêu, Dã Tượng chỉ là gia nô cũng trở thành tướng giỏi…

Thật vậy, chỉ bảy năm sau khi lên ngôi, Trần Nhân Tông đã lãnh đạo toàn quân, toàn dân làm hai cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Nguyên vào lúc mà mệnh nước có thể ví như vật nặng ngàn cân treo trên đầu một sợi tóc.

Ấy vậy mà vị vua trẻ mới 27 tuổi ấy, cùng với các tướng trẻ hợp sức với cả dân tộc, muôn người như một đã đánh bại hai lần liên tiếp đội quân khổng lồ đông tới 50 vạn tên phải thất bại nhục nhã. Và đích thân Nguyên Thánh tổ phải cử sứ sang Đại Việt tuyên cáo bãi binh, cũng có nghĩa là giặc phải công nhận nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của nước ta.

Quả thật là hai thời đại Lý - Trần, triều đình đã triệt để đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên hàng đầu. Họ đặt trọn vẹn niềm tin vào dân. Hơn nữa họ còn giáo dục cho công dân của mình biết liêm sỉ, biết tự trọng, có như vậy mới giữ được quốc sỉ. Thử tưởng tượng, một quốc gia để mất quốc sỉ thì còn gì để nói nữa. Hơn hết, những người lãnh đạo đất nước vừa sáng suốt, vừa độ lượng, khoan dung. Ví như việc tầy trời là một số quan lại trong ngoài triều, khi đất nước lâm nguy, đã hèn nhát có thư xin hàng hoặc ước hàng với giặc. Thoát - hoan lưu giữ đầy một tráp, khi tháo chạy khỏi Thăng Long, y không kịp mang theo.

   
Ví như trong lĩnh vực tôn giáo, nhà Lý dựa hẳn vào Phật giáo, dùng lực lượng tu sĩ làm đội quân xung kích trên mặt trận văn hóa trong hệ thống chùa làng. Ngoài nhiệm vụ chính của một thầy chùa là hoằng pháp, hướng dẫn người dân tu tập để tiến hóa về mặt tâm linh, thì vị sư ấy còn có nhiệm vụ kiêm chức một thầy giáo dạy chữ cho đám trẻ nhỏ trong làng, ông là người vừa khai tâm, khai trí và khai minh cho dân chúng. Vị tăng đó còn kiêm luôn cả chức năng của người thầy thuốc, là chữa trị bệnh tật.  
   

Dọn dẹp cung điện, một viên quan nội hầu phát hiện ra, đem dâng vua xem, để trị tội những kẻ bất trung. Nhà vua không những không xem mà còn nói để kẻ có tội yên lòng: “Trong lúc thế giặc đang cường, đến ta còn nao núng, nói chi kẻ khác”. Rồi ông sai đốt đi.

Một thời đại như thế với những vị vua anh minh đức độ như thế, quả thật là sự hấp dẫn vô cùng cho sức sáng tạo văn chương. Vì thế mà tôi đã để hết tâm trí và sức lực làm nên hai bộ tiểu thuyết lịch sử “Tám triều vua Lý” và “Bão táp triều Trần”.

PV: Văn hóa Lý – Trần là một thời đại phát triển rực rỡ của văn hóa Việt/Đại Việt. Điều đó xưa nay đã có nhiều người khẳng định. Vậy theo ông, với cảm nhận của một nhà văn, cái tinh quý và độc đáo nhất của văn hóa Lý – Trần là gì?

NV. HQH: Theo tôi, cái độc đáo nhất, tinh túy nhất của văn hóa Lý - Trần là một nền văn hóa nhân bản, hướng thượng. Và mục tiêu cao cả nhất của nền văn hóa ấy đều xuất phát từ con người và vì con người.

PV:Tất nhiên là trong lịch sử sẽ có sự bồi đắp hoặc loại bỏ những tính cách, thậm chí là những yếu tố có tính chất như là phẩm chất của một cộng đồng nhằm hoàn thiện và thích ứng với các điều kiện chính trị - xã hội – kinh tế mới của thời đại, nhưng những cái gì thuộc về giá trị, phẩm chất căn cốt thì không thể thay chuyển được. Cộng đồng người Việt của chúng ta đã có quá trình hình thành từ hàng ngàn, hàng vạn năm trước, nhưng chúng tôi có cảm giác là các phẩm chất Việt tiêu biểu nhất đã được hoàn thiện trong thời đại Lý - Trần. Ông nghĩ sao về điều này? Và ông có thể giúp bổ sung cho chúng tôi các hiểu biết mới về vấn đề này?

NV. HQH: Tôi đồng ý với ông, các phẩm chất tiêu biểu của công dân Đại Việt hầu như đã được hoàn thiện trong các thời đại Lý - Trần. Và dường như đã có sự hao mòn về phẩm chất Việt từ các thời đại tiếp nối. Bởi lẽ giai cấp thống trị các thời đại sau đó khá sa sút về phẩm chất văn hóa, nên họ không đủ nội lực để hoàn thiện phẩm chất chính trị, dẫn đến rối nát trong nội bộ và gây ra sự trì bế trong xã hội, thậm chí có thời đại gây bi thảm cho đất nước bằng cuộc nội chiến, đất nước bị chia cắt tới mấy trăm năm, khiến cả dân tộc phải gánh chịu hết bao đau thương và kéo lùi bước tiến tới cả trăm năm so với các dân tộc khác trong khu vực. Tội ác đó lịch sử không thể tha thứ. Tôi nhớ vào khoảng năm 1950, hồi ấy tôi còn nhỏ lắm, khi đọc trên tờ “Thời Mới” in ở Hà Nội, có bài thơ, chỉ đọc một lần đã gây trong tôi ấn tượng sâu sắc. Tôi đọc đi đọc lại vài ba lần, nay vẫn còn thuộc nhưng tên tác giả thì không nhớ. Đó là bài Hận Sông Gianh. Tôi xin đọc để chúng ta nghe lại:

Đây sông Gianh đây biên cương thống khổ
Đây sa trường đây nấm mộ trời nam
Đây dòng sông dòng máu Việt còn loang
Đây cổ đô(1) xương tàn xưa chất đống
Sông còn đây hận phân ly nòi giống
Máu còn đây cơn uất hận tương tàn
Và còn đây hồn dân Việt thác oan
Bao thế kỷ chưa tan niềm uất hận
Ôi Việt Nam cùng Việt Nam gây hấn
Muôn đời sau để hận cho dòng sông
Mộng bá vương Trịnh - Nguyễn có còn không
Nhục nội chiến non sông còn in vết
Đây sông Gianh nơi nồi da xáo thịt
Nơi dân Hồng tàn sát giống Lạc Hồng
Nơi máu đào nhuộm đỏ sóng dòng sông
Máu nhơ bẩn muôn đời không rửa sạch


PV: Đó là một dòng sông thơ đã được viết bằng máu của dân tộc Việt Nam, là thành quách thơ được dựng bằng xương cốt của dân tộc Việt Nam, là nỗ đau sâu thẳm của những người Việt Nam còn tâm hồn Việt, tính cách Việt, nhân phẩm Việt... Nếu tôi nhớ không nhầm thì tác giả của bài thơ là Đằng Phương, tức giáo sư Nguyễn Ngọc Huy.


Thưa nhà văn, lịch sử là đối tượng nghiên cứu của sử học đồng thời cũng là đối tượng nghiên cứu, phản ánh của văn học. Theo ông thì cái khác nhau cơ bản về cách tiếp cận lịch sử, như là một đối tượng nghiên cứu, của sử học và văn học là gì?

NV. HQH: Thưa ông, sử học và văn chương là hai lĩnh vực chuyên biệt, sử học nghiên cứu lịch sử theo tư duy lô - gích (logique). Văn chương nghiên cứu lịch sử nhằm giải mã nó bằng tư duy hình tượng.

Đối tượng của sử học là nghiên cứu về các sự kiện. Đối tượng của văn học là nghiên cứu về con người trong tổng hòa xã hội.

PV: Ông quan niệm về tiểu thuyết lịch sử như thế nào? Tư liệu và thông tin lịch sử trong tiểu thuyết lịch sử có độ tin cậy như thế nào? Tôi nghĩ, trong tiểu thuyết lịch sử vẫn phải có hư cấu, nhưng hư cấu như thế nào để không làm méo mó chân dung lịch lịch sử, sự thật lịch sử, ông có thể trao đổi một vài kinh nghiệm?

NV. HQH: Mọi loại hình của tiểu thuyết đều hình thành trên cái nền của hư cấu, tiểu thuyết lịch sử không hề có ngoại lệ.

Vừa qua, Hội đồng lý luận về Văn học - Nghệ thuật Trung ương có cuộc hội thảo bàn về Văn chương và Lịch sử, cũng đề cập đến vấn đề hư cấu, tỷ lệ hư cấu hoặc giải thiêng trong tiểu thuyết lịch sử.

Tôi chắc Hội đồng cũng không thể ra quyết định, ấn định tỉ lệ phần trăm sự thật lịch sử trong tác phẩm văn chương viết về lịch sử, để từ đó lập ra văn bản pháp quy nhằm chế định các tác giả.

Ông hỏi những tư liệu lịch sử và thông tin lịch sử trong tác phẩm văn học viết về lịch sử, có độ tin cậy như thế nào?

Theo tôi, những tư liệu lịch sử và thông tin lịch sử khi còn yên nghỉ trong chính sử, nó thuộc loại nguyên liệu thô. Còn các thông tin trong tác phẩm văn học có độ tin cậy cao hơn, nếu xét trên bình diện tổng thể về quy mô mà nhà văn giải mã lịch sử, chứ không đóng đinh vào các sự kiện chết.

Còn như hư cấu như thế nào, hư cấu tới mức độ nào? Thưa ông, nhà văn phải hư cấu sao cho tác phẩm của mình đạt tới mức chân thực. Vâng, chân thực lịch sử và cả chân thực cuộc sống. Dạ, không ai có thể giới hạn được biên độ hư cấu cũng như khung trời tự do sáng tạo của các nhà văn, trừ khi có ai đó tự nguyện chui đầu vào cái vòng kim cô do giới quyền lực giăng mắc.

Dạ thưa, kinh nghiệm của tôi, nhà văn với thiên chức của nó là tái tạo gương mặt lịch sử, chứ không làm nô lệ cho sự kiện lịch sử.

PV: Ông đã vận dụng phương pháp nghiên cứu sử học như thế nào trong công việc viết tiểu thuyết lịch sử?

NV. HQH: Tôi dùng phương pháp so sánh và loại trừ để tìm ra cái mình cần tìm.

Trong khi tìm hiểu lịch sử, đương nhiên phải dựa vào chính sử. Nhưng tôi không đặt trọn niềm tin vào đó. Bởi bộ sử lớn nhất nước ta là bộ “Đại Việt sử ký toàn thư” thì trong biểu dâng sách của người chủ biên là nhà sử học Ngô Sỹ Liên đã nói: “Thần dựa vào hai bộ sử trước (do Lê Văn Hưu và Phan Phu Tiên soạn), lại tham khảo thêm dã sử và chuyện dân gian để bổ sung vào”. Cái lý do phải dựa vào dã sử, Ngô Sỹ Liên trần tình: “giáo mác đầy đường đâu chẳng là giặc Minh tàn bạo, sách vở đều trở thành một đống tro tàn, chữ Hợi chữ Thỉ khó phân biệt” (Tự dạng hai chữ này hao hao giống nhau. Ý nói tư liệu chính xác rất thiếu).

Thủ phạm của sự nghèo nàn tư liệu này là do giặc Minh, mà tên tội phạm chiến tranh số 1 này là Minh Thành Tổ. Phải nói trong lịch sử cổ kim của nhân loại, chưa có kẻ thù nào tàn bạo và quỷ quyệt như giặc Minh. Hàng ngàn năm đô hộ nước ta, nhưng chúng vẫn không đồng hóa được dân tộc ta, là bởi ta vẫn còn gìn giữ được nền văn hóa của riêng mình, trong đó có ngôn ngữ, tín ngưỡng, tôn giáo và phong tục tập quán. Nay chúng ra sức tàn sát văn hóa (tức là tiêu diệt tận gốc cái hồn của một dân tộc) khiến cho cái gốc lịch sử của ta nằm trong sách vở biến thành tro tàn.

Tôi lạ lùng nhận thấy, cho tới tận ngày nay, con cháu của kẻ thù vẫn ngoan cố cho rằng tổ tiên nó đã khai hóa cho dân tộc ta, nó giúp đỡ ta như bè bạn.Càng kinh ngạc hơn, cũng không thiếu những người Việt vong bản, vẫn còn rất mơ hồ với bọn tội phạm văn hóa này. Đúng như nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đã từng nói, họ như những con trâu, cày ruộng nào cũng được, cày với chủ nào cũng được, chẳng qua họ không hiểu biết về lịch sử của chính dân tộc mình.

PV: Chúng tôi cảm nhận ở thời đại Lý – Trần có ít nhất hai cặp đôi vấn đề nổi lên. Đó là: i; khát vọng, ý chí giữ nước, dựng nước, và, sự thăng hoa trong sáng tạo văn hóa. ii; Sự phát triển của một thể chế và sự hoàn thiện nhân cách một cộng đồng dân tộc. Các cặp đôi vấn đề này có thể được biểu hiện rõ hơn khi liên hệ với nhà Hồ kế ngay sau đó. Khi tìm hiểu thêm về lý do thành công của sự xử lý các mối quan hệ này, chúng tôi cho rằng đó chính là mối quan hệ hài hòa giữa chính trị và văn hóa, giữa quyền lực và tri thức, giữa quyền lợi dân tộc và lợi ích của các cá nhân và nhóm xã hội. Thưa nhà văn, xin ông ý kiến chỉ giáo về những cảm nhận của chúng tôi.

NV. HQH: Tôi đồng ý cách đặt vấn đề và lý giải vấn đề của ông, rằng hai thời đại đó xã hội phát triển được hài hòa là bởi họ lấy văn hóa làm trọng tâm để giải quyết các mối quan hệ xã hội, đặc biệt là quan hệ giữa chính trị và văn hóa, hoàn toàn không có chuyện chính trị hóa văn hóa.

Xin lưu ý, thời nhà Lý, triều đình chưa hình thành lợi ích nhóm, mà chỉ có nhóm lợi ích của các dân tộc thiểu số. Việc giải quyết nhóm lợi ích của nhà Lý trong các đời vua Thái tổ, Thái tông, Thánh tông có thể coi là mẫu mực, bởi không chỉ làm yên lòng các đầu mục dân tộc thiểu số, mà còn cố kết được họ với triều đình, trong khối đoàn kết dân tộc để giữ nước. Tuy nhiên, các sử gia thiển cận đã phê phán chính sách này của nhà Lý không tiếc lời.

Nhà Trần thì phức tạp hơn, ngoài việc đối với các dân tộc thiểu số thì nội bộ giới quý tộc cũng đã hình thành nhóm lợi ích, tiêu biểu là hai nhánh quyền lực Trần Liễu, Trần Cảnh. Sau này là Trần Hưng Đạo với phần còn lại. Tuy nhiên, họ giải quyết khá thỏa đáng, bởi họ lấy Tổ quốc và Nhân dân làm mẫu số chung.

PV: Chúng tôi nghĩ, là người nghiên cứu kĩ về thời đại Lý - Trần nói riêng và lịch sử dân tộc nói chung, chắc hẳn ông có những nhận định của mình về những bài học lịch sử mà thời đại Lý – Trần đã và đang để lại cho chúng ta ngày hôm nay. Ông có thể chia sẻ với bạn đọc của VHNA?


NV. HQH: Vâng thưa ông, hai thời đại huy hoàng nhất trong lịch sử dân tộc, đã để lại cho hậu thế nhiều bài học mang tính kinh điển. Nếu con cháu thông minh và khiêm tốn, thì đây là kho báu gồm kinh nghiệm và trí khôn có thể ứng dụng trong nhiều ngành, nhiều hình thái đối nội và đối ngoại cực kỳ vi diệu.

Ví như trong lĩnh vực tôn giáo, nhà Lý dựa hẳn vào Phật giáo, dùng lực lượng tu sĩ làm đội quân xung kích trên mặt trận văn hóa trong hệ thống chùa làng. Ngoài nhiệm vụ chính của một thầy chùa là hoằng pháp, hướng dẫn người dân tu tập để tiến hóa về mặt tâm linh, thì vị sư ấy còn có nhiệm vụ kiêm chức một thầy giáo dạy chữ cho đám trẻ nhỏ trong làng, ông là người vừa khai tâm, khai trí và khai minh cho dân chúng. Vị tăng đó còn kiêm luôn cả chức năng của người thầy thuốc, là chữa trị bệnh tật cho dân chúng trong làng, hướng dẫn người dân biết hái, biết trồng và biết sử dụng cây thuốc để trị các bệnh thông thường.

Do không nắm được đặc trưng xã hội đó, nên các sử gia đời sau cứ phê phán nhà Lý hoài về “mê đắm đạo nhất thừa”.

Thứ nữa là về mặt pháp luật. Họ làm luật là để phục vụ cho lợi ích của người dân. Ví dụ năm Nhâm Ngọ (1042), Lý Thái tông cho san định bộ Hình thư. Luật ban ra, triều đình cử xuất nạp quan về tận nơi thôn cùng xóm vắng, xem xét khi luật ấy thi hành có điều nào tiện hay không tiện cho dân. Không tiện, có nghĩa là luật xa rời thực tế, không hợp lòng dân, xuất nạp quan tâu báo lên, triều đình lập tức tu chính. Truyền thống ấy được phát huy cao hơn ở đời Lý Thánh tông. Lịch sử còn truyền tụng câu chuyện bất hủ khi nhà vua xử kiện, công chúa Động Thiên ngồi bên cạnh, mặc áo lông cừu mà vẫn kêu rét. Nhà vua truyền lệnh phát chăn ấm và cơm cho tù ăn no. Ngài nói với mọi người: “Dân chúng có người vô tình mắc tội, có người không biết luật mà mắc tội, có người bị quan lại chèn ép mà mắc tội… nên nhất loạt khoan giảm một bậc”.

Và mặc dù đã có hệ thống tòa án các cấp, nhưng nhà vua vẫn cho lập “Đô hộ phủ sĩ sư”, tức tòa giám đốc thẩm, để xử lại các án oan, án ngờ. Và để quan lại trong tòa này giữ được liêm chính, nhà vua ban lộc cho mỗi người một năm được hưởng thêm một trăm bó lúa và hai giành cá khô để dưỡng liêm.

Đơn cử hai vấn đề, một là tôn giáo, hai là luật pháp đều nhằm đối tượng nhân dân và vì nhân dân mà hành hóa. Hai vấn đề đều có quan hệ mật thiết đến đời sống tinh thần và an sinh xã hội, nhà Lý giải quyết rất nhẹ nhàng. Ấy là bởi họ vì lợi ích của muôn dân chứ không vì lợi ích hoàng gia, lợi ích nhóm.

Còn với nhà Trần, tôi cũng xin cử hai bài học mà theo tôi nó có quan hệ đến định mệnh quốc gia.

Thứ nhất là mâu thuẫn giữa hai nhánh quyền lực. Tức là hai dòng trưởng và thứ, có lúc đã gay gắt tới mức tưởng như một mất một còn. Tuy nhiên, họ đã dẹp bỏ được mâu thuẫn, vì họ đặt lợi ích quốc gia lên trên hết.

Bài học thứ hai là khi Hốt-tất-liệt, tên bạo chúa nhà Đại Nguyên, đặt cả dân tộc ta trước nguy cơ bị hủy diệt. Nhà Trần không chỉ đoàn kết trong nội bộ hoàng gia, hoàng tộc mà còn cố kết toàn dân thành một khối. Họ luôn biết lắng nghe kẻ sĩ, lắng nghe dân.

Biểu tượng cao nhất là Hội nghị các bô lão ở điện Diên Hồng, khi quân thù đã sắp kéo 50 vạn hùng binh tràn vào biên ải nước ta. Các vua nhà Trần còn phân vân không biết có chống nổi giặc dữ, và không đo được lòng dân trước thế giặc. Vì thế các vua Thánh tông, Nhân tông liền họp các bô lão tiêu biểu trong cả nước để vấn kế. Và kết quả là đại biểu của toàn dân muôn người như một đòi triều đình: “quyết đánh!”.

Triều đình đã lắng nghe và chấp hành nguyện vọng của toàn dân, nên đã tạo ra được sức mạnh siêu thần nhập hóa, đánh bại đội quân xâm lược khổng lồ mà trước đó nó chưa biết mùi chiến bại. Thậm chí các nước khổng lồ như Nga, Trung Hoa đều đã gục ngã, quy hàng và cam chịu cho người Mông Cổ đặt ánh thống trị.

Vậy là các bài học của hai thời đại Lý - Trần để lại cho hậu thế là chính quyền phải vì dân và biết lắng nghe kẻ sĩ, lắng nghe dân thì muôn việc dù khó khăn, nguy nan đến mấy cũng đều có thể vượt thoát được.

Trái lại nhà Hồ vừa độc tài chuyên chế, vừa khinh dân, khinh nhờn kẻ sĩ, phớt lờ quyền lợi và nguyện vọng của người dân, thì dù có xây thành đá, rốt cuộc cũng không tìm được nơi ẩn nấp. Và chỉ mấy tháng sau khi giặc Minh vào cõi, cả ba cha con Hồ Quý Ly đều bị bắt làm tù binh.

Nước mất là bởi chính quyền nhà Hồ đã tước đoạt hết quyền làm chủ của người dân, khi ấy nước không còn là của dân nữa, thì dân cũng không chứa cái thứ chính quyền đã phản bội họ. Vì vậy nhà Hồ tựa như cái cây đã bật hết rễ ra khỏi lòng đất. Đất không nuôi dưỡng nữa, nó phải chết.

Vâng thưa ông, trên đây tôi chỉ đưa ra vài ví dụ, thực ra các bài học lịch sử do hai thời đại Lý - Trần để lại cho dân tộc ta nhiều vô kể, và đều thuộc hàng kinh điển cả. Cái kho tàng kinh nghiệm đầy trí tuệ ấy, nếu biết khai thác và khiêm tốn áp dụng một cách minh mẫn, chắc chắn chúng ta sẽ có trí khôn và sức mạnh tăng lên gấp nhiều lần, và không một kẻ thù nào dám coi thường dân tộc ta.

Tiếc thay, như mọi người đều biết rằng bài học lớn nhất của lịch sử, là người ta đã không chịu rút ra từ lịch sử những bài học. Vì vậy, dân tộc ta đã và đang phải trả giá quá đắt về sự ngạo mạn cùng với tội bất kính tổ tông.

PV: Trong những bài học đó, bài học nào là đáng giá nhất và bài học nào là đắt giá nhất?

NV. HQH: Theo tôi, bài học đáng giá nhất là nhà Trần đã thuận theo lòng dân nên giữ được nước, làm cho dân tộc ta ngẩng cao đầu và kiêu hãnh trước kẻ thù hùng mạnh nhất thời đại.

Và bài học đắt giá nhất là nhà Hồ làm trái lòng dân, trái đạo lý, chuyên quyền và tàn bạo nên để mất nước về tay quân thù.

PV: Thưa nhà văn, nghiên cứu thời đại Lý – Trần, chắc là ông đã đọc, nghiên cứu văn học của thời đại này rất nhiều. Những thâu nhận từ nền văn học này đã giúp ông trong quá trình tái tạo chính lịch sử thời đại này bằng văn học như thế nào?

NV. HQH: Thưa ông, văn học thời Lý -Trần có vẻ đẹp mà không thời nào có được. Trước hết là giá trị mỹ học. Tiếp đó là sự hào sảng khoáng đạt, ung dung tự tại, với vẻ thâm trầm uẩn ảo, toát ra từ cốt cách của một nền văn hóa ở tầng cao trí tuệ.

Tiếp thu tinh hoa đó, và tôi đã chuyển tải tinh thần đó vào trong hai bộ tiểu thuyết lịch sử “Tám triều vua Lý” và “Bão táp triều Trần”. Tuy nhiên, trình độ có hạn, nên dung lượng được chuyển tải bị hạn chế nhiều.

PV: Câu cuối chúng tôi muốn hỏi nhà văn là trong viết tiểu thuyết lịch sử thì cần nhất điều gì và kiêng kị nhất điều gì?

NV. HQH: Thưa ông, điều cần thiết đối với người viết tiểu thuyết lịch sử là phải giữ được cái tâm trong sáng, phải trung thực và phải biết nâng niu những giá trị do lịch sử để lại. Và điều kiêng kỵ nhất đối với người viết tiểu thuyết lịch sử là không được đem tà tâm gửi vào lịch sử.

PV: Cảm ơn ông rất nhiều về cuộc trao đổi hôm nay. Hy vọng chúng ta sẽ có những trao đổi trong thời gian tới.

____________________

• Phan Thắng thực hiện

CÂY MAI TRONG THƠ VĂN LÝ TRẦN LÀ CÂY MAI GÌ?

Trong thơ văn thời Lý- Trần, thấy xuất hiện khá dày đặc hình ảnh hoa mai và dường như mỗi khi hoa mai hiện diện đều khiến những áng thơ của thi nhân xưa trở thành những câu chữ xuất thần. Ấn tượng nhất là những bài thơ Tảo mai của Phật hoàng Trần Nhân Tông và “Cáo tật thị chúng” của Thiền sư Mãn Giác thời Lý với câu thơ bất hủ “Cứ tưởng xuân tàn hoa rụng hết/ Đêm qua, sân trước một nhành mai”. 

Mai nở rộ ở rừng Yên Tử

Bình luận cái hay, cái đẹp trong những áng thơ kiệt tác này, sẽ là thừa nếu như sa đà vào sự săm soi, thắc mắc rằng đó là hoa mai vàng, mai trắng, hay mai hồng? Bởi hoa mai ở đây chỉ mang tính ước lệ hàm chỉ mùa xuân - sự sống - hạnh phúc, và mai vàng hay mai trắng đều mang ý nghĩa thoát tục như nhau, cũng như bất cứ loài hoa thanh khiết và cao thượng nào khác. Nhưng bài viết này không nhằm bình luận thơ, mà muốn đi tìm xuất xứ của loài hoa mà người xưa phải “cúi đầu bái lạy”.

 

Mai vàng hay mai trắng?

 

Báo Lao Động số ra ngày 26-1-2011 có bài “Trước nhà phải trồng cây mai vàng” của tác giả Minh Tự, viết: “…Yêu và tôn thờ hoàng mai như thế, vậy nên người Huế đã mắc phải một nhầm lẫn rất quan trọng.

 

Họ cứ khẳng định như chân lý rằng cây hoa mai bất hủ của Mãn Giác thiền sư trong bài kệ nổi tiếng “Cáo tật thị chúng” chính là hoàng mai. Thậm chí các nhà thơ, các nhà giáo và kể cả các nhà sư xứ Huế vẫn bình luận rất vô tư, rằng “Đình tiền tạc dạ nhất chi mai” ấy là mai vàng. Họ đã mặc định “mai cốt cách, tuyết tinh thần” trong Kiều của Tố Như chính là hoàng mai. Họ đã khẳng định cái loài hoa mà Chu Thần Cao Bá Quát suốt cả đời chỉ cúi đầu bái lạy duy nhất, “Nhất sinh đê thủ bái mai hoa”, ấy là mai vàng.

 

Cho đến một ngày đầu xuân 2009, nhà nghiên cứu Hải Trung đã lên tiếng đính chính cho hoa mai, thì người Huế mới biết rằng từ lâu nay mình đã “lầm to”. Theo tác giả Hải Trung, loài hoa mai mà Mãn Giác thiền sư, Cao Bá Quát, Nguyễn Du, và rất nhiều tác phẩm trong văn học trung đại Việt Nam và cả trong Đường thi vẫn nhắc đến, chính là loài mai trắng, người Bắc thường gọi là hoa mơ, người Huế gọi là bạch mai, tuyết mai hay hàn mai.

 

Loài hoa thuộc họ Mơ, tên khoa học là Prunus mume S.et Z, hoa nhỏ màu trắng như tuyết, quả mai chính là quả mơ mà người ta vẫn thường dùng để chế biến ô mai. Khác hẳn với hoa mai vàng, có tên khoa học là Ochna harmandii Lee thuộc họ hoàng mai, có gốc tích ở phương Nam.

 

Theo nhà dược học Đỗ Tất Lợi - trong bài viết “Cây mơ, cây mai dưới con mắt người làm công tác khoa học” in trên báo Nhân Dân ngày 22-2-1983 thì: “Người Việt mới biết đến cây mai vàng khoảng 300 năm trở lại đây.

 

Vào thế kỷ thứ XI, dưới thời nhà Lý, thì Mãn Giác thiền sư đã biết đến hoa hoàng mai đâu mà bảo “nhất chi mai” ấy là một cành mai nở vàng trước sân? Cho đến nay, hoa mai vàng vẫn không thể sống và ra hoa được trong khí hậu lạnh của miền Bắc, vậy thì loài hoa kiên cường nở trong giá buốt khiến cho người quân tử phải “đạp tuyết” để “tầm mai” ấy chắc chắn không phải là mai vàng.

 

Wikipedia khi đề cập tới mục từ “Mai vàng” cũng cho biết: “Việc miền Bắc chơi đào, trong miền Nam chơi mai trong dịp Tết được giải thích là sau khi mở rộng bờ cõi về phương Nam vốn có khí hậu nóng hơn không thích hợp với việc trồng đào, mỗi khi Tết đến, những người đi mở đất nhớ đến cành đào ngoài Bắc nhưng không thể có được đã chọn mai (một cây hoa rất phổ biến ở trong Nam, đẹp, nhiều hoa lại nở đúng mùa Tết) để thay thế.

 

Tác giả Minh Tự vẫn trong bài “Trước nhà phải trồng cây mai vàng” thêm một lần nữa khẳng định Cây mai trong thơ văn xưa chính là loài mai trắng để rồi: “Dẫu biết rằng loài hoa mai mà người xưa gọi là biểu tượng của người quân tử với cốt cách kiên nhẫn trước lạnh giá của đất trời và lặng thầm lưu giữ tinh hoa đất trời ấy là loài mai trắng ở miền Bắc, nhưng các tín đồ của hoàng mai ở xứ Huế vẫn nhất quyết rằng mai vàng mới chính là loài hoa cao quý, khiến cho kẻ sĩ bất khuất như Cao Bá Quát cũng phải cúi lạy."

 

"Tôi đã gặp nhiều người Huế trồng mai, chơi mai và hiểu biết về hoa mai để thử đính chính với họ về sự nhầm lẫn này, và nhận lại nhiều cái lắc đầu. Người trồng mai thì bảo hoa mai đương nhiên là cái giống mai vàng này, các thứ khác chỉ là ăn theo mai mà thôi. Người nghiên cứu về hoa mai thì bảo có đến 200 loài hoa mai, nhưng đại diện cho họ nhà mai thì phải là hoàng mai. Người chơi mai thì bảo cứ nhìn cái dáng mềm mại mà vươn cao của hoàng mai, thân cây với những lớp đồi mồi tuyết sương, kiên nhẫn qua nắng mưa để rồi nở ra cho đời những bông hoa vàng tinh anh, ấy mới là cốt cách của người quân tử! Người Huế tôi thủy chung đến mức bảo thủ, nhưng đáng yêu cũng chính là chỗ đó!” - Nhà báo Minh Tự viết.

 

Thực ra, không chỉ những người yêu hoa xứ Huế mặc nhiên tin rằng cây mai mà người xưa bái lạy chính là hoàng mai, mà ngay cả nhiều học giả, nhà nghiên cứu Phật giáo, văn học ở miền Nam cũng mặc nhiên hình dung hoa mai trong thơ văn Lý Trần là cây mai vàng.

 

HT.Thích Giác Toàn trong bài “Những đóa mai vàng đẹp mãi ngàn năm” cũng viết: “Tóm lại, như chúng ta đã biết, cánh hoa vàng (hoàng hoa) của Thiền sư Thiền Lão, cành mai vàng của Thiền sư Mãn Giác đầu, giữa đời Lý và đóa cúc vàng của Thiền sư Huyền Quang gần cuối đời Trần… cả 3 đóa hoa vàng cách nhau trên dưới 300 năm. Vậy mà khi đọc lại, ta tưởng chừng như 3 con người, 3 vị Thiền sư Thiền Lão-Mãn Giác-Huyền Quang và 3 đóa hoa vàng chỉ là một - như mới đâu đây, mới hôm nào… rồi chợt giật mình. Ồ! Đây rồi - đóa hoa vàng của chính lòng ta “tâm thức sống của chính mình,” của mỗi người chúng ta. Ôi! Những đóa hoa vàng tuyệt bích thiên thu”.

 

Mai vàng đã phổ biến ở miền Bắc vào thời Lý - Trần

 

Dĩ nhiên từ trước đến nay, mọi người miền Bắc đều cho rằng cây mai vàng không thể hiện diện ở Bắc Bộ từ thời xa xưa, vì đây là loài cây xuất xứ ở Nam. Miền Bắc chỉ có cây mai trắng, nhưng ít người dùng để chơi Tết, mà ngày Tết thường chỉ chơi hoa đào. Nhưng từ năm 2007, khi rừng Đại lão mai vàng ở Yên Tử được phát hiện và công bố khiến tất thảy đều ngỡ ngàng.

 

Chính quyền tỉnh Quảng Ninh đã đưa rừng mai vàng vào quy hoạch di sản quan trọng phải bảo vệ nghiêm ngặt, đồng thời các nhà khoa học nước ta đã nghiên cứu rừng mai quý hiếm này. Khi khảo sát kỹ nguồn gốc cây mai vàng ở non thiêng đại ngàn Yên Tử, các nhà khoa học của Viện Nghiên cứu Rau quả và Trường Đại học Nông nghiệp l cũng đều nhận thấy giống mai vàng này đã có cách đây khoảng 800 năm, được phân bố rải rác khắp vùng rừng Yên Tử, nhưng tập trung ở 3 khu chính; đó là: Khe núi dọc từ chùa Hoa Yên xuống, khu rừng thuộc phường Vàng Danh (TX Uông Bí) và khu rừng thuộc dãy núi xã Tràng Lương, Bình Khê (Đông Triều).

 

Tại đây, người ta có thể bắt gặp những cây mai cao đến 15 mét, đường kính thân 60-70cm và có rất nhiều cành. Theo những nghiên cứu gần đây của Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, thì cây mai vàng Yên Tử và cây mai vàng miền Nam đều thuộc cùng một loài (tên khoa học là Ochna integerrima), đây là loại mai có 5 cánh, lộc màu xanh. Cánh hoa có màu vàng tươi rất sáng và có mùi thơm nhẹ đặc trưng rất dễ chịu. Trên một cành có rất nhiều hoa. Kích thước hoa không lớn, đường kính khoảng 2 - 3cm. Sự khác biệt lớn nhất mà người yêu thích mai vàng Yên Tử quan tâm là khả năng sinh sống và nở hoa trong điều kiện khí hậu có nhiệt độ lạnh của miền Bắc.

 

Chính điều này đã tạo nên những đặc điểm về hình thái, hương thơm và thời điểm nở hoa khác hẳn so với các giống hoa mai vàng ở phương Nam. Truy tìm trong sử liệu, những công trình nghiên cứu khoa học, lịch sử, văn hóa về di tích danh thắng Yên Tử có rất nhiều, song, hầu như không có tài liệu chính thức nào nói về loài mai vàng rất quý tại Yên Tử, mọc thành rừng. Chỉ nghe dân gian tương truyền rằng, khi lên núi Yên Tử tu hành, Phật hoàng Trần Nhân Tông đã phát động các tín đồ Phật tử trồng cây mai vàng. Sau nhiều năm được bàn tay các Phật tử chăm sóc, cùng với sự ưu ái của thiên nhiên, những cây mai nhỏ bé đã biến thành rừng mai rộng lớn.

 

Một điều đặc biệt, đó là thủ đô Hà Nội ngày nay có quận Hoàng Mai, thế nhưng ít người liên tưởng cái tên địa danh này với loài hoa mai vàng. Nhiều tài liệu lịch sử ghi lại, Hoàng Mai xưa vốn là thái ấp của Thượng tướng quân Trần Khát Chân (? - 1399), ông có nhiều công lao trong cuộc chiến đấu chống các đợt xâm lược của quân Chiêm Thành ra Thăng Long cuối thời Trần. Năm 1390, ông giết được vua Chiêm Thành là Chế Bồng Nga, từ đây, quân Chiêm không còn đánh ra Thăng Long nữa.

 

Sau chiến công này, Trần Khát Chân được thăng chức Thượng tướng quân, được ban cho thôn Cổ Mai làm thái ấp. Thái ấp của Trần Khát Chân nằm trên vùng cửa ngõ xung yếu trấn giữ phía Nam Thăng Long (điều này cũng dễ thấy và dễ hiểu ở các thái ấp của các vị tôn thất, danh tướng nhà Trần). Trần Khát Chân rất yêu thích cây mai, vì vậy ông cho trồng cây mai thành vườn rừng rộng lớn trên vùng đầm hồ nơi đây dài cả chục dặm. Sử sách cũng ghi lại: Hàng năm, cứ vào đầu tháng Giêng, Thượng tướng Trần Khát Chân vẫn mở tiệc Đại Mai đều đặn tại Trại Mai của mình, mời Hoàng thượng Nghệ Tông cùng các đại thần triều đình đến tham dự và thưởng lãm hoa mai.

 

Ngày nay, có 4 làng trong quận Hoàng Mai gồm Tương Mai, Bạch Mai (xưa là Hồng Mai), Mai Động, Hoàng Mai đều có đình thờ Trần Khát Chân làm thành hoàng. Đình Hoàng Mai thờ Trần Khát Chân ở vị trí trung tâm của làng, trên khu đất cao nằm cạnh ngôi chùa Nga My cổ kính đã có từ đời Lý. Trước cửa đình còn đặt đôi voi đá, đôi ngựa đá đối nhau, đường bệ uy nghi. Chúng tôi đến đình Hoàng Mai, tìm hiểu về tên của địa danh này, các cụ phụ lão mà chúng tôi gặp ở đây giải thích: Thời xưa, Thượng tướng Trần Khát Chân trồng ở vùng này toàn cây mai vàng, nên tên Hoàng Mai có từ đó.

 

Trở lại những bài thơ viết về hoa mai của các thi nhân đời Lý-Trần, trong câu thơ đầu của bài thơ Tảo mai 1 (Hoa mai sớm kỳ 1) được nhà thơ Trần Lê Văn dịch: “Năm cánh hoa tròn, vàng nhị phô/ Nổi nênh vảy cá, chìm san hô”. Như vậy, “vàng nhị phô” là một chi tiết chứng tỏ hoa mai trong thơ văn Lý - Trần là mai vàng.

 

Từ tất thảy những bằng chứng trên đủ để khẳng định rằng: cây mai vàng được trồng phổ biến ở miền Bắc từ cách đây trên dưới nghìn năm. Theo tôi, có thể mai vàng phát tích từ phương Bắc, rồi sau đó mới di thực vào Nam.

 

Ngày nay, cây mai vàng trở thành “đặc sản” từ Huế trở vào miền Nam, nhưng vì đâu mà chúng “đoạn tuyệt” với người dân miền Bắc và chỉ còn sót lại khu biệt ở rừng sâu Yên Tử thì đây là điều mong đợi các nhà khoa học nghiên cứu. (Theo Giác Ngộ)

_________________

thuvienhoasen.org

MỞ CÁNH CỬA KHÔNG

Tu thiền để dừng lặng tâm lăng xăng. Tâm lăng xăng lặng xuống thì tâm chân thật hiện đủ. Đó là giác. Giác bằng cách thực hiện ngay nơi mình, chứ không phải tìm kiếm ở đâu khác.

 

Muốn bước vào cửa thiền trước tiên phải thâm nhập lý Bát-nhã. Lý Bát-nhã còn được gọi là cửa Không. Sắc tức thị không, không tức thị sắc. Tại sao chúng ta tu thiền phải đi từ cửa Không? Vì nếu thấy thân này thật, đối với ngoại cảnh, từ con người cho tới muôn vật, chúng ta đều thấy thật hết thì tâm sẽ chạy theo nó.


Bây giờ, muốn tâm không chạy theo, chúng ta phải quán sát kỹ tất cả sự vật ở ngoài cũng do duyên hợp, không thật. Cái nhà từ khoảnh đất trống, ta dựng cây cối, gạch ngói v.v… để thành cái nhà. Do vậy cái nhà là tướng duyên hợp. Do duyên hợp nên có ngày nó phải bại hoại, tường vách đổ sụp. Những gì duyên hợp đều hư dối. Từ cái nhà cho đến mọi sự mọi vật, có thứ nào không phải duyên hợp đâu, nên chúng sẽ đi đến bại hoại. Biết rõ như vậy mới không dính mắc với cảnh bên ngoài. Không dính mắc ngoại cảnh thì tâm mới an định, còn dính mắc thì không bao giờ an định.

Thí dụ chúng ta vừa mới to tiếng với ai đó chừng nửa giờ, bây giờ vô ngồi thiền có yên không? Vừa ngồi vừa tiếp tục cãi, không cãi bằng miệng mà cãi bằng tâm. Họ nói câu đó là sao? Mình phải trả lời sao cho xứng v.v… cứ ôn tới ôn lui hoài. Vì chúng ta thấy câu nói thật nên không bỏ được. Nếu ta quán con người đó không thật thì lời nói của họ có thật đâu, tất cả là chuyện rỗng, có gì quan trọng. Thấy vậy liền buông nhẹ. Buông được thì ngồi thiền mới yên. Cho nên trước tiên bước vào cửa thiền, chúng ta phải đi từ lý Bát-nhã, dẹp bỏ tất cả những cố chấp của mình.

Kinh Bát-nhã nói “Sắc tức là Không, Không tức là Sắc” nghĩa thế nào? Như bình hoa trước mắt chúng ta, nếu bỏ mấy cọng hoa mỗi nơi mỗi cái thì bình hoa không còn. “Bình hoa” là giả danh, do đủ duyên hợp lại mới có, nếu thiếu duyên bình hoa không còn nữa. Nên nói thể bình hoa là không, do duyên hợp tạm có. Ngay nơi bình hoa chúng ta biết tánh nó là không. Tuy tánh không nhưng đủ duyên hợp lại thì thành bình hoa.

Như vậy lý không ở đây không phải không ngơ, mà là không có chủ thể cố định. Duyên hợp tạm có, duyên ly tán trở về không. Hoa khi phân tán khắp nơi, chỉ còn lại bình không, nếu ta cắm vào đó các hoa khác thì có bình hoa trở lại, nên nói “không tức là sắc”. Rõ ràng sắc và không đều không thật. Nói sắc nói không nhằm chỉ ra lý duyên hợp, đủ duyên thì không biến thành sắc, thiếu duyên thì sắc biến thành không. Nên ngay khi duyên hợp, tánh nó vẫn là không. Vì vậy kinh Bát-nhã nói không nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, không sắc, thanh, hương… Không là nói đến thể của tất cả các pháp. Tất cả pháp chỉ có giả danh, không có thật thể.

Từ đó chúng ta dùng trí quán xét hết các sự vật bên ngoài đều là duyên hợp tánh không. Biết như thế là tỉnh, hết mê. Biết lý tánh không rồi, chúng ta mới bỏ được vọng tưởng điên đảo, các vị Bồ-tát mới có thể tu hành tiến lên thành Phật. Dùng trí tuệ Bát-nhã tức là dùng thanh kiếm bén ruồng hết sáu trần, không chấp không kẹt. Không chấp thì ngồi thiền êm ru, không nghĩ, không tính. Vừa chợt nhớ gì liền tự nhắc “Nó giả dối, có thật đâu mà nhớ”.

Thế nên bước vào cửa Không phải thấy rõ: Một, tất cả cảnh sắc đều hư dối, tự tánh là không. Hai, thân tứ đại duyên hợp hư dối, tự tánh là không. Ba, tâm vọng tưởng sanh diệt hư dối, tự tánh là không. Biết ba cái đó không thật rồi, chúng ta phải tìm cho ra cái chân thật. Đây là chỗ thiết yếu hành giả tu thiền cần phải biết. Cái thật đó lâu nay chúng ta không nhớ không biết nên chạy theo trăm thứ đảo điên. Bây giờ phải nhớ để nhận ra và sống lại với cái chân thật của chính mình, thì mới chấm dứt sanh tử và đau khổ.

Như câu chuyện Đức Phật kể trong kinh Lăng Nghiêm: Một buổi sáng, có anh chàng Diễn Nhã Đạt Đa đứng trước gương soi mặt, anh thấy mặt mày mình hiện rõ trong đó. Khi úp gương xuống, anh không thấy mặt mình nữa, liền chạy la hoảng: “Tôi mất đầu rồi. Tôi mất đầu rồi!”. Phật nói Diễn Nhã Đạt Đa ôm đầu chạy la mất đầu, có phải điên không? Tại sao anh điên? Vì anh lầm bóng trong gương là đầu thật, nên quên mất đầu thật của mình.

Chúng ta có giống Diễn Nhã Đạt Đa không? Khi nghĩ suy ta thầm cho đó là “tâm tôi”, khi không nghĩ suy thì không có tâm. Nghĩ suy là bóng, mình nghĩ về người thì bóng người hiện ra, nghĩ về vật bóng vật hiện ra. Hết nghĩ suy thì tâm lặng, rõ ràng chúng ta có cái thật nhưng lại không thấy, chỉ thấy toàn là bóng. Vì nhận bóng là mình nên quên cái thật, giống như Diễn Nhã Đạt Đa nhớ bóng quên đầu, đó là điên. Tâm thật luôn có mặt trong hiện tại, không bao giờ vắng thiếu mà ta lại không nhận, đi nhận những thứ lăng xăng chợt có chợt không là tâm mình, như vậy không phải điên là gì?

Chúng ta có cái thấy nghe rõ ràng mà không cần suy nghĩ. Đó là cái chân thật hiện tiền, không động, có sẵn nơi mỗi người. Chỉ vì lâu nay mình cứ cho nghĩ suy là tâm nên quên mất tâm thật. Chấp thân là mình, chấp suy nghĩ phân biệt làm tâm mình, đó là gốc luân hồi sanh tử. Muốn ra khỏi luân hồi sanh tử phải bỏ hết các thứ chấp ấy đi. Muốn bỏ cũng phải tập, bỏ hoài bỏ hoài, lâu ngày mới hết.

Cũng vậy, những vui buồn chúng ta đem ra kể cho cha mẹ nghe là khắng vào tâm não một lần, kể cho anh em nghe là khắng thêm hai lần. Cứ thế kể cho bạn bè, bà con láng giềng nghe, ôn đi ôn lại càng nhiều thì thấm càng sâu trong tâm não. Vì vậy khi ngồi yên nó trồi lên, ta “bỏ” chẳng bao lâu nó trồi lên nữa, ta than phiền tại sao bỏ hoài không hết ? Mình thu vô một trăm lần thì đuổi ra ít nhất cũng phải tám, chín chục lần mới hết chứ. Sao lúc thu vô nhiều không than phiền, khi đuổi lâu hết lại không chịu. Có phải mình vô lý không?

Những buồn đau, giận hờn… xảy đến ta cứ chứa chấp sâu trong kho tàng thức, bây giờ muốn loại trừ phải từ từ. Năm này một ít, năm kia một ít nó mới sạch, chứ không phải một lần sạch liền. Vì vậy ngồi thiền là cốt loại những bóng dáng của quá khứ còn lưu lại trong tâm, khiến nó tan mất đi. Chúng hết rồi thì cái chân thật hiện tiền, hằng tri hằng giác của mình hiện bày. Tri giác ấy là tánh Phật. Chư Phật ra đời mục đích để chỉ dạy cho chúng ta bấy nhiêu đó thôi.

Nhận ra tánh Phật hằng tri hằng giác, không suy nghĩ, không thương ghét, không hơn thua là dứt tạo nghiệp thiện ác. Không tạo nghiệp thiện ác thì đâu có luân hồi sanh tử. Đó là nhân giải thoát. Như vậy tu là giác ngộ, biết mình có cái thật phải nhận lại, cái giả bỏ đi. Bỏ được những thứ hư dối, sống hoàn toàn với tâm chân thật là giác ngộ. Giác ngộ là giải thoát sanh tử.

Chúng ta cứ đúng theo đạo lý Phật dạy mà tu. Tu lâu ngày mọi thứ khổ đau mê lầm sẽ giảm. Khi nào hết mê lầm tức là chúng ta giác ngộ viên mãn. Như vậy mới xứng đáng là Phật tử tức con của Phật. Tu là để giải thoát sanh tử, chứ không phải cứ đi mãi trong mê lầm. Vì vậy Phật tử gặp Phật pháp, được quý thầy nhắc nhở tu hành là có phước lớn, chứ không phải thường. Nếu không sẽ chìm mãi trong biển khổ sanh tử, đeo đuổi theo những thứ tạm bợ của thế gian, chịu nhiều đau khổ không biết đến bao giờ mới hết!

Mong tất cả hiểu được mục đích tu hành của mình để đạt được kết quả như sở nguyện.

 

_________________


• HT. Thích Thanh Từ

Nguồn: giacngo.vn

BÀI HỌC TỪ TỔ SƯ PHÁP LOA

I. MỘT VỊ THIỀN SƯ, CHÚNG TA HỌC HỎI NHƯ THẾ NÀO?

 

Nếu dòng Thiền Tào Khê ra đời từ Lục Tổ Huệ Năng vốn là một vị tiều phu không chữ, mạch nguồn này được phát huy khiến cho nhiều người biết đến dưới thời một đệ tử tài ba linh lợi là Thần Hội Đại Sư; thì Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử Việt Nam do một vị Vua anh minh, xuất gia tu hành giác ngộ sáng lập nên, rồi được củng cố, hoàn bị và phát triển mạnh mẽ dưới thời một đệ tử nối pháp là Thiền sư Pháp Loa, vốn xuất thân từ một thanh niên dân dã, ít học. Đây là điểm đặc biệt, hàm chứa một ý nghĩa vô cùng độc đáo và sâu sắc của thiền phong. Tâm mình còn chút tình mê, chưa rời tình thức; còn kẹt hai bên, chưa suốt thông đại đạo, chưa tỏ ngộ tự tâm thì khó bề thấu tột.

 

Nếu đã suốt thông thì không còn nói đến việc học. Còn chưa thông suốt thì học cũng không thể đến được chỗ tột cùng này. Vậy phải học hỏi Tổ sư Pháp Loa như thế nào? Không thể tìm hiểu nghĩa lý trên ngôn ngữ hay hành động mà cho là đã học được. Nhưng nếu khéo học, cũng ngay một câu, một chữ hay bất kỳ hành động nào cũng có thể bất ngờ nhận ra. Mới hay, mười phương chư Phật, nhiều đời Tổ sư chưa rời trước mắt. Thật cảm kích và sống động khi học về một Thiền sư!

 

 

II. BÀI HỌC TỪ TỔ SƯ PHÁP LOA:

 

1. Không thích ăn thịt cá, không nói lời ác:

 

Nếu là người từng ăn chay vào những ngày Rằm hay mùng Một đã nhiều năm thành thói quen. Tình cờ sáng Rằm nào đó bận việc, bị quên và nhỡ ăn chút đồ mặn. Lát sau nhớ ra thì lòng cảm thấy hổ thẹn, đi lấy nước súc miệng và tiếp tục ăn chay vào các bữa sau đó. Hoặc có vị phát tâm ăn trường chay hơn một năm, sau đó nghe mùi cá thịt thì bị buồn nôn, không chịu được. Hay khi còn ăn cá thịt thì cắt cổ nhổ lông súc vật cảm thấy cũng thường. Nhưng người ăn chay được thời gian rồi, thình lình thấy ai cắt cổ gà vịt thì trong lòng cảm thấy rợn người, khó chịu. Đó là những dấu hiệu cho thấy thiện pháp đã phát sinh trong người ăn chay, khi thấy pháp ác thì không chấp nhận được.

 

Tổ Pháp Loa khi mới sinh ra thiên tư đã đĩnh ngộ, không thích ăn cá thịt, không nói lời ác. Mới thấy được căn lành của Ngài thật sâu dày do nhiều kiếp đã được huân tu. Chúng ta muốn có được căn lành như Tổ thì ngay từ bây giờ phải sống tốt, siêng năng tu hành các thiện pháp, thiền định chuyên tâm. Nhiều kiếp hay một đời đều do chính mình tự làm, tự tu tạo, không ai làm thế cho mình được. Nếu kiếp trước chưa làm thì đời này chúng ta bắt đầu làm.

 

2. Tích cực làm nhiều Phật sự:

 

Năm 24 tuổi Ngài đã ngộ đạo, được truyền y bát và tâm kệ, kế thế Tổ vị thứ hai của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Đến 25 tuổi Ngài lãnh đạo Giáo Hội, làm chủ Sơn môn Yên Tử. Trong khoảng 20 năm, Ngài đã làm được rất nhiều Phật sự. Độ Tăng Ni hơn 15.000 người. Phật tử được độ thì không thể đếm hết. Khắc bản, in Đại Tạng Kinh. Xây chùa, đắp tượng… Với chân lý siêu việt của thiền thì Ngài đã ngộ được. Với công việc hiện đời thì Ngài đã tùy duyên làm nên nhiều Phật sự vĩ đại. Lý sự viên dung. Đúng với câu Thiền sư Qui Sơn Linh Hựu đã dạy: “Thật tế lý địa bất thọ nhất trần. Vạn hạnh môn trung bất xả nhất pháp.” Không dính mắc nhưng không phải ở không. Làm rất nhiều mà không phải dính mắc. Điều này chúng ta thấy rõ qua công hạnh tu khổ hạnh của Ngài. Nhà vua tặng thuyền để đi lại mà Ngài không nhận. Số tịnh tài tịnh vật quyên cúng quá nhiều thì Ngài giảm bớt. Nếu chỉ tìm hiểu trên những nghĩa lý này thì khó học hết được công hạnh “lý sự dung thông” này của Tổ. Học đòi cạn cợt theo bên ngoài thì dù nhiều hay ít, ai cũng có phần. Nhưng để học đến được chỗ cốt tủy của Ngài thì không phải dễ dàng như mọi người vẫn nghĩ. Thử hỏi, Tổ Pháp Loa có tâm mà làm hay không tâm để làm các Phật sự? Nếu có tâm thì còn tạo tác, rơi vào sanh diệt, không được gọi là Tổ. Nếu không tâm, tâm không sanh khởi thì lấy gì để làm? Hãy nói, Tổ Đạt Ma đến Thiếu Thất ngồi xoay mặt vào vách mấy năm? Cứ mở sách ra tìm đọc lại lịch sử hay nhớ nghĩ những gì đã học được để trả lời thì Tổ đã về Tây mất rồi! Hiện nay, ai là người thấy được? Hãy chính chắn ngẫm nghĩ cho thật kỹ. Coi chừng lầm!

 

3. Tính kế thừa và phát triển:

 

Nhắc đến Thiền sư Pháp Loa là nhớ đến công hạnh kế thừa, làm cho Tổ đạo được hưng thạnh. Thiền phái Trúc Lâm Yên tử dưới thời Tổ Pháp Loa được phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Cụ thể Tổ đã biên tập và giảng giải Ngữ Lục, khắc bản Kinh tạng, định chức và lập sổ bộ cho Tăng đồ, độ nhiều người xuất gia và tại gia… làm cho dòng thiền Việt Nam lúc bấy giờ phát triển tột đỉnh.

 

Như vậy, chúng ta học tinh thần kế thừa và phát triển của Thiền sư Pháp Loa như thế nào? Có phải làm theo giống như những gì Tổ đã làm như vừa kể trên hay không? Nếu như thế thì chỉ mới đi theo, chưa biết cách học cho nên không thể học được đúng với những gì Tổ sư đã làm.

 

Ở thế gian, nếu chúng ta học theo đuôi một vấn đề gì thì chỉ được gọi là bắt chước, học lóm, không nắm hết vấn đề, không thể sáng tạo. Cách học này không mang lại hiệu quả tốt nhất. Nếu người biết cách rèn trí thì sẽ khác. Mọi thứ trên đời đều từ trí tuệ con người mà hình thành, có ra. Căn cứ trên trí tuệ làm căn bản, những gì đã có chúng ta kế thừa, phát huy và làm tốt hơn, đó là tái tạo; những gì chưa có, nhờ vào trí tuệ chúng ta sẽ làm mới, sáng tạo. Tái tạo và sáng tạo là dựa trên nền tảng của trí tuệ để phát huy chứ không phải học theo, nô lệ kiến thức. Đó là người biết cách học, biết kế thừa và phát huy.

 

Tính kế thừa và phát huy ở Tổ Pháp Loa cũng tương tự. Chúng ta phải nhận ra rằng, tất cả những việc làm Phật sự của Ngài đều dựa trên trí giác Tổ đã đạt được. Trên cơ sở trí giác đó, Tổ tùy thuận vào những gì hiện tại cần làm để đưa mọi người trở về nhận ra và sống được bằng trí giác, để được hết khổ, an vui. Đó là tính kế thừa và phát huy Tổ đạo của Thiền sư Pháp Loa. Đây cũng chính là tinh thần Tổ Bá Trượng đã chỉ dạy: “Thấy bằng thầy kém thầy nửa đức. Trí vượt hơn thầy mới kham truyền trao.” Trí gì vượt hơn chỗ thấy nào? Đã về trong tuệ giác chân thật kia, vốn tự không sai khác, không có hơn và kém. Phải thấu tột được tuệ giác để có cái nhìn, có cơ sống suốt qua hình thức ngôn ngữ chỉ dạy của vị thầy, nhận chân và sống được với điều cốt lõi chính yếu của vị thầy muốn chỉ dạy, mới kham nhận lãnh và gánh vác việc của Thầy Tổ.

 

Từ trí giác làm căn bản, nhận biết nên làm gì để đưa mọi người trở về với trí giác mà mình đã cảm nhận được, cho người người đều được lạc an. Tính kế thừa và phát huy đúng nghĩa này không có nghĩa là thiếu vắng trí tuệ, nhất nhất phải rập khuôn. Như thế mới biết cách học tính kế thừa của Tổ.

 

4. Bài học về cội nguồn trí tuệ chân thật của một con người:

 

Thiền phái Trúc Lâm do Phật Hoàng Trần Nhân tông sáng lập. Dưới đức Sơ Tổ Trúc Lâm có hai đệ tử được truyền thừa kế thế Tổ vị. Một vị dân dã ít học là Thiền sư Pháp Loa. Một vị học thức uyên thâm, thi đỗ tiến sĩ, làm quan, xuất gia tu hành và sau này được Tổ Pháp Loa trao truyền Tổ vị là Thiền sư Huyền Quang. Hai Ngài xuất thân khác nhau và cùng làm Tổ, làm sao hiểu đây? Là người thành tựu trong đạo thì phải học nhiều hay ít học?

 

Hiện nay ở đời có nhiều người không đủ điều kiện để học Đại học, nhưng quý vị vẫn làm được nhiều việc thành công. Có không ít vị có học vị cao, nhưng lại không làm nên câu chuyện gì trong đời. Trên thực tế đó, nhiều người đã tự đặt ra cho mình suy nghĩ: “Có nhất thiết phải học Đại học hay không?” Đây là mệnh đề chưa có kết luận cuối cùng, nhưng cũng không thể bỏ qua.

 

“Nếu là một giáo sư có điều kiện, quý vị có cho con mình học Đại học hay không?” Rất nhiều người đồng chung một quan điểm: “Cứ cho học rồi hãy tính sau.” Đi rồi tính sau là người không rành rẽ lối đi, đi trong khủng hoảng. Học rồi tính sau là học mà không có định hướng, rồi sẽ thành gì? Nếu giả sử cứ cho việc học Đại học là đúng thì trong xã hội vẫn tồn tại một số người không cần học Đại học mà vẫn thành đạt. Vì thế, mệnh đề phải học Đại học là chưa thỏa mãn, chưa đủ lớn để trở thành một vấn đề chung cho tất cả mọi người. Có học là chưa thỏa mãn. Vậy không học thì sao?

 

Ông Thần Đèn không học, nhưng có khả năng di dời nhà cửa một cách phi thường. Mọi người không cấm, nhưng khuyên ông nên học thêm ngành kiến trúc để bổ túc cho việc làm của mình được tốt hơn. Khi học hiểu rồi, ông ta nhận ra việc làm trước kia của mình là quá mạo hiểm, không dám tiếp tục làm theo cách cũ nữa.

 

Có học chưa chắc đã làm nên việc lớn; không học thì hành động trong sự thiếu hiểu biết, nguy hiểm vô cùng. Học cũng không được, không học cũng không xong. Vậy phải làm sao? Nếu chúng ta không có được trí tuệ đặc biệt hơn, cứ ở trong việc học cùng chẳng học để kiếm tìm thì không tài nào tìm ra được phương hướng.

 

Học là ghi nhớ và hiểu được vấn đề, đó chỉ mới là kiến thức. Sau đó tư duy, tiêu hóa vấn đề được hiểu để nhận ra một vấn đề nào đó, đó chỉ mới là nhận thức hay tri thức. Kiến thức và nhận thức nó vẫn còn nằm trong đầu, chưa làm nên đồng tiền bát gạo là đúng. Người không được học nhiều mà có năng khiếu làm được một số việc đặc biệt, đó là nhờ vào trí tuệ vận dụng thực tiễn. Nếu có trí này mà thiếu kiến thức và nhận thức thì việc làm chưa thấu đáo và trọn vẹn. Nếu có kiến thức và nhận thức mà thiếu đi trí tuệ vận dụng thực tiễn và khả năng thích nghi thì chỉ là con chữ mà không có khả năng và bản lĩnh để làm nên điều gì đáng kể. Vậy thì tại sao chúng ta không biết vận dụng ba loại trí tuệ này để làm thành một hướng đi? Nếu chỉ nghe như thế và học theo thì chưa thể làm được. Muốn làm được điều này thì phải có một nguồn trí tuệ tổng, siêu vượt trên ba loại trí tuệ vừa nêu trên.

 

Ghi nhớ là kiến thức. Tư duy để nhận ra là nhận thức, tri thức. Trí tuệ không phải như thế. Học một hằng đẳng thức, một phép toán là để có kiến thức giải toán. Hiểu một bài toán thì mới chỉ có được sự nhận biết để giải bài toán. Khéo vận dụng những điều đã được học hiểu để giải một bài toán, từ bài toán đó giúp cho trí mình phát triển thêm. Đó chỉ mới là tầm của học trò rèn được trí tuệ của thế gian, chưa có trí tuệ của một giáo sư ra toán. Muốn làm tốt điều này thì bắt buộc chúng ta phải có nguồn trí tổng vượt trên những tri thức của một học trò và giáo sư. Học hiểu ở cuộc đời còn khó như thế, huống nữa là học hỏi nơi một vị có trí tuệ siêu xuất vượt trên thế gian! Làm sao dám chủ quan bằng vào trí tuệ còn vọng động của mình để tìm hiểu một cách hời hợt rồi vội kết luận về một vị Tổ sư?

 

Khi cõi lòng yên lắng thì chúng ta an nhiên, thấy ra nhiều điều hơn là khi bận rộn. Hóa ra, khi tâm lặng thì trí tuệ sáng ra. Tâm lặng mà sáng, đó là trí tuệ Thiền. Trí Thiền là trí gốc, là trí tổng. Trở về với trí gốc này thì trí tuệ của mỗi người sẽ được phát huy đúng mức của nó. Trở về trí này thì đều sáng suốt bình đẳng như nhau cho nên người ngu kẻ trí đều được sáng suốt. Trí này không phải do học hiểu mà phải khéo nhận lại cho nên không nằm trong giới hạn của người trí kẻ ngu, có học hay không học. Tổ Pháp Loa có phát tích từ một dân dã ít học hay Tổ Huyền Quang vốn là một vị tiến sĩ uyên thâm, khi giác ngộ tự tâm, nhận chân nguồn trí chân thật này rồi thì việc học nhiều hay ít học trước kia hoàn toàn không dính dáng. Chỉ sợ mình không thành Phật, chứ không có vị Phật nào thiếu trí tuệ cả. Là người khéo học, phải trên cơ sở thấu hiểu để khéo tu tập, nhận lại nguồn trí của chính mình thì mới biết cách học thấu tột đến chỗ mà chư Phật và chư Tổ muốn chỉ.

 

Như khi chúng ta đang đọc bài này, mình thì có hiểu; nhưng trang giấy đang chứa đầy những chữ nghĩa kia, chính bản thân nó không hiểu biết gì. Bởi chúng ta có khả năng hiểu mà tờ giấy thì không có khả năng ấy. Có nghĩa, khi muốn hiểu những điều này, chúng ta đã có khả năng hiểu của mình trước. Khả năng ấy chính là nguồn trí, là trí gốc. Con người ta phần đông chỉ hiểu theo mọi thứ bên ngoài mà không nhận ra nguồn trí này cho nên bị con chữ và ý nghĩa bên ngoài che đậy nguồn sáng của trí tuệ gốc. Nếu chỉ dừng ngang việc học hiểu mà không biết vận dụng, phát huy; hệ quả sẽ cho chúng ta thấy những phát minh dùng được thường đến nhiều từ những nông dân bình thường mà ít thấy đến từ những người có học vị.

 

Nếu nhận ra trí gốc, chúng ta sẽ biết đối với ai, lúc nào nên dạy kiến thức, nhận thức và bao giờ thì có cách cho con người tự nhận ra trí tuệ vận dụng thực tiễn như thế nào. Được vậy thì việc học không những không có lỗi gì mà còn là một sự cần thiết.

 

5. Từ cách quy tịch của Tổ:

 

Năm Đại Khánh thứ 4 (1317), Ngài bệnh nặng, đã đem y của Sơ Tổ và viết tâm kệ trao cho ngài Huyền Quang. Các pháp khí và gậy, phất tử, gậy tre, pháp thơ, pháp cụ, linh vàng, sử vàng… lần lượt trao cho mỗi đại đệ tử. Mọi người chuẩn bị tinh thần trước sự ra đi của Ngài, nhưng Tổ lành bệnh, không thị tịch.

 

Đến năm Khai Hựu thứ 2 (1330), Tổ lại trở bệnh. Ngài Huyền Quang thưa hỏi, mỗi mỗi Tổ đều khai thông. Tổ bảo, đến trong chỗ kia, buông đi hay nắm lại thảy đều không can hệ dính dáng gì đến chân tánh mà Tổ đang sống. Chỉ là tùy chỗ tùy nơi, mỗi mỗi đều tiêu dao, tự tại (tùy xứ tát-bà-ha). Đến phút lâm chung, chúng ta càng thấy rõ hơn sức sống của Tổ. Không chỉ thế, đệ tử đòi để lại kệ, Tổ bảo đem giấy bút ra và ban kệ cho. Viết xong, Ngài ném bút và an nhiên thị tịch.

 

Thông thường khi nghe bàn đến một vị Tổ sư, chúng ta thường nghĩ đến cách ra đi của các Ngài như thế nào, có được tự tại hay không tự tại. Đức Phật nằm nghiêng bên phải an nhiên vào niết-bàn. Có nhiều vị Thiền sư ngồi kiết già an nhiên thị tịch. Có vị thì khoanh tay hoặc chống gậy đứng mà tịch. Ngài Đặng Ẩn Phong nghe thế liền làm lạ hơn, tịch theo tư thế trồng chuối ngược. Vậy chúng ta nên chọn cách quy tịch nào thì mới được tự tại? Nếu nhằm trên hình tướng để thấy thì sự mê mờ của mình đã lộ ra rồi.

 

Tổ Qui Sơn Linh Hựu khi sắp thị tịch bảo sẽ làm con trâu dưới núi, bên hông có ghi năm chữ: “Qui Sơn Tăng Linh Hựu.” Thế thì nên gọi Qui Sơn là phải hay gọi con trâu là phải? Nếu còn mê mờ, kẹt tâm chấp tướng thì không thể thấu tột được chỗ này. Tại sao lại nhằm trên hình tướng để tìm thấy Phật Tổ?

 

Đức Phật dạy: “Nếu dùng sắc thấy ta, Dùng âm thanh cầu ta. Người ấy hành đạo tà, Không thể thấy Như Lai.” Nghĩa là nếu nương vào, nhìn theo âm thanh sắc tướng để tìm thấy bậc giác ngộ thì đã bị sai lệch. Không thể thấy được quý Ngài. Cuối cùng, Tổ Pháp Loa viên tịch có được tự tại hay không, phải thị tịch trong tư thế nào mới được tự tại? Khó hiểu quá! Hãy sống và tinh tấn tu hành như quý Ngài đi thì sẽ thấu suốt.

 

6. Lời khai thị vô vàn quý báu:

 

Một hôm mở hội thuyết pháp, Tổ lên tòa và nói:

 

Đại chúng! Nếu nhắm thẳng vào đệ nhất nghĩa đế mà nói thì động niệm liền sai, mở miệng là lầm, làm sao mà xét, làm sao mà quán? Hôm nay căn cứ vào đầu thứ hai mà nói cũng không được thế ấy.

 

Tổ bèn nhìn hai bên rồi nói tiếp:

 

Trong đây có người nào đầy đủ con mắt lớn chăng? Nếu có, hai cặp chân mày chẳng cần vén lên. Bằng không, bần đạo chẳng khỏi miệng nói ba hoa, đề ra những điều hủ mục, đáp những lời tạp nhạp. Chỉ vì các ông nhồi thành một khối hỗn độn. Lắng nghe! Lắng nghe!

 

Qua lời mở đầu trên, chúng ta nắm được điều cốt tủy mà Tổ muốn chỉ dạy. Ngài nói, nếu nhắm thẳng vào chỗ cứu cánh chân thật thì chỗ này không thể nói, mở miệng liền sai, làm gì có quán, có xét! Nếu khéo vận dụng để nói thì cũng không thể nói tột đến chỗ chân thật kia được. Như Ngài Đạo Ngô Viên Trí bảo: “Nói tột cùng cũng chỉ nói được tám phần”. Vậy còn hai phần nữa ở đâu? Sờ lại lỗ mũi mình đi thì sẽ biết!

 

Nói xong, Tổ nhìn hai bên mà không có ai trình được chỗ Ngài muốn chỉ, buộc phải hỏi tiếp: “Trong đây có người nào đầy đủ con mắt lớn chăng? Nếu có, hai cặp chân mày chẳng cần vén lên.” Con mắt lớn là chỉ cho đại đạo, tức trí tuệ chân thật. Chân mày là chỉ cho phương tiện. Nếu ai có con mắt lớn, tức là nhận ra thể tánh chân thật thì trình xem. Nếu trình được thì Ngài sẽ xuống tòa, không cần phải vén chân mày, không cần phải lập bày phương tiện để nói ra nữa.

 

Vì không ai trình cho nên Tổ nói: “Bằng không, bần đạo chẳng khỏi miệng nói ba hoa, đề ra những điều hủ mục, đáp những lời tạp nhạp. Chỉ vì các ông nhồi thành một khối hỗn độn. Lắng nghe! Lắng nghe!”

 

Như vậy, chỗ cốt lõi chính yếu mà Tổ muốn chỉ là đệ nhất nghĩa đế, là con mắt lớn, là chỗ cứu cánh rốt ráo của Phật pháp, là đại đạo, là Phật tánh, chân tâm… chứ không phải những lời giảng nói và đối đáp sau này. Thấy được thì ngay đây liền thấy, không đợi Tổ thăng tòa. Chỗ này không nằm trong ngôn ngữ, không nhất thiết là phải đợi nói ra mới nhận cho nên không thể đỗ lỗi do Tổ thị tịch đã 687 năm không có ai chỉ. Do trong chúng không có người trình lên cho nên Tổ phải bất đắc dĩ nói ra những điều hủ mục, tạp nhạp, nhồi lại hỗn độn, không ra gì. Bởi những lời ấy sẽ thật sự là hủ mục, tạp nhạp và hỗn độn đến vô ích nếu chúng ta không nhận ra cốt tủy mà Tổ muốn chỉ cho tất cả mọi người. Ngay đây nếu khéo hay ra, sẽ thấy Tổ đang hiện diện mỉm cười rất hài lòng và mãn nguyện cho một đệ tử khéo học hỏi Ngài như thế!

 

III. KẾT LUẬN:

 

Học hỏi Tổ sư Pháp Loa, chúng ta phải biết ứng dụng lời Tổ chỉ dạy để thực hành, tỏ ngộ chỗ cốt tủy mà Tổ muốn chỉ, sẽ phá tung những điều còn uẩn áo trong này. Nếu chỉ nghiên tầm, kê cứu thì chỉ đọc học và hiểu được những gì trong sách sử đã in ấn và tìm trên những di sản còn sót lại mà thôi.

 

ĐĐ.Thích Tâm Hạnh

Thiền viện Trúc Lâm Bạch Mã, Huế. 21/02/ Đinh Dậu (18/03/2017)

_____________________

vietrigpaunesco.org

TÌM HIỂU VỀ TRÀO LƯU TỊNH ĐỘ TẠI VIỆT NAM

Qua thực tế sinh hoạt tâm linh, tín ngưỡng của Phật giáo Việt Nam hiện nay, có thể thấy rằng dấu ấn của pháp môn Tịnh độ là hết sức sâu đậm. Đây là một trong những vấn đề đáng quan tâm và cần sự nghiên cứu một cách kỹ lưỡng để xác định truyền thống tu học của người Phật tử Việt Nam, nhằm xây dựng các nguyên tắc tổ chức trong các tự viện nói riêng và đời sống tín ngưỡng, tu học của người Phật tử nói chung một cách hiệu quả, phù hợp với tâm lý, bối cảnh văn hóa và truyền thống của dân tộc. Vậy tư tưởng Tịnh độ du nhập Việt Nam bao giờ, phát triển ra sao và có đặc điểm gì, trong bài viết này, chúng tôi sẽ bước đầu tìm hiểu về những vấn đề trên qua các tư liệu hiện có.


1. Sự du nhập và phát triển của tín ngưỡng Tịnh độ tại Việt Nam

Danh hiệu của Đức Phật A Di Đà được nhắc đến sớm nhất trong lịch sử Phật giáo VN là ở Cựu tạp thí dụ kinh, truyện 60. Pháp môn niệm Phật cũng đã được đề cập trong Lục độ tập kinh do Khương Tăng Hội (?-280) dịch sang chữ Hán. Đây là những bộ kinh xưa nhất lưu hành tại Việt Nam hiện biết được. Như vậy, ngay từ rất sớm, vào trước thế kỷ thứ III, trong khuynh hướng tư tưởng Phật giáo Đại thừa được giới thiệu tại nước ta, người Phật tử Việt Nam cũng đã bước đầu được tiếp xúc với tín ngưỡng Tịnh độ (A Di Đà). Tư tưởng này đã đi vào đời sống tu tập của người Phật tử và trở thành một trong những trào lưu lớn mạnh ở thế kỷ thứ V với sự có mặt của các bản kinh quan trọng làm nền tảng cho nó là Vô lượng thọ (Quán thọ), (1) do sư Đàm Hoằng (?-455), một vị Tăng người Trung Quốc chuyên hành trì pháp môn Tịnh độ với ước nguyện vãng sinh Cực Lạc, đến việt Nam tu học tại nước ta truyền bá.

Theo Cao tăng truyện của Huệ Hạo, sư Đàm Hoằng (Thích Đàm Hoằng) người Hoang Châu, Trung Quốc, xuất gia từ nhỏ, là người giới hạnh tinh nghiêm, sâu sắc về Luật bộ. Khoảng năm 423, sư đến nước ta, ở tại chùa Tiên Sơn, chuyên hành trì kinh Vô lượng thọ và Quán Vô lượng thọ. Năm 455 sư tự thiêu nhưng không thành vì giữa chừng học trò biết được và dập tắt lửa\. Sau đó, nhân cả thôn làng bận rộn vì gần có hội, cả chùa đều đi Phật sự, sư lén vào hang núi tự thiêu lần nữa\. Khi mọi người biết được đến nơi thì sư đã tịch. Tương truyền, hôm đó, dân làng nhìn thấy sư thân có sắc vàng, cỡi một con nai vàng, không nói năng gì mà đi về hướng Tây rất nhanh. Phật tử trong Tăng ngoài tục biết đó là điều thần dị nên thu nhặt tro xương, dựng tháp để tôn thờ.

Nguyên nhân sự tự thiêu của sư Đàm Hoằng là do đâu? Như chúng ta biết, vào thế kỷ thứ V, tại nước ta đang diễn ra một cuộc đấu tranh tư tưởng gay gắt. Nền tư tưởng Phật giáo quyền năng được thiết định mấy thế kỷ trước tỏ ra không còn sức thuyết phục trước bước phát triển của dân tộc, đặc biệt ở giai đoạn đấu tranh vận động cho sự ra đời của nhà nước độc lập Vạn Xuân. Những tranh luận này đã để lại cho chúng ta ngày nay tư liệu 6 lá thư giữa Lý Miễu và hai vị thầy của ông là các ngài Pháp Minh (k.370-460) và Đạo Cao (k.365-445), tranh luận xung quanh vấn đề tại sao nói Phật thần thông biến hóa nhưng người Phật tử không thấy chân hình của Ngài ở đời (nạn Phật bất kiến hình sự). Sự kiện tự thiêu của sư Đàm Hoằng xảy ra vào thời điểm cao trào của cuộc đấu tranh này và chắc chắn đó không phải là một trường hợp ngẫu nhiên. Thêm nữa, sư Đàm Hoằng tự thiêu là một sự kiện lớn thời bấy giờ. Bởi lẽ tiếng tăm của nó đã vang dội vượt ra ngoài nước ta, đến cả Trung Quốc và mấy trăm năm sau, Huệ Hạo đã ghi vào tác phẩm của mình là Cao tăng truyện. Phải chăng sự tự thiêu này, cùng với những tương truyền về việc dân làng thấy điều thần dị là một câu trả lời trong nỗ lực củng cố niềm tin đối với nền tư tưởng Phật giáo quyền năng, mà khuynh hướng Tịnh độ sư Đàm Hoằng chuyên tâm thực hành là một trong những đại biểu.

Như vậy, có thể nói rằng, ở thế kỷ thứ V, tư tưởng Tịnh độ đã phát triển và trở thành một trào lưu tại nước ta\. Đó cũng là giai đoạn quan trọng với sự lưu hành rộng rãi các bộ kinh căn bản của tư tưởng Tịnh độ mà chúng ta đã được biết qua tiểu sử của sư Đàm Hoằng, chùa Tiên Sơn. Tuy nhiên, giai đoạn tiếp theo, tức từ sau sư Đàm Hoằng đến nửa đầu thế kỷ thứ IX, chúng ta hiện không có tư liệu nào để lại đề cập đến Tịnh độ, mà mãi đến năm 826, nó mới được nhắc đến trong bài kệ của sư Vô Ngôn Thông (759?-826) nói cho đệ tử là sư Cảm Thành (?-860). Trong bài kệ có câu : "Tây Thiên là đất này, Đất này là Tây Thiên Ẩ" (Tây Thiên thử độ, Thử độ Tây Thiên Ẩ). Chữ Tây Thiên ở đây có thể hiểu theo hai nghĩa, chỉ cho thế giới Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà, đồng thời cũng có thể hiểu đó là nước Aán Độ, quê hương của Phật giáo.

Từ giữa thế kỷ thứ XI trở đi, khuynh hướng Tịnh độ được phổ biến rộng rãi, với sự hình thành của nhiều ngôi Tam bảo, đạo tràng Ẩ Đặc biệt là vào thờivua Lý Thánh Tông (1023-1072), nhà vua tuy thuộc thế hệ thứ 1 dòng thiền Thảo Đường, nhưng đã cho tạc một pho tượng Phật A Di Đà độc đáo có một không hai trong lịch sử nghệ thuật điêu khắc của dân tộc hiện nay vẫn còn (2) và cho dựng một ngôi tháp để thờ tại chùa Vạn Phúc. Ngoài ra, còn có tượng Phật A Di Đà do sư Trì Bát (1049-1117), người thuộc thế hệ thứ 12 của dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi, chủ trương tạo dựng năm 1099 (3), tượng A Di Đà trong hội đèn Quảng Chiếu trước Đoan Môn, được tạo lập để cầu nguyện cho hoàng hậu Linh Nhân siêu sinh Tịnh độ (4) v.vẨ Cùng với tín ngưỡng A Di Đà, tín ngưỡng Quán Thế Âm, vị Bồ tát thân cận của Phật A Di Đà, ở thời này cũng trở nên phổ biến. Từ giai đoạn này trở về sau, trên phương diện tín ngưỡng, trào lưu Tịnh độ đã thực sự có một vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa tâm linh của nhân dân ta.

Thế kỷ XII, qua một các tiểu truyện về các thiền sư được Thiền uyển tập anh ghi lại, chúng ta biết được có thiền sư mặc dù được coi là thuộc hệ truyền thừa của các thiền phái nhưng vẫn hành trì theo pháp môn này, chẳng hạn Thiền sư Tịnh Lực (1111-1175), thuộc thế hệ thứ 10 dòng thiền Vô Ngôn Thông, 12 thời thực hành sám hối và thâm nhập được pháp môn niệm Phật tam muội (5); Thiền sư Trì Bát "nhân tưởng niệm Phật A Di Đà ở thế giới Phương Tây Cực Lạc, nên đã phổ khuyến đạo tục, dựng một đạo tràng lớn " (6). Đến đời Trần, các nhà tư tưởng lớn như Tuệ Trung Thượng Sĩ, Trần Thái Tông Ẩ cũng bàn đến vấn đề niệm Phật. Tư tưởng Tịnh độ với cơ bản là quan niệm về Đức Phật A Di Đà và 48 lời nguyện của Ngài cũng được đặt ra trong các kỳ thi tuyển nhân tài do triều đình tổ chức mà hiện biết được qua bài thi của tiến sĩ Lê Ích Mộc (1459-?), kỳ thi năm 1502. Dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử do Trần Nhân tông chủ trương cũng có nói về Đức Phật A Di Đà và thế giới Cực Lạc, tuy ở một sắc thái khác, chúng tôi sẽ đề cập trong phần sau.

Sự phát triển này ngày mỗi mạnh mẽ, nhất là từ cuối thế kỷ XVI trở đi\. Nhiều tác phẩm về Tịnh độ được viết, phiên âm và chú giải nhằm cổ súy và truyền bá cho trào lưu này\. Có thể kể một vài tên tuổi như ngài Viên Văn (1590-1644) viết tác phẩm Bồ đề yếu nghĩa, thuyết minh về Tự tính Di Đà; thiền sư Minh Châu Hương Hải (1628-1708) phiên âm A Di Đà kinh sớ sao của ngài Châu Hoằng; thiền sư Chân Nguyên (1647-1726) với nhiều tác phẩm mang đặc điểm tư tưởng Tịnh độ của Trung Hoa như Phật tâm luận, Tịnh độ yếu nghĩa Ẩ, đặc biệt là đã cho thiết kế ba đài Liên hoa cửu phẩm làm pháp khí trong lễ nghi thực hành niệm Phật (7); thiền sư Tánh Thiên với Phổ khuyến niệm Phật, v.vẨ Sự phát triển đó được tiếp nối cho đến ngày nay, chúng ta có thể thấy tín ngưỡng và pháp môn niệm Phật A Di Đà cầu vãng sinh Cực lạc là một trong những khuynh hướng tín ngưỡng lớn, nếu không nói là chủ yếu, của Phật giáo nước ta hiện tại\. Tuy nhiên, quan niệm Tịnh độ của người Phật tử Việt Nam mang những điểm đặc thù, dẫu có sự ảnh hưởng nhưng vẫn khác biệt so với Tịnh độ tông của Trung Hoa hay của Nhật Bản.

2. Đặc điểm của trào lưu Tịnh độ tại Việt Nam

Nói "trào lưu" mà không phải là "tông phái", đây cũng là một trong những đặc điểm về sự phát triển của tư tưởng Tịnh độ tại Việt Nam.

Sự lưu hành của các bộ kinh quan trọng thuộc hệ tư tưởng Tịnh độ là Vô lượng thọ và quán Vô lượng thọ ở nước ta vào khoảng nửa đầu thế kỷ thứ V là một điều đáng chú ý, nó cho phép chúng ta nghĩ rằng Việt Nam thời bấy giờ có thể là một trung tâm Tịnh độ có tiếng tăm ở vùng Viễn Đông mà chùa Tiên Sơn, nơi sư Đàm Hoằng, một vị Tăng Trung Quốc chọn làm chỗ dừng chân tu tập, là một thí dụ. Bởi khi sư Đàm Hoằng đến chùa Tiên Sơn, sau năm 422, cách thời điểm thành lập Bạch Liên xã của ngài Huệ Viễn (334-416), người sáng lập Tịnh độ tông ở Trung Hoa, chỉ khoảng 20 năm (năm 402).

Tuy du nhập Việt Nam từ những thế kỷ đầu của kỷ nguyên Tây lịch, được phổ biến và trở thành một trong những trào lưu chủ yếu của đời sống tín ngưỡng của Phật giáo nước ta, và dẫu có lúc phát triển mạnh mẽ, nhưng tư tưởng Tịnh độ không như ở Trung Hoa và Nhật Bản, hình thành một tông phái với chủ trương, lịch sử truyền thừa chặt chẽ và độc lập, tách biệt với các tông phái khác như Thiền, Mật hay Luật tông. Ở nước ta, nó không đứng biệt lập và không hề thấy xảy ra những tranh luận với các hệ tư tưởng khác cũng như đấu tranh trong tự thân nó để phát triển. Vậy, đặc điểm chung của tư tưởng Tịnh độ tại nước ta là thế nào?

Để có một nhận định chính xác về điều này, chúng ta cần khảo sát và so sánh với Tịnh độ tông ở Trung Hoa và Nhật Bản. Tuy nhiên, ở khuôn khổ một bài báo, chúng tôi không tiện làm việc đó và cũng không thể khảo sát sự phát triển, các mặt tư tưởng của trào lưu này ở các giai đoạn lịch sử, mà chỉ đưa ra vài nhận xét bước đầu qua một số quan niệm đặc thù mang tính chủ yếu mà thôi.

Như đã nói, từ thời vua Lý Thánh Tông, trào lưu Tịnh độ đã phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, các quan niệm bàn luận về A Di Đà và Tịnh độ thì mãi đến thế kỷ XIII mới được vua Trần Thái Tông (1218-1277) đề cập một cách chính thức. Trong sách Khoá hư lục, Trần Thái Tông đã có hẳn một đề mục là "Niệm Phật luận", bàn về những lợi ích của phương pháp niệm Phật. Nhà vua quan niệm con người có ba loại : thượng, trung và hạ trí. Bậc thượng trí thì tâm tức Phật, do đó pháp môn niệm Phật chỉ dành cho hai đối tượng là trung và hạ trí. Bên cạnh đó, cũng trong tác phẩm này, về phương diện thực hành, Trần Thái Tông cũng đã soạn "Lục thời sám hối khoa nghi" mà kính lễ Phật a Di Đà và các vị Bồ tát thân cận để sám hối nghiệp chướng là chủ yếu\. tự tính Di Đà và Tịnh độ được Trần Thái Tông quan niệm chỉ có ở ngay hiện tiền, trong tâm của con người này mà không phải thuộc một quốc độ khác tồn tại ngoài thế gian. Quan điểm đó cũng thống nhất trong các tác phẩm của Tuệ Trung Thượng Sĩ (1230-1291) và Trần Nhân Tông (1258-1308) (8). Như vậy, trên mặt lý luận, quan niệm Tịnh độ ở đây được nhìn và giải thích theo đôi mắt thiền. Đấy là một trong những đặc điểm của trào lưu Tịnh độ ở giai đoạn thời Trần nói riêng và cũng là một trong những đặc điểm căn bản trên phương diện lý luận của tư tưởng Tịnh độ tại Việt Nam nói chung.

Sau đó, từ thế kỷ XVII trở đi, tư tưởng Tịnh độ tông Trung Hoa cũng đã được giới thiệu và truyền bá ở nước ta, bắt đầu là sư Viên Văn Chuyết Chuyết (1590-1644) với tác phẩm Bồ đề yếu nghĩa, Minh Châu Hương Hải với A Di Đà kinh sớ sao, tư tưởng của ngài Châu Hoằng qua sự giới thiệu của sư Chân Nguyên Ẩ Những mô tả về sự toàn thiện của thế giới Cực lạc, chủ trương niệm Phật để nhẹ nghiệp chướng được phước đức trong đời này, vãng sinh về thế giới Cực lạc sau khi chết cũng được truyền bá rộng rãi, phù hợp với nhu cầu tâm linh, tín ngưỡng của đông đảo quần chúng Phật tử, nhất là cuối thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX,

khi đất nước ta đang rơi vào một hoàn cảnh bị xâm lược, đời sống nhân dân cơ cực lầm than dưới sự đô hộ khắc nghiệt của thực dân Pháp (9). Cũng trong giai đoạn này, nhiều nhóm chuyên thực hành niệm Phật (Liên Trì xã, Niệm Phật liên xã ) được thành lập khắp nơi trong nước. Dấu ấn của cao trào này được thấy qua Phổ khuyến niệm Phật của Thiền sư Tánh Thiên (1784-1847), các tác phẩm của thiền sư Toàn Nhật (1755-1832), Phật Thầy Tây An Ố Đoàn Minh Huyên (1807-1856), các sư Tâm Truyền (1832-1911), Phước Huệ (1875-1863) v..v...

Tóm lại, trào lưu Tịnh độ ở nước ta dẫu có một lịch sử lâu dài nhưng không tự thân phát triển thành một tông phái, không có vị trí độc lập, tách biệt với các pháp môn khác; đồng thời cũng không phong phú trong lý luận và phương pháp thực hành như Tịnh độ tông Trung Hoa hay Nhật Bản. Ở phương diện lý luận, Đức Phật A Di Đà chủ yếu được quan niệm như một mẫu hình con người lý tưởng tuyệt đối và phương pháp thực hành nổi bật gần như duy nhất là phương pháp niệm Phật. Sự không tách biệt độc lập này, có lẽ thuộc về đặc tính của dân tộc ta, cũng như đã thấy trong truyền thống Phật giáo Việt Nam, qua sự ra đời, sinh hoạt và truyền thừa của các dòng thiền. Dẫu là thiền sư, nhưng trong thực hành tâm linh thì vẫn trì tụng thần chú và niệm danh hiệu Phật. Trường hợp các thiền sư Lý Thánh Tông, Tịnh Lực, Trì Bát, Trần Nhân Tông v..v... đã nói sơ lược trên có thể xem là những tiêu biểu.

Tư tưởng Tịnh độ cũng đã có những ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tâm linh, văn hoá, tín ngưỡng của Phật giáo Việt Nam nói riêng và của dân tộc ta nói chung, đặc biệt là trong lĩnh vực nghệ thuật (văn học, kiến trúc, điêu khắc.). Chúng tôi hy vọng sẽ giới thiệu đến độc giả những ảnh hưởng này một cách tập trung hơn vào dịp khác, nhằm góp phần vào việc tìm hiểu những điểm đặc thù của tư tưởng và phương pháp thực hành tâm linh trong truyền thống Phật giáo Việt Nam.

1. Vô lượng thọ kinh chủ yếu trình bày những tiền thân của Đức Phật A Di Đà và 48 lời nguyện lớn của Ngài khi chưa thành Phật, khi còn là một tỳ kheo có tên là Pháp Tạng (Dharmakara). Quán vô lượng thọ chủ yếu nói về 16 phép quán liên hệ đến thế giới của Đức Phật A Di Đà và các vị Bồ tát Quán Thế Âm, Đại Thế Chí.
2. Tượng được tạc vào năm 1066, hiện được thờ tại chuà Phật Tích (Vạn Phúc tự), thuộc tỉnh Bắc Ninh.

3. Chuà Một Mái, tức chùa Hoàng Kim, nay thuộc xã Hoàng Ngô, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây.

4. Theo văn bia tháp Sùng Thiện Diên Linh ở chùa Đọi.

5. Xem tiểu truyện Thiền sư Tịnh lực, trong Lê Mạnh Thát, Nghiên cứu về Thiền Uyển Tập Anh, Nxb. TPHCM, 1999, trang 223.

6. Theo những dòng chữ khắc trên bệ tượng hình sư tử đội tòa sen ở chùa Một Mái, xã Hoàng Ngô, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây

7. Một trong các đài Liên hoa cửu phẩm đó hiện còn tại chùa Bút Tháp (Ninh Phúc tự), tỉnh Bắc Ninh.

8. Trong bài phú nổi tiếng nói lên chủ trương của dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử : "Cư trần lạc đạo phú", ngài Trần Nhân Tông đã viết : "Tịnh độ là lòng trong sạch, chớ còn hỏi đến Tây phương, Di Đà là tính sáng soi, mựa phải nhọc tìm về Cực Lạc.".

9. Chẳng hạn, trong Phổ khuyến niệm Phật, thiền sư Tánh Thiên đã viết :

"Niệm Phật tội nghiệp tiêu khô
Như sương tan nắng như hồ nước trong
Niệm Phật để đặng tấm lòng
Kẻo mà trắc ẩn mắc vòng gian nan
Niệm Phật Cực lạc hân hoan
Ta bà khổ não giàu sang mấy hồi

 

________________________


• Thích Tâm Hải

Nguồn: thuvienhoasen.org

TÂM PHẬT HAY TÂM MA

Có một chàng nghệ nhân rất nỗi tiếng vì tài năng của mình, nhưng anh ta lúc nào cũng tỏ vẻ khó chịu vì muốn tạc một tượng Phật và ma quỷ. Thực tế thì anh chưa tìm ra hình mẫu lý tưởng nào cho phù hợp với ước muốn của mình, trong lúc đang suy tư tìm tòi thì có một người bạn rủ đi chùa lễ Phật. Anh ta hỏi, Phật ở đâu. Người bạn nói đi thì biết. Một cơ hội ngẫu nhiên anh ta cùng bạn đến chùa lễ Phật, được vị sư trụ trì tiếp đãi, với phong cách trang nghiêm, điềm đạm và có vẻ tự tại trong cuộc sống nên đã hấp dẫn anh nghệ nhân.

Lần đầu tiên được gặp vị sư, anh ta hoan hỷ phát tâm cúng dường một số tiền lớn với điều kiện, ngài phải làm người mẫu để anh ta tạc tượng. Bức tượng đã làm xong trong thời gian ngắn, ai nhìn qua cũng trầm trồ khen ngợi vì phong thái trang nghiêm trong sáng lạ thường. Ai được thấy cũng đều quỳ xuống đảnh lễ với tâm cung kính hết sức chân thành. Từ đó về sau không ai còn gọi anh ta là nghệ nhân nữa, mà gọi anh ta là bậc Thánh tượng.

Tiếp theo đó anh ta chuẩn bị công trình tạc tượng ma quỷ, nhưng hình dáng của ma quỷ ở đâu để anh tạc đây, đó là vấn đề nan giải. Phải mất một thời gian dài để tìm người nào hung dữ nhất, nhưng không có người nào có hình dáng làm anh vừa ý. Cuối cùng anh cũng tìm được người như ý muốn đang ở trong tù, với tội giết người đang chờ bản án tử hình. Anh rất phấn khởi vì tìm được một người giống ma quỷ đâu phải dễ, nên khi đối diện với tử tù để chuẩn bị tạc tượng, tên tử tù khóc rống lên như đưa ma mẹ. Anh nghệ nhân ngạc nhiên hỏi, bộ ông sợ chết hả. Ngươi có nhớ ta không, lần trước tạc tượng Phật lấy ta làm mẫu, giờ tạc tượng ma cũng lấy ta làm mẫu, sao lại oan gia trái chủ như thế này.

Ngươi tự nhiên, biến ta từ Phật thành ma quỷ liền. Anh nghệ nhân nói, sao có chuyện lạ kỳ như vậy, chỉ trong một thời gian ngắn. Tôi khi trước tạc tượng Phật lấy hình dáng ngài làm chuẩn, với phong thái siêu phàm thoát tục, còn ông bây giờ hãy xem lại hình dáng của mình đi, thật đáng giống ma quỷ quá trời. Ông không biết đó sao, vì trước kia ông cúng cho ta một số tiền quá lớn, nên ta không kiềm chế được bản thân, do đó vui chơi trác táng rơi vào nghiện ngập ma túy, cuối cùng tiền hết tật mang. Ta vì không chịu nỗi cơn nghiện hoành hành, nên túng thế đi cướp giựt của người khác và phạm tội cướp của giết người, giờ phải chịu bản án tử hình chờ ngày xử trảm. Giờ đây ta vì buồn rầu, lo sợ, tiếc nuối thân mạng nên không ăn, không ngủ được mà ra nông nỗi này. Anh nghệ nhân nghe lời trình bày thống thiết đó cảm thấy xúc động nghẹn ngào, không ngờ bản tính con người thay đổi quá nhanh, vì chút đam mê dục vọng thấp hèn mà thân tàn ma dại như thế này.

Anh ta mắt thấy tai nghe sự thật quá phủ phàng, nên không còn tâm huyết làm việc nữa quyết định từ bỏ nghề nghiệp này, do đó bức tượng ma quỷ dang dỡ không thành. Vì vậy cho đến ngày hôm nay, không ai biết chính xác về tướng trạng của ma quỷ như thế nào. Chỉ biết rằng nếu tâm tư suy nghĩ xấu ác và hành động vô lương tâm luôn làm hại người, hại vật, làm khổ đau cho thiên hạ thì ma quỷ hiện tiền. Ngược lại nếu tâm trong sáng thanh tịnh không chút bợn nhơ hay làm việc thánh thiện giúp người, cứu vật, thì Phật hiện tiền, Phật hay ma cũng từ tâm niệm tốt xấu của chính mình tạo ra.

Vị sư ở câu chuyện trên trước kia nhờ nương thầy lành bạn tốt, nên có nhân duyên xuất gia tu hành thanh tịnh do đó phát ra tướng tốt giống Phật, nhưng vì ỷ lại mình đã thành tựu đạo pháp nên mặc tình ăn chơi dong ruỗi, lấy phòng trà tửu điếm làm bạn, để rồi bị dòng đời cuốn trôi và cuối cùng phải chịu thân tàn ma dại chờ ngày xử án. Tâm Phật hay ma chỉ trong một niệm, nếu ta huân tập tâm ma thì hiện hình ma, nếu ta biết gieo trồng hạt giống Phật, thì Phật có mặt khắp nơi. Tâm Phật hay ma là do chính mình tạo lấy, không có một đấng quyền năng hay một phép lạ nào làm cho ta thành Phật hay thành ma. Trong thiền sử Trung Hoa có câu chuyện hết sức thú vị cũng nói về ma với Phật. Cư sĩ Tô Đông Pha một hôm đến chùa Kim Sơn để đàm đạo với thiền sư Phật Ấn.

Cư sĩ hỏi này thiền sư, ngài thấy tôi giống cái gì?

Ô, ông rất trang nghiêm, trông giống Phật hết sức.

Tô Đông Pha nghe xong cảm thấy hưng phấn và tâm đắc vô cùng.

Thiền sư Phật Ấn mới hỏi lại cư sĩ, ông thấy tôi giống cái gì?

Trông thiền sư giống một đống phân bò.

Thiền sư nghe xong, mà chỉ mỉm cười.

Cô em gái cắc cớ hỏi, hôm nay anh đánh cờ thắng thiền sư hả ?

Đâu phải, chuyện này mới quan trọng chớ. Anh đối đáp lý thiền. Cái lão già ấy không còn lý lẽ để nói, đành câm miệng lại.

Nghe kể xong, biết anh mình bị thất bại mà không biết. Anh thua rồi anh ơi.

Thua chỗ nào, em nói nghe coi.

Tâm của thiền sư như tâm Phật, cho nên nhìn anh chẳng khác gì Phật. Còn tâm anh như đống phân bò, cho nên nhìn thiền sư giống như phân bò.

Tô Đông Pha nghe nói vậy lấy làm hổ thẹn, vì biết mình hiểu thiền chỉ trên đầu môi chót lưỡi. Thiền sư, mới đúng thật là thiền sư.

Thiền không phải là hiểu biết suông, mà cần phải vận dụng vào trong thực tế đời sống hằng ngày. Không phải biện luận giỏi là trí tuệ sáng suốt Tô Đông Pha cứ nghĩ rằng đối đáp trôi chảy là chứng ngộ lý thiền, nhưng tâm ông ta còn ma mị nhiều quá thấy cái gì cũng đen tối hết, do đó cống cao ngã mạn sinh tâm coi thường Thiền sư. Nào ngờ mình chỉ hiểu thiền trong kiến thức tối đen, vậy mà dám ngông nghênh coi thường thiên hạ. Quả thật Tô Đông Pha có mắt như mù, may nhờ có cô em gái lanh lợi nên chặt cho anh ta một phát, bao nhiêu hiểu biết suông đều rơi rụng hết.

Trong cuộc hành trình trở về đất Phật, không phải ai cũng dễ dàng lãnh hội và sống được với chính mình. Tâm ta ma thì thấy ai cũng ma, tâm ta Phật thì thấy bầu trời quang đảng và trong sáng không ngần mé. Khi mới sinh ra con người bản tính vốn thiện, khi bắt đầu lớn lên tiếp xúc với cuộc đời thì nó sẽ phát triển theo hai hướng tốt hoặc xấu. Được thân cận gần gũi bậc thiện tri thức, thì con người có thể có một nhân cách sống đạo đức chừng mực và đi theo chiều hướng tốt đẹp. Ma hay Phật ngay nơi một tâm niệm, tâm thanh tịnh sáng suốt thì thấy biết rõ ràng không sai lệch và ngược lại thì thấy biết chạy theo điên đảo vọng tưởng vậy.

Muốn vượt qua phải trái cuộc đời, người con Phật cần nắm vững các nguyên tắc sau đây để làm kim chỉ nam trong cuộc sống.

Tình thương yêu là nguồn an ủi vô biên, giúp chúng sinh vượt qua biển khổ sông mê, song tình thương thế gian hoàn toàn còn giới hạn trong phạm vi gia đình nhỏ hẹp hoặc lớn hơn là đối với một đất nước. Chúng ta có một người bạn tốt để giúp con người vượt qua phải trái cuộc đời đó là từ, bi, hỷ, xả. Người bạn này luôn sát cánh và kề cận bên ta, chỉ vì chúng ta chẳng chịu thừa nhận nên lãng quên, đó thôi.

Từ có nghĩa là ban vui, Bi là cứu khổ. Từ bi là đem niềm vui đến và chia sẻ nỗi đau của nhân loại, bình đẳng không phân biệt kẻ oán người thù. Lòng từ này bao la không ngần mé, nên nó không giới hạn ở con người hay muôn vật.

Trong bài thơ của vua Trần Nhân Tông, có nói lên việc phải trái cuộc đời, giống như gió thoảng mây bay. Sau khi từ bỏ ngai vàng giao lại cho con, Ngài lên núi tu tập cảm nhận được niềm vui thật sự, do biết buông xả việc đời, nên tâm ngài thanh tịnh trong sáng mà cảm tác bài kệ:

Phải trái rụng theo hoa buổi sớm.

Danh lợi lạnh với trận mưa đêm.

Hoa tàn mưa tạnh non im vắng.

Xuân cỗi còn nguyên một tiếng chim.

( Hòa Thượng Thanh Từ dịch )

Việc đời lúc nào cũng như thế, không bao giờ có được những giây phút bình yên, hết chuyện này đến chuyện kia, việc phải, việc trái, việc đúng, việc sai, việc tốt, việc xấu, việc hơn, việc thua, suốt ngày cứ như thế và lúc nào cũng có mặt trong cuộc sống. Vua Trần Nhân Tông khi còn ở ngai vàng, mỗi ngày phải tiếp xúc và giải quyết biết bao chuyện thị phi phải quấy của thế nhân, thân thì sống hưởng đầy đủ lạc thú trên trần gian muốn gì được nấy, nhưng tâm thì phải bận rộn lo toan đủ thứ mọi chuyện rắc rối trong cuộc đời.

Giờ đi tu rồi cảm thấy hạnh phúc, an lạc, thảnh thơi, không còn bị dòng đời lôi cuốn và chi phối nữa, nên tâm tư ngài trong sáng thanh tịnh nhận biết rõ ràng bản chất thực hư của cuộc đời. Nếu chúng ta không thấy rõ được bản chất thực hư của nó, suốt ngày cứ dính mắc vào đó, để rồi gây thêm phiền muộn khổ đau cho nhau. Ngài thấy rõ ràng những niệm phải quấy, hơn thua, giống như những cánh hoa rơi rụng buổi sáng vậy. Bởi bản chất của hoa là sớm nở tối tàn nó không thực có, thấy phải thấy quấy là theo cách nhìn của người đời, vậy thì chúng ta chấp mắc vào đó làm chi cho thêm phiền muộn khổ đau. Còn tâm danh lợi cũng lạnh theo đám mưa đêm.

Ở đời ai cũng cầu mong làm sao có danh vọng địa vị lớn trong xã hội, đã có danh vọng thì quyền lực nắm trong tay và quyền lợi cũng được đi kèm theo, do đó khó có ai đủ can đảm để buông bỏ. Nhưng ông vua thiền sư Việt Nam Phật hoàng Trần Nhân Tông xem ngai vàng như dép rách, dám từ bỏ hết tất cả để lên núi tu hành. Còn chúng ta bây giờ có gì đâu, vậy mà cứ ôm hoài rồi than phân trách phận, đổ thừa tại bị thì là…. thật là đáng tội nghiệp quá chừng.

Thiền sư khi tu hành viên mãn rồi, thấy việc đời giống như những chiếc lá rơi, không có gì phải bận tâm lo lắng nên tham sân si, mạn, nghi, ác kiến không còn khả năng chi phối được nữa. Nhưng không phải đến đây là hết, không phải là gỗ đá, không phải là vật vô tri, không phải là không biết gì mà:

“ Hoa tàn mưa tạnh non im vắng,

Xuân cỗi còn nguyên một tiếng chim”.

Vẫn còn lại cái biết sáng suốt hằng giác, hằng tri, chứ đâu phải không còn gì hết. Cái biết này ngay nơi mắt vẫn nhìn thấy rõ ràng, xanh biết xanh, đỏ biết đỏ, vàng biết vàng, nhưng không bị nó làm biến dạng, làm méo mó, nó như thế nào thấy như thế đó, nên không dính mắc và bám víu vào một thứ nào hết, do đó cuộc sống khỏe ru, à. Có gì phải bận rộn lo lắng để dẫn đến khổ đau. Tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng lại như thế. Thiền sư nhìn đời như vậy đó, an lạc thảnh thơi làm sao đâu chỗ này tiền bạc, danh vọng, quyền lực có mua được không? Khi làm vua ngài có thiếu cái gì đâu, nếu không có an lạc và hạnh phúc thật sự, thì làm sao ngài nói lên được như thế và dám từ bỏ hết tất cả quyền lực thế gian!

Ngài tu một thời gian cảm nhận được đạo lý chân thật rồi xuống núi, khuyên mọi người hãy phá bỏ những tập tục mê tín dị đoan làm con người mất tự chủ, tự do trong cuộc sống. Ngài khuyên mọi người nên lánh ác làm lành, tin sâu nhân quả, làm lành được hưởng phước, làm ác chịu khổ đau, không ai có quyền ban phước giáng họa, chính mình là đấng tối cao của bao điều họa phúc. Cho nên chúng ta phải có trách nhiệm và bổn phận, yêu thương đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau trên tinh thần vô ngã vị tha.

Muốn vậy, người con Phật phải phát nguyện gìn giữ năm điều đạo đức. Không giết hại, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối hại người, không uống rượu say sưa và nghiện xì ke, ma túy và đưa các độc tố có hại vào cơ thể. Không giết người và hạn chế tối đa việc giết hại súc vật. Nhất là những tập tục giết hại súc vật để cúng tế quỷ thần, cúng tế thần linh. Người ưa giết hại có lòng từ bi hay không? Chắc chắn là không rồi, đã không có lòng từ bi thì làm sao giúp người cứu vật được. Phật đã mở cho chúng ta con đường sáng để vượt qua si mê tối tăm, đã thương thì không giết, đã giết thì không thương, người con Phật cần phải hiểu thấu đáo chỗ này để không bị lầm lẫn. Không được gian tham trộm cướp vậy trộm cướp có từ bi hay không? Dĩ nhiên là không rồi. Tài sản của cải làm ra được bằng công sức khó khổ của mình, thức khuya dậy sớm chắt chiu dành dụm từng ly, từng tí, làm mà chẳng dám ăn xài hoang phí. Đùng một cái, mọi thứ đều đội nón ra đi hỏi sao không buồn đau cho được!

Lòng từ bi là một chất liệu sống không thể thiếu trên cõi đời này, người sống với tâm từ nhờ đó thanh lọc và chuyển hóa những mưu sâu kế độc toan tính hại người, hại vật. Một người tu tâm từ, người người tu tâm từ thì thế gian này tràn ngập tình yêu thương. Nhân loại sẽ tránh được khổ đau do tâm từ được trải rộng ra, nên thế giới bớt xung đột, tranh chấp, hận thù và chiến tranh sẽ không bao giờ có mặt. Uống rượu say sưa, nghiện ngập ma túy và dùng các chất kích thích có hại cho sức khỏe, làm hủy diệt sự sáng suốt của con người, là căn bệnh trầm kha của thế kỷ thứ 21 này. Như thế, nhiều người dùng những thứ đó có từ bi không, hay đang lần hồi hủy diệt sự sống của con người đến bờ vực thẳm.

Đó là một trong những vấn nạn lớn nhất làm đau đầu thế giới con người. Lịch sử thời hoàng kim của đời Trần Việt Nam là một minh chứng hùng hồn, đã biết áp dụng tâm linh vào cuộc sống nên con người sống với nhau hiểu biết và thương yêu hơn. Không có những tệ nạn xã hội trầm trọng như ngày hôm nay, lòng từ bi luôn đi kèm với trí tuệ, mới có thể cứu giúp được nhân loại thoát ra chỗ si mê tối tăm bao đời kiếp. Niềm vui đích thực là biết cho ra, mà không đòi hỏi để được nhận lại, hoàn toàn không có tính vị kỷ bám víu của sự chấp ngã, mới thật sự bền vững và lâu dài.

Vậy chúng ta ứng dụng tu từ bi tâm bằng cách nào? Thứ nhất là quán tình thương thấy ai cũng là người thân, người thương của mình. Đã thương thì không oán trách, giận hờn, ghét bỏ, nhờ vậy chúng ta dễ dàng bao dung và tha thứ. Cứ mỗi ngày, sáng sớm thức dậy chúng ta nguyện cầu cho tất cả chúng sinh luôn được sống yêu thương và hiểu biết, dấn thân và phục vụ, với tinh thần vô ngã vị tha. Mỗi ngày sáng, trưa, chiều, tối, đều nên quán chiếu và cầu nguyện như vậy thì tâm từ bi của chúng ta ngày càng thêm rộng lớn.

Cách quán thứ hai thấy ai cũng là cha mẹ của mình, thường thì ai cũng kính trọng và yêu thương cha mẹ hết. Nên, quán tất cả chúng sinh là cha mẹ của mình, vì ân cha mẹ khó đáp đền công sinh thành dưỡng nuôi khó nhọc cho nên ai cũng thương yêu hiếu kính với cha mẹ, do đó không gây buồn phiền giận dỗi nên không làm đau khổ cho nhau. Nếu cuộc sống này tất cả mọi người đều như vậy hết, thì còn gì sung sướng và hạnh phúc cho bằng.

Tu tập lòng từ bi rất khó vì nó đi ngược lại lòng tham lam, sân giận, si mê của mọi người, muốn vậy trước tiên ta phải tập cảm thông nỗi khổ niềm đau của tất cả chúng sinh. Đầu tiên chúng ta tập cảm thông với người thân trước, kế đến những người cùng chung làm việc, rồi đến những người xa lạ không quen biết, cuối cùng là kẻ oán thù chuyên làm hại mình và tất cả muôn loài. Tập dần như vậy cho đến khi nào viên mãn mới thôi. Muốn được như thế chúng phải cố gắng buông xả tâm hại người hại vật, mở rộng tấm lòng bố thí cung kính cúng dường, giúp đỡ chia sẻ khi gặp người khó khăn hoạn nạn.

Đạo Phật là đạo của từ bi luôn mang yêu thương đến với muôn loài và sẵn sàng chia sẻ những nỗi khổ niềm đau, hầu giúp cho tất cả chúng sinh vượt qua biển khổ sông mê. Kính chúc mọi người luôn đem nước mát từ bi trải rộng khắp thế gian này, để tất cả chúng ta được sống yêu thương và hiểu biết.
_______________

Thích Đạt Ma Phổ Giác

Nguồn: thuvienhoasen.org

BA MỐI QUAN TÂM HÀNG ĐẦU TRONG SỰ NGHIỆP CỦA VUA TRẦN NHÂN TÔNG

Sự kiện hoàng tử Trần Khâm chào đời có ý nghĩa quan trọng (đại hỷ) đối với vận khí của quốc gia . Đại Việt sử ký toàn thư chép: cả hai cung (Thượng hoàng Trần Thái Tông và vua Trần Thánh Tông) “ đều cho là lạ, gọi là Kim Tiên đồng tử” vì đã “được tinh anh của thánh nhân, thuần túy đạo mạo, sắc thái như vàng, thể chất hoàn hảo, thần khí tươi sáng…”. Còn Tam Tổ thực lục thì ghi: “Đến khi vua sinh ra, màu da như vàng rồng, Thánh Tông đặt tên là Kim Phật . Vai phải vua có nốt ruồi đen như hạt đậu lớn, người biết xem tướng nói: ‘Đứa bé này ngày sau có thể gánh vác việc lớn’”.


Sống trong cảnh đất nước thái bình, lại nhận được sự giáo dưỡng của hai cung, năm 1278, Trần Khâm lên ngôi hoàng đế ở tuổi 20. Nhưng mối nguy của đất nước cũng đã được báo trước khi quân Nguyên không ngừng tràn sang đánh phá nước Tống, đồng thời khi biết tin Thượng hoàng Trần Thái Tông vừa băng (năm 1277), chúng đã sớm nảy sinh ý đồ thôn tính nước ta. Năm 1279, nhà Tống mất, không thể không gây nên những lo lắng và phòng bị đối với người đang nắm giữ ngôi vị quốc chủ Đại Việt – Trần Nhân Tông.

 

NỘI LOẠN VÀ NGOẠI XÂM


Năm 1282, Toa Đô đem 50 vạn quân, nói phao rằng mượn đường đi đánh Chiêm Thành, nhưng thực ra là sang xâm lược nước ta. Tình thế vô cùng cấp bách, “vua ngự ra Bình Than đóng ở vũng Trần Xá họp vương hầu và trăm quan, bàn kế sách công thủ và chia nhau đóng giữ những nơi hiểm yếu”.


Năm 1283, nhà Nguyên lại hội 50 vạn quân ở các xứ, chuẩn bị tiến hành xâm lược nước ta. Vua bèn “Tiến phong Hưng Đạo vương Quốc Tuấn làm Quốc công Tiết chế, thống lĩnh quân đội toàn quốc, sai chọn các quân hiệu có tài chỉ huy, chia đi nắm giữ các đơn vị”, mà không một chút nghi ngại về hiềm khích cũ giữa Yên Sinh vương Trần Liễu và vua Trần Thái Tông ngày trước.


Năm 1284, nhà Nguyên tiếp tục sai Thoát Hoan đem quân tràn sang, lấy cớ mượn đường đi đánh Chiêm Thành, chia đường vào cướp nước ta. “Thượng hoàn triệu phụ lão trong nước họp ở thềm điện Diên Hồng, ban yến và hỏi kế đánh giặc. Các phụ lão điều nói ‘đánh’, muôn người hô một tiếng, như bật ra từ một cửa miệng”.


Đứng trước mối nguy quân Nguyên xâm lược, vua Trần Nhân Tông và thượng hoàng Trần Thánh Tông đã mở hai hội nghị quan trọng (Bình Than và Diên Hồng) để bàn cách ngăn chống giặc. Chính tinh thần quân dân một lòng ấy, mà Trần Nhân Tông quy tụ được sức mạnh của cả dòng họ và sức mạnh của toàn dân tộc cho công cuộc kháng Nguyên.


Trong chiến tranh nguy nan, mới thấy hết sức mạnh quân dân như nước vỡ bờ. Gia nô Yết Kiêu, Dã Tượng giỏi về thủy chiến, mà lòng trung với chủ không mấy người sánh được. Bảo Nghĩa vương Trần Bình Trọng khi bị bắt, bị chiêu dụ thì liền hét to: “Ta thà làm ma nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc”. Trong lúc vua thị sát tình hình giặc “chiều rồi mà vẫn chưa ăn cơm sáng”, Trần Lai đã dâng cơm gạo xấu. Không những thế còn có cả người Man là Lương Uất và Hà Tất Năng chỉ huy người Man đánh giặc. Vua định công “ các công thần đánh Nguyên lần trước và lần sau, trong đó có người nào xông lên trước phá trận giặc, lập kỳ công thì chép vào tập Trung hưng thực lục, lại sai vẽ hình”.


Tuy thế, vẫn có những kẻ phản nước hại dân như Chương Hiến hầu Trần Kiện và bọn Lê Trắc, Văn Chiêu hầu Trần Lộng, Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc và bọn Phạm Cự Địa. Để tỏ ra ân uy của triều đình và mau chống ổn định nhân tâm, Thượng hoàng Trần Thánh Tông lệnh trị nghiêm những kẻ trước đây đã đầu hàng giặc, nhưng đồng thời cũng sai đốt tất cả biểu xin đầu hàng giặc của không ít vương hầu, quan lại mới được thu giữ, nhằm yên lòng những kẻ phản trắc.


Sau khi cuộc chiến thắng 1285,1288, vua Trần Nhân Tông đã cảm khái bằng hai câu thơ:


Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã,

Sơn hà thiên cổ điện kim âu.


( Xã tắc hai phen chồn ngựa đá,\

Non sông muôn thuở vững âu vàng).


5 năm sau đại thắng quân Nguyên, vua nhường ngôi cho Hoàng thái tử Trần Thuyên, lui về làm Thượng hoàng. Tuy nhiên, với chế độ “cùng trong coi chính sự” ngoài chính sách đối ngoại hòa hoãn với nhà Nguyên, Thượng hoàng vẫn canh cánh trong lòng mối lo phên giậu đến từ Chiêm Thành, Ai Lao, nên tháng 8 năm Giáp Ngọ - 1294, “ Thượng hoàng đích thân đi đánh Ai Lao…”. Việc cất quân đi đánh Ai Lao của vua Trần Nhân Tông nhầm mục đích thị uy là Chính: “Chỉ có thể lúc này ra quân thôi. Vì sau khi giặc rút, ba cõi tất cho là lính tráng, ngựa chiến của ta đã chết cả, thế không thể lên nổi, sẽ có sự khinh nhờn từ bên trong, cho nên phải cất quân lớn để thị uy”. Vì vậy, trong bài thơ “Trên đường Tây chinh”, Ngài viết: “Hán Vũ Đế lại chuốc lấy lời chê ‘cùng binh độc vũ’ / Thế thì nam nhi lật đật về việc chinh chiến làm gì?”.


Việc sông pha nơi đầu sóng ngọn gió không chỉ để truyền cho con ý chí và tinh thần và phòng bị với mối nguy ở những vùng phên giậu, mà Thượng hoàng Trần Nhân Tông còn trực tiếp răn dạy vua con về đạo lý cai trị khi một lần bất ngờ từ phủ Thiên Trường trở về triều và thấy Trần Anh Tông đang uống rượu xương bồ say khướt. khi ấy, Thượng hoàng bèn cảnh báo vua con: “Trẫm còn có con khác cũng có thể nối ngôi được. Trẫm đang sống mà ngươi còn như thế, huống chi sau này”.


Cũng trong năm 1301, Thượng hoàng đã tiếp sứ Nguyên là Kiều Nguyên Lãng, và khi tiễn sứ Nguyên về nước Thượng hoàng không quên nhắn nhủ: “Xin hãy ôn lại lời nói chuông vạc trong tờ chiếu năm Trung Thống (1261). Để tránh cho nhau khỏi mối phiền lo nước luôn luôn nung đốt trong lòng”.


Từ khi lên ngôi hoàng đế, cho đến khi lui về làm Thượng hoàng và ngay cả khi đã xuất gia tu hành,mối phiền “lo nước” vẫn luôn luôn “nung đốt trong lòng” Ngài, nhưng lẽ thịnh suy của dân tộc luôn được ngài hiểu bằng cảm quan vô thường của Phật giáo. Điều này cho thấy, người ta chỉ có thể tu hành giải thoát ngay tại nhân thế này, thời đại này, khi quốc gia thanh bình, chúng sinh an lạc.


NỘI KINH NGOẠI ĐIỂN


Ngay trong Hội thứ nhất của Cư trần lạc đạo phú, Trần Nhân Tông đã xác nhận : “Mình ngồi thành thị, nết dụng sơn lâm”, “Tham ái nguồn dừng, chẳng còn nhớ châu yêu ngọc quý”. Những lời này có thể được viết ra trong thời gian Ngài vừa mới lui về làm Thượng hoàng và xuất gia tu hành tại cung Vũ Lâm, cũng như tại phủ Thiên Trường.


Đại việt sử ký toàn thư chép: “Bấy giờ Thượng hoàng đến Vũ Lâm vào chơi hang đá, cửa núi đá hẹp, Thượng hoàng ngự chiếc thuyền nhỏ, Tuyên Từ thái hậu ngồi đằng đuôi thuyền, gọi Văn Túc Vương lên mũi thuyền, chỉ để một người chèo thuyền thôi. Đến khi Thượng hoàng xuất gia, sắp ra đi, mời Đạo Tái vào điện Dưỡng Đức cung Thánh Từ cho ngồi ăn các món hải vị, làm thơ rằng:


Hồng thấp bác quy cước,

Hoàng hương chính mã an.

Sơn tăng trì tịnh giới,

Đồng tọa bất đồng xan.


(Quy cước bóc đỏ ướt,

Mã yên nướng vàng thơm.

Sơn tăng giữ trai giới,

Cùng ngồi chẳng cùng ăn)”.


Đoạn này được Đại Việt sử ký toàn thư chép trước cả sự kiện tháng 8 năm 1294, “Thượng hoàng đích thân đi đánh Ai Lao”. Kế đó, Đại Việt sử ký toàn thư lại chép: Ất Mùi – 1295, “mùa hạ, tháng 6, Thượng hoàng trở về kinh sư. Vì [trước] đã xuất gia ở hành cung Vũ Lâm rồi lại trở về”. Như vậy Thượng hoàng Trần Nhân Tông đã “cởi cà-sa khoác chiến bào”, thân chinh đi đánh Ai Lao, hay sau khi đánh Ai Lao xong ngài mới xuất gia? Làm rõ được điều này, sẽ lý giải được không ít mối quan tâm về việc đời việc đạo của vua Trần Nhân Tông, đồng thời tạo tiền đề lý giải cho các cuộc khởi nghĩa sau này của các nhà sư khi đất nước gặp cảnh nội loạn ngoại xâm, trên tinh thần Phật giáo nhập thế mà nhà Trần đã khởi xướng.


Sau khi đánh Ai Lao, Thượng hoàng lại về Thiên Trường tu hành tại đây, để tâm vào nội điển, chỉ khi xảy ra vụ việc vua Trần Anh Tông uống rượu say, Thượng hoàng mới “xuống chiếu cho các quan ngay ngày mai điều phải tới phủ Thiên Trường để điểm danh, ai trái lệnh sẽ bị sử tội”.


Các dữ kiện lịch sử trên cho thấy, chỉ một năm sau khi nhường ngôi cho con, Thượng hoàng Trần Nhân Tông đã xuất gia ở hành cung Vũ Lâm (Ninh Bình) rồi lại trở về kinh sư, sau tiếp tục tu hành tại phủ Thiên Trường không gián đoạn cho đến ngày chính thức rời vào núi Yên Tử vào năm 1299: “Mùa thu tháng 7, xây am Ngự Dược trên núi Yên Tử.Tháng 8, Thượng hoàng từ phủ Thiên Trường lại xuất gia vào núi Yên Tử tu khổ hạnh”. Liền sau đó, “in cách sách Phật giáo pháp sự, Đạo tràng tân vănCông văn cách thức ban hành trong cả nước”.


Đại Việt sử ký toàn thư cho biết ngay sau khi Thượng hoàng Trần Nhân Tông xuất gia một thời gian ngắn, sứ Nguyên là Tiêu Thái Đăng Sang, “vua sai Nội viên ngoại lang Trần Khắc Dụng, Phạm Thảo đi theo, nhận được bộ Đại tạng kinh đem về để ở phủ Thiên Trường, in bản phó để lưu hành”.


Tháng 2 năm Tân Sửu (1301), Chiêm Thành sang cống . Tháng 3, Thượng hoàng vân du các nơi và sang Chiêm Thành cho đến tháng 11, Thượng hoàng mới từ Chiêm Thành trở về.Trong thời gian ở Chiêm Thành,Thượng hoàng đã nắm được tình hình thực tiễn trong quan hệ hai nước,quyền biến hứa gã công chúa Huyền Trân cho chúa Chế Mân.Sau nhiều dị nghị của nho sĩ,mãi đến năm 1306 thì triều đình mới chính thức gã công chúa Huyền Trân cho chúa Chế Mân,và chúa Chế Mân đã tỏ thành ý dâng hai châu Ô, Lý (vùng Thuận Hóa-Thừa Thiên Huế ngày nay) để làm lễ vật dẫn cưới.


Bức tranh Trúc Lâm Đại Sĩ xuất sơn đồ đã mô tả sinh động cảnh vua Trần Anh Tông cùng bách quan đi đón pháp giá Thượng hoàng từ Chiêm Thành trở về ,cùng đi có các đệ tử thân cận,người hầu,tăng nhân nước ngoài và đạo sĩ Lâm Thời Vũ.Hiện vẫn chưa rõ đạo sĩ Lâm Thời Vũ là ai, nhưng Đại Việt sử ký toàn thư đã sớm cho biết,do sự xuất hiện của đạo sĩ Hứa Tông Đạo vào năm 1276 (theo bài minh trên chuông Thông Thánh quán ở Bạch hạc,Việt Trì) mà “phép phù thủy, đàn chay bắt đầu thịnh hành từ đó”.Có thể nói,mối quan hệ “Tam giáo” ở thời Ngài trị vì diễn ra hết sức tốt đẹp,dù đâu đó vẫn xuất hiện những người như Trương Hán Siêu (?-1354) bài xích Phật giáo, nhưng những năm cuối đời Trương Hán Siêu lại trở về sống với tư tưởng và tinh thần Phật giáo.


Văn bia chép về hành trạng của Đệ nhị tổ Pháp Loa có đoạn: “Vào tháng 5, Điều Ngự lên ở am tại đỉnh núi Ngọa Vân. Ngày rằm Bố-tát xong, đuổi tả hữu ra, đem y bát và viết tâm kệ giao cho Sư, bảo phải giữ gìn. Ngay mùng một tháng giêng năm Mậu Thân Hưng Long thứ 16 (1308) Sư vân lệnh làm trụ trì nối dòng Pháp ở Cam Lộ Đường và làm lễ trao truyền, vua cho đặt bài vị của liệt tổ, tấu đại nhạc, đốt hương thơm, đánh trống pháp, tập hợp đại chúng lên pháp đường”.


Việc truyền y bát được mô tả ở đây rất trang trọng, pha lẫn giữa nghi lễ cung đình và nghi thức Phật giáo. Không những thế, chưa từng có tiền lệ và ngoại lệ nào diễn ra khi việc truyền y bát mà số lượng kinh thư ngoại sử và Đại tạng lại nhiều như vậy, lại được chỉ rằng  “để mở rộng việc học nội và ngoại điển”.


Vua Trần Thái Tông từng phát biểu: “Đại giáo của Đức Phật ta phải nhờ tiên thánh mà truyền lại cho đời. Thế thì nay lẽ nào trẫm không coi trách nhiệm của tiên thánh là trách nhiệm của mình, giáo lý của Đức Phật làm giáo lý của mình”. Tiếp nối một cách tự nhiên tư tưởng của Trần Thái Tông,  Trần Nhân Tông thể hiện vai trò của một minh quân, hiền triết khi cân bằng ,hài hòa lợi ít của cả hai việc đạo đời (đạo pháp và dân tộc) trong mối tương quan Tam giáo (Phật-Đạo-Nho), đồng thời chủ động xây dựng luân lý, đạo đức quốc gia trên nề tảng giáo lý mười điều thiện (dành cho dân chúng) và tinh thần Bồ-tát đạo (dành cho quan lại,quý tộc).để rồi chính từ những đặc điểm này mà người ta thống nhất chỉ ra rằng ,trong con người và thời đại của ngài, vương quyền và giáo quyền đã được kết hợp một cách tự nhiên.


NỘI TÂM NGOẠI TƯỚNG


Lần đầu tiên chúng ta thấy trong tác phẩm Cư trần lạc đạo phú,Trần Nhân Tông đã có cái nhìn rất thiết thực trong việc lý giải toàn bộ những giá trị bên trong và bên ngoài nơi mỗi con người: “Dựng cầu đò, dồi chiền tháp ,ngoại trang nghiêm sự tướng hãy tu / Săn hỷ xả, nhuyễn từ bi, nội tự tại Kinh Lòng hằng đọc” (Hội thứ tám) tức bên ngoài thì quan tâm làm những việc ích lợi cho đời, bên trong rèn tâm trí từ bi, hỷ xả theo lời Phật dạy.


Không dừng lại ở đó, Ngài còn tiếp tục đưa ra luận điểm “nội-ngoại” như sau: “Sạch giới lòng, chùi giới tướng, nội ngoại nên Bồ-tát trang nghiêm. Ngay thờ chúa, thảo thờ cha, đi đỗ mới trượng phu trung hiếu” (Hội thứ sáu). Giới lòng (tâm tính), Giới tướng (kỷ luật), giữ được hai điều đó thì mới có thể trang nghiêm được quốc độ, cũng như thờ chúa phải ngay, thờ cha cho thảo, học hành đỗ đạt, đó mới đích thực là trung hiếu.


Tam tổ thực lục chép rằng, mùa Đông năm Giáp Thìn, niên hiệu Hưng Long thứ 12 (1304), Trần Anh Tông (1293-1314) đã “dâng biểu mời Điều Ngự [Trần Nhân Tông] vào Đại Nội để thọ tâm giới tại gia Bồ-tát. Ngày [Điều Ngự] vào thành, vương công, bách quan sắm lễ nghi đầy đủ đón rước xa giá của Điều Ngự,rồi cùng thọ giới pháp”.Với một xã hội “cùng tu” như vậy, trong Kiến văn tiểu lục, Lê Quý Đôn đã nhận xét rằng thời Trần xuất hiện tình trạng “lấy địa vị vua chúa mà làm đại sĩ, hoàng hậu mà làm Tỳ-khưu, khanh tướng mà làm thầy chùa”.Tuy nhiên,việc bách quan triều đình thọ giới pháp chỉ là hình tướng bên ngoài, còn tâm giới Bồ tát tại gia và những điều phải thực hành, giữ nhìn mới là chủ điểm tu tập từ bên trong:


“Thích nhân nghì, tu đạo đức, ai hay này chẳng Thích Ca,

Cầm giới hạnh, đoạn ghen tham,c hỉn thực ấy là Di Lặc” (Hội thứ tư).


Hay:


“Tịnh độ là lòng trong sạch, chớ còn ngờ hỏi đến Tây Phương,

Di Đà là tính sáng soi, mựa phải nhọc tìm về Cực Lạc.

Xét thân tâm,rèn tính thức,há rằng mong quã báo phô khoe,

Cầm giới hạnh, địch vô thường, nào có xá cầu danh bán chác” (Hội thứ hai).


Trước đó, vua Trần Thái Tông cũng từng có chỉ vào mái núi tu hành đề tìm Phật, nhưng ông đã được Quốc sư Phù Vân khuyên rằng: “Trong núi vốn không có Phật, Phật ở ngay trong lòng, lòng lặng mà hiểu, đó chính là chân Phật. Nay nếu bệ hạ giác ngộ điều đó thì lập tức thành phật, không cần khổ tâm tìm kiếm bên ngoài”. Trong bài Sơn phòng mạn hứng,Trần Nhân Tông đã viết: “Ai trói buộc mà phải tìm phương pháp giải thoát. Phẩm cách chẳng phàm tục cần gì tìm thần tiên”.


Như chúng tôi từng có dịp phân tích: Đặc điểm nhân sinh quan nổi bật trong tư tưởng Trần Nhân Tông chính là nhận thức và ứng dụng giới luật Phật giáo vào cuộc sống. Bởi giới luật là một yếu tố bổ túc quan trọng vào đạo đức xã hội, pháp luật, thậm chí cả trong đời sống chính trị .Giới không mâu thuẫn với hệ thống pháp luật, phong tục, tín ngưỡng mà còn thúc đẩy, khắc dấu ấn quan trọng vào nền văn hóa, văn minh Đại Việt. Vì thế Trần Nhân Tông đặt câu hỏi nghiêm túc với Tuệ Trung Thượng Sĩ: “Công phu giữ giới trong sạch không chút sao lãng là để làm gì?”.


Cũng chính ở đặc điểm này mà chúng ta thấy song song với việc khuyến hóa dân chúng giữ giới thập thiện, Trần Nhân Tông nhắc đến việc “tích nhân nghì” (nhân nghĩa), “mến nhân nghì”, “ở đời vui đạo”…Nếu dân chúng thực hành được những điều kể trên thì lo gì đến chuyện dụng Nho hay triển Pháp. Sau này, khi Nguyễn Trãi (1380-1442) nhận ra những sai lầm trong tư tưởng Nho giáo, ông cũng đã phát biểu: “Pháp lệnh không bằng nhân nghĩa cũng rõ lắm rồi…”, nhân việc có bảy tên ăn trộm can tội tái phạm mà bị hình quan chiếu luật xử chém.


Với nhiều quy tắc khắc khe, Nho giáo ở vào thời khủng hoảng lý luận (hình nhi thượng) đã phải vay mượn không ít các yếu tố tính ngưỡng tâm linh. Tuy nhiên, lý thuyết “đạo trời”, “mệnh trời” càng khiến cho thời đại ấy trở thành thời đại “tự cô lập”, sống trong “chủ nghĩa định mệnh” bóp nghẹt tự do của con người,nhất là người phụ nữ. Trong khi đối với Phật giáo, sức sống bình dị về niềm tin nhân quả báo ấn, nghiệp báo và lối sống từ bi, hỷ xả, làm phúc…vẫn trở thành nguồn cảm hứng phong phú của nhân dân.


Có thể nói, với 3 mối quan tâm hàng đầu kể trên, Trần Nhân Tông đã tạo ra thời đại của hào khí Đông Á, làm vẻ vang lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, khơi nguồn cảm hứng hào sảng cho các thời đại đi xa. Với con người cá nhân, Trần Nhân Tông đã làm chủ vận mệnh của đất nước, làm chủ được sinh tử của mình, vượt lên những nhân vật xuất sắc trở thành một nhà thiết kế vĩ đại cho công cuộc khẳng định nền độc lập tự chủ, cũng như tạo lập một dòng thiền.. “nhập thế”, “cư trần lạc đạo” mang bản sắc Đại Việt-dòng thiền Trúc Lâm, mà chính Ngài là người giữ cương vị Giáo Tổ.

 
Bậc thánh giác ngộ là vua trong các hàng vua (Giác Thánh Trung Vương),Trần Nhân Tông được nhân dân tôn xưng là Phật hoàng đã nói lên đầy đủ ý nghĩa đó. Không những thế, ít có triều đại nào trong lịch sử sánh kịp, khi nhiều trong số các vị vương tướng của Ngài đều đã hóa Thánh, hiển Thánh được thờ phụng rộng rãi trên khắp mọi miền đất nước. Ở đây, chúng tôi chỉ muốn nói, những nhận định đánh giá về Trần Nhân Tông là “nhà tư tưởng”, “nhà chính trị”, “nhà quân sự”, “nhà văn”, “nhà thơ”… đã trở thành những chiếc áo quá chật đối với tầm vóc của Ngài một mẫu hình triết vương của dân tộc và thời đại.

_____________

 

Thích Thanh Thắng

Nguồn: Liễu Quán - Số 1 | tháng 1 - 2014

(Trung tâm văn hóa Phật giáo Liễu Quán - Huế)

ƯNG VÔ SỞ TRỤ NHI SANH KỲ TÂM

Một lần nọ, tôi hỏi một vị Sư “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” có phải là câu hay nhất trong kinh Kim Cang không thì Sư nhẹ nhàng bảo không, trong kinh Kim Cang câu nào cũng hay cả! Quả thật dần dần tôi cũng thấy ra kinh Kim Cang chỗ nào cũng hay cả, mà hình như ngày càng hay hơn, nhất là khi… áp dụng vào đời sống hằng ngày, đúng như Edward Conze nói. Cách viết, cách trình bày từng chữ từng câu trong kinh Kim Cang chặt chẽ, thuyết phục và nói chung là… hấp dẫn! Tôi bị cuốn hút vào Kim Cang cũng như trước kia với Tâm Kinh. Tâm Kinh- dạy cho Xá Lợi Phất, một đại đệ tử thông tuệ, trí thức nhất của Phật- hình như là để trả lời rốt ráo cho câu hỏi Tại sao, mang tính lý thuyết; còn Kim Cang thì nói cho Tu Bồ Đề, vị đại đệ tử giải không đệ nhất, vô tranh, ưa tĩnh mịch, vốn xưa là người dễ nổi nóng, dễ giận hờn… là để trả lời cho câu hỏi Cách nào?, nhằm hướng dẫn thực hành. Dĩ nhiên những bài giảng này dành cho các đại đệ tử, hoặc các vị tu sĩ, không phải dành cho ta nên ta có lớ ngớ, bỡ ngỡ , chưng hửng cũng là chuyện bình thường thôi! Có điều, lớ ngớ, bỡ ngỡ, chưng hửng lại có cái hay của nó. Nó giúp ta tự thâm nhập, tự phát hiện, tham gia trong quá trình nghiền ngẫm, thử nghiệm, khi thấy tin được thì đem áp dụng vào đời sống hằng ngày để giải quyết những vướng mắc, phiền não chẳng cũng khóai ru? Chẳng hạn câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” mà ai cũng biết, ai cũng đọc như thần chú để an ủi cõi lòng mỗi khi phiền muộn , cũng là câu mà Lục tổ Huệ Năng hơn ngàn năm trước, chỉ nghe lóm mà đại ngộ cũng đáng cho ta nghiền ngẫm miệt mài lắm chứ! Đừng trụ vào đâu cả để mà sanh cái tâm thì sẽ…sướng, sẽ vui, sẽ hạnh phúc, sẽ thoát mọi “khổ đau ách nạn”. Thật ư?

Đừng trụ vào đâu cả? Đừng trụ vào đâu cả… ư? Ờ, mà có lý! Khi xem hai đội banh xa lạ đụng độ nhau, tôi súyt xoa thưởng thức những đường banh hay đẹp, nhưng khi một trong hai đội là… đội của tôi- tôi là “fan” của họ- thì ôi thôi tôi lo lắng, khổ sở, bực dọc đủ thứ với từng đường banh, từng cầu thủ, trọng tài. Tôi… nguyền rủa, la hét, xỉ vả, rồi mừng rỡ khi đội mình thắng hay ngậm ngùi cay đắng khi đội mình thua! Ăn mất ngon, ngủ mất yên vì cái đội banh… quái quỷ mà tôi thương mến!

Hai thiền sinh gặp một cô gái ở khúc sông sâu đang lúng túng không dám lội qua. Một vị tình nguyện cõng cô qua. Trên đường về chùa, vị kia bỗng hỏi:- Làm sao mà một ông sư lại dám cõng trên lưng một cô gái đẹp như vậy chớ? – Ơ hay, tôi đã “buông” cô ta xuống lâu rồi, còn anh sao vẫn cứ “cõng” cô ta đến bây giờ vậy!

Có nhiều cách cõng. Cõng cô gái là một cách, cõng cái ý tưởng về cõng cô gái là một cách khác. Cô gái thì đã đặt xuống rồi nhưng cái ý tưởng kia thì vẫn còn quấn quít mãi không thôi, có lẽ còn đi vào cả giấc mơ! Người kia thấy cô gái là cô gái, cần giúp thì giúp. Người nọ, thấy cô gái là cô gái…đẹp, băn khoăn tự hỏi có nên giúp hay không, giúp có phạm quy không, thậm chí còn bần thần “trăm năm biết có duyên gì hay không” nữa không chừng! Người cõng càng lâu thì càng mệt, càng sớm còng lưng! Nhưng đâu có dễ mà bỏ xuống chứ! Nghi Lâm tiểu sư muội cõng Lệnh Hồ huynh đệ bị thương ( truyện Kim Dung) có một phen mà tâm thần bấn lọan dài dài! Cho nên, Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm thật không dễ!

Phật dạy muốn không trụ vào đâu cả (vô sở trụ) thì phải ly tướng, rời bỏ các hình thức, hiện tượng bày vẻ bên ngòai, vượt qua hiện tựơng để thấy được cái thực chất bên trong. Ly được tất cả các tuớng đã xứng danh là Phật; thấy đựơc các tuớng chẳng phải tướng là đã thấy Như lai! Nhưng làm sao mà ly đây? Thế nên có người lên núi, làm một cái cốc… trong hang động để xa lánh sự đời! Nhưng vẫn chưa ổn chút nào vì cái tâm vẫn cứ còn quậy phá. Rõ ràng ở đây không phải vấn đề trốn chạy, vì chạy đi đâu cho thóat cái tâm chính mình, một khi tâm vẫn chưa an? Khi tâm đã an rồi thì đâu chẳng là… cốc, đâu chẳng là hang động? Cho nên có thể nói chuyển từ “ly tướng” bên ngoài đến… “ly tướng” bên trong là cả một sự chuyển hóa từ lượng sang chất.

“Thị cố, Tu Bồ Đề ! Chư Bồ tát Ma ha tát ưng như thị sanh thanh tịnh tâm…Bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ… Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm!”.

Vậy đó, Tu Bồ Đề! các vị Đại bồ tát làm như vậy đó mà có được tâm thanh tịnh! Làm như vậy đó là làm làm sao? Câu trả lời là rời khỏi các tướng, không còn phân biệt ngã nhân, chúng sanh, thọ giả, là tách rời mọi thứ hiện tượng, không để bị mà mắt, bị hút vào những chuyện lăng xăng, ý niệm ngôn từ nọ kia, làm cho người ta vướng mắc, vùng vẫy không ra như mắc vào lưới cá! Những vị Đại bồ tát đó đã thực hành bố thí kiểu mới, bố thí không dính mắc; trì giới, nhẫn nhục kiểu mới… và dĩ nhiên cũng đã có tuệ giác kiểu mới, vượt lên, vượt qua, vượt ra… Gaté, gaté, paragaté!

Kinh Duy Ma Cật kể có một lần kia, trong một buổi họp mặt giữa các vị Bồ tát, các vị đựơc người ta tung hoa đầy người – giống như các fan hâm mộ tung confetti vào thần tượng của mình bây giờ- thì đa số các vị người nào cũng bị dính, trừ các Đại bồ tát! Nên nhớ, các vị Đại…Bồ tát! Chớ còn Tiểu… bồ tát hoặc Bồ tát… sơ sơ thì có dính confetti chút đỉnh cũng không sao. Từ từ mà gỡ. Đừng nóng vội! Đại Bồ tát thì… trơn tuột, không còn cái gì có thể dính được nữa! Kim Cang viết thật súc tích, chặt chẽ: Vì Đại Bồ tát là những vị đã thật vô sở đắc, thật vô sở hành… Những chữ “thật” đó khiến ta không khỏi giật mình. Họ hiều lời Phật dạy là chiếc bè giúp qua sông; hiểu ngón tay Phật chỉ là để nhìn thấy trăng chớ không phải trăng… Tóm lại, tâm họ đã hoàn toàn “vô sở trụ”, không trụ vào đâu cả, không dính mắc vào đâu cả ! Không trụ vào đâu cả thì chỉ còn có một chỗ để trụ ấy là… tự tại! Quán Tự tại Bồ tát…hành thâm Bát nhã…!

“Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền”, Trần Nhân Tông, sư tổ Trúc Lâm đã nói đến cái vô tâm như vậy từ bảy trăm năm trước, còn Lục tổ Huệ Năng, thì hơn một ngàn ba trăm năm trước cũng đã nói đến vô niệm. Dĩ nhiên vô tâm không phải là không có tâm, không còn tâm, cũng như vô niệm không phải là không có niệm, không còn niệm. Vô niệm, vô tâm thực ra chỉ có nghĩa là cái tâm trong sáng, cái niệm thanh tịnh, đã hoàn toàn không còn phân biệt, không còn dính mắc (chấp trước). Trần Nhân Tông vẫn xuống núi, đánh đuổi quân Nguyên, nhưng khi xong giặc thì trở về núi tu tiếp, không “dính mắc” chi nữa! Còn Huệ Năng, “ngộ” rồi mà vẫn lẩn trong đám thợ săn hằng chục năm để tu rèn và giúp đỡ người. Cho nên tâm cứ sanh miễn là tâm thiện, tâm có ích cho mình, cho đời. “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” cũng chính là “Ưng sanh kỳ tâm nhi… vô sở trụ” vậy! Đâu có bảo phải dập tắt tâm đi, thui chột tâm đi, tiêu diệt tâm đi để trở thành sỏi đá hay người ngơ ngáo tâm thần sao? Mà “ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau”(TCS) kia mà!

Tu Bồ Đề hào hứng hỏi: Thưa Thế tôn, vậy xin hỏi kinh này có tên gọi là gì và phụng trì ra sao? Phật nói: Kinh này gọi là Kim Cang Bát nhã Balamật. Nói xong hình như Phật giật mình, coi chừng, không khéo họ lại… “trụ” vào nữa thì hỏng bét! Phật bèn nói tiếp: Bát Nhã Balamật không phải là Bát Nhã Balamật nên mới gọi là Bát Nhã Balamật vậy!
_____________________________________

GƯƠM BÁU TRAO TAY

HANDING DOWN the PRECIOUS SWORD

Tác giả: Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Nhà xuất bản Phương Đông 2008

Dịch giả: Diệu Hạnh Giao Trinh

Bản dịch Anh ngữ Gươm Báu Trao Tay (viết về kinh Kim Cang)

Nguồn: thuvienhoasen.org

CẦN KHAI THÁC THẾ MẠNH DU LỊCH TÂM LINH Ở HUẾ

Thừa Thiên - Huế là một trong số ít địa phương có rất nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch tâm linh, một loại hình du lịch hấp dẫn, đem lại giá trị kinh tế và làm phong phú thêm đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân.

Dâng hương đền thờ Phật hoàng Trần Nhân Tông

Trước tiên, Thừa Thiên - Huế là vùng đất có tới 55 vạn tín đồ Phật giáo với hơn 100 ngôi chùa, niệm phật đường, trong đó có nhiều Tổ đình như Từ Đàm, Thiên Mụ rất khang trang và bề thế. Từ sau khi được UNESCO công nhận là di sản thế giới, chùa Thiên Mụ đã được bảo tồn, tu bổ với tổng số vốn đầu tư là 27 tỷ đồng từ ngân sách nhà nước. Bên cạnh những công trình kiến trúc như tháp Phước Duyên, điện Đại Hùng, điện Địa Tạng, điện Quan Âm... cùng bia đá, chuông đồng, chùa Thiên Mụ còn có nhiều cổ vật quí không chỉ về mặt lịch sử mà cả về nghệ thuật, là điểm đến không thể thiếu trong hành trình đến Huế của du khách.

 

Hàng năm, lễ hội Điện Huệ Nam (còn gọi Lễ hội Điện Hòn Chén) được tổ chức vào tháng Ba và tháng Bảy Âm lịch tại ngôi điện nằm trên núi Ngọc Trản bên bờ sông Hương, thuộc xã Hương Thọ, thị xã Hương Trà, nơi thờ Thiên Y A Na Thánh Mẫu. Đây là lễ hội dân gian truyền thống được phục hồi theo các tập tục đậm màu sắc văn hóa dân gian địa phương, mang yếu tố văn hóa tâm linh, đề cao đạo hiếu, đạo làm người. Lễ hội bắt đầu từ việc rước Thánh Mẫu đi từ điện Huệ Nam tới đình làng Hải Cát trên những chiếc thuyền được ghép lại thành bè; với long kiệu Thánh Mẫu và hòm sắc vua phong, cùng các khí tự như tán, tàn, cờ, quạt, đội hầu bóng, những người phục dịch và khách hành hương. Từ đình làng Hải Cát, lễ cung nghinh Thánh Mẫu hồi loan về điện, sau đó diễn ra lễ phóng sanh, phóng đăng... sôi động trong tiếng nhạc của phường hát văn và phường bát âm, với sự tham dự của đông đảo bà con địa phương và du khách. Lễ hội thu hút hàng vạn người dân và du khách thập phương mỗi khi mở hội.

 

Từ năm 2008, tại Thừa Thiên - Huế còn hình thành thêm Trung tâm văn hóa Huyền Trân, tạo thành điểm du lịch văn hóa tâm linh hấp dẫn. Hàng năm, tỉnh Thừa Thiên - Huế lấy ngày 9 tháng Giêng Âm lịch (tức ngày 3/2) để tổ chức Lễ hội đền Huyền Trân. Cùng với ý nghĩa tri ân người có công mở nước, tạo lập vùng đất Thuận Hóa - Phú Xuân cách đây 700 năm trước, lễ hội đền Huyền Trân cũng là dịp quảng bá sản phẩm du lịch mới của tỉnh Thừa Thiên - Huế. Từ khi đưa vào hoạt động đến nay, mỗi ngày Trung tâm văn hóa Huyền Trân thu hút hàng ngàn lượt khách đến vãn cảnh và thắp hương tưởng niệm vị công chúa đã có công mở mang bờ cõi nước Việt.

Lễ hội Đền Huyền Trân Công chúa

Trung tâm văn hóa Huyền Trân được xây dựng nằm cách thành phố Huế 7km về phía tây, tại vùng núi Ngũ Phong thuộc xã Thủy An trên khuôn viên rộng 28 ha, có đồi núi thoai thoải, rừng thông xung quanh, bốn mặt là đồi núi trùng điệp. Không gian thâm nghiêm, kỳ vĩ, phù hợp với những công trình văn hóa mang tính tâm linh, về nguồn. Công trình bao gồm đền thờ và tượng đồng Huyền Trân công chúa, tháp chuông Hòa Bình, hệ thống đường đạo, công viên. Bên trong đền thờ Huyền Trân có pho tượng Công chúa Huyền Trân ngồi trên ngai được đúc bằng đồng. Tượng cao 2,37m, do các nghệ nhân đúc đồng nổi tiếng của phường Đúc, thành phố Huế cẩn tác. Phía sau là đền thờ đức vua Trần Nhân Tông - vị vua có công lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, có pho tượng nhà vua bằng đồng đỏ nguyên chất, cao 3m, nặng 2 tấn được đúc theo phiên bản lấy từ đền thờ các vua Trần tại Nam Định.

 

Trong tiếng nhạc dập dìu, tiếng chuông vọng ngân vang, sau khi thắp hương cầu nguyện Công chúa Huyền Trân và các bậc công thần khai quốc, đến với Trung tâm văn hóa Huyền Trân, du khách còn có dịp thả bước dưới những tán thông già. Ngắm nhìn tượng ni sư Hương Tràng, cầu nguyện ở tượng Di Lặc, bước lên 246 bậc cấp để chinh phục đỉnh núi Ngũ Phong và đến với tháp chuông Hòa Bình. Ở độ cao 108m, tháp chuông Hòa Bình với quả chuông đồng nguyên chất nặng 1,6 tấn, cao 2,16m, tiếng chuông ngân vang lan tỏa trong cõi thinh không tĩnh lặng để cầu nguyện cho sự an lành của mỗi con người, đúng như 8 chữ khắc trên mặt chuông: "Thế giới - Hòa Bình - Nhân loại- Hạnh phúc" cùng hình ảnh tượng trưng của 4 chùa: Giác Lâm (TP Hồ Chí Minh), Thiên Mụ (Huế), Diên Hựu (Hà Nội) và chùa Trúc Lâm Yên Tử (Quảng Ninh). Tất cả đã tạo nên một không gian rất đặc biệt, hướng du khách về với cội nguồn, về với lịch sử hào hùng của dân tộc và chiêm bái, tri ân người có công mở cõi.

 

Thực tế cho thấy, các điểm đến cho loại hình du lịch tâm linh ở Thừa Thiên - Huế đều được hình thành một cách tự nhiên, do sự tích hợp lâu dài của quá trình phát triển lịch sử, của đời sống kinh tế - xã hội, tín ngưỡng và tôn giáo.

___________________

Báo Tin tức - TTXVN

BIỂU TƯỢNG RỒNG Ở ĐỀN THỜ HUYỀN TRÂN CÔNG CHÚA

Công chúa Huyền Trân, người được coi là người khai sinh cho vùng đất Thuận Hóa - Phú Xuân, Thừa Thiên Huế ngày nay.

 

Chuyện kể rằng, vua Trần Nhân Tông sau khi đã truyền ngôi cho con là Trần Anh Tông, lên tu ở núi Yên Tử, mến cảnh núi sông thường hay đi du ngoạn các nơi. Một lần vào đến đất Chiêm Thành, đã hứa gả công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm Thành Jaya Simhavarman III (Chế Mân).

 

Vua Chế Mân dâng hai châu Ô, Lý (từ đèo Hải Vân Thừa Thiên đến phía bắc Quảng Trị ngày nay) làm sính lễ cưới công chúa Huyền Trân về nước.

 

Vâng mệnh vua cha Trần Nhân Tông, Huyền Trân đã gác tình riêng, gạt lệ xuống thuyền theo chồng, lập mối hòa hiếu và mở mang bờ cõi của đất nước về phương Nam. Đất Thuận Hóa - Phú Xuân - Thừa Thiên Huế cũng được khai sinh từ đó, đến nay đã hơn 700 năm.

 

Ngày nay, Đền thờ Huyền Trân Công Chúa nằm tại núi Ngũ Phong, thôn Ngũ Tây, xã Thủy An, TP Huế, nằm trên một không gian rộng tới 28 ha rợp bóng thông xanh, cách đàn Nam Giao khoảng 3 km về phía đông nam. Hàng năm cứ vào mồng 9 tháng Giêng âm lịch, nhân ngày mất của Huyền Trân Công chúa, lễ hội Huyền Trân lại được tổ chức long trọng tại Đền Huyền Trân Công Chúa ở Huế.

 

Những hình ảnh ấn tượng ở đền Huyền Trân Công Chúa gắn với năm con Rồng.

Lối vào Đền Huyền Trân công chúa

Hình tượng rồng với nhiều sắc thái khác nhau rải rác từ dưới lên điện thờ cao nhất ở Đền Huyền Trân

Hình tượng Rồng tại đền Huyền Trân

Rồng trong tiết Xuân

Rồng nhỏ

Hình tượng Rồng với nhiều sắc thái khác nhau

Hình tượng Rồng có mặt khắp nơi ở Đền Huyền Trân Công chúa

Từ bậc cấp đầu tiên dẫn vào đền thờ vua Trần Nhân Tông- phụ hoàng của Công chúa Huyền Trân, là đôi rồng chầu đạt kỷ lục dài nhất Việt Nam được sách kỷ lục Việt Nam ghi nhận ngày 07/12/2008.

Hình ảnh đôi rồng lớn nhất Việt Nam

Bên trong Đền thờ là pho tượng Công chúa Huyền Trân ngồi trên ngai được đúc bằng đồng. Tượng cao 2,37m, do các nghệ nhân đúc đồng nổi tiếng của Phường Đúc, TP Huế thực hiện.

Điện thờ tại Thiền viện Hương Vân

Khói hương cửa Phật

____________________________

CTV Hoàng Hải/VOV online/ từ Huế

Nguồn: dulichhue.com.vn

NHỮNG CÁI NHẤT CỦA PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG

Không chỉ là vị vua anh minh, người duy nhất được tôn làm Phật hoàng, ông còn là vị vua có tầm ảnh hưởng quốc tế lớn nhất của dân tộc VN.Trần Nhân Tông( 1258 – 1308), tên thật là Trần Khâm, là vị vua thứ ba của nhà Trần, ở ngôi 15 năm, ông được nhiều sử gia đánh giá là vị vua anh minh nhất trong lịch sử Việt Nam.

Ảnh : Tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông được hộ thần nhập tượng tại đỉnh Yên Tử sáng sáng 3/12/2013 

Với tài cai trị xuất sắc, Trần Nhân Tông đưa đất nước Đại Việt đạt đến sự phát triển đỉnh cao trong lịch sử. Ông cũng có vai trò lãnh đạo quan trọng trong thắng lợi của hai cuộc kháng chiến chống Nguyên- Mông lần thứ hai và thứ ba. Với những cống hiến ấy, tên tuổi của vua Trần Nhân Tông đã được các học giả đưa vào danh sách 14 anh hùng dân tộc tiêu biểu nhất của Việt Nam.

Trần Nhân Tông là vị hoàng đế duy nhất được tôn làm Phật hoàng trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc

Sau khi nhường ngôi cho con trai là Trần Anh Tông, ông đã xuất gia tu hành và lập nên Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử- trường phái Phật giáo đặc sắc của Việt Nam. Là tổ thứ nhất của dòng thiền này, về sau vua được dân cung kính gọi là Phật hoàng.

Ảnh: Tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông bằng đá trong vườn tháp Huệ Quang ( Hoa Yên- Yên Tử).

Về mặt trí tuệ, Trần Nhân Tông là một trong những vị vua có học vấn uyên thâm nhất trong lịch sử Việt Nam.

 

Sử sách ghi lại, luc sinh thời, vua là người thông minh, hiếu học, đọc hết các sách vở, thông suốt nội điển và ngoại điển. Ông đã viết nhiều tác phẩm có giá trị, nhưng đáng tiếc phần lớn đều đã thất lạc, chỉ cònh lại 25 bài chép trong Việt âm thi tập và Toàn việt thi lục.

Ảnh : Tượng ngọc của Phật hoàng Trần Nhân tông được tôn tạc tại chùa Vĩnh Nghiêm

Trên phạm vi thế giới, Trần Nhân Tông là vị hoàng đế Việt Nam có tầm ảnh hưởng quốc tế lớn nhất của dân tộc.

Tên tuổi của ông đã được đặt cho một viện nghiên cứu đặt tại thành phố Boston của Mỹ, nơi nghiên cứu các giá trị từ di sản vua Trần Nhân Tông đối với thế giới.

Hình ảnh chụp từ Website viện Trần Nhân Tông


Một giải thưởng mang tên Trần Nhân Tông về hoà giải cũng đã được ra đời, là giải thưởng quốc tế đầu tiên mang tên Việt Nam, hàm chứa các giá trị Việt Nam được phổ quát tới toàn nhân loại.

________________

trungtamhuyentran.thuathienhue.gov.vn

ĐÔI NÉT VỀ VUA TRẦN NHÂN TÔNG VÀ HOÀNG HẬU BẢO THÁNH

Trần Nhân Tông

 

Vua Trần Nhân Tông tên huý là Trần Khâm, ngoài ra lúc nhỏ còn có tên là Nhật Tôn hay Kim Phật. Ông là vị vua thứ 3 của triều Trần, con trai trưởng vua Trần Thánh Tông và hoàng hậu Thiên Cảm. Hoàng hậu Thiên Cảm là con gái Trần Liễu, chị em gái của Trần Hưng Đạo và Tuệ Trung thượng sĩ Trần Tung (người có khá nhiều ảnh hưởng đến tư tưởng tôn giáo của Trần Nhân Tông về sau).

 

Ông sinh năm 1258. Lúc mới sinh, Đại Việt sử ký toàn thư đã miêu tả ông là “được tinh anh của thánh nhân, đạo mạo thuần túy, nhan sắc như vàng, thể chất hoàn toàn, thần khí tươi sáng, hai cung đều cho là lạ, gọi là Kim Tiên đồng tử, vai bên tả có nốt ruồi đen, cho nên có thể cáng đáng được việc lớn”, vua Thánh Tông đặt tên cho ông là Kim Phật. Trong phần đề từ của bức tranh “Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ” đương thời, hoạ sĩ Trần Quang Chỉ thời Nguyên đã ghi lại “Khi lớn, ngài học thông tam giáo và hiểu sâu Phật điển. Ngay cả thiên văn, lịch số, binh pháp, y thuật, âm luật, không thứ gì là không mau chóng nắm được sâu sắc”.

 

Tháng 12 năm 1274, ông 16 tuổi, được sắc phong thái tử, kết hôn với con gái của Trần Hưng Đạo là Quyên Thanh công chúa.

 

Theo "Thánh đăng ngữ lục" thì ông từ nhỏ đã có lòng hướng Phật, không có ý làm vua nên nhiều lần xin nhường ngôi thái tử lại cho em trai mình là Đức Việp, nhưng vua Thánh Tông không chấp nhận. Sau khi kết hôn vài tháng, ông trốn khỏi hoàng cung vào giữa đêm khuya, tá túc ở một ngôi chùa trên Yên Tử. Vua Thánh Tông và hoàng hậu sau khi phát hiện ông biến mất thì vội vàng cho người tìm kiếm, khuyên giải ông về, cuối cùng ông đồng ý trở về. Sau khi về cung, ông nằm mộng thấy một đoá sen vàng mọc ra từ rốn mình nên từ đấy ngày ngày đều ăn chay, cả người gầy guộc. Vua Thánh Tông thấy vậy đau lòng, vừa khóc vừa khuyên ông, ông mới thôi việc ăn chay.

 

Năm 1276, con trai trưởng Trần Thuyên của ông ra đời, người sau này trở thành vua Trần Anh Tông.

 

Năm 1278, ông 20 tuổi. Trần Thánh Tông truyền ngôi vua cho ông để lên làm thái thượng hoàng.

 

Ý đồ đánh chiếm nước ta của nhà Nguyên càng ngày càng rõ. Đoàn sứ giả của Sài Thung do vua Nguyên phái đến nước ta lúc ấy vô cùng ngang ngược. Trên đường thì hà hiếp bá tánh, vào triều thì khinh rẻ quần thần. Theo sử nhà Nguyên, lúc Sài Thung truyền ý chỉ của Hốt Tất Liệt bắt ông phải sang chầu để nhận sắc phong, ông đã đáp: “Trộm nghe ấu chúa nhà Tống nhỏ dại, thiên tử còn thương xót mà phong cho tước công thì chắc tiểu quốc đây cũng được gia ân thương xót. Trước đây đã được tha miễn 6 việc. Còn lễ tự thân vào chầu, thì tôi sinh trưởng ở thâm cung, không tập cưỡi ngựa, không quen thủy thổ, sợ chết dọc đường. Em tôi là Thái úy trở xuống cũng đều như vậy. Khi thiên sứ trở về chầu vua, xin dâng biểu tâu rõ lòng thành, cùng cho biếu của lạ”.

 

Sài Thung trở về báo việc này lại với Hốt Tất Liệt, nội mật viện của Hốt Tất Liệt đề xuất khởi binh đánh nước ta, nhưng rốt cuộc vẫn chưa vội tấn công, chỉ bắt nước ta đúc tượng vàng ròng to bằng người thật để cống sang triều đình bên ấy, nếu không làm theo sẽ xuất quân.

 

Nhận thấy nguy cơ chiến tranh càng lúc càng gần, ông và triều đình đã gấp rút củng cố đất nước về mọi mặt để có thể sẵn sàng ứng chiến. Ví dụ như tiến hành đại xá, giải oan, sai Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật đến chiêu hàng tù trưởng Trịnh Giác Mật đang làm phản ở Đà Giang, khuyến khích nông nghiệp, thống nhất đo lường, tạo điều kiện cho buôn bán, thống kê dân số để tuyển lính, luyện binh… Đồng thời, triều đình nhà Trần cũng ra sức thắt chặt quan hệ ngoại giao với Chiêm Thành.

 

Sứ giả nhà Nguyên yêu cầu nước ta cho quân Nguyên mượn đường để tấn công Chiêm Thành, nhưng triều đình nhà Trần biết rõ ý đồ của quân Nguyên muốn chiếm Chiêm Thành trước đề về sau tạo thế gọng kềm đánh chiếm nước ta từ hai phía, nên đã mềm mỏng từ chối. Chiêm Thành biết tham vọng của quân Nguyên nên cũng tỏ ý giao hảo với nước ta. Theo ghi chép của sử nhà Nguyên, triều đình nhà Trần đã cho 2 vạn quân và 500 chiến thuyền đến chi viện cho Chiêm Thành. Tuy vua và triều đình nhà Trần không thừa nhận việc này, nhưng nhà Nguyên đã lấy đó làm cớ khép nước ta vào tội phản nghịch để tấn công.

 

Năm 1282, vua Trần Nhân Tông triệu tập Hội nghị Bình Than, họp cùng vương hầu và các quan bàn kế sách chống quân Nguyên. Sự kiện Trần Quốc Toản bóp nát quả cam cũng xảy ra vào thời điểm này.

 

Trần Hưng Đạo được phong chức Quốc công tiết chế, thống lĩnh quân đội toàn quốc. Trần Quang Khải được phong chức Thượng tướng thái sư.

 

Cuối năm 1284, sau khi được tin Hốt Tất Liệt phái Trấn Nam vương Thoát Hoan và các tướng dẫn quân chuẩn bị tấn công, thái thượng hoàng Trần Thánh Tông đã tổ chức hội nghị Diên Hồng để hỏi ý các phụ lão về việc nên hoà hay nên đánh. Khác với hội nghị Bình Than diễn ra vào 2 năm trước đó - là nơi bàn bạc với quan lại và quý tộc, đối tượng trưng cầu ý kiến của hội nghị Diên Hồng là những đại biểu của nhân dân. Trong hội nghĩ Diên Hồng, mọi người đều đồng ý đánh chứ không hoà.

 

Trần Hưng Đạo viết "Hịch tướng sĩ" để cổ vũ lòng quân.

 

Đầu năm 1285, quân Nguyên chia làm 3 đạo tiếng vào Đại Việt. Triều đình nhà Trần cho quân chặn ở cửa khẩu phía Bắc nhưng thất bại. Quân Nguyên vượt qua ải Chi Lăng. Trần Hưng Đạo ra lệnh cho quân lui về Vạn Kiếp.

 

Tướng giặc là Ô Mã Nhi tấn công Vạn Kiếp. Trần Hưng Đạo muốn bảo toàn lực lượng, đồng thời kéo dài thời gian để nhử cho giặc mệt mỏi nên tiến hành rút khỏi Vạn Kiếp. Ô Mã Nhi đuổi theo. Trong trận thuỷ chiến này, vua Trần Nhân Tông đã mang quân đến hỗ trợ đội quân của Trần Hưng Đạo rút lui khỏi Vạn Kiếp. Quân Trần sau khi rút khỏi Vạn Kiếp thì dàn trận ở sông Hồng gần Thăng Long.

 

Quân Nguyên đi đường bộ, dựng trại bên sông Hồng. Vua Trần Nhân Tông chỉ huy việc nghênh chiến ở sông Hồng, nhằm mục đích đánh lạc hướng giặc để người trong cung và dân chúng sơ tán khỏi Thăng Long, thực hiện kế hoạch “vườn không nhà trống”. Để kéo dài thời gian và thu hút sự chú ý của giặc, Trần Nhân Tông cho người sang giả vờ đưa thư cầu hoà. Quân Nguyên không đồng ý. Sau khi nhận được tin việc sơ tán đã xong, thuỷ quân Trần theo sông Hồng rút khỏi Thăng Long, tiến về phủ Thiên Trường.

 

Đây là một cuộc chiến hết sức cam go. Trong suốt cuộc kháng chiến này, quân Trần từng thua nhiều trận, vua cũng suýt gặp nguy hiểm, nhưng nhờ kế hoạch tác chiến toàn cục được tiến hành tương đối tốt, các cánh quân phối hợp hiệu quả, thắng được những trận mang tính chiến lược nên cuối cùng quân ta giành thắng lợi. Các thủ thuật “vườn không nhà trống”, du kích, ly gián (gây chia rẽ người Hán và người Mông Cổ trong nội bộ quân Nguyên, dùng người Hán trong quân Trần tác động người Hán trong quân Nguyên), cũng được phát huy hiệu quả.

 

Cuối tháng 6 năm 1285, quân Nguyên bị quân ta đuổi giết, tháo chạy về nước.

 

Tháng giêng năm 1286, triều đình nhà Trần thả những tù binh bắt được cho về nước.

 

Hốt Tất Liệt muốn phục thù, chuẩn bị tấn công lần nữa. Nhân lúc quân Nguyên chưa thể xuất quân do người Hán đang nổi dậy trong nước, Đại Việt tăng cường luyện binh ứng chiến.

 

Tháng 12 năm 1287, quân Nguyên tấn công Đại Việt. Đây là cuộc chiến tranh chống Nguyên Mông lần thứ 3 của Đại Việt. Vua Trần Nhân Tông một lần nữa tiến hành đại xá, nhiều tù nhân được thả đã nhập ngũ để báo ơn. Thái thượng hoàng Thánh Tông giao cho Trần Nhân Tông quyền chỉ toàn cuộc. Trần Hưng Đạo chỉ huy quân ngũ. Cũng như lần trước, quân Nguyên thắng những trận đầu, về sau nhà Trần mới phản công. Cuộc chiến này diễn ra trong vòng 4 tháng gồm nhiều trận đánh, trong đó có trận thuỷ chiến dùng cọc nhọn ở Bạch Đằng.

 

Cuối tháng 3 năm 1288, quân Nguyên một lần nữa phải trốn chạy về nước, bị quân ta tập kích.

 

Tháng 4 năm 1288, nhà Trần trả tù binh về nước, trong đó có Ô Mã Nhi. Lúc đi thuyền về nước, Ô Mã Nhi bị đắm thuyền và chết. Triều đình nhà Nguyên cho rằng quân Trần cho người ám sát, nhưng không có chứng cứ.

 

Đại Việt tiến hành phục hồi các tổn thất sau kháng chiến.

 

Năm 1290, quân Ai Lao nhiều lần quấy phá biên giới phía tây. Binh lực Đại Việt lúc này đã chịu nhiều thiệt hại sau cuộc chiến với quân Nguyên, nhưng Trần Nhân Tông vẫn quyết định ngự giá thân chinh để thị uy. Theo lý giải của ông, nếu lúc này hoà hoãn, quân Ai Lao sẽ biết Đại Việt đang suy yếu mà tấn công dữ dội hơn.

 

Tháng 3 năm 1292, hoàng tử trưởng Trần Thuyên được lập làm thái tử, kết hôn với con gái của Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng (con trai Trần Hưng Đạo).

 

Tháng 3 năm 1293, vua Trần Nhân Tông nhường ngôi cho thái tử, lên làm thái thượng hoàng.

 

Tháng 9 năm 1293, thái thượng hoàng hậu Bảo Thánh qua đời.

 

Tháng 8 năm 1294, thái thượng hoàng Trần Nhân Tông thân chinh đánh Ai Lao lần thứ 2.

 

Sau khi thắng trận trở về, Trần Nhân Tông xuất gia ở Vũ Lâm (thuộc Ninh Bình) nhưng vẫn can thiệp việc nước, dẫn dắt vua con.

 

Tháng 8 năm 1299, Trần Nhân Tông núi Yên Tử tu khổ hạnh. Theo truyền thuyết, vua Trần Anh Tông sợ cha cực khổ nên cho nhiều cung nữ đến Yên Tử chăm sóc, nhưng Trần Nhân Tông từ chối, bảo các cung nữ trở về. Một số cung nữ đã trầm mình xuống suối tự vẫn. Trần Nhân Tông thương tiếc, làm lễ cầu siêu, đặt tên suối là suối Giải Oan.

 

Năm 1301, Trần Nhân Tông du ngoạn Chiêm Thành.

 

Tháng 3 năm 1308, Trần Nhân Tông qua đời ở am Ngọa Vân núi Yên Tử.

 

Tháng 9 năm 1309, linh cữu được đưa về chôn ở lăng Quy Đức, phủ Long Hưng, hợp táng cùng thái hậu Bảo Thánh. Một phần xá lỵ của ông được cất ở bảo tháp am Ngọa Vân.

 

Hoàng hậu Bảo Thánh

 

Bà tên huý là Trinh, tước hiệu Quyên Thanh công chúa, là con gái duy nhất của Trần Hưng Đạo và công chúa Thiên Thành.

 

Năm 1274, được lập làm hoàng thái tử phi.

 

Năm 1276, sinh trưởng hoàng tử Trần Thuyên, người sau này là vua Trần Anh Tông.

 

Năm 1279, được lập làm hoàng hậu.

 

Tháng 3 năm 1293, được tôn làm thái thượng hoàng hậu.

 

Tháng 9 năm 1293, bà qua đời ở Lỗ Giang, phủ Long Hưng.

 

Đại Việt sử ký toàn thư nhận định về bà:

 

"Thái hậu nhu mì đức tốt, thông minh sáng suốt, nhân hậu với kẻ dưới.

 

Thượng hoàng có lần làm chuồng hổ ở thềm Vọng Lâu, sai quân sĩ đánh nhau với hổ, thượng hoàng ngự trên lầu để xem, thái hậu và phi tần đều theo hầu. Lầu thấp, song chuồng hổ và thềm cũng thấp, hổ bỗng nhiên thoát khỏi chuồng trèo lên lầu. Người trên lầu đều tan chạy cả. Chỉ có Thượng hoàng và Thái hậu cùng 4, 5 thị nữ còn ở đó. Thái hậu nghĩ không khỏi bị hại, mới lấy chiếc chiếu che cho Thượng hoàng và tự che mình. Hổ lên lầu gầm rống rồi nhảy xuống không vồ hại ai cả.

 

Lại một lần Thượng hoàng ngự điện Thiên An xem đấu voi ở Long Trì. Con voi bỗng nhiên xổng thoát,xông tới, định lên điện, tả hữu đều sợ hãi tan chạy cả, chỉ có Thái hậu vẫn ở đó."

-----

Nguồn tư liệu: Wikipedia, Đại Việt sử ký toàn thư, "Trần Nhân Tông - Con người và tác phẩm"

__________

Internet

THIỀN TÔNG LÀ CỘI GỐC CỦA ĐẠO PHẬT

Chúng tôi là những người tu thiền ở Việt Nam, nhưng thời chúng tôi không được sự kế thừa của các vị Tổ trong Ngũ gia tông phái ở Trung Quốc. Song tôi quyết tâm tu thiền nên dồn hết sức mình vào việc nghiên cứu tu Thiền. Điều đáng tiếc là Thiền tông Việt Nam đã vắng bóng gần một thế kỷ, nên chúng tôi phải tự tra cứu, học hỏi trong kinh sách và lịch sử để tìm ra một lối tu.

 

 

Riêng tôi, trước hết tôi tu Lục diệu pháp môn, là phương pháp của Thiền sư Trí Khải ở Trung Hoa, lấy đó làm cương lĩnh ban đầu. Lục diệu pháp môn gồm có sáu pháp: Sổ tức, Tùy tức, Chỉ, Quán, Hoàn, Tịnh. Khi đi sâu vào tu hành, chúng tôi cũng có tiến bộ đôi chút. Dù vậy, tôi rất băn khoăn, muốn thấu hiểu được đường lối tu thiền của chư Tổ để ứng dụng tu, đồng thời kế thừa sự nghiệp của những bậc tôn túc thời trước.

 

Nhưng khi nghiên cứu thiền của chư Tổ chúng tôi thấy rất khó, đọc tác phẩm của các Ngài không hiểu gì cả. Như câu chuyện Tổ Bồ-đề-đạt-ma sang Trung Hoa, ngồi xoay mặt vào vách chín năm. Sau đó có một người tên Thần Quang đến xin tu tập và được Tổ nhận cho làm đệ tử đổi tên thành Huệ Khả, luôn theo hầu Tổ. Một hôm, Ngài Huệ Khả bạch với Tổ Đạt-ma: “Bạch Hòa thượng, tâm con không an, xin Hòa thượng dạy con pháp an tâm”. Tổ Đạt-ma bảo: “Đem tâm ra ta an cho”. Ngài Huệ Khả tìm lại tâm mình, tìm mãi không được, bèn thưa: “Bạch Hòa thượng, con tìm tâm không được”. Tổ bảo: “Ta đã an tâm cho ngươi rồi!”.

 

Câu chuyện đối đáp giữa hai thầy trò, chúng tôi mò mẫm mãi không ra. Tại sao Tổ bảo đem tâm ra ta an cho, rồi ngài Huệ Khả thưa tìm tâm không được, Tổ liền nói: “Ta đã an tâm cho người rồi !”. Lời nói đó bí ẩn ở chỗ nào mà tôi đọc mãi không lãnh hội được, còn ngài Huệ Khả nghe câu đó lại biết lối vào. Điều này ngày xưa chúng tôi rất đau đầu, nghĩ mãi không ra. Thời gian sau, đủ duyên nhập thất tu, tôi cũng đọc đi đọc lại câu chuyện đó, bỗng dưng thấy được lối vào của Tổ Huệ Khả.

 

Nghe câu chuyện trên chúng ta lấy làm lạ, tại sao các ngài không dạy một pháp an tâm mà lại bảo “đem tâm ra ta an cho”? Chúng ta lâu nay cứ nghĩ rằng tâm là cái suy nghĩ, phân biệt tốt xấu, phải quấy của mình. Vì vậy khi ngồi thiền, tâm đó chạy nghĩ tứ tung khiến cho ta bất an. Lúc Tổ Đạt-ma bảo “Đem tâm ra ta an cho”, đó là lời nói của một vị Tổ siêu thoát, phi thường nên Ngài Huệ Khả không dám xem thường. Ngài liền xoay tìm cái tâm lăng xăng của mình. Khi tìm Ngài không thấy hình bóng của nó nữa, tức nó đã lặng. Thế nên Tổ Đạt-ma bảo: “Ta đã an tâm cho ngươi rồi!”.

 

 

Tu Thiền theo Tổ Đạt-ma là cốt quay lại tìm xem cái tâm nghĩ suy lăng xăng đó ở đâu, thật hay giả. Phương pháp này danh từ chuyên môn gọi là “Phản quan tự kỷ”. Bởi vì chúng ta mê lầm tâm hư dối bóng dáng là tâm mình, nên lâu nay bị nó dẫn chạy ngược chạy xuôi. Giờ đây, nhìn kỹ lại nó tan biến. Đó là lối tu của Tổ Đạt-ma dạy, không có trong kinh điển. Vì vậy được gọi là “Giáo ngoại biệt truyền”, tức truyền ngoài giáo lý. Đây chính là chân tinh thần của Thiền tông.

 

Chúng tôi lãnh hội được yếu chỉ đó, nên ứng dụng tu và dạy Tăng Ni, Phật tử Việt Nam tu thiền như thế. Nghĩa là phải nhìn tường tận những tâm niệm vừa dấy khởi, liền biết nó là vọng tưởng hư dối, không theo thì nó tự lặng. Khi nào nó mạnh, làm ồn thì chúng ta phản quan lại, xem nó xuất phát từ đâu, khi đó nó mất tăm mất dạng. Ngài Huệ Khả nhận được yếu chỉ đó rồi, tu một thời gian và trình với Tổ Đạt-ma: “Hiện con đã dứt hết các duyên”. Tổ Đạt-ma bảo: “Coi chừng rơi vào không”. Ngài Huệ Khả thưa: “Rõ ràng thường biết, làm sao không được”. Tổ Đạt-ma liền ấn chứng cho ngài Huệ Khả.

 

Chúng ta thấy đường lối tu của Thiền tông là phải làm sao dứt bặt tâm duyên theo ngoại cảnh. Tâm đó lặng hết, thì cái rõ ràng thường biết hiện tiền, đó là gốc của tu thiền. Khi sáu căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý tiếp xúc với sáu trần bên ngoài là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp mà không dính không nhiễm, lúc đó chúng ta được an tâm.

 

Sau này, Lục tổ Huệ Năng nhân nghe Ngũ tổ dạy kinh Kim cang, đến câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, nghĩa là không có chỗ trụ mà sanh tâm kia, Ngài bừng sáng liền tỉnh ngộ, thốt lên rằng: “Đâu ngờ tâm mình xưa nay thanh tịnh. Đâu ngờ tâm mình xưa nay trùm khắp. Đâu ngờ tâm mình hay sanh muôn pháp”… Lục tổ biết rõ khi tâm không chạy theo, không dính mắc với sáu trần thì đó là tâm an nhiên, thanh tịnh, trong sáng, hằng hữu của chúng ta, nhưng lâu nay mình quên. Giờ đây, không dính với sáu trần nữa nên nó hiển lộ ra, chính là thể thanh tịnh sẵn có xưa nay của chúng ta.

 

Nghe thế Ngũ tổ biết ngài đã triệt ngộ liền truyền tâm ấn và trao y bát cho, rồi dạy ngài về phương Nam giáo hóa. Trên đường Tổ trở về phương Nam, có một đoàn người đuổi theo để giành lại y bát trong đó có Thượng tọa Minh đuổi theo kịp. Thấy vậy, Tổ Huệ Năng liền để y bát trên một tảng đá, rồi chui vào bụi cây trốn. Thượng tọa Minh tới thấy y bát mừng quá liền ôm lên, nhưng ôm không nổi, buộc lòng kêu lên: “Hành giả! Hành giả! Tôi đến đây vì pháp chứ không phải vì y bát”. Nghe vậy, Tổ từ trong bụi cây chui ra, bảo: “Nếu ông đến đây vì cầu pháp, thì hãy đứng yên lặng, ta sẽ nói cho”. Khi Thượng tọa Minh đứng yên lặng giây lâu, Tổ bảo: “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, cái gì là bản lai diện mục của Thượng tọa Minh?”. Ngay câu nói đó, Thượng tọa Minh liền lãnh hội được. Bởi vì tâm vừa nghĩ lành, vừa nghĩ dữ là đã loạn rồi, là tâm vọng tưởng. Một khi khởi nghĩ thì luôn luôn là đối đãi, mà đối đãi là sanh diệt. Không còn mắc kẹt trong đối đãi nữa thì khuôn mặt thật muôn đời sẵn có của mình hiện bày. Cho nên Thiền sư Vô Nghiệp, khi có người hỏi bất cứ câu gì, ngài chỉ trả lời: “Chớ vọng tưởng!”.

 

Tinh thần Thiền này truyền mãi đến Việt Nam vào thế kỷ thứ mười ba. Vua Trần Nhân Tông, khi đi tu Ngài lên núi Yên Tử, lập một hệ phái tên là Trúc Lâm Yên Tử. Ngài có làm bài phú “Cư trần lạc đạo”. Trong đó, câu chót thế này “Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền”. Nghĩa là đối với cảnh mà không có tâm dính mắc thì đừng hỏi thiền chi nữa, vì ngay đó là thiền rồi. Đối với cảnh mà tâm không dính mắc tức là chỗ kinh Kim cang bảo sáu căn đừng dính với sáu trần. Do không dính mắc với sáu trần nên tâm an định. Đó là Thiền. Như vậy, Thiền của Thiền tông là cốt không cho tâm dính mắc với sáu trần. Đó là gốc, là đường lối căn bản của nhà Thiền.

 

Trước khi xuất gia, vua Trần Nhân Tông đã được học với ngài Tuệ Trung thượng sĩ. Khi sắp trở về lên ngôi Thái tử, Ngài hỏi Tuệ Trung chủ đích của thiền là gì. Tuệ Trung đáp thế này: “Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc”, nghĩa là nhìn lại mình là phận sự chính, đừng chạy ra bên ngoài. Quay lại ngay nơi tâm mình đó là bổn phận chính của người tu thiền, không thể hướng bên ngoài mà được. Ngay câu đó, nhà vua lãnh hội được yếu chỉ thiền. Phương hướng tu hành của Thiền tông là phải biết xoay lại nơi mình để nhìn thẳng nội tâm, biết cái gì hư dối buông xả, cái gì chân thật nhận lại, chứ không có gì xa lạ hết.

 

Vườn tháp chùa Hoa Yên, Yên Tử - Ảnh: T.Uyên

 

Tại sao tôi nói Thiền là cội gốc của đạo Phật? Bởi vì trong kinh A-hàm, Đức Phật dạy người tu hiền phải quán Tứ niệm xứ. Quán Tứ niệm xứ là quán thân bất tịnh, quán thọ là khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã. Bốn pháp quán ấy đều xoay lại mình, để thấy cho tường tận cho đúng. Như vậy tu Thiền theo giáo lý Nguyên thủy cũng phải phản quan. 

 

Nếu tu Thiền theo kinh Kim cang thì không cho sáu căn dính mắc với sáu trần. Rõ ràng kinh Phật từ hệ Nguyên thủy cho đến hệ Bắc tông đều dạy phải xoay lại, tự quán chiếu chính mình và tự gìn giữ, đừng để tâm phóng theo sáu trần. Cho đến kinh Lăng nghiêm thuộc Bắc truyền, có một đoạn kể lại ngài A-nan bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, cái gì là cội gốc của sanh tử luân hồi? Cái gì là cội gốc của Bồ-đề Niết-bàn?” Đức Phật im lặng. Lúc đó mười phương chư Phật đồng thinh bảo rằng: “Cội gốc luân hồi sinh tử là sáu căn của ông. Cội gốc Bồ-đề Niết-bàn cũng là sáu căn của ông”.

 

Như vậy, từ kinh Phật cho đến đường lối Thiền tông của chư Tổ rất phù hợp, rất thích ứng nhau. Vì vậy chúng tôi mới quả quyết Thiền tông là cội gốc của đạo Phật. Ngày nay chúng tôi cũng căn cứ theo đó tu và hướng dẫn Phật tử hâm mộ tu Thiền cùng tu. Do tính khế hợp từ Đức Phật cho đến chư vị Tổ sư nên tôi nói “Thiền là cội gốc của đạo Phật”. Mong tất cả ghi nhận và hiểu đúng điều này. Được vậy, chúng ta sẽ vững niềm tin hơn trong pháp tu Thiền của mình.

_______________

HT.Thích Thanh Từ

Nguồn: giacngo.vn

ĐỆ NHỊ TỔ THIỀN PHÁI TRÚC LÂM-THIỀN SƯ PHÁP LOA MỘT HIỆN TƯỢNG TRONG PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Trong lịch sử hơn hai ngàn năm Phật giáo du nhập vào Việt Nam, đã để lại khá nhiều những câu chuyện, những hiện tượng độc đáo. Tương truyền từ thời Vua Hùng Vương thứ ba, đã có vị sư Đạo Quang dạy Chử Đồng Tử học Phật pháp và truyền cho bảo bối.

 

Tượng Nhị tổ Pháp Loa trong Thiền viện Trúc Lâm, Đà Lạt, Việt Nam


Hiện nay dấu tích của vùng đất có tòa lâu đài mà Chử Đồng Tử và vợ là công chúa Tiên Dung con gái của vua Hùng đã từng ở vẫn còn, theo truyền thuyết, khi gặp nguy biến nhờ phép thuật được sư Đạo Quang truyền dạy và nhờ bảo bối sư trao Chử Đồng Tử và vợ cùng lâu đài đã bay về trời để lại một vùng đất trũng gọi là đầm Dạ trạch ngày nay.

 

Hiện tượng độc đáo khác, đó là câu chuyện về Thiền sư Từ Đạo Hạnh (1072-1116), truyền thuyết lưu rằng, sau khi Từ Đạo Hạnh chết, ông cho thiền sư Minh Không biết mình sẽ đầu thai thành con của Sùng Hiền Hầu là em trai của vua Lý Nhân Tông (Vị vua này không có con nên đã nhường ngôi cho con của Sùng Hiền Hầu là Lý Dương Hoán, người con này chính là Từ Đạo Hạnh đầu thai, sau là vua Lý Thần Tông). Khi làm Vua, Lý Thần Tông mắc bệnh lạ, người Vua mọc lông và gầm như cọp, quần thần phải dùng cũi vàng nhốt Vua. người cứu chữa được là đại sư Nguyễn Minh Không (1076 – 1141,đời thứ 13, dòng Tỳ ni đa lưu chi).

 

Năm vua Lý Thần Tông 21 tuổi, bỗng nhiên mắc bệnh biến thành cọp, cuồng loạn đáng sợ. Triều đình phải làm cũi vàng nhốt Vua trong đó. Khi ấy có đứa bé ở Chân Định hát rằng:

 

Nước có Lý Thần Tông,

Triều đình muôn việc thông.

Muốn chữa bệnh thiên hạ,

Cầu được Nguyễn Minh Không.

 

Lời hát đồn đến triều đình, triều đình sai người đi mời Đại sư về triều chữa bệnh cho Vua. Người do triều đình phái tới mời Đại sư, mới tới nơi Sư đã nói: “có phải là việc cứu cọp đó ư ?” viên quan chỉ huy hỏi: “Sao Đại sư biết trước ?” Sư bảo: “Ta đã biết việc này trước ba mươi năm.” Đại sư đến triều vào trong điện ngồi, lên tiếng bảo: “ đem vạc dầu lại, trong đó để một trăm cây kim, và nấu dầu cho sôi, rồi đem cũi Vua lại gần đó.” Mọi việc Sư dặn đã chuẩn bị xong, Sư cho tay vào vạc dầu sôi, lấy ra một trăm cây kim, găm kim vào thân vua và nói: “Quí là trời.” Tự nhiên lông, móng, răng cọp đều rụng hết, Vua khỏi bệnh, thân trở lại như cũ.

 

Các hiện tượng trên đều là truyền thuyết, riêng Đệ nhị tổ Thiền phái Trúc Lâm, Thiền sư Pháp Loa là có thật trong lịch sử, không huyền thoại, không dã sử, đây là hiện tượng khá độc đáo trong lịch sử Phật giáo và lịch sử Việt Nam, đã gần bảy trăm năm trôi qua, đến nay bài học về chọn người, dùng người hiền tài trong thời Trần vẫn còn nguyên giá trị rất lớn cho hậu thế nhiều bài học:

 

Lựa chọn nhị tổ Thiền phái Trúc Lâm, Thiền sư Pháp Loa là sơ tổ Trúc Lâm Đại sĩ Trần Nhân Tông. Trần Nhân Tông người sáng lập Thiền Phái Trúc Lâm một dòng thiền riêng có ở Việt Nam còn tồn tại và phát triển tới ngày nay. Trần Nhân Tông (1258- 1308), năm 16 tuổi làm Thái tử, năm 20 tuổi lên ngôi Vua, trên ngai vàng Trần Nhân Tông đã lãnh đạo quân dân Đại Việt đánh tan hai cuộc xâm lược của quân Nguyên Mông, tạo nên hào khí Đông A nức tiếng trong lịch sử Việt Nam, năm 35 tuổi nhường ngôi cho con rồi làm Thái Thượng hoàng để giúp con vững vàng trên ngôi vua trị vì thiên hạ, năm 41 tuổi xuất gia tu hành ở núi Yên Tử và lập nên Thiền phái Trúc Lâm.

 

Nhị Tổ Thiền Phái Trúc Lâm Pháp Loa (1284- 1330), năm 20 tuổi mới xuất gia theo Trần Nhân Tông, năm 21 tuổi được thọ giới tỳ kheo, năm 24 tuổi được sơ Tổ Trần Nhân Tông trao truyền y, bát để nối tiếp nhị Tổ Thiền Phái Trúc Lâm. Việc chọn Pháp Loa làm nhị Tổ là một hiện tượng lạ của Phật giáo Việt Nam lúc bấy giờ bởi: Đệ tử theo sơ Tổ rất đông, người thân cận bên cạnh sơ Tổ có tới bảy tám người, đều là những người tu trước Pháp Loa khá lâu,có người lớn tuổi hơn và học hành nhiều hơn Pháp Loa. Sơ Tổ chọn Pháp Loa để trao truyền vị trí nhị Tổ nối dòng Trúc Lâm, bỏ qua truyền thừa theo truyền thống thế thứ đối với các vị tu trước, có vị là bậc thầy của Pháp Loa; bỏ chứng chỉ học thuật, trước tác bởi Pháp loa mới xuất gia được bốn năm, việc học, việc trước tác chắc hẳn còn xa nhiều vị.

 

Qua việc lựa chọn của sơ Tổ đối với Pháp loa, chứng tỏ sự tin tưởng và tầm nhìn xa rộng của sơ Tổ đối với Phật giáo và đối với cá nhân Pháp Loa, đồng thời khẳng định tính linh hoạt theo tinh thần của Phật giáo ( khế lý, khế cơ, khế thời , khế xứ) trong sử dụng người hiền tài đáp ứng cho yêu cầu trước mắt và lâu dài của Phật giáo Việt Nam. Việc sơ Tổ chọn Pháp Loa một người tuổi đời rất trẻ, tuổi đạo rất ít trong một giáo đoàn Phật giáo bây giờ rất đông các bậc trưởng thượng, thể hiện quan điểm dùng người phải chọn người hiền tài, không câu nệ ở thế thứ, tuổi tác. Đây cũng là một trong những hiện tượng tiêu biểu của Phật giáo Việt Nam thời Trần. Điều chọn của sơ Tổ cho thấy Pháp Loa phải là bậc xuất chúng trong tu Phật ở nhiều mặt: Xuất sắc trong học thuật (dù mới học), trang nghiêm giới đức (dù còn trẻ) và khả năng tổ chức phát triển giáo hội Trúc Lâm lúc bấy giờ (dù chưa thể hiện), nhưng sơ Tổ đã nhìn thấy khả năng, tố chất tiềm ẩn trong con người Pháp Loa, để khi chính ngôi trong cương vị nhị Tổ, tố chất và tiềm năng ấy đã được tỏa sáng.

 

Và sơ Tổ chọn Pháp Loa quả thực không sai, 27 năm trong cương vị nhị Tổ Thiền phái Trúc lâm, Thiền sư Pháp Loa đã cống hiến cho Giáo hội Trúc Lâm và dân tộc trí tuệ, tâm đức của Ngài với kết quả đáng khâm phục: Xây dựng, củng cố tổ chức Giáo hội quy củ, thông qua quản lý chặt chẽ người tu hành, lập sổ bộ tăng tịch để quản lý tăng sĩ xuất gia; mở trường bồi dưỡng đào tạo tăng tài nhằm nâng cao năng lực tu tập và hoằng dương Phật pháp cho sư, biên soạn kinh sách để hệ thống hóa kinh điển, giáo lý của Đức Phật; đưa Phật giáo đi sâu vào đời sống nhân gian để cố kết nhân tâm vun bồi trí đức cho nhân dân,... Trong cương vị nhị Tổ 27 năm, Thiền sư Pháp Loa đã tôn tạo trên 1.300 pho tượng Phật, mở thêm 2 Đại già lam ( Côn Sơn và Thanh Mai), lập nhiều tháp, mở nhiều tăng đường, cho khắc in bộ Đại tạng kinh, độ cho gần 15.000 vị sư, đệ tử đắc Pháp hơn 3.000 vị, đại pháp sư có 6 vị,…[Thiền sư Pháp Loa- nhị Tổ Thiền Phái Trúc Lâm, Côn sơn Kiếp Bạc, 2015].

 

Nhị Tổ Thiền phái Trúc Lâm Pháp Loa là tấm gương tiêu biểu trong Phật giáo Việt Nam về quan điểm dùng người hiền, tài, là bài học giá trị về tính tùy duyên để đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển Phật giáo vững mạnh, là thể hiện sự cống hiến hết mình vì lợi ích chung của đạo pháp và dân tộc. Sự tiêu biểu ấy còn nguyên giá trị tới ngày nay để hậu thế nghiên cứu học tập./.

________________

TS. Bùi Hữu Dược

Nguồn: btgcp.gov.vn

TINH THẦN NHẬP THẾ CỦA PHẬT GIÁO ĐỜI TRẦN



Trải qua các triều đạiđạo Phật đều thể hiện nét riêng biệt đặc thù của Phật giáo Việt Nam. Từ đó cũng có thể cho rằng con người và hoàn cảnh xã hội mỗi thời kỳ cũng có thể cho rằng con người và hoàn cảnh xã hội mỗi thời kỳ cũng là một trong những nhân tố quan trọng góp phần quy định bản chất của Phật giáo Việt Nam.

DẪN NHẬP

Nhìn lại dòng lịch sử Phật giáo Việt NamĐạo Phật đã du nhập vào Việt Nam rất sớm. Ngay từ thế kỷ thứ II, III trước công nguyên, đã có các sư Ấn – Hoa theo các thương gia du nhập vào và đã hình thành trung tâm truyền giáo tại Luy Lâu, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh ngày nay. Từ đó Đạo Phật đi vào lòng dân tộc theo bao thăng trầm của lịch sử. Nhiều vị vua khi chiến tranh đã đóng góp công sức của mình vào việc giữ nước, khi hòa bình lại trở về với đời sống tu hành đạm bạc nhưng khi đất nước cần vẫn không bỏ mặt. Trong những vị vua ấy phải kể đến chính là các vị vua nhà Trần, đã ba lần chiến thắng quân Nguyên Mông, tạo nên hòa khí Đông A, mà tiêu biểu là vua Trần Nhân Tông, và cũng là một vị đã khai sáng nên nên dòng thiền Trúc Lâm khi trở thànhmột người xuất gia.

Dưới thời nhà Trần đặc biệt là triều đại của vua Trần Nhân Tông dân chúng được an cư lạc nghiệpđâu đâucũng nghe tiếng chuông chùa vang vọng và Phật giáo đã gắn liền với dân tộc qua nhiều thăng trầmthịnh suyvinh nhục. Vì thế mà đạo phật lúc bấy giờ được xem như là quốc giáo. “Tinh thần nhập thế của Đạo Phật của Phật giáo đời Trần” đã cho thấy đạo Phật không phải là đạo yếm thế, mà muốn tìm con đường giác ngộ không thể từ bỏ thế gian này mà giác ngộ được. Với tinh thần Bồ tát đạo thì người con Phật càng phải dấn thân vào cuộc sống, đồng sự với chúng sanh, vui với niềm vui của đất nước, đau với nỗi đau của dân tộc, nhưng khi thanh bình thì vẫn trở về với cuộc sống tu hành thoát tục. Chính vì vậy mà người viết đã chọn đề tài này. Nguyễn Tài Thư trong Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam cũng đã khẳng định: “Nếu như nhập thế là một khuynh hướng tư tưởng của một học thuyết, một tôn giáo chủ trương tham gia các hoạt động chính trị và giải quyết các vấn đề chính trị xã hội thì Phật giáo không phải là một Tôn giáo nhập thế - trái lại nó là tôn giáo xuất thế hay còn gọi là yếm thế.”

Về phương pháp nghiên cứu người viết dùng phương pháp phân tích nhũng sự kiện hay thông tin có sẵn mà phân tích chúng để có được một sự đánh giá tài liệu một cách có phê phán. Bên cạnh đó có sử dụng một số phương pháp khác dựa trên mục tiêu nghiên cứu hay hoàn cảnh nghiên cứu để làm sáng tỏ đề tài mong rằng sẽ đóng góp một phần nào làm rõ đề tài vì trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc Việt Nam thì Phật giáo và dân tộc luôn luôn song hành. Đó cũng là một nét văn hóa rất riêng của Việt Nam và cũng là nét riêng của Phật giáo từ khi Đức Thích Ca khai sáng cho đến các vị đệ tử truyền thừa trải qua bao nhiêu thời gian bao nhiêu không gian vẫn không làm rơi một giọt máu nào mà ngược lại còn làm rạng danh cho dân tộc ấy.

NỘI DUNG

1. BỐI CẢNH LỊCH SỬ

1.1. TÌNH HÌNH NƯỚC ĐẠI VIỆT TRƯỚC TRIỀU ĐẠI NHÀ TRẦN

Năm 938, Ngô Quyền người Đường Lâm đã chiến thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng đến năm 939, ông bắt đầu xưng vương, hiệu là Tiền Ngô Vương, đóng đô ở Loa Thành, lập Dương thị làm hoàng hậu, đặt trăm quan, chế định triều nghi phẩm phục. Vua mưu tài đánh giỏi, làm nên công tái tạo, đứng đầu các vua. Năm 944 Ngô Quyền mất, ở ngôi 6 năm, thọ 47 tuổi. Năm 945, Khi Ngô Quyền mất, Dương Tam Kha anh (có sách chép là em) của Dương hoàng hậu cướp ngôi xưng là Bình Vương. Con trưởng của Ngô Vương là Xương Ngập sợ, chạy về Nam Sách Giang lánh nạn. Tam Kha lấy con thứ hai của Ngô Vương là Xương Văn làm con mình. Năm 950 Xương Văn con thứ của Ngô Quyền bèn quay về đánh úp Tam Kha khôi phục lại cơ nhiệp của Tiền Ngô Vương. Mọi người muốn giết đi Bình Vương nhưng Xương Văn nói: "Bình Vương đối với ta có ơn, sao nỡ giết", bèn giáng làm Chương Dương Công, nhân đó ban cho thực ấp (nay là Chương Dương độ). Năm 951, Xương Văn lên ngôi xưng là Nam Tấn Vương (Hậu Ngô Vương) sai sứ đón anh là Xương Ngập về kinh, cùng trông coi việc nước. Xương Ngập xưng là Thiên Sách Vương. Vua nối được kỷ cương hoàng gia, khôi phục cơ nghiệp cũ. Năm 965, vua đem quân đi đánh hai thôn Đường và Nguyễn ở Thái Bình, mới vào đến cõi, đỗ thuyền lên bộ đánh, bị phục binh tay nỏ bắn trúng chết. Năm 966, Nam Tấn Vương mất.

Năm 967, bấy giờ trong nước không có chủ, 12 sứ quân tranh nhau làm trưởng, không ai chịu thống thuộc vào ai. Đinh Bộ Lĩnh người động Hoa Lư, châu Đại Hoàng con của Thứ sử châu Hoan Đinh Công Trứ đã dẹp loạn thống nhất thiên hạ. Sau khi dẹp loạn 12 sứ quân năm 968 Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi xưng là Đinh Tiên Hoàng, vua tài năng sáng suốt hơn người, dũng cảm mưu lược nhất đời, song không biết dự phòng, không giữ được trọn đời, tiếc thay! Vua bị Chi hậu nội nhân Đỗ Thích giết vua ở sân cung. Đinh quốc công Nguyễn Bặc sai người bắt đem chém Đỗ Thích, đập nát xương, băm thịt ra từng mảnh, chia cho người trong nước ăn, chẳng ai không tranh lấy mà nhai nuốt. Đinh Tiên Hoàng ở ngôi 12 năm (968-979), thọ 56 tuổi (924-979). Khi ấy Đinh quốc công Nguyễn Bặc, Ngoại giáp Đinh Điền, cùng thập đạo tướng quân Lê Hoàn rước Vệ Vương Toàn lên ngôi Hoàng đế, tôn gọi vua là Tiên Hoàng Đế, tôn Dương Thị làm Hoàng thái hậu. Đinh Toàn còn thơ ấu phải nối nghiệp lớn gian nan, cường thần nhiếp chính, người trong nước lìa lòng, nhà Đinh bèn mất, vua thọ 18 tuổi. Khi vua Tiên Hoàng Đế nối ngôi khi mới 6 tuổi. Lê Hoàn nhiếp chính, làm công việc như Chu Công, tự xưng là Phó Vương.

Bấy giờ quân Tống kéo sang, vì vua còn nhỏ không thể đảm đương việc nước, Thái hậu và triều thần đã mời Lê Hoàn lên ngôi hoàng đế, đổi niên hiệu là Thiên Phúc năm đầu (980), giáng phong vua làm Vệ Vương. Lập Nam Phong Vương Long Việt làm hoàng thái tửgia phong Long Đĩnh làm Khai Minh Đại Vương. Trước đó Long Đĩnh xin làm thái tử, vua có ý muốn cho. Đình thần nghị bàn cho rằng không lập con trưởng mà lập con thứ là không phải lễ. Vua bèn thôi. Tháng 3 năm 1005, vua băng ở điện Trường Xuân, gọi là Đại Hành Hoàng Đế, sau nhân đó dùng làm miếu hiệu mà không đổi. Sau khi vua Lê Đại Hành băng hà, Lê Long Việt lên ngôiđược 3 ngày thì bị em cùng mẹ là Long Đĩnh giết, thọ 23 tuổi (983-1005). Bầy tôi điều chạy trốn, duy có Điện tiền quân là Lý Công Uẩn ôm xác mà khóc. Long Đĩnh lên ngôi, truy đặt thụy cho vua là Trung Tông Hoàng Đế, cho Công Uẩn làm Tứ sương quân phó chỉ huy sứ.

Lê Long Đĩnh làm vua bạo ngược với dân chúng để thỏa lòng hung ác, vì vua mắc bệnh trĩ phải nằm mà coi chầu nên gọi là Ngọa Triều (Dã sử chép: vua say đắm tửu sắc phát ra bệnh trĩ). Khi vua Ngọa Triều băng hà, cả triều thần tôn xưng Lý Công Uẩn lên làm vua trong đó có sự hổ trợ của Thiền sư Vạn Hạnh, một vị cao tăng lúc bấy giờ đã khởi sác cho một triều đại mới và cho cả Phật giáo. Năm 1028 Lý Thái Tổ băng, thọ 55 tuổi, con trưởng là Lý Đức Chính nhờ có Phụng Hiểu trung dũng, đồng lòng cứu nạnlên ngôi hoàng đế, xưng là Thái Tông. Vua là người trầm mặc, cơ trí, biết trước mọi việc, giống như Hán Quang Vũ đánh đâu được đấy, công tích sánh với Đường Thái Tông. Năm 1054 băng ở điện Trường Xuân, thọ 55 tuổi. Khi Lý Thái Tông băng, con trưởng là Nhật Tôn bèn lên ngôi báu, xưng là Thánh Tôn hoàng đế. Vua khéo kế thừa, thực lòng thương dân, trọng việc làm ruộng, thương kẻ bị hình, vỗ về thu phục người xa, đặt khoa bác sĩ, hậu lễ dưỡng liêm, sửa sang việc văn, phòng bị việc võ, trong nước yên tĩnh, đáng gọi là bậc vua tốt. Năm 1072, vua băng hà, con trưởng của Thánh Tông, là Càn Đức lên ngôi hoàng đế, xưng là Nhân Tông,. Vua trán dô mặt rồng, tay dài quá gối, sáng suốt thần võ, trí tuệ hiếu nhân, nước lớn sợ, nước nhỏ mến, thần giúp người theo, thông âm luật, chế ca nhạc, dân được giàu đông, mình được thái bìnhmộ đạo Phật, thích điềm lành, là vua giỏi của triều Lý, ở ngôi 56 năm, thọ 63 tuổi (1066 – 1127), băng ở điện Vĩnh Quang. Năm 1128 Dương Hoán, cháu gọi Thánh Tông bằng ông, cháu gọi Nhân Tông bằng bác, con của Sùng Hiền hầu, lên ngôi lúc 12 tuổi, xưng là Thần Tông hoàng đế. Vua khi mới lên ngôi hãy còn trẻ dại, đến khi lớn lên, tư chất thông minhđộ lượng nên việc sửa sang chính sự, dùng người hiền tài, thủy chung đều chính, không gì sai lệch. Tuy thân mang ác tật nhưng rồi chữa lành, cũng là nhờ có ý trời cả, tôn sùng đạo Phật. ở ngôi 11 năm, thọ 23 tuổi. Năm 1138 vua băng hà ở điện Vĩnh Quang, Thiên Tộ là con đích trưởng của Thần Tông, mẹ là Hoàng hậu họ Lê, lên ngôi khi mới 3 tuổi, xưng là Anh Tông. Trong việc phế lập, vua không mê hoặc lời nói của đàn bà, ký thác được người phụ chính hiền tài, có thể gọi là không thẹn với việc gánh vách. Song không phân biệt được kẻ gian tà, hình phạt không sáng suốt, cho nên trời xuống tai biến để răn, giặc cướp nổi lên, giềng mối rối loạn, không thể nói xiết. Ở ngôi 37 năm (1138-1175), thọ 40 tuổi (1136-1175), băng ở điện Thụy Quang. Thái tử Long Trát con thứ sáu của Anh Tông lên ngôi trước linh cữu, bấy giờ mới lên 3 tuổi, xưng là Cao Tông, tôn mẹ là Đỗ thị làm Chiêu Thiên Chí lý hoàng thái hậu. Tô Hiến Thành làm thái uý. Vua chơi bời vô độ, chính sự hình pháp không rõ ràng, giặc cướp nổi như ong, đói kém liền năm, cơ nghiệp nhà Lý từ đấy suy. ở ngôi 35 năm (1176- 1210), băng ở cung Thánh Ngọ. Hoàng thái tử Sảm lên ngôi ở trước linh cữu bấy giờ mới 16 tuổi, xưng là Huệ Tông, tôn mẹ là Đàm thị là Hoàng thái hậu, cùng nghe chính sự. Vua gặp buổi loạn lạc, giặc cướp tứ tung, mình bị bệnh nặng, không biết sớm cầu con nối, truyền ngôi cho Chiêu Hoàng,. Lý Chiêu Hoàng lên ngôi được hai năm truyền ngôi cho chồng là Trần Cảnh. Họ Lý bèn mất, lịch sử lại sang trang, từ đầu bắt đầu thời đại của nhà Trần. [1]

1.2. TRIỀU ĐẠI NHÀ TRẦN

Năm 1226, Trần Cảnh lên ngôi xưng là Thái Tông Hoàng Đế, sách phong Chiêu Hoàng làm hoàng hậu, đổi gọi là Chiêu Thánh. Phong Trần Thủ Độ làm Thái sư thống quốc hành quân vụ chinh thảo sư. Phế thượng hoàng Huệ Tông nhà Lý ra ở chùa Chân Giáo, gọi là Huệ Quang đại sư. Lúc nhà Lý suy yếu nhiều người nỗi loạn, Trần Thái Tông sai Trần Thủ Độ đem quân đi đánh Nguyễn Nộn, Đoàn Thượng và các Man ở vùng núi Tản Viên. Mùa thu, tháng 8, ngày mồng 10, Trần Thủ Độ bức tử Lý Huệ Tông ở chùa Chân Giáo sợ dân chúng nhớ thương vua cũ mà nỗi loạn hồng đoạt lại vương triều nên “nhổ cỏ phải nhổ tận gốc”. Giáng hoàng hậu của Huệ Tông là Thiên Cực công chúa phong làm Linh Từ quốc mẫu, gả cho Trần Thủ Độ. Thủ Độ đưa các cung nhân và con gái họ hàng nhà Lý Huệ Tông gả cho các tù trưởng người Man. Vua Trần Thái Tông khoan nhân đại độ, có lượng đế vương, cho nên có thể sáng nghiệp truyền dòng, lập kỷ dựng cương, chế độ nhà Trần thực to lớn vậy. Song quy hoạch việc nước đều do Trần Thủ Độ làm và chốn buồng the cũng có nhiều rối rem. Lấy vợ của anh mình là Trần Liễu phong làm Thuận Thiện hoàng hậu, sau lại đem công chúa Chiêu Thánh gả cho Lê Phụ Trần làm Ngự sử đại phu. Ngày 24, tháng 2 năm 1258, vua nhường ngôi cho Hoàng thái tử Hoảng, lui ở Bắc Cung. Thái tử lên ngôi Hoàng đế, đổi niên hiệu là Thiệu Long năm thứ 1, đại xá thiên hạ. Vua xưng là Nhân Hoàng, tôn thượng hoàng là Hiển Nghiêu Thánh Thọ Thái Thượng Hoàng Đế. Vua trung hiếu nhân thứ, tôn hiền trọng đạo, cha khai sáng trước, con kế thừa sau, cơ nghiệp nhà Trần được bền vững.[2]

2. HÀO KHÍ ĐÔNG A

2.1. HÀO KHÍ ĐÔNG A QUA TINH THẦN CỦA CÁC VUA NHÀ TRẦN

Nhà Trần thừa kế truyền thống bảo vệ và xây dựng đất nước Đại Việt trên cơ sở ý thức tự lập , tự cường dân tộc. Ba lần giặc Nguyên - Mông sang xâm lược nước ta là ba lần chúng đều đại bại. Dưới thời Trần, đất nước hoà bình, thịnh trịnhân dân sống ấm no. Hào khí Đông A là hào khí đời Trần, do chữ Trần gồm bộ A và chữ Đông hợp thành .Tuy nhiên, nói tới hào khí Đông A không chỉ nói riêng hào khí đời Trần mà còn chỉ hào khí của cả giai đoạn lịch sử từ thế kỷ X dến thế kỷ XV. Biểu hiện của hào khí Đông A là tinh thần tự lập, tự cường, lòng yêu nước, khát vọng lập công giúp nước; ý chí quyết chiến, quyết thắng mọi kẻ thù. Bấy giờ quân Nguyên – Mông đã chiếm lấy Trung Hoa, luôn cả các nước Đông Âu và Liên Xô. Chúng cũng muốn chiếm nước ta nên nhiều lần đã cho người sang xâm lấn. Tháng 12, ngày 12, năm 1257, tướng Nguyên Ngột Lương Hợp Đải xâm phạm Bình Lệ Nguyên. Vua Trần Thái Tông đích thân thân hành đốc chiến, xông pha tên đạn. Quan quân hơi núng, vua ngoảnh trông tả hữu, chỉ có Lê Phụ Trần một mình một ngựa, ra vào trận giặc, sắc mặt bình thản như không. Như vậy mới thấy được tấm lòng của vua thương nước thương dân, không màn đến của mình, đã ngự giá than chinh bất chấp mọi hiểm nguy.

Vua Trần Nhân Tông được truyền ngôi năm 1278 – 1279, nối nghiệp vua cha Trần Thánh Tôn. Mặc dù nhiều lần từ chối ngôi vua muốn nhường ngôi lại cho em là Đức Việp để làm tròn sự nghiệp xuất thế, song hoàng triều không đồng ý. Bắt buộc vua Trần Nhân Tông lên ngôi chấp chính từ năm 1279 – 1294. Trong 14 năm lên ngôigặp đất nước bị ngoại xâm do giặc Nguyên – Mông Cổ từ phương Bắc tràn xuống xâm lấn Đại Việt. Trước tình thế khó khăn, Vua Trần Nhân tông không còn cách nào lựa chọn khác là triệu tập quần thần và thứ dân văn võnhất tề đứng lên chống ngoại xâm bảo vệ đất nước, nền độc lập dân tộc. Với tinh thần cương quyết dũng cảmvì dân vì nước vì độc lập tự do, toàn dân hưởng ứng đứng lên đoàn kết một lòng, lại thêm có nhiều tướng lãnh oai hùng hào kiệt như : Trần Hưng Đạo, Trần Bình Trọng, Trần Nhật Duật, Trần Quốc Toản v.v... là những tướng lãnh ưu tú tài ba chiến thắng giặc Nguyên Mông Cổ làm Hốt Tất Liệt hồn vía bay theo mây gió, mộng đô hộ Đại Việt bị tan vỡ thảm hại.

2.2. HÀO KHÍ ĐÔNG A QUA THƠ CỦA CÁC TƯỚNG SĨ.

Năm 1282 quân Nguyên đòi mượn đường đánh Chiêm Thành, nhưng thực ra định xâm lược nước ta. Trước tình hình ấy, vua Trần mở hội nghị Bình Than bàn kết hoạch đánh giặc. Sau đó, Phạm Ngũ Lão và một số vị tướng được cử lên biên ải phía Bắc để trấn giữ đất nước. Hoàn cảnh lịch sử chắc chắn đã ảnh hưởng nhiều dến hào khí trong bài thơ. Hào khí dân tộc thể hiện qua tư thế, hành động của người trai Đại Việt thể hiện khát vọng lập công giúp nước, tinh thần trách nhiệm đối với dân tộc:

“Hoành sóc giang sơn cáp kỷ thu,
Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu.
Nam nhi vị liễu công danh trái.
Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu.”

(Múa giáo non sông trải mấy thu
Ba quân hùng khí ắt sao Ngưu
Công danh nam tử còn vương nợ
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu)

Cuối năm 1284, quân Nguyên – Mông do Thoát Hoan cầm đầu ồ ạt tấn công nước ta lần thứ II. Trước sức mạnh của quân giặc, Thái thượng hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông phải rời kinh đô đi lánh nạn. Nhưng chỉ mấy tháng sau, vào tháng 5-1285 (tháng 4 năm Ất Dậu ), quân ta đã phản công bất ngờ, chiến thắng lớn ở trận Hàm Tử, tháng 7 – 1285 (tháng 6 năm Ất Dậu), ta lại thắng lớn ở Chương Dương. Kẻ thù thất bại hoàn toàn. Sau chiến thắng, Trần Quang Khải là người hộ giá hai vua Trần trở về kinh đô. Trong không khí ngày khải hoàn, Trần Quang Khải đã cảm hứng làm bài thơ này để tái hiện lại khí thế chiến thắng của dân tộc, bày tỏ niềm tự hào của tác giả:

“ Đoạt sóc Chương Dương độ.
Cầm Hồ Hàm Tử quan.
Thái bình nghi nỗ lực
Vạn cổ thử giang san.”

(Chương Dương cướp giáo giặc
Hàm Tử bắt quân thù
Thái Bình nên gắng sức
Non nước ấy ngàn thu)

Khi đất nước lâm nguy các vua cùng các quan văn vỏ cho đến người dân đều một lòng cứu nước cho thấy Phật giáo từ khi du nhập đến dời Lý – Trần, từ xưa đạo phật và dân tộc luôn cùng song hành.

3. PHẬT GIÁO ĐỜI TRẦN VỚI CHỦ TRƯƠNG NHẬP THẾ TRONG SỰ NGHIỆP GIỮ NƯỚC VÀ DỰNG NƯỚC

3.1. KHÁI NIỆM NHẬP THẾ

Khái niệm nhập thế được thể nhập vào đời sống tâm thức người Việt Nam ngay từ khi đạo phật du nhập vào. Chính Mâu Tử đã đưa ra tinh thần nhập thế với khái niệm nhập thế như sau: “Ở trong nhà thì hiếu thảo với mẹ cha, ra ngoài thì cứu nhân giúp nước, khi ngồi một mình thì tự hoàn chỉnh bản than”, do đó khái niệm nhập thếkhông chỉ dành riêng cho Nho giáo như một vài ý kiến của trường phái Nho gia đã nói. Thật ra khái niệm nhập thế đã được đức Phật đã nói từ lâu: “Này các tỳ kheo vì hạnh phúcan lạc cho quần sinhvì lợi ích cho chư thiên và loài người, hãy đi mỗi người một ngã, đừng đi hai người trên một đường, vì lòng thương tưởng cho đời hãy đem chánh pháp đến gieo rắc khắp nơi”[3]. Trong các thiền đường Việt Nam khái niệm nhập thế được hiểu: “Phù xuất gia giả, phát túc siêu phương, tâm hình dị tục, thiệu long thánh chủng, chấn nhiếp ma quân, thượng báo tứ ân, bạc tế tam hữu”[4]. (Phàm là người xuất gia, bước đi một bước vượt đến chân trời cao rộng, hình tướng và tâm hồn khác với người thế tục, làm cho dòng thánh hưng long, nhiếp khục ma quân, để trên báo đềnbốn ơn nặng, dưới cứu khổ cho ba đường). Đó chính là tinh thần nhập thế của Phật giáo.

3.2. TINH THẦN NHẬP THẾ CỦA PHẬT GIÁO THỜI TRẦN

"Tinh thần Nhập thế của Phật giáo thời Trần” xuất phát từ lời dạy của Quốc sư Viên Chứng với vua Trần Thái Tông là người đi đầu thực hiện đã tạo thành làn sóng Phật Giáo Việt Nam mang vị mặn dân tộc, phả vào tất cả mọi bờ mé tâm thức của từng người dân Việt và kết tụ nên tiếng vang lớn “Phật giáo đời Trần là quốc giáo” trong lịch sử Phật giáo Việt Nam. Đến đời vua thứ ba triều Trần là Trần Nhân Tông, vừa thừa tiếp dòng chảy “Nhập thế” ấy và vừa thừa sức sáng tạo đã làm nên đợt sóng thần bất diệttác động lớn đến nền văn hóa xã hội Đại Việt thời Trần. Đó là sự ra đời của dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử mà chính Ngài làm Đệ Nhất Tổ. Căn cứ vào lịch sử Phật giáo Việt Namchúng ta sẽ thấy: rõ ràng không phải ngẫu nhiên đạo Phật khi du nhập vào Việt Nam lại có thể trở thành thứ tôn giáo tín ngưỡng của đa số dân chúng Việt Nam, thở cùng nhịp đập Việt Nam, gắn chặt với văn hóa Việt Nam và hòa quyện cùng vận mệnh thịnh suy của Việt NamChắc chắn phải nhờ một nét đặc thù nào đó đã kết tụ nên sắc thái Phật giáo Việt Nam như thế. Người ta có thể khẳng định đó là do tinh thần khế lý khế cơ hoặc tính vô ngãtừ bi bác áibình đẳngtrí tuệ,...của đạo PhậtTuy nhiên, một điểm son đặc biệt bao trùm lên tất cả, ấy là “tinh thần nhập thế” của đạo Phật. Nhất là tinh thần ấy lại nở nụ kết hoa ở thời Trần – một thời để lại ấn tượng sâu đậm nhất trong lịch sử Phật giáo Việt Nam.

Thật vậy, chính giai đoạn thời Trần với luồng gió “nhập thế” lớn mạnh của Phật giáo đã dựng nên một bối cảnh huy hoàng của lịch sử Việt Nam trải dài gần hai trăm năm, tạo nên những trang sử hào hùng oanh liệt của dân tộc Đại Việt nhỏ bé đã ba lần chiến thắng đội quân xâm lược vô địch Nguyên – Mông đương thời. Một thời đạiđiển hình về những vị vua anh minh: Trần Thái TôngTrần Nhân Tông...mãi mãi lưu danh trong hậu thế cùng những vị tướng tài ba, trung hiếu: Trần Thủ Độ, Trần Hưng Đạo, Phạm Ngũ Lão, Trần Quốc Toản... quyết một lòng gìn giữ xã tắc. Một thời đại Phật giáo Việt Nam chuyển sang bước ngoặt mới mà đỉnh cao là sự khai sáng dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử đứng đầu là Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông. Ngài đã đắc đạo nhờ vị thầy lãnh đạo tinh thần phong cách siêu phóng Tuệ Trung Thượng Sĩ và các đệ tử kế thừa xuất sắc: Pháp LoaHuyền QuangKim Sơn,...Không những thế, chính tinh thần nhập thế của Phật Giáo thời Trần cũng đã làm cho bộ mặt xã hội Việt Nam rực rỡ cả về văn hóa mỹ thuật lẫn quân sự chính trị. Phải nói rằng Phật giáo thời Trần với tinh thần nhập thế đã gây nên âm hưởng vang dội không chỉ một thời mà còn vọng mãi đến bây giờ và tới ngàn sau.

Kế thừa và phát huy truyền thống “Đạo Phật không rời cuộc sống” này, các vị vua thiền sư thời Trần đã “đem đạo Phật đi vào cuộc đời” một cách hữu hiệu từ phương châm hành động: “Lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tấm lòng của thiên hạ làm tấm lòng của mình”, và đã hình thành “Tinh thần nhập thế tích cực” nổi bậc của lịch sử Phật giáo Việt Nam. Tuy nhập thế không phải là tính chất riêng có của Phật giáo thời Trần nhưng ảnh hưởng từ vai trò nhập thế đã đưa Phật giáo thời Trần vươn tới đỉnh cao của lịch sử tư tưởng nhân loại, cũng như lịch sử Việt Nam vươn tới đỉnh cao trên vũ đài chính trị. Nếu vai trò nhập thế của nhà chính trị là chăm sóc dân tìnhgiữ gìn yên bình cho xã tắc thì vai trò nhập thế của người tu Phật là đem ánh sáng đạo Phật vào đời để giúp đời. Những nhà nhập thế tiêu biểu thời Trần như: Trần Thái TôngTrần Nhân Tông,...nhờ có sự kết hợp hài hòa đủ cả hai yếu tố nhập thế này nên mới tạo được thế đứng hiên ngang của lịch sử Việt Nam thế kỷ XIII về những cuộc chiến thắng thần thánh. Bởi vì nếu cả hai vai trò nhập thế trên không cùng được thể hiện thì không dễ gì các vị vua - thiền sư Đại Việt xứng đáng được lưu truyền. Về điểm này, so với vị vua Phật tử Lương Võ Đế đời Đường ở Trung Hoa cho thấy: cũng là vua, cũng là Phật tử thuần thànhthuyết pháptuyệt hay; thế nhưng, khi đất nước Trung Hoa lâm cơn khói lửa, thay vì xông pha trận mạc nhà vua lại đóng cốc tĩnh tu đã đưa đến thảm họa đau thương cho đất nước. Đối với các vị vua - thiền sư thời Trần, dù phải tận dụng mọi lúc rảnh rang để nghiên tầm kinh điển vẫn sẵn sàng “cởi áo cà sa, khoát chiến bào” khi bờ cõi tổ quốc lâm nguy. Cho thấy rằng, đạo Phật chưa bao giờ là đạo yếm thế mà là đạo nhập thế tích cực. Người tu Phật đúng nghĩa không thể là kẻ chán đời mà trái lại chính họ phải là những người can đảm, yêu đời, đầy đủ nghị lựcý chí để dấn thân, giáp mặt và chuyển hóa cuộc đời. Bởi vì lịch sử luôn là một bằng chứng sống động hùng hồn mà không ai có thể xóa mờ hay bác bỏ được, đó là một thời vàng son của đất nước và cũng là một thời vàng son của Phật giáo Việt Nam.

3.3. HÌNH ẢNH CON NGƯỜI ĐẠI VIỆT THỜI BÌNH THAM GIA XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC

Hình ảnh người con Đại Việt trong thời bình tham gia xây dựng đất nước trong thời Trần là nét riêng góp phần tạo nên một bầu không khí về sau dư¬ờng như¬ không còn tìm thấy lại; cũng chính nó đã góp phần tạo nên bản sắc ¬ưu mĩ của văn hóa Việt Nam trong năm thế kỷ tự chủ buổi đầu này. Có thể coi đây là kết quả của nhiều điều kiện, nhiều nhân tố khác nhau, nhưng trong đó, theo chúng tôi, có một điều kiện hết sức quan trọng - đó là sự cởi mở về quan điểm chính trị của các chính quyền nhà nước đư¬ơng đại thuở ấy, do bản lĩnh, tầm nhìn, và sự mẫn cảm phi thường của ngư¬ời nắm vận mệnh đất nư¬ớc thấu hiểu đ¬ược các yêu cầu của lịch sửthể hiện cụ thể hóa bằng nhiều chủ trương chính sách của triều đình. Vua Trần Nhân Tông bực minh quânlãnh đạo tài ba , đem lại hoà bình an cư lạc nghiệp, Vua ban sắc lệnh đại xá tội phạm, lấy đất công ban thưởngcho quân dân có công dẹp giặc, và giảm miễn thuế nông nghiệp tạo điều kiện thuận lợi cho nông dân hăng háisản xuất lúa gạo, nông sản, để dân được no cơm ấm áo, dân có giàu thì nước mới mạnh. Những công việc song song và đan cài vào nhau suốt cả thời kỳ này, bao giờ cũng biểu hiện sự đối xử cân bằng vị thế của Phật giáo như¬: vừa cho dựng chùa, vừa cấp độ điệp cho sư¬ sãi, đặt giai phẩm cho tăng đạo, đem đạo vào trong cuộc sống làm cho quốc thái dân an, người người an cư lạc nghiệp.

Vua Trần Nhân Tông vẫn quan tâm bồi dưỡng nhân cách bậc "nhân nhân quân tử” theo các tiêu chuẩn của đạo Nho cho ông vua con kế vị và cho hàng ng̣ũ bề tôi r¬ường cột của triều đình. Mặt khác, ông cũng lo tổ chức cho nhiều đại thần công khanh thụ giới ¬ưu bà tắc, tức là không xuất gia nhưng vẫn làm Phật tử tại giaĐặc biệt, mở các khoa thi tuyển dụng hiền tài để giúp nước giúp dân, chủ trương dung hợp đạo Nhođạo Lão với Đạo Phật, không hề đi kèm với những biện pháp cứng rắn, mệnh lệnh, mà đ¬ược thực hiện khá uyển chuyển, lấy việc thuyết phục và tự nguyện làm phư¬ơng châm hàng đầu.

4. TINH THẦN THOÁT TỤC QUA BÀI “CƯ TRẦN LẠC ĐẠO PHÚ” CỦA TRẦN NHÂN TÔNG

Hoàn thành sứ mệnh cương vị vua chúa của một đất nước, Vua Trần Nhân Tông tiến lên một bước nữa là bước đường giải thoát như người đã hoài bão lúc chưa lên ngôi hoàng đế. Người nhường ngôi lại cho con là Trần Anh Tông, cắt ái từ thân theo hạnh từ bi trí tuệ giác ngộ giải thoát của Phật Thích Ca tu thiền nhập địnhtrên núi Yên Tử, đem đuốc tuệ sáng soi trong lòng dân Việt. Ngài sáng tác nhiều bài phú để giáo huấn thần dân bài “Cư Trần Lạc Đạo” là một bài trong những bài phú đáng được lưu tâm, nói lên tâm tư nguyện vọng ĐỜI và ĐẠO, tục đế và chơn đế liên quan đến đời sống con người trần thế và xuất thế giải thoát. Ngài nói :

“Ở đời tu đạo hãy tuỳ duyên
Đói đến thì ăn mệt ngủ liền
Trong nhà có báu thôi tiềm kiếm
Đối cảnh không tâm chớ hỏi thiền “.

Tuy nhiên vua Trần Nhân Tông nhận thấy cuộc sống trần gian dù cao đẹp giàu sang vinh quang nó không tồn tại vĩnh cửu mãi, một ngày nào đó vô thường đến nó sẽ bị tan mất không khác nào như sương đầu ngọn cỏ, như hoa phù du sớm nở tối tàn, chỉ có tinh thần đạo đức, vui với đạo yêu đạo làm theo đạo tùy theo duyên sống động tùy hoàn cảnh xứ sở đưa đời sống cao đẹp hơn vĩnh viễn hơn đó là con đường giác ngộ giải thoát cuộc sống sanh già bệnh chết. Đúng như lời Phật Thế Tôn chỉ giáo: Tùy duyên bất biếnbất biến tùy duyên "đời và đạo, sáng và tối, chúng sanh và Phật, phiền não và Bồ đềsanh tử và Niết bàn" chỉ là một tánh không có hai, chỉ khác người được giác ngộ gọi là Phật, người còn vô minh trược gọi là chúng sanh, có đuốc tuệ là sáng tỏkhông đuốc tuệ là mờ tối.

Đời sống tốt đẹp văn minh hoàn thiện chính là người vui với đạo sống với đời , có đạo mà không có đời thì đạo truyền cho ai, có đời mà không có đạo thì đời khô cằn không tinh thần sống động, khác nào như cây đứng giữa rừng đồng trống khô khan . Đói ăn, khác uống, mệt ngủ là nếp sống thường tình của dân sinh. Người đời thường nói “có thực mới vựt được đạo” có sức khỏe là nhờ sự bồi dưỡng ăn uống và nghĩ ngơi thanh thoát, có sức khỏe mới tạo nên sự nghiệp đời cũng như đạo mới được vinh quang sáng rạng, đó có nghĩa là tùy duyênhoàn cảnh của nhơn sinh xã hội . Chính hai câu thơ đầu của bài thơ phú bốn câu là nói lên sự cần thiết của đời sống nhân sinh, theo thuật ngữ Phật gọi đó là đời sống tục đế (Samvrity Satya) đời sống của con người thế tụctrần gian không thể không có ! Đức Vua Trần Nhân Tông nhận thức đời sống thực tế ăn mặc ngủ nghỉ của nhân sinh không thể không có, lại rất cần thiết cho đời sống tùy theo duyên hoàn cảnh khác biệt của mỗi người trong xã hộiTuy nhiên kiến thức trí tuệ nhận thức Vua Trần Nhân Tông không phải dừng nơi đây, nơi cuộc sống thường tình trong đời sống hạng cuộc rồi buông tay khi vô thường đưa đến, có sanh phải có diệt, có sống phải có chết, có hạnh phúc phải có ngày đau khổ... Nếu chúng ta chỉ biết có hướng ngoại tìm phương tiện cho sự sống mà không biết hồi tâm hướng nội. Nhìn và nhận thức cái gì sẳn có trong bản thân chúng ta mà xưa naychúng ta đánh mất chỉ biết theo trần cảnh tạm bợ bên ngoài. Chính vì vậy Cư Trần Lạc Đạo (ở đời vui đạo) hay an cư lạc nghiệp, đó là đạo nghiệp thế gian mà Đức Vua Trần Nhân Tông phương tiện đưa ra đáp ứng đời sốngnhất thời hiện tại không thể không có. Như kinh điển Phật nói có vô số phương tiện tùy cơ ứng biến. Từ đó Đức Vua đưa nhơn sinh tiến lên đời sống cao thượng, đời sống hướng về nội tâm bản giác sẳn có nên Ngài nói :“Trong nhà có báu thôi tìm kiếm. Đối cảnh không tâm chớ hỏi thiền.” Hai câu đầu “Cư Trần Lạc Đạo... “ là diễn tả tư tưởng đời sống thế gian thế tụcđời sống nhờ phương tiện ngoại cảnh bên ngoài mà nhà vua khuyên nhân dân có nếp sống đạo đức tu tâm dưỡng tánh làm thú vui cho tinh thần lạc đạo trong lúc nước nhà được thái bình. Từ phương tiện hướng ngoại Ngài trở về nội tâmbản giác nhân loại ít ai hiểu rằng Phật ở trong lòng ta ( Phật tại tâm ) nên dong rủi theo cuộc đời giả tạo mờ ảo bên ngoài làm lu mờ bản tính giác ngộ Phật tánhsẳn có trong nội tâm chúng ta. Trong nhà sẵn có ngọc ngà của báu đầy đủ không thiếu thứ gì, mà tự mình không biết lại quanh quẩn bốn phương tìm kiếm. Trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “ Thọ ký thứ tám “ có kể câu chuyện rằng : Có chàng thanh niên trong vạt áo có cột sẵn viên ngọc báu vô giá phòng hờ gặp khi cùng cực thiếu thốn lấy ra tiêu xài, song chàng thanh niên không nhớ trong vạt áo mình có viên ngọc báu vô giá, gặp cơn đói khát áo quần rách rưới đi lang thang từ làng này sang tỉnh nọ xin ăn, một ngày nọ gặp lại bạn tri thứcnói với chàng thanh niên rằng trong mình chàng có viên ngọc quý hiếm cớ sao không lấy ra bán mà tiêu dùng lại đi lang thang xin ăn khổ cực... chàng thanh niên nhớ lại và tìm trong vạt áo qủa thật có viên ngọc báu, từ đó chàng không còn khổ sở nữa. Ngọc báu trong mình mà không biết đem ra tiêu dùng, cũng như Phật tánh sáng suốt sẳn có trong mỗi chúng sanh mà không biết trau dồi tu sữa để lâu ngày bị bụi trần bám dơ. Nhờ thiện tri thức nhắc mới nhớ lại bản tánh ngọc báu vô giá sẳn có trong ta, khi biết mình sẳn có còn tìm đâu nữa.

Tu thiền chỉ quán, trước quán sát cảnh vật bên ngoài là hư ảo giả tạm do nhiều nhơn duyên yếu tố kết hợp mà có như chiếc xe do nhiều bộ phận lắp ráp mà thành rồi theo luật thời gian biến chuyển hư mòn sự vật mai mộtkhông tồn tại mãi mãi. Biết sự vật là ảo huyền vô thường có rồi không nên tâm không đam mê cố chấp thật có các Pháp. Tâm không chấp trước ngả Pháp, tức tâm không còn phiền nãophiền não không còn thì tâm yên tịnh tâm thanh tịnh nên tiếp xúc đối tượng cảnh vật bên ngoài đều không thật có không đam mê chấp trướcmong muốn trông cầu. Cho nên đối cảnh không tâm, tâm đã thanh tịnh phát hiện trí tuệ được sáng suốt còn hỏi đến thiền, tu thiền để làm gì. Như nhờ thuyền bè vượt qua dòng sông đau khổ đến bờ giải thoát bên kia rồi, còn mong thuyền bè vát thuyền bè trên vai chi cho nhọc. Khi thiền đã được chứng đắc còn hỏi thiền tìm thiền tu thiền chi nữa.

Nhờ phương tiện để đạt đến cứu cánh Chơn – Thiện – Mỹ , chính vua Trần Nhân Tông nhận chơn được chân lý Phật đà. Trước dùng phương tiện Cư Trần Lạc Đạoan cư lạc nghiệp, đói ăn khát uống, mệt ngủ tạo thiện duyên cho dân tộc nhân loại trong cuộc sống nhân quần xã hội biết Đạo vui Đạo, từ đó tiền lên đời sống cứu cánh tinh thần giải thoát thành lập Trúc Lâm Tam Tổ Yên Tử, lưu lại thánh cảnh Yên Tử hiện hửu và đạo đứcthiền môn tinh thần giải thoát cho muôn đời hậu lai. Có đời có đạo phương tiện cứu cánh ,Tục đế chơn đế , sắc sắc không khôngTùy duyên bất biếnbất biến tùy duyên là chơn đạo của Phật Tổ lưu truyền, một triết lý cảnh giác nhơn sanh mà Đức vua Trần nhân Tông áp dụng rất cụ thể nhuần nhuyễn đúng đắn trong cuộc sống Đời và Đạo. Người tiếp nối cầm đuốc tuệ Như Lai soi sáng đất Đại Việt, kỉnh tỉnh nhân gian giác ngộ sáng tạo.

5. CÔNG CUỘC MỞ NƯỚC CỦA NHÀ TRẦN

Các vua nhà Trần không những đóng vai trò dựng nước, giữ nước mà còn mở rộng đất nước về phía Nam. Tháng Ba năm 1301, Trúc Lâm Đầu Đà đi Chiêm Thành để quan sát Phật Giáo tại đây. Vua đi với tư cách một du tăng, có một số tăng sĩ tùy tùng. Vua đã lưu lại đây cho đến tháng mười một mới về. Trong thời gian lưu trú tại Chiêm Thành, vua đã đàm đạo với vua nước Chiêm Thành là Chế Mân. Cuộc tiếp xúc này chắc hẵn là một cuộc tiếp xúc rất thân mật; vua Chế Mân tiếp một vị du tăng Việt Nam nhưng đồng thời cũng tiếp một người có thế lực tinh thần rất lớn trong triều đình và ngoài dân chúng. Trong mục đích xây dựng tình hòa hữu giữa hai nước làm nền tảng cho hòa binh lâu dàiTrúc Lâm đã hứa sẽ gã công chúa Huyền Trân cho vua Chàm. Tháng sau năm sau 1306, công chúa Huyền Trân về nhà chồng. Vua Chiêm Thành dâng hai châu Ô và Lý làm sính lễ. Đến năm 1307 hai châu này được đổi tên là Thuận và Hóa. Ta không rõ sự dâng đất này xuất từ thâm ý của vua Chiêm Thành hay là điều kiện của do vua Anh Tông đặt ra. Chỉ biết là khi đất hai châu trở thành đất Việt Nam thì cư dân các thôn La Thủy, Tác Hồng và Đà Bồng không chịu theo về quốc tịch Việt. Vua Anh Tông phải sai Đoàn Nhữ Hài, một người tâm phúc của vua, đến các thôn này tuyên dụ đức ý của triều đình, chọn người bản xứ bổ làm quan, cấp đất cho dân, miễn thuế trong ba năm để vỗ về họ.

Cuộc tình duyên giữa vua Chiêm Thành và công chúa Huyền Trân tiếc thay lại rất ngắn ngũi. Bà về với vua Chiêm Thành tháng sáu năm 1306 đến tháng năm năm 1307 vua Chiêm mất. Theo tục lệ Chiêm Thành, hễ vua băng hà thì hoàng hậu phải lên đàn thiêu chết theo. Vua Anh Tông sợ công chúa bị hại, liền sai Trần Khắc Chung sang, lấy cớ làm lễ viếng rồi tìm cách cứu công chúa về. Trần Khắc Chung qua Chiêm Thành vào tháng mười mà mãi đến tháng tám năm sau mới đưa được công chúa Huyền Trân về tới kinh đô. Trúc Lâm nghe tincon về mừng rỡ xuống núi đón. Sợ triều đình Chiêm giận, Trúc Lâm liền bảo trại chủ Châu Hóa lấy thuyền đưa 300 người Chiêm lưu vong về nước, mong chuộc lỗi Trần Khắc Chung đã đánh lừa Chiêm để đem công chúavề.. Chủ ý của Trúc Lâm xây dựng tình huynh đệ giữa hai nước Chiêm Việt để bảo vệ hòa bình đã không được triều đinh đeo đuổi thực hiện. Tháng chạp năm 1311, nghĩa là đúng ba năm sau ngày Trúc Lâm mất, vua Anh Tông đi đánh Chiêm Thành. Sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư nói rằng sở dĩ có cuộc chinh phạt Chiêm Thành như thế là vì “vua nước ấy là Chế Chí phản trắc”. Như vậy, các vua nhà Trần không muốn chiến tranh nhưng vì phải bảo vệ đất nước và muốn xây dựng một nề hòa bình bắt buột phải tiếp tục chống giặc. Việc gả công chúaHuyền Trân cho vua Chế Mân với lẽ vật là hai châu Ô và Lý đã nói lên tinh thần mở rộng thêm đát nước của nhà Trần.

6. NHỮNG THÀNH TỰU CỦA TRIỀU ĐẠI NHÀ TRẦN

6.1. KINH TẾ

Do các vua Trần thấm nhuần tư tưởng đạo Phật nên việc quan tâm đến miếng cơm manh áo cho dân là việc hiển nhiên. Bởi đó cũng là một biểu hiện của lòng từ bi và bình đẳng của đạo Phật. Chú ý đến phát triển kinh tế, các vua Trần đặc biệt tập trung vào việc trị thủy và thủy lợi để nâng cao sản xuất nông nghiệp cho đất nước. Về trị thủy, các vua Trần huy động dân đắp đê giữ nước sông Hồng từ đầu nguồn cho đến cửa biển để giữ nước lụt ngập tràn, gọi là đê Đỉnh Nhĩ. Chính các vua Trần có lúc còn tự mình đi xem xét việc đắp đê. Về công trìnhthủy lợi, các vua Trần tăng cường số lượng sông đào. Cụ thể sông Tô Lịch ở vùng đồng bằng Bắc bộ sự việc các vua Trần cho đào nhiều sông kênh như sông Trầm và sông Hào nối liền Thanh Hóa với Nghệ An ngoài việc phục vụ khẩn cấp nước cho nông nghiệp còn vừa tiện lợi giao thông, vừa mở mang thương nghiệp. Mặt khác, ở thời Trần, nhà chùa đứng trung gian giữa vua chúa với những người có nhiều tài sản và dân cày làm nhiệm vụ điều hòa cuộc sống kinh tế xã hội. Bên cạnh đó còn vận động sự đóng góp tiền bạc và của cải từ vua quan, tín đồ Phật tử để cứu giúp đồng bào nghèo. Nhờ vậy, xã hội phần nào có được sự ổn định về kinh tế đời sống.

6.2. CHÍNH TRỊ

Áp dụng phương châm trị nước của Quốc sư Viên Chứng: “Lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tấm lòng của thiên hạ làm tấm lòng của mình”, nhà Trần đã đoàn kết nội bộ, động viên được tinh thần vì dân vì nước của hầu hết tầng lớp nhân dân tham gia công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Việc Trần Nhân Tông tổ chức hai hội nghị Bình Than (1282) và Diên Hồng (1285) đã nói lên tính dân chủ mà vào thời đó ít nơi trên thế giới có thể làm được. Những nhà lãnh đạo thời Trần biết chủ động và sáng tạo, chọn lọc trong hệ tư tưởng Phật giáo tất cả những gì tinh hoa nhất, tích cực nhất, phù hợp nhất với hoàn cảnh lịch sử Việt Nam thời bấy giờ, làm cho cả dân tộc Việt Nam, triệu người như một đều hướng về vua, vùng lên đánh đuổi quân xâm lược, đem lại thắng lợi vẻ vang cho Đại Việt.

Hành động truyền ngôi cho con của các vua nhà Trần cho thấy các Ngài một phần biểu hiện sự thông tỏ Phật Pháp, xem nhẹ ngôi vua, coi rẻ ngai vàng, không tham quyền, không cố bám vương vị đến cuối đời. Bởi vì, dù ở ngôi Thái thượng hoàng, làm cố vấn cho con; thế nhưng hầu như mọi ý kiến của các Ngài đều được các vua tuân thủ thi hành. Điều này chứng tỏ sự hợp lực một cách sáng suốt để cùng nhau lãnh đạo, tức vừa khích lệ tài năng của lớp trẻ, vừa học hỏi được kinh nghiệm của chư vị lão niên. Ngoài ratư tưởng Phật giáo còn để lại những dấu ấn rõ nét trong quan niệm và tình cảm về đạo đức thời Trần. Tinh thần từ bi hỷ xả và sự tu dưỡng về thập thiệnngũ giới của mỗi Phật tử không khỏi có liên hệ đến tình cảm xót thương những nỗi đau khổ và cực nhọc của dân chúng cùng những khái niệm đạo đức đương thời như: “khoan hòa, nhân từ, phúc huệ”. Về khía cạnh này dẫu chỉ là sự ảnh hưởng gián tiếp vẫn góp phần tạo nên trật tự an ninh cho xã hội triều Trần.

6.3. VĂN HÓA

Điểm nổi bậc của văn hóa thời Trần là văn học đạo thiền hay văn học Trúc Lâm. Nói khác hơn, nền văn họcTrúc Lâm là kho tàng lưu trữ những tác phẩm văn học đương thời. Chính nền văn học này mở đầu cho nền văn học viết của văn học trung cổ Việt Nam. Nơi đây – Trúc Lâm Yên Tử – đã tập trung hầu hết các tác phẩm của các tác giả đương thời như: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quang Khải, Tuệ Trung Thượng SĩPháp LoaHuyền Quang,...Bên cạnh những tác phẩm chữ Hán, các tác phẩm chữ Nôm cũng lần lượt ra đời và trở thành tiếng nói riêng của dân tộc Việt. Tuy chữ Nôm bắt đầu xuất hiện từ rất sớm nhưng mãi đến thế kỷ XIII, tức thời Trần, chữ Nôm mời được xem là hoàn chỉnh. Những tác phẩm chữ Nôm triều Trần như: Cư Trần Lạc Đạo Phú và Đắc Thú Lâm Tuyền Thành Đạo Ca Phú của Trần Nhân Tông, hoặc Vịnh Vân Yên Tự Phú của Huyền Quang sau khi xuất hiện trên diễn đàn văn học đã có giá trị rất lớn vì tác giả đã dùng tiếng Việt như một ngôn ngữ để diễn đạt những tư tưởng trừu tượng một cách khéo léo và dễ hiểu. Từ đó, tiếng Việt đã trở thành một ngôn ngữ đủ khả năng chuyển tải bất cứ nội dung tư tưởng khác nhau nào và có một vẻ đẹp của riêng nó. Do vậy, sự hoàn thiện của chữ Nôm được xem là cái mốc thành tựu lớn của văn học thời Trần.

6.4. KIẾN TRÚC

Trong khí thế chung của văn hóa dân tộc, kiến trúc thời Trần tuy thừa hưởng vốn liếng to lớn từ thời Lý vẫn cónhững bước phát triển mạnh đáng kể mang sắc thái tự chủ tự cường do tín ngưỡng của quần chúng nhân dânthời Trần chủ yếu là Phật giáo. Nhất là khi dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử mở rộng địa bàn vùng đông bắc từ Uông Bí, Đông Triều đến Thăng Long, chùa tháp được dựng lên rất nhiều để đáp ứng cuộc sống tinh thần cho dân chúng. Nhà Trần đã tiến hành trùng tu những chùa tháp cũ như: chùa Một Cột (1249), tháp Báo Thiên (1258), chùa Khai Nghiêm, Yên phong (Hà Bắc - 1333 - 1335), tháp Linh Tế ở núi Dục Thúy (Hà Nam Ninh - 1337). Ngoài ra, một số công trình kiến trúc mới cũng được xây dựng rất quy mô, như: “chùa Hương Tích ở Nghệ Tĩnh, chùa Hoa Long và chùa Thông ở Thanh Hóa, chùa Hang ở Hoàng Liên Sơn, tháp Bình Sơn ở Vĩnh Phú, chùa Bối Khê ở Hà Sơn Bình”. Đồng thời có những khu vực thời Lý vốn được coi là trung tâm Phật giáo, sang thời Trần vẫn tiếp tục duy trì và mở mang như: “khu chùa và tháp vùng núi Phật Tích ở Hà Bắc, chùa Quỳnh Lâm ở Quảng Ninh”. Đặc biệt chùa Hoa Yên ở Yên Tử và tháp Phổ Minh ở Hà Nam Ninh là những công trình nổi tiếng được nhắc nhở nhiều trong sách sử. Ngày nay, tất cả những dấu tích kiến trúc thời Trần đã bị thời gian bào mòn nên còn lại rất ít. Tuy nhiên, qua những gì đọc được trên sách vở cũng giúp ta hình dungphần nào sự khang trang, bề thế của các công trình kiến trúc xưa của dân tộc một thời oanh liệt.

6.5. ĐIÊU KHẮC

Căn cứ vào thư tịch cổ và những tác phẩm điêu khắc thời ấy chúng ta có thể xác nhận việc khắc tượng Phậtchiếm ưu thế trong điêu khắc thời Trần. Bởi vì lúc Phật giáo hưng thịnh, tượng Phật được đúc rất nhiều. Có những nhà sư cúng một lần đã cho đúc tới 1.300 pho tượng Phật lớn nhỏ. Có những tượng kích thước khá lớn như tượng Di Lặc cao tới 1 trượng 6. Các bậc vua quan, quý tộc bỏ tiền đúc tượng tương đối nhiều, như vua Trần Minh Tông khi mới lên ngôi, chỉ riêng ở chùa Siêu Loại đã cho đúc đến 3 pho tượng lớn bằng đồng: Di ĐàThích CaDi Lặc, tất cả đều cao 17 thước. Nhìn chung, mặc dù tài liệu thu thập được quá ít để có thể hiểu biếtđược đầy đủ về nghệ thuật điêu khắc thời Trần, song chúng ta phải thừa nhận những công trình điêu khắc thời ấy phải là những công trình vĩ đại và mang tính nghệ thuật cao.

KẾT LUẬN

Trải qua các triều đạiđạo Phật đều thể hiện nét riêng biệt đặc thù của Phật giáo Việt Nam. Từ đó cũng có thể cho rằng con người và hoàn cảnh xã hội mỗi thời kỳ cũng có thể cho rằng con người và hoàn cảnh xã hội mỗi thời kỳ cũng là một trong những nhân tố quan trọng góp phần quy định bản chất của Phật giáo Việt NamKế thừa sự nghiệp nổi bật này, tinh thần nhập thế của Phật giáo nhà Trần được thể hiện lại mạnh mẽ, rõ ràng và cụ thể hơn đã đưa đạo Phật đi vào cuộc đời, hành động và áp dụng giáo lý Phật giáo là vì con người và cho con người. Khi có ngoại xâm, các thiền sư đã "cởi áo cà sa khoác chiến bào"[5]. Hành động đó phát xuất từ tấm lòng từ bi, cứu khổ cứu nạn của những người con Phật, nhưng không chỉ có thế. Ở đây, xuyên suốt giòng lịch sử phát triển của dân tộc, cũng là lịch sử tranh đấu không ngừng với ngoại xâm, đã un đúc trong những con người Việt một tinh thần yêu nước nồng nàn, đã kết tinh thành truyền thống và trải qua các thời đạitinh thầnnày càng phát triển. Những vị vua nhà Trần cũng đồng thời là những thiền sư đã thể hiện được sự kế thừatiếp thu đạo Phật một cách chọn lọc và sáng tạo, đã bằng những hành động của mình, khơi sáng đem lại cho Phật giáo một sức sống thực sự, làm cho đạo Phật không bị trở thành giáo điều, khô cứng. Ở các thiền sư đời Trần, thiền lý và thiền hành đã nhập làm một, không phân biệt, chỉ còn lại Trí Huệ Bát Nhã, dùng nó bằng nhiều hình thức khác nhau, bằng mọi phương cách khác nhau, để phục vụ nhân sinh.

Như vậy, một triều đại có được tư tưởng thiền tông xuyên suốt, biết vận dụng nó làm kim chỉ nam cho mọi tư tưởng và hành động của mình, như triều Trần, nên đã tạo cho Phật giáo đời Trần một thời kỳ rực rỡ trong lịch sửthể hiện cao tinh thàn dân tộc, ở đó tính chất nhập thế được xem là giáo lý căn bản, dùng nó làm nền tảng cho đạo đức xã hộixây dựng một hệ thống giáo hội mới và hệ thống kinh sách mới, không lệ thuộc và chịu ảnh hưởng nặng nề của Phật giáo từ Ấn Độ cũng như từ Trung Quốc. Đây là một trong những tính chất mang tính tiêu biểu của Phật giáo, là mục đích nhưng đồng thời cũng là nguyên nhân, là phương tiện chi phối mọi hoạt động. Ở những triều đại khác, nơi mỗi nhà tu hànhđặc biệt đối với triều đại nhà Trần, là giai đoạn có sự thử thách cao, đối đầu với xâm lược có tầm cỡ trên thế giới, nên để đạt được mục tiêu chung, nhằm giữ gìn nền độc lập cho xứ sở, tính chất này càng được bộc lộ mạnh mẽ. Những đố kỵhiềm khíchghen ghét nhau trong vua tôi tạm thời được gác lại, để tập trung vào mục tiêu chung, thì trong các Thiền sưtính chất vô ngãvị thacàng được thể hiện rõ nét qua câu nói của nhà sư trụ trì trên dãy Yên Tử (Quốc sư Trúc Lâm hay Phù Vân) khuyên vua Trần Thái Tông : "Phàm là đấng làm vua cai trị muôn dân, thì phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tâm của thiên hạ làm tâm của mình". Trong mỗi người mang tấm lòng vì dân vì nước, quyết cống hiếnhy sinh trọn cuộc đời mình cho sự nghiệp cao cả, cho hạnh phúc của toàn dân và vì độc lập của tổ quốc. Có quá đang hay không khi cho rằng đấy cũng chính là những vị vua những vị "thiền sư" nhà Trần tiếp nối vẻ vang tinh thần dân tộc cũng như Phật giáo Việt Nam trong lịch sử.

_______________________

• Thích Pháp Như




TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. HT. Thích Thanh Từ – Trúc Lâm Tam Tổ giảng giải. 1997.
1. Lê Văn Hưu, Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1993.
3. Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 2, Nhà xuất bản TP.HCM, 2001
1. Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, Nxb Văn học, Hà Nội, 2000.
5. Mật Thể, Việt Nam Phật giáo Sử lược. Nxb Minh Đức 1960.
6. Hoàng Xuân Hãn, Lý Thường Kiệt, Tủ Thư Đại học Vạn Hạnh tái bản lần thứ I, 1966.
7. Lê Mạnh Thát –Toàn Tập Trần Nhân Tông – Nxb TPHCM - 2000.
8. Ngô Sĩ Liên – Đại Việt Sử Ký Toàn Thư. 1985
________________________________________

[1] Lê Văn Hưu, Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1993.
[2] Lê Văn Hưu, Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1993.
[3] Thích Minh Châu dịch, Tương Ưng Bộ kinh, Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh, 1992
[4] Thích Trí Quang dịch, Luật Sa Di và Sa Di NiQuy Sơn Cảnh Sách, 1996.
[5] Trần Hồng Liên, Vài nét suy nghĩ về Thiền tông Việt Nam

CỬA BIỂN TƯ DUNG ĐANG BIẾN MẤT NHƯ THẾ NÀO?

Hàng trăm năm nay ai cũng biết đầm phá Tam Giang - Cầu Hai có 02 cửa thông ra biển: Thuận An và Tư Hiền.

 

Cửa Tư Hiền đóng, dòng chảy từ đầm Cầu Hai qua cửa Tư Dung ra biển


Ngày xưa, cửa Tư Hiền có tên là Tư Dung và cũng không nằm ở vị trí hiện nay mà nằm dịch về phía Nam khoảng 5 cây số, ngay dưới chân núi Vinh Phong thuộc thôn Hải Bình, xã Lộc Bình, huyện Phú Lộc. Chính cửa biển Tư Dung ấy, chứ không phải cửa Tư Hiền hiện nay, đã từng là một địa danh gắn liền với rất nhiều sự kiện lịch sử của vùng đất, được coi là một thắng cảnh nổi tiếng, xuất hiện không chỉ một lần trong thi ca. Thế mà cửa biển Tư Dung lịch sử ấy đang biến mất một cách lặng lẽ, gần như không được một ai để ý đến. Gần đây có dịp ghé qua cửa Tư Dung ngày xưa ấy, chúng tôi mới giật mình, vì không còn thấy một cửa biển rộng, sâu, tàu, thuyền ra vào tấp nập như đã từng được mô tả. Thay vào đó là một lạch triều vừa cạn, vừa hẹp không biết sẽ bị lấp hoàn toàn lúc nào. Đứng dưới chân núi Vinh Phong, nghĩ đến việc anh Đoàn Khoách nhớ cửa Tư Dung ngày xưa ấy, tưởng tượng nơi đây đang ào ạt sóng biển vỗ bờ mà viết bài “Thắng cảnh Tư Dung” rất hay trên trang www.nhohue.org[1], muốn gửi đến anh bài này để anh em cùng nhớ lại một địa danh lịch sử, một thắng cảnh hữu tình và cũng để anh và những người yêu Huế hình dung cửa biển Tư Dung ấy đang biến mất như thế nào. 

 

Theo sách xưa thì cửa biển Tư Dung nguyên thuộc nước Chiêm Thành, trải qua các triều đại, đã từng có nhiều tên gọi khác nhau: dân gian gọi là cửa Ông hay cửa Biện, nhà Lý gọi là cửa “Ô Long”, nhà Mạc gọi là cửa “Tư Khách”, từ thời vua Thiệu Trị (năm 1814), nhà Nguyễn gọi là cửa Tư Hiền. Nhưng cái tên được dùng lâu đời nhất, bắt đầu từ nhà Trần, đến nhà Lê, và một giai đoạn nhà Nguyễn, là cửa “Tư Dung”[2]. Dùng hai chữ “Tư Dung” để đặt tên cho cửa biển này, người Việt thời nhà Trần muốn đánh dấu cuộc hôn nhân giữa vua Chiêm Thành và công chúa Việt, đồng thời cũng nhằm tưởng nhớ công ơn công chúa Huyền Trân đã hy sinh hạnh phúc cá nhân cho việc mở mang bờ cõi. Vua chúa các đời Lý, Trần như Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Trần Anh Tông, Trần Duệ Tông đều có đem quân qua đấy. 

 

Ngày trước, cửa biển Tư Dung vốn sâu và rộng, các loại thuyền lớn nhỏ ra vào rất thuận tiện. Theo sách “Đại Nam Nhất Thống Chí” của Quốc sử quán triều Nguyễn thì “cửa rộng 8 trượng, khi nước lên sâu 3 thước, khi nước ròng sâu 2 thước, nước cạn thuyền lớn đi không được. Xưa có đặt Thủ sở, có binh túc trực tuần phòng ngoài biển, phía tây cửa biển có hành cung Túy Vân sơn. Xưa kia, cửa nguyên ở chỗ gần núi, cách phía nam cửa bây giờ chừng 5 dặm[3]. Tương truyền, vài trăm năm trước đây, cửa cũ rất sâu rộng, ghe thuyền rất thuận tiện vào ra”[4]. Có thể hình dung cửa biển Tư Dung ngày ấy qua 02 câu trong bài thơ “Tư Dung hải môn lữ thứ (Nghỉ lại ở cửa bể Tư Dung)” của vua Lê Thánh Tông (dịch nghĩa):

 

“Vách núi dựng đứng nhấp nhô, màu xanh ngăn ngắt, 

Sóng vỗ ngất trời cuồn cuộn, sắc biếc trùng trùng”[5].

 

Nói đến cửa biển Tư Dung không thể không nhắc đến Đào Duy Từ, một danh nhân thời các chúa Nguyễn, người đã hết lời ca ngợi cảnh trí thiên nhiên tươi đẹp và hùng vĩ của cửa biển này trong bài thơ lục bát dài tới 332 câu có tên là “Tư Dung vãn”. 

 

“Khéo ưa thay cảnh Tư Dung,

Cửa thâu bốn bể, nước thông trăm ngòi.

Trên thời tinh tú phân ngôi,

Đêm treo thỏ bạc, ngày soi ác vàng”[6]. 

 

Đầu năm Gia Long (năm 1811), do có lụt lớn, cửa biển Tư Dung bị lấp cạn dần, đồng thời hình thành một cửa biển mới ở vị trí của cửa biển Tư Hiền hiện nay. Đến năm 1823, cửa Tư Dung bị lấp cạn và hẹp đến mức thuyền lớn không đi qua được và người dân sống hai bên cửa có thể lội qua. Năm 1844 có lụt lớn, cửa bị lở rồi lại bồi... Chuyện lở, bồi, dịch chuyển cửa biển Tư Dung – Tư Hiền, tưởng là sau này các nhà khoa học đương đại mới quan tâm, hóa ra vua Minh Mạng trong tập thơ ký sự về cửa biển Tư Dung, có viết: “... dòng sông mở ra hay lấp lại là do tự thiên công, khó trông cậy ở sức người, huống chi nguyên ủy cửa biển này có quan hệ đến nước nhà, không phải như các cửa biển khác. Ngược dòng thời gian mà nhận xét, bản triều năm giáp ngọ (1774), vận nước gặp bước gian nan, binh Trịnh đến xâm phạm, thì vua Duệ Tông bản triều (Nguyễn Phúc Thuần) theo cảng ấy đi vào Nam. Hoàng khảo ta là Thế tổ Cao hoàng đế (Nguyễn Phúc Ánh) khi ấy mới mười ba tuổi cũng đồng thời đi hộ tùng theo chuyến ấy. Qua năm Tân Dậu (1801), đại binh khắc phục Thần kinh, cũng theo cửa này đi vào, mà lúc ấy trẫm đây mới mười một tuổi cũng đồng theo hộ giá. Vậy thì, cơ đắc thất, trước sau phảng phất giống nhau như có định số. Nay vô cớ mà cửa ấy khô cạn, có lẽ là ý trời mặc hộ cho bản triều, muốn củng cố cơ nghiệp muôn đời, mà không muốn để người ngoài dòm ngó vào, nên mới khiến cho cạn hẹp như thế...”[7]. 

 

Đến năm Thiệu Trị (năm 1814), cửa Tư Dung được đổi tên thành cửa Tư Hiền. Triều Nguyễn thay tên Tư Dung thành Tư Hiền phải chăng là để chứng tỏ nơi đây không còn hiểm nguy với sóng to gió lớn, cũng như cơ nghiệp nhà Nguyễn đang được ý trời giúp cho muôn thuở bền vững. 

 

Để khỏi nhầm lẫn, từ đây, chúng tôi gọi cửa biển ở vị trí cũ, ngay dưới chân núi Vinh Phong là cửa biển Tư Dung, còn cửa biển ở vị trí hiện nay là cửa Tư Hiền. Từ đó đến nay, hai cửa Tư Dung và Tư Hiền cứ đóng, mở, thay nhau đóng vai trò cửa biển chính ra vào đầm phá vào các năm 1811, 1823, 1844, 1853, 1859, 1879, 1990 và 1994[8]. Đã có các công trình nghiên cứu cơ chế bồi lấp cửa biển Tư Dung và cửa biển Tư Hiền và các nhà khoa học đã rút ra quy luật thống kê các thời điểm đóng mở các cửa biển. Người ta còn nhận thấy rằng chu kỳ đóng mở, thay thế vai trò lẩn nhau của các cửa biển này ngày càng ngắn lại[9]. Cũng có những thời kỳ tồn tại song song cả 02 cửa biển Tư Dung và Tư Hiền. Lúc này, người ta đã có phần lãng quên cái tên Tư Dung rất hay ho nên họ gọi là cửa biển Tư Hiền cũ và Tư Hiền mới[10]. 

 

 

Ảnh 1 là một mảnh ảnh vệ tinh Landsat chụp vùng ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế vào tháng 9 năm 1999, thời điểm trước trận lụt lịch sử năm 1999, do đề tài khoa học và công nghệ cấp tỉnh, tỉnh Thừa Thiên Huế “Sử dụng tư liệu ảnh vệ tinh ALOS để giám sát tai biến môi trường tự nhiên vùng ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế”, Viện Tài nguyên và Môi trường Biển chủ trì, nghiệm thu năm 2001, cung cấp. Có thể thấy rõ trên ảnh núi Vinh Phong, cửa Tư Dung sát dưới chân núi Vinh Phong, và cửa Tư Hiền đang bị lấp hoàn toàn. Dòng chảy trao đổi nước giữa đầm Cầu Hai và biển qua cửa Tư Dung và qua một vụng nhỏ và hẹp thuộc địa phận hai xã Lộc Bình và Vinh Hiền, huyện Phú Lộc (xem ảnh 1). 

 

Đã có nhiều cố gắng của con người nhằm ổn định các cửa biển Tư Dung và Tư Hiền. Năm 1994, cửa Tư Hiền bị lấp, tàu thuyền không thể đi qua, còn cửa Tư Dung đã nhường vai trò cửa chính ra vào đầm phá cho cửa Tư Hiền, nên tàu thuyền phải đi vòng lên cửa Thuận An. Sở Thủy Lợi lúc đó đã huy động nhân lực và phương tiện nạo vét mở cửa Tư Hiền, nhưng sau một đêm, cửa gần như bị lấp cạn lại như cũ. Phương án trở lại cửa Tư Dung được xem xét. Hai công trình ngày ấy (mới 17 năm mà nghe đã quá xa xưa) đến nay vẫn còn dấu tích. Một là bờ kè bằng đá được xây dựng nhằm ổn định lạch nước chảy từ đầm Cầu Hai chảy về phía núi Vinh Phong (đường mũi tên màu vàng mảnh ở ảnh 1). 

 

Ảnh 2: Cửa biển Tư Hiền và cửa biển Tư Dung, ảnh SPOT 2009. TS Hồ Đình Duẩn cung cấp


Trận lụt 1999 đã thay đổi về cơ bản địa hình khu vực này. Lạch nước từ đầm Cầu Hai bị lấp kín, phần còn lại dài khoảng 05 km tạo thành một vụng nhỏ gần kín (ảnh 2). Vụng này trao đổi nước với biển qua một lạch triều nông và hẹp cách chân núi Vinh Phong khoảng 500 mét. Công trình thứ hai là mỏ hàn chống cát lấp cửa Tư Dung. Ngày nay có 01 lạch triều xuất hiện ngay vị trí mỏ hàn ngày trước và những viên đá xây mỏ hàn vẫn còn vương vãi từ chân sóng vào giữa lạch triều (ảnh 3). 

 

Ảnh 3: Lạch triều đóng vai trò trao đổi nước giữa vịnh Hải Bình với biển và ổn định độ mặn cho vực nước bên trong


Trong khi đó trên ảnh vệ tinh SPOT năm 2009 (ảnh 2) chúng ta có thể thấy cửa Tư Hiền rất rộng và phía cửa Tư Dung có một lạch triều hẹp và dấu tích của mỏ hàn được xây bằng đá. 

 

Gần đây, chúng tôi về thôn Hải Bình, xã Lộc Bình khảo sát khu vực cửa Tư Dung thì thấy rằng cửa Tư Dung được ca ngợi ngày xưa, nay đã bị lấp cạn gần như hoàn toàn. Người dân địa phương đã tranh thủ trồng phi lao từ chân núi Vinh Phong đến tận lạch triều. Lạch triều đóng vai trò dòng chảy trao đổi nước với vực nước bên trong, chỗ rộng nhất khoảng 20 mét, chỗ sâu nhất khoảng 0,5 mét. Vì độ chênh triều ở khu vực bờ biển tỉnh Thừa Thiên Huế được xác định là nhỏ, đến mức có thể gọi là vô triều, nên lượng nước trao đổi với bên trong là không đáng kể. Vì không có dòng nước từ vụng chảy ra nên dòng cát từ ngoài biển đang tiếp tục theo dòng triều chảy vào, lấp cạn dần khu vực ngày trước là cửa Tu Dung. Có thể lạch triều có thể đã hẹp và cạn hơn so với độ sâu và bề rộng mà chúng tôi chứng kiến, vì trước đó không lâu lạch triều đã được một công ty Biển Ngọc nạo vét để đảm bảo cho nhu cầu trao đổi nước và ổn định độ mặn cho các loài thủy sản đang được nuôi trong vực nước.

 

Ảnh 4: Cửa Tư Dung ngày nay chỉ còn là một vạt phi lao và một dòng chảy hẹp

thế này, không biết bao giờ sẽ đóng lại hoàn toàn (Ảnh Đỗ Nam)


Nhân câu chuyện về cửa biển Tư Dung, thấy cửa biển ngày xưa không còn nữa lòng những ngậm ngùi. Nhưng bù lại, nghe nói rằng người dân ở đây đang nuôi trai lấy ngọc, rằng mấy năm trước đã có mô hình thử nghiệm thành công của Sở Khoa học và Công nghệ, nay công ty Biển Ngọc tiếp tục đầu tư, hướng dẫn cho bà con nuôi, cấy, chăm sóc và sẽ bao tiêu toàn bộ sản phẩm thu được, rằng chất lượng ngọc ở đây được đánh giá là tốt nhất trong cả nước nhờ các chất khoáng chứa trong nguồn nước của địa phương, rằng người dân thôn Hải Bình đang có khả năng đổi đời nhờ nghề nuôi trai ngọc… Nhưng chúng tôi cũng biết rằng còn rất nhiều khó khăn, mà khó khăn nhất là ổn định được môi trường sống cho con trai, mà môi trường sống ấy phụ thuộc cả vào thiên nhiên lẫn con người. Khắc phục khó khăn từ thiên nhiên đã khó, nhưng không khó bằng khắc phục những khó khăn do con người gây ra. Nếu chính quyền địa phương 02 xã Vinh Hiền và Lộc Bình, chính quyền huyện Phú Lộc và cả chính quyền tỉnh hỗ trợ, giúp đỡ, cùng công ty Biển Ngọc biến khu vực cửa biển Tư Dung – Tư Hiền thành một làng nghề nuôi trai ngọc, thành một điểm đến du lịch thì có thể hy vọng rằng một ngày không xa viên ngọc trai Hải Bình có thể trở thành niềm tự hào của tất cả chúng ta. 

_____

[1] Đoàn Khoách, Thắng cảnh Tư Dung, www.nhohue.org/thangcanhthiennhien.htm

[2] Có nhiều tài liệu hiện nay vẫn gọi cửa Tư Dung là cửa “Lộc Thủy”. Cách gọi này là không chính xác, xuất phát từ địa danh “Lộc Thủy” trên bản đồ đặt sai vị trí. Lộc Thủy là địa danh của một xã nằm lệch về phía Nam hơn tính từ dãy núi Vinh Phong, nhưng các bản đồ cũ của Hoa Kỳ (sử dụng hệ quy chiếu UTM) đặt chữ “Lộc Thủy” ngay vị trí cửa Tư Dung. Các nhà nghiên cứu không phải là người địa phương đã không để ý nên mới có sự nhầm lẫn đáng tiếc trên. 

[3] Tức là vị trí cửa biển Tư Hiền ngày nay

[4] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Nhất Thống Chí

[5] Trích dẫn theo Đoàn Khoách

[6] Trích dẫn theo Đoàn Khoách

[7] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Nhất Thống Chí

[8] Nguyen Tien Lam, Marcel J. F. Stive, Henk Jan Verhagen, and Zheng Bing Wang,

Morphodynamics of Hue Tidal Inlets, Vietnam-Japan Estuary Workshop 2007 August 20th-24th, 2007, Ho Chi Minh City, Vietnam.

[9] Nguyễn Hữu Cử, Đặc điểm địa chất đầm phá Tam Giang – Cầu Hai trong Holoxen và phức hệ trùng lỗ chứa trong chúng, Luận án Phó tiến sĩ. 

[10] Trần Thanh Tùng và Vũ Minh Cát, Nghiên cứu cơ chế gây bồi lấp cửa Tư Hiền ở tỉnh Thừa Thiên Huế, Kỷ yếu đầm phá, Huế 2005.

_____________

Đỗ Nam

Nguồn: tapchisonghuong.com.vn

MỘT THOÁNG TƯ HIỀN (THỪA THIÊN – HUẾ)

Theo quốc lộ 1A từ Đà Nẵng ra Huế, qua khỏi đèo Phước Tượng, rẽ tay phải theo QL49B khoảng 10km là qua cầu Tư Hiền và con đường kéo dài đến tận Thuận An. Đoạn đường này dài 45km, đi qua những làng biển thuộc hai huyện Phú Lộc, Phú Vang của tỉnh Thừa Thiên - Huế.

 

Lưu truyền rằng xưa kia, có con voi rừng chở một vị tướng bị thương băng rừng từ Bạch Mã về cửa Tư Dung (Tư Hiền). Kiệt sức, con voi trung hậu gục đầu xuống đầm Cầu Hai, rồi nằm lại vĩnh viễn. Đèo Voi (Phước Tượng) là dãy núi chạy thoai thoải ra biển, mà vòi của nó khi ẩn, khi hiện ở cửa biển Tư Hiền.

 

Cửa biển Tư Hiền

 

Cửa Tư Hiền nằm giữa xã Vinh Hiền và Lộc Bình, nơi thông đầm Cầu Hai với biển Đông. Các bô lão vùng này kể rằng: Cửa biển này trước đây gọi là cửa Tư Dung, do sự tích Công chúa Huyền Trân, con vua Trần Nhân Tông trước khi xuất giá sang Chiêm Thành đã ghé lên đây bái vọng tổ tiên. Từ đó, cửa có tên Tư Dung, cái tên do lòng thương nhớ dung nhan của Huyền Trân công chúa mà thành. Theo sách xưa, cửa biển này thuộc về đất nước Chiêm Thành, đời Lý gọi là Ô Long. Đến đời Trần, vua Nhân Tông (1306) gả công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm là Chế Mân, đưa công chúa tới đây, nên đổi tên thành Tư Dung (Tư là nghĩ đến, tưởng nhớ đến, Dung là nét mặt, dung nhan, ý nghĩa cũng gần như chữ tư dung là vẻ mặt, là dáng dấp của người đàn bà đẹp). Dùng hai chữ Tư Dung để đặt tên cho cửa biển này, ý hẳn người Việt lúc bấy giờ một đàng muốn ghi lại cuộc hôn nhân giữa vua Chiêm và công chúa Việt, nhưng đàng khác, cũng nhằm tưởng nhớ công ơn khách má hồng đã hy sinh hạnh phúc riêng tư cho việc mở mang bờ cõi.

 

Vào năm 1471, vua Lê Thánh Tông ngự giá bình Chiêm, khi nghỉ chân tại cửa bể này đã làm bài thơ "Tư Dung hải môn lữ thứ", một áng thơ hay, được đời sau truyền tụng. Về sau, cửa Tư Dung cạn dần, chiến thuyền từ biển không vào được nên hiểm họa ngoại bang đánh úp kinh thành Huế khó xảy ra, vì thế, triều Nguyễn đặt lại tên là Tư Hiền.

 

Xã Hiền An nằm ở cuối hệ thống đầm phá nước lợ Thừa Thiên - Huế (bao gồm phá Tam Giang, đầm Sam, đầm Chuồn, đầm Thủy Tú, đầm Đá Bạc, đầm Cầu Hai...), nối liền một mạch từ tỉnh Quảng Trị vào Thừa Thiên Huế, vốn nhiều tôm rằn, cá mú, cá hồng... Nơi đây có diện tích mặt nước rộng hơn 22.000ha, là vùng đầm phá rộng nhất châu Á. Các vị bô lão cho biết: quá trình hình thành các làng cũng đã trên dưới 300 năm.

 

Khu vực này có núi Linh Thái, Thúy Vân và bên kia là Lộc Bình, Chân Mây, núi non chập chùng, hùng vĩ. Chùa Thánh Duyên trên núi Thúy Vân đã được công nhận là Di sản Văn hóa quốc gia. Xưa, chùa tên Mỹ Am Sơn Tự. Đời chúa Nguyễn Phúc Tần (1644) cho đặt nền móng điện Đại Hùng và đặt tên chùa Thánh Duyên. Ngày nay, nhân dân gọi là núi Thúy Vân, chùa Thánh Duyên... Núi Thúy Vân có đỉnh cao 60m so với mặt nước đầm phá, là một khu rừng đại ngàn rậm rịt cây lá cổ thụ, khí hậu mát mẻ. Dọc theo đường cái là những ngôi làng hoang sơ, những đền đài miếu mạo cổ xưa. Chợ quê mua bán vào buổi chiều, với nhiều loại thủy hải sản phong phú. Đến đây, bạn có thể thưởng thức món cháo hàu, hàu xào lá lốt béo ngậy, thơm lừng. Trong khi chờ đợi món ăn, còn gì thú vị bằng được theo ghe thuyền đi thăm thú các mô hình nuôi cá, nuôi ghẹ trên đầm nước mênh mông.

_____________

www.thuathienhue.gov.vn

CƯƠNG LĨNH THỜI ĐẠI NHÀ TRẦN VÀ BÀI HỌC CHO CHÚNG TA HÔM NAY

Lời người viết:

Trong hoàn cảnh đất nước phải đối diện và đối phó với nguy cơ rình rập tại biển Đông, hãy nhìn lại những cuộc đấu tranh của cha ông, lấy triều Trần làm điển hình, nghiên cứu và học tập để chuẩn bị kế sách hôm nay. Chúng ta học được gì và vận dụng ra sao tùy theo thời cuộc, nhưng ít ra cũng vững lòng tin vào sự thành công của những người đi trước, làm gương cho thế hệ hôm nay trong quá trình dựng nước và giữ nước.

TẬP HỢP SỨC MẠNH TOÀN DÂN, PHÁT HUY DÂN CHỦ

Thông thường trong các triều đại xưa, các cuộc chiến tranh thường xảy ra giữa những tập đoàn phong kiến cát cứ, các lãnh chúa, vương hầu. Nếu không, dù có là cuộc chiến tranh quy mô lớn đi nữa, thường thì giai cấp lãnh đạo là chủ xướng, là chỉ huy. Vai trò quần chúng trở nên thứ yếu và họ chỉ có thể làm được một điều là chiến đấu và hy sinh nhiều khi không hiểu vì ai, nhằm mục đích gì? Thế nhưng dưới triều đại nhà Trần, vua đã tổ chức Hội nghị Bình Than (1282), gồm văn võ bá quan, vương hầu, để bàn kế hoạch kháng chiến. Tiếp đó, trước thế giặc đang lên, tháng Chạp năm Giáp Thân (1-1285), Thái thượng hoàng Trần Thánh Tông xuống chiếu mở một cuộc hội nghị hết sức quan trọng, đó là Hội nghị Diên Hồng. Tham dự hội nghị này là các vị bô lão, đại diện cho nhân dân cả nước. Thượng hoàng đích thân hỏi các vị bô lão này là nên đánh hay nên hòa. Một đời thân phận thấp hèn, tay bùn chân lấm, nay bỗng dưng được triều đình mời tận vào hoàng cung để bàn quốc gia đại sự, tinh thần của các vị bô lão phấn chấn khác thường. Sách Đại Việt sử ký toàn thư (bản kỷ, quyển 5, tờ 44a) chép: “Các cụ bô lão đều nói đánh, muôn người cùng một tiếng, muôn lời như bật ra từ một miệng. Tiếng hô quyết đánh của các phụ lão như một làn chớp lan ra khắp trong nước, từ kinh thành đến các phủ huyện, nơi hang cùng ngõ hẻm, dân tạo thành một khối tộc đoàn kết lớn mạnh, không phân biệt đồng bào Kinh hay Thượng, tất cả đều cương quyết đứng lên đánh giặc, bảo toàn lãnh thổ và quyền dân tộc độc lập” (Thích Đức Nhuận – Đạo Phật và dòng sử Việt).

Các vua Trần đã tập hợp toàn dân và quan trọng hơn là hiệu triệu cho một cuộc “chiến tranh nhân dân” trên mọi mặt trận: từ chiến trường đến lòng người.

Nhưng chính sách đoàn kết này chỉ có thể thực hiện được, khi người dân và người lãnh đạo đất nước có chung một quyền lợi để bảo vệ và một đối tượng để chiến đấu. Trong lời Hịch gửi các tướng lĩnh và binh sĩ, Trần Hưng Đạo đã nói rõ: “Các ngươi ở lâu dưới trướng, nắm giữ binh quyền, không có áo mặc thì ta cho áo, không có cơm ăn thì ta cho cơm, quan thấp thì ta thăng tước, lộc ít thì ta cấp lương, đi thủy thì ta cho thuyền, đi bộ thì ta cho ngựa, lúc ra quân thì cùng nhau sống chết, lúc ở nhà thì cùng nhau vui cười. So với Công Kiên đãi đám kỳ tướng, Ngột Lang đãi kẻ phụ tá, nào có kém gì? Nay các ngươi ngồi nhìn chủ nhục mà không biết lo, thân chịu quốc sỉ mà không biết thẹn, làm tướng triều đình đứng hầu quân mọi mà không biết tức, nghe nhạc thái thường đãi yến sứ ngụy mà không biết giận”.

Trần Hưng Đạo đã chỉ ra sự thống nhất quyền lợi giữa những người lãnh đạo đất nước và những người dân. Mọi người đều thấy mình có chung một quyền lợi để chia sẻ và do thế phải được cùng nhau bảo vệ. Sự tồn tại của quyền lợi người này là điều kiện và tiền đề để cho quyền lợi người khác tồn tại. Quan hệ biện chứng về quyền lợi này đã xây dựng nên ý thức về sự cùng chung một đất nước, một cộng đồng để mến yêu. “Chính xuất phát từ một nhận thức như thế, trong việc chuẩn bị cho hai cuộc chiến tranh cũng như sau khi hòa bình lập lại, vua Trần Nhân Tông, thông qua chính sách hành chính cũng như qua bản thân cuộc sống của mình, đã thực hiện hàng loạt các biện pháp chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa nhằm xây dựng khối đoàn kết toàn dân ấy. Ta đã thấy vua có biện pháp phát triển đồng bộ nông nghiệp, thương nghiệp và thủ công nghiệp nhằm tạo cái ăn, cái mặc cho người dân. Vua Trần Nhân Tông giải quyết những vấn đề xã hội về tội phạm, về những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, để tạo nên một cuộc sống quan hệ xã hội thoải mái.” (Lê Mạnh Thát – Trần Nhân Tông).

 

Trần Hưng Đạo


Chúng ta nên lưu ý là trong thời đại quân chủ, vua là bậc thiên tử, ý vua là ý trời, mà ở phương Nam lại có một vị vua “Dĩ thiên hạ chi dục vi dục”, lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, nếu không phải là người thấm nhuần giáo lý từ bi, trí tuệ, bình đẳng của nhà Phật thì không thể thực hiện được.

 

Đại Việt sử ký toàn thư (quyển 5, tờ 61a) ghi lại sự kiện “vua từng ngự chơi bên ngoài, giữa đường gặp gia đồng của các vương hầu, tất gọi rõ họ tên mà hỏi: Chủ mày ở đâu? Răn bảo các vệ sĩ không được la đuổi. Khi về cung bèn gọi tả hữu bảo: Ngày thường thì có tả hữu chầu hầu, tới khi quốc gia nhiều khó khăn thì chỉ bọn ấy có mặt thôi”. Sự kiện này chứng tỏ vua Trần Nhân Tông không chỉ đánh giá cao những người lãnh đạo tài ba thuộc tầng lớp trên của xã hội, mà ngay cả những người dân thuộc tầng lớp thấp kém nhất, tầng lớp gia đồng, vua cũng có một đánh giá như thế. Tầng lớp này vào thời điểm ấy có thể không phải thuộc thành phần được học hành nhiều, có của cải khá, nhưng đối với sự tồn vọng của quốc gia, họ vẫn có những đóng góp to lớn, thậm chí bằng xương máu của chính mình. Thế nên chúng ta mới có những anh hùng từ chốn dân gian như Yết Kiêu, Dã Tượng… Trần Nhân Tông đã vận dụng lực lượng chủ lực, vốn nằm ở đáy tầng, gồm tuyệt đại đa số dân chúng trung kiên của xã hội Việt, làm sức gốc, làm mặt trận gốc.


Chỉ có phát huy dân chủ, dựa vào cương thường lấy con người làm nền tảng mới là phương sách đem đến sức mạnh cho kháng chiến và cho công cuộc xây dựng đất nước trong thời bình, đồng thời gìn giữ hòa bình lâu dài. Bằng cái nhìn xuyên thấu trước thời đại, Trần Nhân Tông đã cứu nước và giữ nòi bằng một cương lĩnh hành động rất đầy đủ, mang tính cách mạng và hướng thượng. Người không để cho những vấn đề cá nhân, dòng tộc, giai cấp trở thành những trở ngại, mà tích hợp sức mạnh của mọi giai cấp cho một mục đích chung: bảo vệ Tổ quốc bằng biện pháp “dân chủ”, bất chấp ngoại địch hay nội thù. Nhờ thế, dẫu thua trận Vạn Kiếp hay thế lực ban đầu còn non yếu, chúng ta vẫn luôn có một thứ vũ khí tối thượng: lòng dân, hay đúng hơn, ý chí của toàn dân. Mật ngôn của Người là: “Phàm làn đấng Nhân chủ, thì phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình”. Tuy nhiên khi Ngài e sợ sinh linh đồ thán, toan tính hy sinh mạng mình để cứu muôn dân, đã nghe mật ngôn thứ hai từ Thái sư Trần Thủ Độ “Nếu bệ hạ hàng thì trước hãy chém đầu thần rồi sau hãy hàng”.

Câu trung liệt ấy là một lời khẳng định mãnh liệt sức sống Việt luôn trường tồn, bất chấp hiểm nguy. Chính bởi vậy mà hào khí của ba lần kháng Nguyên – Mông vẫn vẹn nguyên trong câu chuyện của “Người lính già đầu bạc / Ngồi kể chuyện Nguyên Phong”, còn vang vọng mãi tới mai sau và dù có bao phen “chồn ngựa đá” thì vẫn còn đó “Non sông muôn thuở vững âu vàng” (Sơn hà thiên cổ điện kim âu – TNT)

DUNG HỢP MỌI DỊ BIỆT, TÍCH HỢP TƯ TƯỞNG VIỆT 

“Dung hợp” tiếng Hy Lạp cổ: Synkretimos, nghĩa là sự kiên kết, kết hợp, pha trộn, vay mượn các bộ phận, yếu tố trong các hệ thống khác nhau. Trong lĩnh vực triết học, dung hợp là tổng hợp, dung hòa những hệ thống, những khuynh hướng khác nhau thậm chí trái ngược, mâu thuẫn nhau vào một hệ thống nhằm giải quyết một vấn đề xã hội nào đó.

Dung hợp tam giáo nằm trong lĩnh vực triết học – tôn giáo và diễn ra chủ yếu ở Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam, phản ánh một trong những đặc điểm nổi bật của triết lý phương Đông là sự kết hợp không thể tách bạch giữa triết học, tôn giáo, chính trị, đạo đức. Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, sự dung hợp tam giáo biểu hiện ở những giai đoạn lịch sử cụ thể thường có nội dung, hình thức khác nhau với những tên gọi khác nhau: tam giáo hòa đồng, tam giáo đồng nguyên, tam giáo đồng qui.

CÓ HAY KHÔNG TAM GIÁO ĐỒNG NGUYÊN?

Có người cho rằng quan niệm “tam giáo đồng nguyên” có từ đời nhà Lý như nhận định sau: Sở dĩ nói “đồng nguyên” là bởi mục tiêu tối thượng của cả ba tôn giáo này đều hướng tới tính thiện, tính nhân văn. Và nhà Lý chiết xuất ra ở mỗi dòng đạo những điều ưu việt nhất làm định hướng căn bản cho việc xây dựng xã hội. Đó là: Xã hội Nho – tâm linh Phật – Thiên nhiên Đạo. Tam giáo đồng nguyên là như vậy, và nó chính là triết lý nhân sinh cũng đồng thời là định hướng chính trị cho xã hội thời đại nhà Lý (1).

Đến đời Trần, nguồn gốc xã hội và cơ sở triết học của hiện tượng tam giáo đồng nguyên, có hai đặc điểm sau cần lưu ý:

Thứ nhất, đời Trần là thời kỳ phát triển độc đáo trong lịch sử Việt Nam với sứ mạng vừa xây dựng vừa chiến đấu bảo vệ nền độc lập, tự chủ của dân tộc. Mọi hoạt động trong các lĩnh vực của đời sống xã hội như kinh tế, chính trị, văn hóa dường như đều tập trung về một hướng, một mục đích tối hậu: chiến thắng quân xâm lược Nguyên – Mông.

Thứ hai, quan điểm “tam giáo đồng nguyên đời Trần” được cho là phản ánh những điều kiện kinh tế chính trị xã hội, mặt khác, nó nằm trong quan hệ tương tác giữa triết học và tôn giáo.

Như đã phân tích ở trên, chiến lược của nhà Trần là huy động sức mạnh và ý chí toàn dân trong cuộc kháng chiến nên đã áp dụng chính sách khoan hòa, cởi mở, dân chủ. Các vua Trần thường coi ý dân là chủ đạo, “khoan thư sức dân” tạo nền tảng cho sức mạnh nội tại. Như Trần Hưng Đạo khẳng định kêu gọi: “Vua tôi đồng tâm, anh em hòa mục, cả nước nhà góp sức, giặc phải bị bắt”.

Đây cũng là thời kỳ xuất hiện những nhà tư tưởng lớn. Đó là Trần Thái Tông với những suy nghĩ được viết ra khiến “máu chảy đầu ngọn bút, nước mắt thấm trên từng trang giấy”. Ông là nhà tư tưởng, nhà chính trị biết vận dụng tam giáo trong việc quản lý xã hội. Sự dung hợp tam giáo ở Trần Thái Tông biểu hiện rõ nhất trong tác phẩm triết học Phật giáo nổi tiếng: Khóa hư lục, một sự pha trộn các quan niệm của Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo.

Một nhà tư tưởng khác, Tuệ Trung Thượng sĩ đã dung hợp làm một triết lý giải thoát của Phật giáo với quan điểm vô vi, sự giác ngộ với tinh thần tự do tuyệt đối của Lão – Trang. Trần Nhân Tông vừa mang trong mình tố chất của một nhà lãnh đạo kiệt xuất, người anh hùng hai lần đánh bại quân xâm lược vừa có đức hạnh của một vị thiền sư tràn đầy bi – trí – dũng, cốt cách thanh tao. Ông đã tích hợp triết lý sâu sắc Phật giáo, vận dụng Nho giáo, có chút tư duy lãng đãng Đạo giáo và trên tất cả hợp thành dòng tư tưởng Việt, nhập thế mãnh liệt và tích cực, không trầm buồn ảo não, không khô cứng tôn ty, ràng buộc nghi lễ, không vô vi xuất thế, lãng đãng phiêu bồng. Đến một sử gia cố chấp như Ngô Sĩ Liên cũng phải nhận xét: “Nhân Tông trên thờ Từ Cung tỏ rõ đạo hiếu, dưới dùng người giỏi, lập nên võ công. Nếu không có tư chất nhân, minh, anh , võ, thì sao được như thế? Chỉ có một việc xuất gia là không hợp với đạo trung dung.” (2)

Tuệ Trung Thượng sĩ


Tác giả Trương Văn Chung cho rằng: “Tam giáo đồng nguyên đời Trần là sự dung hợp ba hệ tư tưởng có mục đích, tính chất, khuynh hướng khác nhau đã được mềm hóa bởi truyền thống văn hóa Việt Nam và chịu sự quy định của nhân tố chính trị đương thời. Thực chất là mối quan hệ tương tác giữa hình thức này với đường lối chính trị nhà Trần”. Tác giả lý luận rằng: Triết học Phật giáo đời Trần dựa trên nền tảng thiền học, tập trung vào những vấn đề bản thể luận như “Tâm” (Tâm vô trụ, Tâm tự tính, Tâm thường nhật v.v). Chú trọng bàn đến cái bản thể uyên nguyên nhất, cái khởi thủy của toàn bộ thế giới, cái bản chất của vạn vật, thế giới quan thiền học đời Trần đã tìm thấy điểm chung với thế giới quan của Nho giáo, Đạo giáo rồi. Các khái niệm “Chân không”, “Thái cực”, “Đạo” đã cùng nhau bước qua cái vỏ ngôn từ để đồng nguyên về tư duy. Đó là thế giới quan mang tính chất tự nhiên, thuần phác, chứa đựng phép biện chứng của “sắc, không”, “lý, khí”, “âm, dương”. (3)

Chúng ta cũng biết rằng mục đích của những nhà lãnh đạo ở mọi thời đại là tổ chức một xã hội có kỷ cương trật tự, có lề luật chặt chẽ. Ở phương Đông, dưới thời phong kiến, họ thường dựa vào sự ràng buộc của tam cương, ngũ thường của Nho giáo là tính phân chia đẳng cấp, theo tôn ty, mất bình đẳng giàu nghèo nam nữ… sẽ tạo ra nhiều nhân tố bất ổn cho xã hội. Vậy nên trong thời Lý – Trần, các bậc quân vương chủ trương hạn chế hay khắc chế thói tham lam ích kỷ bằng cách hướng con người đến những mục đích tinh thần cao thượng hơn: xả kỷ, tôn trọng lẫn nhau, sống hiếu hòa, hướng thiện và hướng thượng, giảm bớt sân hận cố chấp, để tiến tới bến bờ giải thoát vượt lên khỏi cám dỗ vật chất của đời thường, và để vươn tới cứu cánh ấy thì phải huân tập thân tâm theo giáo lý nhà Phật.

Nếu Lão – Trang có điểm nào cần tham cứu thì đấy chính là quan điểm mọi loài sinh ra bình đẳng dù cho thấp sinh, noãn sinh hay thảo mộc (Giáo lý nhà Phật cũng nói thế). Lão Tử chủ trương muôn nòi phải nương tựa vào nhau, cùng tồn tại chứ không loài nào được ép loài nào. Con người cũng như các loài khác phải tôn trọng thiên nhiên, hay chính là Đạo. Nhưng Đạo của ông Lão hay Thái cực của ông Khổng đều không phải là “không” (Suyata) của nhà Phật vì “phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng” (Kinh Kim Cang). Chúng ta cũng biết “tam giáo đồng nguyên” đời Trần ngoài những vấn đề thế giới quan đã trình bày ở trên, còn là quan điểm về chính trị, đạo đức và thái độ sống.

Người ta vẫn cho rằng chính trị, đạo đức là vấn đề trung tâm và cũng là thế mạnh của tư tưởng Nho giao, gồm các học thuyết chính danh, nhân trị, đức trị, tạo tôn tri trật tự, khuôn phép nghiêm ngặt trong xã hội với những chuẩn mực đạo đức bất biến và mẫu người quân tử thành thạo: tu, tề, trị, bình. Chúng ta cũng nhớ là đã có những phê phán từ các sử gia Trung Quốc rằng Đường Nho, Tống Nho hay Minh Nho đều không làm cho đất nước mạnh lên mà tạo ra một chế độ giáo dục lỗi thời, hà khắc, làm dân tộc suy yếu và bao phen điêu đứng dưới gót giày xâm lược.

Nếu không thể gọi là “đồng nguyên” thì chúng ta có thể gọi là “tam giáo đồng hành” hay tổng hợp tư tưởng tam giáo dưới tư tưởng chủ đạo của nhà Phật vì Nho giáo đã trở nên khoáng đạt hơn, ít câu thúc hơn trong cái nhìn phóng khoáng dưới thế giới quan Thiền tông và những yếu tố tích cực như tinh thần nhập thế, trách nhiệm, hành xử quân tử của Nho giáo vẫn còn có thể vận dụng trong ứng xử, đối đãi… Tác giả họ Trương cho rằng: Thuyết chính danh, tôn ti trật tự trên dưới của Nho giáo rõ ràng không phù hợp với chủ trương khoan hòa, đoàn kết, dân chủ của triều đại nhà Trần, vì thế chúng không được nhắc tới trong tổ hợp tam giáo, mặc dù đó là cốt tủy tư tưởng chính trị Nho giáo.(4)

Đạo giáo trong đời Trần cũng không còn nặng về pháp thuật thần bí nữa, nó trở lại tinh thần chân chất, thuần phát tự nhiên bởi sự kết hợp với triết lý vô ngã, vô thường của Phật giáo và tính duy lý của nhà Nho, nó mang lại làn gió lạ trong quan điểm nhân sinh, lý tưởng sống của con người.

Triết lý sống và tư tưởng Việt tích hợp thể hiện qua việc các vua Trần luôn sống ung dung, tự tại trong thế giới hình danh sắc tướng mà không đánh mất mình, ngồi trên ngôi cao vạn thặng đầy quyền lực, châu báu, nhưng vẫn không rơi vào trạng thái “đam mêm quyền lực”. Một điều quan trọng không thể không nhắc tới là lý tùy duyên được vận dụng sáng tạo và uyển chuyển theo tình hình đất nước và triều đình, trong đối nội và đối ngoại.

VẬN DỤNG LÝ TÙY DUYÊN VÀ TƯ TƯỞNG THIỀN TÔNG NHẬP THỂ

Lẽ sống tự do theo lý tùy duyên của Phật giáo mở ra khung trời tự tại cho các hành giả vô ngại, tùy ý hành xử. Có lẽ người ta thấy giao điểm của Thiền tông và Lão – Trang là ở chỗ này. Nhân sinh quan của Tuệ Trung Thượng sĩ mang bản sắc Việt Nam mà Trần Nhân Tông ca ngợi: ông là: “ ngọn đèn tổ của Phật hoàng”, là “con quỷ thiêng nơi vườn pháp” song lại sống “trộn lẫn cùng thế tục, hòa cùng ánh sáng, chứ không trái hẳn với người đời”. Đó là nguyên lý “hòa quang đồng trần”.

Thế nhưng tác giả họ Trương vẫn cứ khăng khăng rằng: “Tam giáo đồng nguyên đời Trần là nhân tố quan trọng trong bước chuyển tư tưởng từ “tự ý thức về cái tôi” của dân tộc sang chất “Đại Việt”, nó góp phần vạch ra biên giới văn hóa giữa Việt Nam và Trung Hoa, khẳng định sự độc lập, tự chủ trong lĩnh vực tư tưởng”. (5)

Tinh thần nhập thế đời nhà Trần trong tinh thần “tùy duyên bất biến, bất biến mà tùy duyên” không phải theo quan niệm Nho giáo – một hệ thống triết học mang tính thực tiễn chính trị và xây dựng trên tư duy trật tự xã hội quân thần; khái niệm nhập thế của Thiền tông “thõng tay vào chợ” là nhằm phân biệt với khuynh hướng vô vi xuất thế của Lão – Trang. Cả hai khái niệm nhập thế của Nho giáo và xuất thế của Lão giáo không thể đồng nhất với khái niệm nhập thế và xuất thế theo đạo Phật. Khái niệm nhập thế theo nhà Phật trong tinh thần “Này các Tỳ-kheo, hãy du hành, vì hạnh phúc cho quần sinh, vì an lạc cho quần sinh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư chiên và loài người” . (6)

Như đã phân tích ở trên, tam giáo đồng nguyên hay đồng quy chỉ là sản phẩm từ trí tưởng tượng phong phú của một số Nho sĩ đương thời và những học giả đời sau lặp lại thiếu đắn đo.

Khi nhận định tính cách của con người đời Trần, tác giả Mai Thị Thơm nhận thấy họ có những đức tính sau:

- Tính quyết đoán

- Tính đoàn kết

- Tính khoáng đạt

- Tính linh hoạt

- Tính bao dung

- Tính cương trực

- Tính dung dị

- Tính tín ngưỡng

Riêng về tính bao dung, tác giả cho rằng: “Giao Châu, vùng đất ngã tư chủng tộc và văn hóa có những đức tính quý báu của biển. Từ thời xa xưa, biết bao dân tộc khác nhau từ khắp các vùng miền Đông Bắc Á, Đông Nam Á, rồi đến những thương gia, du sĩ Ấn Độ, quan lại, dân chúng Trung Quốc… đã liên tục tìm về, về đến rồi thì họ sống và cư xử như người bản xứ, coi đây là quê hương của mình”.(7)

Cách dùng người đời nhà Trần thể hiện qua chính sách thi cử, tuyển chọn nhân tài trong mọi lĩnh vực. Ngoài các kỳ thi tam giáo, còn thi Lại viên, thi Thái học sinh, lập giảng võ đường tuyển chọn võ sĩ, chuẩn bị kháng chiến. Nếu trong những triều đại phong kiến thông thường, làm sao có tướng quân Phạm Ngũ Lão, người ngồi đan sọt được phong tướng; làm sao có cậu bé Trần Quốc Toản, làm sao có Trần Khánh Dư. Những người lập công trạng lớn về sau nhưng được tuyển dụng bằng những cách “phi truyền thống”, không qua thi cử hay quen biết (!). Ngoài vua có lòng bao dung, các tướng cũng như vậy, cụ thể như Trần Nhật Duật đã dùng đội quân “Thát” góp công đánh giặc Nguyên, vốn là những người Tống. Nhà vua cũng đã ổn định chính trị, phát triển quân sự hùng mạnh, giữ vững biên cương, giao hảo với các nước láng giềng, mở mang nền học vấn, phát triển kinh tế, chủ trương tự chủ về ngôn ngữ. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, tháng tư, năm Mậu Tý (1288), vua dụ cho Ty Hành khiển giao hảo với Hàn lâm viện. “Theo lệ cũ, hễ tuyên đọc chiếu chỉ của vua, thì Hàn lâm viện, đưa trước bản thảo chiếu chỉ cho Ty Hành khiển để tập đọc trước. Đến khi tuyên đọc, thì gồm giảng đọc cả âm lẫn nghĩa khiến cho dân thường dễ hiểu”.(8) Nhà vua chủ trương phát triển đất nước nhiều mặt, phát huy tính tự chủ về ngôn ngữ, chữ viết. Chữ Nôm là ngôn ngữ tiếng Việt được phát huy đầu tiên và được sử dụng trong nền hành chánh vào thời vua Trần Nhân Tông vậy.

Trần Nhân Tông đã gắn kết giáo lý Phật ngoại với nội tín Đại Việt, gắn kết sự linh thiêng dân dã với các trải nghiệm chính trị cung đình và sau cùng là gắn kết cái có thật của đời người với sự giải thoát còn tiềm ẩn trong trời đất. Trần Nhân Tông đã thống nhất được nghịch lý: Yêu đời và siêu thoát: “Tích nhân nghì, tu đạo đức/ Ai hay này chẳng Thích Ca/ Cầm giới hạnh, đoạn xan tham/ Chỉn thực ấy là Di Lặc” (Cư trần lạc đạo phú – Hội thứ sáu). Thơ ấy đặc tả con người tích nhân theo giới (tu) để chứng cái đức (của mình). Ai hay biết đều này mà chẳng Thích Ca. Cần nắm được giới hạnh thì phải bỏ được lòng tham. Chỉn chu với tất cả lẽ thực tế ấy thì sẽ thành Di Lặc.

Thế đã rõ, đối với Trần Nhân Tông, Phật giáo là cuộc sống, không có sự cách ly phân biệt, bởi vì Phật giáo là gì, nếu không phải đó là một quá trình đi tìm chân lý. Mà chân lý thì không nằm trong Phật giáo, mà nằm ngay ở giữa lòng cuộc sống. Nói một cách hình ảnh như trong kinh Kim Cương, mà Phật giáo đời Trần coi như một bộ kinh cơ bản, thì giáo lý Phật giáo như ngón tay chỉ mặt trăng, như chiếc bè đưa người sang sông. Cho nên, ngay cả giáo lý nhà Phật cũng phải buông bỏ, mới có thể giác ngộ được. Và cũng chính kinh này đã nhấn mạnh đến tư tưởng “tất cả pháp đều là Phật pháp”. Từ đó, ta không ngạc nhiên với chủ trương Cư trần lạc đạo (ở đời mà vui với đạo) của vua Trần Nhân Tông.

Bài phú viết về tư tưởng ở đời mà vui với đạo này có tên chính thức là Cư trần lạc đạo phú:

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên,
Cơ tắc xan hề khốn tắc miên.
Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch,
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.


(Sống đời, vui đạo thả tùy duyên
Lúc đói thì ăn, mệt ngủ liền
Vật báu trong nhà, thôi đừng kiếm
Vô tâm đối cảnh hỏi chi thiền)

(Cư trần lạc đạo phú)

Ta thấy, trước khi hình thành chủ thuyết Cư trần lạc đạo, thì Trần Thái Tông – người đặt nền móng tư tưởng cho Thiền phái Trúc Lâm, đã chọn kinh Kim Cương làm cơ sở lý luận biện tâm, thực thi đời sống hướng nội trước một bối cảnh lịch sử cả dân tộc ra sức chấn hưng đất nước. Theo nguyên lý duyên khởi của tư tưởng Hoa Nghiêm, Bát Nhã, bản thân từng cá nhân không thể tư tồn tại độc lập mà phải có sự tương hỗ, tương tức với cộng đồng, xã hội, nhất là giai đoạn cả nước đang chiến đấu cho sự tồn vong hay xây dựng lại sau chiến tranh. Tinh thần nhập thế của Thiền phái Trúc Lâm trở thành một trong những đặc trưng nổi bật của Thiền tông Việt Nam khi nhìn nhận nó trong dòng chảy lịch sử nước nhà… Tinh thần nhập thế kế thừa từ thời Mâu Tử khi đạo Phật mới du nhập, nhưng phải đến Phật giáo đời Trần thì tinh thần nhập thế mới được phát huy cao độ. Nó khẳng định bản sắc Thiền tông Đại Việt, tác động mạnh mẽ vào đời sống chính trị văn hóa xã hội nước nhà. Tư tưởng tùy duyên và sự thành công của nhà Trần là do các vị vua lãnh đạo đất nước biết vận dụng tư tưởng “Hòa quang đồng trần”, “Cư trần lạc đạo” để làm gương cho trăm họ, huy động sức mạnh đoàn kết toàn dân, nuôi lớn lòng yêu nước của toàn dân để xây dựng Đại Việt thành một quốc gia hùng cường mà không một thế lực nào có thể đánh bại được.

Trong Cư trần lạc đạo phú, Hội thứ nhất, vua nói:

“Mình ngồi thành thị, nết dụng sơn lâm”.

Nghĩa là ngay nơi các tướng thế gian, mà giác ngộ thực tướng vô tướng, sống và hành xử theo đúng thực tướng vô tướng ấy.

Người xây dựng đất nước mà không thấy nhân thấy ngã; đuổi giặc, giữ yên bờ cõi mà tâm không gây oán thù hay tự đắc; được cả giang sơn, bá tánh đoàn tụ vui vầy mà lòng không đắm tước; ngồi trước cám dỗ trần thế mà lòng không dao động; có hàng trăm cung phi, mỹ nữ kề cận hầu hạ, mà nghĩ đến sự xả ly; ngồi trên thiên hạ mà thấy rõ các pháp thế gian đều là hư huyễn; đó chính là những gì mà vua Trần Nhân Tông đã trải qua.

Người hiểu: “Dứt trừ nhân ngã, thì ra thực tướng Kim Cang. Dừng hết tham sân, mới làu lòng mầu Viên Giác”.

Tinh thần “Cư trần” nhưng phải “lạc đạo” là hai vế của một triết lý “Vui đạo sống tùy duyên” – một di sản vô giá mà bậc Đại sĩ Phật hoàng để lại, chính đó là giá trị nền tảng văn hóa của một đất nước dân chủ, tự do vững mạnh. Tinh thần dung hợp mọi luồng tư tưởng khác nhau thành một khối phẩm chất Việt.

Với hành trạng sống động, Trần Nhân Tông không chỉ là đấng minh quân, mà còn là nhà văn hóa, tư tưởng kiệt xuất. Tất cả những lời tán thán, ca tụng đều chỉ như sương rơi, hoa rụng với Người khi đã nhận ra dù:

“Cốc hay thân huyễn,
Chẳng khác phù vân;
Vạn sự giai không,
Tựa dường bọt bể.”


Người đã giác ngộ ngay trong đời sống và tâm không còn bám víu, ràng buộc bởi phiền trược, chấp trước…

Nói như một số nhà nghiên cứu, vua Trần Nhân Tông đã “xây dựng cho toàn dân một nền luân lý đạo đức học Phật giáo thật sống động và thiết thực, không bi quan, yếm thế, mở ra một cái nhìn toàn diện và tích cực trong triều đại nhà Trần.” Phật Hoàng, như nhân dân tôn vinh Người, mang “chất Phật” và “chất Vua” song song tồn tại qua mọi giai đoạn của cuộc đời, chỉ khác ở chỗ tùy duyên ứng hiện.

Thế nên có thể kết luận: “Ngài (Trần Nhân Tông) là tấm gương soi sáng muôn đời cho dân tộc Việt Nam về một thời đại huy hoàng, chiến công hiển hách, văn hóa rực rỡ, khi mà Phật giáo trở thành quốc giáo và Điều ngự Giác hoàng Trần Nhân Tông được nhân dân tôn kính là Phật hoàng hay có thể nói Ngài là một biểu tượng độc lập về tư tưởng và văn hóa với những kẻ luôn nghĩ mình là người khổng lồ phương Bắc”.(10)

Vậy mà thể tánh của Người lúc nào cũng lặng lẽ, rỗng rang, tự tại giữa dòng đời.

“Phải quấy niệm reo theo hoa sớm
Lợi danh tâm lạnh vớ mưa đêm


(Thị phi niệm trục triêu hoa lạc
Danh lợi tâm tùy dạ vũ hoàn)

(Sơn phòng mạn hứng)

Chú thích:

(1) Hoàng Quốc Hải – Báo Đại Đoàn Kết, số ra ngày 24/10/2010

(2) và (8) Đại Việt sử ký toàn thư, NXB văn học, 2006

(3), (4) và (5): Trương Văn Chung, Tư tưởng Triết học của Thiền phái Trúc Lâm đời Trần, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998

(6) Tương Ưng Bộ kinh, 1, Thích Minh Châu dịch, Trường CCPHVN ấn bản, 1982

(7) Mai Thị Thơm – Hoa Nghiêm – Suối nguồn Văn hóa Phật giáo thời Trần

(9) www.Thuongchieu.net

(10) Nguyên Cẩn – Bàn thêm về lý tùy duyên trong xuất xử của Trần Nhân Tông, Liễu Quán số 2/2014.

____________

Nguyên Cẩn

Nguồn: Văn Hóa Phật Giáo Việt Nam | Ấn phẩm mùa Thu 2014 - PL. 2558

CƯ TRẦN LẠC ĐẠO

Mỗi người đều có Phật tính, như trong nhà ai cũng có của báu. Giáo pháp của đạo Phật có tám vạn bốn ngàn pháp môn tu, giống như nhiều dòng sông về chung một bến bờ giác ngộ và giải thoát.

Đức Vua Phật hoàng Trần Nhân Tông là một vị vua không chỉ để lại những tấm gương chiến công lừng lẫy trong lịch sử dựng nước và giữ nước mà còn là sơ Tổ dòng Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, đặc trưng của Việt Nam đã làm rạng danh Phật giáo đời Trần, như một trong những đỉnh cao hưng thịnh của Phật giáo dân tộc.

 

“Cư Trần Lạc Đạo” của Đức Vua Phật hoàng Trần Nhân Tông là một triết lý sống kết hợp đạo với đời, thổi thêm sức sống cho Phật giáo đương thời tăng trưởng như tôn giáo nhập thế, luôn đồng hành cùng dân tộc Đại Việt.

 

“Cư trần lạc đạo thả tuỳ duyên

Cơ tắc xan hề khốn tắc miên

Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch

Ðối cảnh vô tâm mạc vấn Thiền.”

 

居 塵 樂 道

( 竹 林 安 子 第 一 祖 陳 仁 宗 )

居 塵 樂 道 且 隨 緣

饑 則 飧 兮 困則 眠

家 中 有 宝 休寻 覓

对 鏡 無 心 莫問 禪

 

Tạm dịch:

 

Sống ở trên đời tuỳ theo hoàn cảnh mà vui với đạo

Ðói thì ăn, mệt thì ngủ

Của báu sẵn trong nhà khỏi tìm kiếm

Ðứng trước cảnh vật mà vô tâm thì không phải hỏi Thiền là gì

 

Dịch thơ:

 

Ở đời vui đạo, hãy tuỳ duyên,

Hễ đói thì ăn, mệt ngủ liền.

Trong nhà có báu thôi tìm kiếm

Đối cảnh vô tâm chớ hỏi Thiền.

 

“Cư trần lạc đạo thả tùy duyên”(居 塵 樂 道 且 隨 緣 )

 

“Cư trần” Sống trong cõi đời, Đức Vua – Phật hoàng đã thừa nhận sự tồn tại của huyễn thân. Cõi trần là một giả cảnh, chỉ là một chặng đường trong luân hồi, nhưng lại là một giai đoạn không thể bỏ qua, chính là giai đoạn để giác ngộ chân lý.

 

“Lạc đạo” vui với đạo là một tâm thế hành đạo, thuận theo lẽ đạo, tùy duyên mà hành đạo, tùy duyên nhưng bất biến.

 

“Cơ tắc xan hề khốn tắc miên” (饑 則 飧 兮 困則 眠)

 

– Hễ đói thì ăn mệt ngủ liền. Chấp nhận những quy luật của cuộc sống, không chấp ngã, chấp không.

 

“Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch (家 中 有 宝 休寻 覓

Đối cảnh vô tâm chớ hỏi Thiền.” 对 鏡 無 心 莫問 禪)

 

Mỗi người đều có Phật tính, như trong nhà ai cũng có của báu. Giáo pháp của đạo Phật có tám vạn bốn ngàn pháp môn tu, giống như nhiều dòng sông về chung một bến bờ giác ngộ và giải thoát. Các giáo phái khác dựa vào kinh điển, giáo lý Phật dạy để tu trì, Giáo phái Thiền chủ trương dùng tâm mà truyền tâm. Phật tại tâm. Tâm tức Phật. Phật tức Tâm. Nếu ai thấy được tâm tịnh thì lập tức thành Phật. Thiền phái cho rằng tất cả kinh điển chẳng qua như ngón tay chỉ mặt trăng. Đến như mặt trăng chân lý thì chúng ta không thể dùng văn tự ngôn ngữ mà diễn tả hay hiểu rõ được. Vì thế, người tu hành theo pháp môn thiền định đứng ngoài kinh luận. 

 

Chỉ dùng phép tâm ấn của Phật tổ để làm phương pháp truyền tâm cho thế hệ sau. Chỉ khi nào đôi bên hiểu nhau, thông cảm đạo lý, truyền thụ được chân lý thì mới thực hiện được phép tâm truyền.

 

Người tu thiền đạt đạo có được những quyền năng siêu việt mà người thường không dễ gì có được. Truyền thuyết Phật giáo truyền rằng: Nhờ phép tu Thiền Định, Tôn Giả Mục Kiền Liên có khả năng xuất thần du hành các cõi Phật. 

 

Xuống cả địa ngục để quan sát chúng sinh, bay qua mười ức cõi Phật đến quốc độ của đức Phật Thích Ca có tầm âm vang xa. Nhờ phép tu Thiền Định, Tôn Giả Phú Lâu Na cùng Mục Kiều Liên đã từng vâng mệnh của đức Phật Thích Ca xuât thân từ hư không bay vào trong ngục, giảng thuyết pháp yếu và truyền trao tâm pháp yếu cho Vua Tần-Đà-Ta La là vua nước Ma-Kiệt-Đà đang bị giam cầm.

 

Tôn Giả A Na Luật tuy bị mù lòa có khả năng thiên nhãn thông (nhìn xa ngàn dặm). Tôn giả Xá Lợi phất mắt có thể nhìn thấy 60 tiểu kiếp người về trước, Tôn giả A Nan Đà nhìn thấy cõi Tây Phương cực lạc mà ở đó Đức Phật A Di Đà đã phóng ra muôn vàn ánh hào quang rực rỡ. Đức Thích Ca Mâu Ni có phép tha tâm thông nên từ xa đã đọc được tư tưởng của đại đệ tử Tu-Bồ-Đề.

 

Các nhà sư tu thiền khẳng định rằng: tuy ngồi thiền trong am cỏ Ngọa Vân trên đỉnh núi Yên Tử. Đức Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông đã dùng hào quang định lực của mình mà quán chiếu trong, ngoài, trên dưới, mọi sự với Ngài đều thông tỏ.

 

Trên đỉnh núi Yên Sơn, cách biệt với kinh kỳ. Vua Phật Nhân Tông vẫn rõ được triều chính, nhiều lần về triều khuyên bảo vua Anh Tông tu dưỡng tâm tính, kìm bớt lòng dục, xa rời tửu sắc, gìn giữ chân tâm… xứng đáng trở thành bậc quân vương tôn kính. 

 

Ngài còn biết rõ được biên cương phương bắc, phương tây và phương nam, có được những quyết sách lớn lao và đúng đắn nhằm gìn giữ tình bang giao giữa các nước láng giềng và Đại Việt, giữ vững, nền an ninh chính trị nước nhà.

 

Ở Yên Tử, Ngài hoàn thiện hệ thống giáo lý của Pháp phái Trúc Lâm Giáo lý, Trúc Lâm đã trở thành nền tảng tư tưởng và đạo đức của thời đại hoàng kim triều Trần, giai đoạn phật giáo là Quốc giáo. Cho nên, việc từ bỏ ngôi vua vào núi để tu hành của Vua Trần Nhân Tông tưởng chừng xuất thế, nhưng đích thực lại nhập thế tích cực. 

 

Từ chức vụ cao sang của Nhà Vua, Vua Trần Nhân Tông trở về ngôi tôn quý của nhà Phật. Vua từ cái nhất thời, hữu hạn mà trở về cái vô hạn, vĩnh hằng. Không phải lúc băng hà, Vua Trần Nhân Tông mới hóa Phật. Danh hiệu Vua Phật Hoàng đã được tôn vinh cho Vua Trần khi Ngài còn tại thế. 

 

Trẫm thầm nhủ: “Phật không chia Nam Bắc, đều có thể tu mà tìm; tính người có trí ngu, cũng nhờ giác ngộ mà thành đạt. Vì vậy, phương tiện dẫn dụ đám người mê muội, con đường tắt sáng tỏ lẽ tử sinh, ấy là đại giáo của đức Phật. Đặt mực thước cho hậu thế; làm khuôn mẫu cho tương lai, ấy là trách nhiệm của tiên thánh.”

 

"Trong núi vốn không có Phật, Phật ở trong tâm ta. Tâm lặng mà biết đó chính là tâm Phật. Nếu bệ hạ giác ngộ được tâm ấy thì tức khắc thành Phật ngay tại chỗ, không cần đi tìm cực khổ ở bên ngoài”.(Thiền Tông Chỉ Nam)

 

“Cư trần lạc đạo” nghĩa là ở đời mà vui đạo, là giác ngộ ngay giữa cuộc đời, giác ngộ không phải xa lánh cuộc đời hay quên đời. “Cư trần lạc đạo” của đức Vua – Phật hoàng Trần Nhân Tông đã, đang và sẽ sống mãi cùng dân tộc, trong lòng dân tộc.

___________________

Trí Bửu

Nguồn: phatgiao.org.vn

KHỞI NGUỒN DÒNG THIỀN TRÚC LÂM YÊN TỬ

Trước khi xét đến nguyên lai phát xuất thiền Trúc Lâm Yên Tử, chúng ta ngược dòng Thiền Tông để tìm điểm khởi nguồn trực tiếp của dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử, như là một trong những nét đặc thù xuất phát của Thiền học Việt Nam. Khi có Thiền phái Trúc lâm Yên Tử, ở nước ta từng có 3 dòng Thiền lớn: Dòng Tì Ni Đa Lưu Chi, Dòng Vô Ngôn Thông và Dòng Thảo Đường.

Dòng Tì Ni Đa Lưu Chi là do Tì Ni Đa Lưu Chi, người Nam Thiên Trúc qua Trung Hoa, rồi tháng 3 năm 580 sang Việt Nam, ở chùa Pháp Vân mở đầu một dòng Thiền và đã truyền pháp cho Thiền sư Pháp Hiền, người Việt. Dòng Thiền này truyền thừa qua 19 thế hệ với những đại sư nổi tiếng như Pháp Hiền ở thế hệ 2, Thông Biện ở thế hệ 9, Đạo Hạnh ở thế hệ 12, Minh Không ở thế hệ 13… Còn dòng Vô Ngôn Thông (còn gọi là Thiền phái Quan Bích) do Thiền sư Vô Ngôn Thông họ Trịnh, người Trung Hoa, sang Việt Nam vào 820, ở chùa Kiến Sơ. Dòng này truyền thừa qua 17 thế hệ với những vị đại sư tiêu biểu như Ngô Chân Lưu ở thế hệ 5, Mãn Giác ở thế hệ 9, Thường Chiếu ở thế hệ 13, Hiện Quang ở thế hệ 15, Tiêu Diêu ở thế hệ 17… Trong hai dòng đó, có những gương mặt văn hóa lơn của nước Việt ta thời Lý – Trần như Mãn Giác Thiền sư(1), Khuông Việt Đại sư Ngô Chân Lưu… Thảo Đường là dòng Thiền lớn bắt đầu truyền pháp ở nước ta thế kỷ XI. Vào năm 1069, vua Lý Thánh Tông đưa quân đi Bình Chiêm, đem về một số tù binh, trong đó có Thiền sư Thảo Đường. Thiền sư vốn người Trung Hoa, thuộc tông truyền thừa qua 6 thế hệ với những tên tuổi lớn trong lịch sử dân tộc, như Lý Thánh Tông ở thế hệ 2, Không Lộ ở thế hệ 3, Lý Anh Tông ở thế hệ 4, Lý Cao Tông ở thế hệ 6…

 

Thiền sư Hiện Quang chính là người khai sơn chùa Vân Yên, sau đổi là Hoa Yên, trên núi Yên Tử. và Trần Thái Tông, ông vua đầu tiên của nhà Trần, một vị vua anh hùng, có cuộc đời riêng đầy đau khổ, từng bỏ ngai vàng lên chùa này. Sau đó vì việc nước phải về triều “Tự thân làm tướng, đốc chiến đi trước xông pha giữa tên đạn”, đánh tan quân xâm lược Nguyên Mông lần thứ nhất. Thắng giặc xong, Ngài nhường ngôi cho con, lui về chuyên chú việc nghiên cứu Phật học. Những trình bày trên chỉ là sơ lược sự truyền thừa Thiền tông.

 

Ở đây chúng ta sẽ đặc biệt tìm điểm khởi nguồn trực tiếp của dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử, như là một trong những nét đặc thù xuất phát của Thiền học Việt Nam. Đề cập đến Thiền học Việt Nam, thì phải nói đến đời nhà Trần vì triều đại nhà Trần là một triều đại mà suốt cả các vị vua điều được un đúc bởi tư tưởng Thiền học, trong đó Trần Thái Tông là người tiêu biểu nhất, và có thể coi là quan trọng nhất trong chứng cứ phát khởi Thiền Trúc Lâm Yên Tử đó là núi Yên Tử. Núi Yên Tử đã được gắn liền với Thiền Trúc Lâm, và chính nơi đây Trần Thái Tông đã khai mở con đường mới về Thiền học(2). Địa vị của Trần Thái Tông Thiền sư trong Thiền tông thực không phải nhỏ. Con người Trần Thái Tông luôn luôn chủ trương áp dụng cái học thực tiễn, đó là tu, tề, trị, bình trong lĩnh vực quốc gia – xã hội để phát triển trong tinh thần tự chủ tự cường của dân tộc. Nhưng song song với chủ trương đó, Trần Thái Tông không bao giờ quên lãng việc học nội điển, đặc biệt là tu học yếu chỉ Thiền tông. Lê Tắc cũng phải viết về Trần Thái Tông: “Khoan, nhân, thông tuệ, văn võ kiêm bị”. Trong lúc đó Ngô Sĩ Liên cũng viết: “Có lượng đế vương, khoan, nhân đại độ hữu đế vương chi lượng”. Và Ngô Thơi Sĩ một sử gia đứng về quan điểm Nho học chính thống cũng xác nhận: “Vua là người khoan, nhân, có độ lượng đế vương; lập ra chế độ điển chương văn minh đáng khen”.

 

Trên phương diện lịch sử, Trúc lâm Yên Tử là một phái Thiền mà người mở đường chính là Trần Thái Tông. Một người vừa là Thiền sư, vừa là một bật đế vương, nắm giữ vận mệnh của đất nước, thực là một sự kiện hy hữu trong lịch sử Thiền học mà ta phải thấy bằng tất cả sự nghiêm cẩn. Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, người đời xem Trần Thái Tông như một ngọn đuốc Thiền học, với tác phẩm Khóa hư lục, viết khi lui về làm Thái thượng hoàng. Trong phả hệ của Thiền Trúc Lâm, không ghi vua Trần Thái Tông. Nhưng không phải vì vậy mà địa vị của vua kém quan trọng. Chính vua là người đã chuyển hướng Phật giáo Thiền tông sang một con đường mới, với đường lối hành trì mới mẻ. Quả nhiên, Thiền tông Bản hạnh (TTBH) đã đặt vua vào vị trí xứng đáng:

 

Chư tổ truyền đến nước ta

Thiền tông Nam chỉ chép ra lời này

Trước kể Trần triều cho hay

Đế vương học đạo là Trần Thái Tông.

(TTBH, câu 107-110)

 

Kế tiếp Thiền sư Hiện Quang là Thiền sư Đạo Viên, người được vua Trần Thái Tông gọi là Quốc sư Trúc Lâm. Tiếp nữa là Thiền sư Tiêu Diêu, tức Quốc sư Đại Đăng. Quốc sư Đại Đăng có hai học trò xuất sắc, một là Thiền sư Huệ Tuệ, một là Thượng Sĩ Tuệ Trung. Tuệ Trung là một người có phẩm chất Thiền học, có phẩm chất Thiền sư, nhưng cũng là một cư sĩ sống đời tại gia. Tuệ Trung chính là người ấn chứng cho Trần Nhân Tông.

 

Trên dòng chảy lịch sử Phật giáo Việt Nam có cả sự ảnh hưởng, tiếp nhận từ phương nam và phương bắc, có cả các bật sư tổ người nước ngoài và người Việt, có cả sự trầm tích, cộng

 

Đặt trong tương quan giữa Phật giáo và văn hóa dân tộc, dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử có một vị trí đặc biệt. Trước hết cần đánh giá cao vai trò Hoàng đế – Thiền sư – thi sĩ Trần Nhân Tông (1258 – 1308) trên tư cách bật Sư Tổ với đạo hiệu Trúc Lâm Đại Đà, người đặt nền móng cho Thiền phái Trúc Lâm.

 

Trần Nhân Tông (Thái tử Khâm) là ông vua anh hùng, một triết gia lớn, một thi cĩ sâu sắc của nước Việt ta thế kỷ XIII. Thuở thiếu thời, khi theo học Thượng sĩ Tuệ Trung, đã hỏi Thượng sĩ về bổn phận tông chỉ Thiền, Thượng sĩ đáp rằng: “Gốc của bổn phận Thiền là soi sáng lại chính mình, không từ bên ngoài mà được…”. Nghe qua, Ngài đã thông suốt. Năm Ngài 21 tuổi thì lên ngôi Hoàng Đế (1279) lấy hiệu là Nhân Tông. Ngài phải cầm quân đánh đuổi quân xâm lược Nguyên Mông hai lượt, 1285 và 1288. Năm 35 tuổi, Ngài nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông, rồi năm 41 tuổi Ngài vào núi Yên Tử xuất gia tu hành, lấy hiệu là Trúc Lâm Đại Đầu Đà, và trở thành Tổ đầu tiên của Thiền phái Trúc Lâm – Yên Tử. Như vậy, xét theo dòng truyền Yên Tử thì Đại Đầu Đà thuộc thế hệ 6. Nhưng vì Ngài có một trí tuệ đặc biệt ôm trùm đất nước và tri thức Phật học sâu xa, Ngài đã thống nhất các Thiền phái đã có thành một Thiền phái Trúc Lâm. Từ đây dân tộc Việt có một Thiền phái mang tên Việt với vị Tổ sư là người Việt Nam. Có thể nói, đây là một chấm son trên lịch sử dân tộc nói chung và lịch sử Phật giáo Việt Nam nói riêng. Sau khi vua Trần Nhân Tông(3) trao ngôi lại cho con để đi tu, Ngài tu mười năm ở núi Yên Tử. Năm năm đầu, Ngài chuyên hạ thủ công phu tu hành, không dám lơi lỏng và không hề rời núi. Sau đó Ngài ngộ đạo, truyền đạo Phật giảng kinh sách cho đệ tử, qua những lời thơ ý văn thâm sâu diễn giải mối quan hệ giữa “hữu” và “vô”. “thân” và “tâm”, đề cao bản ngã chủ thể “nghiệp lặng”, “an nhàn thể tính”, “tự tại thân tâm”, “ sống giữa cõi trần, hãy tùy duyên mà vui với đạo”, đồng thời coi trọng cuộc sống thực tại, cảnh tỉnh lối tu hành cực đoan, cố chấp. Cho nên Ngài mới làm bài Đắc Thú Lâm Tuyền Thành Đạo Ca như sau:

 

Kệ rằng:

 

“Cảnh tịch an cư tự tại tâm;

Lương phong xuy đệ nhập tùng âm.

Thiền sàng thụ hạ nhất kinh quyển,

Lưỡng tự thanh nhàn thắng vạn câm (kim)”.

 

Dịch:

 

“Cảnh lặng, sống yên, lòng tự tại,

Gió mát thổi đến dưới bóng cây thông.

Giường thiền ở dưới góc cây,

Hai chữ thanh nhàn quý hơn vạn nén vàng”.

 

Bài kệ này nói lên chỗ sở đắc sở chứng của Ngài nhờ năm năm trường ở núi. Sau đó, Ngài mới đi mở mang truyền bá và lập thành một hệ phái Thiền tông Việt Nam tức là phái Trúc Lâm Yên Tử. Từ đó ở Việt Nam mới có một vị Tổ. Tổ ban đầu là Sơ tổ Trúc Lâm tức là vua Trần Nhân Tông, là một vị vua Việt Nam đi tu đắc đạo thành Tổ. Như vậy nếu lấy đây làm nền tảng, chúng ta thấy có căng cứ(4). Cuối đời Lý đầu đời Trần có thiền sư Hiện Quang tu đắc đạo trên núi Yên Tử, dưới Ngài có thiền sư Đạo Viên hay là Viên Chứng đắc đạo; dưới đó nữa có thiền sư Đại Đăng. Những vị đó đều là quốc sư hai triều, triều vua Trần Thái Tông triều vua Trần Thánh Tông. Sau đó có những vị tiếp nối nhưng không được rõ ràng. Hơn nữa, khi vua Trần Nhân Tông đi tu đắc đạo ở đó rồi mới lập ra phái Trúc Lâm Yên Tử, tiếp ngài Pháp Loa ngài Huyền Quang cũng đều đắc đạo trên núi Yên Tử. Như vậy thì cái quý báu, cái linh thiêng của Yên Tử là nhờ người tu đắc đạo trên đó, cho nên có câu ca dao:

 

“Dù ai quyết chí tu hành

Có lên Yên Tử mới đành lòng tu”.

 

Như thế, núi Yên Tử vốn là một danh sơn đáng kể. Các vua đời Trần đã lấy núi nầy để lập am tu hành, tham cứu Phật pháp và chính ở đây các Thiền sư đời Trần như Pháp Loa. Huyền Quang vv… đã đắc pháp, truyền y bát.

 

Núi Yên Tử còn được gọi là Tượng sơn. Như ở trong thanh nhất thống chí có chép: “An Kỳ Sinh thời Hán bên Tàu đã chứng đạo tại đây” Chính vì An Kỳ Sinh chứng đạo ở trên núi này nên đời sau người ta gọi là An hay Yên Tử. Trong sách theo đó, cũng viết như vậy. Đại Nam nhất thống chí chép: “Đời Đường, Tôn Quang Định có bài ký ‘ Động thiên phước địa’ nói: Núi An Tử ở nước ta là một phước địa (kiểu đất tốt) trong 72 phước địa. “và Hải nhạc thanh sơn đời Tống lấy núi này làm phước địa thứ tư. Sách Sử Lễ chí đời Minh nói: “Nước An Nam có 21 danh sơn liệt kê vào tự điển, mà núi An Tử và núi Kiệt Đặc là hai núi trong số ấy”(5). Trong lịch sử Việt Nam, đời Trần là một triều đại nổi bật về nhiều lĩnh vực, nhất là trào lưu Thiền học, mang nhiều sắc thái độc đáo nhất của Phật giáo Việt Nam. Sắc thái độc đáo đó được gói trọn trong Trúc Lâm Yên Tử.

 

Trúc Lâm yên Tử mang tính chất độc đáo và quan trọng như thế, cho nên chúng ta cần đề cập đến Thiền học Việt Nam,, tức phải nói đến đời nhà Trần vì triều đại nhà Trần là một triều đại mà suốt cả các vị vua điều được un đúc bởi tư tưởng Thiền học, trong đó có ba vị vua xuất chúng của nhà Trần; Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông là người tiêu biểu nhất. Một gốc tích đáng kể nhất, và có thể được coi là quan trọng nhất trong chứng cứ khởi phát Thiền Trúc Lâm yên Tử đó là núi Yên Tử. Núi Yên Tử đã được gắn liền với Thiền Trúc Lâm, và chính nơi đây Trần Thái Tông đã khai mở con đường mới về Thiền học. Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông, những nhân vật đã sáng tạo nên “tinh thần Thiền Việt Nam”… vừa là “Chiến sĩ, Nghệ sĩ, Đạo sĩ, ba con người làm một đã kết tinh một cách hiển nhiên rõ rệt vào ba đời vua nhà Trần một cách miên tục nhất quán, đời ông, đời cha, đời con: Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông” như Nguyễn Đăng Thục nhận xét(6), Trần Thái Tông đã là nhân vật lịch sử kỳ lạ có sứ thu hút làm cho người đi sau trăn trở chính do những dữ kiện bi tráng trong cuộc đời và sự nghiệp của ông: cùng với sự nghiệp đất nước ông đã xây dựng một nền đạo đức học Phật giáo cho thế hệ đi sau, không phải với tư cách một nhà độc tài quân phiệt phong kiến mà với tư cách của một người “cùng đinh” trong nghĩa vô ngã của đạo Phật, để người kế thừa ông có thể khẳng định đất nước Đại Việt “muôn nghiệp an nhàn thể tính” và “tự tại thân tâm”, như Trần Nhân Tông trong Cư trần lạc đạo đã nói rõ tương quan giữa đạo và đời, giữa Thăng Long lầu vàng điện ngọc và Yên Tử yến thốt oanh ngâm:

 

Mình ngồi thành thị

Nết dụng sơn lâm

Muôn nghiệp lặng an nhàn thể tính

Nửa ngày rồi tự tại thân tâm

Tham ái nguồn dừng

Chẳng còn nhớ châu yêu quý ngọc

Thị phi tiếng lặng

Được đầu nghe yến thốt oanh ngâm.

(Trần Nhân Tông, Cư trần lạc đạo(7))

 

Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Trần Nhân Tông có một vị trí quan trọng. Ngài là một triết gia lớn, đứng đầu một triết phái, thể hiện được đầy đủ bản lĩnh trí tuệ Việt Nam, để lại một dấu ấn đặc sắc trong lịch sử tư tưởng nước nhà đó là phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử. Trong cuộc đời Trần Nhân Tông sau 14 năm làm vua, theo truyền thống của nhà Trần, Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông, rồi làm Thái thượng hoàng và đi tu, trở thành Tổ thứ nhất phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử, một phái Thiền để lại dấu ấn đặc sắc trong lịch sử tư tưởng Việt Nam. Theo Thiền Sử, Trần Nhân Tông sớm tâm đắc với đạo Thiền, ngay thời gian làm vua, ông đã chú ý nghiên cứu triết học Thiền Tông, nắm được chỗ tinh yếu nhất của đạo Thiền.

 

Xét trên bình diện triết học, Trần Nhân Tông có một vị trí quan trọng, Ngài là một triết gia lớn của Phật học Việt Nam. Với Thiền phái Trúc Lâm mà Trần Nhân Tông là người đứng đầu, triết học Phật giáo Việt Nam thời Trần đã phát triển rực rỡ và thể hiện được đầy đủ trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam.

 

Nhân dân Việt Nam đều biết vua Trần Nhân Tông là một vị Minh Vương, một vị Thánh Vương và là người ứng dụng lời Phật dạy trong mọi hoàn cảnh. Trong thời kỳ làm Thái Thượng Hoàng, trong tâm Ngài luôn sống bằng hạnh của một vị xuất gia, được 6 năm và sau cùng Ngài sống cuộc đời xuất gia hoàn toàn từ trong tâm đến ngoài tướng.

 

Để minh chứng Ngài đã sống phù hợp với chánh pháp của Phật từ lúc là Thái Tử cho đến khi tịch diệt. Nhân đây chúng tôi xin trích các kính Phật từ Kinh A Hàm đến kinh Đại Thừa; đồng thời chúng tôi cũng trích một số nội dung trong Đại Việt sử ký toàn thư (ĐVSKTT), Thánh Đăng Lục và những hành trạng của Ngài. Và cũng cho thấy rằng Phật pháp bất ly thế gian pháp góp phần xây dựng và phát triển, một quốc gia hòa bình, an ninh, thịnh vượng, đoàn kết trong nhân dân, trong triều đình và giữa triều đình với nhân dân. Cũng qua các trích dẫn ấy cho chúng ta thấy Ngài Trần Nhân Tông đã dùng bản lĩnh Việt Nam để ứng dụng, hoàn chỉnh giáo lý đức Phật, hoàn thành sử mệnh của mình đối với nhân dân, với tổ tiên, với triều đình, với đất nước và các nước lân bang còn có giá trị đến ngày nay và mai sau. Vì vậy mà Trần Nhân Tông đã thực hiện theo lời Phật dạy; trong (Kinh Tăng Chi Bộ) có bảy điều làm cho một xã hội cường thịnh là: “Một là hòa hợp trong dân chúng; Hai là dân chúng đoàn kết; Ba là luật pháp nghiêm minh và có truyền thống dân tộc; Bốn là dân chúng biết kính trọng đạo đức, biết kính trọng người lớn tuổi; Năm là xã hội an ninh, không có các hiện tượng hà hiếp, bắt cóc, cưỡng ép các thiếu nữ, phụ nữ; Sáu là có uy tín và tôn trọng truyền thống tín ngưỡng; Bảy là kính trọng và ủng hộ chư tăng.

 

Trong (kinh Bổn Sanh). Phật cũng dạy mười nhiệm vụ của nhà vua là: “ Thứ nhất, là sự rộng rãi bố thí, bác ái. Người cai trị không được có một thèm khát và bám víu nào đối với tài sản, tiền của mà phải bố thí cho dân được no ấm; Thứ hai, một đạo đức tốt đẹp, không sát hại, lừa bịp, và bóc lột kẻ khác, ta dâm, nói lời sai quấy và rượu chè. Tóm lại phải giữ gìn tối thiểu năm giới luật phổ biến; Thứ ba, hy sinh tất cả vì hạnh phúc của dân, vua phải sẵn sàn từ bỏ tiện nghi cá nhân, tên tuổi danh vọng và ngay cả sự sống của mình vì lợi ích của dân; Thứ tư là trực hạnh. Phải xa lìa sợ hãi và thiên vị khi thi hành nhiệm vụ, phải thành thật trong ý định và không được lừa bịp quần chúng; Thứ năm, là khổ hạnh. Vua phải sống một đời sống giải dị, không xa hoa, phải biết tự chế bản thân mình; Thứ sáu là nhu hòa. Vua phải có tính tình hòa nhã; Thứ bảy là không thù hận, ác độc. Vua không có tư thù với bất cứ ai; Thứ tám là bất hại, không hãm hại ai, đề cao hòa bình, ngăn chặn chiến tranh, tránh dính dáng đế bạo động và sát hại sinh mạng; Thứ chín là nhẫn nhục. Vua có thể chịu đựng những khó khăn, khổ nhọc và những sự nhục mạ mà không bất bình tĩnh; Thứ mười là không đối lập, không ngăn cản, nghĩa là không được đi ngược lại với ý chí của toàn dân, không được cản bất cứ biện pháp nào đưa đến sự lợi lộc cho toàn dân. Vua phải cai trị thuận với ý chí của dân”.

 

Trong kinh Chuyển Luân Thánh Vương Phật cũng dạy: “Một vị Chuyển Luân Thánh Vương hãy nương trên pháp, an lập trên pháp, thành tựu nơi pháp, cung kính tôn trọng quán sát pháp, lấy pháp làm đầu, thủ hộ chánh pháp, răn dạy các thể nữ bằng pháp; chăm sóc, dạy dỗ các vương tử, đại thần, các quan lại, trăm quan và thứ dân bằng pháp hộ trì, chăm sóc các Sa – Môn, cho đến các cầm thú; tin người chân tu, ngộ đạo, mà hỏi những việc thiện ác, những việc nên làm, những việc không nên làm, giúp đỡ người nghèo khó, cẩn thận trong việc sửa đổi luật cũ. Chánh pháp ở đây là sống trên tinh thần vô ngã, có chánh kiến, sống thiện, từ bỏ tham ái ở đời, hết lòng phục vụ nhân sinh”.

 

Chúng ta thấy những điều Phật dạy chỉ ra ở trên thật là lý tưởng, nhưng có thể nói, trên thế gian này có hai bật Đại Bồ Tát đã thực hiện gần như trọn vẹn lời dạy của Đức Phật. Đó là vua A – Dục ở Ấn Độ, một vị vua đã ủng hộ Đạo Phật rất mạnh mẽ. Ngài trì vì nước Ấn Độ trước Công Nguyên khoảng 300 năm. Đặc biệt Ngài khuyên mọi người nên tu tại nhà hơn là xuất gia và Ngài cũng rất quý trọng các tu sĩ xuất gia. Ngài đã dự đoán được chiến tranh sẽ tàn phá đất nước, kinh sách Phật sẽ bị đốt, nên Ngài đã cử người đi truyền đạo Phật ra các quốc gia khác và đã gỏi kinh sách ở Srilanka, hiện vẫn còn tại viện bảo tàng Srilanka.

 

Người thứ hai là vua Trần Nhân Tông của nước Đại Việt cách đây hơn 700 năm. Nước Đại Việt thời bấy giờ là Quốc độ Phật. Từ Vương tôn Công tử đến thứ dân hầu hết là Phật tử, nơi nào có dân là nơi ấy có chùa. Đi chùa học kinh là một trong những tư cách đạo đức của người Việt thời bấy giờ. Chúng ta thấy được điều đó qua sách sử và di sản văn hóa lưu truyền đến ngày nay.

 

Qua các nội dung trên, chúng ta thấy Ngài là một vị Minh Vương khi làm vua, là Thánh Vương khi làm Thái thượng hoàng và là một vị Phật khi lên núi Yên Tử thực hành 12 hạnh đầu đà. Khi ấy đất nước, nhân dân và cá nhân Ngài là một. Đây là điểm hết sức đặc biệt của Ngài. Chúng ta đã thấy rõ Ngài đã thể hiện ý thức, tư tưởng, ý chí và hành động trong việc tinh cần học tập và ly dục là con đường đưa đến hạnh phúc cho chính Ngài và ảnh hưởng tốt đẹp trực tiếp cho đất nước và nhân dân. Ông Nội và Cha của Ngài đều là những người chứng đạt được tâm vô lậu, chứng đạt được thánh trí và tuệ giải thoát mà đức Thích Ca Mâu Ni Phật đã chứng đạt. Thánh trí đó là gì? Đó là bốn chân lý Khổ, tập, Diệt, Đạo. Trong đó, Ngài cũng chứng thực rằng nguồn gốc của mọi khổ đau là lòng tham ái, sự sân hận và ngu si. Những con đường để giải quyết tận gốc nguyên nhân gây ra khổ đau là thực hành Bát Thánh Đạo: “chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh tin tấn, chánh mạng, chánh niệm và chánh định”. Muốn thực hiện được những vấn đề trên thì phải nổ lực học tập và ứng dụng nội điển, quay cái nhìn vào thế giới nội tâm của mình, như Ngài đã tự thuật trong bài “hành trạng của Thượng Sỹ Tuệ Trung” rằng: “Một ngày kia, ta hỏi Người về cái gốc của tôn chỉ Thiền, Thượng Sỹ ứng khẩu đáp: “hãy quay nhìn lại cái gốc của mình chứ không tìm đâu khác được”. “Ta bổng bừng tỉnh con đường phải đi, bèn xốc áo thờ người làm thầy”. Như vậy, Ngài quyết tâm học tập nội điển, khám phá những điều đức Phật đã khám phá, để tự mình chứng đạt và ứng dụng, đạt đến thánh trí, quyết tâm ly dục, đạt cứu cánh hạnh phúc tại cuộc đời này. Đạt thánh trí để làm gì? Với cương vị là vua, Ngài phải ra sức hoàn thành bổn phận của mình đối với Tổ Tông, đối với dân, với nước, nên Ngài ra sức học tập nội điển và ngoại điển để đem thánh trí, trí tuệ thiện xảo và lòng từ bi cũng như sự dũng cảm mà lo cho dân, cho nước.

 

Vào thời kỳ xuất gia tu hành, Ngài đã dùng chánh pháp để an định tâm của Vua và dân Chiêm Thành. Đây là việc làm của bật Chuyển Luân Thánh Vương như trong kinh Phật thuyết. Vị Chuyển Luân Thánh Vương biết dùng chánh pháp để trị hóa, nên các lân bang cũng dễ thuận theo và thậm chí còn phát tâm dâng cúng những thứ quý báu, kể cả đất đai. Dưới triều Trần Nhân Tông, khi xuất gia, thực hiện hạnh Đầu Đà, Ngài đã mang y bát khất thực và thăm Chiêm Thành gần một năm. Vua Chiêm rất kính trọng và cảm động. Sau chuyến đi đó là việc gả công chúa Huyền Chân cho vua Chiêm là Chế Mân. Vì cảm đức của Ngài, Vua Chiêm đã dâng Châu Ô và Châu Lý. Nhưng đối với Ai Lao, Ngài chinh phạt nghiêm khắc khi Ai Lao quấy biên giới Đại Việt.

 

Đối với Phật pháp: Ngài rất tôn thờ, kính trọng và ứng dụng chánh pháp để trị nước, dạy cho triều đình và nhân dân về giới luật, đạo đức vì những điều Phật dạy thực sự sẽ giúp cho họ thành người có đạo đức và trí tuệ. Ngài là một hình ảnh ứng dụng trọn vẹn. Thời điểm tỏ ngộ được nguồn tâm vô nhiễm, vô lậu hay nguồn tâm bất sinh bất diệt, ngài đã đi vào cửa Thiền. Sự tỏ ngộ ấy đã soi sáng, hướng dẫn trong mọi hành vi, tư uto7ng3, trong sinh hoạt hằng ngày và đã đưa Ngài vào đời sống thiền trong mọi lúc, mọi nơi, mọi hoàn cảnh. Ngài đã thực sự tử bỏ tham ái, sống đời đạo đức, học hành kinh điển Phật Tổ. Ngài có những hiểu biết và ứng xử phù hợp với chánh pháp đối với việc dựng nước, giữ nước, đối với tổ tông, gia đình, dòng họ, đối với sự vô thường của mạng sống con người, đối với nền hòa bình lâu dài của đất nước Đại Việt và khu vực.

 

Đối với hệ phái thiền phái Trúc Lâm Yên Tử: Ở đây, chúng ta xin lưu ý rằng: Trong giáo lý Phật, Thiền bị hiểu lầm rât nhiều. Ngày nay người ta thường chú ý đến hình thức, kỹ thuật tọa Thiền và có khi còn cho rằng đó là cốt lõi Thiền của Phật giáo. Kỹ thuật đó được diễn ra ở tu viện, trong núi rừng. Người ta cho đó là Thiền chân chính. Nếu hiểu như thế sẽ không đúng với thiền của đạo Phật. Không nên hiểu là những người theo Thiền phái này đều xa đời để vào chùa, núi ngồi Thiền suốt ngày để đạt được một năng lực siêu hình nào đó. Nếu có thứ Thiền đó thì đó là Thiền của dục vọng nhằm thỏa mãn tâm lý hão huyền của người đời. Chúng ta phải hiểu mục đích của Thiền trong Phật giáo là tẩy sạch những tâm ô nhiễm, tẩy sạch những thứ làm cho tâm dao động như ý tưởng về tham ái, dâm dục, sân hận, biếng nhác,ác độc, phiền não, bất an, hoài nghi V.V…Đồng thời, Thiền sẽ giúp huân tập những đức tính tốt đẹp như tập trung chú ý, thông minh, ý chí nghị lực, an tịnh để cuối cùng giúp hành giả có trí tuệ nhìn thấu suốt bản chất của mọi sự vật. Lúc này gọi là thực chứng chân lý. Tức là thực chúng vô ngã. Pháp luyện tâm hay tu Thiền này gọi là quán Tứ Niệm Xứ đã được đức Phật khẳng định là con đường duy nhất khiến chúng sanh được thanh tịnh vượt qua sầu não, hủy diệt các khổ của thân tâm, đưa đến hành xử chân chính, thực chứng Niết Bàn như trong kinh Trung Bộ thuộc hệ Nam Tông và kinh Đại Bát Niết Bàn thuộc hệ Bắc Tông Phật đã thuyết. trước nhất là thực chứng chân tâm hay tâm vô lậu nơi mình. Một trạng thái tâm ổn định vững bền. tâm này là tâm mẹ, tâm gốc của các tâm sinh diệt. Từ sự thực chứng này khởi tu, phát triển và hoàn thiện Phật tính. Đường lối này dùng quán tứ niệm xứ làm nhân để chứng ngộ vô ngã. Hiểu được như vậy thì trong cuộc sống hằng ngày của mình, tất cả mọi hành vi nhằm đạt được mục đích đó đều được gọi là Thiền. Dĩ nhiên Thiền tọa rất cần thiết nhưng tránh bệnh nghề nghiệp và lợi dụng.

 

Riêng Thiền phái Trúc Lâm nay đã mượn pháp luyện tâm bắt nguồn từ Bồ Đề Đạt Ma Tổ sư là: “ Trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật” để tổ tâm mình, để hiểu kinh Phật và tu theo kinh Phật đạt đến chỗ đại giác. Từ chỗ kiến tính mà khởi tu phát triển, hoàn thiện Phật tính. Đường lối này dùng kiến tính làm nhân để chứng ngộ vô ngã. Phương pháp này được áp dụng cho tất cả mọi người có nhân duyên, không phân biệt tại gia hay xuất gia. Và khuyến khích các Thiền giả phải học rộng kiến thức kinh điển cũng như kiến thức ở đời để phát huy đạo Phật phục vụ cho đời. Đây là điểm nổi bật của Thiền phái này. Đường lối Thiền này ngoài việc giúp cho Thiền giả được giải thoát nó còn thúc đẩy khuyến khích hành giả ứng dụng trí tuệ giải thoát giúp hoàn thành nhiệm vu mà cộng đồng dang đòi hỏi, nâng cao đời sống đạo đức và tâm linh cho nhân dân. Đã được hình thành và phát triển từ một vị vua minh quân, một vị Thánh Vương Trần Nhân Tông của Việt Nam cách đây hơn 700 năm. Ngài đã chọn núi Yên Tử để khai sinh Thiền phái Trúc Lâm và cũng là trung tâm đầu não lãnh đạo Phật giáo thời bấy giờ.

 

Phật giáo thời kỳ này lại do một vị Minh Vương, vị Thánh Vương chánh pháp chứng đạo lãnh đạo tinh thần, tư tưởng tu hành thời ấy hướng theo tư tưởng và hạnh sống của Trần Nhân Tông là lẽ đương nhiêu. Trần Nhân Tông là người rất sáng suốt trong việc dùng giáo lý nhà Phật để đem lại sự bình an cho cộng đồng. Sự bình an đó trước nhất đến từ sự no cơm ấm áo và đất nước hòa bình, trật tự, an ninh và đàon kết dân tộc. Ngài đã dùng giáo lý nâng đỡ trí tuệ, đạo đức của triều đình và nhân dân lên một mức cao hơn. Mà ở mức cao nhất Ngài thuyết pháp nâng đõ cho họ thăng hoa trong cuộc sống, tức cuộc sống giải thoát. (Giải thoát tương đối và giải thoát tuyệt đối như kinh Kim Cang, kinh Bát Nhã và kinh Đại Bát Niết Bàn Phật thuyết).

 

Do chứng được tâm vô lậu và tuệ giải thoát nên Ngài đã lấy giáo lý của Phật làm giáo lý của Ngài. Ngài đã chủ động, tự tại chế pháp dạy dân, dạy các vị Bồ tát là vua, quan, tướng lĩnh, cung nữ học và hành theo con đường Bồ tát đạo. Tức là nương vào chánh pháp, dùng chánh pháp để sống và cống hiến trọn vẹn đời mình cho lợi ích của nhân dân. Ngài thúc đẩy các vị xuất gia ra sức học tập kinh điển, học tập các kiến thức thế gian để hòa nhịp vào công cuộc lo cho dân giàu, nước mạnh và xã hội đạo đức. Cho nên trong buổi lễ truyền trao y bát tại chùa Báo Ân, huyện Siêu Loại (nay thuộc Gia Lâm, Hà Nội) Ngài đã trao cho nhị tổ Pháp Loa 20 cuốn kinh nội điển được viết bằng máu và 100 cuốn kinh sách ngoại điển. Như vậy hai mươi cuốn kinh đại tạng viết bằng máu nghĩa là con người phải lấy Giới, Định, Tuệ làm gốc, làm mạng mạch cuộc sống của chính mình. Giới đây là Giới lòng là tư cách tác phong, tư cách làm người khác hẳn với bản năng sinh tồn do lòng tham muốn được thỏa mãn với những ham muốn trần tục, tuệ đây là tuệ giác hay tinh thần vô ngã, là tinh thần mình vì mọi người. Nắm lấy và phát huy Giới, Định, Tuệ một cách chánh pháp. Tức con đường đưa đến Ngũ Minh (Thanh Minh, Công Xảo Minh, Y Phương Minh, Nhân Minh, Nội Minh) và đây là căn bản tối quan trọng để xây dựng một mẫu người lý tưởng cho hạnh phúc của cuộc đời. Một khi mỗi một con người thực hành đúng nghĩa con đường này càng thấy vai trò của tư tưởng “Cư Trần Lạc Đạo” của Ngài Trần Nhân Tông là một sợi chỉ vòng xuyên suốt một cách sáng tạo, mới lạ con đường thực dụng hấp dẫn đối với con người học đạo và lãnh đạo. Con người ấy cần biết rằng “Tâm ý làm đầy các pháp” và thực hành sự biết đó là căn bản nhất trong các pháp. Tâm ý như thế nào thì các pháp sẽ như thế ấy(8). Chánh pháp áp dụng để nâng cao đời sống con người, như vậy mới hữu dụng, có giá trị thực tiễn xứng đáng để mọi người học tập và ứng dụng. Dĩ nhiên nó sẽ mở rộng khắp hoàn cầu và tồn tại lâu dài theo sự sống của hành tinh này và có thể xa hơn nữa.

 

Tu học với tinh thần nói trên mới đpa1 ứng được nhu cầu của nước Đại Việt lúc bấy giờ. Do nhiệm vụ của đất nước thời bấy giờ Ngài đã sử dụng tinh thần Phật giáo Đại Thừa theo đường lối Tổ Sư Thiền làm phương tiện để khai thác trí tuệ Phật nơi mình và khơi dậy trí tuệ, đạo đức tâm linh toàn dân cùng nhau xây dựng đất nước, xây dựng cuộc sống cộng đồng ngày một tiến bộ.

 

Tất cả các phái thiền như Thảo Đường, Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Mật Tông(không nhiều) đều hướng theo tinh thần, tư tưởng người lãnh đạo tối cao Trần Nhân Tông vói triết lý: Cư Trần Lạc Đạo.

 

“Ở đời vui đạo hãy tùy duyên

Đói cứ ăn đi mệt ngủ liền

Trong nhà có báu thôi tìm kiếm,

Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền”.

 

Ngài đã xây dựng cốt cách của người sống theo tinh thần Cư Trần Lạc đạo. Tựu trung lại Ngài dạy là phải kính trọng Phật pháp, nương nới Phật pháp ứng dụng trí Phật mà hoàn thành nghĩa vụ làm người đối với đời, đối với tổ quốc và sống giải thoát. Nương tựa vào chánh pháp là nương tựa tinh thần vô ngã, không tham ái ở đời, không sân hận, sống đời đạo đức, biết lo cho hạnh phúc của bá tánh biết tránh tốn kém cho nhân dân. Trên cơ sở ấy, cộng với các kiến thức chuyên môn, xã hội mà hoàn thành nghĩa vụ một thành viên trong gia đình, trong cộng đồng(9).

 

Đối với đệ tử, Ngài rất mực chăm lo cho sự tiến bộ của họ trên con đường tu học, đặc biệt là động cơ tu học phải vì nhiệm vụ đồi hỏi của cộng đồng và mục tiêu giải thoát của chính mình. Ngài quan tâm giảng dạy cho họ Kinh Đại Thừa và Ngữ Lục. Ngài cho các thế hệ sau là:

 

* Người Phật tử nói riêng và con người nói chung phải biết kết hợp hài hòa giữa đạo và đời để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, đạo đức và tâm linh.

 

* Con người muốn hoàn thành bổ phận làm người một cách vinh quang và sống đời giả thoát là phải tầm đạo, ngộ đạo, phát triển và hoàn thiện sự ngộ đạo qua thực tiễn gắn liền với nhiệm vụ con người trong một khung cảnh xã hội đương thời đòi hỏi.

 

Con người biết tôn trọng, cung kính chánh pháp, nương vào chánh pháp coi mình là chánh pháp để sống và cống hiến cho lợi ích cộng đồng thì sẽ đạt và sử dụng những kiến thức xã hội và kiến thức nghề nghiệp một cách tốt đẹp nhất đem lại sự an vui cho mọi người, đem lại lợi lạc cho quốc gia, cho chính mình và an nhiên tự tại trước mọi hoàn cảnh.

 

* Con người sống đúng như trí tuệ đức Phật: Phải phấn đấu để đủ bốn đức hạnh gồm:

 

a. Đức tin: Tin tưởng vào giá trị đạo đức và tâm linh. Đặc biệt Ngài đặt hết niềm tin vào trí huệ Phật vì đức Phật là một bật giác ngộ, một bật toàn giác mà chúng sanh cần phải nương vào trí tuệ Phật để hoàn thành thân phận của mình trong cộng đồng, vượt qua mọi khổ đau đem lại hạnh phúc cho tha nhân và chính mình.

 

b. Giữ gìn và thực hành mọi điều thiện:

 

* Thân thì từ bỏ vĩnh viễn sự sát sinh, trộm cướp, tà hạnh.

 

* Miệng thìu từ bỏ vĩnh viễn sự nối dối, sự nói ly gian, nói thô ác và nói thêu dệt.

 

* Ý thì bỏ vĩnh viễn sự tham lam, sân hận và si mê.

 

c. Con người phải sống cuộc đời đạo đức, với tấm lòng trong sáng từ bi, hỉ xả, không tội lỗi, có lòng trắc ẩn với nỗi khổ đau của cộng đồng, của cá nhân để chia sẻ.

 

d. Con người phải thực chứng tâm vô lậu để mở mang trí tuệ, phát triển lòng từ bi hỉ xả.

 

* Phật Hoàng Trần Nhân Tông đã đưa tâm thức về an trú nới tâm đạo và tùy duyên đưa ra những tình cảm, những tri thức và lòng dũng cảm mà hoàn thành bổn phận làm người của mình một cách an nhiên, tự tại. Ngài luôn ý thức và giữ gìn nguồn tâm trong sáng hơn xa vàng ngọc, châu báu, xa hơn quyền uy tối thượng, khia thác nguồn tâm trong sáng của chính mình có lợi nhất cho mình và tha nhân.

 

Ngài còn đi xa hơn nữa như trong kinh Phật dạy: “Ta đã tỏ cho đệ tử ta các phương tiện để họ dùng có thể tạo nên từ thân thể “Tứ đại giả hợp” này mọi thần thức khác đủ cả tứ chi và có khả năng thần thông. Đúng như một người rút chiếc trong cây sậy hay lưỡi kiếm khỏi vỏ. Như con rắn lột xác. Nó ý thức chiếc tên với cây sậy là hai vật khác nhau, ý thức lưỡi kiếm với vỏ kiếm khác nhau, con rắn với xác rắn là hai vật khác nhau” Trần Nhân Tông đã làm được điều ấy.

 

Đối với cái chết và hậu thế: Ngài đã giúp vua cha trong lúc trút hơi thở cuối cùng. Còn đối với người chị ruột là công chúa Thiên Thụy khi đau nặng muốn gặp Ngài trước lúc chết. Trong Tam Tổ Thực Lục ghi: “Nếu thời tiếc đến, chị cứ đi, lúc âm phủ có hỏi thì chị hãy bảo: “Xin đợi một lát, em tôi là Trúc Lâm Đại Sỹ sẽ đến”. Đây là một kỹ thuật tâm linh đặc biệt giúp cho thần thức người sắp chết an tĩnh hoàn toàn để hòa vào vô lượng quang của chư Phật hay ít nhất cũng không hoảng sợ, sợ hãi để tránh việc đầu thai vào những nơi kém cỏi. Còn đối với cái chết của Ngài. Ngài đã an nhiên nắm nghiêng bên phải theo thế sư tử, đưa tâm thức vào vô lượng quang chư Phật, tức trở về tính sáng tự nhiên của bản tâm mà an nhiên thị tịch. Thật tuyệt vời! Qua các công đức nêu trên, chúng ta không thể phủ nhận Trần Nhân Tông là bật trí tuệ Siêu Việt mà cả nước Đại Việt thời ấy nương tựa. Trí tuệ ấy biết dùng tâm Bồ đề làm nhân, lòng từ bi làm gốc phương tiện làm cứu cánh như trong kinh Đại Nhật bộ kinh chánh của Mật Tông Đức Phật Tỳ Lô Giá Na đã thuyết. Con đường hoàn thiện về trí tuệ và đạo đức của Ngài cũng đi qua các giai đoạn căn bản như các bật đại giác ngộ khác, tạm chia làm bốn giai đoạn.

 

– Giai đoạn 1: Nhân duyên tầm đạo: 16 tuổi Ngài đã lén lên núi Yên Tử để tìm đường đi tu; nằm mộng thấy hoa sen nở trên rốn. Từ đó Ngài tìm hiểu các kinh Phật, ăn chay, trao đổi Phật học với các Thiền Sư để xác định đường lối tu học chứng đạo.

 

– Giai đoạn 2: Nhân duyên ngộ đạo: Đến khi được Tuệ Trung thượng Sỹ ấn tâm và Ngài ngộ đạo từ đó.

 

– Giai đoạn 3: Phát triển sự ngộ đạo qua đời sống thực tiễn: Trong thời kỳ làm vua, Ngài đã ứng dụng tinh thần đạo đức của Phật đà.

 

– Giai đoạn 4: Hoàn thiện sự ngộ đạo qua đời sống thực tiễn: từ khi làm Thái Thượng Hoàng đến khi xuất gia hoàn toàn.

 

Phật Hoàng Trần Nhân Tông, là một vị vua Việt Nam đã có khả năng ứng dụng trí tuệ của Đức Phật để hoàn thành sứ mệnh của một vị Thánh Vương trong lúc làm vua, hoàn thành sứ mệnh của bật chuyển pháp luân trong thời kỳ xuất gia và đã biết tận dụng cái gọi là chết để trở thành vô lượng quang vô lượng thọ mãi mãi xuất hiện mọi nơi để hộ trì cho thế giới cần đến ánh sáng của chư Phật, ánh sáng đạo đức và trí tuệ. Ngài là tấm gương sáng ứng dụng trí tuệ Phật mà tất cả những người có động cơ làm người đúng đắn đều phải suy ngẫm và noi theo.

 

Trên phương diện tư tưởng và hành trì; Trúc Lâm Yên Tử đã là phái Thiền qui kết, thống hợp được mọi trào lưu tưởng lưu lộ từ trước và đương thời, làm nổi bật được cái tính chất toàn thể và Nhất quan trong truyền thống tư tưởng Việt Nam; dung hòa một cách vô cùng tốt đẹp giữa lý tưởng quốc gia và lý tưởng tôn giáo, giữa đời và đạo, giữa cá nhân và tập thể, hay nói cách khác, giữa khát vọng của tâm linh mình với cái khát vọng chung của tập thể mà đời sống của Trần Thái Tông, người mở đường cũng như Tam Tổ đã là những thể hiện viên mãn. Từ đó, Thiền Trúc Lâm thực đã mở ra một con đường thích hợp cho hậu thế thấy đâu là cái ý nghĩa sống còn của cá nhân trong sự sống còn của tập thể. Đồng thời, Thiền Trúc Lâm với phương pháp Thiền Bái sám trong khi vẫn không chối bỏ Thiền Công án là một sắc thái đặc biệt khác, không phải là không đáng nói đến. Thêm vào đó, trên phương diện tín ngưỡng dân gian và trong lĩnh vực văn học, Thiền trúc Lâm đã có những đóng góp khá lớn lao để xây dựng một nếp tín ngưỡng dân tộc, một phong thái bút pháp văn học đặc biệt, thích hợp với cái cảm quan đa điện và nếp sống của con người Việt Nam(10). Đứng trên lập trường lý luận, dưới cái nhìn của con mắt thịt, những hình ảnh như thế có thể là vô nghĩa và vô lý. Nhưng đứng trên lập trường “Kiến tính” của Thiền học, ở vào cái thế mặt đối mặt, tâm đối tâm, những hình ảnh đó phải được nhìn trong sự tác động của nó đối với tâm trí mê ngủ. Ở đây, chúng trở thành những đầu đề khá quyến rũ cho nỗ lực tư duy. Chính cái hập lực khá quyến rủ này đã là động cơ thúc đẩy chúng tôi tìm hiểu nguồn suối Thiền.

 

Thiền học dù không hẳn là một trào lưu tư tưởng thuần túy cũng không có ngoại lệ. Nhưng một trào lưu tư tưởng không thể thành hình bên ngoài những điều kiện bức bách của đời sống. Hay nói khác hơn, chính những điều kiện bức bách của đời sống đã là cái yêu cầu chân chính cho một trào lưu tư tưởng xuất hiện kể từ đó, mở ra những chân trời mới cho khát vọng của con người. Vì vậy chủ yếu của Thiền là đánh thức dậy, dựng đứng dậy cái con người mê ngủ từ bấy lâu nay bằng tất cả mọi phương tiện có thể được, miển sao thích hợp với cơ cấu tâm lý và vật lý đối tượng. Như thế, theo những điều kiện của đời sống, của cơ cấu tâm lý và vật lý của con người Việt Nam và với khác vọng của nó, Thiền học Việt Nam phải thích hợp với con người ở đây, phải có riêng cho nó những nét độc đáo để giải quyết thỏa đáng những mâu thuẩn nội tại của con người và cộng đồng dân tộc Việt Nam, để thỏa mãn những yêu cầu, khát vọng. Đây là cái ý thức dẫn đạo cho chúng ta, trong khi tìm hiểu Thiền, đã chú tâm học hỏi và tìm hiểu Thiền học Việt Nam.

 

Phật Hoàng Trần Nhân Tông đã đi vào đời sống tâm thức người Việt, đã đáp ứng được nhu cầu tính ngưỡng tâm linh của người Việt trong bối cảnh lịch sử cả dân tộc độc lập tự chủ trên mọi lĩnh vực từ kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, kể cả tôn giáo, nhất là cả dân tộc ra sức chân hưng xây dựng và phát triển mọi giá trị văn hóa truyền thống. Một Phật Đại Việt đã thị hiện ở thời Trần, từng sống và hoắng hóa độ sinh ở Đại Việt, ắt hẳn sẽ làm sống dậy tinh thần dân tộc khi mà Trần Nhân Tông chủ trương “Bụt ở trong nhà, chẳng phải tìm xa” với quan điểm Phật tại tâm thì ai cũng có thể thành Phật ngay ở cõi đời này. Từ đó, Phật tính trong mỗi người theo đó mà hiển lộ. Có thể nói tượng Phật Hoàng Trần Nhân Tông đã khái quát hóa bản thân một con người mang tính lịch sử, tính hiện thực Phật hóa ở đời thật toàn bích. Hay nói cách khác, Phật Hoàng Trần Nhân Tông là hiện thân của Phật Đại Việt với nhiều đường nét riêng biệt, phong cách riêng biệt được bắc nguồn từ cội rễ văn hóa người của Đại Việt và được thực thi trong quá trình tiếp biến đạo Phật.

 

Có thể nói sự ra đời của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đã tạo nên trường lực hấp dẫn mạnh mẽ, tạo đà thức đẩy sự ra đời hàng trăm ngôi chùa lớn, nhiều tầng lớp tăng chúng cùng quy hướng theo một dòng tu hành in đậm sắc thái Phật giáo dân tộc. Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử ra đời đã góp phần cổ vũ tinh thần người dân Việt về khả năng phát triển những giá trị văn hóa bản địa, nội sinh trong lòng dân tộc. Đây cũng chính là sự đáp ứng nhu cầu đời sống tâm linh, tin ngưỡng của mỗi cộng đồng người ở từng thời đại, giai đoạn lịch sử cụ thể, đã kịp chuyển hóa, thấm sâu trong đời sống tinh thần dân chúng và trở thành những giá trị văn hóa bền vững trước thời gian. Đây là một minh chứng sâu sắc cho khả năng tồn tại và phát triển của một di sản văn hóa, bất chấp năm tháng vả mọi thăng trầm thế sự. Theo một nghĩa rộng, di sản này đã tỏa sáng thành “tâm thức Trúc Lâm” trong long mỗi con người thuộc mọi thế hệ, ở khắp mọi vùng đất nước, và cho đế ngày nay, danh pháo Trúc Lâm đã được đặt thành tên cho nhiều ngôi chùa, thiền viện khắp trong nam ngoài bắc và mở rộng sang cả các nước Pháp, Mỹ, Canada, Mỹ, Uastralia, Ý… Tất cả những điều đó cho thấy sức sống mãnh liệt của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử khi đã đạt tới giá trị văn hóa, khi đã hòa nhập được vào đời sống tinh thần dân tộc và đến với muôn vạn tấm lòng. Người bốn phương lại hành hương về với non thiêng Yên Tử. Đó cũng là những đặt trưng của Đạo Phật và tinh thần dân tộc Việt Nam trong chính cao điểm thành tựu của phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử.

 

Miền đất thiêng dã hóa thân trong hồn sông núi và nền văn hóa dân tộc. Bước sang thế kỷ 21, Thiền phái Trúc Lâm thêm một lần phục hưng, nguồn sáng văn hóa Trúc Lâm Yên Tử càng thêm tỏa rạng trên bản đồ Việt Nam và thế giới./.

__________________

ThS. Thích Thiện Hạnh – Trưởng ban Hướng dẫn Phật tử tỉnh Bắc Ninh

Nguồn: thienphatgiao.wordpress.com

_____

Chú Thích: (1) Đời thứ 17, Mãn Giác (1090), tư tưởng văn học lãng mạn được bộc lộ khá rõ qua bài kệ thị tịch: “Xuân khứ bách hoa lạc, Xuân đáo bách hoa khai. Sự trục nhãn tiền quá, Lão tùng đầu thượng lai. Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận. Đình tiền tạc dạ nhất chi mai”. Ngô Tất Tố dịch: Xuân qua, trăm hoa rụng, Xuân tới, trăm hoa cười. Trước mắt, việc đi mãi, Trên đầu, già đến rồi. Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết, Đêm qua sân trước một cành mai”. (2) Đinh Quang Mỹ; Thiền Trúc lâm Yên Tử Tổ Khai Sáng. Tham khảo tại Tập San Nghiên Cứu Phật Học, Phật giáo Thừa Thiên Huế (Phật lịch 2545, số Xuân Nhâm Ngọ – 2002, phổ biến nội bộ). http://www.thuvienhoasen.org/tsncph2-05-thientruclam.htm. (3) Sách Tam Tổ Thực Lục ghi Kim Phật. (4) Hòa Thượng Thích Thanh Từ, (Lời nguyền xây dựng Trúc Lâm Yên Tử). Ngày 20 tháng Chạp năm tân Tị (1-2-2002), http://wwwbuddhismtoday.com/thongbao/xayTrucLamYenTu.htm. (5) Đại Nam nhất thống chí, quyển số 33, bản dịch của Đông Minh Đặng Chu Kình. Viết về “Núi An Tử”, Bộ Văn hóa và Thanh niên, Saigon 1968, tr 39-40. (6) Nguyễn Đăng Thục, Phật giáo Việt Nam, Nhà xuất bản Saigon 1974, trang 126. (7) Công án Trần Nhân TôngI, Thái Kim Lan website Khuông Việt( không còn) . (8) Đạo Sư Duy Tuệ; “Cần chú ý đến các vấn đề cốt lỗi tư tưởng của Ngài Trần Nhân Tông”, ứng dụng tại trang: http://daosuduytue.com/buddhism-book/tnt-vuaphat2.htm. (9) Đạo Sư Duy Tuệ; “Vua Trần Nhân Tông nhà văn hóa lớn – vị Vua Phật”, ứng dụng tại trang: http://daosuduytue.com/buddhism-book/tnt-vuaphat2.htm. (10) http://www.phatviet.com/thienhoc/thientruclam_DQM/dankhoi.htm.

VỀ ĐẤT KHỞI NGHIỆP NHÀ TRẦN

Nhiều năm lần theo dấu xưa của nàng Huyền Trân, Công Chúa nhà Trần mở đất Thuận Hóa, hễ có dịp là tôi lại trở về xứ Bắc; trở về để được viếng đền thờ các vua anh hùng nhà Trần ở làng Tức Mặc, nơi ấy nay thuộc phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định.

Người Việt dẫu xa quê mấy đời vẫn giữ thói thường tận trong sâu thẳm, mỗi khi trở về cố hương, kính cẩn viếng thăm nơi thờ tự tổ tiên thì viếng luôn mồ mả của các vị anh hùng, liệt nữ, chỗ người xưa nằm. Tôi cũng vậy. Và trộm nghĩ rằng: “Bổn mộc thủy nguyên”, cây có gốc, nước có nguồn, có cổ mới có kim, có tiền nhân mới có hậu thế, việc ấy rất đáng phải làm lắm.

 

Đầu xuân năm Canh Dần 2010, tôi lại ra Tức Mặc. Mới hay, tổ tiên mấy đời xa trước của họ Trần đứng chân ở làng Thái Đường, tức hương Tinh Cương, thuộc lộ Long Hưng – nay là Tam Đường, xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Một vòng lướt quanh làng đã thấy hiện lộ, đền miếu thờ tự, lăng vua mộ tướng ngày xưa vẫn còn.

 

Thì ra, sự tích lưu truyền bởi có căn nguyên, dấu tích hiển nhiên là chứng cứ, mà quốc sử cũng đã ghi rằng: Đất Tinh Cương nhà Trần khởi nghiệp.

 

Là dân quê xứ Huế, ở cuộc đất vốn chọn làm vật sính lễ dẫn cưới Công Chúa Huyền Trân của vua Chiêm, tôi đã về Tinh Cương nhiều lần. Mỗi lần về đây tôi thường lội ra cánh đồng thấp trũng trước làng Tam Đường, thắp hương viếng mộ ba vị vua anh hùng đầu triều Trần. Nhìn dãy mộ ba vị vua kiệt hiệt chống Nguyên Mông, trầm mặc xếp hàng như ba trái núi nhỏ nằm giữa cánh đồng, tôi thấy nao lòng. Ôi những anh hùng kiệt hiệt chống ngoại xâm đang yên nghỉ nơi đây! Phải chăng linh mạch khởi nghiệp từ đất Tinh Cương cũng chính là chốn cát địa dẫn lối quay về nơi yên giấc ngàn thu của các bậc đế vương nhà Trần? Phải mấy lần đứng trước án thờ vị vua mở nghiệp Trần Thái Tông ở Tam Đường, tôi mới được biết rằng: Họ Trần nước ta, viễn tổ xa xưa sống ở vùng Yên Sinh, thuộc tỉnh Quảng Ninh bây giờ. Mấy đời làm nhà trên sông nước, theo nghề chài lưới. Đến giữa cuối thế kỷ XI, đời vua Lý Nhân Tông, cụ Trần Kinh rời đất Yên Sinh, thả con thuyền trôi theo các dòng sông, về vùng Hải Thanh (sau đổi là Thiên Trường), nhập cư vào hương Tức Mặc, lấy vợ, sinh con đẻ cái.

 

Cụ Trần Kinh sinh được hai trai: Trần Hấp là anh, Trần Tự Duy là em. Nối nghề cha, anh em Trần Hấp vẫn lấy con thuyền làm nhà, theo đuôi con cá. Năm tháng côi qua, cụ Trần Kinh tuổi già mà mất, người ta rước cụ ra táng ở cồn đất thuộc hương Tức Mặc.

 

Trần Hấp lo xong tang lễ cho cha, chống thuyền ngược sông Hồng lên vùng Hải Ấp, quăng chài bủa lưới.

 

Vùng Hải Ấp - đất Thái Đường xưa mà người đời thường truyền tụng là chốn có nhiều mả sao. Bởi quanh vùng này nổi lên vô số gò đống, ở trên các gò ấy có những chòm cỏ xanh hình tròn, từ xa nhìn lại trông giống như hình những ngôi sao. Vì những gò đống ấy mà khi lập làng, người xưa đã lấy tên chữ là hương Tinh Cương (hương ở đây có nghĩa là làng; tinh là ngôi sao; cương là gò đất nổi). Trong quá trình bồi đắp, phù sa đã tạo nên cho Tinh Cương thế địa mà theo cách nhìn của nhà phong thủy: “Tiền có tam thai, hậu có thất tinh, nam có voi phục, bắc có phượng chầu”, là chốn linh khí phúc địa, sau này ắt sẽ phát giàu, phát tướng, phát vương.

 

Sông nước đẩy đưa con thuyền, anh em Trần Hấp đến đất Tinh Cương. Trần Tự Duy sống bên Lưu Gia, Trần Hấp sang Thái Đường, hai ấp chỉ cách nhau chừng nửa dặm, buông chài thả lưới.

 

Chuyện xưa kể rằng: Một buổi sớm mùa thu năm ấy, Trần Hấp chống thuyền qua bãi nổi, ông trông thấy một chiếc rọ tre mắc cạn, cùng lúc lại nghe tiếng người kêu cứu, ông vội cho thuyền đến ngay. Trong chiếc rọ ấy nhốt một người đàn ông khoảng ngũ tuần, bị trói co quắp, sắp chết vì lạnh. Bẩm tính nhân hậu, gặp cảnh thương tâm, Trần Hấp bàn với vợ tìm cách cứu người. Mặc dù kiếm ăn khó nhọc, nhưng Trần Hấp vẫn quyết dốc sạch cắc bạc cuối cùng tìm thầy cứu chữa. Sau mấy ngày thuốc thang cơm cháo, người gặp nạn phục hồi khí lực. Thấy gia cảnh Trần Hấp bần hàn, lênh đênh sông nước, nhưng lại giàu lòng từ bi, ông mới kể rằng: Ông là thầy địa lý (sử cũ chép là Khách nhân), từ phương Bắc sang Đại Việt tìm đất phong thủy. Đến vùng này thấy có một gò hỏa tinh nổi trên mặt nước, chung quanh có nhiều gò nhỏ quần tụ chầu vào gò lớn, ông nghĩ rằng: giữa vùng sông nước, gần với đất bằng mà có những gò đống nổi lên, hẳn không thể là nơi hung dữ. Quan sát kỹ, ông thấy linh khí từ gò hỏa tinh bốc lên ngùn ngụt.

 

Bấy giờ, ở thôn Tây Nha gần đấy có nhà giàu Nguyễn Cố, người từng thuê thầy địa tìm cát địa đặt mộ tổ. Nghe tiếng, Khách nhân tìm vào nhà Nguyễn Cố xin ở lại vài ngày. Biết ông là thầy thuật số, Nguyễn Cố muốn lấy lòng, mở tiệc thiết đãi tử tế. Nhân đấy Khách nhân bày cho Nguyễn Cố, hãy dời mộ tổ tiên đến táng ở gò Hỏa Tinh. Và quả quyết rằng, chỉ một thời gian ngắn nhất định gia tộc Nguyễn Cố sẽ phát (không làm vua thì cũng nhất phẩm triều đình); khi thành đạt, giàu sang Khách nhân mới tính chuyện tiền nong.

 

Nghe theo lời thầy địa lý, Nguyễn Cố bí mật dời mộ tổ tiên, âm thầm táng vào gò Hỏa Tinh. Xong việc, mở tiệc tiễn Khách nhân về nước…

 

Ba năm sau Khách nhân lại đến Long Hưng. Ông muốn xem gia tộc Nguyễn Cố có gì biến đổi, cốt là để kiểm chứng lời phán của mình có ứng nghiệm. Sự xuất hiện của thầy địa làm cho vợ chồng Nguyễn Cố lo sợ vỡ chuyện phong thủy ở gò Hỏa Tinh. Vợ chồng họ bàn nhau, tối ấy đãi thầy bữa rượu thịt no say, rồi tìm cách hại chết thầy.

 

Bữa cơm tri ân ấy thành ra bữa tiệc máu. Nguyễn Cố phục cho thầy địa say chí tử, rồi trói lại, nhốt vào cái rọ tre, đem thả trôi sông những mong dìm chết. Nhưng mệnh ông thầy này chưa dứt. Buổi ấy nước triều đang xuống cạn, rọ tre trôi dạt vào cồn cát. Gặp lúc Trần Hấp chống thuyền ngang qua nghe tiếng kêu nên đã ra tay cứu giúp.

 

Để trả ơn cứu mạng, thầy địa mới hiến cho Trần Hấp một kế, đưa mộ tổ tiên đến táng ở gò Hoa Tinh. Nếu quyết làm theo thì gia tộc Trần Hấp nhất định sẽ thành tựu, lưu danh muôn thuở. Đồng thời ông lại đến nhà Nguyễn Cố trong một buổi chiều u ám. Nguyễn Cố thấy ông xuất hiện, cứ tưởng hồn ma, sợ hãi sụp lạy xin tha mạng. Thầy địa nói với Nguyễn Cố, số tôi có trời phù hộ, không thể chết được. Mấy năm trước tôi khuyên ông táng mộ cha vào gò Hỏa Tinh, vội quá nên chưa bày hết thuật. Nay lại sang cốt chỉ bày tiếp để được ứng nghiệm. Nhưng ông đã phản phúc, phản thầy, giết người bịt miệng. Sự nghiệp tạo dựng chưa thành đã tiêu tan. Muốn bình yên thì ông phải sám hối, cầu nguyện thần linh long mạch hóa giải. Nếu ông thành tâm thì nghe ta nói đây: Mấy hôm nữa, hễ trời nổi giông tố, vào lúc mưa lặng gió dừng, ông ra mộ cha ở gò Hỏa Tinh mà thấy những đường nứt nẻ, máu chảy đỏ dòng thì phải dời ngay, để chậm họa chết cả nhà.

 

Thầy địa lại dặn Trần Hấp, khi mưa gió nổi lên, ông ra mộ cha Nguyễn Cố rạch mấy đường ngang dọc, rồi lấy máu chó đổ xuống. Nguyễn Cố ra xem, thấy vậy sẽ dời ngay. Sau quả đúng như thầy địa đã bày.

 

Theo thuật kế của thầy địa lý, Trần Hấp trở về hương Tức Mặc, lẳng lặng dời mộ cụ Trần Kinh đưa sang Long Hưng. Vào ngày Tân Dậu, tháng Đinh Tỵ, năm Quí Sửu, triều Lý Thần Tông, niên hiệu Thiên Chương Bảo Tự thứ nhất, 1133, Trần Hấp bí mật làm lễ táng di cốt cụ Trần Kinh vào gò Hỏa Tinh. Để tiện việc trông nom hương khói và đề phòng người nhà Nguyễn Cố nghi ngờ đào phá long mạch, Trần Hấp bèn dựng lều bên cạnh mộ cha vừa để ở, vừa canh chừng.

 

Âm trạch táng cụ Trần Kinh được thầy địa lựa chọn tọa thế:

 

“Phấn đại dương giao chiếu

Liên hoa đối diện sinh

Tha nhật nhân dĩ sắc

Đắc thiên hạ do tình”.

Nghĩa là:

(Phấn son chiếu dọi vừng dương

Hoa sen đối mặt nở bừng thắm tươi

Mai này nhờ sắc của người

Chiếm được thiên hạ không rời tình yêu).

 

Thế địa này ẩn ý rằng, sau này (họ Trần) ắt nhờ một người con gái có nhan sắc mà đoạt được thiên hạ.

 

Bỏ qua tất cả chuyện phong thủy đi tìm cát địa đặt mộ của họ Trần, chắt lọc tính uyên nguyên của sự tích, ta thấy được phần nào nguyên nhân bấy giờ mà cụ Trần Hấp dời nhà từ hương Tức Mặc đến định cư ở làng Thái Đường, thuộc lộ Long Hưng.

 

Năm tháng lưới chài thuộc mọi luồng lạch dòng sông, nhờ vận đến và biết sống tiện tặn thu xếp, gia cảnh Trần Hấp ngày một khá lên, trở nên giàu có, nổi tiếng trong vùng.

 

Cụ Trần Hấp đến ấp Thái Đường, sinh được hai người con: Trần Lý là anh, Trần Nghị là em. Cả hai đều là những chàng trai tuấn tú, chịu khó học hành. Bấy giờ gia đình cụ Trần Hấp tạo lập ruộng vườn vô số, kẻ ở người làm đông đến vài trăm. Nhờ phúc ấm, anh em Trần Lý bỏ hẳn nghề chài lưới, sống với điền trang, tuyển mộ người dưới, mở mang việc học cả văn lẫn võ. Gia tộc họ Trần ở Tinh Cương dần dần có địa vi, trở thành tầng lớp trên của xã hội bấy giờ.

 

Người con cả của cụ Trần Hấp là Trần Lý, đến tuổi trưởng thành Trần Lý lấy Tô Thị Hiền, con gái của Tô Tân, một hoa khôi nhất làng Lưu Gia, sinh được bốn người con: Trần Thừa, Trần Tự Khánh, Trần Thị Dung, Trần Thị Tam Nương.

 

Tô Thị Hiền có người em ruột là Tô Trung Từ, giữ chức Thái úy Phụ chính, tước Thuận Lưu bá, dưới triều Lý Huệ Tông.

 

Người em là Trần Nghị lấy vợ họ Phùng, cùng thôn Lưu Gia, sinh ba người con: Trần An Quốc, Trần An Hạ, Trần Thủ Độ.

 

Trần Thừa là huynh trưởng, phái đại tông, sớm phải gánh vác chức trách kế nghiệp nhà, kịp khi vừa lớn, ông lập chính thất với người họ Lê, con gái của Lê Điện, làm quan Thái phó triều Lý. Trần Thừa và Lê Thị sinh được ba trai: Trần Liễu, Trần Cảnh, Trần Nhật Hiệu, hai ái nữ là Thụy Bà và Thiên Thành…

 

Vào những năm đầu thế kỷ XIII, vận hạn triều Lý bắt đầu mục rỗng, vua tôi bất tín, dân chúng lầm than, nạn cướp bóc mọc lên như nấm. Trong triều gian thần lộng quyền, vua thì ham mê tửu sắc, chính sự tan nát. Dẫn đến tháng 7 năm Kỷ Tỵ, 1209, nổ ra loạn Quách Bốc đem quân đánh thốc vào kinh thành Thăng Long. Vua Cao Tông đang đêm phải rời cung chạy lên vùng núi Qui Hóa, Hoàng Thái hậu Đàm Thị và Thái tử Sảm dạt về miền biển Long Hưng tránh họa. Bấy giờ được sự hộ giá của tướng quân Đỗ Quảng, Thái tử Sảm đến thôn Lưu Gia, trú ở nhà Lê Mỵ. Một hôm, Thái tử bơi thuyền dạo chơi ngang ấp Thái Đường, nghe tiếng Trần Thị Dung con gái nhà giàu Trần Lý, sắc đẹp tài hoa hơn người, sai bầy tôi thân tín vời Thị Dung đến hành cung, mới thấy mặt người đẹp Thái tử Sảm liền thích ngay, bèn quyết lấy làm vợ. Nhân đấy trao cho nhạc phụ Trần Lý tước Minh Tự, cho cậu của vợ là Tô Trung Từ làm Điện tiền chỉ huy sứ. Sau buổi ấy, anh em họ Trần, họ Tô liền họp hương binh Tinh Cương dẹp loạn Quách Bốc, dựng cờ phò nhà Lý, rước Thái tử trở về Thăng Long, khôi phục chính thống.

 

Tháng 10 năm Canh Ngọ, 1210, vua Cao Tông bệnh hoạn không chữa khỏi mà băng. Thái tử Sảm lên ngôi trước linh cửu, tức Lý Huệ Tông, bấy giờ vua mới 16 tuổi. Trước tình thế vua mới nối ngôi, triều đình năm phe bảy phái, rối loạn khắp nước. Trần Lý quyết dốc toàn lực phò vua, dẫn binh dẹp loạn, nhưng chẳng may ông bị giặc giết, vua thương tiếc vô cùng. Sự nghiệp dở dang của tướng quân Trần Lý đành phó mặc cho người con trai thứ là Trần Tự Khánh gánh vác.

 

Lại nói về vua Lý Huệ Tông, từ ông hoàng sa cơ chạy loạn, may nhờ anh em họ Trần, họ Tô phò tá mà lên nối ngôi vua. Sau khi yên vị, được mấy tháng liền sai bầy tôi là Phạm Bố về Thái Đường đón người đẹp Trần Thị Dung vào cung, lập làm Nguyên phi; lại cho Tô Trung Từ làm Thái úy Phụ chính, anh của phi là Trần Tự Khánh làm Chương Tín hầu.

 

Trải mấy năm xông pha dưới đao tên, đánh đông dẹp bắc, trung hưng triều Lý, công đầu thuộc về anh em họ Trần, có sự giúp sức của anh em họ Tô. Tháng 12 năm Bính Tý, 1216, Lý Huệ Tông phong Trần Thị Dung làm Hoàng hậu, Chương Tín hầu Trần Tự Khánh làm Thái úy Phụ chính, anh cả của Hoàng hậu là Trần Thừa làm Nội thị Phán thủ.

 

Hoàng hậu Trần Thị Dung sinh được hai công chúa: Thuận Thiên và Chiêu Thánh. Thuận Thiên sau là Lý Thuận Thánh, lấy Trần Liễu; Chiêu Thánh sau là Lý Chiêu Hoàng, lấy Trần Cảnh. Cả hai nàng đều nổi tiếng xinh đẹp nhất kinh thành. Vậy là hai chị em công chúa con vua Lý Huệ Tông, lấy hai anh em ruột con của đại điền chủ Trần Thừa. Lúc ấy ở Thăng Long bắt đầu có chuyện anh em cô cậu ruột mà lại lấy nhau…

 

Nước nhà đương buổi loạn ly, nghiêng ngửa. Vua Lý Huệ Tông mới ngoài hai mươi, thể lực suy nhược, mắc bệnh trúng phong đã mấy năm, ngự y chữa thuốc không khỏi, lại chưa có thái tử nối ngôi. Rồi bệnh vua nặng dần, có lúc vua nói như thiên tướng nhập vào, tay cầm giáo và mộc, cắm cờ nhỏ vào tai, phát điên nhảy múa cả ngày, chính sự không thể màng đến được, mọi việc giao hết cho Thái úy Trần Tự Khánh quyết định. Thế là quyền lớn của nhà Lý chuyển dần về tay họ Trần.

 

Nhưng cũng như cha mình là Trần Lý, sự nghiệp cơ đồ còn dở dang thì tháng 12 năm Quí Mùi, 1223, Trần Tự Khánh chẳng may chết sớm, hưởng dương mới 40 tuổi, đưa thi hài về chôn ở Thiên Trường, sau được truy phong Kiến Quốc đại vương. Tự Khánh vừa mất, vua Lý Huệ Tông liền phong Trần Thừa làm Phụ quốc Thái úy, khi vào chầu miễn cần xưng tên.

 

Qua năm Giáp Thân, 1224, bệnh vua Huệ Tông càng nặng, không có con trai nối nghiệp lớn tiên tổ, đành ủy nhiệm cho Trần Thủ Độ, lúc này đang giữ chức quan trong nội, làm Chỉ huy sứ, lãnh các quân Điện tiền mà hộ vệ cấm binh. Quyền bính nhà Lý chuyển dần về tay Trần Thủ Độ từ cơ hội này.

 

Mùa đông tháng 10 năm ấy, cực chẳng đã vua phải xuống chiếu lập Công chúa Chiêu Thánh làm Hoàng Thái tử để truyền ngôi. Thế rồi Lý Huệ Tông xuất gia ra ở chùa Chân Giáo trong đại nội làm Thái Thượng hoàng. Chiêu Thánh lên ngôi, tôn hiệu là Chiêu Hoàng. Liền đấy, Chiêu Hoàng ban lệnh chọn con em của các quan viên trong ngoài sung vào các sắc dịch trong nội.
Theo chính sử thì buổi ấy, Trần Thủ Độ nắm quyền nội ngoại, là người quyết đoán, dám làm chuyện lớn; cháu gọi Thủ Độ bằng chú là Trần Cảnh, con thứ của Trần Thừa, mới vừa 8 tuổi, được chọn vào làm Chánh thủ, trực hầu bên ngoài cung vua. Một hôm đến phiên giữ việc bưng nước rửa, nhân thế mà vào hầu bên trong. Lý Chiêu Hoàng trông thấy yêu lắm, vẫy đến chuyện trò. Mỗi khi vua chơi đêm, hay cho gọi Trần Cảnh đến cùng chơi; thấy Cảnh chỗ tối thì chạy đến trêu chọc, hoặc nắm lấy tóc, hoặc đứng vào bóng. Có một hôm Trần Cảnh bưng chậu nước đứng hầu, Chiêu Hoàng rửa mặt, lấy tay té nước ướt cả mặt rồi trêu cười, đến khi Trần Cảnh bưng khăn trầu thì vua lấy khăn ném cho Cảnh. Cảnh không dám nói gì, về mách ngầm với Thủ Độ, Thủ Độ nói: “Nếu thực có thế thì họ ta làm vua chăng? Chết cả họ chăng?”. Lại một hôm, Chiêu Hoàng lấy khăn trầu ném cho Trần Cảnh, Cảnh sụp xuống lạy nói: “Bệ hạ có tha tội cho thần không? Thần xin vâng mệnh”. Chiêu Hoàng cười và nói: “Tha tội cho ngươi. Nay ngươi đã biết nói khôn rồi đó”. Cảnh lạy, lui về báo cho Thủ Độ biết. Thủ Độ sợ việc tiết lộ ra thì bị giết cả họ. Bấy giờ Thủ Độ mới tự đem gia thuộc thân thích vào trong cung cấm, sai đóng cửa thành và các cửa cung, cắt người coi giữ. Các quan chực chầu không được vào. Thủ Độ loan báo rằng: “Bệ hạ đã có chồng rồi”. Các quan đồng lòng đều nói là được, xin chọn ngày 21 tháng ấy, vào chầu lạy mừng. Sắp đặt xong mọi việc chưa từng có trước đó, Trần Thủ Độ mới tâu vua nên tuyên chỉ. Lý Chiêu Hoàng liền xuống chiếu rằng: “Từ xưa nước Việt ta, đã có đế vương trị thiên hạ. Nghĩ triều Lý ta vâng chịu mệnh trời, gồm có bốn biển, các Tiên thánh truyền nối hơn hai trăm năm, chỉ vì Thượng hoàng có bệnh, không người nối dõi, thế nước gian nguy, sai trẫm nhận minh chiếu, cố gượng lên ngôi, từ xưa đến giờ, chưa từng có việc ấy. Khốn nỗi, trẫm là nữ chúa, tài đức đều thiếu, không có người giúp đỡ, giặc cướp nổi lên như ong, giữ thế nào nổi ngôi báu nặng nề? Trẫm dậy sớm thức khuya, chỉ sợ không cáng đáng nổi, vẫn nghĩ tìm người hiền lương quân tử cùng giúp chính trị, đêm ngày khẩn khoản, đến thế là cùng cực rồi. Nay trẫm suy đi tính lại một mình, duy có Trần Cảnh là người văn chất vẹn tuyền, thực là thể cách hiền nhân quân tử, uy nghi chễm chệ, có tư chất thánh thần văn võ, dù đến Hán Cao Tổ, Đường Thái Tông cũng không hơn được, sớm tối nghĩ kỹ, xét nghiệm từ lâu, nên nhường ngôi báu, để thuận lòng trời... Mong rằng bách tính đồng lòng, các bầy tôi hết sức cùng giúp việc nước, để hưởng phúc thái bình. Vậy bố cáo thiên hạ, để mọi người biết”.

 

Ngày 11 tháng 12, năm 1225, Chiêu Hoàng thiết triều ở điện Thiên An, ngự trên bảo sàng, các quan vào chầu lạy ở dưới sân. Chiêu Hoàng trút bỏ ngự y, khuyên mời phu quân Trần Cảnh lên ngôi hoàng đế. Vua mới lên ngôi đổi niên hiệu làm Kiến Trung, đại xá thiên hạ, xưng là Thiên Hoàng. Phong cho Trần Thủ Độ làm Quốc Thượng phụ, coi sóc việc thiên hạ. Thủ Độ nói: “Hiện nay giặc cướp đều nổi, họa loạn mỗi ngày càng thêm. Nhà Lý suy yếu, thế nước nghiêng đổ nguy ngập, nữ chúa Chiêu Hoàng không gánh vác nổi, mới ủy thác cho Nhị lang (Trần Cảnh). Nhị lang lại là người chưa am hiểu việc nước, chính sự nhiều chỗ thiếu sót, vận nước mới mở, lòng dân chưa phục, mối họa không phải là nhỏ. Ta tuy là chú, không biết chữ nghĩa gì, còn phải bôn đông tẩu tây để chống với bọn giặc cướp, không gì bằng mời Thánh phụ tạm coi việc nước làm Thượng hoàng, một hai năm sau, thiên hạ nhất thống, giao trả lại quyền cho Nhị lang”.

 

Lời bàn ấy của Trần Thủ Độ, các quan đều cho là phải. Liền sai sửa soạn thuyền xe về phủ Tinh Cương đón Thánh phụ Trần Thừa vào nhiếp chính.

 

Như vậy, cho đến lúc Trần Cảnh lên ngôi Hoàng đế ở thành Thăng Long, Thánh phụ Trần Thừa vẫn bám trụ tại đất Tinh Cương.

 

Tục truyền rằng vua Lý Thái Tổ khi mới được thiên hạ, xá giá về Cổ Pháp, ngự chơi chùa làng Phù Đổng, có thần nhân đề thơ ở cột chùa rằng: “Nhất bát công đức thủy/ Tùy duyên hóa thế gian/ Quang quang trùng chiếu chúc/ Một ảnh nhật đăng san”. Nghĩa là: Một bát nước công đức của Phật, theo cơ duyên sinh thành thế gian. Vằng vặc hai lần đuốc so sáng; mặt trời gác núi là hết bóng. Sư Vạn Hạnh đương trụ trì chùa ấy liền đem bài thơ dâng lên vua, Lý Thái Tổ xem xong rồi nói: “Việc của thần nhân thị không thể hiểu được”. Người đời truyền tụng, không ai biết thơ ấy nói ẩn ý thế nào. Đến khi họ Lý mất mới cho bài thơ ấy là nghiệm. Vì từ Lý Huệ Tông trở lên đến Lý Thái Tổ là tám đời, mà Huệ Tông húy là Sảm (chữ sảm, chiết tự, nghĩa là mặt trời gác núi). Thế là sau 216 năm trị vì đất nước, nhà Lý mất ngôi, mở đầu sự nghiệp hưng vận oai hùng của nhà Trần.

 

Đến đây mới thấy rằng, âm trạch ở gò Hỏa Tinh táng mộ cụ Trần Kinh có thế “Phấn đại dương giao chiếu/ Liên hoa đối diện sinh…”, mới chỉ gần một thế kỷ mà họ Trần đã làm chủ cả thiên hạ. Xem ra lời sấm của Khách nhân năm xưa thực có ứng nghiệm.

 

Trần Cảnh nhận vương vị từ Lý Chiêu Hoàng, lên ngôi vua. Hơn mười năm sau, Hoàng hậu Chiêu Thánh vẫn chưa có con nối nghiệp; trong thế buộc phải làm, từ ngôi hoàng hậu, bà bị phế xuống làm thân phận công chúa, rồi ở vậy đến hơn hai mươi năm sau vua mới thưởng gả bà cho công thần Lê Phụ Trần, dòng dõi nhà Tiền Lê. Thực hiện theo khổ kế của Trần Thủ Độ, Trần Cảnh bị ép lấy Thuận Thánh, vợ của Trần Liễu lúc này đã có thai ba tháng, sắc phong làm Hoàng hậu. Mấy tháng sau, Thuận Thánh sinh ra Trần Quốc Khang (Quốc Khang lớn lên được nhận đất phong ở trại Diễn Châu, Nghệ An, làm chủ một vùng rộng lớn). Ba năm sau Hoàng hậu Thuận Thánh lại sinh ra Trần Hoảng, người kế thừa nghiệp lớn về sau, tức vua Trần Thánh Tông.

 

Tháng 2 năm Mậu Ngọ, 1258, Trần Hoảng lấy con gái thứ năm của Trần Liễu; sau Trần Hoảng lên ngôi, bà được phong làm Hoàng hậu, hiệu là Nguyên Thánh Thiên Cảm, sinh ra Trần Khâm, tức vua Nhân Tông.

 

Tháng 12 năm Giáp Tuất, 1274, Trần Khâm lấy trưởng nữ Quyên Thanh của Trần Quốc Tuấn, sau được phong lên ngôi Hoàng hậu, hiệu là Khâm Từ, sinh ra Trần Thuyên, tức vua Anh Tông… Kế tục nghiệp lớn, họ Trần làm vua nước Đại Việt được 12 đời (về sau kể thêm 2 vua Hậu Trần dấy binh khởi nghĩa chống nhà Minh đầu thế kỷ XV là 14 đời vua) tổng cộng 175 năm có lẻ.

 

Trở lại nơi táng mộ tổ của họ Trần ở gò Hỏa Tinh. Năm 1133, Trần Hấp dời mộ cụ Trần Kinh từ hương Tức Mặc, Nam Định sang Long Hưng, Thái Bình. Khi Trần Hấp mất cũng được chôn ở nơi ấy. Năm 1210, Trần Lý dẫn quân dẹp loạn, bị giặc giết đưa về táng ở gò Tinh Cương. Ngày 18 tháng Giêng năm Giáp Ngọ, 1234, Thượng hoàng Trần Thừa băng ở cung Phụ Thiên, thọ 51 tuổi, đưa về táng ở Thọ Lăng.

 

Thượng hoàng Thái Tông Trần Cảnh băng ngày 1 tháng 4 năm Đinh Sửu, 1277 ở cung Vạn Thọ, tháng 10 năm ấy rước về táng ở Chiêu Lăng.

 

Ngày 25 tháng 5 năm Canh Dần, 1290, Thượng hoàng Thánh Tông Trần Hoảng băng ở cung Nhân Thọ, đến ngày 15 tháng 12 đưa về táng ở Dụ Lăng.

 

Ngày 1 tháng 11 năm Mậu Thân, 1308, Trúc Lâm Điều Ngự Trần Nhân Tông băng ở am Ngọa Vân trên núi Yên Tử; hỏa táng xong, chia xá lỵ để nhiều nơi. Đến ngày 16 tháng 9 năm Canh Tuất, 1310, rước linh cửu về táng ở Đức Lăng. Lại đem Khâm Từ Bảo thánh Thái hoàng Thái hậu (mẹ của Huyền Trân Công Chúa, mất từ tháng 9 năm 1293, trước quàn tạm ở cung Long Hưng) hợp táng ở Đức Lăng. Đến khi Tuyên Từ Thái hậu mất (Tuyên Từ là dì ruột đồng thời là kế mẫu của Huyền Trân Công Chúa) ngày 19 tháng 8 năm Mậu Ngọ, 1318, vua Anh Tông theo di mệnh của Thượng hoàng Nhân Tông, phụ táng dì Tuyên Từ bên cạnh Đức Lăng.

 

Như vậy, Thọ Lăng của Trần Thừa, Chiêu Lăng của Trần Cảnh, Dụ Lăng của Trần Hoảng, Đức Lăng của Trần Khâm đều táng ở phủ Long Hưng, nơi âm trạch Hỏa Tinh khởi nên nghiệp nhà Trần.

 

Đến mấy đời sau, khi các đế vương nhà Trần mất đều đưa về táng ở xứ Yên Sinh, cố thổ xa xưa của họ Trần. Ví như ngày 16 tháng 3 năm Canh Thân, 1320, Thượng hoàng Anh Tông Trần Thuyên băng ở cung Trùng Quang, phủ Thiên Trường. Đến ngày 12 tháng 12 cùng năm, rước linh cửu về Yên Sinh, táng ở Thái Lăng. Rồi Mục Lăng của vua Minh Tông, Ngải Lăng của vua Hiến Tông, Phụ Lăng của vua Dụ Tông, Đồng Hi Lăng của vua Nghệ Tông và Thuận Tông (Thuận Tông tự thân làm tướng đi đánh Chiêm Thành bị chết ở trận, làm mộ giả táng ở Hi Lăng) đều nằm ở Yên Sinh…

 

Còn nhớ, mùa thu, năm Nhâm Tý, 1312, chiến thắng Chiêm Thành trở về. Vua Anh Tông đến trước lăng miếu ở phủ Long Hưng, làm lễ truy tôn công đức các vị Tổ của mình: Ý Vương Trần Kinh làm Mục Tổ Hoàng Đế; Cung Vương Trần Hấp làm Ninh Tổ Hoàng Đế; Chiêu Vương Trần Lý làm Nguyên Tổ Hoàng Đế. Còn Trần Thừa thì trước đó đã tôn làm Thái Tổ Hoàng Đế rồi…
Tôi về đất Tinh Cương – Thái Đường xưa, nay là Tam Đường. Gọi tên làng như thế vì Tam Đường có ba thôn: Phúc Đường, Thái Đường và Ngọc Đường thuộc xã tiến Đức, huyện Hưng Hà. Sừng sửng ngôi Đền Cả được Nhà nước tôn dựng lại trên nền cũ đã mấy năm, để thờ tiên tổ và các vị Hoàng đế nhà Trần. Phía cánh đồng trước ngôi Đền Cả là khu lăng mộ ba vua Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông như ba trái núi nhỏ xanh um cỏ cây. Phía sau ngôi đền một quãng là nơi yên nghỉ của bốn vị Hoàng thượng mà theo cách gọi của dân địa phương là nơi: Mục Tổ, Ninh Tổ, Nguyên Tổ và Thái Tổ yên giấc ngàn thu.

 

Cạnh Tam Đường là thôn Lưu Gia, khi từ hương Tức Mặc sang, Trần Tự Duy đã đến đây sinh sống. Và chính tại cái thôn nhỏ này, tháng 7 năm 1209, Thái tử Sảm dạt về ẩn náu khi chạy loạn Quách Bốc, rồi lấy con gái Trần Lý. Sự nghiệp họ Trần bắt đầu khởi lên từ cái ấp nhỏ này. Lưu Gia sau là đất phong của Linh Từ Quốc mẫu Trần Thị Dung, nên còn gọi theo tên nôm của bà là làng Ngừ. Thôn Lưu Gia nay là Lưu Xá, thuộc xã Liên Hiệp, hiện khu lăng mộ bà Trần Thị Dung và Thái sư Trần Thủ Độ vẫn còn, đã được trùng tu khang trang, bề thế…
Để hiểu thêm về cuộc đất Tinh Cương, tôi đọc lại cuốn Lịch sử nước ta của Nhà văn hóa Hồ Chí Minh, thấy Người đã tổng kết một cách khách quan và khúc chiết về triều đại này rằng: “Đời Trần văn giỏi võ nhiều/ Ngoài dân thịnh vượng trong triều hiền minh…”. Thì ra vương nghiệp nhà Trần năm xưa, với những con người kiệt hiệt giữ nước và mở nước, lưu danh ngàn đời trong chính sử và cả trong tâm thức thần dân Đại Việt đã được khởi lên từ những dòng sông bến nước quê nhà, từ những thôn ấp bé nhỏ thơm mùi cỏ cây rơm rạ của vùng đất phù sa Tinh Cương, Thái Bình ngày nay.

______________

Dương Phước Thu

Nguồn: trungtamhuyentran.thuathienhue.gov.vn

SỰ THỰC VỤ OAN TÌNH CỦA DANH TƯỚNG TRẦN KHẮC CHUNG

Thực hư câu chuyện mối tình Trần Khắc Chung và công chúa Huyền Trân dưới thời vua Anh Tông diễn ra như thế nào, nhà sử học Lưu Anh Rô dẫn lại: Vào mùa hạ năm Đinh Mùi 1307, sau gần một năm công chúa Huyền Trân gả làm dâu Chiêm quốc được tấn phong Hoàng hậu với mỹ hiệu Paramesvari thì vua Chế Mân không may gặp bạo bệnh qua đời.

Công chúa Huyền Trân trở thành góa bụa khi mới bước vào tuổi 20. Theo tập tục của người Chăm lúc bấy giờ thì "Vua chết, hậu phải chết theo", nhưng do công chúa Huyền Trân đang mang thai thái tử Chế Đa Đa nên việc hỏa thiêu được phép lùi lại.

 

Đến tháng 10 năm đó chuyện công chúa chuẩn bị lên giàn hỏa thiêu truyền về Thăng Long khiến vua Trần Anh Tông xót xa, lo lắng không nguôi. Vua cho vời các triều thần đến bàn bạc kế sách nhưng không ai đưa ra được chủ kiến hay để giải cứu công chúa.

 

"Lúc này, võ tướng Trần Khắc Chung đứng ra giữa triều xin lĩnh trọng trách sẽ lên đường vào Nam đưa công chúa hồi quốc. Ông chỉ xin mang theo 5.000 quân sĩ, lương thảo cùng một số chiến thuyền lớn để vượt biển".

 

Trong cuốn "Đại Việt sử ký toàn thư" của sử gia Ngô Sĩ Liên biên soạn phát hành vào thời Hậu Lê - năm 1697, tức là sau 390 năm xảy ra vụ giải cứu công chúa Huyền Trân thoát họa "lửa thiêu" của người Chiêm Thành, ông lên án gay gắt đối với võ tướng Trần Khắc Chung, nhất là chuyện tư thông với công chúa Huyền Trân.

 

Có thể, từ cơ sở này nên nhiều người đời sau đã thêu dệt nên câu chuyện tình đầy lâm ly, bi đát giữa công chúa Huyền Trân và võ tướng Trần Khắc Chung. Thậm chí, có người còn dựa vào câu ca dao: "Tiếc thay hạt gạo trắng ngần. Đã vo nước đục, lại vần lửa rơm", cho là dân gian muốn ám chỉ câu chuyện thất tiết của nàng công chúa Đại Việt "Mượn màu son phấn. Đền nợ Ô, Lý".

 

Chuyện xưa đến nay còn truyền rằng, sau khi được viên tùy tướng chặn hậu, Trần Khắc Chung dẫn công chúa dong thuyền, vượt biển. Gặp lại vị tình lang trong mộng, hai người quấn quít bên nhau, bất chấp kẻ hầu, người hạ đứng vây quanh.

 

Tướng Khắc Chung đã yêu cầu công chúa cùng vào đồn trú ở thành Hóa Châu, không trở về Thăng Long nữa, để mãi mãi sống kiếp "phu - thê". Nhưng công chúa Huyền Trân không đồng ý, một mực khuyên can Khắc Chung về triều, rồi xin anh (vua Trần Anh Tông) đứng ra làm mai mối cho cuộc tình duyên dở dang. Tuy nhiên, phần đông sử gia ngày nay khẳng định, câu chuyện tình là sự gán ghép ác ý của các sử gia thời Hậu Lê.

 

Vì rằng, trên bước đường giải cứu công chúa Huyền Trân, không chỉ có mỗi võ tướng Trần Khắc Chung mà còn có An phủ sứ Đặng Văn và đoàn tùy tùng. Vả lại, Khắc Chung vốn người họ Đỗ, song do đã lập nên công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên năm 1285 nên được nhà vua ban quốc tính đổi thành Trần Khắc Chung, phong chức Nhập Nội Hành khiển Thượng thư Tả Bộc xạ thì con người đảm lược tài ba ấy đâu thể làm chuyện bại hoại danh tiếng.

 

Luật nay: Có thể buộc tội các sử gia thời Hậu Lê?

 

Câu chuyện về mối tình của Huyền Trân công chúa và Trần Khắc Chung cho đến đời sau này vẫn còn nhiều điều chưa thể lý giải hết được. Đâu là sự thực trong câu chuyện được thêu dệt nhiều đến mức như thế này. Có đúng là Trần Khắc Chung quan hệ với công chúa Huyền Trân hay không?

 

Bằng những bằng chứng từ những ghi chép của các sử gia sau này thì có thể nói Trần Khắc Chung không phải là người làm băng hoại đạo đức vốn có của mình. Sự thực về việc quan hệ với Huyền Trân công chúa là không có thực...

 

Chiếu theo những quy định của pháp luật ta thời nay thì khi có đơn thư yêu cầu giải quyết vụ việc thì cơ quan chức năng phải làm rõ Trần Khắc Chung có quan hệ với công chúa Huyền Trân hay không? Nếu không thì phải xử lý người có hành vi vu khống, bôi xấu danh dự nhân phẩm. Về lý mà nói, chuyện tình trên là sự gán ghép ác ý của các sử gia thời Hậu Lê. Như vậy, những người này phải bị xử lý theo quy định của pháp luật.

 

Hành vi vu khống người khác được quy định rất rõ tại Điều 122 BLHS năm 1999: Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

 

Trong trường hợp trên, có thể thấy các sử gia thời Hậu Lê đã vu khống cho Trần Khắc Chung vào tội rất nghiêm trọng? Ảnh hưởng đến danh dự uy tín của ông trước bá quan văn võ triều đình. Chính vì vậy nếu vụ án được đưa ra xét xử thì hành vi đó bị phạt tù từ một năm đến bảy năm (Khoản 2 điểm e Điều 122 ).

 

Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

________________

Tường Linh

Nguồn: www.nguoiduatin.vn

NGÔI MIẾU CỔ RỬA OAN TÌNH CHO CÔNG CHÚA HUYỀN TRÂN

Nằm dưới chân núi Xuân Dương của làng chài Nam Ô (thuộc phường Hòa Hiệp Nam, quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng), ngôi miếu cổ hàng trăm năm tuổi, rêu phong cổ kính được người đời truyền tụng là miếu thờ vọng Công chúa Huyền Trân. Nơi đây, gắn liền với câu chuyện của một vị võ tướng tài ba dưới quyền Nhập Nội Hành khiển Thượng thư Tả Bộc xạ Trần Khắc Chung một mình ngăn mấy vạn quân Chiêm để giải cứu công chúa Huyền Trân khỏi cái chết tuẫn táng nơi đất người.

Người đời đã thêu dệt nên những câu chuyện về mối tình oan nghiệt giữa Công chúa và vị võ tướng họ Trần. Ngay trong cuốn “Đại Việt sử ký toàn thư” của sử gia Ngô Sĩ Liên cũng lên án gay gắt đối với võ tướng Trần Khắc Chung tư thông với Công chúa Huyền Trân.

 

Nhưng theo các già làng ở Nam Ô kể lại thì từ thời các vị tổ đầu tiên rời đất Bắc vào mảnh đất dưới chân núi Xuân Dương này khai ấp, lập làng đã nghe truyền tụng chuyện về tấm gương trung liệt của vị tướng quân nhà Trần nọ, đã anh dũng hy sinh trong trận đánh chặn quân Chiêm truy đuổi Công chúa Huyền Trân trên bước đường hồi cố quốc.

 

Vì vậy, các chư phái tộc làng Nam Ô đã đồng lòng suy tôn vị tướng quân nhà Trần, mà họ không biết danh tính, quê quán là “Tiền hiền triệu cơ” (Tiền hiền mở cõi) của làng, bằng tất cả tấm lòng tri ân, ghi nhớ công đức tiền nhân mở cõi đất phương Nam.

 

Nghi án mối oan tình trăm năm chưa có lời giải


Tìm về làng chài Nam Ô (phường Hòa Hiệp Nam, quận Liên Chiểu, TP.Đà Nẵng) vào một buổi chiều cuối tháng ba, trước mặt chúng tôi không chỉ hiện ra bóng dáng Hải Vân quan kỳ vĩ chắn ngang dải sơn hà mà còn là nơi in dấu một thiên tình sử lắm vẻ vang mà cũng nhiều đau đớn từ tận 700 năm về trước.

 

Đó là mối oan tình trăm năm chưa được vén bức màn bí mật giữa công chúa Huyền Trân và vị võ tướng Trần Khắc Chung.

 

Chuyện kể rằng, năm 1293, Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông trong trang phục của một lữ tăng đã đặt chân đến xứ sở Vijaya (kinh đô của vương quốc Chiêm Thành) để tận mắt chiêm ngưỡng những tháp vàng, tháp bạc nguy nga, tráng lệ.

 

Vua Chiêm lúc đó là Chế Mân biết được nên đích thân đến mời ngài vào cung điện của mình đón tiếp long trọng như một vị thượng khách. Chế Mân dẫn vua Trần Nhân Tông đi du ngoạn khắp các đền đài, lăng tẩm của vương quốc Chiêm Thành.

 

Say mê trước vẻ đẹp hoang sơ nhưng không kém phần kỳ vĩ của xứ đàng trong, Thái Thượng Hoàng nước Việt đã lưu lại nơi đây gần chín tháng. Đến ngày về, cảm động trước thịnh tình của Chế Mân, vua Trần Nhân Tông đã hứa gả cô công chúa xinh đẹp của mình là Huyền Trần cho vua xứ Vijaya.

 

Theo “Đại Việt sử ký toàn thư” của sử gia Ngô Sĩ Liên chép lại thì khi nghe tin này, vua Chế Mân như mở cờ trong bụng bởi từ lâu ông đã nghe tiếng cô công chúa xinh đẹp nước Việt.

 

Dù đã có hoàng hậu nhưng Chế Mân vẫn sai sứ mang theo lễ vật đến kinh thành Thăng Lăng xin cưới công chúa Huyền Trân về làm vợ. Việc gả công chúa cho Chế Mân đã khiến quần thần trong triều xôn xao bàn tán.

 

Nhiều người đứng ra phản đối kịch liệt. Nhưng việc gã công chúa vốn đã được định liệu và sắp đặt từ trước trong một nước cờ chính trị dài lâu của hệ thống chính trị nhà Trần. Bởi lúc này, đất nước đang cần ổn định phía Nam để tập trung lo đối phó với bè lũ Nguyên – Mông đang dòm ngó từ phương Bắc.

 

Lúc này, công chúa Huyền Trân chỉ mới tròn 13 tuổi nên việc cưới hỏi được vua Trần Anh Tông trù trừ, chưa quyết định. Phải đến 5 năm sau, khi hoàng hậu vương quốc Chiêm Thành băng hà, Chế Mân lại tiếp tục sai người đưa lễ vật và dâng hai châu Ô – Lý cho triều đình Đại Việt.

 

Gạt nước mắt chia tay cố quốc, công chúa Huyền Trân quyết định sang làm hoàng hậu của đất nước mà dân gian bấy giờ vẫn gọi là “xứ man di”. Theo tích cũ truyền lại, trước khi lựa chọn về Nam làm dâu vì nghĩa nước non, Huyền Trân đã trãi qua những giờ phút ly biệt đầy nước mắt với “người tình cũ”, võ tướng Trần Khắc Chung.

Ngôi miếu cổ ở làng chài Nam Ô là nơi thờ vị võ tướng “Tiền quân oai”

 

Sử cũ chép lại, Trần Khắc Chung vốn là một trọng thần của triều đình nhà Trần trong hai lần chống quân Nguyên – Mông xâm lược, được nhà vua tín cẩn thường vời vào điện bàn việc quốc gia, đại sự. Trong khoảng thời gian vào chầu vua, Chung nhiều lần diện kiến công chúa Huyền Trân ngay trong nội điện.

 

Cặp “Trai tài – gái sắc”, mới nhìn nhau qua ánh mắt nhưng đã nảy sinh tình ý chỉ hiềm một nỗi là chưa có dịp để tỏ bày. Một lần, Khắc Chung được vua sai bảo vệ công chúa Huyền Trân lên am Ngọa Vân trên núi Yên Tử để thăm vua cha Trần Nhân Tông.

 

Trên đường đi, hai người có dịp chuyện trò và trao cho nhau những câu tâm tình thắm thiết. Nhưng tình yêu đôi lứa vừa mới chớm nở thì sớm đã lụy tàn bởi phận nhi nữ phải phục theo chiếu mệnh giang sơn.

 

Khi Huyền Trân Công chúa theo đoàn phu giá hướng về kinh đô Vijaya, nơi vua Chế Mân đang ngày đêm ngóng chờ thì Trần Khắc Chung lâm vào cảnh tuyệt vọng, suốt ngày tìm hình bóng người yêu trong những cơn say túy lúy.

 

Lúc ông tỉnh lại thì đoàn rước công chúa đã vào đến địa phận Thanh Hóa, Khắc Chung một mình một ngựa đuổi theo đưa tiễn người yêu một lần cuối. Cuối cùng Khắc Chung và Huyền Trân cũng gặp nhau ở dãy Hoành Sơn (đèo Ngang, đoạn giáp ranh giữa Quảng Bình và Hà Tĩnh – PV).

 

Một cuộc chia tay đầy nước mắt, Huyền Trân đã thề hẹn kiếp sau sẽ báo đáp mối ân tình của vị võ tướng. Còn Khắc Chung được dân gian miêu tả như kẻ điên tình cứ quấn lấy công chúa, không chịu rời bước.

 

Đoàn xa giá phải dừng chân ở Hoành Sơn gần hai ngày mới khởi hành. Công chúa Huyền Trân phải hết lời khuyên can vị võ tướng sớm quay lại kinh đô lo việc chống giặc, bảo vệ cương thổ, đừng vì chuyện nữ nhi mà đánh mất công danh. Nếu còn duyên phận, ngày sau sẽ gặp lại.

 

Trước khi đôi lứa chia lìa đôi ngã, công chúa Huyền Trân khóc than như những lời ai oán trong “Nước non ngàn dặm” được cho là lời tâm tình của nàng công chúa nước Việt:

 

“Nước non ngàn dặm ra đi/ Mối tình chi! Mượn màu son phấn/ Đền nợ Ô, Ly/ Xót thay vì/ Đương độ xuân thì/ Số lao đao hay là nợ duyên gì?/ Má hồng da tuyết/ Cũng như liều hoa tàn trắng khuyết/ Vàng lộn theo chì/ Khúc ly ca, sao còn mường tượng nghe gì…”

 

Nhưng cũng có tích xưa truyền lại rằng, lúc hai người gặp mặt nhau trong triều, cảm mến tài năng của Khắc Chung nên công chúa Huyền Trân xin bái làm thầy. Vị võ tướng trẻ tuổi tài ba đã dốc hết tâm huyết để dạy dỗ cho cô học trò chỉ kém mình tám tuổi.

 

Tuy được mọi người khen tụng là “đôi chim câu của trời Nam”, nhưng giữa Khắc Chung và công chúa vẫn giữ đúng đạo làm thầy – trò.

 

Ngoài những buổi học ở thiền cung, tướng Chung thường dẫn công chúa đi cưỡi ngựa, ngao du sơn thủy, ngắm cảnh hùng vĩ của sông núi, nhưng tuyệt nhiên không hề nghĩ đến tư tình.

 

“Lúc này Khắc Chung đã yên bề gia thất và có hai con nhỏ. Vợ của Khắc Chung là con gái của một vị quan trong triều, được tiếng đẹp người, đẹp nết. Còn công chúa chỉ mới bước vào tuổi cập kê (16-18 tuổi) nên giữa hai người khó xảy ra tình cảm riêng.

 

Dù đã gần ngàn năm trôi qua, nhưng việc khẳng định liệu có hay không mối duyên tình giữa vị võ tướng này và Công chúa Huyền Trân vẫn là một bí ẩn. Người đời đã thêu dệt nên nhiều câu chuyện khác nhau” – Thạc sĩ sử học Lưu Anh Rô cho biết.

Tượng Huyền Trân Công Chúa bằng đồng tại đền thờ ở Huế


Trận giải cứu đẫm máu ở Nam Ô của võ tướng nhà Trần


Câu chuyện tình của ngàn năm trước đã thôi thúc chúng tôi cùng nhà sử học Lưu Anh Rô tìm về những dấu tích xưa cũ, với hy vọng có được lời giải “hợp lý nhất”. Ngồi trên con thuyền nhỏ vượt đầm Nam Ô, phía trên là mây trời, núi cao trùng điệp, phía dưới là nước non ngàn dặm nhìn ra biển.

 

Cụ Lê Hào (93 tuổi), người giữ hồn trăm năm của làng chài Nam Ô cho biết “Ngày tôi mới lên năm tuổi thì đã nghe ông cụ cố (hơn 80 tuổi) ngồi kể chuyện với con cháu rằng:

 

Ở làng mình có một ngôi mộ ngoài mé biển (nay ở gần đồn biên phòng Nam Ô – PV), là ngôi mộ của vị tướng nhà Trần dưới trướng Nhập Nội Hành khiển Thượng thư Tả Bộc xạ Trần Khắc Chung. Ông hy sinh trong một trận chiến không cân sức với gần 5 vạn quân Chiêm để bảo vệ sự an toàn của Công chúa Huyền Trân trên đường hồi cố quốc.

 

Người đời sau vẫn lưu truyền lại những câu chuyện về sự anh dũng chiến đấu “một mình múa giáo địch vạn quân” của vị võ tướng tài ba”.

 

Thực hư câu chuyện diễn ra như thế nào, nhà sử học Lưu Anh Rô dẫn lại: Vào mùa hạ năm Đinh Mùi – 1307, sau gần một năm làm dâu Chiêm quốc được tấn phong Hoàng hậu với mỹ hiệu Paramesvari thì vua Chế Mân không may gặp bạo bệnh qua đời.

 

Công chúa Huyền Trân trở thành góa bụa khi mới bước vào tuổi 20. Theo tập tục của người Chăm lúc bấy giờ thì “Vua chết, hậu phải chết theo”, nhưng do Công chúa Huyền Trân đang mang thai Thái tử Chế Đa Đa nên việc hỏa thiêu được phép lùi lại.

 

Đến tháng 10 năm đó chuyện công chúa chuẩn bị lên giàn hỏa thiêu truyền về Thăng Long khiến vua Trần Anh Tông xót xa, lo lắng không nguôi. Vua cho vời các triều thần đến bàn bạc kế sách nhưng không ai đưa ra được chủ kiến hay để giải cứu công chúa.

 

“Lúc này, võ tướng Trần Khắc Chung đứng ra giữa triều xin lĩnh trọng trách sẽ lên đường vào Nam đưa công chúa hồi quốc. Ông chỉ xin mang theo 5.000 quân sĩ, lương thảo cùng một số chiến thuyền lớn để vượt biển.

 

Nghe có lý, vua Trần Anh Tông thuận lòng và ra chiếu chỉ sai quan Nhập Nội Hành khiển Thượng thư Tả Bộc xạ Trần Khắc Chung và An phủ sứ Đặng Văn cùng đoàn tùy tùng đi thuyền sang Chiêm quốc viếng tang, nhằm thực hiện kế hoạch giải cứu Công chúa Huyền Trân về Đại Việt” ông Rô kể.

 

Trước khi tiến vào địa phận của Chiêm Thành, Khắc Chung viết một bức mật thư sai người đưa cho công chúa để thông báo kế hoạch. Theo thư này, công chúa Huyền Trần sẽ yêu cầu được dựng đàn cầu siêu cho chồng ở một nơi hiểm yếu, gần biển, không ai được quấy rầy.

 

Lợi dụng lúc quân lính canh gác lơ là, xe ngựa của Huyền Trân nhìn về phương Bắc “trực chỉ”. Sau khi làm lễ tế ở bãi biển Thị Nại (Quy Nhơn), võ tướng Trần Khắc Chung cùng An phủ sứ Đặng Văn và đoàn tùy tùng theo mưu kế định sẵn, đã đưa Công chúa Huyền Trân xuống thuyền nhanh chóng dong buồm ra Bắc.

 

Quân Chiêm thấy hoàng hậu bỏ trốn liền rượt đuổi, nhưng bị quân Việt phục binh tiêu diệt toàn bộ số thiết kỵ của Chiêm Thành.

 

Tháo chạy khỏi Quy Nhơn (thủ phủ của Chiêm Thành), Đoàn chiến thuyền của võ tướng Trần Khắc Chung từ Bình Định ra Thăng Hoa, vào cửa Đại Chiêm (Cửa Đại) rồi theo đường sông Cổ Cò ra Cẩm Lệ (Đà Nẵng).

 

Từ đó, họ đi bằng đường bộ đến Xuân Sơn Hoa Ô (Nam Ô)… Tại làng Nam Ô, đoàn người nán lại để tìm cách vượt Ải Vân ra thành Hóa Châu (thuộc quyền quản lý của Đại Việt).

 

Khi biết Công chúa Huyền Trân cùng đoàn quân của võ tướng Trần Khắc Chung đang trên đường từ Chiêm quốc về lại Đại Việt, dân làng Nam Ô lúc bấy giờ đã tiếp đón và che chở một thời gian…

 

Nhưng, chẳng bao lâu sau, quân Chiêm nghe ngóng được sự tình, kéo đến bao vây bốn mặt. Dân làng đã cùng đoàn quân của võ tướng Trần Khắc Chung chống trả quyết liệt. Gia phả họ Đặng của làng chài Nam Ô còn chép lại:

 

“Tướng Trần Khắc Chung chỉ huy quân sĩ lập các chiến lũy ngăn cản quân Chiêm xông vào làng. Đích thân ông cầm giáo, dẫn quân chặn ở cửa ngõ chính dẫn vào đình làng, nơi công chúa Huyền Trân đang thiền tọa.

 

Giao tranh ác liệt diễn ra hơn bốn ngày, bốn đêm, quân sĩ hy sinh vô số. Bước sang ngày thứ 5 thì Đại Việt chỉ còn gần 300 lính quyết tử chiến ở bốn cửa ngõ, người làng buộc phải cầm vũ khí chống quân Chiêm”.

 

Lúc này, Trần Khắc Chung có hai vị tướng tài là: “Tiền quân oai” và “Hậu quân oai”. Nhưng vị hậu quân oai hi sinh ở sông Cẩm Lệ, chỉ còn lại vị tướng tiền quân xin nguyện ở lại chống giặc.

 

Vị tướng này đã chỉ huy toán quân gần 200 lính, liều chết đánh chặn hậu để ông dùng thuyền nhẹ đưa Công chúa Huyền Trân ra khơi và cả đoàn dong buồm thẳng hướng Hòn Hành, thoát ra thành Hóa Châu.

 

Phát hiện có đoàn người chạy trốn ra khỏi làng, quân Chiêm càng đẩy thế tấn công, dồn hết bốn điểm chống cự lại co cụm giữa sân đình. Nhưng viên tùy tướng vẫn anh dùng chiến đấu, cầm đao lao vào ngăn giặc, không cho quân binh truy đuổi theo đoàn hộ giá Công chúa.

 

Khi những chiếc thuyền của võ tướng Trần Khắc Chung mờ khuất trong màn sương khói khơi xa thì thế trận phòng ngự của quân Việt cũng tan vỡ. Viên tướng giữ nhiệm vụ đánh chặn hậu cùng hơn 200 binh lính cũng anh dũng hy sinh.

 

Sử cũ chép lại: “Ông là người Việt đầu tiên ở lại đất Chiêm Thành và chết trên đất Chiêm Thành. Sau vào thời Chế Bồng Nga, người Chiêm lấy lại đất này, phá bia mộ ông nên ông thành người vô danh”.

 

Ghi nhớ công đức mở đất phương Nam của Công chúa Huyền Trân, dân làng Nam Ô lập miếu thờ bà. Còn vị tướng dưới trướng Trần Khắc Chung lâm trận hy sinh cũng được chôn cất tử tế và phong làm tiên hiền của làng…

 

Trước di tích mộ tiền hiền làng Nam Ô, ông Lê Hào ngậm ngùi đọc mấy câu trong bài văn tế được truyền lại từ hàng trăm năm trước:

 

“Cổ vân lôi ư, tam cấp vũ môn, ninh kiến hà trừng thiên lý/ Chiêm phong lãng ư, kỷ trùng hoàng hải, vĩnh khang thốn tức thôn kình” (Tạm dịch: Sấm mây xưa hử, qua mấy màn mưa, lặng nhìn thấy đâu ngoài thiên lý/ Sóng gió Chàm hừ, bồn chồn nhớ nước, kiên gan chờ nuốt cả kình ngư).

 

Bài văn tế được xướng lên trong ngày giỗ tiền hiền của làng Nam Ô vào mỗi độ 24/6 âm lịch hằng năm.

 

Thực hư câu chuyện oan tình ở ngôi miếu cổ


Trên đường đưa tôi đến di tích ngôi mộ của vị tướng quân tử trận đã hơn 700 năm trước, cụ Hào cho hay, di tích mộ tiền hiền làng chài Nam Ô nằm trên một doi cát, bên chân sóng. Đứng ở nơi này phóng tầm mắt nhìn về núi Xuân Dương trông dải núi nhô ra phía biển tựa như một lưỡi kiếm.

 

Xa hơn nữa là Hòn Hành cũng tách biệt với dãy núi Hải Vân chơ vơ, cô độc giữa mênh mông sóng vỗ, ẩn hiện trong làn sương khói lênh đênh. Gió biển thổi lồng lộng, song chất giọng “ăn sóng, nói gió” của người đã ngoài lục tuần, cụ Hào cứ sang sảng khi đọc hai câu đối khắc trước trụ đá nhà bia:

 

“Hóa công lưu nghiệp thiên thu tại/ Ba huệ khai cơ vạn cổ tồn”. Rồi cụ Hào giải thích rằng, hai câu thơ trên đã lưu truyền từ hàng trăm năm qua để ghi nhớ người có công mở mang, bờ cõi.

 

Trong câu chuyện do cụ Hào và ông Rô kể, những chi tiết hư hư, thực thực đan xen lẫn nhau khiến câu chuyện càng trở nên kỳ bí, lạ lùng.

 

Theo ông Rô, trong cuốn “Đại Việt sử ký toàn thư” của sử gia Ngô Sĩ Liên biên soạn phát hành vào thời Hậu Lê – năm 1697, tức là sau 390 năm xảy ra vụ giải cứu Công chúa Huyền Trân thoát họa “lửa thiêu” của người Chiêm Thành, ông lên án gay gắt đối với võ tướng Trần Khắc Chung, nhất là chuyện tư thông với Công chúa Huyền Trân.

 

Có thể, từ cơ sở này nên nhiều người đời sau đã thêu dệt nên câu chuyện tình đầy lâm ly, bi đát giữa Công chúa Huyền Trân và võ tướng Trần Khắc Chung. Thậm chí, có người còn dựa vào câu ca dao:

 

“Tiếc thay hạt gạo trắng ngần. Đã vo nước đục, lại vần lửa rơm”, cho là dân gian muốn ám chỉ câu chuyện thất tiết của nàng công chúa Đại Việt “Mượn màu son phấn. Đền nợ Ô, Lý”.

 

Chuyện xưa đến nay còn truyền rằng, sau khi được viên tùy tướng chặn hậu, Trần Khắc Chung dẫn công chúa dong thuyền, vượt biển. Gặp lại vị tình lang trong mộng, hai người quấn quít bên nhau, bất chấp kẻ hầu, người hạ đứng vây quanh.

 

Tướng Khắc Chung đã yêu cầu công chúa cùng vào đồn trú ở thành Hóa Châu, không trở về Thăng Long nữa, để mãi mãi sống kiếp “phu – thê”. Nhưng công chúa Huyền Trân không đồng ý, một mực khuyên can Khắc Chung về triều, rồi xin anh (vua Trần Anh Tông) đứng ra làm mai mối cho cuộc tình duyên dở dang.

 

Tuy nhiên, phần đông sử gia ngày nay khẳng định, câu chuyện tình là sự gán ghép ác ý của các sử gia thời Hậu Lê. Vì rằng, trên bước đường giải cứu Công chúa Huyền Trân, không chỉ có mỗi võ tướng Trần Khắc Chung mà còn có An phủ sứ Đặng Văn và đoàn tùy tùng.

 

Vả lại, Khắc Chung vốn người họ Đỗ, song do đã lập nên công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên năm 1285 nên được nhà vua ban quốc tính đổi thành Trần Khắc Chung, phong chức Nhập Nội Hành khiển Thượng thư Tả Bộc xạ thì con người đảm lược tài ba ấy đâu thể làm chuyện bại hoại danh tiếng.

 

Thêm vào đó là sự chênh lệch tuổi tác giữa Trần Khắc Chung và Công chúa Huyền Trân… Ông Rô cũng bác bỏ giả thuyết võ tướng Trần Khắc Chung dùng thuyền nhẹ cướp Huyền Trân Công chúa từ bãi biển Thị Nại đưa ra biển lớn và đi loanh quanh trên biển một năm sau mới về tới Thăng Long.

 

“Điều ấy hoàn toàn vô lý, bởi vì tiết trời tháng 9, tháng 10 ở miền Trung mưa, bão liên miên. Một chiếc thuyền nhỏ làm sao có thể bám biển, chống chọi với phong ba bão tố.

 

Huống gì, thuyền nhỏ để cho võ tướng Trần Khắc Chung và Công chúa Huyền Trân tư tình thì thử hỏi An phủ sứ Đặng Văn cùng những người khác trong đoàn tùy tùng đi ngã nào?”.

 

Từ đó, ông Rô dẫn lại chuyện kể về trận đánh chặn hậu của vị tùy tướng ở làng Nam Ô, cùng miếu thờ vọng Huyền Trân Công chúa, cho thấy dù đây là chuyện ngoài chính sử, song cũng thêm một cứ liệu xác đáng để các nhà khoa học quan tâm mà có thể rửa sạch mối oan tình bấy lâu nay người đời đồn đại giữa võ tướng Trần Khắc Chung và Công chúa Huyền Trân.

 

Rời di tích mộ tiền hiền làng Nam Ô, tôi đến miếu thờ dưới núi Xuân Dương. Trước cảnh ngôi miếu cổ hàng trăm năm tuổi đổ nát theo thời gian mà không khỏi chạnh lòng. Các bô lão cho biết, khắc ghi lời dạy của cha, ông, hằng năm, cứ “xuân thu nhị kỳ” dân làng đều cúng tế tại miếu này.

 

Song, việc trùng tu, bảo tồn di tích thì chưa có sự quan tâm của cơ quan chức năng. Họ cũng tiết lộ về những bài vị trong miếu là do mới được làm lại sau này chứ không phải có cùng thời khi ngôi miếu được xây dựng.

 

Vì thế, có thể tên những vị thần ghi trên bài vị khác với ý nghĩa được truyền tụng trong dân gian… “Vùng đất rộng lớn thuộc hai châu Ô – Lý, kéo dài từ bờ Nam sông Hiếu (Đông Hà, Quảng Trị) vào đến bờ Bắc sông Thu Bồn (Quảng Nam), trở thành đất của Đại Việt, kể từ khi Chế Mân dâng cho vua Trần làm sính lễ để xin cưới Huyền Trân Công chúa (1306).

 

Cho nên, khắp dải đất này nhân dân lập nên nhiều ngôi miếu thờ tưởng nhớ công lao của nàng công chúa “lá ngọc cành vàng” phải ra đi làm dâu Chiêm quốc vì nghĩa nước non…

 

Nên cần phải làm sáng tỏ mối oan tình giữa võ tướng Trần Khắc Chung và Công chúa Huyền Trân để rửa sạch những vết nhơ trong lịch sử” – ông Rô nói.

 

Theo một tài liệu mang tên “Đà Sơn phổ chí” do Tiến sĩ sử học Lưu Trang phát hiện nhiều điều rất thú vị.

 

Đó là sau đám cưới của Công chúa Huyền Trân với Chế Mân khoảng 40 năm, Vua Trần Minh Tông còn gả một nàng công chúa khác cho vị tướng quốc người Việt gốc Chăm là ông Phan Công Thiên, người được hậu thế phong thành tiền hiền làng Đà Sơn (nay thuộc phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng).

 

Nàng công chúa này đã xin vua cha cho chở nhiều thóc, trâu vào và dạy cho dân từ đèo Hải Vân đến bờ Bắc sông Thu Bồn cày cấy. Nàng còn chỉ dạy người dân làm hàng chục kho lớn để chứa thóc giống…

 

Trở lại câu chuyện giải mối oan tình cho công chúa Huyền Trân, ông Rô và cụ Hào đều khẳng định, trận đánh chặn quân Chiêm ở làng Nam Ô là có thật và được gia phả của ba dòng họ lớn ở làng chép lại là: họ Đặng, họ Lê và họ Trần.

 

Nên câu chuyện thêu dệt, võ tướng Trần Khắc Chung dùng thuyền cướp công chúa Huyền Trân lênh đênh một năm trên biển và tư thông với nhau là không có cơ sở.

________________

Dương Thanh

Nguồn: nghiencuulichsu.com

VUA DỰC TÔNG NHÀ NGUYỄN THÁN PHỤC CÔNG ĐỨC GIỮ NƯỚC CỦA VUA NHÂN TÔNG NHÀ TRẦN

Vua Dực Tông nhà Nguyễn (tức vua Tự Đức) hết sức chú trọng đến Lịch sử Việt Nam. Nhà vua đã giao cho Quốc sử quán biên soạn bộ Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục và đích thân nhà vua đã soạn bộ Ngự Chế Việt Sử Tổng Vịnh hòng quảng bá cho trăm họ suy nghiệm về những nhân vật và giai thoại để rút tỉa những bài học về đạo đức đối với quốc gia dân tộc. Mỗi đề tài ngâm vịnh đều có sử liệu giải thích. Ngự Chế Việt Sử Tổng Vịnh có 10 quyển, gồm 212 bài thơ thất tuyệt bao trùm lịch sử từ đời Lạc Long Quân đến nhà Hậu Lê, chia làm 11 mục: Đế vương các triều đại, Hoàng hậu và phi tần, tôn thần, hiền thần, trung nghĩa, văn thần, võ tướng, liệt nữ, tiếm nguỵ, gian thần, bổ vịnh.

Bài thơ vua Dực Tông vịnh công đức của vua Trần Nhân Tông in trong quyển 2, từ tr.3a đến tr.4b Ngự Chế Việt Sử Tổng Vịnh .

 

Nguyên văn sử liệu và thơ vua Nguyễn Dực Tông vịnh vua Trần Nhân Tông như sau:

 

“Theo Sử ký bản chỉ chép, thì vua Trần Nhân Tông tên huý là Khâm, là con trưởng của vua Trần Thánh Tông.

 

Năm thứ tư niên hiệu Thiệu Bảo [1] (1282), người nhà Nguyên sai bọn Toa Đô đánh nước Chiêm Thành. Nhà Nguyên lại khiến Thái tử Thoát Hoan đem 50 vạn binh đánh tiếng mượn đường nước ta để chinh phạt Chiêm thành, nhưng sự thực là họ tới để xâm lấn nước ta.

 

Nhà vua ngự giá đến Bình Than, nhóm họp với các vị Vương Hầu và bách quan trong triều đình để bàn bạc sách lược công và thủ.

 

Ngài chọn Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn làm chức Tiết chế thống lãnh các đạo quân của nước ta.

 

Tháng 12 năm Thiệu Bảo thứ sáu (1284), quân nhà Nguyên xâm phạm biên cảnh nước ta, quan quân ta đánh nhau với quân nhà Nguyên nhưng quân ta không thắng được địch, nhà vua phải dời đến vùng Đông Hải.

 

Năm đầu niên hiệu Trùng Hưng (1285, niên hiệu thứ hai của vua Trần Nhân Tông) quân nhà Nguyên đến phạm kinh thành của ta, nhà vua rước đức Thượng hoàng (tức Trần Thánh Tông) đi vào tỉnh Thanh Hoá.

 

Mùa hạ tháng 4 năm ấy (Trùng Hưng nguyên niên) Chiêu Văn Vương là Trần Nhật Duật đánh bại quân Nguyên ở cửa sông Hàm Tử.

 

Tháng 5 năm ấy (1285), sau khi nhà vua rước đấng Thượng hoàng vào Thanh Hoá rồi, Ngài tự làm tướng đem binh đánh quân Nguyên, đánh cho Toa Đô đại bại ở đất Tây Kết và chém đầu Toa Đô ở đấy.

 

Trần Quốc Tuấn lại đánh quân Nguyên thua lớn ở Vạn Kiếp, Thoát Hoan phải chạy trốn về Tàu.

 

Vua lại rước đức Thượng hoàng trở về nơi cung điện.

 

Lúc bấy giờ, xã tắc đã gần lâm nguy mà trở lại yên ổn, thiên hạ đã phân ly mà trở lại hoà hợp, công đức nhà Trần thật là to lớn vô cùng, kể từ đời họ Hồng Bàng trở xuống, chưa bao giờ nước ta được thịnh trị như đời Trần Nhân Tông vậy. (do NĐX nhấn mạnh)

 

Vua Trần Nhân Tông ở ngôi Hoàng đế được 14 năm.

 

Thơ vịnh Trần Nhân Tông:

Phân âm:

 

Lưỡng khước Nguyên binh điện cựu bang.

Trùng hưng công đức quán Hồng bàng

Đương niên nhị Đế hồi cung khuyết,

Tu sát Huy Khâm phụng biểu hàng

 

Tạm dịch:

 

Hai bận xua Nguyên giữ nước nhà,

Trùng hưng công nhất nước Nam ta.

Trong năm hai Đế về cung khuyết

Hàng địch Huy (a), Khâm (b) thẹn lắm mà.

 

Bình luận bài thơ trên:

 

“Trong bài thơ trên, tác giả đã áp dụng những vần rất hiểm, mà những vần ấy đều vững vàng và thoả đáng cả”.

 

Thần: Tùng Thiện công Miên Thẩm [2] phụng duyệt.

 

“Trong bài thơ trên, phần nghị luận vốn đã chính đại không thể nào thay đổi được, mà việc mượn kẻ nầy để hình dung kẻ khác hay là mượn việc nầy để nói lên việc khác, lại càng tinh vi kỹ lưỡng vô cùng”.

 

Thần: Nguyễn Tư Giảng [3] phụng duyệt.

 

Hồng Liên Lê Xuân Giáo và Nguyễn Quang Tô, phiên âm và dịch toàn bộ đoạn sao lục trên. Hai dịch giả đã chú thích và bình luận hai danh từ riêng Huy (a) và Khâm (b) như sau:

 

(a) Huy: vua Tống Huy Tông, hiệu Kiến trung, tức vị năm Tân tị (1101), bị người Kim truất phế và bắt về phương Bắc. Huy Tông xin hàng người Kim mà cũng không được tha.

 

(b) Khâm: vua Tống Khâm Tông, hiệu Tịnh Khang, tức vị năm Bính Ngọ (1126) cũng bị người Kim truất phế và bắt về phương Bắc. Khâm Tông xin hàng người Kim mà cũng không được tha.

 

Trái lại vua Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông đánh đuổi quân Nguyên rồi trở về cung khuyết một lần. Đem Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông mà so sánh với Huy Tông, Khâm Tông thì Huy, Khâm có thể chết thẹn được [4].

 

Các sử thần triều Nguyễn biên soạn bộ Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục với quan điểm lịch sử của vua Dực Tông nêu trên. Đọc các sự kiện vua quan triều Trần chiến thắng quân Nguyên trong Cương Mục, vua Dực Tồng châu phê một lời bình rằng:

 

“Lúc bấy giờ nhà Nguyên mới nổi lên, khi thế rất ngang ngược; nhà Trần cũng may gặp lúc mới nổi lên được các vua Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông và tướng văn tướng võ phần nhiều người tài, mới có thể đánh bại được giặc, giữ được nước, chứ nếu gặp người khác thì chưa biết thế nào”.

 

Dịch lời phê nầy từ chữ Hán, các dịch giả của Viện Sử học Việt Nam đã chú thích thêm rằng:

 

“Lời phê kết thúc bằng tám chữ “nhược ngộ kỳ tha, vị khả chí dã” Tám chữ nầy nghĩa không được rõ cho lắm, vì chữ “tha” có thể là người khác hoặc lúc khác. Vậy tám chữ nầy ý nói nếu gặp vua tôi khác không anh dũng được như vua tôi nhà Trần hoặc lúc khác không được hưng thịnh như lúc nhà Trần mới nổi lên, thì chưa biết tình thế sẽ biến chuyển ra sao”[5].

***

Vua Dực Tông là một người sùng Đạo Nho, giỏi thơ văn kinh sử, tự hào về sự huy hoàng thịnh trị của triều Nguyễn thế mà ông đã phải hạ bút viết:

 

“Công đức nhà Trần thật là to lớn vô cùng, kể từ đời họ Hồng Bàng trở xuống, chưa bao giờ nước ta được thịnh trị như đời Trần Nhân Tông vậy.”

 

Có lẽ không còn lời thán phục công đức của Trần Nhân Tông nào sáng giá hơn thế nữa. Công đức giữ nước của Trần Nhân Tông đánh dấu một cái mốc lịch sử quan trọng. Nếu không có hoàn cảnh, tài năng, công đức của vua quan triều Trần Nhân Tông thì sự thể nước ta sau đó không thể đoán định được sẽ suy sụp đến như thế nào. Sự xuất hiện của triều đại Trần Nhân Tông là một hồng phúc của dân tộc Việt. 

 

Vua Dực Tông nhà Nguyễn không những đặt công đức của vua Nhân Tông nhà Trần đứng đầu trong lịch sử Việt Nam từ xưa cho đến đời Trần mà còn so sánh với các ông vua nổi tiếng của Thượng quốc là Huy Tông và Khâm Tông nhà Tống nữa. Hai ông Huy Tông, Khâm Tông có cùng hoàn cảnh đất nước bị người ngoài chinh phục như Trần Nhân Tông. Nhưng Huy Tông và Khâm Tông đã đầu hàng giặc và đã bị giết một cách nhục nhã. Vua Trần Nhân Tông quyết đánh và đã thắng lợi vẻ vang. Như thế sự nghiệp giữ nước của vua Trần Nhân Tông hơn xa nhiều Hoàng đế của Trung Quốc.

 

Vẻ vang thay sự nghiệp giữ nước của vua Trần Nhân Tông.

____________________

Nguyễn Đắc Xuân

Nguồn: trungtamhuyentran.thuathienhue.gov.vn

CHIM PHỤNG – HỌA TIẾT TRANG TRÍ CHỦ ĐẠO TẠI ĐỀN THỜ HUYỀN TRÂN CÔNG CHÚA

Huế là một trong những vùng đất được đánh giá cao về việc sử dụng hình tượng trang trí trong kiến trúc truyền thống. Trong các công trình kiến trúc truyền thống Huế, đặc biệt là các cung đình hay đền chùa, miếu mạo thì mảng điêu khắc hay chạm trổ, đắp nổi được đánh giá là một trong những yếu tố quan trọng bậc nhất tạo nên vẻ đẹp cho công trình. Đền thờ Công chúa Huyền Trân tại núi Ngũ Phong, phường An Tây, thành phố Huế là một trong những cụm quần thể kiến trúc hội tụ những yếu tố đó.

Trung tâm Văn hóa Huyền Trân là một cụm quần thể kiến trúc tuy mới được xây dựng sau này (năm 2008) nhưng mang phong cách kiến trúc truyền thống Huế. Vì vậy, các biểu tượng trang trí trong đền thờ đều rất được chú trọng. Nếu hình tượng rồng xuất hiện nhiều tại các đền thờ, lăng tẩm của vua chúa thì hình tượng chim phụng là hoạ tiết trang trí chủ đạo tại Đền thờ công chúa Huyền Trân và điện nữ thần.

 

Huyền Trân công chúa - ái nữ của vua Trần Nhân Tông, là vị thần anh thư nước Việt đã có công mở cỏi đi về phương Nam. Bà là một trong những công chúa nổi danh nhất lịch sử Việt Nam. Được các triều đại sau sắc phong là thần hộ quốc, đặc biệt dưới triều vua Khải Định bà được phong là “Trai tĩnh trung đẳng thần”. Đền thờ Huyền Trân công chúa là sự tiếp nối ý nguyện của nhân dân Thừa Thiên Huế trong việc mở mang bờ cỏi. Tuy vậy, để diễn tả và truyền đạt hết ý nghĩa của công trình, bên cạnh yếu tố lịch sử thì việc lựa chọn các hoa văn, hoạ tiết để trang trí trong đền thờ góp một phần không nhỏ tạo nên các giá trị về yếu tố tâm linh. Phượng hoàng, loài chim tượng trưng cho hoàng hậu, công chúa, biểu tượng cho sự thiêng liêng, cao sang, quyền quý… là hoạ tiết chủ đạo được chọn để trang trí tại đền thờ công chúa Huyền Trân.

Chim phụng hay còn gọi là Phượng hoàng, là một loài chim chỉ có trong truyền thuyết.Theo quan niệm của người phương Đông nói chung, phượng được coi là chúa tể của các loài chim. Hình tượng chim phụng có cấu trúc phức tạp dựa trên cấu trúc có sẵn của các loài vật có trong tự nhiên. Mỗi loài vật có cấu trúc riêng và ưu thế riêng. Bởi vậy để miêu tả chim phượng thành một biểu trưng có sức mạnh siêu nhiên, con người đã tưởng tượng và đắp thêm một số yếu tố để chim phượng phù hợp với chức năng mà thần thoại quy định. Nó kết tinh được vẻ đẹp, sự mềm mại, duyên dáng của các loài chim. Phượng được mô tả có bộ lông rực rỡ, đầu là đầu chim trĩ, mào là mào của gà trống khuôn theo hình mây có chùm lông dài xoắn, mỏ chim nhạn, cổ rùa, lông của nó mượt như lụa, óng ánh rực lửa…

 

Chính vì thân hình quyến rũ, kết tinh được vẻ đẹp, sự mềm mại, duyên dáng của các loài chim nên phượng là đặc trưng tiêu biểu của hoàng hậu, vương phi, công chúa, gắn liền với hình ảnh của nữ giới.

 

Đến tham quan Trung tâm Văn hóa Huyền Trân, đi từ bên ngoài vào đền thờ Huyền Trân công chúa, ta dễ dàng bắt gặp hình ảnh chim phượng được đắp tạc, chạm trổ trên gờ mái của đền thờ.

Hoạ tiết chim phụng được trang trí trên gờ mái của đền thờ công chúa Huyền Trân

Tiếp đên là hình ảnh những con chim phụng quấn quanh các cột trụ phía trước đền thờ kết hợp với hoạ tiết mây xung quanh tạo nên một không gian sinh động. Tuy được đắp nổi bằng vôi vữa nhưng hình ảnh chim phụng vẫn mềm mại, thanh thoát mà vẫn không kém phần uy nghiêm.

Các bức hoành phi trước đền thờ được sơn son thếp vàng, ghi dòng chữ “ Huyền Trân công chúa điện”, phía bên phải khắc hai chữ Công đức, phía bên trái khắc hai chữ Lưu quang. Trên các hoành phi này cũng sử dụng hoạ tiết chim phụng để trang trí.

Vào bên trong chánh điện, hoạ tiết chim phụng được sử dụng với mật độ dày đặc hơn, tập trung nhiều ở xung quanh án thờ bà Huyền Trân. Gian giữa chánh điện là môtip chim phụng chầu mặt trời. Hoạ tiết chim phượng ở đây được thể hiện theo kiểu thức phượng vũ, tả theo lối nhìn nghiêng, tóc hình lá sắc nhọn được vuốt dài ra phía sau. Hai cánh phượng lớn và xoè rộng, giang hai bên, chiếm phần lớn mảng đắp nổi. Thân phượng có vảy, uốn mềm mại như dãi lụa đào hồng.

Kiến trúc điện thờ Huyền Trân công chúa chia thành hai không gian chính, tiền đường thiết án thờ công chúa Huyền Trân, hậu điện đặt án thờ Đoàn Nhữ Hài- người có công trong việc xây dựng hai châu Ô, Lý khi hai châu này thuộc về Đại Việt.

 

Tượng bà Huyền Trân công chúa bằng đồng ngồi trên ngai. Xung quanh là các hoạ tiết chim phụng với nhiều kiểu thức thể hiện khác nhau.Có khi là hình tượng chim phượng chầu mặt trời, chim phượng ngậm dãi lụa hay các biến thể khác. Tất cả đều được sơn son thếp vàng rực rỡ tạo nên một không gian uy nghiêm, linh thiêng và lộng lẫy làm ta liên tưởng đến hình ảnh công chúa với nhan sắc “tuyệt thế giai nhân”: đầu đội khăn vành, mặc áo hoàng hậu, mặt trái xoan, lông mi lá liễu, mũi sọc dừa, da trắng mịn, hồng hào, tóc dài ngang lưng, sắc đẹp không son phấn. Dù được thể hiện dưới kiểu thức nào nhưng với bàn tay tài hoa của những người thợ kép nổi tiếng xứ Huế, hình ảnh chim phượng hoàng như phát huy được hiệu quả trang trí, làm cho không gian điện thờ trở nên lộng lẫy hơn, uy nghiêm hơn và không kém phần sang trọng.

Ngoài ra, hoạ tiết chim phụng còn được trang trí trên trán bia của bia ký công chúa Huyền Trân.


Bên cạnh ý nghĩa tượng trưng cho sự cao sang và quyền quý của một công chúa, một vị nữ thần anh thư nước Việt, hình tượng chim phượng còn là biểu tượng cho điềm lành, sự thái bình và thịnh vượng. Do vậy nó cũng là môtip mang tính biểu trưng với ý nguyện đền thờ là điểm dừng chân lý tưởng, mang lại điềm lành và sự thịnh vượng cho du khách cũng như cho thế hệ mai sau.

_________________

Ái Nhàn

Nguồn: trungtamhuyentran.thuathienhue.gov.vn

VUA TRẦN NHÂN TÔNG “HÓA” PHẬT Ở ĐÂU?

Một công trình nghiên cứu khảo cổ cho thấy Am Ngọa Vân (ở huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh - nằm ngoài vùng núi Yên Tử - NV) là nơi Phật Hoàng Trần Nhân Tông “hóa Phật”. Vậy, công trình hơn 700 năm bao phủ bởi rừng rậm và mây mù này ra sao?.

 

Tượng Phật Hoàng trên núi Yên Tử. Ảnh: T.L

 

Hành trình phát hiện Ngọa Vân Am

 

Nhà khảo cổ học Nguyễn Văn Anh (Viện Khảo cổ học Việt Nam) đã ra mắt cuốn sách “Am Ngọa Vân” - một tư liệu quý về quần thể di tích Ngọa Vân trong hệ thống di tích nhà Trần ở Đông Triều và hệ thống chùa tháp của Thiền phái Trúc Lâm trên dãy Yên Tử. Quan trọng nhất là công trình khảo cổ đã khẳng định Ngọa Vân Am – thánh địa của thiền phái Trúc Lâm – nơi Phật Hoàng nhập niết bàn hơn 700 năm trước không nằm ở trong khu di tích non thiêng Yên Tử, mà ở khu Ngọa Vân (Bình Khê, Đông Triều, Quảng Ninh).

 

Sau hàng trăm chuyến khảo sát lên Am Ngọa Vân, các nhà khảo cổ đã khai quật và phát hiện một hệ thống các công trình Phật giáo hoang phế, với những bia đá, hoa văn kiến trúc, gạch ngói, nền móng, vật dụng… minh chứng về sự tồn tại và phát triển thịnh vượng của Phật giáo hơn 700 năm trước. Khi ấy Ngọa Vân, Hồ Thiên, Quỳnh Lâm, Yên Tử là những trung tâm quan trọng của Phật giáo Trúc Lâm. Và nếu coi Thăng Long là kinh đô chính trị thì Yên Tử - Ngọa Vân là thánh địa Phật giáo.

 

Khi xuất gia tu hành, vua Trần Nhân Tông về Yên Tử, nhưng Ngài đắc đạo và hóa Phật tại Am Ngọa Vân. Sau đó Ngọa Vân được triều Trần cho xây dựng và mở rộng thành một quần thể chùa tháp lớn (đầu thế kỷ XIV), bao quanh đỉnh Ngọa Vân ở phía Nam của núi Bảo Đài (nay là núi Vây Rồng). Dấu ấn các công trình kiến trúc trùng tu ở Ngọa Vân thời Lê trung hưng, thời Nguyễn còn rất nhiều, khẳng định quần thể chùa tháp lớn và không gian Yên Tử xưa không chỉ bó hẹp trong khu danh thắng Yên Tử ngày nay.

 

Kết quả nghiên cứu khảo cổ Khu Di tích lịch sử và danh thắng Yên Tử (ở xã Thượng Yên Công, Uông Bí) và Khu Di tích Ngoja Vân - Hồ Thiên (thuộc xã Bình Khê và An Sinh, huyện Đông Triều) cho thấy: Vị trí được coi là Am Ngọa Vân ở di tích Yên Tử hiện nay - là nơi xây dựng rất nhiều chùa làm nơi tu học của các tăng ni. Còn Am Ngọa Vân nằm trên đỉnh núi Ngọa Vân mới là nơi Phật Hoàng Trần Nhân Tông tu hành đắc đạo và nhập niết bàn lại thuộc xã An Sinh (huyện Đông Triều, Quảng Ninh). Cả hai đều nằm trên dãy núi Đông Triều (Quảng Ninh).

 

Huyền ảo đường lên Am Ngọa Vân

 

Tết đến, xuân về núi Ngọa Vân trở thành chốn tâm linh bậc nhất để các Phật tử và du khách hành hương. Núi Ngọa Vân có hình thế vòng cung như ngai vua, nằm ở nơi xa khuất, tới được không dễ dàng. Để tìm lại Ngọa Vân ngày nay, các nhà khảo cổ từng mò mẫm trên những con đường mòn mất dấu chân người, từng lạc rừng sâu phải ngủ lại để sáng ra đi tiếp, từng ngủ nhờ trong ngôi nhà nhỏ giữa thung lũng đẹp như cổ tích, nghe những câu chuyện kỳ bí, những địa danh lạ lùng.

 

Đầu tiên là Tàn Lọng, tương truyền đoạn này bắt đầu vào rừng già, ngợp cây rừng và hẹp chỉ đủ cho từng người lách qua, phải thu lọng vì không thể che được nữa mà thành tên. Tiếp đó là Cửa Phủ - nơi thờ thần rừng, thần núi. Ai trước khi vào rừng già cũng phải thắp hương làm “thủ tục đăng sơn”, có tên lạ là Phủ Am Trà. Có thể xưa đây là vị trí Am Trà, khi xây thành phủ đã lấy luôn tên am đặt cho tên phủ, thành tên Phủ Am Trà. Phủ Am Trà là một nền miếu cổ, có một bát hương, không tượng, không bài vị… nằm trên một mô đất hẹp cao hơn mặt suối chừng 5m.

 

Qua Phủ Am Trà là tới dốc Đô Kiệu ở ngã ba hai dòng suối đổ về suối Phủ Am Trà, là con dốc cao và dài, hai bên là vực sâu và không có bậc đá như bây giờ. Xưa kiệu của vua Trần khi đi đến đây phải đỗ lại, không thể đi tiếp được nữa, nên thành tên dốc Đỗ Kiệu, dân gian đọc chệch cái tên khởi thủy thành Đô Kiệu.

 

Hết dốc đi thêm ít phút là tới Thông Đàn - vốn là một dải rừng thông vi vu, cỏ lác lút đầu. Ở đây xưa là một rừng tháp lớn, giờ chỉ còn hệ thống nền móng là những khối đá lớn vuông vức, đá lát, đá viền, cả dấu vết bị con người đào xới, đánh mìn, lật đá tìm châu báu.

 

Rừng cổ thông vài trăm tuổi giờ còn rất ít, nhưng không một ai dám chặt hạ. Dân vùng này truyền nhau câu chuyện kỳ bí về một nông dân ở Trại Lốc. Ông ta theo con rể hạ một cây tùng từ Thông Đàn về đóng đồ. Một thời gian sau ông ta tự dưng phát điên. Anh con rể thì chết bất đắc kỳ tử. Chuyện loang ra, lâm tặc quanh vùng từ đó kinh sợ nên không dám động đến những gốc cổ tùng. Nhờ vậy mà nơi đây tinh mơ chim chóc đã hót ran, sóc cổ đỏ nhảy nhót…

 

Sẽ tiếp tục nghiên cứu, giải mã

 

Người ta vẫn truyền nhau những chuyện về sư Tiến, trụ trì chùa đã rất nhiệt tâm giúp các nhà khảo cổ nghiên cứu, khôi phục lại vùng linh địa Ngọa Vân. Sư Tiến cùng hai đồng môn lên chùa Ngọa Vân, một sư già đã mất, còn sư trẻ thì không ở lại chùa. Hồi sư lên, nền chùa cũ chỉ còn mấy bức tường trơ trụi. Am Ngọa Vân và các tháp đá lút trong cây dại um tùm, rắn rết xua không xuể. Mùa khô suối cạn vài mươi ngày sư xuống núi một lần. Mùa mưa thì không xuống núi được. Rau cỏ, cây thuốc sư đều tự trồng. Ăn uống chỉ có măng rừng, chuối rừng muối, lá vả luộc…

 

Thời gian làm nhiều tầng văn hóa Phật giáo nơi đây phai nhạt, nhưng Ngọa Vân luôn được trân quý với quá khứ vàng son của Phật giáo hơn 700 năm trước. Theo ThS Nguyễn Văn Anh, Ủy viên Ban Thông tin truyền thông, Giáo hội Phật giáo Việt Nam, các nhà khảo cổ đã điều tra, nghiên cứu hệ thống các di tích nhà Trần ở Đông Triều, ở vùng đất An Sinh xưa, chú tâm đến hệ thống di tích chùa, am, tháp của Thiền phái Trúc Lâm, đặc biệt là chú trọng tìm hiểu và giải quyết về vị trí của Am Ngọa Vân. Kết quả cho thấy, Am Ngọa Vân dưới thời Trần thuộc phạm vi ấp thang mộc của An Sinh vương Trần Liễu.

 

Giá trị của Ngọa Vân là một chuỗi mô phỏng hành trình tu hành khổ hạnh, đắc đạo, thuyết pháp, độ tăng giáo hóa chúng sinh rồi an nhiên hóa Phật của vua Trần Nhân Tông (Yên Tử là nơi Phật Hoàng tu hành, thuyết pháp, độ tăng... Ngọa Vân là điểm kết thúc trọn vẹn quá trình tu hành, đắc đạo). Các nhà khảo cổ sẽ tiếp tục nghiên cứu và làm rõ hơn một số vấn đề nữa về Ngọa Vân.

 

Du khách hành hương về Ngọa Vân sẽ đi theo tuyến du lịch hành hương từ Tây sang Đông. Bắt đầu từ đền An Sinh qua khu lăng tẩm nhà Trần - khu Tàn Lọng - suối Phủ Am Trà - dốc Đô Kiệu - Thông Đàn - chùa và Am Ngọa Vân, trở về phía Đông đến Ngọa Vân 1 - Ngọa Vân 2 - Đá Chồng đến khu Ba Bậc là kết thúc.

 

Theo PGS.TS Bùi Minh Trí (Trung tâm Nghiên cứu kinh thành, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam), lãnh đạo Trung tâm Nghiên cứu kinh thành đã giao ThS Nguyễn Vân Anh và các đồng sự làm nhiệm vụ này. Nơi Phật Hoàng nhập niết bàn hơn 700 năm trước không nằm ở trong khu di tích Yên Tử, mà ở khu Ngọa Vân (Bình Khê, Đông Triều, Quảng Ninh). Quần thể am chùa tháp ở Ngọa Vân có những giá trị rất đặc biệt nên UBND tỉnh Quảng Ninh chú trọng bảo tồn tôn tạo đúng với vị trí, ý nghĩa của nó. Từ năm 2012, một số tháp đã được trùng tu lại. Quảng Ninh đang xây dựng khu vực Ngọa Vân trên nền cũ, sắp khánh thành.

________________

Uyển Hương

Nguồn: giadinh.net.vn

MUÔN SỰ NƯỚC TRÔI NƯỚC, TRĂM NĂM LÒNG NÓI LÒNG

Muôn sự nước trôi nước, trăm năm lòng nói lòng. (vạn sự thủy lưu thủy, bách niên tâm ngữ tâm) là hai câu thơ trong bài thơ năm chữ tám câu Đăng Bảo Đài Sơn của Trần Nhân Tông.
Chúng ta đi vào hai câu thơ này để thấu cảm “tâm sự” của ông: “Một mùa xuân mà tâm sự ở trong trăm đóa hoa”, (Nhất xuân tâm sự bách hoa trung _ bài Xuân Vãn).
 

 

1. Cái nhìn thời gian và lịch sử: vạn sự nước trôi nước.

Ai cũng biết Trần Nhân Tông ở trên đỉnh cao nhất của ngọn triều lịch sử đời Trần. Ông đã đánh thắng quân Nguyên Mông trong hai lần sau cùng, lần thứ hai và lần thứ ba, hai lần khó khăn nhất, vì quân Nguyên Mông đã rút kinh nghiệm thất bại lần đầu và cử Thoát Hoan, con của đại hãn thứ năm là Hốt Tất Liệt và những tướng của chiến trường Á Âu qua đánh Đại Việt. Đế chế Mông Cổ là đế chế hùng mạnh và rộng lớn nhất thời đó, kéo dài từ Á sang Âu và cả Trung Đông. Thế nên Trần Nhân Tông là nhân vật lịch sử của thế giới.
Lịch sử, đó là cảm xúc đời lớn nhất của ông. Khi trở lại Thăng Long trong lần chiến thắng sau cùng , thấy những con ngựa đá lấm bùn, ông thốt lên hai câu thơ đầy hứng khởi, cả đời lẫn đạo, về đất nước:
Xã tắc hai phen phiền ngựa đá
Non sông nghìn thuở vững âu vàng.
Khi làm bài thơ Đăng Bảo Đài Sơn, đất nước đã qua chiến tranh, ông đã nhường ngôi vua cho Trần Anh Tông, lên làm Thái thượng hoàng. Ông đã là một người lính già của những chiến trận oanh liệt ngày xưa:
Người lính già đầu bạc
Kể mãi chuyện Nguyên Phong.
Đứng ở đỉnh cao của ngọn triều lịch sử, ông đã nhìn những biến cố lịch sử như thế nào ?
Muôn sự nước trôi nước
Những biến cố của lịch sử, dù có vinh quang cỡ nào, rồi cũng trôi qua, bởi vì lịch sử là sựtrôi qua, như một dòng sông nhấp nhô những con sóng không hế quay trở lại. Những ngọn triều lịch sử, dù có đỉnh cao cỡ nào, dù có vinh quang cỡ nào, cũng phải “muôn sự nước trôi”.
Nhưng ông không phải là một người tầm thường của cuộc đời sanh tử. Ông là một “người lính già” đặc biệt, một “người lính già” bất tử, vì ông cũng đồng thời là một thiền sư, vì ông đã ngộ đạo với Thượng sĩ Huệ Trung trước đó. Ông là một người “vô sự” trong khi đang tạo nên lịch sử. Thế nên, nếu là một người tầm thường của sanh tử như chúng tachúng tasẽ than thở, tiếc nuối lịch sử: ‘ôi, thời oanh liệt nay còn đâu!’, ‘muôn sự nước trôi rồi!’
Cái nhìn về thời gian, về lịch sử của ông vượt khỏi đời thường, rất siêu xuất, rất đạo Phật, để ông không phải là một tù nhân của lịch sử, dù ông đã tạo ra nó, mà là một người vượt lên lịch sử:
Muôn sự nước trôi nước
“Muôn sự nước trôi”, muôn sự là nước trôi thì hẵn rồi.Làm người ai chẳng thấy thế, ai chẳng chịu như thế.Nhưng cái nhìn của ông rất khác, “muôn sự nước trôi nước”.Muôn sự là nước trôi, và trôi để trở lại thành nước.Lịch sử là những hiện tượng.Những hiện tượngấy trôi qua, tan chìm, biến mất để trở lại thành bản thể vô hình vô hướng của chúng. Lịch sử là những con sóng, khởi lên, dâng cao nhất rồi đi xuống, tan trở lại thành nước.
“Nước trôi nước”: ngay khi nước đang trôi thì vẫn là nước đấy thôi. Ngay khi là sóng nó vẫn là nước đấy thôi.Ngay khi là thời gian, nó vẫn là cái không phải thời gian, cái không cóthời gian.Kinh Lăng Già nói: “Nơi tất cả sự vật, sát na là phi sát na”. Ngay khi đang sanh nó vẫn vô sanh đấy thôi.Ngay khi là thời gian, nó vẫn là cái không phải thời gian, cái không cóthời gian, cái vĩnh cữu vô sanh đấy thôi.
Chúng ta có thể nói đây là cái nhìn “Chân Như duyên khởi”, hay “duyên khởi từ tánh Khôngnên tất cả pháp Không”…..Nhưng với ông, đã vượt khỏi những ý niệm mà thấy trực tiếp sự giải thoát của thời gian, của lịch sử:
Muôn sự nước trôi nước.
Ông là người làm ra lịch sửđồng thời cũng giải thoát khỏi lịch sử. Ở Việt Nam và cả thế giới, đã có mấy người được như thế ?
Khi nói câu trên, tưởng là tôn vinh ông, nhưng tôi mới thấy mình ngu muội. Ông đứng ngoàilịch sử, thế thì nói ông đứng trên đỉnh cao nhất của lịch sử Việt Nam hay ở đáy thấp nhất của lịch sử Việt Nam thì có nghĩa gì? Nói có mấy người được như thế hay tất cả đều được như thế hay hoàn toàn không có ai đã và sẽ được như thế thì có nghĩa gì?
 


2. Sống trong vĩnh cửu: trăm năm lòng nói lòng.

Với người bình thường như chúng ta, thơ ca là để nói lên lòng mình: những buồn vui, những chí khí, những được mất, những ước mơ, những nuối tiếc….. Ông thì khác, bởi vì lòng ông thì khác. Lòng ông là tất cả đời sống trước mắt: “Ở đời vui đạo hãy tùy duyên; đói thì ăn, hề, mệt ngủ yên”.
Lòng ông là tấm gương sáng: “Thân Bồ đề, lòng gương sáng”(Cư trần lạc đạo phú _Hội thứ 9). Vì lòng gương sáng nên sự vật gì ở trong đó cũng là lòng: “Cây bách là lòng” (Hội thứ 9).
Lòng ông là “lòng của trời đất”, thiên địa chi tâm, một từ ngữ của kinh Dịch mà chúng ta có thể dùng như một tham khảo để hiểu lòng ông.
Hơn nữa, lòng ông là Phật, là Như Lai, là Chân Như: “Chỉn Bụt là lòng” (Hội thứ 3). Trong lòng Chân Như đó, tất cả các pháp, tất cả mọi sự vật đều là Chân Như, là tánh Không. Nhưlời nói sau cùng của ông:
Tất cả pháp chẳng sanh
Tất cả pháp chẳng diệt
Nếu thấy hiểu như vậy
Chư Phật thường hiện tiền.
Làm gì có chuyện đến đi?
Lòng ông không phải là một sự vật cụ thể giới hạn ở đâu đó trong không gian và thời gian.Lòng ông không phải là lòng của một đức vua, của một chiến sĩ linh thiêng, không phải của một bậc minh quân, thậm chí không phải của một thiền sư.Lòng ông là tất cả mọi vật, tất cả đời sống, tất cả hiện hữu. Và tất cả hiện hữu này là hiện hữu của Chân Như. Lòng ông là một mùa xuân mà tâm sự ở trong tất cả mọi đóa hoa: “Nhất xuân tâm sự bách hoa trung”.
Lòng ông là “Ba cõi duy chỉ là Tâm, muôn pháp duy chỉ là thức”. Lòng ông là Nhất Tâm: “Ba cõi duy chỉ là Nhất Tâm” (Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Thập Địa). Ba cõi duy chỉ là Nhất Tâmbiểu lộ Nhất Tâm:
Trăm năm lòng nói lòng
Hành động nói ấy cũng là vĩnh cửu, trăm năm, ngàn năm, vạn năm, tỷ năm…. Sự việc nói ấy đã nói, đang nói và sẽ nói.Mãi mãi.Với đạo Phật, cái vĩnh cửu là cái vô sanh.Cho nênvĩnh viễn nói cũng có nghĩa là vĩnh viễn không nói, không nói một lời nào.
Sự việc nói ấy hiện giờ đang nói. Và cái hiện giờ đang nói ấy chúng ta tạm gọi là cái vĩnh cửuvĩnh viễn đang nói. Nói là sự hài hòa đầu tiên và cuối cùngVĩnh cửu hài hòa với vĩnh cửuvĩnh cửu đang nói với, nói về, nói lên vĩnh cửu qua mọi sự việc thế gian:
Trăm năm lòng nói lòng.
Cho nên, dù đang đứng, đang đi, đang ngồi hay đang làm, chúng ta thấy mọi sự vẫn đang nói, đang nói với, nói về, nói lên, nói qua nhau, đám mây nói với bầu trời, cỏ cây nói với đất đá, cây cau nói với bờ rào, em bé nói với mùa xuân…..lúc ấy chúng ta đang đi vào lòngTrần Nhân Tông đồng thời cũng là lòng của chính chúng ta. Và chúng ta thấy mình chẳng tách lìa Trần Nhân Tông một mảy ly, chúng ta đang sống, đang nghe, đang nhìn, đang nói như mọi sự đang sống, đang nghe, đang nhìn, đang nói trong sự hài hòa vĩnh cửu. Như lòng Trần Nhân Tông đang nói qua tất cả, dẫu cho trăm năm, ngàn năm, tỷ năm…..LòngTrần Nhân Tông, hay cái vĩnh cửu vô sanh, hay Chân Như, hay tánh Không….đang nói qua mọi sự chúng ta thấy nghe, hay biết:

Trăm năm lòng nói lòng.

________________

Nguyễn Thế Đăng

Nguồn: thuvienhoasen.org

TA MẤT ĐI NỀN VĂN HÓA ĐỘC LẬP?

"Phải có gì của riêng ta thì mới dung thông được với cái của người. Khi ta không biết ta là ai mà mở cửa đón nhận thì mất luôn cả mình. Điều đáng sợ nhất trong văn hóa VN là đánh mất bản sắc của mình, vậy nhưng, hình như ta còn chưa nhất trí được bản sắc của mình là gì nữa" - GS Cao Huy Thuần.

 

 

Cái gì đã làm ta thành ta?

 

Chiều 23/5, thuyết trình "Thiền đời Trần - Thiền Việt Nam" là buổi thuyết trình cuối cùng của Tuần lễ văn hóa Phật giáo 2010 hướng tới 1000 năm Thăng Long - Hà Nội. Giữa cái nắng gay gắt của buổi trưa xứ Huế, GS Cao Huy Thuần không chỉ đưa người nghe trở ngược lịch sử 7, 8 thế kỷ để cùng hồi tưởng về triều Trần - triều đại huy hoàng bậc nhất trong lịch sử, mà còn sang tận đất nước Nhật Bản xa xôi để làm phép so sánh, xem người Nhật đã chuyển hóa thiền Trung Hoa thành của báu của nước Nhật đã được cả thế giới công nhận là rất riêng như thế nào?, xem "Cái gì làm họ đã thành họ, xét cho kỹ, biết đâu ta sẽ thấy ra cái gì đã làm ta thành ta?".

 

GS Cao Huy Thuần tự nhận ngay từ đầu buổi thuyết trình, trả lời hai câu hỏi mà Tuần Việt Nam đã đặt ra "Có hay không một dòng thiền mang sắc thái Việt Nam? Có đúng hay không dòng thiền Yên Tử đã tạo nên sức mạnh cho Việt Nam để đánh bại xâm lăng Nguyên Mông?" trong hoàn cảnh vấn đề đã được thảo luận quá nhiều trong sách vở và trong các cuộc hội thảo, thật khó có thể nói thêm điều gì mới lạ trong tình trạng tư liệu ít ỏi đã được khai thác lâu nay.

 

Bởi thế, GS Cao Huy Thuần đã làm phép so sánh hai nhân vật lỗi lạc, thiền sư Đạo Nguyên (Dogen), người đã xây dựng nên thiền tông Nhật mà ảnh hưởng vẫn còn sâu đậm trên thiền học thế giới cho đến ngày nay, và vua Trần Thái Tông - nhà tư tưởng lớn nhất của Việt Nam, và Trần Nhân tông, vị tổ thiền của Việt Nam.

 

Cùng một thời đại, cùng là những nhà cải cách, những tư tưởng gia cỡ lớn, cùng bắt tay đặt nền móng cho ngôi nhà thiền, mỗi người trên dải đất của mình, nhưng GS Thuần đã khắc họa sự khác nhau là vô cùng căn bản: thiền của Đạo Nguyên cực đoan, thiền của đời Trần dung hợp hài hòa các yếu tố khác biệt.

 

Thiền sư Đạo Nguyên sau khi vượt biển sang Trung Hoa (của nhà Tống) đã học, đã ngộ lúc 26 tuổi, trở thành tổ thứ 8 của phái thiền Tào Động. Trở về Nhật, có người hỏi ông đã học được gì ở Trung Hoa, ông nói: học được mắt ngang mũi dọc. Ông đả kích việc tụng kinh, đả kích cả Khổng giáo và Lão giáo, đanh thép cứng rắn với cả quan niệm thông thường về chữ hiếu. Chân lý của ông cũng chắc nịch như mũi thì dọc, mắt thì ngang. Chỉ ngồi, chỉ ngồi, chỉ ngồi. Không làm gì. Không tìm gì. Không chờ đợi gì. Nhờ định, tuệ sáng. Như con rồng gặp nước, như con cọp gặp rừng. Ngay cả người không hiểu gì cả, người dốt, người ngu vẫn có thể vượt qua người thông minh, đầy kiến thức, nếu cứ kiên trì tọa thiền, lấy ánh sáng từ định. Thực hành, thực hành, thực hành: tọa thiền với giác ngộ là một. Cho đến nay, sách ông viết vẫn là chữ nghĩa gối đầu giường ở Âu Mỹ, ông thuộc làu kinh kệ, thơ của ông thơm tho trong sử thiền của thế giới.

 

Ngược lại, với Trần Thái Tông thì tinh thần dung thông, tránh cực đoan, nổi bật như trăng sáng giữa trời. Với ông, ngồi thiền không loại bỏ niệm Phật, học kinh, cũng không loại bỏ Khổng với Lão. Khổng Tử, Lão Tử xuất hiện nhiều lần trong Khóa Hư Lục, với tất cả thành kính của Vua. "Sách Nho dạy: "Thi ân bố đức". Kinh Đạo dạy: "Ái vật háo sanh". Điểm Việt Nam nhất là Trần Thái Tông dung thông tất cả dưới ánh sáng của thiền. Như so sánh của GS Thuần, Đạo Nguyên dạy: cứ ngồi, đừng làm gì cả, đừng tìm gì, tìm là hỏng, vướng vào cái chuyện tìm, dính mắc chuyện chứng đắc là tâm dính bụi, là kẹt. Trần Thái Tông cũng dạy như vậy, bằng thơ:

 

Nước chảy xuống non đâu có ý

Mây bay qua núi vốn không tâm.

 

Nghĩa là, cả hai cùng tu một pháp, cùng vào một cửa, cùng ngộ như nhau, nhưng khi truyền đạt, giáo huấn, dạy dỗ, áp dụng, một bên thì cực đoan, một bên thì diệu dụng. Lý do là bởi, một bên chỉ là ông thiền sư với vài trăm đệ tử, còn bên kia ông thiền sư còn là ông vua của cả một nước, cả triệu dân. "Trị nước mà cực đoan thì hỏng. Huống hồ trị một nước nhỏ phải đối phó với xâm lăng như mối họa truyền kiếp. Đố ai tìm được một mưu chước nào khác để giữ nước ngoài quốc sách đoàn kết toàn dân".

 

Kiếm báu vẫn còn nằm trong hộp?

 

Từ nhận định này, GS Cao Huy Thuần nhẹ nhàng trả lời câu hỏi thứ hai, đúng là dòng thiền Yên Tử mà Phật hoàng Trần Nhân Tông là tổ đã giúp Việt Nam đánh bại xâm lăng, "vì lẽ giản dị mà ai cũng đều nói: một trong những yếu tố chính giúp nhà Trần đánh bại Nguyên Mông là đoàn kết quốc gia. Đoàn kết quốc gia là một. Lãnh đạo giỏi là hai. Cả hai yếu tố đều nằm trong thiền tông Việt Nam đời Trần, y như kiếm báu nằm trong hộp".

 

Đời Trần để lại một gia bảo vô song cho văn hóa Việt Nam: "lấy thiền tông làm chỗ tựa để dung hợp Khổng, Lão vào một nhà"

 

Thiền đời Trần là thiền Việt Nam, tư tưởng của Việt Nam. Việt Nam cần đoàn kết để chống xâm lăng trước mắt; ông vua là tư tưởng gia; dung hợp là quốc sách; thực tế ấy đi vào tư tưởng thiền của ông vua; thiền ấy kết tinh thực tiễn Việt Nam; ấy là thiền Việt Nam, đặc biệt Việt Nam.

 

Vua Trần Nhân Tông, sơ tổ của thiền Trúc Lâm, vân du nhiều nơi trong nước để khuyên dân tu trì ngũ giới và làm mười điều thiện. Bởi vì Vua biết: tu thiền không phải ai cũng tu được, ngược lại, trì ngũ giới và hành thập thiện thì toàn dân ai cũng tu được cả, nói như Hòa thượng Thanh Từ là Phật giáo được quần chúng hóa. Từ đó, GS Cao Huy Thuần nhận định, Phật giáo đời Trần vừa rộng vừa sâu, rộng ở nền móng, sâu ở thượng đỉnh, dưới trên đều cùng một tư tưởng thông suốt, như lời nhận xét của Nho gia Lê Quát "Nhà Phật lấy họa phúc để cảm động lòng người sao mà được người tin theo sâu bền như thế! Trên từ vương công, dưới đến dân thường, hễ bố thí vào việc nhà Phật dù đến hết tiền của cũng không sẻn tiếc... Cho nên trong tự kinh thành, ngoài đến châu phủ, cho đến thôn cùng ngõ hẻm, không phải ra lệnh mà tuân theo, không bắt phải thề mà giữ đúng". Đố luật pháp trên thế gian này chỗ nào có điều thần kỳ ấy.

 

Vậy Thiền Việt Nam đã ảnh hưởng thế nào lên tài ba lãnh đạo của các vua Trần của ta? Theo GS Cao Huy Thuần, Trần Hưng Đạo có được cái khí thế "Nếu Bệ hạ muốn hàng, hãy chặt đầu thần trước đã" là bởi ông tin ở gan dạ của quân đội, ông tin ở khí thế của các tướng, ông tin ở ông, và trên hết, ông tin ở tài lãnh đạo. Tài của ông, và tài của vua thiền Trần Nhân Tông, người đã đưa vào trận mạc, vào chính sự, vào đời sống, vào hành động, tính không khiếp sợ của triết lý có/không trong Bát Nhã, kinh ruột của thiền tông. "Bồ tát nương trí tuệ bát nhã nên tâm không ngăn ngại; vì tâm không ngăn ngại nên không sợ hãi..."

 

Cho nên khi Nhân Tông nói "không" thì ngài lên Yên Tử. Mà khi ngài nói "có" thì đích thân ngài lãnh đạo chống xâm lăng. Mà đã nói "có" thì tam thiên đại thiên thế giới đều nằm gọn trên một mũi kim, như thiền tông nói. Vua, tướng, quân, dân cùng nói "có" với nhau trong tiếng "có" phi thường của người lãnh đạo, có đoàn kết nào vững hơn, có lãnh đạo nào chắc hơn?

 

Thế đó, Lịch sử gọi ngài là vua Phật, là Phật hoàng. GS Cao Huy Thuần xác nhận lại một nhận định đã cũ nhưng dưới một góc nhìn mới "Vua Phật lãnh đạo cuộc chiến chống xâm lăng, làm sao tách rời đâu là vua, đâu là Phật trong mỗi hành động của ngài? Ở Nhật có tinh thần samourai trong cuộc chiến, nhưng ở Việt Nam có cả một ông vua Phật và cả một hàng ngũ tướng lĩnh thấm nhuần thiền. Phật giáo Việt Nam ở đời Trần là một hiện tượng kỳ lạ, độc đáo: không ở đâu khác, một ông vua vừa là tướng cầm quân, vừa là thiền tổ. Nơi ông vua ấy, kết tinh một tư tưởng, vừa là cơ sở lý thuyết, vừa là nền tảng giáo dục, lại vừa là thực tiễn hành động. Đó là một đạo Phật đặc biệt Việt Nam".

 

Ta mất đi nền văn hóa độc lập?

 

Thuyết trình của GS Cao Huy Thuần không chỉ dừng lại ở sự xác nhận những giá trị huy hoàng của Thiền đời Trần, mà phần thảo luận tưởng như không thể dừng lại sau đó mở ra những ưu tư, xót xa khi nhìn lại lịch sử, vì sao giá trị huy hoàng ấy đã hoàn toàn đứt gãy sau đời Trần?

 

Đã so sánh với Nhật Bản, thì không thể không so sánh cách Việt Nam và Nhật Bản nhìn Trung Hoa, bởi từ cái nhìn mới xác định ra cách đối phó.

 

Xót xa thay khi Việt Nam đã "thua" Nhật Bản hẳn ở phương diện này, trong tiếp xúc với Tống Nho của Trung Hoa, Nhật Bản có sự kính phục, nhưng chỉ đến thế kỷ 14, 15 họ đã bắt đầu cái nhìn xét lại, để từ đó có sự canh tân về tư tưởng, trước cả khi có sự tiếp xúc với văn hóa phương Tây thời Minh Trị Thiên Hoàng.

 

Còn Việt Nam, như GS Thuần đau xót thừa nhận "Sau đời Trần, dường như ta mất đi nền văn hóa độc lập, văn hóa Việt Nam, ta nhìn Trung Quốc theo cách quá sức tôn thờ mà không đặt lại vấn đề", và GS khẩn thiết đề nghị phải nhìn lại ảnh hưởng của Trung Quốc đối với Việt Nam. "Phải có gì của riêng ta thì mới dung thông được với cái của người. Khi ta không biết ta là ai mà mở cửa đón nhận thì mất luôn cả mình. Điều đáng sợ nhất trong văn hóa VN là đánh mất bản sắc của mình, vậy nhưng, hình như ta còn chưa nhất trí được bản sắc của mình là gì nữa".

 

Thừa nhận Phật giáo hiện nay phát triển rộng, nhưng lại thiếu chiều sâu, mong mỏi của GS Cao Huy Thuần, cũng là mong mỏi của rất nhiều trí thức có mặt trong buổi thuyết trình, là làm sao phục hưng lại tinh thần sâu sắc của đạo Phật thời Trần.

 

Đáng để chúng ta phải khóc !

 

Một điều đau xót cho những người muốn tìm lại những giá trị của ông cha là nguồn sử liệu quá ít ỏi còn lại, khiến chúng ta không thể hiểu sâu sắc những giá trị huy hoàng cùng những chặng đường thịnh suy của dân tộc. Liệu có phải Khổng giáo được nhà Lê đưa lên hàng đầu để củng cố quyền lực của triều đình, bởi Khổng giáo là lý thuyết giúp chính trị một cách hữu hiệu hơn? Hay bởi chúng ta đã "10 phần di sản không còn được một" sau cuộc xâm lăng của nhà Minh, khiến chúng ta bị đứt đoạn với quá khứ, phải áp dụng tư tưởng Tống Nho của Trung Hoa?

 

Nói như GS Cao Huy Thuần khi kết thúc buổi thuyết trình, dân tộc chúng ta quá bất hạnh khi bị đứt đoạn với cái gia tài rực rỡ của đạo Phật rất phương phi, vạm vỡ thời Trần Thái Tông. Nhà Minh đã phá hoại, lục bắt tất cả những di sản vật thể và di sản tinh thần của chúng ta, khiến chúng ta hiện nay chỉ hiểu biết lờ mờ về những thành tựu của quá khứ. "Đó là một tội ác đối với lịch sử, tương đương với tội ác diệt chủng, bởi không có gì tàn bạo hơn, sát hại hơn là diệt chủng về văn hóa, khiến chúng ta không biết chúng ta là ai, khiến chúng ta thành nô lệ về đầu óc. Điều đó đáng để chúng ta phải khóc".

 

_________________

 

GS. Cao Huy Thuần

Nguồn: thuvienhoasen.org

Ý NGHĨA TÙY DUYÊN

 

Hôm nay chúng tôi sẽ nói chuyện với quí Phật tử về đề tài "Ý nghĩa tùy duyên". Ý nghĩa này rất sâu xa không phải tầm thường, và lâu nay nó cũng đã bị lạm dụng nhiều.

 

Về ý nghĩa tùy duyên, thì đây là một chỗ sống, không phải là chỗ lý luận hay chỗ bắt chước, bởi vì khi chúng ta bắt chước thì nó không còn là tùy duyên nữa, bởi khi bắt chước là nó có cái khuôn rồi. Cho nên ý nghĩa này rất quan trọng mà lâu nay nhiều người lại hiểu lầm rồi cũng dễ lạm dụng nó nữa.

 

Như vậy muốn tùy duyên thì thế nào là biết tùy duyên cho đúng ý nghĩa ?

 

1- Thứ nhất là phải thấy đúng lý mới tùy duyên được, còn chưa thấy đúng lý mà nói tùy duyên thì chỉ là lạm dụng, là hiểu lầm vậy thôi. Nghe nói tùy duyên, rồi mặc tình buông thả theo duyên thì tùy duyên kiểu đó là chạy theo cảnh chớ không phải tùy duyên, đó là bị duyên nó cuốn, nó lôi đi. Tùy duyên theo kiểu đó gọi là "tùy duyên tiêu sự nghiệp", tiêu tan sự nghiệp hết, rất nguy hiểm !

 

Cho nên muốn sống, muốn thấy được đúng ý nghĩa tùy duyên thì phải thấy đúng lý. Trong cái thấy đúng lý này, thứ nhất là cần rõ lý Tánh không của Bát-nhã.

 

Tánh không là sao? Bát-nhã dạy tất cả các pháp trên đời này "không có một pháp gì là thật cố định", nghĩa là từ bản thân của mình cho đến sự vật bên ngoài đều là duyên khởi. Duyên khởi tạm có cho nên gọi là Tánh không, là không có tánh cố định, không có Thể thật của nó. Chính vì Tánh không mới tùy duyên mà hiện khởi tất cả được, chớ nó cố định thì đâu còn tùy duyên. Ví dụ cố định là một khối cứng thì đâu thể tùy duyên mà biến thành các vật khác được.

 

Cũng giống như cái gương, nó không có một hình gì trong đó, cho nên nó có thể hiện đủ tất cả mọi hình bóng, nếu nó có một cái hình gì cố định bên trong, thí dụ hình tròn, thì nó không thể hiện được hình vuông, mà vuông tròn đẹp xấu gì cũng hiện được hết, là vì nó không có một cái gì trong đó, không cố định là cái gì.

 

Hoặc như hư không, hư không không phải là cái gì hết, cho nên nó cũng hiện được đủ mọi thứ.

 

Rồi gần nhất là cái gì? - Tâm của mình. Tâm mình không là một cái gì hết, cho nên nó mới nghĩ được đủ tất cả, nếu nó cố định là một cái gì rồi, chắc chắn nó không thể nghĩ tất cả được. Mà nó nghĩ đủ hết, cái gì nó cũng nghĩ tới, kể cả những cái gọi là không có, nó cũng nghĩ ra được nữa bởi vì nó không có gì hết.

 

Qua điểm nữa là, ngay thân mình là thân năm uẩn thì Tâm kinh Bát-nhã nói “ngũ uẩn giai không”, năm uẩn đều Tánh không, không thật, cho nên nó mới tùy duyên hiện được lớn được nhỏ, được tốt được xấu, mập ốm vui buồn, trời người nó cũng hiện được đủ hết, chính vì nó Tánh không, không cố định là gì. Nếu nó cố định, thí dụ năm uẩn này cố định là người rồi, tức nhiên nó không thể hiện thành trời được, cũng như nó cố định là mập rồi thì không thể hiện ốm được. Do nó không cố định gì, nên nó hiện được tất cả. Bởi vậy Bồ-tát Quán Thế Âm có ba mươi hai Ứng thân, có khi hiện nam hiện nữ, rồi hiện Tỳ-kheo, hiện Tỳ-kheo ni, hiện vua hiện quan, hiện đủ hết, làm sao hiện được như vậy ?

 

Do đó xét cho kỹ, rõ ràng không có một cái gì cố định, vậy thì mình bám chặt một chỗ, một cái làm gì để chịu khổ ? Như vậy cho thấy, hiểu được tùy duyên thì phải thấy lý Tánh không. Rõ được Tánh không của các pháp rồi thì tùy duyên, lúc đó luôn luôn có ánh sáng Bát-nhã đi theo, nên tùy duyên mà không có lầm lẫn. Còn nhắm mắt tùy duyên là đi xuống hố, mình phải thấy rõ cái ý nghĩa đó, thí dụ như người mù nhắm mắt đi bừa là phải lọt hố thôi.

 

Nhớ lại câu chuyện của ngài Tăng Triệu khi bị án tử hình, Ngài xin phép hoãn lại bảy bữa để viết cho xong bộ Luận Bảo Tạng rồi Ngài sẽ chết. Thử hỏi tới lúc đó còn tâm hồn gì ngồi để mà viết luận! Nhưng mà Ngài thấy chuyện đó như là chuyện chơi thôi, và đến trước khi chết Ngài còn đọc bài kệ :

 

Ngũ ấm nguyên phi hữu

Tứ đại bản lai không

Tương đầu lâm bạch nhẫn

Nhất tự trảm xuân phong.

 

Tức là:

 

Năm ấm nguyên chẳng có

Bốn đại xưa nay không

Đem đầu đến dao bén

Giống hệt chém gió xuân.

 

Có ai bị chém bị chết trong đó đâu? Cho nên Ngài thản nhiên coi như không có chuyện gì. Nếu mình thì lúc đó rụng rời tay chân, còn tâm hồn đâu mà ngồi viết sách, huống nữa là tới khi sắp chết còn nói kệ nữa! Như vậy đó mới thật sự là biết tùy duyên. Và tùy duyên kiểu đó dễ bắt chước không ?

 

Bởi vì Ngài thấy rõ năm uẩn bốn đại đều là không, đều là vô ngã hết, không có cái ta thật, thì trong đó cái gì chết, cái gì bị chém? Không thấy có cái gì bị chém thì đâu có gì mà khổ ? Còn mình vì thấy có “cái ta” bị chém bị chết, cho nên mới có khổ.

 

Do Ngài thấy rõ không có gì thật hết, bởi vậy hễ còn duyên thì làm Phật sự tiếp, hết duyên thì thôi ra đi, chớ không cố ghì lại một chỗ để chịu khổ. Còn mình vì thấy có cái ta trong đó cho nên cố ghì lại để sống, ghì không được thì phải kiếm cái ta mới ráp vào, chính cái ta mới đó lại đi trong sanh tử. Hiểu như vậy, thấy được cái lý như vậy thì mới khéo biết tùy duyên. Đó là điểm thứ nhất là phải thấy rõ được Tánh không.

 

2- Thứ hai, tiến bước nữa là nhận ra Bản tánh chân thật của mình, nghĩa là thấy được, nhận rõ được Bản tánh chân thật luôn luôn hiện hữu nơi mình, cho nên mình tùy duyên là để chi? - Tùy duyên là để sống trở về Bản tánh chân thật đó chớ không sanh những niệm, những tâm hoặc lấy hoặc bỏ, chỉ thuận với tánh để sống, làm sao không để mất nó, đó là chỗ sống của mình rồi.

 

Như bài kệ của vua Trần Nhân Tông, nhiều người nghe quen quá thành ra xem thường:

 

Ở đời vui đạo hãy tùy duyên

Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền

Trong nhà có báu thôi tìm kiếm

Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền.

 

Nghĩa là sao ? Nghĩa là ở đây nhận ra Bản tánh chân thật của mình hay của báu sẵn có trong mình rồi, thì khỏi cần phải chạy, phải tìm kiếm đeo đuổi cái gì bên ngoài nữa, nghĩa là không để cho cảnh nó lôi mình, nó làm mất mình. Như vậy mình sống ngay trong lòng đời này, ở giữa thế gian này mà vẫn vui với đạo, đó là biết tùy duyên, mà tùy duyên như vậy là để làm chi? - Là để sống với Bản tánh của mình, sống trở về với Bản tánh chân thật, ngoài ra không có gì quan trọng. Đó gọi là tùy duyên sống với Bản tánh, tiêu nghiệp cũ mà không tạo thêm nghiệp mới.

 

Như vậy tùy duyên mà thường sáng tỏ không có mê, không có mờ, tùy duyên mà không đặt thành một “cái ta” trong đó. Đó là điều quan trọng, còn tùy duyên mà có cái ta trong đó thì không phải tùy duyên. Cũng như ở đây “đói đến thì ăn, mệt ngủ liền” nhưng nếu còn có cái ý niệm là đói nên ăn hay không nên ăn thì sao? - Đó là chen cái ta vào trong đó, tức là cái gì nên ăn hay không nên ăn ? Đó là hết tùy duyên. Cho nên tùy duyên ở đây là thuận theo Tự tánh để sống trên đời, để cho nó luôn luôn được hiện hữu khắp nơi, đó mới là tùy duyên chân thật.

 

Ngài Sùng Tín sau khi ngộ đạo, Ngài hỏi vị thầy là Thiền sư Đạo Ngộ: “Làm sao để bảo nhậm ( giữ gìn ) ?” Ngài Đạo Ngộ bảo rằng: “Mặc tánh tiêu dao, tùy duyên phóng khoáng, chỉ hết phàm tình, không thánh giải khác.” Nghĩa là mặc tình thuận theo cái tánh đó mà tiêu dao tự tại, tùy duyên phóng khoáng thôi, chỉ cốt làm sao hết được cái tình phàm này, tình mê này chớ không có thêm một cái kiến giải thánh gì khác, không thấy có chứng có đắc gì khác nữa, đó là tùy duyên. Tùy duyên như vậy làm sao bắt chước đây ?

 

Chỗ này là phải sống, biết rõ mình có cái chân thật rồi thì sống tùy duyên, duyên đến thì tiếp, duyên qua thì thôi, không có cố chấp, không có mong cầu thêm nữa. Đó là vì có được chỗ sống vững vàng trong này rồi, nên mới tùy duyên được như vậy, mới tiêu được những nghiệp cũ và nghiệp mới không tạo thêm.

 

Thiền sư Thiên Y Nghĩa Hoài có bài kệ:

 

Nhạn quá trường không

Ảnh trầm hàn thủy

Nhạn vô di tích chi ý

Thủy vô lưu ảnh chi tâm.

 

Giống như con nhạn bay trên không, nhạn bay qua thì bóng hiện dưới nước, nhạn không có ý lưu dấu vết lại dưới nước. Và bay qua rồi thì bóng mất, nước cũng không có tâm giữ bóng con nhạn lại. Đó là tùy duyên, nhạn bay qua là duyên đến thì bóng nó hiện trong nước, duyên qua rồi thì nước không lưu bóng lại. Còn mình thì sao? Có khi duyên chưa đến mà kêu nó đến! Rồi duyên qua thì giữ lại không cho nó qua! Chính vì vậy cho nên khổ. Ngay trong lúc ngồi thiền cũng còn muốn giữ lại nữa. Ngồi thiền nhớ lại, giữ lại, lưu lại trong này, đó là không biết tùy duyên, còn biết tùy duyên thì tâm lúc nào cũng trong sáng, đâu có cái gì lưu lại trong đó thì có gì mà ngăn ngại ?

 

Có vị Tăng hỏi ngài Triệu Châu:

 

- Thế nào là cầu đá Triệu Châu?

 

Ngài đáp:

 

- Độ lừa độ ngựa.

 

Ở gần chỗ ngài Triệu Châu Tùng Thẩm có cái cầu đá do ông Lý Ưng làm, cầu đá cũng nổi tiếng, cho nên nghe nói tới cầu đá Triệu Châu là ai cũng biết. Nhưng ở đây ông Tăng hỏi “thế nào là cầu đá Triệu Châu” ý lại khác. Ngài đáp : "Độ lừa độ ngựa", độ tức là đưa, đưa lừa đưa ngựa qua hết. Như vậy quí vị hiểu sao là “cầu đá Triệu Châu”? thấy được “cầu đá Triệu Châu” chưa ?

 

Thường nghe hỏi cầu đá, người ta tưởng ngay cái cầu bằng đá. Nhưng ở đây, ý ông Tăng này chuyện đó ai cũng biết rồi, ông cũng ở đó thì ông biết rồi, đâu cần hỏi làm chi nữa. Vậy hỏi cầu đá này là hỏi cái gì? - Đó là chỉ cho cái lý thật. Cho nên ngài Triệu Châu đáp “độ lừa độ ngựa”. Lừa ngựa gì cũng độ hết, đều cho đi qua hết. Lừa là loài vật, ngựa cũng là loài vật mà cái cầu đá độ hết, cho đạp đi qua hết, nhưng cầu đá không phải là lừa, không phải là ngựa, không đồng hóa nó với lừa với ngựa, đó là tùy duyên.

 

Còn mình thì sao ? Độ thì phải độ làm sao? - Phải độ những hạng thượng căn, hạng Bồ-tát chớ lừa ngựa đâu để cho đi qua. Mà không để cho đi qua tức là còn cái ngã trong này, bị cái ngã nó che. Cho nên ở đây muốn thấy lý thật thì phải như vậy, độ lừa độ ngựa, cái gì cũng là tùy duyên hết, cái gì cũng cho đi qua nhưng nó không là cái gì, không đồng hóa với cái gì .

 

Không đòi hỏi theo một cái ngã, không sanh những niệm sanh diệt hay lấy bỏ gì hết, đó là tùy duyên. Còn mình thì phải lựa, độ thì cũng phải lựa, người đó mình thương mình mới độ, còn không thương thì đâu có độ, đó là còn mắc kẹt. Còn ở đây thì độ hết, chỉ thuận theo duyên để sống trở về với Tự tánh, để làm sao cho Tự tánh của mình luôn luôn có mặt, không có vắng, vẫn luôn luôn sáng ngời trong tất cả mọi duyên, đó là khéo tùy duyên, tùy duyên mà đúng lý không lầm lẫn. Như vậy với nghĩa tùy duyên này mình làm được chừng bao nhiêu? Hiểu được như vậy mới thấy nghĩa tùy duyên rất là sâu.

 

3- Một điểm nữa, tùy duyên thì phải hiểu rõ được thế gian là tương đối, đó là lẽ thật của thế gian (thế đế). Thế gian luôn luôn là tương đối, mọi cái có ra đều nằm trong đối đãi hết. Nhưng thấy ở đây không phải là cái thấy hiểu tầm thường, lâu nay người nghe pháp nhiều quá cũng hiểu rồi, cũng thấy rồi nhưng chưa phải. Tức là phải thấy trong lúc mình tu, thấy rõ bằng chính trí tuệ của mình cái đó mới giúp mình sống được. Chớ hiểu theo kiểu ngồi đây hiểu nhưng ra ngoài quên, ngồi đây thì hiểu thế gian tương đối, cái gì cũng đối đãi nhau mới có, không có gì là thật, nhưng khi ra ngoài đụng chuyện thì cái gì cũng thật hết, cái hiểu đó không phải.

 

Cho nên ở đây phải thấy bằng chính trí tuệ của mình. Xét thấy rõ trên thế gian này đều là tương đối hết, thiện đối với ác, phải đối với quấy mà có, cũng như vui đối với buồn mà có, ngay cả thầy đối với trò mà có, không trò thì đâu có thầy, cũng như mẹ đối với con mà có, không con lấy gì có mẹ. Luôn luôn là đối đãi nhau, không có một cái gì đứng riêng, như vậy tại sao mình phải đòi hỏi một chiều? Có nhiều người còn đòi hỏi hơn nữa, đòi hỏi cái toàn mỹ, cái gì cũng phải cho toàn mỹ, toàn vẹn ! Nhưng sự thật thế gian nói toàn mỹ chỉ là nói chơi, không bao giờ có, chỉ tuởng tượng, không thể có cái toàn mỹ nếu chưa sống được với cái chân thật. Thế gian là tương đối thì làm sao có cái toàn mỹ được !

 

Đức Phật có nói bài kệ:

 

Kẻ hơn thì thêm oán

Người thua ngủ chẳng yên

Hơn thua hai đều xả

Ấy được an ổn ngủ.

 

Nghĩa là có hơn thì có thua, làm sao mà toàn mỹ được? Mà chính có hơn có thua, từ đó có oán có hờn, có khổ, có cái này thì có cái kia. Như vậy thì hơn không hẳn là yên, còn thua cũng không hẳn là xong. Thua còn ấm ức trong lòng cũng khổ, như vậy làm sao mà toàn mỹ được? Thường thường mình thích đòi hỏi cái toàn mỹ, sống với ai mình cũng đòi hỏi người đó phải tốt với mình, lâu lâu thấy không tốt thì bực tức, nhưng thử hỏi chính mình có toàn mỹ chưa ?

 

Thế gian là tương đối, tâm người là vô thường, bữa nay như vậy, nhưng mai mốt vô thường nó đổi đâu còn như vậy nữa. Bởi vậy không có cái toàn mỹ, đòi cái toàn mỹ là mê. Bởi vì xét kỹ thì chính mình còn chưa toàn mỹ, ngay nội tâm của mình, có khi còn tự mình mâu thuẫn với mình nữa nói chi tới bên ngoài. Như vậy làm sao muốn mọi người toàn mỹ được, muốn mọi cái bên ngoài toàn mỹ được!

 

Thí dụ bên ngoài coi giống như vui vẻ nhưng có khi đau khổ trong lòng, ngoài làm bộ vui nhưng trong lòng đau khổ, hoặc có lúc thấy giống như muốn xả hết để tu hành nhưng rồi ít bữa đổi ý tiếc thế gian trở lại. Như vậy lúc muốn xả thì ai muốn xả, rồi lúc tiếc trở lại thì ai tiếc, ai chen vào trong đó? - Cũng là trong tâm mình thôi. Chính mình đã mâu thuẫn với mình rồi, hoặc có lúc bữa nay tính đi nghe pháp nhưng rồi lại tính đi chơi, hoặc ngược lại tính đi chơi rồi đổi ý tính đi nghe pháp. Cũng là mình với mình nhưng tại sao nó có cái đó? Như vậy để thấy rằng ngay nơi mình cũng còn mâu thuẫn, vậy làm sao đòi có cái toàn mỹ trọn vẹn bên ngoài được. Đòi không được thì sao? - Khổ, thật là đơn giản!

 

Bởi vậy, ngay như đức Phật mà mình gọi là bậc toàn giác, bậc có công đức phước trí trang nghiêm, nhưng Phật có bị người chê không? Phật cũng còn có người chê nữa, có người chê Phật là bất hiếu bỏ cha bỏ mẹ đi tu, bỏ vợ bỏ con vô rừng. Có người khen thì cũng có người chê. Rồi kẻ uống rượu say sưa có người khen không? Cũng có người khen, đồng bọn khen nhau.

 

Như vậy cho thấy không có cái gọi là hoàn toàn. Bởi vậy Phật mới dạy trong kinh Pháp Cú: “Xưa, vị lai và nay, đâu có cái sự kiện này: người hoàn toàn bị chê, người trọn vẹn được khen.” Ngài nói rằng trong cả ba thời không bao giờ có sự kiện là có người hoàn toàn được khen cũng như có người hoàn toàn bị chê.

 

Do đó chê khen không thành vấn đề. Cho đến được mất cũng vậy, có được là có mất chớ không bao giờ có cái gọi là nguyên vẹn. Biết rõ ý nghĩa như vậy, hiểu được như vậy, mình khéo chuyển thì sống được an vui, còn cố chấp một bên thì khổ, thí dụ cố chấp là phải được cái đó mà nó không được thì khổ.

 

Như bà Tì-xá-khư (Visàkhà), bà là đại thí chủ trong thời đức Phật, một hôm đi nghe pháp, bà cởi chiếc áo choàng rất quí giá cho đứa tớ gái giữ ở ngoài rồi đi vô nghe pháp. Khi ra về không biết đứa tớ gái làm sao mà nó bỏ quên luôn. Mình gặp như vậy thì sao? - Chắc là chửi mắng, đánh đập đứa tớ đó dữ lắm, bởi đây là chiếc áo choàng rất đắt giá. Nhưng với bà thì bà kêu đứa tớ gái lại nói rằng: “Con trở lại tịnh xá kiếm, nhưng tới đó nhớ hỏi xem nếu có vị Tỳ-kheo nào đụng tay tới cái áo rồi thì con đừng lấy về nữa.” Cô tớ gái đi tới hỏi thăm nghe nói ngài A-nan thấy của ai bỏ quên thì Ngài lấy cất giùm rồi.

 

Cô tớ gái về thưa lại, bà nghe như vậy, liền tới bạch với Phật là xin bán cái áo để cúng dường làm một Phật sự gì cho xứng đáng. Phật bảo làm một cái tăng xá để cho chư Tăng ở, bà rất là hoan hỉ. Nhưng cái áo đắt giá quá không ai mua nổi, bà bèn bỏ tiền mua lại cái áo, rồi lấy tiền đó xây tăng xá cho chư Tăng. Khi xây xong đến ngày cúng dường dâng lên Phật, tác bạch xong, bà kêu đứa tớ gái lại nói rằng: “Hôm nay sở dĩ bà được công đức này là cũng nhờ có con, công đức này bà xin chia hai, cho con nửa, bà nửa.”

 

Ai thấy mình làm nổi chuyện đó không? Cái được cái mất mình chuyển một cái thành ra tốt đẹp mà còn vui vẻ nữa. Mất cái áo không buồn, chuyển lại thành được phước lành rồi vui vẻ nữa, mà vui vẻ cả mấy phần trong đó: chư Tăng có tăng xá ở cũng vui, rồi bà được cúng dường hoan hỉ cũng vui, đứa tớ gái cũng được vui vàø ngay cả mình bây giờ nghe kể lại cũng vui theo. Nếu lúc đó mà giận lên chửi mắng đánh đập thì sao? - Chẳng những không vui mà còn tạo thêm cái khẩu nghiệp khổ nữa, rồi cái thân đánh đập người tạo thêm cái thân nghiệp khổ, vậy là khổ lại càng thêm khổ!

 

Cho thấy chỉ vì bám chấp vào cái được, cái mất mà khổ. Bây giờ biết rõ cái mất không thành vấn đề, cho nên chuyển lại thì được vui. Cho nên khéo sống thì được, không cố chấp một bên, cố chấp là chịu khổ. Chính vì vậy trong cuốn Pháp Hoa Đề Cương của Thiền sư Minh Chánh ở Việt Nam có bài kệ nói về ông Thuần-đà:

 

Hay lắm Thuần-đà,

Hay lắm Thuần-đà !

Thôi nói dở, chớ bàn hay,

Dở hay tốt xấu bận lòng chi.

Người muốn tìm khéo trở thành vụng,

Kẻ toan bắn sẻ sói chực hờ.

Công danh cái thế màn sương sớm,

Phú quí kinh nhân giấc mộng dài.

Chẳng rõ xưa nay không một vật,

Công phu luống uổng một đời ai.

 

Thuần-đà là người cúng bữa cơm cuối cùng cho đức Phật trước khi Phật nhập Niết-bàn. Sau này có người phê phán như vậy là ông tổn phước, vì Phật thọ xong bữa cơm của ông rồi Phật tịch. Phật biết vậy nên Phật mới khen, Phật nói hai người có phước đức lớn nhất là người cúng bữa cơm cho Phật trước khi Phật thành đạo, và người cúng bữa cơm cuối cùng trước khi Phật nhập Niết-bàn. Phật khen vậy để ông không có lòng hối hận.

 

Cho nên ở đây ngài Minh Chánh mới lấy việc đó để nói lên ý nghĩa là thế gian tương đối, mình phải vượt qua ý nghĩa tương đối, đừng mắc kẹt trong cái khen chê. Ông nói: “Hay lắm Thuần-đà, hay lắm Thuần-đà! Thôi nói dở chớ bàn hay, dở hay tốt xấu bận lòng chi.” Cái chuyện hay, chuyện dở là chuyện đối đãi thôi, có người khen thì cũng có người chê, đừng bận lòng chuyện đó. Rồi sao? "Người mà muốn tìm khéo thì trở thành vụng", muốn khéo nhưng thành vụng, bởi vì cái khéo ở kế bên cái vụng, cũng như người đang rình bắn chim sẻ nhưng đâu ngờ dưới này có con chó sói nó chực hờ, vừa rớt xuống nó chụp chạy mất. Bắn được con chim sẻ nhưng được đó rồi mất đó, cái được cái mất kề bên nhau.

 

"Công danh cái thế" tức là công danh trùm cả thế gian đi nữa cũng như màn sương sớm vậy thôi, có đó rồi mất đó. Chỗ này mình sống thấy có kinh nghiệm rõ ràng, người đang có tiếng tăm nhưng bỗng bị một nạn gì đó tiêu hết. Cũng như là "phú quí kinh nhân", phú quí làm giật mình người, cũng như giấc mộng vậy thôi. Giàu sang bao nhiêu nhưng mà gặp cơn nạn cũng trắng tay. Chuyện thực tế nó là như vậy.

 

Căn bản là “chẳng rõ xưa nay không một vật” tức là không rõ được cái lẽ thật "xưa nay không một vật" đó thì "công phu luống uổng một đời ai", nghĩa là phải thấu suốt được cái lẽ thật xưa nay đó, sống được chỗ chân thật đó thì mới không luống uổng công phu một đời của mình; còn nếu không cứ bám vào những cái công phu, những cái được mất, những cái đối đãi nằm trong sanh diệt thì rốt cuộc cũng bị sanh diệt thôi.

 

Thí dụ cũng như ở đây, chán thế gian này đi tu, tu rồi cầu lên cõi trời, có hết khổ không? Cầu lên đó ít bữa hết phước cũng rớt trở lại! Vì đó là công phu sanh diệt, cho nên rồi nó cũng lẩn quẩn trong đó. Cần phải thấu rõ chỗ “xưa nay không một vật” đó, sống được với cái đó thì mới vượt ra ngoài cái đối đãi, còn bám chặt vào trong cái đối đãi thì khổ. Mà sở dĩ bám chặt vào trong này là bởi vì sao? - Là bởi thấy có ta cho nên bám chặt vào cái ta đó, rồi mới có khổ, có tức tối, có chửi rủa than trách này nọ.

 

Hiểu rõ được lẽ thật của thế gian là tương đối, là đối đãi thì mình cởi mở được những tình chấp, là biết sống tùy duyên, tùy duyên như vậy là hết khổ. Hiểu như vậy thì tùy duyên mới thật, còn tùy duyên đụng đâu làm đó thì không phải.

 

4- Rồi một điểm nữa, mình hiểu được lý này rồi thì phải biết linh động không cố chấp. Bởi tùy duyên là linh động, là không cố chấp. Mình khổ là vì cố chấp, mà cố chấp là không biết tùy duyên. Đã hiểu rõ được lẽ thật như trên, không có cái gì gọi là toàn vẹn, không có cái gì là cố định thì cố chấp làm gì? Mình làm sao cho cuộc sống linh động sáng ngời, chớ còn khư khư ôm chấp một chỗ, đó gọi là bệnh.

 

Ở trong nhà Nho có câu chuyện: Ông Lưu Ngưng Chi một hôm đang đi thì bất thần có người lại nhận lầm ông mang đôi giày của họ. Giày của mình đang mang mà họ nói mình mang lầm giày của họ thì phải sử xự sao? Ông nghe vậy liền cởi giày đưa cho họ :“Giày của ông thì thôi ông cứ nhận đi”. Nhưng sau đó người này tìm thấy đôi giày của họ, liền vội vàng đem giày trả lại ông nhưng ông nhất định không nhận : “Anh nhận rồi thôi là của anh, tôi không nhận”.

 

Rồi có một trường hợp giống như vậy, ông Thẩm Lân Sĩ một hôm đang đi cũng có người cũng lại nhận lầm ông đi giày của họ, ông cũng cởi ra đưa cho họ. Nhưng sau đó biết lầm, họ tới trả ông thì ông vui vẻ : “Không phải của anh hả, thôi tôi nhận”.

 

Vậy quí vị muốn bắt chước theo ai ? Ông Tô Thức, tức Tô Đông Pha, có lời bình rằng : “Việc này tuy là việc nhỏ mọn, song ở đời ta nên cư xử như ông Lân Sĩ, không nên như ông Ngưng Chi.” Bởi vì sao? Đôi giày của mình đang mang mà có người đến nhận của họ, mình sẵn sàng cởi cho, cái đó là thật quí rồi. Nhưng người ta biết lầm rồi và người ta đem trả thì phải cảm thông nhận cho họ hối lỗi, chớ bây giờ người ta biết lỗi rồi mà mình không tạo cái duyên cho họ sửa, cứ khư khư ôm giữ cái phải của mình hoài thì sao? E có lúc cũng không được phải. Ở đây người ta biết lỗi rồi, biết lầm rồi, thôi thì cứ nhận có phải tốt không, ổn không? Còn mình cứ khư khư không nhận để cho họ hối hận trong lòng hoài thì đâu có tốt. Khéo biết như vậy đó là hiểu được linh động tùy duyên, còn cái kia là cố chấp. Tuy là tốt nhưng mà cố chấp cái tốt thành ra cũng không được trọn tốt.

 

Đó là nói về bên Nho, còn trong nhà thiền thì có Thiền sư Bạch Ẩn Huệ Hạc, sư rất nổi tiếng, ai nấy đều ca tụng sư là một con người rất trong sạch, rất tốt. Ở gần chùa sư có một gia đình bán thực phẩm, một hôm gia đình này phát hiện cô con gái của họ có thai, gia đình nổi giận đánh mắng hỏi ai là tác giả cái bào thai đó thì cô nói là Bạch Ẩn. Cha cô nghe nói vậy, quá giận tìm tới chùa gặp sư. Ông xổ ra đủ những lời nặng nề nhất trên đời. Sư nghe như vậy chỉ nói :“Thế à!” Vậy thôi.

 

Sau khi đứa bé được sanh ra, gia đình này mang tới chùa giao cho sư thì sư cũng nhận. Sau một thời gian nuôi đứa bé sư bị mất hết tiếng tăm, không còn ai nghĩ tới sư nữa.

 

Một thời gian sau, cô gái cảm thấy bị ray rứt trong lòng chịu không nổi, cô mới thú thật là cha đứa bé không phải là Bạch Ẩn mà là một chàng thanh niên bán cá ngoài chợ. Nghe tới đó cha mẹ cô mới bật ngửa, hoảng sợ lật đật tới chùa để sám hối và xin đứa bé trở lại. Lúc đó Thiền sư Bạch Ẩn cũng chỉ nói :“Thế à!” Vậy thôi, đơn giản.

 

Đó là tùy duyên, mà tùy duyên thế này mới thực sự là tùy duyên, tùy duyên cao tuyệt. Được, mất tiếng tăm không thành vấn đề, nhận việc đó coi như tiếng tăm mất hết rồi, như mình thì buồn biết bao nhiêu nhưng với sư chỉ “thế à!” là xong. Bởi vì sư thấy không có gì quan trọng, người nói oan, người bị lầm thì sư cũng vẫn thản nhiên không buồn lòng gì hết. Khi nhận đứa bé sư không buồn giận, mà trả đứa bé cũng không trách mắng,

 

Tùy duyên theo kiểu này thì ở trong đây ai bắt chước được? Đó là vì sư thấy rõ trên đời này không có gì quan trọng, nhất là không có “cái ta”. Không có cái ta thì lấy cái gì mà được mà mất, có được có mất là bởi vì có cái ta này, “ta được” tiếng tăm, bây giờ “ta mất” tiếng tăm, còn không có cái ta thì cái gì mất? ai mất? Thấy rõ vậy nên đối với sư được mất tiếng tăm không thành vấn đề, nhận đứa bé cũng thản nhiên, trả đứa bé cũng thản nhiên thôi.

 

Trong kinh Viên Giác có câu: “Thân này còn chẳng thật có thì yêu ghét từ đâu sanh?” Cái thân còn chẳng thật có thì cái yêu cái ghét từ đâu mà sanh, bám vào đâu mà có? Sở dĩ mình thấy có yêu có ghét, có được có mất là bởi vì thấy có cái ta này. Nếu cái ta này không thật thì lấy gì được mất, yêu ghét ? Thấy rõ như vậy mới thật sự biết tùy duyên. Tùy duyên này là một điểm rất sâu.

 

5- Một điểm kế nữa, tùy duyên là để phá cái ngã kiến, tức cái kiến chấp ngã. Bởi vì chúng ta luôn luôn thấy có cái ta thật, có vật thật, có người thật, tất cả đều thật, rồi cái thấy, cái nghĩ của ta cũng thật luôn, cho nên mới cố chấp bám vào một chỗ. Với thế gian thì luôn luôn là sao? Ta nói một là một, hai là hai, chớ không thể thay đổi. Mình bảo vệ tối đa cái nghĩ của mình. Chính vì vậy cho nên mới có đấu tranh, mới có chết chóc, bởi vì ta nghĩ như vậy là phải, khác đi là không được. Nhưng cái gì là cái nghĩ của ta? Xét cho kỹ thì cái nghĩ của ta cũng không có gì cố định, mình nghĩ vậy ít bữa rồi cũng đổi ý nghĩ khác, nó không có cố định, không có Thật thể.

 

Cho nên trong kinh Kim Cang, Phật có dạy: “Như Lai nói ngã kiến tức chẳng phải ngã kiến, đó gọi là ngã kiến.” Nghĩa là, nói cái ngã kiến không phải thật có, chỉ do cái lầm chấp của người thôi. Mình nghe nói có cái kiến chấp, có cái chấp ngã thì mình tưởng đâu có cái chấp ngã thật, chớ sự thật Ngài nói đó chỉ là cái mê lầm, cái vọng chấp của mình chớ không có thật. Như cái nghĩ của ta, xét cho kỹ, tìm cho tột cái gì là cái thể cố định cái nghĩ của ta thì tìm không ra, chỉ không ra.

 

Khi xét tột được như vậy tức là mở sáng được con mắt Bát-nhã, thấy được cái lầm như vậy thì hết lầm. Mới thấy cái nghĩ của ta không có gì là cố định thì làm sao mà bám chắc ? Không bám chắc vào một chỗ thì mới có tùy duyên, cho nên nói tùy duyên là phá cái ngã kiến, phá cái chấp chặt một chỗ, chấp chặt là ta nghĩ như thế là phải. Sự thật là không có cái ta nghĩ cố định thật được.

 

Một chuyện đơn giản tầm thường, thí dụ một viên kim cương đối với cái nghĩ của mình là quí, nhưng nếu đem cho đứa bé thì sao? Nó làm viên bi nó bắn chơi. Như vậy cái nghĩ của ai đúng? Tùy theo tâm tưởng của người thôi, mình quen suy nghĩ như vậy rồi mình cho như vậy là đúng chớ sự thật chưa hẳn là đúng với người khác. Mình nghĩ nó quí nhưng với đứa bé nó thấy giống như viên đạn nó bắn chơi thì có gì đâu là quí. Nếu mình thấy nó đem bắn chơi rồi mình chấp vào cái nghĩ của mình là đúng, mình rầy phạt nó thì sao? Là cố chấp, rồi khổ.

 

Hiểu như vậy mới thấy tùy theo tâm tưởng của người mà thành ra có cái nghĩ sai khác chớ không có cố định, là bớt chấp. Ở đây nói bớt chấp thôi, chớ nói hết chấp thì chưa. Bớt chấp thì bớt khổ. Học thiền cởi được những tình chấp của mình ra cho nhẹ bớt.

 

Ở trong Tuyệt Quán Luận có một đoạn, có người đặt câu hỏi: “Con thấy người học đạo phần nhiều họ chẳng chuyên cần giữ giới luật, cũng chẳng chăm lo gìn giữ oai nghi, cũng chẳng giáo hóa chúng sanh mà cứ mặc tình sống thoải mái thì đó là ý gì?” Trong đó đáp: “Nhưng bên trong thực hành không có gián đoạn.” Bên ngoài nhìn giống như thoải mái nhưng bên trong người ta thực hành không có gián đoạn thì đó mới gọi là khéo tùy duyên.

 

Có những trường hợp các ngài làm như vậy để phá cái niệm chấp về sạch, về nhơ. Thí dụ như chấp ta đây tu hành thanh tịnh, ta đây tu hành đàng hoàng. Nhưng có ai nói mình tu hành không thanh tịnh, không đàng hoàng thì sao? Thì tức giận, đó là chấp vào cái thanh tịnh của mình, tới chừng người ta nói không thanh tịnh thì nổi giận. Còn ở đây là phá cái niệm sạch nhơ, ai nói sao thì nói, không thành vấn đề với mình.

 

Nhưng điểm này cũng phải xét ngược lại. Tuy là vậy nhưng không phải dễ bắt chước, bởi vì cũng dễ lầm. Nghe nói làm những chuyện như vậy là sống không chấp vào hình thức rồi mình cũng bắt chước làm như vậy để cho giống như tự tại, nhưng đó là bắt chước chớ không phải sống thật sự. Ở đây cần phải chú ý, điểm quan trọng là tuy bên ngoài như vậy nhưng bên trong thì thực hành không có gián đoạn, tức là bên trong luôn luôn sáng ngời, không có mê thì mới là lẽ thật, chớ theo cái kiểu bắt chước làm như vậy mà đụng đâu dính đó thì không phải.

 

Cũng có trường hợp làm như vậy để tỏ ra ta đây là người hiểu thiền, ta đây là người không chấp gì hết, là người sống tự tại. Nhưng nói ta không chấp gì hết mà chính cái đó lại thành ra chấp, tức là “chấp vào cái không chấp”.Thường người ta chấp cái này chấp cái kia, nhưng bây giờ chấp trở lại cái không chấp, tức là ta không chấp cho nên mọi chuyện coi như không thành vấn đề. Cái đó mới là cái nguy hiểm, chấp vào cái không chấp lại là bệnh. Nhưng bệnh mà lại không biết bệnh nên mới khó trị, làm sao mà trị? Nên nhớ đây là chỗ thực sống của các vị đã sáng tỏ được đạo, nếu không được như vậy thì không được bắt chước.

 

Ở đây còn một điểm nữa, phải nhớ là khi chúng ta nói rằng làm như vậy để phá cái tâm phân biệt, thì còn có tâm phân biệt không? Chưa sạch hết phân biệt mới phá, chớ sạch hết rồi thì phá cái gì nữa? Như vậy thì cũng chưa phải thật sự tự tại, đó là chỗ mình phải thấy cho kỹ. Đừng nói rằng tôi làm vậy là để phá chấp, tôi tự tại rồi, nhưng sự thật nếu đã hết chấp thì phá cái gì? Còn phá tức là còn phân biệt, còn phân biệt tức chưa tự tại. Cho nên nếu nghe ai nói tôi phá chấp thế này, tôi phá chấp thế kia, tức là còn chấp mới phá, chưa phải thật hết đâu. Đó là những điều phải thấy cho thật tế nhị.

 

6- Một điểm nữa, tùy duyên là mình nên sống khéo hòa với tất cả chớ không nên làm khác người, không phải là lập dị, bởi vì tùy duyên mà. Không làm khác với người, không lập dị để cho thấy ta đây là người đạt đạo, ta đây là người tự tại, đó mới là tùy duyên. Bởi vì khi mình làm khác người để chứng tỏ mình đạt đạo thì đó là một tướng khác của ngã tướng. Ở đây làm tất cả, cũng ăn cũng ngủ như mọi người nhưng luôn luôn không rời Tự tánh, không mất ánh sáng của Tự tâm, đó mới là khéo tùy duyên. Chớ tùy duyên mà làm khác biệt với người ta, để cho thấy rằng “ta đây” là người không chấp, là người tự tại, như vậy là có chấp trong đó rồi, có ngã tướng trong đó rồi. Làm để cho người ta chú ý tới mình, cái đó là bệnh.

 

Bởi vậy, tùy duyên mà luôn luôn sáng ngời ở trong, sống bình thường nhưng không mất chỗ sống chân thật của mình, mới là đúng tùy duyên, nếu không được như vậy thì mắc kẹt. Tóm lại tùy duyên thì không thể bám chấp vào một chỗ nào. Vì không có gì cố định hết. Vừa bám chấp một cái gì đó là hết tùy duyên, mà còn sống trở lại với quá khứ nữa.
Trong sử ghi một hôm có vị ngoại đạo đến hỏi Phật:

 

- Hôm qua Ngài thuyết pháp gì?

 

Phật nói:

 

- Hôm qua ta thuyết định pháp (tức là cái pháp nhất định).

 

Vị ngoại đạo hỏi thêm:

 

- Vậy còn hôm nay Ngài thuyết pháp gì?

 

Phật nói:

 

- Hôm nay ta thuyết bất định pháp.

 

Vị ngoại đạo gạn lại:

 

- Hôm qua giảng định pháp, hôm nay vì sao lại giảng bất định pháp?

 

Phật đáp:

 

- Hôm qua định, hôm nay bất định.

 

Đức Phật đáp quá hay, đó là để phá cái chấp cố định của mình. Nếu thật sự một bề là định pháp thì làm sao mà có hôm nay? Có hôm qua, có hôm nay tức là bất định, bởi vậy Phật mới nói rằng hôm qua thuyết định pháp, bữa nay thuyết bất định pháp, đó là linh động.

 

Mình cố chấp một bề là mình chết ở trong quá khứ, tức là thiếu cái linh động sáng tạo. Mình nghe nói định pháp thì chấp chặt là định pháp, cho nên nghe nói bất định thì thắc mắc liền.Ở đây Phật nói ro,õ vì bất định cho nên mới có hôm nay, mới có hôm qua. Lẽ thật rõ ràng là như vậy, thấy như vậy thì làm sao chấp?

 

Mình nghe hôm qua nói định, bữa nay nói bất định thì mình thấy Phật nói chuyện sao mà mâu thuẫn quá. Nhưng như vậy là không thấy được ý nghĩa tùy duyên không cố định, tức là không có một pháp thật. Mình bám vào cái hôm qua là mình chỉ nhớ cái quá khứ, sống lui về quá khứ, không có sáng tạo. Hiểu như vậy thì mới thấy được ý nghĩa tùy duyên là luôn luôn linh động.

 

Ngài Lâm Tế lúc từ giã ngài Hoàng Bá đi, Hoàng Bá hỏi đi đâu thì Ngài nói: “Chẳng về Hà Nam tức về Hà Bắc.” Lời này nói lên tâm của Ngài sống tùy duyên thật sự. Tùy duyên ở đây là gì? - Là lúc nào cũng hiện tiền, cũng sáng ngời, cái chân thật đó luôn luôn theo sát bên mình, cho nên nó không dừng ở một chỗ nào, không về Hà Nam thì về Hà Bắc, mình đi đâu nó có ở đó. Mình bây giờ có thể nói là “Không ở thành phố thì ở Trúc Lâm”, chớ thân đến Trúc Lâm mà niệm một bề cứ trụ ở thành phố đó là đóng khung ở trong chỗ chết, không linh động.

 

7- Thêm một điểm nữa, tùy duyên tức là vô trụ. Sống được vô trụ thì mới tùy duyên, chớ có trụ là hết tùy duyên, bởi vì có trụ là có chết. Trong cuốn “Góp Nhặt Cát Đá” có chuyện hai sư huynh đệ đi qua con suối thấy một cô gái mặc đồ đẹp muốn đi qua suối nhưng sợ bị ướt không dám qua. Ông sư huynh nói “cô bé lại đây, ta đưa qua cho”, rồi ông bồng cô đưa qua suối. Từ đó về tới chùa hai người làm thinh không nói chuyện. Tới chùa ông sư đệ hậm hực nói rằng:

 

- Huynh sao bữa nay không giữ giới gì hết?

 

- Làm sao mà không giữ giới?

 

- Tại sao huynh bồng cô gái qua suối vậy?

 

Ông sư huynh cười nói:

 

- Vậy hả? Ta đã buông cô gái ở đó rồi, còn ông lại ôm về tới đây sao?

 

Rõ ràng là ông sư huynh thì tùy duyên, gặp đưa qua rồi thôi, còn ông sư đệ thì ôm ấp việc đó mãi, đi từ suối về chùa qua bao nhiêu đoạn đường, qua bao nhiêu bước chân mà cái tâm của ông thì vẫn trụ ở chỗ suối đó. Trụ như vậy là mất cái hiện tiền này tức là mất ông chủ. Còn ông sư huynh buông hết rồi, cho nên luôn luôn lúc nào ông chủ cũng sống hiện tiền. Cho nên tùy duyên tức là vô trụ, vô trụ là sống như vậy đó. Khéo như vậy mới thật sự là khéo tùy duyên, chuyện qua rồi là thôi không có giữ lại, không có trụ lại.

 

8- Đến đây thì quí vị thấy ý nghĩa tùy duyên hơi sâu rồi. Lên một tầng nữa tùy duyên phải lý sự đầy đủ, tùy duyên thường hiện hữu, không nghiêng không lệch một bên. Đó mới gọi là tùy duyên sâu xa.

 

Có vị Tăng hỏi Thiền sư Quang Dũng:

 

- Văn-thù là thầy của bảy đức Phật, vậy Văn-thù có thầy chăng?

 

Ngài Quang Dũng đáp:

 

- Gặp duyên liền có.

 

Ông Tăng hỏi:

 

- Thế nào là thầy Văn-thù?

 

Ngài Quang Dũng liền dựng đứng cây phất tử. Ông Tăng nói:

 

- Phải chăng chỉ cái ấy liền là phải?

 

Ngài Quang Dũng liền ném cây phất tử đứng khoanh tay. Đây mới gọi là tùy duyên mà thường hiện hữu, lý sự đầy đủ.

 

Văn-thù là chỉ cho Căn bản trí, là cái Lý tánh chân thật. Chư Phật sở dĩ thành Phật là cũng ngộ cái lý Căn bản trí này, sống được với Căn bản trí trọn vẹn thì thành Phật. Cho nên gọi Văn-thù là thầy của bảy đức Phật, đã gọi như vậy thì còn ai là thầy của Văn-thù nữa. Nhưng ở đây ngài Quang Dũng nói “gặp duyên thì liền có” tức là sao? Tức là nó không phải hoàn toàn không ngơ, đủ duyên thì nó liền hiện, cái đó không ai làm thầy nó được hết.

 

Ngay khi đưa phất tử lên tức là gặp duyên, nó liền hiện, thì thầy là như vậy đó. "Cái sẵn có", đó là lý, "gặp duyên liền hiện" đó là sự, lý sự luôn luôn đầy đủ. Còn mình nếu thấy không thầy là thấy một bên lý, hoặc là thấy một bên có thầy là thấy một bên sự . Ở đây lý sự luôn luôn đầy đủ, thấy như vậy thì không mắc kẹt bên nào.

 

Khi đưa cây phất tử lên thì cái chân thật đó vẫn luôn luôn hiện hữu nơi cây phất tử rồi, cái thấy nó luôn luôn có mặt rồi. Khi quăng cây phất tử đứng khoanh tay thì sao? Ai đứng khoanh tay đó? Thì nó cũng có mặt ở đó luôn. Cái Thể chân thật nó luôn luôn có mặt nhưng nó không có hình tướng gì để thấy, mà chỗ nào nó cũng ứng hiện được hết. Như vậy mới gọi là có thể có dụng, hoặc có lý có sự, luôn luôn đầy đủ.

 

Cũng vậy, tâm mình đâu có hình tướng gì nhưng gặp duyên thì nó hiện đủ mọi hình tướng. Gặp duyên gì thì nó hiện ra tướng đó. Nó hiện hữu khắp mọi nơi, tùy duyên mà thường hiện hữu chớ không mắc kẹt một bên. Thấy được như vậy mới là thấy được cái ý sâu ở trong nhà thiền.

 

Kết lại thì tùy duyên là gì? Tùy duyên tức là không có chỗ bám, linh động, không dừng không trụ. Tất cả các pháp đều là nhân duyên, không có một pháp thật thì tại sao mình phải bám một chỗ để mà chịu khổ.Cho nên biết tùy duyên là phải quên cái ngã này, còn nhớ cái ngã này là không có tùy duyên. Và tùy duyên có bắt chước được không? Khi bắt chước là hết tùy duyên, bởi vì bắt chước là đã có cái khuôn, có khuôn mới bắt chước, cho nên bắt chước là hết tùy duyên . Ngoài ra điểm quan trọng phải nhớ là, tùy duyên mà còn có ngã là lầm, phải nhớ điểm đó !

 

Đây nhắc câu chuyện này kết thúc bài tùy duyên:

 

Xưa có một vị Thiền sư, Ngài sống ăn uống hỗn tạp, không có chọn lựa gì hết, gặp mặn ăn mặn, gặp chay ăn chay, gặp gì là ăn nấy, gặp rượu cũng uống luôn. Có nhiều đệ tử thấy vậy bắt chước, sống như vậy thoải mái. Một hôm Ngài kêu hết đệ tử đến chỗ người ta thiêu xác người rồi đem đồ ăn bày ra, Ngài lấy những miếng thịt người ta thiêu còn sót lại, chưa cháy hết, trộn vô đồ ăn rồi nói:

 

- Các ngươi lại đây ăn với ta bữa này.

 

Các đệ tử ói mửa chạy hết. Ngài ngồi ăn thản nhiên, sau đó mới bảo rằng:

 

- Các ngươi cùng ăn được với ta cái món này thì mới có thể tiếp tục ăn uống như ta được, còn nếu không được thì thôi từ nay đừng có bắt chước.

 

Chúng sợ hãi không dám bắt chước nữa, lo gìn giữ giới luật đàng hoàng. Bởi vì Ngài đã nhiều năm tu hành thanh tịnh rồi mới được như vậy, còn các đệ tử chưa được vậy thì làm sao mà bắt chước được! Như vậy để thấy rằng, nếu tâm mình còn phân biệt nhơ sạch thì làm sao có thể tùy duyên theo kiểu đó được, còn tâm Ngài sạch hết phân biệt rồi, cho nên ăn tự nhiên thôi.

 

hi tâm mình còn phân biệt nặng nề, còn thích ngon chán dở, còn thích đẹp chán xấu mà bảo là tùy duyên không ngại gì thì coi chừng bệnh hoạn, phải hiểu được cái ý đó. Như vậy một ý nghĩa tùy duyên này mà thấu cho thật suốt có dễ dàng không? - Không dễ dàng, cho nên phải thật sống chớ không phải bắt chước được.

 

Bởi vậy tùy duyên mà còn có cái ta trong đây là còn dính mắc, mà còn dính mắc là không đúng ý nghĩa tùy duyên. Nhiều khi mình mắc kẹt là mắc kẹt cái lý tùy duyên nữa, mình phải sống cho thật chân thật t mới thấy ý nghĩa tùy duyên, chỉ là cái lý thông thường thôi nhưng muốn hiểu cho rốt ráo để sống không phải là đơn giản, làm cả đời không hết, đâu phải nói tới những lý cao tột mây xanh.

 

Để kết thúc lại, tùy duyên là luôn luôn sáng ngời tự tại, không có chỗ nào để bám, đó là tùy duyên. Mong rằng tất cả khéo sống được tùy duyên, đúng ý nghĩa tùy duyên .

 

_______________

Nguồn: thuongchieu.net

KHÁI QUÁT NHỮNG TIỀN ĐỀ TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO VIỆT NAM GIAI ĐOẠN LÝ-TRẦN, TOÀN NHẬT THIỀN SƯ, NGƯỜI MUỐN ĐƯA TINH THẦN PHẬT GIÁO ĐỜI NHÀ TRẦN XUỐNG CHO TRIỀU ĐẠI TÂY SƠN


Nhưng nếu trước khi xuất gia, Toàn Nhật đã từng làm tướng rồi sau đó mới “tuốt dép lánh xa khỏi nơi doanh liễu”. Vậy thì bây giờ ta thử xem Thiền sư Toàn Nhật đã làm tướng cho triều đại nào?

Theo tác giả Toàn Nhật Quang Đài, trong những tác phẩm đã tìm lại được thì chỉ có tác phẩm Xuất gia tối lạc tỉnh thể tu hành vãn là Toàn Nhật có nhắc đến triều đại nhà Nguyễn:

Ấy triều đại cổ kim thật lục
Nối truyền qua bản quốc Nam thiên
Những vì thánh chúa tôi hiền
Tượng kinh tôn trọng chùa chiền nghiêm trang.
Nỗi riêng than có thành có quách
Nếu vui thôi thì ắt thái qua
Mừng nay minh chúa Nguyễn Gia
Trung hưng chánh pháp gần xa tôn sùng. 
Dựng tăng phòng lại trau Phật điện
Tạo trống chuông nổi tiếng vang lừng
Tăng ni thong thả tu thân
Cảnh thiền tiêu sái áng trần phiền lao.

Nhưng thời bấy giờ ở đàng trong có hai chúa Nguyễn, là Nguyễn Gia Long và Nguyễn Tây Sơn, vậy câu: “Mừng nay minh chúa Nguyễn Gia” của Toàn Nhật muốn nói đến Nguyễn Gia Long hay Nguyễn Tây Sơn?

Và đây là lời giải đáp của giáo sư Lê Mạnh Thát, tác giả Toàn Nhật Quang Đài:

“Đương nhiên, nó không thể là nhà Nguyễn của các chúa Nguyễn bởi vì kể từ năm 1771 trở đi, lúc Toàn Nhật mới 14 tuổi, thì toàn bộ dòng họ chúa Nguyễn đã bị đánh bật ra khỏi ngôi vị của mình, để có thể làm chuyện “trung hưng chánh Pháp”. Do vậy, chỉ có thể là nhà Nguyễn Tây Sơn hay nhà Nguyễn Gia Long mà thôi. Đối với nhà Nguyễn Gia Long, tuy Toàn Nhật sống hơn 30 năm còn lại của đời mình dưới sự thống trị của dòng họ này và đã biểu thị một thái độ hết sức đặc biệt. Ông hầu như không thừa nhận sự hiện diện của nhà Nguyễn ấy qua việc ông không bao giờ xử dụng niên hiệu của các vị vua nhà Nguyễn trong các tác phẩm để ghi lại những đơn vị thời gian cần thiết.

Chẳng hạn, trong ba bài bạt ta hiện tìm được viết cho những lần in kinh năm 1819 và 1829, thì một bài bạt không đề ngày tháng gì hết, còn hai bài bạt kia, ta chỉ thấy ghi “tuế thứ Kỷ Mão” và “tuế thứ Kỷ Sửu”. Việc ghi niên đại kiểu này, trong khi đất nước đang có chủ quyền, là một biểu thị khinh nhờn cực kỳ nghiêm trọng đối với nhà đương quyền. Nói trắng ra, Thiền sư Toàn Nhật không thừa nhận nhà Nguyễn Gia Long là chính thống, do thế đã không xử dụng niên hiệu của Gia Long và Minh Mạng ngay cả lúc cần thiết.[1]
 
Trong tác phẩm Lược sử Phật Giáo và các chùa Phú Yên, hai tác giả Nguyễn Đình Chúc và Huệ Nguyễn khi viết về Thiền sư Diệu Nghiêm và chùa Từ Quang cũng xác nhận rằng: “Đệ tử thành đạt của tổ sư có đến 28 vị thành danh, trong đó có Thiền sư Toàn Nhật Quang Đài nguyên là mưu thần của vua Quang Trung về sau xuất gia và làm trụ trì chùa Viên Quang”.[2]

Nhưng tại sao Toàn Nhật đã gặp được “Chúa thánh tôi hiền” để phục vụ lại phải vội vã từ giả khi mới có 30 tuổi đầu? Chắc chắn phải có một biến cố đau lòng nào đó? Tác giả Toàn Nhật Quang Đài cho rằng:

“Lý do cho sự từ quan có thể xuất phát từ cuộc tranh chấp nào đó, mà ngày nay vì thiếu tư liệu, chúng ta không thể nào xác định được một cách rõ ràng. Trong Từ Quang Tự sa môn Pháp chuyên Luật truyền Diệu Nghiêm Thiền sư xuất thế nhân do sự tích, dù được viết vào năm Gia Long thứ 3 (1805) nhà Tây Sơn xung đột với nhaubằng từ ngữ “thủ túc tương tranh”. Ta biết việc kéo quân vào Quy Nhơn vây Nguyễn Nhạc xảy ra vào khoảngtháng 9 năm 1786 sau khi đã rút quân khỏi Thăng Long vào tháng 7 năm Bính Ngọ (1786), và Nguyễn Nhạc đã than khóc với Nguyễn Huệ về việc nồi da xáo thịt. Như vậy khi Toàn Nhật nói mình xuất gia vào năm 30 tuổi, và ông lại sinh vào năm Đinh Sửu (1757), thì năm Bính Ngọ ông đúng 30 tuổi theo cách tính của người Việt Nam. Việc rũ áo từ quan đi xuất gia của Toàn Nhật do thế phải chăng đã liên hệ với sự kiện anh em Tây Sơn xung độtvừa nói?[3]

Trong suốt 2 tác phẩm Tham thiền vãn và Thiền cơ yếu ngữ vãn, ta nghe thấy một nỗi buồn nào đó với con đường lợi danh mà Toàn Nhật vừa rũ bỏ để ra đi.

Quyết một bề trèo non đào giếng
Kẻo lời phàm đeo tiếng thị phi
(Tham thiền vãn)

Không phải chỉ buồn thôi mà còn có một cái gì đó vừa chua chát vừa đắng cay:
 
Danh lợi đã đề nên tiếng sĩ
Đâu ở mình xử kỷ chẳng toan
Súng kia nhắm dạng dè làn
Thiên cơ dễ biết ngộ duyên quân thần
Đã cầm cân non già từng nhắc
Dai hay sao tráo trác đấu đong
(Tham Thiền vãn)

Nhưng không sao, vì Toàn Nhật có đủ nghị lực cũng như ý chí để vượt qua những phong ba bão táp của cuộc đời, vì ông đã tự nhắc nhở cho chính mình:

Miễn là neo nọc cho bền
Gió lồng mặc gió, vững thuyền thì thôi
(Tham Thiền vãn)

hoặc là:

Lời thị phi khen chê mặc thế
Hơi nào mà cấm chợ ngăn sông?
 
Và nếu Toàn Nhật đã từng theo Chúa Nguyễn Tây Sơn, thì nhất định triều đại Tậy Sơn phải là một triều đại tôn sùng Phật giáo như Thiền sư Toàn Nhật đã hết lòng ca ngợi:
 
Mừng nay minh chúa Nguyễn Gia
Trung hưng chánh Pháp gần xa tôn sùng
Dựng tăng phòng lại trau Phật điện
Tạo trống chuông nổi tiếng vang lừng
Tăng ni thong thả tu thân
Cảnh thiền tiêu sái áng trần phiền lao

Tác giả Lê Mạnh Thát đã khẳng định như thế này: “Lịch sử và dã sử cũng như truyền thuyết đều xác nhận nhà nước Tây Sơn dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Huệ, đã có những chính sách cải cách Phật giáo thực to lớn. Điều này cũng không có gì lạ khi ta nhớ rằng trong ba anh em nhà Nguyễn Tây Sơn, có người đã ở Chùa làm sư rồi sau đó mới ra làm tướng, làm vua.

Có thuyết nói rằng người đã từng làm sư ấy là Nguyễn Lữ, nhưng thuyết đáng tin cậy hơn lại nói người đó chính là Nguyễn Huệ. Ngày nay, tại Chùa Trúc Lâm ở Huế còn giữ một tấm gấm thêu Kinh Kim Cang bằng chỉ đỏ do Ngọc Hân Công chúa thực hiện vào năm Cảnh Thịnh thứ 2. Và văn tế vua Quang Trung do Ngọc Hân viết cũng nói đến cái chết của vua Quang Trung như “miền cực lạc xe mây vùn vụt”. Vua Quang Trung phải là người như thế nào về phương diện tôn giáo, thì Công chúa Ngọc Hân mới nới tới miền cực lạcCũng thếthái độ tôn giáo của triều đình Tây Sơn Quang Trung như thế nào, thì Ngọc Hân mới thêu kinh Kim Canh Bát Nhã lên gấm”.[4]

Nguyễn Xuân Nhân, trong tác phẩm Văn học dân gian Tây Sơn cũng xác nhận như thế này đối với thông tin trên:

“Trước khi dấy nghĩa, Nguyễn Lữ cùng theo hai anh học văn học võ với thầy giáo Hiến. Sau đó có một thời gianxuất gia nên ông còn được gọi là thầy Tư Lữ. Mấy năm làm nhà sư, ông có dịp trao đổi võ thuật với các nhà sưTrung Quốc vốn là những người mang tư tưởng “Phục Minh Kháng Thanh” trú ngụ ở An Thái (Bình Định). Ông muốn cho bộ môn võ thuật nước nhà thích hợp với thể chất của người mình nên cùng các chiến hữu tìm hiểukỹ các thế đánh của đôi gà chọi nhau, rồi sáng tạo nên nhiều thế đánh mới hợp thành một thể thống nhất gọi là Hùng Kê Quyền”.[5]

Nếu những điều trên có thể làm cho ta bán tín bán nghi vì nửa là lịch sử và nửa là dã sử thì những bằng chứng sau đây cũng của tác giả Toàn Nhật Quang Đài chắc chắn là sự khẳng định rõ ràng của lịch sử:

“Không những thế, triều đình nhà Tây Sơn, cụ thể là triều đình vua Quang Trung, gồm những người cốt cán lại là những Phật tử. Ta có Hải Lượng đại Thiền sư, tức Binh Bộ Thượng Thư Ngô Thời Nhiệm (1746-1803) cùng những người trong Trúc Lâm Thiền viện của ông như Hương Lĩnh Bá Nguyễn Đăng Sở, Phan Huy Ích, Vũ Trinh… Ngoài ra vị quân sư của Nguyễn Huệ là Trần Văn Kỷ, lại có con đi xuất gia có hiệu là Đạo Minh Trung Hậu hòa thượng. Triều đình nhà Tây Sơn do thế là một triều đình Phật giáo”.[6]

“Ngoài ra, từ Quang tự sa môn Pháp chuyên Luật truyền Diệu Nghiêm thiền sư xuất thế nhân do tích chí có cho ta biết về việc thầy của Toàn Nhật là Thiền sư Pháp chuyên luật truyền Diệu Nghiêm đã được vua quan nhà Tây Sơn ủng hộ. Chẳng hạn, vào năm Bính Thìn (1796) tại tỉnh Phú Yên, Pháp chuyên đã tổ chức một giới đànđể thọ giới cho hơn 200 tăng ni, thì đã được chủ trấn là Đoàn Luyện quận công của nhà Tây Sơn ủng hộ.

Rồi đến năm Mậu Ngọ (1798) Thiền sư Diệu Nghiêm lại được Hoàng Thái hậu nhà Tây Sơn mời ra Huế để chứng minh việc đúc Đại Hồng Chung và được ban cà sa màu tím. Ta biết những năm 1796 cho đến 1798, quân Nguyễn Ánh chưa lấy được Phú Yên và Thuận Hóa”.[7]

Và như vậy, tác giả Toàn Nhật Quy đài kết luận:

“Trên cơ sở những phân tích vừa thấy “minh chúa Nguyễn Gia”, tất không thể ai hơn là vua Quang Trung. Từ đó, nếu trước khi xuất gia, Toàn Nhật đã làm quan và làm tướng thì ông đã làm quan làm tướng với nhà Tây Sơn”.[8]

Bởi vậy nên mặc dù đã rời bỏ hàng ngũ của phong trào Tây Sơn để đi xuất gia, nhưng Toàn Nhật vẫn tích cựchỗ trợ cuộc cách mạng của Tây Sơn. Chính vì sự hỗ trợ này nên khi nhà Tây Sơn sụp đỗ và Nguyễn Gia Long chiếm được chính quyền thì Toàn Nhật lại phải sống lao đao cùng với vận nước nổi trôi, như chính Toàn Nhật đã ghi lại trong một bài phú:

Ở không nơi; về không chốn
Than rằng biển khổ rất mênh mông
Lênh đênh chẳng khác thuyền trôi
Biết đâu dừng đỗ. 
Lãng đãng cũng như bèo nổi
Theo đó hợp tan
Công đã đi tu
Phận muối dưa lại không an phận. 
Lòng toan học đạo,
Thân bả bô chẳng đặng dung thân
Ở không nơi, phải tạm ở đình
Đình vốn rộng trống sau trống trước. 
Quán cũng lạ không vào ngụ quán
Quán tuy nhiều, khó mượn khó toan
Đặng gặp nơi nào
Cũng nhờ chốn ấy.
(Thơ Bà Vãi)

Nhưng tại sao một người như Toàn Nhật lại hết lòng ủng hộ cuộc khởi nghĩa của Tây Sơn? Vì Tây Sơn đã đánh đuổi chúa Nguyễn ở Đàng trong, đã xóa tên hai tập đoàn phong kiến là chúa Trịnh và vua Lê ở Đàng ngoài, đặc biệt là đã oanh liệt đánh tan tành hai cuộc xâm lăng của nhà Thanh ở phương Bắc và Xiêm la ở phương Nam chăng?
 
Nếu chỉ hùng mạnh về quân sự không thì chưa đủ để thuyết phục một nhà trí thức lỗi lạc như Toàn Nhật, để Toàn Nhật có thể ủng hộ cuộc khởi nghĩa của Tây Sơn. Vì sao? Vì lý do đơn giản là xưa nay lịch sử đã từng chứng minh rằng, một chế độ chỉ biết đề cao võ trị thì chế độ đó luôn luôn chuyên quyền và độc đoán và nạn nhân thê thảm cho sự chuyên quyền và độc đoán này chính là người dân vô tội chứ không ai khác.

Vậy chắc chắn triều đại Tây Sơn ngoài sức mạnh về quân sự ra thì phải còn có những chính sách nào đó rất phù hợp với lòng dân nên một trí thức như Toàn Nhật mới ủng hộ một cách tích cực như vậy chăng?

Cố học giả Trần Trọng Kim, đã nhận định về con người của Quang Trung Nguyễn Huệ như thế này:

“Vua Quang Trung nhà Nguyễn Tây Sơn là ông vua anh dũng, lấy võ lược mà dựng nghiệp, nhưng ngài có độ lượng, rất am hiểu việc trị nước, biết trọng những người hiền tài văn học. Khi ngài ra lấy Bắc Hà, những người như Ngô Thời Nhiệm, Phan Huy Ích, đều được trọng dụng và nhất là đối với một người xử sĩ như Nguyễn Thiếp thì thật là khác thường.

Nguyễn Thiếp, tức là Khải Chuyên hiệu là Nguyệt Úc, biệt hiệu là Hạnh Am. Ông làm nhà ở Lục Niên thành, thuộc huyện La Sơn, Hà Tĩnh bây giờ, cho nên người ta gọi là Lục Niên tiên sinh hay là La Sơn Phu tử.

Vua Quang Trung từ khi đem quân ra đánh Bắc Hà, biết tiếng Nguyễn Thiếp, đã mấy lần cho người đem lễ vậtmời ông ra giúp, ông không nhận lễ và cũng từ chối không ra. Đến khi Ngài đăng cực, lại mấy lần cho người đến mời ông, ông có đến bái yết và khuyên vua nên lấy nhân nghĩa mà trị dân trị nước, rồi lại xin về. Vua Quang Trung tuy không dùng được ông, nhưng bao giờ cũng tôn kính ông như bậc thầy, và việc chính trị trong nước thường theo ý mà Nguyễn Thiếp đã trình bày”.[9]

Đó là chính sách của nhà nước Tây Sơn đối với giới trí thức, còn đối với người dân thì sao? Người dân nước ta ở nửa cuối thế kỷ 18 thì hầu hết đều sống bằng nghề nông, lao động suốt ngày nhưng vẫn nghèo khổ. Vậy chính sách của nhà nước Tây Sơn đối với những người nghèo khổ này thì sao? Những người Tây phương có mặt từ những ngày đầu của cuộc khởi nghĩa Tây Sơn nói rằng, khẩu hiệu của nghĩa quân là “hãy tước đoạt của ngưởi giàu chia cho người nghèo”.

 “Bọn Nguyễn Nhạc muốn đem ánh sáng công lý soi tới chúng dân và giải thoát khỏi gông cùm của nhà vua, các quan và các cố vấn. Bọn chúng tuyên truyền tính bình đẳng trong mọi địa hạt. Trung thành với thuyết tân xã hội, bọn Nguyễn Nhạc tước đoạt tài sản của các quan thống trị giàu có và đem chia cho dân cùng đinh khố rách”[10].
 
Như vậy, chắc chắn những tác phẩm của Toàn Nhật, đặc biệt là Hứa sử truyện vãn đã được Toàn Nhật viết ra để hỗ trợ cho cuộc khởi nghĩa do chính những người từ giới nông dân nghèo khổ ấy cầm đầu. Bởi thế, theo tác giả Toàn Nhật Quang Đài thì: “Thể hiện rõ nét bản lĩnh tư duy của nhân dân ta trước những vấn đề trọng đạicủa đất nước. Chúng không phải là những luận đề cũ rích vay mượn từ những sách vở Trung Quốc, không có một liên quan thiết yếu đến đời sống dân tộc.

Trái lại, chúng là những vấn đề nóng bỏng của thời đại tác giả sống, đòi hỏi phải có những giải đáp thích đáng. Cho nên, chúng không cần phải bao bọc trong những câu thơ óng chuốt, trưởng giả, đầy những điển cố chữ nghĩasự tích xuất phát từ dòng văn hoá bác học và ít nhiều mang tính ngoại lai.

Thay vào đó, chúng được trình bày một cách thẳng thắn, cố nhiên là dưới hình thức truyện vãn, qua những lời thơ bình dịtrong sáng đến nỗi giống như lời nói hằng ngày của nhân dân. Do thế, trên toàn bộHứa sử truyện vãn đã thể hiện sức sống dạt dào đang cuồn cuộn dâng lên của dân tộc ta trong thời kỳ nổ ra cuộc cách mạngTây Sơn do nhà anh hùng áo vải Nguyễn Huệ lãnh đạo lần đầu tiên đánh thắng hai thế lực quân chủ lực kỳ phản động trong nước và thế lực xâm lược ngoại bang”.[11]

Nhưng với Toàn Nhật, một người được nuôi dưỡng từ truyền thống tư tưởng của Phật giáo, thì chỉ công bằngtrên bình diện xã hội không chưa đủ mà còn phải bình đẳng và công bằng ngay cả trên phương diện nhân phẩm của mỗi cá nhân con người nữa. Như vấn đề gọi là chính thống và ngụy triều sau đây chẳng hạn:

“Những người làm quốc sư nước Tàu và nước ta thường chia những nhà làm vua ra chính thống và ngụy triều. Nhà nào, một là đánh giặc mở nước, sáng tạo ra cơ nghiệp, hai là được kế truyền phân minh, thần dân đều phục, ba là dẹp loạn yên dân, dựng nghiệp ở đất Trung Nguyên, thì cho là chính thống. Nhà nào, một là làm tôi cướp ngôi vua, là sự thoán đạt không thành, hai là xưng đế, xưng vương ở chỗ rừng núi, hay là ở đất biên địa, ba là những người ngoại chủng vào chiến nước làm vua thì cũng cho là ngụy triều”.[12]
 
Như vậy, nhà Tây Sơn được xem là kẻ ở rừng núi, ở biên địa, là ngoại chủng vào cướp nước làm vua nên sử nhà Nguyễn đã gọi là Ngụy Tây Sơn.

Thế nào là chính thống và thế nào là ngụy triều? Và ai là kẻ có thẩm quyền đứng ra để bảo rằng triều đại này là chính thống và triều đại kia là ngụy triều là không chính thống? Và có cái gì để bảo chứng rằng những người được sinh ra từ giới thống trị, sanh ra ở vùng trung nguyên là hơn kẻ sanh ra ở vùng biên địa hay thôn dã quê mùa?

“Sự sanh trưởng không làm cho con người được liệt vào giai cấp Bà la môn hay bị loại ra khỏi giai cấp này.      

Chính nếp sống hàng ngày tạo ra người nông dânthương gia hay nô bộc.

Nếp sống hàng ngày tạo ra hạng trộm cắp, binh sĩ, tu sĩ hay vua chúa.

Và thông điệp này cứ được nhắc đi nhắc lại mãi trong giáo Pháp của Đức Phật:

“Là cung đình không phải do sanh trưởng là Bà la môn không phải do sanh trưởng do hành động, người này là cung đình do hành động người này là Bà la môn (Sutta Nipàta –Vasalasutta).

Từ lời khẳng định này của Phật giáo ta mới thấy rằng cái gọi là chính thống cũng như không chính thống, gọi là ngụy triều hay chính triều chỉ là trò bày đặt của giai cấp thống trị mà thôi chứ chẳng có bất cứ một giá trị đích thực nào cả.

Vậy bây giờ ta thử xem Thiền sư Toàn Nhật đã phải làm gì để đập tan cái lý luận bất công này mà hỗ trợ cho cuộc cách mạng Tây Sơn? Những người được sanh ra từ nơi thôn dã quê mùa?

Tác giả Lê Mạnh Thát viết: “Thế thì Hứa sử truyện vãn có thể được Toàn Nhật “san bổ” trước những năm 1798. Phải chăng nó ra đời nhằm đáp ứng những yêu cầu lý luận chính trị phục vụ cho sự nghiệp xưng đế và chống ngoại xâm của Quang Trung?

Với lý thuyết chống tôn quân, phải chăng nó đã gián tiếp biện minh cho việc Quang Trung xưng đế không thừa nhận quyền uy chính thống của Vua Lê? Thậm chí, nếu “Vãn Hứa sử”, tiền thân của Hứa sử truyện vãn lưu hành trước Toàn Nhật đã có nội dung chống tôn quân khi Hứa sử truyện vãn, thế phải chăng tiền thân ấy đã cung ứng phần nào lý luận cho việc lên ngôi của Nguyễn Nhạc, chứ không phải chỉ đợi đến Quang Trung?”

Cũng theo giáo sư Lê Mạnh Thát thì Hứa sử truyện vãn, ngoài những vấn đề về tư tưởng Phật giáo ra, thì nổi bật nhất có ba chủ đề chính, nhưng giáo sư cho rằng luận đề thứ nhất mới là luận đề quan trọng nhất vì nó đã “tiến công đập tan chủ nghĩa tôn quân chuyên chế và cực đoan, phá vỡ cái trật tự phong kiến quân – sư – phụ hàng ngàn năm đè nặng lên đầu lên cổ nhân dân. Đó là thầy quan trọng hơn cả vua và cha mẹ. Dưới hình thứclời phán của Diêm vươngHứa sử truyện vãn đã nêu câu hỏi:

Tội ai bằng Hoàng Tử Anh
Giết cha rồi lại tung hoành hung hăng
Xét mình nghịch ác chẳng an
Quy y niệm Phật ba đàng thoát qua. 
Xà vương giết hại vua cha
Quy y niệm Phật đặng tha tội đày
Có một sự tội phụ thầy
Phật không cứu đặng, ta rầy khó bênh
 
Hứa sử đứng lên xin hỏi:
 
Thế thì thực sự thầy quan trọng hơn vua và cha mẹ sao?
 
Và như quân phụ sư ân
Trong đời đạo thiệt bằng cân cao dày
Làm tôi buông thói thẳng ngay
Làm con không thảo giết đày vua cha
Lẽ thời tội ấy không tha. 
Quy y sao lại thoát ra tội dày
Đệ tử nếu phụ ân thầy
Phật không cứu đặng, lịnh này chẳng tha
Vậy thời thầy hơn vua cha
Tôi nghe lẽ ấy lòng mà chưa thông.

Để trả lời câu hỏi của Hứa sử, một lần nữa dưới hình thức lời phán của Diêm vươngHứa sử truyện vãn đã đưa ra lý lẽ sau:

Trong đời muôn việc không thầy
Thế gian thường nói đố mày làm nên
Tớ đương nghĩa trả ơn đền
Nếu mà phụ bạc tội dường hằng sa
Tớ thầy, tôi chúa, con cha
Trong đời ba ấy rất là trọng thay
Sanh con bằng chẳng có thầy
Lấy ai giáo hóa cho rầy nên thân
Chẳng noi đạo đức nghĩa nhân
Làm đường nghịch ác vong thân làm gì
Ví như tẩu nhục hành thi
Làm chi nên chuyện kể thì là con
Cho hay khắc chấn gia môn
Chói danh hai họ tiếng đồn muôn thu
Cũng là tiết nghĩa phò vua
Trạc dân trí chúa cơ đồ đặng yên
Vua cùng cha mẹ rõ ràng
Các điều thành tựu nhờ ơn có thầy.

Rõ ràng xuất phát từ quan điểm dân chủ tự phát của nhân dân, Toàn Nhật đã tiếp thu những yếu tố dân chủ tự phát đó và triển khai chúng thành một lý tưởng dân chủ có cơ sở lý luận, tiến công trực diện vào lập trường tôn quân chuyên chế và cực đoan do các thế lực phong kiến suy tàn cố dựng lên.

Có thể nói, đây là lần đầu tiên và có lẽ duy nhất trong lịch sử chế độ phong kiến nước ta, một tác phẩm văn họcdám nêu lên một lý thuyết dân chủ, dám thẳng thừng tuyên bố không úp mở: “Vậy thời thầy hơn vua, cha”. Vua là thiên tử, là con trời: “Khắp dưới gầm trời, không đâu không là đất của vua, dân ở khắp đất không ai không là bề tôi của vua”Tuyên ngôn phong kiến đã dõng dạc xác định quyền uy tối thượng và bất khả xâm phạm của thiên tử là thế, của vua là thế.

Cho nên, nói rằng có một lớp người nào đó hơn cả vua nữa là phạm thượng, là xúc phạm đến chính cốt lõi, đến chính điểm huyệt sống chết của vấn đềcần phải loại trừ không chút khoan nhượng, Toàn Nhật đã mạnh mẽ lên tiếng minh định cái trật tự phong kiến quân – sư – phụ bất di bất dịch có thể bị đả đảo, để sư quan trọng, thiết yếu hơn quân và phụ, bởi vì:

Trong đời muôn việc không thầy
Thế gian thường nói đố mày làm nên.

Và tiếng nói đả đảo đó không phải xuất phát từ những truyền thống tư tưởng ngoại lai, từ lý thuyết Khổng Mạnh. Trái lại, nó nổi lên từ kho tàng trí tuệ tích luỹ những kinh nghiệm và nhận thức của dân tộc và nhân dân.

Trên cơ sở nhận thức “Không thầy đố mày làm nên”, với nội dung tất yếu giới hạn của nó, Toàn Nhật đã phát triển thành một luận đề bẽ gãy cái trật tự quân – sư – phụ, để đẩy lùi cái bóng ma gian ác của trật tự ấy, mà vào thời Toàn Nhật đã trở thành rữa nát và cực kỳ phản động, đang cản trỡ bước tiến của dân tộc, phủ lên cuộc sống của nhân dân một màn đau thương thống khổ.

Hãy tưởng tượng lại cái thời kỳ mà vua chúa còn hoàn toàn nắm trong tay quyền sinh sát đối với mọi ngườidân, và khi mọi người mặc nhiên nhìn nhận sự kiện ấy như một tất yếu không phải bàn cãi, ta mới thấy hết tính vĩ đại hùng tráng của một tiếng nói Toàn Nhật.

Cũng hãy tưởng tượng lại cái thời kỳ khi ý thức hệ và nền giáo dục chính thống chỉ tập trung nhồi sọ cho người ta cái chủ thuyết tôn quân cực đoan, ta mới thấy hết bản lĩnh dám nghĩ dám làm của dân tộc ta, thể hiện qua những con người như Toàn Nhật. Mà Toàn Nhật có được cái tầm vóc tư tưởng vĩ đại ấy, có được cái bản lĩnh dám nghĩ dám làm ấy, đó là ông đã biết bám vào nhân dân, lấy cuộc sống, kinh nghiệmnhận thức và tình cảm của dân tộc, của nhân dân là chủ để thể hiện của mình, mà giải quyết những vấn đề do thời đại đặt ra.

Ông đã tập tan cái trật tự phong kiến quân – sư – phụ hàng ngàn năm đè nặng lên ý thức của nhân dân, không bằng những viện dẫn từ sách vở ngoại laitrái lại bằng chính những tri thứckinh nghiệm và tình cảm của dân tộc, của nhân dân kết tinh trong những câu ca dao tục ngữDựa vào và khai thác một cách có chọn lọc kho tàng quý giá vô tận ấy, Toàn Nhật đã làm nổi bật thêm cái chân lý sáng ngời là đứng trong hàng ngũ nhân dân, người ta càng trở nên to lớn theo kích thước vĩ đại của nhân dân trong lịch sử, càng trở nên tin tường vào trí tuệ tuyệt vời, vào tình cảm trong sáng và vào sức mạnh vô địch của họ”.

(…) Do thế, tư tưởng dân chủ của Toàn Nhật là một điểm son trong lịch sử tư tưởng Việt Nam. Lần đầu tiên nhân dân ta dám công khai nghĩ tới và tuyên bố rằng vua không phải là vị tối thượng của nước, có quyền uytuyệt đối với mọi người.[13]

Nếu đã gần hai thế kỷ qua, những người làm công tác nghiên cứu văn học ở nước ta đã “không một lần tên Toàn Nhật được nhắc tới, không bất kỳ một dòng nào dành cho tác phẩm của ông” thì những lời đánh giá trên của giáo sư Lê Mạnh Thát theo tôi, là đã đủ để chuộc lại phần nào lỗi lầm của chúng ta, những thế hệ sau đối với Toàn Nhật vậy.

Nhưng nếu quả đúng là Toàn Nhật viết Hứa sử truyện vãn là để “nhằm đáp ứng những yêu cầu lý luận chính trị phục vụ cho sự nghiệp xưng đế và chống ngoại xâm của Quang  Trung? Với lý thuyết chống tôn quân, phải chăng nó đã gián tiếp biện minh cho việc Quang Trung xưng đế và không cần thừa nhận quyền uy của vua Lê” như sự nhận định của tác giả Toàn Nhật Quang Đài thì theo tôi không chỉ những người Phật tử Việt Nam hiện tại mà cả mai sau nữa, phải học lấy bài học mà Toàn Nhật, với tư cách là một thiền sư đã ủng hộ cuộc cách mạng Tây Sơn như thế nào? Nghĩa là Toàn Nhật không hề xưng tụng hay tôn sùng cá nhân của Thái Đức Nguyễn Nhạc hay Quang Trung Nguyễn Huệ mà Toàn Nhật chỉ ủng hộ chính sách đúng đắn  có lợi cho dân cho nước mà cuộc cách mạng Tây Sơn đã đề ra mà thôi.

Khi một cá nhân hay một tổ chức chính trị nào đó đề ra được một chính sách phù hợp với lòng dân thì nhất địnhcá nhân ấy, tổ chức ấy đương nhiên xứng đáng đứng ra đại diện cho đất nước chứ không nhất định là họ đã được sanh ra từ giai cấp nào, họ đang ở trung nguyên hay nơi quê mùa thôn dã.

Trong bối cảnh chính trị và xã hội vào thời của Toàn Nhật ở nửa cuối thế kỷ 18 thì người đó nhất định không phải là Lê Chiêu Thống, mặc dù ông này được xem là “chính thống” theo quan điểm của cái gọi là “quốc sử” của mốt số nhà sử học nước ta cũng như của Trung Quốc, mà người có đủ điều kiện đứng ra đại diện cho đất nước lúc đó đương nhiên là Quang Trung Nguyễn Huệ, dù Nguyễn Huệ không phải “chính thống” cũng như không sanh ra ở Trung nguyên mà lại sanh ra tại một nơi xa xôi hẻo lánh ở tận nơi núi rừng Tây Sơn.

Nhưng con người được sinh ra tại nơi quê mùa ấy lại được một sử gia viết là: “… còn như Nguyễn Huệ là vua Thấi tổ của nhà Nguyễn Tây Sơn, thì trước giúp anh bốn lần vào đánh đất Gia Định đều được toàn thắng, phá hai vạn quân hùm beo của Xiêm La, chỉ còn được mấy trăm người lủi thủi chạy về nước; sau lại ra Bắc Hà, dứt họ Trịnh, tôn vua Lê, đem lại mối cương thường cho rõ ràng. Ấy là có đủ sức mạnh mà lại biết làm việc nghĩa.

Nhưng vì nhà Lê nhu nhược, triều thần lúc bấy giờ không ai có tài kinh luân, lại để cho Trịnh Bồng và Nguyễn Hữu Chỉnh nối nhau mà chuyên quyền cho đến nỗi thành ra tán loạn. Dẫu thế măc lòng, khi Nguyễn Huệ giết Vũ Văn Nhậm rồi, không nỡ dứt nhà Lê, đặt giám quốc để giữ tông miếu tiền triều; như thế thì cách ở với nhà Lê không lấy gì làm bạc.

Sau vua Lê Chiêu Thống và Hoàng Thái Hậu đi sang kêu cứu bên Tàu, vua nhà Thanh nhân dịp ấy mượng tiếng cứu nhà Lê, để lấy nước Nam, bèn sai binh tướng sang giữ thành Thăng Long. Bấy giờ cứ theo mật dụ của vua nhà Thanh, thì nước Nam ta, bề ngoài tuy chưa mất hẳn, nhưng kỳ thật đã vào tay người Tàu rồi.

Vậy nước mất, thì phải lấy nước lại, ông Nguyễn Huệ mới lên ngôi Hoàng đế, truyền hịch đi các nơi, đường đường chính chính đem quân ra đánh một trận phá 20 vạn quân Tàu, tướng nhà Thanh là Tôn Sĩ Nghị phải bỏ cá ấn tín mà chạy, làm cho vua tôi nước Tàu khiếp sợ, tướng nhà Thanh phải thất đảm. Tưởng từ xưa đến naynước ta chưa có võ công nào lẫm liệt như vậy.

Và đánh đuổi người Tàu đi rồi lấy nước lại mà làm vua thì có điều gì mà trái đạo? Vậy lẽ gì mà gọi là nguỵ triều?”[14]

Nhưng Toàn Nhật biết rằng triều đại nào rồi cũng sẽ qua đi, kể cả những triều đại được ca tụng nhất trong lịch sử của loài người xua nay:

Lợi danh tợ bọt nước xao
Hán Đường Triệu Tống thì nào thấy đâu?
(Xuất gia vãn)

Triều đại Tây Sơn dù được ca ngợi là “Bách chiến bách thắng” là “vô địch” thì cũng chỉ tồn không đầy nữa thế kỷ, nghĩa là không triều đại nào là “muôn năm” hết.

Bởi vậy, là một tư tưởng gia của Phật giáo, nên Toàn Nhật ý thức được rằng con đường đi của Phật giáo là: “Phật giáo Việt Nam không gắn bó tuyệt đối với triều đại nào, dù triều đại đó do Phật giáo dựng lên hay lãnh đạoPhật giáo chỉ gắn bó và trung thành với quyền lợi dân tộc, quyền lợi của dân chúng mà thôi”.[15]

Chính đó là lý do vì sao Toàn Nhật ủng hộ cho cuộc cách mạng Tây Sơn mà không hề ca tụng bất cứ một cá nhân nào trong phong trào ấy, dù đó là cá nhân của Nguyễn Nhạc hay Nguyễn Huệ.

Dù không trực tiếp nhắc gì đến cuộc cách mạng Pháp 1789, nhưng khi đề cập đến tiểu luận Sa di oai nghi tăng chú giảo ngụy tự tiểu thiên của Toàn Nhật, Lê Mạnh Thát có viết rằng:

“Phải chăng nó đáp ứng lại xu thế chung của lịch sử thế giới thời bây giờ, thể hiện một xu thế đi tìm ánh sáng, đi tìm chân lýdựa trên khả năng hiểu biết và tìm kiếm của con người, chứ không còn tin tưởng một cách mù quáng vào những gì do truyền thống hay những quyền uy khác truyền lại”.[16]

Từ những nhận định trên của tác giả Toàn Nhật Quang Đài, ta thử làm một chút so sánh thì sẽ thấy có một sự trùng hợp lạ lùng giữa cuộc cách mạng Pháp 1789 và tình hình chính trị cũng như xã hội ở nước ta vào nửa cuối thế kỷ 18.

Nếu các vua Louis 14 và 15 đã giam hãm xã hội Pháp trong 4 vách tường đến vua Louis 16 thì người dân của nước Pháp không thể nào chịu đựng sự giam hãm và kiềm kẹp này được nữa, nên vào ngày 14 tháng 7 năm 1789 đã đồng loạt kéo đến đập phá tan tành nhà ngục Bastille, nhà ngục này trong nhiều thế kỷ đã là nơi giam giữ những người yêu nước dám lên tiếng chống đối chế độ, và là tiêu biểu cho chính sách chuyên chế và hà khắc của chế độ phong kiến Pháp.

Cũng xấp xỉ vào khoảng thời gian đó, Lê Mạnh Thát viết:

“… Nước ta vào thời Toàn Nhật cũng đang đứng trước một tình thế hết sức hiểm nguy. Bên trong thì các thế lực phong kiến phản động đang suy tàn cấu xé tiêu diệt lẫn nhau một cách tàn nhẫn trên thống khổ tuyệt vọng của nhân dân. Bên ngoài thì các thế lực ngoại bang đang lăm le và thực sư lợi dụng tình hình đó của dân tộc để thực hiện những mưu đồ xâm lược nham hiểm của chúng. Chính trong tình thế đó của đất nước, mà hàng ngày đã xảy ra những cảnh:

Non chen ngù  giáo đỏ cây
Mác hoa đường tuyết, tên bay mát trời
Thảm thương chật đất phơi thây
Đỏ hoe máu rắc đòi nơi dầm dề.
(…) 
Chúng dân lìa bỏ xóm giềng
Chằm non trốn núp của tiền đoái chi
Mắc cơn lửa dữ một kỳ
Đá kia ngọc nọ đều thì cháy leo
(Hứa sử truyện vãn)

Xảy ra nhan nhản khắp nơi. Nếu không có một cuộc khởi nghĩa nông dân vĩ đại dưới sự lãnh đạo thiên tài của Nguyễn Huệ bùng nổ, thì đất nước tưởng chừng như không còn có cơ sống sót. Nhưng làm sao một sự việc như thế có thể quan niệm được, khi mà những người như Toàn Nhật xuất thân từ nhân dân đã nêu cao ngọn cờ chủ nghĩa nhân đạo chiến đấu, đã nêu cao lý tưởng đạo đức lao động, kiên quyết đứng về phía những người bị áp bức, nói lên tâm tình và nguyện vọng giải phóng của họ. Do thế, sẽ không có gì đáng ngạc nhiênkhi cuộc khởi nghĩa Tây Sơn sau khi giành chính quyền trong cả nước về tay nông dân, đã cùng một lúc đánh bại được hai thế lực phong kiến phản động trong nước và phong kiến ngoại bang xâm lược, tạo nên một khí thế hào hùng, đưa dân tộc lên một đỉnh cao của thời đại mới”.[17]

Nhưng đằng sau bất cứ một cuộc cách mạng nào cũng đều được dưỡng bồi bởi một sức mạnh tư tưởng trầm lặng nào đó. Nếu đỉnh cao của cuộc cách mạng Pháp là việc nhân dân nổi dậy phá ngục Bastille vào năm 1789 thì trước đó người dân cũng đã thấm nhuần những tư tưởng về tự do, về dân chủ và nhân quyền của các tư tưởng gia  như Voltare, Rousseau, Montesquieu…Cùng thế, đỉnh cao của cuộc cách mạng Tây Sơn là cuộc đánh bại đoàn quân xâm lược khổng lồ của phong kiến phương Bắc cũng vào năm 1789 cũng không ra ngoài thông lệ đó, nghĩa là cũng được nuôi dưỡng bởi một sức mạnh tư tưởng trầm lặng từ truyền thống của dân tộc Việt:

“Trong vòng hơn 300 năm trở lại đây, Cư Trần lạc đạo Phú và Đắc thú lâm truyền thành đạo ca đã được in lại nhiều lần. Điều này chứng tỏ tư tưởng Cư Trần lạc đạo vẫn tiếp tục được học tập và truyền bá dù Phật giáocũng như đất nước đang chuyển mình qua một giai đoạn mới. Giá trị lý luận của Cư Trần lạc đạo từ đó vẫn còn có sức hấp dẫn mạnh mẽ, đặc biệt là vào cuối thế kỷ 18 với những chiến công Ngọc Hồi, Đống Đa oanh liệt của quân và dân Tây Sơn. Trong đó nổi bật những khuôn mặt Phật tử nhận mình là người kế thừa truyền thốngTrúc Lâm như binh bộ Thượng thư Tỉnh Phái Hầu Ngô Thời Nhiệm là Hải Lượng Thiền sư, Hương Lĩnh Bá tiến sĩ Nguyễn Đăng Sĩ là Thiền sư Hải Âu…”[18].

Lời dặn dò sau đây của Quang Trung Nguyễn Huệ với Ngô Thời Nhiệm dưới chân núi Tam Điệp càng chứng tỏsự nhận định trên của giáo sư Lê Mạnh Thát là hoàn toàn có cơ sở:

“Vua Quang Trung cuời mà nói rằng: “Chúng nó sang phen này là mua cái chết đó thôi. Ta ra Bắc chuyến này đích thân coi việc quân đánh giữ, đã định mẹo rồi, đuổi quân Tàu về chẳng qua 10 ngày là xong việc. Nhưng chỉ nghĩ chúng là nước lớn gấp 10 lần nước ta, sau khi chúng thua một trận rồi, tất chúng lấy làm&nbs