Close

Trần Nhân Tông Library

Nghiên cứu thực tế

ĐẮC THÚ LÂM TUYỀN THÀNH ĐẠO CA

“Đắc Thú Lâm Tuyền Thành Đạo Ca” là bài ca thành đạo của Sơ Tổ Trúc Lâm, khi Ngài xuất gia tu trên núi rừng, được niềm vui đạt đạo.

 

 

Bài này với tư cách người xuất gia đạt đạo, Ngài khuyên dạy hàng tu sĩ hãy nuôi ý chí xuất trần, nỗ lực tu hành để đạt được kết quả mỹ mãn. Sau khi tự lợi cho mình rồi, kế đến phải nghĩ đến chúng sanh, vì lợi ích của muôn loài mà truyền bá chánh pháp. Đó là công đức và lợi ích lớn lao của hàng xuất gia. Vì thế vua Trần Nhân Tông đã bỏ ngôi vị đế vương, xuất gia vì lợi ích của mình và chúng sanh.


Nguyên bài ca thế này:

Sinh có nhân thân,

Ấy là họa cả;

Ai hay cốc được,

Mới ốc là đã.

Tuần này mà ngẫm,

Ta lại xá ta;

Đắc ý cong lòng,

Cười riêng ha hả.

Công danh chẳng trọng,

Phú quý chẳng màng;

Tần Hán xưa kia,

Xem đà nhàn hạ.

Yên bề phận khó,

Kiếm chốn dưỡng thân;

Khuất tịch non cao,

Náu mình sơn dã.

Vượn mừng hủ hỷ,

Làm bạn cùng ta;

Vắng vẻ ngàn kia,

Thân lòng hỷ xả.

Thanh nhàn vô sự,

Quét tước đài hoa;

Thờ phụng Bụt trời,

Đêm ngày hương hỏa.

Tụng kinh niệm Bụt,

Chúc thánh khẩn cầu;

Tam hữu tứ ân,

Ta nguyền được bả.

Niềm lòng vằng vặc,

Giác tính quang quang;

Chẳng còn bỉ thử,

Tranh nhân chấp ngã.

Trần duyên rũ hết,

Thị phi chẳng hề;

Rèn một tấm lòng,

Đêm ngày đon đả.

Ngồi cong trần thế,

Chẳng quản sự thay;

Vắng vẳng ngàn kia,

Dầu lòng dong thả.

Học đòi chư Phật,

Cho được viên thành;

Xướng khúc vô sinh,

An thiền tiêu sá (sái).

Ai ai xá cốc,

Bằng huyễn chiêm bao;

Xẩy tỉnh giấc hòe,

Châu rơi lã chã.

Cốc hay thân huyễn,

Chẳng khác phù vân;

Vạn sự giai không,

Tựa dường bọt bể.

Đem mình náu tới,

Cảnh vắng ngàn kia;

Dốc chí tu hành,

Giấy sồi vó vá.

Lành người chăng chớ,

Dữ người chăng hay;

Ngậm miệng đắp tai,

Hề chi họa cả.

An thân lập mệnh,

Thời tiết nhân duyên;

Cắt thịt phân cho,

Dầu là chim cá.

Thân này chẳng quản,

Bữa đói bữa no;

Địa thủy hỏa phong,

Dầu là biến hóa.

Pháp thân thường trụ,

Phổ mãn thái hư;

Hiển hách mục tiền,

Viên dung lõa lõa.

Thiền tông chỉ thị,

Mục kích đạo tồn;

Không cốc truyền thanh,

Âm hưởng ứng dã.

Phô người học đạo,

Vô số nhiều thay;

Trúc hóa nên rồng,

Một hai là họa.

Bởi lòng vờ vịt,

Trỏ Bắc làm Nam;

Nhất chỉ đầu thiền,

Sát na hết cả.




Kệ rằng :

Cảnh tịch an cư tự tại tâm,

Lương phong xuy đệ nhập tùng âm.

Thiền sàng thụ hạ nhất kinh quyển,

Lưỡng tự thanh nhàn thắng vạn câm (kim).


Dịch:

Cảnh vắng ở yên lòng thong dong,

Gió lành thổi lộng giữa bóng tùng.

Giường thiền dưới gốc, kinh một cuốn,

Thanh nhàn hai chữ quá muôn đồng.

_______________

thientongvietnam.net

BÀI HỌC TỪ TỔ SƯ PHÁP LOA

I. MỘT VỊ THIỀN SƯ, CHÚNG TA HỌC HỎI NHƯ THẾ NÀO?

 

Nếu dòng Thiền Tào Khê ra đời từ Lục Tổ Huệ Năng vốn là một vị tiều phu không chữ, mạch nguồn này được phát huy khiến cho nhiều người biết đến dưới thời một đệ tử tài ba linh lợi là Thần Hội Đại Sư; thì Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử Việt Nam do một vị Vua anh minh, xuất gia tu hành giác ngộ sáng lập nên, rồi được củng cố, hoàn bị và phát triển mạnh mẽ dưới thời một đệ tử nối pháp là Thiền sư Pháp Loa, vốn xuất thân từ một thanh niên dân dã, ít học. Đây là điểm đặc biệt, hàm chứa một ý nghĩa vô cùng độc đáo và sâu sắc của thiền phong. Tâm mình còn chút tình mê, chưa rời tình thức; còn kẹt hai bên, chưa suốt thông đại đạo, chưa tỏ ngộ tự tâm thì khó bề thấu tột.

 

Nếu đã suốt thông thì không còn nói đến việc học. Còn chưa thông suốt thì học cũng không thể đến được chỗ tột cùng này. Vậy phải học hỏi Tổ sư Pháp Loa như thế nào? Không thể tìm hiểu nghĩa lý trên ngôn ngữ hay hành động mà cho là đã học được. Nhưng nếu khéo học, cũng ngay một câu, một chữ hay bất kỳ hành động nào cũng có thể bất ngờ nhận ra. Mới hay, mười phương chư Phật, nhiều đời Tổ sư chưa rời trước mắt. Thật cảm kích và sống động khi học về một Thiền sư!

 

 

II. BÀI HỌC TỪ TỔ SƯ PHÁP LOA:

 

1. Không thích ăn thịt cá, không nói lời ác:

 

Nếu là người từng ăn chay vào những ngày Rằm hay mùng Một đã nhiều năm thành thói quen. Tình cờ sáng Rằm nào đó bận việc, bị quên và nhỡ ăn chút đồ mặn. Lát sau nhớ ra thì lòng cảm thấy hổ thẹn, đi lấy nước súc miệng và tiếp tục ăn chay vào các bữa sau đó. Hoặc có vị phát tâm ăn trường chay hơn một năm, sau đó nghe mùi cá thịt thì bị buồn nôn, không chịu được. Hay khi còn ăn cá thịt thì cắt cổ nhổ lông súc vật cảm thấy cũng thường. Nhưng người ăn chay được thời gian rồi, thình lình thấy ai cắt cổ gà vịt thì trong lòng cảm thấy rợn người, khó chịu. Đó là những dấu hiệu cho thấy thiện pháp đã phát sinh trong người ăn chay, khi thấy pháp ác thì không chấp nhận được.

 

Tổ Pháp Loa khi mới sinh ra thiên tư đã đĩnh ngộ, không thích ăn cá thịt, không nói lời ác. Mới thấy được căn lành của Ngài thật sâu dày do nhiều kiếp đã được huân tu. Chúng ta muốn có được căn lành như Tổ thì ngay từ bây giờ phải sống tốt, siêng năng tu hành các thiện pháp, thiền định chuyên tâm. Nhiều kiếp hay một đời đều do chính mình tự làm, tự tu tạo, không ai làm thế cho mình được. Nếu kiếp trước chưa làm thì đời này chúng ta bắt đầu làm.

 

2. Tích cực làm nhiều Phật sự:

 

Năm 24 tuổi Ngài đã ngộ đạo, được truyền y bát và tâm kệ, kế thế Tổ vị thứ hai của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Đến 25 tuổi Ngài lãnh đạo Giáo Hội, làm chủ Sơn môn Yên Tử. Trong khoảng 20 năm, Ngài đã làm được rất nhiều Phật sự. Độ Tăng Ni hơn 15.000 người. Phật tử được độ thì không thể đếm hết. Khắc bản, in Đại Tạng Kinh. Xây chùa, đắp tượng… Với chân lý siêu việt của thiền thì Ngài đã ngộ được. Với công việc hiện đời thì Ngài đã tùy duyên làm nên nhiều Phật sự vĩ đại. Lý sự viên dung. Đúng với câu Thiền sư Qui Sơn Linh Hựu đã dạy: “Thật tế lý địa bất thọ nhất trần. Vạn hạnh môn trung bất xả nhất pháp.” Không dính mắc nhưng không phải ở không. Làm rất nhiều mà không phải dính mắc. Điều này chúng ta thấy rõ qua công hạnh tu khổ hạnh của Ngài. Nhà vua tặng thuyền để đi lại mà Ngài không nhận. Số tịnh tài tịnh vật quyên cúng quá nhiều thì Ngài giảm bớt. Nếu chỉ tìm hiểu trên những nghĩa lý này thì khó học hết được công hạnh “lý sự dung thông” này của Tổ. Học đòi cạn cợt theo bên ngoài thì dù nhiều hay ít, ai cũng có phần. Nhưng để học đến được chỗ cốt tủy của Ngài thì không phải dễ dàng như mọi người vẫn nghĩ. Thử hỏi, Tổ Pháp Loa có tâm mà làm hay không tâm để làm các Phật sự? Nếu có tâm thì còn tạo tác, rơi vào sanh diệt, không được gọi là Tổ. Nếu không tâm, tâm không sanh khởi thì lấy gì để làm? Hãy nói, Tổ Đạt Ma đến Thiếu Thất ngồi xoay mặt vào vách mấy năm? Cứ mở sách ra tìm đọc lại lịch sử hay nhớ nghĩ những gì đã học được để trả lời thì Tổ đã về Tây mất rồi! Hiện nay, ai là người thấy được? Hãy chính chắn ngẫm nghĩ cho thật kỹ. Coi chừng lầm!

 

3. Tính kế thừa và phát triển:

 

Nhắc đến Thiền sư Pháp Loa là nhớ đến công hạnh kế thừa, làm cho Tổ đạo được hưng thạnh. Thiền phái Trúc Lâm Yên tử dưới thời Tổ Pháp Loa được phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Cụ thể Tổ đã biên tập và giảng giải Ngữ Lục, khắc bản Kinh tạng, định chức và lập sổ bộ cho Tăng đồ, độ nhiều người xuất gia và tại gia… làm cho dòng thiền Việt Nam lúc bấy giờ phát triển tột đỉnh.

 

Như vậy, chúng ta học tinh thần kế thừa và phát triển của Thiền sư Pháp Loa như thế nào? Có phải làm theo giống như những gì Tổ đã làm như vừa kể trên hay không? Nếu như thế thì chỉ mới đi theo, chưa biết cách học cho nên không thể học được đúng với những gì Tổ sư đã làm.

 

Ở thế gian, nếu chúng ta học theo đuôi một vấn đề gì thì chỉ được gọi là bắt chước, học lóm, không nắm hết vấn đề, không thể sáng tạo. Cách học này không mang lại hiệu quả tốt nhất. Nếu người biết cách rèn trí thì sẽ khác. Mọi thứ trên đời đều từ trí tuệ con người mà hình thành, có ra. Căn cứ trên trí tuệ làm căn bản, những gì đã có chúng ta kế thừa, phát huy và làm tốt hơn, đó là tái tạo; những gì chưa có, nhờ vào trí tuệ chúng ta sẽ làm mới, sáng tạo. Tái tạo và sáng tạo là dựa trên nền tảng của trí tuệ để phát huy chứ không phải học theo, nô lệ kiến thức. Đó là người biết cách học, biết kế thừa và phát huy.

 

Tính kế thừa và phát huy ở Tổ Pháp Loa cũng tương tự. Chúng ta phải nhận ra rằng, tất cả những việc làm Phật sự của Ngài đều dựa trên trí giác Tổ đã đạt được. Trên cơ sở trí giác đó, Tổ tùy thuận vào những gì hiện tại cần làm để đưa mọi người trở về nhận ra và sống được bằng trí giác, để được hết khổ, an vui. Đó là tính kế thừa và phát huy Tổ đạo của Thiền sư Pháp Loa. Đây cũng chính là tinh thần Tổ Bá Trượng đã chỉ dạy: “Thấy bằng thầy kém thầy nửa đức. Trí vượt hơn thầy mới kham truyền trao.” Trí gì vượt hơn chỗ thấy nào? Đã về trong tuệ giác chân thật kia, vốn tự không sai khác, không có hơn và kém. Phải thấu tột được tuệ giác để có cái nhìn, có cơ sống suốt qua hình thức ngôn ngữ chỉ dạy của vị thầy, nhận chân và sống được với điều cốt lõi chính yếu của vị thầy muốn chỉ dạy, mới kham nhận lãnh và gánh vác việc của Thầy Tổ.

 

Từ trí giác làm căn bản, nhận biết nên làm gì để đưa mọi người trở về với trí giác mà mình đã cảm nhận được, cho người người đều được lạc an. Tính kế thừa và phát huy đúng nghĩa này không có nghĩa là thiếu vắng trí tuệ, nhất nhất phải rập khuôn. Như thế mới biết cách học tính kế thừa của Tổ.

 

4. Bài học về cội nguồn trí tuệ chân thật của một con người:

 

Thiền phái Trúc Lâm do Phật Hoàng Trần Nhân tông sáng lập. Dưới đức Sơ Tổ Trúc Lâm có hai đệ tử được truyền thừa kế thế Tổ vị. Một vị dân dã ít học là Thiền sư Pháp Loa. Một vị học thức uyên thâm, thi đỗ tiến sĩ, làm quan, xuất gia tu hành và sau này được Tổ Pháp Loa trao truyền Tổ vị là Thiền sư Huyền Quang. Hai Ngài xuất thân khác nhau và cùng làm Tổ, làm sao hiểu đây? Là người thành tựu trong đạo thì phải học nhiều hay ít học?

 

Hiện nay ở đời có nhiều người không đủ điều kiện để học Đại học, nhưng quý vị vẫn làm được nhiều việc thành công. Có không ít vị có học vị cao, nhưng lại không làm nên câu chuyện gì trong đời. Trên thực tế đó, nhiều người đã tự đặt ra cho mình suy nghĩ: “Có nhất thiết phải học Đại học hay không?” Đây là mệnh đề chưa có kết luận cuối cùng, nhưng cũng không thể bỏ qua.

 

“Nếu là một giáo sư có điều kiện, quý vị có cho con mình học Đại học hay không?” Rất nhiều người đồng chung một quan điểm: “Cứ cho học rồi hãy tính sau.” Đi rồi tính sau là người không rành rẽ lối đi, đi trong khủng hoảng. Học rồi tính sau là học mà không có định hướng, rồi sẽ thành gì? Nếu giả sử cứ cho việc học Đại học là đúng thì trong xã hội vẫn tồn tại một số người không cần học Đại học mà vẫn thành đạt. Vì thế, mệnh đề phải học Đại học là chưa thỏa mãn, chưa đủ lớn để trở thành một vấn đề chung cho tất cả mọi người. Có học là chưa thỏa mãn. Vậy không học thì sao?

 

Ông Thần Đèn không học, nhưng có khả năng di dời nhà cửa một cách phi thường. Mọi người không cấm, nhưng khuyên ông nên học thêm ngành kiến trúc để bổ túc cho việc làm của mình được tốt hơn. Khi học hiểu rồi, ông ta nhận ra việc làm trước kia của mình là quá mạo hiểm, không dám tiếp tục làm theo cách cũ nữa.

 

Có học chưa chắc đã làm nên việc lớn; không học thì hành động trong sự thiếu hiểu biết, nguy hiểm vô cùng. Học cũng không được, không học cũng không xong. Vậy phải làm sao? Nếu chúng ta không có được trí tuệ đặc biệt hơn, cứ ở trong việc học cùng chẳng học để kiếm tìm thì không tài nào tìm ra được phương hướng.

 

Học là ghi nhớ và hiểu được vấn đề, đó chỉ mới là kiến thức. Sau đó tư duy, tiêu hóa vấn đề được hiểu để nhận ra một vấn đề nào đó, đó chỉ mới là nhận thức hay tri thức. Kiến thức và nhận thức nó vẫn còn nằm trong đầu, chưa làm nên đồng tiền bát gạo là đúng. Người không được học nhiều mà có năng khiếu làm được một số việc đặc biệt, đó là nhờ vào trí tuệ vận dụng thực tiễn. Nếu có trí này mà thiếu kiến thức và nhận thức thì việc làm chưa thấu đáo và trọn vẹn. Nếu có kiến thức và nhận thức mà thiếu đi trí tuệ vận dụng thực tiễn và khả năng thích nghi thì chỉ là con chữ mà không có khả năng và bản lĩnh để làm nên điều gì đáng kể. Vậy thì tại sao chúng ta không biết vận dụng ba loại trí tuệ này để làm thành một hướng đi? Nếu chỉ nghe như thế và học theo thì chưa thể làm được. Muốn làm được điều này thì phải có một nguồn trí tuệ tổng, siêu vượt trên ba loại trí tuệ vừa nêu trên.

 

Ghi nhớ là kiến thức. Tư duy để nhận ra là nhận thức, tri thức. Trí tuệ không phải như thế. Học một hằng đẳng thức, một phép toán là để có kiến thức giải toán. Hiểu một bài toán thì mới chỉ có được sự nhận biết để giải bài toán. Khéo vận dụng những điều đã được học hiểu để giải một bài toán, từ bài toán đó giúp cho trí mình phát triển thêm. Đó chỉ mới là tầm của học trò rèn được trí tuệ của thế gian, chưa có trí tuệ của một giáo sư ra toán. Muốn làm tốt điều này thì bắt buộc chúng ta phải có nguồn trí tổng vượt trên những tri thức của một học trò và giáo sư. Học hiểu ở cuộc đời còn khó như thế, huống nữa là học hỏi nơi một vị có trí tuệ siêu xuất vượt trên thế gian! Làm sao dám chủ quan bằng vào trí tuệ còn vọng động của mình để tìm hiểu một cách hời hợt rồi vội kết luận về một vị Tổ sư?

 

Khi cõi lòng yên lắng thì chúng ta an nhiên, thấy ra nhiều điều hơn là khi bận rộn. Hóa ra, khi tâm lặng thì trí tuệ sáng ra. Tâm lặng mà sáng, đó là trí tuệ Thiền. Trí Thiền là trí gốc, là trí tổng. Trở về với trí gốc này thì trí tuệ của mỗi người sẽ được phát huy đúng mức của nó. Trở về trí này thì đều sáng suốt bình đẳng như nhau cho nên người ngu kẻ trí đều được sáng suốt. Trí này không phải do học hiểu mà phải khéo nhận lại cho nên không nằm trong giới hạn của người trí kẻ ngu, có học hay không học. Tổ Pháp Loa có phát tích từ một dân dã ít học hay Tổ Huyền Quang vốn là một vị tiến sĩ uyên thâm, khi giác ngộ tự tâm, nhận chân nguồn trí chân thật này rồi thì việc học nhiều hay ít học trước kia hoàn toàn không dính dáng. Chỉ sợ mình không thành Phật, chứ không có vị Phật nào thiếu trí tuệ cả. Là người khéo học, phải trên cơ sở thấu hiểu để khéo tu tập, nhận lại nguồn trí của chính mình thì mới biết cách học thấu tột đến chỗ mà chư Phật và chư Tổ muốn chỉ.

 

Như khi chúng ta đang đọc bài này, mình thì có hiểu; nhưng trang giấy đang chứa đầy những chữ nghĩa kia, chính bản thân nó không hiểu biết gì. Bởi chúng ta có khả năng hiểu mà tờ giấy thì không có khả năng ấy. Có nghĩa, khi muốn hiểu những điều này, chúng ta đã có khả năng hiểu của mình trước. Khả năng ấy chính là nguồn trí, là trí gốc. Con người ta phần đông chỉ hiểu theo mọi thứ bên ngoài mà không nhận ra nguồn trí này cho nên bị con chữ và ý nghĩa bên ngoài che đậy nguồn sáng của trí tuệ gốc. Nếu chỉ dừng ngang việc học hiểu mà không biết vận dụng, phát huy; hệ quả sẽ cho chúng ta thấy những phát minh dùng được thường đến nhiều từ những nông dân bình thường mà ít thấy đến từ những người có học vị.

 

Nếu nhận ra trí gốc, chúng ta sẽ biết đối với ai, lúc nào nên dạy kiến thức, nhận thức và bao giờ thì có cách cho con người tự nhận ra trí tuệ vận dụng thực tiễn như thế nào. Được vậy thì việc học không những không có lỗi gì mà còn là một sự cần thiết.

 

5. Từ cách quy tịch của Tổ:

 

Năm Đại Khánh thứ 4 (1317), Ngài bệnh nặng, đã đem y của Sơ Tổ và viết tâm kệ trao cho ngài Huyền Quang. Các pháp khí và gậy, phất tử, gậy tre, pháp thơ, pháp cụ, linh vàng, sử vàng… lần lượt trao cho mỗi đại đệ tử. Mọi người chuẩn bị tinh thần trước sự ra đi của Ngài, nhưng Tổ lành bệnh, không thị tịch.

 

Đến năm Khai Hựu thứ 2 (1330), Tổ lại trở bệnh. Ngài Huyền Quang thưa hỏi, mỗi mỗi Tổ đều khai thông. Tổ bảo, đến trong chỗ kia, buông đi hay nắm lại thảy đều không can hệ dính dáng gì đến chân tánh mà Tổ đang sống. Chỉ là tùy chỗ tùy nơi, mỗi mỗi đều tiêu dao, tự tại (tùy xứ tát-bà-ha). Đến phút lâm chung, chúng ta càng thấy rõ hơn sức sống của Tổ. Không chỉ thế, đệ tử đòi để lại kệ, Tổ bảo đem giấy bút ra và ban kệ cho. Viết xong, Ngài ném bút và an nhiên thị tịch.

 

Thông thường khi nghe bàn đến một vị Tổ sư, chúng ta thường nghĩ đến cách ra đi của các Ngài như thế nào, có được tự tại hay không tự tại. Đức Phật nằm nghiêng bên phải an nhiên vào niết-bàn. Có nhiều vị Thiền sư ngồi kiết già an nhiên thị tịch. Có vị thì khoanh tay hoặc chống gậy đứng mà tịch. Ngài Đặng Ẩn Phong nghe thế liền làm lạ hơn, tịch theo tư thế trồng chuối ngược. Vậy chúng ta nên chọn cách quy tịch nào thì mới được tự tại? Nếu nhằm trên hình tướng để thấy thì sự mê mờ của mình đã lộ ra rồi.

 

Tổ Qui Sơn Linh Hựu khi sắp thị tịch bảo sẽ làm con trâu dưới núi, bên hông có ghi năm chữ: “Qui Sơn Tăng Linh Hựu.” Thế thì nên gọi Qui Sơn là phải hay gọi con trâu là phải? Nếu còn mê mờ, kẹt tâm chấp tướng thì không thể thấu tột được chỗ này. Tại sao lại nhằm trên hình tướng để tìm thấy Phật Tổ?

 

Đức Phật dạy: “Nếu dùng sắc thấy ta, Dùng âm thanh cầu ta. Người ấy hành đạo tà, Không thể thấy Như Lai.” Nghĩa là nếu nương vào, nhìn theo âm thanh sắc tướng để tìm thấy bậc giác ngộ thì đã bị sai lệch. Không thể thấy được quý Ngài. Cuối cùng, Tổ Pháp Loa viên tịch có được tự tại hay không, phải thị tịch trong tư thế nào mới được tự tại? Khó hiểu quá! Hãy sống và tinh tấn tu hành như quý Ngài đi thì sẽ thấu suốt.

 

6. Lời khai thị vô vàn quý báu:

 

Một hôm mở hội thuyết pháp, Tổ lên tòa và nói:

 

Đại chúng! Nếu nhắm thẳng vào đệ nhất nghĩa đế mà nói thì động niệm liền sai, mở miệng là lầm, làm sao mà xét, làm sao mà quán? Hôm nay căn cứ vào đầu thứ hai mà nói cũng không được thế ấy.

 

Tổ bèn nhìn hai bên rồi nói tiếp:

 

Trong đây có người nào đầy đủ con mắt lớn chăng? Nếu có, hai cặp chân mày chẳng cần vén lên. Bằng không, bần đạo chẳng khỏi miệng nói ba hoa, đề ra những điều hủ mục, đáp những lời tạp nhạp. Chỉ vì các ông nhồi thành một khối hỗn độn. Lắng nghe! Lắng nghe!

 

Qua lời mở đầu trên, chúng ta nắm được điều cốt tủy mà Tổ muốn chỉ dạy. Ngài nói, nếu nhắm thẳng vào chỗ cứu cánh chân thật thì chỗ này không thể nói, mở miệng liền sai, làm gì có quán, có xét! Nếu khéo vận dụng để nói thì cũng không thể nói tột đến chỗ chân thật kia được. Như Ngài Đạo Ngô Viên Trí bảo: “Nói tột cùng cũng chỉ nói được tám phần”. Vậy còn hai phần nữa ở đâu? Sờ lại lỗ mũi mình đi thì sẽ biết!

 

Nói xong, Tổ nhìn hai bên mà không có ai trình được chỗ Ngài muốn chỉ, buộc phải hỏi tiếp: “Trong đây có người nào đầy đủ con mắt lớn chăng? Nếu có, hai cặp chân mày chẳng cần vén lên.” Con mắt lớn là chỉ cho đại đạo, tức trí tuệ chân thật. Chân mày là chỉ cho phương tiện. Nếu ai có con mắt lớn, tức là nhận ra thể tánh chân thật thì trình xem. Nếu trình được thì Ngài sẽ xuống tòa, không cần phải vén chân mày, không cần phải lập bày phương tiện để nói ra nữa.

 

Vì không ai trình cho nên Tổ nói: “Bằng không, bần đạo chẳng khỏi miệng nói ba hoa, đề ra những điều hủ mục, đáp những lời tạp nhạp. Chỉ vì các ông nhồi thành một khối hỗn độn. Lắng nghe! Lắng nghe!”

 

Như vậy, chỗ cốt lõi chính yếu mà Tổ muốn chỉ là đệ nhất nghĩa đế, là con mắt lớn, là chỗ cứu cánh rốt ráo của Phật pháp, là đại đạo, là Phật tánh, chân tâm… chứ không phải những lời giảng nói và đối đáp sau này. Thấy được thì ngay đây liền thấy, không đợi Tổ thăng tòa. Chỗ này không nằm trong ngôn ngữ, không nhất thiết là phải đợi nói ra mới nhận cho nên không thể đỗ lỗi do Tổ thị tịch đã 687 năm không có ai chỉ. Do trong chúng không có người trình lên cho nên Tổ phải bất đắc dĩ nói ra những điều hủ mục, tạp nhạp, nhồi lại hỗn độn, không ra gì. Bởi những lời ấy sẽ thật sự là hủ mục, tạp nhạp và hỗn độn đến vô ích nếu chúng ta không nhận ra cốt tủy mà Tổ muốn chỉ cho tất cả mọi người. Ngay đây nếu khéo hay ra, sẽ thấy Tổ đang hiện diện mỉm cười rất hài lòng và mãn nguyện cho một đệ tử khéo học hỏi Ngài như thế!

 

III. KẾT LUẬN:

 

Học hỏi Tổ sư Pháp Loa, chúng ta phải biết ứng dụng lời Tổ chỉ dạy để thực hành, tỏ ngộ chỗ cốt tủy mà Tổ muốn chỉ, sẽ phá tung những điều còn uẩn áo trong này. Nếu chỉ nghiên tầm, kê cứu thì chỉ đọc học và hiểu được những gì trong sách sử đã in ấn và tìm trên những di sản còn sót lại mà thôi.

 

ĐĐ.Thích Tâm Hạnh

Thiền viện Trúc Lâm Bạch Mã, Huế. 21/02/ Đinh Dậu (18/03/2017)

_____________________

vietrigpaunesco.org

THẮP SÁNG ĐÈN XƯA

 

Bài viết cho buổi tọa đàm nhân lễ giỗ lần thứ 300 Thiền sư Hương Hải.

 

I. SƠ LƯỢC TIỂU SỬ THIỀN SƯ HƯƠNG HẢI:

 

Thiền sư Hương Hải (1628 - 1715) là vị Thiền sư Việt Nam thời Hậu Lê. Ở đời thường gọi ngài là Tổ Cầu . Sư và Thiền sư Chân Nguyên là hai vị đi đầu trong công cuộc phục hưng Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử trong khoảng thế kỷ 18.

 

Tổ tiên Sư ở Làng Áng Độ, huyện Chân Phúc. Nay là huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Tổ bốn đời của Sư theo Đoan Quốc công Nguyễn Hoàng vào trấn Quảng Nam. Được vua Lê Anh Tông phong cho ông hiệu Khởi Nghĩa Kiệt Tiết Công Thần, cấp 30 mẫu ruộng và con cháu được thế lập.

 

Sư sinh năm Mậu Thìn (1628), sống ở làng Bình An Thượng, thuộc Phủ Thăng Hoa (nay thuộc tỉnh Quảng Nam). Thuở nhỏ thông minh, hiếu học. Năm 18 tuổi đỗ Hương tiến (cử nhân), được bổ vào làm Văn chức trong phủ chúa Nguyễn Phúc Lan (ở ngôi 1635 – 1648). Năm 1652, được bổ làm Tri phủ Triệu Phong (nay thuộc Tỉnh Quảng Trị). Năm 25 tuổi, vì hâm mộ Phật pháp nên Sư tìm đến học đạo với một vị Thiền sư đến từ Trung Hoa là Lục Hồ Viên Cảnh, được đặt pháp danh là Huyền Cơ Thiện Giác, pháp tự Minh Châu Hương Hải. Sau, Sư tìm đến Thiền sư Đại Thâm Viên Khoan để tham học.

 

Hơn ba năm sau, Sư từ quan xin xuất gia, dong thuyền ra biển Nam Hải, trụ trên ngọn núi Tim Bút La cất ba gian nhà tranh ở tu. Nơi vị trí nhà tranh này về sau xây dựng thành chùa Hải Tạng. Đến năm Tự Đức thứ 1 (1848), chùa đã được di dời sang chỗ khác, cách vị trí cũ khoảng hơn 1km. Nay thuộc cụm đảo Cù Lao Chàm, xã đảo Tân Hiệp, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.

 

Sư ở đây chuyên tu thiền định, giới luật tinh nghiêm, trải qua nhiều chướng duyên của ngoại ma, có khá nhiều câu chuyện linh dị. Sau, Chúa Nguyễn Phúc Tần (còn gọi là Chúa Hiền) nghe danh nên sai sứ ra đảo mời Sư về.

 

Trước đó, trên núi Qui Kính (núi Cổ Rùa) có một tháp cổ Chăm-pa nằm ở vai Rùa. Chúa Hiền cho dời xuống vị trí lưng Rùa và đem tượng Chăm-pa thờ vào trong tháp, do đó mọi người thường gọi tháp này là: “Cốt Chăm bì Việt” (bên trong thì thờ tượng Chăm-pa mà bên ngoài thì tháp Việt). Sau đó, Chúa Hiền (Nguyễn Phúc Tần) cho xây dựng chùa Vinh Hòa trên vị trí cũ của Tháp cổ vừa mới được di dời. Khi Thiền sư Hương Hải đến, Chúa Hiền thỉnh Sư trụ trì ngôi chùa này. Trong ngữ lục thì ghi lại, Chúa Hiền cho “sai quan đón (Thiền sư Hương Hải) ra lập chùa trên núi Qui Kính gọi là Thiền Tịnh Viện”. Núi này như một quả đồi nhỏ, hiện tại khảo cứu thì chỉ thấy có dấu vết một ngôi chùa. Có thể khi đến, ngài đã lập một khu vực phương trượng để ở, trực thuộc trong quần thể chùa Vinh Hòa và đặt tên là Thiền Tịnh Viện, chứ không phải có một tự viện riêng.

 

Đến đời vua Minh Mạng đổi tên núi Qui Kính thành Linh Thái . Đổi tên chùa Vinh Hòa thành chùa Trấn Hải. Bởi đây là nơi trọng yếu quốc phòng ngay cửa biển Tư Dung (nay là Tư Hiền), thường có lính triều đình canh gác. Sư trụ trì giáo hóa ở đây rất thịnh hành. Quan quân đến học đạo quy y hơn 1.200 vị.

 

Thời ấy đất nước bị phân hai. Đàng Ngoài là Chúa Trịnh, vua Lê; Đàng Trong là Chúa Nguyễn. Sau có quan Thị nội giám của Chúa Trịnh là Gia Quận Công tòng quân vào đánh Thuận Hóa bị Chúa Nguyễn Phúc Tần bắt được. Nhưng tha cho và được ở lại Thuận Hóa, ban lương tháng để ra vào trong phủ dạy học nội cung. Vị quan này vì mộ đạo và kính trọng đạo đức của Sư nên thường lui tới chùa Vinh Hòa đàm đạo. Cứ dần dà như thế qua thời gian khá lâu cho nên bị người ngoại đạo dèm pha, tâu lên Chúa Hiền vu khống cho là Sư có âm mưu với Gia Quận Công để che chở cho Sư trở về với Chúa Trịnh. Chúa Hiền sai bắt Sư và Gia Quận Công giao cho quan tra khảo hơn bảy ngày mà không thấy có bằng chứng gì. Chúa Hiền cho là tình ngay mà lý gian nên ra lệnh cho Sư trở về lại Quảng Nam. Từ nhân duyên ấy, Sư bắt đầu cùng hơn năm mươi đồ đệ quyết chí ra Bắc. Lúc này là năm 1682, Sư được 55 tuổi.

 

Khi mới đến Bắc Hà, Thiền sư Hương Hải phải đối diện với sự nghi kỵ của Phủ Chúa và tầng lớp quan lại. Mấy tháng sau thì Chúa Trịnh Tạc mất, Trịnh Căn lên nắm quyền. Từ đây Sư mới bắt đầu được ổn định và tùy duyên tu hành, hoằng hóa, biên dịch Kinh Luận.

 

Cho đến cuối năm Canh Thìn (1700), lúc này Sư đã ngoài 70 tuổi mới về trụ trì chùa Nguyệt Đường ở Hưng Yên. Sư tùy duyên giảng dạy đồ chúng và sự hoằng hóa của Sư bắt đầu hưng thạnh.

 

Đến năm 1715, Sư dặn dò đệ tử, nói kệ xong, ngồi kiết già thị tịch, thọ 88 tuổi.

 

II. THIỀN SƯ HƯƠNG HẢI LÀ VỊ THIỀN SƯ PHỤC HƯNG THIỀN PHÁI TRÚC LÂM YÊN TỬ TRONG KHOẢNG THẾ KỶ 18:

 

Trước thế kỷ 17, tức là trước thời ngài Nguyên Thiều Siêu Bạch, đã có phái thiền của Tông Lâm Tế thuộc dòng Trí Bản Đột Không từ Trung Hoa truyền sang miền trung Việt Nam. Dòng này có bài kệ:

 

Trí tuệ thanh tịnh,

Đạo đức viên minh.

Chân như tánh hải,

Tịch chiếu phổ thông.

 

 

Chữ “VIÊN” chính là ngài Viên Cảnh và ngài Viên Khoan, là thầy của Thiền sư Hương Hải. Hai ngài này giáo hóa ở vùng Quảng Trị. Cùng thời có ngài Viên Văn Chuyết Chuyết (Hòa thượng Chuyết Công) sang Việt Nam trước và giáo hóa ở Quảng Nam. Năm 1633 ngài ra Bắc ở chùa Bút Tháp giáo hóa và để lại nhục thân hiện vẫn còn tại chùa Phật Tích, Bắc Ninh. Còn dòng Lâm Tế phái ngài Nguyên Thiều Siêu Bạch ở Trung Hoa là xuất phát từ chùa Báo Tư và truyền sang Việt Nam sau phái Trí Bản Đột Không.

 

Khi vua Trần Nhân Tông gả công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm là Chế Mân và vua Chiêm đã dâng hai châu Ô Lý làm sính lễ. Hai châu này ngày nay chính là vùng đất Thuận Hóa. Đến năm 1306 bắt đầu di dân vào. Dân đi đến đâu thì tín ngưỡng theo đến đó. Mà tín ngưỡng tôn giáo lúc bấy giờ chính là Phật giáo Trúc Lâm hay còn gọi là Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Bởi lúc này Phật giáo Trúc Lâm đã là Quốc giáo. Nhưng đến thời Thiền sư Hương Hải thì sự truyền thừa của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử ở Đàng Trong gần như không còn. Do đó, Thiền sư Hương Hải cũng không được trực tiếp ấn chứng truyền tâm từ một vị Thiền sư nào của phái Trúc Lâm.

 

Như vậy, Thiền sư Hương Hải được xuất gia với Ngài Viên Cảnh, học đạo nơi Ngài Viên Khoan. Hai vị này thuộc dòng thiền Lâm Tế, phái Trí Bản Đột Không từ Trung Hoa sang Việt nam hoằng hóa. Cho nên trên lý thuyết thì ngài là đệ tử của Tông Lâm Tế. Nhưng trên thực tế thì ngài lại được xem là vị Thiền sư phục hưng Thiền phái Trúc Lâm Yên tử là do sự thể hội tông chỉ, do tư tưởng văn hóa và cụ thể hóa bằng sức sống và việc làm của ngài.

 

1. TÔNG CHỈ:

 

1.1: TINH THẦN PHẢN QUAN TỰ KỶ:

 

Điều quan trọng nhất cho chúng ta thấy rõ Thiền sư Hương Hải là người phục hưng Thiền phái Trúc Lâm Yên tử là tông chỉ. Chúng ta có thể nhận ra tông chỉ, chủ trương của ngài thể hiện khá rõ qua bài kệ Sư dạy cho Vua Lê Dụ Tông:

 

Phản văn tự kỷ mỗi thường quan,

Thẩm sát tư duy tử tế khan.

Mạc giáo mộng trung tầm tri thức,

Tương lai diện thượng đổ sư nhan.

 

Hằng ngày xem lại chính nơi mình,

Xét nét kỹ càng chớ dễ khinh.

Trong mộng tìm chi người tri thức,

Mặt thầy sẽ thấy trên mặt mình.

 

Tông chỉ của Thiền phái Trúc Lâm Yên tử là: “Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc.” “Xoay lại chính mình, không từ bên ngoài mà được”. “Chính mình” là chân tâm, Phật tánh nơi mỗi người. Có nghĩa là hành giả khéo xoay lại, nhận ra và sống cho được bằng tánh Phật nơi chính mình. Trong bài kệ trên, Thiền sư Hương Hải đã nói: “Hằng ngày xem lại chính nơi mình”, không tìm bất kỳ điều gì bên ngoài. Và cuối cùng là: “Mặt thầy sẽ thấy trên mặt mình.” Có nghĩa, tự tánh mình là bậc thầy chân thật của chính mình. Tông chỉ “xoay lại chính mình để ngộ tâm, sống trọn vẹn bằng tự tánh” của Thiền phái Trúc Lâm Yên tử đã được Thiền sư Hương Hải nêu rất nghiêm túc, rõ ràng trong bài kệ nói với một vị vua.

 

1.2: TÍNH CHẤT VÔ TÂM:

 

Vô tâm không phải là vô tư, thờ ơ, thiếu trách nhiệm. Nghĩa vô tâm ở đây là chỉ cho bản tâm chân thật, rỗng lặng, sáng suốt, không một mảy trần niệm lự đối đãi được mất, bại thành, mừng giận, thương ghét… hai bên. Người nhận ra và sống được với tánh thể rỗng lặng sáng suốt này, người này có đầy đủ định lực, trí sáng và ngập tràn an vui. Tiêu trừ bản ngã cá nhân cho nên không còn nhỏ nhoi ích kỷ. Chỉ biết cảm thông và giúp ích, ban vui và cứu khổ cho mọi người mà không hề thấy chán mỏi. Đây là tâm trí, tâm quang, tâm lực, và tâm lượng vô cùng đặc biệt của nhà Phật, nó nằm ngay nơi mỗi một con người chúng ta và đã được thể hiện rất rõ trong tinh thần Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Đây là điểm đặc biệt được Sơ tổ Trúc Lâm (Vua Trần Nhân Tông) nêu lên trong bài kết của mười hội phú Cư trần lạc đạo:

 

Ở đời vui đạo hãy tùy duyên,

Hễ đói thì ăn, nhọc ngủ liền.

Trong nhà có báu thôi tìm kiếm,

Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền.

 

Đối trước tất cả cảnh vật, tình huống hay bất kỳ hoàn cảnh nào, tâm thể chúng ta vẫn rỗng lặng nhưng sáng rỡ; dù rõ ràng rành rẽ mọi thứ nhưng tâm vẫn rỗng sáng không chút niệm vương, ngay đó sức sống thiền đang hiện tiền, hỏi tìm kiếm thêm gì ở đâu nữa! Vừa có niệm muốn tìm thì hết vô tâm, là mất thiền rồi. Với tính chất vô tâm này, thiền sư Hương Hải đã nói: “Vô tâm phiền não hà cư?” Tức là khi vô tâm thì phiền não ở chỗ nào, nương vào đâu mà có, nghĩa là khi đạt đến vô tâm thì phiền não làm gì còn? Thiền sư Hương Hải đã phản quan lại chính mình, hay ra và sống được bằng tự tánh rỗng sáng không động và nói lên tính chất trong tâm tánh ấy mà ngài đã cảm nhận được: “Vô tâm phiền não hà cư?” Cho thấy, ngài là người đã thể hội và sống đúng với tính chất đặc biệt của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.

 

1.3: SỨC SỐNG TỪ TÔNG CHỈ THIỀN:

 

Khi phản quan, xoay lại chính mình, tỏ ngộ và sống bằng bản tâm chân thật nơi chính mình, Vua Trần Nhân Tông đã nói:

 

“Niềm lòng vằng vặc,

Giác tánh quang quang.

Văng vẳng ngàn kia,

Dầu lòng dong thả.”

 

Đến đây rồi, trong không tâm để giữ, ngoài không pháp để trừ, tâm cảnh như như thì bản tánh mặc phơi bày, trùm khắp, vốn tự vằng vặc, sáng rỡ. Và thiền sư Hương Hải cũng đã nói lên chỗ sống này:

 

Nhật dụng vô phi đạo,      Hằng ngày không việc khác,

Tâm an tức thị thiền.        Tâm an chính là thiền.

 

Trong mọi sinh hoạt hằng ngày, vẫn ăn mặc ngủ nghỉ, vẫn làm lụng bao nhiêu việc phải làm, vẫn đối diện với nhiều thứ thị phi khen chê vinh nhục… Nhưng với ngài, tất cả không có gì ra ngoài ánh sáng của thiền cho nên không có gì không phải là đạo lý chân thật. Đây cũng chính là gia phong của Sơ tổ Trần Nhân Tông:

 

Áo rách che mây sáng ăn cháo,

Bình xưa tưới nguyệt tối uống trà.

 

Nếp nhà của Tổ chỉ là việc thường nhật mặc áo, ăn cơm, uống trà trong tâm thể không một niệm vương mà vằng vặc sáng ngời ấy.

 

Cho thấy, Thiền sư Hương Hải đã vận dụng tinh thần phản quan, nhận ra và sống được bằng tâm thể chân thật cho nên đã nói lên những diệu dụng bất tư nghì từ bản tâm ấy. Vì vậy, với tông chỉ, với tinh thần phản quan tự kỷ của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, thiền sư Hương Hải đúng là người kế tục, tiếp nối dòng Thiền này.

 

2. TƯ TƯỞNG, VĂN HÓA:

 

Một tư tưởng dễ nhận ra là Việt hóa. Cụ thể là trong các tác phẩm, ngài dùng chữ Nôm (chữ của Việt nam thời ấy) nhiều hơn là chữ Hán. Ngài cũng đã dịch nhiều Kinh Luận sang chữ Nôm và chú giải. Giống với tinh thần Phật giáo đời Trần là một dòng Thiền thuần Việt. Các sáng tác của chư vị Thiền sư lúc ấy có rất nhiều bản dùng chữ Nôm. Ông cha ta trước kia thường ảnh hưởng phong cách của thời kỳ văn học truyền miệng cho nên hay dùng thơ kệ. Đến thiền sư Hương Hải có điểm đặc biệt là ngài bắt đầu chú giải kinh luận bằng văn xuôi của chữ Nôm. Đây có thể coi là bước khởi điểm, chuyển mình từ thi kệ qua văn xuôi của văn hóa Việt Nam lúc bấy giờ.

 

Đọc Ngữ Lục của Ngài, chúng ta sẽ nhận ra khá rõ nhiều đặc điểm Thiền tông đời Trần như là tính chỉ thẳng, thi vị, tùy duyên, vô tâm… trong các lời ngài khai thị chúng.

 

Tư tưởng văn hóa của ngài mang đậm tính dân tộc Việt, là một tính chất đặc trưng riêng có trong tinh thần Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Đồng thời, ngài đã dịch giải và vận dụng những đặc điểm của Thiền tông đời Trần để giảng dạy đồ chúng. Đủ cho chúng ta nhận ra, tư tưởng văn hóa của ngài là tiếp nối Thiền phái thuần Việt này.

 

3. VIỆC LÀM CỤ THỂ, GIÁO HÓA ĐỒ CHÚNG KẾ THỪA:

 

Trên quan điểm lập trường tông chỉ “phản quan tự kỷ”, với tư tưởng Việt hóa và học theo các tính chất đặc điểm của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử trong ngữ Lục của chư vị Tổ sư Việt Nam, Thiền sư Hương Hải đã giảng dạy và đào tạo được nhiều vị đệ tử, đệ tôn tài giỏi nối nắm mạng mạch Thiền tông Việt Nam. Như là Hòa thượng Chân Lý Hiển Mật, Hòa thượng Tăng thống Chánh Tông, tự Như Nguyệt, hiệu Hoa Quang…

 

Qua ba phương diện: Tông chỉ, tư tưởng văn hóa và việc làm cụ thể như vừa nên trên, cho chúng ta thấy ngài Hương Hải là vị Thiền sư thể hội, xiển dương và khôi phục Thiền phái Trúc Lâm Yên tử thời Hậu Lê.

 

III. SỰ TRÙNG HỢP NGẪU NHIÊN GIỮA HAI VỊ THIỀN SƯ KHÔI PHỤC THIỀN PHÁI TRÚC LÂM YÊN TỬ:

 

Không biết phải nói thế nào cho đúng, bởi một kỳ duyên đặc biệt. Rất vô tình, nhưng nhân duyên khôi phục Thiền tông đời Trần của hai vị Thiền sư ở hai thời đại cách xa nhau lại ngẫu nhiên trùng hợp ở nhiều điểm quan trọng.

 

1. Ra Đời Trong Thời Điểm Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử Gần Như Vắng Bóng, Nhưng Lại Có Tâm Nguyện Muốn Phục Hưng Thiền Phái Này:

 

Thiền sư Hương Hải ra đời ở Thế kỷ 17-18. Hòa thượng Thiền sư Thích Thanh Từ ra đời vào thế kỷ 20-21. Hai khoảng thời gian này Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử gần như vắng bóng, không còn người hiểu rõ và có niềm tin vào việc tu thiền. Nhưng hai ngài đều có chung một tâm nguyện muốn khôi phục, làm sống dậy Thiền tông đời Trần.

 

2. Xuất Gia Theo Thầy Của Tông Lâm Tế, Nhưng Lại Tỏ Ngộ Và Phục Hưng Dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử:

 

Thiền sư Hương Hải xuất gia với ngài Viên Cảnh, học đạo với ngài Viên Khoan. Hai vị này đều thuộc dòng Lâm Tế. Nhưng khi ra giáo hóa thì Thiền sư Hương Hải lại xiển dương Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.

 

Một điều trùng hợp ngẫu nhiên. Hòa thượng Thiền sư Thích Thanh Từ xuất gia với cố Hòa thượng Thích Thiện Hoa, vốn là đệ tử của Tổ Khánh Anh từ Quảng Ngãi vào miền Nam giáo hóa. Tổ Khánh Anh là vị nối dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh tại miền Trung. Thế nhưng, do túc duyên đã thôi thúc khiến cho chính Hòa thượng Thiền sư Thích Thanh Từ cũng không biết vì sao ngay từ khi mới xuất gia, ngài đã muốn tu thiền và khôi phục Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Cụ thể ngài đã tự tìm tòi đọc học thiền trong Kinh Luận, quyết tâm nhập thất chuyên tu, tỏ ngộ thiền tâm. Trên trí giác đó làm căn bản, ngài đã biên soạn và dịch Kinh Luận, đặc biệt là các tác phẩm thiền Việt Nam để giảng dạy cho Tăng Ni và Phật tử. Từ đó, nhiều vị hiểu được thiền và hướng về tu tập.

 

Có lần trong buổi nói chuyện tại Viện nghiên cứu Hán Nôm, Hòa thượng Thiền sư Thích Thanh Từ đã nêu một ví dụ về việc nối nắm mạng mạch tông phong thiền:

 

“Như có người con cháu trong một dòng họ nọ đang nắm giữ viên ngọc của tổ tiên mình truyền lại trong gia phả thì họ biết rất rõ và không còn nghi ngờ gì cả. Người ngoài nghe vậy rồi muốn biết có đúng như thế không, nên phải truy tìm trong sử liệu hay bằng nhiều phương thức khác nhau để xác định giá trị, nguồn gốc viên ngọc. Như là: Thế hệ đầu tiên vào niên đại nào? Ai giữ, ở đâu? Và đã truyền cho thế hệ kế tiếp như thế nào… Nếu dữ kiện không rõ ràng hay đã bị thất lạc, người ta sẽ mất đi phương hướng và hoài nghi… Tương tự, Thiền tông cũng có viên ngọc trong gia phả, nhưng lại không giống viên ngọc thế gian, nó là “Ngọc bảo châu vô tướng”. Ai đã nhận ra nó thì không còn nghi ngờ. Nếu còn đi tìm thì sẽ càng hoài nghi. Như Thiền sư Huyền Giác đã nói: “Còn tìm liền biết anh chưa thấy!”. Đây là tâm trạng của người bên ngoài.”

 

Người đang nắm chắc hòn ngọc trong tay, chính là hành giả thiền môn thực chứng. Dù ở tại gia hay đã xuất gia, họ chỉ tùy nghi thọ dụng, tùy ý tiêu dùng, không còn hồ nghi là có hay không, phải cùng chẳng phải. Hành giả ngộ đạo, thực chứng, nắm chắc viên ngọc “Ma ni bảo châu vô tướng” trong tay tức là khế với tâm tông của Phật Tổ, của vị thầy truyền thừa. Đây cũng chính đích thực là nghĩa được “truyền tâm, ấn tâm” trong nhà thiền.

 

Hai ngài sống vào hai thời đại cách xa nhau, nhưng lại trùng hợp nhân duyên thật bất ngờ. Sinh ra đời trong bối cảnh Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử gần như vắng bóng, không còn người chính thức truyền thừa. Cho nên, trên lý thuyết truyền thừa thì hai ngài là đệ tử của Tông Lâm Tế miền trung Việt Nam. Nhưng trên thực tiễn “ngộ tâm ấn tâm” thì hai ngài cùng tỏ ngộ và xiển dương dòng thiền Việt Nam, Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.

 

3. Bị Chướng Duyên Nghịch Cảnh Và Đã Vượt Qua, Khôi Phục Thành Công Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử:

 

Thiền sư Hương Hải bị nhiều chướng duyên ngoại ma khi tu, bị những chướng duyên hiểu nhầm khi ra giáo hóa. Nhưng với đạo lực và bản lĩnh của mình, ngài đã chiến thắng ma chướng, vượt qua mọi sự nghi hiềm và khôi phục thành công Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.

 

Cũng vậy, Hòa thượng Thiền sư Thích Thanh Từ ra đời trong thời điểm không ai biết đến thiền. Có người nói “coi chừng tu thiền sẽ bị điên”, hoặc nói “thiền là quái thai của Phật giáo”. Trước một hoàn cảnh không ai hiểu và thông cảm thiền mà ngài lại tu thiền và khôi phục thiền Việt Nam thì không dễ chút nào. Trước khi nhiều người biết đến thiền, hiểu và tu tập được, thích thú nghiên cứu thực hành thiền; trước khi chúng ta nhìn thấy được bao nhiêu thành quả hôm nay đang hiện hữu thì Hòa thượng đã phải lặng thầm một mình chịu đựng qua nhiều năm tháng trước vô vàn nghịch cảnh đến từ nhiều phía khó để kể hết. Tuy nhiên, bằng vào trí tuệ, định lực, nghị lực cộng với phước đức nhân duyên, ngài đã cương nghị, dứt khoát, kiên quyết một đường thẳng tiến và đã khôi phục thành công Thiền tông Việt Nam rực rỡ như ngày hôm nay.

 

4. Việt Hóa:

 

Xưa kia, Thiền sư Hương Hải đã chú trọng dùng chữ Nôm của Việt Nam thời ấy, không chú trọng đến chữ Hán. Ngài dịch nhiều bản Kinh sang chữ Nôm và chú giải, khiến cho nhiều vị đọc học dễ hiểu và rất thích. Thì hiện nay, Hòa thượng Thiền sư Thích Thanh Từ cũng Việt hóa, không lệ thuộc vào chữ Nho. Ngài đã dịch nhiều bản Kinh, Luận, Thiền sang chữ Việt và giảng giải rõ ràng, sáng sủa khiến cho người học dễ dàng nhận hiểu và ứng dụng tu tập. Các bài Kinh Tụng trong các Thiền viện phần lớn do ngài trích từ trong Ngữ Lục Thiền sư Việt Nam đời Trần, dịch ra chữ Việt và biên tập lại cho chúng đệ tử tụng bằng nghĩa của chữ Việt, không dùng âm Hán văn. Cho đến nhiều lãnh vực văn hóa khác, ngài luôn nhắc chúng đệ tử chú trọng Việt hóa.

 

5. Chú Trọng Đào Tạo Chúng Đệ Tử:

 

Thiền sư Hương Hải chú trọng đến việc đào tạo đệ tử cho nên có nhiều vị nối pháp rất giỏi. Chúng ta có thể thấy rõ điều này qua ưu tư của ngài trước khi đến chùa Nguyệt Đường và những việc làm lúc ngài đến trụ trì tại đây.

 

Hòa thượng Thiền sư Thích Thanh Từ đã từng nói trong một buổi tham vấn tại Mỹ Quốc: “...Tôi thấy rằng, nếu muốn cho Phật pháp được vững mạnh, bền lâu thì phải có người tu sáng đạo”. Từ cách nhìn như vậy cho nên ngài luôn chú trọng đến việc đào tạo đệ tử. Trong các Thiền viện do ngài hướng dẫn đều có nội viện, có nơi nhập thất chuyên tu. Nếu đọc trong Thanh Quy của ngài biên soạn, hoặc nhìn kỹ thì sẽ nhận ra điều này. Từ cách tổ chức, giảng dạy, hướng dẫn tu hành cho đến cách làm các Phật sự khác, ngài luôn chú trọng đến việc tu. Đặt việc tu sáng đạo lên hàng đầu, làm chủ đạo trong đời sống tu hành của các thiền sinh tại các Thiền viện. Đúng với lời ngài đã nói từ trong tâm khảm sâu thẳm của mình: “Muốn cho Phật pháp được vững mạnh, bền lâu thì phải có người tu hành sáng đạo”. Có lần chúng tôi được nghe một vị Tôn đức ở Huế nói với chúng tôi rằng: “Nhiều vị nhìn qua thì thấy Hòa thượng Thanh Từ không biết cách tổ chức. Nhưng kết quả cuối cùng thì dưới ngài có nhiều đệ tử lớn tài giỏi kế thế. Mới biết, ngài là người khéo tổ chức.”.

 

Việc chú trọng đào tạo đệ tử để có người nối nắm mạng mạch Thiền tông của Hòa thượng Thiền sư Thích Thanh Từ đã được chư vị Tôn túc thấy ra. Là vô tình hay hữu duyên mà lại trùng với Thiền sư Hương Hải, ai mà biết được! Việc này chúng ta bắt chước cũng đã khó. Nếu như không có túc duyên, thiếu đạo lực, thiếu trí tuệ và nhân duyên với nhiều người thì làm sao dám nghĩ bắt chước nhau là được.

 

6. Xiển Dương Đàng Trong, Thịnh Hành Lúc Ra Đàng Ngoài:

 

Thời Ngài Hương Hải đất nước bị chia cắt hai phần. Đàng Trong là chỉ cho phía Nam, Đàng Ngoài là phía Bắc. Thiền sư Hương Hải vốn xuất gia học đạo và giáo hóa thạnh hành, khôi phục Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử tại Đàng Trong (phía Nam; nay là miền Trung). Nhưng mãi cho đến khi đủ duyên ra Đàng Ngoài (phía Bắc) thì sự hoằng hóa của ngài mới được thuận lợi và phát triển. Chúng ta dễ nhận thấy điều này khi ngài đến trụ trì giáo hóa tại chùa Nguyệt Đường ở Hưng Yên.

 

Cũng vậy, Hòa thượng Thiền sư Thích Thanh Từ cũng xuất gia và hoằng hóa, khôi phục Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử tại miền Nam. Trải từ buổi đầu khó khăn rồi dần dần đến lúc thuận lợi. Chư Tăng Ni và Phật tử hướng về tu tập càng đông. Các thiền viện thuộc Thiền phái Trúc Lâm cũng lần lượt ra đời ở nhiều nơi. Việc tu tập của các hành giả buổi đầu đã có kết quả nhất định. Nhưng về mặt hoằng truyền thì vẫn còn một điều gì đó như là chưa được đầy đủ trọn vẹn, khiến cho sự phát triển của Thiền phái vẫn còn trong chừng mực. Cho đến khi hội đủ nhân duyên Hòa thượng ra phía Bắc thành lập các Thiền viện thì việc khôi phục và xiển dương Thiền tông Việt Nam của ngài mới hanh thông và phát huy đúng mức. Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử được nhiều người biết đến, được các giới trí thức và mọi tầng lớp trong xã hội vinh danh. Từ khắp mọi miền đất nước cho đến các nước phương Tây, Thiền viện đều đã được thành lập giúp những vị hữu duyên có nơi quy hướng tu hành. Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử thêm một lần nữa được hồi sinh, sống dậy mạnh mẽ ở thế kỷ 20-21 này.

 

7. Cùng Đủ Duyên Trên Mảnh Đất Thần Kinh:

 

Xưa kia, Thiền sư Hương Hải được Chúa Nguyễn Phúc Tần (Chúa Hiền) cho xây dựng chùa Vinh Hòa tại huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế và thỉnh ngài về trụ trì giáo hóa. Hôm nay, Hòa thượng Thiền sư Thích Thanh Từ lại cũng đủ duyên xây dựng Thiền viện Trúc Lâm Bạch Mã cũng tại huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế; trên mảnh đất Thần Kinh giàu truyền thống văn hóa này.

 

Những điều không hẹn mà lại trùng hợp một cách ngẫu nhiên đến diệu kỳ giữa hai vị Thiền sư sống vào hai thời đại cách xa nhau, nhưng cùng một chí hướng khôi phục Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Chúng tôi không mất nhiều phút để tư duy, liên tưởng rồi lồng ghép những khía cạnh tương tự, cho nên ở đây hoàn toàn không có ý muốn nhắc đến nghĩa tiền kiếp, hậu kiếp của hai ngài là một. Chỉ là một thoáng tình cờ, đang lúc viết về Thiền sư Hương Hải nhân kỷ niệm 300 năm ngày giỗ của ngài; trong thoáng bất ngờ, bỗng nhiên nhiều điều trùng hợp cùng lúc hiện rõ trong đầu, chúng tôi liền viết ra ngay để chia sẻ cùng quý vị. Để thấy rằng, đến trong chân trời “tự tánh kia”, người người cùng gặp. Loanh quanh bên ngoài, đành phải cách xa mà thôi.

 

IV. HỌC HIỂU TỔ SƯ QUA CÁCH NÀO?

 

Một lớp học được cô giáo dẫn bài của nhà văn Nguyễn Khải để ra bài tập về nhà, yêu cầu các em hãy cho biết ý của tác giả muốn nói lên điều gì? Một học sinh trong số đó là con của chính tác giả. Cháu bé đến nhờ bố mình giúp đỡ. Nhà văn Nguyễn Khải nói lên ý nghĩ của mình trong bài văn. Cô giáo không hề biết mình có một học trò là con của nhà văn này. Sau khi nộp bài, cháu nhận được điểm một với lời nhận xét: “Chưa hiểu ý tác giả”. Là câu chuyện lạ, nhưng có thật và cũng thường có trong đời. Hiện nay chúng ta học hiểu ý của Tổ sư qua cách nào? Ai là người có đủ tư cách để thẩm xét điều này nếu không phải từ sự thể nghiệm, chứng ngộ của mỗi một hành giả chuyên tâm!

 

“Người bình thơ bao giờ cũng là kẻ thù của nhà thơ”. Một bài thơ, một tác phẩm văn học đều dựa vào hoàn cảnh và tâm thái của tác giả mà có ra. Nếu chúng ta không biết được bối cảnh lịch sử, hoàn cảnh ra đời và tâm trạng của tác giả mà vội bình phẩm một cách tùy tiện thì đi quá xa với ý tác giả. Không phải kẻ thù là gì?

 

Học hỏi, nghiên cứu các tác phẩm Thiền sư Việt Nam, điều tối thiểu buộc chúng ta phải biết là quý ngài dụng tâm gì, ở đâu để sáng tác và muốn nói lên điều gì? Quý ngài phải khổ công tu tập, chạm đến được cốt tủy thiền một cách rốt ráo; ở trong cảnh núi rừng u tịch, hay ở vào một tâm vắng lặng tuyệt đối mà xán lạn của tâm thiền; nhắn nhủ, khai thị cho hàng hậu thế hữu duyên nhận ra tâm tánh nơi chính mỗi người như quý ngài đang sống. Cho thấy, từ công phu tu tập, từ trí tuệ rốt ráo để nói ra những lời khai thị vàng ngọc, mong mỏi đưa con cháu trở về quê hương muôn thuở của chính mình. Nếu chỉ dừng trên ngôn thuyên, sách sử, trong một nội tâm tạo tác vọng động, ngồi ở nơi náo thị phồn hoa với một đời sống đắm chìm quá sâu trong ngũ dục để học hiểu, nghiên cứu, bình phẩm về quý ngài thì e là quá tội nghiệp cho mình!

 

Thiền sư Hương Hải một đời vì đạo pháp. Trải qua bao khó khăn, nhưng ngài đều quyết chí vượt qua. Bị vua chúa hiềm nghi hay được tôn trọng, ngài vẫn một mực chuyên tu và làm Phật sự, không hề bị chi phối, luôn luôn nghĩ đến tiền đồ Phật pháp. Đọc thi kệ và những lời khai thị, chúng ta càng thấy rõ hơn phong cách của ngài. Khi thì chỉ thẳng, có chỗ thì mang tính triết lý khúc chiết, chặn đứng các đường không còn chỗ cho tình thức chen vào hiểu biết. Nhận thì ngay đó liền nhận, không thì thôi. Càng cố suy nghĩ để lý luận thì càng cách xa. Đặc biệt cuối đời ngài ra đi một cách tự tại. Thấy vậy, chúng tôi không nghĩ quý ngài sẽ hoan hỷ khi trông thấy con cháu chỉ dừng lại ở những nghiên cứu, tìm hiểu qua ngôn ngữ, hình thức. Và có lẽ ngài cũng sẽ chưa thật sự yên lòng khi con cháu mới chỉ làm nên được tự viện hoành tráng, sách sử nghiên cứu đồ sộ. Chúng tôi nghĩ quý ngài sẽ mỉm cười mãn nguyện hơn nếu bằng vào những gì đã làm được, hàng hậu tấn chúng ta biết dụng công tu tập đạt đến được cốt tủy thiền mà quý ngài muốn chỉ. Trên cơ sở trí tuệ giác ngộ rốt ráo, chúng ta uyển chuyển vận dụng vào bất kỳ thời đại hay cõi nước nào đều mang lại lợi lạc, vén mây mê lầm cho người người vĩnh viễn không còn khổ đau.

 

Đây là cũng chính là bản hoài mà Hòa thượng Thiền sư Thích Thanh Từ đã một đời tâm huyết muốn khôi phục lại Phật giáo Thiền tông đời Trần ở thời kỳ đương đại. Từ những ngày đầu mới xuất gia, ngài đã ôm trong mình hoài bão muốn tu theo thiền Việt Nam để làm sống lại Thiền tông Việt Nam. Đó là hoài bão và ngài cũng tự đặt làm bổn phận trách nhiệm của mình. Với quyết tâm dũng mãnh, nhất định thực hiện cho bằng được tâm nguyện và trọng trách mà mình đã đặt ra. Và rồi duyên lành cũng đã hội tựu. Ngài đã tỏ ngộ, nhận ra cốt tủy thiền. Đọc sách thiền đến đâu, ngài sáng tỏ ý Tổ đến đó. Trên trí tuệ tỏ ngộ làm căn bản, ngài viết và tìm dịch các tác phẩm thiền để đem ra ứng dụng, hướng dẫn cho Tăng Ni và Phật tử cùng tu. Tùy vào căn cơ từng người mà có được kết quả sâu cạn khác nhau. Nhưng tất cả đồng chung một cảm xúc là “Không ngờ!”. Phật pháp Thiền tông bắt đầu được xương minh từ đó. Hàng đệ tử con cháu ngài đã đủ phước duyên được gội nhuần trong suối thiền và tiếp tục nối nắm mạng mạch Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam, phát huy khiến cho ngày càng xán lạn. Bản hoài một đời tâm huyết khôi phục Thiền tông Việt Nam của Hòa thượng Thiền sư Thích Thanh Từ cũng đã được mãn nguyện.

 

V. KẾT LUẬN:

 

Càng tu tập được an lạc, càng thấm nghiệm những lời dạy thống thiết của quý ngài, chúng con càng cảm bội niệm ơn sâu xa lòng từ vĩ đại bao la của các bậc thiền tăng. Ba trăm năm trước, ba trăm năm sau, hay nhiều kiếp về sau nữa, mãi mãi vẫn thế! Bởi, người về “trong ấy”, vốn không đổi dời. Hôm nay, kỷ niệm 300 năm ngày giỗ Thiền sư Hương Hải, chúng con dâng lên ngài chút tâm thành không lời tả được.

 

_______________

Thích Tâm Hạnh

Thiền viện Trúc Lâm Bạch Mã – Huế

BIỂU TƯỢNG RỒNG Ở ĐỀN THỜ HUYỀN TRÂN CÔNG CHÚA

Công chúa Huyền Trân, người được coi là người khai sinh cho vùng đất Thuận Hóa - Phú Xuân, Thừa Thiên Huế ngày nay.

 

Chuyện kể rằng, vua Trần Nhân Tông sau khi đã truyền ngôi cho con là Trần Anh Tông, lên tu ở núi Yên Tử, mến cảnh núi sông thường hay đi du ngoạn các nơi. Một lần vào đến đất Chiêm Thành, đã hứa gả công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm Thành Jaya Simhavarman III (Chế Mân).

 

Vua Chế Mân dâng hai châu Ô, Lý (từ đèo Hải Vân Thừa Thiên đến phía bắc Quảng Trị ngày nay) làm sính lễ cưới công chúa Huyền Trân về nước.

 

Vâng mệnh vua cha Trần Nhân Tông, Huyền Trân đã gác tình riêng, gạt lệ xuống thuyền theo chồng, lập mối hòa hiếu và mở mang bờ cõi của đất nước về phương Nam. Đất Thuận Hóa - Phú Xuân - Thừa Thiên Huế cũng được khai sinh từ đó, đến nay đã hơn 700 năm.

 

Ngày nay, Đền thờ Huyền Trân Công Chúa nằm tại núi Ngũ Phong, thôn Ngũ Tây, xã Thủy An, TP Huế, nằm trên một không gian rộng tới 28 ha rợp bóng thông xanh, cách đàn Nam Giao khoảng 3 km về phía đông nam. Hàng năm cứ vào mồng 9 tháng Giêng âm lịch, nhân ngày mất của Huyền Trân Công chúa, lễ hội Huyền Trân lại được tổ chức long trọng tại Đền Huyền Trân Công Chúa ở Huế.

 

Những hình ảnh ấn tượng ở đền Huyền Trân Công Chúa gắn với năm con Rồng.

Lối vào Đền Huyền Trân công chúa

Hình tượng rồng với nhiều sắc thái khác nhau rải rác từ dưới lên điện thờ cao nhất ở Đền Huyền Trân

Hình tượng Rồng tại đền Huyền Trân

Rồng trong tiết Xuân

Rồng nhỏ

Hình tượng Rồng với nhiều sắc thái khác nhau

Hình tượng Rồng có mặt khắp nơi ở Đền Huyền Trân Công chúa

Từ bậc cấp đầu tiên dẫn vào đền thờ vua Trần Nhân Tông- phụ hoàng của Công chúa Huyền Trân, là đôi rồng chầu đạt kỷ lục dài nhất Việt Nam được sách kỷ lục Việt Nam ghi nhận ngày 07/12/2008.

Hình ảnh đôi rồng lớn nhất Việt Nam

Bên trong Đền thờ là pho tượng Công chúa Huyền Trân ngồi trên ngai được đúc bằng đồng. Tượng cao 2,37m, do các nghệ nhân đúc đồng nổi tiếng của Phường Đúc, TP Huế thực hiện.

Điện thờ tại Thiền viện Hương Vân

Khói hương cửa Phật

____________________________

CTV Hoàng Hải/VOV online/ từ Huế

Nguồn: dulichhue.com.vn

TRẦN NHÂN TÔNG TRUYỀN NGÔI, DẠY CON GIỮ NƯỚC, KÍNH TÍN CHÍNH PHÁP

Khi nói đến lịch sử thời Lý - Trần, là người ta nghĩ ngay đến một quốc gia Phật giáo, bởi Phật giáo đã thể nhập toàn diện vào đời sống con người, xã hội và dân tộc ta thời ấy. Nhờ tín ngưỡng Phật giáo mà dân tộc ta có được sự cấu kết lòng dân trong việc dựng nước và giữ nước để đánh bại giặc ngoại xâm. Đó là ba cuộc kháng chiến đại thắng Nguyên - Mông vĩ đại. Nhìn lại lịch sử thời Trần, chúng ta càng thấy vị trí và vai trò không nhỏ của đạo Phật trong việc giữ nước an dân. Về điều này, P.Tilich, nhà nghiên cứu tôn giáo Nga nói: “Tín ngưỡng tôn giáo là mối quan tâm cao nhất của con người và tôn giáo là nội dung thiết yếu của văn hóa”.

 

 

Dẫn nhập:

 

Không ít người cho rằng đạo Phật là đạo xuất thế, nhưng thực tế Phật giáo Việt Nam là đạo nhập thế? Xin thưa rằng xuất thế có nghĩa là siêu xuất, siêu việt hơn đời, chứ không phải là ra ngoài đời như nhiều người tưởng. Tổ Huệ Năng, vị Tổ thứ 6 phái Thiền Tông Trung Hoa đã nói:

 

“Phật pháp tại thế gian

Bất ly thế gian giác,

Ly thế mịch Bồ đề

Kháp như cầu thố giác”.

 

Có nghĩa là: Phật pháp trên thế gian này không thể tách khỏi thế gian mà có giác ngộ, nếu tách khỏi thế gian mà tìm cầu sự giác ngộ thì không khác gì đi tìm lông rùa sừng thỏ (một điều không bao giờ có được). Điều đó nói lên sự quan hệ mật thiết giữa Phật pháp và thế gian.

 

Đọc lịch sử nói chung và lịch sử Phật giáo Việt Nam chúng ta thấy, từ thế kỷ thứ 13 tinh thần nhập thế của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, do Sơ tổ Trần Nhân Tông sáng lập đã khẳng định rất rõ điều này. Nói đến Trần Nhân Tông thì người Việt Nam ta ai cũng biết đó là ông vua anh hùng và thương dân nhất mực. Nói đến Ngài là nói đến thời đại cực thịnh của nhà Trần, là nói đến vị sư Tổ của phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử. Cuộc đời của Ngài là biểu hiện sức sống diệu kỳ của đạo Phật trong mọi hoàn cảnh đời sống xã hội. Ngài đã chứng minh bằng chính cuộc đời mình qua đạo pháp.

 

Bởi đạo Phật đối với Ngài luôn luôn biểu hiện trong tất cả mọi hoàn cảnh: Đạo Phật có mặt khi đang ở ngôi vua, đạo Phật có mặt trong giờ phút chiến tranh dầu sôi lửa bỏng, đạo Phật có mặt trong lúc an nhàn như ngắm buổi chiều quê (bài thơ Thiên Trường văn vọng), đạo Phật trên con đường đi khắp thôn làng để giảng kinh Thập Thiện, đạo Phật có mặt trong tất cả các mối tương quan vua tôi, cha con, chồng vợ, anh em. Theo quan điểm của Trần Nhân Tông thì “Sống mà không giúp gì cho đời là điều đáng hổ thẹn của kẻ trượng phu”.

 

Trần Nhân Tông có lẽ đã chịu ảnh hưởng không ít tư tưởng Thiền tông của Tuệ Trung Thượng sĩ vì theo như lời Trần Nhân Tông: “Thiền đối với Thượng sĩ như đã trộn lẫn với thế tục, hòa cùng ánh sáng chứ không trái hẳn với người đời, Thượng sĩ luôn nhập trần - Khoát lộ nhập trần lai (rộng bước đi vào chốn cát bụi). Đối với ông, dưỡng chân tính chính ở nơi cuộc đời trần tục, nơi góc bể chân trời và ông cho rằng phiền não, Bồ đề nguyên bất dị, nếu bỏ phiền não mà lấy Niết bàn thực chẳng khác trốn hình trong nắng chói”(1).

 

Với tinh thần nhập thế ấy, Trần Nhân Tông luôn luôn cảnh tỉnh mọi người đừng bỏ phí thời gian, phải làm việc gì có ích cho đạo và đời. Trong buổi đại tham ở Viện Kỳ Lâm, Ngài đã kêu gọi: “Hỡi các người, quang âm mau quá, đời người trôi không dừng! Làm sao các người ăn cháo, ăn cơm mà không chịu tìm hiểu chuyện cái bát, cái thìa”. Hoặc đề cập về lẽ đời và đạo, Ngài cũng có hai câu thơ như tự vấn mình và nhắc nhở hậu sinh: “Muôn việc nước chảy theo nước/Trăm năm lòng tự hỏi lòng”(2).

 

Với Trần Nhân Tông, sự nghiệp để lại cho đời và đạo thật to lớn: Không lĩnh vực nào mà Ngài không tỏa sáng, đó là nhận xét và đánh giá của các học giả và các nhà khoa học ở nhiều lĩnh vực phát biểu như vậy về Ngài. Sinh ngày 11 tháng 11 năm Mậu Ngọ (1258) là con trưởng của Trần Thánh Tông và là cha của Trần Anh Tông. Năm 21 tuổi, Trần Nhân Tông lên ngôi hoàng đế (1279). Tuy ở địa vị ngôi vua mà Ngài vẫn để tâm vào việc tu tập. Giặc Nguyên - Mông xâm lăng xứ sở, Trần Nhân Tông hai phen cầm binh ra trận cùng với Trần Hưng Đạo dẹp giặc giữ nước và cả hai lần đều chiến thắng rực rỡ (1285-1288). Năm Quý Tỵ 1293, Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông, còn Ngài lên làm Thái thượng hoàng, ở địa vị này 6 năm, Ngài dạy bảo con cháu và sắp xếp việc xuất gia.

 

Vậy khi nhường ngôi cho con, đức vua Trần Nhân Tông đã dạy con những điều gì trong “Buổi lễ truyền ngôi vua cho Thái tử Trần Anh Tông” trước triều đình văn võ bá quan và nhân dân Đại Việt.

 

Với tinh thần ôn cố tri tân, đây là dịp chúng ta thêm một lần để nhìn lại lịch sử vẻ vang của cha ông thời Trần. Thiết nghĩ với cuốn sách “Đức vua Trần Nhân Tông dạy con cách trị nước và tín ngưỡng đạo Phật” của soạn giả Nguyễn Nhân (Do nhà xuất bản Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam ấn hành năm 2017) mới đây, sẽ là điều bổ ích giúp chúng ta hình dung và hiểu được phần nào lịch sử nước nhà (cách đây trên 700 năm). Với tầm nhìn viên dung cả đời và đạo của Trần Nhân Tông, đến nay chúng ta nhìn lại tưởng như còn nguyên giá trị, (xin được tóm lược và trích một phần nguyên văn buổi lễ truyền ngôi này trong cuốn sách nói trên của soạn giả Nguyễn Nhân), ngõ hầu giúp độc giả và đạo hữu hiểu sâu thêm về một phái Thiền nhập thế riêng có của Việt Nam:

 

Tham dự buổi lễ này gồm có:

- Những vị cao niên trong nước

- Quan chức trong triều và các địa phương

- Những vị có công lớn với quốc gia

- Những vị công dân ưu tú đại diện nhân dân

- Những vị trong hoàng tộc

 

Nội dung chánh đề:

 

Mở đầu, đức vua nói: Thưa quý cụ cao niên; thưa quan chức trong triều và địa phương; thưa các vị có công lớn với quốc gia; thưa những vị đại diện nhân dân; thưa thân nhân trong hoàng tộc. Hôm nay, triều đình nhà Trần tổ chức lễ truyền ngôi vua lại cho con chúng tôi là Thái tử Trần Anh Tông, để thay tôi cai quản quốc gia Đại Việt này.

 

Tôi là quốc vương Trần Nhân Tông, cai quản nước Việt Nam. Trước tiên, thăm hỏi sức khỏe quý cụ, quý vị, sau tôi có đôi lời dạy con chúng tôi:

 

1. Cách giữ nước

2. Cách thờ phụng trong nhân dân

3. Quý vị dự lễ hôm nay, có thắc mắc điều chi xin mời hỏi

 

Trước tiên, tôi dạy Thái tử Trần Anh Tông: Này Thái tử Trần Anh Tông, hôm nay là buổi lễ phụ vương truyền ngôi vua lại cho con để lãnh đạo nước Việt Nam thân thương này, phụ vương dạy con 2 phần như sau:

 

- Một là cách giữ nước.

- Hai là cách cai quản việc thờ phượng trong nước.

 

Phần một: Bảo vệ Tổ quốc, con phải hiểu thấu triệt và nghiêm chỉnh thực hiện 6 điều như sau:

 

- Một: Con phải hiểu nước Việt Nam thân yêu của chúng ta là một quốc gia có đa sắc tộc do tổ tiên lưu truyền lại.

- Hai: Cá nhân con là một vị vua, con phải công minh, chính trực và thương dân như con.

- Ba: Viên chức làm việc trong triều cũng như các địa phương, con phải tổ chức thi tuyển, chọn ra những người có tài có đức để phục vụ nhân dân. Tuyệt đối không đem người thân mà không có tài đức gì vào bộ máy chính quyền làm việc.

- Bốn: Những người gian dối, tham lam, con không thu nhận làm việc trong bộ máy chính quyền.

- Năm: Toàn dân ai cũng bình đẳng như nhau.

- Sáu: Hạnh phúc của mỗi công dân, tuyệt đối con và những quan chức phải tôn trọng.

 

Trên đây là 6 điều con phải thực hiện cho đúng.

 

Phần hai: Phần tín ngưỡng trong nhân dân, con chỉ công nhận những chánh tín, còn mê tín dị đoan con phải ra lệnh dẹp bỏ.

 

Vì sao vậy? Vì mê tín dị đoan là nguồn gốc đưa quốc gia đến chỗ nguy vong. Phần nhiều, những nước lớn họ sử dụng tín ngưỡng đi trước, sau đó mới đem quân đội thôn tính sau, nên họ thành công rất dễ dàng.

 

Phụ vương dạy con rõ: Ở thế giới vật lý này, những hiện tượng lạ ở trong không gian cũng như trong vạn vật đều là do biến chuyển của vật lý cả, chớ không có ông thần bà thánh hay ma, quỷ nào làm ra. Sở dĩ những người thấy hiện tượng lạ, họ nói và thêu dệt thêm, là họ có ý đồ không tốt.

 

Phụ vương dạy con rõ thêm: Trong tam giới này là nói chung, còn nói rộng là mênh mông trong càn khôn vũ trụ và các loài trên trái đất: Loài nào sinh hoạt theo loài đó. Ví dụ: Loài người không sinh ra loài khác được, bất cứ loài nào cũng vậy. Vì vậy, các cõi khác họ cũng lo cho cõi của họ, chứ họ đâu có đến thế giới này ban phước giáng họa cho ai. Phần mê tín dị đoan, nếu con không dẹp bỏ, khi có ngoại bang xâm chiếm nước ta, thì những người mê tín này, chắc chắn họ không đồng tình với con chống giặc ngoại giữ nước.

 

Vì sao vậy? Như phụ vương đã nói ở trên, kẻ nào muốn xâm lăng nước khác. Đầu tiên, họ đưa mê tín vào trước để cho nhân dân nước mà họ muốn xâm chiếm không còn yêu nước nữa, mà tâm trí của những người này, ngày đêm cứ mơ mộng chuyện trên trời dưới đất. Thử hỏi, con làm sao giữ vững quốc gia Việt Nam mình cho được.

 

Phụ vương nói rõ cho con hiểu: Trước kia, phụ vương chưa giác ngộ “Yếu chỉ Thiền tông” của đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy, thì phụ vương cũng như bao người khác. Nhưng nay, phụ vương đã giác ngộ “Yếu chỉ Thiền tông” rồi, phụ vương biết tất cả những điều biến chuyển của vật chất là tự nhiên của nó. Còn nói về tinh thần, phụ vương cũng hiểu và biết rất rõ như sau:

 

- Về vật chất: Trên trái đất này, không vật gì đứng yên một chỗ cả, mà nó phải luân chuyển theo dòng Thành - Trụ - Hoại - Diệt.

- Về tinh thần: Con phải hiểu như sau, tất cả chủng loài động vật, trong đó có con người. Loài nào cũng có tính của nó cả, loài người cũng vậy.

 

Phụ vương dạy cho con rõ về tính người như sau:

 

1. Tính người, người nào cũng mang một khối nghiệp mà họ đã tạo ra từ vô lượng kiếp trước đến nay.

2. Tứ đại hình thành ra một con người, phải trải qua công thức vật lý âm dương của cha mẹ, thì mới sinh ra được.

3. Khi cha mẹ giao hợp, rất nhiều “Trung ấm thân”(3) đến dự và nhào vô bào thai để làm con của cha mẹ đó. Nhưng trung ấm thân nào có vay hoặc trả nhiều với cha mẹ thì tự nhiên được nghiệp hút vào, liền khi đó tâm người được hình thành, đủ ngày tháng một con người được sinh ra.

4. Về tinh thần mà loài người gọi là tâm, là sản phẩm duyên hợp vật chất mới có được.

5. Trên trái đất này, hay khắp trong tam giới, hoặc trong càn khôn vũ trụ này không có bàn tay quyền năng nào làm việc này cả.

 

Thái tử Trần Anh Tông, nghe phụ vương dạy như vậy, nên đứng lên lễ phép thưa hỏi: Kính thưa phụ vương, cái ban đầu của một con người hay muôn vật là do đâu mà có?

 

Đức vua Trần Nhân Tông dạy Thái tử Trần Anh Tông: Bất cứ ai muốn trả lời câu hỏi này, thì người đó phải nhận ra “Tánh thanh tịnh Phật tánh của chính mình”. Từ tánh thanh tịnh Phật tánh đó: Thấy, Nghe, Nói và Biết mới đúng được, còn chưa nhận ra Phật tánh thanh tịnh của mình, mà trả lời câu này, là phải sử dụng tánh người của chính mình, tưởng tượng, suy nghĩ để trả lời thôi, thì không thể nào đúng được.

 

Phụ vương dạy rõ con phần ban đầu này: Trong càn khôn vũ trụ này có căn bản 2 phần như sau: Một là Phật giới, tức thế giới mười phương chư Phật ở. Trong Phật giới có 4 phần như sau:

 

1. Không gian mênh mông trùm khắp, đức Phật Thích Ca Mâu Ni gọi là “Phật”, phụ vương cũng thấy và gọi như vậy.

 

2. Điện từ Quang mênh mông trùm khắp này, là điện từ lúc nào cũng rung động, có bổn phận là chuyển đi Thấy, Nghe, Tiếng, Biết đi xa hoặc thu gần lại. Điện từ Quang này chính là sự sống của chư Phật, tánh Phật ở trong Phật giới. Cũng chính điện từ Quang này, là sự sống cho loài người và muôn loài ở trái đất cũng như trong một tam giới.

 

3. Trong Phật giới có hằng hà sa số cái Ý, không thể nào đếm được. Vì vậy, đức Phật Thích Ca Mâu Ni mới ví dụ, đem số cát của một tỷ sông Hằng ra đếm, thì số Ý trong “Bể tánh thanh tịnh Phật giới” còn nhiều hơn số cát của mấy tỷ sông Hằng này nữa.

 

Trong mỗi cái Ý có 4 thứ như sau:

 

1. Thấy, lúc nào cũng thấy, gọi là hằng Thấy.

2. Nghe, lúc nào cũng nghe, gọi là hằng Nghe..

3. Pháp, tức tiếng nói, khi Ý muốn phát ra tiếng, có tiếng phát ra liền.

4. Biết, cái biết này biết 3 thứ trên, gọi là hằng Biết.

 

Trong “Bể tánh thanh tịnh” có hằng hà sa số cái Ý, trong mỗi cái Ý nó nằm gọn trong vỏ bọc cấu tạo bằng điện từ Quang. Vỏ bọc này đức Phật gọi là “Tánh”, cho nên Ngài gọi gọn là “Phật Tánh”, phụ vương cũng biết và thấy như vậy.

 

Phần hai: Tam giới là nói một thái dương hệ.

 

Tam giới này có bao nhiêu, phụ vương dạy con: Một thái dương hệ là một tam giới. Trong một tam giới có:

 

1. Có 33 cõi Trời và 6 nước Tịnh độ, có vô số loài Trời và Tiên sinh sống.

2. Có một cõi Thần, có vô số loài Thần.

3. Có một cõi người, có vô số loài người.

4. Có một cõi ngạ quỷ, có vô số ngạ quỷ.

5. Có một cõi súc sinh, có vô số loài súc sinh.

6. Có một cõi địa ngục, có 18 tầng, có vô số loài.

 

Mỗi tiểu thiên thế giới có 1 ngàn thái dương hệ. Mỗi tiểu thiên thế giới nhân cho 1 ngàn, số ra này là trung thiên thế giới, là một triệu tam giới. Số trung thiên thế giới nhân cho 1 ngàn nữa, số ra này là đại thiên thế giới, Đại thiên thế giới này có một tỷ tam giới. Lấy 1 tỷ tam giới nhân cho 3 lần nữa, số ra này là tam thiên đại thiên thế giới; mà đức Phật Thích Ca Mâu Ni cũng như phụ vương hiểu biết thật rõ ràng là trong càn khôn vũ trụ này có hằng hà sa số Tam thiên Đại thiên thế giới như vậy.

 

Phụ vương dạy con:

 

- Trong mỗi loài có sự sống riêng của loài đó, loài này không thể xen vào loài khác được.

 

- Hình thành một con người, là do tinh cha noãn mẹ hợp lại mà hình thành 1 con người.

 

- Trong mỗi con người có cái tánh, mà mỗi tánh người có đến 16 thứ, trong kinh đức Phật gọi là: Thọ, Tưởng, Hành, Thức, Tài, Sắc, Danh, Thực, Thùy, Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi, Ác, Kiến.

 

Nhờ tánh Phật, mà loài người nói riêng, còn muôn loài nói chung mới có sự sống. Sự sống này là do cái Ý trong Phật tánh hoạt động. Nhờ vậy, nên loài người hay muôn vật: Thấy, Nghe, Nói và Biết được.

 

Phụ vương dạy con tổ chức trong một tam giới như sau:

 

- Trong một tam giới: Gồm có 6 hành tinh cấu tạo bằng ngũ hành như trái đất chúng ta đang sống, gồm: (Đất, Nước, Không khí, Lửa và Điện từ âm dương). Là nơi 5 loài đang sống chung gồm có: Loài người, loài thần, loài ngạ quỷ, loài súc sinh, loài địa ngục

 

- Trái đất mà loài người đang sống có 2 đầu hút và đẩy:

 

1. Đầu hút vào gọi là cửa Hải Triều Âm: Nơi hút Phật tánh từ Phật giới vào thế giới loài người để đi luân hồi; nơi hút các trung ấm thân từ trong các nơi trở lại làm người để nghiệp mới đi luân hồi nữa.

 

2. Đầu đẩy ra gọi là cửa Hải Triều Dương: Nơi duy nhất đẩy vỏ bọc tánh Phật và khối công đức trở lại Phật giới để hình thành ra ngôi nhà pháp thân thanh tịnh và kim thân của một vị Phật.

 

Đức vua Trần Nhân Tông dạy chánh tín và mê tín:

 

1. Đền: Thờ những vị anh hùng dân tộc, để cho toàn dân chiêm ngưỡng, nhớ công ơn và học gương hạnh của các Ngài là chánh tín, còn mê tín, là lạy các Ngài, tưởng rằng các Ngài là thần linh.

 

2. Đình: Nơi thờ hồn thiêng sông núi, hay những người có công trận lớn với địa phương. Đến với các Ngài, chúng ta nhớ ơn và noi theo việc làm đúng của các Ngài là chánh tín, còn lạy và cầu xin các Ngài là mê tín.

 

3. Lăng: Nơi an nghỉ của các vị vua, hay những vị có công trận thật lớn với quốc gia. Chúng ta chỉ đến viếng các Ngài, bằng cái tâm ngưỡng mộ là chánh tín, còn lạy và cầu xin là mê tín.

 

4. Miếu: Nơi thờ những vị quan có chức vụ lớn trong quốc gia, hay những người dân bình thường mà cũng có công trận lớn với địa phương, đến để kính viếng là chánh tín, còn lạy và cầu xin là mê tín.

 

Thái tử Trần Anh Tông nghe phụ vương giải thích quá rõ ràng, hết sức vui mừng và cám ơn phụ vương.

 

Đức vua Trần Nhân Tông nói: Trước khi trẫm hành lễ truyền ngôi lại cho Thái tử Trần Anh Tông. Vậy, tất cả những vị có mặt hôm nay, ai có thắc mắc điều chi về giữ nước cũng như tín ngưỡng xin mời hỏi, trẫm giải đáp rõ ràng cho, khi trẫm đã lên núi Trúc Lâm Yên Tử ở rồi, quý vị có thắc mắc điều chi không ai giải đáp. Đặc biệt, là các quý cụ cao tuổi, khó lên trên núi được

 

Phần này gồm 12 vị đặt câu hỏi: Nội dung các câu hỏi tập chung xung quanh vấn đề giữ nước và tín ngưỡng Phật giáo, trong đó có câu hỏi cuối cùng của buổi lễ là Thái tử Trần Anh Tông. Đức vua Trần Nhân Tông hoan hỷ trả lời. (xin được trích dẫn nguyên văn một số câu hỏi và trả lời dưới đây)

 

Vị thứ nhất: Cụ Lê Trọng Chính, 75 tuổi, người ở nội thành Thăng Long, đứng lên thưa hỏi như sau:

 

- Kính thưa đức vua, tôi xin thay mặt cho những vị cao niên trong nước, xin nguyện hứa với đức vua và Thái tử Trần Anh Tông rằng: Chúng tôi sẽ dạy con cháu và người thân 6 điều như sau:

 

1. Tuyệt đối phải trung thành với Tổ quốc.

2. Bất cứ ai cũng phải có bổn phận bảo vệ Tổ quốc này.

3. Tuyệt đối, không cho người ngoại bang xâm chiếm một tấc đất nào.

4. Chúng tôi dạy con cháu biết điều hay lẽ phải.

5. Tôn trọng pháp luật.

6. Người người nhà nhà, ai cũng có nghĩa vụ với Tổ quốc.

 

Cụ Lê Trọng Chính vừa dứt lời, những người dự lễ nơi đại sảnh đều đứng lên vỗ tay và nói: Chúng tôi được đức vua mời dự lễ là một danh dự rất lớn, xin hứa với đức vua và thái tử, chúng tôi xin làm tròn 6 phần mà cụ Lê Trọng Chính hứa với đức vua và thái tử nơi đại sảnh này.

 

Vị thứ ba: Cụ Lê Khánh Truyền, 68 tuổi, ở Ninh Bình đứng lên trình thưa hỏi:

 

- Kính thưa đức vua, Ngài đã dạy trong “Bể tánh thanh tịnh Phật giới”, nhưng vì chúng tôi chưa rõ lắm, vậy kính xin đức vua dạy thật rõ cho chúng tôi hiểu, xin thành thật cám ơn?

 

Đức vua trả lời cho cụ Lê Khánh Tuyền:

 

- Câu hỏi cụ thật là cao xa. Ở nơi đại sảnh này, theo trẫm biết chưa có vị nào hiểu Thiền tông rõ cả. Nhờ câu hỏi của cụ, trẫm nói ra nếu vị nào chăm chú nghe thì sẽ hiểu, vị đó coi như giác ngộ “Yếu chỉ Thiền tông”. Vậy cụ hãy lắng nghe, trong Phật giới gồm:

 

1. Điện từ Quang trùm khắp.

 

2. Có hằng hà sa số cái Ý, trong mỗi cái Ý có 4 thứ như sau:

- Ý luôn lúc nào cũng Thấy, nên Trẫm gọi là hằng Thấy.

- Ý luôn lúc nào cũng Nghe, nên Trẫm gọi là hằng Nghe.

- Ý luôn lúc nào cũng động, khi Ý muốn phát ra tiếng thì liền có tiếng, nên trẫm gọi là hằng Pháp.

- Ý luôn lúc nào cũng Biết, nên Trẫm gọi là hằng Tri.

- Bốn thứ: Thấy, Nghe, Nói, Biết, nó nằm gọn trong vỏ bọc của điện từ Quang, nên đức Phật cũng như Trẫm gọi là “Tánh”.

- Trong không gian mênh mông không biên giới, đức Thích Ca cũng như trẫm gọi là “Phật”.

- Phật trùm đến đâu, thì đơn vị tánh có đầy khắp theo đó, nên đức Thích Ca cũng như trẫm gọi chung là “Phật Tánh”. Giống như ở thế gian này, nước biển có đến đâu thì cá có đến đó, nên loài người gọi là “cá biển” vậy.

 

Nói riêng về phần trẫm: Từ vô lượng kiếp trước, trẫm đã tạo ra công đức rất nhiều, còn phước đức thì vô lượng, nên đời này trẫm được làm vua. Chức vua của trẫm ở thế giới này, nếu đem so sánh với một vị nhận ra Phật tánh và hằng sống với tánh Phật của chính mình, thì chức vua của trẫm chỉ là cái ảo tưởng của vật lý mà thôi.

 

Vì trẫm đại may mắn giác ngộ “Yếu chỉ Thiền tông”, đạt luôn ‘Bí mật Thiền tông” và hằng sống với tánh Phật của trẫm, nên trẫm thấy và biết rõ như nói trên. Vì vậy, trẫm quyết định truyền ngôi vua lại cho con để lên núi Trúc Lâm Yên Tử khai lập đạo Thiền tông Việt Nam, để cho ai muốn giác ngộ và giải thoát biết và lưu lại cho các đời sau. Trẫm cũng nói rõ cho quý cụ biết, tại núi Trúc Lâm Yên Tử này, ngoài trẫm ra còn có các vị kế tiếp đạt được “Bí mật Thiền tông” nữa, làm Tổ sư của dòng Thiền tông Thích Ca Văn.

 

Vị thứ sáu: Cụ Lương Thành Đạt, 78 tuổi, ở Thái Bình hỏi:

 

- Kính thưa đức vua, làm sao tạo ra công đức và làm sao tạo ra phước đức?

 

Đức vua trả lời: Muốn có công đức, cụ phải tìm hiểu 4 căn bản như sau:

 

1. Trong “Bể tánh thanh tịnh Phật tánh” là gì?

2. Phật tánh cấu tạo bằng những gí?

3. Tu sao được giải thoát?

4. Tu sao bị luân hồi?

 

Chỉ cần cụ thông hiểu 4 phần trên và đi nói lại cho người khác biết, nếu người khác cũng thông hiểu như cụ là cụ có công đức. Còn muốn có phước đức, cụ bố thí hay giúp đỡ người khác là có phước đức.

 

Vị thứ bảy: Cụ Lý Chánh Trung, 69 tuổi, ở Nam Định, thưa hỏi:

 

- Thưa đức vua, Ngài 45 tuổi, tức còn quá trẻ, Ngài thấy ngôi vua và Thiền tông bên nào quý hơn?

 

Đức vua trả lời cụ Lý Chánh Trung:

 

- Người ham chức ham quyền nơi thế giới này, thì ngôi vua là quý nhất.

 

- Người thích giác ngộ và giải thoát, thì pháp môn Thiền tông này là quý nhất.

 

Vị thứ chín: Cụ Trưng Thế Hoành, 80 tuổi, ở Ninh Bình hỏi:

 

- Kính thưa đức vua, thần trước kia làm quan trong triều, đã nghỉ hưu 15 năm rồi, đức vua hằng sống với tánh Phật Thanh tịnh, thì làm sao đánh giặc Nguyên - Mông được. Vậy, kính xin đức vua cho thần hiểu, tại sao đức vua lại đánh đuổi được giặc ngoại xâm dễ dàng như vậy, kinh xin cám ơn đức vua?

 

Đức vua dạy cụ Trương Thế Hoành:

 

Người tu theo Thiền tông Phật giáo phải hiểu mỗi con người có 2 tánh:

 

- Một là tánh Phật thanh tịnh: Người nào hằng sống với tánh Phật thanh tịnh của chính mình, là người không dính mắc.

 

- Hai là tánh người: Người nào sống với tánh người, thì dính mắc chuyện thế gian.

 

Trẫm nói cho khanh rõ:

 

- Người tu theo Thiền tông, nếu muốn giúp người giác ngộ và giải thoát, thì sử dụng tánh Phật.

 

- Còn người bảo vệ Tổ quốc, gia đình và làng xóm, thì sử dụng tánh người, nhưng phải kèm theo ý chí là không sợ, tức để tâm thanh tịnh mà pháp môn Thiền tông đức phật dạy, thì việc gì cũng dễ thành công.

 

Trẫm cũng nói cho khanh rõ:

 

- Người tu theo pháp môn Thiền tông có những cái lợi: 

 

- Một là, không mê tín dị đoan.

 

- Hai là, không cầu khẩn thần quyền.

 

Cụ Trương Thế Hoành hết sức vui mừng và cám ơn đức vua.

 

Vị thứ mười hai (cuối cùng): Thái tử Trần Anh Tông có trình thưa hỏi phụ vương như sau:

 

- Kính thưa phụ vương, thuật đánh xâm lược của phụ vương con đã hiểu. Vậy, kính xin phụ vương dạy con căn bản giữ nước như thế nào cho bền vững?

 

Đức vua dạy Thái tử Trần Anh Tông: Con muốn quốc gia cường thịnh và yên ổn thì con phải dạy nhân dân như sau:

 

-Một: Quốc gia mất thì nhà phải tan!

 

-Hai: Không tủi nhục nào bằng dân mất nước!

 

-Ba: Phải làm nô lệ cho người cướp nước mình!

 

Trên đây là 3 căn bản tủi nhục của người bị mất nước.

 

- Một vị cầm quân giỏi thì phải hiểu rõ 4 phần:

 

Một: Hiểu rõ chiến thuật của đối phương.

 

Hai: Hiểu rõ quân số của đối phương.

 

Ba: Hiểu rõ lương thực của kẻ xâm lăng nuôi số binh sĩ của họ được bao nhiêu ngày?

 

Bốn: Con phải dạy cho toàn quân, toàn dân thuật đánh quân xâm lược như sau:

 

- Khi đối mặt với quân thù, tâm phải kiên cường và không sợ.

 

- Đừng vội tấn công.

 

Vì sao vậy? Vì quân thù khi đưa quân xâm lược nước ta, ban đầu họ rất hung hăng. Cứ để cho họ hung hăng bước vào nước ta đi. Khi họ mệt mỏi, thì con ra lệnh tấn công và khóa chặt biên giới lại, không cho quân tiếp viện cũng như rút lui.

 

- Con phải nhớ một điều là, khi bọn họ bị thua chạy về nước của họ, con đừng đuổi theo, còn người bị con bắt là tù binh, con phải đối đãi tử tế với họ. Chính lòng bao dung này, mà họ kính nể vua, dân nước ta.

 

- Nếu quân thù quá mạnh, con phải sử dụng “Tiêu thổ”, không cho bọn họ ở trong nhà mình, còn tất cả những gì ăn được, uống được, thì phải chôn giấu hết. Khi bọn họ hết lương thực rồi, thì con ra lệnh đánh nhanh, đánh chắc và quyết thắng.

 

- Khi kẻ xâm lược vào nước ta rồi, tức khắc con phải sử dụng một đội quân tinh nhuệ khóa cửa biên giới lại, không cho tiếp viện hay tháo lui. Đây là thuật nhốt quân trong chiến trận.

 

Thái tử Trần Anh Tông nghe phụ vương dạy, thái tử vâng lời và hứa cố gắng thực hiện đúng lời phụ vương dạy.

 

Đọc những lời của đức vua Trần Nhân Tông dạy, đánh giặc mà không sợ, đây là tuyệt binh thư đời nhà Trần Việt Nam.

 

Thay lời kết

 

Như phần trên đã đề cập, năm Quý Tỵ 1293 vua Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông, còn Ngài lên làm Thái thượng hoàng, ở địa vị này 6 năm, đến tháng 10 năm 1299 (41 tuổi), Ngài chính thức xuất gia và tu hành ở Yên tử, lấy hiệu là Hương Vân đầu đà, sau Ngài lại đổi hiệu là Trúc Lâm đầu đà. Và từ đây Thiền phái Trúc lâm Yên Tử ra đời, một phái Thiền nhập thế riêng có ở Việt Nam. Và theo các nhà nghiên cứu Phật học thì đây có thể coi là sự chuyển luân thích ứng với tinh thần của Phật giáo phát triển Đại thừa. 

 

Qua buổi lễ truyền ngôi báu cho con của vua Trần Nhân Tông mà soạn giả Nguyễn Nhân đề cập trong cuốn sách “Đức vua Trần Nhân Tông dạy con trị nước và tín ngưỡng Phật giáo”(Do NXB Hồng Đức ấn hành - 2017). Chúng tôi thấy đây là một tư liệu quý nói về việc giữ nước và tìn ngưỡng của Phật giáo thời Trần cách đây trên 700 năm. Và hôm nay nhìn lại, ta vẫn không khỏi kinh ngac về bản lĩnh trí tuệ viên dung cả đời và đạo của cha ông ta trong viêc dựng nước và giữ nước.

 

Khi nói đến lịch sử thời Lý - Trần, là người ta nghĩ ngay đến một quốc gia Phật giáo, bởi Phật giáo đã thể nhập toàn diện vào đời sống con người, xã hội và dân tộc ta thời ấy. Nhờ tín ngưỡng Phật giáo mà dân tộc ta có được sự cấu kết lòng dân trong việc dựng nước và giữ nước để đánh bại giặc ngoại xâm. Đó là ba cuộc kháng chiến đại thắng Nguyên - Mông vĩ đại. Nhìn lại lịch sử thời Trần, chúng ta càng thấy vị trí và vai trò không nhỏ của đạo Phật trong việc giữ nước an dân. Về điều này, P.Tilich, nhà nghiên cứu tôn giáo Nga nói: “Tín ngưỡng tôn giáo là mối quan tâm cao nhất của con người và tôn giáo là nội dung thiết yếu của văn hóa”.

 

Soi lại tấm gương lớn lịch sử dân tộc, người viết bài này bỗng nhớ, và cần phải nhắc lại câu nói của Giáo sư Cao Huy Thuần khi đề cập về đạo Phật thời Lý Trần trong bài “Hãy bay với hai cánh vào hiện đại” (Nhân tuần Văn hóa Phật giáo 2012 tại Nghệ An) giáo sư nói với giới trẻ như thế này: “Chẳng lẽ đạo Phật trí tuệ đã bay cả rồi qua bên Tây? Chẳng lẽ Tây phương thừa hưởng hết tinh túy của Phật giáo? May thay chúng ta rất giàu lòng tin, nhưng buồn thay, lắm khi, lắm nơi vẫn còn mê tín, đó không phải là đạo Phật. Không, nhất thiết ta không để gãy đôi cánh trí tuệ của con đại bàng Lý Trần. Nhất quyết ta củng cố lòng tin chân chính”. 

 

Đoạn văn trên, như một lời thôi thúc nhắc giới trẻ nước nhà cần phải thay đổi cách tiếp cận giáo lý đạo Phật bằng tư duy khoa học, khi mà giáo lý của đạo Phật đang được các nước phương Tây đón nhận với một thái độ minh triết và khoa học. Có như vậy, mới không hổ thẹn với cha ông và dân tộc.

 

Cư sĩ Nguyễn Đức Sinh

Số 18, phố Quang Trung, Tp.Uông Bí, Quảng Ninh.

 

Chú thích:

(1) Thơ văn Lý Trần - UBKHXH

(2) Lịch sử Phật giáo VN - Viện Triết học UBKHXH

(3) Trung ấm thân, gọi theo thuật ngữ đạo Phật; tín ngưỡng dân gian gọi linh hồn, vong.

(4) P. Tilich - 1959 Thần học văn hóa - Nxb Matxcova. tr5

Tài liệu tham khảo:

1. Vua Trần Nhân Tông dạy con cách trị nước và tín ngưỡng Phật giáo – Soạn giả Nguyễn Nhân –Nxb Hồng Đức, 2017.

2. Tính nhập thế của Phật giáo Việt Nam qua Thiền phái Trúc Lâm – Thích Gia Quang –Nội san Nghiên cứu Phật học số 06/1992.

3. Thiền học đời Trần (nhiều tác giả) – Nxb Tôn giáo, 2003

4. Hay bay với đôi cánh vào hiện đại – Báo điện tử phatgiao.org.vn

______________

Nguồn: phatgiao.org.vn

NHỮNG CÁI NHẤT CỦA PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG

Không chỉ là vị vua anh minh, người duy nhất được tôn làm Phật hoàng, ông còn là vị vua có tầm ảnh hưởng quốc tế lớn nhất của dân tộc VN.Trần Nhân Tông( 1258 – 1308), tên thật là Trần Khâm, là vị vua thứ ba của nhà Trần, ở ngôi 15 năm, ông được nhiều sử gia đánh giá là vị vua anh minh nhất trong lịch sử Việt Nam.

Ảnh : Tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông được hộ thần nhập tượng tại đỉnh Yên Tử sáng sáng 3/12/2013 

Với tài cai trị xuất sắc, Trần Nhân Tông đưa đất nước Đại Việt đạt đến sự phát triển đỉnh cao trong lịch sử. Ông cũng có vai trò lãnh đạo quan trọng trong thắng lợi của hai cuộc kháng chiến chống Nguyên- Mông lần thứ hai và thứ ba. Với những cống hiến ấy, tên tuổi của vua Trần Nhân Tông đã được các học giả đưa vào danh sách 14 anh hùng dân tộc tiêu biểu nhất của Việt Nam.

Trần Nhân Tông là vị hoàng đế duy nhất được tôn làm Phật hoàng trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc

Sau khi nhường ngôi cho con trai là Trần Anh Tông, ông đã xuất gia tu hành và lập nên Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử- trường phái Phật giáo đặc sắc của Việt Nam. Là tổ thứ nhất của dòng thiền này, về sau vua được dân cung kính gọi là Phật hoàng.

Ảnh: Tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông bằng đá trong vườn tháp Huệ Quang ( Hoa Yên- Yên Tử).

Về mặt trí tuệ, Trần Nhân Tông là một trong những vị vua có học vấn uyên thâm nhất trong lịch sử Việt Nam.

 

Sử sách ghi lại, luc sinh thời, vua là người thông minh, hiếu học, đọc hết các sách vở, thông suốt nội điển và ngoại điển. Ông đã viết nhiều tác phẩm có giá trị, nhưng đáng tiếc phần lớn đều đã thất lạc, chỉ cònh lại 25 bài chép trong Việt âm thi tập và Toàn việt thi lục.

Ảnh : Tượng ngọc của Phật hoàng Trần Nhân tông được tôn tạc tại chùa Vĩnh Nghiêm

Trên phạm vi thế giới, Trần Nhân Tông là vị hoàng đế Việt Nam có tầm ảnh hưởng quốc tế lớn nhất của dân tộc.

Tên tuổi của ông đã được đặt cho một viện nghiên cứu đặt tại thành phố Boston của Mỹ, nơi nghiên cứu các giá trị từ di sản vua Trần Nhân Tông đối với thế giới.

Hình ảnh chụp từ Website viện Trần Nhân Tông


Một giải thưởng mang tên Trần Nhân Tông về hoà giải cũng đã được ra đời, là giải thưởng quốc tế đầu tiên mang tên Việt Nam, hàm chứa các giá trị Việt Nam được phổ quát tới toàn nhân loại.

________________

trungtamhuyentran.thuathienhue.gov.vn

ĐÔI NÉT VỀ VUA TRẦN NHÂN TÔNG VÀ HOÀNG HẬU BẢO THÁNH

Trần Nhân Tông

 

Vua Trần Nhân Tông tên huý là Trần Khâm, ngoài ra lúc nhỏ còn có tên là Nhật Tôn hay Kim Phật. Ông là vị vua thứ 3 của triều Trần, con trai trưởng vua Trần Thánh Tông và hoàng hậu Thiên Cảm. Hoàng hậu Thiên Cảm là con gái Trần Liễu, chị em gái của Trần Hưng Đạo và Tuệ Trung thượng sĩ Trần Tung (người có khá nhiều ảnh hưởng đến tư tưởng tôn giáo của Trần Nhân Tông về sau).

 

Ông sinh năm 1258. Lúc mới sinh, Đại Việt sử ký toàn thư đã miêu tả ông là “được tinh anh của thánh nhân, đạo mạo thuần túy, nhan sắc như vàng, thể chất hoàn toàn, thần khí tươi sáng, hai cung đều cho là lạ, gọi là Kim Tiên đồng tử, vai bên tả có nốt ruồi đen, cho nên có thể cáng đáng được việc lớn”, vua Thánh Tông đặt tên cho ông là Kim Phật. Trong phần đề từ của bức tranh “Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ” đương thời, hoạ sĩ Trần Quang Chỉ thời Nguyên đã ghi lại “Khi lớn, ngài học thông tam giáo và hiểu sâu Phật điển. Ngay cả thiên văn, lịch số, binh pháp, y thuật, âm luật, không thứ gì là không mau chóng nắm được sâu sắc”.

 

Tháng 12 năm 1274, ông 16 tuổi, được sắc phong thái tử, kết hôn với con gái của Trần Hưng Đạo là Quyên Thanh công chúa.

 

Theo "Thánh đăng ngữ lục" thì ông từ nhỏ đã có lòng hướng Phật, không có ý làm vua nên nhiều lần xin nhường ngôi thái tử lại cho em trai mình là Đức Việp, nhưng vua Thánh Tông không chấp nhận. Sau khi kết hôn vài tháng, ông trốn khỏi hoàng cung vào giữa đêm khuya, tá túc ở một ngôi chùa trên Yên Tử. Vua Thánh Tông và hoàng hậu sau khi phát hiện ông biến mất thì vội vàng cho người tìm kiếm, khuyên giải ông về, cuối cùng ông đồng ý trở về. Sau khi về cung, ông nằm mộng thấy một đoá sen vàng mọc ra từ rốn mình nên từ đấy ngày ngày đều ăn chay, cả người gầy guộc. Vua Thánh Tông thấy vậy đau lòng, vừa khóc vừa khuyên ông, ông mới thôi việc ăn chay.

 

Năm 1276, con trai trưởng Trần Thuyên của ông ra đời, người sau này trở thành vua Trần Anh Tông.

 

Năm 1278, ông 20 tuổi. Trần Thánh Tông truyền ngôi vua cho ông để lên làm thái thượng hoàng.

 

Ý đồ đánh chiếm nước ta của nhà Nguyên càng ngày càng rõ. Đoàn sứ giả của Sài Thung do vua Nguyên phái đến nước ta lúc ấy vô cùng ngang ngược. Trên đường thì hà hiếp bá tánh, vào triều thì khinh rẻ quần thần. Theo sử nhà Nguyên, lúc Sài Thung truyền ý chỉ của Hốt Tất Liệt bắt ông phải sang chầu để nhận sắc phong, ông đã đáp: “Trộm nghe ấu chúa nhà Tống nhỏ dại, thiên tử còn thương xót mà phong cho tước công thì chắc tiểu quốc đây cũng được gia ân thương xót. Trước đây đã được tha miễn 6 việc. Còn lễ tự thân vào chầu, thì tôi sinh trưởng ở thâm cung, không tập cưỡi ngựa, không quen thủy thổ, sợ chết dọc đường. Em tôi là Thái úy trở xuống cũng đều như vậy. Khi thiên sứ trở về chầu vua, xin dâng biểu tâu rõ lòng thành, cùng cho biếu của lạ”.

 

Sài Thung trở về báo việc này lại với Hốt Tất Liệt, nội mật viện của Hốt Tất Liệt đề xuất khởi binh đánh nước ta, nhưng rốt cuộc vẫn chưa vội tấn công, chỉ bắt nước ta đúc tượng vàng ròng to bằng người thật để cống sang triều đình bên ấy, nếu không làm theo sẽ xuất quân.

 

Nhận thấy nguy cơ chiến tranh càng lúc càng gần, ông và triều đình đã gấp rút củng cố đất nước về mọi mặt để có thể sẵn sàng ứng chiến. Ví dụ như tiến hành đại xá, giải oan, sai Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật đến chiêu hàng tù trưởng Trịnh Giác Mật đang làm phản ở Đà Giang, khuyến khích nông nghiệp, thống nhất đo lường, tạo điều kiện cho buôn bán, thống kê dân số để tuyển lính, luyện binh… Đồng thời, triều đình nhà Trần cũng ra sức thắt chặt quan hệ ngoại giao với Chiêm Thành.

 

Sứ giả nhà Nguyên yêu cầu nước ta cho quân Nguyên mượn đường để tấn công Chiêm Thành, nhưng triều đình nhà Trần biết rõ ý đồ của quân Nguyên muốn chiếm Chiêm Thành trước đề về sau tạo thế gọng kềm đánh chiếm nước ta từ hai phía, nên đã mềm mỏng từ chối. Chiêm Thành biết tham vọng của quân Nguyên nên cũng tỏ ý giao hảo với nước ta. Theo ghi chép của sử nhà Nguyên, triều đình nhà Trần đã cho 2 vạn quân và 500 chiến thuyền đến chi viện cho Chiêm Thành. Tuy vua và triều đình nhà Trần không thừa nhận việc này, nhưng nhà Nguyên đã lấy đó làm cớ khép nước ta vào tội phản nghịch để tấn công.

 

Năm 1282, vua Trần Nhân Tông triệu tập Hội nghị Bình Than, họp cùng vương hầu và các quan bàn kế sách chống quân Nguyên. Sự kiện Trần Quốc Toản bóp nát quả cam cũng xảy ra vào thời điểm này.

 

Trần Hưng Đạo được phong chức Quốc công tiết chế, thống lĩnh quân đội toàn quốc. Trần Quang Khải được phong chức Thượng tướng thái sư.

 

Cuối năm 1284, sau khi được tin Hốt Tất Liệt phái Trấn Nam vương Thoát Hoan và các tướng dẫn quân chuẩn bị tấn công, thái thượng hoàng Trần Thánh Tông đã tổ chức hội nghị Diên Hồng để hỏi ý các phụ lão về việc nên hoà hay nên đánh. Khác với hội nghị Bình Than diễn ra vào 2 năm trước đó - là nơi bàn bạc với quan lại và quý tộc, đối tượng trưng cầu ý kiến của hội nghị Diên Hồng là những đại biểu của nhân dân. Trong hội nghĩ Diên Hồng, mọi người đều đồng ý đánh chứ không hoà.

 

Trần Hưng Đạo viết "Hịch tướng sĩ" để cổ vũ lòng quân.

 

Đầu năm 1285, quân Nguyên chia làm 3 đạo tiếng vào Đại Việt. Triều đình nhà Trần cho quân chặn ở cửa khẩu phía Bắc nhưng thất bại. Quân Nguyên vượt qua ải Chi Lăng. Trần Hưng Đạo ra lệnh cho quân lui về Vạn Kiếp.

 

Tướng giặc là Ô Mã Nhi tấn công Vạn Kiếp. Trần Hưng Đạo muốn bảo toàn lực lượng, đồng thời kéo dài thời gian để nhử cho giặc mệt mỏi nên tiến hành rút khỏi Vạn Kiếp. Ô Mã Nhi đuổi theo. Trong trận thuỷ chiến này, vua Trần Nhân Tông đã mang quân đến hỗ trợ đội quân của Trần Hưng Đạo rút lui khỏi Vạn Kiếp. Quân Trần sau khi rút khỏi Vạn Kiếp thì dàn trận ở sông Hồng gần Thăng Long.

 

Quân Nguyên đi đường bộ, dựng trại bên sông Hồng. Vua Trần Nhân Tông chỉ huy việc nghênh chiến ở sông Hồng, nhằm mục đích đánh lạc hướng giặc để người trong cung và dân chúng sơ tán khỏi Thăng Long, thực hiện kế hoạch “vườn không nhà trống”. Để kéo dài thời gian và thu hút sự chú ý của giặc, Trần Nhân Tông cho người sang giả vờ đưa thư cầu hoà. Quân Nguyên không đồng ý. Sau khi nhận được tin việc sơ tán đã xong, thuỷ quân Trần theo sông Hồng rút khỏi Thăng Long, tiến về phủ Thiên Trường.

 

Đây là một cuộc chiến hết sức cam go. Trong suốt cuộc kháng chiến này, quân Trần từng thua nhiều trận, vua cũng suýt gặp nguy hiểm, nhưng nhờ kế hoạch tác chiến toàn cục được tiến hành tương đối tốt, các cánh quân phối hợp hiệu quả, thắng được những trận mang tính chiến lược nên cuối cùng quân ta giành thắng lợi. Các thủ thuật “vườn không nhà trống”, du kích, ly gián (gây chia rẽ người Hán và người Mông Cổ trong nội bộ quân Nguyên, dùng người Hán trong quân Trần tác động người Hán trong quân Nguyên), cũng được phát huy hiệu quả.

 

Cuối tháng 6 năm 1285, quân Nguyên bị quân ta đuổi giết, tháo chạy về nước.

 

Tháng giêng năm 1286, triều đình nhà Trần thả những tù binh bắt được cho về nước.

 

Hốt Tất Liệt muốn phục thù, chuẩn bị tấn công lần nữa. Nhân lúc quân Nguyên chưa thể xuất quân do người Hán đang nổi dậy trong nước, Đại Việt tăng cường luyện binh ứng chiến.

 

Tháng 12 năm 1287, quân Nguyên tấn công Đại Việt. Đây là cuộc chiến tranh chống Nguyên Mông lần thứ 3 của Đại Việt. Vua Trần Nhân Tông một lần nữa tiến hành đại xá, nhiều tù nhân được thả đã nhập ngũ để báo ơn. Thái thượng hoàng Thánh Tông giao cho Trần Nhân Tông quyền chỉ toàn cuộc. Trần Hưng Đạo chỉ huy quân ngũ. Cũng như lần trước, quân Nguyên thắng những trận đầu, về sau nhà Trần mới phản công. Cuộc chiến này diễn ra trong vòng 4 tháng gồm nhiều trận đánh, trong đó có trận thuỷ chiến dùng cọc nhọn ở Bạch Đằng.

 

Cuối tháng 3 năm 1288, quân Nguyên một lần nữa phải trốn chạy về nước, bị quân ta tập kích.

 

Tháng 4 năm 1288, nhà Trần trả tù binh về nước, trong đó có Ô Mã Nhi. Lúc đi thuyền về nước, Ô Mã Nhi bị đắm thuyền và chết. Triều đình nhà Nguyên cho rằng quân Trần cho người ám sát, nhưng không có chứng cứ.

 

Đại Việt tiến hành phục hồi các tổn thất sau kháng chiến.

 

Năm 1290, quân Ai Lao nhiều lần quấy phá biên giới phía tây. Binh lực Đại Việt lúc này đã chịu nhiều thiệt hại sau cuộc chiến với quân Nguyên, nhưng Trần Nhân Tông vẫn quyết định ngự giá thân chinh để thị uy. Theo lý giải của ông, nếu lúc này hoà hoãn, quân Ai Lao sẽ biết Đại Việt đang suy yếu mà tấn công dữ dội hơn.

 

Tháng 3 năm 1292, hoàng tử trưởng Trần Thuyên được lập làm thái tử, kết hôn với con gái của Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng (con trai Trần Hưng Đạo).

 

Tháng 3 năm 1293, vua Trần Nhân Tông nhường ngôi cho thái tử, lên làm thái thượng hoàng.

 

Tháng 9 năm 1293, thái thượng hoàng hậu Bảo Thánh qua đời.

 

Tháng 8 năm 1294, thái thượng hoàng Trần Nhân Tông thân chinh đánh Ai Lao lần thứ 2.

 

Sau khi thắng trận trở về, Trần Nhân Tông xuất gia ở Vũ Lâm (thuộc Ninh Bình) nhưng vẫn can thiệp việc nước, dẫn dắt vua con.

 

Tháng 8 năm 1299, Trần Nhân Tông núi Yên Tử tu khổ hạnh. Theo truyền thuyết, vua Trần Anh Tông sợ cha cực khổ nên cho nhiều cung nữ đến Yên Tử chăm sóc, nhưng Trần Nhân Tông từ chối, bảo các cung nữ trở về. Một số cung nữ đã trầm mình xuống suối tự vẫn. Trần Nhân Tông thương tiếc, làm lễ cầu siêu, đặt tên suối là suối Giải Oan.

 

Năm 1301, Trần Nhân Tông du ngoạn Chiêm Thành.

 

Tháng 3 năm 1308, Trần Nhân Tông qua đời ở am Ngọa Vân núi Yên Tử.

 

Tháng 9 năm 1309, linh cữu được đưa về chôn ở lăng Quy Đức, phủ Long Hưng, hợp táng cùng thái hậu Bảo Thánh. Một phần xá lỵ của ông được cất ở bảo tháp am Ngọa Vân.

 

Hoàng hậu Bảo Thánh

 

Bà tên huý là Trinh, tước hiệu Quyên Thanh công chúa, là con gái duy nhất của Trần Hưng Đạo và công chúa Thiên Thành.

 

Năm 1274, được lập làm hoàng thái tử phi.

 

Năm 1276, sinh trưởng hoàng tử Trần Thuyên, người sau này là vua Trần Anh Tông.

 

Năm 1279, được lập làm hoàng hậu.

 

Tháng 3 năm 1293, được tôn làm thái thượng hoàng hậu.

 

Tháng 9 năm 1293, bà qua đời ở Lỗ Giang, phủ Long Hưng.

 

Đại Việt sử ký toàn thư nhận định về bà:

 

"Thái hậu nhu mì đức tốt, thông minh sáng suốt, nhân hậu với kẻ dưới.

 

Thượng hoàng có lần làm chuồng hổ ở thềm Vọng Lâu, sai quân sĩ đánh nhau với hổ, thượng hoàng ngự trên lầu để xem, thái hậu và phi tần đều theo hầu. Lầu thấp, song chuồng hổ và thềm cũng thấp, hổ bỗng nhiên thoát khỏi chuồng trèo lên lầu. Người trên lầu đều tan chạy cả. Chỉ có Thượng hoàng và Thái hậu cùng 4, 5 thị nữ còn ở đó. Thái hậu nghĩ không khỏi bị hại, mới lấy chiếc chiếu che cho Thượng hoàng và tự che mình. Hổ lên lầu gầm rống rồi nhảy xuống không vồ hại ai cả.

 

Lại một lần Thượng hoàng ngự điện Thiên An xem đấu voi ở Long Trì. Con voi bỗng nhiên xổng thoát,xông tới, định lên điện, tả hữu đều sợ hãi tan chạy cả, chỉ có Thái hậu vẫn ở đó."

-----

Nguồn tư liệu: Wikipedia, Đại Việt sử ký toàn thư, "Trần Nhân Tông - Con người và tác phẩm"

__________

Internet

THIỀN TÔNG LÀ CỘI GỐC CỦA ĐẠO PHẬT

Chúng tôi là những người tu thiền ở Việt Nam, nhưng thời chúng tôi không được sự kế thừa của các vị Tổ trong Ngũ gia tông phái ở Trung Quốc. Song tôi quyết tâm tu thiền nên dồn hết sức mình vào việc nghiên cứu tu Thiền. Điều đáng tiếc là Thiền tông Việt Nam đã vắng bóng gần một thế kỷ, nên chúng tôi phải tự tra cứu, học hỏi trong kinh sách và lịch sử để tìm ra một lối tu.

 

 

Riêng tôi, trước hết tôi tu Lục diệu pháp môn, là phương pháp của Thiền sư Trí Khải ở Trung Hoa, lấy đó làm cương lĩnh ban đầu. Lục diệu pháp môn gồm có sáu pháp: Sổ tức, Tùy tức, Chỉ, Quán, Hoàn, Tịnh. Khi đi sâu vào tu hành, chúng tôi cũng có tiến bộ đôi chút. Dù vậy, tôi rất băn khoăn, muốn thấu hiểu được đường lối tu thiền của chư Tổ để ứng dụng tu, đồng thời kế thừa sự nghiệp của những bậc tôn túc thời trước.

 

Nhưng khi nghiên cứu thiền của chư Tổ chúng tôi thấy rất khó, đọc tác phẩm của các Ngài không hiểu gì cả. Như câu chuyện Tổ Bồ-đề-đạt-ma sang Trung Hoa, ngồi xoay mặt vào vách chín năm. Sau đó có một người tên Thần Quang đến xin tu tập và được Tổ nhận cho làm đệ tử đổi tên thành Huệ Khả, luôn theo hầu Tổ. Một hôm, Ngài Huệ Khả bạch với Tổ Đạt-ma: “Bạch Hòa thượng, tâm con không an, xin Hòa thượng dạy con pháp an tâm”. Tổ Đạt-ma bảo: “Đem tâm ra ta an cho”. Ngài Huệ Khả tìm lại tâm mình, tìm mãi không được, bèn thưa: “Bạch Hòa thượng, con tìm tâm không được”. Tổ bảo: “Ta đã an tâm cho ngươi rồi!”.

 

Câu chuyện đối đáp giữa hai thầy trò, chúng tôi mò mẫm mãi không ra. Tại sao Tổ bảo đem tâm ra ta an cho, rồi ngài Huệ Khả thưa tìm tâm không được, Tổ liền nói: “Ta đã an tâm cho người rồi !”. Lời nói đó bí ẩn ở chỗ nào mà tôi đọc mãi không lãnh hội được, còn ngài Huệ Khả nghe câu đó lại biết lối vào. Điều này ngày xưa chúng tôi rất đau đầu, nghĩ mãi không ra. Thời gian sau, đủ duyên nhập thất tu, tôi cũng đọc đi đọc lại câu chuyện đó, bỗng dưng thấy được lối vào của Tổ Huệ Khả.

 

Nghe câu chuyện trên chúng ta lấy làm lạ, tại sao các ngài không dạy một pháp an tâm mà lại bảo “đem tâm ra ta an cho”? Chúng ta lâu nay cứ nghĩ rằng tâm là cái suy nghĩ, phân biệt tốt xấu, phải quấy của mình. Vì vậy khi ngồi thiền, tâm đó chạy nghĩ tứ tung khiến cho ta bất an. Lúc Tổ Đạt-ma bảo “Đem tâm ra ta an cho”, đó là lời nói của một vị Tổ siêu thoát, phi thường nên Ngài Huệ Khả không dám xem thường. Ngài liền xoay tìm cái tâm lăng xăng của mình. Khi tìm Ngài không thấy hình bóng của nó nữa, tức nó đã lặng. Thế nên Tổ Đạt-ma bảo: “Ta đã an tâm cho ngươi rồi!”.

 

 

Tu Thiền theo Tổ Đạt-ma là cốt quay lại tìm xem cái tâm nghĩ suy lăng xăng đó ở đâu, thật hay giả. Phương pháp này danh từ chuyên môn gọi là “Phản quan tự kỷ”. Bởi vì chúng ta mê lầm tâm hư dối bóng dáng là tâm mình, nên lâu nay bị nó dẫn chạy ngược chạy xuôi. Giờ đây, nhìn kỹ lại nó tan biến. Đó là lối tu của Tổ Đạt-ma dạy, không có trong kinh điển. Vì vậy được gọi là “Giáo ngoại biệt truyền”, tức truyền ngoài giáo lý. Đây chính là chân tinh thần của Thiền tông.

 

Chúng tôi lãnh hội được yếu chỉ đó, nên ứng dụng tu và dạy Tăng Ni, Phật tử Việt Nam tu thiền như thế. Nghĩa là phải nhìn tường tận những tâm niệm vừa dấy khởi, liền biết nó là vọng tưởng hư dối, không theo thì nó tự lặng. Khi nào nó mạnh, làm ồn thì chúng ta phản quan lại, xem nó xuất phát từ đâu, khi đó nó mất tăm mất dạng. Ngài Huệ Khả nhận được yếu chỉ đó rồi, tu một thời gian và trình với Tổ Đạt-ma: “Hiện con đã dứt hết các duyên”. Tổ Đạt-ma bảo: “Coi chừng rơi vào không”. Ngài Huệ Khả thưa: “Rõ ràng thường biết, làm sao không được”. Tổ Đạt-ma liền ấn chứng cho ngài Huệ Khả.

 

Chúng ta thấy đường lối tu của Thiền tông là phải làm sao dứt bặt tâm duyên theo ngoại cảnh. Tâm đó lặng hết, thì cái rõ ràng thường biết hiện tiền, đó là gốc của tu thiền. Khi sáu căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý tiếp xúc với sáu trần bên ngoài là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp mà không dính không nhiễm, lúc đó chúng ta được an tâm.

 

Sau này, Lục tổ Huệ Năng nhân nghe Ngũ tổ dạy kinh Kim cang, đến câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, nghĩa là không có chỗ trụ mà sanh tâm kia, Ngài bừng sáng liền tỉnh ngộ, thốt lên rằng: “Đâu ngờ tâm mình xưa nay thanh tịnh. Đâu ngờ tâm mình xưa nay trùm khắp. Đâu ngờ tâm mình hay sanh muôn pháp”… Lục tổ biết rõ khi tâm không chạy theo, không dính mắc với sáu trần thì đó là tâm an nhiên, thanh tịnh, trong sáng, hằng hữu của chúng ta, nhưng lâu nay mình quên. Giờ đây, không dính với sáu trần nữa nên nó hiển lộ ra, chính là thể thanh tịnh sẵn có xưa nay của chúng ta.

 

Nghe thế Ngũ tổ biết ngài đã triệt ngộ liền truyền tâm ấn và trao y bát cho, rồi dạy ngài về phương Nam giáo hóa. Trên đường Tổ trở về phương Nam, có một đoàn người đuổi theo để giành lại y bát trong đó có Thượng tọa Minh đuổi theo kịp. Thấy vậy, Tổ Huệ Năng liền để y bát trên một tảng đá, rồi chui vào bụi cây trốn. Thượng tọa Minh tới thấy y bát mừng quá liền ôm lên, nhưng ôm không nổi, buộc lòng kêu lên: “Hành giả! Hành giả! Tôi đến đây vì pháp chứ không phải vì y bát”. Nghe vậy, Tổ từ trong bụi cây chui ra, bảo: “Nếu ông đến đây vì cầu pháp, thì hãy đứng yên lặng, ta sẽ nói cho”. Khi Thượng tọa Minh đứng yên lặng giây lâu, Tổ bảo: “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, cái gì là bản lai diện mục của Thượng tọa Minh?”. Ngay câu nói đó, Thượng tọa Minh liền lãnh hội được. Bởi vì tâm vừa nghĩ lành, vừa nghĩ dữ là đã loạn rồi, là tâm vọng tưởng. Một khi khởi nghĩ thì luôn luôn là đối đãi, mà đối đãi là sanh diệt. Không còn mắc kẹt trong đối đãi nữa thì khuôn mặt thật muôn đời sẵn có của mình hiện bày. Cho nên Thiền sư Vô Nghiệp, khi có người hỏi bất cứ câu gì, ngài chỉ trả lời: “Chớ vọng tưởng!”.

 

Tinh thần Thiền này truyền mãi đến Việt Nam vào thế kỷ thứ mười ba. Vua Trần Nhân Tông, khi đi tu Ngài lên núi Yên Tử, lập một hệ phái tên là Trúc Lâm Yên Tử. Ngài có làm bài phú “Cư trần lạc đạo”. Trong đó, câu chót thế này “Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền”. Nghĩa là đối với cảnh mà không có tâm dính mắc thì đừng hỏi thiền chi nữa, vì ngay đó là thiền rồi. Đối với cảnh mà tâm không dính mắc tức là chỗ kinh Kim cang bảo sáu căn đừng dính với sáu trần. Do không dính mắc với sáu trần nên tâm an định. Đó là Thiền. Như vậy, Thiền của Thiền tông là cốt không cho tâm dính mắc với sáu trần. Đó là gốc, là đường lối căn bản của nhà Thiền.

 

Trước khi xuất gia, vua Trần Nhân Tông đã được học với ngài Tuệ Trung thượng sĩ. Khi sắp trở về lên ngôi Thái tử, Ngài hỏi Tuệ Trung chủ đích của thiền là gì. Tuệ Trung đáp thế này: “Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc”, nghĩa là nhìn lại mình là phận sự chính, đừng chạy ra bên ngoài. Quay lại ngay nơi tâm mình đó là bổn phận chính của người tu thiền, không thể hướng bên ngoài mà được. Ngay câu đó, nhà vua lãnh hội được yếu chỉ thiền. Phương hướng tu hành của Thiền tông là phải biết xoay lại nơi mình để nhìn thẳng nội tâm, biết cái gì hư dối buông xả, cái gì chân thật nhận lại, chứ không có gì xa lạ hết.

 

Vườn tháp chùa Hoa Yên, Yên Tử - Ảnh: T.Uyên

 

Tại sao tôi nói Thiền là cội gốc của đạo Phật? Bởi vì trong kinh A-hàm, Đức Phật dạy người tu hiền phải quán Tứ niệm xứ. Quán Tứ niệm xứ là quán thân bất tịnh, quán thọ là khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã. Bốn pháp quán ấy đều xoay lại mình, để thấy cho tường tận cho đúng. Như vậy tu Thiền theo giáo lý Nguyên thủy cũng phải phản quan. 

 

Nếu tu Thiền theo kinh Kim cang thì không cho sáu căn dính mắc với sáu trần. Rõ ràng kinh Phật từ hệ Nguyên thủy cho đến hệ Bắc tông đều dạy phải xoay lại, tự quán chiếu chính mình và tự gìn giữ, đừng để tâm phóng theo sáu trần. Cho đến kinh Lăng nghiêm thuộc Bắc truyền, có một đoạn kể lại ngài A-nan bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, cái gì là cội gốc của sanh tử luân hồi? Cái gì là cội gốc của Bồ-đề Niết-bàn?” Đức Phật im lặng. Lúc đó mười phương chư Phật đồng thinh bảo rằng: “Cội gốc luân hồi sinh tử là sáu căn của ông. Cội gốc Bồ-đề Niết-bàn cũng là sáu căn của ông”.

 

Như vậy, từ kinh Phật cho đến đường lối Thiền tông của chư Tổ rất phù hợp, rất thích ứng nhau. Vì vậy chúng tôi mới quả quyết Thiền tông là cội gốc của đạo Phật. Ngày nay chúng tôi cũng căn cứ theo đó tu và hướng dẫn Phật tử hâm mộ tu Thiền cùng tu. Do tính khế hợp từ Đức Phật cho đến chư vị Tổ sư nên tôi nói “Thiền là cội gốc của đạo Phật”. Mong tất cả ghi nhận và hiểu đúng điều này. Được vậy, chúng ta sẽ vững niềm tin hơn trong pháp tu Thiền của mình.

_______________

HT.Thích Thanh Từ

Nguồn: giacngo.vn

ĐỆ NHỊ TỔ THIỀN PHÁI TRÚC LÂM-THIỀN SƯ PHÁP LOA MỘT HIỆN TƯỢNG TRONG PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Trong lịch sử hơn hai ngàn năm Phật giáo du nhập vào Việt Nam, đã để lại khá nhiều những câu chuyện, những hiện tượng độc đáo. Tương truyền từ thời Vua Hùng Vương thứ ba, đã có vị sư Đạo Quang dạy Chử Đồng Tử học Phật pháp và truyền cho bảo bối.

 

Tượng Nhị tổ Pháp Loa trong Thiền viện Trúc Lâm, Đà Lạt, Việt Nam


Hiện nay dấu tích của vùng đất có tòa lâu đài mà Chử Đồng Tử và vợ là công chúa Tiên Dung con gái của vua Hùng đã từng ở vẫn còn, theo truyền thuyết, khi gặp nguy biến nhờ phép thuật được sư Đạo Quang truyền dạy và nhờ bảo bối sư trao Chử Đồng Tử và vợ cùng lâu đài đã bay về trời để lại một vùng đất trũng gọi là đầm Dạ trạch ngày nay.

 

Hiện tượng độc đáo khác, đó là câu chuyện về Thiền sư Từ Đạo Hạnh (1072-1116), truyền thuyết lưu rằng, sau khi Từ Đạo Hạnh chết, ông cho thiền sư Minh Không biết mình sẽ đầu thai thành con của Sùng Hiền Hầu là em trai của vua Lý Nhân Tông (Vị vua này không có con nên đã nhường ngôi cho con của Sùng Hiền Hầu là Lý Dương Hoán, người con này chính là Từ Đạo Hạnh đầu thai, sau là vua Lý Thần Tông). Khi làm Vua, Lý Thần Tông mắc bệnh lạ, người Vua mọc lông và gầm như cọp, quần thần phải dùng cũi vàng nhốt Vua. người cứu chữa được là đại sư Nguyễn Minh Không (1076 – 1141,đời thứ 13, dòng Tỳ ni đa lưu chi).

 

Năm vua Lý Thần Tông 21 tuổi, bỗng nhiên mắc bệnh biến thành cọp, cuồng loạn đáng sợ. Triều đình phải làm cũi vàng nhốt Vua trong đó. Khi ấy có đứa bé ở Chân Định hát rằng:

 

Nước có Lý Thần Tông,

Triều đình muôn việc thông.

Muốn chữa bệnh thiên hạ,

Cầu được Nguyễn Minh Không.

 

Lời hát đồn đến triều đình, triều đình sai người đi mời Đại sư về triều chữa bệnh cho Vua. Người do triều đình phái tới mời Đại sư, mới tới nơi Sư đã nói: “có phải là việc cứu cọp đó ư ?” viên quan chỉ huy hỏi: “Sao Đại sư biết trước ?” Sư bảo: “Ta đã biết việc này trước ba mươi năm.” Đại sư đến triều vào trong điện ngồi, lên tiếng bảo: “ đem vạc dầu lại, trong đó để một trăm cây kim, và nấu dầu cho sôi, rồi đem cũi Vua lại gần đó.” Mọi việc Sư dặn đã chuẩn bị xong, Sư cho tay vào vạc dầu sôi, lấy ra một trăm cây kim, găm kim vào thân vua và nói: “Quí là trời.” Tự nhiên lông, móng, răng cọp đều rụng hết, Vua khỏi bệnh, thân trở lại như cũ.

 

Các hiện tượng trên đều là truyền thuyết, riêng Đệ nhị tổ Thiền phái Trúc Lâm, Thiền sư Pháp Loa là có thật trong lịch sử, không huyền thoại, không dã sử, đây là hiện tượng khá độc đáo trong lịch sử Phật giáo và lịch sử Việt Nam, đã gần bảy trăm năm trôi qua, đến nay bài học về chọn người, dùng người hiền tài trong thời Trần vẫn còn nguyên giá trị rất lớn cho hậu thế nhiều bài học:

 

Lựa chọn nhị tổ Thiền phái Trúc Lâm, Thiền sư Pháp Loa là sơ tổ Trúc Lâm Đại sĩ Trần Nhân Tông. Trần Nhân Tông người sáng lập Thiền Phái Trúc Lâm một dòng thiền riêng có ở Việt Nam còn tồn tại và phát triển tới ngày nay. Trần Nhân Tông (1258- 1308), năm 16 tuổi làm Thái tử, năm 20 tuổi lên ngôi Vua, trên ngai vàng Trần Nhân Tông đã lãnh đạo quân dân Đại Việt đánh tan hai cuộc xâm lược của quân Nguyên Mông, tạo nên hào khí Đông A nức tiếng trong lịch sử Việt Nam, năm 35 tuổi nhường ngôi cho con rồi làm Thái Thượng hoàng để giúp con vững vàng trên ngôi vua trị vì thiên hạ, năm 41 tuổi xuất gia tu hành ở núi Yên Tử và lập nên Thiền phái Trúc Lâm.

 

Nhị Tổ Thiền Phái Trúc Lâm Pháp Loa (1284- 1330), năm 20 tuổi mới xuất gia theo Trần Nhân Tông, năm 21 tuổi được thọ giới tỳ kheo, năm 24 tuổi được sơ Tổ Trần Nhân Tông trao truyền y, bát để nối tiếp nhị Tổ Thiền Phái Trúc Lâm. Việc chọn Pháp Loa làm nhị Tổ là một hiện tượng lạ của Phật giáo Việt Nam lúc bấy giờ bởi: Đệ tử theo sơ Tổ rất đông, người thân cận bên cạnh sơ Tổ có tới bảy tám người, đều là những người tu trước Pháp Loa khá lâu,có người lớn tuổi hơn và học hành nhiều hơn Pháp Loa. Sơ Tổ chọn Pháp Loa để trao truyền vị trí nhị Tổ nối dòng Trúc Lâm, bỏ qua truyền thừa theo truyền thống thế thứ đối với các vị tu trước, có vị là bậc thầy của Pháp Loa; bỏ chứng chỉ học thuật, trước tác bởi Pháp loa mới xuất gia được bốn năm, việc học, việc trước tác chắc hẳn còn xa nhiều vị.

 

Qua việc lựa chọn của sơ Tổ đối với Pháp loa, chứng tỏ sự tin tưởng và tầm nhìn xa rộng của sơ Tổ đối với Phật giáo và đối với cá nhân Pháp Loa, đồng thời khẳng định tính linh hoạt theo tinh thần của Phật giáo ( khế lý, khế cơ, khế thời , khế xứ) trong sử dụng người hiền tài đáp ứng cho yêu cầu trước mắt và lâu dài của Phật giáo Việt Nam. Việc sơ Tổ chọn Pháp Loa một người tuổi đời rất trẻ, tuổi đạo rất ít trong một giáo đoàn Phật giáo bây giờ rất đông các bậc trưởng thượng, thể hiện quan điểm dùng người phải chọn người hiền tài, không câu nệ ở thế thứ, tuổi tác. Đây cũng là một trong những hiện tượng tiêu biểu của Phật giáo Việt Nam thời Trần. Điều chọn của sơ Tổ cho thấy Pháp Loa phải là bậc xuất chúng trong tu Phật ở nhiều mặt: Xuất sắc trong học thuật (dù mới học), trang nghiêm giới đức (dù còn trẻ) và khả năng tổ chức phát triển giáo hội Trúc Lâm lúc bấy giờ (dù chưa thể hiện), nhưng sơ Tổ đã nhìn thấy khả năng, tố chất tiềm ẩn trong con người Pháp Loa, để khi chính ngôi trong cương vị nhị Tổ, tố chất và tiềm năng ấy đã được tỏa sáng.

 

Và sơ Tổ chọn Pháp Loa quả thực không sai, 27 năm trong cương vị nhị Tổ Thiền phái Trúc lâm, Thiền sư Pháp Loa đã cống hiến cho Giáo hội Trúc Lâm và dân tộc trí tuệ, tâm đức của Ngài với kết quả đáng khâm phục: Xây dựng, củng cố tổ chức Giáo hội quy củ, thông qua quản lý chặt chẽ người tu hành, lập sổ bộ tăng tịch để quản lý tăng sĩ xuất gia; mở trường bồi dưỡng đào tạo tăng tài nhằm nâng cao năng lực tu tập và hoằng dương Phật pháp cho sư, biên soạn kinh sách để hệ thống hóa kinh điển, giáo lý của Đức Phật; đưa Phật giáo đi sâu vào đời sống nhân gian để cố kết nhân tâm vun bồi trí đức cho nhân dân,... Trong cương vị nhị Tổ 27 năm, Thiền sư Pháp Loa đã tôn tạo trên 1.300 pho tượng Phật, mở thêm 2 Đại già lam ( Côn Sơn và Thanh Mai), lập nhiều tháp, mở nhiều tăng đường, cho khắc in bộ Đại tạng kinh, độ cho gần 15.000 vị sư, đệ tử đắc Pháp hơn 3.000 vị, đại pháp sư có 6 vị,…[Thiền sư Pháp Loa- nhị Tổ Thiền Phái Trúc Lâm, Côn sơn Kiếp Bạc, 2015].

 

Nhị Tổ Thiền phái Trúc Lâm Pháp Loa là tấm gương tiêu biểu trong Phật giáo Việt Nam về quan điểm dùng người hiền, tài, là bài học giá trị về tính tùy duyên để đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển Phật giáo vững mạnh, là thể hiện sự cống hiến hết mình vì lợi ích chung của đạo pháp và dân tộc. Sự tiêu biểu ấy còn nguyên giá trị tới ngày nay để hậu thế nghiên cứu học tập./.

________________

TS. Bùi Hữu Dược

Nguồn: btgcp.gov.vn

CUỘC ĐỜI HUYỀN THOẠI CỦA THIỀN SƯ PHÁP LOA - VỊ TỔ THỨ HAI DÒNG THIỀN TRÚC LÂM YÊN TỬ

Những thành tựu mà Pháp Loa có được đã khiến cuộc đời của ông được bao quanh bởi vô số những câu chuyện đẫm tính huyền thoại

 

Tượng Nhị tổ Pháp Loa thờ tại Thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt


Là một người lãnh đạo sáng suốt, dù tuổi đời còn rất trẻ nhưng Pháp Loa đã đưa Thiền phái Trúc Lâm phát triển tới một đỉnh cao mới. Ông cũng là người tổ chức ấn hành Đại Tạng Kinh, một cuốn sách quan trọng của Phật giáo tại Việt Nam… Những thành tựu mà Pháp Loa có được đã khiến cuộc đời của ông được bao quanh bởi vô số những câu chuyện đẫm tính huyền thoại.

 

1./ Giấc mơ kì lạ khi Nhị Tổ Pháp Loa ra đời

 

Nhị Tổ Pháp Loa sinh ngày 7 tháng 5 niên hiệu Thiệu Bảo thứ 4, tức năm 1284, quê ở làng Cửu La, huyện Chí Linh, lộ Lạng Giang (nay là huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương). Người vốn tên thật là Đồng Kiên Cương, sau này đi tu mới đổi pháp hiệu là Pháp Loa. Cha của Ngài là Đồng Thuận Mậu, mẹ tên là Vũ Từ Cứu. Câu chuyện về sự ra đời của Ngài lưu truyền từ trước tới nay đẫm màu huyền thoại, vẫn chưa thể biết là thật hay giả.

 

Tương truyền, có lần bà Vũ Từ Cứu có lần nằm mộng thấy một vị thần đến trao cho thanh kiếm, bà vui vẻ nhận rồi sau đó thì mang thai. Trước khi sinh Pháp Loa, cha mẹ ông đã sinh tới 8 người con nhưng đều là gái, vì vậy sợ lần này cũng sinh ra con gái nên mẹ ông đã dùng thuốc để bỏ cái thai đi. Tuy nhiên, thuốc không có công hiệu dù mẹ ông đã cố gắng dùng thuốc tới 4 lần. Và cuối cùng, Pháp Loa đã được sinh ra.

 

Chuyện cũng kể rằng, khi Pháp Loa mới sinh ra, người ta cảm thấy có một mùi thơm kỳ lạ bay tỏa khắp nhà. Mọi người đều cho rằng đó là điềm lành và đứa bé này chắc chắn sẽ làm nên sự nghiệp lẫy lừng. Cha mẹ Pháp Loa sinh được con trai lại là một đứa bé kỳ lạ nên rất vui mừng. Nhân việc mẹ ông dùng thuốc phá thai tới 4 lần mà vẫn sinh ra được Pháp Loa nên cha mẹ ông mới quyết định đặt tên cho ông là Kiên Cương (nghĩa là cứng rắn).

 

 

2./ Thời niên thiếu và cơ duyên với Phật pháp của Nhị Tổ Pháp Loa.

 

Không hề phụ sự kỳ vọng của cha mẹ, ngay từ nhỏ, Pháp Loa đã tỏ ra là một đứa trẻ thông minh, học một biết mười. Tuy tuổi còn rất trẻ nhưng Pháp Loa đã rất uyên bác. Ông không chỉ tinh thông Phật học mà cả Nho, Lão cũng rất am tường. Một điều đặc biệt là từ nhỏ tới lớn, Pháp Loa tuyệt đối không dùng các thứ thịt, cá. Ngoài ra, ông cũng không hề nói lời xấu, ác và rất biết trọng đức hiếu sinh, giống hệt như một đệ tử nhà Phật.

 

Năm Hưng Long thứ 12, tức năm 1304, Hoàng Giác Điếu Ngự Trần Nhân Tông, vị Tổ của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử cùng với đoàn sứ giả du hành khắp nơi trong cả nước để hoằng pháp, bố thí và khuyên dân phá bỏ những miếu thờ thần không chân chính, hướng tâm vào các việc phúc thiện. Khi đoàn sứ giả của Trần Nhân Tông tới huyện Nam Sách quê của Pháp Loa, ông đã tìm đến yết kiến Hoàng Giác Trần Nhân Tông và cầu xin được đi xuất gia.

 

Hoàng Giác Trần Nhân Tông nhìn cậu bé Pháp Loa khôi ngô, tuấn tú vui mừng nói: “Kẻ này có tuệ nhãn, ắt sau này làm long thịnh cho Phật pháp!” thế rồi cho ông đi theo hầu về chùa Long Động, làm lễ xuống tóc và cho thụ giới sa di. Sau đó, Hoàng Giác Trần Nhân Tông gửi Pháp Loa tới tham học với hòa thượng Tính Giác ở Quỳnh Quán. Ở đây, Pháp Loa chuyên nghiên cứu kinh Lăng Nghiêm, khi đọc phần chính tông, khi nói về việc đệ tử A Nan bảy lần hỏi về cái “tâm” đến đoạn nói về “khách trần” thì bừng tỉnh, nhận ra là, “tính thấy vốn không sinh, diệt” thì Pháp Loa có được sở ngộ.

 

 

Một hôm, Pháp Loa về gặp thầy mình là Hoàng Giác Trần Nhân Tông và trình kiến giải của mình bằng một bài tụng về “tam yếu”.

 

Tuy nhiên, bài tụng của ông bị Hoàng Giác Trần Nhân Tông gạch một gạch dài từ trên xuống dưới. Sau đó, Pháp Loa thỉnh cầu mấy lần nhưng Trần Nhân Tông đều làm thinh, bảo: “Hãy tự mình tham khảo lấy”. Đêm ấy, Pháp Loa về phòng nhập thiền, tâm trí bị dao động mạnh với bao ý nghĩ vụt hiện, vụt tắt. Đến quá nửa đêm, nhân thấy hoa đèn tàn rồi rụng xuống, Pháp Loa chợt đại ngộ. Sáng hôm sau, Pháp Loa lên trình chỗ sở ngộ của mình tối hôm qua và được Hoàng Giác Trần Nhân Tông ấn chứng.

 

Từ đó, Pháp Loa nguyện tu theo mười hạnh đầu đà và phát lời nguyện nổi tiếng: “Chư Phật và Bồ Tát, có những hạnh nguyện nào, tôi xin học và thực hành theo; dù chúng sinh khen hay chê, dù khinh hay trọng, dù bố thí hay cướp đoạt, khi mắt thấy, tai nghe cũng đều hỉ xả, khiến cho tất cả cùng bước lên nấc thang giác ngộ”.

 

Đến năm Hưng Long thứ 13, tức năm 1305, Hoàng Giác Trần Nhân Tông lập đại giới đàn để Pháp Loa thụ Tỳ khưu và Bồ tát. Lúc này, Hoàng Giác Trần Nhân Tông mới quyết định đổi pháp danh Thiên Lai của ông thành Pháp Loa. Qua nhiều lần khảo chứng, nhận thấy Pháp Loa đã ngộ đạo, lại tinh thông kinh điển nên Hoàng Giác Trần Nhân Tông đã cử ông làm chủ giảng tại chùa Báo Ân ở Siêu Loại (nay thuộc Bắc Ninh).

 

Năm 1307, Pháp Loa cùng với năm vị pháp hữu tới am Ngọa Vân cầu thỉnh Trần Nhân Tông dạy bộ Đại Tuệ Ngữ Lục.Tháng 5 năm đó, trên am Ngọa Vân, khi làm lễ bố tát xong, ngài được Hoàng Giác trao y bát và tâm kệ.

 

Tới đúng ngày mồng 1 Tết năm 1307, Pháp Loa ngài chính thức được Hoàng Giác cử giữ chức trụ trì chùa Báo Ân, và được suy tôn là Tổ thứ 2 của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Lúc đấy Ngài mới bước sang tuổi 23. Ngày 3 tháng 11 năm Hưng Long thứ 14, tức năm 1308, Trần Nhân Tông qua đời. Pháp Loa phụng mệnh đưa xá lợi vua về kinh đô.

 

 

3./ Sự nghiệp tu hành, phật pháp của Nhị Tổ Pháp Loa.

 

Sau khi Pháp Loa chính thức được suy tôn là Tổ thứ 2 Thiền phái Trúc Lâm, trở thành người lãnh đạo Phật tử trong cả nước, số người xin xuất gia và quy y học đạo rất đông, số lượng lên tới hàng vạn. Do đệ tử ngày một đông nên Pháp Loa phải nhờ hai vị sư huynh là Tông Cảnh và Bảo Phác về chùa Báo Ân dạy luật Tứ phần cho các đệ tử.

 

Khi đó, Tông Cảnh trụ trì chùa Tiên Du và Bảo Phác trụ trì chùa Vũ Ninh, cả hai người lúc đó đều đã được triều đình tôn là quốc sư. Pháp Loa nhận trách nhiệm giảng các bộ kinh lớn như Kim Cương, Lăng Nghiêm, Hoa Nghiêm, Lăng Già, Viên Giác, Pháp Hoa và Niết Bàn, các bộ ngữ lục như: Đại Tuệ Ngữ Lục, Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục… Ngoài ra, ông còn tới thuyết pháp cho tín đồ tại các chùa Quỳnh Lâm, Dưỡng Phúc, Xí Thịnh Quang, An Lạc Tàng Viện và Kiến Xương phủ.

 

Trong số các đệ tử kể trên, đắc pháp khoảng 3.000 người. Số tự viện cũng được xây dựng rất nhiều, gồm 800 sở, dựng hai đài giảng kinh, xây 5 cây bảo tháp, đúc 1.300 tượng Phật lớn nhỏ bằng đồng. Trong thời gian này, Pháp Loa cũng là người tổ chức in bộ Đại Tạng Kinh đời nhà Trần nổi tiếng còn được lưu truyền đến ngày nay. Chưa bao giờ Phật giáo phát triển thịnh vượng đến thế.

 

Tới năm Đại Khánh thứ 4, tức năm 1317, đời Trần Minh Tông, Pháp Loa bị ốm nặng liền viết tâm kệ và lấy bộ pháp y của Hoàng Giác trao cho mình khi trước để trao lại cho đệ tử Huyền Quang, pháp khí và tích trượng thì trao cho Cảnh Nguyện, phất tử trao cho Cảnh Huy, gậy trúc trao cho Huệ Quán, pháp thư trao cho Huệ Nhiên, linh vàng trao cho Hải Ân, mỏ vàng trao cho Huệ Chúc… Tuy nhiên, chỉ sau đó ít ngày, sức khỏe của Pháp Loa lại bình phục trở lại.

 

Tới năm 1318, Thượng hoàng Trần Anh Tông mời Pháp Loa vào cung Thiên Trường để giảng cho mình về bộ Tuyết Đầu Ngữ Lục. Sau khi khóa giảng kết thúc, Anh Tông tự tay viết 4 chữ “Phổ Tuệ Tôn Giả” tặng Pháp Loa. Người ta nói rằng, vua Anh Tông rất tôn kính Pháp Loa, thường khiêm tốn xưng với ông là đệ tử.

 

Không chỉ Trần Anh Tông, các thành viên hoàng thất và quý tộc triều Trần cũng rất tôn kính Pháp Loa. Quốc vụ thượng tể Quốc Chấn cũng mời ông vào phủ An Hoa giảng Đại Tuệ ngữ Lục. Cũng năm ấy, Pháp Loa còn trao giới tam quy tại gia cho công chúa Hoa Dương.

 

Tới ngày 2/5/1330, niên hiệu Khai Hưu thứ 11, lúc đang giảng kinh Hoa Nghiêm cho chúng đệ tử tại viện An Lạc thì Pháp Loa bỗng dưng cảm thấy trong người khó chịu. Ông đành nhờ trưởng lão Bích Phong thay mình giảng tiếp rồi lui về phòng nghỉ ngơi. Từ hôm đó cho tới ngày 11 thì bệnh của ông ngày càng nặng hơn. Ngày 13, các đệ tử đưa ngài về viện Quỳnh Lâm tĩnh dưỡng. Tại đây, Thượng hoàng Minh Tông đích thân tới thăm và gọi ngự y tới chẩn mạch, cắt thuốc cho Pháp Loa nhưng bệnh vẫn không thuyên giảm. Tới lúc này, các đệ tử mới quỳ xuống thưa: “Xưa nay các bậc đại ngộ, lúc sắp tịch, đều có những lời kệ để lại cho đời sau, sao riêng thầy không có?”.

 

Pháp Loa liền ngồi dậy, cầm bút viết bài kệ rằng:

 

Vạn duyên tài đoạn nhất thân nhàn,

Tứ thập dư niên mộng huyễn gian,

Trân trọng chư nhân hưu tá vấn,

Na biên phong nguyệt cánh man khoan

 

Nghĩa là:

 

Muôn duyên cắt đứt,

Một thân nhan,

Trót nửa cuộc đời mộng thế gian,

Hỡi các môn đồ đừng gạn hỏi,

Bên kia trăng gió đẹp mênh mang

 

Viết xong bài kệ, Pháp Loa an nhiên viên tịch, hôm đó nhằm ngay 3 tháng 3 năm 1330, thọ 42 tuổi. Sau khi được tin Pháp Loa viên tịch, Thượng hoàng Trần Minh Tông ngự bút truy tặng ngài là Tịnh Trí Đại Tôn Giả. Các đệ tử theo di chúc của Pháp Loa, đưa nhục thể ông về an táng tại ngọn tháp trên núi Thanh Mai.

 

Mặc dù qua đời khá sớm nhưng trong suốt 24 năm ròng rã, Pháp Loa đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh mà thầy mình là Trần Nhân Tông giao phó, trở thành vị tổ nổi tiếng của dòng thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.

______________

Theo Phật giáo Việt Nam

CỬA BIỂN TƯ DUNG ĐANG BIẾN MẤT NHƯ THẾ NÀO?

Hàng trăm năm nay ai cũng biết đầm phá Tam Giang - Cầu Hai có 02 cửa thông ra biển: Thuận An và Tư Hiền.

 

Cửa Tư Hiền đóng, dòng chảy từ đầm Cầu Hai qua cửa Tư Dung ra biển


Ngày xưa, cửa Tư Hiền có tên là Tư Dung và cũng không nằm ở vị trí hiện nay mà nằm dịch về phía Nam khoảng 5 cây số, ngay dưới chân núi Vinh Phong thuộc thôn Hải Bình, xã Lộc Bình, huyện Phú Lộc. Chính cửa biển Tư Dung ấy, chứ không phải cửa Tư Hiền hiện nay, đã từng là một địa danh gắn liền với rất nhiều sự kiện lịch sử của vùng đất, được coi là một thắng cảnh nổi tiếng, xuất hiện không chỉ một lần trong thi ca. Thế mà cửa biển Tư Dung lịch sử ấy đang biến mất một cách lặng lẽ, gần như không được một ai để ý đến. Gần đây có dịp ghé qua cửa Tư Dung ngày xưa ấy, chúng tôi mới giật mình, vì không còn thấy một cửa biển rộng, sâu, tàu, thuyền ra vào tấp nập như đã từng được mô tả. Thay vào đó là một lạch triều vừa cạn, vừa hẹp không biết sẽ bị lấp hoàn toàn lúc nào. Đứng dưới chân núi Vinh Phong, nghĩ đến việc anh Đoàn Khoách nhớ cửa Tư Dung ngày xưa ấy, tưởng tượng nơi đây đang ào ạt sóng biển vỗ bờ mà viết bài “Thắng cảnh Tư Dung” rất hay trên trang www.nhohue.org[1], muốn gửi đến anh bài này để anh em cùng nhớ lại một địa danh lịch sử, một thắng cảnh hữu tình và cũng để anh và những người yêu Huế hình dung cửa biển Tư Dung ấy đang biến mất như thế nào. 

 

Theo sách xưa thì cửa biển Tư Dung nguyên thuộc nước Chiêm Thành, trải qua các triều đại, đã từng có nhiều tên gọi khác nhau: dân gian gọi là cửa Ông hay cửa Biện, nhà Lý gọi là cửa “Ô Long”, nhà Mạc gọi là cửa “Tư Khách”, từ thời vua Thiệu Trị (năm 1814), nhà Nguyễn gọi là cửa Tư Hiền. Nhưng cái tên được dùng lâu đời nhất, bắt đầu từ nhà Trần, đến nhà Lê, và một giai đoạn nhà Nguyễn, là cửa “Tư Dung”[2]. Dùng hai chữ “Tư Dung” để đặt tên cho cửa biển này, người Việt thời nhà Trần muốn đánh dấu cuộc hôn nhân giữa vua Chiêm Thành và công chúa Việt, đồng thời cũng nhằm tưởng nhớ công ơn công chúa Huyền Trân đã hy sinh hạnh phúc cá nhân cho việc mở mang bờ cõi. Vua chúa các đời Lý, Trần như Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Trần Anh Tông, Trần Duệ Tông đều có đem quân qua đấy. 

 

Ngày trước, cửa biển Tư Dung vốn sâu và rộng, các loại thuyền lớn nhỏ ra vào rất thuận tiện. Theo sách “Đại Nam Nhất Thống Chí” của Quốc sử quán triều Nguyễn thì “cửa rộng 8 trượng, khi nước lên sâu 3 thước, khi nước ròng sâu 2 thước, nước cạn thuyền lớn đi không được. Xưa có đặt Thủ sở, có binh túc trực tuần phòng ngoài biển, phía tây cửa biển có hành cung Túy Vân sơn. Xưa kia, cửa nguyên ở chỗ gần núi, cách phía nam cửa bây giờ chừng 5 dặm[3]. Tương truyền, vài trăm năm trước đây, cửa cũ rất sâu rộng, ghe thuyền rất thuận tiện vào ra”[4]. Có thể hình dung cửa biển Tư Dung ngày ấy qua 02 câu trong bài thơ “Tư Dung hải môn lữ thứ (Nghỉ lại ở cửa bể Tư Dung)” của vua Lê Thánh Tông (dịch nghĩa):

 

“Vách núi dựng đứng nhấp nhô, màu xanh ngăn ngắt, 

Sóng vỗ ngất trời cuồn cuộn, sắc biếc trùng trùng”[5].

 

Nói đến cửa biển Tư Dung không thể không nhắc đến Đào Duy Từ, một danh nhân thời các chúa Nguyễn, người đã hết lời ca ngợi cảnh trí thiên nhiên tươi đẹp và hùng vĩ của cửa biển này trong bài thơ lục bát dài tới 332 câu có tên là “Tư Dung vãn”. 

 

“Khéo ưa thay cảnh Tư Dung,

Cửa thâu bốn bể, nước thông trăm ngòi.

Trên thời tinh tú phân ngôi,

Đêm treo thỏ bạc, ngày soi ác vàng”[6]. 

 

Đầu năm Gia Long (năm 1811), do có lụt lớn, cửa biển Tư Dung bị lấp cạn dần, đồng thời hình thành một cửa biển mới ở vị trí của cửa biển Tư Hiền hiện nay. Đến năm 1823, cửa Tư Dung bị lấp cạn và hẹp đến mức thuyền lớn không đi qua được và người dân sống hai bên cửa có thể lội qua. Năm 1844 có lụt lớn, cửa bị lở rồi lại bồi... Chuyện lở, bồi, dịch chuyển cửa biển Tư Dung – Tư Hiền, tưởng là sau này các nhà khoa học đương đại mới quan tâm, hóa ra vua Minh Mạng trong tập thơ ký sự về cửa biển Tư Dung, có viết: “... dòng sông mở ra hay lấp lại là do tự thiên công, khó trông cậy ở sức người, huống chi nguyên ủy cửa biển này có quan hệ đến nước nhà, không phải như các cửa biển khác. Ngược dòng thời gian mà nhận xét, bản triều năm giáp ngọ (1774), vận nước gặp bước gian nan, binh Trịnh đến xâm phạm, thì vua Duệ Tông bản triều (Nguyễn Phúc Thuần) theo cảng ấy đi vào Nam. Hoàng khảo ta là Thế tổ Cao hoàng đế (Nguyễn Phúc Ánh) khi ấy mới mười ba tuổi cũng đồng thời đi hộ tùng theo chuyến ấy. Qua năm Tân Dậu (1801), đại binh khắc phục Thần kinh, cũng theo cửa này đi vào, mà lúc ấy trẫm đây mới mười một tuổi cũng đồng theo hộ giá. Vậy thì, cơ đắc thất, trước sau phảng phất giống nhau như có định số. Nay vô cớ mà cửa ấy khô cạn, có lẽ là ý trời mặc hộ cho bản triều, muốn củng cố cơ nghiệp muôn đời, mà không muốn để người ngoài dòm ngó vào, nên mới khiến cho cạn hẹp như thế...”[7]. 

 

Đến năm Thiệu Trị (năm 1814), cửa Tư Dung được đổi tên thành cửa Tư Hiền. Triều Nguyễn thay tên Tư Dung thành Tư Hiền phải chăng là để chứng tỏ nơi đây không còn hiểm nguy với sóng to gió lớn, cũng như cơ nghiệp nhà Nguyễn đang được ý trời giúp cho muôn thuở bền vững. 

 

Để khỏi nhầm lẫn, từ đây, chúng tôi gọi cửa biển ở vị trí cũ, ngay dưới chân núi Vinh Phong là cửa biển Tư Dung, còn cửa biển ở vị trí hiện nay là cửa Tư Hiền. Từ đó đến nay, hai cửa Tư Dung và Tư Hiền cứ đóng, mở, thay nhau đóng vai trò cửa biển chính ra vào đầm phá vào các năm 1811, 1823, 1844, 1853, 1859, 1879, 1990 và 1994[8]. Đã có các công trình nghiên cứu cơ chế bồi lấp cửa biển Tư Dung và cửa biển Tư Hiền và các nhà khoa học đã rút ra quy luật thống kê các thời điểm đóng mở các cửa biển. Người ta còn nhận thấy rằng chu kỳ đóng mở, thay thế vai trò lẩn nhau của các cửa biển này ngày càng ngắn lại[9]. Cũng có những thời kỳ tồn tại song song cả 02 cửa biển Tư Dung và Tư Hiền. Lúc này, người ta đã có phần lãng quên cái tên Tư Dung rất hay ho nên họ gọi là cửa biển Tư Hiền cũ và Tư Hiền mới[10]. 

 

 

Ảnh 1 là một mảnh ảnh vệ tinh Landsat chụp vùng ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế vào tháng 9 năm 1999, thời điểm trước trận lụt lịch sử năm 1999, do đề tài khoa học và công nghệ cấp tỉnh, tỉnh Thừa Thiên Huế “Sử dụng tư liệu ảnh vệ tinh ALOS để giám sát tai biến môi trường tự nhiên vùng ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế”, Viện Tài nguyên và Môi trường Biển chủ trì, nghiệm thu năm 2001, cung cấp. Có thể thấy rõ trên ảnh núi Vinh Phong, cửa Tư Dung sát dưới chân núi Vinh Phong, và cửa Tư Hiền đang bị lấp hoàn toàn. Dòng chảy trao đổi nước giữa đầm Cầu Hai và biển qua cửa Tư Dung và qua một vụng nhỏ và hẹp thuộc địa phận hai xã Lộc Bình và Vinh Hiền, huyện Phú Lộc (xem ảnh 1). 

 

Đã có nhiều cố gắng của con người nhằm ổn định các cửa biển Tư Dung và Tư Hiền. Năm 1994, cửa Tư Hiền bị lấp, tàu thuyền không thể đi qua, còn cửa Tư Dung đã nhường vai trò cửa chính ra vào đầm phá cho cửa Tư Hiền, nên tàu thuyền phải đi vòng lên cửa Thuận An. Sở Thủy Lợi lúc đó đã huy động nhân lực và phương tiện nạo vét mở cửa Tư Hiền, nhưng sau một đêm, cửa gần như bị lấp cạn lại như cũ. Phương án trở lại cửa Tư Dung được xem xét. Hai công trình ngày ấy (mới 17 năm mà nghe đã quá xa xưa) đến nay vẫn còn dấu tích. Một là bờ kè bằng đá được xây dựng nhằm ổn định lạch nước chảy từ đầm Cầu Hai chảy về phía núi Vinh Phong (đường mũi tên màu vàng mảnh ở ảnh 1). 

 

Ảnh 2: Cửa biển Tư Hiền và cửa biển Tư Dung, ảnh SPOT 2009. TS Hồ Đình Duẩn cung cấp


Trận lụt 1999 đã thay đổi về cơ bản địa hình khu vực này. Lạch nước từ đầm Cầu Hai bị lấp kín, phần còn lại dài khoảng 05 km tạo thành một vụng nhỏ gần kín (ảnh 2). Vụng này trao đổi nước với biển qua một lạch triều nông và hẹp cách chân núi Vinh Phong khoảng 500 mét. Công trình thứ hai là mỏ hàn chống cát lấp cửa Tư Dung. Ngày nay có 01 lạch triều xuất hiện ngay vị trí mỏ hàn ngày trước và những viên đá xây mỏ hàn vẫn còn vương vãi từ chân sóng vào giữa lạch triều (ảnh 3). 

 

Ảnh 3: Lạch triều đóng vai trò trao đổi nước giữa vịnh Hải Bình với biển và ổn định độ mặn cho vực nước bên trong


Trong khi đó trên ảnh vệ tinh SPOT năm 2009 (ảnh 2) chúng ta có thể thấy cửa Tư Hiền rất rộng và phía cửa Tư Dung có một lạch triều hẹp và dấu tích của mỏ hàn được xây bằng đá. 

 

Gần đây, chúng tôi về thôn Hải Bình, xã Lộc Bình khảo sát khu vực cửa Tư Dung thì thấy rằng cửa Tư Dung được ca ngợi ngày xưa, nay đã bị lấp cạn gần như hoàn toàn. Người dân địa phương đã tranh thủ trồng phi lao từ chân núi Vinh Phong đến tận lạch triều. Lạch triều đóng vai trò dòng chảy trao đổi nước với vực nước bên trong, chỗ rộng nhất khoảng 20 mét, chỗ sâu nhất khoảng 0,5 mét. Vì độ chênh triều ở khu vực bờ biển tỉnh Thừa Thiên Huế được xác định là nhỏ, đến mức có thể gọi là vô triều, nên lượng nước trao đổi với bên trong là không đáng kể. Vì không có dòng nước từ vụng chảy ra nên dòng cát từ ngoài biển đang tiếp tục theo dòng triều chảy vào, lấp cạn dần khu vực ngày trước là cửa Tu Dung. Có thể lạch triều có thể đã hẹp và cạn hơn so với độ sâu và bề rộng mà chúng tôi chứng kiến, vì trước đó không lâu lạch triều đã được một công ty Biển Ngọc nạo vét để đảm bảo cho nhu cầu trao đổi nước và ổn định độ mặn cho các loài thủy sản đang được nuôi trong vực nước.

 

Ảnh 4: Cửa Tư Dung ngày nay chỉ còn là một vạt phi lao và một dòng chảy hẹp

thế này, không biết bao giờ sẽ đóng lại hoàn toàn (Ảnh Đỗ Nam)


Nhân câu chuyện về cửa biển Tư Dung, thấy cửa biển ngày xưa không còn nữa lòng những ngậm ngùi. Nhưng bù lại, nghe nói rằng người dân ở đây đang nuôi trai lấy ngọc, rằng mấy năm trước đã có mô hình thử nghiệm thành công của Sở Khoa học và Công nghệ, nay công ty Biển Ngọc tiếp tục đầu tư, hướng dẫn cho bà con nuôi, cấy, chăm sóc và sẽ bao tiêu toàn bộ sản phẩm thu được, rằng chất lượng ngọc ở đây được đánh giá là tốt nhất trong cả nước nhờ các chất khoáng chứa trong nguồn nước của địa phương, rằng người dân thôn Hải Bình đang có khả năng đổi đời nhờ nghề nuôi trai ngọc… Nhưng chúng tôi cũng biết rằng còn rất nhiều khó khăn, mà khó khăn nhất là ổn định được môi trường sống cho con trai, mà môi trường sống ấy phụ thuộc cả vào thiên nhiên lẫn con người. Khắc phục khó khăn từ thiên nhiên đã khó, nhưng không khó bằng khắc phục những khó khăn do con người gây ra. Nếu chính quyền địa phương 02 xã Vinh Hiền và Lộc Bình, chính quyền huyện Phú Lộc và cả chính quyền tỉnh hỗ trợ, giúp đỡ, cùng công ty Biển Ngọc biến khu vực cửa biển Tư Dung – Tư Hiền thành một làng nghề nuôi trai ngọc, thành một điểm đến du lịch thì có thể hy vọng rằng một ngày không xa viên ngọc trai Hải Bình có thể trở thành niềm tự hào của tất cả chúng ta. 

_____

[1] Đoàn Khoách, Thắng cảnh Tư Dung, www.nhohue.org/thangcanhthiennhien.htm

[2] Có nhiều tài liệu hiện nay vẫn gọi cửa Tư Dung là cửa “Lộc Thủy”. Cách gọi này là không chính xác, xuất phát từ địa danh “Lộc Thủy” trên bản đồ đặt sai vị trí. Lộc Thủy là địa danh của một xã nằm lệch về phía Nam hơn tính từ dãy núi Vinh Phong, nhưng các bản đồ cũ của Hoa Kỳ (sử dụng hệ quy chiếu UTM) đặt chữ “Lộc Thủy” ngay vị trí cửa Tư Dung. Các nhà nghiên cứu không phải là người địa phương đã không để ý nên mới có sự nhầm lẫn đáng tiếc trên. 

[3] Tức là vị trí cửa biển Tư Hiền ngày nay

[4] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Nhất Thống Chí

[5] Trích dẫn theo Đoàn Khoách

[6] Trích dẫn theo Đoàn Khoách

[7] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Nhất Thống Chí

[8] Nguyen Tien Lam, Marcel J. F. Stive, Henk Jan Verhagen, and Zheng Bing Wang,

Morphodynamics of Hue Tidal Inlets, Vietnam-Japan Estuary Workshop 2007 August 20th-24th, 2007, Ho Chi Minh City, Vietnam.

[9] Nguyễn Hữu Cử, Đặc điểm địa chất đầm phá Tam Giang – Cầu Hai trong Holoxen và phức hệ trùng lỗ chứa trong chúng, Luận án Phó tiến sĩ. 

[10] Trần Thanh Tùng và Vũ Minh Cát, Nghiên cứu cơ chế gây bồi lấp cửa Tư Hiền ở tỉnh Thừa Thiên Huế, Kỷ yếu đầm phá, Huế 2005.

_____________

Đỗ Nam

Nguồn: tapchisonghuong.com.vn

MỘT THOÁNG TƯ HIỀN (THỪA THIÊN – HUẾ)

Theo quốc lộ 1A từ Đà Nẵng ra Huế, qua khỏi đèo Phước Tượng, rẽ tay phải theo QL49B khoảng 10km là qua cầu Tư Hiền và con đường kéo dài đến tận Thuận An. Đoạn đường này dài 45km, đi qua những làng biển thuộc hai huyện Phú Lộc, Phú Vang của tỉnh Thừa Thiên - Huế.

 

Lưu truyền rằng xưa kia, có con voi rừng chở một vị tướng bị thương băng rừng từ Bạch Mã về cửa Tư Dung (Tư Hiền). Kiệt sức, con voi trung hậu gục đầu xuống đầm Cầu Hai, rồi nằm lại vĩnh viễn. Đèo Voi (Phước Tượng) là dãy núi chạy thoai thoải ra biển, mà vòi của nó khi ẩn, khi hiện ở cửa biển Tư Hiền.

 

Cửa biển Tư Hiền

 

Cửa Tư Hiền nằm giữa xã Vinh Hiền và Lộc Bình, nơi thông đầm Cầu Hai với biển Đông. Các bô lão vùng này kể rằng: Cửa biển này trước đây gọi là cửa Tư Dung, do sự tích Công chúa Huyền Trân, con vua Trần Nhân Tông trước khi xuất giá sang Chiêm Thành đã ghé lên đây bái vọng tổ tiên. Từ đó, cửa có tên Tư Dung, cái tên do lòng thương nhớ dung nhan của Huyền Trân công chúa mà thành. Theo sách xưa, cửa biển này thuộc về đất nước Chiêm Thành, đời Lý gọi là Ô Long. Đến đời Trần, vua Nhân Tông (1306) gả công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm là Chế Mân, đưa công chúa tới đây, nên đổi tên thành Tư Dung (Tư là nghĩ đến, tưởng nhớ đến, Dung là nét mặt, dung nhan, ý nghĩa cũng gần như chữ tư dung là vẻ mặt, là dáng dấp của người đàn bà đẹp). Dùng hai chữ Tư Dung để đặt tên cho cửa biển này, ý hẳn người Việt lúc bấy giờ một đàng muốn ghi lại cuộc hôn nhân giữa vua Chiêm và công chúa Việt, nhưng đàng khác, cũng nhằm tưởng nhớ công ơn khách má hồng đã hy sinh hạnh phúc riêng tư cho việc mở mang bờ cõi.

 

Vào năm 1471, vua Lê Thánh Tông ngự giá bình Chiêm, khi nghỉ chân tại cửa bể này đã làm bài thơ "Tư Dung hải môn lữ thứ", một áng thơ hay, được đời sau truyền tụng. Về sau, cửa Tư Dung cạn dần, chiến thuyền từ biển không vào được nên hiểm họa ngoại bang đánh úp kinh thành Huế khó xảy ra, vì thế, triều Nguyễn đặt lại tên là Tư Hiền.

 

Xã Hiền An nằm ở cuối hệ thống đầm phá nước lợ Thừa Thiên - Huế (bao gồm phá Tam Giang, đầm Sam, đầm Chuồn, đầm Thủy Tú, đầm Đá Bạc, đầm Cầu Hai...), nối liền một mạch từ tỉnh Quảng Trị vào Thừa Thiên Huế, vốn nhiều tôm rằn, cá mú, cá hồng... Nơi đây có diện tích mặt nước rộng hơn 22.000ha, là vùng đầm phá rộng nhất châu Á. Các vị bô lão cho biết: quá trình hình thành các làng cũng đã trên dưới 300 năm.

 

Khu vực này có núi Linh Thái, Thúy Vân và bên kia là Lộc Bình, Chân Mây, núi non chập chùng, hùng vĩ. Chùa Thánh Duyên trên núi Thúy Vân đã được công nhận là Di sản Văn hóa quốc gia. Xưa, chùa tên Mỹ Am Sơn Tự. Đời chúa Nguyễn Phúc Tần (1644) cho đặt nền móng điện Đại Hùng và đặt tên chùa Thánh Duyên. Ngày nay, nhân dân gọi là núi Thúy Vân, chùa Thánh Duyên... Núi Thúy Vân có đỉnh cao 60m so với mặt nước đầm phá, là một khu rừng đại ngàn rậm rịt cây lá cổ thụ, khí hậu mát mẻ. Dọc theo đường cái là những ngôi làng hoang sơ, những đền đài miếu mạo cổ xưa. Chợ quê mua bán vào buổi chiều, với nhiều loại thủy hải sản phong phú. Đến đây, bạn có thể thưởng thức món cháo hàu, hàu xào lá lốt béo ngậy, thơm lừng. Trong khi chờ đợi món ăn, còn gì thú vị bằng được theo ghe thuyền đi thăm thú các mô hình nuôi cá, nuôi ghẹ trên đầm nước mênh mông.

_____________

www.thuathienhue.gov.vn

CƯƠNG LĨNH THỜI ĐẠI NHÀ TRẦN VÀ BÀI HỌC CHO CHÚNG TA HÔM NAY

Lời người viết:

Trong hoàn cảnh đất nước phải đối diện và đối phó với nguy cơ rình rập tại biển Đông, hãy nhìn lại những cuộc đấu tranh của cha ông, lấy triều Trần làm điển hình, nghiên cứu và học tập để chuẩn bị kế sách hôm nay. Chúng ta học được gì và vận dụng ra sao tùy theo thời cuộc, nhưng ít ra cũng vững lòng tin vào sự thành công của những người đi trước, làm gương cho thế hệ hôm nay trong quá trình dựng nước và giữ nước.

TẬP HỢP SỨC MẠNH TOÀN DÂN, PHÁT HUY DÂN CHỦ

Thông thường trong các triều đại xưa, các cuộc chiến tranh thường xảy ra giữa những tập đoàn phong kiến cát cứ, các lãnh chúa, vương hầu. Nếu không, dù có là cuộc chiến tranh quy mô lớn đi nữa, thường thì giai cấp lãnh đạo là chủ xướng, là chỉ huy. Vai trò quần chúng trở nên thứ yếu và họ chỉ có thể làm được một điều là chiến đấu và hy sinh nhiều khi không hiểu vì ai, nhằm mục đích gì? Thế nhưng dưới triều đại nhà Trần, vua đã tổ chức Hội nghị Bình Than (1282), gồm văn võ bá quan, vương hầu, để bàn kế hoạch kháng chiến. Tiếp đó, trước thế giặc đang lên, tháng Chạp năm Giáp Thân (1-1285), Thái thượng hoàng Trần Thánh Tông xuống chiếu mở một cuộc hội nghị hết sức quan trọng, đó là Hội nghị Diên Hồng. Tham dự hội nghị này là các vị bô lão, đại diện cho nhân dân cả nước. Thượng hoàng đích thân hỏi các vị bô lão này là nên đánh hay nên hòa. Một đời thân phận thấp hèn, tay bùn chân lấm, nay bỗng dưng được triều đình mời tận vào hoàng cung để bàn quốc gia đại sự, tinh thần của các vị bô lão phấn chấn khác thường. Sách Đại Việt sử ký toàn thư (bản kỷ, quyển 5, tờ 44a) chép: “Các cụ bô lão đều nói đánh, muôn người cùng một tiếng, muôn lời như bật ra từ một miệng. Tiếng hô quyết đánh của các phụ lão như một làn chớp lan ra khắp trong nước, từ kinh thành đến các phủ huyện, nơi hang cùng ngõ hẻm, dân tạo thành một khối tộc đoàn kết lớn mạnh, không phân biệt đồng bào Kinh hay Thượng, tất cả đều cương quyết đứng lên đánh giặc, bảo toàn lãnh thổ và quyền dân tộc độc lập” (Thích Đức Nhuận – Đạo Phật và dòng sử Việt).

Các vua Trần đã tập hợp toàn dân và quan trọng hơn là hiệu triệu cho một cuộc “chiến tranh nhân dân” trên mọi mặt trận: từ chiến trường đến lòng người.

Nhưng chính sách đoàn kết này chỉ có thể thực hiện được, khi người dân và người lãnh đạo đất nước có chung một quyền lợi để bảo vệ và một đối tượng để chiến đấu. Trong lời Hịch gửi các tướng lĩnh và binh sĩ, Trần Hưng Đạo đã nói rõ: “Các ngươi ở lâu dưới trướng, nắm giữ binh quyền, không có áo mặc thì ta cho áo, không có cơm ăn thì ta cho cơm, quan thấp thì ta thăng tước, lộc ít thì ta cấp lương, đi thủy thì ta cho thuyền, đi bộ thì ta cho ngựa, lúc ra quân thì cùng nhau sống chết, lúc ở nhà thì cùng nhau vui cười. So với Công Kiên đãi đám kỳ tướng, Ngột Lang đãi kẻ phụ tá, nào có kém gì? Nay các ngươi ngồi nhìn chủ nhục mà không biết lo, thân chịu quốc sỉ mà không biết thẹn, làm tướng triều đình đứng hầu quân mọi mà không biết tức, nghe nhạc thái thường đãi yến sứ ngụy mà không biết giận”.

Trần Hưng Đạo đã chỉ ra sự thống nhất quyền lợi giữa những người lãnh đạo đất nước và những người dân. Mọi người đều thấy mình có chung một quyền lợi để chia sẻ và do thế phải được cùng nhau bảo vệ. Sự tồn tại của quyền lợi người này là điều kiện và tiền đề để cho quyền lợi người khác tồn tại. Quan hệ biện chứng về quyền lợi này đã xây dựng nên ý thức về sự cùng chung một đất nước, một cộng đồng để mến yêu. “Chính xuất phát từ một nhận thức như thế, trong việc chuẩn bị cho hai cuộc chiến tranh cũng như sau khi hòa bình lập lại, vua Trần Nhân Tông, thông qua chính sách hành chính cũng như qua bản thân cuộc sống của mình, đã thực hiện hàng loạt các biện pháp chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa nhằm xây dựng khối đoàn kết toàn dân ấy. Ta đã thấy vua có biện pháp phát triển đồng bộ nông nghiệp, thương nghiệp và thủ công nghiệp nhằm tạo cái ăn, cái mặc cho người dân. Vua Trần Nhân Tông giải quyết những vấn đề xã hội về tội phạm, về những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, để tạo nên một cuộc sống quan hệ xã hội thoải mái.” (Lê Mạnh Thát – Trần Nhân Tông).

 

Trần Hưng Đạo


Chúng ta nên lưu ý là trong thời đại quân chủ, vua là bậc thiên tử, ý vua là ý trời, mà ở phương Nam lại có một vị vua “Dĩ thiên hạ chi dục vi dục”, lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, nếu không phải là người thấm nhuần giáo lý từ bi, trí tuệ, bình đẳng của nhà Phật thì không thể thực hiện được.

 

Đại Việt sử ký toàn thư (quyển 5, tờ 61a) ghi lại sự kiện “vua từng ngự chơi bên ngoài, giữa đường gặp gia đồng của các vương hầu, tất gọi rõ họ tên mà hỏi: Chủ mày ở đâu? Răn bảo các vệ sĩ không được la đuổi. Khi về cung bèn gọi tả hữu bảo: Ngày thường thì có tả hữu chầu hầu, tới khi quốc gia nhiều khó khăn thì chỉ bọn ấy có mặt thôi”. Sự kiện này chứng tỏ vua Trần Nhân Tông không chỉ đánh giá cao những người lãnh đạo tài ba thuộc tầng lớp trên của xã hội, mà ngay cả những người dân thuộc tầng lớp thấp kém nhất, tầng lớp gia đồng, vua cũng có một đánh giá như thế. Tầng lớp này vào thời điểm ấy có thể không phải thuộc thành phần được học hành nhiều, có của cải khá, nhưng đối với sự tồn vọng của quốc gia, họ vẫn có những đóng góp to lớn, thậm chí bằng xương máu của chính mình. Thế nên chúng ta mới có những anh hùng từ chốn dân gian như Yết Kiêu, Dã Tượng… Trần Nhân Tông đã vận dụng lực lượng chủ lực, vốn nằm ở đáy tầng, gồm tuyệt đại đa số dân chúng trung kiên của xã hội Việt, làm sức gốc, làm mặt trận gốc.


Chỉ có phát huy dân chủ, dựa vào cương thường lấy con người làm nền tảng mới là phương sách đem đến sức mạnh cho kháng chiến và cho công cuộc xây dựng đất nước trong thời bình, đồng thời gìn giữ hòa bình lâu dài. Bằng cái nhìn xuyên thấu trước thời đại, Trần Nhân Tông đã cứu nước và giữ nòi bằng một cương lĩnh hành động rất đầy đủ, mang tính cách mạng và hướng thượng. Người không để cho những vấn đề cá nhân, dòng tộc, giai cấp trở thành những trở ngại, mà tích hợp sức mạnh của mọi giai cấp cho một mục đích chung: bảo vệ Tổ quốc bằng biện pháp “dân chủ”, bất chấp ngoại địch hay nội thù. Nhờ thế, dẫu thua trận Vạn Kiếp hay thế lực ban đầu còn non yếu, chúng ta vẫn luôn có một thứ vũ khí tối thượng: lòng dân, hay đúng hơn, ý chí của toàn dân. Mật ngôn của Người là: “Phàm làn đấng Nhân chủ, thì phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình”. Tuy nhiên khi Ngài e sợ sinh linh đồ thán, toan tính hy sinh mạng mình để cứu muôn dân, đã nghe mật ngôn thứ hai từ Thái sư Trần Thủ Độ “Nếu bệ hạ hàng thì trước hãy chém đầu thần rồi sau hãy hàng”.

Câu trung liệt ấy là một lời khẳng định mãnh liệt sức sống Việt luôn trường tồn, bất chấp hiểm nguy. Chính bởi vậy mà hào khí của ba lần kháng Nguyên – Mông vẫn vẹn nguyên trong câu chuyện của “Người lính già đầu bạc / Ngồi kể chuyện Nguyên Phong”, còn vang vọng mãi tới mai sau và dù có bao phen “chồn ngựa đá” thì vẫn còn đó “Non sông muôn thuở vững âu vàng” (Sơn hà thiên cổ điện kim âu – TNT)

DUNG HỢP MỌI DỊ BIỆT, TÍCH HỢP TƯ TƯỞNG VIỆT 

“Dung hợp” tiếng Hy Lạp cổ: Synkretimos, nghĩa là sự kiên kết, kết hợp, pha trộn, vay mượn các bộ phận, yếu tố trong các hệ thống khác nhau. Trong lĩnh vực triết học, dung hợp là tổng hợp, dung hòa những hệ thống, những khuynh hướng khác nhau thậm chí trái ngược, mâu thuẫn nhau vào một hệ thống nhằm giải quyết một vấn đề xã hội nào đó.

Dung hợp tam giáo nằm trong lĩnh vực triết học – tôn giáo và diễn ra chủ yếu ở Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam, phản ánh một trong những đặc điểm nổi bật của triết lý phương Đông là sự kết hợp không thể tách bạch giữa triết học, tôn giáo, chính trị, đạo đức. Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, sự dung hợp tam giáo biểu hiện ở những giai đoạn lịch sử cụ thể thường có nội dung, hình thức khác nhau với những tên gọi khác nhau: tam giáo hòa đồng, tam giáo đồng nguyên, tam giáo đồng qui.

CÓ HAY KHÔNG TAM GIÁO ĐỒNG NGUYÊN?

Có người cho rằng quan niệm “tam giáo đồng nguyên” có từ đời nhà Lý như nhận định sau: Sở dĩ nói “đồng nguyên” là bởi mục tiêu tối thượng của cả ba tôn giáo này đều hướng tới tính thiện, tính nhân văn. Và nhà Lý chiết xuất ra ở mỗi dòng đạo những điều ưu việt nhất làm định hướng căn bản cho việc xây dựng xã hội. Đó là: Xã hội Nho – tâm linh Phật – Thiên nhiên Đạo. Tam giáo đồng nguyên là như vậy, và nó chính là triết lý nhân sinh cũng đồng thời là định hướng chính trị cho xã hội thời đại nhà Lý (1).

Đến đời Trần, nguồn gốc xã hội và cơ sở triết học của hiện tượng tam giáo đồng nguyên, có hai đặc điểm sau cần lưu ý:

Thứ nhất, đời Trần là thời kỳ phát triển độc đáo trong lịch sử Việt Nam với sứ mạng vừa xây dựng vừa chiến đấu bảo vệ nền độc lập, tự chủ của dân tộc. Mọi hoạt động trong các lĩnh vực của đời sống xã hội như kinh tế, chính trị, văn hóa dường như đều tập trung về một hướng, một mục đích tối hậu: chiến thắng quân xâm lược Nguyên – Mông.

Thứ hai, quan điểm “tam giáo đồng nguyên đời Trần” được cho là phản ánh những điều kiện kinh tế chính trị xã hội, mặt khác, nó nằm trong quan hệ tương tác giữa triết học và tôn giáo.

Như đã phân tích ở trên, chiến lược của nhà Trần là huy động sức mạnh và ý chí toàn dân trong cuộc kháng chiến nên đã áp dụng chính sách khoan hòa, cởi mở, dân chủ. Các vua Trần thường coi ý dân là chủ đạo, “khoan thư sức dân” tạo nền tảng cho sức mạnh nội tại. Như Trần Hưng Đạo khẳng định kêu gọi: “Vua tôi đồng tâm, anh em hòa mục, cả nước nhà góp sức, giặc phải bị bắt”.

Đây cũng là thời kỳ xuất hiện những nhà tư tưởng lớn. Đó là Trần Thái Tông với những suy nghĩ được viết ra khiến “máu chảy đầu ngọn bút, nước mắt thấm trên từng trang giấy”. Ông là nhà tư tưởng, nhà chính trị biết vận dụng tam giáo trong việc quản lý xã hội. Sự dung hợp tam giáo ở Trần Thái Tông biểu hiện rõ nhất trong tác phẩm triết học Phật giáo nổi tiếng: Khóa hư lục, một sự pha trộn các quan niệm của Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo.

Một nhà tư tưởng khác, Tuệ Trung Thượng sĩ đã dung hợp làm một triết lý giải thoát của Phật giáo với quan điểm vô vi, sự giác ngộ với tinh thần tự do tuyệt đối của Lão – Trang. Trần Nhân Tông vừa mang trong mình tố chất của một nhà lãnh đạo kiệt xuất, người anh hùng hai lần đánh bại quân xâm lược vừa có đức hạnh của một vị thiền sư tràn đầy bi – trí – dũng, cốt cách thanh tao. Ông đã tích hợp triết lý sâu sắc Phật giáo, vận dụng Nho giáo, có chút tư duy lãng đãng Đạo giáo và trên tất cả hợp thành dòng tư tưởng Việt, nhập thế mãnh liệt và tích cực, không trầm buồn ảo não, không khô cứng tôn ty, ràng buộc nghi lễ, không vô vi xuất thế, lãng đãng phiêu bồng. Đến một sử gia cố chấp như Ngô Sĩ Liên cũng phải nhận xét: “Nhân Tông trên thờ Từ Cung tỏ rõ đạo hiếu, dưới dùng người giỏi, lập nên võ công. Nếu không có tư chất nhân, minh, anh , võ, thì sao được như thế? Chỉ có một việc xuất gia là không hợp với đạo trung dung.” (2)

Tuệ Trung Thượng sĩ


Tác giả Trương Văn Chung cho rằng: “Tam giáo đồng nguyên đời Trần là sự dung hợp ba hệ tư tưởng có mục đích, tính chất, khuynh hướng khác nhau đã được mềm hóa bởi truyền thống văn hóa Việt Nam và chịu sự quy định của nhân tố chính trị đương thời. Thực chất là mối quan hệ tương tác giữa hình thức này với đường lối chính trị nhà Trần”. Tác giả lý luận rằng: Triết học Phật giáo đời Trần dựa trên nền tảng thiền học, tập trung vào những vấn đề bản thể luận như “Tâm” (Tâm vô trụ, Tâm tự tính, Tâm thường nhật v.v). Chú trọng bàn đến cái bản thể uyên nguyên nhất, cái khởi thủy của toàn bộ thế giới, cái bản chất của vạn vật, thế giới quan thiền học đời Trần đã tìm thấy điểm chung với thế giới quan của Nho giáo, Đạo giáo rồi. Các khái niệm “Chân không”, “Thái cực”, “Đạo” đã cùng nhau bước qua cái vỏ ngôn từ để đồng nguyên về tư duy. Đó là thế giới quan mang tính chất tự nhiên, thuần phác, chứa đựng phép biện chứng của “sắc, không”, “lý, khí”, “âm, dương”. (3)

Chúng ta cũng biết rằng mục đích của những nhà lãnh đạo ở mọi thời đại là tổ chức một xã hội có kỷ cương trật tự, có lề luật chặt chẽ. Ở phương Đông, dưới thời phong kiến, họ thường dựa vào sự ràng buộc của tam cương, ngũ thường của Nho giáo là tính phân chia đẳng cấp, theo tôn ty, mất bình đẳng giàu nghèo nam nữ… sẽ tạo ra nhiều nhân tố bất ổn cho xã hội. Vậy nên trong thời Lý – Trần, các bậc quân vương chủ trương hạn chế hay khắc chế thói tham lam ích kỷ bằng cách hướng con người đến những mục đích tinh thần cao thượng hơn: xả kỷ, tôn trọng lẫn nhau, sống hiếu hòa, hướng thiện và hướng thượng, giảm bớt sân hận cố chấp, để tiến tới bến bờ giải thoát vượt lên khỏi cám dỗ vật chất của đời thường, và để vươn tới cứu cánh ấy thì phải huân tập thân tâm theo giáo lý nhà Phật.

Nếu Lão – Trang có điểm nào cần tham cứu thì đấy chính là quan điểm mọi loài sinh ra bình đẳng dù cho thấp sinh, noãn sinh hay thảo mộc (Giáo lý nhà Phật cũng nói thế). Lão Tử chủ trương muôn nòi phải nương tựa vào nhau, cùng tồn tại chứ không loài nào được ép loài nào. Con người cũng như các loài khác phải tôn trọng thiên nhiên, hay chính là Đạo. Nhưng Đạo của ông Lão hay Thái cực của ông Khổng đều không phải là “không” (Suyata) của nhà Phật vì “phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng” (Kinh Kim Cang). Chúng ta cũng biết “tam giáo đồng nguyên” đời Trần ngoài những vấn đề thế giới quan đã trình bày ở trên, còn là quan điểm về chính trị, đạo đức và thái độ sống.

Người ta vẫn cho rằng chính trị, đạo đức là vấn đề trung tâm và cũng là thế mạnh của tư tưởng Nho giao, gồm các học thuyết chính danh, nhân trị, đức trị, tạo tôn tri trật tự, khuôn phép nghiêm ngặt trong xã hội với những chuẩn mực đạo đức bất biến và mẫu người quân tử thành thạo: tu, tề, trị, bình. Chúng ta cũng nhớ là đã có những phê phán từ các sử gia Trung Quốc rằng Đường Nho, Tống Nho hay Minh Nho đều không làm cho đất nước mạnh lên mà tạo ra một chế độ giáo dục lỗi thời, hà khắc, làm dân tộc suy yếu và bao phen điêu đứng dưới gót giày xâm lược.

Nếu không thể gọi là “đồng nguyên” thì chúng ta có thể gọi là “tam giáo đồng hành” hay tổng hợp tư tưởng tam giáo dưới tư tưởng chủ đạo của nhà Phật vì Nho giáo đã trở nên khoáng đạt hơn, ít câu thúc hơn trong cái nhìn phóng khoáng dưới thế giới quan Thiền tông và những yếu tố tích cực như tinh thần nhập thế, trách nhiệm, hành xử quân tử của Nho giáo vẫn còn có thể vận dụng trong ứng xử, đối đãi… Tác giả họ Trương cho rằng: Thuyết chính danh, tôn ti trật tự trên dưới của Nho giáo rõ ràng không phù hợp với chủ trương khoan hòa, đoàn kết, dân chủ của triều đại nhà Trần, vì thế chúng không được nhắc tới trong tổ hợp tam giáo, mặc dù đó là cốt tủy tư tưởng chính trị Nho giáo.(4)

Đạo giáo trong đời Trần cũng không còn nặng về pháp thuật thần bí nữa, nó trở lại tinh thần chân chất, thuần phát tự nhiên bởi sự kết hợp với triết lý vô ngã, vô thường của Phật giáo và tính duy lý của nhà Nho, nó mang lại làn gió lạ trong quan điểm nhân sinh, lý tưởng sống của con người.

Triết lý sống và tư tưởng Việt tích hợp thể hiện qua việc các vua Trần luôn sống ung dung, tự tại trong thế giới hình danh sắc tướng mà không đánh mất mình, ngồi trên ngôi cao vạn thặng đầy quyền lực, châu báu, nhưng vẫn không rơi vào trạng thái “đam mêm quyền lực”. Một điều quan trọng không thể không nhắc tới là lý tùy duyên được vận dụng sáng tạo và uyển chuyển theo tình hình đất nước và triều đình, trong đối nội và đối ngoại.

VẬN DỤNG LÝ TÙY DUYÊN VÀ TƯ TƯỞNG THIỀN TÔNG NHẬP THỂ

Lẽ sống tự do theo lý tùy duyên của Phật giáo mở ra khung trời tự tại cho các hành giả vô ngại, tùy ý hành xử. Có lẽ người ta thấy giao điểm của Thiền tông và Lão – Trang là ở chỗ này. Nhân sinh quan của Tuệ Trung Thượng sĩ mang bản sắc Việt Nam mà Trần Nhân Tông ca ngợi: ông là: “ ngọn đèn tổ của Phật hoàng”, là “con quỷ thiêng nơi vườn pháp” song lại sống “trộn lẫn cùng thế tục, hòa cùng ánh sáng, chứ không trái hẳn với người đời”. Đó là nguyên lý “hòa quang đồng trần”.

Thế nhưng tác giả họ Trương vẫn cứ khăng khăng rằng: “Tam giáo đồng nguyên đời Trần là nhân tố quan trọng trong bước chuyển tư tưởng từ “tự ý thức về cái tôi” của dân tộc sang chất “Đại Việt”, nó góp phần vạch ra biên giới văn hóa giữa Việt Nam và Trung Hoa, khẳng định sự độc lập, tự chủ trong lĩnh vực tư tưởng”. (5)

Tinh thần nhập thế đời nhà Trần trong tinh thần “tùy duyên bất biến, bất biến mà tùy duyên” không phải theo quan niệm Nho giáo – một hệ thống triết học mang tính thực tiễn chính trị và xây dựng trên tư duy trật tự xã hội quân thần; khái niệm nhập thế của Thiền tông “thõng tay vào chợ” là nhằm phân biệt với khuynh hướng vô vi xuất thế của Lão – Trang. Cả hai khái niệm nhập thế của Nho giáo và xuất thế của Lão giáo không thể đồng nhất với khái niệm nhập thế và xuất thế theo đạo Phật. Khái niệm nhập thế theo nhà Phật trong tinh thần “Này các Tỳ-kheo, hãy du hành, vì hạnh phúc cho quần sinh, vì an lạc cho quần sinh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư chiên và loài người” . (6)

Như đã phân tích ở trên, tam giáo đồng nguyên hay đồng quy chỉ là sản phẩm từ trí tưởng tượng phong phú của một số Nho sĩ đương thời và những học giả đời sau lặp lại thiếu đắn đo.

Khi nhận định tính cách của con người đời Trần, tác giả Mai Thị Thơm nhận thấy họ có những đức tính sau:

- Tính quyết đoán

- Tính đoàn kết

- Tính khoáng đạt

- Tính linh hoạt

- Tính bao dung

- Tính cương trực

- Tính dung dị

- Tính tín ngưỡng

Riêng về tính bao dung, tác giả cho rằng: “Giao Châu, vùng đất ngã tư chủng tộc và văn hóa có những đức tính quý báu của biển. Từ thời xa xưa, biết bao dân tộc khác nhau từ khắp các vùng miền Đông Bắc Á, Đông Nam Á, rồi đến những thương gia, du sĩ Ấn Độ, quan lại, dân chúng Trung Quốc… đã liên tục tìm về, về đến rồi thì họ sống và cư xử như người bản xứ, coi đây là quê hương của mình”.(7)

Cách dùng người đời nhà Trần thể hiện qua chính sách thi cử, tuyển chọn nhân tài trong mọi lĩnh vực. Ngoài các kỳ thi tam giáo, còn thi Lại viên, thi Thái học sinh, lập giảng võ đường tuyển chọn võ sĩ, chuẩn bị kháng chiến. Nếu trong những triều đại phong kiến thông thường, làm sao có tướng quân Phạm Ngũ Lão, người ngồi đan sọt được phong tướng; làm sao có cậu bé Trần Quốc Toản, làm sao có Trần Khánh Dư. Những người lập công trạng lớn về sau nhưng được tuyển dụng bằng những cách “phi truyền thống”, không qua thi cử hay quen biết (!). Ngoài vua có lòng bao dung, các tướng cũng như vậy, cụ thể như Trần Nhật Duật đã dùng đội quân “Thát” góp công đánh giặc Nguyên, vốn là những người Tống. Nhà vua cũng đã ổn định chính trị, phát triển quân sự hùng mạnh, giữ vững biên cương, giao hảo với các nước láng giềng, mở mang nền học vấn, phát triển kinh tế, chủ trương tự chủ về ngôn ngữ. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, tháng tư, năm Mậu Tý (1288), vua dụ cho Ty Hành khiển giao hảo với Hàn lâm viện. “Theo lệ cũ, hễ tuyên đọc chiếu chỉ của vua, thì Hàn lâm viện, đưa trước bản thảo chiếu chỉ cho Ty Hành khiển để tập đọc trước. Đến khi tuyên đọc, thì gồm giảng đọc cả âm lẫn nghĩa khiến cho dân thường dễ hiểu”.(8) Nhà vua chủ trương phát triển đất nước nhiều mặt, phát huy tính tự chủ về ngôn ngữ, chữ viết. Chữ Nôm là ngôn ngữ tiếng Việt được phát huy đầu tiên và được sử dụng trong nền hành chánh vào thời vua Trần Nhân Tông vậy.

Trần Nhân Tông đã gắn kết giáo lý Phật ngoại với nội tín Đại Việt, gắn kết sự linh thiêng dân dã với các trải nghiệm chính trị cung đình và sau cùng là gắn kết cái có thật của đời người với sự giải thoát còn tiềm ẩn trong trời đất. Trần Nhân Tông đã thống nhất được nghịch lý: Yêu đời và siêu thoát: “Tích nhân nghì, tu đạo đức/ Ai hay này chẳng Thích Ca/ Cầm giới hạnh, đoạn xan tham/ Chỉn thực ấy là Di Lặc” (Cư trần lạc đạo phú – Hội thứ sáu). Thơ ấy đặc tả con người tích nhân theo giới (tu) để chứng cái đức (của mình). Ai hay biết đều này mà chẳng Thích Ca. Cần nắm được giới hạnh thì phải bỏ được lòng tham. Chỉn chu với tất cả lẽ thực tế ấy thì sẽ thành Di Lặc.

Thế đã rõ, đối với Trần Nhân Tông, Phật giáo là cuộc sống, không có sự cách ly phân biệt, bởi vì Phật giáo là gì, nếu không phải đó là một quá trình đi tìm chân lý. Mà chân lý thì không nằm trong Phật giáo, mà nằm ngay ở giữa lòng cuộc sống. Nói một cách hình ảnh như trong kinh Kim Cương, mà Phật giáo đời Trần coi như một bộ kinh cơ bản, thì giáo lý Phật giáo như ngón tay chỉ mặt trăng, như chiếc bè đưa người sang sông. Cho nên, ngay cả giáo lý nhà Phật cũng phải buông bỏ, mới có thể giác ngộ được. Và cũng chính kinh này đã nhấn mạnh đến tư tưởng “tất cả pháp đều là Phật pháp”. Từ đó, ta không ngạc nhiên với chủ trương Cư trần lạc đạo (ở đời mà vui với đạo) của vua Trần Nhân Tông.

Bài phú viết về tư tưởng ở đời mà vui với đạo này có tên chính thức là Cư trần lạc đạo phú:

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên,
Cơ tắc xan hề khốn tắc miên.
Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch,
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.


(Sống đời, vui đạo thả tùy duyên
Lúc đói thì ăn, mệt ngủ liền
Vật báu trong nhà, thôi đừng kiếm
Vô tâm đối cảnh hỏi chi thiền)

(Cư trần lạc đạo phú)

Ta thấy, trước khi hình thành chủ thuyết Cư trần lạc đạo, thì Trần Thái Tông – người đặt nền móng tư tưởng cho Thiền phái Trúc Lâm, đã chọn kinh Kim Cương làm cơ sở lý luận biện tâm, thực thi đời sống hướng nội trước một bối cảnh lịch sử cả dân tộc ra sức chấn hưng đất nước. Theo nguyên lý duyên khởi của tư tưởng Hoa Nghiêm, Bát Nhã, bản thân từng cá nhân không thể tư tồn tại độc lập mà phải có sự tương hỗ, tương tức với cộng đồng, xã hội, nhất là giai đoạn cả nước đang chiến đấu cho sự tồn vong hay xây dựng lại sau chiến tranh. Tinh thần nhập thế của Thiền phái Trúc Lâm trở thành một trong những đặc trưng nổi bật của Thiền tông Việt Nam khi nhìn nhận nó trong dòng chảy lịch sử nước nhà… Tinh thần nhập thế kế thừa từ thời Mâu Tử khi đạo Phật mới du nhập, nhưng phải đến Phật giáo đời Trần thì tinh thần nhập thế mới được phát huy cao độ. Nó khẳng định bản sắc Thiền tông Đại Việt, tác động mạnh mẽ vào đời sống chính trị văn hóa xã hội nước nhà. Tư tưởng tùy duyên và sự thành công của nhà Trần là do các vị vua lãnh đạo đất nước biết vận dụng tư tưởng “Hòa quang đồng trần”, “Cư trần lạc đạo” để làm gương cho trăm họ, huy động sức mạnh đoàn kết toàn dân, nuôi lớn lòng yêu nước của toàn dân để xây dựng Đại Việt thành một quốc gia hùng cường mà không một thế lực nào có thể đánh bại được.

Trong Cư trần lạc đạo phú, Hội thứ nhất, vua nói:

“Mình ngồi thành thị, nết dụng sơn lâm”.

Nghĩa là ngay nơi các tướng thế gian, mà giác ngộ thực tướng vô tướng, sống và hành xử theo đúng thực tướng vô tướng ấy.

Người xây dựng đất nước mà không thấy nhân thấy ngã; đuổi giặc, giữ yên bờ cõi mà tâm không gây oán thù hay tự đắc; được cả giang sơn, bá tánh đoàn tụ vui vầy mà lòng không đắm tước; ngồi trước cám dỗ trần thế mà lòng không dao động; có hàng trăm cung phi, mỹ nữ kề cận hầu hạ, mà nghĩ đến sự xả ly; ngồi trên thiên hạ mà thấy rõ các pháp thế gian đều là hư huyễn; đó chính là những gì mà vua Trần Nhân Tông đã trải qua.

Người hiểu: “Dứt trừ nhân ngã, thì ra thực tướng Kim Cang. Dừng hết tham sân, mới làu lòng mầu Viên Giác”.

Tinh thần “Cư trần” nhưng phải “lạc đạo” là hai vế của một triết lý “Vui đạo sống tùy duyên” – một di sản vô giá mà bậc Đại sĩ Phật hoàng để lại, chính đó là giá trị nền tảng văn hóa của một đất nước dân chủ, tự do vững mạnh. Tinh thần dung hợp mọi luồng tư tưởng khác nhau thành một khối phẩm chất Việt.

Với hành trạng sống động, Trần Nhân Tông không chỉ là đấng minh quân, mà còn là nhà văn hóa, tư tưởng kiệt xuất. Tất cả những lời tán thán, ca tụng đều chỉ như sương rơi, hoa rụng với Người khi đã nhận ra dù:

“Cốc hay thân huyễn,
Chẳng khác phù vân;
Vạn sự giai không,
Tựa dường bọt bể.”


Người đã giác ngộ ngay trong đời sống và tâm không còn bám víu, ràng buộc bởi phiền trược, chấp trước…

Nói như một số nhà nghiên cứu, vua Trần Nhân Tông đã “xây dựng cho toàn dân một nền luân lý đạo đức học Phật giáo thật sống động và thiết thực, không bi quan, yếm thế, mở ra một cái nhìn toàn diện và tích cực trong triều đại nhà Trần.” Phật Hoàng, như nhân dân tôn vinh Người, mang “chất Phật” và “chất Vua” song song tồn tại qua mọi giai đoạn của cuộc đời, chỉ khác ở chỗ tùy duyên ứng hiện.

Thế nên có thể kết luận: “Ngài (Trần Nhân Tông) là tấm gương soi sáng muôn đời cho dân tộc Việt Nam về một thời đại huy hoàng, chiến công hiển hách, văn hóa rực rỡ, khi mà Phật giáo trở thành quốc giáo và Điều ngự Giác hoàng Trần Nhân Tông được nhân dân tôn kính là Phật hoàng hay có thể nói Ngài là một biểu tượng độc lập về tư tưởng và văn hóa với những kẻ luôn nghĩ mình là người khổng lồ phương Bắc”.(10)

Vậy mà thể tánh của Người lúc nào cũng lặng lẽ, rỗng rang, tự tại giữa dòng đời.

“Phải quấy niệm reo theo hoa sớm
Lợi danh tâm lạnh vớ mưa đêm


(Thị phi niệm trục triêu hoa lạc
Danh lợi tâm tùy dạ vũ hoàn)

(Sơn phòng mạn hứng)

Chú thích:

(1) Hoàng Quốc Hải – Báo Đại Đoàn Kết, số ra ngày 24/10/2010

(2) và (8) Đại Việt sử ký toàn thư, NXB văn học, 2006

(3), (4) và (5): Trương Văn Chung, Tư tưởng Triết học của Thiền phái Trúc Lâm đời Trần, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998

(6) Tương Ưng Bộ kinh, 1, Thích Minh Châu dịch, Trường CCPHVN ấn bản, 1982

(7) Mai Thị Thơm – Hoa Nghiêm – Suối nguồn Văn hóa Phật giáo thời Trần

(9) www.Thuongchieu.net

(10) Nguyên Cẩn – Bàn thêm về lý tùy duyên trong xuất xử của Trần Nhân Tông, Liễu Quán số 2/2014.

____________

Nguyên Cẩn

Nguồn: Văn Hóa Phật Giáo Việt Nam | Ấn phẩm mùa Thu 2014 - PL. 2558

BÀI THƠ CƯ TRẦN LẠC ĐẠO - CHUYỂN NGỮ TIẾNG ANH

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên.
Cơ tắc xan hề, khốn tắc miên.
Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch;
Đối cảnh vô tâm mạc vấn Thiền.

Theo bản dịch của ông cụ Võ Đình (Mai) và Công-Huyền Tôn-Nữ Nha-Trang thì được dịch ra như sau:

Ở ĐỜI VUI ĐẠO

Ở đời vui đạo tuỳ duyên
Đói ăn mệt ngủ, tự nhiên dễ dàng
Ngọc châu nhà có sắn sàng
Đâu cần tìm kiếm ngoài đường luống công
Đối người đối vật dung thong
Tâm không vướng mắc là tông chỉ Thiền.

Rồi bằng tiếng Anh là,

TO LIVE IN THIS WORLD

In this world of dust
is enjoyment of the Way attained
by following the natural path
To eat when hungry, to sleep when weary
When at home are such treasures readily available
there is no need to hunt afar for them
Treating all and everything with a free heart

Is the essence of Zen. (Một Cành Mai, pg. 78)

Còn bản dịch của cư sỹ Nguyên Giác Phan Tấn Hải là:

Living amid dust and enjoying the way,
you should let all things take their course.
When hungry, just eat; when tired, just sleep.
The treasure is in your house; don’t search any more.
Face the scenes, and have no thoughts;
then you don’t need to ask for Zen.

Rồi Ni Sư Thuần Tuệ bảo rằng có một bài dịch nữa, sát theo bản gốc Hán:

To enjoy the Way in worldly life, just live in harmony with what comes,
Eating when hungry, sleeping when weary.
There is treasure in our house, no need to search for it,
Dealing with all matters with no-mind mind, no need to ask about Zen.

Và nhờ "tổng hợp từ những bài dịch thành một bài sát bản dịch của Ôn Trúc Lâm".

Vì thế, nên mới y giáo phụng hành. Xin mạn phép được dịch như sau:

In this earthly world, enjoy life as its natural way
When you are hungry, just eat; when you are weary, just sleep.
As in our house, or within us, there is already treasure
When facing countless scenes, no mind is the essence of Thiền (Zen).

Nhưng sau đó cũng chưa vừa ý lắm, nên đổi lại là

THE PEACEFUL PATH IN THIS LIFE

In this earthly world, enjoy life as its natural way
When you are hungry, just eat; when you are weary, just sleep.
As in our house and in us,
there is no need to search for the treasure already within.
When facing countless situations, no mind is the essence of Thiền (Zen).


Sống đời vui đạo hãy tùy duyên
Khi đói thì ăn, mệt ngủ liền
Trong ta, nhà ở bao của quý
Muôn sự vô tâm, tông chỉ Thiền.

_________________


• Tâm Thường Định
Nguồn: thuvienhoasen.org


Tham khảo
1. Một Cành Mai - Võ Đình và Công-Huyền Tôn-Nữ Nha-Trang, NXB An-Tiêm, 2005.
2. Cư Trần Lạc Đạo (nguyên văn) - Thiền Sư Thích Nhất Hạnh - http://langmai.org/tang-kinh-cac/vien-sach/giang-kinh/trai-tim-cua-truc-lam-dai-si/cu-tran-lac-dao-phan-nguyen-van?set_language=vi
3. Bình Giảng Bài Thơ Phú của Đức Vua TRẦN NHÂN TÔNG - Hoà Thượng Thích Quảng Liên; http://www.tinhhanhbotat.org/vanhoc/tin5_cutranlacdao.htm
4. Trần Nhân Tông Đức Vua Sáng Tổ Một Dòng Thiền, Nguyên Giác, http://thuvienhoasen.org/D_1-2_2-134_4-12424_5-50_6-1_17-39_14-1_15-1/

HUYỀN TRÂN CÔNG CHÚA (1287 – 1340)

Huyền Trân Công Chúa, vị công chúa đời nhà Trần, con gái của vua Trần Nhân Tông mẹ là Khâm Từ Bảo Thánh hoàng hậu, Huyền Trân là em gái của Trần Anh Tông, cháu ngoại đức thánh Trần Hưng Đạo. Sinh vào năm Đinh hợi 1287, năm lên 6 tuổi đã mồ côi mẹ, dưới sự chỉ bảo của người dì củng là người mẹ kế là Truyên Từ, lớn lên Huyền Trân trở thành cô Công chúa xinh đẹp, thông minh hiếu nghĩa vẹn toàn.

 

Vào năm 1293, vua Trần Nhân Tông thoái vị, hoàng thái tử Trần Thuyên lên nối ngôi (tức là hoàng đế Trần Anh Tông). Vua Trần Nhân Tông trở thành Thái thượng hoàng, lên tu ở núi Yên Tử. Năm 1301, Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông nhận lời mời, du ngoạn vào Chiêm Thành, được Quốc vương Chiêm Thành là Chế Mân (Jaya Sinhavarman III), tiếp đãi nồng hậu, có ở lại trong cung điện Chiêm Thành gần 9 tháng. Khi ra về, Thái thượng hoàng có hứa gả con gái cho Chế Mân mặc dù khi đó Chế Mân đã có chính thất là Vương hậu Tapasi, người Java nam Indonesia ngày nay. Sau đó nhiều lần, vua Chế Mân cử sứ sang hỏi về việc hôn lễ, nhưng nhiều quan lại nhà Trần không đồng thuận, chỉ có Văn Túc vương Trần Đạo Tái và Nhập nội hành khiển Trần Khắc Chung chủ trương tán thành. Vua Chế Mân xin dâng hai châu Ô, Rý làm quà dẫn cưới, vua Trần Anh Tông khi đó mới đồng ý gả Công chúa Huyền Trân.

 

Tháng 6 năm Bính Ngọ, niên hiệu Hưng Long thứ 14 (1306), Huyền Trân công chúa được gả cho Quốc vương Chiêm Thành là Chế Mân để đổi lấy hai châu Ô, Rý (từ nam sông Hiếu, Quảng trị đến Bắc sông Thu Bồn ngày nay), sau khi Công chúa về Chiêm Thành, được phong làm Hoàng hậu thứ 2 với mỹ hiệu là Paramecvari.

 

Tháng 5 năm Đinh Mùi (1307), quốc vương Chế Mân chết. Nghĩa là chỉ 11 tháng sau khi cuộc liên hôn giữa Đại Việt và Chiêm Thành diễn ra. Thế tử Chế Đa Da sai sứ thần Bảo Lộc Kê sang dâng voi trắng để báo tang đồng thời báo tin Huyền Trân Công Chúa phải lên đàn hoả thiêu để tuẫn tang theo phong tục của người Chiêm.

 

Trần Anh Tông liền cử Hành khiển Trần Khắc Chung vờ sang viếng tang, tìm cách cứu Công chúa. Trần Khắc Chung thành công, cứu được công chúa và xuống thuyền, đưa công chúa về Đại Việt bằng đường biển. Hành trình trở về này kéo dài đến 8 tháng do gặp bảo trên biển, công chúa trú tại đảo Lý Sơn, đến tháng 8 năm 1308 mới về đến Thăng Long Đại Việt. Sau khi trở về Thăng Long thì theo di mệnh của Thái Thượng hoàng, công chúa xuất gia ở núi Trâu Sơn (nay thuộc Bắc Ninh). Công chúa thọ Bồ tát giới và được ban pháp danh Ni Sư Hương Tràng.

 

THÔNG TIN CHUNG

 

Phu quân Chế Mân

 

Tước hiệu Huyền Trân công chúa

 

Hoàng hậu Paramecvari

 

Triều đại nhà Trần

 

Thân phụ Trần Nhân Tông

 

Thân mẫu Khâm Từ hoàng hậu

 

Sinh 1287, Thăng Long, Đại Việt

 

Mất 9 tháng 1 năm Canh Thìn (1340), làng Hổ Sơn, huyện Thiên Bản, Đại Việt (nay thuộc Nam Định)

 

An táng chùa Nộm Sơn

 

Cuối năm Tân Hợi (1311), Ni sư Hương Tràng cùng với một thị nữ trước đây, bấy giờ đã quy y đến làng Hổ Sơn, huyện Thiên Bản (nay thuộc Nam Định), lập am dưới chân núi Hổ để tu hành. Sau đó, am tranh trở thành điện Phật đường, tức chùa Nộm Sơn hay còn gọi là Quảng Nghiêm Tự.

 

Qua mấy mùa xuân qua hạ đến, công đức viên mãn, vào ngày mồng 9 tháng giêng năm Canh Thìn (1340), Ni sư xã báo an tường đi vào cỏi cực lạc, thọ 53 tuổi. Dân chúng quanh vùng thương tiếc và tôn bà là Thần Mẫu, lập đền thờ cạnh chùa Nộm Sơn. Ngày công chúa mất sau này hàng năm trở thành ngày lễ hội đền Huyền Trân trên núi Ngũ Phong ở Huế.
Các triều đại sau đều sắc phong công chúa Huyền Trân là thần hộ quốc. Nhà Nguyễn ban chiếu ghi nhận công lao của công chúa Huyền Trân "trong việc giữ nước giúp dân, có nhiều linh ứng", nâng bậc là "Trai Tĩnh Trung Đẳng Thần".

_____________

trungtamhuyentran.thuathienhue.gov.vn

HUYỀN TRÂN CÔNG CHÚA LÀM VỢ CHẾ MÂN

Giữa Hội trường Thống Nhất và Cung văn hóa Lao động có một con đường nhỏ và ngắn đi ngang được mang tên Huyền Trân Công Chúa.

 

Trước năm 1975, con đường này từng được mệnh danh là “con đường không số nhà” vì không có một địa chỉ nào trên con đường này. Huyền Trân công chúa không được sử sách xưa nhắc đến nhiều nhưng công lao mở cõi không hề nhỏ khi góp phần đưa về cho nước Việt hai châu Ô, Rí (bao gồm địa bàn tỉnh Thừa Thiên-Huế đến bờ sông Thạch Hãn hiện nay).

 

Có những việc các sử gia ít khi nhắc đến. Nhiều người viết sử đã bỏ qua rất nhiều câu chuyện lịch sử trong quan hệ giữa nước ta với Chiêm Thành trong khi giữa hai nước cũng xảy ra nhiều cung bậc trong quan hệ, từ hòa bình hữu nghị cho đến xung đột.

Huyền Trân công chúa, tranh bìa sách của NXB Kim Đồng. 


Một lời hứa, một mối bang giao

 

Đại Việt và Chiêm Thành đã trải qua những trận chiến liên miên không dứt kéo dài trong hơn 200 năm từ đời nhà Lý đến nhà Trần; chỉ đến khi cùng bị quân Nguyên xâm lược hai bên mới ngừng xung đột, chống kẻ thù chung. Tháng 2 năm Tân Sửu (1301), Thượng hoàng Trần Nhân Tông, người đã cải thiện bang giao với Chiêm Thành, đến thăm Chiêm Thành và được nhà vua Chế Mân (Jaya Sinhavarman III) đón tiếp nồng hậu. Trần Nhân Tông ở Chiêm Thành đến chín tháng trời, vừa ngao du sơn thủy vừa trao đổi Phật pháp. Trước khi về, Thượng hoàng ngỏ ý muốn gả con gái là Huyền Trân công chúa cho Chế Mân để mở rộng bang giao hai nước. Từ đó, năm nào Chiêm Thành cũng cử sứ bộ tới Thăng Long xin cầu hôn. Triều đình nhà Trần phản đối cuộc hôn nhân dị tộc này, chỉ có Văn túc vương Trần Đạo Tái và Đại hành khiển Trần Khắc Chung ủng hộ. Đặc biệt đến năm 1305, khi Chế Mân đề nghị dâng hai châu Ô, Rí làm của hồi môn thì nhà Trần không thể chối từ nữa.

 

Tháng 6 năm Bính Ngọ (1336), Huyền Trân lên thuyền sang Chiêm Thành. Quan quân và dân chúng đến tiễn đưa công chúa rất đông. Truyền thuyết của người Chăm kể lại đích thân Chế Mân ra đón, mặc bộ quần áo màu trắng, giày đen thêu chim thần Garuda. Hôn lễ cử hành suốt ba ngày ba đêm và Huyền Trân đã được Chế Mân phong cho danh hiệu là hoàng hậu Paramecvari.

 

Vì sao Chế Mân lại nóng lòng muốn lấy Huyền Trân đến như vậy? Chế Mân được xem là một trong những bậc minh quân và anh hùng dân tộc của người Chiêm, ông là người đã lãnh đạo quân Chiêm đánh bại thủy quân Nguyên xâm lược (chiến công của ông có được cũng nhờ Đại Việt đã ngăn được quân Nguyên trên bộ), khi lên ngôi ông củng cố sự hòa hiếu với các quốc gia lân bang, kinh bang tế thế khiến dân chúng yêu quý, tôn trọng. Chế Mân muốn cưới Huyền Trân để phát triển bang giao hai nước lâu dài.

 

Đây hẳn là một đám cưới vì mục đích chính trị, bản thân Huyền Trân cũng chỉ là người vợ thứ ba của Chế Mân. Ngoài người vợ đầu người Chiêm, vợ thứ hai là Tapasi là người Java, Chế Mân có lẽ cũng muốn giữ hòa khí và bang giao với phía Nam.

 

Cuộc giải cứu Huyền Trân và những nghi vấn còn mãi

 

Chỉ mới làm vợ Chế Mân được 11 tháng, Huyền Trân công chúa đã trở thành góa phụ. Chế Mân chết khi mới 50 tuổi, trong một trường hợp rất “vô duyên”: Gió lốc bẻ gãy một cành cây trong vườn rơi trúng gáy khi ông đang nằm phơi nắng để trị bệnh ngoài da.

 

Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại: “Theo tục lệ Chiêm Thành, hễ vua mất thì hoàng hậu phải lên giàn hỏa thiêu để chết theo. Vua biết thế, sợ công chúa bị hại, bèn sai bọn Khắc Chung mượn cớ sang viếng tang, rồi nói, nếu hỏa táng công chúa trước thì việc làm chay không có người chủ trương, chi bằng trước ra bờ biển chiêu hồn ở chốn ven trời, đón linh hồn (Chế Mân) cùng về rồi hãy lên giàn hỏa thiêu. Người Chiêm nghe theo. (Ra biển), Khắc Chung dùng thuyền nhẹ, cướp lấy công chúa đem về…”.

 

Ngày nay, việc này được xem là vô lý vì với một số người thì theo phong tục của Chiêm Thành, việc hỏa táng hoàng hậu theo vua là ân sủng, chỉ dành cho hoàng hậu nào tự nguyện và có cả một hội đồng để xét duyệt nên trong suốt lịch sử của Chiêm Thành chỉ có vài hoàng hậu được hỏa táng theo vua mà thôi. Giả sử đích thân Huyền Trân tình nguyện xin được chết theo vua cũng không được duyệt vì thứ nhất bà không phải hoàng hậu chính thất, thứ hai bà là người ngoại tộc và cuối cùng, khi Chế Mân mất bà đang mang thai năm tháng, tục lệ người Chiêm không hỏa thiêu trẻ em, vị thành niên chứ đừng nói phụ nữ đang mang thai.

 

Ngoài ra còn các tình tiết khác, đó là Chế Mân mất tháng 6-1337 nhưng tới tháng 10 nhà Trần mới được Chiêm Thành báo tin và cử sứ bộ sang viếng, nếu Huyền Trân bị hỏa thiêu cùng với vua thì làm gì còn sống, đợi bốn tháng sau đến lúc thuyền Đại Việt vào cứu. Điều này dẫn đến nhiều giả thiết khác nhau.

 

Giả thiết đầu tiên cho rằng vì Huyền Trân đang có thai nên không hỏa thiêu ngay mà phải đợi khi sinh xong mới đưa lên giàn hỏa.

 

Giả thiết thứ hai cho biết hoàng hậu Tapasi sau đó đã được Chiêm Thành cho về nước nên không có chuyện hỏa thiêu ai cả, chẳng qua do nhà Trần không hiểu rõ phong tục của người Chiêm Thành nên vua Trần Anh Tông đã ra quyết định sai lầm.

 

Giả thiết thứ ba do ông Dominique Nguyễn, một người Việt gốc Chăm sống ở Pháp, đã viết khảo luận cho rằng Huyền Trân đã vâng lệnh vua dùng mỹ nhân kế để đầu độc Chế Mân nên nhà Trần phải tìm cách giải cứu trước khi sự việc bị phát hiện…

 

Giả thiết thứ tư là không có chuyện cướp công chúa mà chính Trần Khắc Chung bằng tài ngoại giao của mình đã thuyết phục Chiêm Thành cho đưa Huyền Trân về lại đất Việt.

 

Bất kể nguyên nhân chính là gì trong ba giả thuyết đầu tiên, hành động giải cứu Huyền Trân công chúa đều ảnh hưởng vô cùng xấu đến bang giao hai nước vì tạo ra sự thất tín giữa hai quốc gia...

 

Tình sử với Trần Khắc Chung

 

Đại Việt sử ký toàn thư cũng ghi rằng: “Khắc Chung dùng thuyền nhẹ, cướp lấy công chúa đem về, rồi tư thông với công chúa, đi đường biển loanh quanh chậm chạp, lâu ngày mới về đến kinh đô”.

 

Người đời sau dựa vào đoạn này mà vẽ ra một chuyện tình lãng mạn từ thơ văn đến sân khấu, rằng trai tài gái sắc gặp nhau, vì ngưỡng mộ người hùng liều thân vượt biển cứu mình khỏi giàn hỏa, nàng đã trao trái tim cho chàng. Chàng muốn kéo dài thời gian ở gần với người đẹp nên tìm cách cho thuyền đi loanh quanh, lấy cớ tránh thuyền chiến Chiêm Thành rồi tránh bão mà ghé vào nhiều vùng đảo hoang đẹp như tranh vẽ dọc theo duyên hải nước Việt để tận hưởng cảnh đẹp trần thế với mỹ nhân, cả năm sau cả hai mới chịu về đến kinh thành ra mắt triều thần…

 

Mọi chuyện đều có thể xảy ra, nhất là khi sử sách chỉ nhắc đến vẻn vẹn vài câu. Nhưng cần xem xét nhiều yếu tố khác:

 

Trần Khắc Chung là một đại thần của nhà Trần, ông nổi tiếng khi dám tình nguyện đi sứ gặp tướng giặc Ô Mã Nhi, đối đáp rành mạch khiến tướng Mông Cổ phải thán phục, sau đó Ô Mã Nhi cho người đuổi theo giết để trừ hậu họa nhưng không kịp. Thời điểm cứu Huyền Trân ông là một trụ cột của triều đình, lại đã 60 tuổi, ở thời đó là đã rất già yếu, sự chênh lệch tuổi tác khó tạo thành chuyện “lửa rơm”. Mặt khác, Trần Khắc Chung không đi một mình, trên thuyền còn có An phủ Đặng Vân là phó sứ và các thị nữ hầu hạ công chúa cùng các quân binh khác.

 

Dẫu biết rằng thời nhà Trần quan hệ nam nữ khá phóng túng nhưng bản thân Huyền Trân công chúa cũng được giáo dục lễ nghi ở mức đáng kể. Thời điểm đó bà đang trong giai đoạn có tang chồng, lại mới sinh con, còn đang ở cữ là lúc tránh các bệnh sản hậu, chuyện dan díu không chỉ trái đạo lý mà còn nguy hiểm cho sức khỏe.

 

Khi về đến đất Việt, Huyền Trân đã lên Yên Tử gặp phụ thân, sau đó bà quyết định quy y cửa Phật, xuất gia tại núi Trâu Sơn với pháp danh Hương Tràng. Sau này bà đến làng Hổ Sơn, huyện Thiên Bản (nay ở Nam Định) lập am, sau thành chùa Nộm Sơn. Huyền Trân công chúa (tức ni sư Hương Tràng) mất năm 1340, thọ 53 tuổi.

_____________

PHẠM TRƯỜNG GIANG

Nguồn: Báo Pháp Luật

SỰ THỰC VỤ OAN TÌNH CỦA DANH TƯỚNG TRẦN KHẮC CHUNG

Thực hư câu chuyện mối tình Trần Khắc Chung và công chúa Huyền Trân dưới thời vua Anh Tông diễn ra như thế nào, nhà sử học Lưu Anh Rô dẫn lại: Vào mùa hạ năm Đinh Mùi 1307, sau gần một năm công chúa Huyền Trân gả làm dâu Chiêm quốc được tấn phong Hoàng hậu với mỹ hiệu Paramesvari thì vua Chế Mân không may gặp bạo bệnh qua đời.

Công chúa Huyền Trân trở thành góa bụa khi mới bước vào tuổi 20. Theo tập tục của người Chăm lúc bấy giờ thì "Vua chết, hậu phải chết theo", nhưng do công chúa Huyền Trân đang mang thai thái tử Chế Đa Đa nên việc hỏa thiêu được phép lùi lại.

 

Đến tháng 10 năm đó chuyện công chúa chuẩn bị lên giàn hỏa thiêu truyền về Thăng Long khiến vua Trần Anh Tông xót xa, lo lắng không nguôi. Vua cho vời các triều thần đến bàn bạc kế sách nhưng không ai đưa ra được chủ kiến hay để giải cứu công chúa.

 

"Lúc này, võ tướng Trần Khắc Chung đứng ra giữa triều xin lĩnh trọng trách sẽ lên đường vào Nam đưa công chúa hồi quốc. Ông chỉ xin mang theo 5.000 quân sĩ, lương thảo cùng một số chiến thuyền lớn để vượt biển".

 

Trong cuốn "Đại Việt sử ký toàn thư" của sử gia Ngô Sĩ Liên biên soạn phát hành vào thời Hậu Lê - năm 1697, tức là sau 390 năm xảy ra vụ giải cứu công chúa Huyền Trân thoát họa "lửa thiêu" của người Chiêm Thành, ông lên án gay gắt đối với võ tướng Trần Khắc Chung, nhất là chuyện tư thông với công chúa Huyền Trân.

 

Có thể, từ cơ sở này nên nhiều người đời sau đã thêu dệt nên câu chuyện tình đầy lâm ly, bi đát giữa công chúa Huyền Trân và võ tướng Trần Khắc Chung. Thậm chí, có người còn dựa vào câu ca dao: "Tiếc thay hạt gạo trắng ngần. Đã vo nước đục, lại vần lửa rơm", cho là dân gian muốn ám chỉ câu chuyện thất tiết của nàng công chúa Đại Việt "Mượn màu son phấn. Đền nợ Ô, Lý".

 

Chuyện xưa đến nay còn truyền rằng, sau khi được viên tùy tướng chặn hậu, Trần Khắc Chung dẫn công chúa dong thuyền, vượt biển. Gặp lại vị tình lang trong mộng, hai người quấn quít bên nhau, bất chấp kẻ hầu, người hạ đứng vây quanh.

 

Tướng Khắc Chung đã yêu cầu công chúa cùng vào đồn trú ở thành Hóa Châu, không trở về Thăng Long nữa, để mãi mãi sống kiếp "phu - thê". Nhưng công chúa Huyền Trân không đồng ý, một mực khuyên can Khắc Chung về triều, rồi xin anh (vua Trần Anh Tông) đứng ra làm mai mối cho cuộc tình duyên dở dang. Tuy nhiên, phần đông sử gia ngày nay khẳng định, câu chuyện tình là sự gán ghép ác ý của các sử gia thời Hậu Lê.

 

Vì rằng, trên bước đường giải cứu công chúa Huyền Trân, không chỉ có mỗi võ tướng Trần Khắc Chung mà còn có An phủ sứ Đặng Văn và đoàn tùy tùng. Vả lại, Khắc Chung vốn người họ Đỗ, song do đã lập nên công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên năm 1285 nên được nhà vua ban quốc tính đổi thành Trần Khắc Chung, phong chức Nhập Nội Hành khiển Thượng thư Tả Bộc xạ thì con người đảm lược tài ba ấy đâu thể làm chuyện bại hoại danh tiếng.

 

Luật nay: Có thể buộc tội các sử gia thời Hậu Lê?

 

Câu chuyện về mối tình của Huyền Trân công chúa và Trần Khắc Chung cho đến đời sau này vẫn còn nhiều điều chưa thể lý giải hết được. Đâu là sự thực trong câu chuyện được thêu dệt nhiều đến mức như thế này. Có đúng là Trần Khắc Chung quan hệ với công chúa Huyền Trân hay không?

 

Bằng những bằng chứng từ những ghi chép của các sử gia sau này thì có thể nói Trần Khắc Chung không phải là người làm băng hoại đạo đức vốn có của mình. Sự thực về việc quan hệ với Huyền Trân công chúa là không có thực...

 

Chiếu theo những quy định của pháp luật ta thời nay thì khi có đơn thư yêu cầu giải quyết vụ việc thì cơ quan chức năng phải làm rõ Trần Khắc Chung có quan hệ với công chúa Huyền Trân hay không? Nếu không thì phải xử lý người có hành vi vu khống, bôi xấu danh dự nhân phẩm. Về lý mà nói, chuyện tình trên là sự gán ghép ác ý của các sử gia thời Hậu Lê. Như vậy, những người này phải bị xử lý theo quy định của pháp luật.

 

Hành vi vu khống người khác được quy định rất rõ tại Điều 122 BLHS năm 1999: Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

 

Trong trường hợp trên, có thể thấy các sử gia thời Hậu Lê đã vu khống cho Trần Khắc Chung vào tội rất nghiêm trọng? Ảnh hưởng đến danh dự uy tín của ông trước bá quan văn võ triều đình. Chính vì vậy nếu vụ án được đưa ra xét xử thì hành vi đó bị phạt tù từ một năm đến bảy năm (Khoản 2 điểm e Điều 122 ).

 

Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

________________

Tường Linh

Nguồn: www.nguoiduatin.vn

NGÔI MIẾU CỔ RỬA OAN TÌNH CHO CÔNG CHÚA HUYỀN TRÂN

Nằm dưới chân núi Xuân Dương của làng chài Nam Ô (thuộc phường Hòa Hiệp Nam, quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng), ngôi miếu cổ hàng trăm năm tuổi, rêu phong cổ kính được người đời truyền tụng là miếu thờ vọng Công chúa Huyền Trân. Nơi đây, gắn liền với câu chuyện của một vị võ tướng tài ba dưới quyền Nhập Nội Hành khiển Thượng thư Tả Bộc xạ Trần Khắc Chung một mình ngăn mấy vạn quân Chiêm để giải cứu công chúa Huyền Trân khỏi cái chết tuẫn táng nơi đất người.

Người đời đã thêu dệt nên những câu chuyện về mối tình oan nghiệt giữa Công chúa và vị võ tướng họ Trần. Ngay trong cuốn “Đại Việt sử ký toàn thư” của sử gia Ngô Sĩ Liên cũng lên án gay gắt đối với võ tướng Trần Khắc Chung tư thông với Công chúa Huyền Trân.

 

Nhưng theo các già làng ở Nam Ô kể lại thì từ thời các vị tổ đầu tiên rời đất Bắc vào mảnh đất dưới chân núi Xuân Dương này khai ấp, lập làng đã nghe truyền tụng chuyện về tấm gương trung liệt của vị tướng quân nhà Trần nọ, đã anh dũng hy sinh trong trận đánh chặn quân Chiêm truy đuổi Công chúa Huyền Trân trên bước đường hồi cố quốc.

 

Vì vậy, các chư phái tộc làng Nam Ô đã đồng lòng suy tôn vị tướng quân nhà Trần, mà họ không biết danh tính, quê quán là “Tiền hiền triệu cơ” (Tiền hiền mở cõi) của làng, bằng tất cả tấm lòng tri ân, ghi nhớ công đức tiền nhân mở cõi đất phương Nam.

 

Nghi án mối oan tình trăm năm chưa có lời giải


Tìm về làng chài Nam Ô (phường Hòa Hiệp Nam, quận Liên Chiểu, TP.Đà Nẵng) vào một buổi chiều cuối tháng ba, trước mặt chúng tôi không chỉ hiện ra bóng dáng Hải Vân quan kỳ vĩ chắn ngang dải sơn hà mà còn là nơi in dấu một thiên tình sử lắm vẻ vang mà cũng nhiều đau đớn từ tận 700 năm về trước.

 

Đó là mối oan tình trăm năm chưa được vén bức màn bí mật giữa công chúa Huyền Trân và vị võ tướng Trần Khắc Chung.

 

Chuyện kể rằng, năm 1293, Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông trong trang phục của một lữ tăng đã đặt chân đến xứ sở Vijaya (kinh đô của vương quốc Chiêm Thành) để tận mắt chiêm ngưỡng những tháp vàng, tháp bạc nguy nga, tráng lệ.

 

Vua Chiêm lúc đó là Chế Mân biết được nên đích thân đến mời ngài vào cung điện của mình đón tiếp long trọng như một vị thượng khách. Chế Mân dẫn vua Trần Nhân Tông đi du ngoạn khắp các đền đài, lăng tẩm của vương quốc Chiêm Thành.

 

Say mê trước vẻ đẹp hoang sơ nhưng không kém phần kỳ vĩ của xứ đàng trong, Thái Thượng Hoàng nước Việt đã lưu lại nơi đây gần chín tháng. Đến ngày về, cảm động trước thịnh tình của Chế Mân, vua Trần Nhân Tông đã hứa gả cô công chúa xinh đẹp của mình là Huyền Trần cho vua xứ Vijaya.

 

Theo “Đại Việt sử ký toàn thư” của sử gia Ngô Sĩ Liên chép lại thì khi nghe tin này, vua Chế Mân như mở cờ trong bụng bởi từ lâu ông đã nghe tiếng cô công chúa xinh đẹp nước Việt.

 

Dù đã có hoàng hậu nhưng Chế Mân vẫn sai sứ mang theo lễ vật đến kinh thành Thăng Lăng xin cưới công chúa Huyền Trân về làm vợ. Việc gả công chúa cho Chế Mân đã khiến quần thần trong triều xôn xao bàn tán.

 

Nhiều người đứng ra phản đối kịch liệt. Nhưng việc gã công chúa vốn đã được định liệu và sắp đặt từ trước trong một nước cờ chính trị dài lâu của hệ thống chính trị nhà Trần. Bởi lúc này, đất nước đang cần ổn định phía Nam để tập trung lo đối phó với bè lũ Nguyên – Mông đang dòm ngó từ phương Bắc.

 

Lúc này, công chúa Huyền Trân chỉ mới tròn 13 tuổi nên việc cưới hỏi được vua Trần Anh Tông trù trừ, chưa quyết định. Phải đến 5 năm sau, khi hoàng hậu vương quốc Chiêm Thành băng hà, Chế Mân lại tiếp tục sai người đưa lễ vật và dâng hai châu Ô – Lý cho triều đình Đại Việt.

 

Gạt nước mắt chia tay cố quốc, công chúa Huyền Trân quyết định sang làm hoàng hậu của đất nước mà dân gian bấy giờ vẫn gọi là “xứ man di”. Theo tích cũ truyền lại, trước khi lựa chọn về Nam làm dâu vì nghĩa nước non, Huyền Trân đã trãi qua những giờ phút ly biệt đầy nước mắt với “người tình cũ”, võ tướng Trần Khắc Chung.

Ngôi miếu cổ ở làng chài Nam Ô là nơi thờ vị võ tướng “Tiền quân oai”

 

Sử cũ chép lại, Trần Khắc Chung vốn là một trọng thần của triều đình nhà Trần trong hai lần chống quân Nguyên – Mông xâm lược, được nhà vua tín cẩn thường vời vào điện bàn việc quốc gia, đại sự. Trong khoảng thời gian vào chầu vua, Chung nhiều lần diện kiến công chúa Huyền Trân ngay trong nội điện.

 

Cặp “Trai tài – gái sắc”, mới nhìn nhau qua ánh mắt nhưng đã nảy sinh tình ý chỉ hiềm một nỗi là chưa có dịp để tỏ bày. Một lần, Khắc Chung được vua sai bảo vệ công chúa Huyền Trân lên am Ngọa Vân trên núi Yên Tử để thăm vua cha Trần Nhân Tông.

 

Trên đường đi, hai người có dịp chuyện trò và trao cho nhau những câu tâm tình thắm thiết. Nhưng tình yêu đôi lứa vừa mới chớm nở thì sớm đã lụy tàn bởi phận nhi nữ phải phục theo chiếu mệnh giang sơn.

 

Khi Huyền Trân Công chúa theo đoàn phu giá hướng về kinh đô Vijaya, nơi vua Chế Mân đang ngày đêm ngóng chờ thì Trần Khắc Chung lâm vào cảnh tuyệt vọng, suốt ngày tìm hình bóng người yêu trong những cơn say túy lúy.

 

Lúc ông tỉnh lại thì đoàn rước công chúa đã vào đến địa phận Thanh Hóa, Khắc Chung một mình một ngựa đuổi theo đưa tiễn người yêu một lần cuối. Cuối cùng Khắc Chung và Huyền Trân cũng gặp nhau ở dãy Hoành Sơn (đèo Ngang, đoạn giáp ranh giữa Quảng Bình và Hà Tĩnh – PV).

 

Một cuộc chia tay đầy nước mắt, Huyền Trân đã thề hẹn kiếp sau sẽ báo đáp mối ân tình của vị võ tướng. Còn Khắc Chung được dân gian miêu tả như kẻ điên tình cứ quấn lấy công chúa, không chịu rời bước.

 

Đoàn xa giá phải dừng chân ở Hoành Sơn gần hai ngày mới khởi hành. Công chúa Huyền Trân phải hết lời khuyên can vị võ tướng sớm quay lại kinh đô lo việc chống giặc, bảo vệ cương thổ, đừng vì chuyện nữ nhi mà đánh mất công danh. Nếu còn duyên phận, ngày sau sẽ gặp lại.

 

Trước khi đôi lứa chia lìa đôi ngã, công chúa Huyền Trân khóc than như những lời ai oán trong “Nước non ngàn dặm” được cho là lời tâm tình của nàng công chúa nước Việt:

 

“Nước non ngàn dặm ra đi/ Mối tình chi! Mượn màu son phấn/ Đền nợ Ô, Ly/ Xót thay vì/ Đương độ xuân thì/ Số lao đao hay là nợ duyên gì?/ Má hồng da tuyết/ Cũng như liều hoa tàn trắng khuyết/ Vàng lộn theo chì/ Khúc ly ca, sao còn mường tượng nghe gì…”

 

Nhưng cũng có tích xưa truyền lại rằng, lúc hai người gặp mặt nhau trong triều, cảm mến tài năng của Khắc Chung nên công chúa Huyền Trân xin bái làm thầy. Vị võ tướng trẻ tuổi tài ba đã dốc hết tâm huyết để dạy dỗ cho cô học trò chỉ kém mình tám tuổi.

 

Tuy được mọi người khen tụng là “đôi chim câu của trời Nam”, nhưng giữa Khắc Chung và công chúa vẫn giữ đúng đạo làm thầy – trò.

 

Ngoài những buổi học ở thiền cung, tướng Chung thường dẫn công chúa đi cưỡi ngựa, ngao du sơn thủy, ngắm cảnh hùng vĩ của sông núi, nhưng tuyệt nhiên không hề nghĩ đến tư tình.

 

“Lúc này Khắc Chung đã yên bề gia thất và có hai con nhỏ. Vợ của Khắc Chung là con gái của một vị quan trong triều, được tiếng đẹp người, đẹp nết. Còn công chúa chỉ mới bước vào tuổi cập kê (16-18 tuổi) nên giữa hai người khó xảy ra tình cảm riêng.

 

Dù đã gần ngàn năm trôi qua, nhưng việc khẳng định liệu có hay không mối duyên tình giữa vị võ tướng này và Công chúa Huyền Trân vẫn là một bí ẩn. Người đời đã thêu dệt nên nhiều câu chuyện khác nhau” – Thạc sĩ sử học Lưu Anh Rô cho biết.

Tượng Huyền Trân Công Chúa bằng đồng tại đền thờ ở Huế


Trận giải cứu đẫm máu ở Nam Ô của võ tướng nhà Trần


Câu chuyện tình của ngàn năm trước đã thôi thúc chúng tôi cùng nhà sử học Lưu Anh Rô tìm về những dấu tích xưa cũ, với hy vọng có được lời giải “hợp lý nhất”. Ngồi trên con thuyền nhỏ vượt đầm Nam Ô, phía trên là mây trời, núi cao trùng điệp, phía dưới là nước non ngàn dặm nhìn ra biển.

 

Cụ Lê Hào (93 tuổi), người giữ hồn trăm năm của làng chài Nam Ô cho biết “Ngày tôi mới lên năm tuổi thì đã nghe ông cụ cố (hơn 80 tuổi) ngồi kể chuyện với con cháu rằng:

 

Ở làng mình có một ngôi mộ ngoài mé biển (nay ở gần đồn biên phòng Nam Ô – PV), là ngôi mộ của vị tướng nhà Trần dưới trướng Nhập Nội Hành khiển Thượng thư Tả Bộc xạ Trần Khắc Chung. Ông hy sinh trong một trận chiến không cân sức với gần 5 vạn quân Chiêm để bảo vệ sự an toàn của Công chúa Huyền Trân trên đường hồi cố quốc.

 

Người đời sau vẫn lưu truyền lại những câu chuyện về sự anh dũng chiến đấu “một mình múa giáo địch vạn quân” của vị võ tướng tài ba”.

 

Thực hư câu chuyện diễn ra như thế nào, nhà sử học Lưu Anh Rô dẫn lại: Vào mùa hạ năm Đinh Mùi – 1307, sau gần một năm làm dâu Chiêm quốc được tấn phong Hoàng hậu với mỹ hiệu Paramesvari thì vua Chế Mân không may gặp bạo bệnh qua đời.

 

Công chúa Huyền Trân trở thành góa bụa khi mới bước vào tuổi 20. Theo tập tục của người Chăm lúc bấy giờ thì “Vua chết, hậu phải chết theo”, nhưng do Công chúa Huyền Trân đang mang thai Thái tử Chế Đa Đa nên việc hỏa thiêu được phép lùi lại.

 

Đến tháng 10 năm đó chuyện công chúa chuẩn bị lên giàn hỏa thiêu truyền về Thăng Long khiến vua Trần Anh Tông xót xa, lo lắng không nguôi. Vua cho vời các triều thần đến bàn bạc kế sách nhưng không ai đưa ra được chủ kiến hay để giải cứu công chúa.

 

“Lúc này, võ tướng Trần Khắc Chung đứng ra giữa triều xin lĩnh trọng trách sẽ lên đường vào Nam đưa công chúa hồi quốc. Ông chỉ xin mang theo 5.000 quân sĩ, lương thảo cùng một số chiến thuyền lớn để vượt biển.

 

Nghe có lý, vua Trần Anh Tông thuận lòng và ra chiếu chỉ sai quan Nhập Nội Hành khiển Thượng thư Tả Bộc xạ Trần Khắc Chung và An phủ sứ Đặng Văn cùng đoàn tùy tùng đi thuyền sang Chiêm quốc viếng tang, nhằm thực hiện kế hoạch giải cứu Công chúa Huyền Trân về Đại Việt” ông Rô kể.

 

Trước khi tiến vào địa phận của Chiêm Thành, Khắc Chung viết một bức mật thư sai người đưa cho công chúa để thông báo kế hoạch. Theo thư này, công chúa Huyền Trần sẽ yêu cầu được dựng đàn cầu siêu cho chồng ở một nơi hiểm yếu, gần biển, không ai được quấy rầy.

 

Lợi dụng lúc quân lính canh gác lơ là, xe ngựa của Huyền Trân nhìn về phương Bắc “trực chỉ”. Sau khi làm lễ tế ở bãi biển Thị Nại (Quy Nhơn), võ tướng Trần Khắc Chung cùng An phủ sứ Đặng Văn và đoàn tùy tùng theo mưu kế định sẵn, đã đưa Công chúa Huyền Trân xuống thuyền nhanh chóng dong buồm ra Bắc.

 

Quân Chiêm thấy hoàng hậu bỏ trốn liền rượt đuổi, nhưng bị quân Việt phục binh tiêu diệt toàn bộ số thiết kỵ của Chiêm Thành.

 

Tháo chạy khỏi Quy Nhơn (thủ phủ của Chiêm Thành), Đoàn chiến thuyền của võ tướng Trần Khắc Chung từ Bình Định ra Thăng Hoa, vào cửa Đại Chiêm (Cửa Đại) rồi theo đường sông Cổ Cò ra Cẩm Lệ (Đà Nẵng).

 

Từ đó, họ đi bằng đường bộ đến Xuân Sơn Hoa Ô (Nam Ô)… Tại làng Nam Ô, đoàn người nán lại để tìm cách vượt Ải Vân ra thành Hóa Châu (thuộc quyền quản lý của Đại Việt).

 

Khi biết Công chúa Huyền Trân cùng đoàn quân của võ tướng Trần Khắc Chung đang trên đường từ Chiêm quốc về lại Đại Việt, dân làng Nam Ô lúc bấy giờ đã tiếp đón và che chở một thời gian…

 

Nhưng, chẳng bao lâu sau, quân Chiêm nghe ngóng được sự tình, kéo đến bao vây bốn mặt. Dân làng đã cùng đoàn quân của võ tướng Trần Khắc Chung chống trả quyết liệt. Gia phả họ Đặng của làng chài Nam Ô còn chép lại:

 

“Tướng Trần Khắc Chung chỉ huy quân sĩ lập các chiến lũy ngăn cản quân Chiêm xông vào làng. Đích thân ông cầm giáo, dẫn quân chặn ở cửa ngõ chính dẫn vào đình làng, nơi công chúa Huyền Trân đang thiền tọa.

 

Giao tranh ác liệt diễn ra hơn bốn ngày, bốn đêm, quân sĩ hy sinh vô số. Bước sang ngày thứ 5 thì Đại Việt chỉ còn gần 300 lính quyết tử chiến ở bốn cửa ngõ, người làng buộc phải cầm vũ khí chống quân Chiêm”.

 

Lúc này, Trần Khắc Chung có hai vị tướng tài là: “Tiền quân oai” và “Hậu quân oai”. Nhưng vị hậu quân oai hi sinh ở sông Cẩm Lệ, chỉ còn lại vị tướng tiền quân xin nguyện ở lại chống giặc.

 

Vị tướng này đã chỉ huy toán quân gần 200 lính, liều chết đánh chặn hậu để ông dùng thuyền nhẹ đưa Công chúa Huyền Trân ra khơi và cả đoàn dong buồm thẳng hướng Hòn Hành, thoát ra thành Hóa Châu.

 

Phát hiện có đoàn người chạy trốn ra khỏi làng, quân Chiêm càng đẩy thế tấn công, dồn hết bốn điểm chống cự lại co cụm giữa sân đình. Nhưng viên tùy tướng vẫn anh dùng chiến đấu, cầm đao lao vào ngăn giặc, không cho quân binh truy đuổi theo đoàn hộ giá Công chúa.

 

Khi những chiếc thuyền của võ tướng Trần Khắc Chung mờ khuất trong màn sương khói khơi xa thì thế trận phòng ngự của quân Việt cũng tan vỡ. Viên tướng giữ nhiệm vụ đánh chặn hậu cùng hơn 200 binh lính cũng anh dũng hy sinh.

 

Sử cũ chép lại: “Ông là người Việt đầu tiên ở lại đất Chiêm Thành và chết trên đất Chiêm Thành. Sau vào thời Chế Bồng Nga, người Chiêm lấy lại đất này, phá bia mộ ông nên ông thành người vô danh”.

 

Ghi nhớ công đức mở đất phương Nam của Công chúa Huyền Trân, dân làng Nam Ô lập miếu thờ bà. Còn vị tướng dưới trướng Trần Khắc Chung lâm trận hy sinh cũng được chôn cất tử tế và phong làm tiên hiền của làng…

 

Trước di tích mộ tiền hiền làng Nam Ô, ông Lê Hào ngậm ngùi đọc mấy câu trong bài văn tế được truyền lại từ hàng trăm năm trước:

 

“Cổ vân lôi ư, tam cấp vũ môn, ninh kiến hà trừng thiên lý/ Chiêm phong lãng ư, kỷ trùng hoàng hải, vĩnh khang thốn tức thôn kình” (Tạm dịch: Sấm mây xưa hử, qua mấy màn mưa, lặng nhìn thấy đâu ngoài thiên lý/ Sóng gió Chàm hừ, bồn chồn nhớ nước, kiên gan chờ nuốt cả kình ngư).

 

Bài văn tế được xướng lên trong ngày giỗ tiền hiền của làng Nam Ô vào mỗi độ 24/6 âm lịch hằng năm.

 

Thực hư câu chuyện oan tình ở ngôi miếu cổ


Trên đường đưa tôi đến di tích ngôi mộ của vị tướng quân tử trận đã hơn 700 năm trước, cụ Hào cho hay, di tích mộ tiền hiền làng chài Nam Ô nằm trên một doi cát, bên chân sóng. Đứng ở nơi này phóng tầm mắt nhìn về núi Xuân Dương trông dải núi nhô ra phía biển tựa như một lưỡi kiếm.

 

Xa hơn nữa là Hòn Hành cũng tách biệt với dãy núi Hải Vân chơ vơ, cô độc giữa mênh mông sóng vỗ, ẩn hiện trong làn sương khói lênh đênh. Gió biển thổi lồng lộng, song chất giọng “ăn sóng, nói gió” của người đã ngoài lục tuần, cụ Hào cứ sang sảng khi đọc hai câu đối khắc trước trụ đá nhà bia:

 

“Hóa công lưu nghiệp thiên thu tại/ Ba huệ khai cơ vạn cổ tồn”. Rồi cụ Hào giải thích rằng, hai câu thơ trên đã lưu truyền từ hàng trăm năm qua để ghi nhớ người có công mở mang, bờ cõi.

 

Trong câu chuyện do cụ Hào và ông Rô kể, những chi tiết hư hư, thực thực đan xen lẫn nhau khiến câu chuyện càng trở nên kỳ bí, lạ lùng.

 

Theo ông Rô, trong cuốn “Đại Việt sử ký toàn thư” của sử gia Ngô Sĩ Liên biên soạn phát hành vào thời Hậu Lê – năm 1697, tức là sau 390 năm xảy ra vụ giải cứu Công chúa Huyền Trân thoát họa “lửa thiêu” của người Chiêm Thành, ông lên án gay gắt đối với võ tướng Trần Khắc Chung, nhất là chuyện tư thông với Công chúa Huyền Trân.

 

Có thể, từ cơ sở này nên nhiều người đời sau đã thêu dệt nên câu chuyện tình đầy lâm ly, bi đát giữa Công chúa Huyền Trân và võ tướng Trần Khắc Chung. Thậm chí, có người còn dựa vào câu ca dao:

 

“Tiếc thay hạt gạo trắng ngần. Đã vo nước đục, lại vần lửa rơm”, cho là dân gian muốn ám chỉ câu chuyện thất tiết của nàng công chúa Đại Việt “Mượn màu son phấn. Đền nợ Ô, Lý”.

 

Chuyện xưa đến nay còn truyền rằng, sau khi được viên tùy tướng chặn hậu, Trần Khắc Chung dẫn công chúa dong thuyền, vượt biển. Gặp lại vị tình lang trong mộng, hai người quấn quít bên nhau, bất chấp kẻ hầu, người hạ đứng vây quanh.

 

Tướng Khắc Chung đã yêu cầu công chúa cùng vào đồn trú ở thành Hóa Châu, không trở về Thăng Long nữa, để mãi mãi sống kiếp “phu – thê”. Nhưng công chúa Huyền Trân không đồng ý, một mực khuyên can Khắc Chung về triều, rồi xin anh (vua Trần Anh Tông) đứng ra làm mai mối cho cuộc tình duyên dở dang.

 

Tuy nhiên, phần đông sử gia ngày nay khẳng định, câu chuyện tình là sự gán ghép ác ý của các sử gia thời Hậu Lê. Vì rằng, trên bước đường giải cứu Công chúa Huyền Trân, không chỉ có mỗi võ tướng Trần Khắc Chung mà còn có An phủ sứ Đặng Văn và đoàn tùy tùng.

 

Vả lại, Khắc Chung vốn người họ Đỗ, song do đã lập nên công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên năm 1285 nên được nhà vua ban quốc tính đổi thành Trần Khắc Chung, phong chức Nhập Nội Hành khiển Thượng thư Tả Bộc xạ thì con người đảm lược tài ba ấy đâu thể làm chuyện bại hoại danh tiếng.

 

Thêm vào đó là sự chênh lệch tuổi tác giữa Trần Khắc Chung và Công chúa Huyền Trân… Ông Rô cũng bác bỏ giả thuyết võ tướng Trần Khắc Chung dùng thuyền nhẹ cướp Huyền Trân Công chúa từ bãi biển Thị Nại đưa ra biển lớn và đi loanh quanh trên biển một năm sau mới về tới Thăng Long.

 

“Điều ấy hoàn toàn vô lý, bởi vì tiết trời tháng 9, tháng 10 ở miền Trung mưa, bão liên miên. Một chiếc thuyền nhỏ làm sao có thể bám biển, chống chọi với phong ba bão tố.

 

Huống gì, thuyền nhỏ để cho võ tướng Trần Khắc Chung và Công chúa Huyền Trân tư tình thì thử hỏi An phủ sứ Đặng Văn cùng những người khác trong đoàn tùy tùng đi ngã nào?”.

 

Từ đó, ông Rô dẫn lại chuyện kể về trận đánh chặn hậu của vị tùy tướng ở làng Nam Ô, cùng miếu thờ vọng Huyền Trân Công chúa, cho thấy dù đây là chuyện ngoài chính sử, song cũng thêm một cứ liệu xác đáng để các nhà khoa học quan tâm mà có thể rửa sạch mối oan tình bấy lâu nay người đời đồn đại giữa võ tướng Trần Khắc Chung và Công chúa Huyền Trân.

 

Rời di tích mộ tiền hiền làng Nam Ô, tôi đến miếu thờ dưới núi Xuân Dương. Trước cảnh ngôi miếu cổ hàng trăm năm tuổi đổ nát theo thời gian mà không khỏi chạnh lòng. Các bô lão cho biết, khắc ghi lời dạy của cha, ông, hằng năm, cứ “xuân thu nhị kỳ” dân làng đều cúng tế tại miếu này.

 

Song, việc trùng tu, bảo tồn di tích thì chưa có sự quan tâm của cơ quan chức năng. Họ cũng tiết lộ về những bài vị trong miếu là do mới được làm lại sau này chứ không phải có cùng thời khi ngôi miếu được xây dựng.

 

Vì thế, có thể tên những vị thần ghi trên bài vị khác với ý nghĩa được truyền tụng trong dân gian… “Vùng đất rộng lớn thuộc hai châu Ô – Lý, kéo dài từ bờ Nam sông Hiếu (Đông Hà, Quảng Trị) vào đến bờ Bắc sông Thu Bồn (Quảng Nam), trở thành đất của Đại Việt, kể từ khi Chế Mân dâng cho vua Trần làm sính lễ để xin cưới Huyền Trân Công chúa (1306).

 

Cho nên, khắp dải đất này nhân dân lập nên nhiều ngôi miếu thờ tưởng nhớ công lao của nàng công chúa “lá ngọc cành vàng” phải ra đi làm dâu Chiêm quốc vì nghĩa nước non…

 

Nên cần phải làm sáng tỏ mối oan tình giữa võ tướng Trần Khắc Chung và Công chúa Huyền Trân để rửa sạch những vết nhơ trong lịch sử” – ông Rô nói.

 

Theo một tài liệu mang tên “Đà Sơn phổ chí” do Tiến sĩ sử học Lưu Trang phát hiện nhiều điều rất thú vị.

 

Đó là sau đám cưới của Công chúa Huyền Trân với Chế Mân khoảng 40 năm, Vua Trần Minh Tông còn gả một nàng công chúa khác cho vị tướng quốc người Việt gốc Chăm là ông Phan Công Thiên, người được hậu thế phong thành tiền hiền làng Đà Sơn (nay thuộc phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng).

 

Nàng công chúa này đã xin vua cha cho chở nhiều thóc, trâu vào và dạy cho dân từ đèo Hải Vân đến bờ Bắc sông Thu Bồn cày cấy. Nàng còn chỉ dạy người dân làm hàng chục kho lớn để chứa thóc giống…

 

Trở lại câu chuyện giải mối oan tình cho công chúa Huyền Trân, ông Rô và cụ Hào đều khẳng định, trận đánh chặn quân Chiêm ở làng Nam Ô là có thật và được gia phả của ba dòng họ lớn ở làng chép lại là: họ Đặng, họ Lê và họ Trần.

 

Nên câu chuyện thêu dệt, võ tướng Trần Khắc Chung dùng thuyền cướp công chúa Huyền Trân lênh đênh một năm trên biển và tư thông với nhau là không có cơ sở.

________________

Dương Thanh

Nguồn: nghiencuulichsu.com

VUA DỰC TÔNG NHÀ NGUYỄN THÁN PHỤC CÔNG ĐỨC GIỮ NƯỚC CỦA VUA NHÂN TÔNG NHÀ TRẦN

Vua Dực Tông nhà Nguyễn (tức vua Tự Đức) hết sức chú trọng đến Lịch sử Việt Nam. Nhà vua đã giao cho Quốc sử quán biên soạn bộ Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục và đích thân nhà vua đã soạn bộ Ngự Chế Việt Sử Tổng Vịnh hòng quảng bá cho trăm họ suy nghiệm về những nhân vật và giai thoại để rút tỉa những bài học về đạo đức đối với quốc gia dân tộc. Mỗi đề tài ngâm vịnh đều có sử liệu giải thích. Ngự Chế Việt Sử Tổng Vịnh có 10 quyển, gồm 212 bài thơ thất tuyệt bao trùm lịch sử từ đời Lạc Long Quân đến nhà Hậu Lê, chia làm 11 mục: Đế vương các triều đại, Hoàng hậu và phi tần, tôn thần, hiền thần, trung nghĩa, văn thần, võ tướng, liệt nữ, tiếm nguỵ, gian thần, bổ vịnh.

Bài thơ vua Dực Tông vịnh công đức của vua Trần Nhân Tông in trong quyển 2, từ tr.3a đến tr.4b Ngự Chế Việt Sử Tổng Vịnh .

 

Nguyên văn sử liệu và thơ vua Nguyễn Dực Tông vịnh vua Trần Nhân Tông như sau:

 

“Theo Sử ký bản chỉ chép, thì vua Trần Nhân Tông tên huý là Khâm, là con trưởng của vua Trần Thánh Tông.

 

Năm thứ tư niên hiệu Thiệu Bảo [1] (1282), người nhà Nguyên sai bọn Toa Đô đánh nước Chiêm Thành. Nhà Nguyên lại khiến Thái tử Thoát Hoan đem 50 vạn binh đánh tiếng mượn đường nước ta để chinh phạt Chiêm thành, nhưng sự thực là họ tới để xâm lấn nước ta.

 

Nhà vua ngự giá đến Bình Than, nhóm họp với các vị Vương Hầu và bách quan trong triều đình để bàn bạc sách lược công và thủ.

 

Ngài chọn Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn làm chức Tiết chế thống lãnh các đạo quân của nước ta.

 

Tháng 12 năm Thiệu Bảo thứ sáu (1284), quân nhà Nguyên xâm phạm biên cảnh nước ta, quan quân ta đánh nhau với quân nhà Nguyên nhưng quân ta không thắng được địch, nhà vua phải dời đến vùng Đông Hải.

 

Năm đầu niên hiệu Trùng Hưng (1285, niên hiệu thứ hai của vua Trần Nhân Tông) quân nhà Nguyên đến phạm kinh thành của ta, nhà vua rước đức Thượng hoàng (tức Trần Thánh Tông) đi vào tỉnh Thanh Hoá.

 

Mùa hạ tháng 4 năm ấy (Trùng Hưng nguyên niên) Chiêu Văn Vương là Trần Nhật Duật đánh bại quân Nguyên ở cửa sông Hàm Tử.

 

Tháng 5 năm ấy (1285), sau khi nhà vua rước đấng Thượng hoàng vào Thanh Hoá rồi, Ngài tự làm tướng đem binh đánh quân Nguyên, đánh cho Toa Đô đại bại ở đất Tây Kết và chém đầu Toa Đô ở đấy.

 

Trần Quốc Tuấn lại đánh quân Nguyên thua lớn ở Vạn Kiếp, Thoát Hoan phải chạy trốn về Tàu.

 

Vua lại rước đức Thượng hoàng trở về nơi cung điện.

 

Lúc bấy giờ, xã tắc đã gần lâm nguy mà trở lại yên ổn, thiên hạ đã phân ly mà trở lại hoà hợp, công đức nhà Trần thật là to lớn vô cùng, kể từ đời họ Hồng Bàng trở xuống, chưa bao giờ nước ta được thịnh trị như đời Trần Nhân Tông vậy. (do NĐX nhấn mạnh)

 

Vua Trần Nhân Tông ở ngôi Hoàng đế được 14 năm.

 

Thơ vịnh Trần Nhân Tông:

Phân âm:

 

Lưỡng khước Nguyên binh điện cựu bang.

Trùng hưng công đức quán Hồng bàng

Đương niên nhị Đế hồi cung khuyết,

Tu sát Huy Khâm phụng biểu hàng

 

Tạm dịch:

 

Hai bận xua Nguyên giữ nước nhà,

Trùng hưng công nhất nước Nam ta.

Trong năm hai Đế về cung khuyết

Hàng địch Huy (a), Khâm (b) thẹn lắm mà.

 

Bình luận bài thơ trên:

 

“Trong bài thơ trên, tác giả đã áp dụng những vần rất hiểm, mà những vần ấy đều vững vàng và thoả đáng cả”.

 

Thần: Tùng Thiện công Miên Thẩm [2] phụng duyệt.

 

“Trong bài thơ trên, phần nghị luận vốn đã chính đại không thể nào thay đổi được, mà việc mượn kẻ nầy để hình dung kẻ khác hay là mượn việc nầy để nói lên việc khác, lại càng tinh vi kỹ lưỡng vô cùng”.

 

Thần: Nguyễn Tư Giảng [3] phụng duyệt.

 

Hồng Liên Lê Xuân Giáo và Nguyễn Quang Tô, phiên âm và dịch toàn bộ đoạn sao lục trên. Hai dịch giả đã chú thích và bình luận hai danh từ riêng Huy (a) và Khâm (b) như sau:

 

(a) Huy: vua Tống Huy Tông, hiệu Kiến trung, tức vị năm Tân tị (1101), bị người Kim truất phế và bắt về phương Bắc. Huy Tông xin hàng người Kim mà cũng không được tha.

 

(b) Khâm: vua Tống Khâm Tông, hiệu Tịnh Khang, tức vị năm Bính Ngọ (1126) cũng bị người Kim truất phế và bắt về phương Bắc. Khâm Tông xin hàng người Kim mà cũng không được tha.

 

Trái lại vua Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông đánh đuổi quân Nguyên rồi trở về cung khuyết một lần. Đem Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông mà so sánh với Huy Tông, Khâm Tông thì Huy, Khâm có thể chết thẹn được [4].

 

Các sử thần triều Nguyễn biên soạn bộ Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục với quan điểm lịch sử của vua Dực Tông nêu trên. Đọc các sự kiện vua quan triều Trần chiến thắng quân Nguyên trong Cương Mục, vua Dực Tồng châu phê một lời bình rằng:

 

“Lúc bấy giờ nhà Nguyên mới nổi lên, khi thế rất ngang ngược; nhà Trần cũng may gặp lúc mới nổi lên được các vua Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông và tướng văn tướng võ phần nhiều người tài, mới có thể đánh bại được giặc, giữ được nước, chứ nếu gặp người khác thì chưa biết thế nào”.

 

Dịch lời phê nầy từ chữ Hán, các dịch giả của Viện Sử học Việt Nam đã chú thích thêm rằng:

 

“Lời phê kết thúc bằng tám chữ “nhược ngộ kỳ tha, vị khả chí dã” Tám chữ nầy nghĩa không được rõ cho lắm, vì chữ “tha” có thể là người khác hoặc lúc khác. Vậy tám chữ nầy ý nói nếu gặp vua tôi khác không anh dũng được như vua tôi nhà Trần hoặc lúc khác không được hưng thịnh như lúc nhà Trần mới nổi lên, thì chưa biết tình thế sẽ biến chuyển ra sao”[5].

***

Vua Dực Tông là một người sùng Đạo Nho, giỏi thơ văn kinh sử, tự hào về sự huy hoàng thịnh trị của triều Nguyễn thế mà ông đã phải hạ bút viết:

 

“Công đức nhà Trần thật là to lớn vô cùng, kể từ đời họ Hồng Bàng trở xuống, chưa bao giờ nước ta được thịnh trị như đời Trần Nhân Tông vậy.”

 

Có lẽ không còn lời thán phục công đức của Trần Nhân Tông nào sáng giá hơn thế nữa. Công đức giữ nước của Trần Nhân Tông đánh dấu một cái mốc lịch sử quan trọng. Nếu không có hoàn cảnh, tài năng, công đức của vua quan triều Trần Nhân Tông thì sự thể nước ta sau đó không thể đoán định được sẽ suy sụp đến như thế nào. Sự xuất hiện của triều đại Trần Nhân Tông là một hồng phúc của dân tộc Việt. 

 

Vua Dực Tông nhà Nguyễn không những đặt công đức của vua Nhân Tông nhà Trần đứng đầu trong lịch sử Việt Nam từ xưa cho đến đời Trần mà còn so sánh với các ông vua nổi tiếng của Thượng quốc là Huy Tông và Khâm Tông nhà Tống nữa. Hai ông Huy Tông, Khâm Tông có cùng hoàn cảnh đất nước bị người ngoài chinh phục như Trần Nhân Tông. Nhưng Huy Tông và Khâm Tông đã đầu hàng giặc và đã bị giết một cách nhục nhã. Vua Trần Nhân Tông quyết đánh và đã thắng lợi vẻ vang. Như thế sự nghiệp giữ nước của vua Trần Nhân Tông hơn xa nhiều Hoàng đế của Trung Quốc.

 

Vẻ vang thay sự nghiệp giữ nước của vua Trần Nhân Tông.

____________________

Nguyễn Đắc Xuân

Nguồn: trungtamhuyentran.thuathienhue.gov.vn

CHIM PHỤNG – HỌA TIẾT TRANG TRÍ CHỦ ĐẠO TẠI ĐỀN THỜ HUYỀN TRÂN CÔNG CHÚA

Huế là một trong những vùng đất được đánh giá cao về việc sử dụng hình tượng trang trí trong kiến trúc truyền thống. Trong các công trình kiến trúc truyền thống Huế, đặc biệt là các cung đình hay đền chùa, miếu mạo thì mảng điêu khắc hay chạm trổ, đắp nổi được đánh giá là một trong những yếu tố quan trọng bậc nhất tạo nên vẻ đẹp cho công trình. Đền thờ Công chúa Huyền Trân tại núi Ngũ Phong, phường An Tây, thành phố Huế là một trong những cụm quần thể kiến trúc hội tụ những yếu tố đó.

Trung tâm Văn hóa Huyền Trân là một cụm quần thể kiến trúc tuy mới được xây dựng sau này (năm 2008) nhưng mang phong cách kiến trúc truyền thống Huế. Vì vậy, các biểu tượng trang trí trong đền thờ đều rất được chú trọng. Nếu hình tượng rồng xuất hiện nhiều tại các đền thờ, lăng tẩm của vua chúa thì hình tượng chim phụng là hoạ tiết trang trí chủ đạo tại Đền thờ công chúa Huyền Trân và điện nữ thần.

 

Huyền Trân công chúa - ái nữ của vua Trần Nhân Tông, là vị thần anh thư nước Việt đã có công mở cỏi đi về phương Nam. Bà là một trong những công chúa nổi danh nhất lịch sử Việt Nam. Được các triều đại sau sắc phong là thần hộ quốc, đặc biệt dưới triều vua Khải Định bà được phong là “Trai tĩnh trung đẳng thần”. Đền thờ Huyền Trân công chúa là sự tiếp nối ý nguyện của nhân dân Thừa Thiên Huế trong việc mở mang bờ cỏi. Tuy vậy, để diễn tả và truyền đạt hết ý nghĩa của công trình, bên cạnh yếu tố lịch sử thì việc lựa chọn các hoa văn, hoạ tiết để trang trí trong đền thờ góp một phần không nhỏ tạo nên các giá trị về yếu tố tâm linh. Phượng hoàng, loài chim tượng trưng cho hoàng hậu, công chúa, biểu tượng cho sự thiêng liêng, cao sang, quyền quý… là hoạ tiết chủ đạo được chọn để trang trí tại đền thờ công chúa Huyền Trân.

Chim phụng hay còn gọi là Phượng hoàng, là một loài chim chỉ có trong truyền thuyết.Theo quan niệm của người phương Đông nói chung, phượng được coi là chúa tể của các loài chim. Hình tượng chim phụng có cấu trúc phức tạp dựa trên cấu trúc có sẵn của các loài vật có trong tự nhiên. Mỗi loài vật có cấu trúc riêng và ưu thế riêng. Bởi vậy để miêu tả chim phượng thành một biểu trưng có sức mạnh siêu nhiên, con người đã tưởng tượng và đắp thêm một số yếu tố để chim phượng phù hợp với chức năng mà thần thoại quy định. Nó kết tinh được vẻ đẹp, sự mềm mại, duyên dáng của các loài chim. Phượng được mô tả có bộ lông rực rỡ, đầu là đầu chim trĩ, mào là mào của gà trống khuôn theo hình mây có chùm lông dài xoắn, mỏ chim nhạn, cổ rùa, lông của nó mượt như lụa, óng ánh rực lửa…

 

Chính vì thân hình quyến rũ, kết tinh được vẻ đẹp, sự mềm mại, duyên dáng của các loài chim nên phượng là đặc trưng tiêu biểu của hoàng hậu, vương phi, công chúa, gắn liền với hình ảnh của nữ giới.

 

Đến tham quan Trung tâm Văn hóa Huyền Trân, đi từ bên ngoài vào đền thờ Huyền Trân công chúa, ta dễ dàng bắt gặp hình ảnh chim phượng được đắp tạc, chạm trổ trên gờ mái của đền thờ.

Hoạ tiết chim phụng được trang trí trên gờ mái của đền thờ công chúa Huyền Trân

Tiếp đên là hình ảnh những con chim phụng quấn quanh các cột trụ phía trước đền thờ kết hợp với hoạ tiết mây xung quanh tạo nên một không gian sinh động. Tuy được đắp nổi bằng vôi vữa nhưng hình ảnh chim phụng vẫn mềm mại, thanh thoát mà vẫn không kém phần uy nghiêm.

Các bức hoành phi trước đền thờ được sơn son thếp vàng, ghi dòng chữ “ Huyền Trân công chúa điện”, phía bên phải khắc hai chữ Công đức, phía bên trái khắc hai chữ Lưu quang. Trên các hoành phi này cũng sử dụng hoạ tiết chim phụng để trang trí.

Vào bên trong chánh điện, hoạ tiết chim phụng được sử dụng với mật độ dày đặc hơn, tập trung nhiều ở xung quanh án thờ bà Huyền Trân. Gian giữa chánh điện là môtip chim phụng chầu mặt trời. Hoạ tiết chim phượng ở đây được thể hiện theo kiểu thức phượng vũ, tả theo lối nhìn nghiêng, tóc hình lá sắc nhọn được vuốt dài ra phía sau. Hai cánh phượng lớn và xoè rộng, giang hai bên, chiếm phần lớn mảng đắp nổi. Thân phượng có vảy, uốn mềm mại như dãi lụa đào hồng.

Kiến trúc điện thờ Huyền Trân công chúa chia thành hai không gian chính, tiền đường thiết án thờ công chúa Huyền Trân, hậu điện đặt án thờ Đoàn Nhữ Hài- người có công trong việc xây dựng hai châu Ô, Lý khi hai châu này thuộc về Đại Việt.

 

Tượng bà Huyền Trân công chúa bằng đồng ngồi trên ngai. Xung quanh là các hoạ tiết chim phụng với nhiều kiểu thức thể hiện khác nhau.Có khi là hình tượng chim phượng chầu mặt trời, chim phượng ngậm dãi lụa hay các biến thể khác. Tất cả đều được sơn son thếp vàng rực rỡ tạo nên một không gian uy nghiêm, linh thiêng và lộng lẫy làm ta liên tưởng đến hình ảnh công chúa với nhan sắc “tuyệt thế giai nhân”: đầu đội khăn vành, mặc áo hoàng hậu, mặt trái xoan, lông mi lá liễu, mũi sọc dừa, da trắng mịn, hồng hào, tóc dài ngang lưng, sắc đẹp không son phấn. Dù được thể hiện dưới kiểu thức nào nhưng với bàn tay tài hoa của những người thợ kép nổi tiếng xứ Huế, hình ảnh chim phượng hoàng như phát huy được hiệu quả trang trí, làm cho không gian điện thờ trở nên lộng lẫy hơn, uy nghiêm hơn và không kém phần sang trọng.

Ngoài ra, hoạ tiết chim phụng còn được trang trí trên trán bia của bia ký công chúa Huyền Trân.


Bên cạnh ý nghĩa tượng trưng cho sự cao sang và quyền quý của một công chúa, một vị nữ thần anh thư nước Việt, hình tượng chim phượng còn là biểu tượng cho điềm lành, sự thái bình và thịnh vượng. Do vậy nó cũng là môtip mang tính biểu trưng với ý nguyện đền thờ là điểm dừng chân lý tưởng, mang lại điềm lành và sự thịnh vượng cho du khách cũng như cho thế hệ mai sau.

_________________

Ái Nhàn

Nguồn: trungtamhuyentran.thuathienhue.gov.vn

VUA TRẦN NHÂN TÔNG “HÓA” PHẬT Ở ĐÂU?

Một công trình nghiên cứu khảo cổ cho thấy Am Ngọa Vân (ở huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh - nằm ngoài vùng núi Yên Tử - NV) là nơi Phật Hoàng Trần Nhân Tông “hóa Phật”. Vậy, công trình hơn 700 năm bao phủ bởi rừng rậm và mây mù này ra sao?.

 

Tượng Phật Hoàng trên núi Yên Tử. Ảnh: T.L

 

Hành trình phát hiện Ngọa Vân Am

 

Nhà khảo cổ học Nguyễn Văn Anh (Viện Khảo cổ học Việt Nam) đã ra mắt cuốn sách “Am Ngọa Vân” - một tư liệu quý về quần thể di tích Ngọa Vân trong hệ thống di tích nhà Trần ở Đông Triều và hệ thống chùa tháp của Thiền phái Trúc Lâm trên dãy Yên Tử. Quan trọng nhất là công trình khảo cổ đã khẳng định Ngọa Vân Am – thánh địa của thiền phái Trúc Lâm – nơi Phật Hoàng nhập niết bàn hơn 700 năm trước không nằm ở trong khu di tích non thiêng Yên Tử, mà ở khu Ngọa Vân (Bình Khê, Đông Triều, Quảng Ninh).

 

Sau hàng trăm chuyến khảo sát lên Am Ngọa Vân, các nhà khảo cổ đã khai quật và phát hiện một hệ thống các công trình Phật giáo hoang phế, với những bia đá, hoa văn kiến trúc, gạch ngói, nền móng, vật dụng… minh chứng về sự tồn tại và phát triển thịnh vượng của Phật giáo hơn 700 năm trước. Khi ấy Ngọa Vân, Hồ Thiên, Quỳnh Lâm, Yên Tử là những trung tâm quan trọng của Phật giáo Trúc Lâm. Và nếu coi Thăng Long là kinh đô chính trị thì Yên Tử - Ngọa Vân là thánh địa Phật giáo.

 

Khi xuất gia tu hành, vua Trần Nhân Tông về Yên Tử, nhưng Ngài đắc đạo và hóa Phật tại Am Ngọa Vân. Sau đó Ngọa Vân được triều Trần cho xây dựng và mở rộng thành một quần thể chùa tháp lớn (đầu thế kỷ XIV), bao quanh đỉnh Ngọa Vân ở phía Nam của núi Bảo Đài (nay là núi Vây Rồng). Dấu ấn các công trình kiến trúc trùng tu ở Ngọa Vân thời Lê trung hưng, thời Nguyễn còn rất nhiều, khẳng định quần thể chùa tháp lớn và không gian Yên Tử xưa không chỉ bó hẹp trong khu danh thắng Yên Tử ngày nay.

 

Kết quả nghiên cứu khảo cổ Khu Di tích lịch sử và danh thắng Yên Tử (ở xã Thượng Yên Công, Uông Bí) và Khu Di tích Ngoja Vân - Hồ Thiên (thuộc xã Bình Khê và An Sinh, huyện Đông Triều) cho thấy: Vị trí được coi là Am Ngọa Vân ở di tích Yên Tử hiện nay - là nơi xây dựng rất nhiều chùa làm nơi tu học của các tăng ni. Còn Am Ngọa Vân nằm trên đỉnh núi Ngọa Vân mới là nơi Phật Hoàng Trần Nhân Tông tu hành đắc đạo và nhập niết bàn lại thuộc xã An Sinh (huyện Đông Triều, Quảng Ninh). Cả hai đều nằm trên dãy núi Đông Triều (Quảng Ninh).

 

Huyền ảo đường lên Am Ngọa Vân

 

Tết đến, xuân về núi Ngọa Vân trở thành chốn tâm linh bậc nhất để các Phật tử và du khách hành hương. Núi Ngọa Vân có hình thế vòng cung như ngai vua, nằm ở nơi xa khuất, tới được không dễ dàng. Để tìm lại Ngọa Vân ngày nay, các nhà khảo cổ từng mò mẫm trên những con đường mòn mất dấu chân người, từng lạc rừng sâu phải ngủ lại để sáng ra đi tiếp, từng ngủ nhờ trong ngôi nhà nhỏ giữa thung lũng đẹp như cổ tích, nghe những câu chuyện kỳ bí, những địa danh lạ lùng.

 

Đầu tiên là Tàn Lọng, tương truyền đoạn này bắt đầu vào rừng già, ngợp cây rừng và hẹp chỉ đủ cho từng người lách qua, phải thu lọng vì không thể che được nữa mà thành tên. Tiếp đó là Cửa Phủ - nơi thờ thần rừng, thần núi. Ai trước khi vào rừng già cũng phải thắp hương làm “thủ tục đăng sơn”, có tên lạ là Phủ Am Trà. Có thể xưa đây là vị trí Am Trà, khi xây thành phủ đã lấy luôn tên am đặt cho tên phủ, thành tên Phủ Am Trà. Phủ Am Trà là một nền miếu cổ, có một bát hương, không tượng, không bài vị… nằm trên một mô đất hẹp cao hơn mặt suối chừng 5m.

 

Qua Phủ Am Trà là tới dốc Đô Kiệu ở ngã ba hai dòng suối đổ về suối Phủ Am Trà, là con dốc cao và dài, hai bên là vực sâu và không có bậc đá như bây giờ. Xưa kiệu của vua Trần khi đi đến đây phải đỗ lại, không thể đi tiếp được nữa, nên thành tên dốc Đỗ Kiệu, dân gian đọc chệch cái tên khởi thủy thành Đô Kiệu.

 

Hết dốc đi thêm ít phút là tới Thông Đàn - vốn là một dải rừng thông vi vu, cỏ lác lút đầu. Ở đây xưa là một rừng tháp lớn, giờ chỉ còn hệ thống nền móng là những khối đá lớn vuông vức, đá lát, đá viền, cả dấu vết bị con người đào xới, đánh mìn, lật đá tìm châu báu.

 

Rừng cổ thông vài trăm tuổi giờ còn rất ít, nhưng không một ai dám chặt hạ. Dân vùng này truyền nhau câu chuyện kỳ bí về một nông dân ở Trại Lốc. Ông ta theo con rể hạ một cây tùng từ Thông Đàn về đóng đồ. Một thời gian sau ông ta tự dưng phát điên. Anh con rể thì chết bất đắc kỳ tử. Chuyện loang ra, lâm tặc quanh vùng từ đó kinh sợ nên không dám động đến những gốc cổ tùng. Nhờ vậy mà nơi đây tinh mơ chim chóc đã hót ran, sóc cổ đỏ nhảy nhót…

 

Sẽ tiếp tục nghiên cứu, giải mã

 

Người ta vẫn truyền nhau những chuyện về sư Tiến, trụ trì chùa đã rất nhiệt tâm giúp các nhà khảo cổ nghiên cứu, khôi phục lại vùng linh địa Ngọa Vân. Sư Tiến cùng hai đồng môn lên chùa Ngọa Vân, một sư già đã mất, còn sư trẻ thì không ở lại chùa. Hồi sư lên, nền chùa cũ chỉ còn mấy bức tường trơ trụi. Am Ngọa Vân và các tháp đá lút trong cây dại um tùm, rắn rết xua không xuể. Mùa khô suối cạn vài mươi ngày sư xuống núi một lần. Mùa mưa thì không xuống núi được. Rau cỏ, cây thuốc sư đều tự trồng. Ăn uống chỉ có măng rừng, chuối rừng muối, lá vả luộc…

 

Thời gian làm nhiều tầng văn hóa Phật giáo nơi đây phai nhạt, nhưng Ngọa Vân luôn được trân quý với quá khứ vàng son của Phật giáo hơn 700 năm trước. Theo ThS Nguyễn Văn Anh, Ủy viên Ban Thông tin truyền thông, Giáo hội Phật giáo Việt Nam, các nhà khảo cổ đã điều tra, nghiên cứu hệ thống các di tích nhà Trần ở Đông Triều, ở vùng đất An Sinh xưa, chú tâm đến hệ thống di tích chùa, am, tháp của Thiền phái Trúc Lâm, đặc biệt là chú trọng tìm hiểu và giải quyết về vị trí của Am Ngọa Vân. Kết quả cho thấy, Am Ngọa Vân dưới thời Trần thuộc phạm vi ấp thang mộc của An Sinh vương Trần Liễu.

 

Giá trị của Ngọa Vân là một chuỗi mô phỏng hành trình tu hành khổ hạnh, đắc đạo, thuyết pháp, độ tăng giáo hóa chúng sinh rồi an nhiên hóa Phật của vua Trần Nhân Tông (Yên Tử là nơi Phật Hoàng tu hành, thuyết pháp, độ tăng... Ngọa Vân là điểm kết thúc trọn vẹn quá trình tu hành, đắc đạo). Các nhà khảo cổ sẽ tiếp tục nghiên cứu và làm rõ hơn một số vấn đề nữa về Ngọa Vân.

 

Du khách hành hương về Ngọa Vân sẽ đi theo tuyến du lịch hành hương từ Tây sang Đông. Bắt đầu từ đền An Sinh qua khu lăng tẩm nhà Trần - khu Tàn Lọng - suối Phủ Am Trà - dốc Đô Kiệu - Thông Đàn - chùa và Am Ngọa Vân, trở về phía Đông đến Ngọa Vân 1 - Ngọa Vân 2 - Đá Chồng đến khu Ba Bậc là kết thúc.

 

Theo PGS.TS Bùi Minh Trí (Trung tâm Nghiên cứu kinh thành, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam), lãnh đạo Trung tâm Nghiên cứu kinh thành đã giao ThS Nguyễn Vân Anh và các đồng sự làm nhiệm vụ này. Nơi Phật Hoàng nhập niết bàn hơn 700 năm trước không nằm ở trong khu di tích Yên Tử, mà ở khu Ngọa Vân (Bình Khê, Đông Triều, Quảng Ninh). Quần thể am chùa tháp ở Ngọa Vân có những giá trị rất đặc biệt nên UBND tỉnh Quảng Ninh chú trọng bảo tồn tôn tạo đúng với vị trí, ý nghĩa của nó. Từ năm 2012, một số tháp đã được trùng tu lại. Quảng Ninh đang xây dựng khu vực Ngọa Vân trên nền cũ, sắp khánh thành.

________________

Uyển Hương

Nguồn: giadinh.net.vn

MUÔN SỰ NƯỚC TRÔI NƯỚC, TRĂM NĂM LÒNG NÓI LÒNG

Muôn sự nước trôi nước, trăm năm lòng nói lòng. (vạn sự thủy lưu thủy, bách niên tâm ngữ tâm) là hai câu thơ trong bài thơ năm chữ tám câu Đăng Bảo Đài Sơn của Trần Nhân Tông.
Chúng ta đi vào hai câu thơ này để thấu cảm “tâm sự” của ông: “Một mùa xuân mà tâm sự ở trong trăm đóa hoa”, (Nhất xuân tâm sự bách hoa trung _ bài Xuân Vãn).
 

 

1. Cái nhìn thời gian và lịch sử: vạn sự nước trôi nước.

Ai cũng biết Trần Nhân Tông ở trên đỉnh cao nhất của ngọn triều lịch sử đời Trần. Ông đã đánh thắng quân Nguyên Mông trong hai lần sau cùng, lần thứ hai và lần thứ ba, hai lần khó khăn nhất, vì quân Nguyên Mông đã rút kinh nghiệm thất bại lần đầu và cử Thoát Hoan, con của đại hãn thứ năm là Hốt Tất Liệt và những tướng của chiến trường Á Âu qua đánh Đại Việt. Đế chế Mông Cổ là đế chế hùng mạnh và rộng lớn nhất thời đó, kéo dài từ Á sang Âu và cả Trung Đông. Thế nên Trần Nhân Tông là nhân vật lịch sử của thế giới.
Lịch sử, đó là cảm xúc đời lớn nhất của ông. Khi trở lại Thăng Long trong lần chiến thắng sau cùng , thấy những con ngựa đá lấm bùn, ông thốt lên hai câu thơ đầy hứng khởi, cả đời lẫn đạo, về đất nước:
Xã tắc hai phen phiền ngựa đá
Non sông nghìn thuở vững âu vàng.
Khi làm bài thơ Đăng Bảo Đài Sơn, đất nước đã qua chiến tranh, ông đã nhường ngôi vua cho Trần Anh Tông, lên làm Thái thượng hoàng. Ông đã là một người lính già của những chiến trận oanh liệt ngày xưa:
Người lính già đầu bạc
Kể mãi chuyện Nguyên Phong.
Đứng ở đỉnh cao của ngọn triều lịch sử, ông đã nhìn những biến cố lịch sử như thế nào ?
Muôn sự nước trôi nước
Những biến cố của lịch sử, dù có vinh quang cỡ nào, rồi cũng trôi qua, bởi vì lịch sử là sựtrôi qua, như một dòng sông nhấp nhô những con sóng không hế quay trở lại. Những ngọn triều lịch sử, dù có đỉnh cao cỡ nào, dù có vinh quang cỡ nào, cũng phải “muôn sự nước trôi”.
Nhưng ông không phải là một người tầm thường của cuộc đời sanh tử. Ông là một “người lính già” đặc biệt, một “người lính già” bất tử, vì ông cũng đồng thời là một thiền sư, vì ông đã ngộ đạo với Thượng sĩ Huệ Trung trước đó. Ông là một người “vô sự” trong khi đang tạo nên lịch sử. Thế nên, nếu là một người tầm thường của sanh tử như chúng tachúng tasẽ than thở, tiếc nuối lịch sử: ‘ôi, thời oanh liệt nay còn đâu!’, ‘muôn sự nước trôi rồi!’
Cái nhìn về thời gian, về lịch sử của ông vượt khỏi đời thường, rất siêu xuất, rất đạo Phật, để ông không phải là một tù nhân của lịch sử, dù ông đã tạo ra nó, mà là một người vượt lên lịch sử:
Muôn sự nước trôi nước
“Muôn sự nước trôi”, muôn sự là nước trôi thì hẵn rồi.Làm người ai chẳng thấy thế, ai chẳng chịu như thế.Nhưng cái nhìn của ông rất khác, “muôn sự nước trôi nước”.Muôn sự là nước trôi, và trôi để trở lại thành nước.Lịch sử là những hiện tượng.Những hiện tượngấy trôi qua, tan chìm, biến mất để trở lại thành bản thể vô hình vô hướng của chúng. Lịch sử là những con sóng, khởi lên, dâng cao nhất rồi đi xuống, tan trở lại thành nước.
“Nước trôi nước”: ngay khi nước đang trôi thì vẫn là nước đấy thôi. Ngay khi là sóng nó vẫn là nước đấy thôi.Ngay khi là thời gian, nó vẫn là cái không phải thời gian, cái không cóthời gian.Kinh Lăng Già nói: “Nơi tất cả sự vật, sát na là phi sát na”. Ngay khi đang sanh nó vẫn vô sanh đấy thôi.Ngay khi là thời gian, nó vẫn là cái không phải thời gian, cái không cóthời gian, cái vĩnh cữu vô sanh đấy thôi.
Chúng ta có thể nói đây là cái nhìn “Chân Như duyên khởi”, hay “duyên khởi từ tánh Khôngnên tất cả pháp Không”…..Nhưng với ông, đã vượt khỏi những ý niệm mà thấy trực tiếp sự giải thoát của thời gian, của lịch sử:
Muôn sự nước trôi nước.
Ông là người làm ra lịch sửđồng thời cũng giải thoát khỏi lịch sử. Ở Việt Nam và cả thế giới, đã có mấy người được như thế ?
Khi nói câu trên, tưởng là tôn vinh ông, nhưng tôi mới thấy mình ngu muội. Ông đứng ngoàilịch sử, thế thì nói ông đứng trên đỉnh cao nhất của lịch sử Việt Nam hay ở đáy thấp nhất của lịch sử Việt Nam thì có nghĩa gì? Nói có mấy người được như thế hay tất cả đều được như thế hay hoàn toàn không có ai đã và sẽ được như thế thì có nghĩa gì?
 


2. Sống trong vĩnh cửu: trăm năm lòng nói lòng.

Với người bình thường như chúng ta, thơ ca là để nói lên lòng mình: những buồn vui, những chí khí, những được mất, những ước mơ, những nuối tiếc….. Ông thì khác, bởi vì lòng ông thì khác. Lòng ông là tất cả đời sống trước mắt: “Ở đời vui đạo hãy tùy duyên; đói thì ăn, hề, mệt ngủ yên”.
Lòng ông là tấm gương sáng: “Thân Bồ đề, lòng gương sáng”(Cư trần lạc đạo phú _Hội thứ 9). Vì lòng gương sáng nên sự vật gì ở trong đó cũng là lòng: “Cây bách là lòng” (Hội thứ 9).
Lòng ông là “lòng của trời đất”, thiên địa chi tâm, một từ ngữ của kinh Dịch mà chúng ta có thể dùng như một tham khảo để hiểu lòng ông.
Hơn nữa, lòng ông là Phật, là Như Lai, là Chân Như: “Chỉn Bụt là lòng” (Hội thứ 3). Trong lòng Chân Như đó, tất cả các pháp, tất cả mọi sự vật đều là Chân Như, là tánh Không. Nhưlời nói sau cùng của ông:
Tất cả pháp chẳng sanh
Tất cả pháp chẳng diệt
Nếu thấy hiểu như vậy
Chư Phật thường hiện tiền.
Làm gì có chuyện đến đi?
Lòng ông không phải là một sự vật cụ thể giới hạn ở đâu đó trong không gian và thời gian.Lòng ông không phải là lòng của một đức vua, của một chiến sĩ linh thiêng, không phải của một bậc minh quân, thậm chí không phải của một thiền sư.Lòng ông là tất cả mọi vật, tất cả đời sống, tất cả hiện hữu. Và tất cả hiện hữu này là hiện hữu của Chân Như. Lòng ông là một mùa xuân mà tâm sự ở trong tất cả mọi đóa hoa: “Nhất xuân tâm sự bách hoa trung”.
Lòng ông là “Ba cõi duy chỉ là Tâm, muôn pháp duy chỉ là thức”. Lòng ông là Nhất Tâm: “Ba cõi duy chỉ là Nhất Tâm” (Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Thập Địa). Ba cõi duy chỉ là Nhất Tâmbiểu lộ Nhất Tâm:
Trăm năm lòng nói lòng
Hành động nói ấy cũng là vĩnh cửu, trăm năm, ngàn năm, vạn năm, tỷ năm…. Sự việc nói ấy đã nói, đang nói và sẽ nói.Mãi mãi.Với đạo Phật, cái vĩnh cửu là cái vô sanh.Cho nênvĩnh viễn nói cũng có nghĩa là vĩnh viễn không nói, không nói một lời nào.
Sự việc nói ấy hiện giờ đang nói. Và cái hiện giờ đang nói ấy chúng ta tạm gọi là cái vĩnh cửuvĩnh viễn đang nói. Nói là sự hài hòa đầu tiên và cuối cùngVĩnh cửu hài hòa với vĩnh cửuvĩnh cửu đang nói với, nói về, nói lên vĩnh cửu qua mọi sự việc thế gian:
Trăm năm lòng nói lòng.
Cho nên, dù đang đứng, đang đi, đang ngồi hay đang làm, chúng ta thấy mọi sự vẫn đang nói, đang nói với, nói về, nói lên, nói qua nhau, đám mây nói với bầu trời, cỏ cây nói với đất đá, cây cau nói với bờ rào, em bé nói với mùa xuân…..lúc ấy chúng ta đang đi vào lòngTrần Nhân Tông đồng thời cũng là lòng của chính chúng ta. Và chúng ta thấy mình chẳng tách lìa Trần Nhân Tông một mảy ly, chúng ta đang sống, đang nghe, đang nhìn, đang nói như mọi sự đang sống, đang nghe, đang nhìn, đang nói trong sự hài hòa vĩnh cửu. Như lòng Trần Nhân Tông đang nói qua tất cả, dẫu cho trăm năm, ngàn năm, tỷ năm…..LòngTrần Nhân Tông, hay cái vĩnh cửu vô sanh, hay Chân Như, hay tánh Không….đang nói qua mọi sự chúng ta thấy nghe, hay biết:

Trăm năm lòng nói lòng.

________________

Nguyễn Thế Đăng

Nguồn: thuvienhoasen.org

CẦN KHAI THÁC THẾ MẠNH DU LỊCH TÂM LINH Ở HUẾ

Thừa Thiên - Huế là một trong số ít địa phương có rất nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch tâm linh, một loại hình du lịch hấp dẫn, đem lại giá trị kinh tế và làm phong phú thêm đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân.

Dâng hương đền thờ Phật hoàng Trần Nhân Tông

Trước tiên, Thừa Thiên - Huế là vùng đất có tới 55 vạn tín đồ Phật giáo với hơn 100 ngôi chùa, niệm phật đường, trong đó có nhiều Tổ đình như Từ Đàm, Thiên Mụ rất khang trang và bề thế. Từ sau khi được UNESCO công nhận là di sản thế giới, chùa Thiên Mụ đã được bảo tồn, tu bổ với tổng số vốn đầu tư là 27 tỷ đồng từ ngân sách nhà nước. Bên cạnh những công trình kiến trúc như tháp Phước Duyên, điện Đại Hùng, điện Địa Tạng, điện Quan Âm... cùng bia đá, chuông đồng, chùa Thiên Mụ còn có nhiều cổ vật quí không chỉ về mặt lịch sử mà cả về nghệ thuật, là điểm đến không thể thiếu trong hành trình đến Huế của du khách.

 

Hàng năm, lễ hội Điện Huệ Nam (còn gọi Lễ hội Điện Hòn Chén) được tổ chức vào tháng Ba và tháng Bảy Âm lịch tại ngôi điện nằm trên núi Ngọc Trản bên bờ sông Hương, thuộc xã Hương Thọ, thị xã Hương Trà, nơi thờ Thiên Y A Na Thánh Mẫu. Đây là lễ hội dân gian truyền thống được phục hồi theo các tập tục đậm màu sắc văn hóa dân gian địa phương, mang yếu tố văn hóa tâm linh, đề cao đạo hiếu, đạo làm người. Lễ hội bắt đầu từ việc rước Thánh Mẫu đi từ điện Huệ Nam tới đình làng Hải Cát trên những chiếc thuyền được ghép lại thành bè; với long kiệu Thánh Mẫu và hòm sắc vua phong, cùng các khí tự như tán, tàn, cờ, quạt, đội hầu bóng, những người phục dịch và khách hành hương. Từ đình làng Hải Cát, lễ cung nghinh Thánh Mẫu hồi loan về điện, sau đó diễn ra lễ phóng sanh, phóng đăng... sôi động trong tiếng nhạc của phường hát văn và phường bát âm, với sự tham dự của đông đảo bà con địa phương và du khách. Lễ hội thu hút hàng vạn người dân và du khách thập phương mỗi khi mở hội.

 

Từ năm 2008, tại Thừa Thiên - Huế còn hình thành thêm Trung tâm văn hóa Huyền Trân, tạo thành điểm du lịch văn hóa tâm linh hấp dẫn. Hàng năm, tỉnh Thừa Thiên - Huế lấy ngày 9 tháng Giêng Âm lịch (tức ngày 3/2) để tổ chức Lễ hội đền Huyền Trân. Cùng với ý nghĩa tri ân người có công mở nước, tạo lập vùng đất Thuận Hóa - Phú Xuân cách đây 700 năm trước, lễ hội đền Huyền Trân cũng là dịp quảng bá sản phẩm du lịch mới của tỉnh Thừa Thiên - Huế. Từ khi đưa vào hoạt động đến nay, mỗi ngày Trung tâm văn hóa Huyền Trân thu hút hàng ngàn lượt khách đến vãn cảnh và thắp hương tưởng niệm vị công chúa đã có công mở mang bờ cõi nước Việt.

Lễ hội Đền Huyền Trân Công chúa

Trung tâm văn hóa Huyền Trân được xây dựng nằm cách thành phố Huế 7km về phía tây, tại vùng núi Ngũ Phong thuộc xã Thủy An trên khuôn viên rộng 28 ha, có đồi núi thoai thoải, rừng thông xung quanh, bốn mặt là đồi núi trùng điệp. Không gian thâm nghiêm, kỳ vĩ, phù hợp với những công trình văn hóa mang tính tâm linh, về nguồn. Công trình bao gồm đền thờ và tượng đồng Huyền Trân công chúa, tháp chuông Hòa Bình, hệ thống đường đạo, công viên. Bên trong đền thờ Huyền Trân có pho tượng Công chúa Huyền Trân ngồi trên ngai được đúc bằng đồng. Tượng cao 2,37m, do các nghệ nhân đúc đồng nổi tiếng của phường Đúc, thành phố Huế cẩn tác. Phía sau là đền thờ đức vua Trần Nhân Tông - vị vua có công lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, có pho tượng nhà vua bằng đồng đỏ nguyên chất, cao 3m, nặng 2 tấn được đúc theo phiên bản lấy từ đền thờ các vua Trần tại Nam Định.

 

Trong tiếng nhạc dập dìu, tiếng chuông vọng ngân vang, sau khi thắp hương cầu nguyện Công chúa Huyền Trân và các bậc công thần khai quốc, đến với Trung tâm văn hóa Huyền Trân, du khách còn có dịp thả bước dưới những tán thông già. Ngắm nhìn tượng ni sư Hương Tràng, cầu nguyện ở tượng Di Lặc, bước lên 246 bậc cấp để chinh phục đỉnh núi Ngũ Phong và đến với tháp chuông Hòa Bình. Ở độ cao 108m, tháp chuông Hòa Bình với quả chuông đồng nguyên chất nặng 1,6 tấn, cao 2,16m, tiếng chuông ngân vang lan tỏa trong cõi thinh không tĩnh lặng để cầu nguyện cho sự an lành của mỗi con người, đúng như 8 chữ khắc trên mặt chuông: "Thế giới - Hòa Bình - Nhân loại- Hạnh phúc" cùng hình ảnh tượng trưng của 4 chùa: Giác Lâm (TP Hồ Chí Minh), Thiên Mụ (Huế), Diên Hựu (Hà Nội) và chùa Trúc Lâm Yên Tử (Quảng Ninh). Tất cả đã tạo nên một không gian rất đặc biệt, hướng du khách về với cội nguồn, về với lịch sử hào hùng của dân tộc và chiêm bái, tri ân người có công mở cõi.

 

Thực tế cho thấy, các điểm đến cho loại hình du lịch tâm linh ở Thừa Thiên - Huế đều được hình thành một cách tự nhiên, do sự tích hợp lâu dài của quá trình phát triển lịch sử, của đời sống kinh tế - xã hội, tín ngưỡng và tôn giáo.

___________________

Báo Tin tức - TTXVN

Ý NGHĨA TÙY DUYÊN

 

Hôm nay chúng tôi sẽ nói chuyện với quí Phật tử về đề tài "Ý nghĩa tùy duyên". Ý nghĩa này rất sâu xa không phải tầm thường, và lâu nay nó cũng đã bị lạm dụng nhiều.

 

Về ý nghĩa tùy duyên, thì đây là một chỗ sống, không phải là chỗ lý luận hay chỗ bắt chước, bởi vì khi chúng ta bắt chước thì nó không còn là tùy duyên nữa, bởi khi bắt chước là nó có cái khuôn rồi. Cho nên ý nghĩa này rất quan trọng mà lâu nay nhiều người lại hiểu lầm rồi cũng dễ lạm dụng nó nữa.

 

Như vậy muốn tùy duyên thì thế nào là biết tùy duyên cho đúng ý nghĩa ?

 

1- Thứ nhất là phải thấy đúng lý mới tùy duyên được, còn chưa thấy đúng lý mà nói tùy duyên thì chỉ là lạm dụng, là hiểu lầm vậy thôi. Nghe nói tùy duyên, rồi mặc tình buông thả theo duyên thì tùy duyên kiểu đó là chạy theo cảnh chớ không phải tùy duyên, đó là bị duyên nó cuốn, nó lôi đi. Tùy duyên theo kiểu đó gọi là "tùy duyên tiêu sự nghiệp", tiêu tan sự nghiệp hết, rất nguy hiểm !

 

Cho nên muốn sống, muốn thấy được đúng ý nghĩa tùy duyên thì phải thấy đúng lý. Trong cái thấy đúng lý này, thứ nhất là cần rõ lý Tánh không của Bát-nhã.

 

Tánh không là sao? Bát-nhã dạy tất cả các pháp trên đời này "không có một pháp gì là thật cố định", nghĩa là từ bản thân của mình cho đến sự vật bên ngoài đều là duyên khởi. Duyên khởi tạm có cho nên gọi là Tánh không, là không có tánh cố định, không có Thể thật của nó. Chính vì Tánh không mới tùy duyên mà hiện khởi tất cả được, chớ nó cố định thì đâu còn tùy duyên. Ví dụ cố định là một khối cứng thì đâu thể tùy duyên mà biến thành các vật khác được.

 

Cũng giống như cái gương, nó không có một hình gì trong đó, cho nên nó có thể hiện đủ tất cả mọi hình bóng, nếu nó có một cái hình gì cố định bên trong, thí dụ hình tròn, thì nó không thể hiện được hình vuông, mà vuông tròn đẹp xấu gì cũng hiện được hết, là vì nó không có một cái gì trong đó, không cố định là cái gì.

 

Hoặc như hư không, hư không không phải là cái gì hết, cho nên nó cũng hiện được đủ mọi thứ.

 

Rồi gần nhất là cái gì? - Tâm của mình. Tâm mình không là một cái gì hết, cho nên nó mới nghĩ được đủ tất cả, nếu nó cố định là một cái gì rồi, chắc chắn nó không thể nghĩ tất cả được. Mà nó nghĩ đủ hết, cái gì nó cũng nghĩ tới, kể cả những cái gọi là không có, nó cũng nghĩ ra được nữa bởi vì nó không có gì hết.

 

Qua điểm nữa là, ngay thân mình là thân năm uẩn thì Tâm kinh Bát-nhã nói “ngũ uẩn giai không”, năm uẩn đều Tánh không, không thật, cho nên nó mới tùy duyên hiện được lớn được nhỏ, được tốt được xấu, mập ốm vui buồn, trời người nó cũng hiện được đủ hết, chính vì nó Tánh không, không cố định là gì. Nếu nó cố định, thí dụ năm uẩn này cố định là người rồi, tức nhiên nó không thể hiện thành trời được, cũng như nó cố định là mập rồi thì không thể hiện ốm được. Do nó không cố định gì, nên nó hiện được tất cả. Bởi vậy Bồ-tát Quán Thế Âm có ba mươi hai Ứng thân, có khi hiện nam hiện nữ, rồi hiện Tỳ-kheo, hiện Tỳ-kheo ni, hiện vua hiện quan, hiện đủ hết, làm sao hiện được như vậy ?

 

Do đó xét cho kỹ, rõ ràng không có một cái gì cố định, vậy thì mình bám chặt một chỗ, một cái làm gì để chịu khổ ? Như vậy cho thấy, hiểu được tùy duyên thì phải thấy lý Tánh không. Rõ được Tánh không của các pháp rồi thì tùy duyên, lúc đó luôn luôn có ánh sáng Bát-nhã đi theo, nên tùy duyên mà không có lầm lẫn. Còn nhắm mắt tùy duyên là đi xuống hố, mình phải thấy rõ cái ý nghĩa đó, thí dụ như người mù nhắm mắt đi bừa là phải lọt hố thôi.

 

Nhớ lại câu chuyện của ngài Tăng Triệu khi bị án tử hình, Ngài xin phép hoãn lại bảy bữa để viết cho xong bộ Luận Bảo Tạng rồi Ngài sẽ chết. Thử hỏi tới lúc đó còn tâm hồn gì ngồi để mà viết luận! Nhưng mà Ngài thấy chuyện đó như là chuyện chơi thôi, và đến trước khi chết Ngài còn đọc bài kệ :

 

Ngũ ấm nguyên phi hữu

Tứ đại bản lai không

Tương đầu lâm bạch nhẫn

Nhất tự trảm xuân phong.

 

Tức là:

 

Năm ấm nguyên chẳng có

Bốn đại xưa nay không

Đem đầu đến dao bén

Giống hệt chém gió xuân.

 

Có ai bị chém bị chết trong đó đâu? Cho nên Ngài thản nhiên coi như không có chuyện gì. Nếu mình thì lúc đó rụng rời tay chân, còn tâm hồn đâu mà ngồi viết sách, huống nữa là tới khi sắp chết còn nói kệ nữa! Như vậy đó mới thật sự là biết tùy duyên. Và tùy duyên kiểu đó dễ bắt chước không ?

 

Bởi vì Ngài thấy rõ năm uẩn bốn đại đều là không, đều là vô ngã hết, không có cái ta thật, thì trong đó cái gì chết, cái gì bị chém? Không thấy có cái gì bị chém thì đâu có gì mà khổ ? Còn mình vì thấy có “cái ta” bị chém bị chết, cho nên mới có khổ.

 

Do Ngài thấy rõ không có gì thật hết, bởi vậy hễ còn duyên thì làm Phật sự tiếp, hết duyên thì thôi ra đi, chớ không cố ghì lại một chỗ để chịu khổ. Còn mình vì thấy có cái ta trong đó cho nên cố ghì lại để sống, ghì không được thì phải kiếm cái ta mới ráp vào, chính cái ta mới đó lại đi trong sanh tử. Hiểu như vậy, thấy được cái lý như vậy thì mới khéo biết tùy duyên. Đó là điểm thứ nhất là phải thấy rõ được Tánh không.

 

2- Thứ hai, tiến bước nữa là nhận ra Bản tánh chân thật của mình, nghĩa là thấy được, nhận rõ được Bản tánh chân thật luôn luôn hiện hữu nơi mình, cho nên mình tùy duyên là để chi? - Tùy duyên là để sống trở về Bản tánh chân thật đó chớ không sanh những niệm, những tâm hoặc lấy hoặc bỏ, chỉ thuận với tánh để sống, làm sao không để mất nó, đó là chỗ sống của mình rồi.

 

Như bài kệ của vua Trần Nhân Tông, nhiều người nghe quen quá thành ra xem thường:

 

Ở đời vui đạo hãy tùy duyên

Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền

Trong nhà có báu thôi tìm kiếm

Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền.

 

Nghĩa là sao ? Nghĩa là ở đây nhận ra Bản tánh chân thật của mình hay của báu sẵn có trong mình rồi, thì khỏi cần phải chạy, phải tìm kiếm đeo đuổi cái gì bên ngoài nữa, nghĩa là không để cho cảnh nó lôi mình, nó làm mất mình. Như vậy mình sống ngay trong lòng đời này, ở giữa thế gian này mà vẫn vui với đạo, đó là biết tùy duyên, mà tùy duyên như vậy là để làm chi? - Là để sống với Bản tánh của mình, sống trở về với Bản tánh chân thật, ngoài ra không có gì quan trọng. Đó gọi là tùy duyên sống với Bản tánh, tiêu nghiệp cũ mà không tạo thêm nghiệp mới.

 

Như vậy tùy duyên mà thường sáng tỏ không có mê, không có mờ, tùy duyên mà không đặt thành một “cái ta” trong đó. Đó là điều quan trọng, còn tùy duyên mà có cái ta trong đó thì không phải tùy duyên. Cũng như ở đây “đói đến thì ăn, mệt ngủ liền” nhưng nếu còn có cái ý niệm là đói nên ăn hay không nên ăn thì sao? - Đó là chen cái ta vào trong đó, tức là cái gì nên ăn hay không nên ăn ? Đó là hết tùy duyên. Cho nên tùy duyên ở đây là thuận theo Tự tánh để sống trên đời, để cho nó luôn luôn được hiện hữu khắp nơi, đó mới là tùy duyên chân thật.

 

Ngài Sùng Tín sau khi ngộ đạo, Ngài hỏi vị thầy là Thiền sư Đạo Ngộ: “Làm sao để bảo nhậm ( giữ gìn ) ?” Ngài Đạo Ngộ bảo rằng: “Mặc tánh tiêu dao, tùy duyên phóng khoáng, chỉ hết phàm tình, không thánh giải khác.” Nghĩa là mặc tình thuận theo cái tánh đó mà tiêu dao tự tại, tùy duyên phóng khoáng thôi, chỉ cốt làm sao hết được cái tình phàm này, tình mê này chớ không có thêm một cái kiến giải thánh gì khác, không thấy có chứng có đắc gì khác nữa, đó là tùy duyên. Tùy duyên như vậy làm sao bắt chước đây ?

 

Chỗ này là phải sống, biết rõ mình có cái chân thật rồi thì sống tùy duyên, duyên đến thì tiếp, duyên qua thì thôi, không có cố chấp, không có mong cầu thêm nữa. Đó là vì có được chỗ sống vững vàng trong này rồi, nên mới tùy duyên được như vậy, mới tiêu được những nghiệp cũ và nghiệp mới không tạo thêm.

 

Thiền sư Thiên Y Nghĩa Hoài có bài kệ:

 

Nhạn quá trường không

Ảnh trầm hàn thủy

Nhạn vô di tích chi ý

Thủy vô lưu ảnh chi tâm.

 

Giống như con nhạn bay trên không, nhạn bay qua thì bóng hiện dưới nước, nhạn không có ý lưu dấu vết lại dưới nước. Và bay qua rồi thì bóng mất, nước cũng không có tâm giữ bóng con nhạn lại. Đó là tùy duyên, nhạn bay qua là duyên đến thì bóng nó hiện trong nước, duyên qua rồi thì nước không lưu bóng lại. Còn mình thì sao? Có khi duyên chưa đến mà kêu nó đến! Rồi duyên qua thì giữ lại không cho nó qua! Chính vì vậy cho nên khổ. Ngay trong lúc ngồi thiền cũng còn muốn giữ lại nữa. Ngồi thiền nhớ lại, giữ lại, lưu lại trong này, đó là không biết tùy duyên, còn biết tùy duyên thì tâm lúc nào cũng trong sáng, đâu có cái gì lưu lại trong đó thì có gì mà ngăn ngại ?

 

Có vị Tăng hỏi ngài Triệu Châu:

 

- Thế nào là cầu đá Triệu Châu?

 

Ngài đáp:

 

- Độ lừa độ ngựa.

 

Ở gần chỗ ngài Triệu Châu Tùng Thẩm có cái cầu đá do ông Lý Ưng làm, cầu đá cũng nổi tiếng, cho nên nghe nói tới cầu đá Triệu Châu là ai cũng biết. Nhưng ở đây ông Tăng hỏi “thế nào là cầu đá Triệu Châu” ý lại khác. Ngài đáp : "Độ lừa độ ngựa", độ tức là đưa, đưa lừa đưa ngựa qua hết. Như vậy quí vị hiểu sao là “cầu đá Triệu Châu”? thấy được “cầu đá Triệu Châu” chưa ?

 

Thường nghe hỏi cầu đá, người ta tưởng ngay cái cầu bằng đá. Nhưng ở đây, ý ông Tăng này chuyện đó ai cũng biết rồi, ông cũng ở đó thì ông biết rồi, đâu cần hỏi làm chi nữa. Vậy hỏi cầu đá này là hỏi cái gì? - Đó là chỉ cho cái lý thật. Cho nên ngài Triệu Châu đáp “độ lừa độ ngựa”. Lừa ngựa gì cũng độ hết, đều cho đi qua hết. Lừa là loài vật, ngựa cũng là loài vật mà cái cầu đá độ hết, cho đạp đi qua hết, nhưng cầu đá không phải là lừa, không phải là ngựa, không đồng hóa nó với lừa với ngựa, đó là tùy duyên.

 

Còn mình thì sao ? Độ thì phải độ làm sao? - Phải độ những hạng thượng căn, hạng Bồ-tát chớ lừa ngựa đâu để cho đi qua. Mà không để cho đi qua tức là còn cái ngã trong này, bị cái ngã nó che. Cho nên ở đây muốn thấy lý thật thì phải như vậy, độ lừa độ ngựa, cái gì cũng là tùy duyên hết, cái gì cũng cho đi qua nhưng nó không là cái gì, không đồng hóa với cái gì .

 

Không đòi hỏi theo một cái ngã, không sanh những niệm sanh diệt hay lấy bỏ gì hết, đó là tùy duyên. Còn mình thì phải lựa, độ thì cũng phải lựa, người đó mình thương mình mới độ, còn không thương thì đâu có độ, đó là còn mắc kẹt. Còn ở đây thì độ hết, chỉ thuận theo duyên để sống trở về với Tự tánh, để làm sao cho Tự tánh của mình luôn luôn có mặt, không có vắng, vẫn luôn luôn sáng ngời trong tất cả mọi duyên, đó là khéo tùy duyên, tùy duyên mà đúng lý không lầm lẫn. Như vậy với nghĩa tùy duyên này mình làm được chừng bao nhiêu? Hiểu được như vậy mới thấy nghĩa tùy duyên rất là sâu.

 

3- Một điểm nữa, tùy duyên thì phải hiểu rõ được thế gian là tương đối, đó là lẽ thật của thế gian (thế đế). Thế gian luôn luôn là tương đối, mọi cái có ra đều nằm trong đối đãi hết. Nhưng thấy ở đây không phải là cái thấy hiểu tầm thường, lâu nay người nghe pháp nhiều quá cũng hiểu rồi, cũng thấy rồi nhưng chưa phải. Tức là phải thấy trong lúc mình tu, thấy rõ bằng chính trí tuệ của mình cái đó mới giúp mình sống được. Chớ hiểu theo kiểu ngồi đây hiểu nhưng ra ngoài quên, ngồi đây thì hiểu thế gian tương đối, cái gì cũng đối đãi nhau mới có, không có gì là thật, nhưng khi ra ngoài đụng chuyện thì cái gì cũng thật hết, cái hiểu đó không phải.

 

Cho nên ở đây phải thấy bằng chính trí tuệ của mình. Xét thấy rõ trên thế gian này đều là tương đối hết, thiện đối với ác, phải đối với quấy mà có, cũng như vui đối với buồn mà có, ngay cả thầy đối với trò mà có, không trò thì đâu có thầy, cũng như mẹ đối với con mà có, không con lấy gì có mẹ. Luôn luôn là đối đãi nhau, không có một cái gì đứng riêng, như vậy tại sao mình phải đòi hỏi một chiều? Có nhiều người còn đòi hỏi hơn nữa, đòi hỏi cái toàn mỹ, cái gì cũng phải cho toàn mỹ, toàn vẹn ! Nhưng sự thật thế gian nói toàn mỹ chỉ là nói chơi, không bao giờ có, chỉ tuởng tượng, không thể có cái toàn mỹ nếu chưa sống được với cái chân thật. Thế gian là tương đối thì làm sao có cái toàn mỹ được !

 

Đức Phật có nói bài kệ:

 

Kẻ hơn thì thêm oán

Người thua ngủ chẳng yên

Hơn thua hai đều xả

Ấy được an ổn ngủ.

 

Nghĩa là có hơn thì có thua, làm sao mà toàn mỹ được? Mà chính có hơn có thua, từ đó có oán có hờn, có khổ, có cái này thì có cái kia. Như vậy thì hơn không hẳn là yên, còn thua cũng không hẳn là xong. Thua còn ấm ức trong lòng cũng khổ, như vậy làm sao mà toàn mỹ được? Thường thường mình thích đòi hỏi cái toàn mỹ, sống với ai mình cũng đòi hỏi người đó phải tốt với mình, lâu lâu thấy không tốt thì bực tức, nhưng thử hỏi chính mình có toàn mỹ chưa ?

 

Thế gian là tương đối, tâm người là vô thường, bữa nay như vậy, nhưng mai mốt vô thường nó đổi đâu còn như vậy nữa. Bởi vậy không có cái toàn mỹ, đòi cái toàn mỹ là mê. Bởi vì xét kỹ thì chính mình còn chưa toàn mỹ, ngay nội tâm của mình, có khi còn tự mình mâu thuẫn với mình nữa nói chi tới bên ngoài. Như vậy làm sao muốn mọi người toàn mỹ được, muốn mọi cái bên ngoài toàn mỹ được!

 

Thí dụ bên ngoài coi giống như vui vẻ nhưng có khi đau khổ trong lòng, ngoài làm bộ vui nhưng trong lòng đau khổ, hoặc có lúc thấy giống như muốn xả hết để tu hành nhưng rồi ít bữa đổi ý tiếc thế gian trở lại. Như vậy lúc muốn xả thì ai muốn xả, rồi lúc tiếc trở lại thì ai tiếc, ai chen vào trong đó? - Cũng là trong tâm mình thôi. Chính mình đã mâu thuẫn với mình rồi, hoặc có lúc bữa nay tính đi nghe pháp nhưng rồi lại tính đi chơi, hoặc ngược lại tính đi chơi rồi đổi ý tính đi nghe pháp. Cũng là mình với mình nhưng tại sao nó có cái đó? Như vậy để thấy rằng ngay nơi mình cũng còn mâu thuẫn, vậy làm sao đòi có cái toàn mỹ trọn vẹn bên ngoài được. Đòi không được thì sao? - Khổ, thật là đơn giản!

 

Bởi vậy, ngay như đức Phật mà mình gọi là bậc toàn giác, bậc có công đức phước trí trang nghiêm, nhưng Phật có bị người chê không? Phật cũng còn có người chê nữa, có người chê Phật là bất hiếu bỏ cha bỏ mẹ đi tu, bỏ vợ bỏ con vô rừng. Có người khen thì cũng có người chê. Rồi kẻ uống rượu say sưa có người khen không? Cũng có người khen, đồng bọn khen nhau.

 

Như vậy cho thấy không có cái gọi là hoàn toàn. Bởi vậy Phật mới dạy trong kinh Pháp Cú: “Xưa, vị lai và nay, đâu có cái sự kiện này: người hoàn toàn bị chê, người trọn vẹn được khen.” Ngài nói rằng trong cả ba thời không bao giờ có sự kiện là có người hoàn toàn được khen cũng như có người hoàn toàn bị chê.

 

Do đó chê khen không thành vấn đề. Cho đến được mất cũng vậy, có được là có mất chớ không bao giờ có cái gọi là nguyên vẹn. Biết rõ ý nghĩa như vậy, hiểu được như vậy, mình khéo chuyển thì sống được an vui, còn cố chấp một bên thì khổ, thí dụ cố chấp là phải được cái đó mà nó không được thì khổ.

 

Như bà Tì-xá-khư (Visàkhà), bà là đại thí chủ trong thời đức Phật, một hôm đi nghe pháp, bà cởi chiếc áo choàng rất quí giá cho đứa tớ gái giữ ở ngoài rồi đi vô nghe pháp. Khi ra về không biết đứa tớ gái làm sao mà nó bỏ quên luôn. Mình gặp như vậy thì sao? - Chắc là chửi mắng, đánh đập đứa tớ đó dữ lắm, bởi đây là chiếc áo choàng rất đắt giá. Nhưng với bà thì bà kêu đứa tớ gái lại nói rằng: “Con trở lại tịnh xá kiếm, nhưng tới đó nhớ hỏi xem nếu có vị Tỳ-kheo nào đụng tay tới cái áo rồi thì con đừng lấy về nữa.” Cô tớ gái đi tới hỏi thăm nghe nói ngài A-nan thấy của ai bỏ quên thì Ngài lấy cất giùm rồi.

 

Cô tớ gái về thưa lại, bà nghe như vậy, liền tới bạch với Phật là xin bán cái áo để cúng dường làm một Phật sự gì cho xứng đáng. Phật bảo làm một cái tăng xá để cho chư Tăng ở, bà rất là hoan hỉ. Nhưng cái áo đắt giá quá không ai mua nổi, bà bèn bỏ tiền mua lại cái áo, rồi lấy tiền đó xây tăng xá cho chư Tăng. Khi xây xong đến ngày cúng dường dâng lên Phật, tác bạch xong, bà kêu đứa tớ gái lại nói rằng: “Hôm nay sở dĩ bà được công đức này là cũng nhờ có con, công đức này bà xin chia hai, cho con nửa, bà nửa.”

 

Ai thấy mình làm nổi chuyện đó không? Cái được cái mất mình chuyển một cái thành ra tốt đẹp mà còn vui vẻ nữa. Mất cái áo không buồn, chuyển lại thành được phước lành rồi vui vẻ nữa, mà vui vẻ cả mấy phần trong đó: chư Tăng có tăng xá ở cũng vui, rồi bà được cúng dường hoan hỉ cũng vui, đứa tớ gái cũng được vui vàø ngay cả mình bây giờ nghe kể lại cũng vui theo. Nếu lúc đó mà giận lên chửi mắng đánh đập thì sao? - Chẳng những không vui mà còn tạo thêm cái khẩu nghiệp khổ nữa, rồi cái thân đánh đập người tạo thêm cái thân nghiệp khổ, vậy là khổ lại càng thêm khổ!

 

Cho thấy chỉ vì bám chấp vào cái được, cái mất mà khổ. Bây giờ biết rõ cái mất không thành vấn đề, cho nên chuyển lại thì được vui. Cho nên khéo sống thì được, không cố chấp một bên, cố chấp là chịu khổ. Chính vì vậy trong cuốn Pháp Hoa Đề Cương của Thiền sư Minh Chánh ở Việt Nam có bài kệ nói về ông Thuần-đà:

 

Hay lắm Thuần-đà,

Hay lắm Thuần-đà !

Thôi nói dở, chớ bàn hay,

Dở hay tốt xấu bận lòng chi.

Người muốn tìm khéo trở thành vụng,

Kẻ toan bắn sẻ sói chực hờ.

Công danh cái thế màn sương sớm,

Phú quí kinh nhân giấc mộng dài.

Chẳng rõ xưa nay không một vật,

Công phu luống uổng một đời ai.

 

Thuần-đà là người cúng bữa cơm cuối cùng cho đức Phật trước khi Phật nhập Niết-bàn. Sau này có người phê phán như vậy là ông tổn phước, vì Phật thọ xong bữa cơm của ông rồi Phật tịch. Phật biết vậy nên Phật mới khen, Phật nói hai người có phước đức lớn nhất là người cúng bữa cơm cho Phật trước khi Phật thành đạo, và người cúng bữa cơm cuối cùng trước khi Phật nhập Niết-bàn. Phật khen vậy để ông không có lòng hối hận.

 

Cho nên ở đây ngài Minh Chánh mới lấy việc đó để nói lên ý nghĩa là thế gian tương đối, mình phải vượt qua ý nghĩa tương đối, đừng mắc kẹt trong cái khen chê. Ông nói: “Hay lắm Thuần-đà, hay lắm Thuần-đà! Thôi nói dở chớ bàn hay, dở hay tốt xấu bận lòng chi.” Cái chuyện hay, chuyện dở là chuyện đối đãi thôi, có người khen thì cũng có người chê, đừng bận lòng chuyện đó. Rồi sao? "Người mà muốn tìm khéo thì trở thành vụng", muốn khéo nhưng thành vụng, bởi vì cái khéo ở kế bên cái vụng, cũng như người đang rình bắn chim sẻ nhưng đâu ngờ dưới này có con chó sói nó chực hờ, vừa rớt xuống nó chụp chạy mất. Bắn được con chim sẻ nhưng được đó rồi mất đó, cái được cái mất kề bên nhau.

 

"Công danh cái thế" tức là công danh trùm cả thế gian đi nữa cũng như màn sương sớm vậy thôi, có đó rồi mất đó. Chỗ này mình sống thấy có kinh nghiệm rõ ràng, người đang có tiếng tăm nhưng bỗng bị một nạn gì đó tiêu hết. Cũng như là "phú quí kinh nhân", phú quí làm giật mình người, cũng như giấc mộng vậy thôi. Giàu sang bao nhiêu nhưng mà gặp cơn nạn cũng trắng tay. Chuyện thực tế nó là như vậy.

 

Căn bản là “chẳng rõ xưa nay không một vật” tức là không rõ được cái lẽ thật "xưa nay không một vật" đó thì "công phu luống uổng một đời ai", nghĩa là phải thấu suốt được cái lẽ thật xưa nay đó, sống được chỗ chân thật đó thì mới không luống uổng công phu một đời của mình; còn nếu không cứ bám vào những cái công phu, những cái được mất, những cái đối đãi nằm trong sanh diệt thì rốt cuộc cũng bị sanh diệt thôi.

 

Thí dụ cũng như ở đây, chán thế gian này đi tu, tu rồi cầu lên cõi trời, có hết khổ không? Cầu lên đó ít bữa hết phước cũng rớt trở lại! Vì đó là công phu sanh diệt, cho nên rồi nó cũng lẩn quẩn trong đó. Cần phải thấu rõ chỗ “xưa nay không một vật” đó, sống được với cái đó thì mới vượt ra ngoài cái đối đãi, còn bám chặt vào trong cái đối đãi thì khổ. Mà sở dĩ bám chặt vào trong này là bởi vì sao? - Là bởi thấy có ta cho nên bám chặt vào cái ta đó, rồi mới có khổ, có tức tối, có chửi rủa than trách này nọ.

 

Hiểu rõ được lẽ thật của thế gian là tương đối, là đối đãi thì mình cởi mở được những tình chấp, là biết sống tùy duyên, tùy duyên như vậy là hết khổ. Hiểu như vậy thì tùy duyên mới thật, còn tùy duyên đụng đâu làm đó thì không phải.

 

4- Rồi một điểm nữa, mình hiểu được lý này rồi thì phải biết linh động không cố chấp. Bởi tùy duyên là linh động, là không cố chấp. Mình khổ là vì cố chấp, mà cố chấp là không biết tùy duyên. Đã hiểu rõ được lẽ thật như trên, không có cái gì gọi là toàn vẹn, không có cái gì là cố định thì cố chấp làm gì? Mình làm sao cho cuộc sống linh động sáng ngời, chớ còn khư khư ôm chấp một chỗ, đó gọi là bệnh.

 

Ở trong nhà Nho có câu chuyện: Ông Lưu Ngưng Chi một hôm đang đi thì bất thần có người lại nhận lầm ông mang đôi giày của họ. Giày của mình đang mang mà họ nói mình mang lầm giày của họ thì phải sử xự sao? Ông nghe vậy liền cởi giày đưa cho họ :“Giày của ông thì thôi ông cứ nhận đi”. Nhưng sau đó người này tìm thấy đôi giày của họ, liền vội vàng đem giày trả lại ông nhưng ông nhất định không nhận : “Anh nhận rồi thôi là của anh, tôi không nhận”.

 

Rồi có một trường hợp giống như vậy, ông Thẩm Lân Sĩ một hôm đang đi cũng có người cũng lại nhận lầm ông đi giày của họ, ông cũng cởi ra đưa cho họ. Nhưng sau đó biết lầm, họ tới trả ông thì ông vui vẻ : “Không phải của anh hả, thôi tôi nhận”.

 

Vậy quí vị muốn bắt chước theo ai ? Ông Tô Thức, tức Tô Đông Pha, có lời bình rằng : “Việc này tuy là việc nhỏ mọn, song ở đời ta nên cư xử như ông Lân Sĩ, không nên như ông Ngưng Chi.” Bởi vì sao? Đôi giày của mình đang mang mà có người đến nhận của họ, mình sẵn sàng cởi cho, cái đó là thật quí rồi. Nhưng người ta biết lầm rồi và người ta đem trả thì phải cảm thông nhận cho họ hối lỗi, chớ bây giờ người ta biết lỗi rồi mà mình không tạo cái duyên cho họ sửa, cứ khư khư ôm giữ cái phải của mình hoài thì sao? E có lúc cũng không được phải. Ở đây người ta biết lỗi rồi, biết lầm rồi, thôi thì cứ nhận có phải tốt không, ổn không? Còn mình cứ khư khư không nhận để cho họ hối hận trong lòng hoài thì đâu có tốt. Khéo biết như vậy đó là hiểu được linh động tùy duyên, còn cái kia là cố chấp. Tuy là tốt nhưng mà cố chấp cái tốt thành ra cũng không được trọn tốt.

 

Đó là nói về bên Nho, còn trong nhà thiền thì có Thiền sư Bạch Ẩn Huệ Hạc, sư rất nổi tiếng, ai nấy đều ca tụng sư là một con người rất trong sạch, rất tốt. Ở gần chùa sư có một gia đình bán thực phẩm, một hôm gia đình này phát hiện cô con gái của họ có thai, gia đình nổi giận đánh mắng hỏi ai là tác giả cái bào thai đó thì cô nói là Bạch Ẩn. Cha cô nghe nói vậy, quá giận tìm tới chùa gặp sư. Ông xổ ra đủ những lời nặng nề nhất trên đời. Sư nghe như vậy chỉ nói :“Thế à!” Vậy thôi.

 

Sau khi đứa bé được sanh ra, gia đình này mang tới chùa giao cho sư thì sư cũng nhận. Sau một thời gian nuôi đứa bé sư bị mất hết tiếng tăm, không còn ai nghĩ tới sư nữa.

 

Một thời gian sau, cô gái cảm thấy bị ray rứt trong lòng chịu không nổi, cô mới thú thật là cha đứa bé không phải là Bạch Ẩn mà là một chàng thanh niên bán cá ngoài chợ. Nghe tới đó cha mẹ cô mới bật ngửa, hoảng sợ lật đật tới chùa để sám hối và xin đứa bé trở lại. Lúc đó Thiền sư Bạch Ẩn cũng chỉ nói :“Thế à!” Vậy thôi, đơn giản.

 

Đó là tùy duyên, mà tùy duyên thế này mới thực sự là tùy duyên, tùy duyên cao tuyệt. Được, mất tiếng tăm không thành vấn đề, nhận việc đó coi như tiếng tăm mất hết rồi, như mình thì buồn biết bao nhiêu nhưng với sư chỉ “thế à!” là xong. Bởi vì sư thấy không có gì quan trọng, người nói oan, người bị lầm thì sư cũng vẫn thản nhiên không buồn lòng gì hết. Khi nhận đứa bé sư không buồn giận, mà trả đứa bé cũng không trách mắng,

 

Tùy duyên theo kiểu này thì ở trong đây ai bắt chước được? Đó là vì sư thấy rõ trên đời này không có gì quan trọng, nhất là không có “cái ta”. Không có cái ta thì lấy cái gì mà được mà mất, có được có mất là bởi vì có cái ta này, “ta được” tiếng tăm, bây giờ “ta mất” tiếng tăm, còn không có cái ta thì cái gì mất? ai mất? Thấy rõ vậy nên đối với sư được mất tiếng tăm không thành vấn đề, nhận đứa bé cũng thản nhiên, trả đứa bé cũng thản nhiên thôi.

 

Trong kinh Viên Giác có câu: “Thân này còn chẳng thật có thì yêu ghét từ đâu sanh?” Cái thân còn chẳng thật có thì cái yêu cái ghét từ đâu mà sanh, bám vào đâu mà có? Sở dĩ mình thấy có yêu có ghét, có được có mất là bởi vì thấy có cái ta này. Nếu cái ta này không thật thì lấy gì được mất, yêu ghét ? Thấy rõ như vậy mới thật sự biết tùy duyên. Tùy duyên này là một điểm rất sâu.

 

5- Một điểm kế nữa, tùy duyên là để phá cái ngã kiến, tức cái kiến chấp ngã. Bởi vì chúng ta luôn luôn thấy có cái ta thật, có vật thật, có người thật, tất cả đều thật, rồi cái thấy, cái nghĩ của ta cũng thật luôn, cho nên mới cố chấp bám vào một chỗ. Với thế gian thì luôn luôn là sao? Ta nói một là một, hai là hai, chớ không thể thay đổi. Mình bảo vệ tối đa cái nghĩ của mình. Chính vì vậy cho nên mới có đấu tranh, mới có chết chóc, bởi vì ta nghĩ như vậy là phải, khác đi là không được. Nhưng cái gì là cái nghĩ của ta? Xét cho kỹ thì cái nghĩ của ta cũng không có gì cố định, mình nghĩ vậy ít bữa rồi cũng đổi ý nghĩ khác, nó không có cố định, không có Thật thể.

 

Cho nên trong kinh Kim Cang, Phật có dạy: “Như Lai nói ngã kiến tức chẳng phải ngã kiến, đó gọi là ngã kiến.” Nghĩa là, nói cái ngã kiến không phải thật có, chỉ do cái lầm chấp của người thôi. Mình nghe nói có cái kiến chấp, có cái chấp ngã thì mình tưởng đâu có cái chấp ngã thật, chớ sự thật Ngài nói đó chỉ là cái mê lầm, cái vọng chấp của mình chớ không có thật. Như cái nghĩ của ta, xét cho kỹ, tìm cho tột cái gì là cái thể cố định cái nghĩ của ta thì tìm không ra, chỉ không ra.

 

Khi xét tột được như vậy tức là mở sáng được con mắt Bát-nhã, thấy được cái lầm như vậy thì hết lầm. Mới thấy cái nghĩ của ta không có gì là cố định thì làm sao mà bám chắc ? Không bám chắc vào một chỗ thì mới có tùy duyên, cho nên nói tùy duyên là phá cái ngã kiến, phá cái chấp chặt một chỗ, chấp chặt là ta nghĩ như thế là phải. Sự thật là không có cái ta nghĩ cố định thật được.

 

Một chuyện đơn giản tầm thường, thí dụ một viên kim cương đối với cái nghĩ của mình là quí, nhưng nếu đem cho đứa bé thì sao? Nó làm viên bi nó bắn chơi. Như vậy cái nghĩ của ai đúng? Tùy theo tâm tưởng của người thôi, mình quen suy nghĩ như vậy rồi mình cho như vậy là đúng chớ sự thật chưa hẳn là đúng với người khác. Mình nghĩ nó quí nhưng với đứa bé nó thấy giống như viên đạn nó bắn chơi thì có gì đâu là quí. Nếu mình thấy nó đem bắn chơi rồi mình chấp vào cái nghĩ của mình là đúng, mình rầy phạt nó thì sao? Là cố chấp, rồi khổ.

 

Hiểu như vậy mới thấy tùy theo tâm tưởng của người mà thành ra có cái nghĩ sai khác chớ không có cố định, là bớt chấp. Ở đây nói bớt chấp thôi, chớ nói hết chấp thì chưa. Bớt chấp thì bớt khổ. Học thiền cởi được những tình chấp của mình ra cho nhẹ bớt.

 

Ở trong Tuyệt Quán Luận có một đoạn, có người đặt câu hỏi: “Con thấy người học đạo phần nhiều họ chẳng chuyên cần giữ giới luật, cũng chẳng chăm lo gìn giữ oai nghi, cũng chẳng giáo hóa chúng sanh mà cứ mặc tình sống thoải mái thì đó là ý gì?” Trong đó đáp: “Nhưng bên trong thực hành không có gián đoạn.” Bên ngoài nhìn giống như thoải mái nhưng bên trong người ta thực hành không có gián đoạn thì đó mới gọi là khéo tùy duyên.

 

Có những trường hợp các ngài làm như vậy để phá cái niệm chấp về sạch, về nhơ. Thí dụ như chấp ta đây tu hành thanh tịnh, ta đây tu hành đàng hoàng. Nhưng có ai nói mình tu hành không thanh tịnh, không đàng hoàng thì sao? Thì tức giận, đó là chấp vào cái thanh tịnh của mình, tới chừng người ta nói không thanh tịnh thì nổi giận. Còn ở đây là phá cái niệm sạch nhơ, ai nói sao thì nói, không thành vấn đề với mình.

 

Nhưng điểm này cũng phải xét ngược lại. Tuy là vậy nhưng không phải dễ bắt chước, bởi vì cũng dễ lầm. Nghe nói làm những chuyện như vậy là sống không chấp vào hình thức rồi mình cũng bắt chước làm như vậy để cho giống như tự tại, nhưng đó là bắt chước chớ không phải sống thật sự. Ở đây cần phải chú ý, điểm quan trọng là tuy bên ngoài như vậy nhưng bên trong thì thực hành không có gián đoạn, tức là bên trong luôn luôn sáng ngời, không có mê thì mới là lẽ thật, chớ theo cái kiểu bắt chước làm như vậy mà đụng đâu dính đó thì không phải.

 

Cũng có trường hợp làm như vậy để tỏ ra ta đây là người hiểu thiền, ta đây là người không chấp gì hết, là người sống tự tại. Nhưng nói ta không chấp gì hết mà chính cái đó lại thành ra chấp, tức là “chấp vào cái không chấp”.Thường người ta chấp cái này chấp cái kia, nhưng bây giờ chấp trở lại cái không chấp, tức là ta không chấp cho nên mọi chuyện coi như không thành vấn đề. Cái đó mới là cái nguy hiểm, chấp vào cái không chấp lại là bệnh. Nhưng bệnh mà lại không biết bệnh nên mới khó trị, làm sao mà trị? Nên nhớ đây là chỗ thực sống của các vị đã sáng tỏ được đạo, nếu không được như vậy thì không được bắt chước.

 

Ở đây còn một điểm nữa, phải nhớ là khi chúng ta nói rằng làm như vậy để phá cái tâm phân biệt, thì còn có tâm phân biệt không? Chưa sạch hết phân biệt mới phá, chớ sạch hết rồi thì phá cái gì nữa? Như vậy thì cũng chưa phải thật sự tự tại, đó là chỗ mình phải thấy cho kỹ. Đừng nói rằng tôi làm vậy là để phá chấp, tôi tự tại rồi, nhưng sự thật nếu đã hết chấp thì phá cái gì? Còn phá tức là còn phân biệt, còn phân biệt tức chưa tự tại. Cho nên nếu nghe ai nói tôi phá chấp thế này, tôi phá chấp thế kia, tức là còn chấp mới phá, chưa phải thật hết đâu. Đó là những điều phải thấy cho thật tế nhị.

 

6- Một điểm nữa, tùy duyên là mình nên sống khéo hòa với tất cả chớ không nên làm khác người, không phải là lập dị, bởi vì tùy duyên mà. Không làm khác với người, không lập dị để cho thấy ta đây là người đạt đạo, ta đây là người tự tại, đó mới là tùy duyên. Bởi vì khi mình làm khác người để chứng tỏ mình đạt đạo thì đó là một tướng khác của ngã tướng. Ở đây làm tất cả, cũng ăn cũng ngủ như mọi người nhưng luôn luôn không rời Tự tánh, không mất ánh sáng của Tự tâm, đó mới là khéo tùy duyên. Chớ tùy duyên mà làm khác biệt với người ta, để cho thấy rằng “ta đây” là người không chấp, là người tự tại, như vậy là có chấp trong đó rồi, có ngã tướng trong đó rồi. Làm để cho người ta chú ý tới mình, cái đó là bệnh.

 

Bởi vậy, tùy duyên mà luôn luôn sáng ngời ở trong, sống bình thường nhưng không mất chỗ sống chân thật của mình, mới là đúng tùy duyên, nếu không được như vậy thì mắc kẹt. Tóm lại tùy duyên thì không thể bám chấp vào một chỗ nào. Vì không có gì cố định hết. Vừa bám chấp một cái gì đó là hết tùy duyên, mà còn sống trở lại với quá khứ nữa.
Trong sử ghi một hôm có vị ngoại đạo đến hỏi Phật:

 

- Hôm qua Ngài thuyết pháp gì?

 

Phật nói:

 

- Hôm qua ta thuyết định pháp (tức là cái pháp nhất định).

 

Vị ngoại đạo hỏi thêm:

 

- Vậy còn hôm nay Ngài thuyết pháp gì?

 

Phật nói:

 

- Hôm nay ta thuyết bất định pháp.

 

Vị ngoại đạo gạn lại:

 

- Hôm qua giảng định pháp, hôm nay vì sao lại giảng bất định pháp?

 

Phật đáp:

 

- Hôm qua định, hôm nay bất định.

 

Đức Phật đáp quá hay, đó là để phá cái chấp cố định của mình. Nếu thật sự một bề là định pháp thì làm sao mà có hôm nay? Có hôm qua, có hôm nay tức là bất định, bởi vậy Phật mới nói rằng hôm qua thuyết định pháp, bữa nay thuyết bất định pháp, đó là linh động.

 

Mình cố chấp một bề là mình chết ở trong quá khứ, tức là thiếu cái linh động sáng tạo. Mình nghe nói định pháp thì chấp chặt là định pháp, cho nên nghe nói bất định thì thắc mắc liền.Ở đây Phật nói ro,õ vì bất định cho nên mới có hôm nay, mới có hôm qua. Lẽ thật rõ ràng là như vậy, thấy như vậy thì làm sao chấp?

 

Mình nghe hôm qua nói định, bữa nay nói bất định thì mình thấy Phật nói chuyện sao mà mâu thuẫn quá. Nhưng như vậy là không thấy được ý nghĩa tùy duyên không cố định, tức là không có một pháp thật. Mình bám vào cái hôm qua là mình chỉ nhớ cái quá khứ, sống lui về quá khứ, không có sáng tạo. Hiểu như vậy thì mới thấy được ý nghĩa tùy duyên là luôn luôn linh động.

 

Ngài Lâm Tế lúc từ giã ngài Hoàng Bá đi, Hoàng Bá hỏi đi đâu thì Ngài nói: “Chẳng về Hà Nam tức về Hà Bắc.” Lời này nói lên tâm của Ngài sống tùy duyên thật sự. Tùy duyên ở đây là gì? - Là lúc nào cũng hiện tiền, cũng sáng ngời, cái chân thật đó luôn luôn theo sát bên mình, cho nên nó không dừng ở một chỗ nào, không về Hà Nam thì về Hà Bắc, mình đi đâu nó có ở đó. Mình bây giờ có thể nói là “Không ở thành phố thì ở Trúc Lâm”, chớ thân đến Trúc Lâm mà niệm một bề cứ trụ ở thành phố đó là đóng khung ở trong chỗ chết, không linh động.

 

7- Thêm một điểm nữa, tùy duyên tức là vô trụ. Sống được vô trụ thì mới tùy duyên, chớ có trụ là hết tùy duyên, bởi vì có trụ là có chết. Trong cuốn “Góp Nhặt Cát Đá” có chuyện hai sư huynh đệ đi qua con suối thấy một cô gái mặc đồ đẹp muốn đi qua suối nhưng sợ bị ướt không dám qua. Ông sư huynh nói “cô bé lại đây, ta đưa qua cho”, rồi ông bồng cô đưa qua suối. Từ đó về tới chùa hai người làm thinh không nói chuyện. Tới chùa ông sư đệ hậm hực nói rằng:

 

- Huynh sao bữa nay không giữ giới gì hết?

 

- Làm sao mà không giữ giới?

 

- Tại sao huynh bồng cô gái qua suối vậy?

 

Ông sư huynh cười nói:

 

- Vậy hả? Ta đã buông cô gái ở đó rồi, còn ông lại ôm về tới đây sao?

 

Rõ ràng là ông sư huynh thì tùy duyên, gặp đưa qua rồi thôi, còn ông sư đệ thì ôm ấp việc đó mãi, đi từ suối về chùa qua bao nhiêu đoạn đường, qua bao nhiêu bước chân mà cái tâm của ông thì vẫn trụ ở chỗ suối đó. Trụ như vậy là mất cái hiện tiền này tức là mất ông chủ. Còn ông sư huynh buông hết rồi, cho nên luôn luôn lúc nào ông chủ cũng sống hiện tiền. Cho nên tùy duyên tức là vô trụ, vô trụ là sống như vậy đó. Khéo như vậy mới thật sự là khéo tùy duyên, chuyện qua rồi là thôi không có giữ lại, không có trụ lại.

 

8- Đến đây thì quí vị thấy ý nghĩa tùy duyên hơi sâu rồi. Lên một tầng nữa tùy duyên phải lý sự đầy đủ, tùy duyên thường hiện hữu, không nghiêng không lệch một bên. Đó mới gọi là tùy duyên sâu xa.

 

Có vị Tăng hỏi Thiền sư Quang Dũng:

 

- Văn-thù là thầy của bảy đức Phật, vậy Văn-thù có thầy chăng?

 

Ngài Quang Dũng đáp:

 

- Gặp duyên liền có.

 

Ông Tăng hỏi:

 

- Thế nào là thầy Văn-thù?

 

Ngài Quang Dũng liền dựng đứng cây phất tử. Ông Tăng nói:

 

- Phải chăng chỉ cái ấy liền là phải?

 

Ngài Quang Dũng liền ném cây phất tử đứng khoanh tay. Đây mới gọi là tùy duyên mà thường hiện hữu, lý sự đầy đủ.

 

Văn-thù là chỉ cho Căn bản trí, là cái Lý tánh chân thật. Chư Phật sở dĩ thành Phật là cũng ngộ cái lý Căn bản trí này, sống được với Căn bản trí trọn vẹn thì thành Phật. Cho nên gọi Văn-thù là thầy của bảy đức Phật, đã gọi như vậy thì còn ai là thầy của Văn-thù nữa. Nhưng ở đây ngài Quang Dũng nói “gặp duyên thì liền có” tức là sao? Tức là nó không phải hoàn toàn không ngơ, đủ duyên thì nó liền hiện, cái đó không ai làm thầy nó được hết.

 

Ngay khi đưa phất tử lên tức là gặp duyên, nó liền hiện, thì thầy là như vậy đó. "Cái sẵn có", đó là lý, "gặp duyên liền hiện" đó là sự, lý sự luôn luôn đầy đủ. Còn mình nếu thấy không thầy là thấy một bên lý, hoặc là thấy một bên có thầy là thấy một bên sự . Ở đây lý sự luôn luôn đầy đủ, thấy như vậy thì không mắc kẹt bên nào.

 

Khi đưa cây phất tử lên thì cái chân thật đó vẫn luôn luôn hiện hữu nơi cây phất tử rồi, cái thấy nó luôn luôn có mặt rồi. Khi quăng cây phất tử đứng khoanh tay thì sao? Ai đứng khoanh tay đó? Thì nó cũng có mặt ở đó luôn. Cái Thể chân thật nó luôn luôn có mặt nhưng nó không có hình tướng gì để thấy, mà chỗ nào nó cũng ứng hiện được hết. Như vậy mới gọi là có thể có dụng, hoặc có lý có sự, luôn luôn đầy đủ.

 

Cũng vậy, tâm mình đâu có hình tướng gì nhưng gặp duyên thì nó hiện đủ mọi hình tướng. Gặp duyên gì thì nó hiện ra tướng đó. Nó hiện hữu khắp mọi nơi, tùy duyên mà thường hiện hữu chớ không mắc kẹt một bên. Thấy được như vậy mới là thấy được cái ý sâu ở trong nhà thiền.

 

Kết lại thì tùy duyên là gì? Tùy duyên tức là không có chỗ bám, linh động, không dừng không trụ. Tất cả các pháp đều là nhân duyên, không có một pháp thật thì tại sao mình phải bám một chỗ để mà chịu khổ.Cho nên biết tùy duyên là phải quên cái ngã này, còn nhớ cái ngã này là không có tùy duyên. Và tùy duyên có bắt chước được không? Khi bắt chước là hết tùy duyên, bởi vì bắt chước là đã có cái khuôn, có khuôn mới bắt chước, cho nên bắt chước là hết tùy duyên . Ngoài ra điểm quan trọng phải nhớ là, tùy duyên mà còn có ngã là lầm, phải nhớ điểm đó !

 

Đây nhắc câu chuyện này kết thúc bài tùy duyên:

 

Xưa có một vị Thiền sư, Ngài sống ăn uống hỗn tạp, không có chọn lựa gì hết, gặp mặn ăn mặn, gặp chay ăn chay, gặp gì là ăn nấy, gặp rượu cũng uống luôn. Có nhiều đệ tử thấy vậy bắt chước, sống như vậy thoải mái. Một hôm Ngài kêu hết đệ tử đến chỗ người ta thiêu xác người rồi đem đồ ăn bày ra, Ngài lấy những miếng thịt người ta thiêu còn sót lại, chưa cháy hết, trộn vô đồ ăn rồi nói:

 

- Các ngươi lại đây ăn với ta bữa này.

 

Các đệ tử ói mửa chạy hết. Ngài ngồi ăn thản nhiên, sau đó mới bảo rằng:

 

- Các ngươi cùng ăn được với ta cái món này thì mới có thể tiếp tục ăn uống như ta được, còn nếu không được thì thôi từ nay đừng có bắt chước.

 

Chúng sợ hãi không dám bắt chước nữa, lo gìn giữ giới luật đàng hoàng. Bởi vì Ngài đã nhiều năm tu hành thanh tịnh rồi mới được như vậy, còn các đệ tử chưa được vậy thì làm sao mà bắt chước được! Như vậy để thấy rằng, nếu tâm mình còn phân biệt nhơ sạch thì làm sao có thể tùy duyên theo kiểu đó được, còn tâm Ngài sạch hết phân biệt rồi, cho nên ăn tự nhiên thôi.

 

hi tâm mình còn phân biệt nặng nề, còn thích ngon chán dở, còn thích đẹp chán xấu mà bảo là tùy duyên không ngại gì thì coi chừng bệnh hoạn, phải hiểu được cái ý đó. Như vậy một ý nghĩa tùy duyên này mà thấu cho thật suốt có dễ dàng không? - Không dễ dàng, cho nên phải thật sống chớ không phải bắt chước được.

 

Bởi vậy tùy duyên mà còn có cái ta trong đây là còn dính mắc, mà còn dính mắc là không đúng ý nghĩa tùy duyên. Nhiều khi mình mắc kẹt là mắc kẹt cái lý tùy duyên nữa, mình phải sống cho thật chân thật t mới thấy ý nghĩa tùy duyên, chỉ là cái lý thông thường thôi nhưng muốn hiểu cho rốt ráo để sống không phải là đơn giản, làm cả đời không hết, đâu phải nói tới những lý cao tột mây xanh.

 

Để kết thúc lại, tùy duyên là luôn luôn sáng ngời tự tại, không có chỗ nào để bám, đó là tùy duyên. Mong rằng tất cả khéo sống được tùy duyên, đúng ý nghĩa tùy duyên .

 

_______________

Nguồn: thuongchieu.net

KHÁI QUÁT NHỮNG TIỀN ĐỀ TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO VIỆT NAM GIAI ĐOẠN LÝ-TRẦN, TOÀN NHẬT THIỀN SƯ, NGƯỜI MUỐN ĐƯA TINH THẦN PHẬT GIÁO ĐỜI NHÀ TRẦN XUỐNG CHO TRIỀU ĐẠI TÂY SƠN


Nhưng nếu trước khi xuất gia, Toàn Nhật đã từng làm tướng rồi sau đó mới “tuốt dép lánh xa khỏi nơi doanh liễu”. Vậy thì bây giờ ta thử xem Thiền sư Toàn Nhật đã làm tướng cho triều đại nào?

Theo tác giả Toàn Nhật Quang Đài, trong những tác phẩm đã tìm lại được thì chỉ có tác phẩm Xuất gia tối lạc tỉnh thể tu hành vãn là Toàn Nhật có nhắc đến triều đại nhà Nguyễn:

Ấy triều đại cổ kim thật lục
Nối truyền qua bản quốc Nam thiên
Những vì thánh chúa tôi hiền
Tượng kinh tôn trọng chùa chiền nghiêm trang.
Nỗi riêng than có thành có quách
Nếu vui thôi thì ắt thái qua
Mừng nay minh chúa Nguyễn Gia
Trung hưng chánh pháp gần xa tôn sùng. 
Dựng tăng phòng lại trau Phật điện
Tạo trống chuông nổi tiếng vang lừng
Tăng ni thong thả tu thân
Cảnh thiền tiêu sái áng trần phiền lao.

Nhưng thời bấy giờ ở đàng trong có hai chúa Nguyễn, là Nguyễn Gia Long và Nguyễn Tây Sơn, vậy câu: “Mừng nay minh chúa Nguyễn Gia” của Toàn Nhật muốn nói đến Nguyễn Gia Long hay Nguyễn Tây Sơn?

Và đây là lời giải đáp của giáo sư Lê Mạnh Thát, tác giả Toàn Nhật Quang Đài:

“Đương nhiên, nó không thể là nhà Nguyễn của các chúa Nguyễn bởi vì kể từ năm 1771 trở đi, lúc Toàn Nhật mới 14 tuổi, thì toàn bộ dòng họ chúa Nguyễn đã bị đánh bật ra khỏi ngôi vị của mình, để có thể làm chuyện “trung hưng chánh Pháp”. Do vậy, chỉ có thể là nhà Nguyễn Tây Sơn hay nhà Nguyễn Gia Long mà thôi. Đối với nhà Nguyễn Gia Long, tuy Toàn Nhật sống hơn 30 năm còn lại của đời mình dưới sự thống trị của dòng họ này và đã biểu thị một thái độ hết sức đặc biệt. Ông hầu như không thừa nhận sự hiện diện của nhà Nguyễn ấy qua việc ông không bao giờ xử dụng niên hiệu của các vị vua nhà Nguyễn trong các tác phẩm để ghi lại những đơn vị thời gian cần thiết.

Chẳng hạn, trong ba bài bạt ta hiện tìm được viết cho những lần in kinh năm 1819 và 1829, thì một bài bạt không đề ngày tháng gì hết, còn hai bài bạt kia, ta chỉ thấy ghi “tuế thứ Kỷ Mão” và “tuế thứ Kỷ Sửu”. Việc ghi niên đại kiểu này, trong khi đất nước đang có chủ quyền, là một biểu thị khinh nhờn cực kỳ nghiêm trọng đối với nhà đương quyền. Nói trắng ra, Thiền sư Toàn Nhật không thừa nhận nhà Nguyễn Gia Long là chính thống, do thế đã không xử dụng niên hiệu của Gia Long và Minh Mạng ngay cả lúc cần thiết.[1]
 
Trong tác phẩm Lược sử Phật Giáo và các chùa Phú Yên, hai tác giả Nguyễn Đình Chúc và Huệ Nguyễn khi viết về Thiền sư Diệu Nghiêm và chùa Từ Quang cũng xác nhận rằng: “Đệ tử thành đạt của tổ sư có đến 28 vị thành danh, trong đó có Thiền sư Toàn Nhật Quang Đài nguyên là mưu thần của vua Quang Trung về sau xuất gia và làm trụ trì chùa Viên Quang”.[2]

Nhưng tại sao Toàn Nhật đã gặp được “Chúa thánh tôi hiền” để phục vụ lại phải vội vã từ giả khi mới có 30 tuổi đầu? Chắc chắn phải có một biến cố đau lòng nào đó? Tác giả Toàn Nhật Quang Đài cho rằng:

“Lý do cho sự từ quan có thể xuất phát từ cuộc tranh chấp nào đó, mà ngày nay vì thiếu tư liệu, chúng ta không thể nào xác định được một cách rõ ràng. Trong Từ Quang Tự sa môn Pháp chuyên Luật truyền Diệu Nghiêm Thiền sư xuất thế nhân do sự tích, dù được viết vào năm Gia Long thứ 3 (1805) nhà Tây Sơn xung đột với nhaubằng từ ngữ “thủ túc tương tranh”. Ta biết việc kéo quân vào Quy Nhơn vây Nguyễn Nhạc xảy ra vào khoảngtháng 9 năm 1786 sau khi đã rút quân khỏi Thăng Long vào tháng 7 năm Bính Ngọ (1786), và Nguyễn Nhạc đã than khóc với Nguyễn Huệ về việc nồi da xáo thịt. Như vậy khi Toàn Nhật nói mình xuất gia vào năm 30 tuổi, và ông lại sinh vào năm Đinh Sửu (1757), thì năm Bính Ngọ ông đúng 30 tuổi theo cách tính của người Việt Nam. Việc rũ áo từ quan đi xuất gia của Toàn Nhật do thế phải chăng đã liên hệ với sự kiện anh em Tây Sơn xung độtvừa nói?[3]

Trong suốt 2 tác phẩm Tham thiền vãn và Thiền cơ yếu ngữ vãn, ta nghe thấy một nỗi buồn nào đó với con đường lợi danh mà Toàn Nhật vừa rũ bỏ để ra đi.

Quyết một bề trèo non đào giếng
Kẻo lời phàm đeo tiếng thị phi
(Tham thiền vãn)

Không phải chỉ buồn thôi mà còn có một cái gì đó vừa chua chát vừa đắng cay:
 
Danh lợi đã đề nên tiếng sĩ
Đâu ở mình xử kỷ chẳng toan
Súng kia nhắm dạng dè làn
Thiên cơ dễ biết ngộ duyên quân thần
Đã cầm cân non già từng nhắc
Dai hay sao tráo trác đấu đong
(Tham Thiền vãn)

Nhưng không sao, vì Toàn Nhật có đủ nghị lực cũng như ý chí để vượt qua những phong ba bão táp của cuộc đời, vì ông đã tự nhắc nhở cho chính mình:

Miễn là neo nọc cho bền
Gió lồng mặc gió, vững thuyền thì thôi
(Tham Thiền vãn)

hoặc là:

Lời thị phi khen chê mặc thế
Hơi nào mà cấm chợ ngăn sông?
 
Và nếu Toàn Nhật đã từng theo Chúa Nguyễn Tây Sơn, thì nhất định triều đại Tậy Sơn phải là một triều đại tôn sùng Phật giáo như Thiền sư Toàn Nhật đã hết lòng ca ngợi:
 
Mừng nay minh chúa Nguyễn Gia
Trung hưng chánh Pháp gần xa tôn sùng
Dựng tăng phòng lại trau Phật điện
Tạo trống chuông nổi tiếng vang lừng
Tăng ni thong thả tu thân
Cảnh thiền tiêu sái áng trần phiền lao

Tác giả Lê Mạnh Thát đã khẳng định như thế này: “Lịch sử và dã sử cũng như truyền thuyết đều xác nhận nhà nước Tây Sơn dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Huệ, đã có những chính sách cải cách Phật giáo thực to lớn. Điều này cũng không có gì lạ khi ta nhớ rằng trong ba anh em nhà Nguyễn Tây Sơn, có người đã ở Chùa làm sư rồi sau đó mới ra làm tướng, làm vua.

Có thuyết nói rằng người đã từng làm sư ấy là Nguyễn Lữ, nhưng thuyết đáng tin cậy hơn lại nói người đó chính là Nguyễn Huệ. Ngày nay, tại Chùa Trúc Lâm ở Huế còn giữ một tấm gấm thêu Kinh Kim Cang bằng chỉ đỏ do Ngọc Hân Công chúa thực hiện vào năm Cảnh Thịnh thứ 2. Và văn tế vua Quang Trung do Ngọc Hân viết cũng nói đến cái chết của vua Quang Trung như “miền cực lạc xe mây vùn vụt”. Vua Quang Trung phải là người như thế nào về phương diện tôn giáo, thì Công chúa Ngọc Hân mới nới tới miền cực lạcCũng thếthái độ tôn giáo của triều đình Tây Sơn Quang Trung như thế nào, thì Ngọc Hân mới thêu kinh Kim Canh Bát Nhã lên gấm”.[4]

Nguyễn Xuân Nhân, trong tác phẩm Văn học dân gian Tây Sơn cũng xác nhận như thế này đối với thông tin trên:

“Trước khi dấy nghĩa, Nguyễn Lữ cùng theo hai anh học văn học võ với thầy giáo Hiến. Sau đó có một thời gianxuất gia nên ông còn được gọi là thầy Tư Lữ. Mấy năm làm nhà sư, ông có dịp trao đổi võ thuật với các nhà sưTrung Quốc vốn là những người mang tư tưởng “Phục Minh Kháng Thanh” trú ngụ ở An Thái (Bình Định). Ông muốn cho bộ môn võ thuật nước nhà thích hợp với thể chất của người mình nên cùng các chiến hữu tìm hiểukỹ các thế đánh của đôi gà chọi nhau, rồi sáng tạo nên nhiều thế đánh mới hợp thành một thể thống nhất gọi là Hùng Kê Quyền”.[5]

Nếu những điều trên có thể làm cho ta bán tín bán nghi vì nửa là lịch sử và nửa là dã sử thì những bằng chứng sau đây cũng của tác giả Toàn Nhật Quang Đài chắc chắn là sự khẳng định rõ ràng của lịch sử:

“Không những thế, triều đình nhà Tây Sơn, cụ thể là triều đình vua Quang Trung, gồm những người cốt cán lại là những Phật tử. Ta có Hải Lượng đại Thiền sư, tức Binh Bộ Thượng Thư Ngô Thời Nhiệm (1746-1803) cùng những người trong Trúc Lâm Thiền viện của ông như Hương Lĩnh Bá Nguyễn Đăng Sở, Phan Huy Ích, Vũ Trinh… Ngoài ra vị quân sư của Nguyễn Huệ là Trần Văn Kỷ, lại có con đi xuất gia có hiệu là Đạo Minh Trung Hậu hòa thượng. Triều đình nhà Tây Sơn do thế là một triều đình Phật giáo”.[6]

“Ngoài ra, từ Quang tự sa môn Pháp chuyên Luật truyền Diệu Nghiêm thiền sư xuất thế nhân do tích chí có cho ta biết về việc thầy của Toàn Nhật là Thiền sư Pháp chuyên luật truyền Diệu Nghiêm đã được vua quan nhà Tây Sơn ủng hộ. Chẳng hạn, vào năm Bính Thìn (1796) tại tỉnh Phú Yên, Pháp chuyên đã tổ chức một giới đànđể thọ giới cho hơn 200 tăng ni, thì đã được chủ trấn là Đoàn Luyện quận công của nhà Tây Sơn ủng hộ.

Rồi đến năm Mậu Ngọ (1798) Thiền sư Diệu Nghiêm lại được Hoàng Thái hậu nhà Tây Sơn mời ra Huế để chứng minh việc đúc Đại Hồng Chung và được ban cà sa màu tím. Ta biết những năm 1796 cho đến 1798, quân Nguyễn Ánh chưa lấy được Phú Yên và Thuận Hóa”.[7]

Và như vậy, tác giả Toàn Nhật Quy đài kết luận:

“Trên cơ sở những phân tích vừa thấy “minh chúa Nguyễn Gia”, tất không thể ai hơn là vua Quang Trung. Từ đó, nếu trước khi xuất gia, Toàn Nhật đã làm quan và làm tướng thì ông đã làm quan làm tướng với nhà Tây Sơn”.[8]

Bởi vậy nên mặc dù đã rời bỏ hàng ngũ của phong trào Tây Sơn để đi xuất gia, nhưng Toàn Nhật vẫn tích cựchỗ trợ cuộc cách mạng của Tây Sơn. Chính vì sự hỗ trợ này nên khi nhà Tây Sơn sụp đỗ và Nguyễn Gia Long chiếm được chính quyền thì Toàn Nhật lại phải sống lao đao cùng với vận nước nổi trôi, như chính Toàn Nhật đã ghi lại trong một bài phú:

Ở không nơi; về không chốn
Than rằng biển khổ rất mênh mông
Lênh đênh chẳng khác thuyền trôi
Biết đâu dừng đỗ. 
Lãng đãng cũng như bèo nổi
Theo đó hợp tan
Công đã đi tu
Phận muối dưa lại không an phận. 
Lòng toan học đạo,
Thân bả bô chẳng đặng dung thân
Ở không nơi, phải tạm ở đình
Đình vốn rộng trống sau trống trước. 
Quán cũng lạ không vào ngụ quán
Quán tuy nhiều, khó mượn khó toan
Đặng gặp nơi nào
Cũng nhờ chốn ấy.
(Thơ Bà Vãi)

Nhưng tại sao một người như Toàn Nhật lại hết lòng ủng hộ cuộc khởi nghĩa của Tây Sơn? Vì Tây Sơn đã đánh đuổi chúa Nguyễn ở Đàng trong, đã xóa tên hai tập đoàn phong kiến là chúa Trịnh và vua Lê ở Đàng ngoài, đặc biệt là đã oanh liệt đánh tan tành hai cuộc xâm lăng của nhà Thanh ở phương Bắc và Xiêm la ở phương Nam chăng?
 
Nếu chỉ hùng mạnh về quân sự không thì chưa đủ để thuyết phục một nhà trí thức lỗi lạc như Toàn Nhật, để Toàn Nhật có thể ủng hộ cuộc khởi nghĩa của Tây Sơn. Vì sao? Vì lý do đơn giản là xưa nay lịch sử đã từng chứng minh rằng, một chế độ chỉ biết đề cao võ trị thì chế độ đó luôn luôn chuyên quyền và độc đoán và nạn nhân thê thảm cho sự chuyên quyền và độc đoán này chính là người dân vô tội chứ không ai khác.

Vậy chắc chắn triều đại Tây Sơn ngoài sức mạnh về quân sự ra thì phải còn có những chính sách nào đó rất phù hợp với lòng dân nên một trí thức như Toàn Nhật mới ủng hộ một cách tích cực như vậy chăng?

Cố học giả Trần Trọng Kim, đã nhận định về con người của Quang Trung Nguyễn Huệ như thế này:

“Vua Quang Trung nhà Nguyễn Tây Sơn là ông vua anh dũng, lấy võ lược mà dựng nghiệp, nhưng ngài có độ lượng, rất am hiểu việc trị nước, biết trọng những người hiền tài văn học. Khi ngài ra lấy Bắc Hà, những người như Ngô Thời Nhiệm, Phan Huy Ích, đều được trọng dụng và nhất là đối với một người xử sĩ như Nguyễn Thiếp thì thật là khác thường.

Nguyễn Thiếp, tức là Khải Chuyên hiệu là Nguyệt Úc, biệt hiệu là Hạnh Am. Ông làm nhà ở Lục Niên thành, thuộc huyện La Sơn, Hà Tĩnh bây giờ, cho nên người ta gọi là Lục Niên tiên sinh hay là La Sơn Phu tử.

Vua Quang Trung từ khi đem quân ra đánh Bắc Hà, biết tiếng Nguyễn Thiếp, đã mấy lần cho người đem lễ vậtmời ông ra giúp, ông không nhận lễ và cũng từ chối không ra. Đến khi Ngài đăng cực, lại mấy lần cho người đến mời ông, ông có đến bái yết và khuyên vua nên lấy nhân nghĩa mà trị dân trị nước, rồi lại xin về. Vua Quang Trung tuy không dùng được ông, nhưng bao giờ cũng tôn kính ông như bậc thầy, và việc chính trị trong nước thường theo ý mà Nguyễn Thiếp đã trình bày”.[9]

Đó là chính sách của nhà nước Tây Sơn đối với giới trí thức, còn đối với người dân thì sao? Người dân nước ta ở nửa cuối thế kỷ 18 thì hầu hết đều sống bằng nghề nông, lao động suốt ngày nhưng vẫn nghèo khổ. Vậy chính sách của nhà nước Tây Sơn đối với những người nghèo khổ này thì sao? Những người Tây phương có mặt từ những ngày đầu của cuộc khởi nghĩa Tây Sơn nói rằng, khẩu hiệu của nghĩa quân là “hãy tước đoạt của ngưởi giàu chia cho người nghèo”.

 “Bọn Nguyễn Nhạc muốn đem ánh sáng công lý soi tới chúng dân và giải thoát khỏi gông cùm của nhà vua, các quan và các cố vấn. Bọn chúng tuyên truyền tính bình đẳng trong mọi địa hạt. Trung thành với thuyết tân xã hội, bọn Nguyễn Nhạc tước đoạt tài sản của các quan thống trị giàu có và đem chia cho dân cùng đinh khố rách”[10].
 
Như vậy, chắc chắn những tác phẩm của Toàn Nhật, đặc biệt là Hứa sử truyện vãn đã được Toàn Nhật viết ra để hỗ trợ cho cuộc khởi nghĩa do chính những người từ giới nông dân nghèo khổ ấy cầm đầu. Bởi thế, theo tác giả Toàn Nhật Quang Đài thì: “Thể hiện rõ nét bản lĩnh tư duy của nhân dân ta trước những vấn đề trọng đạicủa đất nước. Chúng không phải là những luận đề cũ rích vay mượn từ những sách vở Trung Quốc, không có một liên quan thiết yếu đến đời sống dân tộc.

Trái lại, chúng là những vấn đề nóng bỏng của thời đại tác giả sống, đòi hỏi phải có những giải đáp thích đáng. Cho nên, chúng không cần phải bao bọc trong những câu thơ óng chuốt, trưởng giả, đầy những điển cố chữ nghĩasự tích xuất phát từ dòng văn hoá bác học và ít nhiều mang tính ngoại lai.

Thay vào đó, chúng được trình bày một cách thẳng thắn, cố nhiên là dưới hình thức truyện vãn, qua những lời thơ bình dịtrong sáng đến nỗi giống như lời nói hằng ngày của nhân dân. Do thế, trên toàn bộHứa sử truyện vãn đã thể hiện sức sống dạt dào đang cuồn cuộn dâng lên của dân tộc ta trong thời kỳ nổ ra cuộc cách mạngTây Sơn do nhà anh hùng áo vải Nguyễn Huệ lãnh đạo lần đầu tiên đánh thắng hai thế lực quân chủ lực kỳ phản động trong nước và thế lực xâm lược ngoại bang”.[11]

Nhưng với Toàn Nhật, một người được nuôi dưỡng từ truyền thống tư tưởng của Phật giáo, thì chỉ công bằngtrên bình diện xã hội không chưa đủ mà còn phải bình đẳng và công bằng ngay cả trên phương diện nhân phẩm của mỗi cá nhân con người nữa. Như vấn đề gọi là chính thống và ngụy triều sau đây chẳng hạn:

“Những người làm quốc sư nước Tàu và nước ta thường chia những nhà làm vua ra chính thống và ngụy triều. Nhà nào, một là đánh giặc mở nước, sáng tạo ra cơ nghiệp, hai là được kế truyền phân minh, thần dân đều phục, ba là dẹp loạn yên dân, dựng nghiệp ở đất Trung Nguyên, thì cho là chính thống. Nhà nào, một là làm tôi cướp ngôi vua, là sự thoán đạt không thành, hai là xưng đế, xưng vương ở chỗ rừng núi, hay là ở đất biên địa, ba là những người ngoại chủng vào chiến nước làm vua thì cũng cho là ngụy triều”.[12]
 
Như vậy, nhà Tây Sơn được xem là kẻ ở rừng núi, ở biên địa, là ngoại chủng vào cướp nước làm vua nên sử nhà Nguyễn đã gọi là Ngụy Tây Sơn.

Thế nào là chính thống và thế nào là ngụy triều? Và ai là kẻ có thẩm quyền đứng ra để bảo rằng triều đại này là chính thống và triều đại kia là ngụy triều là không chính thống? Và có cái gì để bảo chứng rằng những người được sinh ra từ giới thống trị, sanh ra ở vùng trung nguyên là hơn kẻ sanh ra ở vùng biên địa hay thôn dã quê mùa?

“Sự sanh trưởng không làm cho con người được liệt vào giai cấp Bà la môn hay bị loại ra khỏi giai cấp này.      

Chính nếp sống hàng ngày tạo ra người nông dânthương gia hay nô bộc.

Nếp sống hàng ngày tạo ra hạng trộm cắp, binh sĩ, tu sĩ hay vua chúa.

Và thông điệp này cứ được nhắc đi nhắc lại mãi trong giáo Pháp của Đức Phật:

“Là cung đình không phải do sanh trưởng là Bà la môn không phải do sanh trưởng do hành động, người này là cung đình do hành động người này là Bà la môn (Sutta Nipàta –Vasalasutta).

Từ lời khẳng định này của Phật giáo ta mới thấy rằng cái gọi là chính thống cũng như không chính thống, gọi là ngụy triều hay chính triều chỉ là trò bày đặt của giai cấp thống trị mà thôi chứ chẳng có bất cứ một giá trị đích thực nào cả.

Vậy bây giờ ta thử xem Thiền sư Toàn Nhật đã phải làm gì để đập tan cái lý luận bất công này mà hỗ trợ cho cuộc cách mạng Tây Sơn? Những người được sanh ra từ nơi thôn dã quê mùa?

Tác giả Lê Mạnh Thát viết: “Thế thì Hứa sử truyện vãn có thể được Toàn Nhật “san bổ” trước những năm 1798. Phải chăng nó ra đời nhằm đáp ứng những yêu cầu lý luận chính trị phục vụ cho sự nghiệp xưng đế và chống ngoại xâm của Quang Trung?

Với lý thuyết chống tôn quân, phải chăng nó đã gián tiếp biện minh cho việc Quang Trung xưng đế không thừa nhận quyền uy chính thống của Vua Lê? Thậm chí, nếu “Vãn Hứa sử”, tiền thân của Hứa sử truyện vãn lưu hành trước Toàn Nhật đã có nội dung chống tôn quân khi Hứa sử truyện vãn, thế phải chăng tiền thân ấy đã cung ứng phần nào lý luận cho việc lên ngôi của Nguyễn Nhạc, chứ không phải chỉ đợi đến Quang Trung?”

Cũng theo giáo sư Lê Mạnh Thát thì Hứa sử truyện vãn, ngoài những vấn đề về tư tưởng Phật giáo ra, thì nổi bật nhất có ba chủ đề chính, nhưng giáo sư cho rằng luận đề thứ nhất mới là luận đề quan trọng nhất vì nó đã “tiến công đập tan chủ nghĩa tôn quân chuyên chế và cực đoan, phá vỡ cái trật tự phong kiến quân – sư – phụ hàng ngàn năm đè nặng lên đầu lên cổ nhân dân. Đó là thầy quan trọng hơn cả vua và cha mẹ. Dưới hình thứclời phán của Diêm vươngHứa sử truyện vãn đã nêu câu hỏi:

Tội ai bằng Hoàng Tử Anh
Giết cha rồi lại tung hoành hung hăng
Xét mình nghịch ác chẳng an
Quy y niệm Phật ba đàng thoát qua. 
Xà vương giết hại vua cha
Quy y niệm Phật đặng tha tội đày
Có một sự tội phụ thầy
Phật không cứu đặng, ta rầy khó bênh
 
Hứa sử đứng lên xin hỏi:
 
Thế thì thực sự thầy quan trọng hơn vua và cha mẹ sao?
 
Và như quân phụ sư ân
Trong đời đạo thiệt bằng cân cao dày
Làm tôi buông thói thẳng ngay
Làm con không thảo giết đày vua cha
Lẽ thời tội ấy không tha. 
Quy y sao lại thoát ra tội dày
Đệ tử nếu phụ ân thầy
Phật không cứu đặng, lịnh này chẳng tha
Vậy thời thầy hơn vua cha
Tôi nghe lẽ ấy lòng mà chưa thông.

Để trả lời câu hỏi của Hứa sử, một lần nữa dưới hình thức lời phán của Diêm vươngHứa sử truyện vãn đã đưa ra lý lẽ sau:

Trong đời muôn việc không thầy
Thế gian thường nói đố mày làm nên
Tớ đương nghĩa trả ơn đền
Nếu mà phụ bạc tội dường hằng sa
Tớ thầy, tôi chúa, con cha
Trong đời ba ấy rất là trọng thay
Sanh con bằng chẳng có thầy
Lấy ai giáo hóa cho rầy nên thân
Chẳng noi đạo đức nghĩa nhân
Làm đường nghịch ác vong thân làm gì
Ví như tẩu nhục hành thi
Làm chi nên chuyện kể thì là con
Cho hay khắc chấn gia môn
Chói danh hai họ tiếng đồn muôn thu
Cũng là tiết nghĩa phò vua
Trạc dân trí chúa cơ đồ đặng yên
Vua cùng cha mẹ rõ ràng
Các điều thành tựu nhờ ơn có thầy.

Rõ ràng xuất phát từ quan điểm dân chủ tự phát của nhân dân, Toàn Nhật đã tiếp thu những yếu tố dân chủ tự phát đó và triển khai chúng thành một lý tưởng dân chủ có cơ sở lý luận, tiến công trực diện vào lập trường tôn quân chuyên chế và cực đoan do các thế lực phong kiến suy tàn cố dựng lên.

Có thể nói, đây là lần đầu tiên và có lẽ duy nhất trong lịch sử chế độ phong kiến nước ta, một tác phẩm văn họcdám nêu lên một lý thuyết dân chủ, dám thẳng thừng tuyên bố không úp mở: “Vậy thời thầy hơn vua, cha”. Vua là thiên tử, là con trời: “Khắp dưới gầm trời, không đâu không là đất của vua, dân ở khắp đất không ai không là bề tôi của vua”Tuyên ngôn phong kiến đã dõng dạc xác định quyền uy tối thượng và bất khả xâm phạm của thiên tử là thế, của vua là thế.

Cho nên, nói rằng có một lớp người nào đó hơn cả vua nữa là phạm thượng, là xúc phạm đến chính cốt lõi, đến chính điểm huyệt sống chết của vấn đềcần phải loại trừ không chút khoan nhượng, Toàn Nhật đã mạnh mẽ lên tiếng minh định cái trật tự phong kiến quân – sư – phụ bất di bất dịch có thể bị đả đảo, để sư quan trọng, thiết yếu hơn quân và phụ, bởi vì:

Trong đời muôn việc không thầy
Thế gian thường nói đố mày làm nên.

Và tiếng nói đả đảo đó không phải xuất phát từ những truyền thống tư tưởng ngoại lai, từ lý thuyết Khổng Mạnh. Trái lại, nó nổi lên từ kho tàng trí tuệ tích luỹ những kinh nghiệm và nhận thức của dân tộc và nhân dân.

Trên cơ sở nhận thức “Không thầy đố mày làm nên”, với nội dung tất yếu giới hạn của nó, Toàn Nhật đã phát triển thành một luận đề bẽ gãy cái trật tự quân – sư – phụ, để đẩy lùi cái bóng ma gian ác của trật tự ấy, mà vào thời Toàn Nhật đã trở thành rữa nát và cực kỳ phản động, đang cản trỡ bước tiến của dân tộc, phủ lên cuộc sống của nhân dân một màn đau thương thống khổ.

Hãy tưởng tượng lại cái thời kỳ mà vua chúa còn hoàn toàn nắm trong tay quyền sinh sát đối với mọi ngườidân, và khi mọi người mặc nhiên nhìn nhận sự kiện ấy như một tất yếu không phải bàn cãi, ta mới thấy hết tính vĩ đại hùng tráng của một tiếng nói Toàn Nhật.

Cũng hãy tưởng tượng lại cái thời kỳ khi ý thức hệ và nền giáo dục chính thống chỉ tập trung nhồi sọ cho người ta cái chủ thuyết tôn quân cực đoan, ta mới thấy hết bản lĩnh dám nghĩ dám làm của dân tộc ta, thể hiện qua những con người như Toàn Nhật. Mà Toàn Nhật có được cái tầm vóc tư tưởng vĩ đại ấy, có được cái bản lĩnh dám nghĩ dám làm ấy, đó là ông đã biết bám vào nhân dân, lấy cuộc sống, kinh nghiệmnhận thức và tình cảm của dân tộc, của nhân dân là chủ để thể hiện của mình, mà giải quyết những vấn đề do thời đại đặt ra.

Ông đã tập tan cái trật tự phong kiến quân – sư – phụ hàng ngàn năm đè nặng lên ý thức của nhân dân, không bằng những viện dẫn từ sách vở ngoại laitrái lại bằng chính những tri thứckinh nghiệm và tình cảm của dân tộc, của nhân dân kết tinh trong những câu ca dao tục ngữDựa vào và khai thác một cách có chọn lọc kho tàng quý giá vô tận ấy, Toàn Nhật đã làm nổi bật thêm cái chân lý sáng ngời là đứng trong hàng ngũ nhân dân, người ta càng trở nên to lớn theo kích thước vĩ đại của nhân dân trong lịch sử, càng trở nên tin tường vào trí tuệ tuyệt vời, vào tình cảm trong sáng và vào sức mạnh vô địch của họ”.

(…) Do thế, tư tưởng dân chủ của Toàn Nhật là một điểm son trong lịch sử tư tưởng Việt Nam. Lần đầu tiên nhân dân ta dám công khai nghĩ tới và tuyên bố rằng vua không phải là vị tối thượng của nước, có quyền uytuyệt đối với mọi người.[13]

Nếu đã gần hai thế kỷ qua, những người làm công tác nghiên cứu văn học ở nước ta đã “không một lần tên Toàn Nhật được nhắc tới, không bất kỳ một dòng nào dành cho tác phẩm của ông” thì những lời đánh giá trên của giáo sư Lê Mạnh Thát theo tôi, là đã đủ để chuộc lại phần nào lỗi lầm của chúng ta, những thế hệ sau đối với Toàn Nhật vậy.

Nhưng nếu quả đúng là Toàn Nhật viết Hứa sử truyện vãn là để “nhằm đáp ứng những yêu cầu lý luận chính trị phục vụ cho sự nghiệp xưng đế và chống ngoại xâm của Quang  Trung? Với lý thuyết chống tôn quân, phải chăng nó đã gián tiếp biện minh cho việc Quang Trung xưng đế và không cần thừa nhận quyền uy của vua Lê” như sự nhận định của tác giả Toàn Nhật Quang Đài thì theo tôi không chỉ những người Phật tử Việt Nam hiện tại mà cả mai sau nữa, phải học lấy bài học mà Toàn Nhật, với tư cách là một thiền sư đã ủng hộ cuộc cách mạng Tây Sơn như thế nào? Nghĩa là Toàn Nhật không hề xưng tụng hay tôn sùng cá nhân của Thái Đức Nguyễn Nhạc hay Quang Trung Nguyễn Huệ mà Toàn Nhật chỉ ủng hộ chính sách đúng đắn  có lợi cho dân cho nước mà cuộc cách mạng Tây Sơn đã đề ra mà thôi.

Khi một cá nhân hay một tổ chức chính trị nào đó đề ra được một chính sách phù hợp với lòng dân thì nhất địnhcá nhân ấy, tổ chức ấy đương nhiên xứng đáng đứng ra đại diện cho đất nước chứ không nhất định là họ đã được sanh ra từ giai cấp nào, họ đang ở trung nguyên hay nơi quê mùa thôn dã.

Trong bối cảnh chính trị và xã hội vào thời của Toàn Nhật ở nửa cuối thế kỷ 18 thì người đó nhất định không phải là Lê Chiêu Thống, mặc dù ông này được xem là “chính thống” theo quan điểm của cái gọi là “quốc sử” của mốt số nhà sử học nước ta cũng như của Trung Quốc, mà người có đủ điều kiện đứng ra đại diện cho đất nước lúc đó đương nhiên là Quang Trung Nguyễn Huệ, dù Nguyễn Huệ không phải “chính thống” cũng như không sanh ra ở Trung nguyên mà lại sanh ra tại một nơi xa xôi hẻo lánh ở tận nơi núi rừng Tây Sơn.

Nhưng con người được sinh ra tại nơi quê mùa ấy lại được một sử gia viết là: “… còn như Nguyễn Huệ là vua Thấi tổ của nhà Nguyễn Tây Sơn, thì trước giúp anh bốn lần vào đánh đất Gia Định đều được toàn thắng, phá hai vạn quân hùm beo của Xiêm La, chỉ còn được mấy trăm người lủi thủi chạy về nước; sau lại ra Bắc Hà, dứt họ Trịnh, tôn vua Lê, đem lại mối cương thường cho rõ ràng. Ấy là có đủ sức mạnh mà lại biết làm việc nghĩa.

Nhưng vì nhà Lê nhu nhược, triều thần lúc bấy giờ không ai có tài kinh luân, lại để cho Trịnh Bồng và Nguyễn Hữu Chỉnh nối nhau mà chuyên quyền cho đến nỗi thành ra tán loạn. Dẫu thế măc lòng, khi Nguyễn Huệ giết Vũ Văn Nhậm rồi, không nỡ dứt nhà Lê, đặt giám quốc để giữ tông miếu tiền triều; như thế thì cách ở với nhà Lê không lấy gì làm bạc.

Sau vua Lê Chiêu Thống và Hoàng Thái Hậu đi sang kêu cứu bên Tàu, vua nhà Thanh nhân dịp ấy mượng tiếng cứu nhà Lê, để lấy nước Nam, bèn sai binh tướng sang giữ thành Thăng Long. Bấy giờ cứ theo mật dụ của vua nhà Thanh, thì nước Nam ta, bề ngoài tuy chưa mất hẳn, nhưng kỳ thật đã vào tay người Tàu rồi.

Vậy nước mất, thì phải lấy nước lại, ông Nguyễn Huệ mới lên ngôi Hoàng đế, truyền hịch đi các nơi, đường đường chính chính đem quân ra đánh một trận phá 20 vạn quân Tàu, tướng nhà Thanh là Tôn Sĩ Nghị phải bỏ cá ấn tín mà chạy, làm cho vua tôi nước Tàu khiếp sợ, tướng nhà Thanh phải thất đảm. Tưởng từ xưa đến naynước ta chưa có võ công nào lẫm liệt như vậy.

Và đánh đuổi người Tàu đi rồi lấy nước lại mà làm vua thì có điều gì mà trái đạo? Vậy lẽ gì mà gọi là nguỵ triều?”[14]

Nhưng Toàn Nhật biết rằng triều đại nào rồi cũng sẽ qua đi, kể cả những triều đại được ca tụng nhất trong lịch sử của loài người xua nay:

Lợi danh tợ bọt nước xao
Hán Đường Triệu Tống thì nào thấy đâu?
(Xuất gia vãn)

Triều đại Tây Sơn dù được ca ngợi là “Bách chiến bách thắng” là “vô địch” thì cũng chỉ tồn không đầy nữa thế kỷ, nghĩa là không triều đại nào là “muôn năm” hết.

Bởi vậy, là một tư tưởng gia của Phật giáo, nên Toàn Nhật ý thức được rằng con đường đi của Phật giáo là: “Phật giáo Việt Nam không gắn bó tuyệt đối với triều đại nào, dù triều đại đó do Phật giáo dựng lên hay lãnh đạoPhật giáo chỉ gắn bó và trung thành với quyền lợi dân tộc, quyền lợi của dân chúng mà thôi”.[15]

Chính đó là lý do vì sao Toàn Nhật ủng hộ cho cuộc cách mạng Tây Sơn mà không hề ca tụng bất cứ một cá nhân nào trong phong trào ấy, dù đó là cá nhân của Nguyễn Nhạc hay Nguyễn Huệ.

Dù không trực tiếp nhắc gì đến cuộc cách mạng Pháp 1789, nhưng khi đề cập đến tiểu luận Sa di oai nghi tăng chú giảo ngụy tự tiểu thiên của Toàn Nhật, Lê Mạnh Thát có viết rằng:

“Phải chăng nó đáp ứng lại xu thế chung của lịch sử thế giới thời bây giờ, thể hiện một xu thế đi tìm ánh sáng, đi tìm chân lýdựa trên khả năng hiểu biết và tìm kiếm của con người, chứ không còn tin tưởng một cách mù quáng vào những gì do truyền thống hay những quyền uy khác truyền lại”.[16]

Từ những nhận định trên của tác giả Toàn Nhật Quang Đài, ta thử làm một chút so sánh thì sẽ thấy có một sự trùng hợp lạ lùng giữa cuộc cách mạng Pháp 1789 và tình hình chính trị cũng như xã hội ở nước ta vào nửa cuối thế kỷ 18.

Nếu các vua Louis 14 và 15 đã giam hãm xã hội Pháp trong 4 vách tường đến vua Louis 16 thì người dân của nước Pháp không thể nào chịu đựng sự giam hãm và kiềm kẹp này được nữa, nên vào ngày 14 tháng 7 năm 1789 đã đồng loạt kéo đến đập phá tan tành nhà ngục Bastille, nhà ngục này trong nhiều thế kỷ đã là nơi giam giữ những người yêu nước dám lên tiếng chống đối chế độ, và là tiêu biểu cho chính sách chuyên chế và hà khắc của chế độ phong kiến Pháp.

Cũng xấp xỉ vào khoảng thời gian đó, Lê Mạnh Thát viết:

“… Nước ta vào thời Toàn Nhật cũng đang đứng trước một tình thế hết sức hiểm nguy. Bên trong thì các thế lực phong kiến phản động đang suy tàn cấu xé tiêu diệt lẫn nhau một cách tàn nhẫn trên thống khổ tuyệt vọng của nhân dân. Bên ngoài thì các thế lực ngoại bang đang lăm le và thực sư lợi dụng tình hình đó của dân tộc để thực hiện những mưu đồ xâm lược nham hiểm của chúng. Chính trong tình thế đó của đất nước, mà hàng ngày đã xảy ra những cảnh:

Non chen ngù  giáo đỏ cây
Mác hoa đường tuyết, tên bay mát trời
Thảm thương chật đất phơi thây
Đỏ hoe máu rắc đòi nơi dầm dề.
(…) 
Chúng dân lìa bỏ xóm giềng
Chằm non trốn núp của tiền đoái chi
Mắc cơn lửa dữ một kỳ
Đá kia ngọc nọ đều thì cháy leo
(Hứa sử truyện vãn)

Xảy ra nhan nhản khắp nơi. Nếu không có một cuộc khởi nghĩa nông dân vĩ đại dưới sự lãnh đạo thiên tài của Nguyễn Huệ bùng nổ, thì đất nước tưởng chừng như không còn có cơ sống sót. Nhưng làm sao một sự việc như thế có thể quan niệm được, khi mà những người như Toàn Nhật xuất thân từ nhân dân đã nêu cao ngọn cờ chủ nghĩa nhân đạo chiến đấu, đã nêu cao lý tưởng đạo đức lao động, kiên quyết đứng về phía những người bị áp bức, nói lên tâm tình và nguyện vọng giải phóng của họ. Do thế, sẽ không có gì đáng ngạc nhiênkhi cuộc khởi nghĩa Tây Sơn sau khi giành chính quyền trong cả nước về tay nông dân, đã cùng một lúc đánh bại được hai thế lực phong kiến phản động trong nước và phong kiến ngoại bang xâm lược, tạo nên một khí thế hào hùng, đưa dân tộc lên một đỉnh cao của thời đại mới”.[17]

Nhưng đằng sau bất cứ một cuộc cách mạng nào cũng đều được dưỡng bồi bởi một sức mạnh tư tưởng trầm lặng nào đó. Nếu đỉnh cao của cuộc cách mạng Pháp là việc nhân dân nổi dậy phá ngục Bastille vào năm 1789 thì trước đó người dân cũng đã thấm nhuần những tư tưởng về tự do, về dân chủ và nhân quyền của các tư tưởng gia  như Voltare, Rousseau, Montesquieu…Cùng thế, đỉnh cao của cuộc cách mạng Tây Sơn là cuộc đánh bại đoàn quân xâm lược khổng lồ của phong kiến phương Bắc cũng vào năm 1789 cũng không ra ngoài thông lệ đó, nghĩa là cũng được nuôi dưỡng bởi một sức mạnh tư tưởng trầm lặng từ truyền thống của dân tộc Việt:

“Trong vòng hơn 300 năm trở lại đây, Cư Trần lạc đạo Phú và Đắc thú lâm truyền thành đạo ca đã được in lại nhiều lần. Điều này chứng tỏ tư tưởng Cư Trần lạc đạo vẫn tiếp tục được học tập và truyền bá dù Phật giáocũng như đất nước đang chuyển mình qua một giai đoạn mới. Giá trị lý luận của Cư Trần lạc đạo từ đó vẫn còn có sức hấp dẫn mạnh mẽ, đặc biệt là vào cuối thế kỷ 18 với những chiến công Ngọc Hồi, Đống Đa oanh liệt của quân và dân Tây Sơn. Trong đó nổi bật những khuôn mặt Phật tử nhận mình là người kế thừa truyền thốngTrúc Lâm như binh bộ Thượng thư Tỉnh Phái Hầu Ngô Thời Nhiệm là Hải Lượng Thiền sư, Hương Lĩnh Bá tiến sĩ Nguyễn Đăng Sĩ là Thiền sư Hải Âu…”[18].

Lời dặn dò sau đây của Quang Trung Nguyễn Huệ với Ngô Thời Nhiệm dưới chân núi Tam Điệp càng chứng tỏsự nhận định trên của giáo sư Lê Mạnh Thát là hoàn toàn có cơ sở:

“Vua Quang Trung cuời mà nói rằng: “Chúng nó sang phen này là mua cái chết đó thôi. Ta ra Bắc chuyến này đích thân coi việc quân đánh giữ, đã định mẹo rồi, đuổi quân Tàu về chẳng qua 10 ngày là xong việc. Nhưng chỉ nghĩ chúng là nước lớn gấp 10 lần nước ta, sau khi chúng thua một trận rồi, tất chúng lấy làm xấu hổ, lại mưu báo thù, như thế thì chỉ đánh nhau mãi không thôi, dân ta hại nhiều, ta sao nỡ làm thế. Vậy đánh xong trận này, ta phải nhờ Ngô Thời Nhiệm dùng lời nói cho khéo để đình chỉ việc chiến tranh, Đợi mười năm nữa, nước ta dưỡng được sức phú cường rồi, thì ta không cần phải sợ chúng nữa”.[19]

Và ta vẫn còn nhớ là ngày 28 tháng 10 năm Mậu Thân (1789) khi đại quân của Thanh triều dưới sự chỉ huy của Tổng đốc lưỡng quản là Tôn Sĩ Nghị vượt ải Nam Quan tiến  về Thăng Long thì tất cả tướng lãnh Tây Sơn ở Bắc Hà bây giờ đều chủ trương đem quân chặn đánh với lý do suy diễn của họ là “lấy quân nghỉ ngơi mà đánh quân mệt nhọc” nhưng ý kiến của Ngô Thời Nhiệm thì lại khác “Toàn quân rút lui, không nên mất một mũi tên, cho nó ngủ trọ một đêm rồi mai lại đuổi chúng nó đi” và ý kiến của Ngô Thời Nhiệm đã được Ngô Văn Sở và các tướng lãnh Tây Sơn chấp thuận. Nhờ ý kiến đó mà đại quân của Tây Sơn đã rút lui một cách an toàn về núi Tam Điệp, để tạo điều kiện cho Quang Trung Nguyễn Huệ thần tốc tiến quân ra giải phóng Thăng Long chưa đầy 10 ngày.

Như vậy là ảnh hưởng của Thiền phái Trúc Lâm ở đời Trần qua Hải Lượng Thiền sư Ngô Thời Nhiệm đối với chiến thắng Ngọc Hồi, Đống Đa của triều đình Tây Sơn là hiển nhiên, không cần phải bàn cãi gì thêm nữa.

Nhưng sau chiến thắng oanh liệt này thì lịch sử của dân tộc một lần nữa lại bị dang dở bởi sự ra đi đột ngột của Quang Trung Nguyễn Huệ. Tác giả Toàn Nhật Quang Đài nói lên sự luyến tiếc cho đất nước cũng như cho giới trí thức như Toàn Nhật đã lỡ mất cơ hội để đưa dân tộc tiến lên cùng với thế kỷ của ánh sáng:

“Với phong cách và tinh thần làm việc đó, đúng ra bước sang thế kỷ 19 dân tộc ta phải bước lên vũ đài khoa học thế giới. Thế mà, với sự ngóc đầu dậy của một hệ ý thức phong kiến cực kỳ phản động, phong cách và tinh thần làm việc của Toàn Nhật không có cơ hội phát triển và kế thừa, để cuối cùng đất nước ta đã rơi vào tay bọn xâm lược”.

Một nhà thơ hàng đầu của Việt Nam ở nửa thế kỷ 20 cũng chia xẻ nỗi luyến tiếc này đối với cái chết của Quang Trung Nguyễn Huệ và sự dở dang của lịch sử dân tộc:

Thôi xin người đừng nức nở
Nếu sau này đường dang dở
Những ai về
Ôm mãi mộng người đi.
(Nguyễn Huệ – Mưa nguồn)

Toàn Nhật còn viết một câu chuyện tình tên là Tống Vương truyện. Nội dung kể lại câu chuyện tình giữa chàng thái tử nước Tống đem lòng yêu một người con gái, con của một ngư ông nghèo khổ bên bờ sông Vị Thuỷ. Nhưng trước khi đến được với người con gái chài lưới ở dòng sông Vị Thủy đó, thì chàng Thái tử đa tình này đã phải từ chối biết bao nhiêu là công chúa xinh đẹp ở các nước láng giềng muốn chiếm được trái tim của chàng:

Nước Tần nước Tấn
Nước Sở nước Tề
Toàn những tiên phi
Cùng nàng công chúa
Nước Lương nước Sở
Nước Trịnh nước Tuỳ
Toàn những tiên phi
Cùng nàng quế liễu
Nước Trần nước Triệu
Nước Hán nước Đường
Nhưng mà:
Thái tử chẳng ngó
Mặt ủ dàu dàu
Triều đình xem ai nấy lắc đầu
Ghê mặt thấy đều thì mất vía.

Ở trần gian không có người con gái nào vừa lòng Thái tử, nên cuối cùng vua cha phải cầu cứu Ngọc Hoàng:

Tống Vương rằng rầy con đã kén chê
Cha cũng phải cầu tiên thượng giới.
 
Nhưng sau khi:
 
Bước lên lầu rồng
Xem năm tiên nữ
Xem rồi tự sự
Bèn trở vào đền
Tâu vua cha duyên chẳng xứng duyên
Xin cha chớ ép con sự ấy
Nhưng rồi một hôm:
Ngày giao sự ước chơi vị thuỷ
Thì trời xui xảy gặp ngư ông
Chèo thuyền đánh cá giữa dòng
Thái tử  lại gần thuyền ngư phủ.

Sau khi gặp người con gái của người chài lưới nghèo khổ thì trái tim Thái tử đã thực sự rung động:

Mới trở về nhà
Tưởng nàng Thụy nữ
Ta muốn cùng thưa vương phụ
Lại sợ có triều đình
Lo lượng một mình
Sợ người quở phạt.

Khi nghe tin Thái tử đem lòng yêu thương người con gái của người chài lưới nghèo khổ, nhà vua tức giận mà than thở:

Nhà sinh con vô phúc
Nên rối sửa số căn
Con chư  hầu các nước thì chê
Mà khiến lấy con nhà thuyền rớ.

Nhưng lòng chàng Thái tử đã quyết cùng với sự thương con của hoàng hậu, nên cuối cùng nhà vua cũng phải miễn cưỡng đồng ý.

Rồi sau khi Thái tử và Thụy nữ, người con gái của người chài lưới đẹp duyên cùng nhau thi vua cha thoái vị và nhường ngôi cho Thái từ:

Sửa  sang chính sự
Ta nay Thái tử
Nối nghiệp trị ngôi
Nội ngoại tề gia
Cùng là ngư phụ
Quốc lão nội triều
Cha đà tác cao
Trước xe sau gía
Hồi đầu Phật Tổ
Thế phát tu hành.

Từ đó:

Con nối ngôi truyền đã tạo thanh
Muôn đời để lưu danh thiên hạ.

Vậy là để đến được với nàng con gái mình yêu Thái tử đã phải đấu tranh quyết liệt mới có thể vượt qua những công ước giả tạo của xã hội như giàu nghèo, tiện dân hay quý tộc v.v… Nhưng tác giá Toàn Nhật QuangĐài với cái nhìn của một sử gia đã nhận xét vì sao Toàn Nhật đã viết Tống vương truyện:

“Vì vậy, viết Tống vương truyện ca ngợi mối tình đẹp đẽ giữa chàng Thái tử quyền quý với một nàng con gái con nhà chài lưới, thực sự là ngợi ca những nét đẹp của cuộc khởi nghĩa Tây Sơn, giải phóng những người bị áp bức, tạo cơ hội cho họ lập nên những chiến công hiển hách, những thành quả văn hoá xã hội rực rỡ. Từ chỗ áp bức mà đứng lên, họ đã dành cho bản thân một địa vị xứng đáng trong lịch sử dân tộc. Cũng như loài người. Tả lại: một chàng Thái tử đi tìm một cô gái chài lưới, chính là khắc họa việc kết hợp giữa lực lượng nông dân với xu thế của thời đại để làm nên cuộc khởi nghĩa Tây Sơn vĩ đại”.[20]

Nhưng nếu một người cầm bút mà chỉ biết có ca ngợi các thủ lãnh nhà nước đương quyền, dù là nhà nước đó có được lòng dân đi nữa, thì sự ca ngợi đó cũng chẳng có ý nghĩa gì hết, nếu người cầm bút không vạch ra được một lý thuyết, một hướng đi có lợi cho dân cho nước. Toàn Nhật với tư cách là một nhà văn nhà thơ nhà tư tưởng của cuộc cách mạng Tây Sơn và đồng thời cũng là một Thiền sư của Phật giáo Việt Nam, Toàn Nhật biết mình phải làm gì để hỗ trợ cho nhà nước Tây Sơn.

“Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, ngoài Lý Trần thì chỉ ở thời Tây Sơn những người Phật giáo mới một lầnnữa đề cao quan niệm sống thoát ly để nhập cuộc một cách mạnh mẽ và hào hùng. Điều đó cũng không có gì lạ bởi thời đại Tây Sơn đã có những con người điển hình như Ngô Thời Nhiệm và Toàn Nhật”.[21]

Quan điểm sống thoát ly để rồi nhập cuộc một cách mạnh mẽ và hào hùng đó, nếu ở đời Lýa chỉ mới khởi đầu, phải đợi đến thời Trần thì quan điểm sống đó mới được áp dụng một cách triệt để:

“Cách sống đó bắt buộc người ta phải vào đời nhưng phải vượt lên cõi đời, vào đạo nhưng phải xuyên qua đời. Những nhân vật chính trong các tác phẩm của Toàn Nhật như Hứa sử truyện vãnTống vương truyện đều thể hiện quan niệm sống đó của ông. Họ làm vua rồi họ đi tu, họ đi tu rồi họ đứng ra làm tướng. Phải chăng Toàn Nhật muốn tìm về nếp sống của các vua nhà Trần Việt Nam”.[22]

Bây giờ người ta xem thử Toàn Nhật của thời Tây Sơn đã “muốn tìm về nếp sống của các vua đời Trần” như thế nào trong các tác phầm của ông trước hết là Kinh Kim Cang.
 
Trong lời tựa cho Thiền Tông chỉ NamTrần Thái Tông, vị vua khai sáng ra triều đại nhà Trần có viết rằng: “Đến các kinh điển của đại giáo thì không kinh nào là không nghiên cứu. Trẫm thường đọc Kinh Kim Cang đến câu “ủng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” vừa gấp sách lại ngâm nga bỗng nhiên giác ngộ…” thì lập tức sau đó Kinh Kim Cang đã trở thành quyển kinh căn bản nhất của Phật giáo đời Trần. Điều đó ta có thể dễ dàng nhận thấy khi đọc Cư Trần Lạc đạo phú của vua Trần Nhân Tông hay bài phú vịnh chùa Hoa Yên của Thiền sư Huyền Quang.

Toàn Nhật ở thời Tây Sơn cũng thế, không những đã viết riêng một tác phẩm có tên là Bát nhã ngộ đạo văn, trong đó có những câu vô cùng hoành tráng, hoành tráng chẳng khác gì tiếng sấm chẻ:

Cõi Nam đà mở rộng cửa lầu
Đèn trí tuệ hào quang chói chói
Thuyền Bát nhã nghênh ngang bốn cõi
Nước ma ha rữa sạch ba lòng.

Hoặc là:

Cửa Bát nhã vào ra thong thả
Trống đại hùng đà thu ý mã
Chuông Linh sơn hãy tỏa tâm viên
Ngọc mâu ni há dễ khinh tuyền
Kinh Bạch tự dám đâm vọng tiết.
Những câu sau đây trong Tham Thiền vãn của Toàn Nhật:
Bạn thuyền Bát nhã hôm mai
Xem hoa lập cảnh dồi mài Kim Cang.

Hay:

Một nồi hương huệ đất xông
Ba biến kinh lòng thường niệm hôm mai.
Khiến ta nhớ đến những câu:
Khuya sớm sáng chong đèn Bát nhã
Hôm mai rửa sạch nước ma ha.
của Huyền Quang Thiền sư ở đời Trần ở thế kỷ 13.

Và cũng như vua Trần Thái Tông nhờ đọc Kinh Kim Cang mà giác ngộ thì Toàn Nhật chắc cũng như vậy, nghĩa là cũng nhờ thấy lẽ sắc không của Bát nhã mà ngộ đạo, như Toàn Nhật đã ghi lại trong một bài thơ bằng chữ Hán:

Trần duyên đoạn hậu tự tiêu dung
Thanh tịnh phương tư sắc thị không
Phật tức tâm hề tâm tức Phật
Thanh Son chỉ tại bạch vân trung
(Trung niên xuất gia)

Lê Mạnh Thát dịch:

Duyên đời đã dứt tự thong dong
Thanh tịnh phương tri  sắc thị không
Phật tức lòng chừ lòng tức Phật
Ngay trong mây trắng núi xanh rờn.

Và mặc dù chỉ là viết lại hành trang của Lục Tổ Huệ Năng, nhưng chúng ta phải hiểu rằng Toàn Nhật cũng xem Kinh Kim Cang là quyển kinh căn bản nhất để đưa con người đến chân trời giác ngộ như vua Trần Thái Tông của đời Trần:

Bây giờ cảm động thiết tình
Nghe câu sở tục tâm truyền Kim Cang
Trực liền ngộ đặng linh quang
Diệu xưa Phật Tổ thấy toàn chân như.

Quan điểm ấy càng rõ ràng hơn nữa khi trong Bát Nhã Ngộ Đạo văn Toàn Nhật lặp lại:

Giảng cho thông tứ cú Kim Cang
Thì mới thấy bổn lai diện mục.

Dưới ảnh hưởng của những nhà trí thức lỗi lạc của thời đại như Ngô Thời Nhiệm và Toàn Nhật thì rõ ràng Kinh Kim Cang cũng trở thành quyển kinh được triều đình Tây Sơn xem như quyển kinh quan trọng nhằm vạch ra một hướng đi tinh thần cho dân tộc Việt, điều đó được thể hiện qua việc Ngọc Hân công chúa tức Bắc cung Hoàng hậu của triều đình Tây Sơn chủ trì việc thêu Kinh Kim Cang Bát Nhã lên gấm. Hiện chùa Trúc Lâm ở Huế vẫn còn giữ gìn tấm thêu bằng gấm này.

Bởi vậy, xin được lập lại câu hỏi rất có ý nghĩa của tác giả Toàn Nhật Quang Đài “Thái độ tôn giáo của triều đình Quang Trung như thế nào, thì Ngọc Hân công chúa mới thêu Kinh Kim Cang Bát Nhã lên gấm chứ!”

Hỏi tức là đã trả lời vậy.

Nhưng ảnh hưởng mãnh liệt nhất tinh thần Phật giáo đời Trần đối với Toàn Nhật vẫn là trong Hứa sử truyện vãn. Tôi có cảm tưởng là khi viết tác phẩm này mục đích của Toàn Nhật không gì khác hơn là nhằm giải thíchhai tác phẩm quan trọng nhất của đời Trần là bài tựa Thiền Tông chỉ Nam của vua Trần Thái Tông và Cư Trần Lạc Đạo phú của vua Trần Nhân Tông.

Trong Thiền Tông chỉ nam, vua Trần Thái Tông đã nói lên nỗi ray rứt cũng như đau khổ và dằn vặt của mình đối với công danh sự nghiệp: “Lại nghĩ sự nghiệp đế vương thời trước, hưng phế bất thường, cho nên tìm đến núi này chỉ muốn cầu làm Phật, chứ không cầu gì khác”.

Nhưng Quốc sư Trúc Lâm đã khuyên vua Trần Thái Tông rằng:

“Trong núi vốn không có Phật, Phật ở ngay trong lòng. Lặng lẽ mà hiểu, đó chính là chân Phật. Nay nếu bệ hạ giác ngộ tâm đó thì lập tức thành Phật, không nhọc tìm bên ngoài”
 
Nhưng sau câu nói ấy, Quốc sư Trúc Lâm thấy nhà vua vẫn phân vân lưỡng lự chưa chịu xuống núi, nên Quốc sư mới nói tiếp:

“Phàm đã là bậc nhân quân thì phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tấm lòng của thiên hạlàm tấm lòng của mình. Nay thiên hạ muốn đón bệ hạ về thì bệ hạ không về sao được! Duy chỉ có việc nghiên cứu nội điển thì xin bệ hạ đừng chút xao lòng mà thôi”.

Chính vì đời Trần đã “lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tấm lòng của thiên hạ làm tấm lòng của mình” một cách triệt để, nên không có gì lạ trong hơn một thế kỷ tồn tại, vương triều Trần không chỉ một lần mà cả đến ba lần đánh bại đội quân xâm lược hung hãn mà thời bấy giờ chỉ mới nghe nhắc đến Tartar (Thát Đát) thôi thì đã lên cơn sốt rồi. Nhưng không chỉ mạnh về mặt quân sự, mà trên mặt văn học tư tưởng cũng thế, nghĩa là cũng “lấy tấm lòng của thiên hạ làm tấm lòng của mình” nên nền văn học đời Trần đã phát triển rực rỡ. Dù bị kẻ ngoại xâm cũng như thiên tai địch họa phá hủy rất nhiều, nhưng những gì còn lại của nền văn học ấy vẫn tiếp tục nuôi dưỡng lòng tự hào dân tộc cho đến ngày hôm nay. Bởi thế ta chẳng lấy gì làm lạ, vào những năm cuối cùng của thế kỷ 20, một phần của nhân loại đã nhận ra rằng, những ý thức hệ ngoại lai mà bấy lâu nay họ tôn thờ thực sự chẳng giúp ích gì cho sự phát triển của quốc gia họ cả, mà còn gây ra không biết bao là thống khổ và hận thù cho dân tộc họ nữa.
 
Bởi vậy, hơn bao giờ hết, cái hình bóng cô đơn heo hút của “một lão Tăng sống trên núi hoang, xương gầy mặt võ, ăn rau đắng, nếm hạt dẻ, chơi cảnh rừng, uống nước suối, lòng như mây nổi” trên núi Yên tử cách đây bảy thế kỷ căn dặn nhà lãnh đạo của dân tộc Việt “phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tấm lòng của thiên hạ làm tấm lòng của mình” đã trở thành một bức thông điệp khẩn thiết hơn bao giờ hết đối với dân tộc Việt Nam trong lúc này.

Trong Hứa sử truyện vãn của thiền sư Toàn Nhật của thời Tây Sơn, Đồng Vân, một vị quan bách chiến bách thắng đang trấn giữ miền biên giới của nước Trung Quốc Việt Vương cùng ám ảnh nỗi sầu muôn thuở ấy của kiếp người như Trần Thái Tông của đời Trần:

Đời tham cả lộc cao ngôi
Ví như lá vược hớp mồi mắc câu
Tuổi xanh khiến sớm bạc đầu
Phút đau lại chết khổ sầu mà thôi.

Và Đồng Vân cũng đã vứt bỏ cả lộc cao ngôi bỏ vợ con lên chùa xuất gia với thiền sư Mật Hạnh.

Khi nghe tin Đồng Vân đã xuất gia, thì Triệu Tân bên nước láng giềng liền ráo riết chuẩn bị xâm lăng:

Lệnh truyền tướng tá các nha
Chỉnh tu binh mã can qua sẵn sàng
Triệu Tân mới cất binh sang
Ngựa ăn chật nội quân hàn dãy non.

Chỉ mới có giao tranh trận đầu quân của nước Trung Quốc Việt vương đã thảm bại vì:

Triệu Tân tài mạnh tột đời
Tướng việt sa thế, rã rời chạy đi
Triệu Tân sách mà huy kỳ
Trống sáu reo đuổi ầm ỷ vang rân
Quân việt rã chạy rần rần
Triệu Tân chém tướng tưng bừng Đông Tây.

Không còn cách nào hơn, vua Việt vương đành phải cùng các quan xa giá đến chùa để xin Đỗng Vân cứu nguy xã tắc.

Cũng như Trần Thái Độ đã cùng với các quan trong triều lên tận núi Yên Tử để xin vua Trần Thái Tông hãy vì xã tắc mà xuống núi.

Trong Thiền Tông chữ Nam, Trần Thái Độ đã thưa với Trần Thái Tông:

 “Vả Thái Tổ bỏ thần mà đi, nắm đất trên mồ chưa khô, lời trăn trối bên tai còn đó. Thế mà bệ hạ lại lánh gót ẩn cư nơi núi rừng, để theo đuổi cái chí riêng của mình. Như thần nghĩ, bệ hạ tính kế tự tu đã vậy, nhưng còn quốc gia xã tắc thì sao?”

Trong Hứa sử truyện vãn, vua Việt Vương cũng đã nói với quan Đỗng Vân những lời tương tự:

Vả ông dũng lược ân oai
Triệu Tân ni đã sợ tài xưa nay
Xin ông phương tiện ra tay
Chống đàn xã tắc khỏi ngày khuynh nguy
Đạo là cứu độ từ bi
Nước nghèo dân chết bỏ đi  nỡ nào
Kìa lời tục ngữ thường rao
Liền giết một mèo, cứu chuột muôn con
Xin ông đoái tưởng cựu ân
Ra tay giúp nước cứu dân phen này.

Sau đó thiên sư Mật Hạnh, thầy của Đỗng Vân đã phải giải thích mọi thắc mắc trong lòng của Đỗng Vân, vì Đỗng Vân đang phân vân lưỡng lự là có nên tránh xa xã hội loạn lạc  đau khổ để đi tìm hạnh phúc riêng cho mình không?

Mật Hạnh lời mới tỏ phân
Chúng ta vì tưởng bốn ân tu hành
Gặp cơn ác Đảng tung hoành
Dễ ta đâu khá nỡ đành ngồi coi
Huống thêm nghĩa cũ vua tôi
Mình vàng hiểm trở xa xôi tìm vời
Phải chi vũ lực tột đời
Cũng ra giúp người thầy chẳng tiếc công
Vả chăng quyền xảo thích trung
Bồ Tát đa hạnh thiệt trong đạo này
Làm sao mà đặng lợi người
Giúp nước cứu đời cũng một việc tu.

Như vậy là thiền sư Mật Hạnh đã bảo cho Đỗng Vân, đệ tử của mình biết rằng “giúp dân cứu nước” mới mới là việc quan trọng nhất của người xuất gia.

Một sự thắc mắc nữa cũng không kém phần quan trọng là giới sát. Nếu một người đã xuất gia mà tham dựchiến tranh thì có phạm giới sát không?

Hãy còn ngại việc sát sanh
Thôi lại quỳ gối  thưa trình bổn sư
Thầy phân tôi đã hiệp cơ
Nhưng mà còn ngại, hãy chưa yên tĩnh
Vả như một sự sát sinh
Đầu trong các giới, chẳng khinh thiệt thà
Dầu kẽ tại gia xuất gia
Chẳng dám trái phạm ấy là phép chung
Nhẫn loài nhỏ nhít côn trùng
Cũng chẳng nên giết huống đồng loại ta
Nay tôi chấn động can qua
Sao cho khỏi hại người ta bây giờ
Thiền sư Mật Hạnh đáp rằng:
Giả như cố ý bất nhân
Buông lòng sát hại tội dường hằng sa
Vốn nay vì sự nước nhà
Cứu dân giúp nước, sao mà chẳng nên
Luật rằng phương tiện xảo quyền
Tùy cơ lội vật, pháp trần xưa nay
Đỗ Trường Ấn phong hai thầy
Ở trong quân trận ngày ngày ngăn binh
Qui Tôn giết rắn làm lành
Việc xưa tỏ chép đành rằng đến nay.

Sau khi dẫn chứng truyện xưa, thiền sư Mật Hạnh nói cho Đỗng Vân biết chuyện của ngày hôm nay, nghĩa là ngày hôm nay muôn dân cũng đang rên siết dưới sự bạo tàn của kẻ xâm lược:

Vả như luận sự giặc này
Triệu Tân một đứa, tai đầy muôn dân
Buông lòng tham ngược bất nhân
Vạn thặng căm hờnthiên hạ nghiến răng
Lòng trời ắt cũng chẳng ưng
Để vầy quen nó lung lăng quấy thì
Kinh rằng đại lực đại bi
Hay ông tới đó mặc khi máy dùng
Trước ra văn đức vỗ lòng
Bằng nó cứng cổ sẽ dùng gia binh
Ông hãy cứ việc thi hành
Diêm vương bắt tội thầy đành chịu thay.

Vậy là kể từ khi lý tưởng Bồ tát được Lục Độ Tập kinh công bố: “Bồ Tát thấy dân kêu ca, do vậy gạt lệ, xông vào chính trị hà khắc để cứu dân khỏi nạn lầm than” thì tuyên ngôn ấy đến nửa cuối thế kỷ 18 lại được những con người đang nuôi dưỡng lý tưởng Bồ tát khẳng định mạnh mẽ hơn nữa:

Trước ra văn đức vỗ lòng
Bằng nó cứng cổ sẽ dùng gia binh
Ông hãy cứ việc thi hành
Diêm vương bắt tội thầy đành chịu thay.

Lý do có lẽ cũng không có gì khó hiểu cho lắm. Nếu như những thế kỷ trước đó, dân tộc ta chỉ có một kẻ thù ở Phương Bắc, thì đến nữa cuối thế kỷ 18, phong trào Tây Sơn không những chỉ đối đầu với ba tập đoàn phong kiến bên trong (Trịnh Lê Nguyễn) mà còn phải đối đầu với Phương Bắc và Xiêm La ở Phương Nam và đặc biệtmột kẻ thù mới còn nguy hiểm hơn, đó là việc các tàu chiến của các nước Tây phương đang cấu kết với tay sai trong nước ngày đêm lãng vãng ngoài bờ biển của phía Nam tổ quốc với mục đích là đưa tôn giáo mới vào nhằm thay thế những tôn giáo đã được dân tộc tiếp thu từ những ngày đầu mới lập quốc. Trong Bát Nhã Ngộ đạo văn Toàn Nhật đã đau lòng thốt lên:

Sao chẳng nhớ câu chân giả
Mà học thói Tây Phương!

Và cũng như Trần Thái Tông nghe lời khuyên của Quốc sư Trúc Lâm mà xuống núi, thì Đổng vân trong Hứa sử truyện vãncủa Toàn Nhật ở thời Tây Sơn cũng phải rời chùa Huệ Lâm, để ra tay cứu vớt muôn dân đang sống trong cảnh lầm than. Toàn Nhật tả lại cảnh Đỗng vân xuống núi xuất quân như sau:

Một mai trận thượng cất ra
Giặc ấy chẳng đánh nó mà cũng tan
Ví dầu nó có chống ngang
Nghe ta đóng lịnh, giao thương hãy dùng
Dụ thôi mới bát tiên phương
Tả chi, Hữu dực, Trung quân ân cần
Hậu tiếp đốc binh Đỗng vân
Bát rồi rắt rắt rần rần kéo qua
Chư quân đều niệm Di Đà
Trước sau nổi tiếng nghe hòa vang rân
Khắp trong quận huyện quan dân
Dựng cờ ứng nghĩa rần rần kéo ra
Con thề đánh trả thù cha
Em nguyện liều  thác, báo hòa thù anh.

Vậy là dù ý muốn của Trần Thái Tông là ở lại với núi Yên tử để tìm sự giải thoát riêng cho mình, nhưng cuối cùng theo lời dạy của Quốc sư Trúc Lâm “Phàm đã là bậc nhân quân tất phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình”, mà ý muốn của thiên hạ là phải xuống núi, nên Trần Thái Tông phải xuống núi trở lại và Đỗng vân trong Hứa sử truyện vãn của Toàn Nhật cũng thế, nghĩa là cũng muốn ở lại Chùa để tìm sự an lạc riêng cho mình, nhưng theo lời khuyên của Thiền sư Mật Hạnh cũng phải rời Chùa để cứu muôn dân ra khỏi chốn nô lệlầm than.

Trong Tống vương truyện, sau khi Thái tử nước Tống lấy con gái của một người chài lưới nghèo khổ, thì nhà vua nhượng ngôi cho con để “hồi đầu Phật tửthế phát tu hành”, còn trong Hứa sử truyện vãnvị quan Đỗng vân sau khi dẹp xong quân ngoại xâm thì vua nước này là Việt vương cũng đã “tuổi cao tỉnh ngộhỏi dò Phật gia” để rồi cuối cùng:

Cởi quăng ngọc toã kim già
Cao xương huệ kiếm, diệt tà vô minh.
(…)
Đều hay lánh chốn trần lao
Vượt ra ma võng, thẳng vào Phật môn.

Dường như vì hình bóng của các vua Trần ở thế kỷ 13 nhất là Trần Thái Tông và Trần Nhân Tông, những ông vua có thể nói là minh triết nhất trong lịch sử dân tộc ta, sau khi đánh bại ngoại xâm, đất nước thái bình thịnh trịthì cũng đều nhường ngôi lại cho con mà xuất gia học đạoPhải chăng những ông vua đó vẫn luôn luôn là hình bóng “lý tưởng” mà Toàn Nhật muốn triều đại Tây Sơn cũng phải có những ông vua như đời Trần oanh liệt?

Không biết khởi đầu từ bao giờ nhưng có phần chắc là kể từ khi Thái tử Tất Đạt Đa từ bỏ ngôi vua vào rừng sâu để tìm đạo, kể từ khi Lão Tử cỡi trâu đi biệt tăm sau khi đã giao bản thảo đạo đức kinh cho Doãn Hỷ thì có lẽ vấn đề mới được đặt ra là: Nếu muốn thành tựu con đường sống đạo thì nên vào rừng ở ẩn hay là cứ ở lại chốn phồn hoa đô hội mà vẫn làm chủ được tâm mình không hề bị đời sống phồn hoa cám dỗ. Đó chính là vấn đề được hai tác giả lớn của đời Trần đề cập. Từ câu nói lừng danh của vị quốc sư Trúc Lâm trên núi Yên Tử ở thế kỷ 13: “trong núi vốn không có Phật, Phật ở ngay trong lòng” đến hai câu mở đầu bài phú Cư Trần lạc đạo của Trần Nhân Tông:

Mình ngồi thành thị
Nết dụng Sơn Lâm.

Trong Hứa Sử truyện vãn của thiền sư Toàn Nhật, Hứa Sử cùng đặt vấn đề ấy với Việt Vương:

Thị thành lại với lâm tuyền
Tu hành công đức hai đường đâu hơn?

Việt Vương trả lời:

Nay thầy lời đã hỏi ta
Lấy trong sự lý phân ra cho tường
Lâm truyền thanh cảnh náu nương
Đặng phần tịch mịch, khỏi đường huyên hoa
Song thời cũng ở lòng ta
Lòng ta thanh tĩnh, cảnh hoà cùng thanh
Dẫu mà ở chốn non xanh
Lòng còn loạn động thị thành khác chi
Thị thành xao xuyến nhiều bề
Lòng ta thanh tĩnh khác gì Sơn Lâm
Tu hành yếu vốn tại tâm
Nếu nệ nơi cảnh, mắc lầm hoà hai.

Ta phải hiểu thế nào về quan điểm trên của Toàn Nhật, có phải Toàn Nhật muốn nói như thế này chăng:

“Điều quan trọng không phải là sống ở thị thành hay núi rừngVấn đề là làm sao giác ngộ được sự thật. Đấy mấu chốt của vấn đề. Ta đã thấy sự giác ngộ có thể tìm thấy ở bất cứ nơi đâu, đặc biệt là chính giữa cuộc đời trần tục đầy những hệ lụy thế sự. Chính trong cuộc sống trần tục ấy mà giác ngộ được thì giá trị còn nâng lên gấp bội”.[23]

Còn một vấn đề quan trọng nữa mà tôi nghĩ rằng có lẽ Toàn Nhật cũng muốn triều đại Tây Sơn phải tiếp tục con đường mà đời Trần đã vạch ra, đó là vấn đề sử dụng chữ Quốc âm. Khi đọc những bài thơ chữ Hán của Toàn Nhật, tác giả Toàn Nhật Quang Đài  nhận xét rằng:

“… qua những bai thơ chữ Hán, chứng tỏ khả năng sử dụng chữ Hán văn rất điêu luyện và thành thục của Toàn Nhật. Điều hãy còn cho ta thấy là việc phần lớn tác phẩm Toàn Nhật viết bằng tiếng quốc âm không có nghĩa là ông không thể sử dụng chữ Hán. Ngược lại, dù là một người rất giỏi chữ Hán nhưng ông đã tìm về với tiếng nói của dân tộc để chuyển tải những gì mình muốn nói với nhân dânÝ muốn xây dựng một nền văn học quốc âm, không chỉ dân tộc mà còn cho Phật giáo, đã đặt Toàn Nhật không những vào những nhà thơ lớn của dân tộc mà còn của Phật giáo. Thứ đến, với những bài thơ đó nền văn học quốc âm của dân tộc ta vào cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19 chứng tỏ sự đa dạng và phong phú với những tình tự và nhận thức của những con người khác nhau”.[24]

Tiếng quốc âm của dân tộc ta chắc chắn đã có từ rất lâu, có thể từ các triều đại vua Hùng trước Tây lịch, nhưng “chỉ đến thời vua Trần Nhân Tông, với hai tác phẩm của mình là Cư Trần lạc đạo phú  đắc thú lâm truyền thành đạo ca cùng Vịnh Vân Yên tự phú của thiền sư Huyền Quang (1234-1334) và giáo tử phú của Mạc Đĩnh Chi (1284-1361), thì nền văn học tiếng việt mới có những tác phẩm đầu tiên hoàn chỉnh của mình còn được bảo tồn đến ngày nay. Vị trí văn học của vua Trần Nhân Tôngdo thế đối với dân tộc ta rất là vĩ đại”.[25]

Cố học giả Trần Trọng Kim trong phần viết về việc học hành và thi cử đời Tây Sơn có nói rằng: “việc cai trị thường hay dùng chữ Nôm. Nhà vua muốn nói rằng người Việt Nam thì phải dùng tiếng Việt Nam, để gây thành cái tinh thần của nước nhà, và cái văn chương đặc biệt, không phải đi mượn tiếng mượn chữ của nước Tàu. Vậy nên khi thi cử thường bắt quan ra bài chữ Nôm và bắt sĩ tử làm bài bằng chữ Nôm. Thời bây giờ nhiều người không hiểu rõ cái ý nghĩa sâu xa ấy, cho là nhà Tây Sơn dùng hà chính mà ức hiếp nhân dân”.[26] 

Bằng chứng hùng hồn về lòng tự hào đối với tiếng nói của dân tộc mình, đó là việc vua Quang Trung đã dõng dạc đọc bản tuyên ngôn độc lập bằng tiếng Nôm trước ba quân trước khi xuất quân đi đánh đuổi quân Tàu:

Đánh cho để dài tóc
Đánh cho để răng đen
Đánh cho nó chích luôn bất phản
Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn
Đánh cho nó sử tư Nam Quốc anh hùng chi hữu chủ.

Nếu quả đúng Toàn Nhật là tướng của Tây Sơn hay quan trọng hơn nữa là mưu thần của vua như hai tác giảNguyễn Đình Chúc và  Huệ Nguyễn đã xác nhận trong tác phẩm biên khảo Lịch sử Phật giáo và các chùa ở Phúc Yên thì chắc hẳn việc sử dụng tiếng Nôm như tiếng chính thức trong hành chánh công như trong thi cử của triều đình Tây Sơn Quang Trung thì tất nhiên phải có sự đóng góp công sức lớn lao của Toàn Nhật, vị thiền sư đã hết lòng yêu thương tiếng  nói của dân tộc mình, và mặc dù rất giỏi chữ Hán nhưng đã để lại gần hai mươi tác phẩm bằng chữ Nôm.

Và không còn hồ nghi gì nữa, một người biết trân trọng tiếng Nôm mà còn là một Thiền sư của Phật giáo Việt Nam thì qua hai tác phẩm Cư Trần lạc đạo phú  Đắc thú lâm truyền thành đạo ca, Toàn Nhật đã ý thức một cách triệt để rằng “Tiếng Việt như một ngôn ngữ có thể phát biểu những tư tưởng trừu tượng tương đối khó nắm bắt một cách khéo léo và dễ hiểu. Từ đó Tiếng Việt đã từ thành một ngôn ngữ đủ khả năng chuyển tải bất cứ nội dung tư tưởng khác nhau nào và có vẻ đẹp riêng của nó”.[27]

Lời kết:

Chúng ta, những người Phật tử Việt Nam nên nhìn sự hưng thịnh cũng như suy vong như thế nào của lịch sử Phật giáo Việt Nam qua các thời đại? Và có phải chỉ có các triều đại Đinh Lê và nhất là Lý Trần thì mới đựơc xem là thời kỳ hưng thịnh nhất của Phật giáo Việt Nam chăng?

“Chẳng hạn, các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần thay đổi khác nhau, hết triều đại này tới triều đại kia, nhưng Phật giáo vẫn vươn lên phát triển và có những đóng góp to lớn cho dân tộc. Điều này chứng tỏ bên ngoài sự thay đổi của các triều đại, dân tộc vẫn phát triển theo tính quy luật của nó, bất chấp ý chí chủ quan của một triều đại. Có vẻ như dân tộc có một sức sống của riêng nó, và Phật giáo biết bám vào sức sống này của dân tộc để cùng dân tộc đi lên. Các triều đại thay đổi và chúng đã không đáp ứng được yêu cầu của sức sống dân tộc, nên đã bị loại bỏ”.[28]

Giả như không có trường hợp của Toàn Nhật thì quan điểm trên về lịch sử Phật giáo Việt Nam của giáo sư Lê Mạnh Thát khó có thể chấp nhận đối với nhiều người, vì ai cũng có thói quen nghĩ rằng, chỉ có Đinh, Lê và đặc biệt là Lý, Trần mới là thời cực thịnh của Phật giáo Việt Nam, còn sau đó thì Phật giáo suy tàn và Nho giáo đã thay thế chỗ đứng của Phật giáo. Nhưng vì có trường hợp của thiền sư Toàn Nhật nên theo tôi quan điểm lịch sử ấy hoàn toàn chính xác, nghĩa là Toàn Nhật đã tham gia cuộc Cách mạng của Tây Sơn, vì theo quan điểmcủa Toàn Nhật cuộc Cách mạng ấy phù hợp với lòng dân nhưng khi cuộc Cách mạng Tây Sơn tan rã, triều đạikhác lên thay, Toàn Nhật nhận thấy triều đại ấy không đáp ứng được yêu cầu của sức sống dân tộc thì vị thiền sư của chúng ta chỉ còn “biết bán vào sức sống của dân tộc”.

Kết quả là, ngày nay chúng ta có được gần 20 tác phẩm bằng tiếng quốc âm, mà theo giáo sư Lê Mạnh Thát thì: “Kho tàng văn học cổ điển Việt Nam chưa bao giờ có một nhà thơ nhà văn để lại một lượng lớn tác phẩmbằng tiếng quốc âm như Toàn Nhật. Chỉ với số lượng đó thôi, nó đã biển thị không những sức sống dạt dào của dân tộc đang lên thể hiện qua tiếng nói nhân dân”.[29]

Nhưng theo tôi, điều quan trọng nhất trong quan điểm đó là, chúng ta những người Phật giáo Việt nam hiện tạicũng như mai sau nên “bám vào sức sống của dân tộc để đi lên” thay vì chỉ biết bám vào các triều đại hay các Nhà nước, vì “các triều đại sẽ phải thay đổi khi không còn đáp ứng được yêu cầu của sức sống dân tộc”.

Vậy là, chỉ có “bám vào sức sống của dân tộc” thì Phật giáo Việt nam mới có thể tồn tại mãi trong lòng của dân tộc mà thôi.

Có phải đó là bài học lịch sử lớn lao mà thiền sư Toàn Nhật ở nửa cuối thế kỷ 18 đã để lại cho chúng ta, những người Phật giáo Việt Nam hôm nay chăng?

______________________


• Thích Thước An
Nguồn: quangduc.com
Chú thích:
[1] Toàn Nhật Quang Đài toàn tập I, NXB TP.HCM.2005 trang 27-28.
[2] NXB Thuận Hóa 1999 trang 90.
[3] Toàn Nhật Quang Đài tập I, NXB TP HCM 2005, trang 30.
[4] Sdd tập I trang 28.
[5] NXB Trẻ TP. HCM 1999.
[6] Sdd tập I trang 28.
[7] Sdd tập I trang 29.
[8] nt.
[9] Việt Nam sử lược NXB tổng hợp TP.HCM tái bản 2005 trang 373.
[10] Ngô Thời Nhiệm trong văn học Tây Sơn của Mai Quốc Liên NXB VHTT Nghĩa Bình 1985 trang 110.
[11] Sdd tập I trang 41.
[12] Trần Trọng Kim, Sdd trang 359.
[13] Sdd tập I trang 67-70.
[14] Trần Trọng Kim, Sdd trang 360-361.
[15] Trần Nhân Tông toàn tập của Lê Mạnh Thát, NXB TP.HCM năm 2000.
[16] Sdd tập II, trang 290.
[17] Sdd tập I, trang 78-79.
[18] Trần Trọng Kim, Sdd trang 364.
[19] Sdd tập II, trang 291.
[20] Sdd tâp II, trang 93.
[21] Sdd tâp II, trang 179.
[22] Sdd tâp II, trang 148.
[23] Trần Nhân Tông toàn tập, sdd trang 251.
[24] Sdd tập II, trang 265.
[25] Trần Nhân Tông toàn tập Sdd trang 269-270.
[26] Trần Trọng Kim Sdd trang 375.
[27] Trần Nhân Tông toàn tập, Sdd trang 274.
[28] Lịch sử Phật giáo Việt Nam tập II của Lê Mạnh Thát – NXB TP Hồ Chí Minh 2001, lời tựa.
[29] Sdd tập I, trang 11-12.

THÁP CHÀM - PHÚ DIÊN

Vượt chừng 30km từ trung tâm thành phố Huế, xuôi về theo hướng Đông Nam, du khách đến với dải đất trải dài theo hướng Bắc – Nam nằm giữa biển Đông và đầm phá Tam Giang rộng lớn. Tiếp tục xuôi về hướng Nam cách thị trấn Thuận An 14 km là đến xã Phú Diên, huyện Phú Vang. Đi thẳng trục đường này, các bạn sẽ gặp một tấm biển cắm mốc Di tích kiến trúc nghệ thuật Tháp Phú Diên, rẽ phải 200m nữa là tới.

Tháp Phú Diên (hay còn gọi là Tháp Chàm) là một di tích lịch sử, văn hóa độc đáo vừa được các nhà khảo cổ học tìm thấy vào năm 2001 (do trước đó bị cát phủ lấp), thuộc địa phận thôn Mỹ Khánh (xã Phú Diên, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế) với cấu trúc nguyên khối đất nung, không có mái và có vị trí đơn lẻ, khác xa các di tích Tháp Chàm khác.

Theo báo Người đại biểu nhân dân điện tử, Cục văn thư lưu trữ Việt Nam: Kết quả khai quật khảo cổ cho thấy, tháp có hình chữ nhật hướng Đông-Tây. Mặt bằng lớp dưới cùng của tháp dài 8,22m, rộng 7,12m, càng lên cao càng giật cấp thu nhỏ dần với các phần khác nhau gồm móng, chân tháp, thân và diềm mái. Toàn bộ chiều cao tháp còn lại từ 3,1-3,26m, do tháp bị lún nghiêng. Đế tháp có hình chữ nhật cắt góc, cao 0,29m gồm 4 lớp gạch xây liền khít tạo nền vững chắc cho thân tháp. Chân tháp cao 1,25m, kể cả phần thân và phần vòm cửa giả với nhiều lớp trang trí khác nhau. Thân tháp cao 1,36m. Lòng tháp hình chữ nhật hướng Đông-Tây, dài 3,9m, rộng 3,3m. Giữa có bệ thờ cao 0,73m, trên bệ có Yoni bằng sa thạch. Cách 5m phía trước cửa chính của tháp có một bệ thờ được xây hình khối vuông bằng chất liệu gạch với kỹ thuật mài xếp liền khít cao 1,4m, cạnh dài 1,38m, chính giữa bệ còn một lỗ tròn đường kính 0,19m mà các nhà nghiên cứu nghi rằng trước kia đây là nơi đặt tượng thờ.

Quá trình khai quật, người ta còn tìm thấy ở đây một số đồ tế tự như hộp gốm, chân đèn… Kết quả phóng xạ carbon cho thấy tháp được xây dựng từ đầu thế kỷ thứ VIII, thuộc một trong những tháp Chăm cổ nhất Việt Nam. Giới nghiên cứu nhận định, tháp Chăm này nằm trong phong cách chuyển tiếp giữa phong cách kiến trúc cổ Mỹ Sơn E1 sang phong cách kiến trúc tháp Hòa Lai… Đây chính là vùng đất thuộc đất Chămpa và trở thành đất Đại Việt trong sự kiện vua Chămpa Chế Mân dâng Châu Ô và Châu Rí để làm sính lễ cầu hôn công chúa Huyền Trân.

Tháp Chàm được vùi sâu dưới lòng cát từ 5-7m, thấp hơn mực nước biển hiện tại là 3-4 m và chỉ cách mép nước biển 120m nên được gia cố xung quanh rất chắc chắn bằng bê tông để ngăn tình trạng cát lún. Ngoài ra, vì để chống sự xuống cấp của công trình bởi ánh nắng trực tiếp từ khi lộ thiên, Tháp Chàm cũng được bảo vệ bằng lớp kính dày nên gây khó khăn cho du khách khi muốn chụp ảnh và nghiên cứu kỹ hơn về công trình. Tuy nhiên, bạn vẫn có thể chụp ảnh được từ trên cao nhìn xuống và cận cảnh khi lựa chọn góc độ phù hợp.

 

 

Bên cạnh Tháp Chàm là bãi biển Phú Diên trong xanh, luôn thu hút đông đảo du khách tới tham quan, nghỉ mát. Với bãi cát rộng, hiện tại biển Phú Diên cho xây dựng rất nhiều chòi để đảm bảo không bị quá tải lượng khách vào mùa cao điểm như mùa hè này.

 

_____________

khamphahue.com.vn

VUA TRẦN NHÂN TÔNG NÓI "CHÍN BỤT LÀ LÒNG": HIỂU THẾ NÀO CHO ĐÚNG VỀ SỐNG TỐT?

Tất cả những cái gọi là rủi ro, bất hạnh xảy ra cho mình trong cuộc đời đều là do thiếu lòng tốt. Câu nói “Chín Bụt là lòng” của vua Trần Nhân Tông trong Cư trần lạc đạo phú (hội thứ ba) hẳn là chúng ta chưa hiểu hết và chưa khai thác hết dù cho đến cả những thời đại tương lai.

Nếu có một cái gì mà khi gặp bất cứ người nào, dù nam hay nữ, già hay trẻ, chúng ta có thể “rút từ trong túi ra” trao tặng ngay cho người ấy, thì cái đó chính là lòng tốt. Chưa chắc chúng ta có thể trao cho trọn vẹn bằng ngôn ngữ, vì đôi khi không rành tiếng của người đó, chưa chắc có thể trao cho tri thức, vì cần có trình độ tương đương giữa hai người, cũng chưa chắc chúng ta có thể trao cho tiền bạc, giúp đỡ cơ hội, vì lỡ người đó giàu có và thế lực hơn thì sao? Những sự trao cho đều đòi hỏi điều kiện, chỉ có lòng tốt là không cần điều kiện. Và cái gì không cần điều kiện, cái đó được gọi là tự do (người phương Tây dịch chữ giải thoát của Đức Phật là tự do). Tự do có nghĩa là không lệ thuộc vào nguyên do nào chính nó.

 

Chúng ta thấy người phương Tây mở miệng ra là xin lỗi, cám ơn, cho phép…Đó là cách biểu lộ lòng tốt ra trong ngôn ngữ hàng ngày. Đó cũng là cái lịch sự, văn minh của người phương Tây khi mục tiêu của chúng ta là hướng tới một xã hội “công bằng, dân chủ, văn minh”, thì xét kỹ, cả ba khái niệm trên đều có nền tảng là lòng tốt. Dầu có bao nhiêu luật lệ, nhưng nếu không có lòng tốt đàng sau những luật lệ ấy thì chúng ta dễ dàng o ép người khác khi họ yếu thế hơn. Sẽ không có công bằng nếu không có lòng tốt. Dầu có bao nhiêu quyền cho con người, nếu không có lòng tốt, chúng ta dễ dàng nhũng nhiễu, thậm chí “hành” người dân. Pháp luật và dân chủ chỉ thể hiện trọn vẹn ý nghĩa của nó khi thật sự có lòng tốt giữa con người và xã hội. Và ngay cả theo quan niệm của phương Tây, văn minh không chỉ là nhà cao cửa rộng, xe tốt mà còn là sự đối xử văn hóa giữa người với người, giữa người với thiên nhiên, giữa từng cá nhân với chính mình dựa trên lòng tốt.

 

Chúng ta thấy mọi tệ nạn xã hội đều do thiếu lòng tốt. Tham nhũng, dù dưới bất cứ hình thức nào, là do thiếu lòng tốt đối với đa số dân chúng còn khó khăn nghèo khổ; tai nạn giao thông vì chạy ẩu, say rượu, xe không an toàn; không có lòng tốt nghĩ đến những người trên xe và giữa đường; thực phẩm xuất khẩu bị trả về vì có chất độc hại quá mức cho phép, không có lòng tốt nghĩ đến sức khỏe người khác, ai chết mặc ai miễn có lợi nhiều là được, xì ke, SIDA: không có lòng tốt với chính thân thể mình và với cộng đồng. Điều ngược lại, cũng dĩ nhiên tất cả những gì tốt đẹp trên đời đều do lòng tốt mà có.

 

Tôi có một người bạn tu sĩ trẻ hiện đang sống ở Canada. Những năm trước khi xuất gia, anh đọc nhiều sách Phật giáo, nhưng khi về quê Nha Trang thăm mẹ, anh thường rủ bạn bè đi ăn ở những nhà hàng ven biển, đủ mọi hải sản tươi sống, thích con gì thì vớt lên. Một hôm đang đứng nơi trạm chờ xe bus ở Canada, anh thấy một cô gái phương Tây chạy vội ra đường gặp một con sâu đang bò giữa đường bò vào bụi cây bên lề, từ đó anh không hề dám tới những nhà hàng “tươi sống” ấy nữa. Vài năm sau, khi trên đường đi đến tu viện Dharamsala của Kalu Rinpoche, anh chán nản muốn trở về, vì khí hậu khắc nghiệt, vì bị trộm cắp, vì tình trạng lộn xộn bất ổn ở Ấn Độ. Đang ngồi thừ người trong phòng trọ tồi tàn, thì thấy một em bé gái Ấn Độ bước vào, tay cầm trái cam, em bóc vỏ trái cam và đưa mời anh. Kết quả là anh ở lại Ấn Độ và tiếp tục lên đường về phương Bắc.

 

Lòng tốt tạo ra những điều kỳ diện, những phép lạ. Như trong các truyện cổ tích Việt Nam, có những ông già râu tóc bạc phơ, những bà tiên, ông Bụt… tất cả đều là sự hiện ra để cứu giúp, đem lại may mắn, phước lành. Suy nghĩ sâu xa, tất cả những cái gọi là rủi ro, bất hạnh xảy ra cho mình trong cuộc đời đều là do thiếu lòng tốt. Câu nói “Chín Bụt là lòng” của vua Trần Nhân Tông trong Cư trần lạc đạo phú (hội thứ ba) hẳn là chúng ta chưa hiểu hết và chưa khai thác hết dù cho đến cả những thời đại tương lai.

 

Mỗi người chúng ta đều có kho tàng lòng tốt nơi mình. Chúng ta biểu lộ, thể hiện nó ra bao nhiêu thì chúng ta sẽ khám phá ra nó bấy nhiêu. Và khám phá ra lòng tốt là khám phá ra chính con người mình. Khám phá con người mình, đây là mục đích và ý nghĩa của đời người, là khám phá ra lòng tốt ở trong lòng mình. Và càng thể hiện lòng tốt ra bao nhiêu, người ta càng khám phá ra chính mình, càng làm đẹp cho cuộc đời mình (mà từ ngữ Phật giáo gọi là “trang nghiêm”) bấy nhiêu. Đó cũng là con đường của hạnh phúc, của hài hòa, với tất cả mọi người, mọi vật.

 

Tận trong đây lòng mỗi người là một kho tàng lòng tốt. Khổng Tử đã nói: “Có lòng nhân là người vậy” (Nhân giả, nhân dã). Đức Phật đã nói: “Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh”. Nếu chúng ta biết sử dụng lòng tốt, khai thác nó, thể hiện nó thì chúng ta sẽ biến cuộc đời chúng ta và những người, những vật chung quanh thành một môi trường hạnh phúc an vui.

 

Có một thứ mà khi càng cho đi thì càng có thêm nhiều, đó là lòng tốt. Có một loại năng lượng mà càng sử dụng, thậm chí càng “xài phí” thì càng có nhiều thêm, đó là lòng tốt. Một năng lượng có thể biến cải tâm hồn con người, điều mà tất cả những năng lượng vật chất khác không thể nào làm được, biến thế giới này thành một thế giới đáng sống, biến con người thành những nhân cách muốn được sống cùng, đó là lòng tốt. Đây là một cuộc cách mạng không đòi hỏi gì (vũ khí, nguồn vốn tư bản, nguồn vốn tri thức…)nó chỉ nằm nơi quyết định và hành động của mỗi chúng ta. Chúng ta có quyền, vì không ai có thể ngăn cấm, biến cuộc đời chúng ta thành một sự thể hiện của lòng tốt, nghĩa là của hạnh phúc, và có quyền biến cả thế giới này, thậm chí cả vũ trụ này thành thế giới của lòng tốt: thế giới nơi lòng tốt lưu thông, nơi lòng tốt giao thiệp, nơi lòng tốt trao đổi, gặp gỡ,đối thoại, nơi lòng tốt làm chính trị,thương mại, kinh tế, xã hội…nghĩa là một nơi vinh danh cho con người, thế giới và thiên nhiên, mà không cần đặt tên nơi đó là Niết Bàn, Thiên đàng hay cần phải mang tên bất kỳ một chữ nghĩa hoặc tôn giáo nào.

________________

 

Nguyễn Thế Đăng - Tạp chí Văn hóa Phật giáo số 24 năm 2007

Bài có tiêu đề: Kho tàng lòng tốt - Tiêu đề đăng trên trang tin do www.phatgiao.org.vn đặt

Nguồn: phatgiao.org.vn

 

TRẦN NHÂN TÔNG VÀ CHUYẾN VIỄN DU CHIÊM THÀNH NĂM TÂN SỬU(1301(*))

Cuộc đời của Thượng hoàng, Phật hoàng Trần Nhân tông là một chuỗi của sự xuất xứ gắn liền việc Đạo với việc Đời và tất cả đều thuận theo qui luật, tức là tùy duyên chứ không hề khiên cưỡng.


Thời gian của Hội thảo giới hạn tới mức tối thiểu, vì vậy tôi chỉ khảo sát riêng một việc thượng hoàng qua thăm Chiêm Thành năm Tân sửu (1301 ).

 

Việc này Đại Việt sử ký toàn thư chỉ ghi vẻn vẹn có 12 chữ: “ Tháng 3, thượng hoàng đi chơi các địa phương, sang Chiêm Thành”. Dưới đó một đoạn lại ghi tiếp: “ Mùa đông tháng 11, thượng hoàng từ Chiêm Thành về”.


Các sử gia không hề cho ta biết nội dung cuộc viếng thăm nước Chămpa của thượng hoàng.


Năm năm sau, tức năm Bính ngọ ( 1306 ), Toàn thư lại chép: “ Mùa hạ, tháng 6, gả công chúa Huyền Trân cho vua nước Chiêm Thành là Chế Mân. Trước đây, thượng hoàng đi chơi các địa phương sang Chiêm Thành, đã trót hứa gả con gái cho. Các văn sĩ trong triều ngoài nội nhiều người mượn điển vua nhà Hán đem Chiêu quân gả cho Hung Nô làm thơ bằng quốc ngữ để chê cười.”


Việc này ta có thể lấy thêm một thông tin nữa từ Trần Chí Chính, theo khảo sát của học giả Lê Mạnh Thát trong lời đề từ bức tranh “Trúc lâm đại sĩ xuất sơn đồ”, Trần Chí Chính viết: “Có lúc ngài viễn du hóa độ cho các nước lân bang, phía nam đến tận Chiêm Thành, đã từng khất thực ở trong thành. Vua nước Chiêm Thành biết được điều đó, hết sức kính trọng thỉnh mời, dâng cúng trai lễ, sắp sẵn thuyền bè nghi trượng, thân hành tiễn ngài về nước và đem hai châu làm lễ dâng cho ngài. Ấy là


Thần Châu, Hóa châu nay vậy”[1].


Hai đoạn văn mà Đại việt sử ký toàn thư ghi vào năm Tân sửu ( 1301) và năm Bính ngọ ( 1306) cùng với lời đề từ bức tranh “ Trúc lâm đại sĩ xuất sơn đồ” của Trần Chí Chính cho ta một thông tin rằng việc thượng hoàng Trần Nhân tông qua thăm Chiêm Thành chỉ là chuyện ngẫu nhiên, và việc vua Chiêm là Chế Mân dâng miền đất hai châu của mình cho Đại việt cũng là một việc tùy hứng, khiến ta có cảm giác sự biếu tặng lãnh thổ này cũng bình thường như các món đồ khác.


Tôi không tin những điều đã chép ấy là sự thật lịch sử, mà tôi ngờ rằng các nhà chép sử cố ý làm mờ nhòe sự thật để giảm bớt tầm quan trọng của sự việc vì một lý do tế nhị nào đấy. Tuy nhiên trong hơn 700 năm qua vấn đề này đã không được hậu thế lý giải cho minh bạch, khiến đời sau cứ tin đó là sự thật lịch sử.


Tôi thật sự không tin vào sự ghi chép và lý giải mù mờ đó của các sử gia.


Sự thật cuộc viếng thăm vương quốc Chămpa của thượng hoàng Trần Nhân tông không phải là sự ngẫu nhiên “ đi chơi các địa phương” rồi tiện thể “sang Chiêm Thành”.


Ta biết tháng 3 năm Tân sửu (1301) thượng hoàng Trần Nhân tông sang viếng thăm Chiêm Thành thì trước đó toàn thư chép : “Tháng 2 nước Chiêm Thành sang cống”.


Chính đoàn cống sứ của Chiêm Thành sang là thương thảo một vấn đề gì nghiêm trọng lắm, có quan hệ đến hai nước Việt – Chăm. Đương nhiên đây là vấn đề cực kỳ hệ trọng mà quan gia tức vua Trần Anh tông và triều đình không giải quyết được, nên thượng hoàng phải tự mình đảm nhiệm. Nên biết, đây không phải là việc thăm viếng bình thường, càng không phải ngài đi truyền giáo. Đây hẳn là một vấn đề hết sức nhạy cảm và cả sự tế nhị nữa nên Đại Việt mới phải xuất tướng.


Để lý giải việc xuất tướng này, ta trở lại tình hình nước Đại Việt sau chiến thắng đế quốc Nguyên năm Mậu tí (1288).


Khi Thoát Hoan dẫn đoàn quân thất trận mười phần chết mất 5, 6 trở về và run sợ ra mắt vua cha ở Yên Kinh (Bắc Kinh) xin chịu tội.


Hốt Tất Liệt đùng đùng nổi giận, trị tội tên nghịch tử đã đem sự ô nhục trở về. Y đầy Thoát Hoan ra Dương châu, và cấm suốt đời không được gặp mặt. Còn Áo Lỗ Xích viên phó tướng của Thoát Hoan, bị đuổi ra Giang Tây.


Hốt Tất Liệt một mặt sai lập ngay Hồ Quảng An Nam hành tỉnh  tức bộ chỉ huy quân sự đánh Đại Việt), tập hợp binh lực chuẩn bị Nam chinh, mặt khác y xuống chiếu đổ hết trách nhiệm về cuộc chiến tranh vừa qua cho triều đình Đại Việt.


Vua Trần Nhân tông biết nhà Nguyên khó có thể tiến hành xâm lược nước ta trong ngày một ngày hai, mặc dù Hốt Tất Liệt hết sức cay cú vì mất thể diện. Bởi vì nội bộ người Nguyên đang gặp khó do nhiều tỉnh mất mùa, dân bị đói không huy động được lương thực, lại nhiều nơi dân Trung Hoa không chịu được sự cai trị hà khắc của người Mông Cổ đã nổi dậy đánh đuổi bọn quan lại. Điều băn khoăn nhất của Hốt Tất Liệt là hầu hết các danh tướng của nhà Nguyên, đều đổ dồn vào hai cuộc xâm lược Đại Việt tại các năm Ất dậu (1285) và Mậu tí ( 1288 ), tất cả đều trở thành bại tướng, nhưng hầu hết các danh tướng hàng đầu đều bị giết hoặc bị bắt như Lý hằng, Lý quán, Toa Đô, Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ Cơ v.v… Vậy đánh Đại Việt lúc này lấy đâu ra tướng soái chỉ huy chiến trận. Nên một mặt y vừa tập trung lực lượng vừa dùng sức ép bang giao với triều đình Đại Việt.


Biết khó khăn của giặc, Trần Nhân tông hết sức tỉnh táo đối phó trong cuộc chiến ngoại giao này. Một mặt nhà vua cho khôi phục nền sản xuất đã bị giặc tàn phá trong chiến tranh, chăm lo sức dân, xem xét tha hẳn hoặc tha một phần tô thuế cho dân tùy theo sự thiệt hại nhiều hay ít của từng vùng. Mặt khác, đích thân Trần Nhân tông chỉ huy việc đối ngoại với nhà Nguyên, các văn thư ngoại giao gửi Hốt Tất Liệt do chính nhà vua thủ bút.


Ta nhớ trong lá thư gửi Hốt Tất Liệt, vua Trần Nhân tông đã khéo léo nói rõ ai là kẻ gây chiến, và luôn thể ngài kịch liệt lên án tội ác chiến tranh của kẻ thù. Thư viết: “ Năm Chí nguyên thứ 22 (1285) Bình chương A-lí-hải-nha tham công ngoài biên giới, làm trái thánh chỉ. Do thế tiểu quốc sinh linh một phương phải chịu lầm than… Mùa đông năm Chí nguyên thứ 24 (1287) lại thấy đại quân thủy bộ đều tiến sang, thiêu đốt chùa chiền khắp nước, đào bới mồ mả tổ tiên, bắt giết người dân già trẻ, đập phá sản nghiệp trăm họ, các hành động tàn nhẫn phá phách không gì là không làm…


Tham chính Ô Mã Nhi lâu năm nắm binh thuyền riêng ra ngoài biển, bắt hết biên dân vùng biển, lớn thì giết chết, nhỏ thì bắt đi, cho đến cả treo trói xẻ mổ, mình đầu khắp chốn. Trăm họ bị bức tới chỗ chết, bèn dấy lên cái họa con thú chân tường”.


Lời lẽ của nhà vua thật sự khôn ngoan, kín kẽ, đanh thép và cả sự tế nhị không làm mất mặt kẻ thù hơn nữa. Theo dõi sát tình hình bên Đại Đô, vua Trần Nhân tông thừa biết Hốt-tất-liệt lúc này chẳng khác chi một con sư tử già chỉ nằm tại chỗ mà gầm rống chứ móng vuốt đều đã long, rụng; mặc dù y đã lập xong bộ chỉ huy và đã bàn bạc với tên bán nước Trần Ích Tắc vẫn trú ngụ tại Ngạc Châu.


Tuy vậy, nhà vua vẫn không loại bỏ khả năng giặc Bắc lại sang.


Đột nhiên tháng Giêng năm Quí tị (1293) Hốt Tất Liệt lăn ra chết, con trai y lên ngôi, hiệu là Nguyên Thành tổ. Thấy tình thế không thuận cho một cuộc chiến tranh nữa, Nguyên Thành tổ ra lệnh bãi binh.


Thời cơ đã đến, Trần Nhân tông nhằm ngày đại cát, tức 9 tháng 3 năm Quí tị (1293 ) nhường ngôi cho con là thái tử Thuyển và lên làm thái thượng hoàng.


Mười tháng sau khi nhường ngôi cho con, nhằm tháng 7 năm Giáp ngọ ( 1294 ), thượng hoàng Trần Nhân tông du ngoạn tới hành cung Vũ Lâm, và tại đây cái duyên đã khởi, thượng hoàng quyết định xuất gia tu Phật ở hành cung này. Sau đó ít bữa, nhà vua cho dựng một nếp chùa ngay phía trước hành cung để ngài tu tập.


Rõ ràng là với Trần Nhân tông việc đời hay việc đạo, tức là việc xuất xử đều tùy duyên. Việc nào túc duyên ắt nó tròn đầy. Vì vậy sau này trong bài phú “Cư trần lạc đạo”, mở đầu ngài viết: ‘ Cư trần lạc đạo thả tùy duyên”. Thế nhưng tất cả cái “duyên” ấy của ngài đều thuộc về lợi ích quốc gia và con đường tinh tấn của chính pháp.


Kỳ lạ thay, đúng một tháng sau khi ngài quyết định xuất gia, ngài lại cầm quân chinh phạt Ai Lao, vì trong khi giặc Nguyên xâm lược ta ở mặt đông, thì mặt tây Ai Lao cho quân sang cướp phá, giết tróc nhân dân ta. Việc này Toàn thư chép: ‘Tháng 8 năm Giáp ngọ (1294), thượng hoàng thân chinh Ai Lao, bắt sống người và súc vật không kể xiết”.


Và đến ngày mùng 1 tháng 2 năm sau, tức năm Ất mùi ( 1295 ) phái bộ nhà Nguyên là Lý Hành và Tiêu Thái Đăng qua báo về việc vua Thành tông nhà Nguyên lên ngôi và đã cho bãi binh, thượng hoàng Trần Nhân tông đích thân tiếp sứ và chỉ huy mọi việc giao dịch với sứ cho thật chu đáo, đồng thời tỏ rõ khí phách Đại Việt, đè bẹp ý chí xâm lược và thói quen ngạo mạn của kẻ thù. Khi sứ về, thư phúc đáp gửi Nguyên Thành tông, vẫn do thượng hoàng Trần Nhân tông thủ bút. Ngài còn cử viên ngoại lang Trần Khắc Dụng và Phạm Thảo đem thư của ngài sang Đại Đô xin Kinh Đại Tạng nữa. Đó là nghệ thuật bang giao thượng thừa của ngài khiến cho đối phương hạ nhiệt, và gây dựng mối rường cho sự giao hảo về sau.


Trong mấy năm tiếp không có việc gì lớn xảy ra, cho đến tháng 8 năm Kỷ hợi ( 1299 ) thượng hoàng Trần Nhân tông lên núi Yên Tử tu khổ hạnh. Và tới tháng 2 năm Tân sửu (1301) có phái đoàn của Chiêm Thành sang cống, liền đó tháng 3, thượng hoàng sang Chiêm tới tháng 11 mới về.


Xét ra trong nước có việc gì cực lớn, cực trọng yếu thượng hoàng Nhân tông mới đứng ra đảm trách, thế mà giữa thời bình, có gì hệ trọng tới mức phải đích thân thượng hoàng sang Chiêm. Và sang làm gì với khoảng thời gian dài dằng dặc tới cả 9 tháng?


Ta có thể lý giải việc này bằng một giả định tựa như hai nước đang lâm vào một tình thế căng thẳng có thể dẫn tới đối đầu. Phải chăng sau khi đại thắng hai cuộc xâm lược của nhà Nguyên, uy thế của Đại Việt lên rất cao, và với tiềm lực quân sự khiến các nước phương nam rất kiêng dè, nể trọng. Hơn nữa đích thân Nguyên Thành tông phải phái sứ đoàn sang Đại Việt tuyên cáo việc bãi binh, từ đó các tướng lĩnh gây sức ép với triều đình phải tiến về phương nam, để mở rộng lãnh thổ. Tin tức này lọt tới Chămpa, nên triều đình Chămpa cử sứ sang triều cống Đại Việt đồng thời thương thảo khá gay cấn.


Mở mang bờ cõi vào thời điểm lịch sử lúc ấy là hợp lý, Trần Nhân tông không thể không biết đến nhu cầu của quốc gia và nguyện vọng của tướng lĩnh, nhưng thực tình nhà vua không muốn cho nhân dân hai nước phải đổ máu. Vả lại sự ủng hộ lẫn nhau, kề vai sát cánh cùng chiến đấu giữa Đại Việt và Chămpa để chống kẻ thù chung trong mấy cuộc chiến tranh vừa qua đã gắn kết hai dân tộc lại với nhau. Như cuộc xâm lược của nhà Nguyên vào Chămpa năm Quí mùi (1283), do viên dũng tướng Toa Đô cầm đầu 5 vạn quân hùm sói, tưởng ăn tươi nuốt sống được vương quốc nhỏ bé này. Trước nguy cơ đó, vương quốc Chămpa phải cầu viện Đại Việt. Nhà Trần đã phái hai vạn quân thiện chiến có cả tàu thuyền sang sát cánh cùng quân dân Chămpa chiến đấu chống kẻ thù chung thắng lợi.


Để ngăn chặn tình huống xấu có thể xảy ra bất cứ lúc nào, nên thượng hoàng Trần Nhân tông phải đích thân qua Chiêm Thành.


Lại nói Chế Mân là ai? Đương nhiên ông là vua nước Chămpa, nhưng trong cuộc đối đầu lịch sử với Toa Đô năm Quí mùi, ông là hoàng thái tử Harijit, tổng chỉ huy cuộc kháng chiến kình chống với Toa-đô. Đánh nhau suốt một năm trời, Toa Đô không vào được cửa biển Thị Nại, không bén mảng được tới chân kinh thành Trà Bàn. Harijit đã dùng kế trá hàng suýt bắt được Toa Đô, khiến y phải đóng quân cả năm trời ngoài bãi biển, sau rút về đóng tại vùng giáp ranh với biên giới phía nam của Đại Việt để chờ thời. Chămpa thoát hiểm. Harijit trở thành vị anh hùng và nhà vua lỗi lạc của xứ sở. Một con người kiệt hiệt như thế không dễ gì để cho ai bắt nạt, không dễ gì để cho ai xâm chiếm đất đai của mình. Thế mà ngài Trần Chí Chính lại viết Chế Mân “ thân hành tiễn ngài (Trần Nhân tông) về nước và đem đất hai Châu làm lễ cúng dâng cho ngàiẤy là Thần Châu và Hóa Châu nay vậy”.


Sự việc đâu có dễ dàng như thế. Chín tháng ở Chămpa của thượng hoàng Trần Nhân tông là chín tháng thuyết phục, thương thảo căng thẳng và cả quyết liệt, cuối cùng mới đi tới giải pháp hôn nhân. Và miền đất hai châu dùng làm sính lễ. Như thế có vẻ hợp lý hơn và người Chiêm đỡ bẽ mặt hơn, hai dân tộc tránh được một cuộc chiến tranh, không gieo rắc hận thù cho nhau. Chấp nhận cuộc hôn nhân, chấp nhận cắt đất làm sính lễ, trên thực tế quốc vương Chế Mân phải kìm chế đến cực độ, chấp nhận cuộc hôn nhân cũng có nghĩa là buộc ông phải thừa nhận sức mạnh của Đại Việt.


Rõ ràng cuộc hôn nhân này không phải là nhu cầu của quốc vương Chămpa, bởi đây là giải pháp chính trị, giải pháp tình thế, và là một lối thoát cho cả hai phía. Nếu cần mỹ nhân thì vương quốc Chămpa thiếu gì mỹ nữ. Vả lại vua nước Chămpa đâu còn trẻ nữa, nếu không hơn, ít ra ông cũng bằng tuổi với thượng hoàng Trần Nhân tông. Bởi lẽ năm Quí mùi ( 1283 ) ông đã chỉ huy cuộc kháng chiến chống quân Nguyên xâm lược, đối đầu với Toa Đô, năm ấy vua Nhân tông của Đại Việt mới 25 tuổi.


Đạt được thỏa thuận này, phải nói hai bậc vĩ nhân đều có tầm nhìn xa rộng, đành rằng về phía Chế Mân, ông hết sức đau lòng.


Sự việc đến đây, có thể nói giả định đặt ra ở phần trước là có thể chấp nhận được.


Sự thật việc công chúa Huyền Trân về Chiêm, và việc Chiêm Thành cắt đất cho Đại Việt như thỏa thuận của hai vị quốc vương, không dễ gì đã thực hiện được.


Bằng chứng là sau này đem ra bàn ở Đại Việt cả triều đình không ai chấp nhận trừ Trần Đạo Tái và Đỗ Khắc Chung. Các nho sĩ trong triều ngoài nội, nhiều người còn làm thơ đả kích.


Đối với Chiêm Thành, sự việc chắc còn trắc trở hơn nhiều. Sử không cho ta biết gì thêm, nhưng chỉ riêng việc hai quốc vương đã quyết rồi mà 5 năm sau hôn lễ mới được cử hành. Điều đó chứng tỏ nội bộ Chiêm Thành đã đấu tranh dai dẳng và quyết liệt, cuối cùng sự việc mới thành.


Dẫu sao thì cuộc qua thăm Chiêm Thành 9 tháng của thượng hoàng Trần Nhân tông cũng kết thúc có hậu. Trước hết là tháo gỡ tình hình căng thẳng giữa hai nước, đặt mối quan hệ thân hữu bằng cuộc hôn nhân và loại bỏ được một cuộc chiến tranh (rất có thể) ra khỏi đời sống của hai dân tộc; “Hai châu Ô, Lý vuông ngàn dậm”  vĩnh viễn trở thành đất đai của Đại Việt.


Qua một chuỗi sự việc trên, ta thấy việc đời, việc đạo đối với thượng hoàng Trần Nhân tông đều là việc nước cả, nên lúc nào cần vai gì thì ngài thủ vai đó, tựa như các đấng Bồ Tát cứu thế, khi thấy thế gian cần gì thì ngài thị hiện đúng cương vị đó để cứu vớt. Qua các sự việc kể trên cũng chứng minh một cách sinh động trong lịch sử dựng nước và giữ nước, Phật giáo đã đồng hành cùng dân tộc là vậy đó.


Việc sáp nhập hai châu Ô, Lý vào cương thổ Đại Việt là thắng lợi ngoại giao cực kỳ vĩ đại của thượng hoàng Trần Nhân tông, chứng tỏ người có con mắt nhìn thấu nghìn tầm. Vì rằng từ đây mở ra con đường nam tiến của dân tộc vô cùng thuận lợi. Nên biết rằng tới cuối đời Trần, Hồ thì cương giới của Đại Việt đã mở tới Thăng Hoa, Tư Nghĩa (Quảng Nam, Quảng Ngãi). Và chỉ hơn nửa thế kỷ từ sau Hồ Quý Ly, thì Lê Thánh tông đã cắm bia cương giới trên đỉnh núi Đá Bia tận Phú Yên. Phần còn lại thuộc về các chúa Nguyễn và triều Nguyễn.


Sự nghiệp vào Chiêm năm Tân sửu (1301) của thượng hoàng Trần Nhân tông rực rỡ là vậy, mà các sử gia chỉ chép được vài dòng hết sức lạnh lùng và vô cảm, tựa như người thiểu năng trí tuệ. Tiếc thay suốt mấy trăm năm sau đó, các nhà làm sử nhận thức sự việc này cũng chẳng khác mấy người khiếm thính, khiếm thị, khiến hậu thế mang tội vô ơn đối với tiền nhân.


Tổ tiên đã để lại cho dân tộc ta cả một kho tàng kinh nghiệm đầy trí tuệ, nếu biết khai thác kinh nghiệm được tích lũy từ lịch sử, dân tộc ta sẽ có trí khôn và sức mạnh gấp nhiều lần. Khốn thay, cái sự nhỡn tiền cho ta thấy bài học lớn nhất của lịch sử là người ta đã không chịu rút ra từ lịch sử những bài học

 

______________


Hoàng Quốc Hải

Nguồn: www.vanhoanghean.com.vn

 

ĐẾN VỚI ĐỀN HUYỀN TRÂN CÔNG CHÚA

Suốt mấy trăm năm, Huế là cuộc đất từng được các chúa Nguyễn chọn lập thủ phủ, rồi trở thành kinh đô Phú Xuân của nhà Tây Sơn, đầu thế kỷ 19, Huế là quốc đô của nước Việt Nam thống nhất dưới triều đại các vua Nguyễn. Sau năm 1945, Huế trở thành cố đô lịch sử của cả nước. Huế là vùng đất linh diệu, nơi sản sinh ra nhiều nhân tài tuấn kiệt; cuộc đất ấy là chốn tiếp thu, hội tụ, giao thoa và lan tỏa những giá trị văn hóa dân tộc. Huế từ ngàn xưa cho đến hôm nay và cả ngàn sau vẫn là mảnh đất diệu kỳ ẩn chứa những giá trị về văn hóa, lịch sử, tôn giáo. Là nơi “Mặt đất thì non sông tươi đẹp, biển cả thì sông nước mênh mông” [1]. Thế đất ấy, sông nước ấy, ngọn gió ấy đã nuôi dưỡng, hun đúc nên chiều sâu đa cảm và phong phú giàu bản sắc của văn hóa, lịch sử, tôn giáo, văn học nghệ thuật của người Việt… đã làm cho Huế nghiễm nhiên trở thành một trung tâm có nhiều lợi thế về du lịch để các nhà quản trị có cơ sở hoạch định chiến lược phát triển du lịch theo hướng văn hóa tâm linh.

Trở về với vùng đất cố đô, đắm mình trong dòng chảy của văn hóa dân tộc, du khách thập phương sẽ gặp ở đây những thành quách, cung điện, đền đài và lăng tẩm, những chùa chiền miếu mạo gắn với từng giai đoạn lịch sử của chốn kinh kỳ xưa. Có thể nhận thấy, di sản văn hóa hòa quyện trong với đời sống tâm linh đã trở thành một nét đặc trưng rất riêng của du lịch Huế. Nhưng khi lạ thì ta đến hay quen lại trở về với vùng đất cố đô này, người ta không thể không nhắc đến ngôi đền thờ nữ thần linh ứng trong quần thể kiến trúc của Trung tâm Văn hóa Huyền Trân - một trong những điểm đến thu hút đông đảo du khách thập phương liên kết thành chuỗi hệ thống du lịch văn hóa tâm linh của tỉnh Thừa Thiên Huế hơn mười năm nay.

 

Ẩn giữa rừng thông u tịch, tọa lạc dưới chân ngọn Ngũ Phong thuộc địa phận thôn Ngũ Tây, xã Thủy An (nay là phường An Tây), thành phố Huế; Đền Huyền Trân – nơi thờ vị Công chúa nhà Trần là một quần thể kiến trúc tiêu biểu về văn hóa tín ngưỡng vừa đậm chất dân gian vừa pha nét cung đình, là nơi nối tiếp truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc. Ngôi đền không chỉ là kiểu dáng kiến trúc có giá trị nghệ thuật, mà còn là một thiết chế văn hóa du lịch, có ý nghĩa sâu sắc trong việc tri ân, tưởng nhớ công đức Thần Nữ Huyền Trân – người đã có công mở mang bờ cõi vào đấu thế kỷ 14.

Huyền Trân Công Chúa (1287 - 1340) là ái nữ độc nhất của Vua Trần Nhân Tông. Bà là một trong ba vị công chúa nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam đã có công mở mang bờ cõi đất nước cùng với Ngọc Vạn, Ngọc Khoa thời chúa Sãi. Minh chứng cho công lao to lớn của Huyền Trân, sử Việt từng chép việc này:

 

...“Năm 1305, tháng 2, Chiêm Thành sai Chế Bồ Đài và bộ đảng hơn trăm người dâng hiến vàng bạc, hương quý, vật lạ làm lễ vật cầu hôn. Năm 1306, mùa hạ, tháng 6, gả Công Chúa Huyền Trân cho chúa Chiêm Thành Chế Mân...”[2]. Từ cuộc hôn nhân mang tính chính trị này đã đem về cho Đại Việt đất đai của “Hai châu Ô và Lý vuông ngàn dặm” (vào đầu năm 1307, vua Trần Anh Tông sai đại thần vào sắp đặt phên dậu đã cho đổi thành châu Thuận, châu Hóa – nghĩa là thuận lòng theo giáo hóa của người Việt). Dải đất sính lễ ấy trải dài từ bờ nam sông Hiếu, Đông Hà, tỉnh Quảng Trị vào đến bắc sông Thu Bồn tỉnh Quảng Nam ngày nay.

 

Sách Đại Việt Sử ký toàn thư cho biết thêm: “Năm 1307, mùa hạ, tháng 5 chúa Chiêm Thành Chế Mân chết....” [2]. Theo tục Chiêm Thành, chúa chết thì Hoàng hậu của chúa cũng phải vào giàn thiêu để chết theo. Vua Anh Tông biết thế, sợ Công Chúa bị hại nên sai tướng mượn cớ sang viếng tang tìm cách để giải cứu. Ngày 18 tháng 8 năm 1308, Huyền Trân về đến Thăng Long, rồi nàng theo gót của vua cha, chọn cửa thiền tu tập. Ghi nhớ công ơn của bà, các triều đại sau đều sắc phong bà làm thần hộ quốc. Triều nhà Nguyễn từ vua Thành Thái trở về sau đều ban chiếu ghi ơn công lao của Huyền Trân “trong việc giữ nước giúp dân, có nhiều linh ứng”, Năm Khải Định thứ 9 (1925) sắc phong bà là “Trai Tĩnh Trung Đẳng Thần”.

 

Mặc dù mới tạo lập, nhưng linh ứng thị hiện nên nhiều người cho rằng, quần thể kiến trúc Trung tâm Văn hóa Huyền Trân chính là một biểu trưng tín ngưỡng tri ân cội nguồn của dân tộc, sự ngưỡng vọng trước công lao to lớn của Huyền Trân mà nhân dân khắp nơi đã theo lối tìm về chiêm bái. Trước khi có Trung tâm Văn hóa Huyền Trân – nhiều làng quê ở Quảng Trị, Thừa Thiên Huế và Quảng Nam – Đà Nẵng, nhân dân đã tự nguyện lập những ngôi miếu nhỏ quanh năm hương khói thờ Bà! Sự tri ơn những người có công với đấy nước là lẽ sống tự nhiên có từ bao đời nay của người Việt.

 

Cùng với sự ngưỡng vọng ấy và để tưởng nhớ, tri ân công lao của Huyền Trân trên mảnh đất Ô Lý xưa với một nơi thờ tự bề thế, thể theo ước vọng của nhân dân, ngày 26/3/2006, lãnh đạo tỉnh Thừa Thiên Huế đã cho phép Công ty Du Lịch Hương Giang khởi công xây dựng Trung Tâm Văn hoá Huyền Trân. Nhờ sự đồng lòng góp sức của nhiều người, đúng một năm sau, vào ngày 26/03/2007, công trình được khánh thành nhân kỷ niệm 700 năm Thuận Hóa – Phú Xuân. Gần chục năm đi vào hoạt động, dưới sự quản lý của Công ty Du lịch Hương Giang, nhiều hoạt động văn hóa tâm linh đặc sắc đã được tổ chức tại nơi đây. Có thể nói, chính những mô hình hoạt động văn hóa diễn ra hàng năm tại Đền Huyền Trân đã góp phần quảng bá, thu hút đông đảo du khách thập phương và quần chúng nhân dân cả nước đến tham quan, chiêm ngưỡng, đồng thời góp phần tôn vinh, ngợi ca những giá trị truyền thống văn hóa của dân tộc. 

 

Trước những yêu cầu thay đổi của mô hình quản lý, ngày 21/9/2016, Ủy ban Nhân tỉnh Thừa Thiên Huế đã ban hành Quyết định số 2198/QĐ-UBND, chuyển giao Trung tâm Văn hóa Huyền Trân cho Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh quản lý, khai thác, phát huy giá trị của Đền Huyền Trân.

 

Quần thể kiến trúc của Trung tâm này trải rộng trên 28 ha. Vị trí và quy mô của nó đã tạo nên một không gian văn hóa vừa thâm nghiêm vừa kỳ vỹ. Đây cũng chính là yếu tố tạo nên sức hút mầu nhiệm của du lịch văn hóa tâm linh đối với du khách thập phương. Điều đặc biệt của ngôi đền được xây dựng nằm trên một trục thẳng, kiến trúc theo lối truyền thống, trụ biểu vươn cao, nền móng kiên cố, điện thờ tôn nghiêm: Phía sau tựa vào núi Ngũ Phong, phía trước là hồ Trường Xuân soi bóng nhật nguyệt, sơn mạch tả hữu hai bên như bức tường thành.

 

Từ bên ngoài, đường dẫn vào đền Huyền Trân đột khởi lên bốn trụ biểu khá lớn, dưới chân có nghê đá chầu phục. Qua khoảng sân rộng được lát gạch Bát Tràng, du khách sẽ được chiêm ngưỡng hình ảnh mô phỏng tương tự như cầu Trung Đạo bắc qua hồ Thái Dịch trước Điện Thái Hòa của Đại Nội Huế. Để đến được nơi thờ chính, du khách phải qua tam quan, theo một đường thẳng, chỉ vài trăm bước là đến nội điện thờ Công Chúa.

 

Điện thờ Huyền Trân được bố cục theo lối kiến trúc truyền thống của các điện thờ Mẫu. Chính điện là nơi đặt pho tượng bằng đồng mô phỏng hình tượng Huyền Trân ngồi trên ngai. Tượng cao 2,37m do các nghệ nhân đúc đồng nổi tiếng của Phường Đúc Huế cẩn tác. Hậu điện thiết án thờ Đốc tướng Đoàn Nhữ Hài – một vị quan thanh liên có nhiều công lao với Thuận Hóa và đất nước.

 

Nằm trong quần thể kiến trúc của Trung tâm Văn hóa Huyền Trân, còn có đền thờ Đức vua – Phật hoàng Trần Nhân Tông, là điểm đến tiếp theo ngay sau đền thờ Huyền Trân Công Chúa. Lối dẫn lên đền có đôi rồng canh chầu uy nghi đã góp phần tạo nên tính chất ẩn dụ cho quần thể kiến trúc thờ tự. Trần Nhân Tông là một vi vua anh minh, người có công lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, Ngài còn được tôn xưng là vị Tổ của Thiền phái Trúc Lâm, vua Phật Việt Nam. Bên trong đền thờ là bức tượng đúc bằng đồng nguyên chất cao khoảng 3m, nặng 2 tấn phỏng theo mẫu tượng nhà vua qua phiên bản lấy từ đền thờ các vị vua Trần tại Nam Định.

 

Bên cạnh các bộ phận kiến trúc chính, trong khuôn viên của Trung tâm Văn hóa Huyền Trân còn có nhiều công trình kiến trúc lớn nhỏ khác. Đáng chú ý là cái Tháp chuông Hòa Bình. Để đến được đây, du khách phải vượt qua 246 bậc cấp, dẫn lên độ cao 108m, nơi có lầu bát giác treo lơ lửng quả chuông Hòa Bình. Chuông được đúc bằng đồng, nặng 1,6 tấn, cao 2,16 m, đường kính rộng 1,26m. Đặc biệt là, trên thân chuông có khắc tám chữ: Thế giới hòa bình, nhân loại hạnh phúc. Cùng với đó là hình ảnh tượng trưng cho bốn ngôi chùa nổi tiếng: Giác Lâm, Thiên Mụ, Diên Hựu, và Trúc Lâm. Mang ý nghĩa thống nhất giang sơn, nhân văn cao cả mà tiếng chuông hòa bình đem lại – tiếng chuông của an bình, hạnh phúc, du khách khi đến đây có thể tự mình dóng lên những hồi chuông kỳ vọng. Bên cạnh đó còn các công trình kiến trúc khác như: Tượng Di Lạc, Tượng Ni Sư Hương Tràng, miếu thờ Sơn Thần, Thủy Thần.... Tất cả đã góp phần tạo nên một chỉnh thể kiến trúc đặc sắc chứa đựng vẻ đẹp thâm nghiêm của núi rừng Ngũ Phong về phía tây nam của thành phố Huế.

 

Nằm trong chuỗi các hoạt động phục vụ cho nhu cầu đời sống văn hóa tâm linh thông qua du lịch, từ khi đi vào hoạt động cho đến nay, Trung tâm Văn hóa Huyền Trân đã tổ chức nhiều mô hình hoạt động có ý nghĩa. Đánh dấu bước ngoặt chuyển mình, sau khi tiếp quản quần thể kiến trúc Đền Huyền Trân từ Công ty Du lịch Hương Giang, Trung tâm Văn hóa Thông tin được lãnh đạo Sở giao nhiệm vụ, không những tiếp tục duy trì tổ chức các mô hình hoạt động văn hóa thường niên mà còn tiếp cận, làm mới và tổ chức nhiều hoạt động quảng bá có ý nghĩa. Đáng chú ý là hoạt động lễ hội Huyền Trân được tổ chức vào ngày mồng 9 tháng Giêng hàng năm. Việc tổ chức các hoạt động giới thiệu, tuyên truyền, quảng bá, các nghi thức lễ hội văn hóa hằng năm đã góp phần vào việc mở rộng nghiên cứu, tiếp nhận, giáo dục và tôn vinh công lao dựng nước và mở nước, cùng những giá trị nhân văn, cốt cách, tư tưởng của các bậc tiền nhân. Với ý nghĩa tri ân công đức của Huyền Trân Công Chúa vì sự nghiệp mở mang bờ cõi, phát triển của đất nước, lễ hội diễn ra nhiều hoạt động: Đại lễ cầu nguyện “quốc thái dân an”, Nghi thức dâng hương; Hội hoa đăng; cùng các hoạt động trưng bày, triển lãm, trò chơi dân gian.... Đa dạng và phong phú trong muôn màu hình thái tổ chức. Lễ hội Huyền Trân đã thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân, bà con tăng ni phật tử, các chức sắc tôn giáo và du khách gần xa về tham dự. Gần đây nhất, thành công của Đại lễ “Đền Huyền Trân – Ngưỡng vọng tiền nhân” được diễn ra vào dịp đầu xuân Đinh Dậu 2017, đã cho thấy những bước đi ban đầu của Trung tâm là đúng hướng, hứa hẹn một chặng đường mới đầy tin tưởng. Dựa vào những con số thống kê cụ thể chúng ta thấy: năm 2017 có hơn 40 ngàn lượt khách đến đây tham quan, chiêm bái, thu từ nguồn bán vé, tài trợ và công đức, được hơn 1 tỷ 400 triệu đồng, tăng 10% so với cùng kỳ năm ngoái.... Điều này là minh chứng cụ thể nhất cho những nỗ lực và cố gắng mà Trung tâm Văn hóa Thông tin tỉnh đã làm trong một năm qua. Kết quả đạt được của ngày hôm nay cũng chính là bước đệm, là tiền đề cơ sở để chúng ta tin tưởng rằng Trung tâm Văn hóa Huyền Trân sẽ ngày một phát triển, các hoạt động văn hóa diễn ra tại đây sẽ ngày càng nổi bật, mang hơi thở cuộc sống giàu chất nhân văn thông qua các lễ hội tri ân Huyền Trân Công Chúa và các bậc tiền nhân có công với đất nước sẽ ngày càng thu hút đông đảo du khách từ khắp nơi tìm về. Điều ấy đã thổi vào ký ức dân gian theo một lẽ tự nhiên. Nhờ nhân duyên ấy mà gần đây ở Huế mới có câu truyền tụng:

 

Những ai con cháu vua Trần/ Tháng Giêng mở hội Huyền Trân thì về.

 

Có thể nói, Trung tâm Văn hóa Huyền Trân là một trong những mô hình du lịch văn hóa tâm linh đặc sắc vừa gần với đạo, vừa sát với đời của tỉnh Thừa Thiên Huế. Đến với Đền Huyền Trân, giữa cảnh núi rừng u tịch như chốn Bồng Lai, từ trong mênh mang tiên giới của đất trời cố đô... du khách sẽ được đắm mình trong không gian tĩnh lặng của cõi thiền, tự mình dâng hoa cúng Phật và chư Tiên những nén hương trầm thơm ngát sẽ làm cho tâm hồn ta thanh sảng tựa như giải thoát phiền muộn mà bất cứ nơi đâu cũng khó tìm thấy được.

-----------------------------------

[1] Dương Văn An, Ô Châu Cận Lục.

[2] Đại Việt Sử ký toàn thư

__________

Trung tâm Văn hóa Huyền Trân

SỐNG THEO LÝ TƯỞNG BỒ TÁT


Trong đạo Phật có hai tư trào, hai xu thế tựa hồ như mâu thuẫn nhau, nhưng thật ra thì bổ sung hỗ trợ cho nhau; cả hai tư trào đó đều có ý nghĩa đối với cuộc sống của con người hiện đại
 
Thứ nhất là tư trào hướng nội, quay trở về cái mà đạo Phật thường gọi là bộ mặt thật xưa nay của chính mình, con người thật của mình. 
 
Thứ hai là tư trào hướng ngoại, mà sách Phật thường gọi là lợi hạnh độ sanh. Lợi hạnh là làm tất cả mọi điều lợi ích cho tất cả mọi loài hữu tìnhĐộ sanh là giải thoát mọi loài hữu tình khỏi mọi nỗi bất hạnhđặc biệt là nỗi bất hạnh lớn lao nhất là sống chết luân hồiThực chất của tự trào hướng ngoại này là đồng nhất cá nhân mình với toàn thể mọi người, mọi chúng sinh trong thế giớivũ trụ
 
Cả hai xu hướng nói trên tiêu biểu cho hai hạnh lớn của đạo Phật là trí tuệ và từ bi, và đức Phật là bậc Thánh được Phật tử toàn thế giới ca ngợitôn sùng như là thể hiện một cách hoàn hảo nhất hai đức hạnh trí tuệ và từ bi đó. 
 
Tôi xin lần lượt phân tích cặn kẻ hơn hai xu thế của đạo Phật, mà tôi tin rằng có một giá trị hiện sinh lớn (great exitstential dimension) đối với thời đại hiện nay của chúng ta.
 
1. Xu thế hướng nội: Quay về con người thật của chính mình. 
 
Chúng ta có thể suy nghĩ gì về cuộc sống thác loạn, chạy theo lạc thú vật chất đang là đặc trưng nổi bật của những xã hội có trình độ văn minh vật chất cao, và cả của những xã hội đang phát triển, nhưng bị nền văn minh đó làm cho mê hoặc và chói lòa? Có sức mạnh sâu kín gì nằm ở đằng sau những tệ nạn xã hội như ma túytội phạm ở lứa tuổi thanh thiếu niên, mãi dâm, loạn dâm và bạo dâm, đồng tính luyến ái, bệnh tâm thần, nạn tự sát cá nhân hay tập thể v.v . . . ? ở đằng sau tất cả nếp sống thác loạn đó là xu thế của con người bất hạnh muốn thoát khỏi cái ta hạn hẹp và vị kỷ, muốn thoát khỏi một tâm trạng bất an và ưu tư dai dẳngthường trực mà tiếng Anh gọi bằng danh từ chung là anxiety. Nhưng vì sao lại có tâm trạng bất an và ưu tư thường trực đó mà con người hiện đại muốn tìm sự lãng quên trong nếp sống thác loạn, đôi khi mất cả tính người. 
 
Phải chăng là con người tưởng rằng, vì nội tâm đầy ưu tư và buồn chán, cho nên phải hướng ra bên ngoài để tìm lạc thú vật chất? Phải chăng con người tưởng rằng càng chiếm hữu nhiều của cải và tiện nghi vật chấtcon người sẽ càng được thêm hạnh phúc, mọi nỗi ưu tư trong nội tâm sẽ được xóa bỏ.
 
Ảo tưởng này đâu có mới mẻ mà có tính muôn thuở ở ấn Độ cổ đại, đã từng có triết phái Duy vật (Carvaka) chủ trương như thế. Và ở thành phố Athène thời Socrates, có những triết gia thuộc phái ngụy biện (Sophistes) cũng đã từng bênh vực cho một lối sống khoái lạc vật chất tối đa như là một lối sống lý tưởng, xứng đáng được con người mơ ước. 
 
Đạo Phật nói đó là ảo tưởng của những người khát nước mà còn ăn mặn, và càng ăn mặn càng bị khát. Đạo Phật vạch ra rằng, nỗi bất an và ưu tư nội tâm chỉ có thể giải quyết ở trong nội tâm, chứ không thể giải quyết ở bên ngoài. Phương pháp tu Thiền của đạo Phật – mà người phương Tây quen gọi là đạo Phật Thiền (Zen Buddhism) chính là phương pháp giúp cho con người trở về với nội tâm mình để giải quyết một cách căn bảnmọi nỗi ưu tư và bất an của nội tâmNội tâm chúng ta không khác gì mặt nước hồ, bị những đợt gió dục vọng chạy theo ngoại cảnh làm cho nổi sóng và vẩn đụcChúng ta ưu tư chúng ta bất an chính vì chúng ta hằng ngày sống với cái nội tâm nổi sóng đó, trong khi cả lớp nước hồ sâu thẳm, trong lặng thì chúng ta bỏ quên như là xa lạ, không phải của mình. 
 
Mục đích của Thiền không ở ngoài việc chỉ bày cho chúng ta những phương pháp thích hợp để làm cho bề mặt của nội tâm ta không còn nổi sóng, không còn dao động, để có thể nhìn sâu vào những lớp nội tâm rộng lớn, trong lặng vốn là cái tâm thật của chúng tachân tâm của chúng ta
 
Nội tâm con người, từ bề mặt cho đến những bề sâu, một khi được làm cho vắng lặng, thì sẽ trong sáng như gương, sẽ là nguồn an lạc và hạnh phúc, sẽ là chân lý là ánh sáng, là Niết BànPhương pháp tu Thiền rất nhiều vì bản tính con người muôn vàn sai biệt, người thì độn căn, người lợi căn, có người nặng về tham, có người lại sân và si nhiều; hay là ngược lại. Thế nhưng mục đích cuối cùng phải đạt tới của mọi phương pháp tu Thiền là an tịnh nội tâm, làm vắng lặng và trong sáng nội tâm, biến nội tâm từ dao động trở thành yên tịnh, từ mê mở trở thành sáng suốt. Tâm sáng suốt, đó chính là trí tuệ Bát-nhã, chính là cái mà sách Anh ngữ thường gọi là trí tuệ siêu việt Transcendental wisdom. Có được trí tuệ Bát-nhã, thì tức là thành Phật, bậc Thánh nhìn thấy tất cả biết hết tất cả (Omnicient). 
 
Một ông vua mà giới sử học quốc tế thường biết đến như là một anh hùng đã lãnh đạo quân dân Việt Nam hai lần chiến thắng đội quân xâm lược Nguyên Mông vào thế kỷ XIII, đội quân đã từng làm mưa làm gió trên các chiến trường châu âu, và Châu Á thời bấy giờ. Ông vua đó Trần Nhân Tông. Ông vua đó, sau khi đánh bại quân Nguyên Mông đã không chịu ở lại ngôi vua để tận hưởng vinh quang của chiến thắng, mà đã nhường ngôi cho con, xuất gia theo đạo Phậttrở thành vị Thiền sư lỗi lạc, lập ra phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử. Những tác phẩm Phật học của ông, toát lên nhiều tư tưởng kỳ đặc. Một trong những tư tưởng đó là theo nguyên văn lời ông.
 
“Bụt ở trong nhà, 
Chẳng phải tìm xa, 
Nhân khuẩy bổn nên ta tìm Bụt, 
Cốc mới hay chính Phật là ta”. 


(Cư Trần Lạc Đạo Phú - hội 5) 
 
Nghĩa là theo Trần Nhân Tôngcon người thật của chúng ta chính là Phật, và chính vì chúng ta quên mất cái bổn, cái gốc đó cho nên chúng ta mới là chúng sinh, có trí óc mê muội và thân tâm đau khổ bất hạnh. Niềm ưu tưbất an có thường trực trong nội tâm của chúng ta chính là bắt nguồn từ ở chỗ chúng ta quên mất con người thật của chúng ta là Phật, sống với con người giả của chúng ta là chúng sinhĐạo Phật của Trần Nhân Tôngcũng như của đời Trần nói chung là một đạo Phật hướng nội rất rõ nét, rất sinh động. Trên từ vua cho đến các quan lại, tướng lãnh, binh sĩ, dân thường nếu mọi người đều tin rằng mình là những vị Phật sẽ thành, do đó ngay trong hiện tại phải sống xứng đáng với vị Phật ở trong mình, sống với những đức hạnh của Phật như là từ bitrí tuệdũng khívô úy... thì hãy hỏi có giặc ngoại xâm nào, kể cả quân đội Nguyên Mông thiện chiến, có thể xâm phạm bờ cõi Việt Nam mà không bị đánh bại. 
 
Cổ đức có câu:
“Khổ hải vô biên, 
Hồi đầu thị ngạn”.
 
 
Nghĩa là:
“Biển khổ mênh mông, 
Nhưng quay đầu lại thì sẽ thấy bờ ngay”. 

 
Quay đầu lại hướng về nội tâm, quay đầu lại sống với con người thật của mình, và con người thật đó chính là Phật với đầy đủ hai đức hạnh trí tuệ và từ bi. Đó chính là phương thuốc mà đạo Phật có thể cống hiến cho con người hiện đạicon người hiện nay đang lãng đãng như khách phong trần trên khắp các nẻo đường, tìm kiếm sự thật và hạnh phúc, tuy biết rằng sự tìm kiếm đó là vô vọngĐạo Phật nói: Thôi hãy đừng tìm kiếm đâu xa nữa? Hãy trở về với chính mình, với con người thật của mình. 
 
Trần Nhân Tông, nhà vua–Thiền sư mà tôi đã giới thiệu trên đây có hai câu thơ chữ Hán:
 
“Gia trung hửu bán hưu tầm mích 
Đối cảnh 
vô tâm mạc vấn Thiền”. 
 
Nghĩa là: 
“Trong nhà sẵn ngọc thôi tìm kiếm 
Lặng lòng đối cảnh hỏi chi Thiền”. 

 
Trong nhà có sẵn ngọc, không cần tìm kiếm đâu xa nữa, cũng như nói chính mình là Phật rồi, thôi đừng cầu Phật, tìm Phật ở đâu xa nữa. Và vì đã là Phật, cho nên ngoại cảnh dù có biến đổihấp dẫn như thế nào cũng không thể ảnh hưởng chi phốiNội tâmcon người vẫn bình lặng. Đã bình lặng thì sáng suốt, không gì không thấy, không biết. Và đó chính là Thiền rồi, cũng không cần học hỏi Thiền làm gì.
 
2. Xu thế hướng ngoại: Một cuộc sống hoàn toàn vô ngãvị thatích cựcnăng độngphong phú. 
 
Con người, sau một quá trình tìm kiếm lâu dài không có kết quả, cuối cùng biết trở về với chính mình, thì bỗng thấy cái gọi mình là ta thực ra không tồn tại. Cả thân và tâm chỉ là một dòng, một chuỗi hiện tượng tâm và sinh lý biến chuyển liên tục trong từng sát na một và ở bên trong hay là ở đằng sau dòng chảy liên tục đó, không có một cái gì gọi là linh hồn hay là cái ta vĩnh cửu
 
Kinh Thủ Lăng Nghiêm (Suragama) một bộ kinh Đại thừa quan trọng đã minh họa thuyết Vô ngã của đạo Phật bằng một ảnh dụ rất sinh động và cụ thể
 
“Cũng như trăm ngàn biển cả trong lặng mênh mông, mà bỏ đi tất cả rồi chấp nhặt một bọt nước làm mình...”. Chấp thân tâm này là ta, cũng như biển cả quên mình là biển cả rồi chấp nhặt một bọt sóng là biển cả. 
 
Con người giác ngộ lý vô ngã của nhà Phật, phát hiện thấy mình không phải là cái bọt nước, mà là cả đại dương rộng lớn, mình là đồng một thể với tất cả mọi người, mọi chúng sinh, mọi loài hữu tình, và từ nhận thức đầy trí tuệ này, con người phát ra một lòng từ rộng lớn, lòng bi rộng lớn, nguyện làm tất cả những gì có thể làm được vì lợi lạc của tất cả chúng sinh, của tất cả mọi loài. Sống như vậy, đạo Phật gọi là sống theo lý tưởng Bồ-tát (Bodhisattva ideal). Đó là lý tưởng sống hòa nhập vào mọi người, mọi chúng sinh, đúng theo nguyên lý mọi người, mọi chúng sinh đều bình đẳng, cùng một thể
 
Tôi tin rằng lý tưởng Bồ-tát, như được trình bày trên đây, là một lý tưởng có giá trị hiện thực lớn đối với thế giới hiện đại, vì các tôn giáo lớn trên thế giới đều có thể chấp nhậnvà thực hiện lý tưởng Bồ-tát của đạo Phật trên những mức độ khác nhau, và với những tên gọi khác nhau. 
 
Đạo Gia-tô nói: “Hãy thương người như thể thương mình”. Đạo Hồi nói: “Người Hồi giáo trong bốn biển đều là anh em”. Đạo Phật nói: “Hãy yêu thương tất cả chúng sinh như người mẹ yêu thương đứa con một của mình”. 
 
Tất cả những lời lẽ khác nhau đó đều nói lên một nội dung thống nhất là tình thươngrộng lớn, bao trùm lên mọi người không phân biệt chủng tộc và dân tộc, màu da và giới tính v.v. . . Tình thương rộng lớn đó phải là nét đặc trưng nổi bật nhất của một trật tự đạo đức mới, rất cần thiết cho xã hội và thế giới hiện đại, ở phương Tây cũng như phương Đông. 
 
Đạo Phật khuyến cáo mọi người hãy quay về với người thật của mình, thế nhưng con người thật của chúng ta lại là vô ngã. Nó không hạn chế trong cái thân và tâm vô thường hạn hẹp này, nó là cũng một thể với tất cả mọi người, mọi chúng sinh và mọi loài hữu tình khác. Và sống hòa nhập với mọi người, mọi chúng sinh chính là lối sống vô ngã vị tha theo lý tưởng Bồ-tát. 
 
Nói tóm lại, hướng nội để tìm con người thật của chính mình. Nhưng sau khi phát hiện con người thật của mình lại không có mình không có ta, lại là vô ngã, đồng nhất thể với tất cả mọi người, mọi chúng sinh khác, cho nên đạo Phật lại chủ trương một cuộc sống năng động tích cực, hướng ngoại không phải là để tìm và hưởng thụ những lạc thú vật chất tầm thường và phi đạo đức, mà là để mưu lợi ích và đem lại an lạc cho mọi người, mọi loài Trong cả hai xu thế hướng nội và hướng ngoại này, nổi bật lên chủ thuyết Vô ngã của đạo Phật, nó không khác gì sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ giáo lýđạo đức và thực tiễn tu hành của đạo Phật
 
Khi đức Phật còn tại thế và cả sau khi Ngài đã nhập diệt, tại bất cứ nơi nào đạo Phật có mặt thì lý tưởng vô ngã vị tha bao giờ cũng là chuẩn mức bất di dịch của nếp sống đạo đức Phật giáo, đối với người xuất gia cũng như người tại giaLý tưởng đó chói sáng Phật giáo Nguyên thủy cũng như Phật giáo phát triển, Phật giáo Nam tông cũng như Phật giáo Bắc tông, hồi Phật còn tại thế cũng như mãi mãi về sau này. Bất cứ mọi ngườinào mà chối bỏ lý tường đó, sống ngược lại với lý tưởng đó, thời không thể được xem như là người Phật tử chân chính, chứ đừng nói gì đến bậc A-la-hán. Ấy thế mà vẫn cóngười viết sách phê phán, lý tưởng của A-la-hán là vị kỷ hẹp hòi. Họ không hiểu rằng muốn thành A-la-hán, điều kiện tiên quyết là phải diệt trừ mọi tư tưởng về cái ta, phải giác ngộ về lý vô ngã vị tha
 
Chúng ta hãy nghe lại lời đức Phật khuyến dụ lớp học trò đầu tiên của Ngài: 
 
“Này các Tỳ kheo, các người cần phải tu hành, vì an lạc cho số đông, vì hạnh phúc cho số đông, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc của chư Thiên và loài Người...” (Mahavagga, 19) 
 
Cần nhắc lại rằng, sớm từ năm 300 trước Công nguyên, vào một thời mà đạo Phật Đại thừa chưa hưng khởi thì Hoàng đế Asoka ở Ấn Độ đã phái nhiều đoàn truyền giáo mang thông điệp của đức Phật Thích-ca đến tận các xứ Xiri, Hy Lạp, Ai Cập và Bắc Phi và nhiều vùng xa xôi khác trên thế giới. Theo truyền thuyết, một phái đoàn truyền giáo của Asoka đã đến tận nước Việt Nam, và có xây một bảo tháp ở đây. Truyền giáo ở đất nước xa xôi, bất chấp những trở ngại về ngôn ngữ, phong tục tập quán v.v... là một hành động không những vị tha mà còn dũng cảm nữa. Và đã có biết bao nhiêu người đi mà không trở về trong sự nghiệp truyền giáo của các tôn giáo lớn trên thế giới
 
Thiếu sót cơ bản của con người hiện đại là đã đánh mất con người thật của chính mình, mà chạy theo cái Ta giả với những khao khát thèm muốn không bao giờ có thể thỏa mãn.Con người hiện đại ở xã hội văn minh phương Tây, có thể sống một dời sống tiện nghi vật chất thật đầy đủ, nhưng chỉ thiếu một cái là hạnh phúc, là sự an ổn nội tâm để thật sự thụ hưởng tất cả mọi của cải và tiện nghi vật chất đó. 
 
Đúng như vậy, của cải và tiện nghi vật chấtlạc thú vật chất không thể là mục đích tự nó, và cứu cánh được Bởi vì, tối thiểucon người phải có sự bình tĩnh và thanh thản của tâm hồn mới có thể tận hưởng những lạc thú vật chất hay tinh thần. Thế nhưng từ lâu, do cuộc sống thác loạn và hướng ngoại, mất hài hòa với bản thân, với thiên nhiên và xã hộicon người của xã hội văn minh phương Tây đã đánh mất sự bình tĩnh và thanh thản đó của tâm hồn, là điều kiện tiên quyết và cơ bản của một hạnh phúc chân chính và thật sự.
 
Ngay từ thời Hy Lạp cổ đại, Socrates đã vạch ra tất cả sự vô nghĩa lý của một lối sốngtôn thờ khoái lạc vật chất như là độc nhất và tối thượngChúng ta có thể đọc lời phê phán sắc sảo đó của Socrates trong bài đối ngoại Phillebus của Plato. Trong cuộc đàm thoại, Socrates đã dẫn đối phương của mình là Protarchus đến kết luận vô lý này là con người chỉ cần hưởng lạc thú tối đa, ngoài ra thì không cần gì hết, kể cả lý trí, sự thông minhtrí nhớkiến thức và quan niệm đúng đắn. Nghĩa là theo Protarchus, con ngườimiễn là được hưởng lạc thú tối đa, còn thì không cần gì nữa hết, kể cả sự thông minhlý trítrí nhớ v.v. . . 
 
Socrates nói: “Như vậy thì không có trí nhớ làm sao ông nhớ được ông đã được hưởng lạc thú: bởi lẽ ngay sau khi hưởng lạc thú, ông không còn còn nhớ gì được hết, và hơn nữa, vì ông cũng không có quan niệm đúng đắn, ông cũng không nghĩ được rằng ông đã được hưởng lạc thú, và bởi vì ông cũng thiếu khả năng lý trí, ông cũng mất khả năngnhận thức được rằng ông sẽ còn được hưởng lạc thú trong tương lai. Ông phải sống cuộc sống của con sò hay là của những con vật sống nào khác mà trú xứ là đáy biển mà linh hồn bị dấu kín ở trong vỏ cứng. Có phải tất cả là như thế chăng, hay là chúng ta có thể nghĩ một cái gì khác?” 
 
Protarchus: “Chúng ta không thể nghĩ khác được”. 
 
Socrates: “Nếu vậy thì phải chăng chúng ta có thể nghĩ rằng một lối sống như thế là đáng mong ước?” 
 
Protarchus: “Này Socrates, lập luận của ông làm tôi điếc cả tai ...” 
 
Tôi dẫn chứng cuộc đàm thoại của Socrates để nói rằng con người hiện đại, sống một cuộc sống văn minh vật chất cao ở cuối thế kỷ XX này vẫn có thể tiếp tục suy nghĩ ấu trĩ như Protarchus ở Athenes cách đây hai mươi lăm thế kỷ . 
 
Tất nhiên, đạo Phật một mặt lên án cuộc sống chạy theo những dục vọng vật chất thấp hèn, mặc khác cũng không phải đề cao cuộc sống nghèo đói, kham khổ, đạo Phật lại càng phê phán lối tu hành hạ xác thân, ép xác khổ hạnh, chỉ làm cho thân người bệnh hoạn và đầu óc con người u mêĐức Phật khuyến chúng ta tránh cả hai cực đoan chạy theo dục lạc vật chất và sống ép xác khổ hạnhĐức Phật khuyến cáo học trò mình cũng như tất cả mọi người sống nếp sống lành mạnh, giản dị, hướng thượngchói sáng đạo đứcgiới hạnh và trí tuệ, một nếp sống mà tất cả mọi người giàu hay nghèo, xuất gia hay tại gia, ở phương Đông hay phương Tây đều có thể sống hay hướng đến. Một nếp sốngnhư vậy sẽ đem lại sự bình tĩnh nội tâm sự sáng suốt của trí tuệ, giúp cho con người có thể thấy được sự vật như thật. Chính nhờ đó mà con người có thể sống hài hòa với bản thân và làm chủ bản thân, sống hài hòa với xã hội, với thiên nhiên. Và trong nhịp sống hài hòa đó, với bản thân, với xã hội và thiên nhiêncon người mới tìm thấy hạnh phúcthật sự. 
 
Nếu tất cả mọi người đều chấp nhận và sống nếp sống như vậy, thì cả thế giới chiến tranh và bất ổn này sẽ sớm trở thành một thế giới hòa bình và hạnh phúc, kỷ nguyên XXI sắp tới đây sẽ trở thành kỷ nguyên của con người, kỷ nguyên trong đó các giá trị nhân bản là thước đo, là chuẩn mức của mọi giá trị, đường ranh giới phân biệt thật hay giả, thành công hay thất bại, chánh kiến hay tà kiến. Một kỷ nguyên trong đó con người trở thành vị quan tòa tối thượngđánh giá mọi hệ thống chính trị xã hội, xem hệ thống nào ưu việt, đầy sức sống, hệ thống nào lỗi thời, phải cương quyết tự cải tổ lại hay là rút lui khỏi vũ đài lịch sử
 
Xu thế hướng nội, quay về với con người thật của chính mình không thể bị hiểu nhầm, là tiêu cực, tự thu mình trong tháp ngà. Trên đây, tôi có nói đến một xu thế khác của đạo Phậtxu thế hướng ngoại dẫn tới một cuộc sống vị tha tích cực, vì lợi lạc của tất cả mọi người, mọi chúng sinh. Trong kinh điển của Phật giáo Nguyên thủy, có ghi những lời dạy của đức Phật, khuyến cáo các đệ tử của mình hãy tích cực hoằng hóa độ sanh, và nhất là thực hành Bốn nhiếp pháp để gần gũi chúng sinh, mưu lợi lạc cho chúng sinh, gần gũi mọi người, đem lợi lạc cho mọi người
 
Bốn nhiếp pháp đó là ái ngữ tức là lời nói dịu hiền, dễ nghe, bố thí tức là giúp đỡ chúng sinh trên các mặt cung cấp của cải vật chấtgiảng giải đạo lýgiáo pháp của đức Phậtche chởbảo vệ chúng sinh nếu cần thiết, và tùy hỷ với tất cả mọi điều lợi lạc cho chúng sinh, và cuối cùngđồng sự tức là cùng làm việc với chúng sinh v.v... Bốn nhiếp pháp, ái ngữbố thí, lợi hành, đồng sự là như vậy, chúng thể hiện nếp sống vị tha tích cực của đạo Phật. (Xem Tăng Chi I, 387). Cùng với Bốn nhiếp pháp, người Phật tử giác ngộ về thuyết vô ngã còn ra sức tu tậpthực hành Bốn vô lượng tâm, tức là mở rộng lòng từlòng bi, lòng hỉ, lòng xả, bao trùm tất cả chúng sinh khắp mười phươngĐồng thời cũng tu tập thực hành sáu hạnh ba la mật, tức là bố thígiới hạnhnhẫn nhụctinh tấnThiền địnhtrí tuệ. Sáu hạnh này được tu tập và thực hành đến chỗ hoàn hảotriệt để sẽ giúp cho những người sống theo lý tưởng Bồ-tát, có thể vứt bỏ hoàn toàn cái Ta nhỏ hẹp, vị kỷ, sống hòa nhập vào tất cả chúng sinh, tất cả mọi người

 Đó là nếp sống của những người Phật tử giác ngộ về lý Vô ngã của đạo PhậtNếp sốngđó không có gì là tiêu cực thụ độngTrái lại, nó rất tích cựcnăng động và phong phú, đa dạng. Mong rằng nó tỏ ra hấp dẫn đối với con người hiện đại, đối với xã hội hiện đại.
 
___________________

TRUNG TÂM VĂN HÓA HUYỀN TRÂN - ĐỊA DANH VĂN HOÁ LỊCH SỬ, TÂM LINH Ở CỐ ĐÔ HUẾ.

Tọa lạc dưới chân núi Ngũ Phong, phường An Tây, nằm cách thành phố Huế khoảng 7km về phía Tây, Trung tâm Văn hóa Huyền Trân là một điểm du lịch hấp dẫn thu hút đông đảo người dân địa phương và khách du lịch mỗi khi đến Huế. Nơi đây là điểm du lịch lịch sử có giá trị văn hoá tâm linh, đưa du khách trở về sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước Việt Nam trong việc bảo vệ và mở mang bờ cõi vào thời nhà Trần, thế kỷ XIII.

Theo sử liệu, vua Chiêm Thành Jaya Simhavarman III (Chế Mân) để cưới được Công chúa Huyền Trân đã đem hai châu Ô, Lý dâng lên vua Trần làm sính lễ. Vâng mệnh vua cha là Trần Nhân Tông và vua anh Trần Anh Tông, Huyền Trân đã gác tình riêng, gạt lệ xuống thuyền theo chồng, lập mối hòa hiếu và mở mang bờ cõi của đất nước về phương Nam. Đất Thuận Hóa - Phú Xuân - Thừa Thiên Huế cũng được khai sinh từ đó, đến nay đã hơn 700 năm. Để ghi nhớ công ơn của Công chúa, Triều đình nhà Nguyễn (1802 - 1945) đã lập miếu Đại Đế Vương ở làng Lịch Đợi, phường Đúc, TP Huế, thờ các vị khai quốc công thần, trong đó có Công chúa Huyền Trân. Miếu thờ này ngày nay không còn nữa. Năm 2006, nhân kỷ niệm 700 năm Thuận Hóa - Phú Xuân - Thừa Thiên Huế (1306-2006), UBND tỉnh Thừa Thiên Huế đã cho phép Công ty Du lịch Hương Giang đầu tư xây dựng Trung tâm Văn hóa Huyền Trân tại thôn Ngũ Tây, phường An Tây, TP Huế, trên một không gian rộng 28 ha nằm dưới chân núi Ngũ Phong để tri ân công đức của công chúa Huyền Trân. Đây là khu vực có rừng thông xanh bạt ngàn xung quanh, bốn mặt đồi núi trùng điệp. Không gian tĩnh lặng, kỳ vĩ, những làn gió thoang thoảng, mát nhẹ vào mùa hè, toát lên hơi ấm từ lòng đất của núi rừng vào mùa đông, phù hợp với những công trình kiến trúc văn hóa mang tính tâm linh.Từ ngoài dẫn vào là bốn trụ biểu lớn, dưới chân có nghê đá phục chầu, tiếp đến là ba bậc sân rộng lát gạch Bát Tràng, có hồ nước và cầu bắc qua tương tự như cầu Trung Đạo bắc qua hồ Thái Dịch trước điện Thái Hòa của Đại Nội Huế; tiếp nữa là tam quan, rồi đến đền thờ Huyền Trân. Trong đền thờ Huyền Trân có pho tượng Công chúa Huyền Trân ngồi trên ngai được đúc bằng đồng, tượng cao 2,37m, do các nghệ nhân đúc đồng nổi tiếng của phường Đúc, TP Huế cẩn tác. Hậu điện thiết án thờ Đoàn Nhữ Hài, người tương truyền là vị quan người Việt đầu tiên theo lệnh vua vào trấn giữ và yên dân 2 châu Ô, Lý khi 2 châu này về với Đại Việt. Đôi rồng chầu đạt kỷ lục dài nhất Việt Nam sẽ dẫn du khách đến với ngôi đền thờ uy nghi đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông - vị vua có công lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Trong đền thờ đức vua Trần Nhân Tông có pho tượng nhà vua rất lớn được làm bằng đồng đỏ nguyên chất, cao 3m, nặng 2 tấn, đúc theo phiên bản lấy từ đền thờ các vua Trần tại Nam Định. Trên đỉnh núi Ngũ Phong ở độ cao 108 mét có tháp chuông Hoà Bình, một quả chuông đồng nguyên chất nặng 1,6 tấn, cao 2,16 mét, tiếng chuông ngân vang lan toả trong cõi thinh không tĩnh lặng để cầu nguyện cho Thế giới Hoà bình - Nhân loại Hạnh phúc. Ngày 30 tháng 12 năm 2016, thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế tại Quyết định số 2198/QĐ-UBND ngày 21/9/2016 về việc chuyển giao chức năng quản lý Trung tâm Văn hóa Huyền Trân, Sở Văn hóa và Thể thao phối hợp với Công ty Cổ phần Du lịch Hương Giang tổ chức lễ bàn giao Trung tâm Văn hóa Huyền Trân cho Sở Văn hóa và Thể thao quản lý. Sau khi tiếp nhận, Sở Văn hóa và Thể thao giao trách nhiệm cho Trung tâm Văn hóa Thông tin tỉnh trực tiếp quản lý, khai thác và phát huy các giá trị văn hóa tâm linh, lịch sử. Để phục vụ nhu cầu khách tham quan, dâng hương, chiêm bái, Trung tâm Văn hoa Huyền Trân mở cưa thường xuyên các ngày trong tuần kể cả Thứ Bảy và Chủ Nhật. Đặc biệt, vào mồng 9 tháng Giêng Âm lịch hàng năm, Lễ hội Huyền Trân được tổ chức quy mô và long trọng nhân ngày mất của công chúa Huyền Trân. Đây là một hoạt động thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc nhằm tri ân các bậc tiền nhân đã có công với dân, với nước trong việc mở mang bờ cõi. Lễ hội đền Huyền Trân Xuân Đinh Dậu 2017 lần đầu tiên được Sở Văn hóa và Thể thao tổ chức có quy mô lớn nhất từ trước đến nay, đầy đủ hai phần lễ và hội. Bên cạnh các phần lễ chính, như: Khai hội, Lễ Tiên Thường (cáo giỗ), Lễ kỵ Công chúa Huyền Trân, còn nhiều hoạt động khác như: Biểu diễn võ cổ truyền, chơi bài Chòi, biểu diễn vật dân tộc, đẩy gậy, trình diễn nghề dệt Zèng, chằm nón, thư pháp, trưng bày các sản phẩm thủ công truyền thống…đã tạo không khí tươi vui phấn khởi trong lễ hội, thu hút đông đảo nhân dân và du khách tham gia. Hiện nay, Trung tâm văn hoá Huyền Trân đã trở thành một điểm du lịch văn hoá tâm linh, lịch sử, thu hút đông đảo người dân địa phương và du khách đến tham quan, chiêm bái tưởng niệm vị công chúa đã có công mở mang bờ cõi nước Việt, góp phần làm phong phú thêm danh sách các địa danh du lịch hấp dẫn ở Huế, thành phố văn hóa ASEAN, thành phố Festival của Việt Nam với quần thể kiến trúc di tích cố đô Huế cùng với nhã nhạc cung đình đã được UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại.

_____________

Hương Linh

Nguồn: trungtamhuyentran.thuathienhue.gov.vn

DI SẢN VĂN HỌC CỦA PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG

Thơ văn chữ Hán của vua Trần Nhân Tông đúng đã thể hiện được “một sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cảm quan triết học và cảm quan thế sự, có tinh thần lạc quan, yêu đời, tấm lòng vị tha của một nhân cách cỡ lớn và sự rung động tinh tế, lòng yêu tự do thích thảng của một nhà nghệ sĩ”, chứ không phải chỉ chứa đựng những ý tưởng “cực kỳ chán đời” như có người đã nhận xét.


Chỉ đến thời vua Trần Nhân Tông, với hai tác phẩm của mình là Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca cùng Vịnh Vân Yên tự phú của Huyền Quang (1254 -1334) và Giáo tử phú của Mạc Đỉnh Chi (1284 -1361), nền văn học tiếng Việt mới có những tác phẩm đầu tiên hoàn chỉnh của mình còn được bảo tồn đến ngày nay.

Tiếng nói của dân tộc ta chắc chắn tồn tại từ lâu lắm rồi. Nhưng phải tới cuối thời kỳ triều đại Hùng Vương, tức vào khoảng những thế kỷ trước và sau Tây lịch, ta mới có một số thông tin về tiếng nói này qua bài Việt ca và một số cấu trúc được tìm thấy trong Lục độ tập kinh và Tạp thí dụ kinh. Đặc biệt hai bản kinh vừa nói có khả năng đã tồn tại như những bản kinh tiếng Việt đầu tiên mà ta hiện biết và đã lưu hành vào những thế kỷ đầu sau Tây lịch, tối thiểu cho tới lúc Khương Tăng Hội (? – 280) dịch ra tiếng Trung Quốc. Vào thời điểm này, tiếng Việt đã phát triển phong phú và đa dạng, đến nỗi Sĩ Nhiếp (137-226) tương truyền đã viết bộ từ điển Hán Việt đầu tiên được biết, đó là Chỉ nam phẩm vựng hai cuốn. Đà phát triển này vẫn tiếp tục tới cuối thế kỷ thứ tư với sự ra đời các tác phẩm có thể coi như tự điển chữ Việt và cách thức ghi âm chữ Việt biết dưới tên Tá âm và Tá âm tự của Đạo Cao (370 -450?)1.

Rồi sau đó tiếng Việt như một văn tự vẫn tiếp tục được sử dụng mạnh mẽ. Dân ta đã dùng tên Bố Cái Đại Vương để gọi cho người anh hùng Phùng Hưng.Và khi nền độc lập dân tộc được phục hưng, các triều đại có khả năng đã dùng tiếng Việt để ban bố các mệnh lệnh hành chánh của triều đình cho dân chúng. Ta có thể mạnh dạn đưa ra giả thiết này nhờ vào một sự cố giữa hàn lâm phụng chỉ Đinh Củng Viên và hành khiển Lê Tòng Giáo năm 1288, theo đó có lệ cũ là phải viết và đọc chiếu chỉ của vua bằng hai thứ tiếng, tiếng Việt và tiếng Hán. Như thế, đến giữa thế kỷ thứ 13 tiếng Việt như một văn tự đã thực hiện mọi chức năng của nó. Điều bất hạnh là do thiên tai và địch họa, hàng loạt các tác phẩm viết bằng tiếng nói của dân tộc ta từ những bản kinh đầu tiên như Lục độ tập kinh và các bản chiếu chỉ của nhà vua cho đến các tác phẩm văn học như Tiều ẩn quốc ngữ thi tập của Chu Văn An đã bị tán thất.

Bài thơ tiếng Việt tương truyền đầu tiên hiện biết là bài Giáo trò cho các buổi hát chèo thường được gắn cho tên tuổi của Thiền sư Đạo Hạnh (? -1117). Vì đây là một bài thơ ngắn chỉ gồm 32 chữ và vấn đề văn bản học vẫn chưa được xác định rõ ràng, cho nên nhiều nghi vấn đã đặt ra. Chỉ đến thời vua Trần Nhân Tông, với hai tác phẩm của mình là Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca cùng Vịnh Vân Yên tự phú của Huyền Quang (1254 -1334) và Giáo tử phú của Mạc Đỉnh Chi (1284 -1361), nền văn học tiếng Việt mới có những tác phẩm đầu tiên hoàn chỉnh của mình còn được bảo tồn đến ngày nay. Vị trí văn học của vua Trần Nhân Tông do thế đối với dân tộc ta rất là vĩ đại.

Không phải là một ngẫu nhiên của lịch sử mà vinh dự này thuộc về con người Trần Nhân Tông. Phần trên, ta đã thấy sự nghiệp và con người vua Trần Nhân Tông, một sự nghiệp văn trị và võ công quá lớn lao, đến nỗi qua thời gian và sự phá hoại của kẻ thù vẫn không làm phai mờ đi được trong tâm thức của những người dân Việt. Chính họ đã giữ gìn các tác phẩm văn học ấy cho ta, trong số hàng trăm hàng ngàn các tác phẩm tiếng Việt khác đã ra đời cùng thời với chúng, mà bây giờ ta chỉ biết tên, chứ không biết chúng có nội dung cụ thể là gì. Nói khác đi, công ơn của Trần Nhân tông đối với dân tộc ta quá sâu đậm, nhờ thế những tác phẩm như Cư trần lạc đạo phú, Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca đã được trân trọng và giữ gìn.

Thế nhưng, không phải chỉ vì công ơn và uy tín cá nhân của vua Trần Nhân Tông, mà hai tác phẩm ấy được trân trọng và giữ gìn. Hai tác phẩm đó được trân trọng và giữ gìn còn vì giá trị nội tại của bản thân chúng, đặc biệt là Cư trần lạc đạo phú. Có thể nói Cư trần lạc đạo phú là một bản tuyên ngôn của con đường sống đạo, mà Phật giáo Việt Nam đã đề ra và đã chi phối cuộc sống của hàng triệu triệu người phật tử Việt Nam thời vua Trần Nhân Tông và những thế kỷ sau. Nó cũng là một trong số ít tác phẩm Phật giáo Việt Nam được trích dẫn đích danh như một quyền uy, khi Thiền sư Chân Nguyên trình bày những vấn đề Phật giáo cho vua Lê Chính Hòa vào khoảng những năm 1692 trong Kiến tính thành Phật lục.1 Vì thế tư tưởng của Cư trần lạc đạo phú đã giúp một phần nào cho sự tồn tại của nó trong quá trình truyền đạt.

Ít lắm là trong khoảng 300 năm trở lại đây, thế kỷ nào Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca cũng đều được in và phổ biến rộng rãi. Bản in xưa nhất chúng ta hiện còn là bản in năm 1745 do sa di ni Diệu Liên vâng lệnh thầy mình in lại và bản gỗ lưu lại chùa Liên Hoa ở kinh đô Thăng Long. Nó được in kèm chung sau tác phẩm Thiền tông bản hạnh của Chân Nguyên ở những tờ 47 -57. Trong bản in này có kèm theo Vịnh Hoa Yên tự phú của Huyền Quang và Ngộ đạo nhân duyên kệ của chính Chân Nguyên. Việc in kèm theo như thế này chứng tỏ văn bản mà ni cô Diệu Liên dùng để in, chắc chắn phải đến từ một truyền bản của thiền sư Chân Nguyên, nghĩa là từ một truyền bản của nửa cuối thế kỷ thứ 17. Trước thế kỷ đó, số phận của Cư trần lạc đạo thế nào ta hiện nay chưa có một thông tin nào cả.

Nếu trước thế kỷ thứ 17 ta hiện chưa có thông tin gì về truyền bản của Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca thì sau thế kỷ thứ 18, tức sau lần in của ni cô Diệu Liên, vấn đề truyền bản của hai tác phẩm này tương đối rõ ràng. Trong lời dẫn cho lần in năm 1930 của Thiền tông bản hạnh, Thiền sư Thanh Hanh (1840 -1936) cho biết vào năm Gia Long thứ 12 (1814) bản Thiền tông bản hạnh đã được in lại, và cùng với nó chắc chắn phải có Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca. Hơn nữa khi thiết lập bản mục lục các kinh sách Phật giáo lưu hành vào nửa đầu thế kỷ thứ 19 trong Đạo giáo nguyên lưu quyển thượng tờ 5a6, An Thiền có ghi tên một tác phẩm gọi là Trần triều thập hội lục. Rõ ràng Thập hội lục của triều Trần chính là 10 hội của Cư trần lạc đạo phú.

Trong vòng hơn 300 năm trở lại đây, Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca đã được in nhiều lần.

Điều này chứng tỏ tư tưởng Cư trần lạc đạo vẫn tiếp tục được học tập và truyền bá dù Phật giáo cũng như đất nước đang chuyển mình qua một giai đoạn mới. Giá trị lý luận của tư tưởng Cư trần lạc đạo từ đó vẫn còn có sức hấp dẫn mạnh mẽ, đặc biệt là vào cuối thế kỷ thứ 18 với những chiến công Ngọc Hồi, Đống Đa oanh liệt của quân và dân Tây Sơn, trong đó nổi bật những gương mặt phật tử tự nhận mình là người kế thừa truyền thống Trúc Lâm như binh bộ thượng thư Tỉnh Phái Hầu Ngô Thời Nhiệm là Thiền sư Hải Lượng, Hương Lĩnh Bá tiến sĩ Nguyễn Đăng Sở là Thiền sư Hải Âu v.v.

Hơn 300 năm qua, Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca đã được trân trọng, giữ gìn và học tập như thế, thì chắc chắn hơn 300 năm trước nó cũng có chung một diễm phúc. Bởi vì nếu không có diễm phúc ấy, thì qua ngọn lửa đốt sách bạo tàn của giặc Minh xâm lược trong gần 20 năm chiếm đóng, chúng chắc chắn đã chịu chung một số phận với các tác phẩm của dân tộc ta thời Lý Trần về trước. Hơn nữa, thời Lê sơ và thời Mạc là thời kỳ Phật giáo phục hưng mạnh mẽ trong phong trào dân tộc hóa với việc dịch kinh sách ra tiếng Việt như Đại báo phụ mẫu ân trọng kinh của Thiền sư Viên Thái, việc in lại các tác phẩm sử học Phật giáo như Nam tông tự pháp đồ của trạng nguyên Lương Thế Vinh, Thánh đăng ngữ lục của Thiền sư Chân Nguyên, và đặc biệt việc thiết định và cổ xúy dùng tiếng Việt của Thiền sư Pháp Tính trong Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa.

Trong một thời kỳ Phật giáo hoạt động sôi nổi và mạnh mẽ như vậy, việc học tập và nghiên cứu hai tác phẩm vừa nêu của vua Trần Nhân Tông chắc chắn đã xảy ra. Điều đáng tiếc là, cho đến lúc này ta vẫn chưa tìm ra một thông tin nào xác nhận về sự hiện diện của hai tác phẩm ấy trong giai đoạn đó. Dẫu thế, chúng chắc chắn đã được lưu truyền để đến cuối thế kỷ thứ 17 Chân Nguyên mới có dịp trích dẫn trong Kiến tính thành Phật của mình. Nói khác đi chúng đã nằm trong dòng chủ lưu của nền văn học và tư tưởng tiếng Việt. Cho nên, như đã nói, thật là một vinh dự cho nền văn học tiếng Việt của nước ta đã bắt đầu với ngòi bút của một anh hùng dân tộc có những chiến công oanh liệt như Trần Nhân Tông và với những tác phẩm đã có một tác động sâu rộng trên truyền thống dân tộc, chứ không phải chỉ của Phật giáo, như Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca.

Hai tác phẩm này thuộc loại văn học luận đề. Chúng là những bản văn chính luận tập trung trình bày một số vấn đề tư tưởng và lý luận. Chúng đã dùng tiếng Việt như một ngôn ngữ để phát biểu những tư tưởng trừu tượng tương đối khó nắm bắt một cách khéo léo và dễ hiểu. Từ đó tiếng Việt đã trở thành một ngôn ngữ đủ khả năng chuyển tải bất cứ nội dung tư tưởng khác nhau nào và có một vẻ đẹp của riêng nó. Nhờ thế, các tác phẩm ấy không những đã lôi cuốn được sự chú ý của người đương thời, mà còn có sức hấp dẫn đối với hậu thế. Tiếng Việt tự bản thân nó đã trở thành một ngôn ngữ văn học. Đây chính là một trong những cống hiến lớn, mà hai tác phẩm này đã mang lại cho văn học Việt Nam.

Để có được hai tác phẩm ấy vào cuối thế kỷ thứ 13, tiếng Việt từ bao đời, hơn cả ngàn năm trước, từng là một ngôn ngữ văn học. Chúng đã kế thừa những thành tựu và tinh hoa của nền văn học trong hơn ngàn năm đó, nên đến ngày nay mỗi khi đọc lại, chúng ta vẫn cảm thấy chúng gần gũi, đẹp đẽ và dễ hiểu, khác hẳn với những câu văn ngọng nghịu khó chịu do người ngoại quốc ghi lại mới chỉ cách ta hơn 300 năm. Thực tế để có được giọng văn lý luận như đã xuất hiện trong Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca, tiếng Việt đã trải qua hàng ngàn năm thử thách và sử dụng, chứ không phải đến thời vua Trần Nhân Tông nó mới bắt đầu được đưa vào sự nghiệp sáng tác của thơ văn.

Quả vậy, nếu tiếng Việt không tồn tại trong hơn một ngàn năm đó, đối lập lại với tiếng Hán và trở thành một trong những bức trường thành chặn đứng mưu đồ Hán hóa do các nhà nườc Trung Quốc trong cùng thời gian đã ra sức quyết tâm thực hiện, thì dân tộc ta ngày nay cũng không còn, chứ nói chi đến một nền độc lập nhà nước và một tiếng nói riêng biệt. Do thế, Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca là một kết tụ của những nỗ lực phi thường và đầy gian khổ trong quá trình đấu tranh bi tráng để bảo vệ dân tộc và giữ vững chủ quyền quốc gia. Giá trị văn học của hai tác phẩm này từ đó càng nhân lên gấp bội.

Do tính kết tụ vừa nói, không một ngôn ngữ nào trên thế giới bỗng chốc có thể nhảy lên vũ đài văn học, để trở thành một ngôn ngữ văn học. Ngay cả những ngôn ngữ lớn có văn bản lâu đời trên thế giới như tiếng Hán, tiếng Phạn, Hy Lạp v.v. cũng đều trải qua một quá trình kiểu ấy, để từ những văn bản bói quẻ thô sơ hoặc những bài ca vịnh đơn giản, mà tiến lên thành những ngôn ngữ văn học nổi tiếng trên thế giới. Tiếng Việt ta cũng thế. Để có những tác phẩm lý luận có vẻ đẹp văn học như Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca, nó cũng đã trải qua một quá trình kết tụ lâu dài từ bài Việt ca đầu tiên được biết cho đến các mẩu chuyện trong Lục độ tập kinh và Tạp thí dụ kinh, cho đến bài Giáo trò của Thiền sư Đạo Hạnh. Cả quá trình sử dụng thành thạo và nhuần nhuyễn tiếng nói dân tộc đã tạo cơ hội cho sự ra đời của hai tác phẩm vừa nêu.

Sự xuất hiện của tiếng Việt như một ngôn ngữ văn học, do thế, là một quá trình đấu tranh gian khổ đầy thử thách và nguy cơ. Qua quá trình đấu tranh đó, tiếng Việt đã chứng tỏ tính ưu việt của mình, làm tiền đề cho sự xuất hiện của Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca. Không qua một quá trình như thế thì không bao giờ có được những tác phẩm kể trên. Đây là điểm mà những người nghiên cứu văn học Việt Nam từ trước đến nay chưa bao giờ chú ý tới.

Người ta cứ loay hoay đi tìm nguồn gốc chữ Nôm trong mấy bản văn bia còn lại của thời Lý Trần, rồi cứ đẩy lên đẩy xuống thời điểm ra đời của thứ chữ này trong khoảng từ thế kỷ thứ 8 cho đến thế kỷ thứ 13. Họ quên rằng để vào cuối thế kỷ thứ 13 có các tác phẩm như Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca thì tiếng Việt và chữ Việt phải xuất hiện rất sớm, ít lắm cũng năm bảy trăm năm trở lên. Đây là một quá trình bắt buộc có tính khách quan đối với bất cứ ngôn ngữ nào, chứ không phải chỉ riêng tiếng Việt ta. Vì vậy, nghiên cứu hai tác phẩm này chính là nghiên cứu quá trình kết tụ của nó.

Ngày nay, ta không biết đích xác vua Trần Nhân Tông đã viết hai tác phẩm ấy vào thời điểm nào. Nhưng chắc chắn là Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca, qua nội dung của chính nó, phải được vua Trần Nhân Tông viết vào thời gian sau khi đã sống ở núi Yên Tử, tức sau tháng 8 năm Kỷ Hợi (1299), năm mà ĐVSKTT đã ghi “Thượng hoàng từ phủ Thiên Trường lại xuất gia vào núi Yên Tử tu khổ hạnh”, vì bài ca này đã nói tới việc:

Yên bề phận khó
Kiếm chốn dưỡng thân
Khuất tĩnh non cao
Náu mình sơn dã
Vượn mừng hủ hỷ
Làm bạn cùng ta
Vắng vẻ ngàn kia
Thân làm hỷ xả…
Đem mình náu tới
Cảnh vắng ngàn kia
Dốc chí tu hành
Giấy sồi bô bả.

Viết như thế này, rất gần với những gì mà Huyền Quang tả về chùa Vân Yên và cuộc sống của vua Trần Nhân Tông ở đây:

Cảnh tốt hòa lành
Đồ tựa vẽ tranh
Chỉn ấy trời thiêng mẽ khéo
Hèn chi vua Bụt tu hành…
Chim óc bạn cắn hoa nâng cúng
Vượn bồng con kề cửa nghe kinh
Nương am vắng Bụt hiện từ bi,
gió hiu hiu mây nhè nhẹ
Kề song thưa thầy ngồi thiền định,
trăng vằng vặc núi xanh xanh…
Mặc cà sa, nằm trướng giấy,
màng chi châu đầy lẫm, ngọc đầy rương.
Quên ngọc thực, bỏ hương giao
cắp nạnh cà một vò, tương một hũ…
Thầy tu trước đã nên Phật quả
Tiểu tu sau còn vị tỳ kheo.

Còn Cư trần lạc đạo phú, thì thật khó mà xác định vua Trần Nhân Tông đã viết ra vào lúc nào trong cuộc đời mình.

Có người bảo là nó được viết ra trước lúc vua đi xuất gia, tức trước năm 1299. Chắc hẳn khi nói thế họ đã dựa vào hai câu mở đầu của bài phú này:

Mình ngồi thành thị
Nết dụng sơn lâm

Để khẳng định vua Trần Nhân Tông đang còn sống ở thành Thăng Long, mà lòng vua đã hoàn toàn an nhàn tự tại như sống ở rừng núi. Nhưng cũng chính trong bài phú đó ở Hội thứ 5 ta đã gặp:

Thiền ngỏ năm câu, nằm nhãng trong quê Hà Hữu
Kinh xem ba biến, ngồi ngơi mái quốc Tân La
Trong đạo nghĩa, khoáng cơ quan,
đà lọt lẫn trường kinh cửa tổ
Lánh thị phi, ghê thanh sắc,
ngại chơi bời dặm liễu đường hoa
Áo miễn chăn đầm ấm qua mùa,
hoặc chằm hoặc xể
Cơm cùng cháo, đói no đòi bữa, dầu bạc dầu thoa

Viết như thế rõ ràng đây không phải là cuộc sống cung đình thị thành, mà là cuộc sống dân dã rừng núi. Cho nên, thật khó mà dựa vào nội dung của bài phú này để xác định thời điểm ra đời của nó. Điều chắc chắn là nó được viết vào lúc vua Trần Nhân Tông đã có ít nhiều quan tâm đến núi Yên Tử. Ta biết trong Phật giáo đời Trần, Yên Tử có vị thế trung tâm. Thời ông nội mình là vua Thái Tông đã từng tới đó. Khi còn trẻ vua Nhân Tông cũng đã có ý định lên sống ở đó. Dẫu sao đi nữa, chủ trương “Cư trần lạc đạo, Trần tục mà nên” vẫn đóng vai trò mà từ năm 1287, khi Tuệ Trung Trần Quốc Tung đã ấn chứng cho vua, thì chủ trương đó càng trở nên rõ rệt. Nói cách khác, thời điểm ra đời của Cư trần lạc đạo phú phải từ sau năm 1287 trở đi và chắc chắn là sau năm 1288, khi quân thù đã bị quét sạch khỏi bờ cõi và cả nước đang ra sức lao động để kiến tạo cuộc sống ấm no cho gia đình và bản thân người dân.

Bộ từ vựng của Cư trần lạc đạo phú gồm cả thảy 1688 hạng từ, kể luôn các tên đầu đề, tên các hội và bài thơ chữ Hán kết thúc bài phú. Nếu chỉ kể riêng số từ vựng trong các hội thì nó chỉ gồm 1623 hạng từ, trong đó có những hạng từ Việt xuất hiện khá nhiều lần như lòng (18 lần), cho (13 lần), chẳng (13 lần), mới (12 lần, hay 11 lần), Bụt (10 lần).v. v..Và số 1623 hạng từ này nếu chúng ta thiết lập một bản từ gồm những tên người, tên đất, những từ chuyên môn và những từ phiên âm, chúng ta còn số hạng từ ít hơn nữa, tức khoảng hơn 1400 từ. Chẳng hạn các từ như Thích Ca, Di Đà, Di Lặc, bát nhã, chiêm bặc, chiên đàn, bồ đề, bồ tát, đàn việt, ưu đàm, Câu Chi, Diễn Nhã Đạt Đa. Đấy là những từ phiên âm của tiếng Phạn và chúng ta chỉ có 12 hạng từ thay vì 26 hạng từ khi tách rời chúng ra thành từng hạng từ một.

Các từ chuyên môn như bát phong, bát thức, cực lạc, đại thừa, tiểu thừa, hữu lậu, kim cương, vô lậu, lục căn, lục tặc, tam độc, tam thân, tam tạng, tam huyền, tam yếu, tam nghiệp, tịnh độ, thái bình, thượng sĩ, trí tuệ, tri âm, tri thức, tri kiến, tri cơ, trượng phu, trưởng lão, viên giác, vô thường, vô minh, vô sinh, vô tâm, vô vi cũng thế. Nếu đưa chúng vào những hạng mục từ, ta chỉ có 32 hạng từ thay vì có đến 64. Các tên đất, tên người như Yên Tử, Cánh Diều, Hà Hữu, Hùng Nhĩ, Tân La, Thiên Trúc, Thiếu Lâm, Tào Khê, Thiếu Thất, Lư Lăng, Phá Táo, Thạch Đầu, Lâm Tế, Bí Ma, Thuyền Tử, Đạo Ngô, Thiều Dương, Triệu Lão, Thiên Cang, Thái Bạch cũng vậy.

Với số lượng trên dưới 1400 từ này, ta có một bộ từ vựng tương đối phong phú để nghiên cứu ngôn ngữ của dân tộc ta vào thời vua Trần Nhân Tông. Và đó là chỉ mới kể số hạng từ có trong Cư trần lạc đạo phú. Nếu gộp luôn số hạng từ của Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca, mà số lượng lên đến 336, trong đó trừ những trùng lặp đã có đến 238 hạng từ.

Gộp chung lại với Cư trần lạc đạo phú, ta sẽ có một bộ từ vựng với gần 2000 từ, tức cỡ loại từ điển nhỏ, và cho ta một nhận thức tương đối hoàn chỉnh về ngôn ngữ dân tộc ta vào thời đại Trần Nhân Tông, tức thế kỷ thứ 13, cách chúng ta gần 700 năm.

Đến đây chúng ta cần phân tích sơ bộ hai tác phẩm viết bằng tiếng Việt của vua Trần Nhân Tông. Nhưng sự nghiệp văn học của nhà vua không chỉ giới hạn vào các tác phẩm tiếng Việt. Nhà vua còn là tác giả của 30 bài thơ và đoạn thơ, 22 lá thư viết cho vua quan nhà Nguyên cùng hai bài giảng ở chùa Sùng Nghiêm và viện Kỳ Lân. Trong hai bài giảng này cũng có một số bài thơ và đoạn thơ dùng để trả lời cho các câu hỏi mà người đối thoại đã đặt ra, và vẫn chưa được kê vào số lượng thơ và đoạn thơ của vua Trần Nhân Tông. Nói thế tức cũng muốn nói số lượng tác phẩm vua Trần Nhân Tông còn lại cho chúng ta ngày nay không phải là ít, dù rằng phần lớn chúng đều được viết bằng chữ Hán.

Với sự nghiệp thơ văn chữ Hán của vua Trần Nhân Tông, hầu hết những nhà nghiên cứu từ trước đến nay đều thống nhất coi vua Trần Nhân Tông là một “tên tuổi lẫy lừng” trong lãnh vực hoạt động sáng tạo này. Thực tế, đọc các bài thơ chữ Hán do vua Trần Nhân Tông sáng tác, người ta không thể không cảm nhận những vẻ đẹp khác nhau của đất nước, từ một buổi chiều làng quê yên tĩnh cạnh nơi ở của hoàng gia tại phủ Thiên Trường ở đồng bằng sông Hồng:

Xóm trước thôn sau tợ khói nhòa
Nửa không nửa có mé chiều sa
Mục đồng sáo vẳng trâu về hết
Cò trắng từng đôi ruộng xuống sà

(Thôn hậu thôn tiền đạm tợ yên
Bán vô bán hữu tịch dương biên
Mục đồng địch lý quy ngưu tận
Bạch lộ song song phi hạ điền)

Cho đến một ngôi chùa tại Lạng Châu thuộc miền trung du Bắc bộ:

Chùa cổ đìu hiu thu khói mờ
Thuyền câu chiều quạnh tiếng chuông đưa
Nước quang non lặng bay âu trắng
Gió đứng mây đùa cây đỏ thưa.

(Cổ tự thê lương thu ái ngoại
Ngư thuyền tiêu sắt mộ chung sơ
Thủy minh sơn tĩnh bạch âu quá
Phong định vân nhàn hồng thụ sơ)

Ngay trong cuộc sống thường nhật, một ánh trăng ban đêm cùng tiếng rơi tí tách của sương thu trên lá cây trước sân nhà và xa xa tiếng chày nện vải từ một ngôi làng dệt nào đưa tới đã gợi nên những xao xuyến trong tâm hồn, cảm thấy vẻ đẹp của một đất nước thanh bình:

Đầy sách giường song chếch bóng đèn
Sân thu sương bủa thoáng hơi đêm
Tiếng chày thức dậy đâu không biết
Hoa mộc trên cành trăng mới lên.

(Bán song đăng ảnh mãn sàng thư
Lộ trích thu đình dạ khí hư
Thụy khởi châm thanh vô mịch xứ
Mộc tê hoa thượng nguyệt lai sơ)

Nhưng cuộc đời vua Trần Nhân Tông không giống cuộc đời những ông vua sinh ra, lớn lên, rồi thụ hưởng một đất nước thái bình. Năm vua ra đời cũng chính là thời điểm vua Trần Thái Tông vừa đánh tan đạo quân xâm lược thứ nhất của đế chế Nguyên Mông lần đầu tiên tiến công nước ta, dưới sự chỉ huy của một tên tướng khét tiếng tàn bạo Ngột Lương Hợp Thai (Uryangqadai). Hơn 20 năm tiếp theo là một cuộc đấu tranh gian khổ về ngoại giao nhằm vừa bảo vệ chủ quyền đất nước, vừa mang lại nền hòa bình để cho người dân có cơ hội lao động sinh sống và đất nước chuẩn bị tiềm lực để chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu.

Kịp đến khi lên ngôi vào tháng 10 năm Mậu Dần (1278) thì vua Trần Nhân Tông đã phải trực tiếp đối phó với những tên sứ giả “uốn tấc lưỡi cú diều mà lăng nhục triều đình, đem tấm thân dê chó mà khinh rẻ tể phụ”, như Trần Hưng Đạo đã mô tả. Thế là cả nước phát động một phong trào chuẩn bị diệt giặc cứu nước. Tuy hào khí Nguyên Phong của cuộc chiến tranh năm Đinh Tỡ (1257) vẫn còn đó, mà nhà vua cảm thấy khi đến thăm lăng mộ của ông nội mình vào một ngày xuân trước cuộc chiến tranh 1285.

Hùm gấu nghiêm nghìn cửa
Áo mão bảy phẩm đầy
Lính bạc đầu còn đó
Nguyên Phong mãi kể say

(Tỉ hổ thiên môn túc
Y quan thất phẩm thông
Bạch đầu quân sĩ tại
Vãng vãng thuyết Nguyên Phong)

Và hơn ai hết, bản thân vua Trần Nhân Tông đã từng cầm quân xông pha trận mạc. Thực tế, ta đã thấy nhà vua đã từng trực tiếp chỉ huy những trận đánh lớn, sống gần gũi với tướng lĩnh và binh sĩ, nên dễ cảm thông, thương xót cho những người vợ phải sống lẻ loi, khi người chồng vì nhiệm vụ phải ra mặt trận ở một nơi xa xôi nào đó của tổ quốc.

Ngủ dậy vén rèm hoa thấy rơi
Hoàng ly không hót giận xuân rồi
Lầu tây vô cớ vầng dương lặn
Bóng ngả về đông hoa lẫn chồi.

(Thụy khởi câu liêm khán trụy hồng
Hoàng ly bất ngữ oán đông phong
Vô đoan lạc nhật tây lâu ngoại
Hoa ảnh chi đầu tận hướng đông)

Chiến tranh vệ quốc chống lại các thế lực xâm lược lớn mạnh hơn ta rất nhiều lần, còn gợi lên những nỗi buồn như thế, huống nữa những cuộc chiến tranh để bảo vệ an ninh biên giới do các thế lực nhỏ yếu hơn ta quấy phá. Trong một bài thơ viết nhân chiến dịch bình định Ai Lao vào mùa xuân năm Canh Dần (1290), mà vì nghĩa vụ bảo vệ cuộc sống an lành cho nhân dân và một biên cương ổn định cho tổ quốc, vua Trần Nhân Tông phải cầm quân đi đánh dẹp. Thế mà vua vẫn tỏ ra không thích thú gì:

Hoa sóng tung lên buồm gấm bay
Dưới mui đầu mệt chẳng buồn quay
Mây chiều Tam Giáp nhạn không đến
Trăng sáng Cửu Than rồng có đây
Lạnh lẽo đường đi cung mộng cũ
Ngổn ngang sầu vướng rượu ly đầy
Hán hoàng mang tiếng say chinh chiến
Vội vã nam nhi chi lắm vầy.

(Cẩm phàm khinh sấn lãng hoa khai,
Bồng để yêm yêm thủ bất đài.
Tam giáp mộ vân vô nhạn đáo,
Cửu than minh nguyệt hữu long lai.
Thê lương hành sắc thiêm cung mộng,
Liêu loan nhàn sấu đáo tửu bôi.
Hán Vũ phiêu chiêu cùng độc báng,
Nam nhi cấp cấp nhược vi tai.)

Một cuộc chiến tranh do vua chủ trương vì lợi ích chung như ĐVSKTT 5 tờ 58b5 -59a1 đã ghi: “Vua thân chinh Ai Lao. Triều thần nói: ‘Giặc Nguyên vừa rút lui, vết thương chưa khỏi sao có thể dấy binh’. Vua nói:

‘Chỉ có thể vào lúc này mới ra quân được, vì sau khi giặc rút lui thì ba vùng (Ai Lao, Chiêm Thành và Chân Lạp – LMT) tất cho quân ngựa và của cải ta bị tan mất, thế không thể tránh khỏi được, sẽ có sự khinh nhờn đối với ta, cho nên đem đại quân đi để thị uy’. Quần thần đều nói: ‘Vua há không biết dân mệt sao, mà chỉ vì có việc đáng lo lớn hơn thế nữa’. Đó là thánh nhân lo xa, chẳng phải bọn thần nghĩ kịp được”.

Việc đem quân đi thị uy đối với Ai Lao, chỉ vì quyền lợi của đất nước mà vua Trần Nhân Tông phải làm. Và thực tế chỉ chưa tới 4 năm sau khi đã truyền ngôi cho con là Anh Tông và trở thành Thượng hoàng, vua Trần Nhân Tông còn phải thân chinh Ai Lao một lần nữa, vào tháng 8 năm Giáp Ngọ (1294) với sự tham gia của các tướng Phạm Ngũ Lão, Trung Thành Vương. Mối đe dọa của Ai Lao đối với biên cương Đại Việt như thế không phải là không có.

Và việc đánh dẹp Ai Lao như thế là một yêu cầu của an ninh quốc gia. Thế mà, dù bài thơ vừa trích được làm vào chiến dịch Ai Lao năm 1290 hay 1294, nó vẫn toát lên một sự chán ghét đối với chiến tranh, đối với cái mà người thường gọi là “cùng binh độc vũ”, tức dùng chiến tranh để thỏa mãn những tham vọng cá nhân của người lãnh đạo.

Trong cuộc đời mình, vua Trần Nhân Tông đã từng sống qua hai cuộc chiến tranh tàn khốc, nên hơn ai hết đã hiểu thế nào là những nỗi khổ do chiến tranh đem lại cho phía ta cũng như phía địch. Việc sử dụng chiến tranh để chống lại chiến tranh chỉ là một biện pháp bất đắc dĩ, khi mọi biện pháp khác không thể dùng được nữa. Do vậy, tự thâm tâm vua Trần Nhân Tông không bao giờ tán thành chiến tranh. Và sự không tán thành này xuất phát từ một cái nhìn về tính chung đồng loại của những con người dù ở chiến tuyến nào đi nữa, họ cũng đều có xúc cảm, suy nghĩ, nguyện vọng giống nhau. Không ít người từ hơn 500 năm trở lại đây, đã ca ngợi tính nhân bản và cao thượng của hành động cởi ngự bào phủ lên thủ cấp của tên tướng giặc Toa Đô, vừa bị quân ta chém đầu trong trận Tây Kết thứ hai năm 1285, do chính bản thân vua Trần Nhân Tông trực tiếp chỉ huy.

Từ một sự chán ghét chiến tranh như vậy, vua Trần Nhân Tông tập trung mọi nỗ lực của mình để xây dựng một nền hòa bình lâu dài, không chỉ cho đất nước và dân tộc mình, mà còn cho các dân tộc và quốc gia láng giềng, đặc biệt là đất nước và nhân dân Trung Quốc. Ngay khi khói lửa của cuộc chiến tranh năm 1288 đang còn vướng vất trên các chiến trường Thăng Long, Bạch Đằng, lúc tiếp phái bộ Lưu Đình Trực và Lý Tư Diễn, do Hốt Tất Liệt gửi qua để đòi lại các tướng tá giặc như Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Sầm Đoạn do ta bắt được, vua Nhân Tông đã nói đến

Bụi chiến sông trời rửa sạch trơn.
(Thác khai địa giác giai hòa khí
Tịnh hiệp thiên hà tẩy chiến trần)

trong bài thơ tiễn đưa phái bộ này, thể hiện ý chí và nguyện vọng bảo vệ và xây dựng hòa bình của nhân dân Đại Việt và của chính bản thân nhà vua. Đây là một nội dung đặc biệt của thơ văn vua Trần Nhân Tông, bộc lộ một sự tha thiết đối với hòa bình. Thật cũng lạ, một con người đã từng chỉ đạo, trực tiếp tham gia chiến tranh và đã có những chiến thắng oanh liệt. Vậy mà qua thơ văn vẫn luôn luôn biểu hiện một ước ao nóng bỏng đối với hòa bình.

Điều này cũng có nghĩa vua Trần Nhân Tông không bao giờ coi chiến tranh như một nấc thang để bước lên đài danh vọng, để đi tới bến vinh quang. Suốt cuộc đời, ngay cả sau khi xuất gia, vua cũng luôn lao động miệt mài cho hòa bình, nhất là một nền hòa bình ở biên cương phía Nam của tổ quốc tiếp giáp với nước Chiêm Thành.

Trước đây, nhiều người thường cho giai đoạn vua Trần Nhân Tông xuất gia là giai đoạn nhà vua rút lui khỏi cuộc đời, khỏi xã hội, “càng tu hành càng xa với thực tế xã hội, càng xa với ý muốn cứu khổ cứu nạn của Phật tổ” . Thế mà chính trong giai đoạn xuất gia này của nhà vua, biên cương của Đại Việt đã nối dài trên 200 cây số, và nền hòa bình Việt Chiêm đã duy trì được gần mấy chục năm, làm tiền đề cho sự nghiệp Nam tiến của dân tộc ngày càng phát triển dồn dập như cơn thủy triều đang buổi dâng lên của nó. Cũng có người đọc hai câu thơ:

Phải trái lòng theo hoa sớm rơi
Lợi danh tâm lạnh tối mưa thôi

đã không biết đặt chúng vào trong bối cảnh lý luận của tư tưởng vua Trần Nhân Tông, rồi vội vã bình luận đấy là những “câu thơ cực kỳ chán đời”, thể hiện “tư tưởng hư vô chủ nghĩa triệt để, bắt nguồn từ trong triết học Phật giáo… trong chế độ điền trang, sự phú quý cực độ của nhiều nhà chùa và tất cả sự suy đồi của nó”. Bình luận thế là họ đã quên vua Trần Nhân Tông là một trong “những tên tuổi lẫy lừng nhất” của những nhà thơ nhà văn đời Trần.

Và những tên tuổi lẫy lừng nàỵ “đều bộc lộ một niềm tin, một tinh thần quyết thắng và một ý chí kiên cường qua một loạt vần thơ bất hủ”. Cho dù những bình luận trên được phát biểu vì mục đích gì, có phần nào gây nhiễu loạn thông tin hoặc sai lệch quá khứ đi chăng nữa, thì sự nghiệp vua Trần Nhân Tông, những đóng góp của cá nhân và triều đại nhà vua đối với dân tộc là không thể phủ nhận, là giai đoạn đáng ghi công, đáng tự hào của lịch sử dân tộc Việt Nam.

Ta đã thấy trong tư tưởng của vua Trần Nhân Tông có một cái nhìn về thời gian một chiều, một ngày đã qua là không bao giờ trở lại, như một bài thơ của Tuệ Trung Thượng Sĩ Trần Quốc Tung đã từng nói tới:

Trăng lặn trời tây khôn bóng lại
Nước trôi đổ biển sóng đâu quây

(Tây nguyệt trầm không nan phục ảnh
Đông lưu phó hải khởi hồi ba)

Cho nên đối với bản thân mình cũng như đối với mọi người, thời gian trở nên rất quý báu, cuộc đời con người quá ngắn ngủi cho một công việc phải làm:

Thời gian dễ trôi qua
Mạng người khôn dừng lại

(Thời quang dung dị quá
Nhân mạng bất định lưu)

Vì thế, sự sống trở nên quý giá. Một ngày đi qua không bao giờ chúng ta có lại. Chúng ta phải huy động toàn bộ thời gian cho những việc có ích cho mình cũng như cho người. Ta tưởng tượng dân tộc ta vào thời đó sống vội vã dồn dập.

Họ sống vội vã dồn dập không phải vì cuộc sống là một đày ải mà ta cố hưởng lạc để cho xong đời. Họ sống vội vã dồn dập vì cuộc sống quá quý báu, không thể để nó trôi qua một cách vô vị, phí hoài. Chưa bao giờ trong lịch sử dân tộc ta thấy ánh lên một sự thôi thúc cho cuộc sống, cảm thấy nếu mình để mất đi một phút giây là mất đi một phần của sự sống. Họ hối hả xây dựng, chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ cuộc sống và gia đình họ. Cả một đất nước tràn ngập, chứa chan sự lạc quan yêu đời. Chính vì quá lạc quan yêu đời mới cảm thấy thời gian dễ mất đi và cuộc sống của chúng ta không bao giờ trở lại, như vua Trần Nhân Tông thường nhắc nhở:

Đỗ quyên rền rĩ trăng ngày sáng
Đừng để tầm thường xuân luống qua

(Đỗ quyên đề đoạn nguyệt như trú
Bất thị tầm thường không quá xuân)

Lâu nay nhiều người thường cho rằng quan niệm thời gian của phương Đông là một quan niệm thời gian vòng tròn, thời gian luân hồi, cứ thịnh suy bĩ thái, rồi thịnh suy bĩ thái kế tục nhau, giống như xuân hạ thu đông, rồi xuân hạ thu đông. Nhưng họ đâu biết rằng bên cạnh quan niệm thời gian vòng tròn ấy, còn hiện diện quan niệm thời gian một chiều. Cứ mỗi ngày đi qua là một ngày vĩnh viễn mất đi không bao giờ trở lại, giống như mặt trăng lặn về phía Tây rồi không bao giờ có mặt trăng thứ hai của nó.

Tổ tiên ta từ xưa đã có một quan niệm thời gian rất gần với quan niệm thời gian của thời hiện đại chúng ta. Có người đã diễn tả quan niệm thời gian này bằng một hình ảnh rất sống động. Đó là thời gian giống như chiếc xe. Chiếc xe chỉ có một hướng đi tới, giống như thời gian một chiều. Nhưng để chiếc xe đi tới được thì phải có 4 chiếc bánh quay tròn bên dưới nó. Cũng vậy, thời gian một chiều đi tới, nhưng nó đi tới trên những thời gian vòng tròn, tức xuân hạ thu đông, tức thịnh suy bĩ thái.

Xuất phát từ quan niệm thời gian như vậy, mà trong chiến tranh đất nước Đại Việt đã làm nên một chiến công Chương Dương, Hàm Tử, Tây Kết, Bạch Đằng oanh liệt. Và trong thời bình họ đã xây dựng nên một cuộc sống chỉ mấy năm sau chiến tranh với những cánh đồng lúa trĩu hạt, những nương dâu xanh ngắt bốn mùa và những chiếc cầu thượng gia hạ kiều, đã làm cho tên sứ Nguyên Trần Phu phải nể phục. Quân và dân Đại Việt đã sống theo những gì mà vua Trần Nhân Tông đã đề ra trong Cư trần lạc đạo phú.

Dựng cầu đò, xây chiền tháp,
Ngoại trang nghiêm sự tướng hãy tu…
Ngay thờ chúa, thảo thờ cha,
Đi đỗ mới trượng phu trung hiếu

Dân tộc ta vào thời đại Trần Nhân Tông đã chiến đấu và xây dựng hăng say như thế, thực tế không phải vì danh vì lợi, vì thị vì phi, mà chính vì bản thân cuộc sống. Cuộc sống ngắn ngủi mà họ cho là đáng quý, đáng sống, cho nên người dân Đại Việt cố gắng sống xứng đáng với cuộc sống quý giá ngắn ngủi của mình. Chính vua Trần Nhân Tông cũng đã nói đến việc “chuộng công danh, lồng nhân ngãi, thực ấy phàm ngu” trong Cư trần lạc đạo phú. Cho nên ta không ngạc nhiên khi ở tại sơn phòng vua Trần Nhân Tông đã cảm xúc và viết ra bài thơ:

Phải trái lòng theo hoa sớm rơi
Lợi danh tâm lạnh mưa đêm thôi
Hoa tàn, mưa tạnh, non im ắng
Một tiếng chim kêu xuân hết rồi

(Thị phi niệm trục triêu hoa lạc
Danh lợi tâm tùy dạ vũ hàn
Hoa tận, vũ tình sơn tịch tịch
Nhất thanh đề điểu hựu xuân tàn)

Quên danh, quên lợi, quên thị phi, vua Trần Nhân Tông vẫn nhớ đến mùa xuân. Và chỉ một tiếng chim hót vào một buổi sáng nào đó, sau trận mưa đêm làm hoa rụng hết, đã làm vua giật mình, mùa xuân đã qua rồi. Thời gian trôi đi chóng vánh, mới ngày nào đó năm cũ mới hết, vậy mà mùa xuân bây giờ đã không còn thấy nữa. Cảm thức thời gian này là một trong những cảm thức đã chi phối mọi suy nghĩ và hành động của chính bản thân vua Trần Nhân Tông.

Trong Cư trần lạc đạo phú vua hằng mong “Nửa ngày rồi, tự tại thân tâm”. Thế mà công việc cứ dồn dập đổ tới tưởng như không bao giờ dứt. Ngay cả khi vua đến sống những nơi có vẻ như xa lánh hết mọi buộc ràng, công việc vẫn theo nhau kéo tới. ĐVSKTT 6 tờ 37a5-9 kể chuyện: “Nguyễn Quốc Phụ làm nội thư chính chưởng, là cận thần của vua Trần Nhân Tông. Trong khoảng Hưng Long (1293 -1314), chức hành khiển thiếu người, Thượng hoàng (tức vua Trần Anh Tông, LMT) chầu vua Nhân Tông ở chùa Sùng Nghiêm. Vua Nhân Tông bảo Quốc Phụ làm được, Thượng hoàng thưa: ‘Nếu lấy ngôi thứ mà nói thì được, nhưng chỉ thích uống rượu thôi’, vua Nhân Tông không nói gì. Bèn không dùng”. Và ta cũng thấy ở trên, trước lúc đi sứ ở Chiêm Thành vào tháng 10 năm Kỷ Mão (1303) Đoàn Nhữ Hài đến gặp vua Trần Nhân Tông cũng tại chùa Sùng Nghiêm này.

Một cuộc sống đầy ắp những công việc như thế, rõ ràng không vì lợi cho bản thân mình, và tất nhiên càng không thể vì danh. Có gì là lợi, khi bản thân mình thì “mặc cà sa nằm trướng giấy”, “cà một vò tương một hũ”, lợi đã không có thì làm gì có danh. Vì danh thường kết với lợi. Nhưng nói thế không phải để buông xuôi. Chỉ có vấn đề là không đặt chúng thành mục đích của cuộc sống. Cuộc sống của vua Trần Nhân Tông và nhân dân Đại Việt thời đại ấy có một mục đích khác, đó là “tự tại thân tâm”, là “an nhàn thể tính”. Nói theo ngôn ngữ hiện đại, đó là một sự theo đuổi hạnh phúc. Nhưng hạnh phúc là gì, thì mỗi người phải tự trả lời lấy. Vua Trần Nhân Tông đã xuất gia trên núi Yên Tử cũng như trong khi cầm quân chiến đấu với giặc thù ở Tây Kết, có thể vua đã cảm thấy mình tự tại an nhàn. Ai giới hạn mình mà mình không tự tại nếu không phải là chính mình. Ai ngăn trở mình mà mình không an nhàn nếu không phải là chính mình. Mình phải cải tạo chính mình và thế giới để tạo cho mình tự tại và an nhàn.

Đây chính là thông điệp mà thơ văn Trần Nhân Tông đã gửi đến cho chúng ta hôm nay và bao nhiêu thế hệ trước nữa:

Ai buộc mà đi giải thoát tìm
Không phàm sao phải kiếm thần tiên
Vượn đùa ngựa mỏi người già phải
Như cũ am mây một sập thiền

(Thùy trược cánh tương cầu giải thoát
Bất phàm hà tất mích thần tiên
Viên nhàn mã quyện nhân ưng lão
Y cựu vân trang nhất tháp thiền)

Cuộc đời vua Trần Nhân Tông và thông qua cuộc đời này, ta thấy nhân dân Đại Việt lúc ấy đã sống vui vẻ trong đất nước mình, hăng say lao động và chiến đấu để bảo vệ cuộc sống ấy. Họ không tìm một thế giới khác để thoát ly, một thế giới khác để mơ tưởng tới. Cuộc sống ở đời này quá ngắn ngủi đối với họ nên họ cố sống cho hết những giây phút vàng ngọc của cuộc đời ấy qua từng chi tiết nho nhỏ của nó. Có thể đó là những đĩa bánh cuốn mà vua Trần Nhân Tông đãi tên sứ giả giặc Trương Lập Đạo vào những ngày vừa mới quét sạch quân thù ra khỏi đất nước.

Xong múa giá chi, thử áo xuân
Hôm nay huống gặp tiết cỏ xanh
Đầy mâm bánh cuốn như hồng ngọc
Phong tục từ xưa của nước Nam

(Thác chi vũ bãi thí xuân sam
Huống trĩ kim triêu tam nguyệt tam
Hồng ngọc đôi bàn xuân thái bĩnh
Tùng lai phong tục cựu An Nam)

hay chỉ đơn giản đứng tựa lan can lặng lẽ ngắm nhìn núi xa vào một buổi chiều:

Chim hót nhởn nha hoa liễu dày
Bóng thềm nhà vẽ mây chiều bay
Chuyện đời khách đến thôi không hỏi
Cùng tựa lan can ngắm núi mây

(Dương liễu hoa thâm điểu ngữ trì
Họa đường thiền mẫn mộ vân phi
Khách lai bất vấn nhân gian sự
Cọng ỷ lan can khán thúy vi)

Thơ văn chữ Hán của vua Trần Nhân Tông đúng đã thể hiện được “một sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cảm quan triết học và cảm quan thế sự, có tinh thần lạc quan, yêu đời, tấm lòng vị tha của một nhân cách cỡ lớn và sự rung động tinh tế, lòng yêu tự do thích thảng của một nhà nghệ sĩ”, chứ không phải chỉ chứa đựng những ý tưởng “cực kỳ chán đời” như có người đã nhận xét. Vị thế văn học của vua Trần Nhân Tông từ đó là rất lớn. Với Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca, vua Trần Nhân Tông là người mở đầu một giai đoạn văn học mới của lịch sử văn học Việt Nam, đó là giai đoạn văn học, mà tiếng Việt là chủ ngữ. Không những thế, với những vần thơ chữ Hán và những tác phẩm văn xuôi sắc sảo, vua Trần Nhân Tông đã cống hiến cho ta những cảm thụ mới mẻ về những vấn đề muôn đời của con người như thời gian và sự sống.

Trên đây, chúng ta mới đề cập đến mảng văn tiếng Việt và thơ chữ Hán của vua Trần Nhân Tông. Vua còn có một mảng văn chữ Hán mà cho đến nay chưa được công bố và nghiên cứu chưa đầy đủ. Đó là 22 lá thư vua Trần Nhân Tông đã viết gửi cho vua quan nhà Nguyên, trong cuộc đấu tranh chính trị và ngoại giao với chúng để bảo vệ chủ quyền đất nước, và kéo dài thời gian để củng cố và phát triển lực lượng nhằm đối phó với cuộc chiến tranh do kẻ thù áp đặt. Trong số những lá thư này, có những lá còn giữ được nguyên vẹn, có những lá chỉ còn đoạn phiến. Điểm đặc biệt là chúng hầu hết được bảo tồn trong các tư liệu Trung Quốc, chủ yếu là Nguyên sử, Thiên Nam hành ký, Trần Cương Trung thi tập và An Nam chí lược. Phía các sử liệu nước ta hình như không bảo lưu một văn bản nào. Có chăng thì cũng chép lại văn bản từ các tác phẩm vừa nêu.

Đọc những lá thư này, điểm đầu tiên dễ nhận thấy nhất là quan điểm trước sau như một của vua Trần Nhân Tông:

Quan điểm không chịu đầu hàng giặc, không chấp nhận đánh mất chủ quyền quốc gia bằng cách thỏa mãn đòi hỏi của Hốt Tất Liệt, yêu cầu vua phải đích thân vào chầu tại Đại Đô ở Trung Quốc. Hốt Tất Liệt đã dùng nhiều mánh khóe lý luận khác nhau, từ lời dụ dỗ đường mật về quan tước mà y hứa ban cho, cho tới những lời đe dọa dùng vũ lực, và trên thực tế y đã hai lần dùng vũ lực để thực hiện ý đồ của mình, nhưng hoàn toàn thảm bại trước sức chiến đấu ngoan cường của quân và dân Đại Việt dưới sự lãnh đạo của vua Trần Nhân Tông. Không những thế, vua Trần Nhân Tông còn vạch trần bộ mặt giả nhân giả nghĩa của những lý lẽ mà Hốt Tất Liệt đưa ra.

Chẳng hạn, Hốt Tất Liệt khoe khoang rằng y đối đãi rất nồng hậu với những người chịu đến chầu, coi họ như con cái mà y có trách nhiệm thương yêu. Những sứ giả do y cử đến, đều nói lòng thương của y bao la như trời biển phủ khắp mọi nơi. Chúng thường dùng tới câu “Nhất thị đồng nhân”, tức đem lòng nhân từ ra mà thương yêu khắp hết mọi người như nhau cả. Trước những luận điệu ấy, vua Trần Nhân Tông vạch ra rằng, nếu Hốt Tất Liệt có lòng thương như thế, thì tại sao phải bắt vua vào chầu ? Bắt vua vào chầu, lỡ dọc đường chết phơi xương thì thế nào?
Điều đó chắc chắn làm tổn thương đến lòng nhân của hoàng đế thiên triều. Ta sẽ thấy trong các lá thư hai lý luận này thường được nêu ra để trả lời tại sao vua ta không chịu vào chầu Hốt Tất Liệt.

Vua Trần Nhân Tông hiểu rõ hơn bất cứ ai rằng, vào chầu tức đầu hàng giặc, tức đem chủ quyền quốc gia mà trao cho giặc. Cho nên về điểm này nhà vua dứt khoát không có sự nhượng bộ nào. Hốt Tất Liệt tưởng dùng vài ba lá thư có thể khuất phục được ý chí cương quyết bảo vệ chủ quyền quốc gia của vua Trần Nhân Tông. Nhưng y đồng thời cũng biết rằng, vài ba lá thư với lời lẽ dụ dỗ đường mật thế nào đi nữa, cũng không thể khuất phục được ý chí bảo vệ chủ quyền ấy. Cho nên, bên cạnh những lá thư đó, y đã vung sẵn lưỡi gươm qua hai lần liên tiếp xua quân tiến đánh nước ta với đám tướng lĩnh dày dạn kinh nghiệm chiến trường và hàng chục vạn quân binh thuyền bè.

Vậy mà y đã thất bại thảm hại.

Những lá thư viết cho các viên chức nhà Nguyên, mà chủ yếu là viết cho phái bộ Lương Tăng đến nước ta vào năm 1293, cũng thế. Đây là những lá thư vừa mềm mỏng, vừa đanh thép, lên án chính sách giả nhân giả nghĩa vừa nói, vạch trần những âm mưu đen tối nằm đằng sau những lời lẽ có vẻ quang minh chính đại. Một mặt khác, những lá thư này cho thấy thái độ khinh thường của triều đình ta đối với những kẻ đại diện cho thiên triều và thử thách khả năng chịu đựng của chúng.

Trong An Nam tức sự của Trần Cương Trung thi tập 2 tờ 34a3-4, Trần Phu đã kể lại việc sứ bộ của y ngay khi đến nước ta đã bị triều đình Đại Việt đưa đi theo những con đường mới phát quang nhằm gây nỗi kinh hoàng cho chúng: “Sứ thần đến nước ấy, lại không đi theo lối cũ, đều phải đục núi mở đường, trèo vượt quanh co, ý là muốn tỏ ra xa hiểm”. Chúng biết thế, mà đành phải ngậm miệng đi theo, không dám đưa ra bất cứ một đòi hỏi nào.

Rồi khi đến Thăng Long, chúng phải qua nhiều lần đấu tranh, chúng mới được đi vào cửa Dương Minh, tức là cửa chính Nam của kinh thành, thay vì phải đi vào cửa Vân Hội hay cửa Nhật Tân mà triều đình ta đề nghị, như Lương Tằng truyện của Nguyên sử 178 tờ 1b3-6 đã ghi: “Tháng Giêng năm Chí Nguyên 30 (1293) đến An Nam, Nước đó có 3 cửa. Giữa gọi là Dương Minh, trái gọi là Nhật Tân và phải gọi là Vân Hội. Bồi thần ra đón ngoài thành, sắp do cửa Nhật Tân để đi vào. Tăng rất giận, nói: ‘Đón chiếu không do cửa giữa, thế là ta làm nhục mệnh vua’. Liền trở về sứ quán. Thế rồi, mời mở cửa Vân Hội để đi vào. Tăng lại cho là không thể được. Rồi mới tự cửa Dương Minh đón chiếu vào. Tăng trách Nhật Tôn không tự mình ra đón chiếu”.

Đây có thể nói là những đòn nắn gân phái bộ thiên triều. Đòn nắn gân này trước đó vua Trần Nhân Tông đã cho Sài Thung nếm thử vào năm vua mới lên ngôi (1278), khi vua thiết yến hắn tại hành lang. Hắn tức giận trở về sứ quán. Đến khi vua ta báo sẽ thết tại điện Tập Hiền thì hắn mới đến, như An Nam truyện của Nguyên sử 209, tờ 4a11-12 đã ghi: “Nhật Huyên theo lệ cũ, thết yến ở dưới hành lang. Bọn Thung không chịu đến dự yến. Khi đã trở về sứ quán, Nhật Huyên sai Phạm Minh Tự đưa thư tạ lỗi, đổi thết yến đến điện Tập Hiền”.

Phái bộ Trương Lập Đạo đến nước ta vào năm 1291 cũng nếm thử những đòn này, dù sau đó vua Trần Nhân Tông đã tiếp đãi chúng rất vui vẻ, như chính bản thân Trương Lập Đạo đã ghi nhận trong Trương thượng thư hành lục do tên Việt gian Lê Thực chép lại trong An Nam chí lược 3 tờ 45-47.

Hai mươi hai lá thư vua Trần Nhân Tông viết cho vua quan nhà Nguyên, do thế, là một tập văn đáng cho chúng ta đọc để thấy cuộc đấu tranh ngoại giao và tư tưởng đầy cam go và thử thách giữa ta và kẻ thù. Chúng thể hiện ý chí sắt đá không chỉ của vua Trần Nhân Tông, mà của cả dân tộc ta trong việc bảo vệ chủ quyền quốc gia, cương quyết không nhượng bộ kẻ thù bất cứ dưới hình thức nào. Chúng vì vậy, có thể coi như mở đường cho sự ra đời của loại văn phục vụ trực tiếp sự nghiệp đấu tranh chính trị và quân sự, mà sau này Nguyễn Trãi nhân danh Lê Lợi đã thực hiện trong Quân trung từ mệnh tập.

Loại văn này có đặc trưng của nó. Lời văn phải vừa tao nhã mềm dẻo, lại vừa đanh thép sắc bén. Phải có đủ lý lẽ để khuất phục kẻ thù về mặt tư tưởng, đánh trúng và đánh mạnh vào những tín niệm mà chúng coi như chân lý bất di bất dịch và tưởng không bao giờ có thể bị bác bỏ. Hốt Tất Liệt đã vạch ra cho vua Trần Nhân Tông thấy rằng, ở đời làm gì có người không chết, và trên cõi đất này làm gì có nơi bất tử. Nhưng vua Trần Nhân Tông cũng vạch cho y thấy rằng vấn đề không phải là chết hay không chết, mà vấn đề nằm ở chỗ cái chết ấy có lợi hại gì cho ai không.

Cũng như Hốt Tất Liệt tự hào về lòng nhân từ của y mà bao nhiêu đám quần thần xung quanh ra sức hết lời ca tụng, thì vua Trần Nhân Tông vạch ra rằng nếu y có một lòng thương như thế thì làm sao phải bắt vua vào chầu? Hốt Tất Liệt trả lời vào chầu sẽ được ban thưởng tước vị trọng hậu. Vua Trần Nhân Tông đáp lại rằng, vua không những muốn được ban thưởng trọng hậu mà chính mắt mình muốn thấy được quang cảnh Trung Quốc, song chỉ sợ chết dọc đường thì sự ban thưởng có ích gì nữa. Chết dọc đường thì đối với bản thân vua Trần Nhân Tông đã không có lợi, mà ngay cả đối với Hốt Tất Liệt cũng chẳng có lợi gì, thậm chí còn làm tổn thương đến lòng nhân từ bao la của y.

Những lá thư này không chỉ lý luận để khuất phục kẻ thù, mà còn tố cáo tội ác của chúng đối với nhân dân Đại Việt.

Trong lá thư gửi cho vua Nguyên vào năm 1291 do Từ Minh Thiện chép lại trong Thiên Nam hành ký ở Thuyết phu 51 tờ 18b 6-7 vua Trần Nhân Tông đã kể những hành động tàn bạo cướp của giết người đốt nhà phá chùa của Ô Mã Nhi: “Đến mùa đông năm Chí Nguyên 24 (1287) lại thấy đại quân thủy bộ cùng tiến, thiêu đốt chùa chiền khắp nước, đào bới mồ mả tổ tiên, bắt giết người dân già trẻ, đập phá sản nghiệp trăm họ, các việc tàn ngược không gì là không làm (…). Tham chính Ô Mã Nhi lâu nắm quân thuyền, riêng ra ngoài biển, bắt hết biên dân vùng biển, lớn thì giết, nhỏ thì bắt đi, đến nỗi treo trói mổ xẻ, thân một nơi đầu một ngã”. Đây có thể nói là bản cáo trạng đầu tiên về tội ác chiến tranh do những tên xâm lược hiếu chiến gây ra, và nhất định chúng phải bị nhân dân ta trừng phạt đích đáng, mà lá thư năm 1291 gửi cho vua Nguyên đã chỉ ra.

Những lá thư vua Trần Nhân Tông viết cho vua quan nhà Nguyên, như thế có một vị trí văn học nhất định. Đặc biệt chúng đã đi đầu, tạo nên thể loại văn học mà sau này Quân trung từ mênh tập đã kế thừa và phát huy tới đỉnh cao hiệu lực của nó trong sự nghiệp đấu tranh với quân thù. Đây là loại văn học vừa đánh vừa đàm. Trọng lượng của lời nói trong những lá thư đàm phán được quyết định bằng những chiến thắng ngoài mặt trận. Nói cách khác, lời nói phải được yểm trợ và thể hiện bằng những hành động bạo lực. Cho nên, có những lúc, có những nơi dù lời nói có chính nghĩa, mà không có bạo lực thành công, đặc biệt trong quan hệ bang giao giữa hai nước, cũng không đạt được mục tiêu nó nhắm tới, là bảo vệ chính nghĩa, bảo vệ chủ quyền quốc gia.

Những lá thư trên do vậy, có một vị trí văn học hết sức to lớn. Vị trí này cho đến nay vẫn chưa được đánh giá đúng mức, thậm chí có nơi còn lệnh lạc, đặc biệt là trong các giáo trình văn học sử Việt Nam. Cho nên chúng tôi nhấn mạnh một lần nữa ở đây để điều chỉnh lại cách đánh giá, nhằm làm rõ hơn những cống hiến đặc sắc mà vua Trần Nhân Tông đã đóng góp cho lịch sử văn học dân tộc ta. Đây cũng chính là lý do để cho chúng tôi sưu tập và công bố toàn bộ các lá thư do vua Trần Nhân Tông gửi cho vua quan nhà Nguyên. Từ trước tới nay, những lá thư này chưa hề được sưu tập và công bố một cách trọn vẹn, tối thiểu là trong giới hạn những tư liệu mà ta hiện biết.

Lối văn chữ Hán của những là thư này ít nhiều chịu ảnh hưởng văn phong tiếng Việt, đặc biệt có một số cấu trúc mà ta đã tìm thấy trong Lục độ tập kinh. Chẳng hạn trong lá thư thứ 5, theo cách đánh số của chúng tôi dưới đây, có câu: “Bất năng thân kiến mạc quan, nhiên trung tâm hân hạnh”. Cấu trúc trung tâm hân hạnh này là một cấu trúc tương đối đặc biệt. Dạng trung tâm chỉ thấy xuất hiện trong Kinh Thi, rồi sau đó trong bản dịch Lục độ tập kinh của Khương Tăng Hội.

Thế mà đến thế kỷ thứ 13, ngoài lá thư thứ 5 của vua Trần Nhân Tông vừa dẫn, ta còn gặp trong lá thư của vua Trần Thánh Tông viết gửi cho Hốt Tất Liệt vào tháng giêng năm Chí Nguyên thứ 12 (1275) chép trong An Nam truyện của Nguyên sử tờ 3b2-10 với câu “trung tâm hỷ duyệt”. Đây rõ ràng biểu thị ảnh hưởng của Lục độ tập kinh. Trong thơ của Tuệ Trung Trần Quốc Tung, ảnh hưởng của kinh này rất rõ qua bài Vật bất năng dung.

Như vậy, thông qua những văn thư ngoại giao ấy ta còn biết thêm về những ảnh hưởng của kinh điển Phật giáo đối với loại văn chính luận không chỉ của vua Trần Nhân Tông, mà còn của những nhà thơ, nhà văn khác của triều Trần. Không chỉ có thế, những hình ảnh vua Trần Nhân Tông dùng trong văn thơ ngoại giao này bộc lộ ít nhiều quan điểm đánh giá của vua đối với Hốt Tất Liệt. Trong những lá thư, ta đọc thấy vua tự xưng mình là “bề tôi nhỏ bé” của Hốt Tất Liệt, nhưng hình ảnh mà vua dùng để có vẻ ca ngợi Hốt Tất Liệt thì hóa ra đó là một hình ảnh chê bai bóng gió.

Ta nhiều lần bắt gặp vua Trần Nhân Tông nói đến Hốt Tất Liệt như “núi biển bao hàm, dơ bẩn chứa hết”(Văn thư số 9), hoặc “với lượng càn khôn bao chứa đồ dơ” (Văn thư số 20). Rõ ràng qua những lần xâm lược nước ta, lòng dạ Hốt Tất Liệt dĩ nhiên toàn bao chứa “đồ dơ” cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.

Các văn thư ngoại giao của vua Trần Nhân Tông, do thế, đáng được đọc và nghiên cứu kỹ, để thấy sự sâu sắc và hoành tráng của một con người đã từng dựng nên một thời đại anh hùng của dân tộc. Đấy là con người vừa kiên cường bất khuất, vừa mềm dẻo thâm trầm, đầy lòng độ lượng vị tha nhưng cũng tràn trề ý chí quyết chiến quyết thắng, cương quyết đè bẹp mọi ý đồ xâm phạm chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ. Chúng tôi công bố toàn bộ các văn thư hiện thu thập được với mục đích như thế.
___________________

Thiền sư Lê Mạnh Thát

Trích từ "Trần Nhân Tông con người & Tác phẩm" – Lê Mạnh Thát

Nguồn: phatgiao.org.vn

VỀ ĐẤT KHỞI NGHIỆP NHÀ TRẦN

Nhiều năm lần theo dấu xưa của nàng Huyền Trân, Công Chúa nhà Trần mở đất Thuận Hóa, hễ có dịp là tôi lại trở về xứ Bắc; trở về để được viếng đền thờ các vua anh hùng nhà Trần ở làng Tức Mặc, nơi ấy nay thuộc phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định.

Người Việt dẫu xa quê mấy đời vẫn giữ thói thường tận trong sâu thẳm, mỗi khi trở về cố hương, kính cẩn viếng thăm nơi thờ tự tổ tiên thì viếng luôn mồ mả của các vị anh hùng, liệt nữ, chỗ người xưa nằm. Tôi cũng vậy. Và trộm nghĩ rằng: “Bổn mộc thủy nguyên”, cây có gốc, nước có nguồn, có cổ mới có kim, có tiền nhân mới có hậu thế, việc ấy rất đáng phải làm lắm.

 

Đầu xuân năm Canh Dần 2010, tôi lại ra Tức Mặc. Mới hay, tổ tiên mấy đời xa trước của họ Trần đứng chân ở làng Thái Đường, tức hương Tinh Cương, thuộc lộ Long Hưng – nay là Tam Đường, xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Một vòng lướt quanh làng đã thấy hiện lộ, đền miếu thờ tự, lăng vua mộ tướng ngày xưa vẫn còn.

 

Thì ra, sự tích lưu truyền bởi có căn nguyên, dấu tích hiển nhiên là chứng cứ, mà quốc sử cũng đã ghi rằng: Đất Tinh Cương nhà Trần khởi nghiệp.

 

Là dân quê xứ Huế, ở cuộc đất vốn chọn làm vật sính lễ dẫn cưới Công Chúa Huyền Trân của vua Chiêm, tôi đã về Tinh Cương nhiều lần. Mỗi lần về đây tôi thường lội ra cánh đồng thấp trũng trước làng Tam Đường, thắp hương viếng mộ ba vị vua anh hùng đầu triều Trần. Nhìn dãy mộ ba vị vua kiệt hiệt chống Nguyên Mông, trầm mặc xếp hàng như ba trái núi nhỏ nằm giữa cánh đồng, tôi thấy nao lòng. Ôi những anh hùng kiệt hiệt chống ngoại xâm đang yên nghỉ nơi đây! Phải chăng linh mạch khởi nghiệp từ đất Tinh Cương cũng chính là chốn cát địa dẫn lối quay về nơi yên giấc ngàn thu của các bậc đế vương nhà Trần? Phải mấy lần đứng trước án thờ vị vua mở nghiệp Trần Thái Tông ở Tam Đường, tôi mới được biết rằng: Họ Trần nước ta, viễn tổ xa xưa sống ở vùng Yên Sinh, thuộc tỉnh Quảng Ninh bây giờ. Mấy đời làm nhà trên sông nước, theo nghề chài lưới. Đến giữa cuối thế kỷ XI, đời vua Lý Nhân Tông, cụ Trần Kinh rời đất Yên Sinh, thả con thuyền trôi theo các dòng sông, về vùng Hải Thanh (sau đổi là Thiên Trường), nhập cư vào hương Tức Mặc, lấy vợ, sinh con đẻ cái.

 

Cụ Trần Kinh sinh được hai trai: Trần Hấp là anh, Trần Tự Duy là em. Nối nghề cha, anh em Trần Hấp vẫn lấy con thuyền làm nhà, theo đuôi con cá. Năm tháng côi qua, cụ Trần Kinh tuổi già mà mất, người ta rước cụ ra táng ở cồn đất thuộc hương Tức Mặc.

 

Trần Hấp lo xong tang lễ cho cha, chống thuyền ngược sông Hồng lên vùng Hải Ấp, quăng chài bủa lưới.

 

Vùng Hải Ấp - đất Thái Đường xưa mà người đời thường truyền tụng là chốn có nhiều mả sao. Bởi quanh vùng này nổi lên vô số gò đống, ở trên các gò ấy có những chòm cỏ xanh hình tròn, từ xa nhìn lại trông giống như hình những ngôi sao. Vì những gò đống ấy mà khi lập làng, người xưa đã lấy tên chữ là hương Tinh Cương (hương ở đây có nghĩa là làng; tinh là ngôi sao; cương là gò đất nổi). Trong quá trình bồi đắp, phù sa đã tạo nên cho Tinh Cương thế địa mà theo cách nhìn của nhà phong thủy: “Tiền có tam thai, hậu có thất tinh, nam có voi phục, bắc có phượng chầu”, là chốn linh khí phúc địa, sau này ắt sẽ phát giàu, phát tướng, phát vương.

 

Sông nước đẩy đưa con thuyền, anh em Trần Hấp đến đất Tinh Cương. Trần Tự Duy sống bên Lưu Gia, Trần Hấp sang Thái Đường, hai ấp chỉ cách nhau chừng nửa dặm, buông chài thả lưới.

 

Chuyện xưa kể rằng: Một buổi sớm mùa thu năm ấy, Trần Hấp chống thuyền qua bãi nổi, ông trông thấy một chiếc rọ tre mắc cạn, cùng lúc lại nghe tiếng người kêu cứu, ông vội cho thuyền đến ngay. Trong chiếc rọ ấy nhốt một người đàn ông khoảng ngũ tuần, bị trói co quắp, sắp chết vì lạnh. Bẩm tính nhân hậu, gặp cảnh thương tâm, Trần Hấp bàn với vợ tìm cách cứu người. Mặc dù kiếm ăn khó nhọc, nhưng Trần Hấp vẫn quyết dốc sạch cắc bạc cuối cùng tìm thầy cứu chữa. Sau mấy ngày thuốc thang cơm cháo, người gặp nạn phục hồi khí lực. Thấy gia cảnh Trần Hấp bần hàn, lênh đênh sông nước, nhưng lại giàu lòng từ bi, ông mới kể rằng: Ông là thầy địa lý (sử cũ chép là Khách nhân), từ phương Bắc sang Đại Việt tìm đất phong thủy. Đến vùng này thấy có một gò hỏa tinh nổi trên mặt nước, chung quanh có nhiều gò nhỏ quần tụ chầu vào gò lớn, ông nghĩ rằng: giữa vùng sông nước, gần với đất bằng mà có những gò đống nổi lên, hẳn không thể là nơi hung dữ. Quan sát kỹ, ông thấy linh khí từ gò hỏa tinh bốc lên ngùn ngụt.

 

Bấy giờ, ở thôn Tây Nha gần đấy có nhà giàu Nguyễn Cố, người từng thuê thầy địa tìm cát địa đặt mộ tổ. Nghe tiếng, Khách nhân tìm vào nhà Nguyễn Cố xin ở lại vài ngày. Biết ông là thầy thuật số, Nguyễn Cố muốn lấy lòng, mở tiệc thiết đãi tử tế. Nhân đấy Khách nhân bày cho Nguyễn Cố, hãy dời mộ tổ tiên đến táng ở gò Hỏa Tinh. Và quả quyết rằng, chỉ một thời gian ngắn nhất định gia tộc Nguyễn Cố sẽ phát (không làm vua thì cũng nhất phẩm triều đình); khi thành đạt, giàu sang Khách nhân mới tính chuyện tiền nong.

 

Nghe theo lời thầy địa lý, Nguyễn Cố bí mật dời mộ tổ tiên, âm thầm táng vào gò Hỏa Tinh. Xong việc, mở tiệc tiễn Khách nhân về nước…

 

Ba năm sau Khách nhân lại đến Long Hưng. Ông muốn xem gia tộc Nguyễn Cố có gì biến đổi, cốt là để kiểm chứng lời phán của mình có ứng nghiệm. Sự xuất hiện của thầy địa làm cho vợ chồng Nguyễn Cố lo sợ vỡ chuyện phong thủy ở gò Hỏa Tinh. Vợ chồng họ bàn nhau, tối ấy đãi thầy bữa rượu thịt no say, rồi tìm cách hại chết thầy.

 

Bữa cơm tri ân ấy thành ra bữa tiệc máu. Nguyễn Cố phục cho thầy địa say chí tử, rồi trói lại, nhốt vào cái rọ tre, đem thả trôi sông những mong dìm chết. Nhưng mệnh ông thầy này chưa dứt. Buổi ấy nước triều đang xuống cạn, rọ tre trôi dạt vào cồn cát. Gặp lúc Trần Hấp chống thuyền ngang qua nghe tiếng kêu nên đã ra tay cứu giúp.

 

Để trả ơn cứu mạng, thầy địa mới hiến cho Trần Hấp một kế, đưa mộ tổ tiên đến táng ở gò Hoa Tinh. Nếu quyết làm theo thì gia tộc Trần Hấp nhất định sẽ thành tựu, lưu danh muôn thuở. Đồng thời ông lại đến nhà Nguyễn Cố trong một buổi chiều u ám. Nguyễn Cố thấy ông xuất hiện, cứ tưởng hồn ma, sợ hãi sụp lạy xin tha mạng. Thầy địa nói với Nguyễn Cố, số tôi có trời phù hộ, không thể chết được. Mấy năm trước tôi khuyên ông táng mộ cha vào gò Hỏa Tinh, vội quá nên chưa bày hết thuật. Nay lại sang cốt chỉ bày tiếp để được ứng nghiệm. Nhưng ông đã phản phúc, phản thầy, giết người bịt miệng. Sự nghiệp tạo dựng chưa thành đã tiêu tan. Muốn bình yên thì ông phải sám hối, cầu nguyện thần linh long mạch hóa giải. Nếu ông thành tâm thì nghe ta nói đây: Mấy hôm nữa, hễ trời nổi giông tố, vào lúc mưa lặng gió dừng, ông ra mộ cha ở gò Hỏa Tinh mà thấy những đường nứt nẻ, máu chảy đỏ dòng thì phải dời ngay, để chậm họa chết cả nhà.

 

Thầy địa lại dặn Trần Hấp, khi mưa gió nổi lên, ông ra mộ cha Nguyễn Cố rạch mấy đường ngang dọc, rồi lấ