Close

Trần Nhân Tông Library

Nghiên cứu thực tế

MÙI HƯƠNG TRẦM

 

PHẦN THỨ HAI: ẤN ĐỘ SUỐI NGUỒN THIÊNG LIÊNG

 

Bihar, vùng đất thánh

Đi dọc sông Hằng 

Hoa Thị Thành 

Na-lan-đà, đại học Phật giáo đầu tiên 

"Vui đẹp thay thành Vương Xá" 

Trên đỉnh Linh Thứu 

Từ Linh Sơn, nhớ về Yên Tử

 

BIHAR, VÙNG ĐẤT THÁNH


Ngày nay Ấn Độ là một quốc gia thống nhất với 25 tiểu bang và 800 triệu dân. Trong số các tiểu bang thì Bihar là một vùng đất đặc biệt nằm phía Đông Bắc Ấn Độ với thủ phủ là Patna. Bihar rộng khoảng nửa nước Việt Nam và với một số dân khoảng 90 triệu người, tiểu bang này có mật độ dân cư rất cao. 

 

Bihar được xem là vùng đất thánh của Ấn Độ không phải chỉ vì có sông Hằng chảy qua. Đó là một vùng đất lạ lùng vì nó là nơi sản sinh và hoạt động của nhiều thánh nhân vĩ đại của Ấn Độ. Cách đây hơn 25 thế kỷ, đây là cũng là vùng hoạt động chính của Phật Thích-ca. Tại Bihar ngày xưa trong thế kỷ thứ hai sau công nguyên đã thành hình viện Phật học Na-lan-đà. Đây là nơi các vị luận sư nổi tiếng như Long Thụ, Trần Na giảng dạy, là nơi các vị tổ thiền Ấn độ lưu trú, là chỗ đón tiếp những khách hành hương đến học tập như Pháp Hiển, Huyền Trang. Bihar cũng là quê hương của rất nhiều vị Đại thành tựu giả [1], đó là những vị có chung một đặc điểm là trong một đời người mà giác ngộ giải thoát sau khi trải qua nhiều cuộc khủng hoảng. 

 

Những vị đó là những thánh nhân kỳ dị mới đầu mang đầy ô nhiễm của thế nhân, nhưng cuối cùng lại biến dục lạc thành phương tiện giác ngộ. Đó là những du già sư xuất hiện cuối cùng trước khi đạo Phật diệt vong tại Ấn Độ. Trong các vị này có một kẻ mang tên Ti-lô-pa, đây là vị tổ đầu tiên của phái Ca-nhĩ-cư của Tây Tạng [2]. Ngày nay người ta còn nhắc tới Tan-tê-pa, người mê đánh bạc, chỉ cần quán “thế giới cũng rỗng như túi tiền của mình“ mà ngộ Tính Không. Hay Kan-ka-ri-pa, kẻ say đắm nữ sắc, người được dạy hãy quán nữ nhân của mình là thần Không hành nữ [3] và nhận ra “mọi sắc thể đều do tự tính biến hiện“. Họ làm ta nhớ đến Từ Đạo Hạnh của Việt Nam trong thế kỷ 12, trong một đời mà từ bỏ hắc đạo để “làm Phật làm tiên“ [4].

 

Vì thế Bihar có một lịch sử của hai ngàn năm trăm năm. Ngày Phật còn tại thế thì phía nam sông Hằng của vùng này là một tiểu quốc tên gọi là Ma-kiệt-đà, tại phía bắc là nước Kiều-tát-la [5]. Thời đó vua của Ma-kiệt-đà là Tần-bà-sa-la và kinh thành của ông là Vương Xá, thị trấn này ngày nay có tên là Rajgir. Như đã nói trong phần trước, ông chẳng may có người con trai ngỗ nghịch là A-xà-thế. A-xà-thế giam cha mẹ vào ngục, bỏ đói đến chết, giành ngôi vua và dời đô lên phía bắc Vương Xá, đến Hoa Thị Thành [6], nằm trên bờ nam sông Hằng. Hoa Thị Thành phồn vinh suốt cả ngàn năm, ngày nay có tên là Patna. Patna chính là thủ phủ của tiểu bang Bihar, có sân bay nội địa.

 

Trở lại chuyện ngày xưa thì sau đời A-xà-thế là một triều đại phồn vinh có tên là Maurya [7] lên ngôi, với sự lãnh đạo của nhà vua Chandragupta. Ông lấy Hoa Thị Thành làm kinh đô, thống nhất các vương hầu làm thành một thế lực hùng mạnh. Hồi đó là thế kỷ thứ ba trước công nguyên mà Chandragupta đã bắt đầu liên lạc với các nhà vua Hy lạp. Thế nhưng lúc đó cũng chưa phải là giai đoạn vàng son vì lịch sử phải đợi đến một người cháu của Chandragupta tên gọi là A-dục (Ashoka) mới lên đến tột đỉnh. 

 

A-dục trị nước từ năm 269-232 trước công nguyên và vương quốc của ông hùng hậu chưa từng thấy, trải dài từ Kashmir phía bắc đến Mysore miền nam, từ Bangladesh đến Afganistan ngày nay, hầu như toàn bộ nước Ấn Độ mênh mông bây giờ. Nhưng quyền lực bao giờ cũng phải được trả giá bằng xương máu, nhất là thời phong kiến của A-dục. Ngày nọ trên một bãi chiến trường đẫm máu, ông động tâm sâu sắc, thề không nhúng tay vào chinh chiến nữa. Ông tìm nơi Phật Thích-ca là người thầy của mình, cho xây dựng trong vương quốc của mình khoảng 30 trụ đá [8], 18 tấm thạch bích ghi lại những lời giáo hóa và tán thán về đức Phật mà ngày nay người ta còn tìm thấy tại Bihar, Orissa, Delhi, Sarnath. 

 

A-dục cho nhiều sứ giả mang kinh sách, tranh tương đi khắp nơi các vùng Đông Á để truyền bá đạo Phật. Huyền sử chép rằng ông có làm quà cho Trung Quốc một bức tượng của Phật Thích-ca, bức tượng đó ngày nay được thờ tại Lhasa Tây Tạng, bức tượng « biết nói », được xem như thiêng liêng nhất của Tây Tạng [9]. Con trai của A-dục là Mahendra về sau thành tăng sĩ, người đã mang giáo pháp qua Tích Lan. Tiện đường, Mahendra cũng mang một nhánh con của cây Bồ-đề, chỗ Phật thành đạo qua Tích Lan trồng và ngày nay còn xanh tốt. Trụ đá mang đầu sư tử của A-dục cho xây dựng ngày nay là quốc huy của nước Ấn Độ.

 

Sau khi vua A-dục chết năm 232, vương triều Maurya sớm suy tàn, nước Ấn Độ lại chia năm xẻ bảy ra nhiều tiểu quốc và suốt 2000 năm sau đó, cho tới lúc người Anh chiếm nước này làm thuộc địa, không có một vương quốc nào trên bán đảo này mà sự hùng mạnh có thể so sánh với thời kỳ A-dục. Khoảng sáu trăm năm sau A-dục, tức trong thế kỷ thứ 4 sau công nguyên là thời đại Gupta. Gupta cũng là một triều đại rực rỡ của Ấn Độ về văn hóa, triết học và toán học. Thế nhưng triều đại Gupta không kéo dài hơn 200 năm. Khoảng thế kỷ thứ 7, một tôn giáo khác ra đời, đó là Hồi giáo. 

 

Sau khi nhà sáng lập Hồi giáo là Mohammed chết năm 632, đạo Hồi lan đến Ấn Độ năm 712 và bắt rễ tại đây, đồng thời mối tranh chấp giữa Hồi giáo và Ấn Độ giáo bắt đầu nảy sinh. Trong những cuộc thánh chiến giữa Hồi giáo và Ấn Độ giáo sau đó, đạo Phật cũng bị suy yếu nặng nề, thế lực của Hồi giáo cũng lan tràn đến Bihar và vùng đất thiêng liêng này là kẻ chứng kiến biết bao thảm họa do lòng tin tôn giáo mù quáng gây ra. Ngày nay trên bán đảo Ấn Độ mênh mông, đạo Phật xem như đã diệt vong, chỉ còn Ấn Độ giáo và Hồi giáo. Giữa hai tôn giáo đó là một sự tranh chấp sâu xa, khi âm ỉ, khi bùng nổ, nhưng nó luôn luôn hiện diện từ những bình diện chính trị cao nhất đến đời sống bình thường của nhân dân.

 

Tuy có một quá khứ huy hoàng nhưng Bihar ngày nay là một tiểu bang nghèo. Hoa Thị Thành hay Patna là cố đô của một thời chói lọi, lại là điểm xuất phát để đi thăm nhiều thánh tích. Vì thế tôi lấy máy bay từ Delhi đi Patna.

 

ĐI DỌC SÔNG HẰNG


Hãy ra khỏi Delhi, rời bỏ các lâu đài tráng lệ, các vùng nghỉ mát danh tiếng để tìm hiểu kỹ hơn nước Ấn Độ. Tôi đã đi nhiều nơi trên thế giới, giàu nghèo khác nhau nhưng chưa thấy nước nào kỳ lạ, đầy những ấn tượng trái ngược như Ấn Độ. Ta không thể nào hiểu được nước này, không thể mô tả nó. Nhà văn Mỹ Mark Twain, người có nhiều nhận xét sâu sắc hóm hỉnh, thăm Ấn Độ năm 1896, viết về xứ này như sau: “Mỗi khi bạn nghĩ là mình đã tìm hiểu hết những tính cách lạ lùng của nước này và muốn cho nó một danh hiệu nào đó...xứ sở của dịch hạch, xứ sở của nghèo đói, xứ sở của những ảo giác khủng khiếp, xứ sở của những ngọn núi ngất trời...vân vân, thì lại sớm hiện ra những tính cách mới và bạn thấy cần những danh hiệu mới“. Cuối cùng Mark Twain thấy hay nhất là vứt bỏ mọi danh hiệu và đặt tên Ấn Độ là “xứ sở của sự kỳ diệu“.

 

Đây là nơi mà ta phải ngắm Taj Mahal lúc nửa đêm, nhìn cái nghèo đói lúc ban ngày, nếm cái bụi bặm của những làng quê buồn tẻ, đi lạc trong màu sắc rực rỡ và tiếng ồn ào của các basar, nhìn những đàn bò và khỉ sống chung với con người, xem những đám rước tôn giáo mê say quên mình. Đây là nơi mà thiên nhiên cho dấu ấn một cách sắc nét nhất với những con sông, những ngọn núi, với sức nóng tàn khốc và những cơn bão kinh người.

 

Đây là một quốc gia thuộc về 15 nước công nghiệp hàng đầu trên thế giới nhưng 70% dân chúng vẫn cày cấy với dụng cụ thô sơ của cha ông để lại và sống bên bờ của sự thiếu ăn. Tại Ấn Độ, trong một nhà máy có thể người ta đang sản xuất bom nguyên tử và tên lửa liên lục địa nhưng ngoài nhà máy vẫn là nơi sửa xe bò theo cách của thời A-dục vương để lại. Trí thức Ấn Độ có thể là những triết gia nhất nhì thế giới, là các nhà khoa học xuất sắc được nhiều nước tranh nhau mời về nghiên cứu, họ sống bên cạnh 60% dân chúng mù chữ. Phú gia Ấn Độ rất nhiều và cũng rất giàu có, của cải của họ không ai biết hết được, dưới mái hiên cung điện của họ là những tu sĩ thiếu cả áo quần che thân ngồi đợi mặt trời mọc để hành trì phép du-già. 

 

Tiểu bang Bihar là một vùng có nhiều tu sĩ như thế. Patna, thủ phủ của Bihar, cách Delhi khoảng 800km đường chim bay về hướng đông nam. Máy bay hầu như bay dọc theo dòng chảy của sông Hằng trên địa phận tiểu bang Uttar Pradesh.

 

Uttar Pradesh là một dãy bình nguyên nằm kề sát chân Hy-mã lạp sơn. Đây là một vùng thấp nhưng ít nước khó canh tác, chỉ một phần ba đất trồng trọt có các hệ thống tưới tiêu lấy nước từ sông Hằng. Vì thế từ xưa đến nay Uttar Pradesh là một vùng nghèo. Thế nhưng đây là đường trực tiếp nhất đi từ vùng rẻo cao Simla về Bihar nên chính vùng này là đường mà ngày xưa Huyền Trang đã đi hành hương. Đây là dịp đọc lại [10] và tìm hiểu lộ trình của ông trong thế kỷ thứ 7.

 

Máy bay đi qua địa phận của hạt Bijnor nằm trên tả ngạn sông Hằng, đó là nơi mà Huyền Trang lưu lại trong mùa xuân và hè năm 635 để nghiên cứu kinh sách của phái tiểu thừa Nhất thiết hữu bộ [11], một bằng chứng về tính bác học của ông, mặc dù hồi đó lòng ông đã hướng hẳn về phía đại thừa. Đi thêm một đoạn sông Hằng nữa là thủ phủ Kannauj mà ngày Huyền Trang đến là một thành phố hết sức phồn vinh, là kinh thành của một nhà vua rất mộ đạo Phật tên gọi là Harsavardhana, trị vì từ năm 606 đến 647. Cũng trong vùng trung lưu sông Hằng này, Huyền Trang đến tiểu quốc Ayodhya, quê hương của hai nhà sáng lập phái Duy thức là anh em Vô Trước [12] và Thế Thân [13], sống trước ông khoảng hai trăm năm. 

 

Huyền sử chép rằng Ayodhya là nơi mà Vô Trước mời Bồ-tát Di-lặc hạ giới giáo hóa. Suốt bốn tháng liền, Vô Trước cứ ban đêm thì nghe Di-lặc giảng, ban ngày thì giảng lại cho đại chúng. Di-lặc được xem là tác giả của bộ « Du già sư địa », bộ luận mà Huyền Trang là người dịch ra chữ Hán. Huyền Trang đến thăm lại tu viện nằm trong một vườn xoài, nơi mà Vô Trước giảng cho em là Thế Thân ngộ lý Duy thức. Sau khi đại ngộ, Thế Thân định rút dao cắt lưỡi vì từ xưa đến nay ông luôn luôn phát biểu chống Duy thức nhưng lại Vô Trước lại là người cứu em khỏi câm. Ayodhya là quê hương tâm linh của Huyền Trang vì ông chính là người đem phái Duy thức về Trung Quốc dưới tên Pháp tướng tông.

 

Sau một giờ bay, máy bay ở khoảng vị trí Allahabad, chỗ giao lưu của sông Hằng và sông Yamugar, đó cũng là nơi Huyền Trang thoát chết một cách huyền bí. Ông bị một nhóm giặc cướp bắt và bị lấy hết hành lý. Thế nhưng chẳng may cho ông là nhóm giặc này đang tìm giết một chàng trai khôi ngô tuấn tú để tế cho nữ thần Durga mà Huyền Trang thì quá đẹp trai. Ở đây xem ra chuyện Tây Du ký của Ngô Thừa Aân nói về Đường Tăng bị yêu quái mê mẫn không phải hoàn toàn bịa đặt. 

 

Sau khi thuyết phục giặc cướp không xong và thấy chúng đang mài dao kiếm, Huyền Trang thấy mình đã tới số, ông ung dung xin họ chút thời gian để cầu đức Di-lặc đưa mình về trời Đâu-suất nghe pháp. Lúc linh ảnh của Di-lặc xuất hiện trong tâm của Huyền Trang thì cũng là lúc đá chạy cát bay. Giặc cướp hoảng hồn hỏi gia nhân ông về tung tích nhà sư này. Gia nhân kể cho họ nghe ông là một tu sĩ Trung Quốc qua Ấn Độ hành hương và thỉnh kinh. Và khi Huyền Trang mở mắt ra chịu chết thì giặc cướp đã phủ phục dưới chân ông.

 

Sau Allahabad, lẽ ra Huyền Trang phải thuận đường thủy tiếp tục đi theo sông Hằng về hướng đông đến Lộc Uyển, chỗ đức Phật chuyển pháp luân nhưng không hiểu tại sao ông đổi hướng, đi ngược lên hướng bắc tìm đến quê hương của Ngài. Có lẽ qua biến cố vừa rồi, ông thấy chuyến đi quá hiểm nguy, phải đến đảnh lễ chỗ Phật đản sinh tại Lâm-tì-ni để phòng trước đời mình có ngắn ngủi. Lúc đó Huyền Trang không biết rằng mình còn sống 30 năm nữa.

 

Còn tôi, kẻ hậu sinh sống thêm mấy đời cũng không làm nổi học trò ông, thì ngồi máy bay đi tiếp về Hoa Thị Thành. Ôi, xấu hổ làm sao khi thấy nghị lực và trí tuệ của người xưa. Ngày nay người đi hành hương quá dễ, quá khỏe, quá tiện nghi. Nếu ngày xưa con người phải đổi mạng để lấy kinh sách và để được cảm khái đến gần dấu chân thánh nhân thì ngày nay chỉ cần một cú điện thoại là có chỗ mà ở, có xe mà đi. Ngày nay chỉ cần bấm một cái nút là kinh sách hiện lên trên màn hình, thêm một cái nút nữa là in ra hàng loạt. Nhớ lại ngày xưa, có người cả đời chỉ khắc được một câu kinh, còn nay ai muốn có thiên kinh vạn quyển đều được. 

 

Thế nhưng ngày nay xem ra không mấy ai minh triết hơn người thời xưa vì con người hình như không còn ai muốn đọc, muốn suy ngẫm về kinh sách ngày xưa. Khó hơn thế nữa, trong tâm thức tôn giáo, dù có biết nhiều hiểu rộng, biết tán tụng suy luận, chúng cũng không mang lại gì cả trên đường tìm kiếm. Chúng đều là những ngọn gió tri thức chỉ tạo thêm mây mù che ánh sáng của giác ngộ. Điều mà hành giả cần có phải chăng là “bồ-đề tâm“, điều mà Phật giáo Tây Tạng vô cùng coi trọng. Có bồ-đề tâm thì một câu kinh cũng đủ, không có thì thiên kinh vạn quyển cũng vô ích. Tìm hiểu bước đường lữ khách của Huyền Trang không phải là tò mò xem ông đi đến đâu mà để cảm khái tâm bồ-đề kiên cố của ông. Và nhờ thế mà ta biết mừng vui cho những người đem cả đời ra để tạc một bức tượng, khắc một câu kinh. Những tác phẩm đó đều là gỗ đá nhưng chúng là phương tiện để bồ-đề tâm được thể hiện.

 

HOA THỊ THÀNH


Ra khỏi máy bay cảm giác đầu tiên của tôi là thấy hơi nóng khủng khiếp tràn đến. Tôi nhủ thầm: “Đức Phật ngày xưa phải chịu cái nóng này sao“. Sân bay Patna làm tôi nhớ đến sân bay Qui Nhơn, nó có cái nhỏ của loại sân bay làng, hành khách đi bộ dưới cánh máy bay vào ga lãnh hành lý. Trên đường đi bộ tôi cũng đi ngang những đoạn sân bê-tông có lót loại lưới sắt của quân Mỹ hồi xưa như ở sân bay Qui Nhơn mà lúc tôi đến vẫn còn. Patna là nơi đầu tiên tôi đến sau Delhi, dù đoán trước, tôi cũng phải ngỡ ngàng về sự nghèo nàn và luộm thuộm của xứ Ấn Độ. Tới đây tôi mới nếm cái nóng Ấn Độ, Delhi là miền ôn đới nằm phía bắc gần Hy-mã lạp sơn thì khác hẳn. Ra khỏi sân bay Patna, quang cảnh hiện ra với tôi đúng là miền nhiệt đới châu Á, với các loại cây như cây me, liễu, chuối hay cau của chúng ta. 

 

Patna hay Hoa Thị Thành là đây, đây là nơi A-dục vương triệu tập hội nghị kết tập lần thứ ba khi ông đã trị vì toàn nước Ấn Độ. Thấy Patna, tôi thất vọng tự nhủ, cố đô của A-dục vương ngày nay như thế này sao? Không thể được !

 

Đó là một thành phố nằm trên bờ nam sông Hằng, dơ bẩn và buồn tẻ. Tôi ngẩn ngơ đi xích lô trong thành phố, để cho ấn tượng tự kéo đến, ấn tượng của kinh thành nhà vua A-dục mà tôi yêu mến. Tới đây tôi mới biết Delhi là quá sang trọng, quá sạch sẽ. Sông Hằng gần Delhi cũng sang trọng hơn sông Hằng của Patna. Những người giàu có kiêu ngạo họ sống ở Delhi hay những nơi nghỉ mát như Simla cả, họ đâu cần đến đây xây cất nhà cửa. Còn nhà nước Ấn Độ xem ra quá tải với những vấn đề của dân số đặt ra, họ đâu có kinh phí để sửa chữa xây dựng. Khi tôi đến, trời đã về chiều, thành phố với một triệu rưỡi dân này gây một cảm giác buồn bã. Thật ra qui mô thủ phủ này rất lớn, xứng đáng là kinh thành của Ma-kiệt-đà một thời hiển hách, đô thị có một bề dài chừng 10 cây số. Ngày nay ánh sáng vương giả đã tắt.

 

Nhưng Hoa Thị Thành, nơi đây bao nhiêu thánh nhân đã sống, là kinh đô của triều đại Maurya và Gupta, tại sao hiếm có những di tích văn hóa ? A-dục vương cho xây cất biết bao công trình trên toàn xứ Ấn Độ nhưng ngày nay Hoa Thị Thành sao chỉ có những di tích tầm thường như một cái tháp bán cầu tên là Golghar cao 30 mét chứa thóc gạo phòng đói kém của một người Anh tên là John Garstin xây năm 1786 mà người ta giới thiệu với du khách ?

 

Tôi nhớ rằng, trước công nguyên xứ sở hùng mạnh của nhà vua Chandragupta của nước Ma-kiệt-đà này đã từng liên hệ với “phương tây”. Phương tây ở đây tức là Hy Lạp mà đại sứ nước này tại Ấn Độ là một vị tên gọi là Megathenes. Magathenes kể lại nhiều giai thoại về thư từ qua lại giữa Ấn Độ và Hy Lạp thuở đó. Theo đó, vua Ấn Độ Bindusara (con của Chandragupta) yêu cầu vua Hy Lạp gửi rượu ngon và nho khô, đồng thời một ít sách vở về “triết học”. Hy Lạp cũng là một quê hương vĩ đại về triết học của loài người. 

 

Vua Hy Lạp Antiochus trả lời là rượu và nho thì đang gửi nhưng triết lý thì không ai “cho không biếu không”. Chúng ta biết thời đó tại Ấn Độ, triết học và văn hóa rất phát triển tại Hoa Thị Thành và hẳn Bindusara muốn so sánh học thuật nước mình với nước ngoài. Người kế vị Bindusara chính là vua A-dục và vị này, sau một thời kỳ chinh chiến, lấy triết lý Phật giáo làm chủ đạo, nhưng đồng thời hết sức tôn trọng các tôn giáo khác. Đó là một điều rất mới lạ trong lịch sử tôn giáo Ấn Độ.

 

Megathenes cũng viết về Hoa Thị Thành trong tác phẩm “Indika”, rằng đây là một thành phố phồn vinh với 570 tháp và 64 cổng thành. Tất cả những công trình đó nay ở đâu ? Người ta kể tôi nghe rằng năm 750 có một đại hồng thủy và tất cả đều bị hủy diệt, nay chỉ còn nền đá. Thì ra Hằng hà đã nổi giận thật sự và có lẽ biến cố đó đã làm dịu con sông thiêng. Ngày nay ra bến sông Hằng ta thấy nó êm dịu như mặt hồ.

 

Thực tế lịch sử chưa hẳn như vậy. Huyền Trang đã đến đây khoảng năm 639 và theo lời kể của ông thì lúc đó thành phố này đã suy tàn. Sau A-dục vương thì Hoa Thị Thành còn là cố đô Ấn Độ cho đến thế kỷ thứ tư dưới triều đại Gupta [14] và sau đó chìm vào bóng tối. Khi Huyền Trang đến thì ông chỉ còn tìm thấy hai ba tu viện của hàng trăm ngôi đền ngày trước. Nơi đây Huyền Trang đến bờ sông Hằng, thăm lại một tảng đá cũ, đây là nơi Phật Thích-ca lúc đó đã tám mươi tuổi nhìn lại kinh thành lần cuối trước khi qua bờ bắc để về Câu-thi-na, nơi Ngài nhập diệt. Huyền Trang viết: ”Ở bờ nam con sông, đứng trên một tảng đá lớn hình vuông, Ngài nhìn A-nan một cách trìu mến và nói: ‘Đây là lần cuối mà ta nhìn ngắm ngai vàng và kinh thành’”.

 

Tôi đi tìm lại tảng đá nhưng ngày nay không còn ai biết đến nó. Bờ nam sông Hằng giờ đây lầy lội bùn đen và vẫn là chỗ thiêu xác như mấy ngàn năm trước. Nếu phải tìm một thành phố cổ, ngày xưa là một kinh đô cường thịnh, ngày nay đã rơi vào bóng tối của nghèo nàn và quên lãng, biểu tượng cho tính vô thường của mọi sự thì đó phải là Hoa Thị Thành. 

 

Điều gì làm Hoa Thị Thành sớm bị hủy diệt, khác với các trung tâm văn hóa nằm gần đó, cũng trong tiểu bang Bihar ? Tôi cho rằng Hoa Thị Thành là kinh thành vua chúa, nó có đặc trưng của một kinh đô chính trị của A-xà-thế dựng nên, khác hẳn với những công trình văn hóa. Và không có gì chóng tàn bằng những chế độ chính trị vì chúng là đối tượng của sự hủy diệt. Chỉ năm mươi năm sau khi vua A-dục chết, triều đại hùng hậu này đã suy tận. 

 

Chính trị có cái đặc biệt dễ làm say lòng người là khi nó cường thịnh thì ai cũng tưởng nó thiên thu vĩnh viễn, thế nhưng nó ngầm chứa cái mầm bội phản của phe phái và khi hết thời thì nó suy tàn rất nhanh, như nhà xây trên cát. Lịch sử thế giới, kể cả lịch sử mười năm trở lại đây, luôn luôn nhắc lại điều này nhưng con người vốn chóng quên và dễ say mê, họ luôn luôn lao vào chính trị và học lại cái bài học đó. Và cũng đừng nghĩ là chính trị chỉ nằm trong chính trường, nó cũng có thể nằm trong các tu viện mà vì lẽ đó Tây Tạng ngày nay đang chịu thảm họa. Vì là thuần túy kinh đô chính trị, Hoa Thị Thành ngày nay không còn gì. Nếu không bị thiên tai năm 750 thì nó cũng sẽ bị tín đồ Hồi giáo phá hoại vài thế kỷ sau đó.

 

Tôi ngồi xích lô cho xe chạy quanh thành phố, từ những ngõ ngách trong nội thành đến bờ sông Hằng, nơi cúng tế và thiêu xác. Một niềm hoài vọng tràn ngập tâm tôi. Những con đường nhỏ hẹp này hẳn đã ghi dấu biết bao nhiêu người của mấy trăm thế hệ. Nó là nơi trị vì của vua chúa cũng như chỗ lui tới của những thánh nhân. Trên bước đường đi trong đô thị này với số tuổi khả kính của hơn 2500 năm, ta có thể nghĩ ngày xưa biết đâu đây là nơi mà Phật và đoàn tăng già đã đi qua, các vị du già sư ngồi thiền định, các vị đại thành tựu giả làm nghề thợ may, thợ giày, thợ giặt… như sách vở kể lại. Ngoài những điều đó ra thì Hoa Thị Thành ngày nay chỉ là trạm nghỉ chân cho khách hành hương đi thăm những thánh địa gần đó và là điểm xuất phát đường bộ cho lữ khách đi Kathmandu, thủ đô Nepal.

 

NA-LAN-ĐÀ, ĐẠI HỌC PHẬT GIÁO ĐẦU TIÊN


Na-lan-đà cách Patna 70 cây số về hướng đông nam. Tôi từ Hoa Thị Thành, còn mang nặng ấn tượng của thành phố đó, đến Na-lan-đà một buổi sáng trời đẹp và bất ngờ thay, đây là một vùng đất xinh đẹp, cỏ cây tươi nhuận. Tại cổng vào Na-lan-đà có một biển đá đen trình bày tổng thể khu vực và viện đại học Phật giáo đầu tiên này được gọi là “phế tích” vì ngày nay tất cả hầu như chỉ còn nền đá.

 

Đây là viện Phật học đầu tiên của thế giới được xây dựng trong thế kỷ thứ hai sau công nguyên. Dưới triều đại Gupta thế kỷ thứ tư, Na-lan-đà trở thành một viện đại học thật sự. Liên tục 700 năm nơi đây được mở rộng và tu bổ mà mạnh nhất là trong thời nhà vua Harsa (606-647) và triều đại Pala (từ 750). Suốt một thời kỳ khoảng 1000 năm, đây là nơi sản sinh hàng trăm luận sư danh tiếng nhất của Phật giáo. Trong thời kỳ cực thịnh có đến 10.000 tỉ-kheo tu học tại đây. Khoảng cuối thế kỷ thứ 12 Na-lan-đà bắt đầu bị tín đồ Hồi giáo tàn phá và năm 1235 hai tu viện cuối cùng bị hủy diệt và đó cũng là thời kỳ Phật giáo suy tàn tại Ấn Độ.

 

Lòng tôi hân hoan không tả được khi thăm viếng phế tích này. Đó là một tổng thể những công trình xây dựng dài khoảng 500 mét theo trục nam-bắc. Bên mặt của trục chính là khoảng 10 tinh xá, ngày xưa đó là giảng đường và cũng là cư xá của các giảng sư hay lưu học sinh. Trong các giảng đường ta còn có thể nhận ra được bục giảng của giảng sư, sinh viên ngồi xung quanh dưới đất. Bên trái trục chính là nền đá của bốn ngôi đền lớn, ngày xưa được dùng làm thư viện và tháp thờ. Ngày nay tất cả đều chỉ là nền đá trơ trọi thế nhưng chúng gây biết bao lòng cảm khái và khâm phục cho người thăm. Bất ngờ và cũng đáng trân trọng thay, một xứ nghèo như Ấn Độ, nơi mà đạo Phật đã suy tàn gần mười thế kỷ mà một phế tích như Na-lan-đà lại được chăm sóc chu đáo. Ngày tôi đến, ở đây có một màu nắng êm dịu và và màu cỏ xanh nhắc tôi dường như đây vẫn còn sức sống.

 

Nói Na-lan-đà được xây dựng trong thế kỷ thứ hai là nói viện Phật học chứ thực ra trong thời Phật tại thế khu vực này đã là vùng đất thiêng. Nó chỉ cách Vương Xá 11 cây số về phía bắc và mỗi lần Phật rời kinh thành này của vua Tần-bà-sa-la đi lên miền bắc, Ngài thường nghỉ trong vườn xoài Pavarika ở đây. Đây cũng là quê hương của Xá-lợi-phất, vị đệ tử có “đại trí tuệ” và cũng là nơi ông chết. Đến thời A-dục vương, nhà vua đã cho xây một ngôi chùa tại đó và ba trăm năm sau, một nhà vua nước Ma-kiệt-đà tên là Sankraditya mới thành lập nơi đây viện Phật học. 

 

Viện này không phải đợi lâu vì cũng trong thế kỷ thứ hai đó đã có một nhân vật kiệt xuất tên là Long Thụ [15] ra đời, đến Na-lan-đà tu học và về sau trở thành viện trưởng. Long Thụ là một trong những luận sư xuất chúng nhất của Phật giáo, Ngài được xem là đức Phật thứ hai, sự xuất hiện của Ngài là lần chuyển pháp luân thứ hai. Ngài là người chịu suy luận nhất của lịch sử Phật giáo, là người sáng lập Trung quán tông [16], đồng thời lại là vị tổ thiền thứ 14 của Thiền tông Ấn Độ truyền từ đức Thích-ca xuống.

 

Tiếp nối truyền thống, sau Long Thụ là những thế hệ của giảng sư và luận sư danh tiếng như Thánh Thiên, Vô Trước, Thế Thân, Hộ Pháp, Trần Na, Giới Hiền giảng dạy. Thời đó Na-lan-đà đã là mẫu mực của tính khoa học cầu thị. Nơi đây 18 trường phái Phật giáo của thời kỳ đó đều được giảng dạy, từ vệ-đà, tiểu thừa, Duy thức, nhân minh cho đến các ngành khác như toán học, y học. Cả “giáo sư nước ngoài” cũng được mời dạy mà người nổi tiếng nhất lại là Huyền Trang. Ông tới đây học Duy thức với Giới Hiền [17], lúc đó vị thầy viện trưởng này đã 106 tuổi. Kẻ hành hương Trung Quốc này mô tả kiến trúc của các tinh xá và giảng đường với một lòng yêu mến và sự chính xác mà về sau các nhà khảo cổ phải thừa nhận là hoàn hảo [18].

 

Đó là năm 637, khi Huyền Trang đến Na-lan-đà và thưa với Giới Hiền: “Con từ Trung Quốc đến và xin Ngài chỉ dạy triết lý Duy thức”. Giới Hiền khóc vì mừng rỡ và kể Huyền Trang nghe cách đây không lâu ông đã bị bệnh tưởng mình sắp chết. Đêm nọ ông nằm mơ thấy ba vị bồ-tát hiện đến, mặc ba màu áo khác nhau, vị mặc áo vàng, vị áo xanh thẩm, vị kia áo trắng. Đó là ba vị Văn-thù, Quán Thế Âm và Di-lặc và chỉ thị cho Giới Hiền phải sống tiếp và đợi một người từ Trung Quốc tới mà giảng dạy. Nơi đây Huyền Trang đã được truyền thừa trực tiếp triết học Duy thức, đã truyền từ Vô Trước, Thế Thân đến cho Trần Na [19], Hộ Pháp [20] và học trò của Hộ Pháp chính là Giới Hiền. Huyền Trang ở lại đây 15 tháng để học tập và hoàn thành bộ Thành duy thức luận [21], tổng kết mười vị đại luận sư [22] của Duy thức tông mà nói như Grousset là “tổng kết 700 năm tư tưởng Ấn Độ”.

 

Ôi, thì ra Na-lan-đà là quê hương của hai trường phái vĩ đại của Phật giáo là Trung quán tông và Duy thức tông, một nói về tánh, một về tướng. Chẳng đâu khác, đó chính là nguồn gốc của triết học Phật giáo đại thừa mà ngày nay nó đã lan tỏa khắp thế giới, mà Việt Nam cũng đã tiếp thu.

 

Tôi nhìn quanh một vùng đất vắng vẻ, hôm nay không ai đến tham quan. Cảm động thay được đến nơi đây. Đây là nơi hàng chục ngàn người đã cầu nguyện và học tập, hàng chục thế hệ của thánh nhân đã giáo hóa, ánh sáng minh triết Phật giáo đã từ đây chiếu khắp bốn phương. Biết bao phép lạ đã xảy ra nơi đây, hỡi các cành cây ngọn cỏ đang rung rinh trong gió.

 

Tôi bỗng nhớ tới Tịch Thiên [23]. Ông là một cao tăng thuộc phái Trung Luận sống khoảng thế kỷ thứ 7, 8. Tương truyền ông là một vương tử nhưng thụ giới tỉ-kheo và đến Na-lan-đà học tập. Thế nhưng khi đồng môn chăm chỉ học hành thì ông chỉ biết ngủ. Na-lan-đà hồi đó là một học viện rất nghiêm khắc, đúng như Huyền trang kể: “…cả ngày các vị đều luôn luôn biện luận. Những ai không thể biện luận về kinh điển đều không được kính trọng và phải lẫn tránh vì xấu hổ…”. 

 

Thế nhưng Tịch Thiên cũng chẳng chịu lẫn tránh và đồng môn dự định sẽ bêu xấu ông là “lười biếng” để ông phải bỏ viện ra đi. Tới ngày bị thử thách, ông lên giảng đường, tuyên bố sẽ giảng một bộ luận mới và sau đó tụng đọc tập Nhập bồ-đề hành luận [24]. Đến chương thứ chín, người ông bắt đầu bay lên khỏi ghế, lơ lửng trên không và qua chương cuối thì đồng môn chỉ còn nghe tiếng ông nói, thân ông biến mất. Về sau Tịch Thiên từ chối chức viện trưởng để vào rừng làm thợ săn. Bị chê trách phạm lỗi sát sanh, ông dùng thần thông cho thú vật sống lại và nói bài kệ:

 

Con nai trên bàn ăn, 

chưa hề sống hề chết, 

chẳng bao giờ vắng bóng. 

Đã không gì là Ngã, 

sao lại có thợ săn, 

hay thịt của thú rừng? 

Ôi người đời đáng thương, 

mà các ngươi lại gọi,

ta là kẻ “lười biếng”.

 

Ngày nay, Nhập bồ-đề hành luận là kinh sách giáo khoa của Phật giáo Tây Tạng và cách hành xử của Tịch Thiên được dân chúng nơi đó yêu thích truyền tụng.

 

Sau Tịch Thiên vài trăm năm, cuối thế kỷ thứ 12, Na-lan-đà bị xóa tên trên xứ Ấn Độ. Có một đạo quân mang tên một giáo phái đã đến đây hủy diệt Na-lan-đà và cả xứ Ma-kiệt-đà. Mọi sự vật khi lên đến đỉnh cao của nó đều trở về với sự suy tận, đó là qui luật bất di bất dịch, Na-lan-đà cũng không tránh khỏi. Thế nhưng nơi đây ta có thể tự hỏi phải chăng một trong những nguyên nhân của sự suy tàn quá sớm của đạo Phật tại Ấn Độ là sự tập trung cao độ tại Na-lan-đà, sự tập hợp có tổ chức của tôn giáo thành những định chế có tính cách tăng lữ, nhất là lại được các vương triều ra sức hỗ trợ.

 

Đó là những nhân tố làm Phật giáo vướng vào quyền lực và chính trị, chúng là mầm mống của mọi tranh chấp và thảm họa. Tôi nhớ đến lịch sử Phật giáo Trung Quốc hay Tây Tạng thường bị bức hại sau một thời kỳ được các vương triều biệt đãi. Và trong thời đại ngày nay chế độ tăng lữ của Phật giáo Tây Tạng đang lâm tai họa lại thêm một lần nữa minh chứng cho suy nghĩ này. Hãy làm theo Tịch Thiên vào rừng làm thợ săn hay như Gampopa, bỏ tu viện cao quí đi tìm Milarepa nơi chỗ độc cư hẻo lánh. Lời Lão Tử vang vọng lại với tôi ngày hôm đó tại Na-lan-đà “Vật mạnh lớn ắt già, Ấy là trái Đạo, Trái Đạo mất sớm” [25].

 

“VUI ĐẸP THAY THÀNH VƯƠNG XÁ” [26]


Từ Na-lan-đà đi về phía nam khoảng 11 km là đến Vương Xá, tức Rajagaha, ngày nay tên là Rajgir. Đến Vương Xá không mấy ai ngờ ngày xưa đây là kinh đô của nhà vua Tần-bà sa la, nơi mà đức Phật thường đi khất thực. Ngày nay Vương Xá là một thị trấn nhỏ đầy bụi bặm như mọi nơi tại Ấn Độ, cách xa thị trấn vài cây số đã là đồng không mông quạnh.

 

Đây là Vương Xá sao, nơi mà đức Phật từng gọi là “vui đẹp”? Ngày xưa nó là kinh đô của Ma-kiệt-đà, là nơi mà Phật Aâm [27] mô tả là có 32 cửa chính và 64 cửa phụ. Từ trước công nguyên, sau khi A-xà-thế dời đô đi Hoa Thị thành thì Vương Xá đã suy tàn.

 

Kinh thành Vương Xá của nhà vua ngày xưa được xây một cách hiểm yếu, xung quanh là ba núi vây bọc. Dọc trên các đỉnh núi đó nhà vua còn cho xây các trường thành mini, tương tự như vạn lý trường thành Trung Quốc để chống ngoại xâm. Người thực hiện các trường thành đó không ai khác hơn là A-xà-thế, lúc ông chưa phản lại vua cha. Chắc là quá ngán ngẫm chuyện xây 40 cây số trường thành, về sau A-xà-thế bỏ Vương Xá, dời đô đi Hoa Thị Thành. Ngày nay khách đến Vương Xá thì sẽ thấy phía bắc của Vương Xá cũ có một thị trấn nhỏ với một ga xe lửa, còn thành Vương Xá thuở xưa ngày nay không còn ai ở. Tôi đi theo sườn núi với lòng u hoài, đúng như tâm sự của Huyền Trang vì lúc ông đến đây thì Vương Xá cũng đã đổ nát. Chỗ mà ngày xưa Phật đi khất thực bây giờ là một con đường chạy giữa hai vách núi, thưa thớt những bụi cây con và đầy cỏ dại.

 

Ngày xưa người du sĩ mang tên Cồ-đàm, lúc chưa đắc đạo đã từng đi ngang Vương Xá. Nhà vua Tần-bà-sa-la, người trẻ hơn Phật năm tuổi biết du sĩ này có dòng dõi vương tước, có phẩm cách cao quí mới đề nghị nhường một phần đất Ma-kiệt-đà để cùng trị vì. Thật là chuyện đời xưa mới có ! Dĩ nhiên là người du sĩ Cồ-đàm từ chối. Dù đó là chuyện hiếm hoi nhưng có lý vì không lẽ kẻ du sĩ đã bỏ ngai vàng tại nước mình đi khoảng hơn sáu trăm cây số để nhận một ngai vàng khác. Nhớ rằng ngày xưa sáu trăm cây số đi cả vài tháng mới tới.

 

Nghe vậy, Tần-bà-sa-la mới thỉnh cầu Cồ-đàm sau khi đắc đạo hãy trở về thăm ông. Đức Phật nhận lời và về sau Ngài tới Vương Xá rất thường xuyên và nhà vua cũng tặng Ngài một ngôi vườn trồng toàn tre tên là Trúc Lâm (Veluvana), chỗ này có rất nhiều sóc. Vườn Trúc Lâm tại Vương Xá là chỗ ở thân thiết của Phật nên ta hay gặp trong các tập Bộ kinh đoạn sau đây: “Một thời đức Thế Tôn ở tại Vương Xá, trong vườn tre Veluvana, chỗ nuôi dưỡng sóc…”. 

 

Phật giảng nhiều bài kinh tại đây, thường là trong buổi sáng sớm. Trong các tập Bộ kinh thỉnh thoảng ta còn thấy câu: “Đức Thế Tôn thấy quá sớm để vào thành Vương Xá khất thực nên…”. Hình như kinh thành vương giả quen dậy muộn, Phật thấy ra đi khất thực “quá sớm” nên thỉnh thoảng Ngài dành thì giờ đi thuyết giảng cho kẻ tầm đạo mà ngày nay người ta tìm thấy nội dung trong các bài kinh. 

 

Tôi tìm đến vườn tre Trúc Lâm nằm phía bắc của Vương Xá, ngày nay khu vườn được nhà nước Ấn Độ cho rào bọc cẩn thận. Trong vườn hiện còn một hồ nước trong xanh, hồ này được Huyền Trang ghi trong ký sự cách đây 13 thế kỷ. Hồ này chính là hồ Kalandaka, nơi đức Phật thường tắm. Trong vườn, đường lối ngay ngắn, hoa lá xinh đẹp và tôi chợt thấy lòng mình an bình vô hạn. Tại một nơi trong vườn hiện còn một số bụi tre lớn nửa xanh nửa vàng, mang lá dày đặc. Theo Schumann [28] nơi đây người ta tìm thấy di tích của một số tháp xây trong thế kỷ thứ 10, kỷ niệm chòi tranh ngày xưa Phật lưu trú. 

 

H 4: Sơ đồ Vương Xá: Phía bắc là thị trấn Vương Xá mới, phía trên bên trái là vườn tre Veluvana, ở giữa là kinh thành Vương Xá cũ, phía nam kinh thành là điện giam vua Tần-bà-sa-la (Bimbisara’s Jail), bên mặt của điện là vườn Jivaka, phía đông bắc là tháp hòa bình thế giới (Shanti Stupa) trên núi Bảo sơn và cuối cùng bên mặt chỗ có ô vuông là đỉnh Linh Thứu (Gijjhakuta) [29] mà đoạn....là đường đi bộ. 

 

Thời đó vua Tần-bà-sa-la có một vị ngự y tên là Jivaka, vị bác sĩ này được nhà vua chỉ thị chăm nom sức khỏe cho tăng đoàn và JIvaka cũng tặng cho Phật một vườn xoài mang tên Jivakambavana. Vườn xoài của Jivaka kiên cố hơn vườn tre vì ngày nay tôi còn tìm thấy nền đá. Tuy gọi là “vườn xoài” nhưng đây phải là một công trình xây dựng to lớn và kiên cố gồm nhiều hành lang dài và hẹp mà ngày nay ta thấy những nền đá với bề ngang gần một mét. Theo Schumann thì ngày xưa, trên những hành lang hẹp đó là mái bằng đất hình vòm nằm trên những thân tre uốn vòng.

 

Theo tương truyền nhà y sĩ Jivaka mới đầu rất dè dặt với đức Phật. Phải chăng đó là cái bệnh của người trí thức xưa nay đối với các vị đạo sư tâm linh, nhưng không bao lâu sau, ông là một cư sĩ hết sức nhiệt thành. Trong Trung bộ kinh, tôi bắt gặp kinh Jivaka với câu mở đầu: “Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú tại Vương Xá, tại vườn xoài của Jivaka Komarabhacca…”. Người đến hỏi chuyện lần đó không ai khác hơn là nhà y sĩ của chúng ta. Đúng nghiệp vụ của mình, ông hỏi Phật lúc nào thì được ăn thịt. 

 

Sau khi nghe giảng pháp, nội dung thâm sâu hơn hẳn chuyện ăn uống, ông phấn khởi xin Phật nhận làm cư sĩ và “từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng”. Hay thay đặc tính của người trí thức xưa nay, chưa hiểu thì dè dặt, hiểu rồi thì có nhiệt tâm. Người ta cho rằng chính tại vườn xoài này mà Jivaka đã chữa bệnh cho các tỉ-kheo và một số toa thuốc của ông đã được ghi lại trong kinh tạng Pali. Jivaka cũng cho bệnh nhân tắm suối nước nóng nằm ngay tại Vương Xá. Trong ký sự, Huyền Trang viết lúc ông đến thì còn khoảng mười suối nước còn nóng. Sau 25 thế kỷ, ngày nay nước vẫn còn nóng, lúc tôi đến thì còn thấy biển quảng cáo tân thời mời du khách tắm nước nóng.

 

Xúc động nhất cho tôi tại Vương Xá là lúc đến thăm nền cũ của cung điện Tần-bà-sa-la. Nhà vua là người tặng Phật nửa nước nhưng Ngài không lấy, còn khi ông tặng con A-xà-thế cả ngai vàng thì A-xà-thế vẫn chưa an tâm, giam cha mẹ vào ngục tối. Từ cung điện này, may thay Tần-bà-sa-la vẫn thấy được núi Linh Thứu cách đó không xa. Trong những ngày cuối đời của ông, tương truyền rằng Phật Thích-ca đã dùng thần thông vào ngục giảng pháp cho vua và hoàng hậu. Là một người nhiệt tâm và đã trải qua nhiều thăng trầm cay đắng, hẳn ông thấm đượm giáo pháp của Ngài dễ như “tấm vải sạch sẵn sàng ăn thuốc nhuộm” [30] và huyền sử kể rằng sau khi chết, ông sinh ngay vào trời Tứ Đại Thiên vương.

 

Vương Xá là nơi Phật gặp gỡ những đệ tử quan trọng nhất của tăng già, đó làø Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên. Đây là hai vị đại đệ tử, Xá-lợi-phất được xem là trí huệ đệ nhất, vị kia là thần thông đệ nhất. Hai vị này là bạn thân với nhau, cùng xuất thân từ giòng dõi Bà La môn và cùng gia nhập tăng già. Vị trí huệ đệ nhất Xá-lợi-phất vốn là người rất hay nghi kỵ các giáo pháp. Trước khi gặp Phật xin qui y, Xá-lợi-phất gặp một tỉ-kheo tên là A-thuyết-thị [31] và ngạc nhiên trước phong độ của vị này. Xá-lợi-phất hỏi thầy của A-thuyết-thị là ai, đó là cách hỏi thông thường thời đó. A-thuyết-thị trả lời bằng bốn câu kệ:

 

Các pháp nhân duyên sinh 

Cũng theo nhân duyên diệt

Nhân duyên sinh diệt này

Phật đại sa môn thuyết.

 

Vốn là người từng suy tư về pháp, Xá-lợi-phất trực ngộ lí “có sinh có diệt” này của bốn câu “Duyên khởi kệ” và rủ Mục-kiền-liên xin gặp ngay vị “đại sa môn”. Chuyện đó diễn ra tại Vương Xá. Về sau cả Xá-lợi-phất lẫn Mục-kiền-liên đều mất trước Phật và hi hữu thay hai vị đều chết tại Vương Xá cả. Trong nhiều chùa có khi ta thấy tượng Phật với tả hữu hai bên là hai vị tôn giả này.

 

Đức Phật cũng gặp nhiều vị cư sĩ nhiệt thành tại Vương Xá, trong số đó ta đã biết Tần-bà-sa-la. Một vị khác rất quan trọng là Cấp Cô Độc [32] mà trong một chương sau sẽ được nói rõ hơn. Thế nhưng Phật không chỉ gặp những người yêu mến Ngài, Phật cũng có kẻ thù mà sự việc cũng xảy ra tại Vương Xá. Người đó là Đề-bà đạt-đa [33]. Ông là em họ của Phật, gia nhập tăng già và trở thành một thành viên quan trọng. 

 

Khoảng 8 năm trước khi Phật nhập diệt, ông muốn thống lãnh tăng già nhưng Phật không chấp nhận. Ông tìm cách giết Phật nhưng không thành. Hãy đọc lại ký sự của Huyền Trang lúc đến thăm Vương Xá, kể về những nơi chốn lịch sử này: “Ngoài cửa thành Vương Xá về phía bắc có một ngọn tháp. Chính chỗ này Đề-bà đạt-đa và vua A-xà-thế sau khi giao hữu với nhau đã thả con voi say để hại đức Phật…Phía đông ngôi chùa [34] là một tảng đá rất to, chính chỗ này Đề-bà đạt-đa xô đá hại Phật…”.

 

Tôi đến đây và thấy lại tảng đá này ! Ôi thời gian đã trôi đi 25 thế kỷ nhưng những điều tưởng chừng như huyền thoại vẫn còn. Bao nhiêu điều đã xảy ra trong thị trấn bé nhỏ này. Suốt một thời gian hơn 50 năm, từ lúc vị du sĩ Cồ-đàm đi ngang đây cho đến ngày triệu tập hội nghị kết tập lần thứ nhất, tất cả những điều đó đều xảy ra cũng tại nơi đây. Ngày nay có thể có khách đi ngang đây mà không hề biết lịch sử của nó vì Vương Xá chỉ là một con đường nhựa nhỏ chạy giữa hai sườn núi trơ trọi. Vương Xá cũng đã theo “nhân duyên” mà diệt.

 

TRÊN ĐỈNH LINH THỨU


Đỉnh Linh Thứu đối với tôi gần như hoang đường, tôi không bao giờ dám nghĩ đời mình sẽ có ngày đến Linh Thứu. Hôm nay tôi chỉ còn cách Linh Thứu vài cây số, đã thấy đỉnh núi huyền thoại này từ xa, từ điện của Tần-bà sa la.

 

Trong số du khách đến Ấn Độ mà nếu có ai đến Vương Xá là chỉ để thăm Linh Thứu. Người Ấn gọi Linh Thứu là Griddhaguta, nó là một đỉnh đồi nằm phía đông kinh thành Vương Xá. Do Linh Thứu thu hút khách nước ngoài nên tại thị trấn Vương Xá mới xây sau này cũng có một vài khách sạn hiện đại, đón khách hành hương từ Nhật hay Aâu Mỹ quen tiện nghi. Chúng tôi vào ăn trưa ở một khách sạn mang tên Lotus (Hoa sen) và mới hay nơi thị trấn hẻo lánh này mà cũng có khách sạn trang bị đầy đủ máy lạnh nước nóng. Vào sảnh đường khách sạn tôi thấy ngay một bức tranh lớn vẽ đỉnh Linh Thứu. Lòng tôi toát ra lòng biết ơn cuộc đời và cảm nhận một niềm rộn rã vô hạn. Khách sạn này chỉ mở cửa sáu tháng mùa đông, còn mùa hè thì du khách không có ai đến vì quá nóng.

 

Sau bữa ăn trưa, nhân viên khách sạn chỉ đường cho chúng tôi đi Linh Thứu, họ nói với anh tài xế bằng tiếng Hindu cách đi đường thế nào thuận tiện nhất. Và khi đến nơi, chúng tôi mới hay Linh Thứu không hề là một vùng hoang vu như Vương Xá mà là một nơi được nhiều người đến chiêm bái.

 

Theo dòng khách hành hương chúng tôi đến một trạm đi xe cáp, đó là phương tiện di chuyển thông thường trong các vùng núi non. Từ dưới thấp nhìn lên chúng tôi thấy một bảo tháp trắng toát. Thế nhưng đỉnh Linh Thứu đâu ?

 

Xe cáp dần dần đưa chúng tôi lên núi, thì ra đó là núi Bảo sơn [35], nằm phía tây bắc của Linh Thứu. Trên đỉnh núi này, năm 1969 người Nhật xây một bảo tháp cực lớn mang tên Shanti Stupa (tháp hòa bình thế giới). Khi đến nơi tôi mới thấy quả thật đây là một bảo tháp tuyệt đẹp với bốn tượng Phật hoàn hảo nhìn ra bốn phía. Thông thường thì tôi có thể bỏ cả nửa buổi để nhìn ngắm tháp này nhưng tôi đến đây vì Linh Thứu, đỉnh núi thiêng liêng này đang chiếm lấy tâm tôi. Tôi chạy ra sân của công trình bảo tháp nhìn xuống, thì dưới kia là Linh Thứu ! Linh Thứu là đó sao, một đỉnh đồi với một chiếc sân nhỏ bằng đá hình vuông vuông, đó thật là nơi cách đây 25 thế kỷ Phật đã giảng những bộ kinh quan trọng hay sao?

 

Thì ra xe cáp đã kéo chúng tôi lên rất cao, tới đỉnh Bảo sơn nơi xây bảo tháp. Cách đi là khách thăm Bảo sơn trước, sau đó đi bộ xuống núi để đến Linh Thứu. Lòng tôi có chút vướng bận một điều gì đó chưa rõ nhưng tôi háo hức theo đoàn người xuống núi, đi trước là một viên lính Ấn Độ dẫn đường. Càng đi, Linh Thứu càng gần dần và rõ dần. Buổi chiều đã bớt nắng, gió hơi mạnh.

 

Và đây rồi, len lỏi qua vài mô đá lớn, chúng tôi tới đỉnh Linh Thứu ! Xúc động thay, đời mình đến được nơi này.

 

Đây là một sân vuông nhỏ, dài khoảng hai mươi mét, rộng mười mét. Đây là nơi diễn ra Hội Linh Sơn cách đây hai ngàn năm trăm năm mà hồi nhỏ tôi đã nghe ông tôi tụng “Linh Sơn hội thượng Phật”, pháp hội mà nhiều người hiện nay cho rằng nó vẫn còn tiếp diễn.

 

Linh Thứu được xem là chỗ đức Phật giảng pháp thậm thâm, dành cho các bậc thượng thừa, được mệnh danh là chỗ Ngài chuyển pháp lần thứ hai. Trong một bài giảng tại đại học Harvard (Mỹ) [36], vị Đại-lai lạt-ma thứ 14 hiện nay nói: “Nội dung của những bài thuyết pháp này là những bài kinh thuộc hệ Bát-nhã ba-la-mật-đa và trong những bài kinh này, người ta thường kể rằng, rất nhiều môn đệ của Ngài (Phật) – người, chư thiên, a-tu-la và những loài khác đã tham dự pháp hội này. Nhưng nếu đã từng đến núi Linh Thứu thì người ta sẽ nhận ra ngay là cái đỉnh của ngọn núi này chỉ có thể chứa được mười, cao nhất là mười lăm người. Vậy thì chỗ Phật thuyết pháp phải là một nơi, một hiện tượng mà chỉ những môn đệ với những thiện nghiệp hi hữu, con mắt thanh tịnh, mới có thể nhìn thấy được”.

 

Đỉnh Linh Thứu chính là nơi Phật giảng bộ kinh Diệu pháp liên hoa, trong đó Ngài không còn là một con người lịch sử có sống có chết nữa, mà Phật xuất hiện trong dạng Báo thân, trong dạng của một vị Phật đã thành tựu Phật quả từ muôn ngàn kiếp trước. Trong kinh này Ngài trình bày rõ các phương pháp khác nhau của tam thừa đều chỉ là phương tiện của “người cha muốn cứu các con đang vui chơi trong một ngôi nhà đang cháy”.

 

Phẩm thứ 16 (Thọ mạng Như Lai) trình bày rõ việc Ngài đắc đạo bốn mươi năm trước đó tại Bồ-đề đạo trường hay sẽ nhập Niết bàn chỉ là dạng Ứng thân của Ngài cho người đời dễ tin dễ hiểu chứ Ngài thành đạo không phải trong đời này và cũng sẽ mãi mãi thường trụ tại đời này. Và đáng chiêm ngưỡng thay, đỉnh Linh Thứu chính là trú xứ, là tịnh độ của Ngài. Vì thế mà “hội Linh Sơn” mãi mãi vẫn còn tiếp diễn với hàng vạn bồ-tát và thiên nhân. Người bình thường, còn bị vô minh vây phủ, thấy thế giới này còn vô thường và khổ đau, thì cũng thế, thấy Linh Thứu chỉ là một cái sân nhỏ tráng xi-măng chỉ có chỗ cho vài chục người.

 

Tôi chỉ là người trần mắt thịt nên chiều hôm đó chỉ nghe tiếng gió chiều và cảm nhận một cách trừu tượng rằng mình đang đứng một chỗ thiêng liêng. Từ đỉnh núi Linh Thứu này, lòng đầy u hoài tôi nhìn xuống Vương Xá ngày nay chỉ là một con đường chạy giữa hai triền núi. Tôi nhớ lại một tác phẩm của Schumann để hiểu tại sao ngày xưa Phật lại cư trú trên này. Theo Schumann [37] thì Vương Xá ngày xưa là một đô thị nằm trong lòng chảo, xung quanh toàn là núi không có chút gió nên mùa hè hẳn phải nóng khủng khiếp. Đức Phật và đoàn tùy tùng có lẽ cũng không chịu nổi cái nóng và phải rút lên núi, thế nhưng không lên quá cao để môn đệ, trong đó có nhà vua Tần-bà-sa-la tiện việc thăm Ngài. Dễ thương thay, cách giải thích logic của một người phương tây. Thì ra Ứng thân của Ngài cũng sợ nóng, cũng chịu mọi cảnh sinh lão bệnh tử của cuộc đời.

 

Về sau trên đường đi xuống núi, quả nhiên tôi thấy có bảng đề: “Đây là chỗ nhà vua cho tùy tùng rút lui để một mình lên diện kiến Phật”. Đi tiếp xuống một đoạn lại thấy: “Đây là chỗ nhà vua xuống xe ngựa, đi bộ lên núi thăm Phật”.

 

Trước khi xuống núi khách có thể thăm viếng các động thiền định của A-nan, Đại Ca-diếp, Xá lợi-phất, Mục-kiền-liên. Bao nhiêu thế hệ của khách hành hương đã đến chỗ này, bao nhiêu lòng thành kính đã tỏa lan nơi đây mà ngày nay còn lại là những cửa động bằng đá dát vàng lấp lánh. Ôi, những điều tưởng là huyền thoại không ngờ lại có thật cả.

 

Trên đường xuống núi, người lính Ấn Độ dẫn đường đã chỉ cho tôi thấy một tảng đá rất giống hình chim ưng, một trong những lý do mà người ta đặt cho đỉnh núi này biệt danh “đỉnh kên kên”. Tôi chụp được hình ảnh độc đáo này, không dễ gì bắt gặp nó trong một ngày trời xanh nắng sáng như hôm nay (xem hình 9).

 

Tôi đi xuống chân núi, lòng ân hận. Bây giờ tôi mới biết lòng mình vướng bận điều gì. Lẽ ra tôi phải đi bộ lên núi, như hàng đoàn người đi ngược từ dưới lên, trong đó có cả ông già bà cả. Những người trong khách sạn tưởng tôi thích tiện nghi đã chỉ một con đường bất xứng, đi xe cáp lên cao rồi từ trên đi xuống cho khỏe. Từ phía dưới tôi ăn năn nhìn lên, chỉ còn thấy xa xa hình của một ông già người Ấn đứng bơ vơ trên đỉnh, ông là người thu những số tiền mà khách cúng dường nơi chốn thiêng liêng này.

 

Lần sau đời tôi nếu có cho tôi đến Linh Thứu lại, tôi sẽ dành một ngày đi bộ từ Vương Xá lên đỉnh, đi lại bước chân của đức Phật lúc Ngài còn tại thế. Nhiều năm về sau, tôi được đi tham bái nhiều thánh địa của đức Thích-ca ở Ấn Độ, nhiều đạo trường của các vị Bồ-tát mà Diệu pháp liên hoa kinh đã nhắc tới như Văn-thù, Quán Thế Âm, Phổ Hiền…ở Trung Quốc, nhiều tu viện rất cổ tại Tây Tạng. Đó là những chốn rất thiêng liêng được mệnh danh là “tứ động tâm” của Ấn Độ, “tứ đại danh sơn” của Trung Quốc, “thành phố của chư thiên” tại Tây Tạng. Thế nhưng không có nơi nào để lại trong tôi lòng xúc động và biết ơn cuộc đời như Linh Thứu. Phải chăng Linh Thứu quá nhỏ bé để tôi thấy đâu đây còn có hơi ấm và ánh sáng của vị đạo sư trong lúc các chốn kia quá to lớn mênh mông ? Nhưng đó là tâm tư thật của tôi. Nếu có một ngày hỏi lại đời mình đâu là chỗ đáng quí nhất đã từng đi tới thì đó là núi Linh Thứu.

 

TỪ LINH SƠN NHỚ VỀ YÊN TỬ


Có nhiều truyền thuyết giải thích tại sao núi Linh Thứu còn có tên là “đỉnh kên kên”. Có thuyết cho rằng tôn giả A-nan, một vị học trò thân cận của Phật, trong lúc thiền định trong động đá bị ma quỷ hiện thành chim kên kên dọa nạt. Tôi không hiểu nếu hiện hình con gì thì còn có người sợ chứ chim thì mấy ai sợ. Lại có người cho rằng nơi đây chim kên kên hay đến làm tổ. Cũng có kẻ nói rằng đá núi nơi đây có hình chim kên kên, thuyết này xem ra đứng vững hơn cả.

 

Như ta đã biết, trong hơn bốn mươi năm giáo hóa, Đức Thích-ca đã giảng nhiều bài kinh quan trọng tại Linh Thứu. Cuối đời mình, nơi đây Ngài đã dùng Báo thân để giảng bộ kinh Diệu pháp liên hoa cho thiên nhân cũng như loài người, bộ kinh Đại Thừa nổi tiếng mà Phật tử Việt Nam hay gọi là kinh Pháp Hoa.

 

Cũng trên đỉnh Linh Thứu này, ngày nọ, Đức Thích-ca không nói gì, lẳng lặng đưa một cành hoa lên cao. Hội chúng chẳng ai hiểu gì cả, chỉ có một đại đệ tử của ngài là Đại Ca-diếp mỉm cười, cũng chẳng nói năng gì. Hành động “niêm hoa vi tiếu” này là đầu nguồn của Thiền tông, một tông phái chủ trương “tâm truyền tâm”, đạt giác ngộ không cần và không thể sử dụng ngôn ngữ văn tự mà dùng tuệ giác vốn có sẵn nơi tâm mà tiếp cận với thực tại. Linh Thứu là quê hương của Thiền tông, đây cũng là suối nguồn của nhiều tông phái quan trọng khác. Đại Ca-diếp được xem như Tổ thứ nhất của Thiền tông Ấn Độ. Về sau Đại Ca-diếp truyền cho A-nan, rồi cứ thế mà dòng truyền thừa Thiền tông tiếp diễn liên tục đến gần ba mươi đời sau, trong đó có Long Thụ là truyền nhân đời thứ 14 mà ta đã biết.

 

Khoảng tám trăm năm sau khi Đức Thích-ca nhập diệt có một kẻ lữ hành từ Trung Quốc đến thăm Linh Thứu. Người đó là một vị tăng sĩ, tên gọi là Pháp Hiển, sinh khoảng cuối thế kỷ thứ tư. Năm 399, Pháp Hiển lên đường thăm Ấn Độ, thăm các thánh tích quan trọng của Đức Thích-ca và mười lăm năm sau mới về nước, mang theo vô số kinh điển. Theo tập ký sự còn lưu lại, Pháp Hiển mang nhang đèn đến Linh Thứu, vừa dâng hương, “đèn tự cháy sáng”. Pháp Hiển, “buồn đến phát khóc”, ở lại trong núi một đêm và tụng đọc kinh Lăng Nghiêm để nhớ lại vị đạo sư đã giảng kinh này tại đây.

 

Sau Pháp Hiển hơn hai trăm năm, một đại sư Trung Quốc lừng danh khác là Huyền Trang, biệt danh Đường Tam Tạng cũng đến chiêm bái Linh Thứu. Trên đỉnh núi Linh Thứu ngày nay còn một nền đá ghi lại ngày xưa Đức Thích-ca đã trú nơi đây và ngàn năm sau Huyền Trang đã nghỉ lại qua đêm. Vị tăng sĩ Việt Nam đầu tiên đi Linh Thứu có lẽ là Đại Thặng Thăng, sinh trong thế kỷ thứ bảy. Đại Thặng Thăng với ba vị tăng sĩ Việt Nam khác cùng đi với nhà sư Trung Quốc Nghĩa Tịnh (635-713) bằng đường biển đến Ấn Độ, đến tham bái Linh Thứu và các thánh tích khác, cuối cùng chẳng may bỏ mình tại xứ người.

 

Không phải chỉ có lữ khách từ xa đến Ấn Độ, ngược lại tăng sĩ Ấn Độ đi các nước khác cũng rất nhiều mà con người đầy huyền thoại nhất thời đó là một tăng sĩ mặt đen, râu rậm, tướng mạo như một võ sư. Đó là Bồ-đề Đạt-ma, có lẽ sinh năm 470. Bồ-đề Đạt-ma chính là truyền nhân đời thứ 28 và là đời cuối cùng của Thiền tông Ấn Độ, bắt đầu với Đại Ca-diếp và A-nan. Năm 520 Bồ-đề Đạt-ma lên đường đi Trung Quốc bằng đường biển, theo một tài liệu thì có ghé Việt Nam trước khi đến Nam Kinh gặp nhà vua Trung Quốc Lương Vũ Đế. Gặp Vũ Đế, Bồ-đề Đạt-ma khai thị yếu tính Thiền tông rất rõ ràng nhưng vua không lĩnh hội vì lòng còn bị các quan niệm thiện ác, tốt xấu chi phối. Bồ-đề Đạt-ma thấy cơ duyên chưa tới, đi về hướng Bắc Trung Quốc, vượt sông Trường Giang đến Lạc Dương, lên núi Tung sơn, ở chùa Thiếu Lâm, chín năm tọa thiền quay mặt vào vách.

 

Tưởng Thiền tông như thế là đứt đoạn, tổ Thiền thứ 28 đã rời Ấn Độ đi Trung Quốc, ở Trung Quốc thì quay mặt vào vách không nói năng gì. Nhưng không phải, trong một ngày đầy tuyết nọ, có người rút dao tự chặt cánh tay tỏ lòng thành khẩn, xin Bồ-đề Đạt-ma khai thị. Người đó là Huệ Khả (487-593). Chỉ nghe một câu “an tâm”, Huệ Khả đại ngộ, trở thành truyền nhân của Bồ-đề Đạt-ma, đời sau gọi là nhị tổ của Thiền tông Trung Quốc. Huệ Khả truyền cho Tăng Xán, vị tam tổ này sinh ra lúc nào không rõ chỉ biết tịch năm 606. Tăng Xán sau đó truyền cho Đạo Tín (580-651), rồi vị này truyền lại cho Hoằng Nhẫn (601-674).

 

Các vị truyền nhân này đều sống một cuộc đời kỳ dị, giác ngộ qua những câu vấn đáp xem ra ngớ ngẩn, mỗi người mỗi khác nhưng giống nhau ở chỗ lấy “tâm truyền tâm, thấy tánh thành Phật” làm gốc. Đến đời thứ sáu, với Lục tổ Huệ Năng (638-713) thì tính cách “bất lập văn tự” mới đạt tột đỉnh vì Huệ Năng mới đầu chỉ là một anh chàng tiều phu mù chữ. Về sau, Huệ Năng không có truyền nhân chính thức, thiền Trung Quốc được xem là có sáu vị tổ, như thiền Ấn Độ có 28 vị. Thế nhưng Huệ Năng là người khai sáng Thiền Trung Quốc rực rỡ hơn ai hết, để lại cho hậu thế vô số thiền sư xuất chúng và một dòng truyền thừa mãnh liệt đến thế kỷ thứ 11 và cả đến ngày nay.

 

Thiền tông không dừng ở Trung Quốc. Tổ thứ ba Tăng Xán vốn có ít học trò, trong đó có một vị tên là Tì-ni-đa Lưu-chi [38]. Vị này sinh năm nào không rõ, chỉ biết tịch năm 594. Sau khi ngộ pháp xong, Tì-ni-đa Lưu-chi đi về phương Nam, đến Giao Chỉ, ngụ ở chùa Dâu ngày nay, thuộc tỉnh Hà Bắc Việt Nam. Tại đây Tì-ni-đa Lưu-chi khai sáng dòng Thiền Việt Nam, truyền 19 đời, đến thế kỷ thứ 13, có ảnh hưởng mạnh lên đến các vua thời Lý.

 

Song song, trong số học trò sau mấy đời của Huệ Năng có một vị nói năng rất ít, được gọi tên là Vô Ngôn Thông. Năm 820, Vô Ngôn Thông về phương nam đến tỉnh Bắc Ninh Việt Nam ngày nay, khai sáng một dòng Thiền mới, truyền 17 đời, cũng đến thế kỷ thứ 13.

 

Trong thế kỷ thứ 11 một vị thiền sư Trung Quốc tên gọi là Thảo Đường, không rõ vì duyên cớ gì đi lưu lạc tận Chiêm Thành. Thảo Đường bị vua Việt Nam là Lý Thánh Tông bắt làm tù binh trong một trận chinh phạt nước này năm 1069. May thay cho Thảo Đường, Lý Thánh Tông là một nhà vua trọng đạo lý. Biết Thảo Đường là môn đệ của thiền sư Tuyết Đậu Trùng Hiển, Lý Thánh Tông phong làm Quốc Sư, tự nhận mình làm học trò. Cũng lại là một điều mà chỉ ngày xưa mới có. Sau đó, Thảo Đường khai sáng dòng Thiền thứ ba của Việt Nam, truyền được sáu đời, kéo dài đến cuối nhà Lý.

 

Khác với Thiền Trung Quốc chia thành “ngũ gia thất tông”, hầu như ba thiền phái Việt Nam chỉ đợi ngày hợp nhất. Qua đầu thế kỷ thứ 13, ba dòng Tì-ni-đa Lưu-chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường nhập lại một dòng duy nhất. Không rõ cơ duyên nào mà lịch sử Việt Nam lại sản sinh nhiều nhân vật lỗi lạc trong các thế kỷ 12,13 của đời Lý Trần. Dưới ảnh hưởng của Trần Thái Tông và Tuệ Trung Thượng Sĩ, ba dòng Thiền đó tập hợp thành một, xuất phát từ núi Yên Tử, hiện nay thuộc tỉnh Quảng Ninh, gọi là phái Thiền Yên Tử. Tại Việt Nam núi Yên Tử trở thành đỉnh cao vòi vọi của một dòng Thiền vừa rất quí tộc vừa rất nghệ sĩ.

 

Giữa thế kỷ thứ 13, một nhân vật kiệt xuất ra đời, đó là Trần Nhân Tông (1258-1308). Vừa làm vua chăm lo bảo vệ bờ cõi, vừa là thiền sư đạt đạo, Trần Nhân Tông trở thành tổ thứ sáu của dòng Thiền Yên Tử. Nhưng vì nhân cách của Trần Nhân Tông quá rực rỡ, đời sau tôn ông làm sư tổ, lấy hiệu Trúc Lâm của ông đạt tên làm phái Thiền Trúc Lâm, một dòng Thiền có tính nhập thế. Năm 1304, Trần Nhân Tông đích thân đi cả nước tìm truyền nhân, gặp ngay một thiếu niên “có đạo nhãn”, liền truyền pháp cho, người đó là Pháp Loa (1284-1330), tổ thứ hai của Trúc Lâm.

 

Đến năm 23 tuổi, Pháp Loa gặp một nhân vật kỳ dị, lúc đó đã 51 tuổi, tên gọi là Huyền Quang. Huyền sử chép rằng, mẹ của Huyền Quang là Lê Thị, ba mươi tuổi mà chưa có con, hay đến chùa cầu nguyện. Đầu năm 1254, trụ trì chùa là sư Tuệ Nghĩa mơ thấy trong chùa “đèn đuốc sáng choang, Đức Thích-ca chỉ tôn giả A-nan mà bảo, ngươi hãy tái sinh làm pháp khí Đông Độ và nhớ lại duyên xưa”. Năm đó Lê Thị sinh Huyền Quang. Gặp Pháp Loa, Huyền Quang tôn làm thầy mặc dù thầy trẻ hơn mình gần ba mươi tuổi.

 

“Duyên xưa” là duyên gì? Đông Độ Việt Nam thật ra là có duyên với đạo Phật, Việt Nam đến với đạo Phật sớm hơn cả Trung Quốc. Trong thế kỷ thứ nhất sau công nguyên, tại Việt Nam đã hình thành một trung tâm đạo Phật là Luy Lâu, thuộc Bắc Ninh ngày nay. Luy Lâu phát triển song song với hai trung tâm của Trung Quốc là Lạc Dương và Bình Thành [39]. Thiền Việt Nam đã xuất phát cả trước khi Bồ-đề Đạt-ma đến Trung Quốc. Trong thế kỷ thứ ba, tăng sĩ Khương Tăng Hội người Giao Chỉ đã viết luận giải về Đại Thừa và Thiền tông cho nên nhiều người cho rằng Khương Tăng Hội chính là người sáng lập Thiền Việt Nam, không phải đợi đến lúc Thiền Trung Quốc du nhập.

 

Người đời sau tôn ba vị Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang là “tam tổ” Thiền Việt Nam, xứng danh ngang hàng với sáu vị Tổ Thiền Trung Quốc và 28 vị Tổ Thiền Ấn Độ. Núi Yên Tử của Việt Nam, Tung sơn của Trung Quốc và Linh Thứu của Ấn Độ là nơi sản sinh các dòng Thiền đó.

 

Suốt bảy thế kỷ sau Trần Nhân Tông, trong vô số những người đã đến thăm Linh Thứu, có một đứa con cháu lạc loài của ông đứng ngẩn ngơ trên núi chiều nay. Ôi, con người đích thực của bao vị thánh nhân hầu như chìm trong bóng tối của lịch sử. Thường người ta chỉ biết Trần Nhân Tông là một nhà vua giỏi bảo vệ bờ cõi, nào ngờ là một đại sư đạt đạo mà học thuật và nhân cách của ông đã truyền thừa cho các thế hệ đến ngày nay.

 

Tưởng Huyền Trang chỉ là một nhân vật huyền thoại, sư phụ hiền lành của Tôn Hành Giả, nào ngờ là một nhà dịch kinh tác tuyệt về văn chương và nội dung, sáng lập cả một tông phái đại thừa tại Trung Quốc. Tưởng Bồ-đề Đạt-ma chỉ là tổ sư võ công Thiếu Lâm, nào ngờ là kẻ đã khai sáng Thiền tông miền Đông Á, mở đường cho vô số người cầu hiểu biết. Tưởng Đức Thích-ca là một ông bụt hoang đường, nào ngờ là một con người từng sống, từng hoạt động, từng chết trên trái đất này.

 

Rời Linh Thứu với lòng u hoài chiều hôm đó, tôi chỉ có thể nhắc lại đây lời của Schumann: “Chuyến hành trình theo dấu chân Đức Phật là một niềm vui, đồng thời là một cảm hoài xao xuyến, vì phần lớn các nơi Ngài đã đặt chân đến, ngày nay người ta chỉ còn tìm thấy sự đổ nát và hiu quạnh. Nhưng tính vô thường của vạn sự há chẳng phải là thông điệp của Ngài ư? Ngài chẳng đã nói rằng Pháp sẽ có ngày bị quên lãng, nhưng sẽ được khám phá lại một cách mới mẻ ư? Có thể Ấn Độ đã quên người con trai vĩ đại của mình, nhưng tại các nơi khác ở châu Á, mà cũng trong các tâm hồn tại châu Âu và Mỹ, thì thông điệp của Ngài vẫn còn sinh động. Chúng ta hãy mừng vui rằng, có một đầu óc ưu việt đã thấu hiểu cái Khổ và nguyên nhân của nó và đã chỉ rõ cách giải thoát nó nằm ngay nơi chúng ta”. 

________________________________________


[1] Mahasiddha, sống trong khoảng từ thế kỷ thứ tám đến thứ mười hai tại Ấn Độ. Huyền sử ghi lại 84 vị Đại thành tựu giả, xem Dowman Keith, Master of Mahamudra. Song and histories of the Eightyfour buddhist Siddhas, New York, 1985

[2] Xem chương “Con trâu điên” trong phần thứ tư

[3] Dakini, các vị nữ thần thường được nhắc đến trong Kim Cương Thừa, xuất hiện để bảo vệ giáo pháp.

[4] Trích câu kệ về Từ Đạo Hạnh

[5] Kosala

[6] Pataliputra

[7] Trị vì từ 324 đến 185 trước công nguyên

[8] Ngày nay chỉ còn khoảng 10 trụ

[9] Xem chương “Đền Jokhang” trong phần thứ tư

[10] Tác phẩm đáng chú ý nhất là ”Sur les traces du Bouddha“, Paris 1929 của R.Grousset (1885-1952), nguyên là giám đốc bảo tàng viện Guimet tại Paris và hội viên viện Hàn Lâm Pháp. Nhiều tư liệu trong sách này được trích từ tác phẩm này

[11] Sarvastivada

[12] Asanga, thế kỷ thứ 4, đại luận sư của Phật giáo, người sáng lập Duy thức tông

[13] Vasubandhu, khoảng 316-396, mới đầu là luận sư của Nhất thiết hữu bộ, về sau của Duy thức tông, là tổ thứ 21 của Thiền tông Ấn Độ

[14] Trị vì từ 320 đến 499

[15] Nagarjuna

[16] Madhyamika

[17] Silabhadra

[18] Xem Archaeological Survey of India, Report 1922-23

[19] Dignaga

[20] Dharmapala

[21] Vijnaptimatratasiddhi

[22] Thập đại luận sư: Thân Thắng, Hỏa Biện, Đức Huệ, An Huệ, Nan-đà, Tịnh Nguyệt, Hộ Pháp, Thắng Tử, Thắng Hữu, Trí Nguyệt

[23] Santideva

[24] Bodhicaryavatara

[25] Vật tráng tắc lão, Thị vị bất Đạo, Bất Đạo tảo dĩ (Việt dịch Nguyễn Duy Cần)

[26] Lời Phật Thích-ca

[27] Buddhaghosa 

[28] H.W.Schumann, Auf den Spuren des Buddha Gotama, Walter Verlag 1992. 

[29] Hình trích của S.Dhammika (sách đã dẫn)

[30] Cách nói Phật hay dùng chỉ những người sẵn sàng tiếp thu

[31] Assaji

[32] Anathapindika

[33] Devadatta

[34] Ngôi chùa này nằm dưới chân núi Linh Thứu, phía đông Vương Xá

[35] Ratna mountain

[36] The Dalai Lama at Harvard, Jeffrey Hopkins, University of Virginia

[37] Sách đã dẫn

[38] Vinitaruci

[39] Ngày nay là Đại Đồng thuộc tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc

_____________________

Nguyễn Tường Bách

(Ký Sự Du Hành Tại Ấn Độ, Trung Quốc, Tây Tạng)

Nhà Xuất Bản Trẻ TP. Hồ Chí Minh 2003

Nguồn: thuvienhoasen.org

MƯỜI BÀI THƠ MÙA XUÂN CỦA TRẦN NHÂN TÔNG

 

I. LỜI GIỚI THIỆU:


Trần Nhân Tông (chữ Hán: 陳仁宗; 7 tháng 12 năm 1258 – 16 tháng 12 năm 1308,) là vị vua thứ 3 của nhà Trần trong lịch sử Việt Nam. Ông trị vì 15 năm (1278 – 1293) và làm Thái Thượng hoàng 15 năm.


Trần Nhân Tông được sử sách ca ngợi là một trong những vị vua anh minh nhất trong lịch sử Việt Nam. Ông có vai trò lãnh đạo quan trọng trong Chiến tranh Nguyên Mông-Đại Việt lần 2 và lần 3.


Trần Nhân Tông cũng là người đã thành lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, lấy pháp hiệu là Đầu Đà Hoàng Giác Điều Ngự. (Tham khảo từ trang Web. Vikipedia.org VN.)


“… Theo sử sách còn ghi được, Trần Nhân Tông là tác giả các tập thơ sau đây: Trần Nhân Tông Thi Tập, Đại Hương Hải Ấn Thi Tập, Tăng Già Toái Sự, Thạch Thất Mỵ Ngữ. Tuy vậy, sau bao nhiêu phen dâu bể của chiến tranh, loạn lạc, số tác phẩm trên đều đã mất. Hiện thơ ông chỉ còn giữ được 31 bài, hai cặp câu thơ lẻ, một bài minh và một bài tán, chép trong các tuyển tập. So với nhiều nhà thơ khác thời Lý – Trần, số lượng ấy kể cũng đã không phải là nhỏ.” (Trích từ bài viết của Nguyễn Huệ Chi và Trần Thị Băng Thanh, ngày 27.08.2012,“Sự thống nhất giữa hoàng đế, thi nhân và thiền gia trong một nhân cách - Trần Nhân Tông” trên trang trannhantong.net)


II. PHẦN DỊCH THƠ:


10 bài thơ có nội dung mùa Xuân được tuyển dịch dưới đây, trích từ bản PDF của sách Thơ Văn Lý-Trần, tập 2, NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1977. Phần dịch nghĩa, ghi chú, có hiệu đính thêm một vài ý chưa rõ nghĩa, hoặc thiếu phần Hán văn.


Mỗi bài thơ được trình bày theo thứ tự:


. Nguyên văn bài thơ chữ Hán

. Phiên âm

. Dịch nghĩa

. Ghi chú

. Phỏng dịch thơ Việt

***


1.春 曉

睡起啟窗扉,
不知春已歸。
一雙白蝴蝶,
拍拍趁花飛。


Phiên Âm:


XUÂN HIỂU


Thụy khởi khải song phi,

Bất tri xuân dĩ quy.

Nhất song bạch hồ điệp,

Phách phách sấn hoa phi.


Dịch Nghĩa:


SỚM XUÂN


Ngủ dậy mở cánh cửa sổ,

Không biết mùa xuân đã về.

Có một đôi bướm trắng,

Vỗ vỗ cánh, bay đến gần với hoa.


Phỏng Dịch Thơ Việt:


SỚM XUÂN


Ngủ dậy, mở cửa trông

Nào hay Xuân mênh mông

Kìa một đôi bướm trắng

Vỗ vỗ cánh vờn bông!


2. 春 日 謁 昭 陵

貔虎千門肅,

衣冠七品通。

白頭軍士在,

往往說元豐。


Phiên Âm:


XUÂN NHẬT YẾT CHIÊU LĂNG


Tì hổ thiên môn túc,

Y quan thất phẩm thông.

Bạch đầu quân sĩ tại,

Vãng vãng thuyết Nguyên Phong.


Dịch Nghĩa:


NGÀY XUÂN THĂM CHIÊU LĂNG


Lính thị vệ như cọp, đứng nghiêm túc trước ngàn cửa,

Áo mũ các quan đủ cả bảy phẩm.

Người lính già đầu bạc còn đến ngày nay,

Thường nhắc lại chuyện Nguyên Phong đã qua rồi.


Ghi Chú:


. Chiêu lăng [昭 陵]: Lăng vua Trần Thái Tông (chữ Hán: 陳太宗; 10 tháng 7, 1218 – 5 tháng 5, 1277), tên thật là Trần Bồ [陳蒲,] sau đổi thành Trần Cảnh [陳煚,]


là vị hoàng đế đầu tiên của nhà Trần trong lịch sử Việt Nam. Ông ở ngôi hơn 32 năm (1225 - 1258), làm Thái thượng hoàng trong 19 năm. Trần Thái Tông là cha của Trần Thánh Tông và là ông nội của Trần Nhân Tông.


. Chuyện Nguyên Phong [元豐]: Trần Thái Tông, nguyên tên thật là Trần Cảnh, là vua thứ nhất của nhà Trần. Ông sinh ngày 17.07.1218, mất ngày 04.05.1277. Ông làm vua 33 năm, nhường ngôi 19 năm, thọ 59 tuổi. Khi lên làm vua năm 1226, Trần Cảnh đổi niên hiệu là Kiến Trung; năm 1232, đổi là Thiên Ứng Chính Bình; năm 1251, lại đổi là Nguyên Phong.


Ngày 17.01.1258, (niên hiệu Nguyên Phong thứ 7) quân Nguyên tràn tới cánh đồng Bình Lệ (phía nam Bạch Hạc, Việt Trì, Phú Thọ). Trần Thái Tông chỉ huy cuộc chiến đấu chống giặc. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư tả: "Vua tự làm tướng đốc chiến đi trước, xông pha tên đạn…".


Ngày 29.01.1258, Trần Thái Tông cùng thái tử Hoảng (sau là vua Trần Thánh Tông) đã phá tan quân Nguyên ở Đông Bộ Đầu, chiếm lại Thăng Long, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ nhất. Trần Thái Tông đã đi vào lịch sử như một vị vua anh hùng cứu nước. Chiến công hiển hách của quân dân nhà Trần đánh tan cuộc xâm lược lần thứ nhất của quân Nguyên Mông được sử sách đời đời ghi nhớ như một điểm son chói lọi trong lịch sử chống ngoại xâm đầy oanh liệt của của dân tộc ta.


Phỏng Dịch Thơ Việt:


NGÀY XUÂN THĂM CHIÊU LĂNG


Ngàn cửa, uy nghiêm lính

Bảy phẩm, chỉnh tề quan

Sĩ tốt bạc đầu nhắc

Chuyện Nguyên Phong còn vang.


3. 洞 天 湖 上

洞天湖上景,

花草減春容。

上帝憐岑寂,

太清時一鐘。


Phiên Âm:


ĐỘNG THIÊN HỒ THƯỢNG


Động thiên hồ thượng cảnh,

Hoa thảo giảm xuân dung.

Thượng đế liên sầm tịch,

Thái thanh thì nhất chung.


Dịch Nghĩa:


TRÊN HỒ ĐỘNG THIÊN


Quang cảnh hồ Động Thiên,

Hoa cỏ [có vẻ] giảm sút nét xuân tươi.

Trời thương xót nỗi hiu quạnh [nơi nầy],

Thỉnh thoảng điểm một hồi chuông giữa tầng biếc.


Ghi Chú:


Hồ Động Thiên: Tra cứu các từ điển không tìm thấy. Trong sách Thơ Văn Lý Trần (NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1977,) phần chú thích cũng ghi: “chưa rõ ở đâu.”


Phỏng Dịch Thơ Việt:


TRÊN HỒ ĐỘNG THIÊN


Cảnh trên hồ Động Thiên

Dáng xuân gầy hoa cỏ

Trời thương xót niềm riêng

Một hồi chuông xanh tỏ.


4. 春 景

楊柳花深鳥語遲,

畫堂簷影暮雲飛。

客來不問人間事,

共倚欄杆看翠微。


Phiên Âm:


XUÂN CẢNH


Dương liễu hoa thâm điểu ngữ trì,

Họa đường thiềm ảnh mộ vân phi.

Khách lai bất vấn nhân gian sự,

Cộng ỷ lan can khán thúy vi.


Dịch Nghĩa:


CẢNH XUÂN


Trong khóm hoa dương liễu rậm rạp, tiếng chim hót lời chậm rãi,

Dưới bóng hiên nhà trưng bày tranh vẽ, bóng mây chiều lướt bay.

Khách đến chơi không hỏi việc đời,

Cùng đứng tựa lan can ngắm màu xanh biếc trên trời.


Phỏng Dịch Thơ Việt:


CẢNH XUÂN


Chim chậm lời ca, liễu nở đầy

Hiên tràn bóng lộng, mây chiều bay

Khách đến, chuyện đời không hỏi nữa

Cùng tựa lan can ngắm biếc ngày.


5. 春 晚

年少何曾了色空,

一春心在百花中。 

如今勘破東皇面,

禪板蒲團看墜紅。


Phiên Âm:


XUÂN VÃN


Niên thiếu hà tằng liễu sắc không,

Nhất xuân tâm sự bách hoa trung.

Như kim khám phá đông hoàng diện, 

Thiền bản bồ đoàn khán trụy hồng.


Dịch Nghĩa:


CHIỀU XUÂN


Thuở nhỏ chưa từng hiểu thấu lẽ Sắc Không,

Mỗi khi xuân đến vẫn gửi chuyện lòng trong trăm hoa.

Ngày nay đã thấy rõ được bộ mặt chúa Xuân [đông hoàng],

Ngồi trên nệm cỏ giữa tấm phản nhà chùa ngắm cánh hoa hồng rơi rụng.


Ghi Ghú:


. Đông Hoàng [東皇]: cũng gọi là Đông Quân [東君,] (ông vua của mùa Xuân.) Trong bài thơ Lập Xuân Hậu Thi [立春後詩] của Vương Sơ [王初] có câu: 東君坷佩嚮珊珊 - 青馭多時下九關 (Đông quân kha bội hưởng san san / Thanh ngự đa thì hạ cửu quan. Dịch nghĩa: Chúa Xuân đeo ngọc kêu leng keng / Cưỡi ngựa xanh nhiều lúc đi xuống chín cửa quan).


. Bồ đoàn [蒲團]: Tấm lót để ngồi bằng cỏ bồ, hình tròn. Ngày xưa, các vị sư thường dùng trong lúc ngồi thiền hay lễ bái.


Phỏng Dịch Thơ Việt:


CHIỀU XUÂN


Thuở nhỏ chưa thấu lẽ Sắc Không

Xuân phơi trăm đóa gửi chuyện lòng

Gương mặt chúa Xuân nay đã tỏ

Nệm cỏ ngồi xem rụng cánh hồng.


6. 饋 張 顯 卿 春 餅

柘枝舞罷試春衫,

況值今朝三月三。

紅玉堆盤春菜餅,

從來風俗舊安南。


Phiên Âm:


QUỸ TRƯƠNG HIỂN KHANH XUÂN BÍNH


Giá chi vũ bãi, thí xuân sam,

Huống trị kim triêu tam nguyệt tam.

Hồng ngọc đôi bàn xuân thái bính,

Tòng lai phong tục cựu An Nam.


Dịch Nghĩa:


TẶNG BÁNH NGÀY XUÂN CHO TRƯƠNG HIỂN KHANH


Múa bài múa giá chi xong rồi, [mặc] thử tấm áo ngày xuân,

Huống nữa hôm nay lại gặp tiết [hàn thực] mồng ba tháng ba.

Bánh rau mùa xuân, như ngọc hồng bày biện đầy mâm,

Đó là phong tục của nước An Nam [ta] từ xưa.


Ghi chú:


. Trương Hiển Khanh: Tức Trương Lập Đạo [張立道] sang sứ nước ta hai lần. Lần thứ nhất, vào năm 1265 để “tuyên dụ” chiếu chỉ của vua nhà Nguyên (vua Trần Thái Tông đã làm thơ tiễn trong dịp nầy.) Lần thứ hai, vào năm 1291 (dưới triều vua Trần Nhân Tông,) nhằm dụ vua nước ta qui phục và buộc vua Trần Nhân Tông phải sang chầu Bắc triều nhà Nguyên. Do kết quả ba lần nước ta chiến thắng oanh liệt giặc Nguyên-Mông, do thái độ mềm mỏng nhưng đỉnh đạc, kiên quyết của các vua nhà Trần, Trương Hiển Khanh buộc phải có thái độ kính nể. Trong bài thơ họa đáp với vua Trần, Trương Hiển Khanh đã viết:


安南雖小文章在。

未可輕談井底蛙.


An Nam tuy tiểu văn chương tại

Vị khả khinh đàm tỉnh để oa

(Nước An Nam tuy nhỏ nhưng có văn chương,

Chưa thể nói một cách nông cạn họ là ếch ngồi đáy giếng)

. Giá chi vũ [柘枝舞]: Có thể là một điệu múa cổ của dân tộc Việt Nam.

. Tam nguyệt tam [三月三]: Ngày mồng Ba tháng Ba, thường gọi là tiết Thanh Minh, cũng gọi là Tết hàn thực, là ngày đi tảo mộ sau Tết Âm lịch.

. Thái bính [菜餅]: Bánh rau. Một loại bánh bột làm với rau. Có thể là một loại bánh khúc ở thôn quê miền Bắc ngày xưa.


Phỏng Dịch Thơ Việt:


TẶNG BÁNH NGÀY XUÂN CHO TRƯƠNG HIỂN KHANH


Giá Chi múa xong, thử áo xuân

Lại thêm hàn thực, tiết thanh nhuần

Bánh rau như ngọc hồng ăm ắp

Tục Việt từ xưa đẹp bội phần.


7. 山 房 漫 興 其 二

是非念逐朝花落, 

名利心隨夜雨寒。

花盡雨晴山寂寂,

一聲啼鳥又春殘。


Phiên Âm:


SƠN PHÒNG MẠN HỨNG KỲ NHỊ


Thị phi niệm trục triêu hoa lạc,

Danh lợi tâm tùy dạ vũ hàn.

Hoa tận vũ tình sơn tịch tịch,

Nhất thanh đề điểu hựu xuân tàn.


Dịch Nghĩa:


MẠN HỨNG TẠI SƠN PHÒNG LẦN HAI


Nghĩ chuyện thị phi rơi rụng cùng với hoa buổi sáng,

Lòng [ham] danh lợi lạnh theo trận mưa đêm.

Hoa rụng hết, mưa đã tạnh, núi non im vắng,

Một tiếng chim kêu, [thế rồi] lại cảnh xuân tàn.


Phỏng Dịch Thơ Việt:


MẠN HỨNG TẠI SƠN PHÒNG LẦN HAI


Phải quấy rụng cùng hoa buổi sáng

Lợi danh lạnh theo mưa ban đêm

Mưa tạnh hoa tàn, núi im vắng

Một tiếng chim kêu, xuân úa thêm.


8. 登 寶 臺 山

地寂臺逾古,

時來春未深。

雲山相遠近,

花徑半晴陰。

萬事水流水,

百年心語心。

倚欄橫玉笛,

明月滿胸襟。


Phiên Âm:


ĐĂNG BẢO ĐÀI SƠN


Địa tịch đài du cổ,

Thời lai xuân vị thâm.

Vân sơn tương viễn cận.

Hoa kính bán tình âm.

Vạn sự thủy lưu thủy,

Bách niên tâm dữ [ngữ] tâm.

Ỷ lan hoành ngọc địch,

Minh nguyệt mãn hung khâm.


Dịch Nghĩa:


LÊN NÚI BẢO ĐÀI


Đất [nơi đây là nơi] hẻo lánh, [nên] đài [càng] thêm cổ kính, 

Theo thời tiết, mùa xuân [nơi đây] về chưa lâu.

Núi mây [nhìn] như xa, như gần,

Ngõ hoa nửa rợp bóng, nửa nắng chiếu.

Muôn việc như nước tuôn [theo] nước,

Trăm năm lòng lại nhủ lòng.

Tựa lan can nâng ngang chiếc sáo quý như ngọc,

Ánh trăng sáng rơi đầy trước ngực.


Ghi Chú:


Bảo Đài sơn [寶 臺 山]: Núi Bảo Đài. Địa danh nầy trùng tên rất nhiều nơi, còn có tên khác là Long Đại, thuộc châu Ái; ở Bảo Lộc cũng có; ở xã Động Mạc, huyện Vọng Danh, huyện Đông Triều, Hải Dương cũng có. Núi Bảo Đài trong bài thơ nầy, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đây là ngọn núi thuộc dãy núi ở Yên Tử, huyện Đông Triều, nay thuộc tỉnh Quảng Ninh.


Phỏng Dịch Thơ Việt:


LÊN NÚI BẢO ĐÀI


Đất vắng, lầu càng cũ

Xuân mới về chưa lâu

Bóng xa gần mây núi

Ngõ hoa rợp nắng chao

Nước trôi hoài thế sự

Lòng nhủ mãi kiếp nào

Lan can nâng sáo quý

Ngực sáng ánh trăng cao.


9. 早 梅 其 一

五出圓芭金撚鬚,

珊瑚沉影海鱗浮。

箇三冬白枝前面,

些一辨香春上頭。

甘露流芳癡蝶醒,

夜光如水渴禽愁。

姮娥若識花佳處,

桂冷蟾寒只麼休。


Phiên Âm:


TẢO MAI KỲ NHẤT


Ngũ xuất viên ba kim niễn tu,

San hô trầm ảnh hải lân phù.

Cá tam đông bạch chi tiền diện,

Tá nhất biện hương xuân thượng đầu.

Cam lộ lưu phương si điệp tỉnh, 

Dạ quang như thủy khát cầm sầu. 

Hằng Nga nhược thức hoa giai xứ

Quế lãnh thiềm hàn chỉ ma hưu!


Dịch Nghĩa:


MAI SỚM LẦN MỘT


Năm cánh hoa tròn thơm, nhụy hoa điểm sắc vàng,

[Như] bóng san hô chìm, [như] vảy cá biển nổi.

Cành hoa trắng xóa suốt ba tháng đông,

Sang đầu xuân, chỉ còn loáng thoáng một vài cánh thơm nhẹ.

Sương ngọt chảy mùi thơm, làm con bướm tỉnh giấc say đắm,

Ánh sáng ban đêm như nước, khiến con chim khát nước buồn bã.

Nếu Hằng Nga biết được dáng vẻ xinh đẹp của hoa mai,

Thì chẳng ưa gì cây quế với cung thiềm lạnh lẽo.


Ghi Chú:


. Hằng Nga [姮娥]: Theo sách cổ Hậu Hán Thư [後漢書], trong tích Hậu Nghệ [后羿] có vợ là Hằng Nga [姮娥] còn có tên là Thường Nga [嫦娥] lấy trộm thuốc của chồng rồi bay lên cung trăng, bị đọa thành con cóc (thiềm thừ.) Từ đó, cung trăng cũng có tên là “cung Thiềm.”


. Quế [桂]: Theo sách cổ Dậu Dương Tạp Trở [酉陽雜俎] chép rằng: Trong trăng có cây quế, cao 500 trượng. Vì thế, “quế” cũng là tên gọi của mặt trăng.


Phỏng Dịch Thơ Việt:


MAI SỚM LẦN MỘT


Tròn xoe năm cánh, nhụy vàng phơi

Chìm bóng san hô, vảy cá trồi

Đông ba tháng lạnh cành im trắng

Xuân một ngày hanh nhánh ấm ngời

Sương ngọt nức hương lay bướm dậy

Đêm ngời ánh nước khiến chim sầu

Hằng Nga nếu biết hoa mai đẹp

Bóng quế cung thiềm sẽ chán thôi.


10. 早 梅 其 二

五日驚寒懶出門,

東風先已到孤根。

影橫水面冰初泮,

花壓枝頭暖未分。

翠羽歌沉山店月,

畫龍吹濕玉關雲。

一枝迷入故人夢,

覺後不堪持贈君。


Phiên Âm:


TẢO MAI KỲ NHỊ


Ngũ nhật kinh hàn lãn xuất môn,

Đông phong tiên dĩ đáo cô côn [căn].

Ảnh hoành thủy diện băng sơ bạn,

Hoa áp chi đầu noãn vị phân.

Thúy vũ ca trầm sơn điếm nguyệt,

Họa long xuy thấp Ngọc Quan vân.

Nhất chi mê nhập cố nhân mộng,

Giác hậu bất kham trì tặng quân.


Dịch Nghĩa:


MAI SỚM LẦN HAI


Năm ngày sợ rét, lười ra khỏi cửa, 

Mà gió xuân đã sớm đến với gốc cây cô đơn.

Bóng ngả trên mặt nước, băng giá bắt đầu tan,

Cành hoa trĩu xuống đầu cành, hơi ấm chưa phân định rõ.

Giọng ca chim Thuý vũ lắng chìm [theo] ánh trăng ở quán trọ trong núi.

Tiếng sáo Hoạ long ẩm ướt đám mây Ngọc Quan.

Một cành hoa lạc vào giấc mộng người xưa,

Sau khi tỉnh giấc, không thể đem tặng bạn được.


Chú Thích:


. Thúy vũ [翠羽]: Tức “thúy vũ ngâm,” tên một từ khúc nổi tiếng ngày xưa. Cung điệu của khúc ngâm nầy còn thấy ở bài Trúc Sơn Từ [竹山祠] của Tưởng Tiệp [奬捷]. Lời đề tựa của ông nói: “Vương Quân Bản trao cho ta một khúc hát theo Việt điệu có tên là Tiểu Hoa Mai Dẫn, bảo ta lấy ý bay lên tiên, bước trong cõi hư không mà làm lời cho khúc hát…”


. Họa long [畫龍]: Có thể là một loại sáo hay tù và có vẽ hình con rồng. Sách Từ Hải [辞海] dẫn lời của Thẩm Ước [沈箹]và Từ Quảng [徐廣] nói rằng: “Tù và của người Hồ, chỗ tay cầm, vẽ con giao long có chân năm sắc.”


. Ngọc Quan [玉關]: Tên một cửa ải trên đường đi sang Tây vực [西域,] thuộc tỉnh Cam Túc [甘肃], nước Tàu. Ở đây, tác giả mượn cảnh để miêu tả tiếng sáo Họa Long làm ẩm ướt đám mây trên cửa ải.


. Hai câu thơ cuối, tác giả lấy ý trong điển tích “nhất chi xuân” [一枝春,] rút từ câu thơ của Lục Khải [陸啟] trong bài thơ “Tặng Phạm Diệp”[贈范曄]:


折梅逢驛使,

寄與隴頭人。

江南無所有,

聊贈一枝春。


(Phiên âm: Chiết mai phùng dịch sứ / Ký dữ lủng đầu nhân / Giang Nam hà sở hữu / Liêu tặng nhất chi xuân – Dịch nghĩa: Bẻ cành hoa mai, gặp được người đưa thư trạm / Gửi cho người ở Lủng Đầu / Giang Nam chẳng có gì cả / Chỉ tặng bạn một cành xuân).


Trong bài thơ “Tảo Mai Kỳ Nhị” nầy, tác giả mượn ý trên, nhưng đã chuyển ý vào trong cõi mộng rất độc đáo: Nhất chi mê nhập cố nhân mộng / Giác hậu bất kham trì tặng quân. Dịch nghĩa: Một cành hoa lạc vào giấc mộng người xưa / Sau khi tỉnh giấc, không thể đem tặng bạn được.


Phỏng Dịch Thơ Việt:


MAI SỚM LẦN HAI


Năm ngày trốn lạnh, biếng rời nhà

Gió xuân vừa ghé gốc cây già

Mặt nước bóng chao, băng sớm rã

Cành hoa cánh trĩu, ấm chưa ra

Thúy Vũ chim vờn, trăng núi ẩn

Họa Long sáo ướt, Ngọc Quan nhòa

Cành hoa lạc mộng người xưa khuất

Tỉnh giấc làm sao tặng bạn xa!


_________________


Nguyễn Lương Vỵ chuyển dịch thơ Việt

Nguồn: thuvienhoasen.org

HÀNH TRẠNG TÔN GIẢ PHÁP LOA (1284 - 1330)

Tôn giả Pháp Loa là Tổ thứ hai của phái thiền Trúc Lâm, tên là Đồng Kiên Cương, còn có hiệu là Thiện Lai, được gọi là “Phổ Tuệ Tôn giả” hay “Phổ Tri Tôn giả”, sinh ngày mùng 7 tháng 5 năm Giáp Thân (1284), niên hiệu Thiện Bảo thứ sáu, đời vua Trần Nhân Tông, ở thôn Đông Hòa, hương Cửu La (xã Phù Vệ), huyện Chí Linh, phủ Nam Sách, Lộ Lạng Giang, sau này là trấn Hải Dương (nay thuộc huyện Nam Sách, tỉnh Hải Hưng), cha họ Đồng pháp danh Thuận Mậu, mẹ họ Vũ hiệu Từ Cứu. Trước khi sinh Kiên Cương, bà mẹ nằm chiêm bao thấy có người trao cho thanh kiếm thần, bà rất thích nên nhận lấy, sau đó bà có thai. Trước đó, bà sinh một loạt tám người con gái liên tiếp, nay có thai, bà sợ sinh con gái nữa nên bà uống thuốc phá thai ba bốn lần nhưng đều không có kết quả, đến khi sinh ra con trai, bà mừng lắm, mới đặt tên là Kiên Cương. Lúc sinh, mùi thơm lạ lan khắp cả nhà, một thời gian lâu mới tan hết mùi hương.

 

 

Đồng Kiên Cương thiên tư đĩnh ngộ, miệng không nói câu nào tạo ác, không thích ăn thịt cá và cả chất cay nồng.

 

Năm Giáp Thìn (1304), Trúc Lâm Đầu Đà vân du hoằng hóa ở các miền thôn quê, phá bỏ các việc thờ cúng dâm thần và tà thần, bỏ tục dùng các dâm từ…, khi đến huyện Nam Sách, Đồng Kiên Cương đến xin thọ giới xuất gia (lúc đó mới 21 tuổi). Trúc Lâm dẫn về viện Kỳ Lân ở Linh Sơn thuộc huyện Chí Linh làm lễ thọ giới Sa di, đặt pháp danh là Thiện Lai, theo học với Hòa thượng Tánh Giác ở chùa Quỳnh Quán. Thiện Lai hỏi Hòa Thượng Tánh Giác nhiều câu hỏi về Phật pháp và Thiền học nhưng Hòa thượng không khai thị được. Khi đọc kinh Lăng Nghiêm, đến đoạn A Nan hỏi Phật Thích Ca bảy lần về vị trí của tâm và đoạn nói về “khách trần”, thì bỗng thấy có chỗ sở ngộ.

 

Thiện Lai xin phép Hòa thượng Tánh Giác để về tham yết Trúc Lâm Đầu Đà. Gặp lúc Trúc Lâm đang thăng đường thuyết pháp, đọc bài tụng “Thái Dương Ô Kê”, Thiện Lai chợt tỉnh ngộ. Trúc Lâm biết Thiện Lai đã ngộ được thiền cơ, nên cho đi theo bên mình. Một hôm Thiện Lai trình Trúc Lâm một bài tụng về “Tam yếu”, bị Trúc Lâm gạch một gạch dài từ trên xuống dưới. Thiện Lai thỉnh cầu Trúc Lâm giảng giải đến bốn lần mà Trúc Lâm vẫn không chỉ dạy, mà bảo phải về tự tham khảo lấy. Thiện Lai về thất chí tâm thiền quán, đến quá nửa đêm, nhân thấy hoa đèn rụng. Thiện Lai chợt được đại ngộ, đến trình với Trúc Lâm chỗ sở ngộ và được ấn chứng.

 

Từ đó, Thiện Lai quyết theo gương Trúc Lâm Đầu Đà, tu theo hạnh “Đầu đà”.

 

Năm Ất Tỵ (1305), Thiện Lai được Trúc Lâm cho pháp danh là Pháp Loa tại liêu Kỳ Lân.

 

Năm Bính Ngọ (1306), Pháp Loa được Trúc Lâm cử làm Giảng chủ chùa Báo Ân ở huyện Siêu Loại. Đây là một trường hợp rất đặc biệt và hiếm có, mới thọ giới Sa di chưa đầy một năm thì được thọ giới Tỳ kheo và chưa đầy ba tuổi đạo mà đã được cử làm giảng chủ (tương đương với giáo thọ). Nhân thấy Huyền Quang đi theo Bảo Phác đến chùa nghe thuyết pháp, Trúc Lâm bảo Huyền Quang theo làm thị giả cho mình.

 

 

Năm Đinh Mùi (1307), Trúc Lâm tổ chức kết hạ trên núi Yên Tử cho bảy đệ tử, Pháp Loa giỏi nhất, nên được Trúc Lâm thuyết giảng cho bộ sách “Đại Huệ ngữ lục” ở am Thiên Bảo (vào tháng 4). Tháng 5, Trúc Lâm lên am Đỉnh Trú ở đỉnh núi Ngọa Vân. Vào rằm tháng 5, sau khi làm lễ “bố tát” xong (lễ tụng giới và phát lồ sám hối), Trúc Lâm Đầu Đà bảo hết các đệ tử xuống, chỉ cho một mình Pháp Loa ở lại để truyền y bát và tâm kệ phó chúc.

 

Ngày mùng Một Tết năm Mậu Thân (1308), Trúc Lâm Đầu Đà cho tổ chức một buổi lễ hết sức long trọng ở chùa Siêu Loại để truyền cho Pháp Loa kế thế Trúc Lâm Đầu Đà lãnh đạo phái thiền Trúc Lâm và chánh thức trụ trì chùa Báo Ân, Pháp Loa trở thành vị tổ thứ hai của phái thiền Trúc Lâm, lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Đại Việt, trước sự chứng kiến của vua Trần Anh Tông và sự hầu kính của cả triều thần (chỉ có vua Anh Tông được ngồi ghế trong giảng đường, tất cả các đại thần của triều đình đều phải đứng dàn hầu trang nghiêm ở phía ngoài sân trước giảng đường).

 

Trước đó, Đại sư Thống Chính cúng cho chùa Siêu Loại một vườn cau. Trúc Lâm bảo vua Anh Tông đổi vườn cau bằng 100 mẫu ruộng và canh phu.

 

Năm ấy Pháp Loa phụng chiếu truyền giới xuất gia Bồ tát cho Thái hậu Tuyên Từ và hoàng phi của vua là Công chúa Thiên Trinh.

 

Giờ Tý đêm Mùng Một tháng 11 năm Mậu Thân (1308), Trúc Lâm Đầu Đà viên tịch ở am Ngọa Vân, trên ngọn Tử Phong, núi Yên Tử. Sau khi được tin, Pháp Loa cùng chư Tăng từ chùa Báo Ân lên am Ngọa Vân, nhặt xá lợi được ba ngàn hạt, Pháp Loa cung nghinh xá lợi và linh cữu đựng tro xương còn lại đưa về kinh đô Thăng Long, quàn tại chùa Tư Phúc. Khi về đến kinh đô, xá lợi bị mất hết mấy hạt, vua và các quan định kết tội Pháp Loa, nhưng bất ngờ, mọi người lại thấy mấy hạt xá lợi dính trong áo của Hoàng tử Mạnh (sau lên ngôi là vua Trần Minh Tông), chừng đó vua Anh Tông mới hối lỗi vì nghi oan cho Pháp Loa.

 

Tháng Mười năm Mậu Thân, sau khi làm lễ ở kinh đô xong, Pháp Loa trở về chùa Vân Yên trên núi Yên Tử, biên soạn lại những bài tụng, kệ của Trúc Lâm Đầu Đà ở Thạch Thất, làm thành sách “Thạch Thất mị ngữ”.

 

Lễ Vu Lan năm Kỷ Dậu (1309), Pháp Loa cho tổ chức trai đàn cầu nguyện cho Trúc Lâm Đầu Đà ; Pháp Loa gọi Huyền Quang đến bảo: “Những điều mà Điều Ngự Giác Hoàng dặn dò, nhà ngươi đã quên hết rồi sao ?”. Từ đó Huyền Quang phải theo Pháp Loa để phụ giúp việc điều hành Giáo hội, hoằng dương Phật Pháp, phát triển phái thiền Trúc Lâm (sau khi Trúc Lâm Đầu Đà viên tịch, Huyền Quang về hoằng hóa ở chùa Vân Yên trên núi Yên Tử, chư Tăng theo học đông đến hàng ngàn người).

 

Ngày 16 tháng 9, Pháp Loa phụng chiếu đưa linh cốt của Trúc Lâm về an táng ở lăng Qui Đức (phủ Long Hưng), xá lợi còn được thỉnh về thờ ở tháp Huệ Quang tại am Ngoạ Vân Yên trên núi Yên Tử, thờ ở tháp Phổ Minh trước chùa Phổ Minh (phủ Thiên Trường), và thờ ở chùa Phổû Từ (phủ Long Hưng).

 

Năm Canh Tuất (1310), vua Anh Tông ban chiếu cho độ tăng ba năm một lần trong lễ Vu Lan cúng chay Trúc Lâm, Pháp Loa giảng Yếu chỉ kinh Hoa Nghiêm.

 

Năm Tân Hợi (1311), Tôn giả Pháp Loa giao cho sư huynh là Thiền sư Bảo Sát chủ trì việc khắc bản để in Đại Tạng kinh ở chùa Phổ Minh (phủ Thiên Trường). Công việc này có lẽ đã bắt đầu từ khoảng năm 1295-1296, việc in kinh bị tạm ngưng khi Trúc Lâm Đầu Đà viên tịch, bây giờ mới tiếp tục.

 

Đại Tạng kinh được khắc bản lại ở đây là bản Đại Tạng kinh của nhà Nguyên, được khắc in vào khoảng năm 1277-1294, tại chùaHoằng Pháp ở Bắc Kinh, gồm 7.182 quyển (bản Đại Tạng kinh này được vua Trần Anh Tông theo lệnh của Thượng hoàng Trần Nhân Tông sai Trần Khắc Dụng và Phạm Thảo theo sứ giả nhà Nguyên là Tiêu Thái Đăng sang Trung Quốc thỉnh về năm 1295).

 

Tháng Tư năm này, Pháp Loa giảng Truyền đăng lục tại chùa Siêu Loại. Sau đó Huyền Quang trình kiến giải, đều được Pháp Loa chấp nhận.

 

Năm Nhâm Tý (1312), Pháp Loa được vua Trần Anh Tông thỉnh vào chùa Tư Phúc (hay chùa Thiên Phúc) trong đại nội (hoàng thành) để giảng “Đại Tuệ ngữ lục” và vua trao cho Pháp Loa 5 vạn quan tiền và lụa để bố thí cho người nghèo. Pháp Loa không nhận, vua bảo người thân cúng dường Tam bảo 500 mẫu ruộng.

 

Tháng 9 năm Quí Sửu (1313), Pháp Loa phụng chiếu vua đến chùa Vĩnh Nghiêm ở làng Đức La, phủ Lạng Giang (nay thuộc Bắc Giang), định chức cho Tăng đồ và lập sổ bộ cho chư Tăng. Đây có thể nói là thành lập Giáo hội Phật giáo đời Trần. Đồng thời Pháp Loa cũng cho mở Đại giới đàn, độ cho một ngàn vị tăng thọ giới xuất gia. Vì số Tăng đồ quá đông rồi nên Pháp Loa định lệ là cứ 3 năm mới mở Đại giới đàn để độ Tăng xuất gia. Mùng Một tháng Hai năm này, Thiền sư Long Đoàn ở chùa Na Già thỉnh Tôn giả Pháp Loa về chùa giảng Thiền lâm thiết chủy ngữ lục, Tuệ Trung Thượng sĩ ngữ lục và Kinh Duy Ma.

 

Ngày 18 tháng 3 năm Giáp Dần (1314), Trần Anh Tông lên làm Thái Thượng hoàng, nhường ngôi cho vua Minh Tông. Thượng hoàng giúp Pháp Loa trùng tu chùa Siêu Loại, xây điện Phật, gác kinh, gồm 33 sở và đúc ba tượng Phật đều cao 17 thước.

 

Năm Bính Thìn (1316), Thượng hoàng Anh Tông thọ giới Bồ tát với Tôn giả Pháp Loa.

 

Tháng Hai năm Đinh Tị (1317), Pháp Loa bị bệnh nặng, đem pháp y của Trúc Lâm Đầu Đà và viết bài kệ phó chúc trao cho Huyền Quang; pháp khí và gậy trao cho Cảnh Ngung, phất tử trao cho Cảnh Huy, tích trượng (gậy tre) trao cho Huệ Quán; pháp thơ và pháp cú trao cho Huệ Nhiên; linh vàng trao cho Hải Ấn, chày vàng trao cho Huệ Chúc. Nhưng sau đó ít hôm thì Pháp Loa hết bệnh, Huyền Quang từ khước việc phú chúc này. Năm này Pháp Loa khai sơn chùa Bảo Sơn Vương tại Cổ Thành, họa sĩ Hứa Khắc Thành phụng chiếu vẽ chân dung đứng của Pháp Loa.

 

Năm Mậu Ngọ (1318), Thượng hoàng Anh Tông có ý muốn xuất gia, nên ra lệnh cho các cung nhân ăn chay. Các cung nhân đều ngần ngại, chỉ có nữ quan Nguyễn Thị Diên chặt ngón tay đem dâng. Thượng hoàng ngợi khen ban cho 40 mẫu ruộng làm lương để ăn khi xuất gia. Quả thực, bà xuất gia với pháp danh là Tịnh Quang và tu hành cho đến khi mất.

 

Thượng hoàng mời Pháp Loa về am Thường Lạc ở cung Thiên Trường để giảng Truyền đăng lục và Tuyết Đậu ngữ lục. Sau khi giảng xong, Thượng hoàng Anh Tông tặng cho Pháp Loa tôn hiệu là “Phổ Tuệ Tôn giả” (sách Đại Nam nhất thống chí viết là “Phổ Tri Tôn giả”) và chính Thượng hoàng viết bốn chữ đó để tặng cho Ngài. Thái hậu, Hoàng hậu, phi tần, cung nữ, công chúa, các đại thần trong triều đình hầu hết đều thọ giới xuất gia hoặc thọ giới Bồ tát với Tôn giả Pháp Loa. Thượng hoàng Anh Tông còn thỉnh Pháp Loa biên tập sách “Hộ quốc nhân vương nghi quỉ”, tức là sách chỉ dạy đường lối tu học và hành động của một vị vua để hộ trì Phật pháp và giúp an dân lợi nước. Thượng hoàng, vua, hoàng gia, vương hầu, quan tướng… đều tôn kính Tôn giả Phổ Tuệ, bỏ tiền của vàng bạc ra để lập chùa, đúc tượng, in kinh… Cũng trong năm này, Trưởng lão Vô Phương, hiệu Trí Tuệ, từ Hồ Nam (Trung Quốc) đến Đại Việt, Tôn giả Pháp Loa phụng chiếu đón tiếp.

 

Năm Kỷ Mùi (1319), nước lụt, nạn đói xảy ra, vua Trần Minh Tông nhờ Pháp Loa tổ chức cứu trợ, vua xuất kho giao cho Pháp Loa 100 lượng vàng và 500 lượng bạc.

 

Quốc phụ Thượng tể Trần Quốc Tảng thỉnh Pháp Loa về phủ An Hoa giảng Đại Tuệ ngữ lục. Nhân lúc nghỉ ở chùa Báo Thiên, Công chúa Hoa Dương thỉnh Tôn giả Pháp Loa thuyết pháp và truyền giới Bồ tát tại gia cho Công chúa và các người khác.

 

Tháng Chạp năm Kỷ Mùi (đầu năm 1320), Tôn giả Pháp Loa kêu gọi Phật tử hiến máu để in Đại Tạng kinh. Bộ Đại Tạng kinh gồm hơn 5.000 quyển, Đại Tạng kinh được tàng trữ ở chùa Quỳnh Lâm và có thể là ở các chùa Phổ Minh, Tư Phúc, Báo Ân (huyện Siêu Loại), Vĩnh Nghiêm… Thượng hoàng Anh Tông cùng cung phi trích máu viết Đại Tạng kinh cỡ nhỏ, gồm 20 hộp ban cho Pháp Loa.

 

Thiền sư Bảo Sát không cho khắc in nguyên văn bộ Đại Tạng kinh của nhà Nguyên là 6.010 quyển, mà đã bỏ bớt một số kinh, đồng thời lại thêm vào một số kinh sách của các tăng sĩ Việt Nam (Đại Việt) từ trước tới lúc đó, có thể có cả sách của Mâu Bác, Khương Tăng Hội, các thiền sư đời Lý (Vạn Hạnh, Thông Biện, Viên Chiếu, Thường Chiếu…), các Tăng và cư sĩ nổi danh đời Trần (vua Trần Thái Tông, Thượng sĩ Tuệ Trung, Trúc Lâm Đầu Đà…). Tôn giả Pháp Loa viết bài bạt cho bộ Đại Tạng kinh này (năm 1321) theo chiếu chỉ của Thượng hoàng Trần Anh Tông.

 

Nhưng tiếc thay, khi nhà Minh xâm lăng Đại Việt (1400-1427), vua nhà Minh đã ra lệnh tịch thu mang về Trung Quốc hoặc thiêu hủy hết kinh sách của Đại Việt, vì vậy, bộ Đại Tạng kinh được in vào đời Trần đã bị thất lạc hết, hiện không còn tìm thấy một quyển nào còn lại cả.

 

Bộ Đại Tạng kinh này có thể còn lại trong kho tàng nhà Trần mà Thượng hoàng Trần Nghệ Tông cho đem chôn giấu trong núi Thiên Kiện, núi Khuẩn Mai, và khám Khã Lãng (ở Lạng Sơn) vào khoảng năm 1379, khi vua Chiêm Thành là Chế Bồng Nga đem quân đánh chiếm kinh thành Thăng Long.

 

Năm Canh Thân (1320), Thái hậu Bảo Từ thỉnh Tôn giả Phổ Tuệ mở hội Quán Đỉnh ở chùa Phổ Minh ở phủ Thiên Trường.

 

Ngày 16 tháng 3 năm này, Thượng hoàng Trần Anh Tông băng ở cung Trùng Quang, phủ Thiên Trường (táng ở Thái Lăng trên núi An Sinh), khi nhập kim quan và hạ huyệt, Tôn giả Pháp Loa đều có pháp ngữ, Đại vương Tuệ Nhân thỉnh Tôn giả về chùa Vũ Đinh truyền giới Bồ đề tâm cho ông.

 

Cuối năm Tân Dậu (1321), triều đình mở khoa thi cho các tăng nhân, hỏi về kinh Kim Cang, Hoài Ninh hầu Trịnh Trọng Tử đúc một tượng Quan Thế Âm ngàn tay ngàn mắt và xin thọ giới Bồ đề tâm với Tôn giả Pháp Loa.

 

Năm Nhâm Tuất (1322), Pháp Loa vận động đúc cho Giáo hội Trúc Lâm 1.000 tượng Phật, với sự đóng góp của hoàng gia và các đại thần trong triều đình: Thái hậu Bảo Từ, Quốc mẫu Bảo Huệ, Công chúa Bảo Vân, Văn Huệ vương Trần Quang Triều (con của Trần Quốc Tảng), Uy Huệ vương, Hoài Ninh hầu, Đoàn Nhữ Hài,… Theo đề nghị của vua Trần Minh Tông, Pháp Loa viết sách “Tham thiền yếu chỉ”, vua khen ngợi và ban hiệu là “Minh Giác”. Theo lời thỉnh của Huyền Quang, Tôn giả Pháp Loa về chùa Báo Ân ở Siêu Loại giảng kinh Hoa Nghiêm (hồi thứ 29). Sau đó Đại vương Huệ Nhân lại thỉnh Tôn giả về chùa Thịnh Quang giảng kinh Hoa Nghiêm. Cũng trong năm này, Văn Huệ vương Trần Quang Triều, hiệu là Vô Sơn Ông xuất gia với Tôn giả Pháp Loa. Ông đã mời Pháp Loa đến chùa An Long giảng kinh Lăng Nghiêm, sau đó lại nhờ Pháp Loa duyệt lại sách Tứ Phần luật và chú thích để đem in ra 5.000 quyển cúng dường cho tăng sĩ học tập. Pháp Loa nhờ hai sư huynh là Tông Cảnh và Bảo Phác về chùa Siêu Loại dạy luật Tứ Phần cho Tăng sĩ.

 

Năm Quí Hợi (1323), Văn Huệ vương và Uy Huệ vương thỉnh Pháp Loa đến chùa Báo Ân tại Siêu Loại để thọ giới Bồ tát và làm phép Quán Đỉnh. Cũng trong năm này, Công chúa Bảo Vân thỉnh Tôn giả Pháp Loa về chùa Siêu Loại giảng kinh Hoa Nghiêm, (hồi thứ ba và thứ tư). Tiếp theo đó, Thái hậu Bảo Từ và Tư đồ Trần Quang Triều mời Tôn giả về chùa Quỳnh Lâm giảng kinh Hoa Nghiêm (hồi thứ năm).

 

Năm Giáp Tý (1324), Hoàng Thái Phi Chiêu Từ xuất gia với Pháp Loa và thỉnh Tôn giả giảng kinh Hoa Nghiêm (hồi thứ sáu). Sau đó Tôn giả Pháp Loa đến chùa Phổ Quang ở Nghĩa Trụ dự lễ hội khánh tán điểm nhãn 1000 tượng Phật đã được Thiền sư Trừng Chiếu lo đúc.

 

Tháng sáu, Tôn giả Pháp Loa tạo hai bộ tượng Phật A Di Đà công đức bằng sơn mài, mỗi bộ có ba tượng.

 

Tháng Chạp, Quốc mẫu Bảo Huệ mời Tôn giả Pháp Loa vào cung Dưỡng Phúc giảng kinh Hoa Nghiêm (hồi thứ bảy). Đồng thời ,khởi tạo mô hình tượng Phật Di Lặc cao một trượng sáu, vì trước đó Văn Huệ vương Trần Quang Triều và các cung phi của vua cùng Công chúa Thượng Trân đã cúng 900 lượng vàng để đúc tượng này. Ngoài ra, Thái hậu Bảo Từ cúng thêm 22 mẫu đất tại phủ An Hoa và cư sĩ Di Loan (con của Công chúa Nhựt Trinh ) cúng 33 mẫu ruộng tại phủ Thanh Hoa để công việc sớm hoàn thành.

 

Tư Đồ Trần Quang Triều còn cúng cho viện Quỳnh Lâm hơn một ngàn ruộng đất, cùng hơn một ngàn người canh tác.

 

Mùng một tháng Giêng năm Ất Sửu (1325), Quốc mẫu Bảo Huệ mời Tôn giả Pháp Loa vào cung Dưỡng Phúc giảng kinh Kim Cương Niệm Tụng. Tôn giả lại phụng chiếu vào chùa Tư Phúc trong đại nội giảng Tuyết Đậu ngữ lục. Tháng ba, Đại sư Tá Thánh và Công chúa Hoa Dương thỉnh Tôn giả Pháp Loa về chùa Thiên Quang giảng kinh Hoa Nghiêm (hồi thứ tám). Sau đó, Tôn giả lại phụng chỉ của Thái hậu Bảo Từ đến viện Quỳnh Lâm giảng kinh Hoa Nghiêm (hồi thứ chín), rồi thiết lễ hội Thiên Phật bảy ngày đêm và xây hai ngôi tháp bằng gạch và bằng đá tại viện Quỳnh Lâm.

 

Ngày mùng một tháng Chín, Tôn giả Pháp Loa phụng chiếu vào chùa Tư Phúc trong đại nội giảng kinh Viên Giác. Tháng này trời hạn, có chiếu thỉnh Tôn giả cầu mưa. Tôn giả giao cho một vị sư cầu, được ứng nghiệm.Trong năm này, Văn Huệ vương Trần Quang Triều hiệu Vô Sơn Ông (là anh vợ của Thượng hoàng Trần Anh Tông), một đệ tử thành tâm và hộ pháp đắc lực cho Tôn giả Pháp Loa mất, thọ 39 tuổi.

 

Ngày 22 tháng 2 năm Bính Dần(1326), Tôn giả Pháp Loa phụng chiếu đến chùa Vân Yên trên núi Yên Tử tôn trí xá lợi cuả Trúc Lâm Đầu Đà vào kim tháp Huệ Quang.

 

Tháng 3, Thượng Vị Chương Văn hầu thỉnh Tôn giả Pháp Loa về chùa Kinh Hào thuyết pháp. Ngày 30, Tôn giả lại phụng chiếu vào điện Động Thiên trong cung vua truyền giới Bồ tát cho Hoàng Thái hậu Chiêu Từ và truyền giới Bồ đề tâm cho các cung nhân.

 

Tháng 4 đại hạn, vua ban chiếu cho Tôn giả Pháp Loa làm lễ cầu mưa. Tôn giả sai Sa môn Thu Tử cầu được ứng nghiệm lập tức.

 

Ngày mùng một tháng 5, Thượng hoàng Trần Minh Tông và cung phi của vua mời Tôn giả Pháp Loa vào chùa Tư Phúc trong đại nội truyền pháp Quán Đỉnh.

 

Ngày mùng 7 tháng 3 năm Đinh Mão (1327), Tôn giả Pháp Loa đúc đại tượng Di Lạc và Thánh Tăng ở viện Quỳnh Lâm. Tháng 10, Tôn giả sáng lập thêm các am An Mã, Thị Khê và Hạc Lai.

 

Tháng 3 năm Mậu Thìn (1328), Thái hậu Bảo Từ và Quốc mẫu Bảo Huệ mời Tôn giả Huyền Quang đến viện Quỳnh Lâm tập hợp chư Tăng mười phương thiết lễ Đại trai đàn tụng kinh mười ngày đêm để cúng Thượng hoàng Trần Anh Tông và Quốc khảo Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng. Nhân lúc Thượng hoàng Trần Minh Tông đến dự lễ, Tôn giả Pháp Loa tâu xin quân cấm vệ rước đại tượng Di Lạc lên bảo tòa thếp vàng trong điện Phật.

 

Tháng 9, Thượng hoàng xuống chiếu nhờ Tôn giả Pháp Loa soạn sách “Nhân vương hộ quốc nghi quỷ” để tiện việc tu thân.

 

Tháng 7 năm Kỷ Tỵ, niên hiệu Khai Hựu thứ nhất (1329), Tôn giả Pháp Loa xây dựng chùa Côn Sơn và chùa Thanh Mai ở huyện Chí Linh. Tháng 8, Tôn giả truyền giới xuất gia cho Công chúa Tuyên Chân (con của Quốc phụ Thượng tể Trần Quốc Chẩn). Tháng 9, Tôn giả lại truyền giới xuất gia cho Công chúa Lệ Bảo (con của Chiêu Huân vương). Tháng 11, Tôn giả lập đàn tràng ở viện Quỳnh Lâm, làm lễ điểm nhãn tượng Phật Di Lạc và thỉnh một phần xá lợi của Trúc Lâm tại tháp Thắng Tư Thiên đưa vào thờ ở trong tháp bằng đá ở viện Quỳnh Lâm.

 

Đầu năm Canh Ngọ (1330), Tôn giả Pháp Loa mở hội giảng kinh Hoa Nghiêm ở An Lạc tăng viện do Thiền sư Kiện Đức trụ trì. Ngày mùng 3 tháng hai, Pháp Loa bị bệnh phải nhờ Trưởng lão Bích Phong giảng tiếp. Ngày mùng 5, bệnh nặng, Huyền Quang đến thăm và ở lại đây chăm sóc. Ngày 11, Pháp Loa trở bệnh nặng hơn; nửa đêm, Pháp Loa ngủ mê bị phát ra tiếng Hư! Hư! Huyền Quang liền hỏi: “Thức với ngủ đã là một chưa?”. Pháp Loa đáp:

 

- Thức với ngủ là một, là khi y không bệnh.

 

Huyền Quang hỏi: “Vậy thì bệnh với không bệnh đã là một chưa?”. Pháp Loa nói: “Bệnh hay không bệnh đều không can hệ gì đến y!”

 

Huyền Quang hỏi tiếp: “Thế thì tại sao có tiếng nói thốt ra?”.

 

Pháp Loa đáp: “Gió thổi vào cây, cứ mặc kệ nó, quan tâm làm gì”.

 

Huyền Quang nói: “Tiếng gió thổi vào cây người nghe không bị lầm, nhưng lời nói trong lúc ngủ mê có thể làm mê hoặc người”.

 

Pháp Loa: “Kẻ si mê vẫn có thể bị tiếng gió thổi vào cây làm mê lầm lắm”.

 

Huyền Quang: “Chỉ có tật đó mà đến chết vẫn không chừa!”.

 

Pháp Loa liền lấy chân đạp Huyền Quang một cái!

 

Huyền Quang bỏ đi ra, từ đó bệnh của Pháp Loa thuyên giảm dần. Đến ngày 13, Pháp Loa được Huyền Quang đưa về chùa Quỳnh Lâm, nằm nơi phương trượng cũ (Pháp Loa trụ trì chính thức ở chùa này).

 

Ngày 19, ban đêm trở bệnh nặng, Tôn giả Pháp Loa lấy cà sa và đem tâm kệ của Trúc Lâm Đầu Đà truyền lại giao cho Huyền Quang, bảo phải gìn giữ, Tôn giả cũng viết kệ cho Cảnh Huy, Cảnh Ngung, Vô Tế và các đệ tử lớn . Môn đồ vào xin kệ, Tôn giả đều viết giao cho.

 

Ngày mùng một tháng Ba, Thượng hoàng đến thăm bệnh và ra lệnh cho Thái y đến chữa trị. Ngày mùng hai, Tôn giả Pháp Loa sai Sa môn Thu Tử đến thuyền vua Hiến Tông trình lên vua pháp kệ và di chúc. Nhưng đến đêm mùng ba tháng 3 năm Canh Ngọ (1330), Pháp Loa trở bệnh nặng. Nửa đêm, Huyền Quang thấy bệnh của Pháp Loa trở nên nguy kịch, Huyền Quang nói: “Xưa nay những bậc giác ngộ, khi giờ phút đến, muốn ở lại thì ở, muốn đi thì đi !”.

 

Pháp Loa nói: “Tất cả đều không có điều chi là can hệ”.

 

Huyền Quang hỏi tiếp: “Nếu tất cả đều không can hệ thì thế nào?”.

 

Pháp Loa bảo: “Tùy xứ Tát bà ha!”.

 

Đệ tử đồng đến xin với Pháp Loa: “Các bậc cổ đức khi sắp tịch đều có phó chúc dạy kệ cho đệ tử, sao Tôn giả lại không có?”. Pháp Loa quở trách họ. Giây lâu sau, Pháp Loa ngồi dậy, bảo đem giấy bút lại, viết bài kệ:

 

Muôn duyên cắt đứt tấm thân nhàn,

Hơn bốn mươi năm như mộng ảo,

Giã biệt ! Xin đừng theo hỏi nữa,

Bên kia trăng gió rộng thênh thang !

 

(Vạn duyên tiệt đoạn nhất thân nhàn

Tứ thập niên dư mộng huyễn gian

Trân trọng chư nhân hưu tá vấn

Náù biên phong nguyệt cánh năn khoan ! )

 

Viết xong, Tôn giả buông bút xuống, an nhiên thị tịch, thọ 47 tuổi.

 

Đệ tử theo lời phó chúc, đưa nhục thân của Pháp Loa lên nhập tháp ở chùa núi Thanh Mai.

 

Tôn giả Pháp Loa còn được thờ ở chùa Hương Hải tại quê nhà (xã Phù Vệ, huyện Chí Linh), tương truyền chùa rất linh thiêng.

 

Pháp Loa có rất đông đệ tử, trong số 15.000 người xuất gia trong các giới đàn do phái thiền Trúc Lâm tổ chức, có đến hơn 3.000 vị theo học hoặc cầu pháp với Tôn giả Pháp Loa được đắc pháp, trong số đó có những vị nổi danh như: Cảnh Huy, Quế Đường, Kim Sơn,Trí Như, Cảnh Ngung, Tuệ Nhiên,Tuệ Quán,Tuệ Chúc,Hải Ấn, Huyền Giác, Hoàng Tuế, Cảnh Trưng, Vô Sơn Ông, vua Trần Anh Tông, Nguyên Ức, Nguyên Sưởng…

 

Tác phẩm của Pháp Loa gồm có:

 

- Thạch thất mỵ ngữ niệm tụng: những bài tụng viết về sách Thạch thất mỵ ngữ của Trúc Lâm Đầu Đà.

 

- Tham thiền yếu chỉ (soạn năm 1322).

 

- Kim Cang Trường ĐàLa Ni khoa chú.

 

- Pháp Hoa kinh khoa sớ.

 

- Bát nhã Ba La Mật đa Tâm kinh khoa sớ.

 

- Lăng Già kinh khoa sớ.

 

- Pháp sự khoa văn.

 

- Nhân vương hộ quốc nghi quỉ (soạn cho vua Trần Minh Tông).

 

- Đoạn sách lục.

 

- Phật môn công văn trợ thành: các nghi thức về cúng đàn chẩn tế.

 

- Tuệ Trung Thượng sĩ ngữ lục (biên chép lại những ngữ lục của Thượng sĩ Tuệ Trung và các bài tán tụng Thượng sĩ của các thiền sư trong phái thiền Trúc Lâm).

 

- Bài bạt trong bộ Đại Tạng kinh (in 1311-1320), soạn năm 1321.

 

Ngày 11 tháng 3 năm Canh Ngọ, Thượng hoàng Trần Minh Tông đến viếng tháp của Tôn giả Pháp Loa ở chùa núi Thanh Mai, ngự bút ban thụy hiệu cho Pháp Loa là “Tịnh Trí Tôn giả”, đặt tên tháp là “Viên Thông” và cảm tác bài thơ:

 

Vãn Pháp Loa Tôn giả đề Thanh Mai tự.

Thùy thủ trần hòan dĩ liễu duyên,

Giác Hoàng kim lũ đắc nhân truyền.

Thanh sơn man thảo quan tàng lý,

Bích thụ thâm sương xác thoát thiền.

Dạ yểm giảng đường kim cổ nguyệt,

Hiểu mê trượng thất hữu vô yên.

Tương đầu châm giới ta phi tích,

Trác tựu ai chương thế lệ huyền.

 

Tạm dịch:

 

Viếng Tôn Giả Pháp Loa, Đề Chùa Thanh Mai

Đã hết nghiệp trần thõng tay đi,

Tơ vàng Giác Hoàng được truyền y.

Phủ cỏ núi xanh, dép trong hòm,

Cây xanh sương phủ, ve lột xác.

Giảng đường dọi bóng trăng kim cổ,

Thiền thất mờ sương khói “có, không”.

Thương mến biết bao, ôi luyến nhớ,

Nhớ gương giáo hóa, lệ đầy mi!

_______________

http://www.daophatngaynay.com

HÀNH TRẠNG SƠ TỔ TRÚC LÂM (TRÚC LÂM ĐẦU ĐÀ - TRẦN NHÂN TÔNG: 1258-1308)

Trúc Lâm Đầu Đà hay Hương Vân Đại Đầu Đà, còn gọi là Điều Ngự Giác Hoàng, tức vua Trần Nhân Tông, là vị khai sáng phái thiền Trúc Lâm của Phật giáo Việt Nam, tên thật là Trần Khâm, con của vua Trần Thái Tông và Hoàng hậu Thiên Cảm (em của Thượng sĩ Tuệ Trung và Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn), sinh ngày 11 tháng 11 năm Mậu Ngọ (1258), dung mạo có sắc thái như vàng, thần khí tinh anh tươi sáng của bậc thánh nhân.

 

C. HÀNH TRẠNG TAM TỔ TRÚC LÂM

 

Phái thiền Trúc Lâm nổi tiếng với ba vị Tổ đầu tiên:

 

-Trúc Lâm Đầu Đà (Trần Nhân Tông).

-Tôn giả Pháp Loa.

-Tôn giả Huyền Quang.

 

Sau đây, chúng ta tìm hiểu sơ qua về hành trạng của ba vị Tổ đầu tiên của phái thiền Trúc Lâm (Ngữ lục của quý Ngài được trình bày đầy đủ hơn trong sách: “Lịch sử Phật giáo Việt Nam (thời nhà Trần)” của Nguyễn Hiền Đức.

 

 

I. HÀNH TRẠNG SƠ TỔ TRÚC LÂM

(TRÚC LÂM ĐẦU ĐÀ - TRẦN NHÂN TÔNG: 1258-1308)

 

Trúc Lâm Đầu Đà hay Hương Vân Đại Đầu Đà, còn gọi là Điều Ngự Giác Hoàng, tức vua Trần Nhân Tông, là vị khai sáng phái thiền Trúc Lâm của Phật giáo Việt Nam, tên thật là Trần Khâm, con của vua Trần Thái Tông và Hoàng hậu Thiên Cảm (em của Thượng sĩ Tuệ Trung và Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn), sinh ngày 11 tháng 11 năm Mậu Ngọ (1258), dung mạo có sắc thái như vàng, thần khí tinh anh tươi sáng của bậc thánh nhân. Thượng hoàng Trần Thái Tông, Hoàng Thái hậu, cùng vua Trần Thánh Tông và Hoàng hậu đều cho là lạ, thường gọi là “Kim Tiên đồng tử”, trên vai bên trái có nốt ruồi đen (đảm đang việc lớn), có tài đức, dũng cảm, cùng mộ đạo Phật từ nhỏ.

 

Ngay từ nhỏ, Trần Khâm không muốn làm vua, có ý muốn xuất gia tu hành và muốn nhường địa vị “Đông cung Thái tử” cho em, nhưng vua cha không chịu. Dù vậy, một hôm, vào lúc nửa đêm, Trần Khâm trốn ra khỏi hoàng thành, định lên núi Yên Tử để tu, đến chùa ở núi Đông Cứu (thuộc tỉnh Hà Bắc ngày nay) thì trời sáng, trong người lại quá mệt nhọc, nên vào ẩn trong tháp để nghỉ. Vị sư trụ trì chùa nhìn thấy tướng mạo khác thường nên làm cơm khoản đãi. Vua Trần Thánh Tông và Hoàng hậu Nguyên Thánh sai quần thần đi tìm kiếm khắp nơi, bất đắc dĩ Hoàng tử phải về.

 

Tháng chạp năm Giáp Tuất (đầu năm 1275), vua Trần Thánh Tông sách phong Hoàng trưởng tử Trần Khâm làm Hoàng Thái tử (lúc mới 17 tuổi), lấy con gái của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn làm phi cho Thái tử (sau này là Hoàng hậu Khâm Từ). Vua cử Thiếu sư Lê Phụ Trần làm Giáo thọ và chọn những đại thần tài đức dạy Thái tử (Nguyễn Sĩ Cố, Nguyễn Thánh Huấn…).

 

Ngày mùng 01 tháng 04 năm Đinh Sửu (1277), Thượng hoàng Trần Thái Tông băng ở cung Vạn Thọ (Thượng hoàng biết trước ngày chết một năm).

 

Ngày 22 tháng 10 năm Mậu Dần (1278), vua Trần Thánh Tông nhường ngôi cho Thái tử Trần Khâm, tức vua Trần Nhân Tông.

 

Dù ở ngôi vua, nhưng Trần Nhân Tông vẫn giữ cuộc sống thanh tịnh, tu tập thiền định, nghiên cứu kinh sách Phật giáo và thường đến chùa Tư Phúc ở cạnh Hoàng cung trong hoàng thành để tham học. Một hôm, ngủ trưa ở chùa Tư Phúc, vua nằm mộng thấy trên rún của mình nở ra một hoa sen lớn như bánh đa, trên hoa sen có một Đức Phật bằng vàng, có một người đứng bên cạnh vua và hỏi: “Biết Đức Phật này không? Đó là Đức Phật Biến Chiếu”. Vua thức dậy, kể giấc chiêm bao cho Thượng hoàng nghe, ai cũng cho là việc kỳ đặc. Từ đó, vua thường ăn chay, không ăn thịt cá, thân thể ốm gầy. Thượng hoàng thấy thế nên hỏi nguyên nhân, vua trình với cha, Thượng hoàng Thánh Tông khóc bảo: “Nay ta đã già, trông cậy vào mỗi mình con, nếu con làm như thế thì làm sao nối được thịnh nghiệp của tổ tiên?”. Vua nghe dạy cũng rơi nước mắt.

 

Vua thông minh lại hiếu học, đọc hết các sách, thông suốt cả kinh sách Phật và các sách ngoài Phật giáo. Những khi nhàn rỗi việc triều chính, vua vẫn thường mời các vị thiền khách đến cung điện để tham cứu Thiền học. Vua cũng thường tham học thiền với cậu là Thượng sĩ Tuệ Trung. Vua kính trọng Thượng sĩ Tuệ Trung như thầy dạy đạo.

 

Năm 1285, quân Nguyên xâm lăng Đại Việt, vua Trần Nhân Tông đành phải tạm xếp việc tu hành học Phật pháp để cùngThượng hoàng lãnh đạo quân dân chống giặc. Nhờ tướng sĩ tài giỏi và quân dân đoàn kết chiến đấu anh dũng nên đánh bại giặc, quân Nguyên lại chuẩn bị đánh phục thù.

 

Trong khi ngoài biên giới, quân Nguyên rốt ráo tổ chức xâm lăng Đại Việt, tháng 2 năm Đinh Hợi (1287), Hoàng Thái hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm băng. Thượng hoàng Trần Thánh Tông bận lo ở triều đình, vua Nhân Tông phải về An Bang để mời cậu là Thượng sĩ Tuệ Trung về dự tang lễ. Trên đường về kinh đô bằng thuyền, có thời gian để vua tham hỏi thêm về Thiền học với Thượng sĩ Tuệ Trung. Vua nhớ đến việc Thượng sĩ Tuệ Trung ăn mặn trong buổi tiệc do Thái hậu khoản đãi trong cung điện: Trong buổi tiệc đó, Thái Hậu dọn ăn có đủ món mặn và món chay, Thượng sĩ ăn cả món chay và món mặn. Thái hậu ngạc nhiên hỏi: “Anh tu thiền mà ăn thịt cá thì làm sao thành Phật được?”. Thượng sĩ cười đáp: “Phật là Phật, anh là anh. Anh không cần Phật, Phật cũng không cần anh. Em không nghe các bậc cổ đức tầng nói: Văn Thù là Văn Thù, giải thoát là giải thoát đó sao!”. Lúc đó, vua Nhân Tông có dự, nhưng vẫn chưa hiểu ý nghĩ cao sâu trong câu nói của Thượng sĩ. Vì vậy, nhân dịp này, vua mới hỏi Thượng sĩ: “Thưa cậu, chúng sinhquen cái nghiệp ăn thịt, uống rượu thì làm sao thoát khỏi tội báo của nghiệp lực?”.

 

Thượng sĩ đáp: “Nếu như có một người xây lưng đứng lại, bất ngờ có nhà vua đi qua phía sau lưng, người kia không biết, lỡ cầm vật gì đó ném trúng mình vua ở phía sau, lúc đó người ấy có sợ bị bắt tội không? Và vua có giận mà bắt tội hay không? Nên biết, hai việc đó không dính dấp gì với nhau cả”.

 

Rồi Thượng sĩ đọc tiếp cho vua nghe hai bài kệ:

 

Vô thường các pháp hiện,

Tâm ngờ tội liền sinh,

Xưa nay không một vật,

Không giống cũng không mầm.

Ngày ngày khi đối cảnh,

Cảnh cảnh theo tâm xuất,

Tâm cảnh vốn là không,

Khắp nơi là “Niết bàn”.

 

Vua suy nghĩ giây lâu nhưng vẫn chưa hiểu được hết ý nghĩa cao sâu của Thượng sĩ nên lại hỏi Thượng sĩ: “Tuy là như vậy, nhưng tội và phước rõ ràng thì thế nào? “. Thượng sĩ biết là Nhân Tông chưa hiểu nên đọc thêm một bài kệ để chỉ bảo rõ hơn:

 

Ăn chay cùng ăn thịt,

Chúng sinh tùy sở thích,

Xuân về cây cỏ tươi,

Chỗ nào thấy tội phước!

 

Vua lại hỏi: “Như vậy, việc công phu giữ giới tinh nghiêm không chút lơi lỏng là để làm gì?”.

 

Thượng sĩ chỉ cười mà không đáp câu hỏi, vua cố nài nỉ, Thượng sĩ đọc hai bài kệ ấn tâm vua:

 

* Trì giới và nhẫn nhục, 

Chuốc tội chẳng chuốc phúc, 

Muốn biết không tội phúc, 

Không nhẫn nhục trì giới. 

 

* Như người đang leo cây,

Đang yên lại tìm nguy,

Như người không leo cây,

Gió trăng làm được gì.

 

Và liền ngay khi đó, Thượng sĩ cẩn thận dặn kỹ vua: “Đừng nói những lời này với những người không hiểu biết” (vật thị phi nhân).

 

Từ đó, vua mới biết được môn phong Thiền học của Thượng sĩ Tuệ Trung cao thâm siêu việt.

 

Một hôm khác, vua hỏi Thượng sĩ Tuệ Trung về “yếu chỉ của Thiền Tông” và muốn biết được bí quyết giác ngộ mà Thượngsĩ được Thiền sư Tiêu Dao trao truyền. Thượng sĩ ứng khẩu đáp: “Hãy quay về tự quán xét ngay chính bản thân mình chứ không thể nhờ một người nào khác mà đạt được! (Phản quan tự kỷ bản phận sự, bất tòng tha đắc).

 

Nhờ vào lời dạy thâm sâu bí yếu này củaThượng sĩ Tuệ Trung mà vua Trần Nhân Tông ngộ được yếu chỉ của Thiền tông và thấy được đường vào đạo. Từ đó, vua hết lòng tôn kính Thượng sĩ và thờ Thượng sĩ làm thầy.

 

Ngày 14 tháng 11 năm Đinh Hợi (1287), quân Nguyên tiến chiếm ải Phủ Lương ở biên giới, mở đầu cuộc xâm lăng Đại Việt lần thứ ba. Thượng hoàng Thánh Tông và vua cùng triều thần hết lòng đoàn kết quân dân chống giặc, đánh đuổi được quân giặc. Nhưng vua Nguyên là Hốt Tất Liệt vẫn còn ý định chuẩn bị lực lượng để đánh chiếm Đại Việt một lần nữa. Vua Trần Nhân Tông vẫn phải lo chuẩn bị quân đội và dự trữ lương thực… Mãi đến khi vua Hốt Tất Liệt chết (tháng 12 năm 1294), vua kế vị mới bỏ ý định xâm lăng Đại Việt.

 

Ngày 25 tháng 5 năm Canh Dần (1290), Thượng hoàng Trần Thánh Tông băng hà ở cung Nhân Thọ. Trong thời gian để tang, vua Nhân Tông vẫn dùng kiệu, Ngự sử Đại phu Đỗ Quốc Kế tâu rằng: “Khi để tang không nên làm tổn thương người, bệ hạ dùng kiệu là phạm, vì vậy xin cỡi ngựa”. Vua nghe theo, chẳng những thế, khi cỡi ngựa, vua không dùng yên bằng da mà dùng yên bằng gỗ.

 

Ngày mùng 1 tháng 4 năm Tân Mão (1291), Thượng sĩ Tuệ Trung mất, vua Trần Nhân Tông có bài kệ ca tụng:

 

Nhìn càng thêm cao, (Vọng chi di cao,

Khen càng thêm cứng, Tán chi di kiên,

Bỗng nhiên ở sau lưng, Hốt Nhiên tại hậu,

Nhìn lại thì trước mặt, Chiêm chi tại tiền,

Chính đó mới là, Phù thị chi vị,

Thiền của Thượng sĩ! Thượng sĩ chi Thiền!).

 

Ngoài ra, vua cũng làm bài tụng “Đốt hương báo ân” để tri ân Thượng sĩ. Sau này, mỗi khi lên đàn nói pháp, vua đều nhớ đến ơn dạy Thiền của Thượng sĩ Tuệ Trung, nên cho họ lại chân nghi Ngài để dâng cúng và làm bài tụng như sau:

 

Lão cổ chùy ấy, (Giá lão cổ chùy,

Sâu xa khó tả, Nhân nan danh mạc,

Thước của Lương Hoàng, Lương Hoàng khúc xích,

Chuông xe Thái Đế. Thái Đế đạc lịch.) 

 

Vuông được tròn được,

Năng phương năng viên,

Dày được mỏng được,

Năng hậu năng bạc,

Biến pháp “Một mắt”

Pháp hải “Độc nhãn”

Rừng thiền “Ba góc”.

Thiền lâm “Tam giác”.

 

Vua Nhân Tông có ý định xuất gia tu hành từ lâu, nhưng việc nước trọng đại, lại phải lo đối phó với cuộc xâm lăng của quân Nguyên, nên vua vừa lo việc triều chính, vừa lo tu tập, vẫn tham học kinh điển Phật và thiền định.

 

Ngày mùng 9 tháng 3 năm Qúi Tỵ (1293), vua Trần Nhân Tông nhường ngôi cho Thái tử Trần Thuyên, tức vua Trần Anh Tông, lên làm Thái Thượng hoàng. Từ đó, Thượng hoàng bớt việc triều chính, nên tu tập rốt ráo hơn và lo cho thế nước được vững mạnh hơn hầu có thế, yên tâm xuất gia tu hành.

 

Ngày 13 tháng 9, Thái hậu Khâm Từ Bảo Thánh mất ở Lỗ Giang, phủ Long Hưng. Tháng 8 năm Giáp Ngọ (1294), Thượng hoàng Nhân Tông đem quân đánh dẹp giặc Ai Lao, sau đó Thượng hoàng vẫn đóng quân ở biên giới Việt-Lào để bình định biên giới, Thượng hoàng lập hành cung ở làng Vũ Lâm, huyện Yên Khang (sau này là huyện Yên Khánh) thuộc phủ Trường Yên (vùng kinh đô Hoa Lư thời nhà Đinh và Tiền Lê, nay thuộc huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình), để chuẩn bị xuất gia tu hành.

 

Nơi đây vào thời trước, Thượng hoàng Trần Thái Tông đã lập chùa trong động núi để tu hành (chùa Thái Vi). Thượng hoàng Trần Nhân Tông tu tập ở đây đến tháng sáu năm Ất Mùi (1295) mới trở về kinh.

 

Ngày mùng một tháng Hai năm Ất Mùi (1295), sứ giả Nguyên là Tiêu Thái Đăng sang Đại Việt, vua Anh Tông sai Viên ngoại langTrần Khắc Dụng, Phạm Thảo cùng đi theo sứ giả để thỉnh bộ Đại Tạng kinh của nhà Nguyên (đem về tàng trữ ở phủ Thiên Trường và sau này cho khắc bản in để lưu hành trong nước). Trong sách Đại Việt thông sử, mục “Nghệ văn chí”, Lê Quý Đôn cho biết: Đại Tạng kinh nhà Nguyên thỉnh về gồm có 2.565 quyển, có lẽ đến khi Lê Quý Đôn tìm thấy, chỉ còn lại bao nhiêu đó; thực ra, bộ Đại Tạng kinh được nhà Nguyên in ở chùa Hoằng Pháp tại Bắc Kinh từ năm 1277 đến năm 1294, gồm 7.812 quyển.

 

Trong thời gian ở Vũ Lâm, Thượng hoàng Trần Nhân Tông đi viếng nhiều nơi có phong cảnh đẹp, có bài thơ “Vũ Lâm thu vãn”:

 

Họa kiều đảo ảnh trám khê hoành,

Nhất mạt tà dương thủy ngoại minh,

Tịch tịch thiên sơn hồng diệp lạc,

Thấp vân như mộng viễn chung thanh.

Băng Thanh dịch: Chiều Thu ở Vũ lâm.

 

Lòng khe in ngược bóng cầu hoa,

Hắt sáng bờ khe vệt nắng tà.

Lặng lẽ nghìn non, rơi lá đỏ,

Mây giăng như mộng, tiếng chuông xa.

 

Trong thời gian ở Vũ Lâm và ở phủ Thiên Trường để chuẩn bị xuất gia (1294-1299), Thượng hoàng Nhân Tông tự giữ giới hạnh như một “sơn tăng” (vị sư ở núi). Ở phủ Thiên Trường, Thượng hoàng ngự ở điện Trùng Quang và chùa Phổ Minh ở cạnh đó. Thượng hoàng có vịnh bài thơ “Đề Phổ Minh tự thủy tạ” (Đề nhà thủy tạ chùa Phổ Minh) như sau:

 

Huân tận thiên đầu mãn tọa hương,

Thủy lưu sơ khởi bất đa lương,

Lão dung ảnh lý tăng quan bế,

Đệ nhất thiền thanh tống tịch dương.

 

Tạm dịch:

 

Ngàn hương đốt hết, thơm ngào ngạt,

Làn nước lăn tăn, gió lạnh qua,

Dưới bóng đa già, chùa vắng vẻ,

Ve sầu khởi tiếng, tiễn chiều tà.

 

Tháng 7 năm Kỷ Hợi (1299), Thượng hoàng cho lập am Ngự Dược trên núi Yên Tử. Tháng 8 năm đó, Thượng hoàng Trần Nhân Tông từ phủ Thiên Trường xuất gia lên núi Yên Tử tu khổ hạnh.

 

Sách Đại Việt sử ký toàn thư chỉ ghi vắn tắt như thế. Tuy nhiên, trong thực tế, chắc chắn là lễ xuất gia của Thượng hoàng Trần Nhân Tông phải tổ chức theo nghi lễ hết sức long trọng. Nhưng rất tiếc là không còn sách nào ghi chép về buổi lễ đó. Thượng hoàng Trần Nhân Tông tôn kính Thượng sĩ Tuệ Trung là thầy, nhưng theo nghi lễ xuất gia của tăng sĩ Phật giáo là phải có giới đàn và có đủ “tam sư, thất chứng” tức là phải có ba Hòa thượng và bảy vị sư khác chứng minh. Trong buổi lễ đó là ai? Hay là Thượng hoàng Trần Nhân Tông tổ chức nghi lễ khác, không theo nghi thức đó?

 

Dù Thượng hoàng thừa nhận Thượng sĩ Tuệ Trung là thầy, nhưng Thượng sĩ vẫn là cư sĩ, chưa phải là thiền sư, vì vậy, trong buổi lễ xuất gia đó, Hòa thượng Đường đầu có thể là Thiền sư Huệ Tuệ là sư huynh của Thượng sĩ Tuệ Trung, đồng thời là vị Tổ trụ trì sơn môn Yên Tử lúc đó.

 

Hiện cũng chưa biết là buổi lễ xuất gia của Thượng hoàng Trần Nhân Tông tổ chức ở chùa nào? Tuy nhiên, có thể buổi lễ được tổ chức ở một trong chùa quan trọng liên hệ với triều đình và sơn môn Yên Tử là chùa Phổ Minh ở cạnh điện Trùng Quang nơi Thượng hoàng ngự tại phủ Trường Yên (làng Tức Mặc, tỉnh Nam Định ngày nay).

 

Thượng hoàng Trần Nhân Tông xuất gia với pháp hiệu là “Hương Vân Đại Đầu Đà”, tu hành khổ hạnh theo hạnh “Đầu đà” theo gương của Tôn giả Ma Ha Ca Diếp (trưởng tử của Phật Thích Ca Mâu Ni). Sau đó, đổi pháp hiệu lại là “Trúc Lâm Đầu Đà” hay được gọi là “Trúc Lâm Đại sĩ “.

 

Để kỷ niệm lễ xuất gia của Thượng hoàng, cũng như là để ban hành một “nghi lễ thống nhất” cho một tổ chức Phật giáo thống nhất đầu tiên của Đại Việt, do Trúc Lâm Đầu Đà thành lập, đó là “phái thiền Trúc Lâm”, vua Trần Anh Tông cho ban hành sách “Phật giáo pháp sự đạo tràng tân văn công văn cách thức” (sách Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú viết là sách “Pháp Sự tân văn”). Có lẽ cuốn sách này ban hành các nghi lễ Phật giáo như lễ thọ giới, cầu an, cầu siêu, khánh thành chùa, đàn chẩn tế… cùng các bài văn, sớ, tấu, điệp… dùng trong các buổi lễ đó.

 

Ngay sau khi xuất gia, lên núi Yên Tử hoằng hóa ở chùa Vân Yên, Trúc Lâm Đầu Đà hoạt động tích cực trong việc lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Thống nhất mới tổ chức vào thời nhà Trần.

 

Ngoài việc thuyết giảng Phật pháp để tiếp độ Tăng Ni và Phật tử ở chùa Vân Yên, chùa Long Động ở núi Yên Tử, chùa Phổ Minh ở phủ Thiên Trường, chùa Báo Ân, chùa Siêu Loại, Vĩnh Nghiêm…, Trúc Lâm Đầu Đà còn lập nhiều chùa chiền, tịnh xá… Trúc Lâm Đầu Đà cùng với khoảng mười đệ tử theo hầu, cũng thường vân du hoằng hóa khắp nơi trong nước, từ thành thị đến nông thôn, rừng núi…

 

Năm 1301, Trúc Lâm Đầu Đà vân du về phương Nam, đến tận biên giới phía Nam của Đại Việt, lập am Tri Kiến ở châu Bố Chánh (Quảng Bình ngày nay).

 

Trong các cuộc vân du hoằng hóa, Trúc Lâm Đầu Đà khuyên dân chúng thực hành giáo lý “Thập thiện” của Phật giáo, bỏ các luật lệ cúng bái tà thần và dâm thần. Với vai trò Thượng hoàng của triều đình và Trúc Lâm Đầu Đà của Phật giáo, chắc hẳn là những lời khuyên bảo, giảng dạy của Ngài có tác dụng to lớn và sâu rộng khắp tầng lớp dân chúng trong nước. Và nhờ thế, Phật giáo đã phát triển rộng rãi và mạnh mẽ khắp nước.

 

Trúc Lâm Đầu Đà muốn lấy giáo lý “Thập thiện” của Phật giáo làm nền tảng căn bản cho đạo đức xã hội Đại Việt. Giáo lý “Thập thiện” là giáo lý căn bản nhập thế của Phật giáo, dạy cho con người thực hành mười điều thiện trong cuộc sống hằng ngày và hoạt động xã hội:

 

1- Không sát sinh: chẳng những không sát hại sinh mạng người hay thú mà còn tha thứ và phóng sinh.

2- Không trộm cắp, ăn cướp, mà còn bố thí.

3- Không tà dâm: không lấy vợ, con của người mà còn phải tôn trọng phụ nữ.

4- Không nói láo, mà phải ăn nói thành thật, ngay thẳng .

5- Không chửi bới thô tục, có lời nói ác mà phải có lời nói ôn hòa, nhân nghĩa.

6- Không dùng lời nói đâm thọc làm cho người ta thù hận nhau, mà phải nói cho người hòa hiệp, thương yêu nhau.

7- Không nói thô tục, trái đạo nghĩa, mà phải nói lời có ích cho mọi người.

8- Không tham lam xảo quyệt, mà phải giúp người.

9- Không hờn giận, sân hận, thù hằn, mà cần phải có lòng từ bi biết thương người và vật.

10- Không si mê, mê muội, mà phải sáng suốt, phân biệt chánh tà, làm theo điều chánh đáng.

 

Tháng 3 năm Tân Sửu (1301), Trúc Lâm sang Chiêm Thành. Hiện không biết mục đích chính của việc vân du này là gì và các hoạt động của Trúc Lâm ở Chiêm ra sao? Chỉ biết Trúc Lâm sang Chiêm Thành với tư cách một du tăng vì Ngài đi với một số tăng sĩ tùy tùng. Không biết các vị thiền sư nào đã đi cùng với Trúc Lâm?

 

Trong sử chỉ cho chúng ta biết được một việc là: Trúc Lâm đã hứa gả Công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm Thành với điều kiện đổi lấy hai châu Ô và Lý làm sính lễ.

 

Không biết Trúc Lâm có những hoạt động nào ở Chiêm Thành mà mãi đến tháng 11, Trúc Lâm mới trở về Đại Việt? Có thể trong thời gian đó, Trúc Lâm đã qua nước Chân Lạp ở phía Nam của Chiêm Thành?.

 

Rằm tháng 01 năm Qúi Mão (1303), Trúc Lâm Đầu Đà về phủ Thiên Trường, mở hội Vô Lượng Pháp ở chùa Phổ Minh, bố thí vàng bạc, chẩn cấp cho dân nghèo trong nước, thuyết giảng Phật Pháp và khuyên dân thực hành “Thập thiện”.

 

Sau lễ hội đó, Trúc Lâm vân du hoằng hóa: kinh thành Thăng Long, chùa Sùng Nghiêm ở núi Chí Linh, Hải Dương…

 

Năm Giáp Thìn (1304), khi du hành đến huyện Nam Sách (trấn Hải Dương), Đồng Kiên Cương (1284-1330) xin xuất gia quy y thọ giáo, Trúc Lâm dẫn về viện Kỳ Lân ở núi Linh Sơn, huyện Chí Linh làm lễ thọ giới Sa di, đặt pháp danh là Thiện Lai. Sau đó, Trúc Lâm gởi Thiện Lai theo học với Hòa thượng Tánh Giác ở chùa Quỳnh Quán (?).

 

Thiện Lai đã hỏi Hòa thượng nhiều câu hỏi, nhưng Hòa thượng chưa khai thị cho ông được. Thiện Lai học kinh Lăng Nghiêm, đến đoạn A Nan hỏi Phật bảy lần về “Tâm ở đâu?” và đoạn nói về “Khách trần” thì bỗng thấy có chỗ sở ngộ, Thiện Lai từ tạ Hòa thượng Tánh Giác để đến tham yết với Trúc Lâm. Khi về đến chùa, gặp lúc Trúc Lâm đang thăng đường cử bài tụng “Thái Dương Ô Kê”, Thiện Lai thưa hỏi thêm và nhờ đó được tỉnh ngộ. Trúc Lâm nhận biết, nên cho Thiện Lai theo hầu bên mình (thị giả). Một hôm, Thiện Lai trình bày một bài tụng về “Tam Yếu”, bị Trúc Lâm gạch một gạch dài từ trên xuống dưới, Thiện Lai thỉnh cầu Trúc Lâm giải thích bốn lần mà Trúc Lâm không chỉ giáo gì cả, mà chỉ bảo rằng: “Phải tự tham khảo lấy”. Đêm ấy, Thiện Lai nỗ lực dụng công thiền quán, quá nửa đêm, nhận thấy tim đèn tàn rụng xuống, bất ngờ Thiện Lai ngộ được yếu chỉ. Thiện Lai đến trình sở ngộ, được Trúc Lâm Đầu Đà ấn chứng. Từ đó, Thiện Lai phát nguyện tu hành theo mười hai hạnh Đầu đà theo gương của Trúc Lâm.

 

Cuối năm này, vua Trần Nhân Tông thỉnh Trúc Lâm về kinh thành làm lễ thọ giới Bồ tát.

 

Năm Ất Tỵ (1305), Trúc Lâm làm lễ thọ giới Tỳ kheo và thọ giới Bồ tát cho Thiện Lai, đặt pháp hiệu là Pháp Loa tại viện Kỳ Lân. Cũng trong năm đó, sứ giả Chiêm Thành sang cầu hôn Công chúa Huyền Trân.

 

Mùng 9 tháng 01 nhuần năm Bính Ngọ (1306), Trúc Lâm thuyết pháp ở viện Kỳ Lân, Trúc Lâm cử Tỳ kheo Pháp Loa làm giảng chủ ở chùa Báo Ân (huyện Siêu Loại). Thiền sư Bảo Phác cử đệ tử là Huyền Quang làm thị giả cho Trúc Lâm thay Pháp Loa.

 

Tháng Sáu năm này, vua Chế Mân cho rước Huyền Trân về Chiêm Thành và dâng cho vua Trần Anh Tông hai châu Ô và Lý. Sau đó vua Anh Tông cho đổi châu Ô và châu Lý thành châu Thuận và châu Hóa (Thuận Hóa là vùng đất các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên và Quảng Nam ngày nay).

 

Mùa Hạ năm Đinh Mùi (1307), Trúc Lâm Đầu Đà mở khóa kiết hạ ở chùa Vân Yên trên núi Yên Tử. Trúc Lâm đã giảng “Đại Tuệ ngữ lục” cho Pháp Loa và 6 đệ tử khác ở am Quán Trú.

 

Tháng 5, vua Chế Mân chết, Công chúa Huyền Trân đã sinh Thế tử Chế Đa Da. Tháng 9, Chế Đa Da sai sứ thần Bảo Lộc Kê dâng voi trắng cho vua Anh Tông. Tháng 10, vua Anh Tông cử Tả bộc xạ Trần Khắc Chung và An phủ Đặng Văn sang Chiêm Thành tìm cách cứu Công chúa Huyền Trân về nước (sợ Công chúa bị hỏa thiêu cùng với vua Chiêm, theo tục lệ Chiêm Thành).

 

Mùng Một Tết năm Mậu Thân (1308), Trúc Lâm Đầu Đà truyền bài kệ phó chúc và y bát cho Pháp Loa, trong buổi lễ hết sức long trọng tại chùa Báo Ân (huyện Siêu Loại) để chánh thức trao truyền cho Pháp Loa làm Tổ thứ hai của phái thiền Trúc Lâm và kế thế trụ trì chùa Báo Ân, với sự tham dự của vua Trần Anh Tông cùng triều thần và chư Tăng. Buổi lễ này được ghi lại trong “Tam Tổ thục lục” như sau:

 

“Bắt đầu buổi lễ, Trúc Lâm cùng Pháp Loa và chư Tăng lễ Tổ ở Tổ đường chùa Báo Ân, đại nhạc tấu lên, các loại danh hương được xông đốt… Sau khi lạy xong, xuống trai đường để ăn cháo sáng. Xong buổi triêu thực (ăn sáng), nhạc tấu lên, trống lớn nổi lên, triệu tập chư tăng vào pháp đường Cam Lộ. Vua Trần Anh Tông ngự giá tới chùa, được mời ngồi ở ghế khách tại pháp đường, Quốc phụ Thượng tể Trần Quốc Tảng cùng các đại thần của triều đình đứng phía ngoài sân”.

 

Trúc Lâm thăng đường thuyết pháp, thuyết giảng xong, Trúc Lâm rời pháp tòa đến dẫn Pháp Loa đến pháp tòa, Trúc Lâm đứng chắp tay đối diện với Pháp Loa làm lễ thăm hỏi, Pháp Loa đáp bái lại. Trúc Lâm trao pháp y cho Pháp Loa, Pháp Loa khoác y xong, Trúc Lâm đi đến ngồi ở ghế Khúc Lục ở một bên pháp tòa để nghe Pháp Loa thuyết pháp. Pháp Loa giảng xong, Trúc Lâm chính thức trao cho Pháp Loa vai trò vị Tổ thứ hai của phái thiền Trúc Lâm và kế thế trụ trì chùa Báo Ân.

 

Buổi lễ này được tổ chức long trọng với sự tham dự của vua Anh Tông và triều thần, các đại thần phải đứng ngoài sân để hầu lễ, trong lúc chỉ có Trúc Lâm và vua ngồi ghế, có lẽ Trúc Lâm muốn rằng vua Anh Tông và các đại thần trong triều đình phải chánh thức tôn kính Pháp Loa như “bậc thầy” giống như tôn kính Trúc Lâm. Ngoài ra, Trúc Lâm cũng muốn cho biết rằng: Từ vua, triều thần cho đến tất cả chư Tăng Ni, Phật tử cả nước phải công nhận Pháp Loa là vị Tổ thứ hai, thay thế Trúc Lâm lãnh đạo Giáo hội Phật giáo thống nhất từ thời Trần, tức lãnh đạo phái thiền Trúc Lâm do Trúc Lâm Đầu Đà khai sáng.

 

Tháng 4 năm đó (Mậu Thân-1308), Trúc Lâm lại trao chức trụ trì chùa Vĩnh Nghiêm ở Đức La, huyện Phượng Nhãn, trấn Kinh Bắc (nay thuộc huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang) cho Pháp Loa trong lễ “Kết hạ” tại chùa. Trong trường Hạ này, Trúc Lâm giảng “Truyền đăng lục” cho đại chúng. Ngoài ra, Trúc Lâm còn mời Quốc sư Đạo Nhất giảng kinh Pháp Hoa.

 

Sau khi hết hạ (giải hạ), Trúc Lâm trở về chùa Vân Yên trên núi Yên Tử. Trúc Lâm chỉ cho 12 thị giả thường theo hầu ở lại chùa, còn tất cả các người khác trong chùa đều phải xuống núi hết. Trúc Lâm lập Ngộ Ngữ viện, là một ngôi nhà đá (thạch thất) ở am Tử Tiêu. Tại đây, vào tháng Bảy, Trúc Lâm chỉ truyền giảng riêng cho Pháp Loa “Truyền đăng lục” (có thể Trúc Lâm giảng cho Pháp Loa “Thượng sĩ ngữ lục” để Pháp Loa biên chép lại), lúc đó chỉ có Bảo Sát theo hầu hạ Trúc Lâm mà thôi.

 

Tháng 8, Công chúa Huyền Trân về đến Thăng Long, lên Yên Tử thăm Trúc Lâm. Sau đó Huyền Trân xuất gia đi tu hành ở chùa Nộn Sơn trên núi Hổ Sơn, huyện Thiên Bản, trấn Sơn Nam (nay là xã Liên Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định).

 

Tháng 9, Trúc Lâm với Bảo Sát theo hầu, đi viếng hết khắp các hang động trên núi Yên Tử. Bảo Sát hỏi rằng: “Bạch Điều Ngự, Ngài tuổi đã cao, già yếu rồi mà còn dầm dãi sương gió như thế này lỡ có mệnh hệ nào thì mạng mạch Phật giáo biết trông cậy vào ai?”. Trúc Lâm bảo: “Thời tiết đã đến, ta đang tính việc đi lâu dài đây”.

 

Ngày mùng 5 tháng 10, Công chúa Thiên Thụy cho gia đồng lên núi Yên Tử, tâu với Trúc Lâm rằng: “Công chúa bị bệnh nặng, muốn được gặp em trước khi nhắm mắt từ giã cuộc đời”. Trúc Lâm bùi ngùi nói: “Đây chẳng qua là “thời tiết” mà thôi”, Trúc Lâm chống gậy xuống núi, chỉ có một đệ tử theo hầu.

 

Mồng 10, Trúc Lâm về đến kinh thành Thăng Long, đến thăm Công chúa Thiên Thụy và bảo: “Nếu chị đã đến ngày đến giờ thì cứ đi, âm phủ có hỏi thì trả lời rằng: xin đợi một chút, em tôi là Trúc Lâm Đại sĩ sẽ tới ngay” (Đại Việt sử ký toàn thư).

 

Ngày rằm tháng 10, Trúc Lâm rời Thăng Long, đi bộ về Yên Tử. Trên đường đi, Trúc Lâm ghé nghỉ đêm ở chùa Siêu Loại (chùa Pháp Vân?). Sáng sớm hôm sau, Trúc Lâm lên đường, ghé chùa Cổ Pháp (có lẽ chùa Lục Tổ?), tự tay viết lên vách bài kệ sau:

 

Thế số nhất tức mặc ( Số đời một hơi thở,

Thời tình lưỡng hải ngân Tình đời hai biển trăng,

Ma cung hồn quản thậm Cung ma đâu đáng kể,

Phật quốc bất thăng xuân Đất Phật xuân đời đời.)

 

Ngày 17, Trúc Lâm nghỉ đêm ở chùa Sùng Nghiêm (Chí Linh). Hoàng Thái hậu Tuyên Từ thỉnh về am Bình Dương thọ trai, Trúc Lâm nhận lời cười nói: “Đây là buổi cúng dường cuối cùng”.

 

Ngày 18, Trúc Lâm lên đường về Yên Tử, hai vị Tỳ kheo chùa Sùng Nghiêm là Tử Dinh và Hoàn Trung đi theo hầu Ngài, khi lên đến am Tú Lâm trên núi Kiết Đặc (núi Phụng Hoàng) ở Yên Sinh, Trúc Lâm nghe nhức đầu và mỏi mệt, Trúc Lâm nói với hai Tỳ kheo: “Ta muốn về am Ngọa Vân ngay, nhưng sức khỏe quá yếu, làm thế nào bây giờ?”. Hai Tỳ kheo nói: “Chúng con xin đưa Ngài đi”. Khi đến am Ngọa Vân trên ngọn Tử Phong (thuộc núi Yên Tử), Trúc Lâm cám ơn hai sư và nói: “Quý vị xuống núi về chùa ráng lo tu hành, chớ xem thường sự sinh tử”. Tại am chỉ có hai vị thị giả Pháp Đăng và Pháp Không.

 

Ngày 19, Trúc Lâm bảo Pháp Không lên am Tử Tiêu gọi Bảo Sát về am Ngọa Vân gấp. Pháp Không đến nơi lúc trời tối, Bảo Sát phải đợi sáng sớm hôm sau (ngày 20) mới lên đường. Đi được nửa đường đến suối Doanh (Doanh tuyền) mưa đen phủ đầy núi và mưa rơi như thác đổ, nước suối dâng cao, không có cách gì đi được, phải tạm trú ở một quán trọ (sơn điếm) gần đó. Đêm đó, Bảo Sát rất nóng lòng, bức rức, nằm ngủ chiêm bao thấy những điềm không lành. Sáng ngày 21, bớt mưa, Bảo Sát lên đường về am Ngọa Vân, đến nơi vào lúc trưa, Trúc Lâm thấy Bảo Sát thì cười và nói: “Ta sắp đi rồi, sao ngươi đến chậm thế? Có chỗ nào trong Phật pháp mà ngươi chưa hiểu thì hãy hỏi đi”. Bảo Sát hỏi: “Ngày xưa, khi Tổ sư Mã Tổ trong người bất an (bị bệnh), sư trụ trì đến thăm hỏi: Tổ cảm thấy thế nào? Tổ sư nói: Ngày đối diện Phật, đêm đối diện Phật! Như thế là Tổ muốn nói gì?”. Trúc Lâm lớn tiếng nói: “Tam hoàng, Ngũ đế là vật gì? “. Bảo Sát hỏi tiếp: “Hoa nở rực rỡ, gấm phô sắc màu, tre phương Nam, gỗ phương Bắc “ là thế nào? Trúc Lâm nói: “Mắt ngươi mù rồi!”. Bảo Sát rất mừng và không hỏi nữa. Bảo Sát cùng Pháp Không, Pháp Đăng hầu hạ bên cạnh Trúc Lâm, không rời am một bước. Mấy hôm sau, trời mưa gió liên tiếp, mây đen đầy nước phủ kín, cây cối u ám, chim kêu vượn hú rất bi thảm.

 

Nhưng đêm mùng 01 tháng 11 năm Mậu Thân (1308), đến nửa đêm thì tự nhiên trời hết mưa bất ngờ, gió hết thổi, Bảo Sát ra nhìn trời, sao sáng giăng khắp trời! Bảo Sát trở vào am thì Trúc Lâm hỏi: “Bây giờ là giờ gì?”. Bảo Sát thưa: “Bạch Thầy, giờ Tý!” Trúc Lâm lấy tay đẩy cánh cửa sổ, nhìn ra trời đầy sao nói: “Đến giờ ta đi rồi đây!”. Bảo Sát hỏi: “Tôn đức đi đâu bây giờ?”. Trúc Lâm nói kệ đáp:

 

Mọi pháp đều không sinh, (Nhất thiết pháp bất sinh,

Mọi pháp đều không diệt, Nhất thiết pháp bất diệt,

Nếu hiểu được như thế, Nhược năng như thị giải,

Chư Phật đều trước mặt, Chư Phật thường hiện tiền,

Cần gì biết đến, đi! Hà khứ lai chi liễu giả!).

 

Bảo Sát hỏi tiếp: “Còn khi bất sinh bất diệt rồi thì sao?”. Trúc Lâm khoát tay nói: “Thôi đừng nói mê nữa!”. Nói xong Trúc Lâm nằm như kiểu sư tử nằm mà tịch.

 

Theo di chúc viết trước khi tịch hai ngày, Trúc Lâm dặn rằng: Ngài là người xuất gia của sơn môn Yên Tử nên Ngài chỉ muốn chính đệ tử của Ngài làm lễ hỏa táng theo nghi thức đơn sơ của Phật giáo, chứ không muốn có một lễ quốc táng do triều đình tổ chức. Trúc Lâm còn dặn kỹ rằng: dựïng dàn hỏa ngay trong am Ngọa Vân và làm lễ hỏa thiêu xong rồi, mới báo về triều đình cho vua biết. Đễ tránh việc triều đình làm khó dễ sơn môn, Trúc Lâm đã tự tay thảo di chúc để lại.

 

Suốt ngày mùng hai, Bảo Sát cùng Pháp Không, Pháp Đăng lo đốn gỗ thơm để dựng hỏa đàn. Đêm mùng hai, Bảo Sát cùng vài huynh đệ trên núi làm lễ hỏa táng nhục thân Trúc Lâm. Mùi hương thơm bay khắp núi, trên hư không nghe như có tiếng nhạc của chư Thiên trỗi lên vang lừng, có đám mây ngũ sắc bao phủ am Ngọa Vân.

 

Bảo Sát sai Pháp Không về kinh đô thông báo cho Pháp Loa và vua Trần Anh Tông biết sự việc. Pháp Loa ở chùa Báo Ân nghe tin, lập tức cùng chư Tăng lên núi Yên Tử, Pháp Loa và chư Tăng lên đến am Ngọa Vân, Pháp Loa sai nấu nước thơm rưới lên hỏa đàn và làm lễ thu xá lợi, được hơn ba ngàn hạt xá lợi năm màu (ngũ sắc), trong đó có 500 hạt cỡ lớn.

 

Pháp Loa thỉnh xá lợi và linh cốt của Trúc Lâm đem về triều đình. Nhưng trong buổi lễ nhận xá lợi ở chùa Tư Phúc, thiếu mất mấy hạt, vua Anh Tông nghi ngờ Pháp Loa đã lấy bớt, vài đại thần triều đình đề nghị vua bắt tội Pháp Loa. Nhưng trong lúc đó, Thái tử Trần Mạnh đứng hầu cạnh (mới có 9 tuổi), thấy có mấy hạt xá lợi có ánh sáng bay vào trong tay áo, nên lấy đưa ra cho mọi người xem. Nhưng vừa lấy ra thì lại bay vào, lúc đó vừa xúc động vừa phát khóc, mới hết nghi ngờ Pháp Loa và vua mới quyết định sẽ lập Trần Mạnh làm Thái tử để truyền ngôi.

 

Nguyên trước đó, vua Trần Anh Tông có Hoàng hậu Thuận Thánh (con của Hưng Nhượng đại vương Trần Quốc Tảng) và hoàng phi họ Trần (con của Bảo Nghĩa đại vương Trần Bình Trọng), cùng thứ phi họ Phạm (con của Đại tướng Phạm Ngũ Lão). Chỉ có hoàng phi có con là Hoàng tử Mạnh, Hoàng hậu và thứ phi chưa có con. Vua định chờ Hoàng hậu có con trai mới lập làm Thái tử cho nối ngôi, chứ không chịu lập Trần Mạnh làm Thái tử.

 

Nhưng cái điềm “xá lợi bay vào tay áo” của Hoàng tử Trần Mạnh khiến cho vua Anh Tông tin rằng: Thượng hoàng muốn lập Trần Mạnh làm Thái tử, nên vua nguyện rằng: “Con xin tuân theo mệnh của Thượng hoàng, chọn Trần Mạnh làm Thái tử để truyền ngôi”. Chừng đó, lấy xá lợi từ trong tay áo Trần Mạnh ra thì xá lợi mới không bay trở vào nữa. Nhờ vậy, sau này Thái tử Trần Mạnh lên ngôi, hiệu là Minh Tông. Sau đó Hoàng hậu Thuận Thánh có sinh con trai nhưng cũng bị chết. Thứ phi họ Phạm thì xin xuất gia tu hành, pháp danh là Tĩnh Huệ (năm 1399).

 

Ngày 16 tháng 9 năm Canh Tuất (1310), linh cữu (ngọc cốt) của Trúc Lâm Đại sĩ được đưa về táng ở lăng Qui Đức, phủ Long Hưng, xá lợi thờ trong tháp Huệ Quang được dựng ngay am Ngọa Vân trên núi Yên Tử, một phần xá lợi được thờ ở Phổ Minh (phủ Thiên Trường). Thiền sư Trí Thông ở chùa Siêu Loại về tháp Huệ Quang để phụng hầu Trúc Lâm Đại sĩ. Ngày trước, khi Thượng hoàng Trần Nhân Tông xuất gia lên núi Yên Tử tu hành, sư Trí Thông tự đốt cánh tay mình (từ bàn tay đến khuỷu tay) vẫn ung dung không biến sắc. Thượng hoàng đến xem, sư Trí Thông lạy và nói: “Thần Tăng đốt đèn đó!”. Đốt đèn xong, sư về viện ngủ tự nhiên như thường, nhưng khi tỉnh dậy thì chỗ lửa làm phỏng phồng lên đã hết. Khi nhập tháp thờ Trúc Lâm trên núi Yên Tử, Thiền sư Trí Thông theo hầu ngay bảo tháp. Đến triều đại vua Trần Minh Tông (1314-1329), Thiền sư Trí Thông tự thiêu mà chết. Tháp này có lẽ bị hủy hoại khi nhà Minh xâm lăng Đại Việt (1407­1427). Tháp Huệ Quang thờ Trúc Lâm Đại sĩ (vua Trần Nhân Tông) ở chùa Vân Yên ngày nay, mới được lập vào thời nhà Lê Trung Hưng, có lẽ do Thái hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc (vợ Thượng hoàng Lê Thần Tông) xin với cha là chúa Trịnh Tráng cho xây dựng vào khoảng giữa thế kỷ 17, sau khi Thái hậu qui y với Hòa thượng Chuyết Công và Thiền sư Minh Hành - Tại Tại.

 

Đại sĩ Trúc Lâm có những đệ tử nổi danh sau:

 

- Pháp Loa, Pháp Không, Pháp Đăng, Pháp Tràng, Pháp Cổ…

-Bảo Sát, Bảo Phác…

- Hương Tràng, Hương Sơn, Huệ Nghiêm, Mật tạng… Đại sĩ Trúc Lâm có những tác phẩm:

-Đại hương hải ấn thi tập.

-Thạch thất mỵ ngữ.

-Tăng già toái sự.

-Hành trạng Thượng sĩ Tuệ Trung (viết trong sách “Tuệ Trung ngữ lục”).

-Trần Nhân Tông thi tập (người đời sau biên tập lại).

-Bộ Trung Hưng thực lục (Trần Nhân Tông ra lệnh cho các đại thần biên soạn).

 

Các tác phẩm của Trúc Lâm đã bị thất lạc, hiện chỉ còn thấy: Hành trạng Thượng sĩ Tuệ Trung trong sách “Tuệ Trung ngữ lục”, hơn 30 mươi bài thơ, đặc biệt nhất là hai bài “Cư trần lạc đạo phú” và “Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca “ (viết bằng chữ Nôm), cùng một số ngữ lục (những câu vấn đáp về Thiền học).

 

(Xem thêm về “Tư tưởng thiền học và các tác phẩm của Trần Nhân Tông” trong “Lịch sử Phật giáo đời Trần” của Nguyễn Hiền Đức).

 

Đại sĩ Trúc Lâm đã mở ba giới đàn:

 

-Tại chùa Chân Giáo trong đại nội.

-Tại chùa Báo Ân ở huyện Siêu Loại.

-Tại chùa Phổ Minh ở phủ Thiên Trường.

 

Vua Trần Anh Tông đúc hai tượng của Trúc Lâm bằng vàng, thờ ở chùa Vân Yên và chùa Báo Ân (huyện Siêu Loại).

___________________

http://www.daophatngaynay.com

ĐÔI NÉT VỀ TAM TỔ HUYỀN QUANG

Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là một dòng thiền mang bản sắc của dân tộc Việt Nam, sức sống của nó đã vang vọng vào cuộc đời, thắp sáng ngọn đèn “phản quan tự kỷ”, đồng thời soi đường cho những ai còn lạc bước lợi danh. Từ trên đỉnh núi Yên Tử hùng vĩ, vẫn còn thoáng hiện đâu đó, một bóng người lặng lẽ lên núi, bỏ lại sau lưng những áo mão cân đai, thoát ra khỏi ngục tù hoàng cung, cắt đứt những buộc ràng của cung tần mỹ nữ. Thế rồi, giữa sự u tịch của cuộc sống núi rừng, giữa sự giá buốt của bầu trời đêm đông, vua Trần Nhân Tông đã tỏa sáng như vì sao, nhận ra chính mình rõ suốt xưa nay, từ đó làm nên trang sử thiền vẻ vang cho dân tộc.

 

 

Trong lúc cuối đời, Sơ Tổ Trúc Lâm đã đem mạng mạch của dòng thiền Trúc Lâm truyền trao cho Nhị Tổ Pháp Loa. Từ một cậu bé sinh ra trong làng quê Cữu La tỉnh Hải Dương, từ một chàng thanh niên trưởng thành bên dòng sông Nam Sách, để rồi hoá thân làm chú sa di theo hầu Sơ Tổ. Không ai có thể ngờ được, Chú sa di này lại có thể biến thành bậc long Tượng của Thiền môn. Qua mấy lần thưa thỉnh, trải mấy phen trình kệ, chú đã được Sơ Tổ phủi sạch tri kiến, dồn vào lối cụt, buộc phải tự tham. Lúc đó đầu óc chú nặng trĩu, vì không tìm ra giải đáp, nghi tình đóng băng, thức tình chết lặng, màng đêm đã phủ xuống, rét buốt lại bao trùm. Không gian lúc nữa đêm dường như thu nhỏ, thời gian trong nhịp canh tàn chợt đứng yên. Đúng vào lúc giao thoa của đất trời, bông đèn tàn bỗng rụng xuống, chú sa di vén sạch mây mù, triệt ngộ bản tâm, xứng đáng trở thành Nhị Tổ, kế thừa sự nghiệp của thiền phái Trúc Lâm.

 

Sau đó, Thiền sư Pháp Loa đem cả vận mạng của Tông phái, giao lại cho Tam tổ Huyền Quang. Lúc đầu Sư xuất gia tu hành làm thị giả cho Sơ Tổ, được pháp hiệu là Huyền Quang. Y theo lời phó chúc của Sơ tổ sư theo hầu nhị Tổ Pháp Loa. Về sau Sư làm trụ trì ở chùa Vân Yên (nay là chùa Hoa Yên) trên núi Yên Tử, vì ngưỡng mộ sở học uyên bác của Sư, học chúng ở bốn phương tụ hội về tham vấn rất đông.

 

Thế rồi trời nổi cuồng phong, đất dấy bụi bặm, lòng người khởi hoài nghi, khiến sư phải một phen điêu đứng. Vì muốn thử lòng Sư còn vẩn đục hay không, vua Minh Tông sai Điểm Bích tìm đủ cách khiêu gợi nhưng chẳng thể nào khiến Sư khởi tâm tà, cuối cùng Điểm Bích đã dùng man kế lợi dụng lòng từ bi của Sư, rồi về triều tâu dối với vua, khiến cho Sư mang tai tiếng với nữ sắc. Nhưng sau cuộc lễ chẩn tế của Sư, thấy sự linh nghiệm lạ thường, nhà Vua không còn nghi ngờ.

 

Mặc dù sau cuộc lễ chẩn tế, hiển bày những linh nghiệm, Vua Minh Tông chẳng còn nghi ngờ đối với Sư, nhưng thế hệ ngày nay vẫn đặt nghi vấn. Vì sao sự trong sạch của Sư lại phải dựa vào cuộc lễ chẩn tế mang đầy màu sắc thần bí? Nếu thật như thế có trái ngược với tông chỉ thiền phái Trúc Lâm hay không? Ở phương diện khác, trong sử liệu lại không có nhắc đến thời kỳ ngộ đạo, chỉ khen ngợi Sư là người quảng học đa văn. Thế thì trọng trách kế thừa Tổ vị của Sư không phải bắt đầu từ sự khai ngộ, mà là sự uyên thâm Phật học. Còn một vấn đề nữa hết sức nan giải, đó là sau thời kỳ Tam Tổ Huyền Quang, trong sử liệu không có nhắc đến sự trao truyền y bát, kế thừa tâm tông. Khiến cho sự truyền đăng tục diệm dường như tắt lịm. Nguyên nhân đứt đoạn việc truyền thừa là do ai?

 

Những học giả cận đại có nhận xét tương đối khách quan. Họ cho rằng Nhị Tổ Pháp Loa đã đem trọng trách vô cùng nặng nề, đặt lên vai của một cụ già 77 tuổi, thì làm sao có thể đảm đương việc kế thừa tông phong một cách chu toàn, làm sao có thể thắp sáng ngọn tâm đăng cho thế hệ mai sau khi mà sức cùng lực tận?

 

Nhưng nếu chỉ có một chuyện này sẽ không đủ sức làm sáng tỏ vấn đề vì sao dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử đến đời thứ ba thì không có người kế thừa. Phải chăng vào thời điểm đó không có ai ngộ đạo? Hoàn toàn không đúng! Bởi vì sau ngài Huyền Quang còn có Quốc sư An Tâm, Quốc Sư Tĩnh Lự, Quốc Sư Vô Trước… Nhưng tại sao trong sử liệu không ghi chép về việc kế thừa Tổ vị? Phải chăng vấn đề này có liên quan đến ý thức hệ tôn giáo, và còn nhiều việc phức tạp khác, chúng ta cần phải tìm hiểu cho thấu đáo.

 

Trong quyển “Tam Tổ Trúc Lâm giảng giải”, Hòa Thượng có giải thích lý do vì sao đến ngài Huyền Quang khiến cho dòng thiền Trúc Lâm xem như chấm dứt?

 

Lý do thứ nhất thiền sư Huyền Quang được ngài Pháp Loa trao tâm kệ và y bát, để nhận trách nhiệm làm tổ thứ ba của hệ phái Trúc Lâm, lúc đó Ngài đã 77 tuổi. Một người đã vượt qua ngưỡng cửa 70 sẽ cảm thấy vô cùng mệt mỏi đối với công việc, nhất là phải gánh vác trọng trách của một người lãnh đạo Tăng đoàn. Ngài than trong bài kệ “Nhân sự đề cứu lan tự ”.

 

Âm:

Đức bạc thường tàm kế Tổ đăng,

Không giao Hàn Thập khởi oan tăng.

Tranh như trục bạn qui sơn khứ,

Điệp chướng trùng sơn vạn vạn tằng.

 

Dịch:

 

Đức mỏng thẹn mình nối Tổ đăng,

Luống cho Hàn Thập dấy hờn căm.

Chi bằng theo bạn về non quách,

Núi chất chập chùng muôn vạn tầng.

(Trích thơ trong “Tam tổ Trúc Lâm giảng giải”)

 

Trong bài kệ này, Ngài tự cho rằng không xứng đáng kế thừa Tổ đăng, khiến cho hai vị Hàn Sơn, Thập Đắc nổi giận, thôi thì theo bạn về núi tu hành, nơi đó có núi chập chùng cao muôn vạn tầng. Đó là tâm trạng mệt mỏi của một người khi nhận một trách nhiệm quá lớn. Tuổi càng lúc càng già, sức khỏe càng lúc càng cạn kiệt, cho nên ngao ngán muốn giao lại cho người khác để về núi ẩn tu.

 

Lý do thứ hai là vào thời điểm đó vua Trần Nhân Tông xuất gia, cho nên dân chúng rất quý trọng chư tăng, chính vì như thế, khi người nào gặp cảnh khó khổ, cũng thích vào chùa tu cho đỡ vất vả. Sử ghi năm 1344 do mất mùa đói rét nên có 6129 người đi tu. Như vậy, người tu không có chí thoát trần cầu thành Phật, mà tu để lánh nạn đói thiếu nên trở thành tệ nạn trong chốn thiền môn.

 

Lý do thứ ba là vào thời điểm đó đang có sự tranh chấp ý thức hệ giữa Phật và Nho. Cuối đời Trần các Nho sĩ đã giữ những chức vụ quan trọng trong triều đình. Lúc đó tình hình Phật giáo đang trên đà xuống dốc, phía Đạo Nho thường vạch ra cho nhà vua thấy điều xấu tệ của những người theo Phật giáo. Từ đó nhà vua mất niềm tin, uy tín Phật giáo xuống thấp.

 

Lý do thứ tư, Vua là vị tổ sáng lập ra thiền phái Trúc Lâm, như vậy Phật giáo phát triển là nhờ vào thế lực của nhà Trần. Nhưng khi chuyển qua nhà Hồ thì Phật giáo hết chỗ dựa. Cho nên những vị tăng được giao trách nhiệm lo cho giáo hội Trúc Lâm thời đó đành phải ẩn trong rừng núi, thành ra hệ phái này không ai nhắc đến. Mặt khác, Phật giáo cũng có những kỳ tích đáng được đưa vào sử liệu, nhưng các nhà viết sử không có công tâm ghi chép.

 

Như vào niên hiệu Vĩnh Trị, năm 1678 Vua Lê Hy Tông ra lệnh đuổi hết Tăng Ni về núi rừng. Ngài Tông Viễn biết được tin này, liền rời chốn thâm sơn đến đất thần kinh tìm cách cảnh tỉnh nhà vua, cứu vãn Phật giáo qua cơn pháp nạn. Ngài đã dùng phương tiện dâng ngọc quí để vua Lê hồi tâm thức tỉnh. Sau cùng vua Lê cũng nhận ra được lỗi lầm của mình, tự nghĩ Đạo Phật là viên ngọc quí, chẳng lẽ trong nước không biết dùng. Tăng Ni hay khuyên người làm thiện tại sao lại vất bỏ đi? Người đem Phật pháp khai hoá dân chúng cũng là giúp cho triều đình trị dân. Sau đó nhà vua xem ngài Tông Viễn như một Quốc Sư, thu hồi lệnh trước kia, để Tăng Ni trở về bổn tự của mình, tùy duyên giáo hóa. Đồng thời nhà vua còn phát tâm tạc hình của mình quì mọp để tượng Phật trên lưng, một hình thức sám hối được truyền tụng đến ngày nay. Hình ảnh hiện còn thờ tại chùa Hồng Phúc (tức chùa Hòe Nhai).

 

Thế nên, sử liệu của Phật giáo vào đời Lê rất nghèo nàn, một phần do các nhà viết sử không ghi chép, một phần do nhà Minh trong lúc cai trị nước ta đã thiêu hủy gần hết. Người sau nghiên cứu Phật Giáo, cứ đinh ninh Thiền Phái Trúc Lâm dường như đã chấm dứt, nhưng trên thực tế, sau Tam Tổ Huyền Quang vẫn còn những bậc thạc đức chân tu. Trong sách Đại Nam Thiền Uyển Truyền Đăng Tập Lục (quyển hai), Hòa Thượng Phúc Điền ghi lại 23 vị tổ Trúc Lâm Yên Tử được truyền thừa:

 

1. Hiện Quang Tổ Sư

2. Viên Chứng Quốc Sư.

3. Đại Đăng Quốc Sư.

4. Tiêu Dao Tổ Sư.

5. Huệ Tuệ Tổ Sư.

6. Nhân Tông Tổ Sư.

7. Pháp Loa Tổ Sư

8. Huyền Quang Tổ Sư.

9. An Tâm Quốc Sư.

10. Tĩnh Lự Quốc Sư.

11. Vô Trước Quốc Sư.

12. Quốc Nhất Quốc Sư.

13. Viên Minh Tổ Sư.

14. Đạo Huệ Tổ Sư.

15. Viên Ngộ Tổ Sư.

16. Tổng Trì Tổ Sư.

17. Khuê Thám Quốc Sư.

18. Sơn Đằng Quốc Sư.

19. Hương Sơn Đại Sư.

20. Trí Dũng Quốc Sư.

21. Tuệ Quang Tổ Sư.

22. Chân Trú Tổ Sư.

23. Vô phiền Đại Sư.

 

Căn cứ vào sự truyền thừa này, sau Tam Tổ Huyền Quang vẫn còn 15 đời nữa, chứ không phải là chấm dứt như bao nhiêu người đã nhận xét. Bởi vì bối cảnh lịch sử lúc đó không cho phép các Ngài xuất đầu lộ diện tự nhận là kế thừa Tổ vị của dòng thiền Trúc lâm. Thêm vào đó, trải qua thời kỳ chiến tranh sử liệu bị mất mác thất lạc, cho nên chúng ta không thể nào thấy được sự truyền thừa liên tục rõ ràng. Tài liệu cổ xưa mà hiện nay các nhà nghiên cứu thường y cứ vào, đó là quyển “Tổ Gia Thực Lục”. Nhưng quyển sách này không ghi chép ngài Huyền Quang xuất gia với ai vào lúc nào, lý do ngộ đạo và khoảnh khắc được truyền tâm ấn ra sao? Thậm chí những lời khai thị chúng tăng, cho đến cuối đời Ngài đã truyền tâm ấn cho ai, đều không thấy nhắc đến. Câu chuyện ngài Huyền Quang làm lễ chẩn tế xuất hiện những thần bí, cũng từ trong quyển sách này trích dẫn ra. Cho nên trong quyển “Tam Tổ Trúc Lâm Giảng Giải” Hòa Thượng Trúc Lâm Phụng Hoàng đã nhận xét: “bản Tổ Gia Thực Lục này, có lẽ do người trong gia tộc biên soạn, chớ không phải là một đệ tử kế thừa ghi lại ngữ lục của Thầy.”

 

Qua lời khai thị của Hòa Thượng, chúng ta có thể cảm nhận một Tam Tổ Huyền Quang không còn bị ngộ nhận vì sao không đem tâm tông truyền lại cho đời sau. Một Thiền phái Trúc Lâm thuần túy Phật giáo, không pha trộn tín ngưỡng của dân gian, không bị mờ nhạt bởi truyền thống ngàn đời của gia tộc, mà nó vẫn còn lan tỏa đến hôm nay. Bởi vì sự ghi chép sử liệu trong “Tổ Gia Thực Lục” mang đầy tính gia tộc dân gian, chứ không phải là một người đệ tử ghi lại Ngữ lục của Thầy, nên hành trạng của Thiền sư mà lại không ghi lý do ngộ đạo và lời khai thị, mà chỉ ca ngợi việc quảng học đa văn, chú trọng những điều thần bí. Mặc dù trong quyển “Tổ Gia Thực Lục” không có ghi lại khoảnh khắc ngộ đạo của Tam Tổ Huyền Quang, nhưng chúng ta thử đọc bài thơ của Ngài.

 

(Hoa tại trung đình, nhân tại lâu,

Phần hương độc tọa tự vong ưu.

Chủ nhân dữ vật hồn vô cạnh,

Hoa hướng quần phương xuất nhất đầu)

 

Dịch:

 

Người ở trên lầu hoa dưới sân,

Vô ưu ngồi ngắm khói trầm xông.

Hồn nhiên người với hoa vô biệt,

Một đóa hoa vừa mới nở tung.

 

(Trích Tam Tổ Trúc Lâm Giảng Giải, Nguyễn Lang dịch thơ.)

 

Nội dung của bài thơ này, diễn tả người và cảnh không khác biệt, thể hiện tâm và cảnh nhất như, lúc đó một đóa hoa vừa nở. Đóa hoa này đâu chẳng phải là cái nhìn của người đã khai ngộ.

 

Tóm lại, Thiền phái Trúc Lâm truyền đến Tam Tổ Huyền Quang thì trong sử liệu không nhắc đến người kế thừa Tổ vị. Nhưng sức sống của Thiền phái Trúc Lâm vẫn luôn cuộn chảy như dòng sông xuôi về biển cả, vẫn còn đó những hành trạng đã vang bóng một thời, vẫn còn đó những chứng tích vẻ vang của một triều đại từng chấn hưng Phật giáo. Thế thì tại sao chúng ta không chịu tiếp bước con đường của người xưa? Tại sao chúng ta không tìm lại mình qua dấu vết của thiền sử Trúc Lâm? Để dòng thiền này sẽ sống dậy sau thời gian dài ngủ vùi trong quên lãng. Từ đó chúng ta có thể ngẩng cao đầu tự hào một dòng thiền chính thống của dân tộc. Một ngọn đuốc tâm tông, một hương thiền Tổ vị, một tư chất phi phàm, sẽ hội tụ một dòng thiền Việt Nam lưu truyền đến ngàn sau.

 

-------***-------

 

Lân Sự Cảnh Quan

(Chùa lân - Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử)

 

Long động, Lân uy, Phượng dựt thùy

Linh Qui, Hồng ngọc, Phổ quang huy

Phật đô Việt quốc miên trường thịnh

Tứ hải nhân sinh ngưỡng vọng kỳ

 

Tạm Lược Dịch

 

Động rồng, Lân trấn, cánh phượng che

Rùa thiêng, ngọc quý chiếu sáng lòe

Phật cảnh Việt Nam nghìn năm thịnh

Lòng dân bốn bể thiết tha về

 

Ngày 2 tháng 6 năm 2008 (29/4 năm Mậu Tý)

Hòa thượng Pháp sư Thích Huệ Đăng

ở chùa Sắc tứ minh thiện, tỉnh Khánh Hòa

cảm tác tại Chùa Lân, ở chốn Tổ Trúc Lâm Yên Tử.

Hòa Thượng Huệ Đăng cảm tác.

____________

http://www.thuongchieu.net

VỀ HUẾ ĐÁNH TIẾNG CHUÔNG HÒA BÌNH

Một người bạn vong niên, gia đình có đến 5 đời ở Huế gợi ý giờ đến Huế nên đến khu Trung tâm Văn hóa Huyền Trân để đánh những tiếng chuông Hòa Bình. Tôi gật đầu. Cuộc hành trình bằng xe đạp hướng về núi Ngũ Phong bắt đầu…

 

Trung tâm Văn hóa Huyền Trân


Anh bạn vong niên của tôi kể rằng thuở xưa, Vua Chiêm Thành Jaya Simhavarman III (Chế Mân) để cưới được Công chúa Huyền Trân đã đem hai châu Ô, Lý dâng lên vua Trần sính lễ. Vâng lời vua cha là Trần Nhân Tông và vua anh Trần Anh Tông, Huyền Trân đã gác tình riêng, gạt lệ xuống thuyền theo chồng, lập mối hòa hiếu và mở mang bờ cõi của đất nước về phương Nam. Đất Thuận Hóa - Phú Xuân - Thừa Thiên Huế cũng được khai sinh từ đó, đến nay đã hơn 700 năm. Để ghi nhớ công ơn của công chúa, triều đình nhà Nguyễn (1802-1945) đã lập miếu Đại Đế Vương ở làng Lịch Đợi, phường Đúc, TP. Huế, thờ các vị khai quốc công thần, trong đó có Công chúa Huyền Trân. Tiếc là miếu thờ này ngày nay không còn. Cho đến đầu năm 2006, Trung tâm Văn hóa Huyền Trân được khởi công xây dựng. Một năm sau đó, ngày 26.3.2007, công trình khánh thành nhân kỷ niệm tròn 700 năm Thuận Hóa - Phú Xuân. Lòng tri ân của người dân Huế nói riêng và của người dân Việt Nam nói chung với Công chúa Huyền Trân đến khi đó mới thực sự được cụ thể hóa bằng vật chất.

 

Tượng công chúa Huyền Trân

Chính điện thờ Công chúa Huyền Trân


Trung tâm Văn hóa Huyền Trân rộng đến 28ha, nằm dưới chân núi Ngũ Phong thuộc thôn Ngũ Tây, xã Thủy An (nay là phường An Tây), TP. Huế. Đây là khu vực đồi núi thoai thoải, rừng thông xung quanh, bốn mặt là trùng điệp ngàn non. Không gian thâm nghiêm, kỳ vĩ, phù hợp với những công trình văn hóa mang tính tâm linh, về nguồn. Từ ngoài dẫn vào là bốn trụ biểu lớn, dưới chân có nghê đá phục chầu, tiếp đến là ba bậc sân rất rộng lát gạch Bát Tràng, có hồ nước và cầu bắc qua tương tự như cầu Trung Đạo bắc qua hồ Thái Dịch trước điện Thái Hòa của Đại Nội Huế; tiếp nữa là tam quan, trong cùng là đền thờ Huyền Trân công chúa. Tất cả nằm trên một trục thẳng. Bên trong đền thờ có pho tượng Công chúa Huyền Trân ngồi trên ngai được đúc bằng đồng. Tượng cao 2,37m, do các nghệ nhân đúc đồng nổi tiếng của phường Đúc, TP. Huế cẩn tác. Tiếp theo đền thờ Huyền Trân là đền thờ vua Trần Nhân Tông, phụ hoàng của Công chúa Huyền Trân, là vị vua anh minh, có công lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, là vị Tổ của Thiền phái Trúc Lâm. Ở đây có bức tượng thờ vua Trần Nhân Tông bằng đồng đỏ nguyên chất, cao 3m, nặng 2 tấn được đúc theo phiên bản lấy từ đền thờ các vua Trần cũng do các nghệ nhân đúc đồng tại phường Đúc Huế thực hiện. Trước ngôi đền uy nghi là đôi rồng chầu đạt kỷ lục dài nhất Việt Nam.


Cặp rồng đá trước sân điện thờ Đức vua Trần Nhân Tông đạt kỷ lục dài nhất Việt Nam


Điện thờ Đức vua Trần Nhân Tông


Trong khuôn viên Trung tâm Văn hóa Huyền Trân còn có nhiều công trình kiến trúc lớn nhỏ khác, nổi bật là tháp chuông Hòa Bình cao 7m được dựng trên đỉnh Ngũ Phong với chuông đồng nặng 1,6 tấn cũng do các nghệ nhân phường Đúc thực hiện. Trên đường dẫn lên tháp chuông Hòa Bình, ta còn gặp bức tượng Phật Di Lặc khổng lồ với nụ cười viên mãn thường trực trên môi. Bát nhang trước tượng luôn nghi ngút trầm hương của du khách thập phương kính cẩn dâng với nguyện ước vạn sự cát tường như ý…

 

Tháp chuông Hòa Bình


Tự tay cầm dùi đánh những tiếng chuông vào chuông Hòa Bình trên đỉnh núi Ngũ Phong, thấy lòng tự nhiên thanh thản. Ngồi nói chuyện với cụ già canh giữ tháp chuông, càng thấy nơi đây bình yên đến lạ. Giữa ngàn thông reo, nhìn về phía Nam, dãy Bạch Mã ẩn mình trong mây trời và sương núi, uy nghi nhưng cũng có chút gì thân thương lắm. Quay lại đằng sau lưng, phóng tầm mắt ra xa, núi Ngự vẫn làm nhiệm vụ là bức bình phong bảo vệ thành phố Huế. Cầu mong sao những tiếng chuông Hòa bình nơi đây vang lên sẽ mang lại niềm hạnh phúc, yên bình cho khắp năm châu bốn bể. 

______________

 

Nguyễn Thành Giang (Lao Động)

Nguồn: www.giacngo.vn

Ý NGHĨA TÙY DUYÊN

 

Hôm nay chúng tôi sẽ nói chuyện với quí Phật tử về đề tài "Ý nghĩa tùy duyên". Ý nghĩa này rất sâu xa không phải tầm thường, và lâu nay nó cũng đã bị lạm dụng nhiều.

 

Về ý nghĩa tùy duyên, thì đây là một chỗ sống, không phải là chỗ lý luận hay chỗ bắt chước, bởi vì khi chúng ta bắt chước thì nó không còn là tùy duyên nữa, bởi khi bắt chước là nó có cái khuôn rồi. Cho nên ý nghĩa này rất quan trọng mà lâu nay nhiều người lại hiểu lầm rồi cũng dễ lạm dụng nó nữa.

 

Như vậy muốn tùy duyên thì thế nào là biết tùy duyên cho đúng ý nghĩa ?

 

1- Thứ nhất là phải thấy đúng lý mới tùy duyên được, còn chưa thấy đúng lý mà nói tùy duyên thì chỉ là lạm dụng, là hiểu lầm vậy thôi. Nghe nói tùy duyên, rồi mặc tình buông thả theo duyên thì tùy duyên kiểu đó là chạy theo cảnh chớ không phải tùy duyên, đó là bị duyên nó cuốn, nó lôi đi. Tùy duyên theo kiểu đó gọi là "tùy duyên tiêu sự nghiệp", tiêu tan sự nghiệp hết, rất nguy hiểm !

 

Cho nên muốn sống, muốn thấy được đúng ý nghĩa tùy duyên thì phải thấy đúng lý. Trong cái thấy đúng lý này, thứ nhất là cần rõ lý Tánh không của Bát-nhã.

 

Tánh không là sao? Bát-nhã dạy tất cả các pháp trên đời này "không có một pháp gì là thật cố định", nghĩa là từ bản thân của mình cho đến sự vật bên ngoài đều là duyên khởi. Duyên khởi tạm có cho nên gọi là Tánh không, là không có tánh cố định, không có Thể thật của nó. Chính vì Tánh không mới tùy duyên mà hiện khởi tất cả được, chớ nó cố định thì đâu còn tùy duyên. Ví dụ cố định là một khối cứng thì đâu thể tùy duyên mà biến thành các vật khác được.

 

Cũng giống như cái gương, nó không có một hình gì trong đó, cho nên nó có thể hiện đủ tất cả mọi hình bóng, nếu nó có một cái hình gì cố định bên trong, thí dụ hình tròn, thì nó không thể hiện được hình vuông, mà vuông tròn đẹp xấu gì cũng hiện được hết, là vì nó không có một cái gì trong đó, không cố định là cái gì.

 

Hoặc như hư không, hư không không phải là cái gì hết, cho nên nó cũng hiện được đủ mọi thứ.

 

Rồi gần nhất là cái gì? - Tâm của mình. Tâm mình không là một cái gì hết, cho nên nó mới nghĩ được đủ tất cả, nếu nó cố định là một cái gì rồi, chắc chắn nó không thể nghĩ tất cả được. Mà nó nghĩ đủ hết, cái gì nó cũng nghĩ tới, kể cả những cái gọi là không có, nó cũng nghĩ ra được nữa bởi vì nó không có gì hết.

 

Qua điểm nữa là, ngay thân mình là thân năm uẩn thì Tâm kinh Bát-nhã nói “ngũ uẩn giai không”, năm uẩn đều Tánh không, không thật, cho nên nó mới tùy duyên hiện được lớn được nhỏ, được tốt được xấu, mập ốm vui buồn, trời người nó cũng hiện được đủ hết, chính vì nó Tánh không, không cố định là gì. Nếu nó cố định, thí dụ năm uẩn này cố định là người rồi, tức nhiên nó không thể hiện thành trời được, cũng như nó cố định là mập rồi thì không thể hiện ốm được. Do nó không cố định gì, nên nó hiện được tất cả. Bởi vậy Bồ-tát Quán Thế Âm có ba mươi hai Ứng thân, có khi hiện nam hiện nữ, rồi hiện Tỳ-kheo, hiện Tỳ-kheo ni, hiện vua hiện quan, hiện đủ hết, làm sao hiện được như vậy ?

 

Do đó xét cho kỹ, rõ ràng không có một cái gì cố định, vậy thì mình bám chặt một chỗ, một cái làm gì để chịu khổ ? Như vậy cho thấy, hiểu được tùy duyên thì phải thấy lý Tánh không. Rõ được Tánh không của các pháp rồi thì tùy duyên, lúc đó luôn luôn có ánh sáng Bát-nhã đi theo, nên tùy duyên mà không có lầm lẫn. Còn nhắm mắt tùy duyên là đi xuống hố, mình phải thấy rõ cái ý nghĩa đó, thí dụ như người mù nhắm mắt đi bừa là phải lọt hố thôi.

 

Nhớ lại câu chuyện của ngài Tăng Triệu khi bị án tử hình, Ngài xin phép hoãn lại bảy bữa để viết cho xong bộ Luận Bảo Tạng rồi Ngài sẽ chết. Thử hỏi tới lúc đó còn tâm hồn gì ngồi để mà viết luận! Nhưng mà Ngài thấy chuyện đó như là chuyện chơi thôi, và đến trước khi chết Ngài còn đọc bài kệ :

 

Ngũ ấm nguyên phi hữu

Tứ đại bản lai không

Tương đầu lâm bạch nhẫn

Nhất tự trảm xuân phong.

 

Tức là:

 

Năm ấm nguyên chẳng có

Bốn đại xưa nay không

Đem đầu đến dao bén

Giống hệt chém gió xuân.

 

Có ai bị chém bị chết trong đó đâu? Cho nên Ngài thản nhiên coi như không có chuyện gì. Nếu mình thì lúc đó rụng rời tay chân, còn tâm hồn đâu mà ngồi viết sách, huống nữa là tới khi sắp chết còn nói kệ nữa! Như vậy đó mới thật sự là biết tùy duyên. Và tùy duyên kiểu đó dễ bắt chước không ?

 

Bởi vì Ngài thấy rõ năm uẩn bốn đại đều là không, đều là vô ngã hết, không có cái ta thật, thì trong đó cái gì chết, cái gì bị chém? Không thấy có cái gì bị chém thì đâu có gì mà khổ ? Còn mình vì thấy có “cái ta” bị chém bị chết, cho nên mới có khổ.

 

Do Ngài thấy rõ không có gì thật hết, bởi vậy hễ còn duyên thì làm Phật sự tiếp, hết duyên thì thôi ra đi, chớ không cố ghì lại một chỗ để chịu khổ. Còn mình vì thấy có cái ta trong đó cho nên cố ghì lại để sống, ghì không được thì phải kiếm cái ta mới ráp vào, chính cái ta mới đó lại đi trong sanh tử. Hiểu như vậy, thấy được cái lý như vậy thì mới khéo biết tùy duyên. Đó là điểm thứ nhất là phải thấy rõ được Tánh không.

 

2- Thứ hai, tiến bước nữa là nhận ra Bản tánh chân thật của mình, nghĩa là thấy được, nhận rõ được Bản tánh chân thật luôn luôn hiện hữu nơi mình, cho nên mình tùy duyên là để chi? - Tùy duyên là để sống trở về Bản tánh chân thật đó chớ không sanh những niệm, những tâm hoặc lấy hoặc bỏ, chỉ thuận với tánh để sống, làm sao không để mất nó, đó là chỗ sống của mình rồi.

 

Như bài kệ của vua Trần Nhân Tông, nhiều người nghe quen quá thành ra xem thường:

 

Ở đời vui đạo hãy tùy duyên

Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền

Trong nhà có báu thôi tìm kiếm

Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền.

 

Nghĩa là sao ? Nghĩa là ở đây nhận ra Bản tánh chân thật của mình hay của báu sẵn có trong mình rồi, thì khỏi cần phải chạy, phải tìm kiếm đeo đuổi cái gì bên ngoài nữa, nghĩa là không để cho cảnh nó lôi mình, nó làm mất mình. Như vậy mình sống ngay trong lòng đời này, ở giữa thế gian này mà vẫn vui với đạo, đó là biết tùy duyên, mà tùy duyên như vậy là để làm chi? - Là để sống với Bản tánh của mình, sống trở về với Bản tánh chân thật, ngoài ra không có gì quan trọng. Đó gọi là tùy duyên sống với Bản tánh, tiêu nghiệp cũ mà không tạo thêm nghiệp mới.

 

Như vậy tùy duyên mà thường sáng tỏ không có mê, không có mờ, tùy duyên mà không đặt thành một “cái ta” trong đó. Đó là điều quan trọng, còn tùy duyên mà có cái ta trong đó thì không phải tùy duyên. Cũng như ở đây “đói đến thì ăn, mệt ngủ liền” nhưng nếu còn có cái ý niệm là đói nên ăn hay không nên ăn thì sao? - Đó là chen cái ta vào trong đó, tức là cái gì nên ăn hay không nên ăn ? Đó là hết tùy duyên. Cho nên tùy duyên ở đây là thuận theo Tự tánh để sống trên đời, để cho nó luôn luôn được hiện hữu khắp nơi, đó mới là tùy duyên chân thật.

 

Ngài Sùng Tín sau khi ngộ đạo, Ngài hỏi vị thầy là Thiền sư Đạo Ngộ: “Làm sao để bảo nhậm ( giữ gìn ) ?” Ngài Đạo Ngộ bảo rằng: “Mặc tánh tiêu dao, tùy duyên phóng khoáng, chỉ hết phàm tình, không thánh giải khác.” Nghĩa là mặc tình thuận theo cái tánh đó mà tiêu dao tự tại, tùy duyên phóng khoáng thôi, chỉ cốt làm sao hết được cái tình phàm này, tình mê này chớ không có thêm một cái kiến giải thánh gì khác, không thấy có chứng có đắc gì khác nữa, đó là tùy duyên. Tùy duyên như vậy làm sao bắt chước đây ?

 

Chỗ này là phải sống, biết rõ mình có cái chân thật rồi thì sống tùy duyên, duyên đến thì tiếp, duyên qua thì thôi, không có cố chấp, không có mong cầu thêm nữa. Đó là vì có được chỗ sống vững vàng trong này rồi, nên mới tùy duyên được như vậy, mới tiêu được những nghiệp cũ và nghiệp mới không tạo thêm.

 

Thiền sư Thiên Y Nghĩa Hoài có bài kệ:

 

Nhạn quá trường không

Ảnh trầm hàn thủy

Nhạn vô di tích chi ý

Thủy vô lưu ảnh chi tâm.

 

Giống như con nhạn bay trên không, nhạn bay qua thì bóng hiện dưới nước, nhạn không có ý lưu dấu vết lại dưới nước. Và bay qua rồi thì bóng mất, nước cũng không có tâm giữ bóng con nhạn lại. Đó là tùy duyên, nhạn bay qua là duyên đến thì bóng nó hiện trong nước, duyên qua rồi thì nước không lưu bóng lại. Còn mình thì sao? Có khi duyên chưa đến mà kêu nó đến! Rồi duyên qua thì giữ lại không cho nó qua! Chính vì vậy cho nên khổ. Ngay trong lúc ngồi thiền cũng còn muốn giữ lại nữa. Ngồi thiền nhớ lại, giữ lại, lưu lại trong này, đó là không biết tùy duyên, còn biết tùy duyên thì tâm lúc nào cũng trong sáng, đâu có cái gì lưu lại trong đó thì có gì mà ngăn ngại ?

 

Có vị Tăng hỏi ngài Triệu Châu:

 

- Thế nào là cầu đá Triệu Châu?

 

Ngài đáp:

 

- Độ lừa độ ngựa.

 

Ở gần chỗ ngài Triệu Châu Tùng Thẩm có cái cầu đá do ông Lý Ưng làm, cầu đá cũng nổi tiếng, cho nên nghe nói tới cầu đá Triệu Châu là ai cũng biết. Nhưng ở đây ông Tăng hỏi “thế nào là cầu đá Triệu Châu” ý lại khác. Ngài đáp : "Độ lừa độ ngựa", độ tức là đưa, đưa lừa đưa ngựa qua hết. Như vậy quí vị hiểu sao là “cầu đá Triệu Châu”? thấy được “cầu đá Triệu Châu” chưa ?

 

Thường nghe hỏi cầu đá, người ta tưởng ngay cái cầu bằng đá. Nhưng ở đây, ý ông Tăng này chuyện đó ai cũng biết rồi, ông cũng ở đó thì ông biết rồi, đâu cần hỏi làm chi nữa. Vậy hỏi cầu đá này là hỏi cái gì? - Đó là chỉ cho cái lý thật. Cho nên ngài Triệu Châu đáp “độ lừa độ ngựa”. Lừa ngựa gì cũng độ hết, đều cho đi qua hết. Lừa là loài vật, ngựa cũng là loài vật mà cái cầu đá độ hết, cho đạp đi qua hết, nhưng cầu đá không phải là lừa, không phải là ngựa, không đồng hóa nó với lừa với ngựa, đó là tùy duyên.

 

Còn mình thì sao ? Độ thì phải độ làm sao? - Phải độ những hạng thượng căn, hạng Bồ-tát chớ lừa ngựa đâu để cho đi qua. Mà không để cho đi qua tức là còn cái ngã trong này, bị cái ngã nó che. Cho nên ở đây muốn thấy lý thật thì phải như vậy, độ lừa độ ngựa, cái gì cũng là tùy duyên hết, cái gì cũng cho đi qua nhưng nó không là cái gì, không đồng hóa với cái gì .

 

Không đòi hỏi theo một cái ngã, không sanh những niệm sanh diệt hay lấy bỏ gì hết, đó là tùy duyên. Còn mình thì phải lựa, độ thì cũng phải lựa, người đó mình thương mình mới độ, còn không thương thì đâu có độ, đó là còn mắc kẹt. Còn ở đây thì độ hết, chỉ thuận theo duyên để sống trở về với Tự tánh, để làm sao cho Tự tánh của mình luôn luôn có mặt, không có vắng, vẫn luôn luôn sáng ngời trong tất cả mọi duyên, đó là khéo tùy duyên, tùy duyên mà đúng lý không lầm lẫn. Như vậy với nghĩa tùy duyên này mình làm được chừng bao nhiêu? Hiểu được như vậy mới thấy nghĩa tùy duyên rất là sâu.

 

3- Một điểm nữa, tùy duyên thì phải hiểu rõ được thế gian là tương đối, đó là lẽ thật của thế gian (thế đế). Thế gian luôn luôn là tương đối, mọi cái có ra đều nằm trong đối đãi hết. Nhưng thấy ở đây không phải là cái thấy hiểu tầm thường, lâu nay người nghe pháp nhiều quá cũng hiểu rồi, cũng thấy rồi nhưng chưa phải. Tức là phải thấy trong lúc mình tu, thấy rõ bằng chính trí tuệ của mình cái đó mới giúp mình sống được. Chớ hiểu theo kiểu ngồi đây hiểu nhưng ra ngoài quên, ngồi đây thì hiểu thế gian tương đối, cái gì cũng đối đãi nhau mới có, không có gì là thật, nhưng khi ra ngoài đụng chuyện thì cái gì cũng thật hết, cái hiểu đó không phải.

 

Cho nên ở đây phải thấy bằng chính trí tuệ của mình. Xét thấy rõ trên thế gian này đều là tương đối hết, thiện đối với ác, phải đối với quấy mà có, cũng như vui đối với buồn mà có, ngay cả thầy đối với trò mà có, không trò thì đâu có thầy, cũng như mẹ đối với con mà có, không con lấy gì có mẹ. Luôn luôn là đối đãi nhau, không có một cái gì đứng riêng, như vậy tại sao mình phải đòi hỏi một chiều? Có nhiều người còn đòi hỏi hơn nữa, đòi hỏi cái toàn mỹ, cái gì cũng phải cho toàn mỹ, toàn vẹn ! Nhưng sự thật thế gian nói toàn mỹ chỉ là nói chơi, không bao giờ có, chỉ tuởng tượng, không thể có cái toàn mỹ nếu chưa sống được với cái chân thật. Thế gian là tương đối thì làm sao có cái toàn mỹ được !

 

Đức Phật có nói bài kệ:

 

Kẻ hơn thì thêm oán

Người thua ngủ chẳng yên

Hơn thua hai đều xả

Ấy được an ổn ngủ.

 

Nghĩa là có hơn thì có thua, làm sao mà toàn mỹ được? Mà chính có hơn có thua, từ đó có oán có hờn, có khổ, có cái này thì có cái kia. Như vậy thì hơn không hẳn là yên, còn thua cũng không hẳn là xong. Thua còn ấm ức trong lòng cũng khổ, như vậy làm sao mà toàn mỹ được? Thường thường mình thích đòi hỏi cái toàn mỹ, sống với ai mình cũng đòi hỏi người đó phải tốt với mình, lâu lâu thấy không tốt thì bực tức, nhưng thử hỏi chính mình có toàn mỹ chưa ?

 

Thế gian là tương đối, tâm người là vô thường, bữa nay như vậy, nhưng mai mốt vô thường nó đổi đâu còn như vậy nữa. Bởi vậy không có cái toàn mỹ, đòi cái toàn mỹ là mê. Bởi vì xét kỹ thì chính mình còn chưa toàn mỹ, ngay nội tâm của mình, có khi còn tự mình mâu thuẫn với mình nữa nói chi tới bên ngoài. Như vậy làm sao muốn mọi người toàn mỹ được, muốn mọi cái bên ngoài toàn mỹ được!

 

Thí dụ bên ngoài coi giống như vui vẻ nhưng có khi đau khổ trong lòng, ngoài làm bộ vui nhưng trong lòng đau khổ, hoặc có lúc thấy giống như muốn xả hết để tu hành nhưng rồi ít bữa đổi ý tiếc thế gian trở lại. Như vậy lúc muốn xả thì ai muốn xả, rồi lúc tiếc trở lại thì ai tiếc, ai chen vào trong đó? - Cũng là trong tâm mình thôi. Chính mình đã mâu thuẫn với mình rồi, hoặc có lúc bữa nay tính đi nghe pháp nhưng rồi lại tính đi chơi, hoặc ngược lại tính đi chơi rồi đổi ý tính đi nghe pháp. Cũng là mình với mình nhưng tại sao nó có cái đó? Như vậy để thấy rằng ngay nơi mình cũng còn mâu thuẫn, vậy làm sao đòi có cái toàn mỹ trọn vẹn bên ngoài được. Đòi không được thì sao? - Khổ, thật là đơn giản!

 

Bởi vậy, ngay như đức Phật mà mình gọi là bậc toàn giác, bậc có công đức phước trí trang nghiêm, nhưng Phật có bị người chê không? Phật cũng còn có người chê nữa, có người chê Phật là bất hiếu bỏ cha bỏ mẹ đi tu, bỏ vợ bỏ con vô rừng. Có người khen thì cũng có người chê. Rồi kẻ uống rượu say sưa có người khen không? Cũng có người khen, đồng bọn khen nhau.

 

Như vậy cho thấy không có cái gọi là hoàn toàn. Bởi vậy Phật mới dạy trong kinh Pháp Cú: “Xưa, vị lai và nay, đâu có cái sự kiện này: người hoàn toàn bị chê, người trọn vẹn được khen.” Ngài nói rằng trong cả ba thời không bao giờ có sự kiện là có người hoàn toàn được khen cũng như có người hoàn toàn bị chê.

 

Do đó chê khen không thành vấn đề. Cho đến được mất cũng vậy, có được là có mất chớ không bao giờ có cái gọi là nguyên vẹn. Biết rõ ý nghĩa như vậy, hiểu được như vậy, mình khéo chuyển thì sống được an vui, còn cố chấp một bên thì khổ, thí dụ cố chấp là phải được cái đó mà nó không được thì khổ.

 

Như bà Tì-xá-khư (Visàkhà), bà là đại thí chủ trong thời đức Phật, một hôm đi nghe pháp, bà cởi chiếc áo choàng rất quí giá cho đứa tớ gái giữ ở ngoài rồi đi vô nghe pháp. Khi ra về không biết đứa tớ gái làm sao mà nó bỏ quên luôn. Mình gặp như vậy thì sao? - Chắc là chửi mắng, đánh đập đứa tớ đó dữ lắm, bởi đây là chiếc áo choàng rất đắt giá. Nhưng với bà thì bà kêu đứa tớ gái lại nói rằng: “Con trở lại tịnh xá kiếm, nhưng tới đó nhớ hỏi xem nếu có vị Tỳ-kheo nào đụng tay tới cái áo rồi thì con đừng lấy về nữa.” Cô tớ gái đi tới hỏi thăm nghe nói ngài A-nan thấy của ai bỏ quên thì Ngài lấy cất giùm rồi.

 

Cô tớ gái về thưa lại, bà nghe như vậy, liền tới bạch với Phật là xin bán cái áo để cúng dường làm một Phật sự gì cho xứng đáng. Phật bảo làm một cái tăng xá để cho chư Tăng ở, bà rất là hoan hỉ. Nhưng cái áo đắt giá quá không ai mua nổi, bà bèn bỏ tiền mua lại cái áo, rồi lấy tiền đó xây tăng xá cho chư Tăng. Khi xây xong đến ngày cúng dường dâng lên Phật, tác bạch xong, bà kêu đứa tớ gái lại nói rằng: “Hôm nay sở dĩ bà được công đức này là cũng nhờ có con, công đức này bà xin chia hai, cho con nửa, bà nửa.”

 

Ai thấy mình làm nổi chuyện đó không? Cái được cái mất mình chuyển một cái thành ra tốt đẹp mà còn vui vẻ nữa. Mất cái áo không buồn, chuyển lại thành được phước lành rồi vui vẻ nữa, mà vui vẻ cả mấy phần trong đó: chư Tăng có tăng xá ở cũng vui, rồi bà được cúng dường hoan hỉ cũng vui, đứa tớ gái cũng được vui vàø ngay cả mình bây giờ nghe kể lại cũng vui theo. Nếu lúc đó mà giận lên chửi mắng đánh đập thì sao? - Chẳng những không vui mà còn tạo thêm cái khẩu nghiệp khổ nữa, rồi cái thân đánh đập người tạo thêm cái thân nghiệp khổ, vậy là khổ lại càng thêm khổ!

 

Cho thấy chỉ vì bám chấp vào cái được, cái mất mà khổ. Bây giờ biết rõ cái mất không thành vấn đề, cho nên chuyển lại thì được vui. Cho nên khéo sống thì được, không cố chấp một bên, cố chấp là chịu khổ. Chính vì vậy trong cuốn Pháp Hoa Đề Cương của Thiền sư Minh Chánh ở Việt Nam có bài kệ nói về ông Thuần-đà:

 

Hay lắm Thuần-đà,

Hay lắm Thuần-đà !

Thôi nói dở, chớ bàn hay,

Dở hay tốt xấu bận lòng chi.

Người muốn tìm khéo trở thành vụng,

Kẻ toan bắn sẻ sói chực hờ.

Công danh cái thế màn sương sớm,

Phú quí kinh nhân giấc mộng dài.

Chẳng rõ xưa nay không một vật,

Công phu luống uổng một đời ai.

 

Thuần-đà là người cúng bữa cơm cuối cùng cho đức Phật trước khi Phật nhập Niết-bàn. Sau này có người phê phán như vậy là ông tổn phước, vì Phật thọ xong bữa cơm của ông rồi Phật tịch. Phật biết vậy nên Phật mới khen, Phật nói hai người có phước đức lớn nhất là người cúng bữa cơm cho Phật trước khi Phật thành đạo, và người cúng bữa cơm cuối cùng trước khi Phật nhập Niết-bàn. Phật khen vậy để ông không có lòng hối hận.

 

Cho nên ở đây ngài Minh Chánh mới lấy việc đó để nói lên ý nghĩa là thế gian tương đối, mình phải vượt qua ý nghĩa tương đối, đừng mắc kẹt trong cái khen chê. Ông nói: “Hay lắm Thuần-đà, hay lắm Thuần-đà! Thôi nói dở chớ bàn hay, dở hay tốt xấu bận lòng chi.” Cái chuyện hay, chuyện dở là chuyện đối đãi thôi, có người khen thì cũng có người chê, đừng bận lòng chuyện đó. Rồi sao? "Người mà muốn tìm khéo thì trở thành vụng", muốn khéo nhưng thành vụng, bởi vì cái khéo ở kế bên cái vụng, cũng như người đang rình bắn chim sẻ nhưng đâu ngờ dưới này có con chó sói nó chực hờ, vừa rớt xuống nó chụp chạy mất. Bắn được con chim sẻ nhưng được đó rồi mất đó, cái được cái mất kề bên nhau.

 

"Công danh cái thế" tức là công danh trùm cả thế gian đi nữa cũng như màn sương sớm vậy thôi, có đó rồi mất đó. Chỗ này mình sống thấy có kinh nghiệm rõ ràng, người đang có tiếng tăm nhưng bỗng bị một nạn gì đó tiêu hết. Cũng như là "phú quí kinh nhân", phú quí làm giật mình người, cũng như giấc mộng vậy thôi. Giàu sang bao nhiêu nhưng mà gặp cơn nạn cũng trắng tay. Chuyện thực tế nó là như vậy.

 

Căn bản là “chẳng rõ xưa nay không một vật” tức là không rõ được cái lẽ thật "xưa nay không một vật" đó thì "công phu luống uổng một đời ai", nghĩa là phải thấu suốt được cái lẽ thật xưa nay đó, sống được chỗ chân thật đó thì mới không luống uổng công phu một đời của mình; còn nếu không cứ bám vào những cái công phu, những cái được mất, những cái đối đãi nằm trong sanh diệt thì rốt cuộc cũng bị sanh diệt thôi.

 

Thí dụ cũng như ở đây, chán thế gian này đi tu, tu rồi cầu lên cõi trời, có hết khổ không? Cầu lên đó ít bữa hết phước cũng rớt trở lại! Vì đó là công phu sanh diệt, cho nên rồi nó cũng lẩn quẩn trong đó. Cần phải thấu rõ chỗ “xưa nay không một vật” đó, sống được với cái đó thì mới vượt ra ngoài cái đối đãi, còn bám chặt vào trong cái đối đãi thì khổ. Mà sở dĩ bám chặt vào trong này là bởi vì sao? - Là bởi thấy có ta cho nên bám chặt vào cái ta đó, rồi mới có khổ, có tức tối, có chửi rủa than trách này nọ.

 

Hiểu rõ được lẽ thật của thế gian là tương đối, là đối đãi thì mình cởi mở được những tình chấp, là biết sống tùy duyên, tùy duyên như vậy là hết khổ. Hiểu như vậy thì tùy duyên mới thật, còn tùy duyên đụng đâu làm đó thì không phải.

 

4- Rồi một điểm nữa, mình hiểu được lý này rồi thì phải biết linh động không cố chấp. Bởi tùy duyên là linh động, là không cố chấp. Mình khổ là vì cố chấp, mà cố chấp là không biết tùy duyên. Đã hiểu rõ được lẽ thật như trên, không có cái gì gọi là toàn vẹn, không có cái gì là cố định thì cố chấp làm gì? Mình làm sao cho cuộc sống linh động sáng ngời, chớ còn khư khư ôm chấp một chỗ, đó gọi là bệnh.

 

Ở trong nhà Nho có câu chuyện: Ông Lưu Ngưng Chi một hôm đang đi thì bất thần có người lại nhận lầm ông mang đôi giày của họ. Giày của mình đang mang mà họ nói mình mang lầm giày của họ thì phải sử xự sao? Ông nghe vậy liền cởi giày đưa cho họ :“Giày của ông thì thôi ông cứ nhận đi”. Nhưng sau đó người này tìm thấy đôi giày của họ, liền vội vàng đem giày trả lại ông nhưng ông nhất định không nhận : “Anh nhận rồi thôi là của anh, tôi không nhận”.

 

Rồi có một trường hợp giống như vậy, ông Thẩm Lân Sĩ một hôm đang đi cũng có người cũng lại nhận lầm ông đi giày của họ, ông cũng cởi ra đưa cho họ. Nhưng sau đó biết lầm, họ tới trả ông thì ông vui vẻ : “Không phải của anh hả, thôi tôi nhận”.

 

Vậy quí vị muốn bắt chước theo ai ? Ông Tô Thức, tức Tô Đông Pha, có lời bình rằng : “Việc này tuy là việc nhỏ mọn, song ở đời ta nên cư xử như ông Lân Sĩ, không nên như ông Ngưng Chi.” Bởi vì sao? Đôi giày của mình đang mang mà có người đến nhận của họ, mình sẵn sàng cởi cho, cái đó là thật quí rồi. Nhưng người ta biết lầm rồi và người ta đem trả thì phải cảm thông nhận cho họ hối lỗi, chớ bây giờ người ta biết lỗi rồi mà mình không tạo cái duyên cho họ sửa, cứ khư khư ôm giữ cái phải của mình hoài thì sao? E có lúc cũng không được phải. Ở đây người ta biết lỗi rồi, biết lầm rồi, thôi thì cứ nhận có phải tốt không, ổn không? Còn mình cứ khư khư không nhận để cho họ hối hận trong lòng hoài thì đâu có tốt. Khéo biết như vậy đó là hiểu được linh động tùy duyên, còn cái kia là cố chấp. Tuy là tốt nhưng mà cố chấp cái tốt thành ra cũng không được trọn tốt.

 

Đó là nói về bên Nho, còn trong nhà thiền thì có Thiền sư Bạch Ẩn Huệ Hạc, sư rất nổi tiếng, ai nấy đều ca tụng sư là một con người rất trong sạch, rất tốt. Ở gần chùa sư có một gia đình bán thực phẩm, một hôm gia đình này phát hiện cô con gái của họ có thai, gia đình nổi giận đánh mắng hỏi ai là tác giả cái bào thai đó thì cô nói là Bạch Ẩn. Cha cô nghe nói vậy, quá giận tìm tới chùa gặp sư. Ông xổ ra đủ những lời nặng nề nhất trên đời. Sư nghe như vậy chỉ nói :“Thế à!” Vậy thôi.

 

Sau khi đứa bé được sanh ra, gia đình này mang tới chùa giao cho sư thì sư cũng nhận. Sau một thời gian nuôi đứa bé sư bị mất hết tiếng tăm, không còn ai nghĩ tới sư nữa.

 

Một thời gian sau, cô gái cảm thấy bị ray rứt trong lòng chịu không nổi, cô mới thú thật là cha đứa bé không phải là Bạch Ẩn mà là một chàng thanh niên bán cá ngoài chợ. Nghe tới đó cha mẹ cô mới bật ngửa, hoảng sợ lật đật tới chùa để sám hối và xin đứa bé trở lại. Lúc đó Thiền sư Bạch Ẩn cũng chỉ nói :“Thế à!” Vậy thôi, đơn giản.

 

Đó là tùy duyên, mà tùy duyên thế này mới thực sự là tùy duyên, tùy duyên cao tuyệt. Được, mất tiếng tăm không thành vấn đề, nhận việc đó coi như tiếng tăm mất hết rồi, như mình thì buồn biết bao nhiêu nhưng với sư chỉ “thế à!” là xong. Bởi vì sư thấy không có gì quan trọng, người nói oan, người bị lầm thì sư cũng vẫn thản nhiên không buồn lòng gì hết. Khi nhận đứa bé sư không buồn giận, mà trả đứa bé cũng không trách mắng,

 

Tùy duyên theo kiểu này thì ở trong đây ai bắt chước được? Đó là vì sư thấy rõ trên đời này không có gì quan trọng, nhất là không có “cái ta”. Không có cái ta thì lấy cái gì mà được mà mất, có được có mất là bởi vì có cái ta này, “ta được” tiếng tăm, bây giờ “ta mất” tiếng tăm, còn không có cái ta thì cái gì mất? ai mất? Thấy rõ vậy nên đối với sư được mất tiếng tăm không thành vấn đề, nhận đứa bé cũng thản nhiên, trả đứa bé cũng thản nhiên thôi.

 

Trong kinh Viên Giác có câu: “Thân này còn chẳng thật có thì yêu ghét từ đâu sanh?” Cái thân còn chẳng thật có thì cái yêu cái ghét từ đâu mà sanh, bám vào đâu mà có? Sở dĩ mình thấy có yêu có ghét, có được có mất là bởi vì thấy có cái ta này. Nếu cái ta này không thật thì lấy gì được mất, yêu ghét ? Thấy rõ như vậy mới thật sự biết tùy duyên. Tùy duyên này là một điểm rất sâu.

 

5- Một điểm kế nữa, tùy duyên là để phá cái ngã kiến, tức cái kiến chấp ngã. Bởi vì chúng ta luôn luôn thấy có cái ta thật, có vật thật, có người thật, tất cả đều thật, rồi cái thấy, cái nghĩ của ta cũng thật luôn, cho nên mới cố chấp bám vào một chỗ. Với thế gian thì luôn luôn là sao? Ta nói một là một, hai là hai, chớ không thể thay đổi. Mình bảo vệ tối đa cái nghĩ của mình. Chính vì vậy cho nên mới có đấu tranh, mới có chết chóc, bởi vì ta nghĩ như vậy là phải, khác đi là không được. Nhưng cái gì là cái nghĩ của ta? Xét cho kỹ thì cái nghĩ của ta cũng không có gì cố định, mình nghĩ vậy ít bữa rồi cũng đổi ý nghĩ khác, nó không có cố định, không có Thật thể.

 

Cho nên trong kinh Kim Cang, Phật có dạy: “Như Lai nói ngã kiến tức chẳng phải ngã kiến, đó gọi là ngã kiến.” Nghĩa là, nói cái ngã kiến không phải thật có, chỉ do cái lầm chấp của người thôi. Mình nghe nói có cái kiến chấp, có cái chấp ngã thì mình tưởng đâu có cái chấp ngã thật, chớ sự thật Ngài nói đó chỉ là cái mê lầm, cái vọng chấp của mình chớ không có thật. Như cái nghĩ của ta, xét cho kỹ, tìm cho tột cái gì là cái thể cố định cái nghĩ của ta thì tìm không ra, chỉ không ra.

 

Khi xét tột được như vậy tức là mở sáng được con mắt Bát-nhã, thấy được cái lầm như vậy thì hết lầm. Mới thấy cái nghĩ của ta không có gì là cố định thì làm sao mà bám chắc ? Không bám chắc vào một chỗ thì mới có tùy duyên, cho nên nói tùy duyên là phá cái ngã kiến, phá cái chấp chặt một chỗ, chấp chặt là ta nghĩ như thế là phải. Sự thật là không có cái ta nghĩ cố định thật được.

 

Một chuyện đơn giản tầm thường, thí dụ một viên kim cương đối với cái nghĩ của mình là quí, nhưng nếu đem cho đứa bé thì sao? Nó làm viên bi nó bắn chơi. Như vậy cái nghĩ của ai đúng? Tùy theo tâm tưởng của người thôi, mình quen suy nghĩ như vậy rồi mình cho như vậy là đúng chớ sự thật chưa hẳn là đúng với người khác. Mình nghĩ nó quí nhưng với đứa bé nó thấy giống như viên đạn nó bắn chơi thì có gì đâu là quí. Nếu mình thấy nó đem bắn chơi rồi mình chấp vào cái nghĩ của mình là đúng, mình rầy phạt nó thì sao? Là cố chấp, rồi khổ.

 

Hiểu như vậy mới thấy tùy theo tâm tưởng của người mà thành ra có cái nghĩ sai khác chớ không có cố định, là bớt chấp. Ở đây nói bớt chấp thôi, chớ nói hết chấp thì chưa. Bớt chấp thì bớt khổ. Học thiền cởi được những tình chấp của mình ra cho nhẹ bớt.

 

Ở trong Tuyệt Quán Luận có một đoạn, có người đặt câu hỏi: “Con thấy người học đạo phần nhiều họ chẳng chuyên cần giữ giới luật, cũng chẳng chăm lo gìn giữ oai nghi, cũng chẳng giáo hóa chúng sanh mà cứ mặc tình sống thoải mái thì đó là ý gì?” Trong đó đáp: “Nhưng bên trong thực hành không có gián đoạn.” Bên ngoài nhìn giống như thoải mái nhưng bên trong người ta thực hành không có gián đoạn thì đó mới gọi là khéo tùy duyên.

 

Có những trường hợp các ngài làm như vậy để phá cái niệm chấp về sạch, về nhơ. Thí dụ như chấp ta đây tu hành thanh tịnh, ta đây tu hành đàng hoàng. Nhưng có ai nói mình tu hành không thanh tịnh, không đàng hoàng thì sao? Thì tức giận, đó là chấp vào cái thanh tịnh của mình, tới chừng người ta nói không thanh tịnh thì nổi giận. Còn ở đây là phá cái niệm sạch nhơ, ai nói sao thì nói, không thành vấn đề với mình.

 

Nhưng điểm này cũng phải xét ngược lại. Tuy là vậy nhưng không phải dễ bắt chước, bởi vì cũng dễ lầm. Nghe nói làm những chuyện như vậy là sống không chấp vào hình thức rồi mình cũng bắt chước làm như vậy để cho giống như tự tại, nhưng đó là bắt chước chớ không phải sống thật sự. Ở đây cần phải chú ý, điểm quan trọng là tuy bên ngoài như vậy nhưng bên trong thì thực hành không có gián đoạn, tức là bên trong luôn luôn sáng ngời, không có mê thì mới là lẽ thật, chớ theo cái kiểu bắt chước làm như vậy mà đụng đâu dính đó thì không phải.

 

Cũng có trường hợp làm như vậy để tỏ ra ta đây là người hiểu thiền, ta đây là người không chấp gì hết, là người sống tự tại. Nhưng nói ta không chấp gì hết mà chính cái đó lại thành ra chấp, tức là “chấp vào cái không chấp”.Thường người ta chấp cái này chấp cái kia, nhưng bây giờ chấp trở lại cái không chấp, tức là ta không chấp cho nên mọi chuyện coi như không thành vấn đề. Cái đó mới là cái nguy hiểm, chấp vào cái không chấp lại là bệnh. Nhưng bệnh mà lại không biết bệnh nên mới khó trị, làm sao mà trị? Nên nhớ đây là chỗ thực sống của các vị đã sáng tỏ được đạo, nếu không được như vậy thì không được bắt chước.

 

Ở đây còn một điểm nữa, phải nhớ là khi chúng ta nói rằng làm như vậy để phá cái tâm phân biệt, thì còn có tâm phân biệt không? Chưa sạch hết phân biệt mới phá, chớ sạch hết rồi thì phá cái gì nữa? Như vậy thì cũng chưa phải thật sự tự tại, đó là chỗ mình phải thấy cho kỹ. Đừng nói rằng tôi làm vậy là để phá chấp, tôi tự tại rồi, nhưng sự thật nếu đã hết chấp thì phá cái gì? Còn phá tức là còn phân biệt, còn phân biệt tức chưa tự tại. Cho nên nếu nghe ai nói tôi phá chấp thế này, tôi phá chấp thế kia, tức là còn chấp mới phá, chưa phải thật hết đâu. Đó là những điều phải thấy cho thật tế nhị.

 

6- Một điểm nữa, tùy duyên là mình nên sống khéo hòa với tất cả chớ không nên làm khác người, không phải là lập dị, bởi vì tùy duyên mà. Không làm khác với người, không lập dị để cho thấy ta đây là người đạt đạo, ta đây là người tự tại, đó mới là tùy duyên. Bởi vì khi mình làm khác người để chứng tỏ mình đạt đạo thì đó là một tướng khác của ngã tướng. Ở đây làm tất cả, cũng ăn cũng ngủ như mọi người nhưng luôn luôn không rời Tự tánh, không mất ánh sáng của Tự tâm, đó mới là khéo tùy duyên. Chớ tùy duyên mà làm khác biệt với người ta, để cho thấy rằng “ta đây” là người không chấp, là người tự tại, như vậy là có chấp trong đó rồi, có ngã tướng trong đó rồi. Làm để cho người ta chú ý tới mình, cái đó là bệnh.

 

Bởi vậy, tùy duyên mà luôn luôn sáng ngời ở trong, sống bình thường nhưng không mất chỗ sống chân thật của mình, mới là đúng tùy duyên, nếu không được như vậy thì mắc kẹt. Tóm lại tùy duyên thì không thể bám chấp vào một chỗ nào. Vì không có gì cố định hết. Vừa bám chấp một cái gì đó là hết tùy duyên, mà còn sống trở lại với quá khứ nữa.
Trong sử ghi một hôm có vị ngoại đạo đến hỏi Phật:

 

- Hôm qua Ngài thuyết pháp gì?

 

Phật nói:

 

- Hôm qua ta thuyết định pháp (tức là cái pháp nhất định).

 

Vị ngoại đạo hỏi thêm:

 

- Vậy còn hôm nay Ngài thuyết pháp gì?

 

Phật nói:

 

- Hôm nay ta thuyết bất định pháp.

 

Vị ngoại đạo gạn lại:

 

- Hôm qua giảng định pháp, hôm nay vì sao lại giảng bất định pháp?

 

Phật đáp:

 

- Hôm qua định, hôm nay bất định.

 

Đức Phật đáp quá hay, đó là để phá cái chấp cố định của mình. Nếu thật sự một bề là định pháp thì làm sao mà có hôm nay? Có hôm qua, có hôm nay tức là bất định, bởi vậy Phật mới nói rằng hôm qua thuyết định pháp, bữa nay thuyết bất định pháp, đó là linh động.

 

Mình cố chấp một bề là mình chết ở trong quá khứ, tức là thiếu cái linh động sáng tạo. Mình nghe nói định pháp thì chấp chặt là định pháp, cho nên nghe nói bất định thì thắc mắc liền.Ở đây Phật nói ro,õ vì bất định cho nên mới có hôm nay, mới có hôm qua. Lẽ thật rõ ràng là như vậy, thấy như vậy thì làm sao chấp?

 

Mình nghe hôm qua nói định, bữa nay nói bất định thì mình thấy Phật nói chuyện sao mà mâu thuẫn quá. Nhưng như vậy là không thấy được ý nghĩa tùy duyên không cố định, tức là không có một pháp thật. Mình bám vào cái hôm qua là mình chỉ nhớ cái quá khứ, sống lui về quá khứ, không có sáng tạo. Hiểu như vậy thì mới thấy được ý nghĩa tùy duyên là luôn luôn linh động.

 

Ngài Lâm Tế lúc từ giã ngài Hoàng Bá đi, Hoàng Bá hỏi đi đâu thì Ngài nói: “Chẳng về Hà Nam tức về Hà Bắc.” Lời này nói lên tâm của Ngài sống tùy duyên thật sự. Tùy duyên ở đây là gì? - Là lúc nào cũng hiện tiền, cũng sáng ngời, cái chân thật đó luôn luôn theo sát bên mình, cho nên nó không dừng ở một chỗ nào, không về Hà Nam thì về Hà Bắc, mình đi đâu nó có ở đó. Mình bây giờ có thể nói là “Không ở thành phố thì ở Trúc Lâm”, chớ thân đến Trúc Lâm mà niệm một bề cứ trụ ở thành phố đó là đóng khung ở trong chỗ chết, không linh động.

 

7- Thêm một điểm nữa, tùy duyên tức là vô trụ. Sống được vô trụ thì mới tùy duyên, chớ có trụ là hết tùy duyên, bởi vì có trụ là có chết. Trong cuốn “Góp Nhặt Cát Đá” có chuyện hai sư huynh đệ đi qua con suối thấy một cô gái mặc đồ đẹp muốn đi qua suối nhưng sợ bị ướt không dám qua. Ông sư huynh nói “cô bé lại đây, ta đưa qua cho”, rồi ông bồng cô đưa qua suối. Từ đó về tới chùa hai người làm thinh không nói chuyện. Tới chùa ông sư đệ hậm hực nói rằng:

 

- Huynh sao bữa nay không giữ giới gì hết?

 

- Làm sao mà không giữ giới?

 

- Tại sao huynh bồng cô gái qua suối vậy?

 

Ông sư huynh cười nói:

 

- Vậy hả? Ta đã buông cô gái ở đó rồi, còn ông lại ôm về tới đây sao?

 

Rõ ràng là ông sư huynh thì tùy duyên, gặp đưa qua rồi thôi, còn ông sư đệ thì ôm ấp việc đó mãi, đi từ suối về chùa qua bao nhiêu đoạn đường, qua bao nhiêu bước chân mà cái tâm của ông thì vẫn trụ ở chỗ suối đó. Trụ như vậy là mất cái hiện tiền này tức là mất ông chủ. Còn ông sư huynh buông hết rồi, cho nên luôn luôn lúc nào ông chủ cũng sống hiện tiền. Cho nên tùy duyên tức là vô trụ, vô trụ là sống như vậy đó. Khéo như vậy mới thật sự là khéo tùy duyên, chuyện qua rồi là thôi không có giữ lại, không có trụ lại.

 

8- Đến đây thì quí vị thấy ý nghĩa tùy duyên hơi sâu rồi. Lên một tầng nữa tùy duyên phải lý sự đầy đủ, tùy duyên thường hiện hữu, không nghiêng không lệch một bên. Đó mới gọi là tùy duyên sâu xa.

 

Có vị Tăng hỏi Thiền sư Quang Dũng:

 

- Văn-thù là thầy của bảy đức Phật, vậy Văn-thù có thầy chăng?

 

Ngài Quang Dũng đáp:

 

- Gặp duyên liền có.

 

Ông Tăng hỏi:

 

- Thế nào là thầy Văn-thù?

 

Ngài Quang Dũng liền dựng đứng cây phất tử. Ông Tăng nói:

 

- Phải chăng chỉ cái ấy liền là phải?

 

Ngài Quang Dũng liền ném cây phất tử đứng khoanh tay. Đây mới gọi là tùy duyên mà thường hiện hữu, lý sự đầy đủ.

 

Văn-thù là chỉ cho Căn bản trí, là cái Lý tánh chân thật. Chư Phật sở dĩ thành Phật là cũng ngộ cái lý Căn bản trí này, sống được với Căn bản trí trọn vẹn thì thành Phật. Cho nên gọi Văn-thù là thầy của bảy đức Phật, đã gọi như vậy thì còn ai là thầy của Văn-thù nữa. Nhưng ở đây ngài Quang Dũng nói “gặp duyên thì liền có” tức là sao? Tức là nó không phải hoàn toàn không ngơ, đủ duyên thì nó liền hiện, cái đó không ai làm thầy nó được hết.

 

Ngay khi đưa phất tử lên tức là gặp duyên, nó liền hiện, thì thầy là như vậy đó. "Cái sẵn có", đó là lý, "gặp duyên liền hiện" đó là sự, lý sự luôn luôn đầy đủ. Còn mình nếu thấy không thầy là thấy một bên lý, hoặc là thấy một bên có thầy là thấy một bên sự . Ở đây lý sự luôn luôn đầy đủ, thấy như vậy thì không mắc kẹt bên nào.

 

Khi đưa cây phất tử lên thì cái chân thật đó vẫn luôn luôn hiện hữu nơi cây phất tử rồi, cái thấy nó luôn luôn có mặt rồi. Khi quăng cây phất tử đứng khoanh tay thì sao? Ai đứng khoanh tay đó? Thì nó cũng có mặt ở đó luôn. Cái Thể chân thật nó luôn luôn có mặt nhưng nó không có hình tướng gì để thấy, mà chỗ nào nó cũng ứng hiện được hết. Như vậy mới gọi là có thể có dụng, hoặc có lý có sự, luôn luôn đầy đủ.

 

Cũng vậy, tâm mình đâu có hình tướng gì nhưng gặp duyên thì nó hiện đủ mọi hình tướng. Gặp duyên gì thì nó hiện ra tướng đó. Nó hiện hữu khắp mọi nơi, tùy duyên mà thường hiện hữu chớ không mắc kẹt một bên. Thấy được như vậy mới là thấy được cái ý sâu ở trong nhà thiền.

 

Kết lại thì tùy duyên là gì? Tùy duyên tức là không có chỗ bám, linh động, không dừng không trụ. Tất cả các pháp đều là nhân duyên, không có một pháp thật thì tại sao mình phải bám một chỗ để mà chịu khổ.Cho nên biết tùy duyên là phải quên cái ngã này, còn nhớ cái ngã này là không có tùy duyên. Và tùy duyên có bắt chước được không? Khi bắt chước là hết tùy duyên, bởi vì bắt chước là đã có cái khuôn, có khuôn mới bắt chước, cho nên bắt chước là hết tùy duyên . Ngoài ra điểm quan trọng phải nhớ là, tùy duyên mà còn có ngã là lầm, phải nhớ điểm đó !

 

Đây nhắc câu chuyện này kết thúc bài tùy duyên:

 

Xưa có một vị Thiền sư, Ngài sống ăn uống hỗn tạp, không có chọn lựa gì hết, gặp mặn ăn mặn, gặp chay ăn chay, gặp gì là ăn nấy, gặp rượu cũng uống luôn. Có nhiều đệ tử thấy vậy bắt chước, sống như vậy thoải mái. Một hôm Ngài kêu hết đệ tử đến chỗ người ta thiêu xác người rồi đem đồ ăn bày ra, Ngài lấy những miếng thịt người ta thiêu còn sót lại, chưa cháy hết, trộn vô đồ ăn rồi nói:

 

- Các ngươi lại đây ăn với ta bữa này.

 

Các đệ tử ói mửa chạy hết. Ngài ngồi ăn thản nhiên, sau đó mới bảo rằng:

 

- Các ngươi cùng ăn được với ta cái món này thì mới có thể tiếp tục ăn uống như ta được, còn nếu không được thì thôi từ nay đừng có bắt chước.

 

Chúng sợ hãi không dám bắt chước nữa, lo gìn giữ giới luật đàng hoàng. Bởi vì Ngài đã nhiều năm tu hành thanh tịnh rồi mới được như vậy, còn các đệ tử chưa được vậy thì làm sao mà bắt chước được! Như vậy để thấy rằng, nếu tâm mình còn phân biệt nhơ sạch thì làm sao có thể tùy duyên theo kiểu đó được, còn tâm Ngài sạch hết phân biệt rồi, cho nên ăn tự nhiên thôi.

 

hi tâm mình còn phân biệt nặng nề, còn thích ngon chán dở, còn thích đẹp chán xấu mà bảo là tùy duyên không ngại gì thì coi chừng bệnh hoạn, phải hiểu được cái ý đó. Như vậy một ý nghĩa tùy duyên này mà thấu cho thật suốt có dễ dàng không? - Không dễ dàng, cho nên phải thật sống chớ không phải bắt chước được.

 

Bởi vậy tùy duyên mà còn có cái ta trong đây là còn dính mắc, mà còn dính mắc là không đúng ý nghĩa tùy duyên. Nhiều khi mình mắc kẹt là mắc kẹt cái lý tùy duyên nữa, mình phải sống cho thật chân thật t mới thấy ý nghĩa tùy duyên, chỉ là cái lý thông thường thôi nhưng muốn hiểu cho rốt ráo để sống không phải là đơn giản, làm cả đời không hết, đâu phải nói tới những lý cao tột mây xanh.

 

Để kết thúc lại, tùy duyên là luôn luôn sáng ngời tự tại, không có chỗ nào để bám, đó là tùy duyên. Mong rằng tất cả khéo sống được tùy duyên, đúng ý nghĩa tùy duyên .

 

_______________

Nguồn: thuongchieu.net

ĐỆ TAM TỔ TRÚC LÂM

Nói đến Ðệ Tam Tổ Trúc Lâm là nói đến sư Huyền Quang. Khi chưa xuất gia, Huyền Quang tên là Lý Ðạo Tải, sinh năm 1254 tại làng Vạn Tại, lộ Bắc Giang, bây giờ là làng Vạn Ty tỉnh Hà Bắc.


"Hồn nhiên người với hoa vô biệt

Một đóa hoa vàng chợt nở tung"

(Huyền Quang)

 

Thuở nhỏ, nhà nghèo. Năm 18 đi hỏi vợ. Gia đình nhà gái nhận lễ vật, nhưng sau lại từ hôn, chê rằng Ðạo Tải xấu trai. Sau đó cha mẹ chàng lại tìm cho con một đám khác, nhưng cuộc nhân duyên nầy cũng không thành, vì nhà gái chê là chú rể có tướng mạo kỳ dị, không có mả khoa bảng, không phải là người xứng đáng để nương tựa.

 

Cha Ðạo Tải, tuy không đỗ đạt, nhưng là người học rộng hiểu sâu. Ông rất thương yêu con, ông chỉ mong dạy cho con học hành để có chút công danh với đời. Ðạo Tải sau mấy lần thất bại về tình duyên, nên không còn nghĩ đến chuyện hôn nhân nữa, suốt ngày chỉ miệt mài với sách đèn. Nhờ sự chuyên cần và với trí thông minh sẵn có, năm 20 tuổi Ðạo Tải đậu thi Hương. Năm sau đậu luôn thủ khoa kỳ thi Hội, tức là Trạng Nguyên thời bấy giờ.

 

Nghe tin Ðạo Tải đậu trạng, mấy người phú hộ ở trong vùng bắn tin có con gái đến tuổi lấy chồng, kèm theo một gia tài đồ sộ. Một ông quan lớn ở kinh kỳ cũng mời quan tân khoa về thái ấp mình để xem mặt cô gái yêu, tuổi vừa đôi tám. Tiếp đó, Ðạo Tải vào kinh bái mạng để nhận chức, một viên nội giám đến gặp riêng và rỉ vào tai. Hoàng Hậu đang kén phò mã. Công chúa Liễu Nữ là cháu của vua An Sinh Vương đẹp như tiên. Thật là trai tài, gái sắc, xứng đôi vừa lứa đấy!. Thấy tình đời như vậy, ông than:

 

- Khó khăn thì chẳng ai nhìn,

Ðến khi đỗ trạng, tám nghìn nhân duyên.

 

Từ đấy ông nguyện suốt đời không lấy vợ. Trong 30 năm làm quan ở trong triều, được hưởng ơn vua, lộc nước. Có nhà cao, cửa rộng, có kẻ hầu người hạ, có đời sống vật chất đầy đủ, nhưng Ðạo Tải thường bảo với bạn bè:

 

- Làm quan thì được lên đảo Bồng (chỗ tiên ở). Ðắc đạo thì đến Phổ Ðà (chỗ Phật Quán Thế Âm). Ðảo trên nhân gian là bậc tiên. Cảnh giới Tây Thiên là cõi Phật. Sự giàu sang phú quí như lá vàng mùa Thu, mây trắng mùa Hạ, đâu nên quyến luyến!.

 

Ðã mấy lần ông xin từ quan để đi tu, nhưng lần nào cũng không được nhà vua chấp thuận, lấy cớ rằng quốc gia đang cần ông. Mãi đến năm 1305, lúc đó Ðạo Tải đã 51 tuổi mới được vua Anh Tôn cho phép dời hoạn lộ. Thế là bây giờ ông được thảnh thơi, không còn bị ràng buộc với công danh, phú quí nữa. Ông liền quy y Tam Bảo với Sư Bảo Pháp ở chùa Vũ Ninh.

 

Năm 1306, nhân một lễ hội lớn, Sư Bảo Pháp cho ông đi theo. Ở lễ hội nầy Ðạo Tải gặp lại vua Trần Nhân Tôn, lúc đó vua đã xuất gia và là đương kim sơ tổ Trúc Lâm, bấy giờ Ðạo Tải hơn vua 4 tuổi, nhưng kém vua 4 hạ.

 

Khi Ðạo Tải mới làm quan trong triều là lúc Nhân Tôn đang trị vì thiên hạ. Nay gặp lại nhau trong hình thái Tăng Sĩ. Trúc Lâm rất mừng vì biết Ðạo Tải là một văn tài, người đã từng phụng mệnh nhà vua tiếp sứ giả phương Bắc. Sứ giả đã kính phục vì ông thông thạo thư tịch, trích dẫn kinh nghĩa, ứng đối mau lẹ.

 

Trúc Lâm liền nói với Bảo Pháp để Ðạo Tải làm phụ tá cho Ngài; rồi ban pháp danh là Huyền Quang cho Ðạo Tải. Từ đó Huyền Quang tùy tùng Trúc Lâm trong cuộc sống hành đạo. Nhưng Huyền Quang chỉ được đi theo học đạo và phụ tá cho Trúc Lâm được 2 năm thì Trúc Lâm tịch. Trong 2 năm đó, Trúc Lâm đã nhờ Huyền Quang soạn những sách thực dụng sau đây để lưu hành trong giáo hội Trúc Lâm:

 

1- Chư Phẩm Kinh: tuyển tập của những Phẩm Kinh thiết yếu và thực dụng..

2- Công Văn Tập: Tuyển những bài văn, sớ điệp dùng trong các nghi lễ Phật giáo.

3- Thích Khoa Giáo: Tập sách Giáo Khoa về đạo Phật.

 

Tổ Gia Thực Lục chép rằng Trúc Lâm rất bằng lòng với công việc sáng tác của Huyền Quang. Khi đọc xong bản thảo Thích Khoa Giáo, vua ngự phê bút như sau:< Phàm sách qua tay Huyền Quang biên soạn, hiệu khảo rồi không thể thêm hay bớt được chữ nào nữa.> Trúc Lâm liền bảo thợ cho khắc in những sách cấy. Các sách nầy được đưa vào đại tạng đời Trần. Huyền Quang cũng được Trúc Lâm cho vân du khắp nước, thăm các danh lam và thỉnh thoảng đăng đàn thuyết pháp. Có lần Huyền Quang được Trúc Lâm cho ngồi trên pháp tòa làm bằng trầm hương của Ngài để giảng Kinh.

 

Sau đó Huyền Quang được lập làm trú trì chùa Vân Yên núi Yên Tử. Mến phục tài đức của ông, tăng ni theo về học đạo có tới ngàn người. Chính trong thời gian đó Huyền Quang sáng tác bài phú vịnh Vân Yên Tự.

 

Sách Tổ Gia Thực Lục cũng dành ra nhiều trang để kể chuyện hàm oan của Huyền Quang với một người cung nữ tên là Ðiểm Bích. Một hôm vua Minh Tôn nói với các quan trong triều là Ngài tỏ vẻ thán phục cuộc đời đạo đức của Thiền Sư Huyền Quang. Nhưng nho thần Mạc Ðĩnh Chi (đậu Trạng Nguyên khoa Giáp Thìn, 1304), vốn ganh tài với Huyền Quang đứng lên tâu:

 

- Vẽ cọp thì vẽ da làm sao biết tới xương được, biết người thì chỉ biết bề ngoài, làm sao biết được trong tâm, xin bệ hạ cho thí nghiệm.

 

Vua Minh Tôn liền sai cung phi Ðiểm Bích, hiệu là Tam Nương đi điều tra xem Huyền Quang có xứng đáng với tác phong, đạo đức để sẽ đứng đầu môn phái Trúc Lâm sau nầy.
Cung Phi Ðiểm Bích là người có nhan sắc. Khi chưa được tuyển chọn vào cung, nàng là người đẹp của Thăng Long.

 

Trước Khi người cung phi lên đường, nhà vua căn dặn:

 

- Vị Tăng kia vốn giới hạnh cao nghiêm, chưa từng có ý sắc dục. Nhà ngươi có nhan sắc, biết kinh sử, hãy đến tìm hiểu cho Trẫm. Nếu quả vị ấy còn quyến luyến tình dục thì ngươi hãy dụ mà xin cho được kim tử mà xưa kia Thượng Hoàng đã tặng cho, đem về cho ta.

 

Bích cải trang như một thôn nữ, lạy tạ vua rồi ra đi. Ðến chùa Vân Yên, gặp một vị ni sư già, Bích nói là muốn xuất gia học đạo. Vị ni sư chấp nhận cho ở lại tập sự và để sai bảo, trà nước sớm khuya.

 

Một hôm Huyền Quang thấy dung mạo Ðiểm Bích, biết không phải người có chủ tâm đi học đạo bèn gọi vị ni sư lên quở. Bích thấy thiền sư giới hạnh nghiêm mật, khó dùng sắc đẹp để chinh phục, liền nẩy sinh một kế: Ðêm ấy Ðiểm Bích khóc với ni sư, nói rằng mình là con nhà thi lễ, khoa bảng, vì cha thâu thuế xong bị kẻ cướp đoạt hết tiền. Ông không đủ tiền để đền nên sẽ bị triều đình làm tội. Nếu đến kỳ hạn mà không đủ tài khoản nầy, thì không những ông ta bị tội mà cả vợ con cũng bị liên lụy và điền sản bị tịch thâu. Ni sư nói lại trong đại chúng, ai cũng thương tình. Huyền Quang hứa sẽ về Thăng Long để điều trần và xin tội cho cha Ðiểm Bích, nhưng có một chú tiểu can ngăn thiền sư:

 

- Pháp luật là pháp luật. Ðể mất của công thì phải đền, ta không nên vị tình riêng mà can thiệp. Như vậy pháp luật còn có nghĩa gì. Tốt hơn là chùa ta nên quyên tiền để giúp Ðiểm Bích.

 

Huyền Quang cho là phải, bèn kêu gọi Phật tử tự nguyện đóng góp. Ðích thân thiền sư giúp đỡ bằng cách đem kim tử của vua ban ngày trước cho Ðiểm Bích để bán lấy tiền cứu cha.

 

Ðược kim tử, Bích trở về cung, sắp đặt lại câu chuyện rồi tâu vua:

 

- Thiếp đến Vân Yên Tự, giả làm người xuất gia, một tháng trôi qua mà Huyền Quang chưa từng nhìn hỏi thiếp. Một đêm kia sư lên chánh điện tụng kinh đến canh ba, sư và đại chúng, mỗi người trở về tăng phòng để nghỉ ngơi, thiếp mới tìm tới tăng phòng của sư mà tạ từ sư để mang tiền về cứu cha. Sư lưu thiếp ngủ một đêm... rồi tặng thiếp kim tử.


Vua nghe chuyện xong, lòng buồn rượi. Hôm sau ngài đem chuyện nầy nói lại với vài cận thần tâm phúc. Một vị bàn nhà vua nên mở đại hội Vô Già ( Vô Già Hội là một lễ hội trọng đại ở Ấn Ðộ có từ thời Ðức Phật để bố thí và giảng pháp cho đại chúng, thường tổ chức ở giữa cánh đồng); rồi mời Huyền Quang đến làm chủ lễ để xem uy lực của sư ra sao; vì nếu sư không giữ được chay giới thì pháp thuật sẽ không còn.

 

Ngày đại hội, vua cho đặt trên bàn cúng đủ loại: Lục phẩm, ngũ cúng, cà sa, pháp y và cả những tạp vật như vàng, bạc, châu báu, đồ ăn mặn...

 

Ðược chỉ định làm chủ lễ hội Vô Già, Huyền Quang biết mình bị hàm oan và bị vua nghi ngờ. Tới đàn, sư thầm khấn:

 

- Kẻ tu hành nầy, nếu có điều gì bất chánh, xin chư Phật cho đọa xuống A Tỳ địa ngục, còn nếu không thì xin cho những tạp vật kia biến hết đi!

 

Sau đó, sư dụng pháp Mật Tông. Huyền Quang ngửa mặt lên trời thổi một hơi, rồi đi lên đàn ba lượt, xuống đàn ba lượt, vọng bái thánh hiền mười phương, tay trái cầm bình bạch ngọc, tay phải cầm cành dương xanh, mật niệm thần chú rưới khắp pháp điện. Ðại chúng từ nhà vua đến bần dân đều kính cẩn nhìn sư hành lễ. Không biết do sự nhiệm mầu nào của mật chú hay một sực ngẫu duyên của khí tượng; bỗng một đám mây đen từ đâu kéo tới rồi tiếp theo là những cơn lốc, bụi bay mù mịt. Một lát trời sáng thì những thứ tạp vật trên pháp điện bị gió cuốn bay đi, chỉ còn lại hương đèn và lục cúng nằm nghiêng ngã trên bàn. Mọi người thất sắc kinh hồn.

 

Vua thấy hạnh pháp của sư thấu cả thiên địa, liền rời chỗ ngồi, lạy xuống để tạ tội.

 

Hôm sau thiết triều, nhà vua sai quan đề hình xét lại vụ Ðiểm Bích. Quan đề hình cho mời vị ni sư già và chú tiểu chùa Vân Yên xuống Thăng Long để đối chất. Biết câu chuyện bịa đặt bị lộ, Ðiểm Bích thú nhận là đã vu oan cho Huyền Quang. Thị Bích bị đình thần ghép vào tội khi quân (lese majesty) phải chém đầu. Nhưng được Huyền Quang xin tha cho. Tuy nhà vua tha cho tội chết, nhưng ngài giáng chức cung phi của Ðiểm Bích làm kẻ nô bộc để quét chùa trong dinh Cảnh Linh ở nội điện.

 

Những năm sau cùng của cuộc đời, Huyền Quang không ở chùa Vân Yên nữa mà tới Côn Sơn Tự.

 

Huyền Quang không phải là một người thuộc mẫu hành động như Trúc Lâm và Pháp Loa. Sư ít đi giảng diễn trong quần chúng mà chỉ dạy học trong các tu viện cho giới Tăng sĩ.
Ở Côn Sơn là chỗ thanh vắng, sư thấy khoẻ hơn mà ít bận tâm với đời. Côn Sơn có nhiều hoa mai. Ngắt cành mai, không phải để chưng cho đẹp mắt mà để quán chiếu lẽ sinh diệt, sự tàn hoại của vạn pháp,

 

- Ngửa mặt trời xanh hỏi lý do

Hiên ngang trong núi mọc thành hoa

Bẻ về, không để chưng vừa mắt

Chỉ mượn sầu Xuân đỡ bệnh già

 

Nguyên văn là:

 

- Dục hướng thương hương vấn sở tùng

Lẫm nhiên cô trị tuyết sơn trung

Chiết lai bất vị già thanh nhãn

Nguyện tá xuân tư ủy bệnh ông.

 

Sư cũng rất thích hoa cúc. Ngồi thiền xong, sư ngắm hoa cúc cho tới khi thấy người ngắm hoa và hoa, hai thứ hồn nhiên là một.

 

- Người ở trên lầu, hoa dưới sân

Vô ưu ngồi ngắm, khói trầm xông

Hồn nhiên người với hoa vô biệt

Một đóa hoa vàng chợt nở tung.

 

Ðóa cúc vàng chợt nở tung như cái giáo lý Vô Biện, giáo lý Vạn Pháp Nhất Như của nhà Phật chợt loé trong tâm tư.

 

Nhiều lần, sư dẫn tiểu đồng vào núi, mang theo một ống sáo. Sư ngâm thơ, làm thơ, thổi sáo, tụng kinh, tham thiền, dạy chú tiểu học. Sư lúc bấy giờ là một tăng thống, lãnh đạo một giáo hội, chỉ có thể thổi sáo được trong rừng núi. Ngoài chú tiểu ra thì chẳng ai biết mà chê cười:

 

- Củi hết lo còn vương khói nhẹ

Sơn đồng hỏi nghĩa một chương kinh

Tay cầm dùi mõ, tay nâng sáo

Thiên hạ cười ta cứ mặc tình.

 

Nguyên văn:

 

- Ôi dư cốt đốt độc hoàng hương

Khẩu đáp sơn đồng vấn đoán chương

Thu bả xuy thương hòa mộc đạc

Tùng giao nhân tiếu lão tăng mang.

 

Huyền Quang giỏi Phật học, nhưng thơ của sư bình dị, ít nặng về danh từ Phật giáo. Tuy vậy tính cách đạt ngộ thanh thoát vẫn bàng bạc trong thơ của sư.

________________

http://vuonhoaphatgiao.com

 

NHỊ TỔ PHÁP LOA DÒNG THIỀN TRÚC LÂM YÊN TỬ

A. THÂN THẾ:

Sư là đệ tử của Sơ Tổ Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử Điều Ngự Giác Hoàng – Hương Vân Đại Đầu Đà. Sư tên thật là Đồng Kiên Cương, sinh năm Thiệu Bảo thứ sáu (1284) ngày mùng 7 tháng 5. Quê ở làng Cửu La, phủ Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Cha là Đồng Thuần Mậu, mẹ là Vũ Từ Cứu.
Trước khi sinh ra Ngài, mẹ Ngài sinh liền tám người con gái nên chán ngán, đến Ngài bà cố tình uống thuốc phá thai nhưng đều vô hiệu. Đến khi sinh ra Sư bà mừng lắm đặt tên là Kiên Cương. Sư thiên tư dĩnh ngộ, miệng không nói lời ác, ăn không thích thịt cá.

 


B. THỜI KỲ XUẤT GIA TU HỌC:

Niên hiệu Hưng Long thứ mười hai (1304), Điều Ngự Giác Hoàng đi các nơi, phá dâm từ (những miếu thờ thần không chính đáng) và ban pháp dược. Đến mạn sông Nam Sách, Sư đến lễ bái tổ và xin được xuất gia, lúc này Sư được 21 tuổi, là một thanh niên dân dã ít học. Điều Ngự trông thấy bằng lòng nói: “Kẻ này có Đạo Nhãn, sau ắt là bậc Pháp Khí, vui vẻ tự đến đây”. Ngài cho hiệu là Thiện Lai dẫn về liêu Kỳ Lân ở Linh Sơn cạo tóc và cho thọ giới sa-di. Sau đó Sư nương theo hòa thượng Tánh Giác rồi trở về với Tổ.

C. CƠ DUYÊN NGỘ ĐẠO:

Gặp lúc Điều Ngự thượng đường Sư ra thưa hỏi liền được tỉnh. Điều Ngự nhận biết bèn cho Sư theo hầu hạ. Một hôm Sư trình cả ba bài tụng bị Điều Ngự chê cả. Sư thưa thỉnh mấy phen, Điều Ngự dạy phải tự tham. Sư vào phòng đầu óc nặng trịu, thức đến quá nửa đêm, trông thấy bông đèn tàn rụng xuống, Sư chợt đại ngộ. Sư đem chỗ ngộ trình lên Điều Ngự Tổ thầm nhận ấn khả. Từ đây Sư theo Tổ chuyên tu mười hạnh Đầu Đà.

D. THỜI KỲ HÀNH ĐẠO:

Đến niên hiệu Hưng Long thứ mười ba (1305) Điều Ngự đem Sư lên liêu Kỳ Lân cho thọ giới Tỳ kheo và Giới Bồ tát. Thấy chỗ tham học của Sư đã thành đạt, Tổ cho hiệu là Pháp Loa.

Năm Hưng Long thứ mười lăm (1307), Sư được 24 tuổi, Điều Ngự trụ ở am Thiên Bảo Quan có bảy, tám người thị giả mà Sư là đứng đầu, Điều Ngự vì Sư giảng Đại Huệ Ngữ Lục. Đến tháng năm, Điều Ngự lên ở am trên đảnh Ngọa Vân Phong. Ngày rằm làm lễ Bố Tát (lễ tụng giới) xong, Điều Ngự đuổi mọi người xuống, lấy y bát và viết Tâm kệ trao cho Sư dạy khéo gìn giữ.

Năm Hưng Long thứ mười sáu (1308) vào ngày mùng một tháng Giêng, Sư vâng mệnh Điều Ngự làm lễ nối pháp Trụ trì tại nhà Cam Lồ chùa Siêu Loại. Khai lễ có vua Anh Tông và triều thần đến dự. Điều Ngự lên đàn thuyết pháp rồi nhường chỗ cho Sư giảng đạo. Lễ xong, Điều Ngự đặt Sư kế thế trụ trì chùa Siêu Loại và làm chủ Sơn môn Yên Tử, là đời thứ hai của phái Trúc Lâm. Điều Ngự còn trao cho Sư hơn hai trăm bộ Kinh sử và bảo Đức vua Trần Anh Tông sung cúng vào chùa cả trăm khoảng ruộng.

Tháng mười một năm ấy (1308) Điều Ngự tịch, Sư phụng mạng cung nghinh xá lợi Tổ về kinh đô. Trở về núi Sư soạn lại những bài tụng của Điều Ngự lúc ở Thạch Thất làm thành quyển Thạch Thất Mị Ngữ.

E. HOẰNG HÓA:

1. Năm Hưng Long thứ mười chín (1311), Sư phụng chiếu tiếp tục khắc bản Đại Tạng Kinh. Sư giao Bảo Sát làm chủ việc này. Tháng tư, Sư giảng Truyền Đăng Lục tại chùa Siêu Loại. Sau đó, Huyền Quang trình kiến giải, Sư đều chấp nhận.

Năm Hưng Long thứ hai mươi mốt (1313) vào tháng chín, Sư phụng chiếu đến chùa Vĩnh Nghiêm ở Lượng Giang định chức cho Tăng đồ. Chúng Tăng từ đây mới có sổ bộ, chính Sư là người cầm sổ bộ ấy. Lúc đó, Sư độ hơn một ngàn vị Tăng. Về sau cứ ba năm một lần độ Tăng như thế.

Năm Đại Khánh thứ tư (1317) đời Trần Minh Tông, vào tháng hai, Sư bệnh nặng. Sư đem y của Điều Ngự và viết bài Tâm kệ trao cho Huyền Quang, pháp khí và gậy trao cho Cảnh Ngung, phất tử trao cho Cảnh Huy, gậy tre trao cho Huệ Quán, pháp thơ và pháp cụ trao cho Huệ Nhiên, linh vàng trao cho Hải Ấn, sử vàng trao cho Huệ Chúc. Sau đó ít hôm, bệnh Sư được lành.

Những hàng thái hậu, công chúa, vương công, quý khanh đều thỉnh Sư truyền giới xuất gia hoặc giới Bồ Tát, cho đến vua Trần Anh Tông cũng xem như đệ tử. Họ đua nhau cúng đất, vàng, tiền để Sư lập chùa, đúc tượng Phật, in Kinh quá nhiều đến nỗi Sư phải tự xin giảm dần những số quyên cúng, thuyền của vua cấp cho Sư tiện việc đi lại và về Kinh đô, Sư cũng từ chối không nhận.

Năm đầu Khai Hựu (1329), đời vua Trần Hiến Tông, Sư mở thêm cảnh Côn Sơn và Thanh Mai Sơn làm thành danh lam thắng cảnh.

2. Một hôm mở hội thuyết pháp, Sư lên tòa nói:

- Đại chúng! Nếu nhắm thẳng vào đệ nhất nghĩa đế mà nói, thì động niệm liền sai, mở miệng là lầm, làm sao mà xét? Làm sao mà quán? Hôm nay căn cứ vào đầu (non) thứ hai mà nói, cũng không được thế ấy;

Sư bèn nhìn hai bên nói:

- Trong đây có người nào đầy đủ con mắt lớn chăng? Nếu có, hai cặp chân mày chẳng cần vén lên. Bằng không, bần đạo chẳng khỏi miệng nói ba hoa, đề ra những điều hủ mục, đáp những lời tạp nhạp. Chỉ vì các ông nhồi lại thành một khối hỗn độn. Lắng nghe! Lắng nghe!

Đại đạo rộng suốt nào có ràng buộc, Bản Tánh lặng lẽ không thiện không ác. Bởi do chọn lựa chợt sanh nhiều lỗi, vừa khởi mảy may đã cách xa trời đất. Phàm Thánh vốn đồng một mối phải quấy đâu có hai đường. Cho nên biết, tội phước vốn không, cứu cánh nhân quả chẳng thật. Người người sẵn được, kẻ kẻ chọn thành. Phật Tánh pháp thân như hình như bóng, tùy ẩn, tùy hiện, chẳng tức chẳng ly. Lỗ mũi duỗi thẳng xuống, chân mày nằm ngang mặt, ở trên mắt mà không dễ gì nhìn thấy. Cần phải tìm xét, đâu chẳng nghe nói “Ba ngàn pháp môn đồng về tấc vuông, hà sa diệu dụng đều ở nguồn Tâm” nên nói: Cửa giới cửa định cửa huệ, ông không thiếu xót, cần phải phản quán nơi mình. Phàm những tiếng ho, tiếng tằng hắng, nhướng mày chớp mắt, tay cầm, chân đi, ấy là Tánh gì? Biết được Tánh này ấy là Tâm gì? TÂM TÁNH rỗng sáng, cái nào phải, cái nào chẳng phải Pháp tức là TÁNH, Phật tức là TÂM. TÁNH nào chẳng phải là Pháp? TÂM nào chẳng phải là Phật? tức TÂM tức PHẬT, tức TÂM tức Pháp. Pháp vốn chẳng phải Pháp, pháp tức là TÂM. TÂM vốn chẳng phải TÂM, TÂM tức là PHẬT.

F. VIÊN TỊCH:

Đến ngày mùng một tháng ba, Thượng hoàng Trần Minh Tông đích thân đến thăm bệnh Ngài và gọi Thái y đến trị bệnh cho Sư, đến tối mùng 3 bệnh Sư trở nặng Huyền Quang thưa:

- Xưa nay đến chỗ ấy, buông đi là tốt hay nắm lại là tốt?

Sư bảo:

- Thảy đều không can hệ.

Huyền Quang:

- Khi thảy đều không can hệ thì thế nào?

Sư bảo:

- Tùy xứ tát – bà – ha.

Đệ tử đồng đến thỉnh:

- Người xưa lúc sắp tịch đều có để kệ dạy đệ tử sao riêng Thầy không có?

Sư quở trách họ. Giây lâu bèn ngồi dậy bảo đem giấy viết lại. Sư viết một bài kệ:

Vạn duyên tài đoạn nhất thân nhàn
Tứ thập dư niên mộng huyễn gian
Trân trọng chư nhân hưu tá vấn
Na biên phong nguyệt cánh man khoan


Dịch:


Muôn duyên cắt đứt một thân nhàn
Hơn bốn mươi năm giấc mộng tràng
Nhắn bảo mọi người thôi chớ hỏi
Bên kia trăng gió rộng thênh thang.


Viết xong, Sư ném bút, an nhiên thị tịch, thọ 47 tuổi. Đệ tử theo lời phó chúc của Sư đem nhục thể lên nhập tháp tại Thanh Mai Sơn.

Thái Thượng Hoàng ngự bút ban hiệu cho Sư là Tịnh Trí Tôn Giả, tháp tên Viên Thông, tặng mười lượng vàng để xây tháp và đề một bài thơ.

Những tác phẩm của Sư còn truyền lại có:

- Đoạn Sách Lục

- Tham Thiền Chỉ Yếu (Thiền Đạo Yếu Học)

- Kim Cương Đạo Tràng Đà – La – Ni Kinh

- Tán Pháp Hoa Kinh Khoa Số

- Bát Nhã Tâm Kinh Khoa

- Và một bài kệ thị tịch….

(Soạn theo sách Thiền sư Việt Nam của Hòa thượng Tông chủ Thích Thanh Từ)

G. LỜI BÀN:


Sơ Tổ Trúc Lâm, Phật Hoàng Trần Nhân Tông sinh thời có hai đệ tử nổi bật: một là Tôn Giả Pháp Loa người xuất thân từ dân dã ít học, một là Tôn Giả Huyền Quang là một người học thức uyên thâm đậu tiến sĩ và làm quan triều Trần. Nhưng khi để truyền Tổ, vị Sơ tổ Trúc Lâm lại chọn Tôn Giả Pháp Loa là giai cấp dân dã ít học để truyền ngôi vị Tổ. Tuy nhiên sự lựa chọn này của Sơ Tổ rất chính xác. Tổ Pháp Loa khi được đặt vào vị trí Nhị Tổ Ngài mới 24, 25 tuổi còn rất trẻ. Tuổi này vừa bằng với tuổi Đức Lục Tổ Huệ Năng, vị Tổ thứ sáu ở Trung Hoa. Tuổi Ngài tuy trẻ nhưng mà tài cao cả hai mặt, về mặt pháp Thiền Ngài cũng đạt Thiền, về mặt lãnh đạo Ngài cũng thành tựu chức năng Tổ vị.

1. Ý chí học đạo:

Ngài tuy là dân dã ít học nhưng chí học đạo của Ngài có, Ngài tự tìm tòi để tự trau dồi mình. Sư tự đọc bộ kinh Hải Nhãn (có lẽ là Kinh Thủ Lăng Nghiêm) đến bảy chỗ hỏi Tâm và đoạn thí dụ khách trần ở sau, xem đi xem lại nhiều lần bỗng nhiên Sư có chỗ vào. Sư lại phát được Tâm cầu vô thượng Bồ Đề, rồi lại biết gần gũi nương tựa THIỆN TRI THỨC, Ngài tìm đến thân cận nhiều hơn với Điều Ngự. Thế rồi cũng có lúc Sư chợt đại ngộ. Từ đây Sư tiến bộ rất xa trên con đường hành đạo.

2. Thành tựu các công tác Phật sự:

Trong đời lãnh đạo dòng phái Trúc Lâm Ngài đã thành tựu những công tác Phật sự như sau:

- Đúc tượng Phật kể cả lớn nhỏ có hơn 1300 vị

- Tạo đại già lam được hai ngôi

- Xây tháp được năm ngọn

- Lập tăng đường hơn hai trăm (200) sở

- Độ Tăng và Ni hơn một muôn năm ngàn (15000) người

- In được một bộ Đại Tạng Kinh

- Đệ tử đắc pháp hơn ba ngàn (3000) người

- Thành đại pháp sư có 6 vị

- Độ người quy y Tam Bảo không biết bao nhiêu

Thành tích Phật sự của Nhị Tổ Pháp Loa Thiền phái Trúc Lâm rất là vẻ vang và thật là xứng đáng.

Sư thật xứng đáng là một Tổ sư Thiền. Ngài đã làm tròn được bổn phận một vị chân Tăng, trên đã đền được ơn Phật Tổ. Ngài đã làm xán lạn dòng Thiền Trúc Lâm. Từ vị thầy của mình là Hương Vân Đại Đầu Đà, Ngài lại nối tiếp dòng Thiền truyền cho vị Tổ Sư thứ 3 là Tổ Huyền Quang. Như vậy đã trọn bổn phận làm trò mà cũng trọn bổn phận trao truyền cho kẻ hậu lai tiếp nối làm phát triển thêm dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử.

Ngài xứng đáng làm một vị Tông Sư khai thị trước hết cho người tu Thiền là phải thấy TÁNH, Ngài dạy:

“LÀ NGƯỜI HỌC PHẬT TRƯỚC PHẢI THẤY TÁNH”

Thấy Tánh, không phải có TÁNH bị thấy. Nói thấy là thấy chỗ không thể thấy mà thấy vậy. Cho nên nói thấy, thấy không phải thấy thì CHÂN TÁNH hiện. TÁNH thấy là VÔ SANH, SANH thấy thì chẳng thể có, chẳng có cái TÁNH thật, mà thấy thật không dời đổi. Thế nên gọi là CHÂN THẬT THẤY TÁNH.

3. Đối với danh lợi:

Ngài tuy xuất thân từ dân dã nhưng khi gặp lúc có thể hưởng được danh lợi quyền lực nhưng Ngài vẫn giữ được phẩm hạnh của một Tỳ Kheo. Khi Ngài ở địa vị Tổ thì những hàng Thái hậu, công chúa, vương công quý trọng Sư cúng dường cho Sư rất nhiều lợi dưỡng cho đến cả nhà vua cũng tôn vinh Sư như là bậc Thầy. Họ đua nhau cúng đất, cúng vàng, tiền bạc… nhưng Sư phải tự xin giảm dần những số đồ cúng dường. Nhà vua hiến cúng thuyền để tiện việc đi lại nhưng Sư cũng từ chối không nhận. Sư chỉ lo chung cho Tam Bảo mà không lo cho cá nhân. Sư chỉ nhạt mùi danh lợi say mùi đạo, mở cánh từ bi khép cánh tình nên danh lợi dầu có mấy cũng không phủ chụp được tiết tháo của một bậc chân tu.

4. Dạy Thiền dạy Đạo:

Với tư cách là một Tổ Sư của Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử, Ngài phải làm sao phát huy đúng mức Đạo Thiền. Dòng Thiền Tổ Sư là dòng Thiền KIẾN TÁNH nên phải xứng TÁNH khởi tu hay phải thấy TÁNH khởi tu. Vì thế TÁNH là một thuật ngữ rất chuyên môn trong nhà Thiền. Thế nên Ngài phải dạy cho người tu làm sao thấy được Tánh.

“LÀ NGƯỜI HỌC PHẬT TRƯỚC PHẢI THẤY TÁNH”

Ngài nói nhiều về TÁNH, vạch vẽ cho người học phải thấy TÁNH của mình. Phải thấy TÁNH ở mắt, ở tai, mũi, lưỡi, thân, ý… ở tiếng ho, trong cái nhướng mày chớp mắt. Từ trong thân cho tới tất cả các pháp đều phải rõ ràng TÂM TÁNH luôn rỗng sáng không tham sân si, không phiền não vì trong TÂM TÁNH vốn là rỗng sáng không có một vật, không có cái phải và cái không phải. PHÁP tức là Tánh, PHẬT tức là TÂM. TÁNH nào chẳng phải là PHÁP? TÂM nào chẳng phải là PHẬT? Tức TÂM tức PHẬT, tức TÂM tức PHÁP. PHÁP vốn chẳng phải PHÁP, PHÁP tức TÂM. TÂM vốn chẳng phải Tâm, TÂM tức PHẬT. Ngài dạy chẳng khác nào Đức Thế Tôn đã truyền pháp cho Tổ Ca Diếp:

Pháp bổn pháp vô pháp
Vô pháp pháp diệc pháp
Kim phó vô pháp thời
Pháp pháp hà tằng pháp.

Tổ Pháp Loa khai thị cho môn đồ về TÁNH, về TÂM, về BỔN TÁNH, BẢN TÂM không khác chi Đức Thế Tôn và các vị Tổ Sư sau đó. Thật là dòng giống nhà Thiền! Mong rằng con cháu nhà Thiền sớm MINH TÂM KIẾN TÁNH để tự độ mình và độ người một cách trọn vẹn nhất.

Có MINH TÂM KIẾN TÁNH mới xứng đáng là người đi theo con đường Phật Tổ. Kính mong Tam Bảo gia trì cho tất cả Phật tử đều sớm sáng TÂM tỏ TÁNH để xứng đáng là người con Phật, mang dòng máu Phật.

Ngoài khai thị Thiền, Tổ còn giảng dạy KINH LUẬT LUẬN và truyền GIỚI. Dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử vì vậy mà được xem là Thiền – Giáo song hành.

(Trích từ bài: Khuyên Chúng Thượng Thừa Tam Học – Nhị Tổ)

Ngài đã giữ vững Tông chỉ của Thiền tông, được dẫn truyền từ Thỉ Tổ là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni qua 28 đời Tổ Sư Ấn Độ và 6 vị Tổ Sư Trung Hoa, Ngài Tỳ Ni Đa Lưu Chi được truyền sang miền Bắc Việt Nam vào năm 580 và truyền mãi qua các thời Đinh Lê Lý Trần cho đến đời Ngài vẫn không bị lạc Tông chỉ. Vẫn là viên ngọc đó, viên ngọc BẢN TÂM – BẢN TÁNH – PHẬT TÁNH – KHUÔN TRĂNG MẸ - KHỐ MẸ SANH RA TA – MẶT MŨI XƯA NAY.

a) Đây là dòng Thiền KIẾN TÁNH được truyền trực tiếp từ Tuệ Trung Thượng Sỹ vị thầy của vua Trần Nhân Tông – Điều Ngự Giác Hoàng. Dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử đây đích thực là dòng Thiền KIẾN TÁNH. Là dòng Thiền chỉ thẳng TÂM người thấy TÁNH thành Phật (Trực chỉ nhân TÂM kiến TÁNH thành PHẬT).
Nhị Tổ Pháp Loa là vị Tổ rất tích cực trong việc phát dương quang đại dòng Thiền này cho đến khi viên tịch. Trước khi mất, Ngài đã “đạp” Huyền Quang một đạp khi Huyền Quang thăm Ngài và nói: “Chỉ một bệnh này đến chết cũng không mạnh”. Ngài đã khai thị cho Huyền Quang một cách táo bạo như vậy. Cái đạp vũ dũng như vậy là rồng voi mới chịu nổi, đó là tiếng thét của:

Bất lập văn tự
Giáo ngoại biệt truyền
(Chẳng lập văn chữ
Truyền riêng ngoài giáo)

Cái đạp đó Huyền Quang đón nhận và trở thành Đệ Tam Tổ.

b) Bằng tôn chỉ này Ngài đã khai đạo rằng: “Đại đạo rộng suốt nào có ràng buộc, BẢN TÁNH lặng lẽ không thiện không ác bởi do chọn lựa chợt sanh nhiều lỗi, vừa khởi mảy may đã xa trời đất”. Đây quả là Tông chỉ của Tứ tổ Tỳ Ni Đa Lưu Chi.

Nhị Tổ Pháp Loa quả là một thạch trụ vững chắc đã chống đỡ ngôi nhà Thiền Trúc Lâm Yên Tử dù rằng tuổi đời của Ngài chưa lớn lắm chỉ mới 47 tuổi. Bốn mươi bảy tuổi đời chống Sơn Môn Tông Phong vững chắc theo ngày tháng độ khắp con dân của nước nhà huy hoàng tỏ rạng cho trời Việt.

Bốn mươi bảy tuổi chống Sơn Môn
Tông phong vững chắc theo ngày tháng
Độ khắp con dân của nước nhà
Huy hoàng tỏ rạng cho Đại Việt.

_____________

HT. Thích Đắc Huyền

http://www.tvsungphuc.net

TÌM VỀ CHỐN TỔ THIỀN TRÚC LÂM TỪ NHỮNG LÁT CẮT KHẢO CỔ

Tưởng niệm 710 năm Ngày Đức Vua Trần Nhân Tông hóa Phật (1-11 âm lịch), chúng tôi đã có cuộc phỏng vấn nhà khảo cổ học TS Nguyễn Văn Anh về những nghiên cứu khảo cổ trong khu vực chốn Tổ Thiền Trúc Lâm và Am Ngọa Vân nơi Đức Vua Trần Nhân Tông nhập Niết bàn.

 

Tháp Phật Hoàng tại chùa Ngọa Vân, xã An Sinh, thị xã Đông Triều, Quảng Ninh.


Phóng viên: Là một nhà nghiên cứu đã giành tâm huyết điều tra, khai quật và nghiên cứu khảo cổ học hơn 10 năm qua tại các di tích chùa tháp của Thiền phái Trúc Lâm, và tìm hiểu quá trình tu luyện thành Phật của Đức Vua Trần Nhân Tông, Tiến sĩ có thể cho biết hành trình đó tiến hành như thế nào?

 

TS Nguyễn Văn Anh: Tháng 8-1299, Thượng hoàng Trần Nhân Tông (1279 -1293) rời bỏ cung Trùng Quang Phủ Thiên Trường (Nam Định) xuất gia vào núi Yên Tử tu hành khổ hạnh, lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà và xưng là Trúc Lâm Đại Sĩ. Tháng 5 năm Đinh Mùi (1307), Trúc Lâm Đại Sĩ lên núi Bảo Đài, lập am nhỏ trên đỉnh Vân Phong làm nơi tu hành, am đó gọi là Am Ngọa Vân. Ngày 1-11 năm Mậu Thân (1308), Ngài “an nhiên viên tịch” ở tư thế sư tử nằm tại Am Ngọa Vân, kết thúc trọn vẹn quá trình tu hành, đắc đạo và hóa Phật của Ngài. Trong hành trình đó, Vân Yên, Tử Tiêu là nơi Ngài tu hành, đắc đạo, giảng pháp, độ tăng còn Ngọa Vân là nơi Ngài thành Phật.

 

Sau khi Trúc Lâm Đại Sĩ hóa Phật, đệ tử của Ngài là Pháp Loa đã tiến hành hỏa táng nhục thể của Ngài ngay tại Ngọa Vân, thu hơn 3.000 viên xá lợi. Tại Ngọa Vân, Pháp Loa cho dựng một tòa bảo tháp gọi là Phật Hoàng tháp làm nơi lưu giữ xá lợi, số còn lại đích thân Vua Trần Anh Tông rước về an trí trong bảo tháp chùa Tư Phúc, một ngôi chùa của Hoàng gia trong Hoàng cung Thăng Long.

 

Là nơi Phật Hoàng Trần Nhân Tông tu hành và hóa Phật, Ngọa Vân cũng chính là chốn Tổ của Thiền Phái Trúc Lâm. Do vậy, sau khi Ngài hóa, được sự trợ duyên của Vua Trần Anh Tông, Tổ thứ hai của Thiền phái Trúc Lâm là Pháp Loa đã xây dựng và mở rộng Ngọa Vân thành một chốn tùng lâm. Nếu trước đây Ngọa Vân chỉ có một am nhỏ làm nơi tu thiền của Phật hoàng, thì đến thời điểm đó, Ngọa Vân đã trở thành một quần thể Chùa-Am với nhiều công trình kiến trúc chùa, tháp. Trong đó, Am Ngọa Vân là nơi thờ Đệ nhất Tổ Phật Hoàng Trần Nhân Tông.

 

Phóng viên: Theo Tiến sĩ, dấu vết về xá lợi của Phật hoàng Trần Nhân Tông hiện lưu ở đâu?

 

TS Nguyễn Văn Anh: Theo ghi chép của các nguồn sử liệu và những nghiên cứu gần đây cho biết, xá lợi của Phật hoàng được rước về an trí tại bảo tháp của chùa Tư Phúc trong Hoàng thành Thăng Long, sau đó được phân phát đi nhiều nơi, bao gồm: Bảo tháp ở Đức Lăng phủ Long Hưng, nay thuộc thôn Tam Đường, Hưng Hà, Thái Bình, nơi có một số lăng tẩm của các vua đầu triều nhà Trần; Bảo tháp Phổ Minh tại chùa Phổ Minh phủ Thiên Trường, nay là chùa Phổ Minh TP Nam Định; Tháp Báo Thiên bên hồ Lục Thủy (hồ Hoàn Kiếm); Tháp Tuệ Quang tại Hoa Yên (thường gọi là Tháp Tổ tại chùa Hoa Yên), nay thuộc Khu di tích danh thắng Yên Tử, TP Uông Bí, Quảng Ninh. Năm 1327 sau khi mở Quỳnh Lâm viện, một trung tâm đào tạo tăng tài lớn và quan trọng nhất của thiền phái Trúc Lâm, có hai tòa bảo tháp để lưu giữ xá lợi Phật hoàng tại Quỳnh Lâm và một phần được an trí tại bảo tháp chùa Tư Phúc.

 

Ngày nay, hầu hết các điển an trí xá lợi của Phật hoàng đều trở thành phế tích, có lẽ xá lợi còn lại được biết chính xác nhất là tại Tháp Phổ Minh. Sách Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú có chép lại chuyện, khi quân Tây Sơn đánh ra ngoài bắc, quân sĩ phá chóp tháp để lấy đồng đúc vũ khí, khi phá đến tầng 11, họ phát hiện trong đó có một cái hòm. Khi mở, hòm phát tia sáng nên họ sợ để lại. Năm 1986, khi trùng tu Tháp Phổ Minh, lãnh đạo tỉnh có cho kiểm tra lại xem ghi chép lịch sử có đúng hay không? thì đã tìm thấy hòm xá lỵ ở tầng thứ 11 như ghi chép của sử cũ. Những người trực tiếp tham gia việc trùng tu cho biết, hòm được xích sắt và rất nhiều lớp, nhưng người ta không dám mở ra, vì vậy thực hư trong đó có gì và bao nhiêu lớp thì hiện nay cũng không ai biết.

 

Phóng viên: Một di tích quan trọng vốn là chốn Tổ không chỉ của Phật giáo Trúc Lâm mà là của Phật giáo Việt Nam nhưng sao đến nay vẫn ít người biết đến như vậy?

 

TS Nguyễn Văn Anh: Rất đáng buồn vì điều anh băn khoăn lại là thực tế. Ít người biết đến Ngọa Vân và Ngọa Vân nằm ở đâu, mặc dù việc tìm hiểu về Ngọa Vân đã từng là vấn đề quan trọng trong chương trình nghiên cứu về thời Trần và văn thời Lý - Trần của nhiều viện nghiên cứu chuyên ngành như Viện Khảo cổ học, Viện Văn học, Viện Mỹ thuật,v.v. liên quan đến vấn đề này cũng có nhiều ý kiến khác nhau, thậm trí là trái chiều, nhưng nhìn chung mọi ý kiến đều cho rằng Ngọa Vân là một am nhỏ nằm trong khu vực Yên Tử thuộc Uông Bí. Vấn đề là việc các nhà nghiên cứu tự khoanh cho mình giới hạn của Yên Tử xưa trong quan niệm của Yên Tử nay. Do vậy, người ta đã loại trừ các vị trí bên ngoài Yên Tử, kết quả không ai đưa ra được bằng chứng nào có tính thuyết phục về vị trí của Ngọa Vân, và Ngọa Vân vẫn là một khoảng trống không được lấp đầy và dần đi vào lãng quên, giới tu hành hầu như cũng không để tâm đến, ngoài nỗ lực của Hòa thượng Thích Thanh Từ. Bản thân Sư ông Thích Nhất Hạnh khi viết cuốn tiểu thuyết lịch sử Am mây ngủ, tức là về Am Ngọa Vân cũng nhầm lẫn khi cho rằng Am Ngọa Vân nằm ở đâu đó gần kề với Tử Tiêu, Vân Yên.

 

Phóng viên: Tại sao vấn đề Ngọa Vân dường như chìm vào quên lãng trong một thời gian dài lại khiến TS quan tâm một cách nhiệt thành đến vậy? Và bằng chứng nào có thể khẳng định Ngọa Vân chính là nơi Trần Nhân Tông lập am tu hành và hóa thân?

 

TS Nguyễn Văn Anh: Có nhiều người cũng hỏi tôi câu hỏi tại sao anh lại quan tâm đến Ngọa Vân, thực lòng tôi cũng không biết là tại sao. Có lẽ đó là cơ duyên của tôi. Năm 2007, sau sáu năm tốt nghiệp cử nhân ngành khảo cổ học và về công tác tại Viện Khảo cổ học, lần đầu tiên tôi được giao nhiệm vụ chủ trì một cuộc khai quật, tất nhiên là cuộc khai quật thăm dò thôi. Viện giao cho tôi chủ trì khai quật thăm dò di tích Thái Lăng là lăng tẩm của vua Trần Anh Tông. Trong quá trình khai quật tại đây, tôi được nghe mọi người nói về chùa Ngọa Vân. Thực lòng tôi cũng không chú ý lắm vì có lẽ lúc ấy với tôi chùa Ngọa Vân cũng như bao chùa khác. Tôi chưa có khái niệm gì về Ngọa Vân. Rồi tôi được giao thêm nhiệm vụ khai quật thăm dò Di tích chùa Quỳnh Lâm. Chùa Quỳnh Lâm là một đại danh lam trong lịch sử, nổi tiếng bởi chùa có tượng Phật Di Lặc là một trong An Nam tứ khí. Không chỉ có vậy, Quỳnh Lâm là trung tâm đào tạo tăng tài lớn và quan trọng nhất của Thiền phái Trúc Lâm dưới thời Trần, thế kỷ 13. Khai quật một di tích quan trọng như vậy quả là quá sức đối với tôi, vì thế tôi phải tập trung để đọc tư liệu, khảo sát và tìm hiểu các di tích liên quan và tôi bắt đầu chú ý đến Ngọa Vân.

 

Cuối năm 2007, tôi được giao tiến hành điều tra khảo cổ học Di tích Hồ Thiên-Ngọa Vân, cuộc điều tra được tiến hành trong ba tháng, từ tháng 11-2007 đến tháng 2-2008, chúng tôi kết thúc cuộc điều tra và trở về Hà Nội vào ngày 27 tháng Chạp. Trước khi chia tay về Hà Nội, chúng tôi có tranh thủ báo cáo vắn tắt kết quả cuộc điều tra với ông Nguyễn Văn Lương, Phó Chủ tịch UBND huyện (nay là thị xã) Đông Triều, người phụ trách mảng văn xã và cũng là người thầy luôn đưa ra những đòi hỏi và phản biện lại những ý tưởng cũng như nhận định của tôi về các di tích tại Đông Triều. Khi chia tay, tôi hứa với ông Phó Chủ tịch là tôi sẽ viết một bài để công bố kết quả của cuộc điều tra.

 

Về Hà Nội, sau những ngày nghỉ Tết Nguyên đán, ông Lương có gọi báo cho tôi về bài viết của tác giả Trần Ngọc Linh công bố phát hiện Am Ngọa Vân tại Yên Tử. Ông bảo, nên xem lại kết quả điều tra vừa qua để có ý kiến chính thức về mặt khoa học. Đọc xong bài của tác giả Trần Ngọc Linh trên Vietnamnet, tôi bắt tay vào viết bài trao đổi trên Vietnamnet với tựa đề: Am Ngọa Vân ở đâu trên dãy núi thiêng Yên Tử. Thế là hoàn thành nhiệm vụ, Ngọa Vân cũng tạm được gác lại. Tháng 3-2008, tôi đã bắt tay vào việc khai quật Di tích Thái Lăng. Bỗng một hôm tôi nhận được cuộc điện thoại. Đầu dây là một người đàn ông, giọng nói ấm áp giới thiệu: “Anh là Trần Cẩm, đạo diễn của phòng Phim tài liệu khoa học, Đài Truyền hình Việt Nam. Anh đọc bài của em trên Vietnamnet về Am Ngọa Vân, muốn gặp em để bàn có thể dựng một bộ phim tài liệu”. Lần thứ nhất các anh đến gặp nhưng không báo trước nên hai bên không gặp được nhau do tôi về Hà Nội. Lần thứ hai, hai bên gặp nhau tại Đông Triều. Việc quay bộ phim Hành trình đi tìm nơi vua hóa Phật được thực hiện trong bối cảnh không có kịch bản như vậy. Ngồi dựng phim chúng tôi mới chợt nhận ra năm 2008 là tròn 700 năm ngày Trần Nhân Tông hóa Phật, có lẽ đó là một cơ duyên nữa khiến tôi gắn bó với Am Ngọa Vân.

 

Tháng 10-2008, tại Hội thảo khoa học Đông Triều với Lịch sử nhà Trần, tôi chính thức công bố kết quả nghiên cứu đầu tiên của mình về Ngọa Vân với tựa đề “Chùa Ngọa Vân qua các tư liệu khảo cổ học”. Trong bài viết đó, tôi cung cấp ba cứ liệu quan trọng: Cứ liệu về lịch sử địa lý để thấy không gian Yên Tử theo cách hiểu trước đây rộng lớn hơn nhiều so với cách hiểu ngày nay, theo đó, Yên Tử sơn là một không gian rộng lớn tương đương với một phần vòng cung Đông Triều từ Uông Bí đến Côn Sơn.

 

Cứ liệu thứ hai là tư liệu thư tịch liên quan đến Ngọa Vân, trong đó quan trọng nhất là những ghi chép trong sách Tam tổ thực lục và Văn bia Viên thông tháp bi, cuối cùng là các bằng chứng khảo cổ học phát hiện tại di tích bao gồm di tích và di vật. Tại chùa Ngọa Vân thuộc Đông Triều, các di tích đều gắn với địa danh Ngọa Vân như: Chùa Ngọa Vân, Am Ngọa Vân,v.v. Cũng tại đây còn lại Tháp Phật Hoàng, trong tháp đặt bài vị cho biết, tháp thờ vua thứ ba của nhà Trần, Tổ thứ nhất của Thiền phái Trúc Lâm Trần Nhân Tông hoàng đế. Mặc dù đây là tòa tháp được xây dựng lại vào năm 1707 nhưng Văn bia trùng tu Ngọa Vân tự ở đây cho biết, tháp được xây dựng lại do sau 400 năm ngày đức vua đến đây tu hành hóa Phật thì các công trình đã bị đổ nát. Văn bia còn khắc lại nội dung sắc chỉ của Chúa Trịnh giao cho dân xã An Sinh là dân tạo lệ, có nhiệm vụ trông nom thờ phụng các lăng tẩm của vua Trần và chùa Ngọa Vân. Đặc biệt, tại đây còn tìm thấy một số viên ngói mũi sen thời Lê Trung Hưng trên lưng in nổi hai chữ Hán “雲峯 (Vân Phong)”. Vân Phong là tên gọi khác của Ngọa Vân, cách gọi này được ghi chép trong Tam tổ thực lục.

 

Trước những bằng chứng quan trọng đó, hầu hết các nhà khoa học tham gia Hội thảo đã thống nhất với kết luận: “Ngọa Vân, nơi đức vua Trần Nhân Tông tu hành và hóa Phật, nay là chùa Ngọa Vân thuộc địa bàn hai xã An Sinh và Bình Khê của huyện (nay là thị xã) Đông Triều”. Kết luận này đã chấm dứt cuộc tranh luận về vị trí của Am Ngọa Vân .

 

Phóng viên: Hiện cơ quan nào đang chịu trách nhiệm chính trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản đặc biệt này ?

 

TS Nguyễn Văn Anh: Năm 2013, Thủ tướng Chính phủ đã công nhận chùa Ngọa Vân và 13 di tích lăng tẩm, đền miếu và chùa tháp khác trong Khu di tích nhà Trần tại Đông Triều là di tích cấp quốc gia đặc biệt. Công tác quản lý các di tích này được phân cấp cho thị xã Đông Triều trực tiếp quản lý. Để làm tốt công tác quản lý, một mặt thị xã Đông Triều đã thông qua đề án Quản lý bảo tồn, tôn tạo di tích và danh thắng trên địa bàn thị xã từ năm 2014 đến 2020 và tầm nhìn 2030 với trọng tâm là Khu di tích nhà Trần; thành lập Ban quản lý di tích nhà Trần để thực hiện công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị. Mặc dù đã rất cố gắng nhưng công tác quản lý bảo tồn các di tích nhà Trần nói chung và di tích Ngọa Vân nói riêng còn gặp nhiều khó khăn và cần tiếp tục được tỉnh và Trung ương quan tâm.

 

Phóng viên: Xin cảm ơn TS Nguyễn Văn Anh và mong rằng, cá nhân ông cùng ngành khảo cổ sẽ tiếp tục có những nghiên cứu, phát hiện mới, giúp mọi người hiểu rõ hơn về một dòng phái Phật Việt Nam mang tên Trúc Lâm Yên Tử.

_______________

THÁI HÀ (thực hiện)

Nguồn: http://nhandan.com.vn

KHAI QUẬT KHẢO CỔ HỌC PHÁT LỘ TRUNG TÂM TÔN GIÁO THỜI TRẦN

Trong quá trình khai quật khảo cổ học tại chùa Am Các, xã Định Hải, huyện Tĩnh Gia (Thanh Hóa), các nhà khoa học đã phát hiện nhiều di vật, hiện vật liên quan đến hoạt động tôn giáo thời Trần ở địa phương.

 

Hố khai quật khảo cổ học tại chùa Am Các, xã Định Hải, huyện Tĩnh Gia (Thanh Hóa) -

Ảnh do Trường ĐH Văn hóa - Thể thao và du lịch tỉnh Thanh Hóa cung cấp

 

Chiều 17-12, Sở Văn hóa - Thể thao và du lịch tỉnh Thanh Hóa cho biết vừa phối hợp với Viện nghiên cứu kinh thành thuộc Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, Trường ĐH Văn hóa - Thể thao và du lịch Thanh Hóa công bố kết quả sơ bộ khai quật khảo cổ học tại chùa Am Các, xã Định Hải, huyện Tĩnh Gia.

 

Năm 2018, Trường hai đơn vị này đã mở 6 hố khai quật, thám sát khảo cổ học trên diện tích gần 543m2 tại các khu vực: tảng đá có khắc hình tượng Phật, chùa Hạ, chùa Trung và khu vực lò nung gạch, ngói chùa Am Các.

 

Các nhà khảo cổ học phát hiện các di tích kiến trúc, xưởng sản xuất vật liệu xây dựng tại chỗ, thu được nhiều di vật, hiện vật là bằng chứng xác định niên đại, địa điểm, các đơn nguyên trong quần thể di tích.

 

Một số đồ sứ phát hiện khi khai quật khảo cổ học tại chùa Am Các -

Ảnh do Trường ĐH Văn hóa - Thể thao và du lịch tỉnh Thanh Hóa cung cấp.

 

Các nhà khoa kết luận ban đầu: chùa Am Các hình thành vào thời Trần, thế kỷ XIV, phát triển mạnh thời Lê Trung hưng, thế kỷ XVIII, là trung tâm tôn giáo, tín ngưỡng lớn của tỉnh Thanh Hóa.

 

Theo các nhà khảo cổ học, cơ quan chức năng cần tiếp tục khai quật khảo cổ học, nghiên cứu sâu rộng hơn chùa Am Các và vùng phụ cận, bổ sung hồ sơ đề nghị công nhận di tích lịch sử, danh lam, thắng cảnh cấp quốc gia.

 

Xây dựng quy hoạch tổng thể bảo tồn, phát huy giá trị di tích, quy mô khoảng 300ha gắn với phát triển du lịch tâm linh, nghỉ dưỡng, chữa bệnh.

 

Trước mắt, chính quyền địa phương và ngành chức năng cần sớm làm nhà che bảo vệ khu lò sản xuất gạch, ngói cổ đã phát lộ; lấp cát, hoàn trả mặt bằng, bảo vệ các hố khai quật, các hố thám sát đã phát lộ.

 

Một số đồ bằng gốm phát hiện khi khai quật khảo cổ học tại chùa Am Các -

Ảnh do Trường ĐH Văn hóa - Thể thao và du lịch tỉnh Thanh Hóa cung cấp.

 

Được biết, chùa Am Các nằm trên núi Các bao phủ bởi thảm rừng thường xanh, cách huyện lỵ Tĩnh Gia 11 km. Trải qua thời gian và biến thiên của lịch sử, chùa Am Các đã bị phá hủy, hiện cần bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị di tích cấp tỉnh.

_______________

Hà Đồng

Nguồn: tuoitre.vn

SỰ PHỤC HƯNG MÔN PHÁI TRÚC LÂM

 

NGUYÊN DO CỦA SỰ PHỤC HƯNG

 

Vào khoảng giữa thế kỷ thứ mười bảy, một số khá đông các cao tăng từ Trung Hoa đã qua Ðại Việt hành đạo, đây là một nguyên nhân quan trọng khiến cho Phật Giáo ở nước ta được phục hưng.

 

Những cao tăng này phần nhiều đã rời bỏ quê hương họ trong thời gian chuyển tiếp giữa đời nhà Minh và đời nhà Thanh. Hồi đó Ðại Việt đang ở vào tình trạng Nam Bắc phân tranh, và Trịnh Nguyễn đang ở vào tình trạng Nam Bắc phân tranh, và Trịnh Nguyễn đã bắt đầu đánh nhau ở Quảng Bình và Hà Tĩnh.

 

Sau gần một thế kỷ loạn lạc, đầy dẫy bạo động, đức tin của các nhà chính trị nơi triết học Tống Nho đã lung lay. Nhiều sĩ phu đại diện cho Triết học Tống Nho trong suốt thời gian đó đã chứng tỏ hư hỏng và bất lực. Trong đau khổ cùng cực, người ta bắt đầu quay về với đạo Phật, một đạo lấy đức từ bi là gốc và kỹ thuật trị thế là chủ yếu. Các Chúa Trịnh cũng như các Chúa Nguyễn, không phải là những người học Phật thâm uyên và có ý chí tu học như các vua Trần, nhưng đã quy hướng về đạo Phật, lấy đó làm nơi nương tựa tinh thần. Họ không phải là những nhà hành đạo Phật giáo như các vua Trần. Họ chỉ là những tín đồ Phật Giáo, lấy sự ủng hộ Phật Giáo để tạo dựng công đức cho dòng họ chứ không biết áp dụng Phật Giáo vào việc dựng nước. Tuy vậy, đó cũng là một trong những nguyên nhân đưa tới sự phục hưng.

 

Với sự nứt rạn dần dần của niềm tin nơi triết học Tống Nho, nhiều nhà trí thức, sau khi nếm đủ khí vị vô thường và đen bạc của thời đại, cũng đã bắt đầu xoay sang nghiên cứu Phật học. Ðã thấy một số nho sĩ trí thức bỏ Nho theo Phật. Thiền phái Lâm Tế lại được truyền vào nước ta một lần nữa: Ðàng ngoài thì do các thiền sư Chuyết Chuyết và Minh Hành; Ðàng Trong thì do các thiền sư Nguyên Thiều và Minh Hoàng. Ta nhớ rằng thiền phái Lâm Tế đã được truyền vào Ðại Việt lần đầu tiên so thiền sư Thiên Phong ở thế kỷ thứ mười ba: Trần Thái Tông và quốc sư Ðại Ðăng là hai người đệ tử đầu và xuất sắc. Sau Chuyết Chuyết, Minh Hành, Nguyên Thiều và Minh Hoàng, một số cao tăng khác từ Trung Hoa qua hành đạo cũng mang theo thiền học Lâm Tế. Ðồng thời thiền phái Tào Ðộng được truyền sang Ðại Việt lần đầu: ở Ðàng Ngoài thì do thiền sư Thủy Nguyệt sang du học ở Trung Hoa mang về, ở Ðàng Trong thì do các thiền sư Hưng Liên và Thạch Liêm đưa tới.

 

THIỀN SƯ CHUYẾT CHUYẾT

 

Thiền sư Chuyết Chuyết tên Thiên Tộ, họ Lý, pháp danh là Hải Trừng, pháp hiệu là Viên Văn, thường được gọi là Chuyết Công, sinh năm 1590, tại quận Thanh Chương thuộc tỉnh Phúc Kiến. Thuở nhỏ học thông tứ thư ngũ kinh, lớn lên xuất gia tu học với Tiệm Sơn trưởng lão. Sau lên cầu học với Ðà Ðà Hòa thượng ở Nam Sơn. Theo sách Kế Ðăng Lục của Như Sơn, Hòa thượng Ðà Ðà là một danh tăng thường được vua Minh Thế Tông vời vào cung điện để bàn việc triều đình, và được vua phong cho đạo hiệu là Khuông Quốc Ðại Sư. Sau khi đắc pháp với Ðà Ðà, Chuyết Chuyết vân du trong quốc nội để giáo hóa, rồi vào khoảng năm 1630 cùng với số đệ tử dùng thuyền nhỏ rời khỏi Trung Hoa đi về miền Nam. Ông và các đệ tử đổ bộ lên đất Cao Miên. Rồi rời Cao Miên ông đi qua Chiêm Thành, vượt Chiêm Thành sang Ðại Việt, Từ Ðàng Trong, ông cùng các đệ tử khởi hành ra Ðàng Ngoài, dừng chân hoằng hóa tại các chùa Thiên Tượng, Nghệ An và chùa Trạch Lâm, Thanh Hóa một thời gian. Ðến năm 1633, thầy trò tới được kinh thành Thăng Long. Thầy trò ông cũng có mang theo một số kinh điển. Ðến Thăng Long, ông và đệ tử ở lại chùa Khán Sơn và bắt đầu giảng dạy Phật pháp. Người đến học gồm cả người Trung Hoa và người Việt Nam. Sau một thời gian, Chuyết Chuyết dời về chùa Phật Tích, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, cách kinh thành chừng ba mươi cây số. Trong thời gian hoàng hóa ở đó, Chuyết Chuyết được Chúa Trịnh Tráng biết đến và hâm mộ, xem như bậc thầy. Vua Lê Huyền Tông và các bậc công hầu cũng đều kính trọng. Sau đó một thời gian vì Chúa Trịnh Tráng muốn có thêm kinh điển Phật Giáo để lưu hành trong nước, cho nên Chuyết Chuyết ủy đệ tử mình là Minh Hành trở về Trung Hoa để thỉnh kinh. Kinh điển thỉnh về được an trí tại chùa Phật Tích. Một số kinh đã được khắc bản trong thời ấy để ấn loát và phổ biến. Bản khác đều được tàng trử tại chùa Phật Tích(46). Trong số những kinh sách mà Chuyết Chuyết mang theo lần đầu, có một nghi thức cúng cô hồn dưới nước và trên cạn, gọi làThủy Lục Chư Khoa. Chuyết Chuyết và các đệ tử đã tổ chức một trai đàn lớn, cầu cho tất cả vong linh nạn nhân của thời đại. Nghi thức và cách tổ chức trai đàn này rất được vua Lê chúa Trịnh và các bậc công hầu thời ấy hâm mộ. Thủy Lục Chư Khoa từ đó được áp dụng rộng rãi tại các chùa Ðàng Ngoài.

 

Sau khi hoàng thái hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc và công chúa Trịnh Thị Ngọc Duyên xuất gia tại chùa Phật Tích, chúa Trịnh Tráng bắt đầu cho trùng tu lại chùa Ninh Phúc ở Bút Tháp(47). Khi việc trùng tu hoàn tất, Chuyết Chuyết được mời sang trú trì chùa Ninh Phước cho đến khi viên tịch. Ông tới Thăng Long năm 43 tuổi. Ông mất ngày rằm tháng bảy năm Giáp thân (1644), thọ 55 tuổi. Sau khi Chuyết Chuyết viên tịch, vua Lê Chân Tông phong hiệu là Minh Việt Phổ Giác Quảng Tế Ðại Ðức Thiền Sư. Thiền sư Minh Hành lập tháp Báo Nghiêm để an trí nhục thân của ông. Trên đỉnh tháp có hình một cây bút do Minh Hành dựng. Một vị cư sĩ gốc Trung Hoa tên Âu Dương Vựng Ðăng được Minh Hành nhờ viết một bài văn bia kỷ niệm. Theo bài văn bia thì Chuyết Chuyết khí tượng lạ lùng và có tài cảm hóa, được vua Lê rước làm thầy và được các bậc công hầu kính trọng. Ông lại viết: “Tôi học Phật, lánh sang nước Nam, có dịp được hội đàm với thiền sư Chuyết Chuyết tại chùa Khán Sơn ở Thăng Long. Lúc mới gặp, ta có thể nghĩ ông là người khùng. Nhưng lâu ngày, tôi thấy ông là một người rộng rãi thông minh, trong lòng không vướng bận một điều gì. Ông lại có tài ngôn luận, bởn cợt và cả bậc công khanh. Ông đức độ trung hậu, biết kính già yêu trẻ, coi bậc thiên tử như bạn thân, khinh tiền của như cỏ rác…

 

Chuyết Chuyết thuộc về thế hệ thứ 34 dòng Lâm Tế. Hai vị đệ tử xuất sắc nhất của Chuyết Chuyết là Minh Hành và Minh Lương; Minh Hành là người gốc Trung Hoa, còn Minh Lương là người Ðại Việt.

 

THIỀN SƯ MINH HÀNH

 

Thiền sư Minh Hành pháp hiệu là Tại Tại, là người phủ Kiến Xương, tỉnh Giang Tây. Ông từng là cánh tay phải của Chuyết Chuyết. Truyền thống Phật Giáo Ðàng Trong thường liên hệ ông với Nguyên Thiều, người đem phái Lâm Tế truyền vào Ðàng Trong, và có khi cho rằng ông là đệ tử của thiền sư Nguyên Thiều nữa. Nguyên Thiều sang Ðại Việt năm 1665, có nghĩa là sau khi Minh Hành đã tịch(48). Như vậy truyền thuyết cho rằng ông đã làm một trong những danh tăng do Nguyên Thiều vâng mệnh chúa Nghĩa Vương về Trung Quốc mời sang để tham dự giới đàn truyền giới tại chùa Linh Mụ là không đúng. Thiền sư Minh Hành ngày trước đã cùng thầy là Chuyết Chuyết từ Cao Miên đi qua Chiềm Thành rồi sang Ðại Việt; trước khi ra Ðàng Ngoài đã đi qua Ðàng Trong, và có thể thầy trò đã dừng chân hoằng hóa tại Bình Ðịnh (lúc bấy giờ Bình Ðịnh đã thuộc về lãnh thổ Ðại Việt) và Thuận Hóa, và đã ghi dấu chân ở những nơi đó. Ta biết rằng Chuyết Chuyết và Minh Hành trước khi đến Thăng Long cũng đã dừng chân hoằng hóa tại Nghệ An, hành đạo tại chùa Thiên Tượng và ở Thanh Hóa khai sáng chùa Trạch Lâm.

 

Năm 1643 khi Chuyết Chuyết dời sang trú trì chùa Ninh Phúc ở Bút Tháp thì Minh Hành trở thành viện chủ chùa Phật Tích. Rồi đến năm 1644 khi Chuyết Chuyết mất, ông trở thành viện chủ chùa Ninh Phúc. Ông mất vào năm 1659, thọ 64 tuổi. Hai ngọn tháp được dựng nên để thờ ông: một ngọn ở chùa Ninh Phúc, một ngọn ở chùa Trạch Lâm, tỉnh Thanh Hóa. Tại ngọn tháp chùa Trạch Lâm, một pho tượng mà Bezacier cho là “kiểu tượng Việt Nam khéo nhất mà chúng ta đã thấy”(49).

 

Chân trú và Diệu Tuệ là hai người đệ tử của Minh Hành. Chân Trú trù trì chùa Hoa Yên núi Yên Tử, còn Diệu Tuệ trú trì chùa Phật Tích. Minh Hành có để lại một bài kệ truyền pháp như sau

 

Minh Chân Như Tính Hải

Kim Tường Phổ Chiếu Thông

Chí Ðạo Thành Chính Quả

Giác Ngộ Chứng Chân Không

 

nghĩa là

 

Thấy chân như biển rộng

Ánh vàng chiếu vô cùng

Ðạt đạo thành chính quả

Giác ngộ chứng chân không

 

Chữ của bài kệ này đã được dùng để tự đặt pháp danh cho những thế hệ tiếp của phái Lâm Tế tại Ðàng Ngoài.

 

CHÂN NGUYÊN, NGƯỜI CÓ CÔNG PHỤC HƯNG MÔN PHÁI TRÚC LÂM

 

Một trong những ngọn đuốc sáng của Phật Giáo Ðàng Ngoài là thế kỷ thứ mười bảy là thiền sư Chân Nguyên, trú trì chùa Long Ðộng. Chính Chân Nguyên và các đệ tử của ông đã làm phục hưng phái Trúc Lâm, cứu vãn được một số quan trọng những tác phẩm của các thiền tổ Trúc Lâm bằng cách sưu tầm, hiệu đính, khắc bản và lưu hành những tác phẩm này.

 

Thiền sư Chân Nguyên họ Nguyễn tên Nghiêm, quê ở làng Tiền Liệt, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, Ông sinh năm 1646, xuất gia năm 19 tuổi, học với thiền sư Chân Trú tại chùa Hoa Yên, được pháp danh là Tuệ Ðăng. Nhưng sau đó không lâu, Chân Trú qua đời. Bèn cùng với bạn đồng liêu là Như Niệm tu hạnh đầu đà, du phương để tham vấn thêm Phật pháp. Sau đó Như Niệm đổi ý, không đi vân du nữa mà về trú trì chùa Cô Tiên, Tuệ Ðăng bèn lên chùa Vĩnh Phúc ở núi Côn Cương tham học với thiền sư Minh Lương, đệ tử của Chuyết Chuyết. Minh Lương đặt pháp hiệu cho ông là Chân Nguyên. Chữ chân là chứ thứ hai trong bài kệ tuyền pháp của Minh Hành, sau chữ minh của Minh Lương. Ở đây, Chân Nguyên thụ bồ tát giới đốt hai ngón tay để phát nguyện hạnh đạo bồ tát. Ông xây dựng đài Diệu Pháp Liên Hoa tại chùa Vĩnh Phúc. Sau đó ông được truyền thừa y bát Trúc Lâm, làm trú trì chùa Long Ðộng và Quỳnh Lâm, xưa vốn là những trung tâm lớn của phái Trúc Lâm. Năm 1684, Chân nguyên dựng đài Cửu Phẩm Liên hoa tại chùa Quỳnh Lâm, theo kiểu mẫu đài Cửu Phẩm Liên Hoa mà Huyền Quang đã dựng ngày xưa tại chùa Ninh Phúc. Nă 1692, hồi bốn mươi sáu tuổi, ông được vua Lê Hi Tông triệu vào cung để tham vấn đạo Phật. Khâm phục tài đức ông, bua ban cho Chân Nguyên mỹ hiệu Vô Thượng Công và dâng cúng áo cà sa cũng những pháp khí để thờ tự. Năm 1722, hồi 76 tuổi, ông được vua Lê Dụ Tông phong chức tăng thống và ban hiệu Chính Giác Hòa Thượng. Năm 1726, trong tư thế kiết già, ông tịch và tháng Mười âm lịch, thọ 80 tuổi. Vua Dụ Tông truyền dựng tháp Tịch Quang tại chùa Long Ðộng và chùa Quỳnh Lâm.

 

Sách Ðăng Kế Lục nói rằng một hôm ông tham vấn Minh Lương về một điều thâm diệu trong Phật pháp thì chỉ thấy Minh Lương nhìn thẳng vào hai mắt ông một hồi lâu, nhờ đó mà ông giác ngộ. Minh Lương có để lại một bài kệ phó pháp sau đây cho Chân Nguyên:

 

Ngọc xinh ẩn trong đá

Hoa sen nẩy tự bùn

Nên biết tìm giác ngộ

Nơi sinh tử trầm luân.

 

(Mỹ ngọc tàng ngoan thạch

Liên hoa xuất ư nê

Tu tri sinh tử xứ

Ngộ thị tức bồ đề)

 

Chân Nguyên có nhiều đệ tử xuất sắc, trong số các vị ấy, ta có thể kể Như Hiện, Như Trừng, Như Sơn và Như Trí. Chữ như là chữ thứ ba trong bài kệ truyền pháp của Minh Hành. Chân Nguyên để lại hai bài kệ truyền pháp, bài sau đây được chép trong sách Kế Ðăng Lục:

 

Chính niệm phân minh được suốt ngày

Là đem thể tính tự phô bày

Giác quan vận dụng chân thường kiến

Vạn pháp tung hoành giác ngộ ngay

 

(Hiển tích phân minh thập nhị thì

Thử chi tự tình nhậm thi vi

Lục căn vận dụng chân thường kiến

Vạn pháp tung hoành chính biến tri).

 

Còn một bài nữa được chép trong bài Ngộ Ðạo Nhân Duyên do ông sáng tác:

 

Thể tính xưa nay vốn nhất như

Hào quang chiếu sáng cõi không hư

Nếu lấy giác quan mà vận dụng

Tinh thông muôn pháp đạt Vô dư

 

(Cùng kim cắng cổ bản như như

Pháp tính viên đồng xán thái hư

Ưng xuất lục căn năng vận dụng

Tinh thông vạn pháp triệt vô dư)

 

Những sáng tác của Chân Nguyên hiện có:

 

1) An Tử Sơn Trúc Lâm Trần Triều Thiền Tông Bản Hạnh

2) Ngộ Ðạo Nhân Duyên

3) Thiền Tịch Phú(*)

 

Ông còn hiệu đính và trùng khắc Thánh Ðăng Lục; Các thế hệ sau ông được phú chúc sự nghiệp phục hồi nền văn học Phật Giáo nước nhà. Như Trí trùng san sách Thuyền Uyển Tập Anh (1715). Như Sơn soạn Kế Ðăng Lục (1734). Như trừng và Như Hiện chuyển ra văn Nôm những bản về giới luật như Sa Di Thập Giới, Hai Mươi Bốn Thiên Uy Nghi, v.v… từ trước chỉ lưu truyền bằng Hán văn. Tịnh Quang trùng san Thượng Sĩ Ngữ Lục (1763). Sách Tam Tổ Thực Lục được trùng san 1765 cũng do người trong pháp phái thực hiện

 

Thiền Tông Bản Hạnh

 

Như đã nói trong các chương X và XVIII, tên đẩy đủ của sách là An Tử Sơn Trần Triều Thiền Tông Bản Hạnh. Ðây là một cuốn sách viết bằng thơ Nôm lục bát, cùng tài liệu của các sách Thánh Ðăng Lục, Khóa Hư Lục và Tam Tổ Thực Lục. Bản của chúng tôi được đọc thuộc bản in năm 17458 do Ni cô Diệu Thuần ở chùa của bổn sư là Liễu Viên. Tuy tài liệu dùng để viết sách đều lấy ở các tác phẩm cổ, nhưng đoạn đầu và đoạn cuối sách phản chiếu khá rõ rệt quan điểm thiền học của Chân Nguyên.

 

Ngộ Ðạo Nhân Duyên

 

Ðó là một bài văn chữ Hán, cũng nói về quan niệm thiền của Chân Nguyên, kèm theo nhiều bài thơ và kệ của tác giả. Bài này thấy in trong kỳ trùng khắc năm 1745 của sách Thiền Tông Bản hạnh.

 

Thiền Tịch Phú

 

Ðây là một bài phú Nôm về chùa Long Ðộng, rất giàu từ ngữ thuần túy Việt Nam. Bài này làm ta nhớ bài Vịnh Hoa Yên Tự Phú của Huyền Quang. Bài phú này được chùa Long Ðộng duy trì và được Thiền Phổ phiên âm và in trong Ðuốc Tuệ số 7, ra ngày 21.1.1936 tại Hà Nội.

 

Ðể có một ý niệm về nghệ thuật phú Nôm của Chân Nguyên, chúng ta hãy đọc một đoạn trong Thiền Tịch Phú:

 

Am thờ tổ ngói lấp gỗ lim

Nhà trú tăng vách vôi tường gạch

Mấy bức kẻ chữ triện mực giồi

Bốn bên diễu câu lơn sóc sách.

Gác rộng thênh chuông đưa ba chập, niệm nam mô nhẹ tiếng boong boong

Lầu cao vót trống điểm mấy hồi, đọc thần chú khua tang cách cách

{…}

Chè Bát đức sẵn đà lưu loát, chẳng phải lo củi nấu kỳ cầm

Bách tam thừa vốn đã chứa chan, nào có nhọc bột đâm thì thịch

Quả Bồ đề ăn ngọt xớt, muôn kiếp hằng no

Hoa Ưu bát ngửi thơm tho, ngàn đời chẳng dịch

Sang Tây phương bệ ngọc đứng phơi

Về Ðông độ tòa vàng ngồi phịch

Bể Từ bi thênh thang rộng rãi, mặc sức chở người

Thuyền Bát nhã thăm thẳm bao la, giàu lòng độ khách

{…}

Thích Ca Phật tổ ngồi tuyết sơn khô chẳng gầy gùa

Di Lặc Tiên quang di vận thủy đẩy đà phục phịch

Ðức Huệ Năng bát nguyệt thung phường

Tổ Ðạt Ma cửu niên diện bích

Thần quang đoạn tý, lúc còn mê mặt khó đăm đăm

Ca Diếp nhãn đồng, thoạt chốc ngộ miệng cười khềnh khệch

Dù ai quyết lòng học đạo, hỏi cho hay sừng thỏ lông rùa

Hoặc kẻ dốc chí chân tu, xem cho biết đầu cua tai ếch…

 

TƯ TƯỞNG THIỀN CỦA CHÂN NGUYÊN

 

Theo Chân Nguyên, đóa sen mà Phật đưa lên cho đại chúng ở hội Kỳ Viên xem, đóa sen đã làm cho Ca Diếp mỉm cười, là tượng trưng cho tính giác ngộ có tính trong sáng tròn đầy (trạm viên) của tất cả chư Phật và tất cả chúng sinh. Giác ngộ thành đạo tức là phát hiện được tự tính đó: tự tính này hiện hữu một cách bình đẳng nơi mọi loài và mọi vật, không phân biệt trong ngoài trên dưới:

 

Thuở xưa hội cả Kỳ viên

Bụt cầm một đóa hoa sen giơ bày

Ca Diếp trí tuệ cao tay

Liễu ngộ tự tính bằng nay mỉm cười

Trần trần sát sát Như Lai

Chúng sinh mỗi người mỗi có hoa sen

Hoa là vốn tính trạm viên

Bao hàm thiên địa dưới trên cùng bằng (50)

 

Khi một bậc giác ngộ muốn diễn tả nói năng, thì chính đóa hoa ấy của tâm (tâm hoa) ứng miệng nói ra chứ không phải là do ta vận dụng tri thức, quan niệm và ngôn ngữ thông thường:

 

Hậu học đã biết hay chăng

Tâm hoa ứng miệng nói năng mọi lời (51)

 

Như vậy đối với Chân Nguyên, tất cả những điều nói năng không phát xuất trực tiếp từ kinh nghiệm về tự tính đều là những điều trống rỗng. Phương pháp của thiền khác với phương pháp của giáo. Thiền là sự trao truyền của tâm qua tâm, còn giáo là sự trao tuyền bằng kinh bằng lục:

 

Giáo là kinh lục kể bày

Giấy mực văn tự chất đầy hà sa

Tông là nguyên tự tính ra

Vốn vô nhất vật, lặng hòa hư linh (52)

 

Ðọc kinh thì lâu lắm mới hiểu được đạo, trong khi chiêm nghiệm theo lời chỉ dẫn của tổ thì có thể chứng ngộ trong giây phút:

 

Xem kinh Bụt thuyết còn xa

Nghiệm cơ tổ bảo sát na biết rồi (53)

 

Chân Nguyên lại khuyên độc giả đừng ngại ngùng khi nghe những mẫu vấn đáp có tính cách kỳ lạ giữa các tổ và môn đệ của họ. Những mẩu vấn đáp này đích thị là ngôn ngữ Thiền, nhằm đối trị các trường hợp cao thấp thuận nghịch khác nhau, là những phương tiện đập vỡ thói quen và thành kiến để đưa người ra khỏi sự bế tắc:

 

Ngộ tính không tịch thì thôi

Chẳng lạ chỉ lời vấn đáp tiêu hao

Cơ quan thuận nghịch thấp cao

Những sự huyễn trí chiêm bao đặt làm

Ðại vi thuyết pháp chỉ nam

Cho ta ngộ đảo kẻ đàm kinh lâu (54)

 

Ngôn ngữ này lắm khi chỉ là sự giữ lặng thinh, hoặc là giương mắt, hoặc là nhíu lông mày, hoặc là hét lên một tiếng vang dội như sư tử lớn:

 

Hoặc là nghiễm tọa vô vi

Hoặc là thuấn mục, giương mi giao thuần

Hoặc hiện sư tử tấn thân

Quát thét một tiếng xa gần vang uy

Ai khôn xem đấy sá nghì

Hội ngộ tự tính, tức thì chứng nên (55)

 

Nhưng lối truyền thông mà Chân Nguyên ưa nói nhất là nhìn thẳng vào hai mắt cả người mình đối thoại. Ta nhớ hồi còn tu học với Minh Lương, Chân Nguyên vì được Minh Lương nhìn thẳng vào hai mắt mình mà trong phút giây giác ngộ. Cho nên ông đã dùng hình ảnh này nhiều lần trong Thiền Tông Bản Hạnh:

 

Tam thế chư Phật tổ sư

Tứ mục tương cố thị cừ thiền cơ

Tứ mục tương cố là bốn mắt nhìn nhau.

Tứ mục tương cố nhãn đồng

Thầy tớ trao lòng đăng chúc giao huy.

 

Thầy tớ trao lòng là sự truyền tâm giữa thầy và trò, còn đăng chúc giao huy là đèn đuốc nối sự sáng cho nhau.

 

Hóa Phật thọ ký vô biên

Tứ mục tương cố mật truyền tâm tông

 

Ông lại cũng dùng những hình ảnh này trong tác phẩm Ngộ Ðạo Nhân Duyên nữa:

 

Ðèn tâm mắt Phật mới vừa sinh

Tâm ấn truyền nhau, bốn mắt nhìn

Tiếp nối đèn kia về bất tận

Thiền lâm thắp mãi ánh quang minh.

 

(Nhất điểm tâm đăng Phật nhãn sinh

Tương truyền tứ mục cố phân minh

Liên phương tục diệm quang vô tận

Phổ phó thiền lâm thọ hữu tình)

 

Về vấn đề ngôn ngữ Chân Nguyên viết: “Sử dụng ngôn thuyết là việc bất đắc dĩ phải dùng phương tiện để đối trị vọng tưởng của chúng sinh. Nếu không tùy trường hợp mà đối trị những vọng tưởng ấy, tức là không thể có giáo pháp. Mà không có giáo pháp nghĩa là không có Phật cũng không có tăng. Tam bảo đã không thì không có người thuyết pháp, cũng không có pháp được thuyết. Giáo pháp đã từ nhân duyên mà có thì cũng chỉ là phương tiện để làm trẻ con nín khóc mà thôi, đâu có chân thực. Người ngu phu thì cần nhiều kinh điển, nhiều giáo pháp; bậc thượng trí thì chỉ cần một tiếng hét hay một nụ cười cũng có thể đốn ngộ tự tính”

 

Chân Nguyên rất hâm mộ đoạn nói về ngôn ngữ thiền trong kinh Lăng Già và thường hay trích dẫn kinh này trong các tác phẩm của ông. Ông nói:

 

Ai chưa tín thọ còn ngờ

Thinh kinh Lăng Già quyển nhị hòa trông (56)

 

Công án mà Chân Nguyên đã sử dụng nhiều nhất trong thiền tập có lẽ là công án mà Bách Trượng ngày xưa đã trao cho Hương Nghiêm: “Hãy nói cho tôi nghe về mặt mũi của chính ông khi mà ông chưa được cha mẹ sinh ra”. Công án này có liên hệ tới pháp hiệu Chân Nguyên của ông. Chân Nguyên là nguồn gốc chân thực. Công án ấy ông đã diễn tả trong sách Thiền Tông Bản Hạnh:

 

Thuở xưa trời đất chưa sinh

Cha mẹ chưa có thật mình chân không

Chẳng có tướng mạo hình dung

Tịch Quang phổ chiếu viên đồng thái hư.

 

Thì ra mặt mũi ấy là chân không. Chân không cố nhiên không phải là hư vô -hư vô là giả chứ không phải là cái không chân thực. Cái không chân thực vượt ra ngoài có và không. Nó là thực tại không thể diễn ra bằng tướng mạo hình dung. Ông lại còn diễn tả cái thấy của ông về công án này trong hai bài kệ gọi là ChânNguyên Trạm Tịch nghĩa là “Chân Nguyên vốn là trong sáng và lặng lẽ” Ðọc bài này ta đừng quên rằng hai tiếng chân nguyên vừa có nghĩa là “nguồn gốc chân thật” Vừa có nghĩa “ông thầy tu Chân Nguyên”

 

Thiên địa phụ mẫu vị sinh tiền

Tịch quang viên trạm thị chân nguyên

Tự giác giác tha danh viết Phật

Từ bi thuyết pháp lợi nhân thiên.

 

(Khi đất trời và cha mẹ chưa sinh, thì chân nguyên lặng yên, chiếu sáng tròn đầy, trong trẻo. Nếu cái nguồn gốc chân thật ấy mà hiển lộ được thành hành động tự giác, giác tha thì được gọi là Phật, có thể đem từ bi tâm thuyết pháp để làm lợi cho cõi người và cõi trời).

 

Vạn pháp không hoa giai bất thực

Vị độ quần sinh giả lập quyền

Liễu liễu bản lai vô nhất vật.

Chân nguyên trạm tịch phục hoàn nguyên

 

(Mọi hiện tượng đều như hoa đốm giữa hư không, không có thực chất. Vì muốn độ quần sinh cho nên tạm đề cập tới chúng. Giác ngộ được rằng xưa nay không một hiện tượng đã từng hiện hữu thì Chân Nguyên vắng lặng trong trẻo trở về nguồn cội của nó).

 

Về phương diện phương pháp hành đạo, Chân Nguyên chủ trương rằng chìa khóa của sự đạt đạo là nuôi sáng ý thức mình về sự hiện hữu của tự tính “trạm viên”, nguồn gốc chân thật của mình. Ý thức được như vậy thì mọi ý nghĩ, mọi hành động của ta tự nhiên đi vào con đường giác ngộ, và không cử chỉ nào của ta mà không phải là mầu nhiệm thần thông: mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm, thân xúc và ý nghĩ. Ðó là sự “vận dụng của lục căn” trên căn bản ý thức về tự tính giác ngộ. Chân Nguyên nhắc lại điều này nhiều lần. trong Thiền Tông Bản Hạnh:

 

Hậu học đà biết hay chăng?

Tâm hoa ứng miệng nói năng mọi lời.

Thiêng liêng ứng khắp mọi nơi

Lục Căn vận dụng trong ngoài thần thông.

 

Và trong bài kệ Thị tịch:

 

Hiển tích phân minh thập nhị thì

Thử chi tự tính nhậm suy vi

Lục căn vận dụng chân thường kiến

Vạn pháp tung hoành chính biến tri.

 

Nhưng dù sao, diễn tả cái thấy của mình vẫn là chuyện khó khăn; Chân Nguyên biết điều đó, cho nên một lần ông ta viết bài thơ này, coi như bài thơ đẹp nhất của vị thiền sư đã từng làm cho phát triển chấn hưng vào cuối thế kỷ thứ mười bảy:

 

Nói ra là bị kẹt

Không nói cũng chẳng xong

Vì anh đưa một nét

Ðầu núi ánh dương hồng.

 

(Hữu thuyết giai thành báng

Vô ngộ diệc bất dung

Vị quân thông nhất tuyến

Nhật xuất lĩnh đông hồng.

 

NHỮNG VỊ ĐỆ TỬ XUẤT SẮC CỦA CHÂN NGUYÊN

 

Chân Nguyên có nhiều đệ tử xuất sắc, trong đó Như Hiện và Như Trừng là hai người nổi bật nhất. Thiền sư Như Hiện được tiếp nối y bát của truyền thống Trúc Lâm, còn thiền sư Như Trừng lập được một thiền phái lấy tên là Liên Tông. Cả hai phái ấy sau này nhập lại làm một, và tăng sĩ của cả hai phái đều đóng góp tích cực vào việc phục hồi những tác phẩm đời trần.

 

Thiền sư Như Hiện

 

Hiệu là Nguyệt Quang, ông sinh ở làng Ðường Hào ở Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Ông xuất gia năm mười sáu tuổi, tại chùa Long Ðộng ở Yên Tử. trước khi Chân Nguyên mất, ông được trao y bát Trúc Lâm, kế thế cho chùa Long Ðộng, Quỳnh Lâm và Nguyệt Quang, Năm 1730, các chùa Quỳnh Lâm và Nguyệt Quang dưới sự chăm sóc của ông được chúa Trịnh Giang trùng tu. Chúa cùng dân ba huyện Ðông Triều, Thủy Ðường và Chí Linh góp sức vào việc xây dựng lại các chùa này. Gần mười ngàn người làm việc trong suốt một năm mới xây dựng xong hai ngôi chùa lớn của phái Trúc Lâm. Dân chúng ở ba huyện kể trên được miễn sưu dịch trong một năm, bảy năm sau, chúa Trịnh Giang lại cho đúc một pho tượng Phật rất lớn để thờ tại chùa Quỳnh Lâm.

 

Năm 1748, Như Hiện được vua Lê Hiển Tông ban chức tăng cương, và năm 1757 được sắc phong là Tăng Thống Thuần Giác Hòa Thượng. Ông dạy trên 60 đệ tử xuất gia. Thiền sư Tính Tĩnh là vị đệ tử được ông trao truyền y bát Trúc Lâm và kế thế các chùa Long Ðộng, Quỳnh Lâm và Nguyệt Quang(57). Ông mất ngày mồng sáu tháng chín năm Ất dậu (1756).

 

Thiền sư Như Trừng

 

Tự là Lân Giác, hiệu là Cứu Sinh thượng sĩ, ông vốn là một vị vương công họ Trịnh. Ông tên là Trịnh Thập, con của Phổ Quang Vương, sinh ở tỉnh Thanh Hóa năm 1696. Lớn lên ông được vua Lê Hy Tông gả công chúa thứ tư cho. Ông có tư dinh tại phường Bạch Mai, huyện Thọ Xương. Sau tư dinh là một cái đồi rất cao. Một hôm ông bảo người nhà đào hồ trên ấy để thả cá vàng; người nhà đào được một cọng sen lớn vào trình ông. Ông cho đó là điềm xuất gia, liền đổi làm nhà chùa, đặt tên là Viện Ly Trần, chùa Liên Tông, bắt đầu ăn chạy, học đạo, ngồi thiền. Sau đó ông dâng sớ xin xuất gia. Ðược vua chấp nhận ông lên thẳng núi Yên Tử làm lễ thiền sư Chân Nguyên tại chùa Long Ðộng. Lúc đó Chân Nguyên đã tám mươi tuổi. Ông nổ lực học tập, sau đó được thụ giới, đắc pháp với Chân Nguyên và trở về tĩnh tu tại chùa Liên Tông. Trong thời gian hoằng hóa, ông có lập thêm chùa Hộ Quốc ở phường An Xá (cũng tại Thọ Xương) và chùa Hàm Long ở Quế Dương (Bắc Ninh). Hồi còn làm sa di pháp hiệu là Như Như tại chùa Long Ðộng, ông có viết các bài Ngũ Giới Quốc Âm và Thập Giới Quốc Âm bằng thơ Nôm lục bát. Ông tịch năm 1733, lúc mới được ba mươi bảy tuổi, có để lại bài kệ sau đây:

 

Gốc bắt nguồn từ nơi không gốc

 

Từ vô vi mà đến

Lại đi về vô vi

Ta không đến không đi

Tử sinh làm sao hệ lụy được ?

 

(Bản tòng vô bản

Trong vô vi lai

Hoàn tòng vô vi khứ

Ngã bản vô lai khứ

Tử sinh hà tằng lụy?)

 

Thiền sư Tính Dược đệ tử ông, được chỉ định trú trì chùa Liên Tông, còn thiền sư Tịnh Ngạn trú trì chùa Hàm Long. Ngoài hai vị đệ tử lớn này, ông có nhiều đệ tử cao tăng khác: Tình Tuyền, Tịch Dự, Vũ Hoa, Chính Tâm, Phổ Toán và Thông Vinh. Tính Tuyền được ông gửi sang Trung Hoa du học và thỉnh kinh. Vị này lưu học tại chùa Khánh Vân núi Ðỉnh Hồ ở Quảng Châu sáu năm(58), khi về có thỉnh theo được ba trăm bộ kinh và luật, cả thảy hơn một ngàn cuốn. Gần hai trăm bộ kinh đã được khắc bản và in lại để phổ biến trong xứ. Nhiều bản gỗ còn được chứa cất tại chùa Sùng Phúc và Kiến An.

 

Chùa Liên Tông sau này cũng được gọi là chùa Liên Phái, trung tâm của hệ phái do thiền sư Như Trừng thành lập. Các chùa Hộ Quốc, Hàm Long, Sùng Phúc, Nghiêm Xá, Thiên Quang, Phúc Ân, Vân Trai, v.v… đều là những tổ định thuộc phái này.

 

CÔNG TÁC TRÙNG SAN NHỮNG TÁC PHẨM PHẬT HỌC LÝ TRẦN

 

Như đã nói, vì rất có ý thức về một nền Phật Giáo dân tộc nên thiền sư Chân Nguyên đã khuyến khích môn đồ gắng sức phục hưng các tác phẩm Lý Trần. Ông đã trùng khắc Thánh Ðăng Lục và trước tác sách Thiền Tông Bản Hạnh. Sau đây ta hãy xét về công tác trùng san những tác phẩm khác tiếp theo sau đó.

 

Thuyền Uyển Tập Anh Ngữ Lục

 

Như đã nói trong chương bốn, sách này do công phu nhiều người biên soạn, bắt đầu từ đời Lý. Trong số những người có công ta phải kể đến thiền sư Thông Biện, thiền sư Thường Chiếu, Thiền sư Thần Nghi và thiền sư Ấn Không. Bản in cổ nhất còn lại là bản in năm 1715 do thiền sư Như Trí thực hiện. Bản in năm 1859 do Phúc Ðiền thực hiện có ghi là in theo bản cũ chùa Tiêu Sơn. Bản cũ chùa Tiêu Sơn có thể là bản in năm 1715 của Như Trí. Ta biết rằng Chân Nguyên tịch 1726, vậy sách Thuyền Uyển Tập Anh dã được trùng khắc trong khi ông còn sống. Thiền sư Như Trí có thể là pháp tử của thiền sư Chân Nguyên, nếu không thì cũng là pháp điệt của thiền sư này. Ðiều lạ là tại sao ông không đến nhờ Chân Nguyên hiệu đính và đề tựa cho cuốn sách trước khi khắc bản mà lại đi nhờ một nhà nho không mấy thông hiểu về Phật học. Hay tại chùa Tiêu Sơn ở huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh xa cách chùa Long Ðộng ở Yên Tử chăng?

 

Sau đây là một đoạn trích trong bài tựa của nhà nho kia mà tên tuổi cũng không còn được giữ lại:

 

“Sau buổi giảng dạy ở Chiên đường, tôi thấy một thiền giả đến đàm luận về đạo Phật. Những chuyện chúng tôi đàm đạo đều thuộc về những vấn đề của đạo Phật như biểu tượng lông rùa sừng thỏ. Rồi lấy trong tay áo ra một cuốn lục tên là Tập Anh nhờ tôi xem và khảo đính để tránh những lỗi lầm trước khi khắc in lại. Thấy trong bộ lục có nhiều vị cao thiền danh tổ, sức học cao viễn, đạo đức linh diệu, bất giác tôi thấy trong lòng nảy sinh ra sự kính phục. Những bậc này đàm luận về Chân Không, thuyết pháp về Giác Ngộ, đề tài vốn không nằm trong phạm vi nghiên cứu của tôi. Nhưng vì Kinh Dịch có nói: “không phải ta hỏi đứa bé mà là đứa bé hỏi ta”, cho nên tôi không thể không chiều lòng. Tôi sửa chữa lại những chỗ sai, bổ túc những nơi thiếu sót. Trong vòng mười lăm hôm, bộ lục này lấy lại được văn thể nghĩa lý ngày xưa, như là mặt trăng thêm sáng. Vị tăng lại còn nhờ tôi viết một bài tựa khắc thêm vào đầu sách để làm sáng cho lời Phật dạy. Tôi không tiếc công, liền gọi người nhà mang giấy bút tới và viết những dòng thô sơ này. Vị tăng liền cảm ơn và nhận lấy”.

 

Dưới bài tựa có câu: “Trùng khắc vào một ngày tháng tư năm Vĩnh Thịnh thứ 11, triều Lê”, nhờ đó mà ta biết được là sách được trùng khắc năm 1715. Tiếp đó là một danh sách các đệ tử xuất gia và tại gia của Như Trí có lẽ là những người đã có công trong việc trùng khắc. Những đệ tử xuất gia toàn là những sa di: Tính Nhụ, Tính Trung, Tính Kiến, Tính Quán, Tính Huy, Tính Bản. Ðiều này cho ta biết là vào năm trùng khắc Thuyền Uyển Tập Anh, Như Trí chưa có đệ tử nào thọ Tỳ khưu giới, và do đó ông còn đang trẻ, vào khoảng bốn mươi tuổi.

 

Kế Ðăng Lục

 

Tên đầy đủ của sách này là Ngự Chế Thiền Uyển Thống Yếu Kế Ðăng Lục, sách do thiền sư Như Sơn chùa Hồng Phúc soạn. Sở dĩ có chữ ngự chế là vì sách này được soạn thảo dưới sự bảo trợ của vua Lê Thuần Tông. Sách được khắc bản năm 1734, tám năm sau khi Chân Nguyên viên tịch. Sách viết theo thể tài của sách Ngũ Ðăng Hội Nguyên bên Trung Hoa, nhưng nội dung sách phần lớn chỉ để viết về tiểu sử của những vị tổ sư Ấn Ðộ và Trung Hoa. Về phái Lâm Tế ở Việt Nam, cách chỉ có tiểu truyện của ba vị thiền sư: Chuyết Chuyết, Minh Lương, và Chân Nguyên. Về phái Tào Ðộng ở Việt Nam, sách chỉ có tiểu truyện của hai vị thiền sư: Thủy Nguyệt và Tông Diễn. Ðã vậy, sách không có nhiều giá trị sử học. Tiểu truyện đã không ghi năm sinh và năm tịch của các thiền sư mà nhiều lúc lại còn ghi chép sai lạc theo kiểu “lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia”. Ví dụ đoạn vấn đáp sau đây vốn là câu chuyện giữa thiền sư Viên Chiếu (998-1090) và một đệ tử, chép trong sách Thuyền Uyển Tập Anh mà Như Sơn lại đưa vào sách Kế Ðăng Lục, cho là cuộc đối thoại của Chuyết Chuyết và Ðà Ðà:

 

– Nghĩa Phật và Thánh khác nhau thế nào?

– Cúc trùng dương dưới dậu

Oanh thục khí đầu cánh

– Ðệ tử chưa hiểu

– Ngày quạ vàng chiếu rặng

Ðêm thỏ ngọc sáng soi.

 

Ðoạn đối thoại sau đây vốn là câu chuyện giữa Vân Phong (mất năm 956) và Thiện Hội (mất năm 950), chép trong Thiền Uyển Tập Anh, đã được Như Sơn đưa vào Kế Ðăng Lục để làm cuộc đối thoại giữa Minh Lương và Chân Nguyên.

 

– Sinh tử đến, làm sao mà tránh thoát?

– Thì tránh vào chỗ vô sanh vô tử.

– Chỗ vô sinh vô tử là chỗ nào?

– Nó nằm ngay trong chỗ sinh tử.

 

Có lẽ Như Sơn không được đọc sách Thuyền Uyển Tập Anh cho nên mới phạm những lỗi lầm to lớn trên.

 

Ðến năm 1859, trước khi trùng khắc Kế Ðăng Lục, thiền sư Phúc Ðiền thêm vào sách ấy tiểu truyện của năm vị thiền sư Việt Nam nối dòng Chân Nguyên. Cách thức biên tập của Phúc Ðiền vượt hẳn cách thức của Như Sơn: Phúc Ðiền có ghi rõ ngày tháng và chi tiết có liên hệ tới đời sống và sự hành đạo của các thiền sư. Tuy nhiên, Phúc Ðiền đã không chữa lại những sai lầm mà Như Sơn đã mắc phải, có lẽ vì sợ mang tiếng bất kính đối với một vị tổ sư. Bài tựa sách Kế Ðăng Lục của Như Sơn không cho ta một dữ kiện lịch sử nào trừ ngày tháng và địa điểm mà bài tựa ấy đã được viết.

 

Như Sơn soạn Kế Ðăng Lục tại chùa Hồng Phúc. Một người đệ tử ông là sa di Tính Chúc giúp về việc thẩm duyệt. Hai người đệ tử khác: sa di Tính Phái và Tính Hiển hiệu chính. Ba vị đều là sa di. Ðiều này cho ta thấy Như Sơn hồi đó chưa có đệ tử thọ giới tỳ khưu, do đó tuổi ông còn đọ vào trạc tứ tuần.

 

Năm 1907, sách Kế Ðăng Lục lại được chùa Nguyệt Quang ở Ðông Khê trùng khắc một lần nữa.

 

Thánh Ðăng Lục

 

Như đã nói trong chương XVIII, sách này do Chân Nghiêm trùng san năm 1550. Chân Nguyên trùng san lần nữa năm 1705, và Tính Lương trùng san lại một lần nữa năm 1750, lần này do Tính Quảng đề tựa. Trong bài tựa, Tính Lương nói: “Ngày xưa, thầy tôi là Tuệ Ðăng Hòa Thượng…”. Có thể Tính Lương đã được gặp mặt Chân Nguyên (Tuệ Ðăng) lúc ông này còn sống, nhưng Chân Nguyên không phải là bổn sư trực tiếp của Tính Lương. Cũng như Tính Quảng, Tính Lương thuộc về thế hệ của chữ Tính trong bài kệ truyền pháp của Minh Hành, do đó họ phải thuộc về thế hệ đệ tử của thế hệ mang chữ Như, như là Như Hiện, Như Trừng, Như Thị…

 

Thượng Sĩ Ngữ Lục

 

Tên đầy đủ của sách là Trần Triều Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục. Sách này do Pháp Loa biên tập, Trúc Lâm Ðiều Ngự khảo đính và Trần Khắc Chung đề bạt. Sách được in nhiều lần trong đời Trần. Tuệ Nguyên chùa Long Ðộng núi Yên Tử trùng khắc vào năm 1763, tức là hai năm trước khi thiền sư Như Hiện qua đời. Tuệ Nguyên có viết một bài tựa, nhưng không cho ta biết sách được in lại căn cứ vào bản in nào. Ðến năm 1903, sa môn Thanh Cừ chùa Pháp Vũ in lại, chung với sách Tam Tổ Thực Lục.

 

Khóa Hư Lục

 

Sách này của Trần Thái Tông soạn, được in nhiều lần trong đời Trần. Bản in của Hội Phật Giáo Bắc Kỳ năm 1943 đã căn cứ trên bản in của chùa Quất Tụ năm 1850; mà bản của chùa Quất Tụ đã căn cứ trên bản in của chùa Hoa Yên như Tuệ Nguyên (người trùng san Thượng Sĩ Ngữ Lục), có lẽ hai người là đồng sư với nhau. Vậy có thể là bản in Khóa Hư Lục của chùa Hoa Yên được Tuệ Hiền thực hiện vào giữa khoảng thế kỷ thứ mười tám.

 

Tam Tổ Thực Lục

 

Phần thứ nhất cả sách này nói về đời Trúc Lâm Ðiều Ngự, không đề tên người biên tập. Theo nguyên tắc thì Bảo Sát hay Pháp Loa phải là người biên tập phần này, vì họ là người kế thừa của Trúc Lâm Ðiều Ngự. Pháp Loa là đệ nhị tổ Trúc Lâm.

 

Phần thứ hai của sách nói về đời Pháp Loa, do thị giả của Pháp Loa là Trung Minh biên tập và Huyền Quang, đệ tam tổ của Trúc Lâm Hiệu đính.

 

Phần thứ ba của sách, nói về đời Huyền Quang, không biết do ai soạn(59)

 

Bản in cổ nhất của Tam Tổ Thực Lục hiện có là bản in năm 1765, sau ngày Tuệ Nguyên trùng khắc sách Thượng Sĩ Ngữ Lục hai năm, chưa rõ là do ai thực hiện. Tựu trung, ta có thể nói là người trùng khắc cũng thuộc về môn phái Trúc Lâm. Sau bản in này là bản in năm 1897, rồi đến bản in năm 1903 do Thanh Cừ chùa Pháp Vũ thực hiện. Bản này được in chung với Thượng Sĩ Ngữ Lục và có mang bài tựa của Thanh Cừ.

 

Ðại Nam Thiền Uyển Truyền Ðăng Lục

 

Sách này do Hòa thượng Phúc Ðiền chùa Bồ Sơn thực hiện. Sách này có hai tập: tập thứ nhất in lại sách Thuyền Uyển Tập Anh; tập thứ hai gồm có các sách Tam Tổ Thực Lục, Thiền Uyển Thống Yếu Kế Ðăng Lục và một số tài liệu khác mà Phúc Ðiền gọi là “ngoại khoa tạp lục”(60)

 

Sách được ấn hành năm 1859. Nhưng trước đó một năm, Phúc Ðiền đã bổ túc sách Kế Ðăng Lục với tiểu truyện của năm vị thiền sư phái Lâm Tế. Vì sách Kế Ðăng Lục có ba quyển cho nên khi cộng với sách Thuyền Uyển Tập Anh và Tam Tổ Thực Lục, tất cả trở thành năm quyển. Vì vậy bài tựa của Phúc Ðiền được gọi là Truyền Ðăng Ngũ Quyển Tân Tự (bài tựa mới của sách Truyền Ðăng Năm Quyển).

 

Có thể nói rằng bài tựa này đã được viết sau khi quyển một của Ðại Nam Thiền Uyển Truyền Ðăng Lục đã in xong và bản gỗ còn lưu lại chùa Liên Tông. Sau đó gần một năm thì quyển hai cũng được in xong, bản gỗ lưu lại chùa Bồ Sơn. Ðầu bài tựa có dòng chữ: “San khắc Truyền Ðăng thủ Trần gia bản“, có nghĩa là “khắc lại sách Truyền Ðăng mà sách nhà Trần để đầu”, “sách nhà Trần” đây là Tam Tổ Thực Lục vậy.

 

Sau đây ta hãy đọc vài đoạn trong bài tựa quan trọng này để thấy sự hình thành của Truyền Ðăng Tập Lục: “Nước ta xưa kia có bộ lục Thiền Uyển tên là Tập Anh chép đại khái về các bậc thạc đức cao tăng của ba triều đại. Tuy vậy nội dung lỗ mỗ bất nhất, văn mạch khó phân, cho nên {đã} hiệu đính lại, viết cho rõ ra để khắc bản ấn hành mà bảo tồn bản cũ, làm thành quyển thượng. Ðến Triều Trần, có sách Thánh Ðăng Lục(61), một quyển ghi chép ba tổ đời Trần, có sự tích nhưng không có hình ảnh. Rồi đến đời Hậu Lê, Như Sơn tổ sư tuân thừa sách Ngũ Ðăng Hội Nguyên, tuyển thành ba quyển, có hình ảnh có sự tích, từ Phật Uy Âm cho đến bảy Ðức Thế Tôn, cho đến bốn mươi bảy vị tổ Tây Trúc và hai mươi ba vị tổ Trung Hoa, cùng pháp phái Lâm Tế tại nước ta, ba vị tổ Chuyết Chuyết, Minh Lương và Chân Nguyên, sau nữa là tông phái Tào Ðộng với hai thiền sư là Thủy Nguyệt và Tông Diễn. Về tông phái Lâm Tế, từ Cứu Sinh thượng sĩ trở về sau chưa được chép vào, do đó lão tăng thuận theo thứ tự truyền đăng, chép tiếp tiểu sử năm vị tổ sư, có hình ảnh và sự tích…(62). Lão tăng đau xót nghĩ rằng ngọn đèn của chư tổ đã sắp tàn lụi, cho nên đem hết tâm lực mình gom góp các lục, từ bộ nói về ba tổ đời Trần, đến bộ nói về hai phái Lâm Tế và Tào Ðộng, gồm cả chân đế và tục đế, làm thành một tập, thêm vào đó những tạp lục ngoại khoa, làm thành quyển hạ, khiến cho pháp được truyền và đèn được nối. Một ngày tháng 11 năm Mậu ngọ, nhằm năm Tự Ðức thứ mười một, thầy giám tự chùa Bồ Sơn pháp danh là Phương Viên và tăng chúng môn đồ xin đem về chùa san khắc. Ðêm 13 tháng ấy, thầy giám tự chùa Liên Phái, pháp danh là Thanh Chiêu, nằm mơ thấy một vị thần tăng nói: “Nhờ đại đức hãy cùng đi với tôi tới chùa Báo Thiên xem coi sách Phật Tổ Thống Kỷ(63) đã khắc xong chưa?” Thầy Thanh Chiêu đáp: “Bộ sách đã khắc xong, hiện nay bản gỗ được lưu tại chùa Liên Phái”. Vị thần tăng hỏi: “Tôi muốn hỏi bản sách mới soạn để nối vào sách Thống Kỷ kia. Bản này đã khắc xong chưa?” Ðáp: “Bản này hiện đang để tại Bồ Sơn tự, đang còn khắc bản, chưa xong”. Thầy giám tự thức giấc, sáng ấy tới chùa Báo Thiên kể lại chuyện thần tăng ứng mộng cho tôi nghe. Nghe xong tôi vui mừng quá đỗi. Có thần tăng chứng minh, tôi xin tất cả các vị có mặt phát tâm hoan hỷ bình đẳng, đừng sinh tâm hữu vô, đắc thất, thị phi, nhân ngã, tồn vong, bỉ thử, thì lão tăng này rất lấy làm hy vọng vạn lần vậy.

 

Tự Ðức năm thứ mười hai, ngày 30 tháng giêng năm Kỷ mùi, chùa Bồ Sơn, hòa thượng Phúc Ðiền, có giới đao và độ điệp soạn; giám tự pháp danh Phương Viên thừa lệnh khắc bản; chưởng lãnh binh tỉnh Sơn Tây là Lê Thuận Chiếu pháp danh Ðại Tuệ hưng công, môn nhân là Văn Ðường vâng lệnh viết ra”.

 

Bản in Thuyền Uyển Tập Anh năm 1715 còn được giữ lại, tự nó cũng được chia làm hai quyển thượng và hạ, Tờ thứ tư có đề chữ quyển thượng và tờ thứ 72 có đề chữ quyển hạ chung (hết quyển hạ). Trong khi Trùng Khắc Ðại Nam Thiền Uyển Truyền Ðăng Tập Lục thì lấy toàn bộ sách Thuyền Uyển Tập Anh làm quyển thượng; tờ 1 có ghi hai chữ quyển thượng, và tờ 65 chó ghi bốn chữ quyển thượng chung tất (hết quyển thượng).

 

Trong bản in Thuyền Uyển Tập Anhănm 1715 còn được giữ lại, người ta cũng đã đóng lộn vào ba tờ vốn thuộc vào Trùng Khắc Ðại Nam Thiền Uyển Truyền Ðăng Lục quyển hạ. Ba tờ này được đóng chen vào giữa tờ 3 và tờ 4 của sách Thuyền Uyển Tập Anh. Có nhiều lý do khiến ta nói vậy. Lý do thứ nhất là ngoài lề mỗi tờ, có dòng chữ: Thuyền Uyển Truyền Ðăng Lục quyển hạ. (Thuyền Uyển Truyền Ðăng Lục là tên gọi tắt của Trùng Khắc Ðại Nam Thuyền Uyển Truyền Ðăng Tập Lục) dùng để in vào lề mỗi tờ, quyển thượng cũng như quyển hạ. Lý do thứ hai là kiểu chữ, giấy in, số chữ mỗi trang và mỗi dòng của ba tờ khác hẳn với Thuyền Uyển Tập Anhầm lại giống hệt với Thuyền Uyển Truyền Ðăng Tập Lục (mỗi trang của Thuyền Uyển Tập Anh có 22 dòng, mỗi dòng có 34 chữ, trong khi mỗi trang Thuyền Uyển Truyền Ðăng Tập Lục có 20 dòng, mỗi dòng 42 chữ). Lý do thứ ba là ba tờ ấy không nằm đúng vị trí của nó trong sách Thuyền Uyển Tập Anh, từ hình thức đến nội dung. Về hình thức, ba tờ ấy vốn được đánh số 8, 9, 10, không thể rnằm xen kẻ giữa tờ 3 và 4 của sách Thuyền Uyển Tập Anh. Về nội dung, ba tờ ấy có hình vẽ và tiểu dẫn về ba vị tổ Trúc Lâm đời Trần, không dính dấp với nội dung của Thuyền Uyển Tập Anh vốn chỉ chứa đựng những tài liệu về các thiền sư trước Trần.

 

Xem bài tựa của Phúc Ðiền rồi xét những điểm vừa nêu đó, ta thấy tác phẩm của Phúc Ðiền là một tập đại thành của những tác phẩm có tính cách truyền đăng do người Việt sáng tác từ trước tới giờ. Môn phái Trúc Lâm do Chân Nguyên phục hưng đã làm được những công trình đáng kể, trong đó việc trùng san để duy trì những tác phẩm Phật Giáo Lý Trần rất đáng để cho chúng ta biết ơn. Trước họ, ta chỉ thấy có một Lương Thế Vinh đề tựa cho Nam Tông Tự Pháp Ðồ (thế kỷ thứ mười sáu) và một Tuệ Tĩnh(64), phiên dịch Khóa Hư Lục (nữa đầu thế kỷ thứ mười bảy). Tiếc là những môn đệ của Chân Nguyên đã không tìm ra được những sách như Nam Tông Tự Pháp Ðồ, Nam Minh Thiền Lục, Thiền Lâm Thiết Chủy Ngữ Lục, Ðại Hương hải Ấn Thi Tập… Binh lửa và bàn tay tiêu diệt văn hóa của người Minh đã làm nghèo đi rất nhiều kho tàng văn hóa Phật Giáo Lý Trần để lại.

 

(46) Louis Bezacier, trong cuốn L’Art Vietnamien (Nhà xuát bản Editions de l’Union francaise, Paris 1954) nói rằng những bản khắc này gần đây đã bị người ta lấy làm củi nấu cơm, cho nên Trường Viễn Ðông Bác Cổ Hà Nội đã cho người đến khiêng về lưu trú tại Trường.

(47) Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc là con gái của Chúa Trịnh Tráng. Bà là chính cung của vua Lê Thần Tông, tức là Lê Duy Kỳ. Bà sinh ra vua Lê Hy Tông. Bà thường được người ta gọi là Bà Chúa Kim Cương. Khi xuất gia với Chuyết Chuyết, bà được pháp danh là Diệu Viên, hiệu là Pháp Tính. Bà có soạn thảo bộ Tự Ðiển Chỉ nam Ngọc AÂm Giải Nghĩa bằng thơ lục bát, những từ ngữ cả Hán và Nôm cộng lại cả thảy là 20.000 chữ. Từ ngữ Hán được chia ra ba mươi loại như: thiên văn, địa lý, thân thế, nông vụ, cầm, thú, hôn nhân, âm nhạc, hội họa, kiến trúc, thảo mộc, văn nghệ, y lý, dược thảo, tang lễ v.v… (Bia chùa Ninh Phuc ở Bút tháp, dựng năm 1647). Công chúa Trịnh Thị Ngọc Duyên là con của bà Trịnh Thị Ngọc Hạnh và vua Lê Thần Tông, và là cháu gái của chúa Trịnh Tráng. Bà xuất gia năm 26 tuổi, pháp danh là Diệu Tuệ. Bà học Phật dưới sự chỉ dạy của Minh Hành. Năm 1659, sau khi Minh Hành tịch, bà được chỉ định là tọa chủ chùa Phật Tích. Bà tịch năm 1664, lúc 49 tuổi.

(48) Minh Hành mất năm 1659 tức là năm Kỷ Hợi

(49) Louis Bezacier, sách đã dẫn

(*) Theo nhà Phật học Lê Mạnh Thát trong Chân Nguyên thiền sư toàn tập, 2 tập, Tu thư Vạn Hạnh, thành phố Hồ Chí Minh, 1980, thì Chân Nguyên có đến 11 tác phẩm, kể cả những cuốn chưa xác định thật chắc chắn: 1. Tôn sư phát sách đăng đàn thụ giới; 2.Nghênh sư duyệt định khoa; 3. Long thư Tịnh Ðộ văn tự; 4. Long thư Tịnh độ luận, bạt, hậu tự; 5. Tịnh độ yếu nghĩa; 6. Ngộ đạo nhân duyên; 7. Thiền tịch phú; 8. Thiền tông bản hạnh; 9. Nam Hải quan âm bản hạnh; 10. Ðạt Na thái tử hành; 11. Hồng mông hành (N.H.C.)

(50) Thiền Tông Bản Hạnh

(51) Thiền Tông Bản Hạnh

(52) Thiền Tông Bản Hạnh

(53) Thiền Tông Bản Hạnh

(54) Thiền Tông Bản Hạnh

(55) Thiền Tông Bản Hạnh

(56) Ðây là đoạn văn liên hệ dịch từ Kinh Lăng Già:

“Này, Ðại Tuệ, không phải trong mọi thế giới đều có sự sử dụng ngôn thuyết. Ngôn thuyết là tác động vào tai. Ở nhiều nước Phật, người ta giáo hóa bằng nét mặt, hoặc bằng cách nhướng mắt, hoặc nhíu lông mày, hoặc mỉm cười, hoặc đằng hắng, hoặc nháy mắt, hoặc tư duy trầm lặng, hoặc dao động thân thể. Này Ðại Tuệ, như các cõi Chiêm Thị và Hương Tích, cõi của Phổ Hiền Như Lai, người ta chỉ cần sử dụng cái nhìn mà cũng đủ làm cho các vị bồ Tát chứng được Vô Sinh Pháp Nhẫn (Anutpattikadharmakshanti), và các quả Tam Muội lớn lao khác. Phật lại bảo Ðại Tuệ: Xem ngay trong thế giới này, ta cũng thấy các loài như ong, kiến, không hề dùng tới ngôn ngữ mà vẫn cũng có thể thi hành với nhau được bao nhiêu việc”.

(57) Thiền sư Tính Tĩnh họ Trần, sinh năm 1692 ở Ðông Khê. Sau khi đắc pháp với Như Hiện, ông trú tại chùa Nguyệt Quang.

(58) Tính Tuyền sinh năm 1674, xuất gia tại chùa Liên Tông năm 12 tuổi. Qua Trung Hoa năm 22 tuổi, ông học Phật và Thụ giới với Thiền sư Kim Quang Ðoan tại chùa Khánh Vân. Ngày ông xuất dương, thiền sư Như Trừng có làm bài kệ sau đây để tiễn đưa:

Gương cổ thiền lâm bụi bám đầy

Vị Pháp quên mình đã mấy ai?

Tham vấn gương xưa còn nhắc nhở

Tám lần hành cước gắng hôm mai!

(Thiền lâm cổ kính cửu mai trầm

Vị pháp vong thân kỷ hứa nhân

Ngũ thập tam tham kim cổ tại

Bát tuần hành cước đã tân cần

Khi ông về nước thì Như Trừng đã viên tịch. Ông bèn lập đạo tràng tại chùa Càn An, tăng ni khắp chốn đến xin cầu học và thụ giới. Ông có công phục hồi phong thái thiền môn, khích lệ các tự viện chỉnh đốn việc nghiêm trì giới luật; nhờ đó nếp sống thiền gia trở nên có quy cũ trở lại và đức tin của quần chúng nơi tăng đoàn tăng gia gấp bội. Ông tịch năm bảy mươi tuổi, vào năm 1744. Tháp ông được xây tại chùa Sùng Phúc và Hàm Long. Ông có để lại bài kệ sau đây:

Ðạo lớn không lời

Vào cửa bất nhị

Pháp môn vô lượng

Ai người thừa kế?

(Chí đạo vô ngôn

Nhập bất nhị môn

Pháp môn vô lượng

Thùy thị hậu côn?)

(59) Xem chương XIV

(60) Xem chương XIV

(61) Ðể ý: Phúc Ðiền đã gọi Tam Tổ Thực Lục là Thánh Ðăng Lục.

(62) Năm vị tổ sư mà tiểu truyện đã được Phúc Ðiền đưa vào sách Kế Ðăng Lục là: Như Trừng, Tỉnh Tuyền, Hải Quýnh, Như Hiện và Tính Tĩnh. Tuy nhiên ta còn thấy sau đó tiểu truyện của các vị Kim Liên, Tường Quang, Phổ Tính và Tin Kim. Chắc hẳn các tiểu truyện này đã được những vị hậu bối của thiền sư Phúc Ðiền thêm vào sạu này.

(63) Ðây là nhằm chỉ sách Thuyền Uyển Tập Anh, mà lề lối biên tập cũng tương tự với sách Phật Tổ Thống Kỷ của Trung Hoa.

(64) Thiền sư Tuệ Tĩnh sinh vào khoảng cuối thế kỷ thứ mười sáu. Sách Hải Dương Phong Vật Chí nói ông có pháp tự là Vô Dật, pháp hiệu là Thận Trai. Ông người làng Nghĩa Phú, tổng Văn Thai, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Ông tu ở chùa Hộ Xá, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Ðịnh. Ông cũng là một dược sư giỏi. Ông là tác giả các sách:

–Thiền Tông Khóa Hư Ngữ Lục, bản dịch bằng chữ Nôm

– Nam Dược Thần Hiệu

– Hồng Nghĩa Giác Tư Y Thư

Bài tựa sách Thiền Tông Khóa Hư Ngữ Lục được viết năm 1631 cho nên ta biết ông sinh vào cuối thế kỷ thứ mưòi sáu. Sách Nam Dược Thần Hiệu cũng còn truyền đến ngày nay. Sách Hồng Nghĩa Giác Tư Y Thư được tái bản năm 1717 sau khi chúa Trịnh Cương sai các quan ở Nội phủ và Y Viện hiệu đính những chữ viết sai và khắc lầm của bản in trước. Người viết chữ để khắc bàn in năm 1717 là một thiền sư pháp danh là Pháp Thịnh. Chính sách này cho biết Tuệ Tĩnh ở chùa Hộ Xá. Một phần của sách này được viết bằng Nôm lục bát. Không rõ thiền sư Tuệ Tĩnh tịch vào năm nào. Hiện còn di tích đền thờ ở nguyên quán là làng Văn Thai ở Hải Dương. Dân làng và các làng lân cận còn tiếp tục trồng những dược thảo do ông chỉ dạy.

Sách Thiền Tông Khóa Hư Ngữ Lục hiện có là một bản chép tay, có bài tựa của thiền sư Tuệ Duyên chùa Sùng Quang huyện Giao Thủy viết, đề năm Ðức Long thứ ba (1631). Ðể có một ý niệm về văn dịch của Tuệ Tĩnh trong Thiền Tông Khóa Hư Ngữ Lục, ta hãy đọc một đoạn trong “Bài tựa Bốn Núi”.

“Nguyên chừng vốn không có tứ đại, chẳng có ngũ ấm. Bởi cái không lại tự tính dấy nhuộm vọng tình, vọng tình bèn hóa nên sắc tướng, tuy đã có sắc tướng, sau lại bại hoại về đường chân không; ấy sự vọng tưởng là theo tính chân không mà tính chân không lại hóa hiện sắc tướng.

“Quen lấy tính chân không, bèn hóa sinh mọi sắc tướng. Ðã trái chưng trong nghĩa vô sinh vô hóa, bèn mới làm chưng sự luân hồi hữu hóa hữu sinh. Trong lòng đã được nghĩa vô sinh vô hóa, ấy thì chưng sau chẳng có hóa lại chẳng có sinh. Bây giờ chứng minh có làm sự hóa sinh đấy, thì về sau lại phải có sinh cùng có hóa…”

(Nguyên văn của Trần Thái Tông: “Nguyên phù tứ đại bản vô, ngũ uẩn phi hữu. Do không khởi vọng, vọng thành sắc, sắc tự chân không; thị vọng tòng không, không hiện vọng, vọng sinh chủng sắc. Ký bội vô sinh vô hóa, vĩnh vi hữu hóa hữu sinh; vô sinh hóa tắc vô hóa vô sinh, hữu hóa sinh vố hữu sinh hữu hóa..”)

_______________

Việt Nam Phật Giáo Sử Luận

NỀN TẢNG CỦA PHẬT GIÁO ĐỜI TRẦN

 

THIỀN PHÁI YÊN TỬ NỀN PHẬT GIÁO THỐNG NHẤT

 

Vào đầu thế kỷ thứ mười ba, ba thiền phái Tỳ Ni Ða Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Ðường dần dần nhập lại là một. Do ảnh hưởng lớn lao của Trần Thái Tông và Tuệ Trung thượng sĩ, sự sát nhập của ba thiền phái trên đây vào nhau đã đưa tới sự phát triển lớn của thiền phái Yên Tử thành thiền phái Trúc Lâm, tức là thiền phái duy nhất đời Trần. Ðời Trần có thể được gọi là thời đại Phật Giáo Nhất Tông, tức là thời đại của một phái Phật Giáo Duy Nhất. Tông phái này xuất hiện từ núi Yên Tử mà vị tổ khai sơn là thiền sư Hiện Quang. Thiền sư Viên Chứng hiệu Trúc Lâm, thầy của vua Trần Thái Tông, là tổ thứ hai của Phái Yên Tử, được vua tôn xưng là quốc sư. Vị tổ truyền thừa thứ ba là Ðại Ðăng quốc sư đồng sư với vua Trần Thái Tông. Một vị quốc sư khác tượng trưng cho sự lãnh đạo nền Phật Giáo thống nhất đời Trần là Nhất Tông quốc sư, đệ tử của thiền sư Ứng Thuận thuộc thế hệ thứ 16 của thiền phái Vô Ngôn Thông. Danh từ Nhất Tông mà vua Trần Thái Tông dùng để tôn xưng vị quốc sư hẳn có ý nghĩa về tình trạng thống nhất Phật Giáo trong một tông phái duy nhất.

 

Trước hết ta hãy xét về những ảnh hưởng tương hỗ giữa ba thiền phái đời Lý. Như ta biết, thiền phái Thảo Ðường không có cơ sở trong đại chúng bình dân, cũng không có truyền thống tu viện đặc thù, nhưng có ảnh hưởng sâu đậm tới mặt học thuật tư tưởng và thi ca trên hai thiền phái đương thời: Tuyết Ðậu Ngữ Lục đã trở thành một văn kiện được trọng dụng ở cả hai thiền phái Tỳ Ni Ða Lưu Chi và Vô Ngôn Thông. Thiền sư Thường Chiếu, thuộc phái Vô Ngôn Thông, đã sang làm tọa chủ ở chùa Lục Tổ, vốn là một tổ đình rất xưa của thiền phái Tỳ Ni Ða Lưu Chi: điều này chứng tỏ hai thiền phái này lúc bấy giờ hầu như đã sát nhập nhau thành một. Thường Chiếu và đệ tử là Thần Nghi sinh hoạt trong lòng thiền phái Tỳ Ni Ða Lưu Chi đã thu thập khá nhiều tài liệu về thiền phái này để ghi chép lại trong sách Thuyền Uyển Tập Anh. Thiền sư Thường Chiếu có thể được gọi là người khởi đầu cho sự tổng hợp giữa ba thiền phái Tỳ Ni Ða Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Ðường và cũng là gạch nối giữa Phật Giáo đời Lý và Phật Giáo đời Trần. Ðịa vị của ông rất quan trọng. Ta hãy nhìn đồ biểu sau đây:

 

Ba vị đệ tử quan trọng của Thường Chiếu là Thần Nghi, Thông Thiền và Hiện Quang.

 

Thần Nghi với đệ tử là Ẩn Không đã có trách nhiệm truyền lại các tài liệu lịch sử Phật Giáo của Thường Chiếu, như các sách Thuyền Uyển Tập Anh và Nam Tông Tự Pháp Ðồ.

 

Thông Thiền nối tiếp truyền thống Vô Ngôn Thông truyền xuống cho Tức Lự, rồi Ứng Thuận. Các đệ tử của Ứng Thuận như Nhất Tông, Giới Minh, Giới Viên, Tiêu Diêu đều là những ngôi sao sáng trong Phật học giới và đều đóng góp nhiều cho nền Phật Giáo Thống Nhất đời Trần. Họ là những người của thế hệ cuối cùng của thiền phái Vô Ngôn Thông.

 

Thiền sư Hiện Quang khai sơn núi Yên Tử mở đầu cho thiền phái Trúc Lâm, nền Phật Giáo Thống Nhất đời Trần.

 

Trước hết ta hãy nói về thiền sư Thường Chiếu, người có thể đại diện được cho ba thiền phái cuối đời Lý và gạch nối giữa nền phát triển ba-tông-phái đời lý và nền Phật Giáo một-tông-phái đời Trần.

 

THIỀN SƯ THƯỜNG CHIẾU

 

Thường Chiếu người làng Phù Ninh, họ Phạm. Hồi chưa xuất gia, ông đã từng làm quan dưới triều vua Ly Cao Tông, chức lệnh đô tào ở cung Quảng Từ. Sau đó, ông bỏ quan tước để đi xuất gia dưới sự hướng dẫn của thiền sư Quảng Nghiêm, chùa Tịnh Quả. Ðược tâm truyền của thiền sư Quảng Nghiêm, ông ở lại chùa Tịnh Quả thêm vài ba năm để hầu thầy, rồi sau đó ông lui về một ngôi chùa cổ ở làng Ông Mạc để dạy học trò. Năm ông rời chùa Tịnh Quả có lẽ là năm 1190, bởi vì sách Thuyền Uyển Tập Anh nói thẩy ông là thiền sư Quảng Nghiêm tịchv ào năm ấy. Có lẽ ông đã ở lại hầu thầy đến khi thầy tịch.

 

Sau đó không lâu, thiền sư Thường Chiếu dời sang chùa Lục Tổ, vốn là một tổ đình rất xưa của phái Tỳ Ni Ða Lưu Chi; chùa này được thành lập vào khoảng thế kỷ thứ tám do thiền sư Ðịnh Khuông và đệ tử là thiền sư Thông Thiền tạo dựng.

 

Sự kiện Thường Chiếu của thiền phái Vô Ngôn Thông đến mở trường dạy học tại chùa Lục Tổ, một tổ đình lớn của phái Tỳ Ni Ða Lưu Chi, cho ta thấy rằng cao tăng của phái sau này, sau thiền sư Viên Thông, đã bắt đầu thưa thớt đến nỗi sự giáo hóa Phật pháp tại một tổ đường đã phải nhờ đến một thiền sư thộc phái Vô Ngôn Thông. Ðã đành còn có các vị cao tăng như Ðạo Lâm, Tĩn Thiền, Ðịnh Hương và Y Sơn, nhưng các vị này cũng còn phải trụ trì các tổ đường khác của môn phái.

 

Chính vì hành đạo tại một tổ đường Tỳ Ni Ða Lưu Chi mà thiền sư Thường Chiếu đã thu thập được nhiều tài liệu để bổ túc cho tập sử liệu Phật Giáo do thiền sư Thông Biện để lại hiện có trong tay ông. Ngoài công việc đó. Thường Chiếu còn viết thêm một tài liệu Phật Giáo khác lấy tên là Nam Tông Tự Pháp Ðồ. Còn tập sử liệu kia sau này trở thành sách Thuyền Uyển Tập Anh. Cả hai tài liệu này ông đã trao lại cho đệ tử là Thàn Nghi. Tại chùa Lục Tổ, số môn đồ đến thụ giáo với Thường Chiếu càng ngày càng đông đảo.

 

SỰ QUAN TRỌNG CỦA TÂM HỌC

 

Thường Chiếu chủ trương sự tu học chứng ngộ cần được căn cứ trên một nền tâm học vững chãi mới có thể thành tựu được. Ông nói: “Người tu đạo nếu biết rõ về tâm minh thì sẽ phí sức ít mà dễ thành công. Người tu đạo nếu không biết gì về tâm mình thì sẽ phí sức ít mà dễ thành công. Người tu đạo nếu không biết gì về tâm mình thì phí công vô ích”. Thấy được tâm mình là ở đây là thấy được sự liên hệ giữa chủ thể và đối tượng nhận thức. Tâm học ở đây có nghĩa gần như tâm lý học, đó là Duy thức học. Một vị đệ tử Thường Chiếu câu hỏi sau đây: “Khi chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức xúc tiếp nhau thì sự việc xảy ra thế nào?” (Vật ngã phan duyên thời như hà?). Thường Chiếu đáp, trong tinh thần chính thống của Duy Thức học: “Khi ấy, cả chủ thể và đối tượng nhận thức không còn. Tâm thức của ta vô thường, thay đổi sinh diệt từng sác na, thì làm sao có một chủ thể thường tại mà tiếp xúc với đối tượng? Tuy vậy, sinh là các hiện tượng sinh, diệt là các hiện tượng diệt; còn đối tượng chứng ngộ thì không bao giờ sinh diệt”(Vật ngã lưỡng vong! Tâm tính vô thường, dị sinh dị diệt, sát-na bất đình, thùy thị phan duyên? Sinh vi sinh vật, diệt vi diệt vật, bỉ pháp sở đắc thường vô sinh diệt).

 

ÐỐI TƯỢNG CHỨNG ÐẮC

 

Trong câu nói trên, Thường Chiếu cho ta thấy rằng sự chứng đạo không phải được thực hiện trên liên hệ chủ thể và đối tượng của nhận thức, bởi cả hai đều sinh diệt không ngừng. Nếu sự chứng đắc mà cũng sinh diệt như thế đâu có sự chứng đắc. Cho nên đừng tìm quả vị giác ngộ như một đối tượng nhận thức; quả vị giác ngộ phải được thực hiện ngay trong tự thể của tâm. Mọi tìm cầu bên ngoài đều vô hiệu.

 

Ðiều này còn rõ ràng hơn nữa khi Thường Chiếu trả lời một người đệ tử hỏi về pháp thân.

 

Thân tuy sống trên đời

Tâm là như lai tạng

Chiếu rạng cả mười phương

Nhưng tìm thì biệt dạng.

 

(Tại thế vi nhân thân

Tâm vi như lai tạng

Chiếu diệu thả vô phương

Tầm chi cánh tuyệt khoáng)

 

Pháp thân hay tự tính giác ngộ vốn hiện hữu tràn đầy: biết mở con mắt vô phân biệt mà nhìn thì sự thực chứng được hiện hữu tràn đầy đó. Nhưng nếu có chủ định đi tìm nó như một đối tượng thì tự nhiên nó biệt tăm biệt dạng. Một hôm một đệ tử là cư sĩ Thông Sư hỏi ông: “Làm sao chứng đắc được Phật pháp?”. Thường Chiếu trả lời: “Phật pháp không thể chứng đắc được. Chư Phật đều đã tu học trên căn bản chư pháp bất khả đắc ấy”.

 

TÙY TỤC

 

Khi ông gần mất,vị đệ tử lớn là Thần Nghi hỏi: “Những nhân vật như sư phụ mà khi thời tiết đến cũng phải tùy tục chết đi như vậy như người thường sao?”, Thường Chiếu hỏi; “Ngươi thấy được ai là kẻ không tùy tục nào?”. Thần Nghi:” Bồ Ðề Ðạt Ma là một. Ông ta không chết mà chỉ lướt biển trở về Ấn Ðộ”. Thường Chiếu: “Ðó chỉ chẳng qua là chó sủa bóng thôi”. Thần nghi hỏi: “Vậy hòa thượng có tùy tục không?”. Thường Chiếu nói: “Ta cũng tùy tục”. Thần Nghi hỏi: “Tại sao lại như thế?” Thường Chiếu trả lời: “Ðể cho giống với kẻ khác”, nhờ câu này mà Thần Nghi tỉnh ngộ.

 

Sau này Thần Nghi hỏi thầy: ” Con ở với hòa thượng đã nhiều năm, nhưng chưa biết thủ truyền của tông phái ta là ai, xin ngài chỉ dạy thứ bực truyền thừa để kẻ hậu học biết được nguồn gốc”. Thường Chiếu liền lấy tập tài liệu lịch sử của Thông Biện biên tập và bản ghi chép các tông phái cùng những thế hệ truyền thừa trao cho Thần Nghi. Thần Nghi xem qua hỏi: “Tại sao hai hệ phái Ðại Ðiên và Bát Nhã không được chép vào đây?”. Thường Chiếu: ” Ðó là ý của Thông Biện. Thông Biện đã nghĩ kỹ nên mới quyết định như thế”.

 

Sau này Thần Nghi trao lại các tài liệu lịch sử Phật Giáo trên cho đệ tử là Ẩn Không.

 

Thường Chiếu có ba người đệ tử xứng đáng: Thiền sư Hiện Quang người sẽ khai sơn thiền phái Yên Tử đời Trần: thiền sư Thần Nghi, người đã truyền lại tài liệu lịch sử Phật Giáo Việt Nam; và cư sĩ Thông Sư, người đã đào tạo nên thiền sư Tức Lự. Thường Chiếu có công nhiều trong việc dung hợp ba thiền phái phát triển đời Lý và thâu thập nhiều tài liệu về các thiền phái này. Tiếc rằng Nam Tông Tự Pháp Ðồ hiện nay chưa tìm ra được. Có lẽ tác phẩm này mất hẳn. Ông là người có đạo học uyên thâm. Bài kệ ông đọc trước lúc lâm chung biểu lộ được phong thái của người đã giải thoát, tìm thấy rằng thực hữu tràn đầy kia không nơi đâu và không lúc nào không phải là quê hương mình:

 

Ðạo vốn không nhan sắc

Mà ngày càng gấm hoa

Trong ba ngàn cõi ấy

Ðâu chẳng phải là nhà?

 

(Ðạo bản vô nhan sắc

Tân tiên nhật nhật khoa

Ðại thiên sa giới ngoại

Hà xứ bất vi gia?)

 

VỊ TỔ KHAI SƠN PHÁI YÊN TỬ: HIỆN QUANG THIỀN SƯ (mất 1220)

 

Vị tổ khai sơn chùa Hoa Yên ở núi Yên Tử là thiền sư Hiện Quang, đệ tử của thiền sư Thường Chiếu chùa Lục Tổ. Nhưng Hiện Quang không phải chỉ là người truyền thừa tông chỉ của Thường Chiếu phái Vô Ngôn Thông. Ông còn học với thiền sư Trí Thông chùa Thánh Quả và thiền sư Pháp Giới ở núi Uyên Trừng, phủ Nghệ An nữa. Ta không rõ thiền sư Trí Thông và Pháp Giới thuộc giáo hệ nào, ta chỉ biết ảnh hưởng của họ trên thiền sư Hiện Quang có thể còn quan trọng hơn cả ảnh hưởng của Thường Chiếu, bởi lúc Thường Chiếu viên tịch thì Hiện Quang mới có hai mươi mốt tuổi, chưa thọ tỳ kheo giới và “chưa kịp có thì giờ suy cứu về tông chỉ thiền môn” (Thuyền Uyển Tập Anh ).

 

Sau khi Thường Chiếu viên tịch, Hiện Quang thấy sức học của mình về thiền kém cỏi quá, tự than rằng: ta cũng như đứa con của đại phú gia, khi cha mẹ còn sống thì không biết trong nhà đầy châu báu, khi cha mẹ chết thì trở nên bần cùng nghèo khổ”. Hiện Quang liền đi chu du trong giới thiền lâm để cầu tham học, gặp được thiền sư Trí Không chùa Thánh Quả nhờ một câu nói của ông này mà tâm tư khai sáng. Hiện Quang dáng người và vẻ mặt thanh tú, giọng nói êm ái. Vì Hoa Dương công chúa hay lui tới cúng dường nên ông bị người ta nói ra nói vào. Do đó ông bỏ vào núi Uyên Trừng theo Pháp Gới thiền sư, thọ giới tỳ kheo để tu học. Ông nói: “Nếu ta không lấy nhẫn nhục làm áo giáp và tinh tấn làm khí giới, thì ta không thể nào phá được ma quân phiền não và đạt được quả giác ngộ vô thượng”. Sau một thời gian tu học tại đây, không muốn nhận cúng dường của tín thí nữa, ông vào rừng sống trong mười năm. Về sau, ông vào núi Từ Sơn làm am cư trú. Ði kinh hành trong rừng ông mang theo bao vải; đến nơi thích hợp ông trải bao ra ngồi thiền, loài dã thú thấy ông không hề xúc phạm. Vua Lý Huệ Tông nghe tiếng cho người đi mời ông. Ông cho đệ tử trả lời như sau: “Bần đạo sinh trên đất của vua, ăn lộc của vua, ở trong núi thờ Phật đã lâu năm, công đức chưa thành tựu, rất lấy làm hổ thẹn. Nay nếu về thăm vua, thì chẳng có ích gì cho việc trị an của vua mà lại còn bị chúng sinh bài báng. Huống chi bây giờ Phật pháp đang hưng thịnh, các bậc sư tượng trong đạo nhiều người đang tụ tập ở kinh đô diện các, một ông thầy tu thô lậu áo drách trong núi về kinh làm gì?”. Nói rồi quyết không xuống núi. Không biết Hiện Quang đến khai sơn Yên Tử năm nào. Một hôm có một vị tăng hỏi ông; “Hòa thượng lâu này làm gì trong núi?” Ông đáp:

 

Theo Hứa Do người cũ

Ðâu biết mấy xuân rồi?

Vô vi nơi khoáng dã

Làm người tự tại thôi!

 

(Ná dĩ Hưa Do đức

Hà tri thế kỷ xuân?

Vô vi cư khoáng dã

Tiêu diêu tự tại nhân)

 

Năm 1220, tức năm Tân tỵ, niên hiệu Kiến Gia thứ 11, thiền sư ngồi trên một phiến thạch đọc một bài kệ sau đây trước khi tịch:

 

Pháp huyễn đã là huyễn

Tu huyễn cũng là huyễn

Lìa được hai huyễn ấy

Là lìa được mọi huyễn

 

(Huyễn pháp giai thị huyễn

Huyễn tu giai thị huyễn

Nhị huyễn giai bất tức

Tức thị trừ chư huyễn)

 

Là tổ khai sơn chàu Hoa Yên núi Yên Tử, Hiện Quang được xem nhưa là người đích thực sáng lập truyền thống Yên Tử. Truyền thống này sau lấy tên là Trúc Lâm. Trần Nhân Tông, thuộc thế hệ thứ sáu phái Yên Tử, lấy hiệu là Trúc Lâm đầu đà.

 

TRÚC LÂM QUỐC SƯ

 

Sách Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư gọi vị thiền sư trên núi Yên Tử mà Thái Tông lên tham yết là Phù Vân, bạn cũ của Thái Tông. Ðiều này sợ sai, bởi vì Phù Vân là hiệu của thiền sư Tĩnh Lự, thuốc thế hệ thứ 10 của thiền phái Yên Tử, đệ tử của thiền sư An Tâm, trù trì chùa Hoa Yên. Trong bài tựa Thiền Tông Chỉ Nam, Thái Tông chỉ gọi vị thiền sư núi Yên Tử là Trúc Lâm đại sa môn, tôn xưng là quốc sư, mà không bao giờ gọi là ông Phù Vân quốc sư. Vị thiền sư này là đệ tử của Hiện Quang, mà theo Thuyền Uyển Tập Anh có pháp danh là Ðạo Viên; sách Thánh Ðăng Lục, sách Yên Tử Sơn Trúc Lâm Trần Triều Thiền Tông Bản Hạnh và tài liệu truyền thừa chùa Hoa Yên (theo hòa thượng Phúc Ðiền) đều nói tên thiền sư là Viên Chứng. Viên Chứng hay Ðạo Viên hay Trúc Lâm quốc sư cũng là một người. Thiền sư Hiện Quang tich năm 1220, lúc vua Thái Tông mới lên 3 tuổi, thành thử Hiện Quang không phải là người vua gặp trên núi. Ðạo Viên thiền sư làm lễ an táng thầy trên núi Yên Tử; năm thầy mất, Ðạo Viên ít ra cũng 20 tuổi. Nói Ðạo Viên là bạn cũ của Thái Tông e cũng không đúng, bởi vì hồi tám tuổi Thái Tông đã làm vua. Hơn nữa, trong bài tựa Thiền Tông Chỉ Nam, Ðạo Viên đã dùng tiếng lão tăng để tự chỉ mình. Sách Trần Triều Thiền Tông Bản Hạnh cũng nói Ðạo Viên là “lão tăng thầy già”. Vậy liên hệ giữa hai người là liên hệ thầy trò mà không phải là bạn hữu.

 

Vào khoảng năm 1248, Trúc Lâm có xuống kinh sư theo lời mời của vua Thái Tông để kiểm điểm lại các bộ kinh và lục trước khi đem khắc bản gỗ để ấn loát phát hành. Vua Thái Tông thỉnh ông ở lại chùa Thắng Nghiêm, tôn xưng là quốc sư. Vua cũng trình ông một tác phẩm ông vừa mới viết tên là Thiền Tông Chỉ Nam. Ông khen ngợi và khuyên nên khắc bản để in luôn trong dịp ấy.

 

Năm 1236 khi vua Thái Tông bỏ lên núi Yên Tử định đi tu, Trúc Lâm quốc sư hỏi vua muốn tìm gì mà lên núi. Vua nói chỉ muốn đi tìm thành Phật. Ông nói: “Trong núi vốn không có Phật, Phật ở trong tâm ta. Nếu tâm ta lắng lại và trí tuệ xuất hiện thì đó chính là Phật. Nếu bệ hạ giác ngộ được chân lý ấy thì tức khắc thành Phật ngay tại chỗ, không phải đi tìm cực nhọc bên ngoài (bài tựa Thiền Tông Chỉ Nam).

 

Khuyên Thái Tông trở về nhậm nhiệm vụ trị dân, thiền sư nói: “Ðã làm vua thì không còn có thể theo ý thích riêng mình nữa. phải lấy ý muốn của dân làm ý muốn của mình; phải lấy lòng dân làm lòng của mình. Nay dân muốn vua về mà vua không về thì làm sao được?” Thiền sư buộc vua trở về với bổn phận bằng một lý luận đanh thép. Nhưng ông an ủi: tuy vậy, vua vẫn có thể làm nghề trị dân vừa tu học Phật pháp. Thiền ân cần dặn vua đừng quên học Phật và tham thiền.

 

Không biết sau khi hoàn tất việc in kinh, Trúc Lâm quốc sư có lưu lại kinh sư một thời gian trước khi về núi hay không. Ảnh hưởng của ông không những lớn lao trên sự tu học của Trần Thái Tông mà trên nhiều mặt khác nữa. Ít ra ông ông cũng đã đóng góp về phương diện văn hóa trong việc san định và ần hành kinh lục, và đã cống hiến cho đời thêm một vị đệ tử xuất sắc là Ðại Ðăng quốc sư người đã ảnh hưởng nhiều tới tư tưởng thiền phái Trúc Lâm sau này.

 

ÐẠI ÐĂNG QUỐC SƯ

 

Ðại đăng quốc sư thuộc thế hệ thứ ba truyền thống Yên Tử, anh em đồng sư với Trần Thái Tông. Hiện ta không có tài liệu nào về tư tưởng và thi văn của Ðại Ðăng. Ta chỉ biêt theo Thánh Ðăng Lục và Trần Triều Thiền Tông Bản Hạnh rằng tuy tiếp nhận truyền thừa phái Yên Tử nhưng ông cũng tiếp nhận truyền thừa Lâm Tế do thiền sư Thiên Phong từ Trung Hoa đưa qua. Thiên Phong từ Chương Tuyên đến, thuộc về thiền phái Lâm Tế. Huệ Nguyên trong bài Lược Dẫn Thiền Phái Ðồ in ở đầu sách Thượng Sĩ Ngữ Lục nói rằng Thiên Phong là cư sĩ. Trần Triều Thiền Tông Bản Hạnh¸, nói ông là “thầy nước ngoài” và trí tuệ cao tài kinh lịch chư bang”. Khi Thiên Phong đến Việt Nam, vua Thái Tông nghe tiếng liền mời đến viện Tả Nhai, hội họp các bậc thiện tri thức lại để cdùng tham học. Trong số những bậc “Kỳ Ðức” tham dự các buổi học tập này chắc chắn đã có Ðại Ðăng. Lúc này Ðại Ðăng đã được Trúc Lâm quốc sư gửi về kinh thành hành đạo. Trong số những người nghe Thiền Phong giảng đạo. Ðại Ðăng là người được Thiên Phong chính thức truyền cho tâm ấn. Một trong những đệ tử xuất sắc của Ðại Ðăng là Liễu Minh quốc sư.

 

TIÊU DIÊU THIỀN SƯ

 

Tiêu diêu thiền sư thuộc thế hệ thứ tư truyền thống Yên Tử. Ông là học trò Ðại Ðăng, đồng thời cũng đắc pháp với thiền sư Ứng Thuận của thiền phái Vô Ngôn Thông. Cùng học Ứng Thuận trong thế hệ ông còn có các thiền sư Giới Minh, Giới Viên và Nhất Tông quốc sư. Tiêu Diêu là thầy của Tuệ Trung thượn sĩ, một trong những cây đuốc sáng nhất của thiền học đời Trần.

 

Huệ Nguyên, người san định sách Thượng Sĩ Ngữ Lục năm 1763, nói rằng Tiêu Diêu, thầy của Tuệ Trung, là người Trung Hoa qua Việt Nam truyền đạo. Sự thực thì không phải thế. Tiêu Diêu là người Việt Nam, đẹ tử của Ứng Thuận phái Vô Ngôn Thông, đồng thời cũng là người thừa kế thiền sư Ðại Ðăng, tổ thứ bachùa Hoa Yen núi Yên Tử. sự kiện Tiêu Diêu đắc pháp với Ứng Vương được nói đến trong Thuyền Uyển Tập Anh, nhưng Huệ Nguyên không được đọc tác phẩm này. chính vì mặc cảm cho rằng tổ sư Trung Hoa mới giỏi và mới chính thống nên ông đã cho rằng Tiêu Diêu, thầy của Tuệ Trung phải là người Tàu. Không được đọc Thuyền Uyển Tập Anh nên trong bài Lược Dẫn Thiền Phái Ðồ (đầu trang Thượng Sĩ Ngữ Lục) ông đã viết những giòng mơ hồ sau đây về thiền phái Vô Ngôn Thông: “Thiền phái truyền vào nước ta không biết người nhận lãnh đầu tiên là ai, chỉ biết Thiền Nguyệt truyền cho Nguyễn Thái Tông rồi lần xuống Ðịnh Hương trưởng lão, Viên Chiếu, Ðạo Huệ, sau đó còn lần lượt trao truyền, nhưng tên tuổi các ngài lúc ẩn, lúc hiện khó nhận ra manh mối”. Ta thấy Huệ Nguyên nhắc đến tên một số các vị thiền sư phái Vô Ngôn Thông nhưng không biết gì về nguyên ủy của thiền phái này.

 

Thiền sư Tiêu Diêu còn được gọi là Phúc Ðường đại sư, cư trú ở Phúc Ðường tịnh xá. Không biết tịnh xá này ở đâu. Có thể là trên núi Yên Tử. Tuệ Trung thượng sĩ có một bài thơ “Lên thăm thiền sư Tiêu Diêu ở Phúc Ðường tịnh xá” và một bài thơ “Cảnh vật Phúc Ðường” trong đó có câu “Thả hỷ lâm thâm thoại thú tàng” (vui chốn rừng sâu trong đó có ẩn nhiều loại thú lành). Tụe Trung là một tay cự phách trong rừng thiền nhưng đối với thiền sư Tiêu Diêu rất mực cung kinh khâm phục. Trong bài “Lên Thăm Thiền Sư Tiêu Diêu ở Phúc Ðường” ông nói:

 

Cho hay Phật sống trần gian đấy

Sen nở trên lò rực lửa hồng.

 

(Tu tri thế hữu nhân trung Phật

Hưu quái lô khai hỏ lý liên)

 

Tuy Huệ Tuệ là pháp tử chính thức của Tiêu Diêu, trù trì chùa Yên Tử, nhưng chính Tuệ Trung thượng sĩ mới là học trò xuất sắc nhất của Tiêu Diêu vậy. Nhưng trước khi nói đến Tuệ Trung, ta hãy nói đến Trần Thái Tông và sự nghiệp Phật học của vua này.

________________

Việt Nam Phật Giáo Sử Luận

Nguyễn Lang

CÓ PHẢI GS. NGUYỄN HUỆ CHI TÌM RA TÊN CỦA TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ LÀ TRẦN TUNG?

Nguyễn Huệ Chi tìm ra Trần Tung sau Nguyễn Lang 4 năm, từ 1973 đến 1977. Sau năm 1975, đất nước thống nhất, giới nghiên cứu KHXH miền Bắc đã dễ dàng được tiếp xúc với các tài liệu và thành quả nghiên cứu ở miền Nam. Chuyện Nguyễn Huệ Chi có thể đã có cuốn “Việt Nam Phật giáo sử luận” của Nguyễn Lang và biến kết quả của thiền sư thành của mình là điều hoàn toàn có thể xảy ra.

 

Tuệ Trung Thượng Sĩ (1230-1291) là một nhân vật lịch sử nổi tiếng thời Trần, người đã từng 2 lần tham gia cầm quân trong cuộc kháng chiến đánh bại quân Nguyên Mông. Ông cũng là thầy dạy, người dẫn dắt vua Trần Nhân Tông đến cửa Thiền và đặt nền móng cho sự phát triển của Thiền phái Trúc Lâm ở thế kỉ XIII-XIV.

 

Với giới nghiên cứu văn học sử đây còn là một trường hợp đặc biệt vì trong nhiều thế kỉ tên thật của Tuệ Trung Thượng Sĩ đã không được xác định đúng. Ngay Bùi Huy Bích (1744-1818) cũng đã nhầm ông thành Trần Quốc Tảng, con thứ của Trần Hưng Đạo. Năm 1973, nhà nghiên cứu Nguyễn Lang (thiền sư Thích Nhất Hạnh) trong cuốn Việt Nam Phật giáo sử luận (NXB Lá bối)[1] công bố việc ông đã xác định được Tuệ Trung Thượng Sĩ chính là Trần Quốc Tung, anh cả chứ không phải là Trần Quốc Tảng con lớn của Trần Hưng Đạo. Ông đã cung cấp đầy đủ những biện lý chứng minh cho điều phát hiện của mình.

 

Năm 1977, tức 4 năm sau, trong Thơ văn Lý – Trần (quyển 1, trang 113-115, Phần khảo luận)[2] và trong bài viết Trần Tung một gương mặt lạ trong làng thơ Thiền thời Lý – Trần[3] Nguyễn Huệ Chi công bố mình đã độc lập tìm ra Trần Tung (bớt một chữ Quốc) chính là Tuệ Trung Thượng Sĩ. Nếu đúng Nguyễn Huệ Chi tự mình tìm ra Trần Tung thì việc này xảy ra sau 4 năm. Có lẽ, chính vì vậy mà Nguyễn Huệ Chi cũng cảm thấy dư luận sẽ có những nghi ngờ nên ông đã chủ động nhắc tới Nguyễn Lang và rào đón:

 

“Tuy vậy, cho đến nay, dư luận bạn đọc vẫn phân vân nửa tin nửa ngờ. Có người còn cho là quá táo bạo và lạ lẫm. Chúng tôi rất hiểu tình thế khó khăn là phải làm sao chiến thắng được một tâm lý quen thuộc vốn đã gắn quá chặt bộ Thượng Sĩ ngữ lục cũng như những sợi dây tinh thần giữa Thiền phái Trúc Lâm với cái tên Trần Quốc Tảng”[3]

 

Dư luận có những ngờ vực cũng là điều dễ hiểu. Một mặt, chưa biết thực hư thế nào nhưng Nguyễn Huệ Chi là người dính líu đến nhiều vụ lình xình và bị không ít người chất vấn về đạo đức khoa học, liêm chính học thuật. Mặt khác, Nguyễn Huệ Chi tìm ra Trần Tung sau Nguyễn Lang 4 năm, từ 1973 đến 1977. Sau năm 1975, đất nước thống nhất, giới nghiên cứu KHXH miền Bắc đã dễ dàng được tiếp xúc với các tài liệu và thành quả nghiên cứu ở miền Nam. Chuyện Nguyễn Huệ Chi có thể đã có cuốn “Việt Nam Phật giáo sử luận” của Nguyễn Lang và biến kết quả của thiền sư thành của mình là điều hoàn toàn có thể xảy ra. Thêm nữa, nếu như phát hiện ra Trần Tung là Tuệ Trung Thượng Sĩ thì đó là một phát hiện khoa học cực kỳ chấn động. Lẽ nào một người nhạy bén như Nguyễn Huệ Chi trong suốt gần 10 năm từ 1968 (khi đọc sách “Cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông” của Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm) đến 1977 khi “Thơ văn Lý – Trần” tập 1 được ra đời, lại không công bố bất cứ bài viết nào của mình trên các tạp chí khoa học, mà gần gũi nhất là Tạp chí Văn học? Chính vì vậy, bạn đọc có quyền nghi ngờ và một số người đã nêu lên nghi ngờ này. Tuy nhiên, nghi ngờ mới chỉ là giả thiết, chưa được chứng minh một cách đầy đủ.

 

Tháng 10-2013, trong bài Đôi điều gửi tới GS Nguyễn Huệ Chi[4] đăng trên Tuần báo Văn Nghệ, nhà phê bình Nguyễn Hòa đã dẫn lại và so sánh 2 đoạn văn bản: một trích từ Thượng Sĩ hành trạng (Tuệ Trung Thượng Sĩ ngữ lục) của Trần Nhân Tông, một từ Trần Tung một gương mặt lạ trong làng thơ Thiền thời Lý – Trần in trong Văn học cổ cận đại Việt Nam – Từ góc nhìn văn hóa đến các mã nghệ thuật của Nguyễn Huệ Chi và ông Nguyễn Hòa viết:

 

“Không khó để thấy hai đoạn văn trên đây na ná nhau, từ diễn giải đến sự kiện và tư liệu, riêng đoạn của GS Nguyễn Huệ Chi có “thêm mắm thêm muối, vẽ rắn thêm chân” nên dài dòng hơn. Vì GS Nguyễn Huệ Chi sử dụng tài liệu từ Thượng Sĩ hành trạng của Trần Nhân Tông mà không cho biết rõ xuất xứ, nên ở đây có một câu hỏi cần đặt ra: GS Nguyễn Huệ Chi “đạo văn” hay “phóng tác” từ tác phẩm của Trần Nhân Tông nhưng lờ đi, không nói rõ nguồn gốc, hoặc ông bắt chước Nguyễn Lang (đoạn của Nguyễn Lang khá dài nên không dẫn lại, có thể tìm đọc trong: Việt Nam Phật giáo sử luận, tập 1, NXB Lá bối, SG.1973, từ tr.276 đến tr.279; và Việt Nam Phật giáo sử luận, NXB Văn học, H.2008, từ tr.256 đến tr.258), rất mong GS Nguyễn Huệ Chi tường minh vấn đề này”.

 

Với những nghi vấn của Nguyễn Hòa, Nguyễn Huệ Chi im tiếng không trả lời. Thay vào đó tháng 11, tác giả Đặng Văn Sinh đã có bài trả lời: Giáo sư Huệ Chi “đạo văn” hay là nhà phê bình Nguyễn Hoà vu khống?[5]. Đặng Văn Sinh đã bảo vệ Nguyễn Huệ Chi bởi những lập luận sau:

 

1) Ông trích dẫn đoạn văn trong Thượng Sĩ hành trạng của Trần Nhân Tông (bản dịch của Đỗ Văn Hỷ – Nguyễn Huệ Chi dịch, Thơ văn Lý – Trần, tập II, Q. thượng, NXB Khoa học xã hội, H. 1989) và đoạn văn trong Tuệ Trung Thượng Sĩ của Nguyễn Lang (Việt Nam Phật giáo sử luận, phần Tuệ Trung Thượng Sĩ, NXB Lá bối, Sài Gòn, 1973; langmai.org, chương 11) rồi viết: “Xin hỏi ông Nguyễn Hòa nghĩ gì khi học giả Nguyễn Lang cũng tóm lược câu chuyện về Tuệ Trung từ một gốc “Thượng Sĩ hành trạng” của Trần Nhân Tông hệt như học giả Nguyễn Huệ Chi chứ đâu có gì khác? Hay là người này đã tóm lược rồi thì người kia mà “tóm” nữa ắt bị coi là… “đạo văn”?”. Logic của Đặng Văn Sinh là: 2 người cùng tóm lược từ một văn bản gốc “Thượng Sĩ hành trạng” của Trần Nhân Tông thì chuyện có những điều giống nhau là bình thường, không thể nói Nguyễn Huệ Chi đạo văn của Nguyễn Lang.

 

2) Kể lại việc Nguyễn Huệ Chi đã “Huy động rất nhiều tài liệu, sự kiện rồi dùng phương pháp loại suy để chứng minh Tuệ Trung Thượng Sĩ là Trần Quốc Tung, chứ không phải là Trần Quốc Tảng”.

 

3) Trả lời cho “dấu hỏi nghi ngờ” của Nguyễn Hòa: “bản thảo Thơ văn Lý – Trần hoàn thành vào cuối năm 1973, đưa vào nhà in năm 1974 nhưng mãi đến năm 1977 mới ra mắt bạn đọc, vậy trong khoảng thời gian ba năm ấy, ai dám chắc nhóm biên soạn không sửa chữa, bổ sung tư liệu?” Đặng Văn Sinh dẫn lại đoạn văn kể của Nguyễn Huệ Chi trong bài Những năm tháng với Phong Lê[6] để chứng minh cho việc Thơ văn Lý – Trần, tập 1 in xong năm 1977, nhưng thực ra đã hoàn thành từ năm 1974, quá trình in bị kéo dài mất 4 năm.

 

Về lập luận 1, tôi sẽ bàn ở phần tiếp theo trong bài viết này. Trước hết tôi xin nói qua về 2 lập luận sau của Đặng Văn Sinh. Ở lập luận thứ 2, ông Đặng Văn Sinh quên mất một điều: tìm ra Trần Tung và chứng minh Tuệ Trung Thượng Sĩ chính là Trần Tung là 2 bài toán hoàn toàn khác nhau! Tìm ra Trần Tung (Trần Quốc Tung) sau hàng trăm năm nhầm lẫn là một đóng góp có giá trị lớn và khó hơn nhiều so với việc sau khi đã biết thân nhân ông là ai, chứng minh để khẳng định điều đó. Việc chứng minh có lẽ không phải là khó khăn lắm đối với người nghiên cứu lịch sử và văn học cổ trung đại Việt Nam. Đấy là chưa nói, bản thân Nguyễn Lang cũng đã đưa ra những biện lý chứng minh cho điều phát hiện của mình. Về lập luận thứ 3, có lẽ chẳng cần phải bàn nhiều. Lấy những lời kể lể không có chứng minh, không thể kiểm tra của người bị cáo buộc để bảo vệ cho “thân chủ” hoàn toàn không có giá trị.

 

Quay lại về lập luận 1.

 

Lập luận của Đặng Văn Sinh nếu đọc thoáng qua nghe có vẻ có lí, nhưng thực tình không phải như vậy! Tôi sẽ giải thích tại sao.

 

Ở đây chúng ta có 4 văn bản chứ không phải 3 (Thượng Sĩ hành trạng của Trần Nhân Tông và 2 đoạn văn của Nguyễn Lang và Nguyễn Huệ Chi). Xin liệt kê lại đây:

 

- Vb1: Thượng Sĩ hành trạng (Thượng Sĩ ngữ lục) của Trần Nhân Tông (1258-1308), bản gốc chữ Hán[7].

 

- Vb2a: Thượng Sĩ hành trạng, bản dịch nghĩa (Nguyễn Hòa dẫn bản dịch lấy từ sách Tuệ Trung Thượng Sĩ ngữ lục với Lời đầu sách của Hòa thượng Thích Thanh Từ) [8].

 

- Vb2b: Thượng Sĩ hành trạng, bản dịch nghĩa (Đặng Văn Sinh dẫn bản dịch của Đỗ Văn Hỷ – Nguyễn Huệ Chi trong Thơ văn Lý – Trần, tập II, Q. thượng, NXB Khoa học xã hội, 1989).

 

- Vb3: Đoạn văn của Nguyễn Lang kể lại câu chuyện về Tuệ Trung (trích từ Tuệ Trung Thượng Sĩ, NXB Lá bối, Sài Gòn, 1973).

 

- Vb4: Đoạn văn của Nguyễn Huệ Chi kể lại câu chuyện về Tuệ Trung (trích từ Trần Tung một gương mặt lạ trong làng thơ Thiền thời Lý – Trần. Văn học cổ cận đại Việt Nam -

 

Từ góc nhìn văn hóa đến các mã nghệ thuật. NXB Giáo dục, 2013).

 

Tôi nhắc lại đây cả 2 bản dịch Vb2a và Vb2b là vì Nguyễn Hòa và Đặng Văn Sinh mỗi người dẫn ra một bản trong bài viết của mình.

 

Với các văn bản kể trên ta có những nhận xét sau:

 

- Bản gốc chữ Hán chỉ có thể chuyển tải nội dung, thông tin sang các bản dịch (Vb2a, Vb2b) còn văn phong, câu chữ là do người dịch.

 

- Ngoài bản gốc Thượng Sĩ hành trạng bằng chữ Hán của Trần Nhân Tông, theo trình tự thời gian thì đoạn văn của Nguyễn Lang (năm 1973) có trước bản dịch Vb2b (của Đỗ Văn Hỷ – Nguyễn Huệ Chi) và đoạn văn của Nguyễn Huệ Chi.

 

- Người đi sau có thể đạo văn hay bắt chước người đi trước chứ không thể ngược lại.

 

- Văn bản được tính là gốc để xem xét phải là bản gốc chữ Hán Thượng Sĩ hành trạng của Trần Nhân Tông chứ không phải là các bản dịch của nó.

 

- Vì cùng xuất phát từ 1 gốc (bản chữ Hán) thì văn bản của Nguyễn Lang và Nguyễn Huệ Chi (nếu ông thực sự tìm ra Trần Tung một cách độc lập với Nguyễn Lang) chỉ có thể có những điểm giống nhau về nội dung/thông tin có trong bản gốc chữ Hán của Trần Nhân Tông chứ khó có thể giống nhau về câu chữ, từ ngữ sử dụng. Thêm nữa, những nội dung/thông tin không có trong bản gốc chữ Hán mà có cả trong 2 văn bản của Nguyễn Lang và Nguyễn Huệ Chi sẽ là những dấu hiệu nói lên việc người đi sau đã có và sử dụng văn bản của người đi trước.

 

Để tiện theo rõi, các văn bản: Vb2a, Vb2b, Vb3, Vb4 được dẫn lại ở phần Mục lục 2 phía dưới. Qua phân tích 4 văn bản nói trên ta thu được 4 loại nhận xét sau:

 

- Hai đoạn văn của Nguyễn Lang và Nguyễn Huệ Chi hao hao, từa tựa nhau.

 

- Có 1 chỗ câu chữ trong các đoạn văn của Nguyễn Lang và Nguyễn Huệ Chi giống nhau gần như tuyệt đối.

 

- Có 4 chỗ câu chữ trong các đoạn văn của Nguyễn Lang và Nguyễn Huệ Chi giống nhau gần như tuyệt đối, nhưng khác với trong các bản dịch Vb2a, Vb2b.

 

- Có 3 chỗ trong các văn bản của Nguyễn Lang và Nguyễn Huệ Chi có nội dung/thông tin nhưng không có hoặc khác với trong các bản dịch Vb2a, Vb2b.

 

Để làm ví dụ, tôi dẫn lại khổ đầu trong 2 đoạn văn của Nguyễn Lang (Vb3) và của Nguyễn Huệ Chi (Vb4):

 

“Hồi em gái Tuệ Trung Hoàng hậu Thiên Cảm còn sống, một hôm ông được bà mời vào cung ăn tiệc. Trên bàn có những món mặn và món chay, ông đã gắp thức ăn một cách không phân biệt. Hoàng hậu hỏi: “Anh tu thiền mà ăn thịt cá thì làm sao mà thành Phật được?”. Ông cười đáp: “Phật là Phật, anh là anh; anh không cần thành Phật. Phật không cần thành anh. Em chẳng nghe cổ đức nói “Văn Thù là Văn Thù, giải thoát là giải thoát” đó sao?”

 

(Vb3, Nguyễn Lang).

 

“Một lần, Hoàng hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm, vợ Trần Thánh Tông, mời ông anh Tuệ Trung vào cung ăn tiệc. Trên bàn tiệc có cả cỗ mặn lẫn cỗ chay. Thấy anh mình trong bữa ăn quên cả kiêng khem mà nhúng đũa cả vào cỗ mặn một cách phóng túng, Hoàng hậu khẽ nhắc ông: “Anh tu thiền mà ăn thịt cá thì làm sao thành Phật được?”.

 

Tuệ Trung Thượng Sĩ cả cười đáp:

 

“Phật là Phật, anh là anh; anh không hề muốn làm Phật, Phật cũng không hề muốn làm anh. Em chẳng nghe cổ đức có nói: Văn Thù là Văn Thù, giải thoát là giải thoát, đó sao?”

 

(Vb4, Nguyễn Huệ Chi).

 

So sánh 2 đoạn văn nói trên ta có các nhận xét:

 

- Nhận xét 2. Trong cả 2 văn bản của Nguyễn Lang (Vb3) và của Nguyễn Huệ Chi (Vb4) đều có câu “Em chẳng nghe cổ đức (có) nói “Anh tu thiền mà ăn thịt cá thì làm sao mà thành Phật được?” giống nhau gần như đến từng chữ, từng từ và câu chữ khác với 2 bản dịch (Vb2a, Vb2b). Bình luận: 2 văn bản dựa từ một gốc chỉ có thể giống nhau về nội dung chứ cách hành văn khó giống nhau, nhất là giống nhau đến từng từ, từng chữ như vậy. Khả năng Nguyễn Huệ Chi đạo lại của Nguyễn Lang là rất lớn.

 

- Nhận xét 3. Các câu “Em chẳng nghe cổ đức nói “Văn Thù là Văn Thù, giải thoát là giải thoát” đó sao?” (Vb3, Nguyễn Lang) và “Em chẳng nghe cổ đức có nói: Văn Thù là Văn Thù, giải thoát là giải thoát, đó sao?” (Vb4, Nguyễn Huệ Chi) gần như giống nhau hoàn toàn. Riêng câu “Văn Thù là Văn Thù, giải thoát là giải thoát” thì trong cả 4 văn bản đều giống nhau như đúc. Bình luận: Câu chữ giống nhau gần như tuyệt đối chứng tỏ khả năng Nguyễn Huệ Chi đạo lại của Nguyễn Lang.

 

Thấy gì qua việc phân tích các văn bản?

 

Cả 4 loại nhận xét nói trên (2 đoạn văn hao hao, từa tựa nhau; câu chữ trong các đoạn văn của Nguyễn Lang và Nguyễn Huệ Chi giống nhau gần như tuyệt đối, nhưng khác với các bản dịch; trong các văn bản của Nguyễn Lang và Nguyễn Huệ Chi có nội dung/thông tin nhưng không có hoặc khác với trong các bản dịch) đều nói lên việc người đi sau (Nguyễn Huệ Chi) đạo của người đi trước (Nguyễn Lang). Một nhận xét cũng đã nói đến khả năng khá cao là Nguyễn Huệ Chi đạo văn. Trong 1 đoạn văn ngắn ngoài việc hai văn bản hao hao như nhau, rút ra 8 nhận xét/chỗ như vậy thì xác suất đạo văn gần như là tuyệt đối.

 

Mà việc đạo văn của Nguyễn Huệ Chi cũng đồng nghĩa với việc ông ăn cắp kết quả của Nguyễn Lang và gán cho mình!

 

Sau những phân tích ở trên, liệu các bạn đọc có còn tin là Nguyễn Huệ Chi đã tự mình phát hiện Tuệ Trung Thượng Sĩ là Trần Tung nữa không? Còn tôi, tôi không tin!

 

Hà Nội, tháng 9-2018

 

Boristo Nguyen

(CHLB Nga)

Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 526

——————————-

1) Nguyễn Lang. Việt Nam Phật giáo sử luận. Chương 11: Tuệ Trung Thượng Sĩ. NXB Lá bối, Sài Gòn, 1973 (có thể xem tại trang Langmai.org).

2) Thơ văn Lý – Trần, quyển 1. NXB KHXH, 1977.

3) Nguyễn Huệ Chi. Trần Tung một gương mặt lạ trong làng thơ Thiền thời Lý – Trần. Tạp chí Văn học, số 4, năm 1977. Đăng lại trong tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 3-4, 2014, trang 169-191. 

4) Nguyễn Hòa. Đôi điều gửi tới GS Nguyễn Huệ Chi. Văn nghệ số 41, 2013, trang 16, 24.

5) Đặng Văn Sinh. Giáo sư Huệ Chi “đạo văn” hay là nhà phê bình Nguyễn Hòa vu khống? Forum Diễn Đàn (www.diendan.org). 13-11-2013.

Hoặc có thể đọc trên trang mạng Trần Nhương.

6) Nguyễn Huệ Chi. Những năm tháng với Phong Lê. Talawas, 14-06-2008.

7) Trần Nhân Tông. Thượng Sĩ hành trạng, bản chữ Hán. Thơ văn Lý – Trần, tập 2, quyển Thượng, NXB KHXH, 1989.

8) Trần Nhân Tông. Thượng Sĩ hành trạng trong sách Tuệ Trung Thượng Sĩ ngữ lục với Lời đầu sách của Hòa thượng Thích Thanh Từ. Đã đăng trên Thư viện Hoa sen (thuvienhoasen.org).

ĐẠI LỄ TƯỞNG NIỆM 710 NĂM ĐỨC VUA - PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG NHẬP NIẾT BÀN

Trong 2 ngày 6-7/12, tại Trung Tâm Văn Hóa Trúc Lâm Yên Tử sẽ diễn ra Chương trình Đại Lễ Tưởng Niệm 710 năm Đức Vua - Phật Hoàng Trần Nhân Tông nhập Niết bàn và Hội Thảo Khoa Học Quốc Tế “Trần Nhân Tông và Phật Giáo Trúc Lâm – Đặc sắc Tư Tưởng Văn Hóa” do Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, Đại Học Quốc Gia Hà Nội, Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Quảng Ninh đồng chủ trì.

 

 

Ban trị sự GHPGVN tỉnh Quảng Ninh, phối hợp với Công ty Cổ phần phát triển Tùng Lâm và Viện Trần Nhân Tông tổ chức triển khai Chương trình với nội dung và lịch trình cụ thể như sau:

 

Ngày 6/12/2018 (ngày 30 tháng 10 năm Mậu Tuất)


Lễ Tưởng Niệm Đức Vua – Phật Hoàng Trần Nhân Tông (9h00-11h00) và Đại lễ Cầu Siêu (13h00-16h00) tại chùa Ngọa Vân, xã Bình Khê, thị xã Đông Triều, Quảng Ninh.

 

Đức vua – Phật Hoàng Trần Nhân Tông (1258 – 1308) là người có nhiều đóng góp và có vị trí đặc biệt trong lịch sử dân tộc Việt Nam.

 

Với Đời – Ngài là vị vua anh minh kiệt xuất, đã lãnh đạo đoàn kết nhân dân hai lần đánh thắng giặc Nguyên – Mông, một đội quân xâm lược mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ. Chiến thắng ấy còn mãi mãi khắc ghi trong lịch sử vàng dân tộc. Sau khi nhường ngôi báu cho người kế vị, Ngài đã dành tâm huyết để xây dựng và thực thi kế sách khoan hòa trong nhân dân, đề ra chính sách dưỡng dân, an dân để xây dựng, phát triển mở mang đất nước.

 

Với Đạo – Ngài là Thiền sư đắc đạo, là người sáng lập và lãnh đạo Phật giáo Trúc Lâm, nền Phật giáo thống nhất riêng có của người Việt Nam. Với tấm lòng vì dân, với nhãn quan của một vị vua minh triết, một nhà sư giác ngộ, Ngài chủ trương xây Đạo để nuôi dưỡng, phát huy nhân tâm thuận hòa trong trăm họ, xây dựng, bồi đắp tính độc lập, sức tự cường, vun bồi sự hòa hợp trong thế gian, hòa hợp vua tôi, hòa hợp cha con, hòa hợp vợ chồng, hòa hợp trong gia đình, hòa hợp quốc gia…Tư tưởng ấy là cội rễ làm nên sức mạnh lâu bền của dân tộc, theo thời gian đã trở thành truyền thống của dân tộc Việt Nam.

 

Hội Thảo Khoa Học Quốc Tế “Trần Nhân Tông và Phật Giáo Trúc Lâm – Đặc sắc Tư Tưởng Văn Hóa” tại Phòng họp lớn Diên Hồng thuộc Trung Tâm Văn Hóa Trúc Lâm, xã Thượng Yên Công, Uông Bí, Quảng Ninh: từ 08h00 – 17h00.

 

Hơn 400 nhà khoa học, đại diện nhiều đơn vị học thuật trong và ngoài nước đã đăng ký tham dự Hội Thảo, với hơn 135 tham luận, trong đó có 34 tham luận của các học giả đến từ 10 quốc gia và vùng lãnh thổ.

 

Hội thảo tập trung vào các chủ đề sau: Hành trang, đặc sắc tư tưởng, văn hóa của Trần Nhân Tông và Phật giáo Trúc Lâm; vai trò, ảnh hưởng trong lịch sử, hiện tại và xu hướng tương lai; Phật giáo tại các quốc gia trong khu vực và trên Thế giới – tiếp cận địa văn hóa và nghiên cứu so sánh; Phật giáo và các vấn đề đời sống con người đương đại; Lễ Truyền Đăng “Phật Giáo Trúc Lâm – Hội Tụ và Lan Tỏa” tại Trụ sở Giáo Hội Phật Giáo tỉnh Quảng Ninh – sân lễ hội Chùa Trình, phường Phương Đông, Uông Bí, Quảng Ninh: từ 19h00 – 22h00.

 

Ngày 7/12/2018 (ngày 1 tháng 11 năm Mậu Tuất)

 

Lễ cúng Phật, cúng Tổ và nhiễu tháp Phật Hoàng tại chùa Hoa Yên, xã Thượng Yên Công, thành phố Uông Bí: vào hồi 00h00.

 

Lễ Tưởng Niệm 710 năm Đức Vua – Phật Hoàng Trần Nhân Tông nhập Niết Bàn và Khánh thành giai đoạn I Cung Trúc Lâm – tại , Trung Tâm Văn Hóa Trúc Lâm, xã Thượng Yên Công, Uông Bí, Quảng Ninh; từ 8h30-11h00.

 

Ban tổ chức trân trọng kính mời Chư Tôn Đức Tăng Ni, quý vị đại biểu, cùng toàn thể nhân dân, Phật tử xa gần về tham dự Đại Lễ Tưởng Niệm.

 

Đặc biệt vào ngày giỗ Phật Hoàng, Ban tổ chức thông báo miễn phí vé danh lam thắng cảnh 40,000 đồng/người trong 2 ngày 30/10 và 1/11 âm lịch ( tức 6,7/12 dương lịch).

 

Hòa mình cùng chương trình đại lễ, tại làng Hành Hương Yên Tử - thuộc Trung tâm Văn hóa Trúc Lâm, diễn ra một số chương trình như sau:

 

Buffet chay tại nhà hàng Cơm Chay Làng Nương, cánh phải đình làng.: phục vụ bữa trưa và tối ba ngày 5- 7/12 dương lịch (29, 30/10 và 1/11 âm lịch)

 

Nhà hàng Chợ Quê: phục vụ cơm chay và mặn bữa sáng, trưa và tối hàng ngày

 

Góc Bán sách/Vật phẩm Phật Giáo và Sản phẩm thực dưỡng thương hiệu Homefood phục vụ từ 1-9/12 dương lịch.

 

Thương hiệu Trà Phổ Linh – phục vụ từ 1-9/12 dương lịch.

 

Chương trình Biểu Diễn Thời Trang Phật Tử - Thương hiệu An Lạc Tâm với màn trình diễn từ đội ngũ nhân viên Trung Tâm Văn Hóa Trúc Lâm Yên Tử. Toàn bộ số tiền thu được trong việc phát hành trang phục nhân dịp đại lễ, An Lạc Tâm sẽ phục vụ cho các hoạt động thiện nguyện, giành sự sống cho các bé bị tim bẩm sinh, chia sẻ và hỗ trợ những mảnh đời bất hạnh và đang gặp khó khăn trên tinh thần từ bi của Đạo Phật.

 

Trung tâm Văn hóa Trúc Lâm

 

 

Cảm hứng từ Huệ Quang Kim Tháp và các di sản của Thiền phái Trúc Lâm trên núi Yên Tử đã giúp nhà thiết kế nổi tiếng Thế giới Bill Bensley và những nghệ nhân Việt Nam thời nay thực sự thăng hoa và sáng tạo nên Trung tâm Văn hóa Trúc Lâm có một không hai dưới chân núi Yên Tử.

 

Mang “hồn Việt, nét Trần, và tinh thần Thiền Trúc Lâm” bao gồm các hạng mục văn hóa, khu nghỉ Làng Hành Hương Yên Tử với 400 giường, khu nghỉ dưỡng cao cấp Legacy Yên Tử - MGallery by Sofitel với 133 phòng sang trọng, 4 nhà hàng phục vụ ẩm thực truyền thống và hương vị Á Âu phong phú, địa điểm phục vụ hội nghị hội thảo trong và ngoài trời lên tới 10,000 người và các hoạt động trải nghiệm giải trí văn hóa đa dạng tại sân đình làng mỗi ngày.

______________

baomoi.com

ĐẠI LỄ TƯỞNG NIỆM 710 NĂM PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG NHẬP NIẾT BÀN

Đại lễ tưởng niệm 710 năm Đức vua - Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập niết bàn (1308-2018) với nhiều hoạt động nghi lễ trang nghiêm sẽ được tổ chức trong hai ngày 6 và 7-12, tại Quảng Ninh.

 

 

Thông tin trên được hòa thượng Thích Gia Quang, phó chủ tịch thường trực Hội đồng trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, cho biết tại buổi họp báo chiều 2-12.

 

Theo hòa thượng Thích Gia Quang, với mục đích tưởng niệm, tôn vinh công đức của Đức vua - Phật hoàng Trần Nhân Tông với dân tộc và đạo pháp, trong khuôn khổ đại lễ sẽ diễn ra lễ tưởng niệm Phật hoàng Trần Nhân Tông và đại lễ cầu siêu tại chùa Ngọa Vân (Đông Triều) - nơi Đức vua hóa Phật; lễ truyền đăng tưởng niệm Phật hoàng tại sân lễ hội chùa Trình (trụ sở Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Quảng Ninh); lễ cúng Phật, cúng Tổ và nhiễu tháp Phật hoàng tại chùa Hoa Yên (Uông Bí). Đại lễ tưởng niệm 710 năm Đức vua - Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập niết bàn được tổ chức vào sáng 7-12, tại Cung Trúc Lâm - Trung tâm lễ hội Yên Tử (Uông Bí).

 

Trong thời gian diễn ra đại lễ, Giáo hội Phật giáo Việt Nam phối hợp với Đại học Quốc gia Hà Nội và UBND tỉnh Quảng Ninh tổ chức hội thảo khoa học quốc tế với chủ đề "Trần Nhân Tông và Phật giáo Trúc Lâm - Đặc sắc tư tưởng, văn hóa" tại Trung tâm Văn hóa Trúc Lâm.

 

Hội thảo nhằm mục đích huy động trí tuệ, tâm huyết của giới khoa học trong và ngoài nước nhằm thảo luận, làm rõ thêm, đồng thời khai thác, phát huy những nội dung, giá trị đặc sắc trong di sản tư tưởng, văn hóa của Trần Nhân Tông và Phật giáo Trúc Lâm, đặt trong dòng chảy liên tục của lịch sử từ quá khứ đến hiện tại và định hướng tương lai, với không gian mở rộng từ dân tộc đến nhân loại, với tiếp cận chuyên ngành và liên ngành, nghiên cứu trường hợp và nghiên cứu so sánh…

 

Hội thảo cũng là hoạt động thiết thực của giới nghiên cứu, tăng ni, phật tử trong và ngoài nước hướng về Phật hoàng Trần Nhân Tông với thái độ trân trọng, biết ơn đối với bậc tiền nhân đã có những đóng góp to lớn cho dân tộc và nhân loại nhân dịp kỷ niệm 760 năm đản sinh và 710 năm nhập niết bàn của Ngài.

 

Phó giáo sư, tiến sĩ Lại Quốc Khánh, phó viện trưởng Viện Trần Nhân Tông (Đại học Quốc gia Hà Nội), cho biết điểm đặc sắc của hội thảo là bên cạnh xuất hiện một số công trình nghiên cứu hàn lâm chuyên sâu, còn có nhiều công trình ứng dụng, giải quyết những vấn đề xã hội nhân sinh và đương đại hiện nay. Những giá trị trong di sản văn hóa của Phật hoàng đã đi vào cuộc sống đương đại một cách rõ ràng.

 

Hội thảo quy tụ hơn 400 nhà khoa học, đại diện các đơn vị học thuật trong và ngoài nước, với 135 tham luận, trong đó có 34 tham luận của các học giả nước ngoài đến từ 10 quốc gia và vùng lãnh thổ, có thành tựu nghiên cứu đặc sắc về Việt Nam và Phật học như Mỹ, Pháp, Ấn Độ, Nga… Những công trình đó không chỉ khẳng định, ca ngợi, tôn vinh những giá trị đặc sắc trong di sản tư tưởng, văn hóa của Phật hoàng Trần Nhân Tông, thiền phái Trúc Lâm mà còn thông qua những nghiên cứu so sánh để khẳng định giá trị sức sống, những điểm tương đồng, những giá trị mang tính nhân văn và sự cộng hưởng rất lớn của những giá trị đó.

 

Đức vua - Phật hoàng Trần Nhân Tông (1258-1308) là người có nhiều đóng góp và có vị trí đặc biệt trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Với đời, Ngài là vị vua anh minh kiệt xuất, đã lãnh đạo đoàn kết nhân dân hai lần đánh thắng giặc Nguyên - Mông. Sau khi nhường ngôi báu cho người kế vị, Ngài đã dành tâm huyết để xây dựng và thực thi kế sách khoan hòa trong nhân dân, đề ra chính sách dưỡng dân, an dân để xây dựng, phát triển mở mang đất nước.

 

Với đạo, Ngài là thiền sư đắc đạo, là người sáng lập và lãnh đạo Phật giáo Trúc Lâm, nền Phật giáo thống nhất riêng có của Việt Nam. Với tấm lòng vì dân, với nhãn quan của một vị vua minh triết, một nhà sư giác ngộ, Ngài chủ trương xây đạo để nuôi dưỡng, phát huy nhân tâm thuận hòa, xây dựng, bồi đắp tính độc lập, sức tự cường, vun bồi sự hòa hợp trong thế gian. Tư tưởng ấy là cội rễ làm nên sức mạnh lâu bền của dân tộc, theo thời gian đã trở thành truyền thống của dân tộc Việt Nam.

_____________

Nguồn: Thông tấn xã Việt Nam

ĐỨC VUA TRẦN NHÂN TÔNG: HÀNH TRÌNH TỪ BẬC MINH QUÂN ĐẾN ĐỨC PHẬT HOÀNG

Sáng 5/12, nhân kỷ niệm 760 năm ngày sinh và 710 năm ngày Đức Vua Trần Nhân Tông nhập niết bàn, Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long – Hà Nội tổ chức tọa đàm khoa học “Từ Hoàng cung Thăng Long đến Thánh địa Trúc Lâm – Hành trình từ bậc minh quân đến đức Phật hoàng”.

 

Quang cảnh buổi tọa đàm. Ảnh: Đinh Thuận - TTXVN


Các nhà khoa học, các vị thượng tọa đã tập trung thảo luận, làm rõ một số vấn đề liên quan đến thân thế và sự nghiệp của Vua Trần Nhân Tông; khẳng định vai trò trung tâm của Vua Trần Nhân Tông trong lịch sử dân tộc, sự phát triển của văn hóa Thăng Long; giá trị tư tưởng của Phật hoàng Trần Nhân Tông trong lãnh đạo đất nước, trong phát triển Phật giáo. Đồng thời, tọa đàm cũng đề cập đến các di tích tiêu biểu liên quan đến Phật hoàng Trần Nhân Tông; các di sản tư tưởng của Phật hoàng Trần Nhân Tông và Thiền phái Trúc Lâm; công tác bảo tồn quảng bá và phát huy di sản văn hóa Trúc Lâm cũng như di sản của Vua Trần Nhân Tông trong bối cảnh hiện nay.

 

Cũng trong dịp này, Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long – Hà Nội phối hợp Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh Quảng Ninh tổ chức trưng bày chuyên đề “Từ Hoàng cung Thăng Long đến Thánh địa Trúc Lâm – Hành trình từ bậc minh quân đến đức Phật hoàng” tại khu di sản Hoàng thành Thăng Long; trưng bày, giới thiệu những hình ảnh, hiện vật, tư liệu liên quan đến cuộc đời Phật hoàng Trần Nhân Tông nói riêng và Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử nói chung.

 

Trong lịch sử phát triển, Thăng Long – Hà Nội đã trải qua những giai đoạn lịch sử thăng trầm. Dưới thời Trần, Kinh thành Thăng Long tiếp tục được gia cố, xây dựng thêm so với thời Lý. Cung điện, đền đài trong Hoàng thành Thăng Long được nhà Trần sử dụng lại của các triều đại trước và xây dựng thêm như xây mới cung Thánh Từ, cung Quan Triều... Các Vua Trần cũng xây dựng nhiều ngôi chùa trong hoàng cung, làm nơi thực hành nghi lễ Phật giáo Hoàng gia của Hoàng gia. Cung điện, lầu gác trong hoàng cung là những công trình thổ mộc được trang trí tinh xảo thể hiện tính vương quyền hòa quyền với triết lý Phật giáo.

 

Vua Trần Nhân Tông là một nhà chính trị tài ba, nhà quân sự kiệt xuất, lãnh đạo nhân dân Đại Việt đánh tan quân Mông Nguyên, bảo vệ toàn vẹn độc lập, chủ quyền của đất nước. Đồng thời, ông cũng là nhà tư tưởng lớn, người sáng lập nên Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử mang đậm dấu ấn Việt.

___________

TTXVN/Đinh Thuận

CÔNG TRÌNH 200 TỈ MỪNG 710 NĂM PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG NHẬP NIẾT BÀN

Cung Trúc Lâm tại di tích danh thắng Yên Tử với kinh phí thực hiện giai đoạn 1 hơn 200 tỉ đồng sẽ được khánh thành vào ngày 7-12, chào mừng đại lễ tưởng niệm 710 năm Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập niết bàn.

 

Cung Trúc Lâm với kinh phí thực hiện giai đoạn 1 hơn 200 tỉ đồng để chào mừng đại lễ

tưởng niệm 710 năm Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập niết bàn

 

Thượng tọa Thích Thanh Quyết - phó chủ tịch Hội đồng trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam - cho biết cung Trúc Lâm do Ban trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Quảng Ninh làm chủ đầu tư, tổng kinh phí thực hiện giai đoạn 1 hơn 200 tỉ đồng từ nguồn công đức và xã hội hóa.

 

"Ngoài việc tích tiểu thành đại tiền công đức của phật tử cả nước, tiết kiệm để triển khai xây dựng cung Trúc Lâm, chúng tôi còn đi vận động tổ chức, doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế cùng vào cuộc, đóng góp xây dựng cung", thượng tọa Thích Thanh Quyết nói.

 

Vị Thượng tọa cho biết công trình có trên 6.000m2 xây dựng này tuy được làm bằng chất liệu bêtông giả gỗ, kiến trúc theo lối truyền thống dân tộc, lấy cảm hứng từ những kiến trúc cổ còn sót lại của Yên Tử như Tháp Tổ, đặc biệt là bức tường xung quanh Tháp Tổ.

 

Cung Trúc Lâm được xây dựng bằng vật liệu bêtông giả gỗ


Về công năng sử dụng của công trình trị giá hàng trăm tỉ đồng này, thượng tọa Thích Thanh Quyết nói "sẽ cơ động" nhưng được xây dựng với ý nghĩa là cung của Phật hoàng.

 

Giai đoạn 2 của công trình sẽ có thêm một điện thờ Phật hoàng Trần Nhân Tông, tạo thêm các vườn thiền xung quanh cung, dự tính xây dựng bức phù điêu về giai đoạn lịch sử ấn tượng nhất của nước Việt khi Phật hoàng xuất hiện. Bức phù điêu này dự tính được đặt ở cung chính.

 

Ngoài cung Trúc Lâm, dịp đại lễ tưởng niệm 710 năm Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập niết bàn, ban tổ chức còn khánh thành thêm hai công trình khác là chùa Trung Tiết tại xã An Sinh (thị xã Đông Triều), kinh phí 82 tỉ đồng và công viên Chữ Tâm trong khuôn viên trụ sở Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Quảng Ninh tại chùa Trình, phường Phương Đông, thành phố Uông Bí với kinh phí 3 tỉ đồng.

 

Cung Trúc Lâm được xây dựng với ý nghĩa là cung của Phật hoàng

Trần Nhân Tông, có công năng sử dụng cơ động

Cung Trúc Lâm được đặt nhiều sofa với màu sắc bắt mắt


Các công trình đều được thực hiện bằng nguồn vốn xã hội hóa.

 

Về đại lễ tưởng niệm 710 năm Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập niết bàn, hòa thượng Thích Gia Quang, phó chủ tịch thường trực Hội đồng trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam - cho biết đại lễ sẽ diễn ra vào 3 ngày, từ 5 đến 7-12 tại chùa Ngọa Vân, xã Bích Khê, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.

 

Nhiều hoạt động sẽ được tổ chức như lễ tưởng niệm Phật hoàng Trần Nhân Tông và đại lễ cầu siêu tại chùa Ngọa Vân (Đông Triều) - nơi đức vua hóa Phật; lễ cúng Phật, cúng tổ và nhiễu tháp Phật hoàng tại chùa Hoa Yên (Uông Bí).

 

Đại lễ tưởng niệm 710 năm đức vua - Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập niết bàn được tổ chức vào sáng 7-12, tại cung Trúc Lâm - Trung tâm lễ hội Yên Tử (Uông Bí).

 

Cung Trúc Lâm với kinh phí thực hiện trong giai đoạn 1 là hơn 200 tỉ đồng, được xây dựng

bằng tiền công đức của phật tử và đóng góp của các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế

 

Trong thời gian diễn ra đại lễ, Giáo hội Phật giáo Việt Nam phối hợp với Đại học Quốc gia Hà Nội và UBND tỉnh Quảng Ninh tổ chức Hội thảo khoa học quốc tế với chủ đề Trần Nhân Tông và Phật giáo Trúc Lâm - Đặc sắc tư tưởng, văn hóa tại Trung tâm Văn hóa Trúc Lâm.

 

Hội thảo quy tụ hơn 400 nhà khoa học, đại diện các đơn vị học thuật trong và ngoài nước với 135 tham luận, trong đó có 34 tham luận của các học giả nước ngoài đến từ 10 quốc gia và vùng lãnh thổ có thành tựu nghiên cứu đặc sắc về Việt Nam và Phật học như Mỹ, Pháp, Ấn Độ, Nga…

 

Ban tổ chức sẽ chuẩn bị 30.000 hộp cơm chay để phát cho du khách về thắp hương tưởng niệm Phật hoàng Trần Nhân Tông dịp này. Giá vé cáp treo cũng được các công ty khai thác giảm giá từ 30 - 50%.

___________

Thiên Điểu

Nguồn: tuoitre.vn

MỘT TÁCH TRÀ

 

Nan-In, một thiền sư Nhật Bản vào thời Minh Trị (1868 - 1912), tiếp một ông giáo sư đại học đến tìm hiểu về Thiền.

Nan-In mời dùng trà. Ông đã rót đầy vào tách của khách và vẫn tiếp tục rót thêm.

Ông giáo sư nhìn nước tràn cho đến khi tự mình không nhịn được thêm nữa. "Tách đã đầy tràn rồi. Không thêm vào được nữa đâu!"

"Giống như cái tách này" Nan-In nói, "ông mang đầy ý kiến và suy đoán riêng của ông. Làm sao tôi có thể chỉ cho ông về Thiền trừ phi ông cạn cái tách của ông trước đã?"

___________

http://www.buddhistedu.org

THẮP SÁNG ĐÈN XƯA

 

Bài viết cho buổi tọa đàm nhân lễ giỗ lần thứ 300 Thiền sư Hương Hải.

 

I. SƠ LƯỢC TIỂU SỬ THIỀN SƯ HƯƠNG HẢI:

 

Thiền sư Hương Hải (1628 - 1715) là vị Thiền sư Việt Nam thời Hậu Lê. Ở đời thường gọi ngài là Tổ Cầu . Sư và Thiền sư Chân Nguyên là hai vị đi đầu trong công cuộc phục hưng Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử trong khoảng thế kỷ 18.

 

Tổ tiên Sư ở Làng Áng Độ, huyện Chân Phúc. Nay là huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Tổ bốn đời của Sư theo Đoan Quốc công Nguyễn Hoàng vào trấn Quảng Nam. Được vua Lê Anh Tông phong cho ông hiệu Khởi Nghĩa Kiệt Tiết Công Thần, cấp 30 mẫu ruộng và con cháu được thế lập.

 

Sư sinh năm Mậu Thìn (1628), sống ở làng Bình An Thượng, thuộc Phủ Thăng Hoa (nay thuộc tỉnh Quảng Nam). Thuở nhỏ thông minh, hiếu học. Năm 18 tuổi đỗ Hương tiến (cử nhân), được bổ vào làm Văn chức trong phủ chúa Nguyễn Phúc Lan (ở ngôi 1635 – 1648). Năm 1652, được bổ làm Tri phủ Triệu Phong (nay thuộc Tỉnh Quảng Trị). Năm 25 tuổi, vì hâm mộ Phật pháp nên Sư tìm đến học đạo với một vị Thiền sư đến từ Trung Hoa là Lục Hồ Viên Cảnh, được đặt pháp danh là Huyền Cơ Thiện Giác, pháp tự Minh Châu Hương Hải. Sau, Sư tìm đến Thiền sư Đại Thâm Viên Khoan để tham học.

 

Hơn ba năm sau, Sư từ quan xin xuất gia, dong thuyền ra biển Nam Hải, trụ trên ngọn núi Tim Bút La cất ba gian nhà tranh ở tu. Nơi vị trí nhà tranh này về sau xây dựng thành chùa Hải Tạng. Đến năm Tự Đức thứ 1 (1848), chùa đã được di dời sang chỗ khác, cách vị trí cũ khoảng hơn 1km. Nay thuộc cụm đảo Cù Lao Chàm, xã đảo Tân Hiệp, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.

 

Sư ở đây chuyên tu thiền định, giới luật tinh nghiêm, trải qua nhiều chướng duyên của ngoại ma, có khá nhiều câu chuyện linh dị. Sau, Chúa Nguyễn Phúc Tần (còn gọi là Chúa Hiền) nghe danh nên sai sứ ra đảo mời Sư về.

 

Trước đó, trên núi Qui Kính (núi Cổ Rùa) có một tháp cổ Chăm-pa nằm ở vai Rùa. Chúa Hiền cho dời xuống vị trí lưng Rùa và đem tượng Chăm-pa thờ vào trong tháp, do đó mọi người thường gọi tháp này là: “Cốt Chăm bì Việt” (bên trong thì thờ tượng Chăm-pa mà bên ngoài thì tháp Việt). Sau đó, Chúa Hiền (Nguyễn Phúc Tần) cho xây dựng chùa Vinh Hòa trên vị trí cũ của Tháp cổ vừa mới được di dời. Khi Thiền sư Hương Hải đến, Chúa Hiền thỉnh Sư trụ trì ngôi chùa này. Trong ngữ lục thì ghi lại, Chúa Hiền cho “sai quan đón (Thiền sư Hương Hải) ra lập chùa trên núi Qui Kính gọi là Thiền Tịnh Viện”. Núi này như một quả đồi nhỏ, hiện tại khảo cứu thì chỉ thấy có dấu vết một ngôi chùa. Có thể khi đến, ngài đã lập một khu vực phương trượng để ở, trực thuộc trong quần thể chùa Vinh Hòa và đặt tên là Thiền Tịnh Viện, chứ không phải có một tự viện riêng.

 

Đến đời vua Minh Mạng đổi tên núi Qui Kính thành Linh Thái . Đổi tên chùa Vinh Hòa thành chùa Trấn Hải. Bởi đây là nơi trọng yếu quốc phòng ngay cửa biển Tư Dung (nay là Tư Hiền), thường có lính triều đình canh gác. Sư trụ trì giáo hóa ở đây rất thịnh hành. Quan quân đến học đạo quy y hơn 1.200 vị.

 

Thời ấy đất nước bị phân hai. Đàng Ngoài là Chúa Trịnh, vua Lê; Đàng Trong là Chúa Nguyễn. Sau có quan Thị nội giám của Chúa Trịnh là Gia Quận Công tòng quân vào đánh Thuận Hóa bị Chúa Nguyễn Phúc Tần bắt được. Nhưng tha cho và được ở lại Thuận Hóa, ban lương tháng để ra vào trong phủ dạy học nội cung. Vị quan này vì mộ đạo và kính trọng đạo đức của Sư nên thường lui tới chùa Vinh Hòa đàm đạo. Cứ dần dà như thế qua thời gian khá lâu cho nên bị người ngoại đạo dèm pha, tâu lên Chúa Hiền vu khống cho là Sư có âm mưu với Gia Quận Công để che chở cho Sư trở về với Chúa Trịnh. Chúa Hiền sai bắt Sư và Gia Quận Công giao cho quan tra khảo hơn bảy ngày mà không thấy có bằng chứng gì. Chúa Hiền cho là tình ngay mà lý gian nên ra lệnh cho Sư trở về lại Quảng Nam. Từ nhân duyên ấy, Sư bắt đầu cùng hơn năm mươi đồ đệ quyết chí ra Bắc. Lúc này là năm 1682, Sư được 55 tuổi.

 

Khi mới đến Bắc Hà, Thiền sư Hương Hải phải đối diện với sự nghi kỵ của Phủ Chúa và tầng lớp quan lại. Mấy tháng sau thì Chúa Trịnh Tạc mất, Trịnh Căn lên nắm quyền. Từ đây Sư mới bắt đầu được ổn định và tùy duyên tu hành, hoằng hóa, biên dịch Kinh Luận.

 

Cho đến cuối năm Canh Thìn (1700), lúc này Sư đã ngoài 70 tuổi mới về trụ trì chùa Nguyệt Đường ở Hưng Yên. Sư tùy duyên giảng dạy đồ chúng và sự hoằng hóa của Sư bắt đầu hưng thạnh.

 

Đến năm 1715, Sư dặn dò đệ tử, nói kệ xong, ngồi kiết già thị tịch, thọ 88 tuổi.

 

II. THIỀN SƯ HƯƠNG HẢI LÀ VỊ THIỀN SƯ PHỤC HƯNG THIỀN PHÁI TRÚC LÂM YÊN TỬ TRONG KHOẢNG THẾ KỶ 18:

 

Trước thế kỷ 17, tức là trước thời ngài Nguyên Thiều Siêu Bạch, đã có phái thiền của Tông Lâm Tế thuộc dòng Trí Bản Đột Không từ Trung Hoa truyền sang miền trung Việt Nam. Dòng này có bài kệ:

 

Trí tuệ thanh tịnh,

Đạo đức viên minh.

Chân như tánh hải,

Tịch chiếu phổ thông.

 

 

Chữ “VIÊN” chính là ngài Viên Cảnh và ngài Viên Khoan, là thầy của Thiền sư Hương Hải. Hai ngài này giáo hóa ở vùng Quảng Trị. Cùng thời có ngài Viên Văn Chuyết Chuyết (Hòa thượng Chuyết Công) sang Việt Nam trước và giáo hóa ở Quảng Nam. Năm 1633 ngài ra Bắc ở chùa Bút Tháp giáo hóa và để lại nhục thân hiện vẫn còn tại chùa Phật Tích, Bắc Ninh. Còn dòng Lâm Tế phái ngài Nguyên Thiều Siêu Bạch ở Trung Hoa là xuất phát từ chùa Báo Tư và truyền sang Việt Nam sau phái Trí Bản Đột Không.

 

Khi vua Trần Nhân Tông gả công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm là Chế Mân và vua Chiêm đã dâng hai châu Ô Lý làm sính lễ. Hai châu này ngày nay chính là vùng đất Thuận Hóa. Đến năm 1306 bắt đầu di dân vào. Dân đi đến đâu thì tín ngưỡng theo đến đó. Mà tín ngưỡng tôn giáo lúc bấy giờ chính là Phật giáo Trúc Lâm hay còn gọi là Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Bởi lúc này Phật giáo Trúc Lâm đã là Quốc giáo. Nhưng đến thời Thiền sư Hương Hải thì sự truyền thừa của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử ở Đàng Trong gần như không còn. Do đó, Thiền sư Hương Hải cũng không được trực tiếp ấn chứng truyền tâm từ một vị Thiền sư nào của phái Trúc Lâm.

 

Như vậy, Thiền sư Hương Hải được xuất gia với Ngài Viên Cảnh, học đạo nơi Ngài Viên Khoan. Hai vị này thuộc dòng thiền Lâm Tế, phái Trí Bản Đột Không từ Trung Hoa sang Việt nam hoằng hóa. Cho nên trên lý thuyết thì ngài là đệ tử của Tông Lâm Tế. Nhưng trên thực tế thì ngài lại được xem là vị Thiền sư phục hưng Thiền phái Trúc Lâm Yên tử là do sự thể hội tông chỉ, do tư tưởng văn hóa và cụ thể hóa bằng sức sống và việc làm của ngài.

 

1. TÔNG CHỈ:

 

1.1: TINH THẦN PHẢN QUAN TỰ KỶ:

 

Điều quan trọng nhất cho chúng ta thấy rõ Thiền sư Hương Hải là người phục hưng Thiền phái Trúc Lâm Yên tử là tông chỉ. Chúng ta có thể nhận ra tông chỉ, chủ trương của ngài thể hiện khá rõ qua bài kệ Sư dạy cho Vua Lê Dụ Tông:

 

Phản văn tự kỷ mỗi thường quan,

Thẩm sát tư duy tử tế khan.

Mạc giáo mộng trung tầm tri thức,

Tương lai diện thượng đổ sư nhan.

 

Hằng ngày xem lại chính nơi mình,

Xét nét kỹ càng chớ dễ khinh.

Trong mộng tìm chi người tri thức,

Mặt thầy sẽ thấy trên mặt mình.

 

Tông chỉ của Thiền phái Trúc Lâm Yên tử là: “Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc.” “Xoay lại chính mình, không từ bên ngoài mà được”. “Chính mình” là chân tâm, Phật tánh nơi mỗi người. Có nghĩa là hành giả khéo xoay lại, nhận ra và sống cho được bằng tánh Phật nơi chính mình. Trong bài kệ trên, Thiền sư Hương Hải đã nói: “Hằng ngày xem lại chính nơi mình”, không tìm bất kỳ điều gì bên ngoài. Và cuối cùng là: “Mặt thầy sẽ thấy trên mặt mình.” Có nghĩa, tự tánh mình là bậc thầy chân thật của chính mình. Tông chỉ “xoay lại chính mình để ngộ tâm, sống trọn vẹn bằng tự tánh” của Thiền phái Trúc Lâm Yên tử đã được Thiền sư Hương Hải nêu rất nghiêm túc, rõ ràng trong bài kệ nói với một vị vua.

 

1.2: TÍNH CHẤT VÔ TÂM:

 

Vô tâm không phải là vô tư, thờ ơ, thiếu trách nhiệm. Nghĩa vô tâm ở đây là chỉ cho bản tâm chân thật, rỗng lặng, sáng suốt, không một mảy trần niệm lự đối đãi được mất, bại thành, mừng giận, thương ghét… hai bên. Người nhận ra và sống được với tánh thể rỗng lặng sáng suốt này, người này có đầy đủ định lực, trí sáng và ngập tràn an vui. Tiêu trừ bản ngã cá nhân cho nên không còn nhỏ nhoi ích kỷ. Chỉ biết cảm thông và giúp ích, ban vui và cứu khổ cho mọi người mà không hề thấy chán mỏi. Đây là tâm trí, tâm quang, tâm lực, và tâm lượng vô cùng đặc biệt của nhà Phật, nó nằm ngay nơi mỗi một con người chúng ta và đã được thể hiện rất rõ trong tinh thần Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Đây là điểm đặc biệt được Sơ tổ Trúc Lâm (Vua Trần Nhân Tông) nêu lên trong bài kết của mười hội phú Cư trần lạc đạo:

 

Ở đời vui đạo hãy tùy duyên,

Hễ đói thì ăn, nhọc ngủ liền.

Trong nhà có báu thôi tìm kiếm,

Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền.

 

Đối trước tất cả cảnh vật, tình huống hay bất kỳ hoàn cảnh nào, tâm thể chúng ta vẫn rỗng lặng nhưng sáng rỡ; dù rõ ràng rành rẽ mọi thứ nhưng tâm vẫn rỗng sáng không chút niệm vương, ngay đó sức sống thiền đang hiện tiền, hỏi tìm kiếm thêm gì ở đâu nữa! Vừa có niệm muốn tìm thì hết vô tâm, là mất thiền rồi. Với tính chất vô tâm này, thiền sư Hương Hải đã nói: “Vô tâm phiền não hà cư?” Tức là khi vô tâm thì phiền não ở chỗ nào, nương vào đâu mà có, nghĩa là khi đạt đến vô tâm thì phiền não làm gì còn? Thiền sư Hương Hải đã phản quan lại chính mình, hay ra và sống được bằng tự tánh rỗng sáng không động và nói lên tính chất trong tâm tánh ấy mà ngài đã cảm nhận được: “Vô tâm phiền não hà cư?” Cho thấy, ngài là người đã thể hội và sống đúng với tính chất đặc biệt của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.

 

1.3: SỨC SỐNG TỪ TÔNG CHỈ THIỀN:

 

Khi phản quan, xoay lại chính mình, tỏ ngộ và sống bằng bản tâm chân thật nơi chính mình, Vua Trần Nhân Tông đã nói:

 

“Niềm lòng vằng vặc,

Giác tánh quang quang.

Văng vẳng ngàn kia,

Dầu lòng dong thả.”

 

Đến đây rồi, trong không tâm để giữ, ngoài không pháp để trừ, tâm cảnh như như thì bản tánh mặc phơi bày, trùm khắp, vốn tự vằng vặc, sáng rỡ. Và thiền sư Hương Hải cũng đã nói lên chỗ sống này:

 

Nhật dụng vô phi đạo,      Hằng ngày không việc khác,

Tâm an tức thị thiền.        Tâm an chính là thiền.

 

Trong mọi sinh hoạt hằng ngày, vẫn ăn mặc ngủ nghỉ, vẫn làm lụng bao nhiêu việc phải làm, vẫn đối diện với nhiều thứ thị phi khen chê vinh nhục… Nhưng với ngài, tất cả không có gì ra ngoài ánh sáng của thiền cho nên không có gì không phải là đạo lý chân thật. Đây cũng chính là gia phong của Sơ tổ Trần Nhân Tông:

 

Áo rách che mây sáng ăn cháo,

Bình xưa tưới nguyệt tối uống trà.

 

Nếp nhà của Tổ chỉ là việc thường nhật mặc áo, ăn cơm, uống trà trong tâm thể không một niệm vương mà vằng vặc sáng ngời ấy.

 

Cho thấy, Thiền sư Hương Hải đã vận dụng tinh thần phản quan, nhận ra và sống được bằng tâm thể chân thật cho nên đã nói lên những diệu dụng bất tư nghì từ bản tâm ấy. Vì vậy, với tông chỉ, với tinh thần phản quan tự kỷ của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, thiền sư Hương Hải đúng là người kế tục, tiếp nối dòng Thiền này.

 

2. TƯ TƯỞNG, VĂN HÓA:

 

Một tư tưởng dễ nhận ra là Việt hóa. Cụ thể là trong các tác phẩm, ngài dùng chữ Nôm (chữ của Việt nam thời ấy) nhiều hơn là chữ Hán. Ngài cũng đã dịch nhiều Kinh Luận sang chữ Nôm và chú giải. Giống với tinh thần Phật giáo đời Trần là một dòng Thiền thuần Việt. Các sáng tác của chư vị Thiền sư lúc ấy có rất nhiều bản dùng chữ Nôm. Ông cha ta trước kia thường ảnh hưởng phong cách của thời kỳ văn học truyền miệng cho nên hay dùng thơ kệ. Đến thiền sư Hương Hải có điểm đặc biệt là ngài bắt đầu chú giải kinh luận bằng văn xuôi của chữ Nôm. Đây có thể coi là bước khởi điểm, chuyển mình từ thi kệ qua văn xuôi của văn hóa Việt Nam lúc bấy giờ.

 

Đọc Ngữ Lục của Ngài, chúng ta sẽ nhận ra khá rõ nhiều đặc điểm Thiền tông đời Trần như là tính chỉ thẳng, thi vị, tùy duyên, vô tâm… trong các lời ngài khai thị chúng.

 

Tư tưởng văn hóa của ngài mang đậm tính dân tộc Việt, là một tính chất đặc trưng riêng có trong tinh thần Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Đồng thời, ngài đã dịch giải và vận dụng những đặc điểm của Thiền tông đời Trần để giảng dạy đồ chúng. Đủ cho chúng ta nhận ra, tư tưởng văn hóa của ngài là tiếp nối Thiền phái thuần Việt này.

 

3. VIỆC LÀM CỤ THỂ, GIÁO HÓA ĐỒ CHÚNG KẾ THỪA:

 

Trên quan điểm lập trường tông chỉ “phản quan tự kỷ”, với tư tưởng Việt hóa và học theo các tính chất đặc điểm của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử trong ngữ Lục của chư vị Tổ sư Việt Nam, Thiền sư Hương Hải đã giảng dạy và đào tạo được nhiều vị đệ tử, đệ tôn tài giỏi nối nắm mạng mạch Thiền tông Việt Nam. Như là Hòa thượng Chân Lý Hiển Mật, Hòa thượng Tăng thống Chánh Tông, tự Như Nguyệt, hiệu Hoa Quang…

 

Qua ba phương diện: Tông chỉ, tư tưởng văn hóa và việc làm cụ thể như vừa nên trên, cho chúng ta thấy ngài Hương Hải là vị Thiền sư thể hội, xiển dương và khôi phục Thiền phái Trúc Lâm Yên tử thời Hậu Lê.

 

III. SỰ TRÙNG HỢP NGẪU NHIÊN GIỮA HAI VỊ THIỀN SƯ KHÔI PHỤC THIỀN PHÁI TRÚC LÂM YÊN TỬ:

 

Không biết phải nói thế nào cho đúng, bởi một kỳ duyên đặc biệt. Rất vô tình, nhưng nhân duyên khôi phục Thiền tông đời Trần của hai vị Thiền sư ở hai thời đại cách xa nhau lại ngẫu nhiên trùng hợp ở nhiều điểm quan trọng.

 

1. Ra Đời Trong Thời Điểm Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử Gần Như Vắng Bóng, Nhưng Lại Có Tâm Nguyện Muốn Phục Hưng Thiền Phái Này:

 

Thiền sư Hương Hải ra đời ở Thế kỷ 17-18. Hòa thượng Thiền sư Thích Thanh Từ ra đời vào thế kỷ 20-21. Hai khoảng thời gian này Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử gần như vắng bóng, không còn người hiểu rõ và có niềm tin vào việc tu thiền. Nhưng hai ngài đều có chung một tâm nguyện muốn khôi phục, làm sống dậy Thiền tông đời Trần.

 

2. Xuất Gia Theo Thầy Của Tông Lâm Tế, Nhưng Lại Tỏ Ngộ Và Phục Hưng Dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử:

 

Thiền sư Hương Hải xuất gia với ngài Viên Cảnh, học đạo với ngài Viên Khoan. Hai vị này đều thuộc dòng Lâm Tế. Nhưng khi ra giáo hóa thì Thiền sư Hương Hải lại xiển dương Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.

 

Một điều trùng hợp ngẫu nhiên. Hòa thượng Thiền sư Thích Thanh Từ xuất gia với cố Hòa thượng Thích Thiện Hoa, vốn là đệ tử của Tổ Khánh Anh từ Quảng Ngãi vào miền Nam giáo hóa. Tổ Khánh Anh là vị nối dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh tại miền Trung. Thế nhưng, do túc duyên đã thôi thúc khiến cho chính Hòa thượng Thiền sư Thích Thanh Từ cũng không biết vì sao ngay từ khi mới xuất gia, ngài đã muốn tu thiền và khôi phục Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Cụ thể ngài đã tự tìm tòi đọc học thiền trong Kinh Luận, quyết tâm nhập thất chuyên tu, tỏ ngộ thiền tâm. Trên trí giác đó làm căn bản, ngài đã biên soạn và dịch Kinh Luận, đặc biệt là các tác phẩm thiền Việt Nam để giảng dạy cho Tăng Ni và Phật tử. Từ đó, nhiều vị hiểu được thiền và hướng về tu tập.

 

Có lần trong buổi nói chuyện tại Viện nghiên cứu Hán Nôm, Hòa thượng Thiền sư Thích Thanh Từ đã nêu một ví dụ về việc nối nắm mạng mạch tông phong thiền:

 

“Như có người con cháu trong một dòng họ nọ đang nắm giữ viên ngọc của tổ tiên mình truyền lại trong gia phả thì họ biết rất rõ và không còn nghi ngờ gì cả. Người ngoài nghe vậy rồi muốn biết có đúng như thế không, nên phải truy tìm trong sử liệu hay bằng nhiều phương thức khác nhau để xác định giá trị, nguồn gốc viên ngọc. Như là: Thế hệ đầu tiên vào niên đại nào? Ai giữ, ở đâu? Và đã truyền cho thế hệ kế tiếp như thế nào… Nếu dữ kiện không rõ ràng hay đã bị thất lạc, người ta sẽ mất đi phương hướng và hoài nghi… Tương tự, Thiền tông cũng có viên ngọc trong gia phả, nhưng lại không giống viên ngọc thế gian, nó là “Ngọc bảo châu vô tướng”. Ai đã nhận ra nó thì không còn nghi ngờ. Nếu còn đi tìm thì sẽ càng hoài nghi. Như Thiền sư Huyền Giác đã nói: “Còn tìm liền biết anh chưa thấy!”. Đây là tâm trạng của người bên ngoài.”

 

Người đang nắm chắc hòn ngọc trong tay, chính là hành giả thiền môn thực chứng. Dù ở tại gia hay đã xuất gia, họ chỉ tùy nghi thọ dụng, tùy ý tiêu dùng, không còn hồ nghi là có hay không, phải cùng chẳng phải. Hành giả ngộ đạo, thực chứng, nắm chắc viên ngọc “Ma ni bảo châu vô tướng” trong tay tức là khế với tâm tông của Phật Tổ, của vị thầy truyền thừa. Đây cũng chính đích thực là nghĩa được “truyền tâm, ấn tâm” trong nhà thiền.

 

Hai ngài sống vào hai thời đại cách xa nhau, nhưng lại trùng hợp nhân duyên thật bất ngờ. Sinh ra đời trong bối cảnh Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử gần như vắng bóng, không còn người chính thức truyền thừa. Cho nên, trên lý thuyết truyền thừa thì hai ngài là đệ tử của Tông Lâm Tế miền trung Việt Nam. Nhưng trên thực tiễn “ngộ tâm ấn tâm” thì hai ngài cùng tỏ ngộ và xiển dương dòng thiền Việt Nam, Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.

 

3. Bị Chướng Duyên Nghịch Cảnh Và Đã Vượt Qua, Khôi Phục Thành Công Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử:

 

Thiền sư Hương Hải bị nhiều chướng duyên ngoại ma khi tu, bị những chướng duyên hiểu nhầm khi ra giáo hóa. Nhưng với đạo lực và bản lĩnh của mình, ngài đã chiến thắng ma chướng, vượt qua mọi sự nghi hiềm và khôi phục thành công Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.

 

Cũng vậy, Hòa thượng Thiền sư Thích Thanh Từ ra đời trong thời điểm không ai biết đến thiền. Có người nói “coi chừng tu thiền sẽ bị điên”, hoặc nói “thiền là quái thai của Phật giáo”. Trước một hoàn cảnh không ai hiểu và thông cảm thiền mà ngài lại tu thiền và khôi phục thiền Việt Nam thì không dễ chút nào. Trước khi nhiều người biết đến thiền, hiểu và tu tập được, thích thú nghiên cứu thực hành thiền; trước khi chúng ta nhìn thấy được bao nhiêu thành quả hôm nay đang hiện hữu thì Hòa thượng đã phải lặng thầm một mình chịu đựng qua nhiều năm tháng trước vô vàn nghịch cảnh đến từ nhiều phía khó để kể hết. Tuy nhiên, bằng vào trí tuệ, định lực, nghị lực cộng với phước đức nhân duyên, ngài đã cương nghị, dứt khoát, kiên quyết một đường thẳng tiến và đã khôi phục thành công Thiền tông Việt Nam rực rỡ như ngày hôm nay.

 

4. Việt Hóa:

 

Xưa kia, Thiền sư Hương Hải đã chú trọng dùng chữ Nôm của Việt Nam thời ấy, không chú trọng đến chữ Hán. Ngài dịch nhiều bản Kinh sang chữ Nôm và chú giải, khiến cho nhiều vị đọc học dễ hiểu và rất thích. Thì hiện nay, Hòa thượng Thiền sư Thích Thanh Từ cũng Việt hóa, không lệ thuộc vào chữ Nho. Ngài đã dịch nhiều bản Kinh, Luận, Thiền sang chữ Việt và giảng giải rõ ràng, sáng sủa khiến cho người học dễ dàng nhận hiểu và ứng dụng tu tập. Các bài Kinh Tụng trong các Thiền viện phần lớn do ngài trích từ trong Ngữ Lục Thiền sư Việt Nam đời Trần, dịch ra chữ Việt và biên tập lại cho chúng đệ tử tụng bằng nghĩa của chữ Việt, không dùng âm Hán văn. Cho đến nhiều lãnh vực văn hóa khác, ngài luôn nhắc chúng đệ tử chú trọng Việt hóa.

 

5. Chú Trọng Đào Tạo Chúng Đệ Tử:

 

Thiền sư Hương Hải chú trọng đến việc đào tạo đệ tử cho nên có nhiều vị nối pháp rất giỏi. Chúng ta có thể thấy rõ điều này qua ưu tư của ngài trước khi đến chùa Nguyệt Đường và những việc làm lúc ngài đến trụ trì tại đây.

 

Hòa thượng Thiền sư Thích Thanh Từ đã từng nói trong một buổi tham vấn tại Mỹ Quốc: “...Tôi thấy rằng, nếu muốn cho Phật pháp được vững mạnh, bền lâu thì phải có người tu sáng đạo”. Từ cách nhìn như vậy cho nên ngài luôn chú trọng đến việc đào tạo đệ tử. Trong các Thiền viện do ngài hướng dẫn đều có nội viện, có nơi nhập thất chuyên tu. Nếu đọc trong Thanh Quy của ngài biên soạn, hoặc nhìn kỹ thì sẽ nhận ra điều này. Từ cách tổ chức, giảng dạy, hướng dẫn tu hành cho đến cách làm các Phật sự khác, ngài luôn chú trọng đến việc tu. Đặt việc tu sáng đạo lên hàng đầu, làm chủ đạo trong đời sống tu hành của các thiền sinh tại các Thiền viện. Đúng với lời ngài đã nói từ trong tâm khảm sâu thẳm của mình: “Muốn cho Phật pháp được vững mạnh, bền lâu thì phải có người tu hành sáng đạo”. Có lần chúng tôi được nghe một vị Tôn đức ở Huế nói với chúng tôi rằng: “Nhiều vị nhìn qua thì thấy Hòa thượng Thanh Từ không biết cách tổ chức. Nhưng kết quả cuối cùng thì dưới ngài có nhiều đệ tử lớn tài giỏi kế thế. Mới biết, ngài là người khéo tổ chức.”.

 

Việc chú trọng đào tạo đệ tử để có người nối nắm mạng mạch Thiền tông của Hòa thượng Thiền sư Thích Thanh Từ đã được chư vị Tôn túc thấy ra. Là vô tình hay hữu duyên mà lại trùng với Thiền sư Hương Hải, ai mà biết được! Việc này chúng ta bắt chước cũng đã khó. Nếu như không có túc duyên, thiếu đạo lực, thiếu trí tuệ và nhân duyên với nhiều người thì làm sao dám nghĩ bắt chước nhau là được.

 

6. Xiển Dương Đàng Trong, Thịnh Hành Lúc Ra Đàng Ngoài:

 

Thời Ngài Hương Hải đất nước bị chia cắt hai phần. Đàng Trong là chỉ cho phía Nam, Đàng Ngoài là phía Bắc. Thiền sư Hương Hải vốn xuất gia học đạo và giáo hóa thạnh hành, khôi phục Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử tại Đàng Trong (phía Nam; nay là miền Trung). Nhưng mãi cho đến khi đủ duyên ra Đàng Ngoài (phía Bắc) thì sự hoằng hóa của ngài mới được thuận lợi và phát triển. Chúng ta dễ nhận thấy điều này khi ngài đến trụ trì giáo hóa tại chùa Nguyệt Đường ở Hưng Yên.

 

Cũng vậy, Hòa thượng Thiền sư Thích Thanh Từ cũng xuất gia và hoằng hóa, khôi phục Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử tại miền Nam. Trải từ buổi đầu khó khăn rồi dần dần đến lúc thuận lợi. Chư Tăng Ni và Phật tử hướng về tu tập càng đông. Các thiền viện thuộc Thiền phái Trúc Lâm cũng lần lượt ra đời ở nhiều nơi. Việc tu tập của các hành giả buổi đầu đã có kết quả nhất định. Nhưng về mặt hoằng truyền thì vẫn còn một điều gì đó như là chưa được đầy đủ trọn vẹn, khiến cho sự phát triển của Thiền phái vẫn còn trong chừng mực. Cho đến khi hội đủ nhân duyên Hòa thượng ra phía Bắc thành lập các Thiền viện thì việc khôi phục và xiển dương Thiền tông Việt Nam của ngài mới hanh thông và phát huy đúng mức. Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử được nhiều người biết đến, được các giới trí thức và mọi tầng lớp trong xã hội vinh danh. Từ khắp mọi miền đất nước cho đến các nước phương Tây, Thiền viện đều đã được thành lập giúp những vị hữu duyên có nơi quy hướng tu hành. Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử thêm một lần nữa được hồi sinh, sống dậy mạnh mẽ ở thế kỷ 20-21 này.

 

7. Cùng Đủ Duyên Trên Mảnh Đất Thần Kinh:

 

Xưa kia, Thiền sư Hương Hải được Chúa Nguyễn Phúc Tần (Chúa Hiền) cho xây dựng chùa Vinh Hòa tại huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế và thỉnh ngài về trụ trì giáo hóa. Hôm nay, Hòa thượng Thiền sư Thích Thanh Từ lại cũng đủ duyên xây dựng Thiền viện Trúc Lâm Bạch Mã cũng tại huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế; trên mảnh đất Thần Kinh giàu truyền thống văn hóa này.

 

Những điều không hẹn mà lại trùng hợp một cách ngẫu nhiên đến diệu kỳ giữa hai vị Thiền sư sống vào hai thời đại cách xa nhau, nhưng cùng một chí hướng khôi phục Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Chúng tôi không mất nhiều phút để tư duy, liên tưởng rồi lồng ghép những khía cạnh tương tự, cho nên ở đây hoàn toàn không có ý muốn nhắc đến nghĩa tiền kiếp, hậu kiếp của hai ngài là một. Chỉ là một thoáng tình cờ, đang lúc viết về Thiền sư Hương Hải nhân kỷ niệm 300 năm ngày giỗ của ngài; trong thoáng bất ngờ, bỗng nhiên nhiều điều trùng hợp cùng lúc hiện rõ trong đầu, chúng tôi liền viết ra ngay để chia sẻ cùng quý vị. Để thấy rằng, đến trong chân trời “tự tánh kia”, người người cùng gặp. Loanh quanh bên ngoài, đành phải cách xa mà thôi.

 

IV. HỌC HIỂU TỔ SƯ QUA CÁCH NÀO?

 

Một lớp học được cô giáo dẫn bài của nhà văn Nguyễn Khải để ra bài tập về nhà, yêu cầu các em hãy cho biết ý của tác giả muốn nói lên điều gì? Một học sinh trong số đó là con của chính tác giả. Cháu bé đến nhờ bố mình giúp đỡ. Nhà văn Nguyễn Khải nói lên ý nghĩ của mình trong bài văn. Cô giáo không hề biết mình có một học trò là con của nhà văn này. Sau khi nộp bài, cháu nhận được điểm một với lời nhận xét: “Chưa hiểu ý tác giả”. Là câu chuyện lạ, nhưng có thật và cũng thường có trong đời. Hiện nay chúng ta học hiểu ý của Tổ sư qua cách nào? Ai là người có đủ tư cách để thẩm xét điều này nếu không phải từ sự thể nghiệm, chứng ngộ của mỗi một hành giả chuyên tâm!

 

“Người bình thơ bao giờ cũng là kẻ thù của nhà thơ”. Một bài thơ, một tác phẩm văn học đều dựa vào hoàn cảnh và tâm thái của tác giả mà có ra. Nếu chúng ta không biết được bối cảnh lịch sử, hoàn cảnh ra đời và tâm trạng của tác giả mà vội bình phẩm một cách tùy tiện thì đi quá xa với ý tác giả. Không phải kẻ thù là gì?

 

Học hỏi, nghiên cứu các tác phẩm Thiền sư Việt Nam, điều tối thiểu buộc chúng ta phải biết là quý ngài dụng tâm gì, ở đâu để sáng tác và muốn nói lên điều gì? Quý ngài phải khổ công tu tập, chạm đến được cốt tủy thiền một cách rốt ráo; ở trong cảnh núi rừng u tịch, hay ở vào một tâm vắng lặng tuyệt đối mà xán lạn của tâm thiền; nhắn nhủ, khai thị cho hàng hậu thế hữu duyên nhận ra tâm tánh nơi chính mỗi người như quý ngài đang sống. Cho thấy, từ công phu tu tập, từ trí tuệ rốt ráo để nói ra những lời khai thị vàng ngọc, mong mỏi đưa con cháu trở về quê hương muôn thuở của chính mình. Nếu chỉ dừng trên ngôn thuyên, sách sử, trong một nội tâm tạo tác vọng động, ngồi ở nơi náo thị phồn hoa với một đời sống đắm chìm quá sâu trong ngũ dục để học hiểu, nghiên cứu, bình phẩm về quý ngài thì e là quá tội nghiệp cho mình!

 

Thiền sư Hương Hải một đời vì đạo pháp. Trải qua bao khó khăn, nhưng ngài đều quyết chí vượt qua. Bị vua chúa hiềm nghi hay được tôn trọng, ngài vẫn một mực chuyên tu và làm Phật sự, không hề bị chi phối, luôn luôn nghĩ đến tiền đồ Phật pháp. Đọc thi kệ và những lời khai thị, chúng ta càng thấy rõ hơn phong cách của ngài. Khi thì chỉ thẳng, có chỗ thì mang tính triết lý khúc chiết, chặn đứng các đường không còn chỗ cho tình thức chen vào hiểu biết. Nhận thì ngay đó liền nhận, không thì thôi. Càng cố suy nghĩ để lý luận thì càng cách xa. Đặc biệt cuối đời ngài ra đi một cách tự tại. Thấy vậy, chúng tôi không nghĩ quý ngài sẽ hoan hỷ khi trông thấy con cháu chỉ dừng lại ở những nghiên cứu, tìm hiểu qua ngôn ngữ, hình thức. Và có lẽ ngài cũng sẽ chưa thật sự yên lòng khi con cháu mới chỉ làm nên được tự viện hoành tráng, sách sử nghiên cứu đồ sộ. Chúng tôi nghĩ quý ngài sẽ mỉm cười mãn nguyện hơn nếu bằng vào những gì đã làm được, hàng hậu tấn chúng ta biết dụng công tu tập đạt đến được cốt tủy thiền mà quý ngài muốn chỉ. Trên cơ sở trí tuệ giác ngộ rốt ráo, chúng ta uyển chuyển vận dụng vào bất kỳ thời đại hay cõi nước nào đều mang lại lợi lạc, vén mây mê lầm cho người người vĩnh viễn không còn khổ đau.

 

Đây là cũng chính là bản hoài mà Hòa thượng Thiền sư Thích Thanh Từ đã một đời tâm huyết muốn khôi phục lại Phật giáo Thiền tông đời Trần ở thời kỳ đương đại. Từ những ngày đầu mới xuất gia, ngài đã ôm trong mình hoài bão muốn tu theo thiền Việt Nam để làm sống lại Thiền tông Việt Nam. Đó là hoài bão và ngài cũng tự đặt làm bổn phận trách nhiệm của mình. Với quyết tâm dũng mãnh, nhất định thực hiện cho bằng được tâm nguyện và trọng trách mà mình đã đặt ra. Và rồi duyên lành cũng đã hội tựu. Ngài đã tỏ ngộ, nhận ra cốt tủy thiền. Đọc sách thiền đến đâu, ngài sáng tỏ ý Tổ đến đó. Trên trí tuệ tỏ ngộ làm căn bản, ngài viết và tìm dịch các tác phẩm thiền để đem ra ứng dụng, hướng dẫn cho Tăng Ni và Phật tử cùng tu. Tùy vào căn cơ từng người mà có được kết quả sâu cạn khác nhau. Nhưng tất cả đồng chung một cảm xúc là “Không ngờ!”. Phật pháp Thiền tông bắt đầu được xương minh từ đó. Hàng đệ tử con cháu ngài đã đủ phước duyên được gội nhuần trong suối thiền và tiếp tục nối nắm mạng mạch Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam, phát huy khiến cho ngày càng xán lạn. Bản hoài một đời tâm huyết khôi phục Thiền tông Việt Nam của Hòa thượng Thiền sư Thích Thanh Từ cũng đã được mãn nguyện.

 

V. KẾT LUẬN:

 

Càng tu tập được an lạc, càng thấm nghiệm những lời dạy thống thiết của quý ngài, chúng con càng cảm bội niệm ơn sâu xa lòng từ vĩ đại bao la của các bậc thiền tăng. Ba trăm năm trước, ba trăm năm sau, hay nhiều kiếp về sau nữa, mãi mãi vẫn thế! Bởi, người về “trong ấy”, vốn không đổi dời. Hôm nay, kỷ niệm 300 năm ngày giỗ Thiền sư Hương Hải, chúng con dâng lên ngài chút tâm thành không lời tả được.

 

_______________

Thích Tâm Hạnh

Thiền viện Trúc Lâm Bạch Mã – Huế

HUYỀN TRÂN CÔNG CHÚA

Trần Huyền Trân Công chúa (1287 – 1340) ( Huyền Trân Công chúa) con gái út của Đức vua Trần Nhân Tông và Hoàng hậu Khâm Từ [1]. Trần Nhân Tông là bậc minh quân đã hai lần lãnh đạo quân dân Đại Việt đánh tan đế quốc Nguyên Mông, đội quân xâm lược mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ.

 

 

Thắng giặc, Ngài nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông rồi làm Thái thượng hoàng để giúp con vững chãi trên ngai vàng, sau đó Ngài xuất gia tu hành theo Phật giáo ở núi Yên Tử, mong tìm pháp tu theo Phật giáo phù hợp với căn cơ người Việt, để người người có đạo, qua triết lý đạo Phật, giáo hóa dân chúng, đoàn kết nhân tâm, vun bồi trí đức mà cùng nhau bảo vệ và xây dựng đất nước. Trần Nhân Tông đã tìm ra phương pháp tu phù hợp với căn cơ người Việt, đó là dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử riêng có ở Việt Nam còn tồn tại tới ngày nay. Ơn công hạnh to lớn của Ngài với đời, với đạo, Ngài được nhân dân tôn vinh là Vua đời Vua đạo (Phật hoàng Trần Nhân Tông). Khâm Từ Hoàng hậu là người hết mực nhân từ, đức độ, Hoàng hậu là con gái của Đức Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn bậc khanh tướng lẫy lừng của triều Trần, được nhân dân tôn là Đức Thánh Trần. Vốn con nhà dòng dõi trâm anh, Huyền Trân Công chúa là người mang đủ tố chất trác việt của cha, mẹ và nhờ được làm học trò của Văn Túc vương Đạo Tái, một trong những văn sĩ giỏi nhất thời bấy giờ nên trí, đức, dung nhan của Công chúa luôn là niềm tự hào của cả Hoàng tộc [2].

 

Năm 1301, Huyền Trân 14 tuổi, Thượng hoàng Trần Nhân Tông lúc đó đã là người xuất gia tu Phật theo hạnh đầu đà, Ngài chống gậy trúc đi khắp nơi để khuyên dân học Phật, từ bỏ mê tín. Trên đường du hóa, Ngài tới đất Chiêm Thành, với mong muốn kết tình hòa hiếu giữa hai dân tộc Việt- Chăm để cùng nhau chống giặc Nguyên Mông ở phương Bắc, là kẻ thù chung của cả hai dân tộc. Gặp Quốc vương Chiêm thành là Harijit, nghĩa là sư tử chiến thắng (người Đại Việt gọi tên là Chế Mân), Trần Nhân Tông rất có cảm tình với vị vua trẻ thông minh, dũng cảm cũng đã từng trực tiếp lãnh đạo quân dân Chiêm Thành đánh đuổi đội quân Nguyên Mông do Toa Đô cầm đầu [3]. Quý trọng vị sư Đại Việt cũng đã từng là bậc minh quân xuất chúng hai lần đánh tan đế quốc Nguyên Mông, nay lại mang tâm hòa hiếu đi đoàn kết lân bang, Chế Mân đã mời Trần Nhân Tông làm thượng khách ở Chiêm Thành trong 9 tháng, để tìm hiểu phong tục tập quán và chia sẻ Phật pháp với các vị sư Chiêm Thành. Trước khi về nước Trần Nhân Tông đã hứa gả con gái cho Chế Mân với mong muốn kết giao hai nước cùng nhau đoàn kết chống giặc ngoại xâm, hôn sự sẽ được tiến hành khi Huyền Trân tròn 18 tuổi ( có nghĩa là 4 năm sau).

 

Năm 1305, Huyền Trân 18 tuổi, Chế Mân cho sứ giả mang sính lễ và địa đồ, dân số hai châu Ô, Rí sang cầu hôn Huyền Trân. Trong triều lúc bấy giờ có hai luồng ý kiến khác nhau: phía phản đối đứng đầu là quan Tham tri Chính sự Đoàn Nhữ Hài cho rằng cuộc hôn nhân như thế là không môn đăng hậu đối, công chúa nước lớn không thể làm vợ lẽ của vua nước nhỏ, nhất là Huyền Trân có vị thế rất lớn trong Hoàng tộc triều Trần; Phía đồng thuận đứng đầu là Văn Túc vương Đạo Tái và Thượng thư Tả bộc xa Trần Khắc Chung, cho rằng đây là cơ duyên ít có để kết tình hòa hiếu hai nước, là cơ hội để hóa giải những vướng mắc do các cuộc chiến chinh giữa hai dân tộc từ trước đã để lại, là thời cơ để vô hiệu hóa sự kích động, chia rẽ nhằm thôn tính các dân tộc phương Nam của Nguyên Mông và cũng là điều tốt khi đất đai được mở rộng [4]. Đôi bên trao đổi khó phân vì lý của bên nào cũng đúng, ruốt cuộc Vua Trần Anh Tông quyết định theo lời đã nói của Thượng Hoàng Trần Nhân Tông. Lễ rước dâu sẽ được thực hiện vào năm sau (1306). Trong thời gian gần một năm, Huyền Trân đã học tiếng, học chữ viết và phong tục tập quán của người Chăm. Với thiên bẩm thông minh, trong thời gian ngắn Huyền Trân đã thông thạo ngôn ngữ, nắm vững phong tục Chăm và quy tắc ứng xử của Hoàng cung Chiêm Thành.

 

Năm 1306, Huyền Trân về Chiêm Thành, được Chế Mân phong là Vương hậu. Chế Mân và nhân dân Chiêm Thành yêu quý Vương hậu Huyền Trân bởi sự đoan trang, tính tình đôn hậu và sự cảm thông chia sẽ của Vương hậu với mọi người. Mối nhân duyên của Huyền Trân với Chế Mân đã tạo nên tình giao hảo tốt đẹp giữa hai nước nhưng đẹp hơn là hình ảnh Vương hậu người con gái nước Đại Việt nhân từ thương quý gần gũi mọi người. Tiếc thay, chưa tròn một năm làm Vương hậu, trong khi còn mang thai chưa tới kỳ sinh nở, Chế Mân do bạo bệnh đã băng hà. Cái chết của Chế Mân là một uẩn khúc về sự phân hóa trong vương triều Chiêm Thành lúc bấy giờ. Theo phong tục Chiêm Thành ,Vua băng hà các Vương hậu và một số cung phi phải chết theo, nhưng Huyền Trân vì còn mang thai con Vua mà được trì hoản tới sau khi sinh con [5].

 

Đầu năm 1307, Huyền Trân sinh con trai, theo ý kiến của Chế Mân khi còn sống, đặt tên con là Thế tử Dayada (có nghĩa là con trai, là hậu duệ, là người nối dõi). Sau khi Chế Mân chết, vua Chiêm Thành nối ngôi là Harijitputra (người Đại Việt gọi là Chế Chí con trai trưởng của Chế Mân) cho sứ giả sang Đại Việt báo tin mừng lên Hoàng đế Đại Việt đã có cháu và đồng thời báo tang Chế Mân. Được tin, vua Trần Anh Tông và triều đình nghị luận, thấy rõ cái chết của Chế Mân đã làm thay đổi cục diện trong mối quan hệ Việt-Chăm. Trước bối cảnh ấy vua phái quan Thượng thư Tả bộc xa Trần Khắc Chung một danh tướng, một nhà ngoại giao lão luyện đã từng đi sứ Bắc quốc, cùng bốn vị đại sư và đoàn tùy tòng tới Chiêm Thành viếng tang và cầu siêu cho Chế Mân theo phong tục nước Đại Việt, tháng 11 năm 1307 đoàn tới kinh đô Chiêm Thành [6].

 

Đoàn sứ bộ Đại Việt tới Chiêm Thành, trong lễ gọi hồn, cầu siêu cho Chế Mân ngoài biển có Huyền Trân và các tì nữ cùng theo, nhưng Thế tử con trai của Huyền Trân còn nhỏ nên phải ở lại trên bờ. Trên biển, Trần Khắc Chung đã lập mưu đưa Huyền Trân lên thuyền nhỏ, có người khỏe, thạo sóng nước để chạy về hướng Bắc, sau lên thuyền lớn để đi. Huyền Trân được cứu sống để đưa về nước nhưng phải để lại đứa con bé bỏng là kết quả của tình yêu thương với bậc Quân vương vắn số. Huyền Trân không khỏi ngậm ngùi, phải chăng đây là duyên, phận của một kiếp hồng nhan. Đau khổ hơn là sự ra đi không từ biệt của Huyền Trân và phái đoàn sứ bộ dường như đi ngược lại với tâm nguyện của Thượng hoàng Trần Nhân Tông vì bao công sức của Ngài nhằm kết tình hòa hiếu hai nước, vì chuyện này mà lại rạn nứt. Thoát chết nhưng trong tâm Huyền Trân như có cả trăm mối tơ vò, phải xa đứa con bé bỏng, ray rứt về tình cảm của những người Chăm nơi xứ sở của người chồng mà Huyền Trân rất yêu quý. Ai hiểu tấc lòng Huyền Trân với chí nguyện mang hết tình yêu thương vì hòa hiếu hai nước.

 

Thuyền chở Huyền Trân và đoàn sứ bộ đã qua vùng biển Chiêm Thành nguy hiểm nhưng không may đoàn gặp bão biển, thuyền hỏng khá nặng phải cho vào bờ lánh bão và sửa thuyền, dù ở vùng biển thuộc đất Đại Việt nhưng xưa thuộc châu Ô, Rí. Trong lúc lánh nạn, sửa thuyền, đoàn phải đóng giả làm thương nhân để tránh lộ tung tích, sợ quân Chiêm Thành đuổi theo. Mặt khác vì không đưa được Thế tử con Huyền Trân về nước nên Trần Khắc Chung cho người Chăm thân tín tiếp tục trở lại tìm cơ hội đưa Thế tử cùng về [7]. Sau nửa năm với nhiều nhóm được phái đi nhưng biệt vô âm tín, biết là chuyện không thành, đoàn đành phải hành trình về Thăng Long.

 

Tháng 8 năm 1308, đoàn sứ bộ đưa Huyền Trân về tới Thăng Long, sau đó không lâu Huyền Trân lên Yên Tử gặp Thượng Hoàng Trần Nhân Tông. Tại Yên Tử, Trần Nhân Tông đã an ủi con gái: duyên sự âu cũng do nghiệp quả phải qua của hai dân tộc và của mỗi con người, luật nhân quả còn cao hơn nhân định [8]. Và để vãn hồi sự việc đã qua, Trần Nhân Tông cho người nói với vua Trần Anh Tông đưa hơn ba trăm tù binh Chiêm Thành về nước để gắn bớt sự rạn nứt do đoàn sứ bộ tạo nên [9]. Thượng Hoàng khuyên Huyền Trân xuất gia làm ni sư để xả bỏ nỗi niềm nhưng cũng là mang tâm đức để giúp đời, giúp cho tình giao hảo giữ hai nước và tạo phúc cho thế tử Dayada khi đã không còn cha và xa mẹ .

 

Huyền Trân xuất gia để phát túc siêu phương, Quốc sư Bảo Sát là người xuống tóc quy y cho Huyền Trân tại chùa Vũ Ninh, đặt pháp danh Hương Tràng. Sau một thời gian ngắn được học với thầy ở chùa Vũ Ninh, năm 1311, Ni sư Hương Tràng về tu tại chùa Hổ sơn (Nộn sơn) thuộc Thiên Bản (xã Liên Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định hiện nay). Từ đây trong đời sống tu hành ni sư Hương Tràng được nhân dân kính trọng vì đức hiếu sinh, vì thiện tâm luôn giúp đỡ dân nghèo, mang tâm sức dạy cho trẻ thơ biết chữ để làm người có ích. Việc làm của vị ni sư giúp dân, giúp nước đã được nhân dân ca tụng như là tấm gương sáng về đạo đức nhân sinh.

 

Năm 1340 (bắt đầu thời kỳ suy vi của nhà Trần) ni sư Hương Tràng viên tịch. Tri ân công hạnh của Huyền Trân với dân với nước, nhân dân nhiều nơi đã lập đền thờ Huyền Trân Công chúa, tại Hổ sơn, nơi Huyền Trân tu hành, nhân dân lập đền thờ tôn là Thánh mẫu. Sau khi Công chúa Huyền Trân viên tịch, các triều đại về sau đều sắc phong Công chúa Huyền Trân là Thần hộ Quốc. Nhà Nguyễn ban Chiếu ghi nhận “công đức của Công chúa Huyền Trân trong việc giữ nước giúp dân có nhiều linh ứng”, nâng bậc tăng là “ Trai Tĩnh Trung Đẳng Thần”.

 

Hữu Tâm

Tài liệu tham khảo:

-[1,2,3,4,5,6,7,8,9,10] Am mây ngủ- Thích Nhất hạnh, 2012

-[11] Huyền Trân, Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

________________

http://btgcp.gov.vn

MỘ ĐỨC VUA TRẦN NHÂN TÔNG HIỆN Ở ĐÂU?

- Khi vua Trần Nhân Tông mất, sách "Đại Việt sử ký toàn thư" viết: "Ngày 3, Thượng hoàng băng ở am Ngọa Vân, núi Yên Tử"; và: "Mùa thu, tháng 9, ngày 16, rước linh cữu của Thượng hoàng về chôn ở lăng Quy Đức, phủ Long Hưng, Thái Bình ngày nay".

Đức vua Trần Nhân Tông (tên tục là Trần Khâm)- con trưởng của vua Trần Thánh Tông - sinh năm Giáp Ngọ, Nguyên Phong thứ 8, tháng 11, ngày 11 (1258). "Đại Việt sử ký toàn thư" viết: "Vua được tinh anh của Thánh nhân, đạo mạo thuần túy, nhan sắc như vàng, thể chất hoàn toàn, thần khí tươi sáng, hai cung đều cho là lạ, gọi là kim tiên đồng tử! ở hai bên tả hữu có nốt ruồi đen, cho nên có thể cáng đáng được việc lớn, ở ngôi 14 năm, nhường ngôi 5 năm, xuất gia 8 năm, thọ 51 tuổi, băng ở am Ngọa Vân, núi Yên Tử, hòa nhã, cố kết lòng dân, sự nghiệp phục hưng, làm vẻ vang đời trước, thực là vua hiền của nhà Trần".

 

Vua Trần Nhân Tông là vị vua văn võ song toàn, thông hiểu Phật pháp. Một ông vua đã hai lần đánh bại cuộc xâm lăng của giặc Nguyên Mông, đem lại hòa bình thịnh trị về cho nhân dân Đại Việt. Một vị vua như thế khi xuất gia chắc chắn đã gây tiếng vang lớn và khiến tất cả mọi người trong nước hướng nhìn về ngọn núi Yên Tử với lòng ngưỡng mộ thành kính nhất. (Đức vua Trần Nhân Tông được coi là người đứng đầu của Thiền phái Phật giáo Trúc Lâm Yên Tử).

 

Khi người mất, sách "Đại Việt sử ký toàn thư" viết: "Ngày 3, Thượng hoàng băng ở am Ngọa Vân, núi Yên Tử" (tr.570); và: "Mùa thu, tháng 9, ngày 16, rước linh cữu của Thượng hoàng về chôn ở lăng Quy Đức, phủ Long Hưng, Thái Bình ngày nay".

 

Có đúng là phần mộ của vua Trần Nhân Tông (trong có đựng ngọc cốt hoặc xá lỵ) được an táng ở lăng Quy Đức (phủ Long Hưng)?

 

Không ít người cho rằng nhà vua là người xuất gia, tu hành tại chùa Hoa Yên, núi Yên Tử, lấy hiệu là Hương Đầu Đà (sau đổi thành Trúc Lâm Đầu Đà), được nhận là người truyền thừa chính thức của phái Yên Tử thế hệ thứ 6, tiếp nối vị tổ sư thứ 5 là Thiền sư Huệ Tuệ. Khi mất, thi thể của Người được đệ tử là Pháp Loa hỏa táng, các viên xá lỵ (từ thân thể Người sau khi hỏa táng) được để vào kim tháp ở chùa Vân Yên, núi Yên Tử.

 

Nếu vậy thì việc rước linh cữu của người về táng ở đất Long Hưng có thực là thi thể (ngọc cốt) hoặc xá lỵ của người không?

 

Những trăn trở, thắc mắc nêu trên không phải là không có cơ sở. Sách "Đại Việt sử ký toàn thư" khi viết về việc này cũng không cho chúng ta biết rõ hơn ngoài những dòng sau: "Mùa thu, tháng 9, ngày 16, rước linh cữu của Thượng hoàng về chôn ở lăng Quy Đức, phủ Long Hưng. Xá lỵ thì để ở bảo tháp am Ngọa Vân, miếu hiệu là Nhân tôn, thụy là "Pháp Thiên sùng đạo ứng thế hóa dân Long từ hiển huệ Thánh văn thần võ Nguyên minh tuệ hiếu Hoàng đế". Đem Khâm Từ Bảo Thánh Hoàng Thái hậu hợp táng ở đấy". Việc hỏa thiêu và có xá lỵ của vua Trần Nhân Tông, "Đại Việt sử ký toàn thư" đã ghi rất rõ: "Pháp Loa đem xác của Thượng hoàng thiêu đi, nhặt được hơn ba nghìn viên xá lỵ mang về chùa Tư Phúc ở Kinh sư. Vua lấy làm ngờ, các quan nhiều người xin bắt tội Pháp Loa. Khi ấy Hoàng tử Mạnh (vua Trần Minh Tông sau này) mới lên 9 tuổi, đứng hầu bên cạnh, chợt thấy có mấy hạt xá lỵ ở trong bọc, đưa ra cho mọi người xem. Vua sai kiểm lại những hạt xá lỵ ở trong hộp, thì thấy thiếu số. Vua cảm động khóc lên, trong lòng mới khỏi ngờ".

 

Nếu chỉ đọc những đoạn văn trên thì việc nghi ngờ không có xương cốt hoặc xá lỵ của vua Trần Nhân Tông ở lăng Quy Đức (Tiến Đức, Hưng Hà, Thái Bình) là có cơ sở. Nhưng một số tài liệu của Phật giáo, trong đó có sách "Tam tổ thục lục" đã cho chúng ta biết rõ việc an táng xá lỵ của vua Trần Nhân Tông ở Long Hưng: "Ngày 1, tháng 11, đúng nửa đêm, sao sáng đầy trời, Điều Ngự (vua Trần Nhân Tông) hỏi:

 

"Bây giờ là giờ gì?"

 

Bảo Sát (đệ tử của đức vua Trần Nhân Tông) thưa:

 

"Giờ tý".

 

Điều Ngự đưa tay ra hiệu mở cửa sổ để nhìn ra ngoài, nói:

 

"Đến giờ ta đi rồi".

 

Bảo Sát hỏi:

 

"Tôn Đức đi đâu bây giờ?"

 

Điều Ngự nói:

 

"Mọi pháp đều không sinh. Mọi pháp đều không diệt. Nếu hiểu được như thế Chư Phật thường hiện tiền. Chẳng đi cũng chẳng lại".

 

Bảo Sát hỏi thêm:

 

"Còn khi bất diệt thì sao?"

 

Điều Ngự khua tay nói:

 

"Thôi đừng nói mê nữa"

 

rồi người ngồi thế sư tử tọa mà hóa. Xá lợi của Điều Ngự phân làm hai phần, một phần để vào Bảo tháp nơi Đức Lăng (lăng Quy Đức), một phần để ở Kim Tháp, chùa Yên Vân, núi Yên Tử". Sách "Tam tổ thục lục" trong các phần nói về Trúc Lâm (chỉ vua Trần Nhân Tông) và Pháp Loa đã có những đoạn nói tỉ mỉ về các sự kiện lịch sử có ghi ngày tháng và các chi tiết nhỏ như đoạn văn trên. Những tài liệu này rất quý và đáng tin cậy hơn những tài liệu của một số bộ sử đang lưu hành. Bởi vì "Tam tổ thục lục" được bảo vệ trong các chùa chiền, trừ những sai lầm trong khi biên chép, ít ai dám sửa chữa dù chỉ là một chữ. Trái lại, các bộ sử thường được các sử quan biên tập theo các quan điểm của mình, đôi khi có thành kiến hoặc do ý thức hệ mà thêm bớt, khiến cho nhiều chi tiết mất độ chuẩn xác. Sách "Tam tổ Trúc Lâm" có tham khảo các sách "Tam Tổ thục lục", "Tam tổ hành trạng" và tra cứu các sách "Thánh đăng lục", "Thiên Tông bản hạnh"... đã cho chúng ta thấy rõ hơn về việc hỏa táng và chôn cất xá lỵ của vua Trần Nhân Tông: "Pháp Loa theo lời di chúc của Ngài làm lễ hỏa táng, lượm ngọc cốt có năm màu để vào bình. Vua Anh Tông cùng đình thần đem long giá rước ngọc cốt về tôn thờ ở Đức Lăng (lăng Quy Đức) và xây tháp ở chùa Vân Yên trên núi Yên Tử, đề hiệu là "Huệ Quang Kim Tháp". Như vậy, việc tổ chức tang lễ, chôn cất ngọc cốt của Điều Ngự Giác Hoàng (vua Trần Nhân Tông) ở lăng Quy Đức (Đức Lăng), Long Hưng là có thật. Hiện tại ở xã Tiến Đức (làng Tam Đường), Hưng Hà, Thái Bình vẫn còn phần mộ của Thái Tổ Trần Thừa, vua Trần Cảnh, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông. Sách "Kiến văn tiểu lục" của Lê Quý Đôn chép: "Xã Thái Đường, huyện Ngự Thiên có bốn cái lăng: Thái Tổ, Thái Tông, Thánh Tông và Nhân Tông, lại có lăng của bốn hoàng hậu".

 

Thật đáng tiếc, chiến tranh, thiên tai và nhiều nguyên nhân khác cùng với thời gian bảy, tám trăm năm trôi qua... hiện ở Thái Đường, Tiến Đức chỉ còn lại ba lăng mộ của các vua Trần, nhân dân vẫn quen gọi là mộ Phần Bụt, Phần Trung, Phần Đa. Còn ngôi mộ Phần Cựu đã được khai quật năm 1980, có quy mô to lớn như các ngôi mộ hiện còn ở Tam Đường.

 

Theo ông Vũ Đức Thơm (Bảo tàng Thái Bình) thì qua khảo cứu của các nhà khảo cổ học Trung ương và địa phương, đã xác nhận đây là một ngôi mộ thời Trần và đặc biệt là ngôi mộ này lại nằm trong những "gò Mả Vua" như nhân dân địa phương vẫn truyền khẩu từ đời này sang đời khác. Đáng chú ý là ngôi mộ vẫn được nhân dân truyền tụng gọi là mộ phần Bụt hay còn gọi là phần Sỏi. Phải chăng đây là ngôi mộ của vị vua đi tu Trần Nhân Tông? Bụt có thể hiểu là Phật. Theo Thiền sư Thích Nhất Hạnh, trong tác phẩm "Theo gót chân Bụt" (Đường xưa mây trắng) thì lúc đầu, khi giác ngộ chân lý của đạo Phật, Đức Phật Tổ cho rằng đạo của người là đạo "Tỉnh thức". "Tỉnh thức" nói theo tiếng Magadhi là Budn (tức là Bụt). Như vậy, rất có thể ngôi mộ "Phần Bụt" được nhân dân truyền khẩu ở làng Tam Đường, Tiến Đức, Hưng Hà là mộ của đức vua Trần Nhân Tông (Điều Ngự Giác Hoàng). Ngôi mộ này trước đây cũng đã bị hư hại (hiện nay đã được sửa sang, đắp ấp lại).

 

Theo tư liệu của Bảo tàng Thái Bình thì dưới cùng của mộ là quách gỗ, trên quách gỗ là lớp đất sét, trên lớp đất sét là vách đá, xung quanh rải hàng ngàn mét khối cát sỏi, trên lớp sỏi lại có một lớp đất sét được nện nén rất chặt. Phía trên của lớp đất sét và xung quanh mộ nhân dân địa phương đã tìm thấy nhiều viên gạch (loại gạch vẫn dùng để xây tháp thời nhà Trần). Điều đáng chú ý là những viên gạch này có hình dạng kích thước như được đúc ra cùng một khuôn với những viên gạch rìa các mái hiên tháp Phổ Minh (Nam Định). Rõ ràng, ở sát ngôi mộ Phần Bụt này đã từng tồn tại một cây bảo tháp. Có lẽ trải qua thời gian, các cuộc chiến tranh cùng thiên tai tàn phá nên cây tháp ấy đã bị hủy hoại, nay chỉ còn lại phế tích. Điều đó hoàn toàn phù hợp với những ghi chép trong sách "Tam tổ thục lục": "Xá Lợi của Điều Ngự phân làm hai phần, một phần để vào bảo tháp nơi Đức Lăng (lăng Quy Đức), một phần để ở Kim Tháp, chùa Vân Yên, núi Yên Tử".

 

Trong sách "Chùa tháp Phổ Minh", ông Nguyễn Xuân Năm, Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin Nam Định, viết: "Theo sách "Tam tổ Thục lục" thì "khi vua Trần Nhân Tông mất, thi hài được hỏa táng, sau đó phần ngọc cốt được an táng vào Đức Lăng (lăng Quy Đức), một phần xá lỵ thì để ở tháp Huệ Quang, một phần xá lỵ để ở Bảo Tháp để trấn áp đất đai ở Đức Lăng". Như vậy đã rõ tại Thái Đường, Tiến Đức, Hưng Hà hiện tại đã và đang lưu giữ (ngọc cốt) của Điều Ngự Giác Hoàng (vua Trần Nhân Tông). Con người mà tài năng đức độ đã được sử sách ca ngợi như một người anh hùng dân tộc và được muôn dân Đại Việt cùng với Phật giáo Việt Nam tôn xưng là ông Tổ của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.

______________

Đặng Hùng - Chi Bảo (trích sách Long Hưng - đất phát nghiệp vương triều Trần)

baomoi.com

THUẬN LÒNG DÂN NÊN GIỮ ĐƯỢC NƯỚC; TRÁI LÒNG DÂN, TRÁI ĐẠO LÝ THÌ ĐỂ MẤT NƯỚC...

TNC: Cha ông ta đã làm nên lịch sử hào hùng và để lại bao bài học đáng giá. Hậu thế nếu ngạo mạn coi thường những bài học của cha ông thì chắc chắn chuốc lấy thất bại. Chúng tôi trân trọng giới thiệu bài trả lời Tạp chí Văn hóa Nghệ An của nhà văn Hoàng Quốc Hải về vấn đề này...

Trò chuyện với nhà văn Hoàng Quốc Hải

LTS: Lịch sử sẽ được hậu thế nhìn nhận như thế nào? Câu hỏi đó luôn tồn tại trong đời sống xã hội vì lịch sử là điểm bắt đầu của hiện tại và tương lai. Một hiện tượng, sự kiện, nhân vật…trong lịch sử sẽ có những những nhận diện và nhận định khác nhau tùy vào cách tiếp cận, cách nhìn khác nhau. Sử học, là đương nhiên, nhưng văn học cũng có thể lấy lịch sử làm đối tượng nghiên cứu, phản ánh...Lịch sử có thể là cảm hứng sáng tạo cho nhà văn. Hai phương pháp tiếp cận, nghiên cứu, sáng tác khác nhau nhưng sử học và văn học luôn có sự giao thoa, ảnh hưởng lẫn nhau, nhưng/và luôn có các sản phẩm khác nhau. Tiểu thuyết lịch sử là một điểm gặp thú vị nhất giữa sử học và văn học. Tiểu thuyết lịch sử ở Việt Nam thời gian gần đây đang nổi lên bởi các tác phẩm khá bề thế và đi theo đó đang có những đánh giá, bình luận khác về phương pháp sáng tác, về sự thật/chân dung lịch sử trong các tác phẩm. Để tiếp cận vấn đề này, VHNA đã có cuộc trao đổi với nhà văn Hoàng Quốc Hải, tác giả của hai bộ tiểu thuyết Bão táp triều Trần và Tám đời vua Lý đang được dư luận quan tâm. Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

PV: Thưa nhà văn, chúng tôi được biết ông vào nghề văn từ lâu, thế nhưng tai sao đến cách đây 20 năm ông mới chọn lịch sử làm đề tài sáng tác của mình?

Nhà văn Hoàng Quốc Hải (NV. HQH): Có nhẽ tôi chớm nhận ra xã hội có khuynh hướng lãng quên quá khứ. Bởi chương trình giảng dạy cũng như thi cử trong hệ thống giáo dục của nước ta từ trước thập niên 60 của thế kỷ 20, thường chỉ chú trọng đến giai đoạn lịch sử cận đại, lịch sử cách mạng. Quan sát hệ thống các nhà bảo tàng cũng đủ rõ.

Bảo tàng lịch sử thì quy mô nhỏ, hoạt động rời rạc như bị chìm khuất, còn bảo tàng cách mạng từ Trung ương xuống các tỉnh ngày một phình to và cứ xem cách họ trưng bày hiện vật, cách hướng dẫn khách tham quan, khiến ta có cảm giác lịch sử dân tộc đã được đồng hóa với lịch sử cách mạng. Mặc dù lịch sử cách mạng cũng chiếm phần quan trọng trong lịch sử dân tộc, song nó chỉ là một phân kỳ ngắn ngủi so với tiến trình lịch sử. Việc làm đó không chỉ là việc làm phản khoa học lịch sử, mà nó còn tiềm ẩn nguy cơ suy thoái về mặt đạo lý, chắc sẽ phải gánh chịu hậu quả lâu dài.

Giật mình hơn nữa, khi thấy nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đã tiên lượng và cảnh báo từ thập niên 40 của thế kỷ 20 rằng: “Người không biết lịch sử nước mình tựa như một con trâu đi cày ruộng, nó cày bất cứ thửa ruộng nào cũng được, và cày với người chủ nào cũng được”.

Vì những lý do trên mà tôi tìm về lịch sử, và lấy đề tài sáng tác từ trong lịch sử của dân tộc.

PV: Và tại sao ông lại chọn thời đại Lý – Trần làm bối cảnh lịch sử cho các sáng tạo văn học của mình? Phải chăng ở thời đại đó sự nghiệt ngã của lịch sử đã tạo nên trí tuệ, văn hóa và bản lĩnh Việt mà các thời kì lịch sử trước đó chưa làm nên?

NV. HQH: Sở dĩ tôi chọn hai thời đại Lý - Trần, là bởi hai thời đại đó để lại cho hậu thế nhiều bài học mang tính kinh điển trong công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.

Và chính trong câu hỏi của ông cũng đã có hàm ý trả lời. Rõ ràng là trong khoảng đầu thế kỷ 11 và nửa cuối thế kỷ 13, lịch sử đặt dân tộc ta đứng trước nguy cơ tồn tại hay không tồn tại.

Nhà Lý tiếp thu một gia tài xộc xệch và nghèo xác cả từ văn hóa đến vật chất, do bạo chúa Lê Long Đĩnh để lại. Nếu tầm nhìn hạn hẹp và tư kỷ, Lý Công Uẩn bước tiếp vết chân của Lê Long Đĩnh, chắc chắn cả dân tộc đã bị bức tử, cả quốc gia đã bị hủy hoại.

May thay, vương triều nhà Lý được tạo dựng bởi trí tuệ của giới đại trí thức Phật giáo. Không những họ ý thức mà còn tỉnh thức trước nguy cơ sụp đổ, nếu không chịu lột xác, tức là không triệt để cách tân nền chính trị đã bị tha hóa dưới triều Lê Long Đĩnh. Vì vậy họ bắt tay ngay vào công cuộc cải cách đất nước một cách hết sức có trí tuệ, có bài bản; lấy bình đẳng, từ bi, bác ái làm động lực xây dựng xã hội, trên cơ sở “Tam giáo đồng nguyên” được triển khai bởi cương lĩnh: xã hội Nho, tâm linh Phật, thiên nhiên Đạo.

Từ đó nhà Lý đưa nước ta trở thành một nước cường thịnh trong khu vực, đặt dấu ấn vững vàng cho nền văn hiến Đại Việt, mở đầu cho một giai đoạn phát triển rực rỡ khá dài. Nhà Trần khi được nước, không những họ không phủ định những thành tựu chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của nhà Lý mà còn tiếp nhận và phát triển lên mức cao hơn.

Ví dụ về tôn giáo, vẫn lấy đạo Phật làm quốc đạo. Về giáo dục, hệ thống trường học được mở mang nhiều hơn. Các khoa thi tiến sĩ để chọn người có học thức, người tài giỏi bổ dụng cho bộ máy cai trị ngày một nhiều thêm. Về quân sự, vẫn dùng chế độ “Ngụ binh ư nông” của nhà Lý, đồng thời khuyến khích các vương, hầu có điền trang, thái ấp lập ra các đội dân binh và tinh binh. Khi thường, họ vẫn ở nơi hương ấp làm ruộng, tham gia việc giữ gìn an ninh trật tự tại địa phương, khi nước có giặc, các đội dân binh này là nguồn bổ sung phong phú cho quân thường trực của triều đình.

Sau cuộc xâm lăng mở đầu của Hốt - Tất - Liệt mang tính thăm dò Đại Việt vào cuối năm Đinh Tỵ (1257), nhà Trần dự liệu đất nước ta đã nằm trong tầm ngắm của người Mông Cổ.

Nhà Trần ý thức được sức mạnh của đế quốc Mông Cổ, nên sớm có chủ trương củng cố đất nước để tạo sức mạnh kháng giặc từ trong lòng dân. Nhà nước chăm lo đời sống cụ thể cho mỗi phận người.

Về nông nghiệp, nếu như trước đây nhà Lý chỉ đắp đê quai vụ (đỉnh nhĩ) để bảo vệ kinh thành và một số vùng phụ cận Thăng Long, thì nhà Trần lo đắp ngăn lũ từ nguồn tới biển, lại đặt chức Hà đê chánh phó sứ để giám sát đê điều. Tiếp đó là chia thêm ruộng quốc điền cho dân, giải phóng bớt nông nô, biến họ từ người nô lệ thành người tự do, người có sản nghiệp bằng cách bán ruộng công điền cho họ, cứ mỗi diện (mẫu) là 5 quan, ai thiếu tiền cho mua chịu. Cuộc cải cách này là bước quan trọng để cố kết lòng dân.

Khi thấy nhà Tống có nguy cơ bị quân Mông Cổ tiêu diệt hoàn toàn, nhà Trần ráo riết chuẩn bị lực lượng giữ nước bằng cách huy động triệt để sức mạnh vật chất và trí tuệ của toàn dân tộc. Dùng người tài không phân biệt nguồn gốc xuất thân. Đặc biệt, triều đình đặt niềm tin vào lực lượng trẻ. Mở đầu là việc Hoàng thái tử Trần Khẩm mới 20 tuổi được vua cha (Trần Thánh Tông) trao truyền ngôi báu. Hàng loạt các tướng trẻ xuất hiện. Phạm Ngũ Lão chàng trai nông dân mới 18 tuổi được Trần Hưng Đạo dùng làm tướng. Yết Kiêu, Dã Tượng chỉ là gia nô cũng trở thành tướng giỏi…

Thật vậy, chỉ bảy năm sau khi lên ngôi, Trần Nhân Tông đã lãnh đạo toàn quân, toàn dân làm hai cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Nguyên vào lúc mà mệnh nước có thể ví như vật nặng ngàn cân treo trên đầu một sợi tóc.

Ấy vậy mà vị vua trẻ mới 27 tuổi ấy, cùng với các tướng trẻ hợp sức với cả dân tộc, muôn người như một đã đánh bại hai lần liên tiếp đội quân khổng lồ đông tới 50 vạn tên phải thất bại nhục nhã. Và đích thân Nguyên Thánh tổ phải cử sứ sang Đại Việt tuyên cáo bãi binh, cũng có nghĩa là giặc phải công nhận nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của nước ta.

Quả thật là hai thời đại Lý - Trần, triều đình đã triệt để đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên hàng đầu. Họ đặt trọn vẹn niềm tin vào dân. Hơn nữa họ còn giáo dục cho công dân của mình biết liêm sỉ, biết tự trọng, có như vậy mới giữ được quốc sỉ. Thử tưởng tượng, một quốc gia để mất quốc sỉ thì còn gì để nói nữa. Hơn hết, những người lãnh đạo đất nước vừa sáng suốt, vừa độ lượng, khoan dung. Ví như việc tầy trời là một số quan lại trong ngoài triều, khi đất nước lâm nguy, đã hèn nhát có thư xin hàng hoặc ước hàng với giặc. Thoát - hoan lưu giữ đầy một tráp, khi tháo chạy khỏi Thăng Long, y không kịp mang theo.

   
Ví như trong lĩnh vực tôn giáo, nhà Lý dựa hẳn vào Phật giáo, dùng lực lượng tu sĩ làm đội quân xung kích trên mặt trận văn hóa trong hệ thống chùa làng. Ngoài nhiệm vụ chính của một thầy chùa là hoằng pháp, hướng dẫn người dân tu tập để tiến hóa về mặt tâm linh, thì vị sư ấy còn có nhiệm vụ kiêm chức một thầy giáo dạy chữ cho đám trẻ nhỏ trong làng, ông là người vừa khai tâm, khai trí và khai minh cho dân chúng. Vị tăng đó còn kiêm luôn cả chức năng của người thầy thuốc, là chữa trị bệnh tật.  
   

Dọn dẹp cung điện, một viên quan nội hầu phát hiện ra, đem dâng vua xem, để trị tội những kẻ bất trung. Nhà vua không những không xem mà còn nói để kẻ có tội yên lòng: “Trong lúc thế giặc đang cường, đến ta còn nao núng, nói chi kẻ khác”. Rồi ông sai đốt đi.

Một thời đại như thế với những vị vua anh minh đức độ như thế, quả thật là sự hấp dẫn vô cùng cho sức sáng tạo văn chương. Vì thế mà tôi đã để hết tâm trí và sức lực làm nên hai bộ tiểu thuyết lịch sử “Tám triều vua Lý” và “Bão táp triều Trần”.

PV: Văn hóa Lý – Trần là một thời đại phát triển rực rỡ của văn hóa Việt/Đại Việt. Điều đó xưa nay đã có nhiều người khẳng định. Vậy theo ông, với cảm nhận của một nhà văn, cái tinh quý và độc đáo nhất của văn hóa Lý – Trần là gì?

NV. HQH: Theo tôi, cái độc đáo nhất, tinh túy nhất của văn hóa Lý - Trần là một nền văn hóa nhân bản, hướng thượng. Và mục tiêu cao cả nhất của nền văn hóa ấy đều xuất phát từ con người và vì con người.

PV:Tất nhiên là trong lịch sử sẽ có sự bồi đắp hoặc loại bỏ những tính cách, thậm chí là những yếu tố có tính chất như là phẩm chất của một cộng đồng nhằm hoàn thiện và thích ứng với các điều kiện chính trị - xã hội – kinh tế mới của thời đại, nhưng những cái gì thuộc về giá trị, phẩm chất căn cốt thì không thể thay chuyển được. Cộng đồng người Việt của chúng ta đã có quá trình hình thành từ hàng ngàn, hàng vạn năm trước, nhưng chúng tôi có cảm giác là các phẩm chất Việt tiêu biểu nhất đã được hoàn thiện trong thời đại Lý - Trần. Ông nghĩ sao về điều này? Và ông có thể giúp bổ sung cho chúng tôi các hiểu biết mới về vấn đề này?

NV. HQH: Tôi đồng ý với ông, các phẩm chất tiêu biểu của công dân Đại Việt hầu như đã được hoàn thiện trong các thời đại Lý - Trần. Và dường như đã có sự hao mòn về phẩm chất Việt từ các thời đại tiếp nối. Bởi lẽ giai cấp thống trị các thời đại sau đó khá sa sút về phẩm chất văn hóa, nên họ không đủ nội lực để hoàn thiện phẩm chất chính trị, dẫn đến rối nát trong nội bộ và gây ra sự trì bế trong xã hội, thậm chí có thời đại gây bi thảm cho đất nước bằng cuộc nội chiến, đất nước bị chia cắt tới mấy trăm năm, khiến cả dân tộc phải gánh chịu hết bao đau thương và kéo lùi bước tiến tới cả trăm năm so với các dân tộc khác trong khu vực. Tội ác đó lịch sử không thể tha thứ. Tôi nhớ vào khoảng năm 1950, hồi ấy tôi còn nhỏ lắm, khi đọc trên tờ “Thời Mới” in ở Hà Nội, có bài thơ, chỉ đọc một lần đã gây trong tôi ấn tượng sâu sắc. Tôi đọc đi đọc lại vài ba lần, nay vẫn còn thuộc nhưng tên tác giả thì không nhớ. Đó là bài Hận Sông Gianh. Tôi xin đọc để chúng ta nghe lại:

Đây sông Gianh đây biên cương thống khổ
Đây sa trường đây nấm mộ trời nam
Đây dòng sông dòng máu Việt còn loang
Đây cổ đô(1) xương tàn xưa chất đống
Sông còn đây hận phân ly nòi giống
Máu còn đây cơn uất hận tương tàn
Và còn đây hồn dân Việt thác oan
Bao thế kỷ chưa tan niềm uất hận
Ôi Việt Nam cùng Việt Nam gây hấn
Muôn đời sau để hận cho dòng sông
Mộng bá vương Trịnh - Nguyễn có còn không
Nhục nội chiến non sông còn in vết
Đây sông Gianh nơi nồi da xáo thịt
Nơi dân Hồng tàn sát giống Lạc Hồng
Nơi máu đào nhuộm đỏ sóng dòng sông
Máu nhơ bẩn muôn đời không rửa sạch


PV: Đó là một dòng sông thơ đã được viết bằng máu của dân tộc Việt Nam, là thành quách thơ được dựng bằng xương cốt của dân tộc Việt Nam, là nỗ đau sâu thẳm của những người Việt Nam còn tâm hồn Việt, tính cách Việt, nhân phẩm Việt... Nếu tôi nhớ không nhầm thì tác giả của bài thơ là Đằng Phương, tức giáo sư Nguyễn Ngọc Huy.


Thưa nhà văn, lịch sử là đối tượng nghiên cứu của sử học đồng thời cũng là đối tượng nghiên cứu, phản ánh của văn học. Theo ông thì cái khác nhau cơ bản về cách tiếp cận lịch sử, như là một đối tượng nghiên cứu, của sử học và văn học là gì?

NV. HQH: Thưa ông, sử học và văn chương là hai lĩnh vực chuyên biệt, sử học nghiên cứu lịch sử theo tư duy lô - gích (logique). Văn chương nghiên cứu lịch sử nhằm giải mã nó bằng tư duy hình tượng.

Đối tượng của sử học là nghiên cứu về các sự kiện. Đối tượng của văn học là nghiên cứu về con người trong tổng hòa xã hội.

PV: Ông quan niệm về tiểu thuyết lịch sử như thế nào? Tư liệu và thông tin lịch sử trong tiểu thuyết lịch sử có độ tin cậy như thế nào? Tôi nghĩ, trong tiểu thuyết lịch sử vẫn phải có hư cấu, nhưng hư cấu như thế nào để không làm méo mó chân dung lịch lịch sử, sự thật lịch sử, ông có thể trao đổi một vài kinh nghiệm?

NV. HQH: Mọi loại hình của tiểu thuyết đều hình thành trên cái nền của hư cấu, tiểu thuyết lịch sử không hề có ngoại lệ.

Vừa qua, Hội đồng lý luận về Văn học - Nghệ thuật Trung ương có cuộc hội thảo bàn về Văn chương và Lịch sử, cũng đề cập đến vấn đề hư cấu, tỷ lệ hư cấu hoặc giải thiêng trong tiểu thuyết lịch sử.

Tôi chắc Hội đồng cũng không thể ra quyết định, ấn định tỉ lệ phần trăm sự thật lịch sử trong tác phẩm văn chương viết về lịch sử, để từ đó lập ra văn bản pháp quy nhằm chế định các tác giả.

Ông hỏi những tư liệu lịch sử và thông tin lịch sử trong tác phẩm văn học viết về lịch sử, có độ tin cậy như thế nào?

Theo tôi, những tư liệu lịch sử và thông tin lịch sử khi còn yên nghỉ trong chính sử, nó thuộc loại nguyên liệu thô. Còn các thông tin trong tác phẩm văn học có độ tin cậy cao hơn, nếu xét trên bình diện tổng thể về quy mô mà nhà văn giải mã lịch sử, chứ không đóng đinh vào các sự kiện chết.

Còn như hư cấu như thế nào, hư cấu tới mức độ nào? Thưa ông, nhà văn phải hư cấu sao cho tác phẩm của mình đạt tới mức chân thực. Vâng, chân thực lịch sử và cả chân thực cuộc sống. Dạ, không ai có thể giới hạn được biên độ hư cấu cũng như khung trời tự do sáng tạo của các nhà văn, trừ khi có ai đó tự nguyện chui đầu vào cái vòng kim cô do giới quyền lực giăng mắc.

Dạ thưa, kinh nghiệm của tôi, nhà văn với thiên chức của nó là tái tạo gương mặt lịch sử, chứ không làm nô lệ cho sự kiện lịch sử.

PV: Ông đã vận dụng phương pháp nghiên cứu sử học như thế nào trong công việc viết tiểu thuyết lịch sử?

NV. HQH: Tôi dùng phương pháp so sánh và loại trừ để tìm ra cái mình cần tìm.

Trong khi tìm hiểu lịch sử, đương nhiên phải dựa vào chính sử. Nhưng tôi không đặt trọn niềm tin vào đó. Bởi bộ sử lớn nhất nước ta là bộ “Đại Việt sử ký toàn thư” thì trong biểu dâng sách của người chủ biên là nhà sử học Ngô Sỹ Liên đã nói: “Thần dựa vào hai bộ sử trước (do Lê Văn Hưu và Phan Phu Tiên soạn), lại tham khảo thêm dã sử và chuyện dân gian để bổ sung vào”. Cái lý do phải dựa vào dã sử, Ngô Sỹ Liên trần tình: “giáo mác đầy đường đâu chẳng là giặc Minh tàn bạo, sách vở đều trở thành một đống tro tàn, chữ Hợi chữ Thỉ khó phân biệt” (Tự dạng hai chữ này hao hao giống nhau. Ý nói tư liệu chính xác rất thiếu).

Thủ phạm của sự nghèo nàn tư liệu này là do giặc Minh, mà tên tội phạm chiến tranh số 1 này là Minh Thành Tổ. Phải nói trong lịch sử cổ kim của nhân loại, chưa có kẻ thù nào tàn bạo và quỷ quyệt như giặc Minh. Hàng ngàn năm đô hộ nước ta, nhưng chúng vẫn không đồng hóa được dân tộc ta, là bởi ta vẫn còn gìn giữ được nền văn hóa của riêng mình, trong đó có ngôn ngữ, tín ngưỡng, tôn giáo và phong tục tập quán. Nay chúng ra sức tàn sát văn hóa (tức là tiêu diệt tận gốc cái hồn của một dân tộc) khiến cho cái gốc lịch sử của ta nằm trong sách vở biến thành tro tàn.

Tôi lạ lùng nhận thấy, cho tới tận ngày nay, con cháu của kẻ thù vẫn ngoan cố cho rằng tổ tiên nó đã khai hóa cho dân tộc ta, nó giúp đỡ ta như bè bạn.Càng kinh ngạc hơn, cũng không thiếu những người Việt vong bản, vẫn còn rất mơ hồ với bọn tội phạm văn hóa này. Đúng như nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đã từng nói, họ như những con trâu, cày ruộng nào cũng được, cày với chủ nào cũng được, chẳng qua họ không hiểu biết về lịch sử của chính dân tộc mình.

PV: Chúng tôi cảm nhận ở thời đại Lý – Trần có ít nhất hai cặp đôi vấn đề nổi lên. Đó là: i; khát vọng, ý chí giữ nước, dựng nước, và, sự thăng hoa trong sáng tạo văn hóa. ii; Sự phát triển của một thể chế và sự hoàn thiện nhân cách một cộng đồng dân tộc. Các cặp đôi vấn đề này có thể được biểu hiện rõ hơn khi liên hệ với nhà Hồ kế ngay sau đó. Khi tìm hiểu thêm về lý do thành công của sự xử lý các mối quan hệ này, chúng tôi cho rằng đó chính là mối quan hệ hài hòa giữa chính trị và văn hóa, giữa quyền lực và tri thức, giữa quyền lợi dân tộc và lợi ích của các cá nhân và nhóm xã hội. Thưa nhà văn, xin ông ý kiến chỉ giáo về những cảm nhận của chúng tôi.

NV. HQH: Tôi đồng ý cách đặt vấn đề và lý giải vấn đề của ông, rằng hai thời đại đó xã hội phát triển được hài hòa là bởi họ lấy văn hóa làm trọng tâm để giải quyết các mối quan hệ xã hội, đặc biệt là quan hệ giữa chính trị và văn hóa, hoàn toàn không có chuyện chính trị hóa văn hóa.

Xin lưu ý, thời nhà Lý, triều đình chưa hình thành lợi ích nhóm, mà chỉ có nhóm lợi ích của các dân tộc thiểu số. Việc giải quyết nhóm lợi ích của nhà Lý trong các đời vua Thái tổ, Thái tông, Thánh tông có thể coi là mẫu mực, bởi không chỉ làm yên lòng các đầu mục dân tộc thiểu số, mà còn cố kết được họ với triều đình, trong khối đoàn kết dân tộc để giữ nước. Tuy nhiên, các sử gia thiển cận đã phê phán chính sách này của nhà Lý không tiếc lời.

Nhà Trần thì phức tạp hơn, ngoài việc đối với các dân tộc thiểu số thì nội bộ giới quý tộc cũng đã hình thành nhóm lợi ích, tiêu biểu là hai nhánh quyền lực Trần Liễu, Trần Cảnh. Sau này là Trần Hưng Đạo với phần còn lại. Tuy nhiên, họ giải quyết khá thỏa đáng, bởi họ lấy Tổ quốc và Nhân dân làm mẫu số chung.

PV: Chúng tôi nghĩ, là người nghiên cứu kĩ về thời đại Lý - Trần nói riêng và lịch sử dân tộc nói chung, chắc hẳn ông có những nhận định của mình về những bài học lịch sử mà thời đại Lý – Trần đã và đang để lại cho chúng ta ngày hôm nay. Ông có thể chia sẻ với bạn đọc của VHNA?


NV. HQH: Vâng thưa ông, hai thời đại huy hoàng nhất trong lịch sử dân tộc, đã để lại cho hậu thế nhiều bài học mang tính kinh điển. Nếu con cháu thông minh và khiêm tốn, thì đây là kho báu gồm kinh nghiệm và trí khôn có thể ứng dụng trong nhiều ngành, nhiều hình thái đối nội và đối ngoại cực kỳ vi diệu.

Ví như trong lĩnh vực tôn giáo, nhà Lý dựa hẳn vào Phật giáo, dùng lực lượng tu sĩ làm đội quân xung kích trên mặt trận văn hóa trong hệ thống chùa làng. Ngoài nhiệm vụ chính của một thầy chùa là hoằng pháp, hướng dẫn người dân tu tập để tiến hóa về mặt tâm linh, thì vị sư ấy còn có nhiệm vụ kiêm chức một thầy giáo dạy chữ cho đám trẻ nhỏ trong làng, ông là người vừa khai tâm, khai trí và khai minh cho dân chúng. Vị tăng đó còn kiêm luôn cả chức năng của người thầy thuốc, là chữa trị bệnh tật cho dân chúng trong làng, hướng dẫn người dân biết hái, biết trồng và biết sử dụng cây thuốc để trị các bệnh thông thường.

Do không nắm được đặc trưng xã hội đó, nên các sử gia đời sau cứ phê phán nhà Lý hoài về “mê đắm đạo nhất thừa”.

Thứ nữa là về mặt pháp luật. Họ làm luật là để phục vụ cho lợi ích của người dân. Ví dụ năm Nhâm Ngọ (1042), Lý Thái tông cho san định bộ Hình thư. Luật ban ra, triều đình cử xuất nạp quan về tận nơi thôn cùng xóm vắng, xem xét khi luật ấy thi hành có điều nào tiện hay không tiện cho dân. Không tiện, có nghĩa là luật xa rời thực tế, không hợp lòng dân, xuất nạp quan tâu báo lên, triều đình lập tức tu chính. Truyền thống ấy được phát huy cao hơn ở đời Lý Thánh tông. Lịch sử còn truyền tụng câu chuyện bất hủ khi nhà vua xử kiện, công chúa Động Thiên ngồi bên cạnh, mặc áo lông cừu mà vẫn kêu rét. Nhà vua truyền lệnh phát chăn ấm và cơm cho tù ăn no. Ngài nói với mọi người: “Dân chúng có người vô tình mắc tội, có người không biết luật mà mắc tội, có người bị quan lại chèn ép mà mắc tội… nên nhất loạt khoan giảm một bậc”.

Và mặc dù đã có hệ thống tòa án các cấp, nhưng nhà vua vẫn cho lập “Đô hộ phủ sĩ sư”, tức tòa giám đốc thẩm, để xử lại các án oan, án ngờ. Và để quan lại trong tòa này giữ được liêm chính, nhà vua ban lộc cho mỗi người một năm được hưởng thêm một trăm bó lúa và hai giành cá khô để dưỡng liêm.

Đơn cử hai vấn đề, một là tôn giáo, hai là luật pháp đều nhằm đối tượng nhân dân và vì nhân dân mà hành hóa. Hai vấn đề đều có quan hệ mật thiết đến đời sống tinh thần và an sinh xã hội, nhà Lý giải quyết rất nhẹ nhàng. Ấy là bởi họ vì lợi ích của muôn dân chứ không vì lợi ích hoàng gia, lợi ích nhóm.

Còn với nhà Trần, tôi cũng xin cử hai bài học mà theo tôi nó có quan hệ đến định mệnh quốc gia.

Thứ nhất là mâu thuẫn giữa hai nhánh quyền lực. Tức là hai dòng trưởng và thứ, có lúc đã gay gắt tới mức tưởng như một mất một còn. Tuy nhiên, họ đã dẹp bỏ được mâu thuẫn, vì họ đặt lợi ích quốc gia lên trên hết.

Bài học thứ hai là khi Hốt-tất-liệt, tên bạo chúa nhà Đại Nguyên, đặt cả dân tộc ta trước nguy cơ bị hủy diệt. Nhà Trần không chỉ đoàn kết trong nội bộ hoàng gia, hoàng tộc mà còn cố kết toàn dân thành một khối. Họ luôn biết lắng nghe kẻ sĩ, lắng nghe dân.

Biểu tượng cao nhất là Hội nghị các bô lão ở điện Diên Hồng, khi quân thù đã sắp kéo 50 vạn hùng binh tràn vào biên ải nước ta. Các vua nhà Trần còn phân vân không biết có chống nổi giặc dữ, và không đo được lòng dân trước thế giặc. Vì thế các vua Thánh tông, Nhân tông liền họp các bô lão tiêu biểu trong cả nước để vấn kế. Và kết quả là đại biểu của toàn dân muôn người như một đòi triều đình: “quyết đánh!”.

Triều đình đã lắng nghe và chấp hành nguyện vọng của toàn dân, nên đã tạo ra được sức mạnh siêu thần nhập hóa, đánh bại đội quân xâm lược khổng lồ mà trước đó nó chưa biết mùi chiến bại. Thậm chí các nước khổng lồ như Nga, Trung Hoa đều đã gục ngã, quy hàng và cam chịu cho người Mông Cổ đặt ánh thống trị.

Vậy là các bài học của hai thời đại Lý - Trần để lại cho hậu thế là chính quyền phải vì dân và biết lắng nghe kẻ sĩ, lắng nghe dân thì muôn việc dù khó khăn, nguy nan đến mấy cũng đều có thể vượt thoát được.

Trái lại nhà Hồ vừa độc tài chuyên chế, vừa khinh dân, khinh nhờn kẻ sĩ, phớt lờ quyền lợi và nguyện vọng của người dân, thì dù có xây thành đá, rốt cuộc cũng không tìm được nơi ẩn nấp. Và chỉ mấy tháng sau khi giặc Minh vào cõi, cả ba cha con Hồ Quý Ly đều bị bắt làm tù binh.

Nước mất là bởi chính quyền nhà Hồ đã tước đoạt hết quyền làm chủ của người dân, khi ấy nước không còn là của dân nữa, thì dân cũng không chứa cái thứ chính quyền đã phản bội họ. Vì vậy nhà Hồ tựa như cái cây đã bật hết rễ ra khỏi lòng đất. Đất không nuôi dưỡng nữa, nó phải chết.

Vâng thưa ông, trên đây tôi chỉ đưa ra vài ví dụ, thực ra các bài học lịch sử do hai thời đại Lý - Trần để lại cho dân tộc ta nhiều vô kể, và đều thuộc hàng kinh điển cả. Cái kho tàng kinh nghiệm đầy trí tuệ ấy, nếu biết khai thác và khiêm tốn áp dụng một cách minh mẫn, chắc chắn chúng ta sẽ có trí khôn và sức mạnh tăng lên gấp nhiều lần, và không một kẻ thù nào dám coi thường dân tộc ta.

Tiếc thay, như mọi người đều biết rằng bài học lớn nhất của lịch sử, là người ta đã không chịu rút ra từ lịch sử những bài học. Vì vậy, dân tộc ta đã và đang phải trả giá quá đắt về sự ngạo mạn cùng với tội bất kính tổ tông.

PV: Trong những bài học đó, bài học nào là đáng giá nhất và bài học nào là đắt giá nhất?

NV. HQH: Theo tôi, bài học đáng giá nhất là nhà Trần đã thuận theo lòng dân nên giữ được nước, làm cho dân tộc ta ngẩng cao đầu và kiêu hãnh trước kẻ thù hùng mạnh nhất thời đại.

Và bài học đắt giá nhất là nhà Hồ làm trái lòng dân, trái đạo lý, chuyên quyền và tàn bạo nên để mất nước về tay quân thù.

PV: Thưa nhà văn, nghiên cứu thời đại Lý – Trần, chắc là ông đã đọc, nghiên cứu văn học của thời đại này rất nhiều. Những thâu nhận từ nền văn học này đã giúp ông trong quá trình tái tạo chính lịch sử thời đại này bằng văn học như thế nào?

NV. HQH: Thưa ông, văn học thời Lý -Trần có vẻ đẹp mà không thời nào có được. Trước hết là giá trị mỹ học. Tiếp đó là sự hào sảng khoáng đạt, ung dung tự tại, với vẻ thâm trầm uẩn ảo, toát ra từ cốt cách của một nền văn hóa ở tầng cao trí tuệ.

Tiếp thu tinh hoa đó, và tôi đã chuyển tải tinh thần đó vào trong hai bộ tiểu thuyết lịch sử “Tám triều vua Lý” và “Bão táp triều Trần”. Tuy nhiên, trình độ có hạn, nên dung lượng được chuyển tải bị hạn chế nhiều.

PV: Câu cuối chúng tôi muốn hỏi nhà văn là trong viết tiểu thuyết lịch sử thì cần nhất điều gì và kiêng kị nhất điều gì?

NV. HQH: Thưa ông, điều cần thiết đối với người viết tiểu thuyết lịch sử là phải giữ được cái tâm trong sáng, phải trung thực và phải biết nâng niu những giá trị do lịch sử để lại. Và điều kiêng kỵ nhất đối với người viết tiểu thuyết lịch sử là không được đem tà tâm gửi vào lịch sử.

PV: Cảm ơn ông rất nhiều về cuộc trao đổi hôm nay. Hy vọng chúng ta sẽ có những trao đổi trong thời gian tới.

____________________

• Phan Thắng thực hiện

MỞ CÁNH CỬA KHÔNG

Tu thiền để dừng lặng tâm lăng xăng. Tâm lăng xăng lặng xuống thì tâm chân thật hiện đủ. Đó là giác. Giác bằng cách thực hiện ngay nơi mình, chứ không phải tìm kiếm ở đâu khác.

 

Muốn bước vào cửa thiền trước tiên phải thâm nhập lý Bát-nhã. Lý Bát-nhã còn được gọi là cửa Không. Sắc tức thị không, không tức thị sắc. Tại sao chúng ta tu thiền phải đi từ cửa Không? Vì nếu thấy thân này thật, đối với ngoại cảnh, từ con người cho tới muôn vật, chúng ta đều thấy thật hết thì tâm sẽ chạy theo nó.


Bây giờ, muốn tâm không chạy theo, chúng ta phải quán sát kỹ tất cả sự vật ở ngoài cũng do duyên hợp, không thật. Cái nhà từ khoảnh đất trống, ta dựng cây cối, gạch ngói v.v… để thành cái nhà. Do vậy cái nhà là tướng duyên hợp. Do duyên hợp nên có ngày nó phải bại hoại, tường vách đổ sụp. Những gì duyên hợp đều hư dối. Từ cái nhà cho đến mọi sự mọi vật, có thứ nào không phải duyên hợp đâu, nên chúng sẽ đi đến bại hoại. Biết rõ như vậy mới không dính mắc với cảnh bên ngoài. Không dính mắc ngoại cảnh thì tâm mới an định, còn dính mắc thì không bao giờ an định.

Thí dụ chúng ta vừa mới to tiếng với ai đó chừng nửa giờ, bây giờ vô ngồi thiền có yên không? Vừa ngồi vừa tiếp tục cãi, không cãi bằng miệng mà cãi bằng tâm. Họ nói câu đó là sao? Mình phải trả lời sao cho xứng v.v… cứ ôn tới ôn lui hoài. Vì chúng ta thấy câu nói thật nên không bỏ được. Nếu ta quán con người đó không thật thì lời nói của họ có thật đâu, tất cả là chuyện rỗng, có gì quan trọng. Thấy vậy liền buông nhẹ. Buông được thì ngồi thiền mới yên. Cho nên trước tiên bước vào cửa thiền, chúng ta phải đi từ lý Bát-nhã, dẹp bỏ tất cả những cố chấp của mình.

Kinh Bát-nhã nói “Sắc tức là Không, Không tức là Sắc” nghĩa thế nào? Như bình hoa trước mắt chúng ta, nếu bỏ mấy cọng hoa mỗi nơi mỗi cái thì bình hoa không còn. “Bình hoa” là giả danh, do đủ duyên hợp lại mới có, nếu thiếu duyên bình hoa không còn nữa. Nên nói thể bình hoa là không, do duyên hợp tạm có. Ngay nơi bình hoa chúng ta biết tánh nó là không. Tuy tánh không nhưng đủ duyên hợp lại thì thành bình hoa.

Như vậy lý không ở đây không phải không ngơ, mà là không có chủ thể cố định. Duyên hợp tạm có, duyên ly tán trở về không. Hoa khi phân tán khắp nơi, chỉ còn lại bình không, nếu ta cắm vào đó các hoa khác thì có bình hoa trở lại, nên nói “không tức là sắc”. Rõ ràng sắc và không đều không thật. Nói sắc nói không nhằm chỉ ra lý duyên hợp, đủ duyên thì không biến thành sắc, thiếu duyên thì sắc biến thành không. Nên ngay khi duyên hợp, tánh nó vẫn là không. Vì vậy kinh Bát-nhã nói không nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, không sắc, thanh, hương… Không là nói đến thể của tất cả các pháp. Tất cả pháp chỉ có giả danh, không có thật thể.

Từ đó chúng ta dùng trí quán xét hết các sự vật bên ngoài đều là duyên hợp tánh không. Biết như thế là tỉnh, hết mê. Biết lý tánh không rồi, chúng ta mới bỏ được vọng tưởng điên đảo, các vị Bồ-tát mới có thể tu hành tiến lên thành Phật. Dùng trí tuệ Bát-nhã tức là dùng thanh kiếm bén ruồng hết sáu trần, không chấp không kẹt. Không chấp thì ngồi thiền êm ru, không nghĩ, không tính. Vừa chợt nhớ gì liền tự nhắc “Nó giả dối, có thật đâu mà nhớ”.

Thế nên bước vào cửa Không phải thấy rõ: Một, tất cả cảnh sắc đều hư dối, tự tánh là không. Hai, thân tứ đại duyên hợp hư dối, tự tánh là không. Ba, tâm vọng tưởng sanh diệt hư dối, tự tánh là không. Biết ba cái đó không thật rồi, chúng ta phải tìm cho ra cái chân thật. Đây là chỗ thiết yếu hành giả tu thiền cần phải biết. Cái thật đó lâu nay chúng ta không nhớ không biết nên chạy theo trăm thứ đảo điên. Bây giờ phải nhớ để nhận ra và sống lại với cái chân thật của chính mình, thì mới chấm dứt sanh tử và đau khổ.

Như câu chuyện Đức Phật kể trong kinh Lăng Nghiêm: Một buổi sáng, có anh chàng Diễn Nhã Đạt Đa đứng trước gương soi mặt, anh thấy mặt mày mình hiện rõ trong đó. Khi úp gương xuống, anh không thấy mặt mình nữa, liền chạy la hoảng: “Tôi mất đầu rồi. Tôi mất đầu rồi!”. Phật nói Diễn Nhã Đạt Đa ôm đầu chạy la mất đầu, có phải điên không? Tại sao anh điên? Vì anh lầm bóng trong gương là đầu thật, nên quên mất đầu thật của mình.

Chúng ta có giống Diễn Nhã Đạt Đa không? Khi nghĩ suy ta thầm cho đó là “tâm tôi”, khi không nghĩ suy thì không có tâm. Nghĩ suy là bóng, mình nghĩ về người thì bóng người hiện ra, nghĩ về vật bóng vật hiện ra. Hết nghĩ suy thì tâm lặng, rõ ràng chúng ta có cái thật nhưng lại không thấy, chỉ thấy toàn là bóng. Vì nhận bóng là mình nên quên cái thật, giống như Diễn Nhã Đạt Đa nhớ bóng quên đầu, đó là điên. Tâm thật luôn có mặt trong hiện tại, không bao giờ vắng thiếu mà ta lại không nhận, đi nhận những thứ lăng xăng chợt có chợt không là tâm mình, như vậy không phải điên là gì?

Chúng ta có cái thấy nghe rõ ràng mà không cần suy nghĩ. Đó là cái chân thật hiện tiền, không động, có sẵn nơi mỗi người. Chỉ vì lâu nay mình cứ cho nghĩ suy là tâm nên quên mất tâm thật. Chấp thân là mình, chấp suy nghĩ phân biệt làm tâm mình, đó là gốc luân hồi sanh tử. Muốn ra khỏi luân hồi sanh tử phải bỏ hết các thứ chấp ấy đi. Muốn bỏ cũng phải tập, bỏ hoài bỏ hoài, lâu ngày mới hết.

Cũng vậy, những vui buồn chúng ta đem ra kể cho cha mẹ nghe là khắng vào tâm não một lần, kể cho anh em nghe là khắng thêm hai lần. Cứ thế kể cho bạn bè, bà con láng giềng nghe, ôn đi ôn lại càng nhiều thì thấm càng sâu trong tâm não. Vì vậy khi ngồi yên nó trồi lên, ta “bỏ” chẳng bao lâu nó trồi lên nữa, ta than phiền tại sao bỏ hoài không hết ? Mình thu vô một trăm lần thì đuổi ra ít nhất cũng phải tám, chín chục lần mới hết chứ. Sao lúc thu vô nhiều không than phiền, khi đuổi lâu hết lại không chịu. Có phải mình vô lý không?

Những buồn đau, giận hờn… xảy đến ta cứ chứa chấp sâu trong kho tàng thức, bây giờ muốn loại trừ phải từ từ. Năm này một ít, năm kia một ít nó mới sạch, chứ không phải một lần sạch liền. Vì vậy ngồi thiền là cốt loại những bóng dáng của quá khứ còn lưu lại trong tâm, khiến nó tan mất đi. Chúng hết rồi thì cái chân thật hiện tiền, hằng tri hằng giác của mình hiện bày. Tri giác ấy là tánh Phật. Chư Phật ra đời mục đích để chỉ dạy cho chúng ta bấy nhiêu đó thôi.

Nhận ra tánh Phật hằng tri hằng giác, không suy nghĩ, không thương ghét, không hơn thua là dứt tạo nghiệp thiện ác. Không tạo nghiệp thiện ác thì đâu có luân hồi sanh tử. Đó là nhân giải thoát. Như vậy tu là giác ngộ, biết mình có cái thật phải nhận lại, cái giả bỏ đi. Bỏ được những thứ hư dối, sống hoàn toàn với tâm chân thật là giác ngộ. Giác ngộ là giải thoát sanh tử.

Chúng ta cứ đúng theo đạo lý Phật dạy mà tu. Tu lâu ngày mọi thứ khổ đau mê lầm sẽ giảm. Khi nào hết mê lầm tức là chúng ta giác ngộ viên mãn. Như vậy mới xứng đáng là Phật tử tức con của Phật. Tu là để giải thoát sanh tử, chứ không phải cứ đi mãi trong mê lầm. Vì vậy Phật tử gặp Phật pháp, được quý thầy nhắc nhở tu hành là có phước lớn, chứ không phải thường. Nếu không sẽ chìm mãi trong biển khổ sanh tử, đeo đuổi theo những thứ tạm bợ của thế gian, chịu nhiều đau khổ không biết đến bao giờ mới hết!

Mong tất cả hiểu được mục đích tu hành của mình để đạt được kết quả như sở nguyện.

 

_________________


• HT. Thích Thanh Từ

Nguồn: giacngo.vn

TÌM HIỂU VỀ TRÀO LƯU TỊNH ĐỘ TẠI VIỆT NAM

Qua thực tế sinh hoạt tâm linh, tín ngưỡng của Phật giáo Việt Nam hiện nay, có thể thấy rằng dấu ấn của pháp môn Tịnh độ là hết sức sâu đậm. Đây là một trong những vấn đề đáng quan tâm và cần sự nghiên cứu một cách kỹ lưỡng để xác định truyền thống tu học của người Phật tử Việt Nam, nhằm xây dựng các nguyên tắc tổ chức trong các tự viện nói riêng và đời sống tín ngưỡng, tu học của người Phật tử nói chung một cách hiệu quả, phù hợp với tâm lý, bối cảnh văn hóa và truyền thống của dân tộc. Vậy tư tưởng Tịnh độ du nhập Việt Nam bao giờ, phát triển ra sao và có đặc điểm gì, trong bài viết này, chúng tôi sẽ bước đầu tìm hiểu về những vấn đề trên qua các tư liệu hiện có.


1. Sự du nhập và phát triển của tín ngưỡng Tịnh độ tại Việt Nam

Danh hiệu của Đức Phật A Di Đà được nhắc đến sớm nhất trong lịch sử Phật giáo VN là ở Cựu tạp thí dụ kinh, truyện 60. Pháp môn niệm Phật cũng đã được đề cập trong Lục độ tập kinh do Khương Tăng Hội (?-280) dịch sang chữ Hán. Đây là những bộ kinh xưa nhất lưu hành tại Việt Nam hiện biết được. Như vậy, ngay từ rất sớm, vào trước thế kỷ thứ III, trong khuynh hướng tư tưởng Phật giáo Đại thừa được giới thiệu tại nước ta, người Phật tử Việt Nam cũng đã bước đầu được tiếp xúc với tín ngưỡng Tịnh độ (A Di Đà). Tư tưởng này đã đi vào đời sống tu tập của người Phật tử và trở thành một trong những trào lưu lớn mạnh ở thế kỷ thứ V với sự có mặt của các bản kinh quan trọng làm nền tảng cho nó là Vô lượng thọ (Quán thọ), (1) do sư Đàm Hoằng (?-455), một vị Tăng người Trung Quốc chuyên hành trì pháp môn Tịnh độ với ước nguyện vãng sinh Cực Lạc, đến việt Nam tu học tại nước ta truyền bá.

Theo Cao tăng truyện của Huệ Hạo, sư Đàm Hoằng (Thích Đàm Hoằng) người Hoang Châu, Trung Quốc, xuất gia từ nhỏ, là người giới hạnh tinh nghiêm, sâu sắc về Luật bộ. Khoảng năm 423, sư đến nước ta, ở tại chùa Tiên Sơn, chuyên hành trì kinh Vô lượng thọ và Quán Vô lượng thọ. Năm 455 sư tự thiêu nhưng không thành vì giữa chừng học trò biết được và dập tắt lửa\. Sau đó, nhân cả thôn làng bận rộn vì gần có hội, cả chùa đều đi Phật sự, sư lén vào hang núi tự thiêu lần nữa\. Khi mọi người biết được đến nơi thì sư đã tịch. Tương truyền, hôm đó, dân làng nhìn thấy sư thân có sắc vàng, cỡi một con nai vàng, không nói năng gì mà đi về hướng Tây rất nhanh. Phật tử trong Tăng ngoài tục biết đó là điều thần dị nên thu nhặt tro xương, dựng tháp để tôn thờ.

Nguyên nhân sự tự thiêu của sư Đàm Hoằng là do đâu? Như chúng ta biết, vào thế kỷ thứ V, tại nước ta đang diễn ra một cuộc đấu tranh tư tưởng gay gắt. Nền tư tưởng Phật giáo quyền năng được thiết định mấy thế kỷ trước tỏ ra không còn sức thuyết phục trước bước phát triển của dân tộc, đặc biệt ở giai đoạn đấu tranh vận động cho sự ra đời của nhà nước độc lập Vạn Xuân. Những tranh luận này đã để lại cho chúng ta ngày nay tư liệu 6 lá thư giữa Lý Miễu và hai vị thầy của ông là các ngài Pháp Minh (k.370-460) và Đạo Cao (k.365-445), tranh luận xung quanh vấn đề tại sao nói Phật thần thông biến hóa nhưng người Phật tử không thấy chân hình của Ngài ở đời (nạn Phật bất kiến hình sự). Sự kiện tự thiêu của sư Đàm Hoằng xảy ra vào thời điểm cao trào của cuộc đấu tranh này và chắc chắn đó không phải là một trường hợp ngẫu nhiên. Thêm nữa, sư Đàm Hoằng tự thiêu là một sự kiện lớn thời bấy giờ. Bởi lẽ tiếng tăm của nó đã vang dội vượt ra ngoài nước ta, đến cả Trung Quốc và mấy trăm năm sau, Huệ Hạo đã ghi vào tác phẩm của mình là Cao tăng truyện. Phải chăng sự tự thiêu này, cùng với những tương truyền về việc dân làng thấy điều thần dị là một câu trả lời trong nỗ lực củng cố niềm tin đối với nền tư tưởng Phật giáo quyền năng, mà khuynh hướng Tịnh độ sư Đàm Hoằng chuyên tâm thực hành là một trong những đại biểu.

Như vậy, có thể nói rằng, ở thế kỷ thứ V, tư tưởng Tịnh độ đã phát triển và trở thành một trào lưu tại nước ta\. Đó cũng là giai đoạn quan trọng với sự lưu hành rộng rãi các bộ kinh căn bản của tư tưởng Tịnh độ mà chúng ta đã được biết qua tiểu sử của sư Đàm Hoằng, chùa Tiên Sơn. Tuy nhiên, giai đoạn tiếp theo, tức từ sau sư Đàm Hoằng đến nửa đầu thế kỷ thứ IX, chúng ta hiện không có tư liệu nào để lại đề cập đến Tịnh độ, mà mãi đến năm 826, nó mới được nhắc đến trong bài kệ của sư Vô Ngôn Thông (759?-826) nói cho đệ tử là sư Cảm Thành (?-860). Trong bài kệ có câu : "Tây Thiên là đất này, Đất này là Tây Thiên Ẩ" (Tây Thiên thử độ, Thử độ Tây Thiên Ẩ). Chữ Tây Thiên ở đây có thể hiểu theo hai nghĩa, chỉ cho thế giới Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà, đồng thời cũng có thể hiểu đó là nước Aán Độ, quê hương của Phật giáo.

Từ giữa thế kỷ thứ XI trở đi, khuynh hướng Tịnh độ được phổ biến rộng rãi, với sự hình thành của nhiều ngôi Tam bảo, đạo tràng Ẩ Đặc biệt là vào thờivua Lý Thánh Tông (1023-1072), nhà vua tuy thuộc thế hệ thứ 1 dòng thiền Thảo Đường, nhưng đã cho tạc một pho tượng Phật A Di Đà độc đáo có một không hai trong lịch sử nghệ thuật điêu khắc của dân tộc hiện nay vẫn còn (2) và cho dựng một ngôi tháp để thờ tại chùa Vạn Phúc. Ngoài ra, còn có tượng Phật A Di Đà do sư Trì Bát (1049-1117), người thuộc thế hệ thứ 12 của dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi, chủ trương tạo dựng năm 1099 (3), tượng A Di Đà trong hội đèn Quảng Chiếu trước Đoan Môn, được tạo lập để cầu nguyện cho hoàng hậu Linh Nhân siêu sinh Tịnh độ (4) v.vẨ Cùng với tín ngưỡng A Di Đà, tín ngưỡng Quán Thế Âm, vị Bồ tát thân cận của Phật A Di Đà, ở thời này cũng trở nên phổ biến. Từ giai đoạn này trở về sau, trên phương diện tín ngưỡng, trào lưu Tịnh độ đã thực sự có một vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa tâm linh của nhân dân ta.

Thế kỷ XII, qua một các tiểu truyện về các thiền sư được Thiền uyển tập anh ghi lại, chúng ta biết được có thiền sư mặc dù được coi là thuộc hệ truyền thừa của các thiền phái nhưng vẫn hành trì theo pháp môn này, chẳng hạn Thiền sư Tịnh Lực (1111-1175), thuộc thế hệ thứ 10 dòng thiền Vô Ngôn Thông, 12 thời thực hành sám hối và thâm nhập được pháp môn niệm Phật tam muội (5); Thiền sư Trì Bát "nhân tưởng niệm Phật A Di Đà ở thế giới Phương Tây Cực Lạc, nên đã phổ khuyến đạo tục, dựng một đạo tràng lớn " (6). Đến đời Trần, các nhà tư tưởng lớn như Tuệ Trung Thượng Sĩ, Trần Thái Tông Ẩ cũng bàn đến vấn đề niệm Phật. Tư tưởng Tịnh độ với cơ bản là quan niệm về Đức Phật A Di Đà và 48 lời nguyện của Ngài cũng được đặt ra trong các kỳ thi tuyển nhân tài do triều đình tổ chức mà hiện biết được qua bài thi của tiến sĩ Lê Ích Mộc (1459-?), kỳ thi năm 1502. Dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử do Trần Nhân tông chủ trương cũng có nói về Đức Phật A Di Đà và thế giới Cực Lạc, tuy ở một sắc thái khác, chúng tôi sẽ đề cập trong phần sau.

Sự phát triển này ngày mỗi mạnh mẽ, nhất là từ cuối thế kỷ XVI trở đi\. Nhiều tác phẩm về Tịnh độ được viết, phiên âm và chú giải nhằm cổ súy và truyền bá cho trào lưu này\. Có thể kể một vài tên tuổi như ngài Viên Văn (1590-1644) viết tác phẩm Bồ đề yếu nghĩa, thuyết minh về Tự tính Di Đà; thiền sư Minh Châu Hương Hải (1628-1708) phiên âm A Di Đà kinh sớ sao của ngài Châu Hoằng; thiền sư Chân Nguyên (1647-1726) với nhiều tác phẩm mang đặc điểm tư tưởng Tịnh độ của Trung Hoa như Phật tâm luận, Tịnh độ yếu nghĩa Ẩ, đặc biệt là đã cho thiết kế ba đài Liên hoa cửu phẩm làm pháp khí trong lễ nghi thực hành niệm Phật (7); thiền sư Tánh Thiên với Phổ khuyến niệm Phật, v.vẨ Sự phát triển đó được tiếp nối cho đến ngày nay, chúng ta có thể thấy tín ngưỡng và pháp môn niệm Phật A Di Đà cầu vãng sinh Cực lạc là một trong những khuynh hướng tín ngưỡng lớn, nếu không nói là chủ yếu, của Phật giáo nước ta hiện tại\. Tuy nhiên, quan niệm Tịnh độ của người Phật tử Việt Nam mang những điểm đặc thù, dẫu có sự ảnh hưởng nhưng vẫn khác biệt so với Tịnh độ tông của Trung Hoa hay của Nhật Bản.

2. Đặc điểm của trào lưu Tịnh độ tại Việt Nam

Nói "trào lưu" mà không phải là "tông phái", đây cũng là một trong những đặc điểm về sự phát triển của tư tưởng Tịnh độ tại Việt Nam.

Sự lưu hành của các bộ kinh quan trọng thuộc hệ tư tưởng Tịnh độ là Vô lượng thọ và quán Vô lượng thọ ở nước ta vào khoảng nửa đầu thế kỷ thứ V là một điều đáng chú ý, nó cho phép chúng ta nghĩ rằng Việt Nam thời bấy giờ có thể là một trung tâm Tịnh độ có tiếng tăm ở vùng Viễn Đông mà chùa Tiên Sơn, nơi sư Đàm Hoằng, một vị Tăng Trung Quốc chọn làm chỗ dừng chân tu tập, là một thí dụ. Bởi khi sư Đàm Hoằng đến chùa Tiên Sơn, sau năm 422, cách thời điểm thành lập Bạch Liên xã của ngài Huệ Viễn (334-416), người sáng lập Tịnh độ tông ở Trung Hoa, chỉ khoảng 20 năm (năm 402).

Tuy du nhập Việt Nam từ những thế kỷ đầu của kỷ nguyên Tây lịch, được phổ biến và trở thành một trong những trào lưu chủ yếu của đời sống tín ngưỡng của Phật giáo nước ta, và dẫu có lúc phát triển mạnh mẽ, nhưng tư tưởng Tịnh độ không như ở Trung Hoa và Nhật Bản, hình thành một tông phái với chủ trương, lịch sử truyền thừa chặt chẽ và độc lập, tách biệt với các tông phái khác như Thiền, Mật hay Luật tông. Ở nước ta, nó không đứng biệt lập và không hề thấy xảy ra những tranh luận với các hệ tư tưởng khác cũng như đấu tranh trong tự thân nó để phát triển. Vậy, đặc điểm chung của tư tưởng Tịnh độ tại nước ta là thế nào?

Để có một nhận định chính xác về điều này, chúng ta cần khảo sát và so sánh với Tịnh độ tông ở Trung Hoa và Nhật Bản. Tuy nhiên, ở khuôn khổ một bài báo, chúng tôi không tiện làm việc đó và cũng không thể khảo sát sự phát triển, các mặt tư tưởng của trào lưu này ở các giai đoạn lịch sử, mà chỉ đưa ra vài nhận xét bước đầu qua một số quan niệm đặc thù mang tính chủ yếu mà thôi.

Như đã nói, từ thời vua Lý Thánh Tông, trào lưu Tịnh độ đã phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, các quan niệm bàn luận về A Di Đà và Tịnh độ thì mãi đến thế kỷ XIII mới được vua Trần Thái Tông (1218-1277) đề cập một cách chính thức. Trong sách Khoá hư lục, Trần Thái Tông đã có hẳn một đề mục là "Niệm Phật luận", bàn về những lợi ích của phương pháp niệm Phật. Nhà vua quan niệm con người có ba loại : thượng, trung và hạ trí. Bậc thượng trí thì tâm tức Phật, do đó pháp môn niệm Phật chỉ dành cho hai đối tượng là trung và hạ trí. Bên cạnh đó, cũng trong tác phẩm này, về phương diện thực hành, Trần Thái Tông cũng đã soạn "Lục thời sám hối khoa nghi" mà kính lễ Phật a Di Đà và các vị Bồ tát thân cận để sám hối nghiệp chướng là chủ yếu\. tự tính Di Đà và Tịnh độ được Trần Thái Tông quan niệm chỉ có ở ngay hiện tiền, trong tâm của con người này mà không phải thuộc một quốc độ khác tồn tại ngoài thế gian. Quan điểm đó cũng thống nhất trong các tác phẩm của Tuệ Trung Thượng Sĩ (1230-1291) và Trần Nhân Tông (1258-1308) (8). Như vậy, trên mặt lý luận, quan niệm Tịnh độ ở đây được nhìn và giải thích theo đôi mắt thiền. Đấy là một trong những đặc điểm của trào lưu Tịnh độ ở giai đoạn thời Trần nói riêng và cũng là một trong những đặc điểm căn bản trên phương diện lý luận của tư tưởng Tịnh độ tại Việt Nam nói chung.

Sau đó, từ thế kỷ XVII trở đi, tư tưởng Tịnh độ tông Trung Hoa cũng đã được giới thiệu và truyền bá ở nước ta, bắt đầu là sư Viên Văn Chuyết Chuyết (1590-1644) với tác phẩm Bồ đề yếu nghĩa, Minh Châu Hương Hải với A Di Đà kinh sớ sao, tư tưởng của ngài Châu Hoằng qua sự giới thiệu của sư Chân Nguyên Ẩ Những mô tả về sự toàn thiện của thế giới Cực lạc, chủ trương niệm Phật để nhẹ nghiệp chướng được phước đức trong đời này, vãng sinh về thế giới Cực lạc sau khi chết cũng được truyền bá rộng rãi, phù hợp với nhu cầu tâm linh, tín ngưỡng của đông đảo quần chúng Phật tử, nhất là cuối thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX,

khi đất nước ta đang rơi vào một hoàn cảnh bị xâm lược, đời sống nhân dân cơ cực lầm than dưới sự đô hộ khắc nghiệt của thực dân Pháp (9). Cũng trong giai đoạn này, nhiều nhóm chuyên thực hành niệm Phật (Liên Trì xã, Niệm Phật liên xã ) được thành lập khắp nơi trong nước. Dấu ấn của cao trào này được thấy qua Phổ khuyến niệm Phật của Thiền sư Tánh Thiên (1784-1847), các tác phẩm của thiền sư Toàn Nhật (1755-1832), Phật Thầy Tây An Ố Đoàn Minh Huyên (1807-1856), các sư Tâm Truyền (1832-1911), Phước Huệ (1875-1863) v..v...

Tóm lại, trào lưu Tịnh độ ở nước ta dẫu có một lịch sử lâu dài nhưng không tự thân phát triển thành một tông phái, không có vị trí độc lập, tách biệt với các pháp môn khác; đồng thời cũng không phong phú trong lý luận và phương pháp thực hành như Tịnh độ tông Trung Hoa hay Nhật Bản. Ở phương diện lý luận, Đức Phật A Di Đà chủ yếu được quan niệm như một mẫu hình con người lý tưởng tuyệt đối và phương pháp thực hành nổi bật gần như duy nhất là phương pháp niệm Phật. Sự không tách biệt độc lập này, có lẽ thuộc về đặc tính của dân tộc ta, cũng như đã thấy trong truyền thống Phật giáo Việt Nam, qua sự ra đời, sinh hoạt và truyền thừa của các dòng thiền. Dẫu là thiền sư, nhưng trong thực hành tâm linh thì vẫn trì tụng thần chú và niệm danh hiệu Phật. Trường hợp các thiền sư Lý Thánh Tông, Tịnh Lực, Trì Bát, Trần Nhân Tông v..v... đã nói sơ lược trên có thể xem là những tiêu biểu.

Tư tưởng Tịnh độ cũng đã có những ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tâm linh, văn hoá, tín ngưỡng của Phật giáo Việt Nam nói riêng và của dân tộc ta nói chung, đặc biệt là trong lĩnh vực nghệ thuật (văn học, kiến trúc, điêu khắc.). Chúng tôi hy vọng sẽ giới thiệu đến độc giả những ảnh hưởng này một cách tập trung hơn vào dịp khác, nhằm góp phần vào việc tìm hiểu những điểm đặc thù của tư tưởng và phương pháp thực hành tâm linh trong truyền thống Phật giáo Việt Nam.

1. Vô lượng thọ kinh chủ yếu trình bày những tiền thân của Đức Phật A Di Đà và 48 lời nguyện lớn của Ngài khi chưa thành Phật, khi còn là một tỳ kheo có tên là Pháp Tạng (Dharmakara). Quán vô lượng thọ chủ yếu nói về 16 phép quán liên hệ đến thế giới của Đức Phật A Di Đà và các vị Bồ tát Quán Thế Âm, Đại Thế Chí.
2. Tượng được tạc vào năm 1066, hiện được thờ tại chuà Phật Tích (Vạn Phúc tự), thuộc tỉnh Bắc Ninh.

3. Chuà Một Mái, tức chùa Hoàng Kim, nay thuộc xã Hoàng Ngô, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây.

4. Theo văn bia tháp Sùng Thiện Diên Linh ở chùa Đọi.

5. Xem tiểu truyện Thiền sư Tịnh lực, trong Lê Mạnh Thát, Nghiên cứu về Thiền Uyển Tập Anh, Nxb. TPHCM, 1999, trang 223.

6. Theo những dòng chữ khắc trên bệ tượng hình sư tử đội tòa sen ở chùa Một Mái, xã Hoàng Ngô, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây

7. Một trong các đài Liên hoa cửu phẩm đó hiện còn tại chùa Bút Tháp (Ninh Phúc tự), tỉnh Bắc Ninh.

8. Trong bài phú nổi tiếng nói lên chủ trương của dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử : "Cư trần lạc đạo phú", ngài Trần Nhân Tông đã viết : "Tịnh độ là lòng trong sạch, chớ còn hỏi đến Tây phương, Di Đà là tính sáng soi, mựa phải nhọc tìm về Cực Lạc.".

9. Chẳng hạn, trong Phổ khuyến niệm Phật, thiền sư Tánh Thiên đã viết :

"Niệm Phật tội nghiệp tiêu khô
Như sương tan nắng như hồ nước trong
Niệm Phật để đặng tấm lòng
Kẻo mà trắc ẩn mắc vòng gian nan
Niệm Phật Cực lạc hân hoan
Ta bà khổ não giàu sang mấy hồi

 

________________________


• Thích Tâm Hải

Nguồn: thuvienhoasen.org

TÂM PHẬT HAY TÂM MA

Có một chàng nghệ nhân rất nỗi tiếng vì tài năng của mình, nhưng anh ta lúc nào cũng tỏ vẻ khó chịu vì muốn tạc một tượng Phật và ma quỷ. Thực tế thì anh chưa tìm ra hình mẫu lý tưởng nào cho phù hợp với ước muốn của mình, trong lúc đang suy tư tìm tòi thì có một người bạn rủ đi chùa lễ Phật. Anh ta hỏi, Phật ở đâu. Người bạn nói đi thì biết. Một cơ hội ngẫu nhiên anh ta cùng bạn đến chùa lễ Phật, được vị sư trụ trì tiếp đãi, với phong cách trang nghiêm, điềm đạm và có vẻ tự tại trong cuộc sống nên đã hấp dẫn anh nghệ nhân.

Lần đầu tiên được gặp vị sư, anh ta hoan hỷ phát tâm cúng dường một số tiền lớn với điều kiện, ngài phải làm người mẫu để anh ta tạc tượng. Bức tượng đã làm xong trong thời gian ngắn, ai nhìn qua cũng trầm trồ khen ngợi vì phong thái trang nghiêm trong sáng lạ thường. Ai được thấy cũng đều quỳ xuống đảnh lễ với tâm cung kính hết sức chân thành. Từ đó về sau không ai còn gọi anh ta là nghệ nhân nữa, mà gọi anh ta là bậc Thánh tượng.

Tiếp theo đó anh ta chuẩn bị công trình tạc tượng ma quỷ, nhưng hình dáng của ma quỷ ở đâu để anh tạc đây, đó là vấn đề nan giải. Phải mất một thời gian dài để tìm người nào hung dữ nhất, nhưng không có người nào có hình dáng làm anh vừa ý. Cuối cùng anh cũng tìm được người như ý muốn đang ở trong tù, với tội giết người đang chờ bản án tử hình. Anh rất phấn khởi vì tìm được một người giống ma quỷ đâu phải dễ, nên khi đối diện với tử tù để chuẩn bị tạc tượng, tên tử tù khóc rống lên như đưa ma mẹ. Anh nghệ nhân ngạc nhiên hỏi, bộ ông sợ chết hả. Ngươi có nhớ ta không, lần trước tạc tượng Phật lấy ta làm mẫu, giờ tạc tượng ma cũng lấy ta làm mẫu, sao lại oan gia trái chủ như thế này.

Ngươi tự nhiên, biến ta từ Phật thành ma quỷ liền. Anh nghệ nhân nói, sao có chuyện lạ kỳ như vậy, chỉ trong một thời gian ngắn. Tôi khi trước tạc tượng Phật lấy hình dáng ngài làm chuẩn, với phong thái siêu phàm thoát tục, còn ông bây giờ hãy xem lại hình dáng của mình đi, thật đáng giống ma quỷ quá trời. Ông không biết đó sao, vì trước kia ông cúng cho ta một số tiền quá lớn, nên ta không kiềm chế được bản thân, do đó vui chơi trác táng rơi vào nghiện ngập ma túy, cuối cùng tiền hết tật mang. Ta vì không chịu nỗi cơn nghiện hoành hành, nên túng thế đi cướp giựt của người khác và phạm tội cướp của giết người, giờ phải chịu bản án tử hình chờ ngày xử trảm. Giờ đây ta vì buồn rầu, lo sợ, tiếc nuối thân mạng nên không ăn, không ngủ được mà ra nông nỗi này. Anh nghệ nhân nghe lời trình bày thống thiết đó cảm thấy xúc động nghẹn ngào, không ngờ bản tính con người thay đổi quá nhanh, vì chút đam mê dục vọng thấp hèn mà thân tàn ma dại như thế này.

Anh ta mắt thấy tai nghe sự thật quá phủ phàng, nên không còn tâm huyết làm việc nữa quyết định từ bỏ nghề nghiệp này, do đó bức tượng ma quỷ dang dỡ không thành. Vì vậy cho đến ngày hôm nay, không ai biết chính xác về tướng trạng của ma quỷ như thế nào. Chỉ biết rằng nếu tâm tư suy nghĩ xấu ác và hành động vô lương tâm luôn làm hại người, hại vật, làm khổ đau cho thiên hạ thì ma quỷ hiện tiền. Ngược lại nếu tâm trong sáng thanh tịnh không chút bợn nhơ hay làm việc thánh thiện giúp người, cứu vật, thì Phật hiện tiền, Phật hay ma cũng từ tâm niệm tốt xấu của chính mình tạo ra.

Vị sư ở câu chuyện trên trước kia nhờ nương thầy lành bạn tốt, nên có nhân duyên xuất gia tu hành thanh tịnh do đó phát ra tướng tốt giống Phật, nhưng vì ỷ lại mình đã thành tựu đạo pháp nên mặc tình ăn chơi dong ruỗi, lấy phòng trà tửu điếm làm bạn, để rồi bị dòng đời cuốn trôi và cuối cùng phải chịu thân tàn ma dại chờ ngày xử án. Tâm Phật hay ma chỉ trong một niệm, nếu ta huân tập tâm ma thì hiện hình ma, nếu ta biết gieo trồng hạt giống Phật, thì Phật có mặt khắp nơi. Tâm Phật hay ma là do chính mình tạo lấy, không có một đấng quyền năng hay một phép lạ nào làm cho ta thành Phật hay thành ma. Trong thiền sử Trung Hoa có câu chuyện hết sức thú vị cũng nói về ma với Phật. Cư sĩ Tô Đông Pha một hôm đến chùa Kim Sơn để đàm đạo với thiền sư Phật Ấn.

Cư sĩ hỏi này thiền sư, ngài thấy tôi giống cái gì?

Ô, ông rất trang nghiêm, trông giống Phật hết sức.

Tô Đông Pha nghe xong cảm thấy hưng phấn và tâm đắc vô cùng.

Thiền sư Phật Ấn mới hỏi lại cư sĩ, ông thấy tôi giống cái gì?

Trông thiền sư giống một đống phân bò.

Thiền sư nghe xong, mà chỉ mỉm cười.

Cô em gái cắc cớ hỏi, hôm nay anh đánh cờ thắng thiền sư hả ?

Đâu phải, chuyện này mới quan trọng chớ. Anh đối đáp lý thiền. Cái lão già ấy không còn lý lẽ để nói, đành câm miệng lại.

Nghe kể xong, biết anh mình bị thất bại mà không biết. Anh thua rồi anh ơi.

Thua chỗ nào, em nói nghe coi.

Tâm của thiền sư như tâm Phật, cho nên nhìn anh chẳng khác gì Phật. Còn tâm anh như đống phân bò, cho nên nhìn thiền sư giống như phân bò.

Tô Đông Pha nghe nói vậy lấy làm hổ thẹn, vì biết mình hiểu thiền chỉ trên đầu môi chót lưỡi. Thiền sư, mới đúng thật là thiền sư.

Thiền không phải là hiểu biết suông, mà cần phải vận dụng vào trong thực tế đời sống hằng ngày. Không phải biện luận giỏi là trí tuệ sáng suốt Tô Đông Pha cứ nghĩ rằng đối đáp trôi chảy là chứng ngộ lý thiền, nhưng tâm ông ta còn ma mị nhiều quá thấy cái gì cũng đen tối hết, do đó cống cao ngã mạn sinh tâm coi thường Thiền sư. Nào ngờ mình chỉ hiểu thiền trong kiến thức tối đen, vậy mà dám ngông nghênh coi thường thiên hạ. Quả thật Tô Đông Pha có mắt như mù, may nhờ có cô em gái lanh lợi nên chặt cho anh ta một phát, bao nhiêu hiểu biết suông đều rơi rụng hết.

Trong cuộc hành trình trở về đất Phật, không phải ai cũng dễ dàng lãnh hội và sống được với chính mình. Tâm ta ma thì thấy ai cũng ma, tâm ta Phật thì thấy bầu trời quang đảng và trong sáng không ngần mé. Khi mới sinh ra con người bản tính vốn thiện, khi bắt đầu lớn lên tiếp xúc với cuộc đời thì nó sẽ phát triển theo hai hướng tốt hoặc xấu. Được thân cận gần gũi bậc thiện tri thức, thì con người có thể có một nhân cách sống đạo đức chừng mực và đi theo chiều hướng tốt đẹp. Ma hay Phật ngay nơi một tâm niệm, tâm thanh tịnh sáng suốt thì thấy biết rõ ràng không sai lệch và ngược lại thì thấy biết chạy theo điên đảo vọng tưởng vậy.

Muốn vượt qua phải trái cuộc đời, người con Phật cần nắm vững các nguyên tắc sau đây để làm kim chỉ nam trong cuộc sống.

Tình thương yêu là nguồn an ủi vô biên, giúp chúng sinh vượt qua biển khổ sông mê, song tình thương thế gian hoàn toàn còn giới hạn trong phạm vi gia đình nhỏ hẹp hoặc lớn hơn là đối với một đất nước. Chúng ta có một người bạn tốt để giúp con người vượt qua phải trái cuộc đời đó là từ, bi, hỷ, xả. Người bạn này luôn sát cánh và kề cận bên ta, chỉ vì chúng ta chẳng chịu thừa nhận nên lãng quên, đó thôi.

Từ có nghĩa là ban vui, Bi là cứu khổ. Từ bi là đem niềm vui đến và chia sẻ nỗi đau của nhân loại, bình đẳng không phân biệt kẻ oán người thù. Lòng từ này bao la không ngần mé, nên nó không giới hạn ở con người hay muôn vật.

Trong bài thơ của vua Trần Nhân Tông, có nói lên việc phải trái cuộc đời, giống như gió thoảng mây bay. Sau khi từ bỏ ngai vàng giao lại cho con, Ngài lên núi tu tập cảm nhận được niềm vui thật sự, do biết buông xả việc đời, nên tâm ngài thanh tịnh trong sáng mà cảm tác bài kệ:

Phải trái rụng theo hoa buổi sớm.

Danh lợi lạnh với trận mưa đêm.

Hoa tàn mưa tạnh non im vắng.

Xuân cỗi còn nguyên một tiếng chim.

( Hòa Thượng Thanh Từ dịch )

Việc đời lúc nào cũng như thế, không bao giờ có được những giây phút bình yên, hết chuyện này đến chuyện kia, việc phải, việc trái, việc đúng, việc sai, việc tốt, việc xấu, việc hơn, việc thua, suốt ngày cứ như thế và lúc nào cũng có mặt trong cuộc sống. Vua Trần Nhân Tông khi còn ở ngai vàng, mỗi ngày phải tiếp xúc và giải quyết biết bao chuyện thị phi phải quấy của thế nhân, thân thì sống hưởng đầy đủ lạc thú trên trần gian muốn gì được nấy, nhưng tâm thì phải bận rộn lo toan đủ thứ mọi chuyện rắc rối trong cuộc đời.

Giờ đi tu rồi cảm thấy hạnh phúc, an lạc, thảnh thơi, không còn bị dòng đời lôi cuốn và chi phối nữa, nên tâm tư ngài trong sáng thanh tịnh nhận biết rõ ràng bản chất thực hư của cuộc đời. Nếu chúng ta không thấy rõ được bản chất thực hư của nó, suốt ngày cứ dính mắc vào đó, để rồi gây thêm phiền muộn khổ đau cho nhau. Ngài thấy rõ ràng những niệm phải quấy, hơn thua, giống như những cánh hoa rơi rụng buổi sáng vậy. Bởi bản chất của hoa là sớm nở tối tàn nó không thực có, thấy phải thấy quấy là theo cách nhìn của người đời, vậy thì chúng ta chấp mắc vào đó làm chi cho thêm phiền muộn khổ đau. Còn tâm danh lợi cũng lạnh theo đám mưa đêm.

Ở đời ai cũng cầu mong làm sao có danh vọng địa vị lớn trong xã hội, đã có danh vọng thì quyền lực nắm trong tay và quyền lợi cũng được đi kèm theo, do đó khó có ai đủ can đảm để buông bỏ. Nhưng ông vua thiền sư Việt Nam Phật hoàng Trần Nhân Tông xem ngai vàng như dép rách, dám từ bỏ hết tất cả để lên núi tu hành. Còn chúng ta bây giờ có gì đâu, vậy mà cứ ôm hoài rồi than phân trách phận, đổ thừa tại bị thì là…. thật là đáng tội nghiệp quá chừng.

Thiền sư khi tu hành viên mãn rồi, thấy việc đời giống như những chiếc lá rơi, không có gì phải bận tâm lo lắng nên tham sân si, mạn, nghi, ác kiến không còn khả năng chi phối được nữa. Nhưng không phải đến đây là hết, không phải là gỗ đá, không phải là vật vô tri, không phải là không biết gì mà:

“ Hoa tàn mưa tạnh non im vắng,

Xuân cỗi còn nguyên một tiếng chim”.

Vẫn còn lại cái biết sáng suốt hằng giác, hằng tri, chứ đâu phải không còn gì hết. Cái biết này ngay nơi mắt vẫn nhìn thấy rõ ràng, xanh biết xanh, đỏ biết đỏ, vàng biết vàng, nhưng không bị nó làm biến dạng, làm méo mó, nó như thế nào thấy như thế đó, nên không dính mắc và bám víu vào một thứ nào hết, do đó cuộc sống khỏe ru, à. Có gì phải bận rộn lo lắng để dẫn đến khổ đau. Tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng lại như thế. Thiền sư nhìn đời như vậy đó, an lạc thảnh thơi làm sao đâu chỗ này tiền bạc, danh vọng, quyền lực có mua được không? Khi làm vua ngài có thiếu cái gì đâu, nếu không có an lạc và hạnh phúc thật sự, thì làm sao ngài nói lên được như thế và dám từ bỏ hết tất cả quyền lực thế gian!

Ngài tu một thời gian cảm nhận được đạo lý chân thật rồi xuống núi, khuyên mọi người hãy phá bỏ những tập tục mê tín dị đoan làm con người mất tự chủ, tự do trong cuộc sống. Ngài khuyên mọi người nên lánh ác làm lành, tin sâu nhân quả, làm lành được hưởng phước, làm ác chịu khổ đau, không ai có quyền ban phước giáng họa, chính mình là đấng tối cao của bao điều họa phúc. Cho nên chúng ta phải có trách nhiệm và bổn phận, yêu thương đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau trên tinh thần vô ngã vị tha.

Muốn vậy, người con Phật phải phát nguyện gìn giữ năm điều đạo đức. Không giết hại, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối hại người, không uống rượu say sưa và nghiện xì ke, ma túy và đưa các độc tố có hại vào cơ thể. Không giết người và hạn chế tối đa việc giết hại súc vật. Nhất là những tập tục giết hại súc vật để cúng tế quỷ thần, cúng tế thần linh. Người ưa giết hại có lòng từ bi hay không? Chắc chắn là không rồi, đã không có lòng từ bi thì làm sao giúp người cứu vật được. Phật đã mở cho chúng ta con đường sáng để vượt qua si mê tối tăm, đã thương thì không giết, đã giết thì không thương, người con Phật cần phải hiểu thấu đáo chỗ này để không bị lầm lẫn. Không được gian tham trộm cướp vậy trộm cướp có từ bi hay không? Dĩ nhiên là không rồi. Tài sản của cải làm ra được bằng công sức khó khổ của mình, thức khuya dậy sớm chắt chiu dành dụm từng ly, từng tí, làm mà chẳng dám ăn xài hoang phí. Đùng một cái, mọi thứ đều đội nón ra đi hỏi sao không buồn đau cho được!

Lòng từ bi là một chất liệu sống không thể thiếu trên cõi đời này, người sống với tâm từ nhờ đó thanh lọc và chuyển hóa những mưu sâu kế độc toan tính hại người, hại vật. Một người tu tâm từ, người người tu tâm từ thì thế gian này tràn ngập tình yêu thương. Nhân loại sẽ tránh được khổ đau do tâm từ được trải rộng ra, nên thế giới bớt xung đột, tranh chấp, hận thù và chiến tranh sẽ không bao giờ có mặt. Uống rượu say sưa, nghiện ngập ma túy và dùng các chất kích thích có hại cho sức khỏe, làm hủy diệt sự sáng suốt của con người, là căn bệnh trầm kha của thế kỷ thứ 21 này. Như thế, nhiều người dùng những thứ đó có từ bi không, hay đang lần hồi hủy diệt sự sống của con người đến bờ vực thẳm.

Đó là một trong những vấn nạn lớn nhất làm đau đầu thế giới con người. Lịch sử thời hoàng kim của đời Trần Việt Nam là một minh chứng hùng hồn, đã biết áp dụng tâm linh vào cuộc sống nên con người sống với nhau hiểu biết và thương yêu hơn. Không có những tệ nạn xã hội trầm trọng như ngày hôm nay, lòng từ bi luôn đi kèm với trí tuệ, mới có thể cứu giúp được nhân loại thoát ra chỗ si mê tối tăm bao đời kiếp. Niềm vui đích thực là biết cho ra, mà không đòi hỏi để được nhận lại, hoàn toàn không có tính vị kỷ bám víu của sự chấp ngã, mới thật sự bền vững và lâu dài.

Vậy chúng ta ứng dụng tu từ bi tâm bằng cách nào? Thứ nhất là quán tình thương thấy ai cũng là người thân, người thương của mình. Đã thương thì không oán trách, giận hờn, ghét bỏ, nhờ vậy chúng ta dễ dàng bao dung và tha thứ. Cứ mỗi ngày, sáng sớm thức dậy chúng ta nguyện cầu cho tất cả chúng sinh luôn được sống yêu thương và hiểu biết, dấn thân và phục vụ, với tinh thần vô ngã vị tha. Mỗi ngày sáng, trưa, chiều, tối, đều nên quán chiếu và cầu nguyện như vậy thì tâm từ bi của chúng ta ngày càng thêm rộng lớn.

Cách quán thứ hai thấy ai cũng là cha mẹ của mình, thường thì ai cũng kính trọng và yêu thương cha mẹ hết. Nên, quán tất cả chúng sinh là cha mẹ của mình, vì ân cha mẹ khó đáp đền công sinh thành dưỡng nuôi khó nhọc cho nên ai cũng thương yêu hiếu kính với cha mẹ, do đó không gây buồn phiền giận dỗi nên không làm đau khổ cho nhau. Nếu cuộc sống này tất cả mọi người đều như vậy hết, thì còn gì sung sướng và hạnh phúc cho bằng.

Tu tập lòng từ bi rất khó vì nó đi ngược lại lòng tham lam, sân giận, si mê của mọi người, muốn vậy trước tiên ta phải tập cảm thông nỗi khổ niềm đau của tất cả chúng sinh. Đầu tiên chúng ta tập cảm thông với người thân trước, kế đến những người cùng chung làm việc, rồi đến những người xa lạ không quen biết, cuối cùng là kẻ oán thù chuyên làm hại mình và tất cả muôn loài. Tập dần như vậy cho đến khi nào viên mãn mới thôi. Muốn được như thế chúng phải cố gắng buông xả tâm hại người hại vật, mở rộng tấm lòng bố thí cung kính cúng dường, giúp đỡ chia sẻ khi gặp người khó khăn hoạn nạn.

Đạo Phật là đạo của từ bi luôn mang yêu thương đến với muôn loài và sẵn sàng chia sẻ những nỗi khổ niềm đau, hầu giúp cho tất cả chúng sinh vượt qua biển khổ sông mê. Kính chúc mọi người luôn đem nước mát từ bi trải rộng khắp thế gian này, để tất cả chúng ta được sống yêu thương và hiểu biết.
_______________

Thích Đạt Ma Phổ Giác

Nguồn: thuvienhoasen.org

ƯNG VÔ SỞ TRỤ NHI SANH KỲ TÂM

Một lần nọ, tôi hỏi một vị Sư “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” có phải là câu hay nhất trong kinh Kim Cang không thì Sư nhẹ nhàng bảo không, trong kinh Kim Cang câu nào cũng hay cả! Quả thật dần dần tôi cũng thấy ra kinh Kim Cang chỗ nào cũng hay cả, mà hình như ngày càng hay hơn, nhất là khi… áp dụng vào đời sống hằng ngày, đúng như Edward Conze nói. Cách viết, cách trình bày từng chữ từng câu trong kinh Kim Cang chặt chẽ, thuyết phục và nói chung là… hấp dẫn! Tôi bị cuốn hút vào Kim Cang cũng như trước kia với Tâm Kinh. Tâm Kinh- dạy cho Xá Lợi Phất, một đại đệ tử thông tuệ, trí thức nhất của Phật- hình như là để trả lời rốt ráo cho câu hỏi Tại sao, mang tính lý thuyết; còn Kim Cang thì nói cho Tu Bồ Đề, vị đại đệ tử giải không đệ nhất, vô tranh, ưa tĩnh mịch, vốn xưa là người dễ nổi nóng, dễ giận hờn… là để trả lời cho câu hỏi Cách nào?, nhằm hướng dẫn thực hành. Dĩ nhiên những bài giảng này dành cho các đại đệ tử, hoặc các vị tu sĩ, không phải dành cho ta nên ta có lớ ngớ, bỡ ngỡ , chưng hửng cũng là chuyện bình thường thôi! Có điều, lớ ngớ, bỡ ngỡ, chưng hửng lại có cái hay của nó. Nó giúp ta tự thâm nhập, tự phát hiện, tham gia trong quá trình nghiền ngẫm, thử nghiệm, khi thấy tin được thì đem áp dụng vào đời sống hằng ngày để giải quyết những vướng mắc, phiền não chẳng cũng khóai ru? Chẳng hạn câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” mà ai cũng biết, ai cũng đọc như thần chú để an ủi cõi lòng mỗi khi phiền muộn , cũng là câu mà Lục tổ Huệ Năng hơn ngàn năm trước, chỉ nghe lóm mà đại ngộ cũng đáng cho ta nghiền ngẫm miệt mài lắm chứ! Đừng trụ vào đâu cả để mà sanh cái tâm thì sẽ…sướng, sẽ vui, sẽ hạnh phúc, sẽ thoát mọi “khổ đau ách nạn”. Thật ư?

Đừng trụ vào đâu cả? Đừng trụ vào đâu cả… ư? Ờ, mà có lý! Khi xem hai đội banh xa lạ đụng độ nhau, tôi súyt xoa thưởng thức những đường banh hay đẹp, nhưng khi một trong hai đội là… đội của tôi- tôi là “fan” của họ- thì ôi thôi tôi lo lắng, khổ sở, bực dọc đủ thứ với từng đường banh, từng cầu thủ, trọng tài. Tôi… nguyền rủa, la hét, xỉ vả, rồi mừng rỡ khi đội mình thắng hay ngậm ngùi cay đắng khi đội mình thua! Ăn mất ngon, ngủ mất yên vì cái đội banh… quái quỷ mà tôi thương mến!

Hai thiền sinh gặp một cô gái ở khúc sông sâu đang lúng túng không dám lội qua. Một vị tình nguyện cõng cô qua. Trên đường về chùa, vị kia bỗng hỏi:- Làm sao mà một ông sư lại dám cõng trên lưng một cô gái đẹp như vậy chớ? – Ơ hay, tôi đã “buông” cô ta xuống lâu rồi, còn anh sao vẫn cứ “cõng” cô ta đến bây giờ vậy!

Có nhiều cách cõng. Cõng cô gái là một cách, cõng cái ý tưởng về cõng cô gái là một cách khác. Cô gái thì đã đặt xuống rồi nhưng cái ý tưởng kia thì vẫn còn quấn quít mãi không thôi, có lẽ còn đi vào cả giấc mơ! Người kia thấy cô gái là cô gái, cần giúp thì giúp. Người nọ, thấy cô gái là cô gái…đẹp, băn khoăn tự hỏi có nên giúp hay không, giúp có phạm quy không, thậm chí còn bần thần “trăm năm biết có duyên gì hay không” nữa không chừng! Người cõng càng lâu thì càng mệt, càng sớm còng lưng! Nhưng đâu có dễ mà bỏ xuống chứ! Nghi Lâm tiểu sư muội cõng Lệnh Hồ huynh đệ bị thương ( truyện Kim Dung) có một phen mà tâm thần bấn lọan dài dài! Cho nên, Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm thật không dễ!

Phật dạy muốn không trụ vào đâu cả (vô sở trụ) thì phải ly tướng, rời bỏ các hình thức, hiện tượng bày vẻ bên ngòai, vượt qua hiện tựơng để thấy được cái thực chất bên trong. Ly được tất cả các tuớng đã xứng danh là Phật; thấy đựơc các tuớng chẳng phải tướng là đã thấy Như lai! Nhưng làm sao mà ly đây? Thế nên có người lên núi, làm một cái cốc… trong hang động để xa lánh sự đời! Nhưng vẫn chưa ổn chút nào vì cái tâm vẫn cứ còn quậy phá. Rõ ràng ở đây không phải vấn đề trốn chạy, vì chạy đi đâu cho thóat cái tâm chính mình, một khi tâm vẫn chưa an? Khi tâm đã an rồi thì đâu chẳng là… cốc, đâu chẳng là hang động? Cho nên có thể nói chuyển từ “ly tướng” bên ngoài đến… “ly tướng” bên trong là cả một sự chuyển hóa từ lượng sang chất.

“Thị cố, Tu Bồ Đề ! Chư Bồ tát Ma ha tát ưng như thị sanh thanh tịnh tâm…Bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ… Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm!”.

Vậy đó, Tu Bồ Đề! các vị Đại bồ tát làm như vậy đó mà có được tâm thanh tịnh! Làm như vậy đó là làm làm sao? Câu trả lời là rời khỏi các tướng, không còn phân biệt ngã nhân, chúng sanh, thọ giả, là tách rời mọi thứ hiện tượng, không để bị mà mắt, bị hút vào những chuyện lăng xăng, ý niệm ngôn từ nọ kia, làm cho người ta vướng mắc, vùng vẫy không ra như mắc vào lưới cá! Những vị Đại bồ tát đó đã thực hành bố thí kiểu mới, bố thí không dính mắc; trì giới, nhẫn nhục kiểu mới… và dĩ nhiên cũng đã có tuệ giác kiểu mới, vượt lên, vượt qua, vượt ra… Gaté, gaté, paragaté!

Kinh Duy Ma Cật kể có một lần kia, trong một buổi họp mặt giữa các vị Bồ tát, các vị đựơc người ta tung hoa đầy người – giống như các fan hâm mộ tung confetti vào thần tượng của mình bây giờ- thì đa số các vị người nào cũng bị dính, trừ các Đại bồ tát! Nên nhớ, các vị Đại…Bồ tát! Chớ còn Tiểu… bồ tát hoặc Bồ tát… sơ sơ thì có dính confetti chút đỉnh cũng không sao. Từ từ mà gỡ. Đừng nóng vội! Đại Bồ tát thì… trơn tuột, không còn cái gì có thể dính được nữa! Kim Cang viết thật súc tích, chặt chẽ: Vì Đại Bồ tát là những vị đã thật vô sở đắc, thật vô sở hành… Những chữ “thật” đó khiến ta không khỏi giật mình. Họ hiều lời Phật dạy là chiếc bè giúp qua sông; hiểu ngón tay Phật chỉ là để nhìn thấy trăng chớ không phải trăng… Tóm lại, tâm họ đã hoàn toàn “vô sở trụ”, không trụ vào đâu cả, không dính mắc vào đâu cả ! Không trụ vào đâu cả thì chỉ còn có một chỗ để trụ ấy là… tự tại! Quán Tự tại Bồ tát…hành thâm Bát nhã…!

“Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền”, Trần Nhân Tông, sư tổ Trúc Lâm đã nói đến cái vô tâm như vậy từ bảy trăm năm trước, còn Lục tổ Huệ Năng, thì hơn một ngàn ba trăm năm trước cũng đã nói đến vô niệm. Dĩ nhiên vô tâm không phải là không có tâm, không còn tâm, cũng như vô niệm không phải là không có niệm, không còn niệm. Vô niệm, vô tâm thực ra chỉ có nghĩa là cái tâm trong sáng, cái niệm thanh tịnh, đã hoàn toàn không còn phân biệt, không còn dính mắc (chấp trước). Trần Nhân Tông vẫn xuống núi, đánh đuổi quân Nguyên, nhưng khi xong giặc thì trở về núi tu tiếp, không “dính mắc” chi nữa! Còn Huệ Năng, “ngộ” rồi mà vẫn lẩn trong đám thợ săn hằng chục năm để tu rèn và giúp đỡ người. Cho nên tâm cứ sanh miễn là tâm thiện, tâm có ích cho mình, cho đời. “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” cũng chính là “Ưng sanh kỳ tâm nhi… vô sở trụ” vậy! Đâu có bảo phải dập tắt tâm đi, thui chột tâm đi, tiêu diệt tâm đi để trở thành sỏi đá hay người ngơ ngáo tâm thần sao? Mà “ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau”(TCS) kia mà!

Tu Bồ Đề hào hứng hỏi: Thưa Thế tôn, vậy xin hỏi kinh này có tên gọi là gì và phụng trì ra sao? Phật nói: Kinh này gọi là Kim Cang Bát nhã Balamật. Nói xong hình như Phật giật mình, coi chừng, không khéo họ lại… “trụ” vào nữa thì hỏng bét! Phật bèn nói tiếp: Bát Nhã Balamật không phải là Bát Nhã Balamật nên mới gọi là Bát Nhã Balamật vậy!
_____________________________________

GƯƠM BÁU TRAO TAY

HANDING DOWN the PRECIOUS SWORD

Tác giả: Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Nhà xuất bản Phương Đông 2008

Dịch giả: Diệu Hạnh Giao Trinh

Bản dịch Anh ngữ Gươm Báu Trao Tay (viết về kinh Kim Cang)

Nguồn: thuvienhoasen.org

CẦN KHAI THÁC THẾ MẠNH DU LỊCH TÂM LINH Ở HUẾ

Thừa Thiên - Huế là một trong số ít địa phương có rất nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch tâm linh, một loại hình du lịch hấp dẫn, đem lại giá trị kinh tế và làm phong phú thêm đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân.

Dâng hương đền thờ Phật hoàng Trần Nhân Tông

Trước tiên, Thừa Thiên - Huế là vùng đất có tới 55 vạn tín đồ Phật giáo với hơn 100 ngôi chùa, niệm phật đường, trong đó có nhiều Tổ đình như Từ Đàm, Thiên Mụ rất khang trang và bề thế. Từ sau khi được UNESCO công nhận là di sản thế giới, chùa Thiên Mụ đã được bảo tồn, tu bổ với tổng số vốn đầu tư là 27 tỷ đồng từ ngân sách nhà nước. Bên cạnh những công trình kiến trúc như tháp Phước Duyên, điện Đại Hùng, điện Địa Tạng, điện Quan Âm... cùng bia đá, chuông đồng, chùa Thiên Mụ còn có nhiều cổ vật quí không chỉ về mặt lịch sử mà cả về nghệ thuật, là điểm đến không thể thiếu trong hành trình đến Huế của du khách.

 

Hàng năm, lễ hội Điện Huệ Nam (còn gọi Lễ hội Điện Hòn Chén) được tổ chức vào tháng Ba và tháng Bảy Âm lịch tại ngôi điện nằm trên núi Ngọc Trản bên bờ sông Hương, thuộc xã Hương Thọ, thị xã Hương Trà, nơi thờ Thiên Y A Na Thánh Mẫu. Đây là lễ hội dân gian truyền thống được phục hồi theo các tập tục đậm màu sắc văn hóa dân gian địa phương, mang yếu tố văn hóa tâm linh, đề cao đạo hiếu, đạo làm người. Lễ hội bắt đầu từ việc rước Thánh Mẫu đi từ điện Huệ Nam tới đình làng Hải Cát trên những chiếc thuyền được ghép lại thành bè; với long kiệu Thánh Mẫu và hòm sắc vua phong, cùng các khí tự như tán, tàn, cờ, quạt, đội hầu bóng, những người phục dịch và khách hành hương. Từ đình làng Hải Cát, lễ cung nghinh Thánh Mẫu hồi loan về điện, sau đó diễn ra lễ phóng sanh, phóng đăng... sôi động trong tiếng nhạc của phường hát văn và phường bát âm, với sự tham dự của đông đảo bà con địa phương và du khách. Lễ hội thu hút hàng vạn người dân và du khách thập phương mỗi khi mở hội.

 

Từ năm 2008, tại Thừa Thiên - Huế còn hình thành thêm Trung tâm văn hóa Huyền Trân, tạo thành điểm du lịch văn hóa tâm linh hấp dẫn. Hàng năm, tỉnh Thừa Thiên - Huế lấy ngày 9 tháng Giêng Âm lịch (tức ngày 3/2) để tổ chức Lễ hội đền Huyền Trân. Cùng với ý nghĩa tri ân người có công mở nước, tạo lập vùng đất Thuận Hóa - Phú Xuân cách đây 700 năm trước, lễ hội đền Huyền Trân cũng là dịp quảng bá sản phẩm du lịch mới của tỉnh Thừa Thiên - Huế. Từ khi đưa vào hoạt động đến nay, mỗi ngày Trung tâm văn hóa Huyền Trân thu hút hàng ngàn lượt khách đến vãn cảnh và thắp hương tưởng niệm vị công chúa đã có công mở mang bờ cõi nước Việt.

Lễ hội Đền Huyền Trân Công chúa

Trung tâm văn hóa Huyền Trân được xây dựng nằm cách thành phố Huế 7km về phía tây, tại vùng núi Ngũ Phong thuộc xã Thủy An trên khuôn viên rộng 28 ha, có đồi núi thoai thoải, rừng thông xung quanh, bốn mặt là đồi núi trùng điệp. Không gian thâm nghiêm, kỳ vĩ, phù hợp với những công trình văn hóa mang tính tâm linh, về nguồn. Công trình bao gồm đền thờ và tượng đồng Huyền Trân công chúa, tháp chuông Hòa Bình, hệ thống đường đạo, công viên. Bên trong đền thờ Huyền Trân có pho tượng Công chúa Huyền Trân ngồi trên ngai được đúc bằng đồng. Tượng cao 2,37m, do các nghệ nhân đúc đồng nổi tiếng của phường Đúc, thành phố Huế cẩn tác. Phía sau là đền thờ đức vua Trần Nhân Tông - vị vua có công lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, có pho tượng nhà vua bằng đồng đỏ nguyên chất, cao 3m, nặng 2 tấn được đúc theo phiên bản lấy từ đền thờ các vua Trần tại Nam Định.

 

Trong tiếng nhạc dập dìu, tiếng chuông vọng ngân vang, sau khi thắp hương cầu nguyện Công chúa Huyền Trân và các bậc công thần khai quốc, đến với Trung tâm văn hóa Huyền Trân, du khách còn có dịp thả bước dưới những tán thông già. Ngắm nhìn tượng ni sư Hương Tràng, cầu nguyện ở tượng Di Lặc, bước lên 246 bậc cấp để chinh phục đỉnh núi Ngũ Phong và đến với tháp chuông Hòa Bình. Ở độ cao 108m, tháp chuông Hòa Bình với quả chuông đồng nguyên chất nặng 1,6 tấn, cao 2,16m, tiếng chuông ngân vang lan tỏa trong cõi thinh không tĩnh lặng để cầu nguyện cho sự an lành của mỗi con người, đúng như 8 chữ khắc trên mặt chuông: "Thế giới - Hòa Bình - Nhân loại- Hạnh phúc" cùng hình ảnh tượng trưng của 4 chùa: Giác Lâm (TP Hồ Chí Minh), Thiên Mụ (Huế), Diên Hựu (Hà Nội) và chùa Trúc Lâm Yên Tử (Quảng Ninh). Tất cả đã tạo nên một không gian rất đặc biệt, hướng du khách về với cội nguồn, về với lịch sử hào hùng của dân tộc và chiêm bái, tri ân người có công mở cõi.

 

Thực tế cho thấy, các điểm đến cho loại hình du lịch tâm linh ở Thừa Thiên - Huế đều được hình thành một cách tự nhiên, do sự tích hợp lâu dài của quá trình phát triển lịch sử, của đời sống kinh tế - xã hội, tín ngưỡng và tôn giáo.

___________________

Báo Tin tức - TTXVN

BIỂU TƯỢNG RỒNG Ở ĐỀN THỜ HUYỀN TRÂN CÔNG CHÚA

Công chúa Huyền Trân, người được coi là người khai sinh cho vùng đất Thuận Hóa - Phú Xuân, Thừa Thiên Huế ngày nay.

 

Chuyện kể rằng, vua Trần Nhân Tông sau khi đã truyền ngôi cho con là Trần Anh Tông, lên tu ở núi Yên Tử, mến cảnh núi sông thường hay đi du ngoạn các nơi. Một lần vào đến đất Chiêm Thành, đã hứa gả công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm Thành Jaya Simhavarman III (Chế Mân).

 

Vua Chế Mân dâng hai châu Ô, Lý (từ đèo Hải Vân Thừa Thiên đến phía bắc Quảng Trị ngày nay) làm sính lễ cưới công chúa Huyền Trân về nước.

 

Vâng mệnh vua cha Trần Nhân Tông, Huyền Trân đã gác tình riêng, gạt lệ xuống thuyền theo chồng, lập mối hòa hiếu và mở mang bờ cõi của đất nước về phương Nam. Đất Thuận Hóa - Phú Xuân - Thừa Thiên Huế cũng được khai sinh từ đó, đến nay đã hơn 700 năm.

 

Ngày nay, Đền thờ Huyền Trân Công Chúa nằm tại núi Ngũ Phong, thôn Ngũ Tây, xã Thủy An, TP Huế, nằm trên một không gian rộng tới 28 ha rợp bóng thông xanh, cách đàn Nam Giao khoảng 3 km về phía đông nam. Hàng năm cứ vào mồng 9 tháng Giêng âm lịch, nhân ngày mất của Huyền Trân Công chúa, lễ hội Huyền Trân lại được tổ chức long trọng tại Đền Huyền Trân Công Chúa ở Huế.

 

Những hình ảnh ấn tượng ở đền Huyền Trân Công Chúa gắn với năm con Rồng.

Lối vào Đền Huyền Trân công chúa

Hình tượng rồng với nhiều sắc thái khác nhau rải rác từ dưới lên điện thờ cao nhất ở Đền Huyền Trân

Hình tượng Rồng tại đền Huyền Trân

Rồng trong tiết Xuân

Rồng nhỏ

Hình tượng Rồng với nhiều sắc thái khác nhau

Hình tượng Rồng có mặt khắp nơi ở Đền Huyền Trân Công chúa

Từ bậc cấp đầu tiên dẫn vào đền thờ vua Trần Nhân Tông- phụ hoàng của Công chúa Huyền Trân, là đôi rồng chầu đạt kỷ lục dài nhất Việt Nam được sách kỷ lục Việt Nam ghi nhận ngày 07/12/2008.

Hình ảnh đôi rồng lớn nhất Việt Nam

Bên trong Đền thờ là pho tượng Công chúa Huyền Trân ngồi trên ngai được đúc bằng đồng. Tượng cao 2,37m, do các nghệ nhân đúc đồng nổi tiếng của Phường Đúc, TP Huế thực hiện.

Điện thờ tại Thiền viện Hương Vân

Khói hương cửa Phật

____________________________

CTV Hoàng Hải/VOV online/ từ Huế

Nguồn: dulichhue.com.vn

NHỮNG CÁI NHẤT CỦA PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG

Không chỉ là vị vua anh minh, người duy nhất được tôn làm Phật hoàng, ông còn là vị vua có tầm ảnh hưởng quốc tế lớn nhất của dân tộc VN.Trần Nhân Tông( 1258 – 1308), tên thật là Trần Khâm, là vị vua thứ ba của nhà Trần, ở ngôi 15 năm, ông được nhiều sử gia đánh giá là vị vua anh minh nhất trong lịch sử Việt Nam.

Ảnh : Tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông được hộ thần nhập tượng tại đỉnh Yên Tử sáng sáng 3/12/2013 

Với tài cai trị xuất sắc, Trần Nhân Tông đưa đất nước Đại Việt đạt đến sự phát triển đỉnh cao trong lịch sử. Ông cũng có vai trò lãnh đạo quan trọng trong thắng lợi của hai cuộc kháng chiến chống Nguyên- Mông lần thứ hai và thứ ba. Với những cống hiến ấy, tên tuổi của vua Trần Nhân Tông đã được các học giả đưa vào danh sách 14 anh hùng dân tộc tiêu biểu nhất của Việt Nam.

Trần Nhân Tông là vị hoàng đế duy nhất được tôn làm Phật hoàng trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc

Sau khi nhường ngôi cho con trai là Trần Anh Tông, ông đã xuất gia tu hành và lập nên Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử- trường phái Phật giáo đặc sắc của Việt Nam. Là tổ thứ nhất của dòng thiền này, về sau vua được dân cung kính gọi là Phật hoàng.

Ảnh: Tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông bằng đá trong vườn tháp Huệ Quang ( Hoa Yên- Yên Tử).

Về mặt trí tuệ, Trần Nhân Tông là một trong những vị vua có học vấn uyên thâm nhất trong lịch sử Việt Nam.

 

Sử sách ghi lại, luc sinh thời, vua là người thông minh, hiếu học, đọc hết các sách vở, thông suốt nội điển và ngoại điển. Ông đã viết nhiều tác phẩm có giá trị, nhưng đáng tiếc phần lớn đều đã thất lạc, chỉ cònh lại 25 bài chép trong Việt âm thi tập và Toàn việt thi lục.

Ảnh : Tượng ngọc của Phật hoàng Trần Nhân tông được tôn tạc tại chùa Vĩnh Nghiêm

Trên phạm vi thế giới, Trần Nhân Tông là vị hoàng đế Việt Nam có tầm ảnh hưởng quốc tế lớn nhất của dân tộc.

Tên tuổi của ông đã được đặt cho một viện nghiên cứu đặt tại thành phố Boston của Mỹ, nơi nghiên cứu các giá trị từ di sản vua Trần Nhân Tông đối với thế giới.

Hình ảnh chụp từ Website viện Trần Nhân Tông


Một giải thưởng mang tên Trần Nhân Tông về hoà giải cũng đã được ra đời, là giải thưởng quốc tế đầu tiên mang tên Việt Nam, hàm chứa các giá trị Việt Nam được phổ quát tới toàn nhân loại.

________________

trungtamhuyentran.thuathienhue.gov.vn

ĐÔI NÉT VỀ VUA TRẦN NHÂN TÔNG VÀ HOÀNG HẬU BẢO THÁNH

Trần Nhân Tông

 

Vua Trần Nhân Tông tên huý là Trần Khâm, ngoài ra lúc nhỏ còn có tên là Nhật Tôn hay Kim Phật. Ông là vị vua thứ 3 của triều Trần, con trai trưởng vua Trần Thánh Tông và hoàng hậu Thiên Cảm. Hoàng hậu Thiên Cảm là con gái Trần Liễu, chị em gái của Trần Hưng Đạo và Tuệ Trung thượng sĩ Trần Tung (người có khá nhiều ảnh hưởng đến tư tưởng tôn giáo của Trần Nhân Tông về sau).

 

Ông sinh năm 1258. Lúc mới sinh, Đại Việt sử ký toàn thư đã miêu tả ông là “được tinh anh của thánh nhân, đạo mạo thuần túy, nhan sắc như vàng, thể chất hoàn toàn, thần khí tươi sáng, hai cung đều cho là lạ, gọi là Kim Tiên đồng tử, vai bên tả có nốt ruồi đen, cho nên có thể cáng đáng được việc lớn”, vua Thánh Tông đặt tên cho ông là Kim Phật. Trong phần đề từ của bức tranh “Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ” đương thời, hoạ sĩ Trần Quang Chỉ thời Nguyên đã ghi lại “Khi lớn, ngài học thông tam giáo và hiểu sâu Phật điển. Ngay cả thiên văn, lịch số, binh pháp, y thuật, âm luật, không thứ gì là không mau chóng nắm được sâu sắc”.

 

Tháng 12 năm 1274, ông 16 tuổi, được sắc phong thái tử, kết hôn với con gái của Trần Hưng Đạo là Quyên Thanh công chúa.

 

Theo "Thánh đăng ngữ lục" thì ông từ nhỏ đã có lòng hướng Phật, không có ý làm vua nên nhiều lần xin nhường ngôi thái tử lại cho em trai mình là Đức Việp, nhưng vua Thánh Tông không chấp nhận. Sau khi kết hôn vài tháng, ông trốn khỏi hoàng cung vào giữa đêm khuya, tá túc ở một ngôi chùa trên Yên Tử. Vua Thánh Tông và hoàng hậu sau khi phát hiện ông biến mất thì vội vàng cho người tìm kiếm, khuyên giải ông về, cuối cùng ông đồng ý trở về. Sau khi về cung, ông nằm mộng thấy một đoá sen vàng mọc ra từ rốn mình nên từ đấy ngày ngày đều ăn chay, cả người gầy guộc. Vua Thánh Tông thấy vậy đau lòng, vừa khóc vừa khuyên ông, ông mới thôi việc ăn chay.

 

Năm 1276, con trai trưởng Trần Thuyên của ông ra đời, người sau này trở thành vua Trần Anh Tông.

 

Năm 1278, ông 20 tuổi. Trần Thánh Tông truyền ngôi vua cho ông để lên làm thái thượng hoàng.

 

Ý đồ đánh chiếm nước ta của nhà Nguyên càng ngày càng rõ. Đoàn sứ giả của Sài Thung do vua Nguyên phái đến nước ta lúc ấy vô cùng ngang ngược. Trên đường thì hà hiếp bá tánh, vào triều thì khinh rẻ quần thần. Theo sử nhà Nguyên, lúc Sài Thung truyền ý chỉ của Hốt Tất Liệt bắt ông phải sang chầu để nhận sắc phong, ông đã đáp: “Trộm nghe ấu chúa nhà Tống nhỏ dại, thiên tử còn thương xót mà phong cho tước công thì chắc tiểu quốc đây cũng được gia ân thương xót. Trước đây đã được tha miễn 6 việc. Còn lễ tự thân vào chầu, thì tôi sinh trưởng ở thâm cung, không tập cưỡi ngựa, không quen thủy thổ, sợ chết dọc đường. Em tôi là Thái úy trở xuống cũng đều như vậy. Khi thiên sứ trở về chầu vua, xin dâng biểu tâu rõ lòng thành, cùng cho biếu của lạ”.

 

Sài Thung trở về báo việc này lại với Hốt Tất Liệt, nội mật viện của Hốt Tất Liệt đề xuất khởi binh đánh nước ta, nhưng rốt cuộc vẫn chưa vội tấn công, chỉ bắt nước ta đúc tượng vàng ròng to bằng người thật để cống sang triều đình bên ấy, nếu không làm theo sẽ xuất quân.

 

Nhận thấy nguy cơ chiến tranh càng lúc càng gần, ông và triều đình đã gấp rút củng cố đất nước về mọi mặt để có thể sẵn sàng ứng chiến. Ví dụ như tiến hành đại xá, giải oan, sai Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật đến chiêu hàng tù trưởng Trịnh Giác Mật đang làm phản ở Đà Giang, khuyến khích nông nghiệp, thống nhất đo lường, tạo điều kiện cho buôn bán, thống kê dân số để tuyển lính, luyện binh… Đồng thời, triều đình nhà Trần cũng ra sức thắt chặt quan hệ ngoại giao với Chiêm Thành.

 

Sứ giả nhà Nguyên yêu cầu nước ta cho quân Nguyên mượn đường để tấn công Chiêm Thành, nhưng triều đình nhà Trần biết rõ ý đồ của quân Nguyên muốn chiếm Chiêm Thành trước đề về sau tạo thế gọng kềm đánh chiếm nước ta từ hai phía, nên đã mềm mỏng từ chối. Chiêm Thành biết tham vọng của quân Nguyên nên cũng tỏ ý giao hảo với nước ta. Theo ghi chép của sử nhà Nguyên, triều đình nhà Trần đã cho 2 vạn quân và 500 chiến thuyền đến chi viện cho Chiêm Thành. Tuy vua và triều đình nhà Trần không thừa nhận việc này, nhưng nhà Nguyên đã lấy đó làm cớ khép nước ta vào tội phản nghịch để tấn công.

 

Năm 1282, vua Trần Nhân Tông triệu tập Hội nghị Bình Than, họp cùng vương hầu và các quan bàn kế sách chống quân Nguyên. Sự kiện Trần Quốc Toản bóp nát quả cam cũng xảy ra vào thời điểm này.

 

Trần Hưng Đạo được phong chức Quốc công tiết chế, thống lĩnh quân đội toàn quốc. Trần Quang Khải được phong chức Thượng tướng thái sư.

 

Cuối năm 1284, sau khi được tin Hốt Tất Liệt phái Trấn Nam vương Thoát Hoan và các tướng dẫn quân chuẩn bị tấn công, thái thượng hoàng Trần Thánh Tông đã tổ chức hội nghị Diên Hồng để hỏi ý các phụ lão về việc nên hoà hay nên đánh. Khác với hội nghị Bình Than diễn ra vào 2 năm trước đó - là nơi bàn bạc với quan lại và quý tộc, đối tượng trưng cầu ý kiến của hội nghị Diên Hồng là những đại biểu của nhân dân. Trong hội nghĩ Diên Hồng, mọi người đều đồng ý đánh chứ không hoà.

 

Trần Hưng Đạo viết "Hịch tướng sĩ" để cổ vũ lòng quân.

 

Đầu năm 1285, quân Nguyên chia làm 3 đạo tiếng vào Đại Việt. Triều đình nhà Trần cho quân chặn ở cửa khẩu phía Bắc nhưng thất bại. Quân Nguyên vượt qua ải Chi Lăng. Trần Hưng Đạo ra lệnh cho quân lui về Vạn Kiếp.

 

Tướng giặc là Ô Mã Nhi tấn công Vạn Kiếp. Trần Hưng Đạo muốn bảo toàn lực lượng, đồng thời kéo dài thời gian để nhử cho giặc mệt mỏi nên tiến hành rút khỏi Vạn Kiếp. Ô Mã Nhi đuổi theo. Trong trận thuỷ chiến này, vua Trần Nhân Tông đã mang quân đến hỗ trợ đội quân của Trần Hưng Đạo rút lui khỏi Vạn Kiếp. Quân Trần sau khi rút khỏi Vạn Kiếp thì dàn trận ở sông Hồng gần Thăng Long.

 

Quân Nguyên đi đường bộ, dựng trại bên sông Hồng. Vua Trần Nhân Tông chỉ huy việc nghênh chiến ở sông Hồng, nhằm mục đích đánh lạc hướng giặc để người trong cung và dân chúng sơ tán khỏi Thăng Long, thực hiện kế hoạch “vườn không nhà trống”. Để kéo dài thời gian và thu hút sự chú ý của giặc, Trần Nhân Tông cho người sang giả vờ đưa thư cầu hoà. Quân Nguyên không đồng ý. Sau khi nhận được tin việc sơ tán đã xong, thuỷ quân Trần theo sông Hồng rút khỏi Thăng Long, tiến về phủ Thiên Trường.

 

Đây là một cuộc chiến hết sức cam go. Trong suốt cuộc kháng chiến này, quân Trần từng thua nhiều trận, vua cũng suýt gặp nguy hiểm, nhưng nhờ kế hoạch tác chiến toàn cục được tiến hành tương đối tốt, các cánh quân phối hợp hiệu quả, thắng được những trận mang tính chiến lược nên cuối cùng quân ta giành thắng lợi. Các thủ thuật “vườn không nhà trống”, du kích, ly gián (gây chia rẽ người Hán và người Mông Cổ trong nội bộ quân Nguyên, dùng người Hán trong quân Trần tác động người Hán trong quân Nguyên), cũng được phát huy hiệu quả.

 

Cuối tháng 6 năm 1285, quân Nguyên bị quân ta đuổi giết, tháo chạy về nước.

 

Tháng giêng năm 1286, triều đình nhà Trần thả những tù binh bắt được cho về nước.

 

Hốt Tất Liệt muốn phục thù, chuẩn bị tấn công lần nữa. Nhân lúc quân Nguyên chưa thể xuất quân do người Hán đang nổi dậy trong nước, Đại Việt tăng cường luyện binh ứng chiến.

 

Tháng 12 năm 1287, quân Nguyên tấn công Đại Việt. Đây là cuộc chiến tranh chống Nguyên Mông lần thứ 3 của Đại Việt. Vua Trần Nhân Tông một lần nữa tiến hành đại xá, nhiều tù nhân được thả đã nhập ngũ để báo ơn. Thái thượng hoàng Thánh Tông giao cho Trần Nhân Tông quyền chỉ toàn cuộc. Trần Hưng Đạo chỉ huy quân ngũ. Cũng như lần trước, quân Nguyên thắng những trận đầu, về sau nhà Trần mới phản công. Cuộc chiến này diễn ra trong vòng 4 tháng gồm nhiều trận đánh, trong đó có trận thuỷ chiến dùng cọc nhọn ở Bạch Đằng.

 

Cuối tháng 3 năm 1288, quân Nguyên một lần nữa phải trốn chạy về nước, bị quân ta tập kích.

 

Tháng 4 năm 1288, nhà Trần trả tù binh về nước, trong đó có Ô Mã Nhi. Lúc đi thuyền về nước, Ô Mã Nhi bị đắm thuyền và chết. Triều đình nhà Nguyên cho rằng quân Trần cho người ám sát, nhưng không có chứng cứ.

 

Đại Việt tiến hành phục hồi các tổn thất sau kháng chiến.

 

Năm 1290, quân Ai Lao nhiều lần quấy phá biên giới phía tây. Binh lực Đại Việt lúc này đã chịu nhiều thiệt hại sau cuộc chiến với quân Nguyên, nhưng Trần Nhân Tông vẫn quyết định ngự giá thân chinh để thị uy. Theo lý giải của ông, nếu lúc này hoà hoãn, quân Ai Lao sẽ biết Đại Việt đang suy yếu mà tấn công dữ dội hơn.

 

Tháng 3 năm 1292, hoàng tử trưởng Trần Thuyên được lập làm thái tử, kết hôn với con gái của Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng (con trai Trần Hưng Đạo).

 

Tháng 3 năm 1293, vua Trần Nhân Tông nhường ngôi cho thái tử, lên làm thái thượng hoàng.

 

Tháng 9 năm 1293, thái thượng hoàng hậu Bảo Thánh qua đời.

 

Tháng 8 năm 1294, thái thượng hoàng Trần Nhân Tông thân chinh đánh Ai Lao lần thứ 2.

 

Sau khi thắng trận trở về, Trần Nhân Tông xuất gia ở Vũ Lâm (thuộc Ninh Bình) nhưng vẫn can thiệp việc nước, dẫn dắt vua con.

 

Tháng 8 năm 1299, Trần Nhân Tông núi Yên Tử tu khổ hạnh. Theo truyền thuyết, vua Trần Anh Tông sợ cha cực khổ nên cho nhiều cung nữ đến Yên Tử chăm sóc, nhưng Trần Nhân Tông từ chối, bảo các cung nữ trở về. Một số cung nữ đã trầm mình xuống suối tự vẫn. Trần Nhân Tông thương tiếc, làm lễ cầu siêu, đặt tên suối là suối Giải Oan.

 

Năm 1301, Trần Nhân Tông du ngoạn Chiêm Thành.

 

Tháng 3 năm 1308, Trần Nhân Tông qua đời ở am Ngọa Vân núi Yên Tử.

 

Tháng 9 năm 1309, linh cữu được đưa về chôn ở lăng Quy Đức, phủ Long Hưng, hợp táng cùng thái hậu Bảo Thánh. Một phần xá lỵ của ông được cất ở bảo tháp am Ngọa Vân.

 

Hoàng hậu Bảo Thánh

 

Bà tên huý là Trinh, tước hiệu Quyên Thanh công chúa, là con gái duy nhất của Trần Hưng Đạo và công chúa Thiên Thành.

 

Năm 1274, được lập làm hoàng thái tử phi.

 

Năm 1276, sinh trưởng hoàng tử Trần Thuyên, người sau này là vua Trần Anh Tông.

 

Năm 1279, được lập làm hoàng hậu.

 

Tháng 3 năm 1293, được tôn làm thái thượng hoàng hậu.

 

Tháng 9 năm 1293, bà qua đời ở Lỗ Giang, phủ Long Hưng.

 

Đại Việt sử ký toàn thư nhận định về bà:

 

"Thái hậu nhu mì đức tốt, thông minh sáng suốt, nhân hậu với kẻ dưới.

 

Thượng hoàng có lần làm chuồng hổ ở thềm Vọng Lâu, sai quân sĩ đánh nhau với hổ, thượng hoàng ngự trên lầu để xem, thái hậu và phi tần đều theo hầu. Lầu thấp, song chuồng hổ và thềm cũng thấp, hổ bỗng nhiên thoát khỏi chuồng trèo lên lầu. Người trên lầu đều tan chạy cả. Chỉ có Thượng hoàng và Thái hậu cùng 4, 5 thị nữ còn ở đó. Thái hậu nghĩ không khỏi bị hại, mới lấy chiếc chiếu che cho Thượng hoàng và tự che mình. Hổ lên lầu gầm rống rồi nhảy xuống không vồ hại ai cả.

 

Lại một lần Thượng hoàng ngự điện Thiên An xem đấu voi ở Long Trì. Con voi bỗng nhiên xổng thoát,xông tới, định lên điện, tả hữu đều sợ hãi tan chạy cả, chỉ có Thái hậu vẫn ở đó."

-----

Nguồn tư liệu: Wikipedia, Đại Việt sử ký toàn thư, "Trần Nhân Tông - Con người và tác phẩm"

__________

Internet

THIỀN TÔNG LÀ CỘI GỐC CỦA ĐẠO PHẬT

Chúng tôi là những người tu thiền ở Việt Nam, nhưng thời chúng tôi không được sự kế thừa của các vị Tổ trong Ngũ gia tông phái ở Trung Quốc. Song tôi quyết tâm tu thiền nên dồn hết sức mình vào việc nghiên cứu tu Thiền. Điều đáng tiếc là Thiền tông Việt Nam đã vắng bóng gần một thế kỷ, nên chúng tôi phải tự tra cứu, học hỏi trong kinh sách và lịch sử để tìm ra một lối tu.

 

 

Riêng tôi, trước hết tôi tu Lục diệu pháp môn, là phương pháp của Thiền sư Trí Khải ở Trung Hoa, lấy đó làm cương lĩnh ban đầu. Lục diệu pháp môn gồm có sáu pháp: Sổ tức, Tùy tức, Chỉ, Quán, Hoàn, Tịnh. Khi đi sâu vào tu hành, chúng tôi cũng có tiến bộ đôi chút. Dù vậy, tôi rất băn khoăn, muốn thấu hiểu được đường lối tu thiền của chư Tổ để ứng dụng tu, đồng thời kế thừa sự nghiệp của những bậc tôn túc thời trước.

 

Nhưng khi nghiên cứu thiền của chư Tổ chúng tôi thấy rất khó, đọc tác phẩm của các Ngài không hiểu gì cả. Như câu chuyện Tổ Bồ-đề-đạt-ma sang Trung Hoa, ngồi xoay mặt vào vách chín năm. Sau đó có một người tên Thần Quang đến xin tu tập và được Tổ nhận cho làm đệ tử đổi tên thành Huệ Khả, luôn theo hầu Tổ. Một hôm, Ngài Huệ Khả bạch với Tổ Đạt-ma: “Bạch Hòa thượng, tâm con không an, xin Hòa thượng dạy con pháp an tâm”. Tổ Đạt-ma bảo: “Đem tâm ra ta an cho”. Ngài Huệ Khả tìm lại tâm mình, tìm mãi không được, bèn thưa: “Bạch Hòa thượng, con tìm tâm không được”. Tổ bảo: “Ta đã an tâm cho ngươi rồi!”.

 

Câu chuyện đối đáp giữa hai thầy trò, chúng tôi mò mẫm mãi không ra. Tại sao Tổ bảo đem tâm ra ta an cho, rồi ngài Huệ Khả thưa tìm tâm không được, Tổ liền nói: “Ta đã an tâm cho người rồi !”. Lời nói đó bí ẩn ở chỗ nào mà tôi đọc mãi không lãnh hội được, còn ngài Huệ Khả nghe câu đó lại biết lối vào. Điều này ngày xưa chúng tôi rất đau đầu, nghĩ mãi không ra. Thời gian sau, đủ duyên nhập thất tu, tôi cũng đọc đi đọc lại câu chuyện đó, bỗng dưng thấy được lối vào của Tổ Huệ Khả.

 

Nghe câu chuyện trên chúng ta lấy làm lạ, tại sao các ngài không dạy một pháp an tâm mà lại bảo “đem tâm ra ta an cho”? Chúng ta lâu nay cứ nghĩ rằng tâm là cái suy nghĩ, phân biệt tốt xấu, phải quấy của mình. Vì vậy khi ngồi thiền, tâm đó chạy nghĩ tứ tung khiến cho ta bất an. Lúc Tổ Đạt-ma bảo “Đem tâm ra ta an cho”, đó là lời nói của một vị Tổ siêu thoát, phi thường nên Ngài Huệ Khả không dám xem thường. Ngài liền xoay tìm cái tâm lăng xăng của mình. Khi tìm Ngài không thấy hình bóng của nó nữa, tức nó đã lặng. Thế nên Tổ Đạt-ma bảo: “Ta đã an tâm cho ngươi rồi!”.

 

 

Tu Thiền theo Tổ Đạt-ma là cốt quay lại tìm xem cái tâm nghĩ suy lăng xăng đó ở đâu, thật hay giả. Phương pháp này danh từ chuyên môn gọi là “Phản quan tự kỷ”. Bởi vì chúng ta mê lầm tâm hư dối bóng dáng là tâm mình, nên lâu nay bị nó dẫn chạy ngược chạy xuôi. Giờ đây, nhìn kỹ lại nó tan biến. Đó là lối tu của Tổ Đạt-ma dạy, không có trong kinh điển. Vì vậy được gọi là “Giáo ngoại biệt truyền”, tức truyền ngoài giáo lý. Đây chính là chân tinh thần của Thiền tông.

 

Chúng tôi lãnh hội được yếu chỉ đó, nên ứng dụng tu và dạy Tăng Ni, Phật tử Việt Nam tu thiền như thế. Nghĩa là phải nhìn tường tận những tâm niệm vừa dấy khởi, liền biết nó là vọng tưởng hư dối, không theo thì nó tự lặng. Khi nào nó mạnh, làm ồn thì chúng ta phản quan lại, xem nó xuất phát từ đâu, khi đó nó mất tăm mất dạng. Ngài Huệ Khả nhận được yếu chỉ đó rồi, tu một thời gian và trình với Tổ Đạt-ma: “Hiện con đã dứt hết các duyên”. Tổ Đạt-ma bảo: “Coi chừng rơi vào không”. Ngài Huệ Khả thưa: “Rõ ràng thường biết, làm sao không được”. Tổ Đạt-ma liền ấn chứng cho ngài Huệ Khả.

 

Chúng ta thấy đường lối tu của Thiền tông là phải làm sao dứt bặt tâm duyên theo ngoại cảnh. Tâm đó lặng hết, thì cái rõ ràng thường biết hiện tiền, đó là gốc của tu thiền. Khi sáu căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý tiếp xúc với sáu trần bên ngoài là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp mà không dính không nhiễm, lúc đó chúng ta được an tâm.

 

Sau này, Lục tổ Huệ Năng nhân nghe Ngũ tổ dạy kinh Kim cang, đến câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, nghĩa là không có chỗ trụ mà sanh tâm kia, Ngài bừng sáng liền tỉnh ngộ, thốt lên rằng: “Đâu ngờ tâm mình xưa nay thanh tịnh. Đâu ngờ tâm mình xưa nay trùm khắp. Đâu ngờ tâm mình hay sanh muôn pháp”… Lục tổ biết rõ khi tâm không chạy theo, không dính mắc với sáu trần thì đó là tâm an nhiên, thanh tịnh, trong sáng, hằng hữu của chúng ta, nhưng lâu nay mình quên. Giờ đây, không dính với sáu trần nữa nên nó hiển lộ ra, chính là thể thanh tịnh sẵn có xưa nay của chúng ta.

 

Nghe thế Ngũ tổ biết ngài đã triệt ngộ liền truyền tâm ấn và trao y bát cho, rồi dạy ngài về phương Nam giáo hóa. Trên đường Tổ trở về phương Nam, có một đoàn người đuổi theo để giành lại y bát trong đó có Thượng tọa Minh đuổi theo kịp. Thấy vậy, Tổ Huệ Năng liền để y bát trên một tảng đá, rồi chui vào bụi cây trốn. Thượng tọa Minh tới thấy y bát mừng quá liền ôm lên, nhưng ôm không nổi, buộc lòng kêu lên: “Hành giả! Hành giả! Tôi đến đây vì pháp chứ không phải vì y bát”. Nghe vậy, Tổ từ trong bụi cây chui ra, bảo: “Nếu ông đến đây vì cầu pháp, thì hãy đứng yên lặng, ta sẽ nói cho”. Khi Thượng tọa Minh đứng yên lặng giây lâu, Tổ bảo: “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, cái gì là bản lai diện mục của Thượng tọa Minh?”. Ngay câu nói đó, Thượng tọa Minh liền lãnh hội được. Bởi vì tâm vừa nghĩ lành, vừa nghĩ dữ là đã loạn rồi, là tâm vọng tưởng. Một khi khởi nghĩ thì luôn luôn là đối đãi, mà đối đãi là sanh diệt. Không còn mắc kẹt trong đối đãi nữa thì khuôn mặt thật muôn đời sẵn có của mình hiện bày. Cho nên Thiền sư Vô Nghiệp, khi có người hỏi bất cứ câu gì, ngài chỉ trả lời: “Chớ vọng tưởng!”.

 

Tinh thần Thiền này truyền mãi đến Việt Nam vào thế kỷ thứ mười ba. Vua Trần Nhân Tông, khi đi tu Ngài lên núi Yên Tử, lập một hệ phái tên là Trúc Lâm Yên Tử. Ngài có làm bài phú “Cư trần lạc đạo”. Trong đó, câu chót thế này “Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền”. Nghĩa là đối với cảnh mà không có tâm dính mắc thì đừng hỏi thiền chi nữa, vì ngay đó là thiền rồi. Đối với cảnh mà tâm không dính mắc tức là chỗ kinh Kim cang bảo sáu căn đừng dính với sáu trần. Do không dính mắc với sáu trần nên tâm an định. Đó là Thiền. Như vậy, Thiền của Thiền tông là cốt không cho tâm dính mắc với sáu trần. Đó là gốc, là đường lối căn bản của nhà Thiền.

 

Trước khi xuất gia, vua Trần Nhân Tông đã được học với ngài Tuệ Trung thượng sĩ. Khi sắp trở về lên ngôi Thái tử, Ngài hỏi Tuệ Trung chủ đích của thiền là gì. Tuệ Trung đáp thế này: “Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc”, nghĩa là nhìn lại mình là phận sự chính, đừng chạy ra bên ngoài. Quay lại ngay nơi tâm mình đó là bổn phận chính của người tu thiền, không thể hướng bên ngoài mà được. Ngay câu đó, nhà vua lãnh hội được yếu chỉ thiền. Phương hướng tu hành của Thiền tông là phải biết xoay lại nơi mình để nhìn thẳng nội tâm, biết cái gì hư dối buông xả, cái gì chân thật nhận lại, chứ không có gì xa lạ hết.

 

Vườn tháp chùa Hoa Yên, Yên Tử - Ảnh: T.Uyên

 

Tại sao tôi nói Thiền là cội gốc của đạo Phật? Bởi vì trong kinh A-hàm, Đức Phật dạy người tu hiền phải quán Tứ niệm xứ. Quán Tứ niệm xứ là quán thân bất tịnh, quán thọ là khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã. Bốn pháp quán ấy đều xoay lại mình, để thấy cho tường tận cho đúng. Như vậy tu Thiền theo giáo lý Nguyên thủy cũng phải phản quan. 

 

Nếu tu Thiền theo kinh Kim cang thì không cho sáu căn dính mắc với sáu trần. Rõ ràng kinh Phật từ hệ Nguyên thủy cho đến hệ Bắc tông đều dạy phải xoay lại, tự quán chiếu chính mình và tự gìn giữ, đừng để tâm phóng theo sáu trần. Cho đến kinh Lăng nghiêm thuộc Bắc truyền, có một đoạn kể lại ngài A-nan bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, cái gì là cội gốc của sanh tử luân hồi? Cái gì là cội gốc của Bồ-đề Niết-bàn?” Đức Phật im lặng. Lúc đó mười phương chư Phật đồng thinh bảo rằng: “Cội gốc luân hồi sinh tử là sáu căn của ông. Cội gốc Bồ-đề Niết-bàn cũng là sáu căn của ông”.

 

Như vậy, từ kinh Phật cho đến đường lối Thiền tông của chư Tổ rất phù hợp, rất thích ứng nhau. Vì vậy chúng tôi mới quả quyết Thiền tông là cội gốc của đạo Phật. Ngày nay chúng tôi cũng căn cứ theo đó tu và hướng dẫn Phật tử hâm mộ tu Thiền cùng tu. Do tính khế hợp từ Đức Phật cho đến chư vị Tổ sư nên tôi nói “Thiền là cội gốc của đạo Phật”. Mong tất cả ghi nhận và hiểu đúng điều này. Được vậy, chúng ta sẽ vững niềm tin hơn trong pháp tu Thiền của mình.

_______________

HT.Thích Thanh Từ

Nguồn: giacngo.vn

ĐỆ NHỊ TỔ THIỀN PHÁI TRÚC LÂM-THIỀN SƯ PHÁP LOA MỘT HIỆN TƯỢNG TRONG PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Trong lịch sử hơn hai ngàn năm Phật giáo du nhập vào Việt Nam, đã để lại khá nhiều những câu chuyện, những hiện tượng độc đáo. Tương truyền từ thời Vua Hùng Vương thứ ba, đã có vị sư Đạo Quang dạy Chử Đồng Tử học Phật pháp và truyền cho bảo bối.

 

Tượng Nhị tổ Pháp Loa trong Thiền viện Trúc Lâm, Đà Lạt, Việt Nam


Hiện nay dấu tích của vùng đất có tòa lâu đài mà Chử Đồng Tử và vợ là công chúa Tiên Dung con gái của vua Hùng đã từng ở vẫn còn, theo truyền thuyết, khi gặp nguy biến nhờ phép thuật được sư Đạo Quang truyền dạy và nhờ bảo bối sư trao Chử Đồng Tử và vợ cùng lâu đài đã bay về trời để lại một vùng đất trũng gọi là đầm Dạ trạch ngày nay.

 

Hiện tượng độc đáo khác, đó là câu chuyện về Thiền sư Từ Đạo Hạnh (1072-1116), truyền thuyết lưu rằng, sau khi Từ Đạo Hạnh chết, ông cho thiền sư Minh Không biết mình sẽ đầu thai thành con của Sùng Hiền Hầu là em trai của vua Lý Nhân Tông (Vị vua này không có con nên đã nhường ngôi cho con của Sùng Hiền Hầu là Lý Dương Hoán, người con này chính là Từ Đạo Hạnh đầu thai, sau là vua Lý Thần Tông). Khi làm Vua, Lý Thần Tông mắc bệnh lạ, người Vua mọc lông và gầm như cọp, quần thần phải dùng cũi vàng nhốt Vua. người cứu chữa được là đại sư Nguyễn Minh Không (1076 – 1141,đời thứ 13, dòng Tỳ ni đa lưu chi).

 

Năm vua Lý Thần Tông 21 tuổi, bỗng nhiên mắc bệnh biến thành cọp, cuồng loạn đáng sợ. Triều đình phải làm cũi vàng nhốt Vua trong đó. Khi ấy có đứa bé ở Chân Định hát rằng:

 

Nước có Lý Thần Tông,

Triều đình muôn việc thông.

Muốn chữa bệnh thiên hạ,

Cầu được Nguyễn Minh Không.

 

Lời hát đồn đến triều đình, triều đình sai người đi mời Đại sư về triều chữa bệnh cho Vua. Người do triều đình phái tới mời Đại sư, mới tới nơi Sư đã nói: “có phải là việc cứu cọp đó ư ?” viên quan chỉ huy hỏi: “Sao Đại sư biết trước ?” Sư bảo: “Ta đã biết việc này trước ba mươi năm.” Đại sư đến triều vào trong điện ngồi, lên tiếng bảo: “ đem vạc dầu lại, trong đó để một trăm cây kim, và nấu dầu cho sôi, rồi đem cũi Vua lại gần đó.” Mọi việc Sư dặn đã chuẩn bị xong, Sư cho tay vào vạc dầu sôi, lấy ra một trăm cây kim, găm kim vào thân vua và nói: “Quí là trời.” Tự nhiên lông, móng, răng cọp đều rụng hết, Vua khỏi bệnh, thân trở lại như cũ.

 

Các hiện tượng trên đều là truyền thuyết, riêng Đệ nhị tổ Thiền phái Trúc Lâm, Thiền sư Pháp Loa là có thật trong lịch sử, không huyền thoại, không dã sử, đây là hiện tượng khá độc đáo trong lịch sử Phật giáo và lịch sử Việt Nam, đã gần bảy trăm năm trôi qua, đến nay bài học về chọn người, dùng người hiền tài trong thời Trần vẫn còn nguyên giá trị rất lớn cho hậu thế nhiều bài học:

 

Lựa chọn nhị tổ Thiền phái Trúc Lâm, Thiền sư Pháp Loa là sơ tổ Trúc Lâm Đại sĩ Trần Nhân Tông. Trần Nhân Tông người sáng lập Thiền Phái Trúc Lâm một dòng thiền riêng có ở Việt Nam còn tồn tại và phát triển tới ngày nay. Trần Nhân Tông (1258- 1308), năm 16 tuổi làm Thái tử, năm 20 tuổi lên ngôi Vua, trên ngai vàng Trần Nhân Tông đã lãnh đạo quân dân Đại Việt đánh tan hai cuộc xâm lược của quân Nguyên Mông, tạo nên hào khí Đông A nức tiếng trong lịch sử Việt Nam, năm 35 tuổi nhường ngôi cho con rồi làm Thái Thượng hoàng để giúp con vững vàng trên ngôi vua trị vì thiên hạ, năm 41 tuổi xuất gia tu hành ở núi Yên Tử và lập nên Thiền phái Trúc Lâm.

 

Nhị Tổ Thiền Phái Trúc Lâm Pháp Loa (1284- 1330), năm 20 tuổi mới xuất gia theo Trần Nhân Tông, năm 21 tuổi được thọ giới tỳ kheo, năm 24 tuổi được sơ Tổ Trần Nhân Tông trao truyền y, bát để nối tiếp nhị Tổ Thiền Phái Trúc Lâm. Việc chọn Pháp Loa làm nhị Tổ là một hiện tượng lạ của Phật giáo Việt Nam lúc bấy giờ bởi: Đệ tử theo sơ Tổ rất đông, người thân cận bên cạnh sơ Tổ có tới bảy tám người, đều là những người tu trước Pháp Loa khá lâu,có người lớn tuổi hơn và học hành nhiều hơn Pháp Loa. Sơ Tổ chọn Pháp Loa để trao truyền vị trí nhị Tổ nối dòng Trúc Lâm, bỏ qua truyền thừa theo truyền thống thế thứ đối với các vị tu trước, có vị là bậc thầy của Pháp Loa; bỏ chứng chỉ học thuật, trước tác bởi Pháp loa mới xuất gia được bốn năm, việc học, việc trước tác chắc hẳn còn xa nhiều vị.

 

Qua việc lựa chọn của sơ Tổ đối với Pháp loa, chứng tỏ sự tin tưởng và tầm nhìn xa rộng của sơ Tổ đối với Phật giáo và đối với cá nhân Pháp Loa, đồng thời khẳng định tính linh hoạt theo tinh thần của Phật giáo ( khế lý, khế cơ, khế thời , khế xứ) trong sử dụng người hiền tài đáp ứng cho yêu cầu trước mắt và lâu dài của Phật giáo Việt Nam. Việc sơ Tổ chọn Pháp Loa một người tuổi đời rất trẻ, tuổi đạo rất ít trong một giáo đoàn Phật giáo bây giờ rất đông các bậc trưởng thượng, thể hiện quan điểm dùng người phải chọn người hiền tài, không câu nệ ở thế thứ, tuổi tác. Đây cũng là một trong những hiện tượng tiêu biểu của Phật giáo Việt Nam thời Trần. Điều chọn của sơ Tổ cho thấy Pháp Loa phải là bậc xuất chúng trong tu Phật ở nhiều mặt: Xuất sắc trong học thuật (dù mới học), trang nghiêm giới đức (dù còn trẻ) và khả năng tổ chức phát triển giáo hội Trúc Lâm lúc bấy giờ (dù chưa thể hiện), nhưng sơ Tổ đã nhìn thấy khả năng, tố chất tiềm ẩn trong con người Pháp Loa, để khi chính ngôi trong cương vị nhị Tổ, tố chất và tiềm năng ấy đã được tỏa sáng.

 

Và sơ Tổ chọn Pháp Loa quả thực không sai, 27 năm trong cương vị nhị Tổ Thiền phái Trúc lâm, Thiền sư Pháp Loa đã cống hiến cho Giáo hội Trúc Lâm và dân tộc trí tuệ, tâm đức của Ngài với kết quả đáng khâm phục: Xây dựng, củng cố tổ chức Giáo hội quy củ, thông qua quản lý chặt chẽ người tu hành, lập sổ bộ tăng tịch để quản lý tăng sĩ xuất gia; mở trường bồi dưỡng đào tạo tăng tài nhằm nâng cao năng lực tu tập và hoằng dương Phật pháp cho sư, biên soạn kinh sách để hệ thống hóa kinh điển, giáo lý của Đức Phật; đưa Phật giáo đi sâu vào đời sống nhân gian để cố kết nhân tâm vun bồi trí đức cho nhân dân,... Trong cương vị nhị Tổ 27 năm, Thiền sư Pháp Loa đã tôn tạo trên 1.300 pho tượng Phật, mở thêm 2 Đại già lam ( Côn Sơn và Thanh Mai), lập nhiều tháp, mở nhiều tăng đường, cho khắc in bộ Đại tạng kinh, độ cho gần 15.000 vị sư, đệ tử đắc Pháp hơn 3.000 vị, đại pháp sư có 6 vị,…[Thiền sư Pháp Loa- nhị Tổ Thiền Phái Trúc Lâm, Côn sơn Kiếp Bạc, 2015].

 

Nhị Tổ Thiền phái Trúc Lâm Pháp Loa là tấm gương tiêu biểu trong Phật giáo Việt Nam về quan điểm dùng người hiền, tài, là bài học giá trị về tính tùy duyên để đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển Phật giáo vững mạnh, là thể hiện sự cống hiến hết mình vì lợi ích chung của đạo pháp và dân tộc. Sự tiêu biểu ấy còn nguyên giá trị tới ngày nay để hậu thế nghiên cứu học tập./.

________________

TS. Bùi Hữu Dược

Nguồn: btgcp.gov.vn

TINH THẦN NHẬP THẾ CỦA PHẬT GIÁO ĐỜI TRẦN



Trải qua các triều đạiđạo Phật đều thể hiện nét riêng biệt đặc thù của Phật giáo Việt Nam. Từ đó cũng có thể cho rằng con người và hoàn cảnh xã hội mỗi thời kỳ cũng có thể cho rằng con người và hoàn cảnh xã hội mỗi thời kỳ cũng là một trong những nhân tố quan trọng góp phần quy định bản chất của Phật giáo Việt Nam.

DẪN NHẬP

Nhìn lại dòng lịch sử Phật giáo Việt NamĐạo Phật đã du nhập vào Việt Nam rất sớm. Ngay từ thế kỷ thứ II, III trước công nguyên, đã có các sư Ấn – Hoa theo các thương gia du nhập vào và đã hình thành trung tâm truyền giáo tại Luy Lâu, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh ngày nay. Từ đó Đạo Phật đi vào lòng dân tộc theo bao thăng trầm của lịch sử. Nhiều vị vua khi chiến tranh đã đóng góp công sức của mình vào việc giữ nước, khi hòa bình lại trở về với đời sống tu hành đạm bạc nhưng khi đất nước cần vẫn không bỏ mặt. Trong những vị vua ấy phải kể đến chính là các vị vua nhà Trần, đã ba lần chiến thắng quân Nguyên Mông, tạo nên hòa khí Đông A, mà tiêu biểu là vua Trần Nhân Tông, và cũng là một vị đã khai sáng nên nên dòng thiền Trúc Lâm khi trở thànhmột người xuất gia.

Dưới thời nhà Trần đặc biệt là triều đại của vua Trần Nhân Tông dân chúng được an cư lạc nghiệpđâu đâucũng nghe tiếng chuông chùa vang vọng và Phật giáo đã gắn liền với dân tộc qua nhiều thăng trầmthịnh suyvinh nhục. Vì thế mà đạo phật lúc bấy giờ được xem như là quốc giáo. “Tinh thần nhập thế của Đạo Phật của Phật giáo đời Trần” đã cho thấy đạo Phật không phải là đạo yếm thế, mà muốn tìm con đường giác ngộ không thể từ bỏ thế gian này mà giác ngộ được. Với tinh thần Bồ tát đạo thì người con Phật càng phải dấn thân vào cuộc sống, đồng sự với chúng sanh, vui với niềm vui của đất nước, đau với nỗi đau của dân tộc, nhưng khi thanh bình thì vẫn trở về với cuộc sống tu hành thoát tục. Chính vì vậy mà người viết đã chọn đề tài này. Nguyễn Tài Thư trong Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam cũng đã khẳng định: “Nếu như nhập thế là một khuynh hướng tư tưởng của một học thuyết, một tôn giáo chủ trương tham gia các hoạt động chính trị và giải quyết các vấn đề chính trị xã hội thì Phật giáo không phải là một Tôn giáo nhập thế - trái lại nó là tôn giáo xuất thế hay còn gọi là yếm thế.”

Về phương pháp nghiên cứu người viết dùng phương pháp phân tích nhũng sự kiện hay thông tin có sẵn mà phân tích chúng để có được một sự đánh giá tài liệu một cách có phê phán. Bên cạnh đó có sử dụng một số phương pháp khác dựa trên mục tiêu nghiên cứu hay hoàn cảnh nghiên cứu để làm sáng tỏ đề tài mong rằng sẽ đóng góp một phần nào làm rõ đề tài vì trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc Việt Nam thì Phật giáo và dân tộc luôn luôn song hành. Đó cũng là một nét văn hóa rất riêng của Việt Nam và cũng là nét riêng của Phật giáo từ khi Đức Thích Ca khai sáng cho đến các vị đệ tử truyền thừa trải qua bao nhiêu thời gian bao nhiêu không gian vẫn không làm rơi một giọt máu nào mà ngược lại còn làm rạng danh cho dân tộc ấy.

NỘI DUNG

1. BỐI CẢNH LỊCH SỬ

1.1. TÌNH HÌNH NƯỚC ĐẠI VIỆT TRƯỚC TRIỀU ĐẠI NHÀ TRẦN

Năm 938, Ngô Quyền người Đường Lâm đã chiến thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng đến năm 939, ông bắt đầu xưng vương, hiệu là Tiền Ngô Vương, đóng đô ở Loa Thành, lập Dương thị làm hoàng hậu, đặt trăm quan, chế định triều nghi phẩm phục. Vua mưu tài đánh giỏi, làm nên công tái tạo, đứng đầu các vua. Năm 944 Ngô Quyền mất, ở ngôi 6 năm, thọ 47 tuổi. Năm 945, Khi Ngô Quyền mất, Dương Tam Kha anh (có sách chép là em) của Dương hoàng hậu cướp ngôi xưng là Bình Vương. Con trưởng của Ngô Vương là Xương Ngập sợ, chạy về Nam Sách Giang lánh nạn. Tam Kha lấy con thứ hai của Ngô Vương là Xương Văn làm con mình. Năm 950 Xương Văn con thứ của Ngô Quyền bèn quay về đánh úp Tam Kha khôi phục lại cơ nhiệp của Tiền Ngô Vương. Mọi người muốn giết đi Bình Vương nhưng Xương Văn nói: "Bình Vương đối với ta có ơn, sao nỡ giết", bèn giáng làm Chương Dương Công, nhân đó ban cho thực ấp (nay là Chương Dương độ). Năm 951, Xương Văn lên ngôi xưng là Nam Tấn Vương (Hậu Ngô Vương) sai sứ đón anh là Xương Ngập về kinh, cùng trông coi việc nước. Xương Ngập xưng là Thiên Sách Vương. Vua nối được kỷ cương hoàng gia, khôi phục cơ nghiệp cũ. Năm 965, vua đem quân đi đánh hai thôn Đường và Nguyễn ở Thái Bình, mới vào đến cõi, đỗ thuyền lên bộ đánh, bị phục binh tay nỏ bắn trúng chết. Năm 966, Nam Tấn Vương mất.

Năm 967, bấy giờ trong nước không có chủ, 12 sứ quân tranh nhau làm trưởng, không ai chịu thống thuộc vào ai. Đinh Bộ Lĩnh người động Hoa Lư, châu Đại Hoàng con của Thứ sử châu Hoan Đinh Công Trứ đã dẹp loạn thống nhất thiên hạ. Sau khi dẹp loạn 12 sứ quân năm 968 Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi xưng là Đinh Tiên Hoàng, vua tài năng sáng suốt hơn người, dũng cảm mưu lược nhất đời, song không biết dự phòng, không giữ được trọn đời, tiếc thay! Vua bị Chi hậu nội nhân Đỗ Thích giết vua ở sân cung. Đinh quốc công Nguyễn Bặc sai người bắt đem chém Đỗ Thích, đập nát xương, băm thịt ra từng mảnh, chia cho người trong nước ăn, chẳng ai không tranh lấy mà nhai nuốt. Đinh Tiên Hoàng ở ngôi 12 năm (968-979), thọ 56 tuổi (924-979). Khi ấy Đinh quốc công Nguyễn Bặc, Ngoại giáp Đinh Điền, cùng thập đạo tướng quân Lê Hoàn rước Vệ Vương Toàn lên ngôi Hoàng đế, tôn gọi vua là Tiên Hoàng Đế, tôn Dương Thị làm Hoàng thái hậu. Đinh Toàn còn thơ ấu phải nối nghiệp lớn gian nan, cường thần nhiếp chính, người trong nước lìa lòng, nhà Đinh bèn mất, vua thọ 18 tuổi. Khi vua Tiên Hoàng Đế nối ngôi khi mới 6 tuổi. Lê Hoàn nhiếp chính, làm công việc như Chu Công, tự xưng là Phó Vương.

Bấy giờ quân Tống kéo sang, vì vua còn nhỏ không thể đảm đương việc nước, Thái hậu và triều thần đã mời Lê Hoàn lên ngôi hoàng đế, đổi niên hiệu là Thiên Phúc năm đầu (980), giáng phong vua làm Vệ Vương. Lập Nam Phong Vương Long Việt làm hoàng thái tửgia phong Long Đĩnh làm Khai Minh Đại Vương. Trước đó Long Đĩnh xin làm thái tử, vua có ý muốn cho. Đình thần nghị bàn cho rằng không lập con trưởng mà lập con thứ là không phải lễ. Vua bèn thôi. Tháng 3 năm 1005, vua băng ở điện Trường Xuân, gọi là Đại Hành Hoàng Đế, sau nhân đó dùng làm miếu hiệu mà không đổi. Sau khi vua Lê Đại Hành băng hà, Lê Long Việt lên ngôiđược 3 ngày thì bị em cùng mẹ là Long Đĩnh giết, thọ 23 tuổi (983-1005). Bầy tôi điều chạy trốn, duy có Điện tiền quân là Lý Công Uẩn ôm xác mà khóc. Long Đĩnh lên ngôi, truy đặt thụy cho vua là Trung Tông Hoàng Đế, cho Công Uẩn làm Tứ sương quân phó chỉ huy sứ.

Lê Long Đĩnh làm vua bạo ngược với dân chúng để thỏa lòng hung ác, vì vua mắc bệnh trĩ phải nằm mà coi chầu nên gọi là Ngọa Triều (Dã sử chép: vua say đắm tửu sắc phát ra bệnh trĩ). Khi vua Ngọa Triều băng hà, cả triều thần tôn xưng Lý Công Uẩn lên làm vua trong đó có sự hổ trợ của Thiền sư Vạn Hạnh, một vị cao tăng lúc bấy giờ đã khởi sác cho một triều đại mới và cho cả Phật giáo. Năm 1028 Lý Thái Tổ băng, thọ 55 tuổi, con trưởng là Lý Đức Chính nhờ có Phụng Hiểu trung dũng, đồng lòng cứu nạnlên ngôi hoàng đế, xưng là Thái Tông. Vua là người trầm mặc, cơ trí, biết trước mọi việc, giống như Hán Quang Vũ đánh đâu được đấy, công tích sánh với Đường Thái Tông. Năm 1054 băng ở điện Trường Xuân, thọ 55 tuổi. Khi Lý Thái Tông băng, con trưởng là Nhật Tôn bèn lên ngôi báu, xưng là Thánh Tôn hoàng đế. Vua khéo kế thừa, thực lòng thương dân, trọng việc làm ruộng, thương kẻ bị hình, vỗ về thu phục người xa, đặt khoa bác sĩ, hậu lễ dưỡng liêm, sửa sang việc văn, phòng bị việc võ, trong nước yên tĩnh, đáng gọi là bậc vua tốt. Năm 1072, vua băng hà, con trưởng của Thánh Tông, là Càn Đức lên ngôi hoàng đế, xưng là Nhân Tông,. Vua trán dô mặt rồng, tay dài quá gối, sáng suốt thần võ, trí tuệ hiếu nhân, nước lớn sợ, nước nhỏ mến, thần giúp người theo, thông âm luật, chế ca nhạc, dân được giàu đông, mình được thái bìnhmộ đạo Phật, thích điềm lành, là vua giỏi của triều Lý, ở ngôi 56 năm, thọ 63 tuổi (1066 – 1127), băng ở điện Vĩnh Quang. Năm 1128 Dương Hoán, cháu gọi Thánh Tông bằng ông, cháu gọi Nhân Tông bằng bác, con của Sùng Hiền hầu, lên ngôi lúc 12 tuổi, xưng là Thần Tông hoàng đế. Vua khi mới lên ngôi hãy còn trẻ dại, đến khi lớn lên, tư chất thông minhđộ lượng nên việc sửa sang chính sự, dùng người hiền tài, thủy chung đều chính, không gì sai lệch. Tuy thân mang ác tật nhưng rồi chữa lành, cũng là nhờ có ý trời cả, tôn sùng đạo Phật. ở ngôi 11 năm, thọ 23 tuổi. Năm 1138 vua băng hà ở điện Vĩnh Quang, Thiên Tộ là con đích trưởng của Thần Tông, mẹ là Hoàng hậu họ Lê, lên ngôi khi mới 3 tuổi, xưng là Anh Tông. Trong việc phế lập, vua không mê hoặc lời nói của đàn bà, ký thác được người phụ chính hiền tài, có thể gọi là không thẹn với việc gánh vách. Song không phân biệt được kẻ gian tà, hình phạt không sáng suốt, cho nên trời xuống tai biến để răn, giặc cướp nổi lên, giềng mối rối loạn, không thể nói xiết. Ở ngôi 37 năm (1138-1175), thọ 40 tuổi (1136-1175), băng ở điện Thụy Quang. Thái tử Long Trát con thứ sáu của Anh Tông lên ngôi trước linh cữu, bấy giờ mới lên 3 tuổi, xưng là Cao Tông, tôn mẹ là Đỗ thị làm Chiêu Thiên Chí lý hoàng thái hậu. Tô Hiến Thành làm thái uý. Vua chơi bời vô độ, chính sự hình pháp không rõ ràng, giặc cướp nổi như ong, đói kém liền năm, cơ nghiệp nhà Lý từ đấy suy. ở ngôi 35 năm (1176- 1210), băng ở cung Thánh Ngọ. Hoàng thái tử Sảm lên ngôi ở trước linh cữu bấy giờ mới 16 tuổi, xưng là Huệ Tông, tôn mẹ là Đàm thị là Hoàng thái hậu, cùng nghe chính sự. Vua gặp buổi loạn lạc, giặc cướp tứ tung, mình bị bệnh nặng, không biết sớm cầu con nối, truyền ngôi cho Chiêu Hoàng,. Lý Chiêu Hoàng lên ngôi được hai năm truyền ngôi cho chồng là Trần Cảnh. Họ Lý bèn mất, lịch sử lại sang trang, từ đầu bắt đầu thời đại của nhà Trần. [1]

1.2. TRIỀU ĐẠI NHÀ TRẦN

Năm 1226, Trần Cảnh lên ngôi xưng là Thái Tông Hoàng Đế, sách phong Chiêu Hoàng làm hoàng hậu, đổi gọi là Chiêu Thánh. Phong Trần Thủ Độ làm Thái sư thống quốc hành quân vụ chinh thảo sư. Phế thượng hoàng Huệ Tông nhà Lý ra ở chùa Chân Giáo, gọi là Huệ Quang đại sư. Lúc nhà Lý suy yếu nhiều người nỗi loạn, Trần Thái Tông sai Trần Thủ Độ đem quân đi đánh Nguyễn Nộn, Đoàn Thượng và các Man ở vùng núi Tản Viên. Mùa thu, tháng 8, ngày mồng 10, Trần Thủ Độ bức tử Lý Huệ Tông ở chùa Chân Giáo sợ dân chúng nhớ thương vua cũ mà nỗi loạn hồng đoạt lại vương triều nên “nhổ cỏ phải nhổ tận gốc”. Giáng hoàng hậu của Huệ Tông là Thiên Cực công chúa phong làm Linh Từ quốc mẫu, gả cho Trần Thủ Độ. Thủ Độ đưa các cung nhân và con gái họ hàng nhà Lý Huệ Tông gả cho các tù trưởng người Man. Vua Trần Thái Tông khoan nhân đại độ, có lượng đế vương, cho nên có thể sáng nghiệp truyền dòng, lập kỷ dựng cương, chế độ nhà Trần thực to lớn vậy. Song quy hoạch việc nước đều do Trần Thủ Độ làm và chốn buồng the cũng có nhiều rối rem. Lấy vợ của anh mình là Trần Liễu phong làm Thuận Thiện hoàng hậu, sau lại đem công chúa Chiêu Thánh gả cho Lê Phụ Trần làm Ngự sử đại phu. Ngày 24, tháng 2 năm 1258, vua nhường ngôi cho Hoàng thái tử Hoảng, lui ở Bắc Cung. Thái tử lên ngôi Hoàng đế, đổi niên hiệu là Thiệu Long năm thứ 1, đại xá thiên hạ. Vua xưng là Nhân Hoàng, tôn thượng hoàng là Hiển Nghiêu Thánh Thọ Thái Thượng Hoàng Đế. Vua trung hiếu nhân thứ, tôn hiền trọng đạo, cha khai sáng trước, con kế thừa sau, cơ nghiệp nhà Trần được bền vững.[2]

2. HÀO KHÍ ĐÔNG A

2.1. HÀO KHÍ ĐÔNG A QUA TINH THẦN CỦA CÁC VUA NHÀ TRẦN

Nhà Trần thừa kế truyền thống bảo vệ và xây dựng đất nước Đại Việt trên cơ sở ý thức tự lập , tự cường dân tộc. Ba lần giặc Nguyên - Mông sang xâm lược nước ta là ba lần chúng đều đại bại. Dưới thời Trần, đất nước hoà bình, thịnh trịnhân dân sống ấm no. Hào khí Đông A là hào khí đời Trần, do chữ Trần gồm bộ A và chữ Đông hợp thành .Tuy nhiên, nói tới hào khí Đông A không chỉ nói riêng hào khí đời Trần mà còn chỉ hào khí của cả giai đoạn lịch sử từ thế kỷ X dến thế kỷ XV. Biểu hiện của hào khí Đông A là tinh thần tự lập, tự cường, lòng yêu nước, khát vọng lập công giúp nước; ý chí quyết chiến, quyết thắng mọi kẻ thù. Bấy giờ quân Nguyên – Mông đã chiếm lấy Trung Hoa, luôn cả các nước Đông Âu và Liên Xô. Chúng cũng muốn chiếm nước ta nên nhiều lần đã cho người sang xâm lấn. Tháng 12, ngày 12, năm 1257, tướng Nguyên Ngột Lương Hợp Đải xâm phạm Bình Lệ Nguyên. Vua Trần Thái Tông đích thân thân hành đốc chiến, xông pha tên đạn. Quan quân hơi núng, vua ngoảnh trông tả hữu, chỉ có Lê Phụ Trần một mình một ngựa, ra vào trận giặc, sắc mặt bình thản như không. Như vậy mới thấy được tấm lòng của vua thương nước thương dân, không màn đến của mình, đã ngự giá than chinh bất chấp mọi hiểm nguy.

Vua Trần Nhân Tông được truyền ngôi năm 1278 – 1279, nối nghiệp vua cha Trần Thánh Tôn. Mặc dù nhiều lần từ chối ngôi vua muốn nhường ngôi lại cho em là Đức Việp để làm tròn sự nghiệp xuất thế, song hoàng triều không đồng ý. Bắt buộc vua Trần Nhân Tông lên ngôi chấp chính từ năm 1279 – 1294. Trong 14 năm lên ngôigặp đất nước bị ngoại xâm do giặc Nguyên – Mông Cổ từ phương Bắc tràn xuống xâm lấn Đại Việt. Trước tình thế khó khăn, Vua Trần Nhân tông không còn cách nào lựa chọn khác là triệu tập quần thần và thứ dân văn võnhất tề đứng lên chống ngoại xâm bảo vệ đất nước, nền độc lập dân tộc. Với tinh thần cương quyết dũng cảmvì dân vì nước vì độc lập tự do, toàn dân hưởng ứng đứng lên đoàn kết một lòng, lại thêm có nhiều tướng lãnh oai hùng hào kiệt như : Trần Hưng Đạo, Trần Bình Trọng, Trần Nhật Duật, Trần Quốc Toản v.v... là những tướng lãnh ưu tú tài ba chiến thắng giặc Nguyên Mông Cổ làm Hốt Tất Liệt hồn vía bay theo mây gió, mộng đô hộ Đại Việt bị tan vỡ thảm hại.

2.2. HÀO KHÍ ĐÔNG A QUA THƠ CỦA CÁC TƯỚNG SĨ.

Năm 1282 quân Nguyên đòi mượn đường đánh Chiêm Thành, nhưng thực ra định xâm lược nước ta. Trước tình hình ấy, vua Trần mở hội nghị Bình Than bàn kết hoạch đánh giặc. Sau đó, Phạm Ngũ Lão và một số vị tướng được cử lên biên ải phía Bắc để trấn giữ đất nước. Hoàn cảnh lịch sử chắc chắn đã ảnh hưởng nhiều dến hào khí trong bài thơ. Hào khí dân tộc thể hiện qua tư thế, hành động của người trai Đại Việt thể hiện khát vọng lập công giúp nước, tinh thần trách nhiệm đối với dân tộc:

“Hoành sóc giang sơn cáp kỷ thu,
Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu.
Nam nhi vị liễu công danh trái.
Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu.”

(Múa giáo non sông trải mấy thu
Ba quân hùng khí ắt sao Ngưu
Công danh nam tử còn vương nợ
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu)

Cuối năm 1284, quân Nguyên – Mông do Thoát Hoan cầm đầu ồ ạt tấn công nước ta lần thứ II. Trước sức mạnh của quân giặc, Thái thượng hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông phải rời kinh đô đi lánh nạn. Nhưng chỉ mấy tháng sau, vào tháng 5-1285 (tháng 4 năm Ất Dậu ), quân ta đã phản công bất ngờ, chiến thắng lớn ở trận Hàm Tử, tháng 7 – 1285 (tháng 6 năm Ất Dậu), ta lại thắng lớn ở Chương Dương. Kẻ thù thất bại hoàn toàn. Sau chiến thắng, Trần Quang Khải là người hộ giá hai vua Trần trở về kinh đô. Trong không khí ngày khải hoàn, Trần Quang Khải đã cảm hứng làm bài thơ này để tái hiện lại khí thế chiến thắng của dân tộc, bày tỏ niềm tự hào của tác giả:

“ Đoạt sóc Chương Dương độ.
Cầm Hồ Hàm Tử quan.
Thái bình nghi nỗ lực
Vạn cổ thử giang san.”

(Chương Dương cướp giáo giặc
Hàm Tử bắt quân thù
Thái Bình nên gắng sức
Non nước ấy ngàn thu)

Khi đất nước lâm nguy các vua cùng các quan văn vỏ cho đến người dân đều một lòng cứu nước cho thấy Phật giáo từ khi du nhập đến dời Lý – Trần, từ xưa đạo phật và dân tộc luôn cùng song hành.

3. PHẬT GIÁO ĐỜI TRẦN VỚI CHỦ TRƯƠNG NHẬP THẾ TRONG SỰ NGHIỆP GIỮ NƯỚC VÀ DỰNG NƯỚC

3.1. KHÁI NIỆM NHẬP THẾ

Khái niệm nhập thế được thể nhập vào đời sống tâm thức người Việt Nam ngay từ khi đạo phật du nhập vào. Chính Mâu Tử đã đưa ra tinh thần nhập thế với khái niệm nhập thế như sau: “Ở trong nhà thì hiếu thảo với mẹ cha, ra ngoài thì cứu nhân giúp nước, khi ngồi một mình thì tự hoàn chỉnh bản than”, do đó khái niệm nhập thếkhông chỉ dành riêng cho Nho giáo như một vài ý kiến của trường phái Nho gia đã nói. Thật ra khái niệm nhập thế đã được đức Phật đã nói từ lâu: “Này các tỳ kheo vì hạnh phúcan lạc cho quần sinhvì lợi ích cho chư thiên và loài người, hãy đi mỗi người một ngã, đừng đi hai người trên một đường, vì lòng thương tưởng cho đời hãy đem chánh pháp đến gieo rắc khắp nơi”[3]. Trong các thiền đường Việt Nam khái niệm nhập thế được hiểu: “Phù xuất gia giả, phát túc siêu phương, tâm hình dị tục, thiệu long thánh chủng, chấn nhiếp ma quân, thượng báo tứ ân, bạc tế tam hữu”[4]. (Phàm là người xuất gia, bước đi một bước vượt đến chân trời cao rộng, hình tướng và tâm hồn khác với người thế tục, làm cho dòng thánh hưng long, nhiếp khục ma quân, để trên báo đềnbốn ơn nặng, dưới cứu khổ cho ba đường). Đó chính là tinh thần nhập thế của Phật giáo.

3.2. TINH THẦN NHẬP THẾ CỦA PHẬT GIÁO THỜI TRẦN

"Tinh thần Nhập thế của Phật giáo thời Trần” xuất phát từ lời dạy của Quốc sư Viên Chứng với vua Trần Thái Tông là người đi đầu thực hiện đã tạo thành làn sóng Phật Giáo Việt Nam mang vị mặn dân tộc, phả vào tất cả mọi bờ mé tâm thức của từng người dân Việt và kết tụ nên tiếng vang lớn “Phật giáo đời Trần là quốc giáo” trong lịch sử Phật giáo Việt Nam. Đến đời vua thứ ba triều Trần là Trần Nhân Tông, vừa thừa tiếp dòng chảy “Nhập thế” ấy và vừa thừa sức sáng tạo đã làm nên đợt sóng thần bất diệttác động lớn đến nền văn hóa xã hội Đại Việt thời Trần. Đó là sự ra đời của dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử mà chính Ngài làm Đệ Nhất Tổ. Căn cứ vào lịch sử Phật giáo Việt Namchúng ta sẽ thấy: rõ ràng không phải ngẫu nhiên đạo Phật khi du nhập vào Việt Nam lại có thể trở thành thứ tôn giáo tín ngưỡng của đa số dân chúng Việt Nam, thở cùng nhịp đập Việt Nam, gắn chặt với văn hóa Việt Nam và hòa quyện cùng vận mệnh thịnh suy của Việt NamChắc chắn phải nhờ một nét đặc thù nào đó đã kết tụ nên sắc thái Phật giáo Việt Nam như thế. Người ta có thể khẳng định đó là do tinh thần khế lý khế cơ hoặc tính vô ngãtừ bi bác áibình đẳngtrí tuệ,...của đạo PhậtTuy nhiên, một điểm son đặc biệt bao trùm lên tất cả, ấy là “tinh thần nhập thế” của đạo Phật. Nhất là tinh thần ấy lại nở nụ kết hoa ở thời Trần – một thời để lại ấn tượng sâu đậm nhất trong lịch sử Phật giáo Việt Nam.

Thật vậy, chính giai đoạn thời Trần với luồng gió “nhập thế” lớn mạnh của Phật giáo đã dựng nên một bối cảnh huy hoàng của lịch sử Việt Nam trải dài gần hai trăm năm, tạo nên những trang sử hào hùng oanh liệt của dân tộc Đại Việt nhỏ bé đã ba lần chiến thắng đội quân xâm lược vô địch Nguyên – Mông đương thời. Một thời đạiđiển hình về những vị vua anh minh: Trần Thái TôngTrần Nhân Tông...mãi mãi lưu danh trong hậu thế cùng những vị tướng tài ba, trung hiếu: Trần Thủ Độ, Trần Hưng Đạo, Phạm Ngũ Lão, Trần Quốc Toản... quyết một lòng gìn giữ xã tắc. Một thời đại Phật giáo Việt Nam chuyển sang bước ngoặt mới mà đỉnh cao là sự khai sáng dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử đứng đầu là Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông. Ngài đã đắc đạo nhờ vị thầy lãnh đạo tinh thần phong cách siêu phóng Tuệ Trung Thượng Sĩ và các đệ tử kế thừa xuất sắc: Pháp LoaHuyền QuangKim Sơn,...Không những thế, chính tinh thần nhập thế của Phật Giáo thời Trần cũng đã làm cho bộ mặt xã hội Việt Nam rực rỡ cả về văn hóa mỹ thuật lẫn quân sự chính trị. Phải nói rằng Phật giáo thời Trần với tinh thần nhập thế đã gây nên âm hưởng vang dội không chỉ một thời mà còn vọng mãi đến bây giờ và tới ngàn sau.

Kế thừa và phát huy truyền thống “Đạo Phật không rời cuộc sống” này, các vị vua thiền sư thời Trần đã “đem đạo Phật đi vào cuộc đời” một cách hữu hiệu từ phương châm hành động: “Lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tấm lòng của thiên hạ làm tấm lòng của mình”, và đã hình thành “Tinh thần nhập thế tích cực” nổi bậc của lịch sử Phật giáo Việt Nam. Tuy nhập thế không phải là tính chất riêng có của Phật giáo thời Trần nhưng ảnh hưởng từ vai trò nhập thế đã đưa Phật giáo thời Trần vươn tới đỉnh cao của lịch sử tư tưởng nhân loại, cũng như lịch sử Việt Nam vươn tới đỉnh cao trên vũ đài chính trị. Nếu vai trò nhập thế của nhà chính trị là chăm sóc dân tìnhgiữ gìn yên bình cho xã tắc thì vai trò nhập thế của người tu Phật là đem ánh sáng đạo Phật vào đời để giúp đời. Những nhà nhập thế tiêu biểu thời Trần như: Trần Thái TôngTrần Nhân Tông,...nhờ có sự kết hợp hài hòa đủ cả hai yếu tố nhập thế này nên mới tạo được thế đứng hiên ngang của lịch sử Việt Nam thế kỷ XIII về những cuộc chiến thắng thần thánh. Bởi vì nếu cả hai vai trò nhập thế trên không cùng được thể hiện thì không dễ gì các vị vua - thiền sư Đại Việt xứng đáng được lưu truyền. Về điểm này, so với vị vua Phật tử Lương Võ Đế đời Đường ở Trung Hoa cho thấy: cũng là vua, cũng là Phật tử thuần thànhthuyết pháptuyệt hay; thế nhưng, khi đất nước Trung Hoa lâm cơn khói lửa, thay vì xông pha trận mạc nhà vua lại đóng cốc tĩnh tu đã đưa đến thảm họa đau thương cho đất nước. Đối với các vị vua - thiền sư thời Trần, dù phải tận dụng mọi lúc rảnh rang để nghiên tầm kinh điển vẫn sẵn sàng “cởi áo cà sa, khoát chiến bào” khi bờ cõi tổ quốc lâm nguy. Cho thấy rằng, đạo Phật chưa bao giờ là đạo yếm thế mà là đạo nhập thế tích cực. Người tu Phật đúng nghĩa không thể là kẻ chán đời mà trái lại chính họ phải là những người can đảm, yêu đời, đầy đủ nghị lựcý chí để dấn thân, giáp mặt và chuyển hóa cuộc đời. Bởi vì lịch sử luôn là một bằng chứng sống động hùng hồn mà không ai có thể xóa mờ hay bác bỏ được, đó là một thời vàng son của đất nước và cũng là một thời vàng son của Phật giáo Việt Nam.

3.3. HÌNH ẢNH CON NGƯỜI ĐẠI VIỆT THỜI BÌNH THAM GIA XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC

Hình ảnh người con Đại Việt trong thời bình tham gia xây dựng đất nước trong thời Trần là nét riêng góp phần tạo nên một bầu không khí về sau dư¬ờng như¬ không còn tìm thấy lại; cũng chính nó đã góp phần tạo nên bản sắc ¬ưu mĩ của văn hóa Việt Nam trong năm thế kỷ tự chủ buổi đầu này. Có thể coi đây là kết quả của nhiều điều kiện, nhiều nhân tố khác nhau, nhưng trong đó, theo chúng tôi, có một điều kiện hết sức quan trọng - đó là sự cởi mở về quan điểm chính trị của các chính quyền nhà nước đư¬ơng đại thuở ấy, do bản lĩnh, tầm nhìn, và sự mẫn cảm phi thường của ngư¬ời nắm vận mệnh đất nư¬ớc thấu hiểu đ¬ược các yêu cầu của lịch sửthể hiện cụ thể hóa bằng nhiều chủ trương chính sách của triều đình. Vua Trần Nhân Tông bực minh quânlãnh đạo tài ba , đem lại hoà bình an cư lạc nghiệp, Vua ban sắc lệnh đại xá tội phạm, lấy đất công ban thưởngcho quân dân có công dẹp giặc, và giảm miễn thuế nông nghiệp tạo điều kiện thuận lợi cho nông dân hăng háisản xuất lúa gạo, nông sản, để dân được no cơm ấm áo, dân có giàu thì nước mới mạnh. Những công việc song song và đan cài vào nhau suốt cả thời kỳ này, bao giờ cũng biểu hiện sự đối xử cân bằng vị thế của Phật giáo như¬: vừa cho dựng chùa, vừa cấp độ điệp cho sư¬ sãi, đặt giai phẩm cho tăng đạo, đem đạo vào trong cuộc sống làm cho quốc thái dân an, người người an cư lạc nghiệp.

Vua Trần Nhân Tông vẫn quan tâm bồi dưỡng nhân cách bậc "nhân nhân quân tử” theo các tiêu chuẩn của đạo Nho cho ông vua con kế vị và cho hàng ng̣ũ bề tôi r¬ường cột của triều đình. Mặt khác, ông cũng lo tổ chức cho nhiều đại thần công khanh thụ giới ¬ưu bà tắc, tức là không xuất gia nhưng vẫn làm Phật tử tại giaĐặc biệt, mở các khoa thi tuyển dụng hiền tài để giúp nước giúp dân, chủ trương dung hợp đạo Nhođạo Lão với Đạo Phật, không hề đi kèm với những biện pháp cứng rắn, mệnh lệnh, mà đ¬ược thực hiện khá uyển chuyển, lấy việc thuyết phục và tự nguyện làm phư¬ơng châm hàng đầu.

4. TINH THẦN THOÁT TỤC QUA BÀI “CƯ TRẦN LẠC ĐẠO PHÚ” CỦA TRẦN NHÂN TÔNG

Hoàn thành sứ mệnh cương vị vua chúa của một đất nước, Vua Trần Nhân Tông tiến lên một bước nữa là bước đường giải thoát như người đã hoài bão lúc chưa lên ngôi hoàng đế. Người nhường ngôi lại cho con là Trần Anh Tông, cắt ái từ thân theo hạnh từ bi trí tuệ giác ngộ giải thoát của Phật Thích Ca tu thiền nhập địnhtrên núi Yên Tử, đem đuốc tuệ sáng soi trong lòng dân Việt. Ngài sáng tác nhiều bài phú để giáo huấn thần dân bài “Cư Trần Lạc Đạo” là một bài trong những bài phú đáng được lưu tâm, nói lên tâm tư nguyện vọng ĐỜI và ĐẠO, tục đế và chơn đế liên quan đến đời sống con người trần thế và xuất thế giải thoát. Ngài nói :

“Ở đời tu đạo hãy tuỳ duyên
Đói đến thì ăn mệt ngủ liền
Trong nhà có báu thôi tiềm kiếm
Đối cảnh không tâm chớ hỏi thiền “.

Tuy nhiên vua Trần Nhân Tông nhận thấy cuộc sống trần gian dù cao đẹp giàu sang vinh quang nó không tồn tại vĩnh cửu mãi, một ngày nào đó vô thường đến nó sẽ bị tan mất không khác nào như sương đầu ngọn cỏ, như hoa phù du sớm nở tối tàn, chỉ có tinh thần đạo đức, vui với đạo yêu đạo làm theo đạo tùy theo duyên sống động tùy hoàn cảnh xứ sở đưa đời sống cao đẹp hơn vĩnh viễn hơn đó là con đường giác ngộ giải thoát cuộc sống sanh già bệnh chết. Đúng như lời Phật Thế Tôn chỉ giáo: Tùy duyên bất biếnbất biến tùy duyên "đời và đạo, sáng và tối, chúng sanh và Phật, phiền não và Bồ đềsanh tử và Niết bàn" chỉ là một tánh không có hai, chỉ khác người được giác ngộ gọi là Phật, người còn vô minh trược gọi là chúng sanh, có đuốc tuệ là sáng tỏkhông đuốc tuệ là mờ tối.

Đời sống tốt đẹp văn minh hoàn thiện chính là người vui với đạo sống với đời , có đạo mà không có đời thì đạo truyền cho ai, có đời mà không có đạo thì đời khô cằn không tinh thần sống động, khác nào như cây đứng giữa rừng đồng trống khô khan . Đói ăn, khác uống, mệt ngủ là nếp sống thường tình của dân sinh. Người đời thường nói “có thực mới vựt được đạo” có sức khỏe là nhờ sự bồi dưỡng ăn uống và nghĩ ngơi thanh thoát, có sức khỏe mới tạo nên sự nghiệp đời cũng như đạo mới được vinh quang sáng rạng, đó có nghĩa là tùy duyênhoàn cảnh của nhơn sinh xã hội . Chính hai câu thơ đầu của bài thơ phú bốn câu là nói lên sự cần thiết của đời sống nhân sinh, theo thuật ngữ Phật gọi đó là đời sống tục đế (Samvrity Satya) đời sống của con người thế tụctrần gian không thể không có ! Đức Vua Trần Nhân Tông nhận thức đời sống thực tế ăn mặc ngủ nghỉ của nhân sinh không thể không có, lại rất cần thiết cho đời sống tùy theo duyên hoàn cảnh khác biệt của mỗi người trong xã hộiTuy nhiên kiến thức trí tuệ nhận thức Vua Trần Nhân Tông không phải dừng nơi đây, nơi cuộc sống thường tình trong đời sống hạng cuộc rồi buông tay khi vô thường đưa đến, có sanh phải có diệt, có sống phải có chết, có hạnh phúc phải có ngày đau khổ... Nếu chúng ta chỉ biết có hướng ngoại tìm phương tiện cho sự sống mà không biết hồi tâm hướng nội. Nhìn và nhận thức cái gì sẳn có trong bản thân chúng ta mà xưa naychúng ta đánh mất chỉ biết theo trần cảnh tạm bợ bên ngoài. Chính vì vậy Cư Trần Lạc Đạo (ở đời vui đạo) hay an cư lạc nghiệp, đó là đạo nghiệp thế gian mà Đức Vua Trần Nhân Tông phương tiện đưa ra đáp ứng đời sốngnhất thời hiện tại không thể không có. Như kinh điển Phật nói có vô số phương tiện tùy cơ ứng biến. Từ đó Đức Vua đưa nhơn sinh tiến lên đời sống cao thượng, đời sống hướng về nội tâm bản giác sẳn có nên Ngài nói :“Trong nhà có báu thôi tìm kiếm. Đối cảnh không tâm chớ hỏi thiền.” Hai câu đầu “Cư Trần Lạc Đạo... “ là diễn tả tư tưởng đời sống thế gian thế tụcđời sống nhờ phương tiện ngoại cảnh bên ngoài mà nhà vua khuyên nhân dân có nếp sống đạo đức tu tâm dưỡng tánh làm thú vui cho tinh thần lạc đạo trong lúc nước nhà được thái bình. Từ phương tiện hướng ngoại Ngài trở về nội tâmbản giác nhân loại ít ai hiểu rằng Phật ở trong lòng ta ( Phật tại tâm ) nên dong rủi theo cuộc đời giả tạo mờ ảo bên ngoài làm lu mờ bản tính giác ngộ Phật tánhsẳn có trong nội tâm chúng ta. Trong nhà sẵn có ngọc ngà của báu đầy đủ không thiếu thứ gì, mà tự mình không biết lại quanh quẩn bốn phương tìm kiếm. Trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “ Thọ ký thứ tám “ có kể câu chuyện rằng : Có chàng thanh niên trong vạt áo có cột sẵn viên ngọc báu vô giá phòng hờ gặp khi cùng cực thiếu thốn lấy ra tiêu xài, song chàng thanh niên không nhớ trong vạt áo mình có viên ngọc báu vô giá, gặp cơn đói khát áo quần rách rưới đi lang thang từ làng này sang tỉnh nọ xin ăn, một ngày nọ gặp lại bạn tri thứcnói với chàng thanh niên rằng trong mình chàng có viên ngọc quý hiếm cớ sao không lấy ra bán mà tiêu dùng lại đi lang thang xin ăn khổ cực... chàng thanh niên nhớ lại và tìm trong vạt áo qủa thật có viên ngọc báu, từ đó chàng không còn khổ sở nữa. Ngọc báu trong mình mà không biết đem ra tiêu dùng, cũng như Phật tánh sáng suốt sẳn có trong mỗi chúng sanh mà không biết trau dồi tu sữa để lâu ngày bị bụi trần bám dơ. Nhờ thiện tri thức nhắc mới nhớ lại bản tánh ngọc báu vô giá sẳn có trong ta, khi biết mình sẳn có còn tìm đâu nữa.

Tu thiền chỉ quán, trước quán sát cảnh vật bên ngoài là hư ảo giả tạm do nhiều nhơn duyên yếu tố kết hợp mà có như chiếc xe do nhiều bộ phận lắp ráp mà thành rồi theo luật thời gian biến chuyển hư mòn sự vật mai mộtkhông tồn tại mãi mãi. Biết sự vật là ảo huyền vô thường có rồi không nên tâm không đam mê cố chấp thật có các Pháp. Tâm không chấp trước ngả Pháp, tức tâm không còn phiền nãophiền não không còn thì tâm yên tịnh tâm thanh tịnh nên tiếp xúc đối tượng cảnh vật bên ngoài đều không thật có không đam mê chấp trướcmong muốn trông cầu. Cho nên đối cảnh không tâm, tâm đã thanh tịnh phát hiện trí tuệ được sáng suốt còn hỏi đến thiền, tu thiền để làm gì. Như nhờ thuyền bè vượt qua dòng sông đau khổ đến bờ giải thoát bên kia rồi, còn mong thuyền bè vát thuyền bè trên vai chi cho nhọc. Khi thiền đã được chứng đắc còn hỏi thiền tìm thiền tu thiền chi nữa.

Nhờ phương tiện để đạt đến cứu cánh Chơn – Thiện – Mỹ , chính vua Trần Nhân Tông nhận chơn được chân lý Phật đà. Trước dùng phương tiện Cư Trần Lạc Đạoan cư lạc nghiệp, đói ăn khát uống, mệt ngủ tạo thiện duyên cho dân tộc nhân loại trong cuộc sống nhân quần xã hội biết Đạo vui Đạo, từ đó tiền lên đời sống cứu cánh tinh thần giải thoát thành lập Trúc Lâm Tam Tổ Yên Tử, lưu lại thánh cảnh Yên Tử hiện hửu và đạo đứcthiền môn tinh thần giải thoát cho muôn đời hậu lai. Có đời có đạo phương tiện cứu cánh ,Tục đế chơn đế , sắc sắc không khôngTùy duyên bất biếnbất biến tùy duyên là chơn đạo của Phật Tổ lưu truyền, một triết lý cảnh giác nhơn sanh mà Đức vua Trần nhân Tông áp dụng rất cụ thể nhuần nhuyễn đúng đắn trong cuộc sống Đời và Đạo. Người tiếp nối cầm đuốc tuệ Như Lai soi sáng đất Đại Việt, kỉnh tỉnh nhân gian giác ngộ sáng tạo.

5. CÔNG CUỘC MỞ NƯỚC CỦA NHÀ TRẦN

Các vua nhà Trần không những đóng vai trò dựng nước, giữ nước mà còn mở rộng đất nước về phía Nam. Tháng Ba năm 1301, Trúc Lâm Đầu Đà đi Chiêm Thành để quan sát Phật Giáo tại đây. Vua đi với tư cách một du tăng, có một số tăng sĩ tùy tùng. Vua đã lưu lại đây cho đến tháng mười một mới về. Trong thời gian lưu trú tại Chiêm Thành, vua đã đàm đạo với vua nước Chiêm Thành là Chế Mân. Cuộc tiếp xúc này chắc hẵn là một cuộc tiếp xúc rất thân mật; vua Chế Mân tiếp một vị du tăng Việt Nam nhưng đồng thời cũng tiếp một người có thế lực tinh thần rất lớn trong triều đình và ngoài dân chúng. Trong mục đích xây dựng tình hòa hữu giữa hai nước làm nền tảng cho hòa binh lâu dàiTrúc Lâm đã hứa sẽ gã công chúa Huyền Trân cho vua Chàm. Tháng sau năm sau 1306, công chúa Huyền Trân về nhà chồng. Vua Chiêm Thành dâng hai châu Ô và Lý làm sính lễ. Đến năm 1307 hai châu này được đổi tên là Thuận và Hóa. Ta không rõ sự dâng đất này xuất từ thâm ý của vua Chiêm Thành hay là điều kiện của do vua Anh Tông đặt ra. Chỉ biết là khi đất hai châu trở thành đất Việt Nam thì cư dân các thôn La Thủy, Tác Hồng và Đà Bồng không chịu theo về quốc tịch Việt. Vua Anh Tông phải sai Đoàn Nhữ Hài, một người tâm phúc của vua, đến các thôn này tuyên dụ đức ý của triều đình, chọn người bản xứ bổ làm quan, cấp đất cho dân, miễn thuế trong ba năm để vỗ về họ.

Cuộc tình duyên giữa vua Chiêm Thành và công chúa Huyền Trân tiếc thay lại rất ngắn ngũi. Bà về với vua Chiêm Thành tháng sáu năm 1306 đến tháng năm năm 1307 vua Chiêm mất. Theo tục lệ Chiêm Thành, hễ vua băng hà thì hoàng hậu phải lên đàn thiêu chết theo. Vua Anh Tông sợ công chúa bị hại, liền sai Trần Khắc Chung sang, lấy cớ làm lễ viếng rồi tìm cách cứu công chúa về. Trần Khắc Chung qua Chiêm Thành vào tháng mười mà mãi đến tháng tám năm sau mới đưa được công chúa Huyền Trân về tới kinh đô. Trúc Lâm nghe tincon về mừng rỡ xuống núi đón. Sợ triều đình Chiêm giận, Trúc Lâm liền bảo trại chủ Châu Hóa lấy thuyền đưa 300 người Chiêm lưu vong về nước, mong chuộc lỗi Trần Khắc Chung đã đánh lừa Chiêm để đem công chúavề.. Chủ ý của Trúc Lâm xây dựng tình huynh đệ giữa hai nước Chiêm Việt để bảo vệ hòa bình đã không được triều đinh đeo đuổi thực hiện. Tháng chạp năm 1311, nghĩa là đúng ba năm sau ngày Trúc Lâm mất, vua Anh Tông đi đánh Chiêm Thành. Sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư nói rằng sở dĩ có cuộc chinh phạt Chiêm Thành như thế là vì “vua nước ấy là Chế Chí phản trắc”. Như vậy, các vua nhà Trần không muốn chiến tranh nhưng vì phải bảo vệ đất nước và muốn xây dựng một nề hòa bình bắt buột phải tiếp tục chống giặc. Việc gả công chúaHuyền Trân cho vua Chế Mân với lẽ vật là hai châu Ô và Lý đã nói lên tinh thần mở rộng thêm đát nước của nhà Trần.

6. NHỮNG THÀNH TỰU CỦA TRIỀU ĐẠI NHÀ TRẦN

6.1. KINH TẾ

Do các vua Trần thấm nhuần tư tưởng đạo Phật nên việc quan tâm đến miếng cơm manh áo cho dân là việc hiển nhiên. Bởi đó cũng là một biểu hiện của lòng từ bi và bình đẳng của đạo Phật. Chú ý đến phát triển kinh tế, các vua Trần đặc biệt tập trung vào việc trị thủy và thủy lợi để nâng cao sản xuất nông nghiệp cho đất nước. Về trị thủy, các vua Trần huy động dân đắp đê giữ nước sông Hồng từ đầu nguồn cho đến cửa biển để giữ nước lụt ngập tràn, gọi là đê Đỉnh Nhĩ. Chính các vua Trần có lúc còn tự mình đi xem xét việc đắp đê. Về công trìnhthủy lợi, các vua Trần tăng cường số lượng sông đào. Cụ thể sông Tô Lịch ở vùng đồng bằng Bắc bộ sự việc các vua Trần cho đào nhiều sông kênh như sông Trầm và sông Hào nối liền Thanh Hóa với Nghệ An ngoài việc phục vụ khẩn cấp nước cho nông nghiệp còn vừa tiện lợi giao thông, vừa mở mang thương nghiệp. Mặt khác, ở thời Trần, nhà chùa đứng trung gian giữa vua chúa với những người có nhiều tài sản và dân cày làm nhiệm vụ điều hòa cuộc sống kinh tế xã hội. Bên cạnh đó còn vận động sự đóng góp tiền bạc và của cải từ vua quan, tín đồ Phật tử để cứu giúp đồng bào nghèo. Nhờ vậy, xã hội phần nào có được sự ổn định về kinh tế đời sống.

6.2. CHÍNH TRỊ

Áp dụng phương châm trị nước của Quốc sư Viên Chứng: “Lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tấm lòng của thiên hạ làm tấm lòng của mình”, nhà Trần đã đoàn kết nội bộ, động viên được tinh thần vì dân vì nước của hầu hết tầng lớp nhân dân tham gia công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Việc Trần Nhân Tông tổ chức hai hội nghị Bình Than (1282) và Diên Hồng (1285) đã nói lên tính dân chủ mà vào thời đó ít nơi trên thế giới có thể làm được. Những nhà lãnh đạo thời Trần biết chủ động và sáng tạo, chọn lọc trong hệ tư tưởng Phật giáo tất cả những gì tinh hoa nhất, tích cực nhất, phù hợp nhất với hoàn cảnh lịch sử Việt Nam thời bấy giờ, làm cho cả dân tộc Việt Nam, triệu người như một đều hướng về vua, vùng lên đánh đuổi quân xâm lược, đem lại thắng lợi vẻ vang cho Đại Việt.

Hành động truyền ngôi cho con của các vua nhà Trần cho thấy các Ngài một phần biểu hiện sự thông tỏ Phật Pháp, xem nhẹ ngôi vua, coi rẻ ngai vàng, không tham quyền, không cố bám vương vị đến cuối đời. Bởi vì, dù ở ngôi Thái thượng hoàng, làm cố vấn cho con; thế nhưng hầu như mọi ý kiến của các Ngài đều được các vua tuân thủ thi hành. Điều này chứng tỏ sự hợp lực một cách sáng suốt để cùng nhau lãnh đạo, tức vừa khích lệ tài năng của lớp trẻ, vừa học hỏi được kinh nghiệm của chư vị lão niên. Ngoài ratư tưởng Phật giáo còn để lại những dấu ấn rõ nét trong quan niệm và tình cảm về đạo đức thời Trần. Tinh thần từ bi hỷ xả và sự tu dưỡng về thập thiệnngũ giới của mỗi Phật tử không khỏi có liên hệ đến tình cảm xót thương những nỗi đau khổ và cực nhọc của dân chúng cùng những khái niệm đạo đức đương thời như: “khoan hòa, nhân từ, phúc huệ”. Về khía cạnh này dẫu chỉ là sự ảnh hưởng gián tiếp vẫn góp phần tạo nên trật tự an ninh cho xã hội triều Trần.

6.3. VĂN HÓA

Điểm nổi bậc của văn hóa thời Trần là văn học đạo thiền hay văn học Trúc Lâm. Nói khác hơn, nền văn họcTrúc Lâm là kho tàng lưu trữ những tác phẩm văn học đương thời. Chính nền văn học này mở đầu cho nền văn học viết của văn học trung cổ Việt Nam. Nơi đây – Trúc Lâm Yên Tử – đã tập trung hầu hết các tác phẩm của các tác giả đương thời như: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quang Khải, Tuệ Trung Thượng SĩPháp LoaHuyền Quang,...Bên cạnh những tác phẩm chữ Hán, các tác phẩm chữ Nôm cũng lần lượt ra đời và trở thành tiếng nói riêng của dân tộc Việt. Tuy chữ Nôm bắt đầu xuất hiện từ rất sớm nhưng mãi đến thế kỷ XIII, tức thời Trần, chữ Nôm mời được xem là hoàn chỉnh. Những tác phẩm chữ Nôm triều Trần như: Cư Trần Lạc Đạo Phú và Đắc Thú Lâm Tuyền Thành Đạo Ca Phú của Trần Nhân Tông, hoặc Vịnh Vân Yên Tự Phú của Huyền Quang sau khi xuất hiện trên diễn đàn văn học đã có giá trị rất lớn vì tác giả đã dùng tiếng Việt như một ngôn ngữ để diễn đạt những tư tưởng trừu tượng một cách khéo léo và dễ hiểu. Từ đó, tiếng Việt đã trở thành một ngôn ngữ đủ khả năng chuyển tải bất cứ nội dung tư tưởng khác nhau nào và có một vẻ đẹp của riêng nó. Do vậy, sự hoàn thiện của chữ Nôm được xem là cái mốc thành tựu lớn của văn học thời Trần.

6.4. KIẾN TRÚC

Trong khí thế chung của văn hóa dân tộc, kiến trúc thời Trần tuy thừa hưởng vốn liếng to lớn từ thời Lý vẫn cónhững bước phát triển mạnh đáng kể mang sắc thái tự chủ tự cường do tín ngưỡng của quần chúng nhân dânthời Trần chủ yếu là Phật giáo. Nhất là khi dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử mở rộng địa bàn vùng đông bắc từ Uông Bí, Đông Triều đến Thăng Long, chùa tháp được dựng lên rất nhiều để đáp ứng cuộc sống tinh thần cho dân chúng. Nhà Trần đã tiến hành trùng tu những chùa tháp cũ như: chùa Một Cột (1249), tháp Báo Thiên (1258), chùa Khai Nghiêm, Yên phong (Hà Bắc - 1333 - 1335), tháp Linh Tế ở núi Dục Thúy (Hà Nam Ninh - 1337). Ngoài ra, một số công trình kiến trúc mới cũng được xây dựng rất quy mô, như: “chùa Hương Tích ở Nghệ Tĩnh, chùa Hoa Long và chùa Thông ở Thanh Hóa, chùa Hang ở Hoàng Liên Sơn, tháp Bình Sơn ở Vĩnh Phú, chùa Bối Khê ở Hà Sơn Bình”. Đồng thời có những khu vực thời Lý vốn được coi là trung tâm Phật giáo, sang thời Trần vẫn tiếp tục duy trì và mở mang như: “khu chùa và tháp vùng núi Phật Tích ở Hà Bắc, chùa Quỳnh Lâm ở Quảng Ninh”. Đặc biệt chùa Hoa Yên ở Yên Tử và tháp Phổ Minh ở Hà Nam Ninh là những công trình nổi tiếng được nhắc nhở nhiều trong sách sử. Ngày nay, tất cả những dấu tích kiến trúc thời Trần đã bị thời gian bào mòn nên còn lại rất ít. Tuy nhiên, qua những gì đọc được trên sách vở cũng giúp ta hình dungphần nào sự khang trang, bề thế của các công trình kiến trúc xưa của dân tộc một thời oanh liệt.

6.5. ĐIÊU KHẮC

Căn cứ vào thư tịch cổ và những tác phẩm điêu khắc thời ấy chúng ta có thể xác nhận việc khắc tượng Phậtchiếm ưu thế trong điêu khắc thời Trần. Bởi vì lúc Phật giáo hưng thịnh, tượng Phật được đúc rất nhiều. Có những nhà sư cúng một lần đã cho đúc tới 1.300 pho tượng Phật lớn nhỏ. Có những tượng kích thước khá lớn như tượng Di Lặc cao tới 1 trượng 6. Các bậc vua quan, quý tộc bỏ tiền đúc tượng tương đối nhiều, như vua Trần Minh Tông khi mới lên ngôi, chỉ riêng ở chùa Siêu Loại đã cho đúc đến 3 pho tượng lớn bằng đồng: Di ĐàThích CaDi Lặc, tất cả đều cao 17 thước. Nhìn chung, mặc dù tài liệu thu thập được quá ít để có thể hiểu biếtđược đầy đủ về nghệ thuật điêu khắc thời Trần, song chúng ta phải thừa nhận những công trình điêu khắc thời ấy phải là những công trình vĩ đại và mang tính nghệ thuật cao.

KẾT LUẬN

Trải qua các triều đạiđạo Phật đều thể hiện nét riêng biệt đặc thù của Phật giáo Việt Nam. Từ đó cũng có thể cho rằng con người và hoàn cảnh xã hội mỗi thời kỳ cũng có thể cho rằng con người và hoàn cảnh xã hội mỗi thời kỳ cũng là một trong những nhân tố quan trọng góp phần quy định bản chất của Phật giáo Việt NamKế thừa sự nghiệp nổi bật này, tinh thần nhập thế của Phật giáo nhà Trần được thể hiện lại mạnh mẽ, rõ ràng và cụ thể hơn đã đưa đạo Phật đi vào cuộc đời, hành động và áp dụng giáo lý Phật giáo là vì con người và cho con người. Khi có ngoại xâm, các thiền sư đã "cởi áo cà sa khoác chiến bào"[5]. Hành động đó phát xuất từ tấm lòng từ bi, cứu khổ cứu nạn của những người con Phật, nhưng không chỉ có thế. Ở đây, xuyên suốt giòng lịch sử phát triển của dân tộc, cũng là lịch sử tranh đấu không ngừng với ngoại xâm, đã un đúc trong những con người Việt một tinh thần yêu nước nồng nàn, đã kết tinh thành truyền thống và trải qua các thời đạitinh thầnnày càng phát triển. Những vị vua nhà Trần cũng đồng thời là những thiền sư đã thể hiện được sự kế thừatiếp thu đạo Phật một cách chọn lọc và sáng tạo, đã bằng những hành động của mình, khơi sáng đem lại cho Phật giáo một sức sống thực sự, làm cho đạo Phật không bị trở thành giáo điều, khô cứng. Ở các thiền sư đời Trần, thiền lý và thiền hành đã nhập làm một, không phân biệt, chỉ còn lại Trí Huệ Bát Nhã, dùng nó bằng nhiều hình thức khác nhau, bằng mọi phương cách khác nhau, để phục vụ nhân sinh.

Như vậy, một triều đại có được tư tưởng thiền tông xuyên suốt, biết vận dụng nó làm kim chỉ nam cho mọi tư tưởng và hành động của mình, như triều Trần, nên đã tạo cho Phật giáo đời Trần một thời kỳ rực rỡ trong lịch sửthể hiện cao tinh thàn dân tộc, ở đó tính chất nhập thế được xem là giáo lý căn bản, dùng nó làm nền tảng cho đạo đức xã hộixây dựng một hệ thống giáo hội mới và hệ thống kinh sách mới, không lệ thuộc và chịu ảnh hưởng nặng nề của Phật giáo từ Ấn Độ cũng như từ Trung Quốc. Đây là một trong những tính chất mang tính tiêu biểu của Phật giáo, là mục đích nhưng đồng thời cũng là nguyên nhân, là phương tiện chi phối mọi hoạt động. Ở những triều đại khác, nơi mỗi nhà tu hànhđặc biệt đối với triều đại nhà Trần, là giai đoạn có sự thử thách cao, đối đầu với xâm lược có tầm cỡ trên thế giới, nên để đạt được mục tiêu chung, nhằm giữ gìn nền độc lập cho xứ sở, tính chất này càng được bộc lộ mạnh mẽ. Những đố kỵhiềm khíchghen ghét nhau trong vua tôi tạm thời được gác lại, để tập trung vào mục tiêu chung, thì trong các Thiền sưtính chất vô ngãvị thacàng được thể hiện rõ nét qua câu nói của nhà sư trụ trì trên dãy Yên Tử (Quốc sư Trúc Lâm hay Phù Vân) khuyên vua Trần Thái Tông : "Phàm là đấng làm vua cai trị muôn dân, thì phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tâm của thiên hạ làm tâm của mình". Trong mỗi người mang tấm lòng vì dân vì nước, quyết cống hiếnhy sinh trọn cuộc đời mình cho sự nghiệp cao cả, cho hạnh phúc của toàn dân và vì độc lập của tổ quốc. Có quá đang hay không khi cho rằng đấy cũng chính là những vị vua những vị "thiền sư" nhà Trần tiếp nối vẻ vang tinh thần dân tộc cũng như Phật giáo Việt Nam trong lịch sử.

_______________________

• Thích Pháp Như




TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. HT. Thích Thanh Từ – Trúc Lâm Tam Tổ giảng giải. 1997.
1. Lê Văn Hưu, Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1993.
3. Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 2, Nhà xuất bản TP.HCM, 2001
1. Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, Nxb Văn học, Hà Nội, 2000.
5. Mật Thể, Việt Nam Phật giáo Sử lược. Nxb Minh Đức 1960.
6. Hoàng Xuân Hãn, Lý Thường Kiệt, Tủ Thư Đại học Vạn Hạnh tái bản lần thứ I, 1966.
7. Lê Mạnh Thát –Toàn Tập Trần Nhân Tông – Nxb TPHCM - 2000.
8. Ngô Sĩ Liên – Đại Việt Sử Ký Toàn Thư. 1985
________________________________________

[1] Lê Văn Hưu, Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1993.
[2] Lê Văn Hưu, Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1993.
[3] Thích Minh Châu dịch, Tương Ưng Bộ kinh, Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh, 1992
[4] Thích Trí Quang dịch, Luật Sa Di và Sa Di NiQuy Sơn Cảnh Sách, 1996.
[5] Trần Hồng Liên, Vài nét suy nghĩ về Thiền tông Việt Nam

CỬA BIỂN TƯ DUNG ĐANG BIẾN MẤT NHƯ THẾ NÀO?

Hàng trăm năm nay ai cũng biết đầm phá Tam Giang - Cầu Hai có 02 cửa thông ra biển: Thuận An và Tư Hiền.

 

Cửa Tư Hiền đóng, dòng chảy từ đầm Cầu Hai qua cửa Tư Dung ra biển


Ngày xưa, cửa Tư Hiền có tên là Tư Dung và cũng không nằm ở vị trí hiện nay mà nằm dịch về phía Nam khoảng 5 cây số, ngay dưới chân núi Vinh Phong thuộc thôn Hải Bình, xã Lộc Bình, huyện Phú Lộc. Chính cửa biển Tư Dung ấy, chứ không phải cửa Tư Hiền hiện nay, đã từng là một địa danh gắn liền với rất nhiều sự kiện lịch sử của vùng đất, được coi là một thắng cảnh nổi tiếng, xuất hiện không chỉ một lần trong thi ca. Thế mà cửa biển Tư Dung lịch sử ấy đang biến mất một cách lặng lẽ, gần như không được một ai để ý đến. Gần đây có dịp ghé qua cửa Tư Dung ngày xưa ấy, chúng tôi mới giật mình, vì không còn thấy một cửa biển rộng, sâu, tàu, thuyền ra vào tấp nập như đã từng được mô tả. Thay vào đó là một lạch triều vừa cạn, vừa hẹp không biết sẽ bị lấp hoàn toàn lúc nào. Đứng dưới chân núi Vinh Phong, nghĩ đến việc anh Đoàn Khoách nhớ cửa Tư Dung ngày xưa ấy, tưởng tượng nơi đây đang ào ạt sóng biển vỗ bờ mà viết bài “Thắng cảnh Tư Dung” rất hay trên trang www.nhohue.org[1], muốn gửi đến anh bài này để anh em cùng nhớ lại một địa danh lịch sử, một thắng cảnh hữu tình và cũng để anh và những người yêu Huế hình dung cửa biển Tư Dung ấy đang biến mất như thế nào. 

 

Theo sách xưa thì cửa biển Tư Dung nguyên thuộc nước Chiêm Thành, trải qua các triều đại, đã từng có nhiều tên gọi khác nhau: dân gian gọi là cửa Ông hay cửa Biện, nhà Lý gọi là cửa “Ô Long”, nhà Mạc gọi là cửa “Tư Khách”, từ thời vua Thiệu Trị (năm 1814), nhà Nguyễn gọi là cửa Tư Hiền. Nhưng cái tên được dùng lâu đời nhất, bắt đầu từ nhà Trần, đến nhà Lê, và một giai đoạn nhà Nguyễn, là cửa “Tư Dung”[2]. Dùng hai chữ “Tư Dung” để đặt tên cho cửa biển này, người Việt thời nhà Trần muốn đánh dấu cuộc hôn nhân giữa vua Chiêm Thành và công chúa Việt, đồng thời cũng nhằm tưởng nhớ công ơn công chúa Huyền Trân đã hy sinh hạnh phúc cá nhân cho việc mở mang bờ cõi. Vua chúa các đời Lý, Trần như Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Trần Anh Tông, Trần Duệ Tông đều có đem quân qua đấy. 

 

Ngày trước, cửa biển Tư Dung vốn sâu và rộng, các loại thuyền lớn nhỏ ra vào rất thuận tiện. Theo sách “Đại Nam Nhất Thống Chí” của Quốc sử quán triều Nguyễn thì “cửa rộng 8 trượng, khi nước lên sâu 3 thước, khi nước ròng sâu 2 thước, nước cạn thuyền lớn đi không được. Xưa có đặt Thủ sở, có binh túc trực tuần phòng ngoài biển, phía tây cửa biển có hành cung Túy Vân sơn. Xưa kia, cửa nguyên ở chỗ gần núi, cách phía nam cửa bây giờ chừng 5 dặm[3]. Tương truyền, vài trăm năm trước đây, cửa cũ rất sâu rộng, ghe thuyền rất thuận tiện vào ra”[4]. Có thể hình dung cửa biển Tư Dung ngày ấy qua 02 câu trong bài thơ “Tư Dung hải môn lữ thứ (Nghỉ lại ở cửa bể Tư Dung)” của vua Lê Thánh Tông (dịch nghĩa):

 

“Vách núi dựng đứng nhấp nhô, màu xanh ngăn ngắt, 

Sóng vỗ ngất trời cuồn cuộn, sắc biếc trùng trùng”[5].

 

Nói đến cửa biển Tư Dung không thể không nhắc đến Đào Duy Từ, một danh nhân thời các chúa Nguyễn, người đã hết lời ca ngợi cảnh trí thiên nhiên tươi đẹp và hùng vĩ của cửa biển này trong bài thơ lục bát dài tới 332 câu có tên là “Tư Dung vãn”. 

 

“Khéo ưa thay cảnh Tư Dung,

Cửa thâu bốn bể, nước thông trăm ngòi.

Trên thời tinh tú phân ngôi,

Đêm treo thỏ bạc, ngày soi ác vàng”[6]. 

 

Đầu năm Gia Long (năm 1811), do có lụt lớn, cửa biển Tư Dung bị lấp cạn dần, đồng thời hình thành một cửa biển mới ở vị trí của cửa biển Tư Hiền hiện nay. Đến năm 1823, cửa Tư Dung bị lấp cạn và hẹp đến mức thuyền lớn không đi qua được và người dân sống hai bên cửa có thể lội qua. Năm 1844 có lụt lớn, cửa bị lở rồi lại bồi... Chuyện lở, bồi, dịch chuyển cửa biển Tư Dung – Tư Hiền, tưởng là sau này các nhà khoa học đương đại mới quan tâm, hóa ra vua Minh Mạng trong tập thơ ký sự về cửa biển Tư Dung, có viết: “... dòng sông mở ra hay lấp lại là do tự thiên công, khó trông cậy ở sức người, huống chi nguyên ủy cửa biển này có quan hệ đến nước nhà, không phải như các cửa biển khác. Ngược dòng thời gian mà nhận xét, bản triều năm giáp ngọ (1774), vận nước gặp bước gian nan, binh Trịnh đến xâm phạm, thì vua Duệ Tông bản triều (Nguyễn Phúc Thuần) theo cảng ấy đi vào Nam. Hoàng khảo ta là Thế tổ Cao hoàng đế (Nguyễn Phúc Ánh) khi ấy mới mười ba tuổi cũng đồng thời đi hộ tùng theo chuyến ấy. Qua năm Tân Dậu (1801), đại binh khắc phục Thần kinh, cũng theo cửa này đi vào, mà lúc ấy trẫm đây mới mười một tuổi cũng đồng theo hộ giá. Vậy thì, cơ đắc thất, trước sau phảng phất giống nhau như có định số. Nay vô cớ mà cửa ấy khô cạn, có lẽ là ý trời mặc hộ cho bản triều, muốn củng cố cơ nghiệp muôn đời, mà không muốn để người ngoài dòm ngó vào, nên mới khiến cho cạn hẹp như thế...”[7]. 

 

Đến năm Thiệu Trị (năm 1814), cửa Tư Dung được đổi tên thành cửa Tư Hiền. Triều Nguyễn thay tên Tư Dung thành Tư Hiền phải chăng là để chứng tỏ nơi đây không còn hiểm nguy với sóng to gió lớn, cũng như cơ nghiệp nhà Nguyễn đang được ý trời giúp cho muôn thuở bền vững. 

 

Để khỏi nhầm lẫn, từ đây, chúng tôi gọi cửa biển ở vị trí cũ, ngay dưới chân núi Vinh Phong là cửa biển Tư Dung, còn cửa biển ở vị trí hiện nay là cửa Tư Hiền. Từ đó đến nay, hai cửa Tư Dung và Tư Hiền cứ đóng, mở, thay nhau đóng vai trò cửa biển chính ra vào đầm phá vào các năm 1811, 1823, 1844, 1853, 1859, 1879, 1990 và 1994[8]. Đã có các công trình nghiên cứu cơ chế bồi lấp cửa biển Tư Dung và cửa biển Tư Hiền và các nhà khoa học đã rút ra quy luật thống kê các thời điểm đóng mở các cửa biển. Người ta còn