Close

Trần Nhân Tông Library

Nghiên cứu thực tế

TRẦN NHÂN TÔNG - CHẾ MÂN VÀ QUAN HỆ ĐẠI VIỆT - CHAMPA

Tượng thờ Huyền Trân công chúa tại núi Ngũ Phong thuộc phường An Tây, TP Huế.

Quan hệ Đại Việt- Champa luôn là mối quan hệ đối kháng tay đôi. Khi thì Đại Việt tiến đánh bắt sống vua Chiêm, khi thì quân Chiêm đánh trả, đốt phá kinh thành Thăng Long. Từ bối cảnh rộng lớn hơn, lịch sử giữa các quốc gia luôn là lịch sử của những tranh chấp địa giới, lãnh thổ. Khi mạnh thì một triều đại sẽ sẵn sàng mở cuộc chiến tranh thị uy, hoặc xâm chiếm đất đai nước khác; khi yếu sẽ bị những nước mạnh hơn lấn lướt và tiêu diệt. Quan hệ Đại Việt- Champa cũng không phải là một ngoại lệ.

 

Từ quan hệ đồng minh hòa thuận…

Từ năm 1280 đến năm 1310, trong vòng 30 năm, các vị quốc chủ Champa và Đại Việt đã viết nên những dòng sử tương đối hòa thuận trong lịch sử quan hệ giữa hai nước. Nguyên nhân quan trọng để làm nên mối quan hệ bang giao này chính là việc quân Nguyên tiến đánh phương Nam. Đọc rõ chiêu bài “mượn đường Đại Việt để chinh phạt Champa”, Trần Nhân Tông cùng với các triều thần đã áp dụng kế sách “hợp tung” với Champa để đánh giặc.

Năm 1281, nhà Nguyên đặt riêng hành tỉnh Chiêm Thành. Năm 1285, Nguyên soái quân Nguyên là Toa Đô đem 5 vạn quân từ Vân Nam thẳng đến Chiêm Thành, hội với quân Nguyên ở Châu Ô Lý rồi cướp châu Hoan, châu Ái, tiến đóng ở Tây Kết (Toàn thư). Trước đó, sau thất bại ở thành gỗ, năm 1283, quân đội và triều đình Champa đã rút quân lên vùng núi để ẩn náu, cố thủ và thực hiện những phép ngoại giao trá hàng khôn khéo để chờ thời cơ. Đại Việt cũng đã đem hai vạn quân với 500 chiến thuyền ứng viện. Chiến thuật “vườn không nhà trống” này hẳn là đã mượn từ Đại Việt. Theo Marco Polo, một nhà du hành Âu châu, vua Champa chịu bỏ trống toàn bộ lãnh thổ đồng bằng cho quân Mông Cổ chiếm đóng. Trong suốt hai năm chờ đợi không giao chiến, vì thiếu lương thực, quân Mông Cổ tự rút lui ra khỏi Champa và tiến lên phía Bắc để đánh Đại Việt. Nhưng hẳn là trong những chiến thắng trước quân Nguyên, thì Đại Việt và Champa là hai đồng minh quan trọng, hoặc ít ra không hại nhau khi có đối thủ lớn. Sau chiến thắng quân Nguyên, Đại Việt đã có một đợt trả “các tù binh Chiêm Thành từng theo Toa Đô như bọn Ba Lậu Kê Na Liên” về Chiêm Thành. Cách hành xử đó là đúng theo phép ngoại giao. Như nhận định của Hà Văn Tấn, việc Đại Việt đánh bại quân Nguyên đã góp phần vào việc giải phóng hoàn toàn Champa.

Để đẩy quan hệ đồng minh này đi xa hơn và bền vững hơn. Trần Nhân Tông đã có những bước đi mang tính chiến lược, đó là những nước đi chưa từng có tiền lệ. Năm 1301, với tư cách là giáo chủ của Thiền tông Đại Việt, với tư cách là Thái thượng hoàng, Trần Nhân Tông đã có “chuyến vân du ngoại giao” gần chín tháng tại Champa (từ tháng 3 đến tháng 11). Chưa có một chuyến du hóa nào lâu đến như thế cho đến thời điểm đó. Sử liệu hiện còn không cho biết trong chín tháng đó, vua Trần Nhân Tông và Chế Mân đã có những thảo luận gì về Phật học cũng như chính trị ngoài một số dấu vết vật chất sót lại từ khai quật khảo cổ học8. Mối quan hệ Đại Việt - Champa sau đó dù có thân thiện hơn, nhưng Đại Việt bao giờ cũng tỏ ra “kẻ cả” hơn.

… đến giả vờ chịu lép và giả vờ thể tất

Sự “kẻ cả” ấy hẳn vì nhà Trần đã ba lần đánh thắng quân Nguyên, giúp cho Champa tránh khỏi họa diệt chủng, diệt quốc mà không hao tổn mấy về hòn tên mũi đạn cũng như sinh mệnh con người. Toàn thư ghi: năm 1303, Đoàn Nhữ Hài đi sứ Chiêm Thành, trước khi đi sứ ông đã đến yết kiến Thượng hoàng Trần Nhân Tông tại chùa Sùng Nghiêm (núi Chí Linh). Những mưu kế ngoại giao của Nhữ Hài rất được Thượng hoàng khen ngợi. Trong chuyến đi sứ đó, Nhữ Hài đã có những thuật ngoại giao được chép lại trong sử như sau: “Trước đây, sứ nước ta tới Chiêm Thành, đều lạy chúa Chiêm trước, rồi sau mới mở chiếu thư. Đến khi Nhữ Hài tới, liền bưng ngay chiếu thư để lên trên án và nói với chúa Chiêm: “Từ khi sứ thiên triều mang chiếu thư của thiên tử sang, xa cách ánh sáng lâu ngày, nay mở chiếu thư, thực như trông thấy mặt thiên tử, tôi phải lạy chiếu thư đã, rồi mới tuyên đọc sau”. Rồi lập tức hướng vào tờ chiếu mà lạy. Lúc ấy, chúa Chiêm đứng bên cạnh, lạy thế không khỏi có chút chưa ổn, nhưng lấy cớ mà lạy chiếu thư thì về lý là thuận, mà sứ tiết cũng không phải khuất... Sau này, đi sứ Chiêm Thành, không lạy chúa Chiêm là bắt đầu từ Nhữ Hài.”

Chi tiết này cho thấy, nhà Trần trong quan hệ ngoại giao với Champa luôn ứng xử ở thế thượng phong. Thế nhưng, mối quan hệ này thực sự cũng không được bền vững, bởi như một tâm lý thâm căn cố đế từ lịch sử, Champa chỉ giả vờ chịu lép vế Đại Việt khi Đại Việt thực sự hùng mạnh. Và Đại Việt cũng hiểu rõ cái sự giả vờ đó của Champa, nên đôi khi cũng giả vờ thể tất. Toàn thư có ghi một đoạn như sau: “Hôm sau, Nhữ Hài treo bảng cấm buôn bán ở Tỳ Ni (bến cảng của Chiêm Thành, nơi tụ tập các thuyền buôn), tuyên đọc xong, treo bảng lên, lại gọi viên coi cảng đến bảo: “Chỗ này người buôn bán tụ họp phức tạp, lại là bến tàu xung yếu, khó giữ gìn, sứ thần về rồi, cất ngay bảng đi, đừng để mất”. Ý ông cho rằng Chiêm Thành tuy đã thần phục, nhưng thực ra chưa chịu nội phụ, bảng cấm rốt cục cũng bị bỏ đi, cho nên nói trước như vậy, không để tự họ làm như thế.”

Đoạn trên cho thấy, Đại Việt và Champa đã có những thỏa thuận về mặt thương mại. Trong đó, việc Đại Việt cấm họat động buôn bán giao thương tại thương cảng Tỳ Ni - một thương cảng quan trọng bậc nhất của Champa9 là một biểu hiện cụ thể. Việc Nhữ Hài rỉ tai viên quan coi cảng thực sự là chi tiết thú vị, cho thấy cảm nhận khá rõ việc “ép người hơi quá đáng” như vậy là không có hiệu quả, nếu không nói là phản tác dụng.

Con bài thông hôn

Cách ứng xử ngoại giao như trên hẳn không phải là lối ngoại giao bền vững, cho nên, triều đình nhà Trần đã phải đi đến một thủ pháp quen thuộc. Đó là gả Huyền Trân công chúa cho Chế Mân vào năm 1306. Cuộc hôn nhân này vốn đã được Thượng hoàng Trần Nhân Tông đính ước trước đó năm năm. Khi đó, Chế Mân đã ngoài năm mươi, còn Huyền Trân mới hai mươi tuổi. Mối lương duyên này, như ta biết, đã bị phần lớn triều thần (chủ yếu là các nhà nho) phản đối. Từ Ngô Sĩ Liên trở về sau, các sử thần đều chê biếm Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông ở điểm này. Ví dụ như Ngô Thì Sĩ đã phê những lời sử bình như sau: “Nhà Trần chỉ cốt cái lợi trước mắt luôn luôn mượn son phấn để thay bức trường thành. Đem Ngoạn Thuyền gả cho Nguyễn Nộn, Thiên Tư gả cho Thoát Hoan, Huyền Trân gả cho Chế Mân, đều là con gái vua chứ không phải mượn dùng con gái trong họ như đời trước. Khi bình thường quý trọng con gái mình đến mức không phải là người trong năm thứ tang phục thì không kết hôn; nay đối với bọn giặc mọi rợ khác nòi thì giao cho không chút đoái tiếc, như thế là thế nào? Tuy vậy nhưng Chế Mân cũng là vua một nước đấy, lấy Huyền Trân về thì cắt đất bãi binh, rốt cuộc mở mang bờ cõi Thuận Hóa làm lợi cho đời sau chẳng hơn là Nguyễn Nộn không chịu vào chầu; Thoát Hoan không chịu rút quân mà Ngoạn Thiền, Thiên Tư thì uổng chuốc cái nhục thất tiết hay sao?”

Một số câu hỏi cần được đặt ra ở đây. Rằng vì sao Chế Mân lại dâng hai châu Ô, châu Lí để làm sính vật? Một cuộc trao đổi như thế chẳng phải Đại Việt quá lãi, mà Champa quá thiệt đó sao?

Theo chúng tôi, việc cưới gả, sính lễ chỉ là hình thức của một thỏa thuận ngoại giao giữa hai nước. Khi Đại Việt thấy không thể nào kiềm chế, quản lý Champa ở phương diện giao thương, cũng như không thể nào kiểm soát được “độ quy thuận” của Champa, triều đình nhà Trần mới ép Champa đi đến một thỏa thuận rõ ràng: cắt hai châu cận kề về Đại Việt, và để tin nhau hơn thì cần phải có quan hệ thông hôn. Để lấy được Huyền Trân, Chế Mân hẳn đã phải được sự đồng thuận của vợ cả cùng hội đồng dòng tộc của hoàng hậu Champa. Hơn nữa, việc lấy Ô - Lý làm sính lễ - một việc quan trọng hơn rất nhiều so với việc trên, cũng đã được hội đồng gia đình hoàng gia mẫu hệ Champa chấp thuận. Đúng hơn, dưới áp lực ngoại giao của Đại Việt, dòng họ này đã buộc phải thực hiện một phương án mà họ không thể/hoặc không dám làm khác, bù lại họ sẽ có những điều mà mình mong muốn: tự do buôn bán.

Ngấm ngầm Việt hóa

Việc chuyển hai châu Ô - Lý về Đại Việt, với sự toan tính của triều đình Chế Mân, có điểm tinh tế cần thảo luận ở đây. Bởi chúng ta biết rằng, chế độ quân chủ Champa không phải là chế độ quân chủ tập quyền chuyên chế như các học giả Pháp đầu thế kỷ XX đã hiểu, mà quyền lực trên lãnh thổ dàn trải ở những tiểu quốc nhỏ hơn. Champa ở thời điểm đó là một mô hình nhà nước mandala, với một ông vua đứng đầu là Chế Mân, với các ông vua nhỏ cai quản các tiểu quốc khác. Mối quan hệ giữa các tiểu quốc này không thực sự bền chắc như mô hình chuyên chế theo kiểu Trung Hoa như ở Đại Việt. Vì thế, việc cắt hai châu Ô - Lí cho Đại Việt, đối với Chế Mân cũng giống như là việc “chuyển nhượng hai electron” cho một Mandala khác. Đổi lại việc đó, Champa sẽ xóa bỏ được những điều khoản bất lợi trước đó và phần nào giữ được mối quan hệ hòa hảo với Đại Việt. Mặt khác, Chế Mân cũng biết rằng, các tiểu quốc này sẽ không dễ dàng khuất phục Đại Việt và rằng ông đang thực hiện một thao tác chính trị mới: liên kết hai mandala chính trị lớn, giống như ông đã làm với mandala ở Jawa.

Sự tính toán của Chế Mân đã nhanh chóng trượt theo quỹ đạo chính trị của nhà Trần. Như ta biết, ngay sau khi sáp nhập về Đại Việt, những người đứng đầu của thế lực bản địa tại La Thủy, Tác Hồng, Đà Bồng (có khả năng là thủ phủ của hai châu này) đã được Đoàn Nhữ Hài trao cho quan tước, cấp thêm ruộng đất và miễn tô thuế liền trong ba năm. Một chính sách vỗ về cho nhóm người này, có khi còn ưu ái hơn cả khi họ thuộc về Champa. Điều đó khiến cho “các electron“ này tưởng như mình vẫn đang tồn tại trong một mandala chính trị như cũ, hoặc đang ở một mandala có lợi hơn cho họ. Vì thế, việc nhóm quyền lợi ấy tạm thời thuận theo Đại Việt rồi dần dần bị Việt hóa về văn hóa cũng như về chính trị là điều mà Chế Mân chưa bao giờ tưởng tượng đến. Đã đến lúc có thể nghĩ đến một chính sách Việt hóa ngấm ngầm mà triều đình nhà Trần đã thực hiện, giống như Lê Thánh Tông sau đó. Không chỉ có vậy, Toàn thư còn ghi việc “trại chủ Câu Chiêm” làm nội ứng cho nhà Trần trong cuộc chiến tranh Đại Việt- Champa năm 1312. Tạ Chí Đại Trường đã nhận định rằng: “đã có một thế lực trên vùng biên giới không lệ thuộc vào Vijaya nhiều lắm, có thể tự ý hành động khi thấy có cơ hội thuận lợi tại địa phương”.

Có thể nói, sự việc Huyền Trân lấy Chế Mân với sính lễ là hai châu Ô - Lý là một sự tính toán, cân nhắc mang tính chiến lược giữa hai triều đình Đại Việt - Champa. Thỏa thuận hôn nhân giữa Trần Nhân Tông và Chế Mân cho thấy sự nhạy bén và viễn kiến chính trị của hai vị quốc chủ này. Việc Huyền Chân làm dâu đất Chăm, thực chất là hệ quả của những cái bắt tay ngoại giao có cương lực để thử độ mềm - rắn của vương triều Champa. Quan hệ Đại Việt - Champa trong quãng thời gian trị vì của Trần Nhân Tông và Chế Mân là quãng thời gian “đấu trí cân não” để tạo nên tình thế hòa hảo khá êm đẹp. Nhưng rồi, Chế Mân mất năm 1307 và Trần Nhân Tông viên tịch năm 1308. Hai sự kiện này đã khiến cho mối quan hệ êm dịu giữa hai nước đi đến hồi cuối. Không một vị quốc chủ kế nhiệm nào sau đó cũng hiểu hết ý đồ của những người đi trước để thi hành chế độ ngoại giao hòa bình.

_____________

 

• Trần Ngọc Vương

Nguồn: http://www.tiasang.com.vn/

NGƯỜI TẠC TƯỢNG PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG

Với tuổi nghề vỏn vẹn 14 năm, Đinh Danh Tư nhận lãnh công việc điêu khắc tượng Phật ngọc được cho là kỷ lục VN về độ lớn cũng như chất liệu, điều này là một quyết định rất khó khăn với anh. Vì đây là công việc đặc biệt hệ trọng liên quan đến vị Tổ khai sáng thiền phái Trúc Lâm.

 

 

Những người thợ Việt

 

Sau gần 100 ngày, kể từ ngày diễn ra lễ khởi công tôn tác tượng Đức Phật hoàng Trần Nhân Tông (5-7) tại tổ đình Vĩnh Nghiêm TP.HCM, công việc tạo hình tượng Phật hoàng qua bàn tay khéo léo tài năng của nhóm thợ Việt không ngừng nghỉ.

 

Gặp Đinh Danh Tư tại xưởng đá Bình Minh nằm trên Quốc lộ 13, ngã tư cầu vượt Bình Phước khi công đoạn hoàn thành tượng Phật hoàng đã đạt hơn 90% và đang bước vào đánh bóng tượng ở giai đoạn cuối, những người thợ đang miệt mài làm việc. Anh chia sẻ: “Mình rất tự hào là một trong những người thợ đầu tiên được tin tưởng giao công việc quan trọng tạc tượng Phật ngọc Phật hoàng Trần Nhân Tông, thêm vào đó càng ý nghĩa hơn khi đó là bức tượng bằng chất liệu ngọc bích quý được xem là kỷ lục tại VN vào thời điểm bây giờ”.

 

Nhìn kết quả của công trình vĩ đại này, ai cũng ngạc nhiên và vui đến bất ngờ. Khi được hỏi công đoạn nào trong quá trình tạc tượng là khó nhất, anh Danh Tư chia sẻ: “Công đoạn quan trọng nhất là đắp mẫu, tôi mất khá nhiều thời gian vào việc tìm các tư liệu cũng như hình ảnh, bởi Phật hoàng Trần Nhân Tông là một vị Phật có thật, chứ không phải có trong trí tưởng tượng, cho nên việc tìm hiểu thân thế, sự nghiệp, tinh thần của Phật hoàng Trần Nhân Tông đòi hỏi khá công phu và nghiêm túc”.

 

Chư tôn đức chứng minh đặt nhát búa đầu tiên lên khối ngọc - Ảnh: V.G


Thổi hồn vào đá

 

Với tâm nguyện mong sao cho bức tượng có được cái thần của một vị Phật hoàng Trần Nhân Tông - một nhân vật lịch sử của dân tộc, anh Tư cùng anh em trong nhóm thợ tự nguyện ăn chay từ trước khi làm lễ khởi công cho tới khi hoàn thiện để hun đúc thêm niềm tin và tạo cảm hứng khi truyền thần. “Tôi không thể làm một mạch để hoàn thành tác phẩm. Tôi chỉ thực hiện điêu khắc khi thật sự định tâm và có cảm hứng. Khi chưa thật sự tập trung, tôi lại cầu nguyện Phật hoàng để ngài phù hộ, tôi tĩnh tâm hoàn thành tốt công việc”, anh Tư tâm sự.

 

Trao đổi với anh Tư về các hoạt động chế tác tượng từ khi khởi công cho tới bây giờ mới hiểu được quá trình chế tác tượng từ ngọc quý vất vả ra sao. Bức tượng Đức Phật hoàng Trần Nhân Tông được chế tác từ khối ngọc 4,5 tấn, được mua từ cùng mỏ ngọc đã chế tác ra pho tượng Phật ngọc vì Hòa bình Thế giới. Với ưu thế về độ cứng xong lại rất dẻo, muôn sắc màu đẹp rực rỡ và tinh khiết, khối ngọc quý qua bàn tay khéo léo của những người thợ cứ vậy dần dần hình thành.

 

Nghệ nhân Đinh Danh Tư - Ảnh: V.G


Tâm sự về những ngày đầu khởi công, có thể nói khó định hình nhất là công đoạn xẻ đá, vậy mà với 4 anh em thợ, các anh chỉ mất hơn một tuần vất vả mà khối ngọc đã được xẻ thành công, vóc dáng của Phật ngọc đã định hình. “Ngọc xanh biếc, trong vắt và bóng như soi gương làm cho chúng tôi vô cùng phấn khởi, khiến nhiều người ghé thăm có được niềm vui và hạnh phúc khó tả”, anh cho biết.

 

Những người thợ đang miệt mài đánh bóng tượng Phật ở giai đoạn cuối đều có ý nghĩ: “Ở giai đoạn này cần sự tỉ mỉ và công phu. Bởi đây là công đoạn quan trọng nhất quyết định vẻ đẹp của tượng”, bởi từ khối ngọc 4.5 tấn, giờ đây Đức Phật hoàng Trần Nhân Tông đã thành hình, được đặt trên đế sen với tổng trọng lượng gần 4 tấn sẽ uy nghi biết chừng nào khi công trình điêu khắc tượng kịp hoàn thành chào mừng Đại hội Phật giáo VN diễn ra từ 21 đến 24-11 tại thủ đô Hà Nội.

 

Theo đánh giá của của nhiều chuyên gia thì đây là một bức tượng đẹp, thể hiện được cái thần của Phật hoàng Trần Nhân Tông. Được biết, khối ngọc bích quý đã được chư tôn đức Giáo hội Phật giáo VN cũng như Pháp vương Gyalwang Drukpa và 108 vị Lạt-ma chú nguyện cuối tháng 10-2011 vừa qua.

 

Sau khi hoàn thành tôn tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông (hiện đặt tại cơ sở điêu khắc Q.Thủ Đức), ngày 15-11 sẽ được cung thỉnh đến Hà Nội, tôn trí tại Đại hội Phật giáo toàn quốc. Sau đó, tôn tượng sẽ được tôn trí tại các chùa trên toàn quốc cho Phật tử chiêm bái. Ngoài tượng Phật hoàng, nhóm làm tượng sẽ lựa chọn những phần của khối ngọc có chất liệu đẹp nhất, để phục chế 2 chiếc ấn tổ của nhà Trần theo nguyên bản cổ. Một số phần đá nhỏ trong khối ngọc tạc tôn tượng cũng sẽ được chọn để thực hiện 100 bộ ấn, mỗi bộ gồm 9 ấn mô phỏng theo 9 ấn của nhà Trần. Những chiếc ấn này sẽ được tặng cho UBMTTQVN để bán đấu giá gây quỹ “Vì người nghèo”.

 

_________________

 

Vũ Giang

Nguồn: giacngo.vn

HỌA BÀI CƯ TRẦN LẠC ĐẠO

Ngài Trúc Lâm Sơ tổ Trần Nhân Tông có trước tác bài Cư trần lạc đạo phú, dài mười hội, cuối bài phú có bốn câu kệ. Xưa nay, bài phú dài ít người thuộc, nên khi nhắc Cư trần lạc đạo thường khiến mọi người nhớ đến bài kệ:

 

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên

Cơ tắc xa hề khốn tắc miên

Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch

Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.

 

Thực ra, mười hội dài của bài phú cũng chỉ nói đến những quan điểm của người tu giữa chốn trần ai này, cùng các điểm khai ngộ lý thiền. Những nội dung ấy, tóm gọn trong bốn câu kệ cuối. Cho nên, người học đạo và khách yêu thơ cùng những ai nghiên cứu tư tưởng của Cư trần lạc đạo phú cũng có thể thông qua bài kệ trên để chia sẻ với tác giả.

 

Bài kệ trên, dịch nghĩa là thế này:

 

"Sống giữa phàm trần, hãy tùy duyên mà vui với đạo

Đói thì ăn, mệt thì ngủ

Trong nhà sẵn của báu, đừng tìm đâu khác

Đối diện với cảnh mà vô tâm, thì không cần hỏi thiền nữa”.

 

(Thơ văn Lý Trần - tập 2 - NXB Khoa Học Xã Hội - Hà Nội - 1989. Tr.510).

 

Nội dung của bài kệ còn phản ánh phong thái của thiền gia, nên từ trước đến nay đã có nhiều bản dịch thơ bài kệ trên. Tác giả Huệ Chi trong tập sách dẫn trên dịch như sau:


Cõi trần vui đạo hãy tùy duyên

Đói cứ ăn no, mệt ngủ yên

Báu sẵn trong nhà, thôi khỏi kiếm

Vô tâm trước cảnh, hỏi gì thiền.

 

Lại có dị bản:

 

Ở đời vui đạo, thả tùy duyên,

Ðói đến thì ăn, mệt ngủ liền.

Của báu trong nhà, thôi tìm kiếm,

Ðối cảnh vô tâm, chớ hỏi Thiền!

 

(www.duongsinh.net)

 

Thực ra, với ngụ ý của Tổ Trúc Lâm trong bài kệ trên, đem diễn dịch ra dù là văn xuôi hay thơ cũng còn có nhiều chỗ đáng bàn. Chẳng hạn câu “Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền” dịch thành “Đối diện với cảnh mà vô tâm, thì không cần hỏi thiền nữa”, cũng có người cho là chưa ổn. Bởi cái ý “mạc vấn thiền” có thể hiểu đơn giản là “đừng hỏi thiền”. Và lý do để Tổ bảo “đừng hỏi thiền” là “đối cảnh vô tâm”, thì còn khó nói hơn. Trong bản dịch văn xuôi và thơ trên đây, dù chuyển ngữ thành “đối diện với cảnh mà vô tâm”, hay “vô tâm trước cảnh”, thì hai chữ “vô tâm” đều chưa được dịch. Oái ăm thay, chính hai chữ “vô tâm” mới là quan trọng của cụm từ “đối cảnh vô tâm”. Thành ra, việc đọc hiểu thơ thiền của Tổ sư từ thế kỷ XIV đến nay vẫn còn có chỗ để ngỏ.

 

Sở dĩ có đôi điều dài dòng về việc dịch bài kệ Cư trần lạc đạo, là vì chúng tôi bắt gặp hai bản dịch bài kệ trên ở diễn đàn www.duongsinh.net, nhưng người dịch lại có ý xem điều mình viết ra như là một cách họa lại bản dịch, chứ không phải cung cấp thêm bản dịch mới. Cả hai bản họa đều nhằm chia sẻ quan điểm “cư trần lạc đạo” của Tổ sư thiền, lại có những kiến giải thú vị.

 

Một bản của nickname Vanphapquitam, như sau:

 

Ở đời vui đạo, chẳng tùy duyên. 

Ðói đến chưa ăn, mệt chẳng phiền. 

Của báu trong nhà, không tìm kiếm. 

Ðối cảnh hữu tâm, cứ hỏi Thiền!

 

Và một bản họa khác của nickname Ba Gàn:

 

Ở đời chơi đạo, đạo tùy duyên

Đói đến vừa ăn, mệt quẳng liền

Trống rỗng không nhà, hòa bản tánh

Đối cảnh thông tâm, đấm cửa Thiền!

 

Đọc hai bài thơ trên, thấy không khí giống một cuộc đối đáp của khách thiền, nên người học đạo cũng lây niềm mến mộ. Và có lẽ, trên đường cầu đạo, nếu gặp thiện tri thức với những đối đáp ngắn gọn, có khi là mượn ý của Tổ sư ngày xưa, nhưng gợi mở ít nhiều cho quá trình tu học, cũng là nhân duyên lớn vậy.

 

Trở lại với bài họa của Vanphapquitâm, tác giả đang có ý muốn nói khác đi so với Tổ Trúc Lâm. Tất nhiên, nói khác hoặc có khi là nói ngược hẳn lại với ý người đối thoại là chuyện thường tình của nhà thiền, bởi không gian đối thoại tương đồng giữa hai thiền gia là không gian riêng biệt, là một sự đồng cảm trên cơ sở giác ngộ, chỉ mượn ngôn ngữ làm phương tiện. Do vậy, ngôn ngữ trong nhà thiền cũng như cái bắt tay, tiếng hét, nhát gậy đánh… đều là phương tiện để diễn tả những trạng huống thông ngộ. Khi Tổ Trần Nhân Tông nói “ở đời vui đạo hãy tùy duyên”, tức ngụ ý người tu nên có khả năng ứng xử hợp lý (tùy) với mọi tình huống (duyên) xảy ra trong cuộc đời này. Đây cũng là chủ trương chung của nhà thiền, vừa giữ tinh thần nhập thế, vừa dùng việc nhập thế ấy như một phương tiện để tiến tu. Tác giả Vanphapquitam phát biểu: “Ở đời vui đạo, chẳng tùy duyên”, hai câu khác nhau ở chỗ thay chữ “hãy” bằng chữ “chẳng”, và vì thế, ý của Vanphapquitam thành ra không rõ. “Chẳng tùy duyên”, tức là không cùng khế hợp với sự vật, tức là tách người tu ra khỏi cuộc sống này chăng? Nếu thế, mà vẫn dùng “ở đời vui đạo” thì câu này mâu thuẫn nội tại mất rồi. Và đọc ba câu tiếp theo của Vanphapquitam thì thấy tác giả dường như đang diễn đạt với ý chủ quan cho một cách ứng xử chủ động của người tu: Khi đói mà chưa có cái để ăn thì dẫu có mệt cũng chủ động đừng phiền (câu 2); khi đã biết trong nhà có của báu rồi thì chủ động không tìm kiếm (câu 3); Trước cảnh cứ chủ động khởi tâm và hỏi thiền (câu 4). Đây là chúng tôi chủ quan hiểu như thế, xin không lạm bàn, để nhường cho các bậc hiểu đạo. Chỉ nêu ra nhận định về chủ ý và chủ động của Vanphapquitam, như một bắt gặp mới trong khuôn khổ “nói lại” hoặc “họa theo” bài Cư trần lạc đạo.

 

Và bài của nickname Ba Gàn lại mang phong vị hoàn toàn khác, là sự ứng đối nhịp nhàng trong tương quan với bài nguyên tác của Tổ Trúc Lâm. “Ở đời chơi đạo, đạo tùy duyên” cũng là đề cập tu đạo giữa cuộc đời, nhưng ý thơ này không còn bóng dáng của người tu. Tổ Trúc Lâm nói “thả tùy duyên” là vẫn còn bóng dáng của người tu nơi ấy. Ý thơ “Đói đến vừa ăn, mệt quẳng liền” cũng tương tự ý “đói thì ăn, mệt thì ngủ” của Trần Nhân Tông, dù là một bên nói “mệt thì ngủ”, một bên nói “mệt thì không ăn nữa”.

 

Câu thơ thứ ba, Tổ Trúc Lâm dùng hình tượng “của báu ở ngay trong nhà” để chỉ bản tâm ở mỗi người, thì Ba Gàn diễn đạt ý vô ngã: “Trống rỗng không nhà, hòa bản tánh”. Tổ bảo “của báu ở nhà”, Ba Gàn bảo “không cả nhà, hòa với bản tánh”, quả là một ý xướng họa tương đắc vậy.

 

Và câu cuối, khi mọi người trước nay lướng vướng chỗ “đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền” của Tổ, thì Ba Gàn họa bằng một ý mới “đối cảnh thông tâm đấm cửa thiền”. Ý thơ của Tổ dẫu dùng chữ “vô tâm” nhưng vẫn còn “đối cảnh”, ở đây Ba Gàn họa bằng ý “đối cảnh thông tâm”, thành ra tâm và cảnh không còn phân biệt. Bởi tâm thông với cảnh nên bản tánh vượt lên trên cả hai trạng thái: “đối cảnh” và “nhập chung với cảnh”, để thể hiện tính chủ động: “đấm cửa thiền”. Khi tâm thông với cảnh, thì cửa thiền chính là sự “mở toang” như thế chăng?

 

___________________

Nguồn: giacngo.vn

TU TẬP ĐỂ RA KHỎI LUÂN HỒI SANH TỬ


Người thế gian không hiểu nên thường oán trách cha mẹ không có phước nên sanh ra mình khổ, hoặc cha mẹ không có tài nên mình thua sút người ta, mà không biết chính mình thọ nhận quả báo đời trước đã tạo, nên mới sanh vào gia đình tương ưng như thế. Cha mẹ chỉ là phần phụ thôi, gốc ở bản thân chúng ta. Như vậy, thuyết luân hồi nói lên lẽ thực của kiếp người. Đức Phật đã thấy, đã nhớ rõ ràng nên nói ra cho chúng ta biết, chớ không phải do Ngài tự tưởng tượng, nhưng vì chúng sanh nhìn nông cạn quá nên không tin được.
 
Khi biết rõ kiếp luân hồi như vậy, ai can đảm tạo thêm những nghiệp ác để chịu khổ hơn? Cho nên chúng ta phải tinh tấn làm những điều lành, điều thiện. Nếu không làm cho ai, ít ra ta cũng giữ được phần mình, đừng phạm những giới phải đọa lạc. Đó là tu. Đức Phật thấy rõ sự nguy hiểm của luật nhân quả luân hồi nên chỉ cho mình đường lối tu, chớ không phải áp đặt chúng ta. Khi quy y thọ năm giới, quý thầy hỏi Phật tử “giữ được không”, quý vị giữ được thì nói “dạ được”, nếu giữ chưa được thì làm thinh, chớ đâu có ép. Vì giữ giới là giữ cho mình, không phải giữ cho Phật.
 
Đi sâu vào tâm lý mỗi người, chúng ta sẽ thấy mình đã từng quen thuộc, ưa thích với những việc làm của thuở quá khứ. Ví dụ như bản thân tôi, tại sao lại thích tu? Người đời lớn lên lo chuyện làm ăn hoặc lập gia đình, tại sao mình không thích những chuyện ấy mà lại thích đi tu? Như vậy là từ đời quá khứ ta đã tích lũy hạt giống Phật, nên bây giờ luôn nhớ việc tu. Rõ ràng chúng ta không quên hết nhân quá khứ, nhân nào chứa sâu đậm sẽ trở thành sở thích, việc làm của mình trong đời này.
 
Có người ra đời thích làm lành, có người ra đời lại hung dữ. Mỗi người thích mỗi cách, đó là do sự tích lũy của quá khứ khác nhau. Quá khứ đã tích lũy sẵn nên bây giờ nó hiện ra. Quý Phật tử kiểm lại xem, nếu do gien cha mẹ sanh ra là yếu tố duy nhất tạo thành những đứa con sau này, thì cha mẹ bệnh tật gì con cũng phải bệnh tật y hệt như thế. Tâm hồn của con do cái gì tạo? Có nhiều cha mẹ rất hiền nhưng con không hiền. Hoặc ngược lại cha mẹ dữ mà con lại hiền. Những sự khác biệt đó nhà Phật gọi là nghiệp tích lũy của quá khứ, chúng ta mang theo khi thọ sanh. Những gì mình đã chứa chấp đời trước, bây giờ nó hiện ra rõ ràng. Như hai anh em ruột, thể xác giống chút chút mà tâm hồn không giống nhau. Như vậy mới thấy mỗi người sanh ra mang một nghiệp khác nhau, từ đó có những sai biệt khác nhau.
 
Thế thì trên nẻo luân hồi muốn đi đường tốt, không đi đường xấu, chúng ta phải làm sao? Thấy người đáng ghét ta nên xử sự thế nào? Nên nghĩ rằng họ có làm gì hại mình mà ghét. Ghét người như vậy là ta đã có ý nghĩ xấu. Nếu tiếp tục nuôi dưỡng ý nghĩ này, sanh chuyện với người ta là cái cớ để tạo thêm nghiệp. Nếu mọi người đều biết tu như vậy thì gia đình, xã hội đẹp biết bao nhiêu.
 
Nhà Phật nói nghiệp từ thân, miệng, ý mà sanh, trong đó ý chủ động tạo nghiệp. Miệng nói tốt xấu cũng từ ý, thân làm tốt xấu cũng từ ý. Ý là nói chung cho tất cả những phân biệt thương ghét, buồn giận, hơn thua, phải quấy… đều từ ý nghĩ của mình. Chúng ta chạy theo ý nghĩ là chạy theo nghiệp. Ý nghĩ xấu nên nói bậy, làm bậy; ý nghĩ tốt nên nói lành, làm lành. Khi thân hoại, nghiệp vẫn không hoại, vì nó đâu có tướng mạo mà hoại, nên sẽ theo ta thọ sanh ở đời sau. Nhà Phật gọi là mang nghiệp đi trong luân hồi sanh tử. Vậy muốn chấm dứt nghiệp phải điều phục được ý thức của mình.
 
Tăng Ni trong thiền viện ngồi thiền cốt để định cái ý đó, nên gọi là thiền định. Tất cả những nghĩ suy lăng xăng, lộn xộn bắt nó lặng xuống hết. Chưa lặng thì điều phục lâu dần nó sẽ lặng. Nó lặng rồi thì nhân tạo nghiệp không còn, nhân tạo nghiệp không còn thì quả luân hồi sanh tử chấm dứt, gọi là giải thoát sanh tử.
 
Muốn biết có luân hồi hay không, chúng ta cứ nghiệm trong tâm niệm của mình sẽ rõ. Cha mẹ sanh thân được mà không thể sanh tâm niệm của con. Tâm niệm đó từ đâu ra? Từ sự tích lũy của đời trước. Nhiều người ngạc nhiên tại sao con còn nhỏ mà không chịu ăn mặn? Ngược lại, có kẻ cha mẹ khuyên ăn chay thì ăn không được, một ngày cũng ăn không nổi. Đó là do tích lũy từ trước, bây giờ gặp lại thấy quen, thấy thích, chớ không phải bỗng dưng mà có.
 
Tích lũy tức là những gì đời trước mình đã từng làm từng huân tập. Đời này trở lại những thứ ấy không mất. Vì vậy trong kiếp luân hồi chúng ta theo nghiệp mình đã tích lũy, chất chứa mà hiện ra thành tâm hồn cá biệt của mỗi người. Nên nói đến luân hồi chúng ta đừng suy gẫm gì hết, cứ nhìn lại nội tâm mình thì biết ngay. Tại sao người đó chưa quen thuộc mà mình thấy dễ thương, hoặc kẻ kia cũng chẳng quen thuộc mà mình thấy phát ghét. Vì chúng ta không nhớ nổi, nên nói không biết tại sao kỳ vậy. Thật ra do nghiệp tích lũy của quá khứ chiêu cảm nên.
 
Trên đời này ai không có những người thân, những kẻ thù. Có thân, có thù gặp lại nhau là khổ. Người thân thì mình thương, người thù thì mình ghét. Nhiều người nói tại sao anh chị có duyên quá, xin cái gì cũng được. Còn tôi vô duyên xin cái gì cũng không ai cho. Tại mình hay tại trời đất xui khiến. Chẳng qua hồi trước mình hất hủi thiên hạ, bây giờ tới phiên người ta hất hủi lại mình. Bình đẳng thôi. Như vậy mình tạo nghiệp lành, nghiệp dữ không đợi đời sau mới trả quả mà ngay hiện tại cũng ứng hiện quả báo phần nào. Đó là một lẽ thực.
 
Trong kinh kể lại Tôn giả Mục Kiền Liên khi chứng A-la-hán rồi, một hôm Ngài đi trên đường thấy có loài quỷ đầu rất to, bụng lại nhỏ xíu, thân thể ghê gớm lắm. Ngài về thuật lại với Phật, Phật nói ta cũng thường thấy chúng, nhưng nói không ai biết nên ta không nói. Những người tu chứng tới đó thì thấy như nhau, không phải chỉ riêng Phật. Nếu chúng ta đem con mắt phàm phu so sánh với con mắt Thánh nhân thì thật là quá thô thiển. Như những luồng điện đi trên hư không, mình thấy không? Không, mà nó vẫn có. Cho nên chúng ta không nên tin vào con mắt còn rất hạn chế của mình. Có những cái hiện thực mà mình chưa thấy, chưa hiểu được. Thế nên chớ vội cho cái thấy nghe của mình là đúng.
 
Nhiều người nói thương Phật quá nên tôi tu. Phật khổ cái gì mà thương? Chính mình mới khổ đây nè. Mình khổ, mình thương mình, mình tu chớ không phải thương Phật. Chúng ta mang ơn Phật chỉ đường cho mình tu, chớ không phải vì Phật mà tu. Mỗi vị tự kiểm điểm lại bản thân, xem hiện giờ mình đã thực hiện được những gì Phật dạy, xứng đáng đi đường nào? Như vậy tự biết mai kia khổ hay vui rồi, đâu cần phải hỏi ai. Phật tử có bệnh cứ thắp nhang cầu Phật độ cho con đời sau được sung sướng, hết khổ, mà cứ tạo nghiệp ác. Làm sao Phật cứu độ được?
 
Nhiều người không hiểu, cứ ngỡ ngồi thiền yên lặng cả ngày vô lý quá. Nhưng họ không ngờ chính đó là nhắm thẳng gốc để trị. Trị gốc được rồi thì sẽ dứt nhân, quả theo đó cũng không còn. Cho nên nói đạo Phật là đạo giải thoát. Giải thoát là dứt hết những mầm tạo nghiệp hoặc thiện hoặc ác, dẫn đi trong sanh tử. Phật dạy phải dừng những suy nghĩ đó lại thì cái chân thật hiện ra. Đó là mặt thật xưa nay của mình. Thật đơn giản!
 
Thế thì quý thầy, quý cô ở chùa vì quyết tu giải thoát nên phải tập ngồi thiền hoặc niệm Phật cho được nhất tâm. Nhất tâm thì đâu còn nghĩ bậy, đó là nhân giải thoát luân hồi sanh tử. Quý Phật tử không theo đạo Phật thì thôi, đã theo thì phải nắm vững đường lối Phật chỉ dạy, tu cho đúng. Phải chọn con đường hợp với khả năng của mình, từng bước tu tập theo lời chỉ dẫn của Phật. Có thế mới không sợ ngày mai đường trước tối tăm, không biết lối đi. Quý vị khéo ứng dụng tu, cần phải phát tâm dũng mãnh, bền bỉ thực hành cho tới bao giờ thành tựu mới thôi.
 
Chúc tất cả Tăng Ni, Phật tử mau chấm dứt khổ luân hồi sanh tử.
 
____________________

• HT. Thích Thanh Từ
Nguồn: thuongchieu.net

PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG: “DÂN ĐỒNG LÒNG VẬN NƯỚC MỚI THỊNH”


Trần Nhân Tông là người đầu tiên và hầu như là duy nhất coi tiếng dân, lòng dân, sức mạnh của dân là điều thiêng liêng nhất.

 

Nguyên tắc vì dân của Trần Nhân Tông thật giản dị: Bộ máy cai trị càng ít, quan lại ít phải điều hành là điều vì dân hiệu quả nhất, thiết thực nhất.

 

Ước gì hiểu được trái tim người...


Trong nghiệp sử sinh nghề bạc tóc của tôi, nếu phải chọn một trong 10 nhân vật đã và đang làm cho tôi phải trăn trở nhiều nhất, suy tư nhọc nhằn nhất thì chắc chắn phải có tên Vua Trần Nhân Tông (1258-1308).

 

Cuộc đời kỳ lạ của ông, những đóng góp to lớn (đạt đến tầm vĩ đại) của ông cho dù đã được 700 năm có lẻ của lịch sử phân định, vẫn chưa có hồi kết; thậm chí vẫn có không ít những khe khắt, dè dặt mà ta không thể hiểu rõ do đâu(!)

 

Một trong những dẫn chứng có thể thấy rõ nhất là những đường phố mang tên ông trên tất cả mọi thành phố đều là những đường phố nhỏ - nhỏ hơn, ngắn hơn rất nhiều so với đường phố mang tên một vị tướng thuộc quyền như Trần Hưng Đạo...

 

Nói đến Trần Nhân Tông trước hết là nói đến chữ Nhân. Chữ Nhân như tên ông đã cùng ông đi suốt cả cuộc đời. Ông không màng đến danh lợi, thậm chí đã trốn vào chùa khi hay tin vua cha muốn ông kế nghiệp ngôi vua.

 

Thế rồi, cũng vì cái lẽ nhân mà Trần Nhân Tông đã ra làm vua trong 15 năm. Một thập kỷ rưỡi đó ông làm được thật nhiều điều. Một trong những chiến công vĩ đại mà không một vị vua đương thời nào có thể làm được là ông đã chỉ huy cả dân tộc hai lần đánh thắng giặc Nguyên Mông (1285 - 1288).

 

Ở cái thời mà người ta đua nhau ngợi ca vua chúa, quý tộc thì Trần Nhân Tông làm thơ ca ngợi cả một người lính già: Người lính già đầu bạc/ Kể mãi chuyện Nguyên Phong. Đánh giặc xong rồi, vào thành Thăng Long thấy thư đầu hàng giặc chất đầy mấy rương lớn, Trần Nhân Tông sai đốt hết để khỏi phải truy xét, khỏi phải giết thêm hàng trăm người lầm đường theo giặc. Tất nhiên, đây là điều cần bàn bởi nếu tha hết cho những điều giả trá, lọc lừa thì cái nhân đó cũng gây nên những hậu quả khó lường.

 

Tuy nhiên, nếu xét tổng thể cả cuộc đời của Trần Nhân Tông thì chúng ta có thể hiểu cách làm ấy của Phật Hoàng là một lẽ tự nhiên. Nếu không có lòng nhân tỏa khắp và sâu sắc thì không thể viết nên hai câu thơ mà 700 năm rồi vẫn làm cho lòng người thổn thức: Số đời một màn kéo Tình người đôi mắt ngân.

 

Mới đây, nhà văn Nguyễn Quang Thiều than rằng chúng ta đang bỏ quên mất ngôi chùa thiêng liêng nhất của dân tộc là lòng người. Đó là một luận suy chính xác, một tiếng thở dài não nuột. Tại sao cái lòng nhân - "tình người" tha thiết để cho "đôi mắt ngân" mà con cháu của vua Trần Nhân Tông, 700 năm rồi vẫn không chịu biết, chẳng chịu hiểu cho?

 

"Đất nước bé bằng bàn tay, quan nhiều như thế, dân làm sao sống nổi?"


Cái nhân cao cả nhất của vua Trần Nhân Tông là ông luôn đặt lợi ích của dân, của đất nước, dân tộc lên trên hết thảy. Nhường ngôi cho con (Trần Anh Tông) khi 35 tuổi là điều mà chưa một vị vua nào trên trái đất này làm được - kể từ khi có nhà nước(!)

 

Ít lâu sau quay lại thăm nom con cái, thấy Trần Anh Tông thăng quan tước cho hàng trăm người, Phật Hoàng Trần Nhân Tông tức giận đến mức vất cái danh sách dài dằng dặc ấy ra giữa sân rồng và nói như thét lên bằng tiếng thét xé lòng: Đất nước bé bằng bàn tay, quan nhiều như thế, dân làm sao sống nổi?

 

Tiếng thét đó đã bay qua 7 thế kỷ rồi mà ta vẫn thấy như mới hôm trước, hôm nay. Thì ra, nguyên tắc vì dân của Trần Nhân Tông giản dị lắm: Bộ máy cai trị càng ít, quan lại ít phải điều hành là điều vì dân hiệu quả nhất, thiết thực nhất.

 

Chợt nghĩ, dưới triều Nguyễn, cả nước chỉ có chưa đến 3.000 quan chức; thế mà, ngày nay, chỉ riêng thành phố Hải Phòng đã có đến 4.000 công chức ăn lương nhà nước thì quả là điều đáng ngại, đáng lo. Hai trăm năm trước có một vị quan cũng than lên như thế khi thấy gánh nặng nuôi quan đè nặng lên đầu dân, là Ngô Thì Nhậm.

 

Nói đến Trần Nhân Tông là nói đến tầm nhìn xa, trông rộng. Giặc Nguyên Mông và mối lo canh cánh về hiểm họa từ các triều đại phong kiến phương Bắc đã đưa đến một quyết định phi thường: Ông bằng lòng gả người con gái duy nhất là công chúa Huyền Trân cho Chế Mân để nước Đại Việt có được dải đất từ sông Gianh đến sông Thu Bồn. "Việt điểu sào nam chi" (con chim khôn của Nước Việt phải biết chọn cành phương Nam mà làm tổ) là điều người xưa căn dặn. Trần Nhân Tông hiểu rõ lẽ đó và càng biết rõ hơn rằng khi đứng trên đỉnh Hải Vân, có thể "nhìn" thất mũi Cà Mau!

 

Rất nhiều bậc danh sĩ, vua chúa trong thời cổ đại (trên toàn thế giới) nói đến chuyện "quốc dĩ dân vi bản" (lấy dân làm gốc). Nhưng Trần Nhân Tông là người đầu tiên và hầu như là duy nhất coi tiếng dân, lòng dân, sức mạnh của dân là điều thiêng liêng nhất. Chính vì thế mới có Hội nghị Diên Hồng (12.1284). Ở đây, từ câu chuyện của Diên Hồng, chúng ta thấy vua Trần Nhân Tông nể trọng dân, tin dân đến mức nào!

 

Điều vĩ đại vô giá của "câu chuyện" này là Trần Nhân Tông thấy rõ những mất mát, đau thương mà người dân phải gánh chịu nếu chiến tranh xảy ra. Ông không muốn tự mình quyết định khi dân không muốn, dân không chịu nổi. Một khi dân đã đồng lòng thì vận nước mới thịnh hưng, thành công mới đến, chiến thắng mới rủ gọi nhau về.

 

Nhiều vua Trần đã đi tu và các nhà sử học cho rằng đó là thời thịnh Phật. Nếu chỉ dừng lại như thế thôi thì không có nhiều lẽ để bàn. Cái "uẩn khúc" của lịch sử là ở chỗ này: Thời Trần có cuộc chiến tranh 30 năm với 3 lần đánh thắng Nguyên Mông (1258. 1285, 1288); do vậy, nhiều giá trị đạo đức bị đảo lộn, nhiều thói đời xấu xa lộng hành, nhiều sự ngang ngược (đồng hành của chiến tranh) thao túng nên rất cần phải chỉnh đốn đạo đức, thói tục; rất cần lập lại kỷ cương...

 

Trần Nhân Tông nói riêng và triều đại Trần nói chung đã khắc phục tất cả những sự đứt đoạn, tắc trách đó của lịch sử, của văn hóa dân tộc bằng cách nương nhờ bóng Phật. Phật ở đây là từ bi hỉ xả; là lòng nhân, là trách nhiệm với đời, bổn phận với người.

 

Trúc Lâm Yên Tử đã ra đời trong bối cảnh đó. Đó là giáo phái Phật giáo của riêng Việt Nam (duy nhất) do người Việt Nam sáng lập. Nó vừa đáp ứng được sự chấn hưng văn hóa, duy trì dạo đức, cưỡng chế và răn đe dục vọng; vừa là cái bản sắc riêng của Việt Nam, khác nhiều với các giáo phái Phập pháp Bắc Tông (Mahayana) từ phương Bắc dội đến.

 

Bây giờ ta nói đó là việc làm có nhiều ý nghĩa nhưng thử suy rộng ra sẽ thấy cách nghĩ, tầm nhìn xa của Trần Nhân Tông nó sâu sắc và độc đáo đến mức nào!

 

Tôi đã "yêu" Trần Nhân Tông đến mức đã từng làm 'thơ" về ông (để trong ngoặc kép vì nó chưa được đăng bao giờ). Đầu đề là "Ước gì hiểu được trái tim người". Trong bài đó có những câu như: Bảy thế kỷ chai mòn dĩ vãng/Tìm lại Người đau nhức những khen chê... Ông than nỗi nhiều quan dân khó/Sao ông chẳng ở lại thêm để giúp ích cho đời/ Ông tha hết cho những điều giả trá/Con biết lấy gì để tin nữa ông ơi? Mây Yên Tử dàu dàu dáng núi/Thiền Trúc lâm đau đáu hình Người/ Nhân Tông ơi chuyện đời khó nói/Người lính già thuở ấy, có ham vui?...

 

Trần Nhân Tông yêu tha thiết mùa Xuân. Trong 35 bài thơ ông để lại (tổng cộng 173 câu thơ), Trần Nhân Tông nhắc đến chữ Xuân 18 lần. Mùa Xuân và tình ý trong thơ ông là cái Nhân nồng nàn, cảm động. Chợt giật mình vì mấy hôm nay dư luận đang ồn ào chuyện chúng ta ăn Tết tốn kém quá, lãng phí quá và đây đó còn thiếu văn hóa...

 

700 năm trước, Trần Nhân Tông đã nhắc nhở điều này: Đừng để tầm thường xuân luống qua... Phải chăng người là một nhà tiên tri?

_______________

• Hà Văn Thịnh (Đại học Khoa học Huế)

Nguồn: hoalinhthoai.com

TRÚC LÂM YÊN TỬ- THIỀN PHÁI ĐẬM CHẤT VĂN HÓA VIỆT

Nếu Phật giáo Ấn Độ do Tất Đạt Đa- hoàng thái tử của một vương triều sáng lập ra thì Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam lại do một ông vua đương triều đã bỏ lại ngai vàng vào núi Yên Tử tu hành rồi chứng ngộ thành Đệ nhất Tổ, ấy chính là Phật hoàng Trần Nhân Tông. Trong ông vua họ Trần chứa đựng nhiều phẩm chất siêu đẳng, một nhân cách trong sáng có sức cuốn hút đối với đông đảo công chúng và Phật tử đương thời (một anh hùng giải phóng dân tộc, phật hoàng, nhà cải cách tôn giáo, nhà triết lý…).

 

Điều ngự Giác hoàng Trần Nhân Tông đã biết kế thừa và sáng tạo tư tưởng thiền học của các vị thiền sư Việt Nam mà Đức cha Trần Thái Tông và sư phụ Tuệ Trung Thượng Sĩ là hai người có ảnh hưởng lớn lao nhất chứ không phải học từ thiền học Ấn Độ và Trung Hoa. Tức là ông đã tiếp thu những tư tưởng thiền nảy sinh trên đất Việt, được nuôi dưỡng, khái quát bởi các thiền sư Việt Nam. Tam Tổ thực lục chép rằng: Trần Nhân Tông tham khảo yếu chỉ của Tuệ Trung Thượng Sĩ thu lượm được nhiều tinh hoa của Đạo Thiền, nên vẫn gọi Tuệ Trung là thầy.

 

Thiền phái Trúc Lâm đã dung hội được cả ba thiền phái của Ấn Độ và Trung Quốc thâm nhập vào Việt Nam là:

 

- Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi do người Nam Thiên Trúc là Tỳ Ni Đa Lưu Chi sáng lập ra;

- Thiền phái Vô Ngôn Thông do thiền sư Trung Quốc là Vô Ngôn Thông sáng lập;

- Thiền phái Thảo Đường do nhà sư Trung Quốc là Thảo Đường sáng lập ra.

 

Theo phương châm của Trần Nhân Tông “chưa rõ thì chưa làm ba giáo, hiểu rồi thì cùng ngộ một tâm”. Điều đó cũng có nghĩa là trong Thiền phái Trúc Lâm chứa đựng các yếu tố Phật giáo Ấn Độ và Trung Hoa, đồng thời còn hội tụ cả triết lý của Nho giáo và Đạo lão.

 

Khi du nhập vào Việt Nam, cả ba thiền phái trên cũng đã phần nào được bản địa hóa, tiếp thu các yếu tố tín ngưỡng dân gian (đa thần giáo) của Việt Nam, mà điển hình nhất là hiện tượng thờ Tứ Pháp ở đồng bằng Bắc Bộ (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện). Đến thời Trần, nhà vua với tư cách là một Phật Hoàng- nhà tư tưởng có ý thức độc lập tự chủ và tự cường dân tộc cao, Đệ nhất Tổ Trúc Lâm đã thống nhất được ba dòng thiền Ấn Độ, Trung Quốc và Việt Nam. Thực tế lịch sử chứng minh Trần Nhân Tông đã có công đầu trong việc xây dựng và củng cố Giáo hội Việt Nam thống nhất.

 

Có thể nói, Thiền phái Trúc Lâm do Trần Nhân Tông sáng lập ra đã phục vụ thiết thực cho sự nghiệp cố kết sức mạnh dân tộc để dựng nước, giữ nước và mở rộng bờ cõi về phía Nam. Các vị Tam Tổ Trúc Lâm chủ trương nhập thế, xây dựng và phát triển đất nước bằng từ bi, trí tuệ và đạo đức của Phật giáo. Các vị đó đã biết kết hợp nhuần nhuyễn triết học siêu nhiên của Phật giáo với nhân sinh quan Nho giáo và vũ trụ quan của Lão giáo; lấy lợi ích dân tộc và lợi ích chúng sinh làm mục tiêu căn bản trong quá trình tu tập và thực hành Phật sự của mỗi cá nhân.

 

Tư tưởng triết lý và văn hóa đạo đức của Thiền phái Trúc Lâm đã phát huy ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống xã hội như một nguồn “động lực” thúc đẩy sự phát triển, thậm chí còn chi phối tư tưởng, học thuật và văn học nghệ thuật của đất nước thời Trần. Theo giáo lý của Thiền phái Trúc Lâm thì giữ cho tâm thanh tịnh là điều kiện tiên quyết cho sự giác ngộ, có nghĩa là “Tâm chính là Phật”, “Con người ta ai cũng có Phật tính, ai cũng có thể thành Phật”. Đọc “Cư trần lạc đạo phú” chúng ta thấy rõ quan niệm tổng quát của Thiền phái Trúc Lâm “Muôn nghiệp lặng an nhân thể tính; Nửa ngày rồi tự tại thân tâm. Tham ái nguồn dựng, chẳng còn nhớ châu yêu ngọc quý; Thị phi tiếng lặng, được nghe yến thốt oanh ngâm”. Như vậy là con đường hiện thực để thành Phật chính là tự giác ngộ “bản tính” Phật trong mỗi con người chúng ta.

 

Các vị Tổ Trúc Lâm đã giản lược hóa việc tu tập mà không câu nệ vào nghi thức “Bụt ở trong nhà; chẳng phải ta”, “Tịnh độ là trong sạch, chớ còn ngờ hỏi đến Tây phương; Di Đà là tính sáng soi, mưa phải nhọc nhằn tìm về cực lạc”, hay như “biết chân như, tin Bát Nhã, chớ còn tìm Phật tổ Tây Đông; chứng thực tưởng nên vô vi, nào nhọc hỏi Kinh Thiên Nam Bắc”. Thiền phái Trúc Lâm không phân biệt tu sỹ tu ở chùa và cư sỹ tu tại gia. Cả hai hình thức tu tập đều hướng tới mục tiêu chung là tìm lại, thức tỉnh “bản tính Phật” trong tâm của từng cá nhân bằng con đường từ bi và trí tuệ.

 

Trong giáo lý của Thiền phái Trúc Lâm, ta thấy nổi bật tinh thần “nhập thế” gắn “đạo với đời”, làm cho Phật giáo luôn đồng hành cùng dân tộc. Và do đó Phật giáo Việt Nam nói chung và Thiền phái Trúc Lâm nói riêng có sự dung hợp giữa hai tính chất “bác học” và “dân gian”, dễ dàng thấm sâu vào tâm thức của đông đảo các tầng lớp cư dân trong xã hội. Đó là một Thiền phái Phật giáo đậm nét văn hóa dân tộc và là một thành tố văn hóa của Việt Nam.

 

Từ góc nhìn di sản văn hóa, ta thấy Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử có những đóng góp xứng đáng vào kho tàng di sản văn hóa Việt Nam. Chỉ xét riêng trong lĩnh vực di tích lịch sử văn hóa, các ngôi chùa thuộc Thiền phái Trúc Lâm cũng chiếm vị trí đặc biệt quan trọng và hiện đang phát huy giá trị trong đời sống xã hội.

 

Thứ nhất: Các ngôi chùa thuộc Thiền phái Trúc Lâm ngoài chức năng thờ Phật, nơi thực hành Phật sự cho các Phật tử, còn có một không gian đặc biệt thờ các vị Tổ Trúc Lâm, có tháp Phật, tượng Tam Tổ và tượng Điều ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông nhập Niết bàn. Điều đó chứng tỏ ngoài giá trị kiến trúc-nghệ thuật, các ngôi chùa thuộc Thiền phái Trúc Lâm còn mang ý nghĩa lưu niệm danh nhân, gắn với cuộc đời, sự nghiệp của các bậc cao tăng, danh nhân văn hóa của đất nước là Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang...

 

Thứ hai: Do vị thế của Thiền phái Trúc Lâm trong đời sống xã hội đương thời mà các ngôi chùa gắn với Thiền phái này luôn được xây dựng ở những địa điểm có cảnh trí thiên nhiên đẹp hùng vĩ, với quy mô kiến trúc rất đồ sộ và đã trở thành “Danh lam thắng cảnh” có ảnh hưởng lớn trong tâm thức dân gian. Các ngôi chùa đó phần lớn đều được vinh danh là những đại danh lam như: Yên Tử, Quỳnh Lâm, chùa Vĩnh Nghiêm (Đức La), chùa Côn Sơn, chùa Thanh Mai, chùa tháp Phổ Minh... và đã trở thành những điểm đến du lịch rất hấp dẫn với những hoạt động lễ hội dài ngày có ảnh hưởng trong những vùng rộng lớn của đất nước.

 

Trong những năm gần đây xuất hiện một dạng thiết chế tôn giáo mới, gắn với Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là các Thiền Viện Trúc Lâm do Hoà thượng Thích Thanh Từ khởi xướng. Xét nghĩ đây cũng là một hình thức tôn vinh, thăng hoa của Thiền phái Trúc Lâm trong đời sống xã hội. Những ai có dịp về thăm viếng các Thiền Viện Trúc Lâm như: Đà Lạt, Yên Tử (Quảng Ninh), Tây Thiên (Vĩnh Phúc)… đều có cảm giác hài lòng vì hoạt động tu tập ở những nơi đó được tổ chức nghiêm minh, hình thức giảng đạo, hoằng dương giáo lý Phật giáo Trúc Lâm cũng như thực hành Phật sự tuy có giản lược nhưng vẫn sâu sắc và gần gũi với văn hóa Việt Nam. Mặt khác, kiến trúc các thiền viện còn kết hợp được cả hai yếu tố hiện đại và truyền thống, hài hòa với cảnh quan thiên nhiên nhưng vẫn đáp ứng được công năng hoạt động của Phật giáo và các nhu cầu tham quan du lịch của du khách trong nước và quốc tế.

 

Tóm lại, có thể khẳng định: Phật giáo Việt Nam nói chung, Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử nói riêng là một thành tố của văn hóa Việt Nam. Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đã chứng tỏ khả năng dung hợp và tiếp biến văn hóa của người Việt Nam đối với các yếu tố văn hóa và tôn giáo ngoại lai. Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là một thiền phái Phật giáo thuần Việt, do các thiền sơ Việt Nam đã chọn lọc và “Việt Nam hóa” được những tư tưởng cao đẹp từ Phật giáo Ấn Độ và Trung Hoa. Đóng góp to lớn của Thiền phái Trúc Lâm là ở chỗ, nó luôn đồng hành với dân tộc, là “điểm tựa tinh thần”, góp phần củng cố và nâng cao ý thức liên kết cộng đồng, tinh thần độc lập tự chủ của Đại Việt trước mọi thử thách cam go của lịch sử.

 

Thực tế lịch sử Đại Việt cũng cho thấy, tư tưởng triết lý của Thiền phái Trúc Lâm là tu dưỡng thân tâm mình để phụng sự lợi ích của dân tộc, lợi ích cộng đồng, đất nước có được độc lập thì Phật giáo mới có điều kiện hưng thịnh. Từ nhận thức như vậy, chúng ta cần xác định thái độ trân trọng, tôn vinh và phát huy đến mức cao nhất những triết lý cơ bản và những di sản văn hóa tiêu biểu của Thiền phái Trúc Lâm phục vụ cho mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

 

_____________

Bảo Anh

Nguồn: btgcp.gov.vn

Ý NGHĨA TÙY DUYÊN

 

Hôm nay chúng tôi sẽ nói chuyện với quí Phật tử về đề tài "Ý nghĩa tùy duyên". Ý nghĩa này rất sâu xa không phải tầm thường, và lâu nay nó cũng đã bị lạm dụng nhiều.

 

Về ý nghĩa tùy duyên, thì đây là một chỗ sống, không phải là chỗ lý luận hay chỗ bắt chước, bởi vì khi chúng ta bắt chước thì nó không còn là tùy duyên nữa, bởi khi bắt chước là nó có cái khuôn rồi. Cho nên ý nghĩa này rất quan trọng mà lâu nay nhiều người lại hiểu lầm rồi cũng dễ lạm dụng nó nữa.

 

Như vậy muốn tùy duyên thì thế nào là biết tùy duyên cho đúng ý nghĩa ?

 

1- Thứ nhất là phải thấy đúng lý mới tùy duyên được, còn chưa thấy đúng lý mà nói tùy duyên thì chỉ là lạm dụng, là hiểu lầm vậy thôi. Nghe nói tùy duyên, rồi mặc tình buông thả theo duyên thì tùy duyên kiểu đó là chạy theo cảnh chớ không phải tùy duyên, đó là bị duyên nó cuốn, nó lôi đi. Tùy duyên theo kiểu đó gọi là "tùy duyên tiêu sự nghiệp", tiêu tan sự nghiệp hết, rất nguy hiểm !

 

Cho nên muốn sống, muốn thấy được đúng ý nghĩa tùy duyên thì phải thấy đúng lý. Trong cái thấy đúng lý này, thứ nhất là cần rõ lý Tánh không của Bát-nhã.

 

Tánh không là sao? Bát-nhã dạy tất cả các pháp trên đời này "không có một pháp gì là thật cố định", nghĩa là từ bản thân của mình cho đến sự vật bên ngoài đều là duyên khởi. Duyên khởi tạm có cho nên gọi là Tánh không, là không có tánh cố định, không có Thể thật của nó. Chính vì Tánh không mới tùy duyên mà hiện khởi tất cả được, chớ nó cố định thì đâu còn tùy duyên. Ví dụ cố định là một khối cứng thì đâu thể tùy duyên mà biến thành các vật khác được.

 

Cũng giống như cái gương, nó không có một hình gì trong đó, cho nên nó có thể hiện đủ tất cả mọi hình bóng, nếu nó có một cái hình gì cố định bên trong, thí dụ hình tròn, thì nó không thể hiện được hình vuông, mà vuông tròn đẹp xấu gì cũng hiện được hết, là vì nó không có một cái gì trong đó, không cố định là cái gì.

 

Hoặc như hư không, hư không không phải là cái gì hết, cho nên nó cũng hiện được đủ mọi thứ.

 

Rồi gần nhất là cái gì? - Tâm của mình. Tâm mình không là một cái gì hết, cho nên nó mới nghĩ được đủ tất cả, nếu nó cố định là một cái gì rồi, chắc chắn nó không thể nghĩ tất cả được. Mà nó nghĩ đủ hết, cái gì nó cũng nghĩ tới, kể cả những cái gọi là không có, nó cũng nghĩ ra được nữa bởi vì nó không có gì hết.

 

Qua điểm nữa là, ngay thân mình là thân năm uẩn thì Tâm kinh Bát-nhã nói “ngũ uẩn giai không”, năm uẩn đều Tánh không, không thật, cho nên nó mới tùy duyên hiện được lớn được nhỏ, được tốt được xấu, mập ốm vui buồn, trời người nó cũng hiện được đủ hết, chính vì nó Tánh không, không cố định là gì. Nếu nó cố định, thí dụ năm uẩn này cố định là người rồi, tức nhiên nó không thể hiện thành trời được, cũng như nó cố định là mập rồi thì không thể hiện ốm được. Do nó không cố định gì, nên nó hiện được tất cả. Bởi vậy Bồ-tát Quán Thế Âm có ba mươi hai Ứng thân, có khi hiện nam hiện nữ, rồi hiện Tỳ-kheo, hiện Tỳ-kheo ni, hiện vua hiện quan, hiện đủ hết, làm sao hiện được như vậy ?

 

Do đó xét cho kỹ, rõ ràng không có một cái gì cố định, vậy thì mình bám chặt một chỗ, một cái làm gì để chịu khổ ? Như vậy cho thấy, hiểu được tùy duyên thì phải thấy lý Tánh không. Rõ được Tánh không của các pháp rồi thì tùy duyên, lúc đó luôn luôn có ánh sáng Bát-nhã đi theo, nên tùy duyên mà không có lầm lẫn. Còn nhắm mắt tùy duyên là đi xuống hố, mình phải thấy rõ cái ý nghĩa đó, thí dụ như người mù nhắm mắt đi bừa là phải lọt hố thôi.

 

Nhớ lại câu chuyện của ngài Tăng Triệu khi bị án tử hình, Ngài xin phép hoãn lại bảy bữa để viết cho xong bộ Luận Bảo Tạng rồi Ngài sẽ chết. Thử hỏi tới lúc đó còn tâm hồn gì ngồi để mà viết luận! Nhưng mà Ngài thấy chuyện đó như là chuyện chơi thôi, và đến trước khi chết Ngài còn đọc bài kệ :

 

Ngũ ấm nguyên phi hữu

Tứ đại bản lai không

Tương đầu lâm bạch nhẫn

Nhất tự trảm xuân phong.

 

Tức là:

 

Năm ấm nguyên chẳng có

Bốn đại xưa nay không

Đem đầu đến dao bén

Giống hệt chém gió xuân.

 

Có ai bị chém bị chết trong đó đâu? Cho nên Ngài thản nhiên coi như không có chuyện gì. Nếu mình thì lúc đó rụng rời tay chân, còn tâm hồn đâu mà ngồi viết sách, huống nữa là tới khi sắp chết còn nói kệ nữa! Như vậy đó mới thật sự là biết tùy duyên. Và tùy duyên kiểu đó dễ bắt chước không ?

 

Bởi vì Ngài thấy rõ năm uẩn bốn đại đều là không, đều là vô ngã hết, không có cái ta thật, thì trong đó cái gì chết, cái gì bị chém? Không thấy có cái gì bị chém thì đâu có gì mà khổ ? Còn mình vì thấy có “cái ta” bị chém bị chết, cho nên mới có khổ.

 

Do Ngài thấy rõ không có gì thật hết, bởi vậy hễ còn duyên thì làm Phật sự tiếp, hết duyên thì thôi ra đi, chớ không cố ghì lại một chỗ để chịu khổ. Còn mình vì thấy có cái ta trong đó cho nên cố ghì lại để sống, ghì không được thì phải kiếm cái ta mới ráp vào, chính cái ta mới đó lại đi trong sanh tử. Hiểu như vậy, thấy được cái lý như vậy thì mới khéo biết tùy duyên. Đó là điểm thứ nhất là phải thấy rõ được Tánh không.

 

2- Thứ hai, tiến bước nữa là nhận ra Bản tánh chân thật của mình, nghĩa là thấy được, nhận rõ được Bản tánh chân thật luôn luôn hiện hữu nơi mình, cho nên mình tùy duyên là để chi? - Tùy duyên là để sống trở về Bản tánh chân thật đó chớ không sanh những niệm, những tâm hoặc lấy hoặc bỏ, chỉ thuận với tánh để sống, làm sao không để mất nó, đó là chỗ sống của mình rồi.

 

Như bài kệ của vua Trần Nhân Tông, nhiều người nghe quen quá thành ra xem thường:

 

Ở đời vui đạo hãy tùy duyên

Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền

Trong nhà có báu thôi tìm kiếm

Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền.

 

Nghĩa là sao ? Nghĩa là ở đây nhận ra Bản tánh chân thật của mình hay của báu sẵn có trong mình rồi, thì khỏi cần phải chạy, phải tìm kiếm đeo đuổi cái gì bên ngoài nữa, nghĩa là không để cho cảnh nó lôi mình, nó làm mất mình. Như vậy mình sống ngay trong lòng đời này, ở giữa thế gian này mà vẫn vui với đạo, đó là biết tùy duyên, mà tùy duyên như vậy là để làm chi? - Là để sống với Bản tánh của mình, sống trở về với Bản tánh chân thật, ngoài ra không có gì quan trọng. Đó gọi là tùy duyên sống với Bản tánh, tiêu nghiệp cũ mà không tạo thêm nghiệp mới.

 

Như vậy tùy duyên mà thường sáng tỏ không có mê, không có mờ, tùy duyên mà không đặt thành một “cái ta” trong đó. Đó là điều quan trọng, còn tùy duyên mà có cái ta trong đó thì không phải tùy duyên. Cũng như ở đây “đói đến thì ăn, mệt ngủ liền” nhưng nếu còn có cái ý niệm là đói nên ăn hay không nên ăn thì sao? - Đó là chen cái ta vào trong đó, tức là cái gì nên ăn hay không nên ăn ? Đó là hết tùy duyên. Cho nên tùy duyên ở đây là thuận theo Tự tánh để sống trên đời, để cho nó luôn luôn được hiện hữu khắp nơi, đó mới là tùy duyên chân thật.

 

Ngài Sùng Tín sau khi ngộ đạo, Ngài hỏi vị thầy là Thiền sư Đạo Ngộ: “Làm sao để bảo nhậm ( giữ gìn ) ?” Ngài Đạo Ngộ bảo rằng: “Mặc tánh tiêu dao, tùy duyên phóng khoáng, chỉ hết phàm tình, không thánh giải khác.” Nghĩa là mặc tình thuận theo cái tánh đó mà tiêu dao tự tại, tùy duyên phóng khoáng thôi, chỉ cốt làm sao hết được cái tình phàm này, tình mê này chớ không có thêm một cái kiến giải thánh gì khác, không thấy có chứng có đắc gì khác nữa, đó là tùy duyên. Tùy duyên như vậy làm sao bắt chước đây ?

 

Chỗ này là phải sống, biết rõ mình có cái chân thật rồi thì sống tùy duyên, duyên đến thì tiếp, duyên qua thì thôi, không có cố chấp, không có mong cầu thêm nữa. Đó là vì có được chỗ sống vững vàng trong này rồi, nên mới tùy duyên được như vậy, mới tiêu được những nghiệp cũ và nghiệp mới không tạo thêm.

 

Thiền sư Thiên Y Nghĩa Hoài có bài kệ:

 

Nhạn quá trường không

Ảnh trầm hàn thủy

Nhạn vô di tích chi ý

Thủy vô lưu ảnh chi tâm.

 

Giống như con nhạn bay trên không, nhạn bay qua thì bóng hiện dưới nước, nhạn không có ý lưu dấu vết lại dưới nước. Và bay qua rồi thì bóng mất, nước cũng không có tâm giữ bóng con nhạn lại. Đó là tùy duyên, nhạn bay qua là duyên đến thì bóng nó hiện trong nước, duyên qua rồi thì nước không lưu bóng lại. Còn mình thì sao? Có khi duyên chưa đến mà kêu nó đến! Rồi duyên qua thì giữ lại không cho nó qua! Chính vì vậy cho nên khổ. Ngay trong lúc ngồi thiền cũng còn muốn giữ lại nữa. Ngồi thiền nhớ lại, giữ lại, lưu lại trong này, đó là không biết tùy duyên, còn biết tùy duyên thì tâm lúc nào cũng trong sáng, đâu có cái gì lưu lại trong đó thì có gì mà ngăn ngại ?

 

Có vị Tăng hỏi ngài Triệu Châu:

 

- Thế nào là cầu đá Triệu Châu?

 

Ngài đáp:

 

- Độ lừa độ ngựa.

 

Ở gần chỗ ngài Triệu Châu Tùng Thẩm có cái cầu đá do ông Lý Ưng làm, cầu đá cũng nổi tiếng, cho nên nghe nói tới cầu đá Triệu Châu là ai cũng biết. Nhưng ở đây ông Tăng hỏi “thế nào là cầu đá Triệu Châu” ý lại khác. Ngài đáp : "Độ lừa độ ngựa", độ tức là đưa, đưa lừa đưa ngựa qua hết. Như vậy quí vị hiểu sao là “cầu đá Triệu Châu”? thấy được “cầu đá Triệu Châu” chưa ?

 

Thường nghe hỏi cầu đá, người ta tưởng ngay cái cầu bằng đá. Nhưng ở đây, ý ông Tăng này chuyện đó ai cũng biết rồi, ông cũng ở đó thì ông biết rồi, đâu cần hỏi làm chi nữa. Vậy hỏi cầu đá này là hỏi cái gì? - Đó là chỉ cho cái lý thật. Cho nên ngài Triệu Châu đáp “độ lừa độ ngựa”. Lừa ngựa gì cũng độ hết, đều cho đi qua hết. Lừa là loài vật, ngựa cũng là loài vật mà cái cầu đá độ hết, cho đạp đi qua hết, nhưng cầu đá không phải là lừa, không phải là ngựa, không đồng hóa nó với lừa với ngựa, đó là tùy duyên.

 

Còn mình thì sao ? Độ thì phải độ làm sao? - Phải độ những hạng thượng căn, hạng Bồ-tát chớ lừa ngựa đâu để cho đi qua. Mà không để cho đi qua tức là còn cái ngã trong này, bị cái ngã nó che. Cho nên ở đây muốn thấy lý thật thì phải như vậy, độ lừa độ ngựa, cái gì cũng là tùy duyên hết, cái gì cũng cho đi qua nhưng nó không là cái gì, không đồng hóa với cái gì .

 

Không đòi hỏi theo một cái ngã, không sanh những niệm sanh diệt hay lấy bỏ gì hết, đó là tùy duyên. Còn mình thì phải lựa, độ thì cũng phải lựa, người đó mình thương mình mới độ, còn không thương thì đâu có độ, đó là còn mắc kẹt. Còn ở đây thì độ hết, chỉ thuận theo duyên để sống trở về với Tự tánh, để làm sao cho Tự tánh của mình luôn luôn có mặt, không có vắng, vẫn luôn luôn sáng ngời trong tất cả mọi duyên, đó là khéo tùy duyên, tùy duyên mà đúng lý không lầm lẫn. Như vậy với nghĩa tùy duyên này mình làm được chừng bao nhiêu? Hiểu được như vậy mới thấy nghĩa tùy duyên rất là sâu.

 

3- Một điểm nữa, tùy duyên thì phải hiểu rõ được thế gian là tương đối, đó là lẽ thật của thế gian (thế đế). Thế gian luôn luôn là tương đối, mọi cái có ra đều nằm trong đối đãi hết. Nhưng thấy ở đây không phải là cái thấy hiểu tầm thường, lâu nay người nghe pháp nhiều quá cũng hiểu rồi, cũng thấy rồi nhưng chưa phải. Tức là phải thấy trong lúc mình tu, thấy rõ bằng chính trí tuệ của mình cái đó mới giúp mình sống được. Chớ hiểu theo kiểu ngồi đây hiểu nhưng ra ngoài quên, ngồi đây thì hiểu thế gian tương đối, cái gì cũng đối đãi nhau mới có, không có gì là thật, nhưng khi ra ngoài đụng chuyện thì cái gì cũng thật hết, cái hiểu đó không phải.

 

Cho nên ở đây phải thấy bằng chính trí tuệ của mình. Xét thấy rõ trên thế gian này đều là tương đối hết, thiện đối với ác, phải đối với quấy mà có, cũng như vui đối với buồn mà có, ngay cả thầy đối với trò mà có, không trò thì đâu có thầy, cũng như mẹ đối với con mà có, không con lấy gì có mẹ. Luôn luôn là đối đãi nhau, không có một cái gì đứng riêng, như vậy tại sao mình phải đòi hỏi một chiều? Có nhiều người còn đòi hỏi hơn nữa, đòi hỏi cái toàn mỹ, cái gì cũng phải cho toàn mỹ, toàn vẹn ! Nhưng sự thật thế gian nói toàn mỹ chỉ là nói chơi, không bao giờ có, chỉ tuởng tượng, không thể có cái toàn mỹ nếu chưa sống được với cái chân thật. Thế gian là tương đối thì làm sao có cái toàn mỹ được !

 

Đức Phật có nói bài kệ:

 

Kẻ hơn thì thêm oán

Người thua ngủ chẳng yên

Hơn thua hai đều xả

Ấy được an ổn ngủ.

 

Nghĩa là có hơn thì có thua, làm sao mà toàn mỹ được? Mà chính có hơn có thua, từ đó có oán có hờn, có khổ, có cái này thì có cái kia. Như vậy thì hơn không hẳn là yên, còn thua cũng không hẳn là xong. Thua còn ấm ức trong lòng cũng khổ, như vậy làm sao mà toàn mỹ được? Thường thường mình thích đòi hỏi cái toàn mỹ, sống với ai mình cũng đòi hỏi người đó phải tốt với mình, lâu lâu thấy không tốt thì bực tức, nhưng thử hỏi chính mình có toàn mỹ chưa ?

 

Thế gian là tương đối, tâm người là vô thường, bữa nay như vậy, nhưng mai mốt vô thường nó đổi đâu còn như vậy nữa. Bởi vậy không có cái toàn mỹ, đòi cái toàn mỹ là mê. Bởi vì xét kỹ thì chính mình còn chưa toàn mỹ, ngay nội tâm của mình, có khi còn tự mình mâu thuẫn với mình nữa nói chi tới bên ngoài. Như vậy làm sao muốn mọi người toàn mỹ được, muốn mọi cái bên ngoài toàn mỹ được!

 

Thí dụ bên ngoài coi giống như vui vẻ nhưng có khi đau khổ trong lòng, ngoài làm bộ vui nhưng trong lòng đau khổ, hoặc có lúc thấy giống như muốn xả hết để tu hành nhưng rồi ít bữa đổi ý tiếc thế gian trở lại. Như vậy lúc muốn xả thì ai muốn xả, rồi lúc tiếc trở lại thì ai tiếc, ai chen vào trong đó? - Cũng là trong tâm mình thôi. Chính mình đã mâu thuẫn với mình rồi, hoặc có lúc bữa nay tính đi nghe pháp nhưng rồi lại tính đi chơi, hoặc ngược lại tính đi chơi rồi đổi ý tính đi nghe pháp. Cũng là mình với mình nhưng tại sao nó có cái đó? Như vậy để thấy rằng ngay nơi mình cũng còn mâu thuẫn, vậy làm sao đòi có cái toàn mỹ trọn vẹn bên ngoài được. Đòi không được thì sao? - Khổ, thật là đơn giản!

 

Bởi vậy, ngay như đức Phật mà mình gọi là bậc toàn giác, bậc có công đức phước trí trang nghiêm, nhưng Phật có bị người chê không? Phật cũng còn có người chê nữa, có người chê Phật là bất hiếu bỏ cha bỏ mẹ đi tu, bỏ vợ bỏ con vô rừng. Có người khen thì cũng có người chê. Rồi kẻ uống rượu say sưa có người khen không? Cũng có người khen, đồng bọn khen nhau.

 

Như vậy cho thấy không có cái gọi là hoàn toàn. Bởi vậy Phật mới dạy trong kinh Pháp Cú: “Xưa, vị lai và nay, đâu có cái sự kiện này: người hoàn toàn bị chê, người trọn vẹn được khen.” Ngài nói rằng trong cả ba thời không bao giờ có sự kiện là có người hoàn toàn được khen cũng như có người hoàn toàn bị chê.

 

Do đó chê khen không thành vấn đề. Cho đến được mất cũng vậy, có được là có mất chớ không bao giờ có cái gọi là nguyên vẹn. Biết rõ ý nghĩa như vậy, hiểu được như vậy, mình khéo chuyển thì sống được an vui, còn cố chấp một bên thì khổ, thí dụ cố chấp là phải được cái đó mà nó không được thì khổ.

 

Như bà Tì-xá-khư (Visàkhà), bà là đại thí chủ trong thời đức Phật, một hôm đi nghe pháp, bà cởi chiếc áo choàng rất quí giá cho đứa tớ gái giữ ở ngoài rồi đi vô nghe pháp. Khi ra về không biết đứa tớ gái làm sao mà nó bỏ quên luôn. Mình gặp như vậy thì sao? - Chắc là chửi mắng, đánh đập đứa tớ đó dữ lắm, bởi đây là chiếc áo choàng rất đắt giá. Nhưng với bà thì bà kêu đứa tớ gái lại nói rằng: “Con trở lại tịnh xá kiếm, nhưng tới đó nhớ hỏi xem nếu có vị Tỳ-kheo nào đụng tay tới cái áo rồi thì con đừng lấy về nữa.” Cô tớ gái đi tới hỏi thăm nghe nói ngài A-nan thấy của ai bỏ quên thì Ngài lấy cất giùm rồi.

 

Cô tớ gái về thưa lại, bà nghe như vậy, liền tới bạch với Phật là xin bán cái áo để cúng dường làm một Phật sự gì cho xứng đáng. Phật bảo làm một cái tăng xá để cho chư Tăng ở, bà rất là hoan hỉ. Nhưng cái áo đắt giá quá không ai mua nổi, bà bèn bỏ tiền mua lại cái áo, rồi lấy tiền đó xây tăng xá cho chư Tăng. Khi xây xong đến ngày cúng dường dâng lên Phật, tác bạch xong, bà kêu đứa tớ gái lại nói rằng: “Hôm nay sở dĩ bà được công đức này là cũng nhờ có con, công đức này bà xin chia hai, cho con nửa, bà nửa.”

 

Ai thấy mình làm nổi chuyện đó không? Cái được cái mất mình chuyển một cái thành ra tốt đẹp mà còn vui vẻ nữa. Mất cái áo không buồn, chuyển lại thành được phước lành rồi vui vẻ nữa, mà vui vẻ cả mấy phần trong đó: chư Tăng có tăng xá ở cũng vui, rồi bà được cúng dường hoan hỉ cũng vui, đứa tớ gái cũng được vui vàø ngay cả mình bây giờ nghe kể lại cũng vui theo. Nếu lúc đó mà giận lên chửi mắng đánh đập thì sao? - Chẳng những không vui mà còn tạo thêm cái khẩu nghiệp khổ nữa, rồi cái thân đánh đập người tạo thêm cái thân nghiệp khổ, vậy là khổ lại càng thêm khổ!

 

Cho thấy chỉ vì bám chấp vào cái được, cái mất mà khổ. Bây giờ biết rõ cái mất không thành vấn đề, cho nên chuyển lại thì được vui. Cho nên khéo sống thì được, không cố chấp một bên, cố chấp là chịu khổ. Chính vì vậy trong cuốn Pháp Hoa Đề Cương của Thiền sư Minh Chánh ở Việt Nam có bài kệ nói về ông Thuần-đà:

 

Hay lắm Thuần-đà,

Hay lắm Thuần-đà !

Thôi nói dở, chớ bàn hay,

Dở hay tốt xấu bận lòng chi.

Người muốn tìm khéo trở thành vụng,

Kẻ toan bắn sẻ sói chực hờ.

Công danh cái thế màn sương sớm,

Phú quí kinh nhân giấc mộng dài.

Chẳng rõ xưa nay không một vật,

Công phu luống uổng một đời ai.

 

Thuần-đà là người cúng bữa cơm cuối cùng cho đức Phật trước khi Phật nhập Niết-bàn. Sau này có người phê phán như vậy là ông tổn phước, vì Phật thọ xong bữa cơm của ông rồi Phật tịch. Phật biết vậy nên Phật mới khen, Phật nói hai người có phước đức lớn nhất là người cúng bữa cơm cho Phật trước khi Phật thành đạo, và người cúng bữa cơm cuối cùng trước khi Phật nhập Niết-bàn. Phật khen vậy để ông không có lòng hối hận.

 

Cho nên ở đây ngài Minh Chánh mới lấy việc đó để nói lên ý nghĩa là thế gian tương đối, mình phải vượt qua ý nghĩa tương đối, đừng mắc kẹt trong cái khen chê. Ông nói: “Hay lắm Thuần-đà, hay lắm Thuần-đà! Thôi nói dở chớ bàn hay, dở hay tốt xấu bận lòng chi.” Cái chuyện hay, chuyện dở là chuyện đối đãi thôi, có người khen thì cũng có người chê, đừng bận lòng chuyện đó. Rồi sao? "Người mà muốn tìm khéo thì trở thành vụng", muốn khéo nhưng thành vụng, bởi vì cái khéo ở kế bên cái vụng, cũng như người đang rình bắn chim sẻ nhưng đâu ngờ dưới này có con chó sói nó chực hờ, vừa rớt xuống nó chụp chạy mất. Bắn được con chim sẻ nhưng được đó rồi mất đó, cái được cái mất kề bên nhau.

 

"Công danh cái thế" tức là công danh trùm cả thế gian đi nữa cũng như màn sương sớm vậy thôi, có đó rồi mất đó. Chỗ này mình sống thấy có kinh nghiệm rõ ràng, người đang có tiếng tăm nhưng bỗng bị một nạn gì đó tiêu hết. Cũng như là "phú quí kinh nhân", phú quí làm giật mình người, cũng như giấc mộng vậy thôi. Giàu sang bao nhiêu nhưng mà gặp cơn nạn cũng trắng tay. Chuyện thực tế nó là như vậy.

 

Căn bản là “chẳng rõ xưa nay không một vật” tức là không rõ được cái lẽ thật "xưa nay không một vật" đó thì "công phu luống uổng một đời ai", nghĩa là phải thấu suốt được cái lẽ thật xưa nay đó, sống được chỗ chân thật đó thì mới không luống uổng công phu một đời của mình; còn nếu không cứ bám vào những cái công phu, những cái được mất, những cái đối đãi nằm trong sanh diệt thì rốt cuộc cũng bị sanh diệt thôi.

 

Thí dụ cũng như ở đây, chán thế gian này đi tu, tu rồi cầu lên cõi trời, có hết khổ không? Cầu lên đó ít bữa hết phước cũng rớt trở lại! Vì đó là công phu sanh diệt, cho nên rồi nó cũng lẩn quẩn trong đó. Cần phải thấu rõ chỗ “xưa nay không một vật” đó, sống được với cái đó thì mới vượt ra ngoài cái đối đãi, còn bám chặt vào trong cái đối đãi thì khổ. Mà sở dĩ bám chặt vào trong này là bởi vì sao? - Là bởi thấy có ta cho nên bám chặt vào cái ta đó, rồi mới có khổ, có tức tối, có chửi rủa than trách này nọ.

 

Hiểu rõ được lẽ thật của thế gian là tương đối, là đối đãi thì mình cởi mở được những tình chấp, là biết sống tùy duyên, tùy duyên như vậy là hết khổ. Hiểu như vậy thì tùy duyên mới thật, còn tùy duyên đụng đâu làm đó thì không phải.

 

4- Rồi một điểm nữa, mình hiểu được lý này rồi thì phải biết linh động không cố chấp. Bởi tùy duyên là linh động, là không cố chấp. Mình khổ là vì cố chấp, mà cố chấp là không biết tùy duyên. Đã hiểu rõ được lẽ thật như trên, không có cái gì gọi là toàn vẹn, không có cái gì là cố định thì cố chấp làm gì? Mình làm sao cho cuộc sống linh động sáng ngời, chớ còn khư khư ôm chấp một chỗ, đó gọi là bệnh.

 

Ở trong nhà Nho có câu chuyện: Ông Lưu Ngưng Chi một hôm đang đi thì bất thần có người lại nhận lầm ông mang đôi giày của họ. Giày của mình đang mang mà họ nói mình mang lầm giày của họ thì phải sử xự sao? Ông nghe vậy liền cởi giày đưa cho họ :“Giày của ông thì thôi ông cứ nhận đi”. Nhưng sau đó người này tìm thấy đôi giày của họ, liền vội vàng đem giày trả lại ông nhưng ông nhất định không nhận : “Anh nhận rồi thôi là của anh, tôi không nhận”.

 

Rồi có một trường hợp giống như vậy, ông Thẩm Lân Sĩ một hôm đang đi cũng có người cũng lại nhận lầm ông đi giày của họ, ông cũng cởi ra đưa cho họ. Nhưng sau đó biết lầm, họ tới trả ông thì ông vui vẻ : “Không phải của anh hả, thôi tôi nhận”.

 

Vậy quí vị muốn bắt chước theo ai ? Ông Tô Thức, tức Tô Đông Pha, có lời bình rằng : “Việc này tuy là việc nhỏ mọn, song ở đời ta nên cư xử như ông Lân Sĩ, không nên như ông Ngưng Chi.” Bởi vì sao? Đôi giày của mình đang mang mà có người đến nhận của họ, mình sẵn sàng cởi cho, cái đó là thật quí rồi. Nhưng người ta biết lầm rồi và người ta đem trả thì phải cảm thông nhận cho họ hối lỗi, chớ bây giờ người ta biết lỗi rồi mà mình không tạo cái duyên cho họ sửa, cứ khư khư ôm giữ cái phải của mình hoài thì sao? E có lúc cũng không được phải. Ở đây người ta biết lỗi rồi, biết lầm rồi, thôi thì cứ nhận có phải tốt không, ổn không? Còn mình cứ khư khư không nhận để cho họ hối hận trong lòng hoài thì đâu có tốt. Khéo biết như vậy đó là hiểu được linh động tùy duyên, còn cái kia là cố chấp. Tuy là tốt nhưng mà cố chấp cái tốt thành ra cũng không được trọn tốt.

 

Đó là nói về bên Nho, còn trong nhà thiền thì có Thiền sư Bạch Ẩn Huệ Hạc, sư rất nổi tiếng, ai nấy đều ca tụng sư là một con người rất trong sạch, rất tốt. Ở gần chùa sư có một gia đình bán thực phẩm, một hôm gia đình này phát hiện cô con gái của họ có thai, gia đình nổi giận đánh mắng hỏi ai là tác giả cái bào thai đó thì cô nói là Bạch Ẩn. Cha cô nghe nói vậy, quá giận tìm tới chùa gặp sư. Ông xổ ra đủ những lời nặng nề nhất trên đời. Sư nghe như vậy chỉ nói :“Thế à!” Vậy thôi.

 

Sau khi đứa bé được sanh ra, gia đình này mang tới chùa giao cho sư thì sư cũng nhận. Sau một thời gian nuôi đứa bé sư bị mất hết tiếng tăm, không còn ai nghĩ tới sư nữa.

 

Một thời gian sau, cô gái cảm thấy bị ray rứt trong lòng chịu không nổi, cô mới thú thật là cha đứa bé không phải là Bạch Ẩn mà là một chàng thanh niên bán cá ngoài chợ. Nghe tới đó cha mẹ cô mới bật ngửa, hoảng sợ lật đật tới chùa để sám hối và xin đứa bé trở lại. Lúc đó Thiền sư Bạch Ẩn cũng chỉ nói :“Thế à!” Vậy thôi, đơn giản.

 

Đó là tùy duyên, mà tùy duyên thế này mới thực sự là tùy duyên, tùy duyên cao tuyệt. Được, mất tiếng tăm không thành vấn đề, nhận việc đó coi như tiếng tăm mất hết rồi, như mình thì buồn biết bao nhiêu nhưng với sư chỉ “thế à!” là xong. Bởi vì sư thấy không có gì quan trọng, người nói oan, người bị lầm thì sư cũng vẫn thản nhiên không buồn lòng gì hết. Khi nhận đứa bé sư không buồn giận, mà trả đứa bé cũng không trách mắng,

 

Tùy duyên theo kiểu này thì ở trong đây ai bắt chước được? Đó là vì sư thấy rõ trên đời này không có gì quan trọng, nhất là không có “cái ta”. Không có cái ta thì lấy cái gì mà được mà mất, có được có mất là bởi vì có cái ta này, “ta được” tiếng tăm, bây giờ “ta mất” tiếng tăm, còn không có cái ta thì cái gì mất? ai mất? Thấy rõ vậy nên đối với sư được mất tiếng tăm không thành vấn đề, nhận đứa bé cũng thản nhiên, trả đứa bé cũng thản nhiên thôi.

 

Trong kinh Viên Giác có câu: “Thân này còn chẳng thật có thì yêu ghét từ đâu sanh?” Cái thân còn chẳng thật có thì cái yêu cái ghét từ đâu mà sanh, bám vào đâu mà có? Sở dĩ mình thấy có yêu có ghét, có được có mất là bởi vì thấy có cái ta này. Nếu cái ta này không thật thì lấy gì được mất, yêu ghét ? Thấy rõ như vậy mới thật sự biết tùy duyên. Tùy duyên này là một điểm rất sâu.

 

5- Một điểm kế nữa, tùy duyên là để phá cái ngã kiến, tức cái kiến chấp ngã. Bởi vì chúng ta luôn luôn thấy có cái ta thật, có vật thật, có người thật, tất cả đều thật, rồi cái thấy, cái nghĩ của ta cũng thật luôn, cho nên mới cố chấp bám vào một chỗ. Với thế gian thì luôn luôn là sao? Ta nói một là một, hai là hai, chớ không thể thay đổi. Mình bảo vệ tối đa cái nghĩ của mình. Chính vì vậy cho nên mới có đấu tranh, mới có chết chóc, bởi vì ta nghĩ như vậy là phải, khác đi là không được. Nhưng cái gì là cái nghĩ của ta? Xét cho kỹ thì cái nghĩ của ta cũng không có gì cố định, mình nghĩ vậy ít bữa rồi cũng đổi ý nghĩ khác, nó không có cố định, không có Thật thể.

 

Cho nên trong kinh Kim Cang, Phật có dạy: “Như Lai nói ngã kiến tức chẳng phải ngã kiến, đó gọi là ngã kiến.” Nghĩa là, nói cái ngã kiến không phải thật có, chỉ do cái lầm chấp của người thôi. Mình nghe nói có cái kiến chấp, có cái chấp ngã thì mình tưởng đâu có cái chấp ngã thật, chớ sự thật Ngài nói đó chỉ là cái mê lầm, cái vọng chấp của mình chớ không có thật. Như cái nghĩ của ta, xét cho kỹ, tìm cho tột cái gì là cái thể cố định cái nghĩ của ta thì tìm không ra, chỉ không ra.

 

Khi xét tột được như vậy tức là mở sáng được con mắt Bát-nhã, thấy được cái lầm như vậy thì hết lầm. Mới thấy cái nghĩ của ta không có gì là cố định thì làm sao mà bám chắc ? Không bám chắc vào một chỗ thì mới có tùy duyên, cho nên nói tùy duyên là phá cái ngã kiến, phá cái chấp chặt một chỗ, chấp chặt là ta nghĩ như thế là phải. Sự thật là không có cái ta nghĩ cố định thật được.

 

Một chuyện đơn giản tầm thường, thí dụ một viên kim cương đối với cái nghĩ của mình là quí, nhưng nếu đem cho đứa bé thì sao? Nó làm viên bi nó bắn chơi. Như vậy cái nghĩ của ai đúng? Tùy theo tâm tưởng của người thôi, mình quen suy nghĩ như vậy rồi mình cho như vậy là đúng chớ sự thật chưa hẳn là đúng với người khác. Mình nghĩ nó quí nhưng với đứa bé nó thấy giống như viên đạn nó bắn chơi thì có gì đâu là quí. Nếu mình thấy nó đem bắn chơi rồi mình chấp vào cái nghĩ của mình là đúng, mình rầy phạt nó thì sao? Là cố chấp, rồi khổ.

 

Hiểu như vậy mới thấy tùy theo tâm tưởng của người mà thành ra có cái nghĩ sai khác chớ không có cố định, là bớt chấp. Ở đây nói bớt chấp thôi, chớ nói hết chấp thì chưa. Bớt chấp thì bớt khổ. Học thiền cởi được những tình chấp của mình ra cho nhẹ bớt.

 

Ở trong Tuyệt Quán Luận có một đoạn, có người đặt câu hỏi: “Con thấy người học đạo phần nhiều họ chẳng chuyên cần giữ giới luật, cũng chẳng chăm lo gìn giữ oai nghi, cũng chẳng giáo hóa chúng sanh mà cứ mặc tình sống thoải mái thì đó là ý gì?” Trong đó đáp: “Nhưng bên trong thực hành không có gián đoạn.” Bên ngoài nhìn giống như thoải mái nhưng bên trong người ta thực hành không có gián đoạn thì đó mới gọi là khéo tùy duyên.

 

Có những trường hợp các ngài làm như vậy để phá cái niệm chấp về sạch, về nhơ. Thí dụ như chấp ta đây tu hành thanh tịnh, ta đây tu hành đàng hoàng. Nhưng có ai nói mình tu hành không thanh tịnh, không đàng hoàng thì sao? Thì tức giận, đó là chấp vào cái thanh tịnh của mình, tới chừng người ta nói không thanh tịnh thì nổi giận. Còn ở đây là phá cái niệm sạch nhơ, ai nói sao thì nói, không thành vấn đề với mình.

 

Nhưng điểm này cũng phải xét ngược lại. Tuy là vậy nhưng không phải dễ bắt chước, bởi vì cũng dễ lầm. Nghe nói làm những chuyện như vậy là sống không chấp vào hình thức rồi mình cũng bắt chước làm như vậy để cho giống như tự tại, nhưng đó là bắt chước chớ không phải sống thật sự. Ở đây cần phải chú ý, điểm quan trọng là tuy bên ngoài như vậy nhưng bên trong thì thực hành không có gián đoạn, tức là bên trong luôn luôn sáng ngời, không có mê thì mới là lẽ thật, chớ theo cái kiểu bắt chước làm như vậy mà đụng đâu dính đó thì không phải.

 

Cũng có trường hợp làm như vậy để tỏ ra ta đây là người hiểu thiền, ta đây là người không chấp gì hết, là người sống tự tại. Nhưng nói ta không chấp gì hết mà chính cái đó lại thành ra chấp, tức là “chấp vào cái không chấp”.Thường người ta chấp cái này chấp cái kia, nhưng bây giờ chấp trở lại cái không chấp, tức là ta không chấp cho nên mọi chuyện coi như không thành vấn đề. Cái đó mới là cái nguy hiểm, chấp vào cái không chấp lại là bệnh. Nhưng bệnh mà lại không biết bệnh nên mới khó trị, làm sao mà trị? Nên nhớ đây là chỗ thực sống của các vị đã sáng tỏ được đạo, nếu không được như vậy thì không được bắt chước.

 

Ở đây còn một điểm nữa, phải nhớ là khi chúng ta nói rằng làm như vậy để phá cái tâm phân biệt, thì còn có tâm phân biệt không? Chưa sạch hết phân biệt mới phá, chớ sạch hết rồi thì phá cái gì nữa? Như vậy thì cũng chưa phải thật sự tự tại, đó là chỗ mình phải thấy cho kỹ. Đừng nói rằng tôi làm vậy là để phá chấp, tôi tự tại rồi, nhưng sự thật nếu đã hết chấp thì phá cái gì? Còn phá tức là còn phân biệt, còn phân biệt tức chưa tự tại. Cho nên nếu nghe ai nói tôi phá chấp thế này, tôi phá chấp thế kia, tức là còn chấp mới phá, chưa phải thật hết đâu. Đó là những điều phải thấy cho thật tế nhị.

 

6- Một điểm nữa, tùy duyên là mình nên sống khéo hòa với tất cả chớ không nên làm khác người, không phải là lập dị, bởi vì tùy duyên mà. Không làm khác với người, không lập dị để cho thấy ta đây là người đạt đạo, ta đây là người tự tại, đó mới là tùy duyên. Bởi vì khi mình làm khác người để chứng tỏ mình đạt đạo thì đó là một tướng khác của ngã tướng. Ở đây làm tất cả, cũng ăn cũng ngủ như mọi người nhưng luôn luôn không rời Tự tánh, không mất ánh sáng của Tự tâm, đó mới là khéo tùy duyên. Chớ tùy duyên mà làm khác biệt với người ta, để cho thấy rằng “ta đây” là người không chấp, là người tự tại, như vậy là có chấp trong đó rồi, có ngã tướng trong đó rồi. Làm để cho người ta chú ý tới mình, cái đó là bệnh.

 

Bởi vậy, tùy duyên mà luôn luôn sáng ngời ở trong, sống bình thường nhưng không mất chỗ sống chân thật của mình, mới là đúng tùy duyên, nếu không được như vậy thì mắc kẹt. Tóm lại tùy duyên thì không thể bám chấp vào một chỗ nào. Vì không có gì cố định hết. Vừa bám chấp một cái gì đó là hết tùy duyên, mà còn sống trở lại với quá khứ nữa.
Trong sử ghi một hôm có vị ngoại đạo đến hỏi Phật:

 

- Hôm qua Ngài thuyết pháp gì?

 

Phật nói:

 

- Hôm qua ta thuyết định pháp (tức là cái pháp nhất định).

 

Vị ngoại đạo hỏi thêm:

 

- Vậy còn hôm nay Ngài thuyết pháp gì?

 

Phật nói:

 

- Hôm nay ta thuyết bất định pháp.

 

Vị ngoại đạo gạn lại:

 

- Hôm qua giảng định pháp, hôm nay vì sao lại giảng bất định pháp?

 

Phật đáp:

 

- Hôm qua định, hôm nay bất định.

 

Đức Phật đáp quá hay, đó là để phá cái chấp cố định của mình. Nếu thật sự một bề là định pháp thì làm sao mà có hôm nay? Có hôm qua, có hôm nay tức là bất định, bởi vậy Phật mới nói rằng hôm qua thuyết định pháp, bữa nay thuyết bất định pháp, đó là linh động.

 

Mình cố chấp một bề là mình chết ở trong quá khứ, tức là thiếu cái linh động sáng tạo. Mình nghe nói định pháp thì chấp chặt là định pháp, cho nên nghe nói bất định thì thắc mắc liền.Ở đây Phật nói ro,õ vì bất định cho nên mới có hôm nay, mới có hôm qua. Lẽ thật rõ ràng là như vậy, thấy như vậy thì làm sao chấp?

 

Mình nghe hôm qua nói định, bữa nay nói bất định thì mình thấy Phật nói chuyện sao mà mâu thuẫn quá. Nhưng như vậy là không thấy được ý nghĩa tùy duyên không cố định, tức là không có một pháp thật. Mình bám vào cái hôm qua là mình chỉ nhớ cái quá khứ, sống lui về quá khứ, không có sáng tạo. Hiểu như vậy thì mới thấy được ý nghĩa tùy duyên là luôn luôn linh động.

 

Ngài Lâm Tế lúc từ giã ngài Hoàng Bá đi, Hoàng Bá hỏi đi đâu thì Ngài nói: “Chẳng về Hà Nam tức về Hà Bắc.” Lời này nói lên tâm của Ngài sống tùy duyên thật sự. Tùy duyên ở đây là gì? - Là lúc nào cũng hiện tiền, cũng sáng ngời, cái chân thật đó luôn luôn theo sát bên mình, cho nên nó không dừng ở một chỗ nào, không về Hà Nam thì về Hà Bắc, mình đi đâu nó có ở đó. Mình bây giờ có thể nói là “Không ở thành phố thì ở Trúc Lâm”, chớ thân đến Trúc Lâm mà niệm một bề cứ trụ ở thành phố đó là đóng khung ở trong chỗ chết, không linh động.

 

7- Thêm một điểm nữa, tùy duyên tức là vô trụ. Sống được vô trụ thì mới tùy duyên, chớ có trụ là hết tùy duyên, bởi vì có trụ là có chết. Trong cuốn “Góp Nhặt Cát Đá” có chuyện hai sư huynh đệ đi qua con suối thấy một cô gái mặc đồ đẹp muốn đi qua suối nhưng sợ bị ướt không dám qua. Ông sư huynh nói “cô bé lại đây, ta đưa qua cho”, rồi ông bồng cô đưa qua suối. Từ đó về tới chùa hai người làm thinh không nói chuyện. Tới chùa ông sư đệ hậm hực nói rằng:

 

- Huynh sao bữa nay không giữ giới gì hết?

 

- Làm sao mà không giữ giới?

 

- Tại sao huynh bồng cô gái qua suối vậy?

 

Ông sư huynh cười nói:

 

- Vậy hả? Ta đã buông cô gái ở đó rồi, còn ông lại ôm về tới đây sao?

 

Rõ ràng là ông sư huynh thì tùy duyên, gặp đưa qua rồi thôi, còn ông sư đệ thì ôm ấp việc đó mãi, đi từ suối về chùa qua bao nhiêu đoạn đường, qua bao nhiêu bước chân mà cái tâm của ông thì vẫn trụ ở chỗ suối đó. Trụ như vậy là mất cái hiện tiền này tức là mất ông chủ. Còn ông sư huynh buông hết rồi, cho nên luôn luôn lúc nào ông chủ cũng sống hiện tiền. Cho nên tùy duyên tức là vô trụ, vô trụ là sống như vậy đó. Khéo như vậy mới thật sự là khéo tùy duyên, chuyện qua rồi là thôi không có giữ lại, không có trụ lại.

 

8- Đến đây thì quí vị thấy ý nghĩa tùy duyên hơi sâu rồi. Lên một tầng nữa tùy duyên phải lý sự đầy đủ, tùy duyên thường hiện hữu, không nghiêng không lệch một bên. Đó mới gọi là tùy duyên sâu xa.

 

Có vị Tăng hỏi Thiền sư Quang Dũng:

 

- Văn-thù là thầy của bảy đức Phật, vậy Văn-thù có thầy chăng?

 

Ngài Quang Dũng đáp:

 

- Gặp duyên liền có.

 

Ông Tăng hỏi:

 

- Thế nào là thầy Văn-thù?

 

Ngài Quang Dũng liền dựng đứng cây phất tử. Ông Tăng nói:

 

- Phải chăng chỉ cái ấy liền là phải?

 

Ngài Quang Dũng liền ném cây phất tử đứng khoanh tay. Đây mới gọi là tùy duyên mà thường hiện hữu, lý sự đầy đủ.

 

Văn-thù là chỉ cho Căn bản trí, là cái Lý tánh chân thật. Chư Phật sở dĩ thành Phật là cũng ngộ cái lý Căn bản trí này, sống được với Căn bản trí trọn vẹn thì thành Phật. Cho nên gọi Văn-thù là thầy của bảy đức Phật, đã gọi như vậy thì còn ai là thầy của Văn-thù nữa. Nhưng ở đây ngài Quang Dũng nói “gặp duyên thì liền có” tức là sao? Tức là nó không phải hoàn toàn không ngơ, đủ duyên thì nó liền hiện, cái đó không ai làm thầy nó được hết.

 

Ngay khi đưa phất tử lên tức là gặp duyên, nó liền hiện, thì thầy là như vậy đó. "Cái sẵn có", đó là lý, "gặp duyên liền hiện" đó là sự, lý sự luôn luôn đầy đủ. Còn mình nếu thấy không thầy là thấy một bên lý, hoặc là thấy một bên có thầy là thấy một bên sự . Ở đây lý sự luôn luôn đầy đủ, thấy như vậy thì không mắc kẹt bên nào.

 

Khi đưa cây phất tử lên thì cái chân thật đó vẫn luôn luôn hiện hữu nơi cây phất tử rồi, cái thấy nó luôn luôn có mặt rồi. Khi quăng cây phất tử đứng khoanh tay thì sao? Ai đứng khoanh tay đó? Thì nó cũng có mặt ở đó luôn. Cái Thể chân thật nó luôn luôn có mặt nhưng nó không có hình tướng gì để thấy, mà chỗ nào nó cũng ứng hiện được hết. Như vậy mới gọi là có thể có dụng, hoặc có lý có sự, luôn luôn đầy đủ.

 

Cũng vậy, tâm mình đâu có hình tướng gì nhưng gặp duyên thì nó hiện đủ mọi hình tướng. Gặp duyên gì thì nó hiện ra tướng đó. Nó hiện hữu khắp mọi nơi, tùy duyên mà thường hiện hữu chớ không mắc kẹt một bên. Thấy được như vậy mới là thấy được cái ý sâu ở trong nhà thiền.

 

Kết lại thì tùy duyên là gì? Tùy duyên tức là không có chỗ bám, linh động, không dừng không trụ. Tất cả các pháp đều là nhân duyên, không có một pháp thật thì tại sao mình phải bám một chỗ để mà chịu khổ.Cho nên biết tùy duyên là phải quên cái ngã này, còn nhớ cái ngã này là không có tùy duyên. Và tùy duyên có bắt chước được không? Khi bắt chước là hết tùy duyên, bởi vì bắt chước là đã có cái khuôn, có khuôn mới bắt chước, cho nên bắt chước là hết tùy duyên . Ngoài ra điểm quan trọng phải nhớ là, tùy duyên mà còn có ngã là lầm, phải nhớ điểm đó !

 

Đây nhắc câu chuyện này kết thúc bài tùy duyên:

 

Xưa có một vị Thiền sư, Ngài sống ăn uống hỗn tạp, không có chọn lựa gì hết, gặp mặn ăn mặn, gặp chay ăn chay, gặp gì là ăn nấy, gặp rượu cũng uống luôn. Có nhiều đệ tử thấy vậy bắt chước, sống như vậy thoải mái. Một hôm Ngài kêu hết đệ tử đến chỗ người ta thiêu xác người rồi đem đồ ăn bày ra, Ngài lấy những miếng thịt người ta thiêu còn sót lại, chưa cháy hết, trộn vô đồ ăn rồi nói:

 

- Các ngươi lại đây ăn với ta bữa này.

 

Các đệ tử ói mửa chạy hết. Ngài ngồi ăn thản nhiên, sau đó mới bảo rằng:

 

- Các ngươi cùng ăn được với ta cái món này thì mới có thể tiếp tục ăn uống như ta được, còn nếu không được thì thôi từ nay đừng có bắt chước.

 

Chúng sợ hãi không dám bắt chước nữa, lo gìn giữ giới luật đàng hoàng. Bởi vì Ngài đã nhiều năm tu hành thanh tịnh rồi mới được như vậy, còn các đệ tử chưa được vậy thì làm sao mà bắt chước được! Như vậy để thấy rằng, nếu tâm mình còn phân biệt nhơ sạch thì làm sao có thể tùy duyên theo kiểu đó được, còn tâm Ngài sạch hết phân biệt rồi, cho nên ăn tự nhiên thôi.

 

hi tâm mình còn phân biệt nặng nề, còn thích ngon chán dở, còn thích đẹp chán xấu mà bảo là tùy duyên không ngại gì thì coi chừng bệnh hoạn, phải hiểu được cái ý đó. Như vậy một ý nghĩa tùy duyên này mà thấu cho thật suốt có dễ dàng không? - Không dễ dàng, cho nên phải thật sống chớ không phải bắt chước được.

 

Bởi vậy tùy duyên mà còn có cái ta trong đây là còn dính mắc, mà còn dính mắc là không đúng ý nghĩa tùy duyên. Nhiều khi mình mắc kẹt là mắc kẹt cái lý tùy duyên nữa, mình phải sống cho thật chân thật t mới thấy ý nghĩa tùy duyên, chỉ là cái lý thông thường thôi nhưng muốn hiểu cho rốt ráo để sống không phải là đơn giản, làm cả đời không hết, đâu phải nói tới những lý cao tột mây xanh.

 

Để kết thúc lại, tùy duyên là luôn luôn sáng ngời tự tại, không có chỗ nào để bám, đó là tùy duyên. Mong rằng tất cả khéo sống được tùy duyên, đúng ý nghĩa tùy duyên .

 

_______________

Nguồn: thuongchieu.net

TRÚC LÂM - VẤN ĐÁP

 

1. HỎI:

 

Đối với Thiền tông có thể nhận thức, hiểu biết được không ?

 

XIN ĐÁP:

 

Nếu những ai hữu duyên nhận lại “hòn ngọc như ý” nơi chính mình, đối với Thiền môn, hành giả hẳn không phải đặt thành vấn đề để giải quyết. Ngược lại, muốn tìm hiểu biết người ta sẽ nhận thức Thiền theo trình tự thế gian pháp. Nhưng rất tiếc, Thiền không phải là đối tượng nhận thức nên người muốn hiểu biết theo cách này, không sao tránh khỏi lạc lối bơ vơ…! Để rõ được hai trạng thái tâm lý trên đây, chúng ta cùng nhau ôn lại một ví dụ của Hòa thượng Thích Thanh Từ nói chuyện tại Viện nghiên cứu Hán Nôm như sau:

 

"Ví như người trong một dòng họ nọ, đang giữ viên ngọc từ Tổ tiên của mình truyền lại trong gia phả, thì họ không còn nghi ngờ và biết rõ Tổ tông mình có viên ngọc quý. Người bên ngoài nghe nói vậy, rồi muốn biết có đúng như thế không, họ phải truy tìm trong sử liệu… để xác định giá trị, nguồn gốc viên ngọc : thế hệ đầu tiên vào niên đại nào? Ai giữ, ở đâu? Và đã truyền cho thế hệ kế tiếp như thế nào… Nếu dữ kiện không rõ ràng hay bị thất lạc, người ta sẽ mất đi phương hướng, hoài nghi… Cũng vậy, Thiền tông cũng có viên ngọc trong gia phả, nhưng lại không giống viên ngọc thế gian, nó là “Ngọc bảo châu vô tướng”, và đặc biệt “Mích tức tri quân bất khả kiến” nghĩa là: “Còn có tâm tìm, biết anh chưa thấy”! ( Chứng Đạo Ca-Huyền Giác )

 

Thế nên họ lại càng hoài nghi. Đây là tâm trạng của người bên ngoài vậy...”

 

Người đang nắm hòn ngọc trong tay chính là hành giả thiền môn thực chứng, dù tại gia hay xuất gia, họ tùy nghi hưởng thụ, tùy ý tiêu dùng không còn nghi hoặc có hay không, phải cùng chẳng phải. Ngược lại là người ngoài cuộc, không sao tránh khỏi nghi ngờ, mà càng muốn hiểu biết thì lại càng không thể biết!

 

Nói vậy không có nghĩa là không thể tìm hiểu biết. Có vị Pháp sư đến xin thưa hỏi về Đạo, Thiền sư Đại Châu nói :“Bóng trăng dưới đầm sâu mặc ý mò bắt”. Ta có thể nhận thức rằng : người hỏi muốn tìm trăng, câu trả lời của Ngài ví như bóng trăng đáy nước, mò bắt không được đâu. Song đó cũng là cách chỉ dạy người, hãy vượt qua ngôn ngữ, hãy nhìn ngược lên!

 

Qua ví dụ trên đây, cũng là phương hướng giúp cho người ta tư duy mà “Tư duy chỗ không thể tư duy, biết chỗ không thể biết mà biết vậy”. Trên cơ sở này, chúng ta hãy tự hỏi mình xem, có thể nhận thức hiểu biết được Thiền không ?

 

2. HỎI :

 

Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử thuộc loại Thiền nào ?

 

XIN ĐÁP:

 

Trong bài khuyên chúng Thượng thừa tam học, Nhị Tổ Pháp Loa dạy: “Thiền có chia làm năm loại: Phàm Phu Thiền, Ngoại Đạo Thiền, Tiểu Thừa Thiền, Đại Thừa Thiền, Thượng Thừa Thiền. Đây nói Thiền chính là Thượng Thừa Thiền vậy. Thiền này từ Đức Phật Tỳ Lô Giá Na trải qua số kiếp bất khả thuyết bất khả thuyết đến Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Đức Thích Ca truyền cho 28 vị Tổ Ấn Độ và sáu vị Tổ ở Trung Hoa, rồi Tổ Tổ trao cho nhau truyền bá khắp nơi, tính không thể hết được. Các vị đều do giới này, định này, huệ này mà được chứng ngộ, thật không có pháp nào khác.”
Vì vậy, Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử là Thiền Thượng Thừa, cũng gọi là Như Lai Tự Tánh Thanh Tịnh Thiền, hoặc gọi Tổ Sư Thiền hay là Thiền Tông.

 

3. HỎI:

 

Yếu chỉ của Thiền tông hay Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử là gì ?

 

XIN ĐÁP:

 

Thiền là tên gọi khác của chân lý thực tại tối hậu, cũng có nghĩa là Phật, là Tâm, là Đạo, Chân Như hay Tri Kiến Phật, Phật tính… vì vậy yếu chỉ của Thiền tông cũng chính là yếu chỉ của Phật pháp, vốn không có tên tuổi tùy theo diệu dụng mà đặt tên, cũng tùy duyên mà dựng lập.

 

“Như lời Phật dạy trong Bồ tát Giới gọi là Tâm Địa vì hay phát sinh muôn điều thiện ; kinh Bát Nhã gọi là Bồ Đề, vì lấy Giác làm thể, còn gọi là Niết Bàn vì là chỗ quy hướng Thánh Nhân; kinh Hoa Nghiêm gọi là Pháp Giới vì giao triệt và dung nhiếp; kinh Kim Cang gọi là Như Lai vì không từ đâu đến, cũng chẳng đi về đâu ; kinh Kim Quang Minh gọi là Như Như vì chân thường bất biến; Kinh Niết Bàn gọi là Phật Tính vì là thể của ba thân; Khởi Tín Luận gọi là Chân Như, vì chẳng sinh chẳng diệt; kinh Liễu Nghĩa gọi là Viên Giác, vì hay chiếu phá tối tăm; Kinh Viên Giác gọi là Tổng Trì, vì mọi công đức từ đây mà lưu xuất …

 

Đối với cửa Tổ thì dứt tuyệt “…Không đầu đuôi, không danh tự, không tên tuổi, không lưng mặt… ”, song cũng chỉ vì ứng cơ tiếp vật nên tên gọi cũng nhiều: “Có lúc bảo là Chánh Nhãn, vì hay soi tướng của muôn loài; có khi gọi là Diệu Tâm, vì hư linh tịch chiếu; có lúc cho là Chủ Nhân Ông, vì xưa nay thường gánh vác; có khi nói là Bát Không Đáy, vì tùy chỗ sinh nhai; có khi gọi là Đàn Không Dây, vì hiện nay ra điệu vận; có lúc gọi là Vô Tận Đăng, vì hay chiếu phá mê tình; có lúc dạy là Ngọc Ma Ni, vì hay giúp người nghèo khó; có khi nói là Xuy Mao Kiếm, vì hay chặt đứt căn trần; có khi gọi là Nước Vô Vi, vì sóng êm bể lặng… cho đến nào là Trâu Đất, Ngựa Gỗ, Tâm Nguyên, Tâm Ấn, Tâm Nguyệt, Tâm Châu, Tự Kỷ, Ý Tổ Tây Sang …thật kể không hết”. Nếu đạt được Chơn Tâm thì muôn tên đều rõ, bằng ngược lại thì mê mờ chấp danh, chấp tướng, vì thế không thể không cứu xét tột nguồn”. (Chơn Tâm Trực Thuyết )

 

Người tu Thiền là thực hành, tham cứu để đạt được chân lý ấy, “Là thấu triệt bổn nguyên, vượt ngoài Tam giới, liễu sanh thoát tử, chẳng thọ hậu hữu, độ mình, độ người, phổ lợi quần sinh”. Thiền phái Trúc lâm Yên Tử là Thiền Tông nên cùng với Yếu chỉ này thật không sai khác.

 

Tuy nhiên, đó cũng là cách nói của người viết hôm nay, còn người xưa thì sao? Xin đơn cử vài trường hợp dưới đây :

 

* Tăng Hỏi Thiền sư Tịnh Không đời thứ 10 dòng Vô Ngôn Thông :

 

- Thế nào là Phật?

 

Ngài đáp :

 

Nhật nguyệt sáng trời trùm ức cõi

Ai biết mây mù rơi núi sông

( Nhật nguyệt lệ thiên hàm ức sát,

Thùy tri vân vụ lạc sơn hà )

 

Cùng câu hỏi đó Sơ Tổ Trúc Lâm đáp cho vị tăng: “Nhận đến như xưa cũng chưa phải ”, còn trả lời cho Ngài Pháp Loa : “ Tấm cám ở dưới cối ”.

* Có Vị tăng hỏi Tuệ Trung Thượng Sĩ :

 

- Bạch Thượng Sĩ, thế nào là đại ý Phật Pháp ?

 

Ngài đáp :

 

Đầu trạnh vỗ sóng mắt sâu bọ

Cánh bằng nhốt gió ruột kiến trùng

( Ngao đầu đả lãng tiêu minh nhãn

Bằng đực đoàn phong lũ nghị trường ).

 

Còn sơ Tổ Trúc lâm trả lời cho Pháp Loa: “Cùng hầm đất không khác”. Cùng câu hỏi đó ở Trung Hoa Ngài Lâm Tế hỏi Thiền Sư Hoàng Bá ba lần, mỗi lần ăn ba gậy mà không được đáp một lời.

 

* Ngài Pháp Loa hỏi Sơ Tổ Trúc Lâm :

- Thế nào là ý Tổ sư từ Tây sang?

Ngài đáp :

- Bánh vẽ .

 

Cũng cùng câu hỏi đó Hoà thượng Thủy Lạo ở Trung Hoa hỏi Mã Tổ Đạo Nhất bị Ngài đạp một đạp té nhào. Nhưng vừa ngồi dậy, chợt tỏ ngộ vỗ tay cười ha hả. Có ông tăng chẳng biết điều này thế nào, hỏi Tuệ Trung Thượng Sĩ, Ngài đáp: “Cái đạp của rồng voi chẳng phải sức lừa chịu nổi”.

 

Thật có biết bao nhiêu cách dạy khác nhau, khai thị cho hàng hậu học, nếu không phải con cháu trong nhà Thiền quả là không có chỗ để tâm.

 

4. HỎI :

 

Đã là Thiền tông thì cùng yếu chỉ, vì sao lại có nhiều Tông phái ?

 

XIN ĐÁP :

 

Thiền tông tuy có cùng nguồn gốc và yếu chỉ, nếu không như thế thì không thể gọi là Thiền tông. Song, do vì đặc thù của người nối pháp truyền thừa trong bối cảnh lịch sử khác nhau, phương pháp hành trì, cơ duyên ngộ đạo sâu cạn và sở trường hoằng hóa khác nhau nên xuất hiện nhiều tông phái . Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử ra đời cũng trên cơ sở đó.

 

5. HỎI :

 

Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử tu pháp gì? Lấy pháp gì để tiếp dẫn hậu lai ?

 

XIN ĐÁP :

 

Thiền tông là chẳng lập văn tự, truyền ngoài giáo lý, chỉ thẳng tâm người thấy tánh thành Phật (Bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật) thì làm gì có pháp để tu và cũng không một pháp thật, có thể cho người, chỉ tùy cơ khai thị, tùy bệnh cho thuốc cốt “Nhổ đinh tháo chốt”, cho kẻ hậu học mà thôi .

 

Trần Quang Chỉ khi đề từ cho bức tranh Trúc Lâm Đại Sĩ, đã cho ta biết về Sơ Tổ Trúc Lâm lúc còn trẻ như sau :“Khi lớn, Ngài học thông tam giáo và hiểu sâu Phật điển, ngay cả Thiên Văn, Lịch Số, Binh Pháp, Y Thuật, Âm Luật, không thứ gì mà không mau chóng nắm được sâu sắc”. Thế nhưng việc “Bổn phận tông chỉ” vẫn còn chưa rõ, Ngài thưa hỏi Tuệ Trung Thượng Sĩ và được trả lời như sau: “soi sáng lại chính mình là việc bổn phận, chẳng từ nơi khác mà được” (Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc). Nghe xong, sơ Tổ thuật lại: “Tôi thông suốt đường vào, bèn vén áo thờ làm thầy”.(Ngữ Lục Tuệ Trung Thượng Sĩ).

 

Như vậy, bài pháp mà Thượng sĩ ban cho là xuất phát từ lòng khát ngưỡng của Sơ Tổ, mong muốn biết được chỉ thú về việc bổn phận. Đồng thời Sơ Tổ thông suốt được đường vào, tức là biết cách hành thiền. Thế thì Ngài hành Thiền như thế nào qua lời dạy ấy?

 

Gốc là soi sáng lại chính mình! Muốn vậy phải rõ biết cái gì là mình? Người thường xem chừng quá đơn giản, thân tâm này nếu không phải là mình thì là cái gì? Chân lý bình dị, thực tiễn, nhưng cũng không phải giản đơn như thế. Cái thật mình phải là một chứ không do duyên hợp (nhiều thứ tạo thành): phải là cái bất sinh bất diệt; phải làm chủ được. Đem thân tâm duyên hợp, vô thường sinh diệt, không tự chủ cho là mình thì thật là quá vô minh. Nhưng nếu lìa thân tâm này mà tìm cái thật mình thì chẳng thể được. Thế nên chẳng phải, mà cũng chẳng lìa ( Bất tức bất ly ).

 

Nếu như chưa biết cái gì là thật mình mà vẫn thiết tha để rõ được chân lý ấy, chính là lúc đang tham Thiền. Còn đã rõ được mình đương nhiên có chỗ sống, lời dạy soi sáng lại hay phản quan là vì chúng ta thường phóng quan, quên mình theo vật mà thôi.

 

Đó là lối tùy duyên chỉ thẳng và cách dụng tâm của người xưa.

 

Sơ Tổ lại hỏi Tuệ Trung :

 

- Chỉ như gìn giới hạnh trong sạch, không chút xao lãng thì thế nào ?

 

Thượng Sĩ cười không đáp, Ngài lại thỉnh cầu, Thượng Sĩ bèn dùng kệ trả lời như sau :

 

Trì giới cùng nhẫn nhục

Chuốc tội chẳng chuốc phước .

Muốn biết không tội phước,

Chẳng giữ giới nhẫn nhục.

 

Rồi Thượng Sĩ lại dặn nhỏ Ngài “Chớ nói cho người không ra gì biết”.

 

Người tu cốt là phải trì giới, nhẫn nhục, nhưng Thượng Sĩ dạy là chuốc tội chẳng phải phước, nếu muốn biết không tội phước thì chẳng giữ giới và nhẫn nhục. Đúng là với người chẳng ra gì, với kẻ vô trí mà nói, họ sẽ phá giới, ngang tàng nguy hiểm, hay hoang mang nghi ngờ phỉ báng. Song, với bậc đại trí thì quả thật là như vậy. Bởi còn giữ giới tức là còn có mầm phạm giới, còn nhẫn nhục tức là còn sân hận, còn cái ngã, là còn chuốc tội. Nếu không còn phạm giới thì cũng không cần giữ giới; không còn sân hận, đã vô ngã thì làm gì có nhẫn nhục! Nếu còn chấp pháp hành giả không thể nhảy vào mảnh đất Như Lai. Cho nên Thượng Sĩ dạy :“Muốn biết không tội phước, chẳng giữ giới nhẫn nhục”. Như vậy vẫn có tội khi phạm giới, vẫn có phước khi trì giới hạnh. Nhưng Thiền môn không kẹt hai bên, chỉ dạy giữ giới đến chỗ không giới để giữ, nhẫn đến chỗ không gì để nhẫn, tu đến chỗ vô tu mới thật là tu.

 

Bởi vậy, bài pháp đầu tiên ở chùa Sùng Nghiêm trên núi Linh Sơn để truyền bá Thiền tông Sơ Tổ Trúc Lâm dạy “Thích Ca Văn Phật vì một đại sự mà xuất hiện giữa cõi đời này, suốt 49 năm chuyển động đôi môi mà chưa từng nói một lời. Nay ta vì các ngươi lên tòa này, biết nói chuyện gì đây!” Ngồi giây lâu Ngài ngâm bài kệ rồi vỗ bàn một cái, nói : “Không có gì sao? Ra đây! Ra đây !”.

 

“Chuyển động đôi môi chưa từng nói một lời” là tóm lược lời dạy của Phật trong kinh Kim Cang. Chuyển động đôi môi tức là nói pháp, nhưng không một pháp thật có thể nói, nói mà không thấy mình nói, cũng không thấy có pháp để nói, không thấy người để nghe vì Như Lai thường đại định, vô tâm mà nói nên “Chưa từng nói một lời”. Đây chính là chỉ thú tông thừa vượt ngoài ngôn ngữ đối đãi. Thế nên Tổ bảo “Biết nói chuyện gì đây” tức là không một pháp cho người. Ngài nêu cao yếu chỉ giáo ngoại biệt truyền của Thiền tông. Không pháp cho người nhưng tùy duyên giáo hóa, tùy cơ khai thị nên bảo đại chúng “Ra đây! Ra đây!”. Song, trước khi bảo “Ra đây” Ngài có nói “Trong đây không có gì sao?” Chính là đánh thức con người chân thật ấy trong mỗi học nhân! Ngày nay Hòa thượngViện trưởng Thích Thanh Từ dạy “Vô niệm vi tông, vô môn vi pháp môn” lấy vô niệm làm tông, lấy cửa không làm cửa pháp cùng với chỉ thú trên đây thật không sai khác.

 

6. HỎI :

 

Thiền phái Trúc lâm Yên Tử có những điểm đặc biệt gì so với các tông phái trước đó ở Việt Nam như Tỳ-ni-đa-lưu-chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường ?

 

XIN ĐÁP :

 

Thiền phái Trúc lâm Yên Tử có những điểm đặc biệt so với các tông phái Thiền trước đó như sau :

 

* Ngài Tỳ-ni-đa-lưu-chi người Ấn được pháp nơi Tam Tổ Tăng Xán, Ngài Vô Ngôn Thông người Trung Hoa được pháp nơi Bá Trượng Hoài Hải, Ngài Thảo Đường người Trung Hoa được pháp nơi dòng Thiền Vân Môn (có thể nối pháp Thiền sư Trùng Hiển-Tuyết Đậu), các Ngài đều là người nước ngoài sang Việt Nam làm Tổ truyền thừa, còn Trần Nhân Tông là người Việt Nam thấm nhuần thuần phong mỹ tục người Việt, lại được pháp nơi Tuệ Trung Thượng Sĩ, khai sáng dòng Thiền của Việt nam đầu tiên do chính người Việt làm Tổ.

 

* Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đi vào đời sống nhân dân tùy căn cơ giáo hóa, đối với dân thường thì chỉ dạy ngũ giới, hành thập thiện, phá bỏ những hủ tục, miếu thờ thần không chính đáng. Thiền Trúc Lâm lại có tính phổ thông, Thiền giáo đồng hành, vừa tu thiền, vừa giảng kinh, luận, ngữ lục không những Tăng sĩ mà ngay cả vua quan hay cư sĩ đều có thể tu hành ngộ đạo.

 

* Thiền phái Trúc Lâm ra đời có tính thống nhất về tư tưởng, Phật giáo Thiền tông trở thành quốc đạo, hai tông phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi và Thảo Đường đến đây theo sử sách hầu như không còn: Dòng Tỳ-ni-đa-lưu-chi truyền thừa được 19 đời, đời thứ 19 là Thiền sư Y Sơn viên tịch năm 1213; dòng Thảo Đường truyền qua 5 đời, đời thứ năm có Lý Cao Tông ( 1176-1210 ). Như thế hai dòng Thiền này hết người truyền thừa trước khi Thiền phái Trúc Lâm ra đời. Duy chỉ có dòng Vô Ngôn Thông được tiếp nối đến Trần Nhân Tông sáng lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.

 

* Nhị Tổ Pháp Loa đã đưa Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử lên đỉnh cao của một thời đại, qua lối chỉ dạy của Ngài có tính chất tổng hợp độc đáo mà các phái Thiền trước đó không có:

 

Thiền tông không một pháp có thể được, duy chỉ thẳng tâm người thấy tánh thành Phật, nhưng ở góc độ nào đó Cổ đức tóm lược các lối chỉ dạy như sau:

 

- Đứng trên bản thể mà khai thị, bằng mọi phương tiện, thủ thuật vị thầy đưa người đệ tử trực ngộ bản tâm, đến đây người đệ tử biết đường vào, sống được với đạo gọi là đốn ngộ đốn tu. Đây là trường hợp hy hữu hiếm có. Còn thông thường chỉ có hai trường hợp dưới đây :

 

- Cũng đứng trên bản thể để khai thị, hay đứng trên quả mà luận, đứng trên quả mà công phu. Bằng mọi phương tiện, thủ thuật vị thầy đưa người đệ tử trực ngộ bản tâm, nhưng chưa sống được với đạo nên cần có thời gian tiêu trừ tập khí, thể nhập chân tâm. Trường hợp này gọi là đốn ngộ tiệm tu. Lối công phu này có tính ưu việt, đường đi sáng sủa đủ niềm tin, không còn lầm lạc nên có câu “Một giờ ngồi thiền, một giờ là Phật” hay “Giác là Phật mê là chúng sinh". Tuy nhiên vì là giải ngộ, cũng dễ kẹt vào lý luận, không được chỗ thọ dụng của đạo, nên cần được nhắc nhở bảo nhậm.

 

- Trường hợp thứ hai, bậc thầy tạo cho họ một phương tiện, một pháp môn hành trì cũng đi đến kết quả. Đây là trường hợp tiệm tu đốn ngộ. Trong trường hợp này tuy chưa thấy kết quả, bị độn công phu, nhưng vì có sức công phu vững nên khi đến kết quả liền được chỗ thọ dụng của đạo.

 

Để khắc phục hai nhược điểm và phát huy hai mặt mạnh của hai trường hợp trên đây, Nhị Tổ Pháp Loa trong bài “Khuyến Chúng Thượng Thừa Tam Học” có dạy : “Người học Phật trước hết phải thấy tánh. Thấy tánh không phải có tánh bị thấy. Nói thấy, là thấy chỗ không thể thấy mà thấy vậy. Cho nên nói thấy, thấy không phải thấy thì chân tánh hiện. Tánh thấy là vô sanh, sanh thấy thì chẳng phải có, chẳng có cái tánh thật, mà thấy thật không dời đổi. Thế nên gọi là chân thật thấy tánh.”

 

Sau thấy tánh phải giữ giới thanh tịnh, kế đến tập tọa thiền,“Yếu chỉ của Thiền là thân tâm đều xả”, muốn được như vậy phải tập định tâm. “Thường tự suy xét thân này từ đâu mà đến, tâm này từ đâu mà có ?…”. Nghĩa là, trước phải thấy tánh sau lại phải tiếp tục tham thiền!

 

Thông thường đã thấy tánh thấu triệt thì tự nhiên học nhân biết được đường vào, đâu cần tham cứu tâm ? Còn tham cứu tâm thường là chưa triệt, nếu đã triệt thì tham cứu cái gì ?

 

Thế mà, Ngài dạy người học Phật trước phải thấy tánh để đủ niềm tin, không còn lầm lạc. Kế giữ giới thượng thừa tức là đối với thức “- Ra vào không giao thiệp gọi ngăn dừng, tuy gọi ngăn dừng mà chẳng phải ngăn dừng. Nên biết tai, mũi, lưỡi thân, ý cũng lại như thế”. Đây cũng chính là chỗ bảo nhậm của người kiến tánh. Đồng thời để không kẹt chỗ giải ngộ, lý luận, cần tham cứu tâm với mục đích tiêu trừ tập khí vọng niệm đi đến chứng ngộ triệt để.

 

Điều này trong kinh Lăng Già Tâm Ấn phẩm Nhất Thiết Phật Ngữ Tâm Thiền sư Hàm Thị có chú giải : “Niệm là vọng giác, si hoặc là bất giác. Chân như không tánh, bất giác vọng động, kiến hoặc vừa sinh liền có vọng giác. Muốn sạch vọng giác phải tìm tột chỗ khởi vọng giác. Muốn ngộ bất giác thì cần xét tột cùng chỗ sinh bất giác. Chừng ấy mới biết chân như không tánh là mật chỉ của chư Phật…”.

 

Vì vậy, đây cũng là nét đặc biệt của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.

 

Ngày nay những lời dạy của Hòa thượng Viện trưởng như nhiều loại thuốc cốt trị tâm bệnh chúng sinh, trong bài pháp bổ túc 10 bức tranh chăn trâu có dạy :“…Hãy nhìn lại vọng niệm phát khởi từ đâu”? cùng với chỉ thú trên đây đâu sai khác.

 

7. HỎI :

 

Ai là người đủ tư cách khôi phục Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử ?

 

XIN ĐÁP :

 

Có hai hạng người :

 

1. Người đủ tư cách khôi phục Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, tức là người nhận được yếu chỉ Thiền tông, mới xiển dương được tông chỉ, mục đích của Tổ. Nhưng ai là người ấn chứng khi Việt Nam vắng bóng Thiền tông trên thế kỷ? chúng ta hãy nghe câu trả lời của Hòa thượng Thích Thanh Từ Viện trưởng Thiền Viện Trúc Lâm trong cuốn “Thiền Tông Việt Nam Cuối Thế Kỷ 20” như sau :
“…Chính Tổ Bồ Đề Đạt Ma đâu không nói : “Cõi này có bốn quyển kinh Lăng Già khả dĩ dùng ấn tâm”. Lục Tổ Huệ Năng ngộ đạo do nghe giảng kinh Kim Cang. Đối với chúng tôi hiện nay cũng thế, dùng kinh để ấn tâm, giảng kinh để ngộ đạo. Có người nghi rằng ngày xưa Thiền sư Huyền Giác nhân đọc kinh Duy Ma Cật nhận ra lý Thiền, vẫn được Thiền sư Huyền Sách khuyến khích đến Lục Tổ ấn chứng, nếu không sẽ thành ngoại đạo thiên nhiên. Chúng tôi ngày nay không có người ấn chứng lại thành ngoài đạo hay không? Thưa rằng, ngày xưa có Tổ ra đời không đến ấn chứng là người đứng ngoài lề Thiền tông. Ngày nay không có Tổ, cũng không có Thiền sư kế thừa, chúng tôi phải nhờ ai ấn chứng? Thế thì kinh, luận, sử, ngữ lục của chư Tổ không đủ ấn chứng sao? Người học đạo cần phải dùng trí phán xét đường lối tu hành đúng Phật, Tổ dạy hay sai Phật, Tổ dạy, đừng đòi hỏi một việc mà không bao giờ làm được”.

 

Ấn chứng tức là việc xác định chỗ tương đồng giữa thầy trò, tuy nhiên ở khía cạnh nào đó người tu hành tự biết mình.Cũng như đã bước vào cửa, không cần hỏi người gác cổng. Còn hỏi người gác cổng phải, hay không phải ? Tức là người còn nghi ngờ, còn đứng ngoài cửa!

 

“…Ai bảo.

Việt nam không có Tổ ?

Tổ ở nơi xứ nào ?

Chỉ tâm ta tỏ ngộ

Ấn Tổ tức in nhau.

Nếu còn chia Nam Bắc,

Phân Đông độ, Tây Thiên,

Biết ngay chưa sống Thiền”.

( Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử )

 

2. Người tuy không nhận được yếu chỉ Thiền tông, nhưng lấy mục đích của Tổ làm mục đích của mình, thực hành theo lời dạy của Tổ, lấy hạnh nguyện của Tổ, kinh, luận, ngữ lục làm kim chỉ nam cho sự nghiệp cao cả của đời mình, cũng chính là người làm sống lại tinh thần Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.

 

Hai hạng người này không nhất thiết là tại gia hay xuất gia, cũng không phân biệt giai cấp, đảng phái, tôn giáo bởi Thiền lấy tâm làm gốc, vì ai ai cũng có tâm, nên mọi người đều có thể đến với Thiền, và phục hưng lại Thiền tông trên đất nước này.

 

8. HỎI :

 

Vai trò lịch sử của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử xưa và nay như thế nào ?

 

XIN ĐÁP:

 

Vai trò lịch sử Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử xưa kia gắn liền với sự nghiệp Sơ Tổ Trúc Lâm tức vua Trần Nhân Tông, Người sáng lập Tông phái này. Sự nghiệp của Ngài càng vĩ đại bao nhiêu thì vai trò lịch sử của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử có ý nghĩa bấy nhiêu!

 

Trần Nhân Tông đã thấm nhuần giáo lý Phật Đà từ thuở nhỏ, lại được “Thiền tủy” nơi Tuệ Trung Thượng Sĩ. Ngài đã có lần bỏ cung điện định trốn vào núi Yên Tử tu hành, nhưng bị vua cha phát hiện cho người tìm, bất đắc dĩ Ngài phải trở về. Vì vậy, sau này dù ở cương vị nào, phong cách của Ngài cũng chính là phong cách của một Thiền gia, đồng thời, mãi mãi nuôi dưỡng thấm nhuần, cho đến cuối đời khi đầy đủ nhân duyên, Ngài xuất gia tu hành chứng ngộ làm Sơ Tổ Thiền phái Trúc Lâm.

 

Qua những tác phẩm tuyệt tác của Ngài, người ta có thể nhìn Ngài với đôi mắt là nhà Văn hóa lớn, nhưng đó chính là văn hóa Phật giáo Thiền tông. Những chiến công hiển hách, qua hai lần trực tiếp lãnh đạo và tham gia chiến đấu thắng quân Nguyên Mông, bảo vệ độc lập toàn vẹn lãnh thổ, xây dựng đời sống ấm no hạnh phúc cho nhân dân, người ta có thể nhìn Ngài như vị anh hùng dân tộc, một Hoàng đế anh minh, nhưng đó là tâm địa của một Bồ tát, chiến đấu không phải do lòng căm thù mà phát xuất từ lợi ích và lòng từ bi đối với nhân loại, và thuận theo dòng đời, đúng như lời Quốc Sư Phù Vân nói :“Phàm làm đấng nhân quân, thì phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, và tâm thiên hạ làm tâm của mình”.

 

Cuối cùng, như hoa sen mọc từ bùn, sống trong cõi đời ngũ trược mà không bị nhiễm ô, xây dựng thế gian mà không bị buộc ràng danh lợi… Ngài nhập thế để rồi xuất thế. Là vua anh minh, là anh hùng có công với dân tộc và cũng là Tổ sư Thiền. Thế nên, ngày nay hình ảnh của Ngài là biểu trưng cho đạo pháp gắn liền với dân tộc, và đã trở thành một truyền thống cao quý có ý nghĩa thực tiễn trong mọi thời đại.

 

Ngày nay dù ở cương vị nào chúng ta cũng đều là con cháu của Ngài, đều có thể tôn thờ và học hỏi ở nơi Ngài. Đây chính là điểm khác biệt so với các bậc tiền bối anh hùng xưa nay, sánh cùng các bậc vĩ nhân trong mọi thời đại.

 

Ngày nay, Hòa thượng Thích Thanh Từ chủ trương khôi phục Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử , là một Tăng sĩ Phật giáo xuất thân từ một người dân bình thường sống giữa vùng quê hương sông nước. Hoà thượng đã thực hiện đúng vai trò của mình, và của một Thiền gia : lấy tâm làm gốc, chúng sinh làm bạn, vũ trụ làm nhà. Ngài đã dịch thuật và giảng dạy các kinh điển Phật giáo,và các luận, ngữ lục Thiền sư Ấn Độ, Trung Hoa, Việt Nam đặc biệt là Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, ứng dụng tu hành và giảng dạy cho chư Tăng Ni, Phật tử cùng tu học, cùng tiếp nối con đường của chư Tổ.

 

Thế nên, Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử chính thức được phục hưng, đã làm sống lại Thiền học nước nhà hơn thế kỷ vắng bóng. Đồng thời tinh hoa Thiền học Thiền phái Trúc Lâm cũng có mặt nhiều nơi trên thế giới góp phần làm rạng rỡ non sông nước Việt, thắt chặt thêm tình bạn bốn phương. Đặc biệt hơn nữa, là góp phần chấn hưng Phật giáo, giúp cho mọi người có thêm chính kiến, xóa dần những hủ tục, mê tín dị đoan, xây dựng đời sống văn hoá lành mạnh, ấm no, hạnh phúc cho quần sinh .

 

__________________

 

Nguồn: thuongchieu.net

Ở ĐỜI VUI ĐẠO HÃY TÙY DUYÊN

 

Mùa Phật đản lại đến…


Chu kỳ tuần hoàn của thời gian, do con người đặt ra hay nó vốn như thế?


Không biết.


Hai từ đó được lấy ta từ tích chuyện của Tổ Đạt-ma với Lương Võ Đế khi ông sang Trung Hoa.


Lương Võ Đế hỏi Tổ Đạt-ma:


- Trước mặt trẫm là ai?


Tổ Đạt-ma trả lời:


- Không biết.


Với cái hiểu bình thường của người đời, “không biết” diễn tả một trạng thái không hiểu gì hết đối với việc đang bàn hoặc với một người đang đối diện. Với kẻ thấu được lý đạo, “không biết” diễn tả một trạng thái mà ở đó không có gì gọi là trạng thái, không có đối tượng để nhận biết và không có chủ thể nhận biết. Vòng tròn trong mười bức tranh chăn trâu hiện ra khi trâu và người đều mất. Nó chỉ ra bản chất của tất cả mọi hiện tượng, sự vật hay con người. Nói cách khác, khi thấu được cái “không biết” ấy, ta thấu được cội nguồn chân thật của tất cả pháp, là tiền đề để sau này chúng ta có thể biết tất cả. Thể tánh ấy không thuộc ngôn từ và sự hiểu biết nên không thể dùng ngôn từ để nói về nó. Nói chỉ là ngoài da mà lướt, để nói về một chỗ không thể nói, không phải chính là chỗ trực nhận.


“Phi tất cả” mà “tức tất cả”.


Chúng sinh chỉ biết mặt “tức” mà không biết mặt “phi”, nên “tất cả” không còn là tất cả, mọi thấy nghe đều hạn cuộc trong sở tri của mình, nguyên nhân của phân biệt, phiền não, hạn cuộc và trầm luân sinh tử.


Ngoại đạo[1] được mặt “phi” nhưng còn chấp “phi”, nên không thấu được cái “phi” mà kinh Lăng-già đã nói, rơi vào bác không nhân quả, không thì bỏ rơi công hạnh trú ở hóa thành, chẳng thấy bảo sở.


Thấu “phi” thấu “tức” thì ngay sinh tử vẫn là Niết-bàn, ngay náo loạn vẫn là tịch diệt. Giác phần nào, an nhiên tự tại phần đó.


Phật đản sinh tại tâm là vậy. Không kể thời tiết nhân duyên mà cũng không ngoài thời tiết nhân duyên.


Ở đời vui đạo hãy tùy duyên

Đói đến thì ăn mệt ngủ liền

Trong nhà có báu thôi tìm kiếm

Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền[2]


Tùy duyên được thì vui đạo được. Sự vui đạo của một dòng thiền nhập thế không thể thiếu hai chữ tùy duyên. Nó được nhắc đến cùng với cái gọi là kho báu nhà mình, là cái tùy duyên của kẻ thấu tánh, không phải tùy duyên của kẻ tùy tiện dùng biện minh cho những sai trái của mình. Tùy duyên là cái nhìn và cách sống của người đã sử dụng được kho báu của mình. Một kho báu mà ai cũng sẵn đủ. Tùy duyên được thì không phiền não, cũng không lo lắng, ngay đó là an vui. Chỉ là người dùng được, người không dùng được, lúc dùng được, lúc không dùng được, nên đời lúc thăng lúc trầm, vui buồn không hạn định, vui thì có mà an thì không.


Chúng sinh khổ vì không thấu được phần tùy duyên này. Chúng ta nhìn thế giới bằng cái nhìn chủ quan, đánh mất mặt tùy duyên mà pháp vốn có. Đó là nguồn cội của mọi phiền não.


Nhận định vấn đề một cách chủ quan là thiếu cái nhìn tùy duyên


Khi nói đến chủ quan là nói đến khách quan. Chủ là những gì thuộc về mình. Khách là những gì thuộc về người. Chủ quan là cái nhìn bị chi phối bởi quan niệm định kiến của mình, nhà Phật gọi chung thành một từ “sở tri chướng”. Nói chướng vì do có sự chấp thủ. Chúng ta nhìn con người và thế giới chung quanh bằng lăng kính sở tri của mình. Bằng sở tri của mình thì sự vật hay con người không còn đúng như chính nó, như chính cái duyên nó đang an trụ, mọi thứ trở thành hạn cuộc trong tầm thấy của mình.


Tôi được mời làm cố vấn cho một Đạo tràng. Cố vấn nghĩa là không phải trưởng, không chịu trách nhiệm về thành công hay thất bại của Đạo tràng, chỉ là những đóng góp khi Đạo tràng cần hỏi tới, không hỏi thì không có quyền trả lời. Đó là cái duyên của tôi khi được mời làm cố vấn cho một Đạo tràng.


Đạo tràng đa phần đều là thành phần trẻ, không quá tuổi 40. Nói đa phần thì trong Đạo tràng vẫn có người lớn tuổi. Tôi nhấn mạnh đến thành phần trẻ, là muốn nói đến thành phần của Ban Hướng Dẫn. Vì Đạo tràng thì người ra người vào không cố định, riêng các em ở bộ phận chủ chốt này thì tương đối cố định. Nói tương đối vì xu hướng là luôn đưa thêm vào khi có điều kiện. Thiện cách của các em tương đối tốt để có thể tiếp nhận công việc dễ dàng. Tư tưởng linh hoạt và biết gật đầu khi công việc cần như thế. Nói chung, các em còn trẻ và do duyên nghiệp quá khứ nên ít cố chấp.


Trẻ nên sức khỏe tốt, rất cần cho việc tu học và tiếp người. Đối với việc thiện nguyện, không có các em không ai làm nỗi. Từ việc tiếp nhận, vận chuyển quà cáp cho đến việc phân bố quà cáp đến tay người nhận, là một quá trình rất cực nhọc. Bởi quà thì chất lượng mà số lượng quà thì không nhỏ, lên đến mấy ngàn phần. Không có tinh thần và sức khỏe của tuổi trẻ, không thể làm nỗi.


Ngay cả việc tiếp nhận người đi tu học ở các thiền viện và các chuyến thiện nguyện qua đêm, cũng là việc đáng nói với các em. Đứng ngoài nhìn vào, cứ nghĩ thuê xe, nhận người là xong. Các tour du lịch họ cũng làm đó thôi. Thực tế là các em phải đầu tư rất nhiều cho việc này khi số lượng người lên khá đông. Bởi các em không phải là người của tour du lịch, không được huấn luyện chuyên nghiệp, cũng không phải là nghề chính chỉ tập trung cho một việc như bên tour du lịch. Với các em, đó là một “nghề tay trái” không lương mà có khi còn phải bỏ tiền túi đóng góp các thứ. Các em phải tự mình tổ chức và làm mọi việc trên tinh thần vì người, vì Đạo tràng và vì mình. Cái đáng quí ở các em là chỉ biết rút kinh nghiệm để làm sao công việc được tốt hơn, bản thân mình phục vụ mọi người được tốt hơn. Không hề thấy khoe khoan, kể công về những gì mình đã làm.


Nhưng không phải ai cũng thấy và hài lòng về những gì các em đã làm.


Tôi vẫn nhận được những lời phàn nàn về một số em, mà với cái nhìn của tôi, đó là những em có trách nhiệm với công việc, có đủ sự định tỉnh và nhã nhặn khi giải quyết một vấn đề bất ngờ phát sinh. Có sự nhận định sai khác đó, vì chư vị không cùng các em làm việc như tôi, quan trọng là không đứng ở vị trí các em đang đứng khi phải giải quyết một số công việc. Chư vị đứng ở thế chủ quan, thiếu cái nhìn tùy duyên.


Khi tôi chuyển tải những bài pháp từ trang web cũ sang một trang web mới, có những lỗi vi tính mà tôi không thể điều chỉnh theo ý mình. Đành phải đặt đề tựa vào cái chỗ mà mình không muốn. Đó là cách giải quyết tốt nhất tôi phải theo, không phải do tôi muốn. Một số người không hiểu đã phê bình “Con này điên sao đặt cái đề tựa chỗ kỳ vậy”. Tôi cũng thấy nó kỳ nhưng tôi không làm gì được vì duyên nó như vậy là như vậy. Trường hợp cậu này cũng vậy. Đó không phải là cách giải quyết cậu muốn mà chỉ là cách giải quyết tốt nhất vào lúc đó. Xe chỉ có vài chỗ trên, phải dành cho người bệnh, người già và người đang ói. Không thể giải quyết cho một người vừa trẻ lại vừa khỏe. Vì thế, cậu bị chính người đó phê bình và ta thán. Tới tai người khác là, một thành viên trong Ban Hướng Dẫn đã giải quyết công việc thiếu tinh thần trách nhiệm.


Khá nhiều việc tương tự như thế xảy ra. Nói chung, những người đổ công nhiều thì thường bị tai tiếng nhiều. Bởi gánh nhiều thì thường đụng chạm nhiều. Còn người hay có thái độ phê phán thì thường là người làm ít hoặc không làm.


Có em làm việc nhiều, vác nặng quá… phát bệnh, nhưng vì việc cấp bách lại thiếu người, bản thân cậu cũng không muốn bỏ việc, nên tôi đành để cậu có mặt, nhưng chỉ phân công coi ngó tổng quát, không cho làm việc. Không hiểu được nhân duyên, một người đã phê bình “làm thiện nguyện mà chỉ thấy đi tới đi lui…”. Tướng bên ngoài có tác dụng làm dấy khởi được “Tướng vọng tưởng” bên trong, vì mình để cho “Kiến vọng tưởng” làm chủ, đánh mất cái nhìn tùy duyên[3]. 


Tùy duyên trong trường hợp này chính là phải xét đến cái duyên mà người đang bị bủa vây. Các bậc hiền triết vẫn khuyên chúng ta “nên đặt mình vào vị trí của người…” chính là khuyên mình nên có cái nhìn tùy duyên, hãy đặt mình vào cái duyên của người mà suy nghĩ và hành động. Muốn đánh giá một vấn đề không thể chỉ dựa trên sở tri của mình, mình muốn như thế là như thế, mà phải xét đến cái duyên pháp đang an trụ. Pháp thế gian là pháp nhân duyên. Nói đúng nói sai đều phải xét đến cái duyên pháp đang an trụ. Tùy duyên mà có đúng sai. Không phải cách giải quyết ở duyên này có giá trị đúng mà qua duyên khác nó vẫn còn đúng. Có khi chúng ta phải dùng cách ngược lại mới có kết quả tốt đẹp.


Có em thắc mắc, sao cái gì tôi cũng tham gia, cũng muốn làm cho biết, trong khi đó là việc của các em. Là để tránh thói quan liêu. Hiểu sự khó khăn của người trong từng công việc thì mình mới giải quyết công việc một cách hợp lý mà không thiếu cái tình. Một nhân tố quan trọng không thể thiếu đối với một tập thể, nếu muốn nó ổn định và tồn tại dài lâu. Cũng vì đó, tôi đã đi quá vai trò cố vấn của mình, và trở thành kẻ đồng hành cùng các em. Trong Tứ nhiếp pháp mà chúng ta được học, có pháp đồng sự, là nhằm vào việc này. 


Vì là pháp nhân duyên, tùy duyên mà nhận giá trị của pháp, nên dù tôi đã đặt mình vào vị trí các em, tôi vẫn muốn tiếp thu mọi ý kiến, tha thiết tiếp thu ý kiến của mọi người, dù đúng hay sai, để mà chọn lọc. Vì vị trí tôi đang đặt đó, nếu không tỉnh, có ngày cũng biến thành thứ mà kinh luận gọi là “ngã sở”. Là ngã sở thì tính khách quan không còn, đã xuất hiện tính chủ quan ở một thể vi tế hơn. Lỗi!


Chuyện Đạo tràng chỉ là một ví dụ nhỏ trong muôn vàn chuyện ở thế giới này. Cái nhìn chủ quan thường tạo ra hố ngăn cách, khiến ta dễ lầm lẫn trong công việc và thường dẫn đến rạn nứt… Một tập thể, dù nhỏ như gia đình hay lớn như xã hội, nếu không có sự đồng lòng, nhất định không có thành công, không thể lâu dài. 


Ưu đi liền với khuyết…


Pháp nhân duyên, nếu cứ nhìn nó ở dạng thể tánh thì không nói tốt nói xấu, còn khi đã thấy pháp có mặt tốt thì cũng có nghĩa là ta đã bước vào thế giới nhân duyên (duyên khởi), một thế giới mà trong đó giá trị của pháp được lập thành nhờ duyên, và cặp nhị biên phân biệt là sự sinh khởi tối thiểu trong thế giới này. Tốt và xấu, dài và ngắn v.v… có tốt thì có xấu, có dài thì có ngắn. Không thể có tốt mà không có xấu, có dài mà không có ngắn. Có tốt thì xấu đã liền kề, chỉ là đủ duyên thì hiện, chưa đủ duyên thì ẩn. Ít hay nhiều mà thôi.


Một khi ta đã thấy mặt tốt của pháp thì cũng có nghĩa là ta đã khiến cho mặt xấu của pháp xuất hiện, thấy pháp dài thì khi đủ duyên sẽ thấy pháp ngắn v.v… Song trong cái duyên còn đối đãi, nhất là trong môi trưởng giáo hóa, việc nhận định xấu tốt là cần thiết. Vì không thấy được mặt ưu khuyết điểm của người thì không thể hướng người qui thiện bỏ ác. Chỉ là khi xét đến một vấn đề, không nên bỏ qua mặt Duyên khởi của pháp. Được vậy thì mọi thứ vẫn hài hòa.


1/ Tình yêu và hôn nhân


Cái khuyết đầu tiên tương ưng với cái ưu mà các em đang có là vấn đề tình yêu và hôn nhân. Nó là thứ có thể làm ảnh hưởng đến việc tu học và thiện nguyện của ác em rất nhiều nếu trí tuệ và định lực của các em không đủ. 


Tình yêu và tình dục là thứ mà Phật nói nếu có cái thứ hai như nó, không ai có thể tu đạo. Cho thấy lực của ái dục mạnh thế nào. Ái dục lại phát triển mạnh ở khoảng tuổi các em. Khi một loại tình cảm mang tính chấp thủ xuất hiện, mọi thứ trở nên hạn cuộc hơn. Đó là việc tất nhiên.


Tôi tu Phật, trải qua cái khổ của sự dính mắc không phải ít, đủ để hiểu thứ mà thiên hạ ưa thích tán thán chỉ là bể khổ trần gian, thành tôi không hề tán thán hay ủng hộ việc yêu đương. Nhưng đó chỉ là ý muốn của tôi. Nó thuộc về tôi, không phải trong cái duyên các em đang an trụ. Quan trọng là các em thế nào. Nghiệp tập về ái dục của các em có khả năng khiến các em đánh mất lý tưởng cao cả của mình không? Ái dục và lập gia đình là việc chính, tu học và tham gia thiện nguyện chỉ là việc phụ cho những khoảng thời gian trống?


Ngoài nghiệp tập hiện tại của các em, Đạo tràng lại là một Đạo tràng cư sĩ, không phải của Tăng nhân. Giới luật của các em không cấm các em yêu thương và lập gia đình. Chỉ là phải có trách nhiệm và bổn phận với tình yêu đó. 


Trong những cái duyên như vậy, dù không muốn tôi cũng không thể lên tiếng cấm các em yêu thương, cũng không thể để lộ ra rằng tôi không thích việc đó. Tôi phải ở cái thế gọi là trung đạo, không cấm cũng không khuyến khích. Nếu tôi khuyến khích, tôi đi sai con đường mình đã chọn, là giúp mình và người thoát khỏi khổ đau. Nếu cấm, các em sẽ xa rời Đạo tràng, vì cảm thấy ở đó không ai chấp nhận mình. Năng lực của ái dục là vậy. Khi đã dính vào nó, người ta dễ quên hết mọi chuyện, chỉ biết lấy nó làm mục đích hướng tới. Tăng nhân tu bao năm trong chốn già lam còn không thoát được vòng vây của ái dục, huống là các em chưa có công phu biết vọng bao nhiêu, chỉ có một tấm lòng yêu thích thiện nguyện, lại ở trong môi trường phân tán, dễ giúp ái dục phát triển.


Không cản cũng không ủng hộ, là để khi đủ duyên có thể cản hoặc ủng hộ. Với những em, mà việc ngăn cản có thể giúp các em thăng tiến trên đường Đạo thì tôi giải thích và cản. Với những em mà ái dục mạnh, việc ngăn cản chỉ khiến chúng xa rời Đạo tràng thì ủng hộ để chúng có thể tiếp tục ở Đạo tràng. Tôi không thể cấm chúng yêu đương, tôi chỉ có thể giúp chúng nhận ra rằng, tình yêu vẫn có thể đi chung với việc học Phật. Hôn nhân chỉ tồn tại lâu dài khi nó được nuôi dưỡng bằng con đường tu tập và thiện nguyện. Tu tập giúp chúng ta biết bớt cái riêng hòa vào cái chung, là điều kiện để gia đình hạnh phúc, nuôi nấng dạy dỗ con cái tốt hơn. Thiện nguyện sẽ giúp công việc trôi chảy, gia đình sung túc. Việc mà tôi yêu cầu lúc này là dù thế nào cũng không nên rời Đạo tràng. Đạo tràng là chỗ dựa để các em thấy hạnh phúc hơn cho gia đình nhỏ của mình, sẽ là chỗ dựa khi các em gặp khó khăn v.v... 


Có người, phải nói là rất thiếu cái nhìn tùy duyên. Đám cưới rồi, ngồi dự đám cưới mà vẫn không ngớt luyến tiếc cho một cặp đôi, mà đáng nhẽ với cái nhìn của họ là phải xuất gia, không thể đám cưới. Tôi cũng là nạn nhân có liên quan, như thể tôi đã không có chánh kiến cho vấn đề đó, không chịu cản ngăn v.v... nên cớ sự mới ra như vậy. 


Nếu chúng xuất gia được thì xuất gia rồi, đâu xảy ra đám cưới để mình ngồi đó mà sinh tâm. Nghiệp ái dục chúng mạnh nên chúng thích ái dục hơn xuất gia. Cha mẹ cản, có khi còn bỏ luôn cha mẹ, nói là bạn đạo. Lực ái dục đã lôi chúng theo đường đó khi chúng chưa đủ công phu và trí tuệ để nhận ra bản chất đầy khổ nhọc của ái dục. Chúng chỉ đủ năng lực để giải quyết những nhu cầu của tuổi trẻ.


Nếu chỉ cần một lần phản quan tự hỏi “Sao mình còn ngồi đây dự đám cưới mà không xuất gia?” thì chắc chư vị sẽ hiểu vì sao chúng như thế. Tập nghiệp. Khi nhắc đến hai từ này, nhiều người nói “lại đổ thừa”. Nói “đổ thừa” vì không hiểu ý nghĩa của hai từ “tập nghiệp”. Tập nghiệp là những tư tưởng và hành vi đã được tích tụ nhiều trong tạng thức, nó có lực khiến người theo nó khi đủ duyên. Ái dục tích tụ nhiều nên có lực dẫn chúng đi con đường đó khi chúng chưa đủ trí tuệ để nhận rõ bản chất của ái dục, cũng như chưa đủ định lực để dừng lại nghiệp tập của mình. 


Việc của chúng ta là làm sao giúp chúng trong điều kiện chúng đang an trụ, không phải là theo ý mình muốn. Mình muốn mà chúng không làm được thì cũng chịu. Thứ chúng ta có thể làm là nương vào những gì chúng đang trải qua, từ đời đến đạo, hy vọng giúp chúng nhận rõ mặt khổ lo của ái dục, để phát nguyện và dứt bỏ từ từ, cho một kiếp sau huy hoàng hơn. 


Thực tế thì sau đám cưới, mọi thiện nghiệp cô dâu vẫn giữ trọn, chú rễ thì chuyển qua ăn chay trường, tu học và thiện nguyện đều đặn hơn trước rất nhiều, thêm buổi công phu sớm. Cậu là cánh tay đắc lực của Đạo tràng từ trước đến giờ. Hỏi tại sao? Vì có con, bỗng nhiên thấy sợ, phải lo tu để phước cho con, thiện nguyện tăng để công việc được trôi chảy và có tư lương để hồi hướng cho con đường tương lai, không lề mề như trước.


Nói chung, trong cái thế đối đãi ở thế gian này, thứ mình cho là tốt, nó vẫn ẩn điều xấu trong đó. Thứ mình nghĩ xấu, nó vẫn có mặt tốt của nó. Vấn đề là mình phải biết vận dụng cái gọi là tốt trong điều kiện xấu và tránh cái gọi là xấu trong điều kiện tốt. Đời sống của các em là đời sống tự do, tuy cùng là Đạo tràng nhưng không qui tụ như tăng nhân, thói đời vẫn mạnh, thành có khi những cái nhọc ở đời lại chính là động lực giúp các em chịu tu hành. Trong cái mình nghĩ họa, vẫn ẩn chứa điều phúc. Trong cái mình nghĩ phúc, chưa chắc không có cái họa. Phúc họa đâu có lìa nhau. 


Thành cách nhìn của tôi trong vấn đề này là gì? Giải quyết vấn đề không phải theo ý mình muốn mà theo điều kiện chúng ta đang có, sao cho việc được tốt nhất. Khuyến khích thiện nghiệp và hạn chế dần những bất thiện nghiệp bằng cái nhìn hiểu biết và yêu thương. Hạn chế không có nghĩa là chăm bẩm vào thói xấu của người. Chỉ là làm sao để những thói xấu thiếu điều kiện phát huy. Bởi nếu không có điều kiện phát huy thì thói xấu cũng sẽ giảm bớt lực của nó. Thói xấu hay thói tốt đều do huân tập mà có. Huân tập, nên huân nữa thì nghiệp sẽ mạnh, không huân nữa thì nghiệp sẽ dần mất lực. Còn bằng cách nào thì … tùy duyên. Cách nào khiến việc có kết quả thì làm. 


Cũng chẳng có gì buồn khi mình đã làm hết sức mà việc vẫn xấu đi. Quan trọng là sẵn sàng nhận sai lầm nếu có, và rút kinh nghiệm về những sai lầm đó. Tất cả đều là kho tàng quí báu cho những ngày kế tiếp và cho việc lưu giữ trong tạng thức. Lại, do thế gian được thành lập từ thế đối đãi, nên trong công việc, chúng ta không thể đòi hỏi chỉ toàn thành công, không có thất bại. Vấn đề được xem là tốt khi thành công nhiều mà thất bại ít. Trong mọi vấn đề, cần phải thấy được điều này để mà bình thân trước được mất.


Chuyện nói đây chỉ là một trong vô vàn nhân duyên xảy ra ở thế giới này. Không có môi trường nào gọi là tốt hoàn toàn. Tốt xấu đều tùy duyên. Trong tốt có xấu. Trong xấu có tốt. Vấn đề là chúng ta có đủ thiện nghiệp để nhận ra điều đó không. Nhầm lẫn giữa các phạm trù, nói theo Phật giáo là dụng pháp không đúng duyên, là bệnh của người thời nay, là nhân duyên khiến mọi khổ đau xảy ra. Kẻ tu giải thoát thì dụng pháp trời người. Kẻ chỉ muốn tu phước thì áp cho pháp giải thoát. Khả năng chỉ làm công nhân thì đưa lên làm giám đốc v.v… Không thể có kết quả tốt đẹp khi chúng ta dụng pháp không đúng duyên. 


2/ Trẻ người thì thường Phật tưởng chưa già


Cái khuyết thứ hai tương ưng với cái ưu trẻ người là về vấn đề tư tưởng. 


Tôi tạm mượn từ “Phật tưởng” để nói về những tư tưởng mang tính Phật đạo. “Chưa già Phật tưởng” là hiện đời các em chưa có điều kiện huân sâu Phật pháp. Đây cũng là thứ mà chúng ta phải chấp nhận đối với các thành viên trẻ của một Đạo tràng, dù là Đạo tràng tu Phật.


Với một con người, việc trang bị Phật tưởng nhiều chỉ có giá trị khi những tư tưởng ấy trở thành ý tưởng chủ đạo chi phối mọi hành vi của họ, không thì nó chẳng có giá trị gì, thậm chí còn nguy hại khi nó chỉ mang tính cách trang hoàng như một loại tri thức làm đẹp, chỉ khiến con người tăng trưởng ngã tướng và cao mạn. Coi như học Phật mà vô tình đi ngược với tinh thần Phật học đã đề ra. Vì thế, việc trang bị kiến thức Phật học nhiều cho các em, không tốt bằng kiến thức được trang bị đi đôi với hành động. Giới, chính là tiêu chuẩn. Định tỉnh, ôn hòa, sẵn sàng nhận lỗi… là tiêu chuẩn. Thấy khó không nản, hết mình vì việc chung, thuận theo những gì người trên đã quyết là tiêu chuẩn. Đó chính là Phật pháp mà các em được trang bị. Trên nền tảng đó, các em mới nên tiếp thu những Phật tưởng cao hơn, loại Phật tưởng giúp các em nhận rõ những gì đang xảy ra ngay trong các em. 


Thuận duyên của Đạo tràng là các em trong Ban Hướng Dẫn đáp ứng hầu hết các tiêu chuẩn được đề ra đó trong môi trường của Đạo tràng. Những vấp váp luôn được nhận lỗi và rút kinh nghiệm để bản thân và việc chung được tốt hơn. Còn hỏi các em về tánh, về tướng, về thiền pháp sâu xa, các em không biết đường trả lời. Đó là lỗ hỏng hiện nay của các em. Tuy là “hỏng” nhưng mình vẫn có thể nhận ra mặt “đầy” trong đó. Ít kiến giải, nên các em không nương đâu mà chấp, như thể ta là kẻ học Phật đã lâu, để trở thành khó hòa hợp, khó nghe lời v.v… 


Có em đối với môi trường Phật pháp thì xả thân, công việc được giao luôn hoàn thành tốt, sẵn sàng nhận lỗi khi được chỉ ra, được mọi người quí kính v.v… nhưng với nghịch duyên gia đình thì không giải quyết được. Né cho yên chính là pháp. Cũng có người thắc mắc với tôi về điểm này, như thể đã đứng trong Ban Hướng Dẫn sao không bắt em phá bỏ nghịch duyên của mình. Đã tu Phật thì trước sau gì cũng hóa giải được các nghịch duyên. Nhưng vào lúc nào là còn tùy duyên. Không thể chỉ vì một nghịch duyên đó mà không tạo điều kiện để các em sinh hoạt Phật pháp được tốt hơn. Việc tu tập và thiện nguyện hiện tại đang là động lực để các em thay đổi. Việc thay đổi cũng đã hiện rõ. Sự thay đổi khi đã chín mùi thì nghịch duyên sẽ được giải quyết. Nếu chỉ vì vài việc không tốt ở quá khứ mà phá bỏ điều kiện sinh hoạt Phật pháp của các em, thì lấy gì để các em làm tư lương cho con đường đang đi của mình? Không có tư lương thì biết nương đâu phá bỏ các nghịch duyên? Một sự hiểu biết và cảm thông trong những trường hợp tương tự là cần thiết. 


Có em đến với Phật pháp rồi thì chuyển hóa luôn được gia đình, nhưng cũng có em chưa thể. Dù không muốn, một vài tập tục không tốt vẫn xảy ra. Bởi chuyển hóa một tư tưởng được huân tập nhiều đời không phải là việc dễ làm khi bản thân họ chưa nhận rõ vấn đề, trong khi các em chỉ là duyên hỗ trợ bên ngoài, chỉ mới biết đến Phật pháp vài ba năm. Đó là những khuyết điểm mà nếu thiếu cái nhìn tùy duyên, chúng ta dễ sinh tâm chê bai, không thấy được mặt chúng đã cố gắng để khuyến khích. Chê không đúng việc đúng thời, với người có hàm dưỡng công phu không ảnh hưởng gì, nhưng lại gây tác hại không nhỏ đối với những kẻ mới vào Đạo. Thành thứ gì cũng phải tùy duyên.


Chuyện của Đạo tràng chỉ là một ví dụ nhỏ trong vô vàn chuyện ở thế giới này. Sai lầm xảy ra, khi tư tưởng chúng ta luôn muốn một cái toàn triệt mà quên mất mặt nhân duyên của pháp. Không thấy con người chỉ là sở hiện của một tàng thức với đủ các loại chủng tử. Thành tựu thánh nhân, chính là do thanh tịnh dần các chủng tử bất thiện, không phải “thánh” được cái này là “thánh” luôn cái khác, giỏi môn này thì phải giỏi luôn môn khác…


Kinh Bách Dụ kể câu chuyện: “Một người nuôi 250 con trâu, thường thả ra đồng ăn cỏ. Một hôm đàn trâu bị cọp vồ thịt mất một con. Bấy giờ anh chủ trâu liền nghĩ “Mất một con rồi thì đàn trâu còn làm gì được nữa…”. Nghĩ vậy, anh liền lùa hết đàn trâu xuống vực sâu”. Nghe chuyện thì thấy thiên hạ ngu nhưng có khi mình đang vướng vào đó mà không biết. Chúng ta quí kính một người, không phải vì người đó có nhiều điểm thánh hơn chúng sinh, mà vì người đó là một bậc toàn thánh. Thế gian này không có bậc toàn thánh khi nó được soi rọi qua lăng kính của chúng sinh. Mình không biết điều đó nên “thần tượng sụp đổ” xảy ra khi đủ duyên. Mình đang lùa hết đàn trâu xuống vực chỉ vì mất có vài con. Trong công việc, không nên gạt phăng tất cả chỉ vì một vài điểm yếu của người khác. Nếu ưu điểm không được tận dụng thì khuyết điểm không có cơ hội bị đẩy lùi. 


Tốt nhất thay vì toàn triệt


Có người thấy tôi thường tán thán một em, đã nêu ý kiến “làm như thế em sẽ sinh ngã, sau này không dùng được nữa”.


Không tán thán thì không thể giúp hắn phá bỏ mặc cảm, cũng không thể khiến hắn thể hiện khả năng hiện có của hắn. Cái ngã của hắn vốn đã dư thừa (được thể hiện qua mặt tự ty), đang làm trở ngại cho hắn và chẳng lợi ích gì cho Đạo tràng, trong khi khả năng tiềm ẩn của hắn thì nhiều. Tán thán là phương cách tốt nhất trong hiện thời giúp đánh bạt lớp bụi đó. Khi nào tán thán trở thành tại hại thì tôi đổi pháp. Đổi pháp rồi mà không xong thì coi như nhân duyên kiếp này chỉ thế thôi, kiếp sau tiếp tục. Không có gì để bận lòng.


Chúng ta cần tránh hai cực đối nghịch. Hoặc, chỉ biết đến hiện tại theo cách vị kỷ điên dại. Hoặc, chỉ nghĩ đến tương lai mà bỏ mất hiện tại. Một tương lai theo cái nhìn của mình, chưa chắc pháp đã như thế. Vì lo quá xa mà không làm được việc gì trong hiện tại, lại biến tương lai thành mờ tối. Tôi đã từng vấp phải chuyện này đủ để rút kinh nghiệm cho bản thân. Chuyện chưa tới nhưng vì mình lo xa quá, nên thay vì đặt niềm tin vào một người, mình lại để lộ ra sự e ngại. Rốt cuộc, chính cái e ngại của mình khiến người bị tổn thương và sự việc thành xấu đi. Không ai thích làm việc với một người không tin tưởng mình. 


Cũng đừng tính đến một cái toàn triệt. Hãy nghĩ đến cái tốt nhất. Nếu biết thế gian này tương đối thì việc một tăng nhân rời khỏi thiền viện không phải là vấn đề to tát để mình trách cứ hay luyến tiếc. So với người ngoài đời, không phải anh ta đã có một thời gian an bình và nề nếp sao? Đó là cái nhân hứa hẹn cho những điều tốt đẹp sau này khi anh ta thấy chong chênh trên đường đời khổ nạn. Một thành viên trong Ban hướng dẫn không còn ở Đạo tràng cũng là việc bình thường, vì nhân duyên chỉ thế mà thôi. Ít nhất thì chư vị đã có một khoảng thời gian tu tập và thiện nguyện tốt đẹp, là cái nhân hứa hẹn cho một tương lai tốt đẹp sau này. Chúng ta làm hết mình, nhưng còn nhân duyên tập nghiệp của mỗi người. Thành đừng nghĩ đến cái toàn triệt, hãy nghĩ đến cái tốt nhất, vào thời điểm tốt nhất của một con người.


Nói vậy, không có nghĩa là để mặc mọi thứ. Thành tựu hay thất bại đều không lìa nhân duyên. Ngoài thiện duyên quá khứ, còn thiện duyên hiện tại, nó góp phần không nhỏ cho việc thành công hay thất bại của một Đạo tràng. Vì thế, chúng ta phải làm hết mình những gì cần làm. Không phải nói tùy duyên rồi há miệng chờ sung. Không phải thấy khó rồi bỏ cuộc khi nhân duyên chưa tàn. 


Chuyện của Đạo tràng chỉ là một ví dụ nhỏ trong vô vàn các việc ở thế giới này. Chúng ta chỉ có thể tìm thấy một cái tốt nhất, không thể tìm thấy một cái toàn triệt trong một thế giới tương đối. Đã là tốt nhất thì thứ tốt nhất ở người này không hẳn là thứ tốt nhất ở người kia. Thứ tốt nhất ở thời điểm này không hẳn là thứ tốt nhất ở thời điểm khác v.v… Chỉ là tốt nhất trong cái duyên nó đang an trụ. Mọi thứ trở nên hài hòa khi chúng ta ứng dụng được cái thấy này vào đời sống của mình. Sẽ xuất hiện nhân duyên tốt đẹp cho từng thời điểm. Đủ duyên thì ở, hết duyên đi. Dòng đời vẫn trôi đó. 


Quan niệm mà không quan niệm


Lý không thì không có gì để bàn, muốn bàn cũng không bàn được, vì nó là chỗ “Ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt”. Cái có thể bàn là ở mặt Sự. Cũng chính từ mặt Sự này mà có khổ đau hay hạnh phúc, thành công hay thất bại. Duyên quyết định cho việc này chính là ba nghiệp ở mỗi người, trong đó ý nghiệp nắm thế chủ đạo. Chúng ta hình thành nên những quan niệm định kiến và theo đó mà sống. Quan niệm định kiến nào tương ưng với lý Đạo thì có thành công và hạnh phúc, không tương ưng với lý Đạo thì có khổ đau và thất bại. Chỉ nói ý nghiệp, vì ý nghiệp là chủ đạo, thật là nói đến ba nghiệp.


Tùy duyên, là một cách sống phù hợp với lý Đạo. Nhưng không phải ai cũng dụng được nó vào đời sống của mình, vì chúng ta bị tư kiến chi phối nhiều quá. Tư kiến (kiến hoặc) khiến chúng ta trở thành đông cứng, không thể ở bình thì tròn, ở ống thì dài... Ngay cả khi tư kiến đã thay đổi thì chúng ta vẫn còn bị trói buộc bởi thói quen (tư hoặc), nên hai chữ tùy duyên, hiểu đó mà trên Sự vẫn còn vấp váp.


Vì ai cũng sở hữu Lý tánh ấy, nên có người tuy không ý thức rõ về lý này, vẫn có khả năng tận dụng được mặt tùy duyên trong đời sống của mình, để mọi việc được tốt đẹp.


Thế thì…


Khi mọi hành vi của mình được qui định theo cái gọi là “sống tùy duyên”, thì “sống tùy duyên” đã được mặc định như một quan niệm sống? Đã có quan niệm thì ắt có chướng ngại, lấy gì để vui Đạo


Nó cũng được xem là một quan điểm, nhưng là quan điểm mà không quan điểm. Vì muốn sống tùy duyên, chúng ta phải biết tùy duyên mà ứng xử, không trụ chấp vào bất cứ ý tưởng nào. Sẳn sàng thay đổi tư duy, nếu trong cái duyên hiện tại nó mang lại lợi ích cho mình và người nhiều hơn. 


Giới luật được coi là việc trọng yếu của người tu Phật. Nói đến Đạo Phật cũng là nói đến nhẫn nhục. Hai chỗ chứng quan trọng trong Phật đạo đều có chữ “nhẫn” trong đó. Vô sinh nhẫn và Vô sinh pháp nhẫn. Vì thế, với người học Phật thì giới và nhẫn là hai thứ không thể thiếu trong đời sống của mình. Nhưng khi Tổ Trúc Lâm hỏi Tuệ Trung thượng sĩ về việc tu hành: “Chỉ như giữ giới hạnh trong sạch, không chút xao lãng thì thế nào?”, Tuệ Trung trả lời: “Giữ giới cùng nhẫn nhục/ Chiêu tội chẳng chiêu phước/ Muốn biết không tội phước /Chẳng giữ giới nhẫn nhục…”. Nói rồi dặn Trần Nhân Tông “Đừng nói cho kẻ không ra gì biết”[4]. Tùy duyên là như thế. Là tùy duyên mà có pháp và sử dụng pháp đúng duyên. Không trụ chấp cố định vào một ý tưởng nào. Chỉ là ý tưởng nào hợp duyên làm lợi ích cho người lúc đó thì ý tưởng đó xuất hiện. Không, thì không hiện. Thành tuy mang tính chất là quan niệm mà thật không có quan niệm. Một ý tưởng không mang tính cố định thì không còn là quan niệm nữa. Chỉ là tùy duyên mà có tư tưởng và hành động xuất hiện sao cho việc lợi ích được tốt nhất. Cho nên, người chấp ác hay chấp thiện đều khó mà sống với lý tùy duyên.


Tùy duyên, mà không được rời lý bất biến thì cái tùy duyên ấy mới là vui Đạo. Không thì chỉ là hình thức của tập nghiệp. Người còn cố chấp vào việc cúng sao giải hạn thì đành phải mượn pháp cúng sao giải hạn mà thu nhiếp người, nhưng đó chỉ là phương tiện giáo hóa lúc đầu, sau phải tiến dần dạy người lý Nhân quả v.v… Nếu hiểu tùy duyên như việc thả lỏng tham, sân, si thì đó là tùy tập, không phải tùy duyên. Kết quả không tránh khỏi khổ đau, khó mà vui Đạo được. 


Kết luận


Lý thì không thể nói, chỉ có thể mượn Sự mà hiển bày. Nói về Duyên khởi mà không lấy thực tế làm thí dụ thì khó mà rõ được đầu đuôi, nên phải mượn Sự để hiển Lý. Phạm vi bài viết này, cũng chỉ đưa tạm vài ví dụ để nói về cái gọi là sống tùy duyên trong đời sống thường nhật. Khai triển rộng còn khối thứ để nói. 


Phần Duyên khởi quan trọng làm nền tảng cho hạnh phúc và thành công, là gieo cái duyên thiện nghiệp. Gia đình có thiện nghiệp nhiều thì hạnh phúc nhiều. Đất nước thiện nghiệp nhiều thì đất nước phồn vinh vững mạnh. Có những vị bố thí cúng dường rất nhiều, nhưng do thiếu trí tuệ, tham sân nhiều, nên khi thiện phúc tới lại không nhận được, vì bị tham sân của mình phá mất. Cho nên, đến với đạo Phật, ngoài việc gieo cái nhân sung túc, chúng ta nên tập phá dần tham, sân, si, củng cố định tuệ của mình. Có định tuệ thì trong thiện phúc không tạo ác nghiệp, trong bất hạnh vẫn tự tại an vui. 


Nhân mùa Phật đản, nguyện mong tất cả chúng sinh đều sống được với ông Phật của mình, thể hiện qua sự hiểu biết, thông cảm, tha thứ, làm việc gì cũng đặt mình vào tình thế của người… để mình và người cùng an vui. Cuối cùng, nguyện tất cả chúng sinh trong mười phương pháp giới đều trọn thành Phật đạo. 


[1] Chỉ chung cho người được phần không của tự tâm nhưng chưa thấu đạt tánh Phật. 

[2] Trần Nhân Tông - Cư trần lạc đạo phú – Thiền sư Việt Nam – HT Thanh Từ biên soạn.

[3] Thấy cảnh khởi tâm thì gọi những gì đang khởi đó là Tướng vọng tưởng. Tướng vọng tưởng khởi được là do sẵn có kiến chấp về việc đó. Kiến chấp này gọi là Kiến vọng tưởng.

[4] Tuệ Trung thượng sĩ ngữ lục, HT Thanh Từ giảng & giải.


_____________________

Chân Hiền Tâm

Nguồn: thuongchieu.net

VUA TRẦN NHÂN TÔNG VỚI THIỀN PHÁI TRÚC LÂM YÊN TỬ

 

I - ÔNG VUA CÓ TÂM PHẬT

 

Nghiên cứu đạo Phật Việt Nam chúng ta thấy rất rõ, thời Trần nổi bật những ông vua Phật tử đáng kính. Vua Trần Thái Tông, nhìn với cặp mắt nhà Thiền có thể nói Ngài là ông vua Thiền sư. Tuy ngồi trên ngai vàng nhưng Ngài hiểu thiền rất sâu, tâm thiền rất sáng và sống thiền rất đắc lực. Qua tác phẩm Khóa Hư Lục và giây phút rời bỏ cuộc đời của Ngài đã nêu rõ điều đó.

 

Vua Trần Thánh Tông cũng thế, Thánh Đăng Lục ghi rõ cho thấy, sức sống thiền của Ngài thật là vững vàng, đến mé bờ sinh tử vẫn có sức tự chủ và sáng suốt mà một vị xuất gia bình thường khó theo kịp.

 

Riêng vua Trần Nhân Tông, quả là một ông vua Phật của Việt Nam đúng với sự tôn xưng từ trước tới nay. Ngài có duyên sâu với Phật từ thuở nhỏ.

 

Sinh ra, thân sắc vàng như sắc Phật. Lớn lên, năm 16 tuổi, được vua cha lập làm Hoàng thái tử, Ngài hai lần cố xin nhường lại cho em là Đức Việp, nhưng vua Thánh Tông không cho, vì thấy Ngài có khả năng gánh vác việc lớn. Trong khi đó lịch sử để lại biết bao trang sử đau lòng, chỉ vì ngôi vị này mà cốt nhục tương tàn. Hạt giống Phật đã ngầm chứa sẵn trong Ngài mà biểu lộ ra như thế.

 

Rồi một hôm, Ngài lại vượt thành tìm về Yên Tử tu hành. Điều này đâu có ai dạy Ngài. Nếu không phải chủng tử Phật ngầm chứa trong Ngài nó thúc đẩy, thì cái gì khiến làm như thế? Với cái nhìn của nhà Phật, đều có nhân duyên chớ không phải ngẫu nhiên.Việc này lại trùng hợp với Đức Phật, khi làm Thái Tử Tất Đạt Đa cũng vượt thành xuất gia tìm đạo. Song với vua Trần Nhân Tông, lúc ấy vua cha cho người tìm gọi về, Ngài đành phải về. Thiền sư Chân Nguyên đã thuật lại trong Thiền Tông Bản Hạnh:

 

Đêm ấy thái tử thoát ra du hành

Tìm về Yên Tử một mình,

Đến Đông Cứu sơn, thiên minh rạng ngày.

Giả tướng lệ người thế hay,

Vào nằm trong tháp một giây đỗ dùng.

Tăng tự thấy tướng lạ lùng,

Làm bữa cơm thết cúng dàng cho ăn.

Hoàng Hậu liền tâu Minh Quân,

Rao bảo thiên hạ quần thần đông tây.

Tìm đòi Thái tử chớ chầy,

Bắt em thay trị liền tay tức thì..

Thuở ấy Thái tử lại về,

Vua cha nhượng vì cho trị vạn dân

 

Rồi tuy ở địa vị cao sang, quyền quý mà ăn chay, sống đạm bạc không thụ hưởng đến nỗi thân ốm gầy, vua cha phải gọi lại than: “Nay ta đã già, chỉ trông cậy một mình con, con lại làm như thế, làm sao gánh vác sự nghiệp của Tổ tiên ?”

 

Một duyên lành với Ngài nữa là, được vua cha cho theo học với Thượng Sĩ Tuệ Trung, một bậc Thiền Sư Cư Sĩ phi thường. Nhân đây Ngài hiểu sâu về thiền. Trong lời tựa sách Tuệ Trung Ngữ Lục, Ngài có thuật lại đoạn hỏi đáp với Thượng Sĩ, Ngài hỏi: “Thế nào là tông chỉ của việc bổn phận?”. Thượng Sĩ đáp: “Soi sáng lại chính mình đó là việc bổn phận, chẳng từ nơi nào khác mà được”.

 

Ngài nhận sâu ý chỉ này. Có thể nói, một câu đáp này tóm thâu trọn cốt tủy của Thiền và gồm suốt giáo lý một đời của Đức Phật. Chư Phật, chư Tổ nói pháp đều vì con người, người nghe pháp phải vượt qua ngôn ngữ văn tự chết mà soi sáng lại nơi mình, chuyển những lời kinh khô khan đó vào cuộc sống hiện thực đây, đó mới là Phật pháp sống. Bởi vậy, Thiền tông chủ trương “Giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự”, khiến người không chết chìm trong đám rừng chữ nghĩa vô tri ấy. Vua Trần Nhân Tông đã được Thượng sĩ khơi đúng mạch nguồn Phật pháp đó, và Ngài tiếp nhận đúng lúc, lấy đó làm cửa mở vào Thiền.

 

II. CON ĐƯỜNG XUẤT THẾ:


Sau hai lần lãnh đạo dân quân Đại Việt đánh thắng giặc Mông, năm 1293 Ngài nhường ngôi cho Anh Tông, lên làm Thái Thượng Hoàng và chuẩn bị con đường xuất thế cho mình. Bước đầu Ngài ở Vũ Lâm như Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi lại: “Bấy giờ Thượng hoàng ngự đi Vũ Lâm dạo chơi hang đá. Cửa núi đá hẹp, Thượng hoàng đi chiếc thuyền nhỏ, Thái hậu Tuyên Từ ở đằng đuôi thuyền, gọi Văn Túc Vương lên đằng mũi thuyền. Chỉ cho một phu chèo thuyền mà thôi. Kịp đến khi Thượng hoàng xuất gia, khi Thượng hoàng sắp ra đi, bèn mời Đạo Tải vào điện Dưỡng Đức, cung Thánh Từ ban cho ngồi ăn đồ biển, làm thơ rằng:

 

Chân rùa bóc đỏ mọng,

Yên ngựa nướng vàng thơm.

Sơn Tăng giữ giới sạch,

Cùng ngồi chẳng cùng ăn.

***

( Hồng thấp bác quy cước,

Hoàng hương chá mã yên.

Sơn Tăng trì tịnh giới,

Đồng tọa bất đồng san ).

 

( Trích Toàn Tập Trần Nhân Tông )


Lúc này vua đã ăn chay, giữ tịnh giới, chuẩn bị cho bước xuất gia sắp tới.

 

Đến tháng 7 năm 1299, Ngài cho xây dựng một am thiền trên núi Yên Tử gọi là Ngự Dược Am, và theo Thánh Đăng Lục thì qua tháng 10 năm ấy vua mới thực sự lên núi Yên Tử xuất gia tu hành, sáng lập dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử. Thiền Tông Bản Hạnh ghi:

 

“Kỷ Hợi Nhân Tông ra ngoài,

Quyết lên Yên Tử tu chùa Hoa Yên.

Quần thần nghĩa sĩ dưới trên,

Đưa vua tu đạo thoát duyên phàm trần.

Đến chùa Long Động mới phân,

Tất trừ phiền não ái ân phát nguyền.

Nhân Tông khắn khắn lòng tin,

Thành tâm trai giới bước lên chiền già.

Cung tần thể nữ trở ra,

Người về phối thất, kẻ ra Kinh kỳ.

Mặc ai ra chợ về quê,

Canh nông buôn bán làm chi mặc lòng”.

 

Tức là lúc này quần thần, quyến thuộc tiễn đưa Nhân Tông vào núi Yên Tử xuất gia tu hành, đến chùa Long Động mới chia tay. Với cung nữ, Ngài cho tự do về quê lập gia đình hoặc làm gì tùy ý, dứt khoát buông xả hết không coi là của mình. Đây mới thật sự cắt đứt ân ái, xuất gia hành đạo. Do đó có câu chuyện suối Giải Oan và làng Nàng làng Mụ.

 

Rày trẫm đầu Phật xuất gia,

Trăm đường rũ hết lòng hòa tiếc chi.

Chị hầu, bà mụ, cung phi,

Mộ đạo chẳng về cảm đức ở đây.

Lòng vua thấy vậy thương thay,

Phán rằng cho ở một nơi lâm tuyền.

 

Cho nên tích để lưu truyền :

 

"Làng Nàng, Làng Mụ, phúc duyên đã chầy”.

(Thiền Tông Bản Hạnh)

 

III. TU HÀNH Ở YÊN TỬ:


Vào Yên Tử Ngài quyết tâm sống đời xuất gia giải thoát, từ bỏ những hưởng thụ của thế gian, thực hành 12 hạnh Đầu-đà, tức sống khổ hạnh, đạm bạc, lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu-đà, sau đổi là Trúc Lâm Đầu-đà. Tên Trúc Lâm này cũng là hiệu của Quốc Sư Trúc Lâm-Viên Chứng, một bậc Thiền Tổ của Yên Tử đã khai thị cho vua Trần Thái Tông “Trong núi vốn không có Phật, Phật ở trong tâm ta. Tâm lặng mà biết đó chính là tâm Phật. Nếu bệ hạ giác ngộ được tâm ấy thì tức khắc thành Phật ngay tại chỗ, không cần đi tìm cực khổ ở bên ngoài”. (Lời tựa Thiền Tông Chỉ Nam).

 

Một ông vua anh minh, tiếng tăm vang dội, lại sống cuộc đời đạm bạc đến mức tối đa nơi rừng núi, thì phải biết lòng mộ đạo của Ngài rất chân thành. Trong bài Đắc Thú Lâm Tuyền Thành Đạo Ca, một bản văn bằng chữ Nôm, Ngài đã bộc lộ:

 

ông danh chẳng trọng,

Phú quý chẳng màng.

Tần Hán xưa kia,

Xem đà nhàn hạ.

Yên bề phận khó,

Kiếm chốn dưỡng thân.

Khuất tịch non cao,

Náu mình sơn dã

Vượn mừng hủ hỷ

Làm bạn cùng ta.

Vắng vẻ ngàn kia

Thân lòng hỷ xả.

Rồi

Dốc chí tu hành,

Giấy sồi vó vá

Thân này chẳng quản,

Bữa đói, bữa no.

 

Ngài sẵn sàng từ bỏ công danh phú quý, sống ẩn mình nơi vắng vẻ, buông bỏ tình chấp nơi thân tâm, ăn mặc đơn sơ, đói no chẳng quản, tức quên NGÃ mà hành đạo. Do đó mới có được cái vui đến chỗ thành đạo, chứng ngộ thật sự, nếm được pháp vị rõ ràng, không phải chỉ tu trên hình thức, hoặc kiến giải suông trên chữ nghĩa, lý luận. Quả là một HÀNH GIẢ đúng nghĩa!

 

Niềm lòng vằng vặc

Giác tính quang quang 

Chẳng còn bỉ thử

Tranh nhân chấp ngã.

 

IV. PHÁT MINH TRÍ TUỆ VÔ SƯ:

 

Chính bằng công phu chân thật hành Thiền, ngài đã thể nhập chân Thiền, mở sáng “trí tuệ vô sư”, thế gian khó bì kịp. Trong bài Xuân Vãn, Ngài đã bày tỏ:

 

Niên thiếu hà tằng liễu sắc không,

Nhất xuân tâm sự bách hoa trung.

Như kim khám phá Đông hoàng diện,

Thiền bản bồ đoàn khán trụy hồng.

***

Thuở bé đâu từng rõ sắc không,

Xuân về rộn rã nức trong lòng.

Chúa xuân nay bị ta khám phá,

Ngồi lặng nhìn xem rụng cánh hồng.

 

Lúc chưa hiểu đạo, còn bị ngoại cảnh chi phối, nên mỗi độ xuân về lòng Ngài cũng bị động theo cảnh xuân, không làm chủ được. Nhưng bây giờ, Ngài đã nhận ra Chúa xuân tức là ông chủ chân thật muôn đời, hay nói theo nhà Thiền là “Bộ mặt thật xưa nay” của chính mình, là con người bất sinh bất diệt từ vô thủy. Giờ đây Ngài có thể giải đáp chính xác cho câu hỏi: “Cái gì là ta?”, không còn nghi ngờ, cuộc sống bây giờ mới thật sự có chủ. Điều này chứng tỏ Ngài xuất gia là thực tu, thực ngộ, xứng đáng là bậc Thiên Nhân Sư, thầy của trời người.

 

IV. PHÁT MINH TRÍ TUỆ VÔ SƯ:

 

Chính bằng công phu chân thật hành Thiền, ngài đã thể nhập chân Thiền, mở sáng “trí tuệ vô sư”, thế gian khó bì kịp. Trong bài Xuân Vãn, Ngài đã bày tỏ:

 

Niên thiếu hà tằng liễu sắc không,

Nhất xuân tâm sự bách hoa trung.

Như kim khám phá Đông hoàng diện,

Thiền bản bồ đoàn khán trụy hồng.

***

Thuở bé đâu từng rõ sắc không,

Xuân về rộn rã nức trong lòng.

Chúa xuân nay bị ta khám phá,

Ngồi lặng nhìn xem rụng cánh hồng.

 

Lúc chưa hiểu đạo, còn bị ngoại cảnh chi phối, nên mỗi độ xuân về lòng Ngài cũng bị động theo cảnh xuân, không làm chủ được. Nhưng bây giờ, Ngài đã nhận ra Chúa xuân tức là ông chủ chân thật muôn đời, hay nói theo nhà Thiền là “Bộ mặt thật xưa nay” của chính mình, là con người bất sinh bất diệt từ vô thủy. Giờ đây Ngài có thể giải đáp chính xác cho câu hỏi: “Cái gì là ta?”, không còn nghi ngờ, cuộc sống bây giờ mới thật sự có chủ. Điều này chứng tỏ Ngài xuất gia là thực tu, thực ngộ, xứng đáng là bậc Thiên Nhân Sư, thầy của trời người.

 

V. SÁNG LẬP THIỀN PHÁI TRÚC LÂM:


Bằng sự chứng ngộ Thiền lý sâu xa, Ngài dùng ánh sáng chân thật đó, dung hợp ba dòng thiền đã có trước đó thành dòng Thiền Trúc Lâm, mở ra phong trào học Phật mới.

 

Lấy tông chỉ Thiền Tông “Giáo Ngoại Biệt Truyền, Bất Lập Văn Tự, Trực Chỉ Nhân Tâm, Kiến Tánh Thành Phật” làm chủ đạo, Ngài linh động kết hợp giảng kinh thuyết pháp, giúp cho người học Phật hiểu sâu kinh điển, chuyển những lời kinh chết trong sách vỡ thành những bài kinh sống nơi người, chứng minh cho Tâm Thiền sáng ngời không có gì sai khác. Kinh đâu có lỗi gì? Lỗi do người chấp kinh. Thiền đâu có gì sai khác? Sai do người phân biệt. Kinh từ miệng Phật nói, Thiền là tâm Phật vốn chẳng phải là hai! Chính tinh thần đó,các thiền viện của hệ Trúc Lâm do Hòa thượng Thiền sư Thầy chúng tôi đang hướng dẫn, vẫn đang áp dụng.

 

Bởi người tu Thiền đã sáng tâm thì đọc kinh sẽ hiểu rõ ý nghĩa sâu xa ngoài câu lời, do đó càng giảng linh động sáng tạo, giúp người nghe dễ thâm nhập hơn. Bởi vậy, Thiền sư Pháp Loa giảng nhiều lần kinh Hoa Nghiêm, bộ kinh thuộc giáo lý viên đốn cao siêu, mà người đến nghe rất đông, cũng nói lên trình độ của người học Phật thời đó rất cao. Như pháp hội giảng kinh năm 1322 tại chùa Báo Ân có trên 1000 người đi nghe. Buổi giảng nào ít người cũng có khoảng năm, sáu trăm người.

 

Xét kỹ, tông chỉ Thiền tông rất thực tế và gần gũi với con người, lấy “Chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật”, nhằm đánh thức mỗi người tự sống vươn lên. Vì tâm mình mà mình không biết, vậy lo biết cái gì ở đâu xa? Thành Phật là thành ngay trong tâm tánh mình đây thôi, không phải thành ở trên núi cao, trên cõi trời xa xôi, chỉ cần mình xoay lại chính mình, thì ngay đó là bờ mé: “Hồi đầu thị ngạn”. Đó là lấy con người làm gốc, là tôn trọng con người, nâng cao giá trị con người, cũng là lý bình đẳng với tất cả, vậy sao không khai thát?

 

Đúng là thiền tông chỉ thẳng “Ngay đây, lúc này, người này thôi”, rất hiện thực không có gì xa xôi, mập mờ hẹn lại kiếp nào khác. Như lời khai thị của Trúc Lâm Điều Ngự trong buổi đại tham ngày 9 tháng giêng nhuận năm Bính Ngọ 1306 tại liêu Kỳ Lân: “Ngày tháng dễ trôi qua, mạng người không chờ đợi, sao cam ăn cháo, ăn cơm mà không rõ việc bát, việc muỗng?”.

 

Nghĩa là mình sống hằng ngày cầm muỗng, cầm thìa, ăn cơm, ăn cháo nhưng tại sao lại không biết cái gì đang hiện hữu trong đó? Chỉ lo nhớ bát, đũa, cơm, cháo mà quên mất nguồn sống phát ra những việc đó! Thiền tông nhắc nhở đánh thức người mê khiến tỉnh ngộ trở lại chỗ này! Chính đó là mạch sống của Phật pháp. Cho nên dù trải qua bao cuộc thăng trầm của lịch sử, nhưng ý Thiền vẫn không mất, vì còn có con người, còn có tâm thì còn có Thiền! Kinh sách, ngữ lục có thể đốt cháy hư hoại, nhưng cái này làm sao đốt? Làm sao hoại? Đây cũng chính là linh hồn của Yên Tử vậy. Bằng chứng là những tác phẩm tinh yếu về Thiền của Trúc Lâm Điều Ngự như: Thiền Lâm Thiết Chủy Ngữ Lục, Thạch Thất Mỵ Ngữ ngày nay không còn, song tinh thần Thiền của Ngài vẫn còn đây, sức sống này vẫn đang trỗi dậy!

 

“Yên Tử non cao, Chư Tổ Mồi Đèn

Truyền Tâm Ấn.

Trúc Lâm Rừng Vắng,

Điều Ngự Nối Đuốc

Lập Tông Phong.”

 

VI. DÒNG TRUYỀN YÊN TỬ:


1. Đối với Thiền phái Trúc Lâm thì Trúc Lâm Điều Ngự-Trần Nhân Tông là đệ nhất Tổ, nhưng tính theo hệ thống truyền thừa của Yên Tử phải kể từ Thiền sư Hiện Quang là Tổ ban đầu. Sư là người khai sơn chùa Vân Yên, sau đổi thành Hoa Yên như ngày nay. Vốn là đệ tử của Thiền sư Thường Chiếu, dòng Vô Ngôn Thông, nhưng tỏ ngộ nơi Thiền sư Trí Thông chùa Thánh Quả.

2. Thiền sư Viên Chứng, cũng gọi là Quốc Sư Trúc Lâm, người đã từng đón tiếp vua Trần Thái Tông tìm lên Yên Tử năm 1236.

3. Quốc sư Đại Đăng, người đã tiếp nhận thêm dòng thiền Lâm Tế từ Thiền sư Thiên Phong người Trung Hoa tại Kinh đô Thăng Long và là thầy của vua Trần Thánh Tông .

4. Thiền sư Tiêu Dao, là thầy của Thượng Sĩ Tuệ Trung, cũng gọi Đại Sư Phúc Đường, vì Sư ở Tinh Xá Phúc Đường mà Thượng Sĩ Tuệ Trung có bài thơ tựa “Thượng Phúc Đường Tiêu Dao Thiền Sư”.

5. Thiền sư Huệ Tuệ, theo Việt Nam Phật Giáo Sử Luận của Nguyễn Lang cho là Sư vốn làm Hòa thượng Đường đầu truyền giới pháp cho vua Trần Nhân Tông khi vua xuất gia.

6. Trúc Lâm Đại Đầu đà-Trần Nhân Tông, theo hệ thống truyền thừa của Yên Tử, Ngài thuộc hàng thứ 6, nhưng là người khai sáng ra dòng Thiền Trúc Lâm của Đại Việt nên là Sơ Tổ.

 

Theo sách Đại Nam Thiền Uyển Truyền Đăng Tập Lục của Hòa Thượng Phúc Điền, hệ thống truyền thừa của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử được tiếp nối qua các vị sau:

 

7. Tổ Sư Pháp Loa.

8. Tổ Sư Huyền Quang .

9. Quốc Sư An Tâm.

10. Quốc Sư Phù Vân. ( Hiệu Tĩnh Lự )

11. Quốc Sư Vô Trước.

12. Quốc Sư Quốc Nhất.

13. Tổ Sư Viên Minh.

14. Tổ Sư Đạo Huệ.

15. Tổ Sư Viên Ngộ.

16. Quốc Sư Tổng Trì.

17. Quốc Sư Khuê Thám.

18. Quốc Sư Sơn Đằng.

19. Đại Sư Hương Sơn.

20. Quốc Sư Trí Dung.

21. Tổ Sư Tuệ Quang.

22. Tổ Sư Chân Trú.

23. Đại Sư Vô Phiền.

 

Danh sách này được Thiền sư Tuệ Nhãn lược dẫn trong phần đầu của bia ký tháp Giao Quang thờ Thiền sư Tính Đường hiệu Tuệ Cự ngay bên phải cổng Chùa Lân-Thiền Viện Trúc Lâm Yên Tử: “Núi Yên Tử từ Sơ Tổ Hiện Quang đến Trúc Lâm Viên Chứng trải qua tới Trần triều Tam Tổ, lần lượt tiếp nối nhau, danh chép truyền đăng phần nhiều khó nêu ra hết. Trong lý ẩn hiện đến Tổ Sư Tuệ Quang trung hưng rộng lớn, Phật pháp thịnh hành, danh lam thánh cảnh, Tuệ Nguyệt sáng mãi, Tuệ Đăng chiếu khắp cho đến Tuệ Cự…”

 

Trong đây ghi rõ Thiền sư Hiện Quang là Sơ Tổ của Yên Tử, Quốc Sư Trúc Lâm hiệu Viên Chứng rõ ràng, Tổ Sư Tuệ Quang trung hưng Yên Tử, Thiền sư Tuệ Nguyệt thầy của Thiền sư Chân Nguyên tiếp sáng luôn và Thiền sư Tuệ Đăng tức Ngài Chân Nguyên hiện còn tháp đá tôn thờ ở sau nhà Tổ của Thiền viện làm cho dòng Thiền chiếu khắp.

 

Cứ theo danh sách này, sau Tổ Sư Huyền Quang có tới 8 vị Quốc Sư, thì biết rằng dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử vẫn được truyền thừa luôn chứ không phải chìm mất. Về đời thứ ba Thiền Phái Trúc Lâm, ngoài Tam Tổ Huyền Quang, theo bia tháp Viên Thông thờ Tổ Sư Pháp Loa ở Thanh Mai, phần cuối có kể ra hai vị tiếp nối đời thứ ba là Tông Huyền và Kim Sơn, nguyên văn: “Trúc Lâm Đệ Tam Đại Tự Pháp Trụ Trì Tông Huyền, Kim Sơn tấu tuyên”.

 

Tuy nhiên danh sách tên tuổi là phần biểu hiện bên ngoài, chính “tâm thiền” mới là mạch sống thật. Dù ẩn, dù hiện, dù thăng dù trầm hễ còn có người tỏ sáng được tâm Thiền, là còn tiếp nối được mạch sống Tổ Tông.

 

VI. CHỨNG NGỘ THIỀN LÝ, LÀM CHỦ SINH TỬ:


Đối với đạo Phật nói chung, và Thiền tông nói riêng, luôn nhấn mạnh phải hiểu và hành tương ứng, nên có câu: “ Hạnh giải tương ưng danh vi viết Tổ”. Vậy “Tổ” không phải ở cái tên, ở danh xưng, mà phải thực sự tỏ hiểu và chứng nghiệm chân Thiền ngay nội tâm mình. Đệ nhất Tổ Trúc Lâm Đại Đầu Đà đã hội đủ hai điều đó. Về trí tuệ tỏ hiểu Thiền tông của Ngài rất sâu. Như đoạn Tăng hỏi:

- Khi muôn dặm mưa tạnh thì thế nào?

Ngài đáp:

- Mưa tầm tã.

Hỏi:

- Khi muôn dặm mây che kín thì thế nào?

Đáp:

- Trăng vằng vặc.

 

Đã là “Muôn dặm mưa tạnh” tức trời trong không vết mây che thì sao ông còn động niệm khởi hỏi ? Đó tức là mưa tầm tã rồi chứ gì. Còn “Muôn dặm mây che kín”, thì sao ông còn có thể biết hỏi được đây ? Vậy là nó vẫn sáng tỏ rõ ràng, ông lại chẳng ngộ ! Nên Ngài đáp : “Trăng vằng vặc”. Đây là Ngài ứng dụng theo tinh thần Lục Tổ dạy về 36 phép đối rất là tuyệt diệu . Lục Tổ dạy : “ Nếu có người hỏi nghĩa với ông, hỏi Có thì đem Không đáp, hỏi Không thì đem Có đáp, hỏi Phàm thì đem Thánh đáp, hỏi Thánh thì đem Phàm đáp, hai đường làm nhân cho nhau, sanh nghĩa trung đạo”. Thì ở đây hỏi mưa tạnh, Ngài đáp “ mưa tầm tã” ; hỏi mây che kín, Ngài đáp “ trăng vằng vặc”, nếu không phải bậc đã sáng tâm khó nói được quá khéo như vậy. Chính hiện nay nhiều người nghiên cứu về Ngài cũng chưa hiểu hết được Ngài, đôi khi lại hiểu theo thức tình suy tư của mình thành nghiêng lệch. Bởi đối với nhà Thiền: “Thấy thì thẳng đó liền thấy, suy nghĩ liền sai” và “Ông vừa cúi đầu trầm ngâm là đã đi xa ngoài ba ngàn dặm rồi”. Sử Thiền sư Pháp Loa kể lại, một hôm Sư trình cả ba bài tụng cho Điều Ngự, đều bị Ngài gạt bỏ hết. Sư thưa thỉnh mấy phen, Điều Ngự dạy phải tự tham. Sư vào phòng đầu óc nặng trĩu, thức đến quá nửa đêm, trông thấy bông đèn tàn rụng xuống, chợt đại ngộ. Đến đây đem trình Điều Ngự mới được ấn chứng.

 

Chúng ta nên nhớ, trước đó Sư đã qua hai lần tỏ sáng : một lần nhân đọc kinh Hải Nhãn (có thể kinh Lăng Nghiêm) đến bảy chỗ hỏi tâm và đoạn thí dụ khách trần mà có tỉnh; lần khác, lúc Điều Ngự thượng đường, Sư ra thưa hỏi liền được tỉnh. Vậy mà đến lúc trình kệ này vẫn chưa được ấn chứng. Vì có ý làm kệ trình ra kiến giải thế này thế nọ, cũng là cái vay mượn từ bên ngoài, chưa phải của báu nhà mình. Cho nên Điều Ngự dạy phải quay lại tự tham cứu, đến khi thấy bông đèn tàn rụng mới chợt đại ngộ, không qua ý thức suy nghĩ. Cũng cho thấy, trí tuệ của Điều Ngự là siêu việt như thế nào, và cách huấn luyện để tìm người kế thừa của Ngài quả là rất kỹ. Đúng như lời Cổ Đức nói : “Nguồn sâu thì dòng dài”, do đó mà mạch sống ấy đến ngày nay vẫn truyền bất tuyệt.

 

Rồi đến khi sắp tịch, tức đến lúc cận kề bờ sinh tử, càng cho thấy sức sống thiền nơi Ngài quá vững chãi : 

“Giữa đêm mồng 1 tháng 11 năm 1308, Ngài hỏi Bảo Sát :

- Hiện giờ là giờ gì?

Bảo Sát bạch:

- Giờ Tý.

Ngài lấy tay vén màn cửa sổ nhìn xem, nói :

- Đến giờ ta đi.

Bảo Sát hỏi:

- Tôn đức đi đâu?

Ngài nói kệ đáp:

Tất cả pháp chẳng sinh

Tất cả pháp chẳng diệt.

Nếu hay hiểu như thế

Chư Phật thường hiện tiền

Nào có đến đi gì.

***

(Nhất thiết pháp bất sinh

Nhất thiết pháp bất diệt

Nhược năng như thị giải

Chư Phật thường hiện tiền.

Hà khứ lai chi hữu dã).

Bảo Sát hỏi :

- Chỉ như khi chẳng sinh chẳng diệt là thế nào ?

Ngài liền nhằm ngay miệng Bảo Sát tát cho một cái, bảo :

- Chớ nói mớ.

Nói xong, Ngài nằm nghiêng bên phải như sư tử, lặng lẽ mà tịch”.

 

Như vậy, với Ngài không thấy có chết, có sống, sống chết chỉ là cái hình hài giả tạm này thôi, còn chính Ngài chưa từng có sống chết, đến đi. Chỗ này con mắt phàm tình thế gian làm sao thấy được, hiểu được ? Nếu Ngài không có thực tu, thực chứng, thực hành công phu sâu thì khó được như vậy.

 

Lại nguyên là một vị hoàng đế tiếng tăm vang lừng như thế, mà khi tịch sẵn sàng tịch nơi vắng vẻ với vị thị giả bên cạnh và di chúc hoả thiêu ngay, không đợi người đến làm lễ to cho nổi tiếng, không vì danh. Tuy nhiên nhân quả vẫn theo nhau, khi vua Anh Tông thỉnh xá lợi về kinh “ lúc làm lễ sắp đưa linh cửu về chôn ở lăng Quy Đức, giờ đã đến mà quan liêu, dân chúng đứng chật khắp cung điện.Tể tướng cầm roi xua đuổi, rốt cuộc không thể mở đường. Vua cho gọi Chi hầu chánh chưởng Trịnh Trọng Tử đến bảo :

 

- Linh cữu sắp đưa đi mà dân chúng đầy nghẽn như thế thì làm thế nào? Trọng Tử lập tức đến đền Thiên Trì gọi quân Hải Khẩu và Hổ Dực (quân của Trọng Tử trông coi) đến ngồi la liệt trong thềm, sai hát mấy câu Khúc Long Ngâm. Mọi người ngạc nhiên kéo nhau đến xem, cung điện mới giản người, bèn rước về lăng Quy Đức”. ( Trích Toàn Tập Trần Nhân Tông ).

 

Cho thấy lòng người quá mến mộ Ngài. Quả lành không cầu mà tự đến!

 

VII. TÓM KẾT :

 

Trúc Lâm Điều Ngự - Trần Nhân Tông, một con người quá nổi bật ở nhiều mặt, một nhân cách quá sáng ngời : Nói về lãnh đạo, là một nhà lãnh đạo tài ba, về chính trị là một nhà chính trị xuất chúng, về văn hóa là nhà văn hóa lớn, về tôn giáo là nhà tôn giáo tuyệt vời….Do đó, để nhận định về Ngài, chúng ta khó có thể nhận định toàn vẹn được, nếu đứng trên một chủ kiến, một khía cạnh. Và hơn thế nữa, Ngài lại là hành giả trong pháp xuất thế, một bậc Tổ sư của nhà Thiền thì càng không thể lấy theo ý thức tư duy bình thường mà hiểu được Ngài, phải là người trong cuộc với nhau mới thấu hiểu được nhau, như kinh Pháp Hoa nói : “Chỉ Phật với Phật mới biết”.

 

Yên Tử được gắn liền với tên tuổi của Ngài, với dòng Thiền do Ngài mở lối, là một đại nhân duyên không phải tầm thường cần được tôn trọng và phải tôn trọng.

 

Phật giáo nói chung, con đường Thiền nói riêng, là con đường luôn sáng tạo, phù hợp với tinh thần phát triển ở các thời đại. Câu nói nổi tiếng trong nhà Thiền là “Thấy bằng thầy là kém thầy nửa đức, thấy vượt hơn thầy mới kham nhận truyền trao”, không cho đứng dừng một chỗ hay chặn đứng bước tiến của người.

 

Tóm lại, Trúc Lâm Điều Ngự-Trần Nhân Tông là bậc tôn kính đối với tất cả con cháu chúng ta, và tinh thần của Ngài cần được phát huy đúng mức, nhắc nhở cho con em chúng ta và con cháu mai sau phải luôn nhớ cội nguồn, phải biết trân quí, giữ gìn gia sản quí báu của Tổ tiên, chính đó là nền tảng xây dựng đất nước vững bền.

___________________

Nguồn: thuongchieu.net

MƯỜI BÀI THƠ MÙA XUÂN CỦA TRẦN NHÂN TÔNG

 

I. LỜI GIỚI THIỆU:


Trần Nhân Tông (chữ Hán: 陳仁宗; 7 tháng 12 năm 1258 – 16 tháng 12 năm 1308,) là vị vua thứ 3 của nhà Trần trong lịch sử Việt Nam. Ông trị vì 15 năm (1278 – 1293) và làm Thái Thượng hoàng 15 năm.


Trần Nhân Tông được sử sách ca ngợi là một trong những vị vua anh minh nhất trong lịch sử Việt Nam. Ông có vai trò lãnh đạo quan trọng trong Chiến tranh Nguyên Mông-Đại Việt lần 2 và lần 3.


Trần Nhân Tông cũng là người đã thành lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, lấy pháp hiệu là Đầu Đà Hoàng Giác Điều Ngự. (Tham khảo từ trang Web. Vikipedia.org VN.)


“… Theo sử sách còn ghi được, Trần Nhân Tông là tác giả các tập thơ sau đây: Trần Nhân Tông Thi Tập, Đại Hương Hải Ấn Thi Tập, Tăng Già Toái Sự, Thạch Thất Mỵ Ngữ. Tuy vậy, sau bao nhiêu phen dâu bể của chiến tranh, loạn lạc, số tác phẩm trên đều đã mất. Hiện thơ ông chỉ còn giữ được 31 bài, hai cặp câu thơ lẻ, một bài minh và một bài tán, chép trong các tuyển tập. So với nhiều nhà thơ khác thời Lý – Trần, số lượng ấy kể cũng đã không phải là nhỏ.” (Trích từ bài viết của Nguyễn Huệ Chi và Trần Thị Băng Thanh, ngày 27.08.2012,“Sự thống nhất giữa hoàng đế, thi nhân và thiền gia trong một nhân cách - Trần Nhân Tông” trên trang trannhantong.net)


II. PHẦN DỊCH THƠ:


10 bài thơ có nội dung mùa Xuân được tuyển dịch dưới đây, trích từ bản PDF của sách Thơ Văn Lý-Trần, tập 2, NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1977. Phần dịch nghĩa, ghi chú, có hiệu đính thêm một vài ý chưa rõ nghĩa, hoặc thiếu phần Hán văn.


Mỗi bài thơ được trình bày theo thứ tự:


. Nguyên văn bài thơ chữ Hán

. Phiên âm

. Dịch nghĩa

. Ghi chú

. Phỏng dịch thơ Việt

***


1.春 曉

睡起啟窗扉,
不知春已歸。
一雙白蝴蝶,
拍拍趁花飛。


Phiên Âm:


XUÂN HIỂU


Thụy khởi khải song phi,

Bất tri xuân dĩ quy.

Nhất song bạch hồ điệp,

Phách phách sấn hoa phi.


Dịch Nghĩa:


SỚM XUÂN


Ngủ dậy mở cánh cửa sổ,

Không biết mùa xuân đã về.

Có một đôi bướm trắng,

Vỗ vỗ cánh, bay đến gần với hoa.


Phỏng Dịch Thơ Việt:


SỚM XUÂN


Ngủ dậy, mở cửa trông

Nào hay Xuân mênh mông

Kìa một đôi bướm trắng

Vỗ vỗ cánh vờn bông!


2. 春 日 謁 昭 陵

貔虎千門肅,

衣冠七品通。

白頭軍士在,

往往說元豐。


Phiên Âm:


XUÂN NHẬT YẾT CHIÊU LĂNG


Tì hổ thiên môn túc,

Y quan thất phẩm thông.

Bạch đầu quân sĩ tại,

Vãng vãng thuyết Nguyên Phong.


Dịch Nghĩa:


NGÀY XUÂN THĂM CHIÊU LĂNG


Lính thị vệ như cọp, đứng nghiêm túc trước ngàn cửa,

Áo mũ các quan đủ cả bảy phẩm.

Người lính già đầu bạc còn đến ngày nay,

Thường nhắc lại chuyện Nguyên Phong đã qua rồi.


Ghi Chú:


. Chiêu lăng [昭 陵]: Lăng vua Trần Thái Tông (chữ Hán: 陳太宗; 10 tháng 7, 1218 – 5 tháng 5, 1277), tên thật là Trần Bồ [陳蒲,] sau đổi thành Trần Cảnh [陳煚,]


là vị hoàng đế đầu tiên của nhà Trần trong lịch sử Việt Nam. Ông ở ngôi hơn 32 năm (1225 - 1258), làm Thái thượng hoàng trong 19 năm. Trần Thái Tông là cha của Trần Thánh Tông và là ông nội của Trần Nhân Tông.


. Chuyện Nguyên Phong [元豐]: Trần Thái Tông, nguyên tên thật là Trần Cảnh, là vua thứ nhất của nhà Trần. Ông sinh ngày 17.07.1218, mất ngày 04.05.1277. Ông làm vua 33 năm, nhường ngôi 19 năm, thọ 59 tuổi. Khi lên làm vua năm 1226, Trần Cảnh đổi niên hiệu là Kiến Trung; năm 1232, đổi là Thiên Ứng Chính Bình; năm 1251, lại đổi là Nguyên Phong.


Ngày 17.01.1258, (niên hiệu Nguyên Phong thứ 7) quân Nguyên tràn tới cánh đồng Bình Lệ (phía nam Bạch Hạc, Việt Trì, Phú Thọ). Trần Thái Tông chỉ huy cuộc chiến đấu chống giặc. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư tả: "Vua tự làm tướng đốc chiến đi trước, xông pha tên đạn…".


Ngày 29.01.1258, Trần Thái Tông cùng thái tử Hoảng (sau là vua Trần Thánh Tông) đã phá tan quân Nguyên ở Đông Bộ Đầu, chiếm lại Thăng Long, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ nhất. Trần Thái Tông đã đi vào lịch sử như một vị vua anh hùng cứu nước. Chiến công hiển hách của quân dân nhà Trần đánh tan cuộc xâm lược lần thứ nhất của quân Nguyên Mông được sử sách đời đời ghi nhớ như một điểm son chói lọi trong lịch sử chống ngoại xâm đầy oanh liệt của của dân tộc ta.


Phỏng Dịch Thơ Việt:


NGÀY XUÂN THĂM CHIÊU LĂNG


Ngàn cửa, uy nghiêm lính

Bảy phẩm, chỉnh tề quan

Sĩ tốt bạc đầu nhắc

Chuyện Nguyên Phong còn vang.


3. 洞 天 湖 上

洞天湖上景,

花草減春容。

上帝憐岑寂,

太清時一鐘。


Phiên Âm:


ĐỘNG THIÊN HỒ THƯỢNG


Động thiên hồ thượng cảnh,

Hoa thảo giảm xuân dung.

Thượng đế liên sầm tịch,

Thái thanh thì nhất chung.


Dịch Nghĩa:


TRÊN HỒ ĐỘNG THIÊN


Quang cảnh hồ Động Thiên,

Hoa cỏ [có vẻ] giảm sút nét xuân tươi.

Trời thương xót nỗi hiu quạnh [nơi nầy],

Thỉnh thoảng điểm một hồi chuông giữa tầng biếc.


Ghi Chú:


Hồ Động Thiên: Tra cứu các từ điển không tìm thấy. Trong sách Thơ Văn Lý Trần (NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1977,) phần chú thích cũng ghi: “chưa rõ ở đâu.”


Phỏng Dịch Thơ Việt:


TRÊN HỒ ĐỘNG THIÊN


Cảnh trên hồ Động Thiên

Dáng xuân gầy hoa cỏ

Trời thương xót niềm riêng

Một hồi chuông xanh tỏ.


4. 春 景

楊柳花深鳥語遲,

畫堂簷影暮雲飛。

客來不問人間事,

共倚欄杆看翠微。


Phiên Âm:


XUÂN CẢNH


Dương liễu hoa thâm điểu ngữ trì,

Họa đường thiềm ảnh mộ vân phi.

Khách lai bất vấn nhân gian sự,

Cộng ỷ lan can khán thúy vi.


Dịch Nghĩa:


CẢNH XUÂN


Trong khóm hoa dương liễu rậm rạp, tiếng chim hót lời chậm rãi,

Dưới bóng hiên nhà trưng bày tranh vẽ, bóng mây chiều lướt bay.

Khách đến chơi không hỏi việc đời,

Cùng đứng tựa lan can ngắm màu xanh biếc trên trời.


Phỏng Dịch Thơ Việt:


CẢNH XUÂN


Chim chậm lời ca, liễu nở đầy

Hiên tràn bóng lộng, mây chiều bay

Khách đến, chuyện đời không hỏi nữa

Cùng tựa lan can ngắm biếc ngày.


5. 春 晚

年少何曾了色空,

一春心在百花中。 

如今勘破東皇面,

禪板蒲團看墜紅。


Phiên Âm:


XUÂN VÃN


Niên thiếu hà tằng liễu sắc không,

Nhất xuân tâm sự bách hoa trung.

Như kim khám phá đông hoàng diện, 

Thiền bản bồ đoàn khán trụy hồng.


Dịch Nghĩa:


CHIỀU XUÂN


Thuở nhỏ chưa từng hiểu thấu lẽ Sắc Không,

Mỗi khi xuân đến vẫn gửi chuyện lòng trong trăm hoa.

Ngày nay đã thấy rõ được bộ mặt chúa Xuân [đông hoàng],

Ngồi trên nệm cỏ giữa tấm phản nhà chùa ngắm cánh hoa hồng rơi rụng.


Ghi Ghú:


. Đông Hoàng [東皇]: cũng gọi là Đông Quân [東君,] (ông vua của mùa Xuân.) Trong bài thơ Lập Xuân Hậu Thi [立春後詩] của Vương Sơ [王初] có câu: 東君坷佩嚮珊珊 - 青馭多時下九關 (Đông quân kha bội hưởng san san / Thanh ngự đa thì hạ cửu quan. Dịch nghĩa: Chúa Xuân đeo ngọc kêu leng keng / Cưỡi ngựa xanh nhiều lúc đi xuống chín cửa quan).


. Bồ đoàn [蒲團]: Tấm lót để ngồi bằng cỏ bồ, hình tròn. Ngày xưa, các vị sư thường dùng trong lúc ngồi thiền hay lễ bái.


Phỏng Dịch Thơ Việt:


CHIỀU XUÂN


Thuở nhỏ chưa thấu lẽ Sắc Không

Xuân phơi trăm đóa gửi chuyện lòng

Gương mặt chúa Xuân nay đã tỏ

Nệm cỏ ngồi xem rụng cánh hồng.


6. 饋 張 顯 卿 春 餅

柘枝舞罷試春衫,

況值今朝三月三。

紅玉堆盤春菜餅,

從來風俗舊安南。


Phiên Âm:


QUỸ TRƯƠNG HIỂN KHANH XUÂN BÍNH


Giá chi vũ bãi, thí xuân sam,

Huống trị kim triêu tam nguyệt tam.

Hồng ngọc đôi bàn xuân thái bính,

Tòng lai phong tục cựu An Nam.


Dịch Nghĩa:


TẶNG BÁNH NGÀY XUÂN CHO TRƯƠNG HIỂN KHANH


Múa bài múa giá chi xong rồi, [mặc] thử tấm áo ngày xuân,

Huống nữa hôm nay lại gặp tiết [hàn thực] mồng ba tháng ba.

Bánh rau mùa xuân, như ngọc hồng bày biện đầy mâm,

Đó là phong tục của nước An Nam [ta] từ xưa.


Ghi chú:


. Trương Hiển Khanh: Tức Trương Lập Đạo [張立道] sang sứ nước ta hai lần. Lần thứ nhất, vào năm 1265 để “tuyên dụ” chiếu chỉ của vua nhà Nguyên (vua Trần Thái Tông đã làm thơ tiễn trong dịp nầy.) Lần thứ hai, vào năm 1291 (dưới triều vua Trần Nhân Tông,) nhằm dụ vua nước ta qui phục và buộc vua Trần Nhân Tông phải sang chầu Bắc triều nhà Nguyên. Do kết quả ba lần nước ta chiến thắng oanh liệt giặc Nguyên-Mông, do thái độ mềm mỏng nhưng đỉnh đạc, kiên quyết của các vua nhà Trần, Trương Hiển Khanh buộc phải có thái độ kính nể. Trong bài thơ họa đáp với vua Trần, Trương Hiển Khanh đã viết:


安南雖小文章在。

未可輕談井底蛙.


An Nam tuy tiểu văn chương tại

Vị khả khinh đàm tỉnh để oa

(Nước An Nam tuy nhỏ nhưng có văn chương,

Chưa thể nói một cách nông cạn họ là ếch ngồi đáy giếng)

. Giá chi vũ [柘枝舞]: Có thể là một điệu múa cổ của dân tộc Việt Nam.

. Tam nguyệt tam [三月三]: Ngày mồng Ba tháng Ba, thường gọi là tiết Thanh Minh, cũng gọi là Tết hàn thực, là ngày đi tảo mộ sau Tết Âm lịch.

. Thái bính [菜餅]: Bánh rau. Một loại bánh bột làm với rau. Có thể là một loại bánh khúc ở thôn quê miền Bắc ngày xưa.


Phỏng Dịch Thơ Việt:


TẶNG BÁNH NGÀY XUÂN CHO TRƯƠNG HIỂN KHANH


Giá Chi múa xong, thử áo xuân

Lại thêm hàn thực, tiết thanh nhuần

Bánh rau như ngọc hồng ăm ắp

Tục Việt từ xưa đẹp bội phần.


7. 山 房 漫 興 其 二

是非念逐朝花落, 

名利心隨夜雨寒。

花盡雨晴山寂寂,

一聲啼鳥又春殘。


Phiên Âm:


SƠN PHÒNG MẠN HỨNG KỲ NHỊ


Thị phi niệm trục triêu hoa lạc,

Danh lợi tâm tùy dạ vũ hàn.

Hoa tận vũ tình sơn tịch tịch,

Nhất thanh đề điểu hựu xuân tàn.


Dịch Nghĩa:


MẠN HỨNG TẠI SƠN PHÒNG LẦN HAI


Nghĩ chuyện thị phi rơi rụng cùng với hoa buổi sáng,

Lòng [ham] danh lợi lạnh theo trận mưa đêm.

Hoa rụng hết, mưa đã tạnh, núi non im vắng,

Một tiếng chim kêu, [thế rồi] lại cảnh xuân tàn.


Phỏng Dịch Thơ Việt:


MẠN HỨNG TẠI SƠN PHÒNG LẦN HAI


Phải quấy rụng cùng hoa buổi sáng

Lợi danh lạnh theo mưa ban đêm

Mưa tạnh hoa tàn, núi im vắng

Một tiếng chim kêu, xuân úa thêm.


8. 登 寶 臺 山

地寂臺逾古,

時來春未深。

雲山相遠近,

花徑半晴陰。

萬事水流水,

百年心語心。

倚欄橫玉笛,

明月滿胸襟。


Phiên Âm:


ĐĂNG BẢO ĐÀI SƠN


Địa tịch đài du cổ,

Thời lai xuân vị thâm.

Vân sơn tương viễn cận.

Hoa kính bán tình âm.

Vạn sự thủy lưu thủy,

Bách niên tâm dữ [ngữ] tâm.

Ỷ lan hoành ngọc địch,

Minh nguyệt mãn hung khâm.


Dịch Nghĩa:


LÊN NÚI BẢO ĐÀI


Đất [nơi đây là nơi] hẻo lánh, [nên] đài [càng] thêm cổ kính, 

Theo thời tiết, mùa xuân [nơi đây] về chưa lâu.

Núi mây [nhìn] như xa, như gần,

Ngõ hoa nửa rợp bóng, nửa nắng chiếu.

Muôn việc như nước tuôn [theo] nước,

Trăm năm lòng lại nhủ lòng.

Tựa lan can nâng ngang chiếc sáo quý như ngọc,

Ánh trăng sáng rơi đầy trước ngực.


Ghi Chú:


Bảo Đài sơn [寶 臺 山]: Núi Bảo Đài. Địa danh nầy trùng tên rất nhiều nơi, còn có tên khác là Long Đại, thuộc châu Ái; ở Bảo Lộc cũng có; ở xã Động Mạc, huyện Vọng Danh, huyện Đông Triều, Hải Dương cũng có. Núi Bảo Đài trong bài thơ nầy, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đây là ngọn núi thuộc dãy núi ở Yên Tử, huyện Đông Triều, nay thuộc tỉnh Quảng Ninh.


Phỏng Dịch Thơ Việt:


LÊN NÚI BẢO ĐÀI


Đất vắng, lầu càng cũ

Xuân mới về chưa lâu

Bóng xa gần mây núi

Ngõ hoa rợp nắng chao

Nước trôi hoài thế sự

Lòng nhủ mãi kiếp nào

Lan can nâng sáo quý

Ngực sáng ánh trăng cao.


9. 早 梅 其 一

五出圓芭金撚鬚,

珊瑚沉影海鱗浮。

箇三冬白枝前面,

些一辨香春上頭。

甘露流芳癡蝶醒,

夜光如水渴禽愁。

姮娥若識花佳處,

桂冷蟾寒只麼休。


Phiên Âm:


TẢO MAI KỲ NHẤT


Ngũ xuất viên ba kim niễn tu,

San hô trầm ảnh hải lân phù.

Cá tam đông bạch chi tiền diện,

Tá nhất biện hương xuân thượng đầu.

Cam lộ lưu phương si điệp tỉnh, 

Dạ quang như thủy khát cầm sầu. 

Hằng Nga nhược thức hoa giai xứ

Quế lãnh thiềm hàn chỉ ma hưu!


Dịch Nghĩa:


MAI SỚM LẦN MỘT


Năm cánh hoa tròn thơm, nhụy hoa điểm sắc vàng,

[Như] bóng san hô chìm, [như] vảy cá biển nổi.

Cành hoa trắng xóa suốt ba tháng đông,

Sang đầu xuân, chỉ còn loáng thoáng một vài cánh thơm nhẹ.

Sương ngọt chảy mùi thơm, làm con bướm tỉnh giấc say đắm,

Ánh sáng ban đêm như nước, khiến con chim khát nước buồn bã.

Nếu Hằng Nga biết được dáng vẻ xinh đẹp của hoa mai,

Thì chẳng ưa gì cây quế với cung thiềm lạnh lẽo.


Ghi Chú:


. Hằng Nga [姮娥]: Theo sách cổ Hậu Hán Thư [後漢書], trong tích Hậu Nghệ [后羿] có vợ là Hằng Nga [姮娥] còn có tên là Thường Nga [嫦娥] lấy trộm thuốc của chồng rồi bay lên cung trăng, bị đọa thành con cóc (thiềm thừ.) Từ đó, cung trăng cũng có tên là “cung Thiềm.”


. Quế [桂]: Theo sách cổ Dậu Dương Tạp Trở [酉陽雜俎] chép rằng: Trong trăng có cây quế, cao 500 trượng. Vì thế, “quế” cũng là tên gọi của mặt trăng.


Phỏng Dịch Thơ Việt:


MAI SỚM LẦN MỘT


Tròn xoe năm cánh, nhụy vàng phơi

Chìm bóng san hô, vảy cá trồi

Đông ba tháng lạnh cành im trắng

Xuân một ngày hanh nhánh ấm ngời

Sương ngọt nức hương lay bướm dậy

Đêm ngời ánh nước khiến chim sầu

Hằng Nga nếu biết hoa mai đẹp

Bóng quế cung thiềm sẽ chán thôi.


10. 早 梅 其 二

五日驚寒懶出門,

東風先已到孤根。

影橫水面冰初泮,

花壓枝頭暖未分。

翠羽歌沉山店月,

畫龍吹濕玉關雲。

一枝迷入故人夢,

覺後不堪持贈君。


Phiên Âm:


TẢO MAI KỲ NHỊ


Ngũ nhật kinh hàn lãn xuất môn,

Đông phong tiên dĩ đáo cô côn [căn].

Ảnh hoành thủy diện băng sơ bạn,

Hoa áp chi đầu noãn vị phân.

Thúy vũ ca trầm sơn điếm nguyệt,

Họa long xuy thấp Ngọc Quan vân.

Nhất chi mê nhập cố nhân mộng,

Giác hậu bất kham trì tặng quân.


Dịch Nghĩa:


MAI SỚM LẦN HAI


Năm ngày sợ rét, lười ra khỏi cửa, 

Mà gió xuân đã sớm đến với gốc cây cô đơn.

Bóng ngả trên mặt nước, băng giá bắt đầu tan,

Cành hoa trĩu xuống đầu cành, hơi ấm chưa phân định rõ.

Giọng ca chim Thuý vũ lắng chìm [theo] ánh trăng ở quán trọ trong núi.

Tiếng sáo Hoạ long ẩm ướt đám mây Ngọc Quan.

Một cành hoa lạc vào giấc mộng người xưa,

Sau khi tỉnh giấc, không thể đem tặng bạn được.


Chú Thích:


. Thúy vũ [翠羽]: Tức “thúy vũ ngâm,” tên một từ khúc nổi tiếng ngày xưa. Cung điệu của khúc ngâm nầy còn thấy ở bài Trúc Sơn Từ [竹山祠] của Tưởng Tiệp [奬捷]. Lời đề tựa của ông nói: “Vương Quân Bản trao cho ta một khúc hát theo Việt điệu có tên là Tiểu Hoa Mai Dẫn, bảo ta lấy ý bay lên tiên, bước trong cõi hư không mà làm lời cho khúc hát…”


. Họa long [畫龍]: Có thể là một loại sáo hay tù và có vẽ hình con rồng. Sách Từ Hải [辞海] dẫn lời của Thẩm Ước [沈箹]và Từ Quảng [徐廣] nói rằng: “Tù và của người Hồ, chỗ tay cầm, vẽ con giao long có chân năm sắc.”


. Ngọc Quan [玉關]: Tên một cửa ải trên đường đi sang Tây vực [西域,] thuộc tỉnh Cam Túc [甘肃], nước Tàu. Ở đây, tác giả mượn cảnh để miêu tả tiếng sáo Họa Long làm ẩm ướt đám mây trên cửa ải.


. Hai câu thơ cuối, tác giả lấy ý trong điển tích “nhất chi xuân” [一枝春,] rút từ câu thơ của Lục Khải [陸啟] trong bài thơ “Tặng Phạm Diệp”[贈范曄]:


折梅逢驛使,

寄與隴頭人。

江南無所有,

聊贈一枝春。


(Phiên âm: Chiết mai phùng dịch sứ / Ký dữ lủng đầu nhân / Giang Nam hà sở hữu / Liêu tặng nhất chi xuân – Dịch nghĩa: Bẻ cành hoa mai, gặp được người đưa thư trạm / Gửi cho người ở Lủng Đầu / Giang Nam chẳng có gì cả / Chỉ tặng bạn một cành xuân).


Trong bài thơ “Tảo Mai Kỳ Nhị” nầy, tác giả mượn ý trên, nhưng đã chuyển ý vào trong cõi mộng rất độc đáo: Nhất chi mê nhập cố nhân mộng / Giác hậu bất kham trì tặng quân. Dịch nghĩa: Một cành hoa lạc vào giấc mộng người xưa / Sau khi tỉnh giấc, không thể đem tặng bạn được.


Phỏng Dịch Thơ Việt:


MAI SỚM LẦN HAI


Năm ngày trốn lạnh, biếng rời nhà

Gió xuân vừa ghé gốc cây già

Mặt nước bóng chao, băng sớm rã

Cành hoa cánh trĩu, ấm chưa ra

Thúy Vũ chim vờn, trăng núi ẩn

Họa Long sáo ướt, Ngọc Quan nhòa

Cành hoa lạc mộng người xưa khuất

Tỉnh giấc làm sao tặng bạn xa!


_________________


Nguyễn Lương Vỵ chuyển dịch thơ Việt

Nguồn: thuvienhoasen.org

MẠCH NGUỒN THIỀN PHÁI TRÚC LÂM

 

1. XÉT XA VỀ TRƯỚC

 

Như chúng ta đã biết, Thiền phái Trúc Lâm vốn dung hợp ba dòng Thiền đã có từ trước:

 

TỲ NI ĐA LƯU CHI – Thế kỷ 6:

 

Cuối thế kỷ thứ sáu, Thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi người Nam Thiên Trúc sang Trung Hoa, đắc pháp với Tam Tổ Tăng Xán và được Tam Tổ chỉ dạy về phương Nam truyền đạo. Vâng lời dạy của Tam Tổ, Sư đến Việt Nam ở chùa Pháp Vân tháng Ba năm Canh Tý 580, sau đó truyền pháp cho Thiền sư Pháp Hiền, người Việt Nam, mở đầu cho dòng Thiền tông giáo ngoại biệt truyền tại đất Việt.

 

Hệ truyền thừa gồm 19 thế hệ như sau:

 

- Thế hệ 1: Tỳ Ni Đa Lưu Chi (mất 594).

- Thế hệ 2: Pháp Hiền (mất 626).

- Thế hệ 3: Huệ Nghiêm, người truyền pháp cho Thanh Biện của thế hệ thứ tư. Huệ Nghiêm là một trong ba trăm học trò của Pháp Hiền, sống đồng thời với Pháp Đăng, trước vốn đã là thầy của Thanh Biện. Huệ Nghiêm ở chùa Sùng Nghiệp, còn Pháp Đăng ở chùa Phổ Quang, có thể Pháp Đăng cũng là học trò của Pháp Hiền.

- Thế hệ 4: Thanh Biện (mất 686).

- Thế hệ 5: một người, khuyết lục.

- Thế hệ 6: một người, khuyết lục.

- Thế hệ 7: Long Tuyền, chùa Nam Dương.

- Thế hệ 8: Định Không (mất 808) và hai người khuyết lục.

- Thế hệ 9: Thông Thiện và hai người khuyết lục, trong số này có thể có Phù Tài chùa Long Thọ, thầy của Pháp Thuận.

- Thế hệ 10: La Quý An (mất 936), Pháp Thuận (mất 991), Mahamaya (mất 1029) và một người khuyết lục (có thể là Vô Ngại, thầy của Sùng Phạm).

- Thế hệ 11: Thiền Ông (mất 979), Sùng Phạm (mất 1087), và hai người khuyết lục (có thể là Trí Hiền, giáo sư của Đạo Hạnh và Pháp Bảo, thầy của Thuần Chân).

- Thế hệ 12: Vạn Hạnh (mất 1018), Định Tuệ (mất ?), Đạo Hạnh (mất 1112), Trì Bát (mất 1117), Thuần Chân (mất 1101) và hai vị khuyết lục.

- Thế hệ 13: Huệ Sinh (mất 1063), Thiền Nham (mất 1163), Minh Không (mất 1141), Bản Tịch (mất 1140) và hai người khuyết lục (có thể là Pháp Thông bạn đồng môn của Huệ Sinh và Biện Tài, giáo sư của Khánh Hỷ).

- Thế hệ 14: Khánh Hỷ (1142) và bốn vị khuyết lục, trong đó có thể có Tính Nhãn và Tính Như, hai người bạn đồng môn và Quảng Phúc, thầy của Giới Không.

- Thế hệ 15: Giới Không (mất ?), Pháp Quang (mất 1174) và một người khuyết lục, có lẽ là Thảo Nhất chùa Tĩnh Lự, thầy của Chân Không.

- Thế hệ 16: Trí (mất ?), Chân Không (mất 1100), Đạo Lâm (mất 1203).

- Thế hệ 17: Diệu Nhân (mất 1113), Viên Học (mất 1136), Tĩnh Thiền (mất 1193) và một người khuyết danh.

- Thế hệ 18: Viên Thông (mất 1151) và một người khuyết lục, có lẽ là Định Hương, thầy của Y Sơn.

- Thế hệ 19: Y Sơn (mất 1213) và một người khuyết lục.
(Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, Tập I, Trang 138-140)

 

VÔ NGÔN THÔNG – Thế kỷ 9:

 

Do Thiền sư Vô Ngôn Thông, người Trung Hoa, đệ tử đắc pháp của Tổ Bá Trượng truyền sang. Sách Truyền Đăng Lục gọi là Bất Ngữ Thông. Năm 820, Sư từ Quảng Châu qua Việt Nam ở chùa Kiến Sơ, làng Phù Đổng, huyện Tiên Đức, Bắc Ninh, gặp nhà sư Lập Đức tiếp nhận được tông chỉ, Sư truyền pháp và đổi tên là Cảm Thành. Từ đó, Việt Nam có thêm dòng Thiền Vô Ngôn Thông, cũng gọi là dòng Kiến Sơ.

 

Hệ truyền thừa gồm 17 thế hệ như sau:

 

- Thế hệ 1: Vô Ngôn Thông (mất 826).

- Thế hệ 2: Cảm Thành (mất 860).

- Thế hệ 3: Thiện Hội (mất 900).

- Thế hệ 4: Vân Phong (mất 959).

- Thế hệ 5: Khuông Việt Chân Lưu (mất 1011) và một người khuyết lục.

- Thế hệ 6: Đa Bảo (mất ?) và một người khuyết lục.

- Thế hệ 7: Định Hương (mất 1051), Thiền Lão (mất ?) và một người khuyết lục.

- Thế hệ 8: Viên Chiếu (mất 1090), Cứu Chỉ (mất 1067), Bảo Tích (mất 1034), Minh Tâm (mất 1034), Quảng Trí (mất 1090), Lý Thái Tông (mất 1028) và một người khuyết lục.

- Thế hệ 9: Thông Biện (mất 1134), Mãn Giác (mất 1096), Ngộ Ấn (mất 1088) và ba người khuyết lục.

- Thế hệ 10: Đạo Huệ (mất 1172), Biện Tài (mất ?), Bảo Giám (mất 1173), Không Lộ (mất 1141), Bản Tịnh (mất 1177) và ba người khuyết lục.

- Thế hệ 11: Minh Trí (mất 1190), Tín Học (mất 1190), Tịnh Không (mất 1170), Đại Xả (mất 1180), Tĩnh Lực (mất 1175), Trí Bảo (mất 1193), Trường Nguyên (mất 1165), Tịnh Giới (mất 1207), Giác Hải (mất?), Nguyện Học (mất 1174) và ba người khuyết lục.

- Thế hệ 12: Quảng Nghiêm (mất 1190) và sáu người khuyết lục.

- Thế hệ 13: Thường Chiếu (mất 1203) và sáu người khuyết lục.

- Thế hệ 14: Thông Thiền (mất 1228), Thần Nghi (mất 1216) và ba người khuyết lục.

- Thế hệ 15: Tức Lự (mất ?), Hiện Quang (mất 1221) và ba người khuyết lục, trong đó có thể có Ẩn Không, đệ tử của Thần Nghi.

- Thế hệ 16: Ứng Vương (mất ?) và sáu người khuyết lục, trong đó có thể có Đạo Viên, đệ tử của Hiện Quang.

- Thế hệ 17: Tiêu Diêu (mất ?), Giới Minh (mất ?), Giới Viên (mất ?), Nhất Tông Quốc Sư (mất ?).

(Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, Tập I)

 

THẢO ĐƯỜNG – Thế kỷ 11:

 

Do Thiền sư Thảo Đường, một vị tăng được phát hiện trong nhóm tù nhân bắt được của Chiêm Thành mà vua Lý Thánh Tông đã đem quân chinh phạt năm 1069. Sư cũng là người Trung Hoa, thuộc truyền thống của Thiền sư Tuyết Đậu – Minh Giác, tông Vân Môn.

 

Hệ thống truyền thừa gồm sáu thế hệ như sau:

 

- Thế hệ 1: Thảo Đường.

- Thế hệ 2: Ba người: Lý Thánh Tông, Bát Nhã, Ngộ Sát.

- Thế hệ 3: Bốn người: Ngô Ích, Thiệu Minh, Không Lộ, Đinh Giác.

- Thế hệ 4: Bốn người: Đỗ Vũ, Phạm Anh, Lý Anh Tông, Đỗ Đô.

- Thế hệ 5: Ba người: Trương Tam Tạng, Chân Huyền, Đỗ Thường.

- Thế hệ 6: Bốn người: Hải Tịnh, Lý Cao Tông, Nguyễn Thức, Phạm Phụng Ngự.

(Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, Tập I)

* * *

 

Trên đây là ba dòng Thiền đã hội nhập vào một Thiền phái Trúc Lâm. Tuy nhiên, nếu xét xa về trước nữa, thì mạch nguồn Thiền tông này phát xuất từ Phật Thích Ca truyền cho Tổ Ca Diếp và chảy dài xuống ( Xem trang 53 ).

 

2. MẠCH NGUỒN TRỰC TIẾP:

 

Thiền phái Trúc Lâm tuy do Đại đầu đà Trúc Lâm làm Sơ Tổ, nhưng mạch nguồn Yên Tử vốn bắt đầu từ Thiền sư Hiện Quang, chính Sư là người khai sơn chùa Vân Yên, sau đổi là Hoa Yên, trên núi Yên Tử. Sư là đệ tử nối pháp của Thiền sư Thường Chiếu, trước ở núi Từ Sơn, sau mới đến Yên Tử và chính là Tổ ban đầu của dòng truyền Yên Tử.

 

Kế tiếp Thiền sư Hiện Quang là Quốc Sư Trúc Lâm mà vua Trần Thái Tông gọi là Đại sa môn Trúc Lâm trong chuyến vượt thành lên núi của vua đã thuật lại trong bài Tựa Thiền Tông Chỉ Nam. Đa số người đồng cho là Thiền sư Đạo Viên hay Viên Chứng.

 

Tiếp theo Quốc Sư Trúc Lâm, là Quốc Sư Đại Đăng, người đã từng về kinh thành Thăng Long hành đạo và tiếp nhận thêm dòng thiền Lâm Tế từ Thiền sư Thiên Phong người Trung Hoa.

 

Tiếp theo Quốc sư Đại Đăng, là Thiền sư Tiêu Diêu, thầy của Thượng Sĩ Tuệ Trung, cũng gọi là Đại sư Phúc Đường ở Tịnh xá Phúc Đường mà Thượng Sĩ có hai bài thơ nói đến. Tiêu Diêu cũng là người đắc pháp với Ngài Ứng Thuận, dòng Vô Ngôn Thông.

 

Kế tiếp Thiền sư Tiêu Diêu, là Thiền sư Huệ Tuệ, mà theo Nguyễn Lang, tác giả Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, đã cho là, Sư vốn làm Hòa thượng Đường đầu truyền giới pháp cho vua Trần Nhân Tông khi vua xuất gia.

 

Sau Thiền sư Huệ Tuệ, mới chính là Đại đầu đà Trúc Lâm – Trần Nhân Tông.

 

Kế đó là: 

 

- Tổ sư Pháp Loa

- Tổ sư Huyền Quang

- Quốc sư An Tâm

- Quốc sư Phù Vân (hiệu là Tĩnh Lự)

- Quốc sư Vô Trước

- Quốc sư Quốc Nhất

- Tổ sư Viên Minh

- Tổ sư Đạo Huệ

- Tổ sư Viên Ngộ

- Quốc sư Tổng Trì

- Quốc sư Khuê Thám

- Quốc sư Sơn Đằng

- Đại sư Hương Sơn

- Quốc sư Trí Dung

- Tổ sư Tuệ Quang

- Tổ sư Chân Trú

- Đại sư Vô Phiền.

(Đại Nam Thiền Uyển Truyền Đăng Tập Lục, Phúc Điền)

 

Vậy xét theo dòng truyền Yên Tử thì Đại đầu đà Trúc Lâm thuộc thế hệ thứ sáu, nhưng đến Ngài, Ngài đã thống nhất các phái thiền đã có thành một thiền phái Trúc Lâm, lấy Ngài làm Sơ Tổ. Từ đây, Việt Nam thực sự đã có một dòng Thiền Phật giáo của người Việt, do chính người Việt làm Tổ; cũng như bên Trung Hoa, những dòng thiền Trung Hoa do người Trung Hoa làm Tổ:

 

Tông Quy Ngưỡng, do Thiền sư Linh Hựu ở Quy Sơn (771-853) làm Tổ.

Tông Lâm Tế, do Thiền sư Nghĩa Huyền ở Lâm Tế (?-867) làm Tổ.

Tông Tào Động, do Thiền sư Lương Giới ở Động Sơn (807 – 869) làm Tổ.

Tông Vân Môn, do Thiền sư Văn Yển ở Vân Môn (? – 949) làm Tổ.

Tông Pháp Nhãn, do Thiền sư Văn Ích ở Viện Thanh Lương (885 – 958), khi tịch được ban tên thụy là Thiền sư Đại Pháp Nhãn làm Tổ.

Song đó là nói theo truyền thống lịch sử, nếu nói thẳng trong lẽ thật sâu xa, chính bắt nguồn Thiền phái Trúc Lâm-Yên Tử là từ sự tỏ ngộ của vua Trần Nhân Tông. Chính khi vua hỏi Thượng Sĩ Tuệ Trung:

- Thế nào là tông chỉ của việc bổn phận?

Thượng Sĩ đáp:

- Soi sáng lại chính mình, đó là việc bổn phận, chẳng từ nơi nào khác để được.

 

Ngay đó vua nhận được tông chỉ Thiền, mở sáng con mắt đạo. Từ sức sống đó, vua đã sống vượt qua mọi biến chuyển của thế gian, để rồi chuyển mình thành thiền sư, truyền mạch sống cho một dòng thiền Việt Nam chảy mãi đến ngày nay. Nếu không có sức sống chân thật kia, thử hỏi dòng thiền Trúc Lâm có được mạch sống thiền đúng như nghĩa của nó, hay chỉ là trên hình thức chữ nghĩa? Do đó, khai thác mạch nguồn Thiền phái Trúc Lâm-Yên Tử, chúng ta không thể chỉ khai thác trên bề mặt lịch sử dễ thấy, hoặc trên hình thức phân tích theo chiều suy nghĩ của tình thường, mà còn phải khai thác phần sâu xa vượt ngoài chữ nghĩa ấy! Chúng ta hãy lặng lòng lắng nghe lời mở đầu cho buổi đại tham của Sơ Tổ Trúc Lâm tại chùa Sùng Nghiêm, tức mở đầu truyền mạch sống thiền cho đại chúng:

 

“Mở đầu pháp hội, Ngài niêm hương báo ân xong, bước lên tòa. Vị Thượng thủ bạch chùy, v.v…, rồi Ngài nói:

 

- Phật Thích Ca Văn vì một “việc lớn” mà xuất hiện giữa cõi đời này, suốt 49 năm chuyển động đôi môi (nói pháp) mà chưa từng nói một lời. Nay ta vì các ông lên ngồi tòa này, biết nói chuyện gì đây?”

 

Chúng ta thấy một điểm đặc biệt khác thường. Trước khi nói pháp, Ngài chặn đầu trước, dẫn Phật Thích Ca 49 năm nói pháp nhưng vốn chưa từng nói một lời nào, vậy thì hiện tại sẽ nói cái gì đây? Những điều Ngài sắp nói là có nói hay không?

 

Chính đây là một cách khéo léo nhằm nhắc nhở người nghe phải nghe thấu qua chữ nghĩa, nghe đến tột trước khi mở miệng kìa! Đó mới thực là sức sống thiền mà Ngài muốn truyền đạt. Còn chữ nghĩa nói ra là việc bất đắc dĩ, là ngọn ngành về sau, bởi vì người chưa thể thấu tột cội nguồn kia nên phương tiện phải nói. Song nói mà ý vốn không ở nơi lời. Tông chỉ thiền hay yếu chỉ giáo ngoại biệt truyền chính đã thổ lộ trong đó. Người lanh mắt hẳn bắt gặp ngay.

 

Mạch nguồn chân thật của Thiền phái Trúc Lâm chính là đó.

 

Do đó, người muốn thâm nhập mạch nguồn Thiền phái Trúc Lâm-Yên Tử, đòi hỏi phải là một HÀNH GIẢ, không thể là một HỌC GIẢ.

________________

Nguồn: thuongchieu.net

THIỀN PHÁI TRÚC LÂM YÊN TỬ - NHỮNG NÉT NỔI BẬT

1. ÔNG VUA ĐI TU CHỨNG NGỘ LÀM TỔ:

 

Đây là một nét đặc sắc ít có mà dân tộc Việt đã có. Từ một ông vua, mà không phải ông vua tầm thường; trái lại, một ông vua anh hùng của dân tộc, một ông vua đã lên tột đỉnh vinh quang, quyền uy, danh vọng đều đứng đầu thiên hạ, nhưng sẵn sàng bỏ lại tất cả không nuối tiếc, để sống đời xuất gia thoát tục, tu hành khổ hạnh, đạt đạo làm Tổ một dòng thiền.

 

 

Trong bài Sơn Phòng Mạn Hứng, tức Khởi Hứng Nơi Phòng Trên Núi, Ngài đã viết:

 

Thị phi niệm trục triêu hoa lạc,

Danh lợi tâm tùy dạ vũ hàn.

Hoa tận vũ tình sơn tịch tịch,

Nhất thanh đề điểu hựu xuân tàn.

 

Nghĩa:

 

Phải quấy niệm rơi theo hoa sớm,

Lợi danh tâm lạnh với mưa đêm.

Hoa sạch, mưa dừng non vắng lặng,

Chim kêu một tiếng lại xuân tàn.

 

Với Đại đầu đà Trúc Lâm, sau khi xuất gia ở núi, Ngài cảm thấy hứng khởi, nào những niệm “phải quấy” trong đó bao gồm “tốt xấu, hơn thua, …” đến đây nó rơi rụng nhẹ nhàng theo hoa buổi sáng sớm rụng; tâm lợi danh nay cũng đã lạnh đi cùng với trận mưa đêm, hết còn nóng bỏng, khởi động.

 

Và cuối cùng thì hoa rơi sạch, mưa dừng tạnh, chỉ còn lại một cảnh núi non vắng lặng, tình đời khó đến được. Chợt một tiếng chim kêu vang lên, và mùa xuân đã tàn. Trong cảnh lặng lẽ im vắng đó, một tiếng chim bỗng kêu vang lên, ai nghe được “tiếng kêu ấy”? Hay là cũng tầm thường tàn theo mùa xuân kia? Đó là chỗ niệm phải quấy, tâm lợi danh đều dứt bặt ở trong ấy.

 

Rồi trong bài Đắc Thú Lâm Tuyền Thành Đạo Ca, tức Khúc Ca Nhận Được Niềm Vui Thích Thành Đạo ở Suối Rừng, Ngài đã thuật lại cảnh sống:

 

Yên bề phận khó,

Kiếm chốn dưỡng thân.

Khuất tịch non cao,

Náu mình sơn dã.

Vượn mừng hủ hỉ,

Làm bạn cùng ta,

Vắng vẻ ngàn kia,

Thân lòng hỷ xả.

 

Tức là yên sống trong cảnh núi cao, rừng vắng, làm bạn với vượn, với khỉ mà cảm thấy vui với đạo.

 

Và sống đạm bạc:

 

Dốc chí tu hành,

Giấy sồi vó vá.

 

Cho đến:

 

Thân này chẳng quản,

Bữa đói bữa no.

Địa thủy hỏa phong,

Dầu là biến hóa.

 

Tức là mặc áo giấy, áo vải thô vá víu tạm che thân mà để hết chí vào việc tu hành. Thân này ăn uống bữa đói, bữa no cũng tốt, không có gì phải thấy buồn khổ. Cả đến đất nước gió lửa trong thân có biến đổi vô thường cũng không bận lòng. Một ông vua đã sống thực sự một đời sống xuất gia như thế!


Trước kia, ở Ấn Độ, một ông hoàng thái tử bỏ cung vàng điện ngọc và cả ngôi báu sắp sẵn để đi tu giác ngộ thành Phật, thì đây, một ông vua đi tu ngộ đạo làm Tổ, trên đời dễ chi tìm được trường hợp thứ hai lặp lại! Điều đó càng làm tăng giá trị cho chân lý Phật dạy, nếu Phật pháp không có gì cao siêu đáng quý, thì cớ gì thu hút một ông vua như thế? Nên nhớ, đây là một ông vua trí tuệ anh minh, chớ không phải ông vua u mê đụng đâu tin đó. Nghĩa là, trong Phật pháp phải có một chân lý sáng ngời, một sức sống siêu việt hơn mọi thứ đã có ở thế gian kia, Ngài mới sẵn sàng đổi lấy dễ dàng như vậy!

 

Bài kệ Ngài ngâm trong buổi đại tham ở chùa Sùng Nghiêm đã nói lên điều ấy:

 

Thân như hô hấp tỷ trung khí,

Thế tự phong hành lãnh ngoại vân.

Đỗ quyên đề đoạn nguyệt như trú,

Bất thị tầm thường không quá xuân.

 

Nghĩa:

 

Thân như hơi thở ra vào mũi,

Đời tợ gió đùa mây núi xa.

Tiếng quyên từng chập trăng sáng rỡ,

Nào phải tầm thường xuân luống qua.

 

Đây là Ngài muốn nhắc nhở cùng người: thân này tạm bợ, mạng sống chỉ gởi trong từng hơi thở ra vào, không có gì đáng bảo đảm. Một hơi thở ra không hít vào, thì Ô hô! Ra nghĩa địa thôi! Vậy có gì đáng quý trong đó để bám víu?

 

Còn cuộc đời như gió thổi đám mây trôi ngoài đỉnh núi xa kia, bay qua, rồi tan đó, đâu là chỗ nương tựa vĩnh viễn lâu dài? Ở trong đó để tranh giành được mất, hơn thua, rốt cuộc có được gì?

 

Tuy nhiên, Phật pháp nếu chỉ thấy có bấy nhiêu, thì cũng thật buồn chán, có gì cao quý đáng để thu hút mọi người? Chính hai câu sau là sức sống cuốn lấy bao nhiêu người sẵn sàng bỏ lại những thú vui tạm bợ của thế gian. Hãy lắng nghe kỹ, trong cái vô thường tạm bợ kia, nhưng không phải hoàn toàn trống rỗng đâu nhé, mà kìa! Tiếng chim đỗ quyên đang từng chập, từng chập kêu mãi trong đêm, nhắc nhở ai kia, hãy nghe kỹ: “Có một vầng trăng sáng ngời như ban ngày đang chiếu khắp, ai thấy chăng?” Nghe tiếng chim, nhớ lại vầng trăng sáng ngời, đâu phải là một cuộc sống hoàn toàn vô nghĩa? Đâu phải là sống một mùa xuân tầm thường qua suông. Mà trong đó còn có một cái vượt ngoài cái tầm thường đó!

 

Quan trọng là chúng ta có nghe trở lại để phát hiện vầng trăng sáng ngời vẫn đang ngự giữa trời tâm thênh thang ấy chăng? Sống trong vầng trăng này, là làm chủ trở lại cuộc sống vô thường, tự tại đi trong thế gian, còn gì vui sướng hơn? Chính Sơ Tổ Trúc Lâm đã nhận được điều ấy và đang nhắc lại cho người!

 

Và trong bài Đắc Thú Lâm Tuyền Thành Đạo Ca, Ngài cũng đã thổá lộ:

 

Học đòi chư Phật,

Cho được viên thành.

Xướng khúc vô sanh,

An thiền tiêu sá.

 

Nghĩa là, học theo chư Phật cho được thành tựu viên mãn, sống tự tại trong sanh tử, an ổn thong dong sạch mọi não phiền. Đó là chỗ tâm tình thế gian không dễ gì biết đến được, chỉ người thực chứng trong ấy mới tự thầm cảm thông thôi. Chính thế, Ngài đã chứng minh được, vì sao Ngài sẵn sàng bỏ lại mọi thú vui của thế gian kia.
Phật giáo Việt Nam đã có được một nét đặc sắc đó, quả là không hổ thẹn với Phật giáo các nước bạn!

 

2. THỐNG NHẤT CÁC DÒNG THIỀN THÀNH MỘT DÒNG THIỀN VIỆT NAM: ĐEM LẠI NIỀM TỰ TIN.


Đại đầu đà Trúc Lâm đã dung hợp các dòng thiền thành một thiền phái Trúc Lâm, phá đi ý niệm vọng ngoại, trọng theo cái bên ngoài. Không phải Tổ người nước ngoài mới hay, Tổ người Việt Nam không hay. Không phải dòng thiền từ nước ngoài truyền vào mới hay, dòng thiền trong nước không hay. Cốt là người truyền thiền có thực tu, thực ngộ hay không? Với tinh thần căn bản của Thiền tông là: “Trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật”, tức chỉ thẳng ngay tâm người, ai nhận được bản tánh thì đủ cái nhân thành Phật. Vậy thành Phật là ở ngay trong tự tánh, không ở nơi nước này hay nước nọ, hoặc nơi người xứ này hay người xứ kia. Hơn nữa, đã chỉ thẳng tâm người, thì ai không có tâm? Đã có tâm tức có thiền, nếu chúng ta sáng được tâm tức đạt yếu chỉ thiền, đâu phải tự khinh mình?

 

Đó là đem lại niềm tự tin cho dân tộc. Thiền dạy phải tự tin chính mình là gốc, thì ở đây thiền phái Trúc Lâm đã ứng dụng điều đó vào thực tế.

 

Thiền sư Nghĩa Huyền, Tổ tông Lâm Tế từng bảo: “Người học hiện nay chẳng nhận được là bệnh ở chỗ nào? Bệnh ở chỗ chẳng tự tin. Nếu các ông tự tin chẳng kịp liền lăng xăng theo tất cả cảnh chuyển, bị muôn cảnh khác chi phối, chẳng được tự do. Nếu các ông hay thôi được niệm rong ruổi chạy tìm tâm liền cùng Phật, Tổ không khác. Các ông muốn biết Phật, Tổ chăng? Chỉ là: người đang nghe pháp ở trước mặt ông đó!”

 

Trong đây, Tổ Lâm Tế đã chỉ thẳng rất rõ ràng, người tu không sáng tỏ được đạo chỉ vì chẳng tự tin, cứ lo tìm cầu bên ngoài, bị cảnh duyên chuyển xa mất gốc. Phật, Tổ chân thật vốn ở ngay nơi chính mình đây thôi, ngay người đang nghe pháp hiện tiền sáng rỡ đó! Mà người này ai không có? Không có tức thành gỗ đá sao? Đã có, tại sao không dám tự tin trở lại?

 

Sơ Tổ Trúc Lâm cũng từng nói: “Phàm thánh vốn đồng một mối, phải quấy đâu có hai đường. Cho nên biết, tội phước vốn không, cứu cánh nhân quả chẳng thật. Người người sẵn đủ, kẻ kẻ trọn thành. Phật tánh Pháp thân như hình như bóng, tùy ẩn tùy hiện, chẳng tức chẳng lìa. Lỗ mũi duỗi thẳng xuống, chân mày ngang mặt, ở trên mắt mà không dễ gì nhìn thấy. Cần phải tìm xét, đâu chẳng nghe nói: ‘Ba ngàn pháp môn đồng về tấc vuông, hà sa diệu dụng thảy ở nguồn tâm.’ Nên nói: ‘Cửa giới, cửa định, cửa tuệ ông không thiếu sót, cần phải quán trở lại nơi mình. Nào những tiếng ho, tiếng tằng hắng, nhướng mày chớp mắt, tay cầm chân đi, ấy là tánh gì? Biết được tánh này, ấy là tâm gì?’…

 

… Các nhân giả! Ngày tháng dễ dàng qua, mạng người không chờ đợi, sao cam ăn cháo, ăn cơm mà chẳng rõ việc bát việc muỗng? Tham!”

 

Trong đây, Sơ Tổ Trúc Lâm cũng chỉ rõ, “việc thật ấy” ai ai cũng có, nó ở ngay trên mặt mình và trong tất cả mọi cử chỉ, hành động hàng ngày không từng thiếu thốn. Mỗi người ăn cơm, ăn cháo mà không rõ được việc bát, việc muỗng là sao? Chỉ vì cứ lo nghĩ đến ăn thôi, còn chính cái gì đang phóng quang cầm bát, động muỗng mà chưa từng mê kia? Tự tin trở lại ngay đây tức gặp Phật, gặp Tổ ngay trong chính mình, khỏi phải tìm đâu khác. Làm Phật, làm Tổ chính từ trong đó, đâu phải ở thân tướng Ấn Độ hay Trung Hoa.

 

Do đó, dung hợp các dòng thiền thành một dòng thiền Việt Nam, trong ý nghĩa thầm kín sâu xa, là một nhát đánh động lòng tự tin của dân tộc, đồng thời trừ đi niệm phân biệt đây kia. Không phái này chỉ trích phái nọ, chỉ ngộ bản tâm là chính. Không tông môn này đối chọi tông môn kia, chỉ sáng tâm là trên. Quả thật, chính đây là một nét chấm phá làm nổi bật nền Phật giáo Việt Nam và đó là một ngọn đèn sáng cho những thế hệ sau này cần soi sáng.

 

3. THIỀN GIÁO SONG HÀNH: SÁNG TẠO KHÔNG BẮT CHƯỚC Y KHUÔN.


Dám can đảm chuyển hóa các dòng thiền thành một dòng thiền Việt Nam, lột bớt sắc thái ảnh hưởng từ bên ngoài. Các ngài tu hành vẫn ngộ đạo, vẫn đạt lý thiền sâu xa, nhưng cần giảng kinh thuyết pháp thì sẵn sàng giảng kinh thuyết pháp, cần khai thị thiền cơ thì khai thị thiền cơ. Cho đến cần dạy người làm lành lánh dữ tu thập thiện để chuyển hóa đời sống xấu ác mà vươn lên thì tùy duyên hướng dẫn, không cố chấp một chiều hay bắt chước rập khuôn. Đây là một điểm sáng tạo đúng với tinh thần thiền, không đóng khung chết một chỗ.

 

Nhìn lại các thiền sư Trung Hoa ít thấy các Ngài giảng kinh, nhưng thiền sư Trúc Lâm-Yên Tử thường giảng kinh. Điều ngự từng giảng Truyền Đăng Lục và sai Quốc sư Đạo Nhất giảng kinh Pháp Hoa tại chùa Vĩnh Nghiêm. Thiền sư Pháp Loa giảng các kinh Niết Bàn, Lăng Già, Pháp Hoa và nhất là Hoa Nghiêm, Sư giảng nhiều lần. Năm 1330, Sư đang giảng kinh Hoa Nghiêm tại An Lạc Tàng Viện, cảm thấy sức yếu, bèn mời trưởng lão Bích Phong giảng thay. Thiền sư Huyền Quang cũng từng giảng kinh Lăng Nghiêm.

 

Bởi Trung Hoa, ngoài Thiền tông đã có các tông thuộc về Giáo, ai cần hiểu giáo thì đến đó học. Còn ở Việt Nam không như vậy, chỉ một Giáo hội với Thiền phái Trúc Lâm như thế thì người muốn hiểu rõ kinh giáo sẽ học ở đâu? Lại Đại tạng kinh mới thỉnh về đó để làm gì? Để làm sống dậy lời dạy của đức Phật, thì thiền sư là những người tu hành chân thật ngộ đạo, do đó càng sáng tỏ lý kinh rõ ràng, chính xác hơn, thấu tột những nghĩa lý sâu xa khó thấy, từ đó các ngài giảng kinh càng giúp cho người nghe hiểu thấu kinh cặn kẽ sâu hơn. Đọc sớ giải sao bằng nghe trực tiếp những lời sống từ nơi tâm thiền sáng ngời của các ngài tỏa ra!

 

Như có vị tăng hỏi Điều Ngự:

 

- Đại tôn đức khổ nhọc tu hành đã trải qua nhiều năm, đối với sáu thông của Phật, Ngài đã được mấy thông?

 

Ngài đáp:

 

- Cũng được sáu thông.

 

- Năm thông kia xin gác lại, thế nào là tha tâm thông?

 

- Đầy cả cõi nước, trong đó chúng sanh có bao nhiêu thứ tâm, Như Lai đều biết hết, Như Lai đều thấy hết.

 

Vị tăng đưa nắm tay lên nói:

 

- Đều biết hết, thấy hết, vậy biết cái này có vật gì?

 

Ngài đáp:

 

- Như có như không, chẳng phải không chẳng phải sắc.

 

Chúng ta thấy, trong đây Điều Ngự giải tha tâm thông vốn vượt ngoài chỗ giải thích thông thường theo sớ giải. Chỗ tha tâm thông này là chỗ sống của thiền sư, là chỗ thể nghiệm của người tỏ ngộ, do đó hiểu theo chữ nghĩa thì giải thích không thể tới được. Chúng sanh đầy dẫy trong các cõi nước có bao nhiêu thứ tâm, Như Lai thảy đều biết hết, thấy hết, những tâm đó đều là tâm hư dối thôi. Nhưng cái gì Rõ Biết mọi tâm hư dối kia? Nó có thuộc trong các tâm hư dối ấy không? Đây là chỗ tha tâm thông của Ngài muốn nói.

 

Ông tăng giơ nắm tay lên định đánh lừa Ngài, nhưng đâu thể qua mắt được bậc đã sáng mắt. Nắm tay đó có thể gạt được người mê nhưng với Ngài đã nhìn thấy thấu trước khi giơ nắm tay lên nữa kìa! Học kinh mà thấu đến chỗ đó, thử hỏi có dễ dàng chăng?

 

Như vậy, cần giảng kinh, các ngài giảng kinh thấu đáo, nếu ai muốn trực tiếp vào thiền, các ngài sẵn sàng khai thị trực tiếp, như những đoạn nhân duyên trong Tam Tổ Trúc Lâm đã ghi lại. Đây chính là một điểm đặc sắc, không một bề hướng ngoại mà quên gốc, càng hợp với lý thiền.

 

4. TINH THẦN NHẬP THẾ. TĂNG TỤC ĐỀU CÓ PHẦN


Phật giáo đời Trần hay Thiền phái Trúc Lâm-Yên Tử không hạn cuộc sự giác ngộ giữa hàng xuất gia và tại gia. Người xuất gia tu hành đúng mức, ngộ đạo được; người tại gia tu hành đúng mức cũng ngộ được. Ở núi rừng hay chốn đế đô, thành thị đều có thể sáng đạo được cả. Bởi, đúng như chủ trương của Thiền tông: lấy Tâm làm Tông. Ngộ đạo hay thành Phật, làm Tổ, làm Thiền sư vốn ở ngay tự tâm chớ không đâu khác, nên ai có tâm đều có phần. Xuất gia hay tại gia, khéo soi lại chính mình, sáng được tâm thì đều có phần giác ngộ như nhau, chỗ thấy vẫn không hai. Bằng chứng cụ thể:

 

Vua Trần Thái Tông, đang ở trên ngôi vua, công việc bề bộn, vẫn công phu sáng được lý thiền. Chính vua đã tự thuật trong bài Tựa Thiền Tông Chỉ Nam: “Trẫm thường đọc kinh Kim Cang đến câu: ‘Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm’, trong khoảng để quyển kinh xuống trầm ngâm, bỗng nhiên tự ngộ. Liền đem chỗ ngộ này viết thành bài ca, đề tên là Thiền Tông Chỉ Nam.” Và ánh sáng đó đã được vua thể hiện trong những phần đối đáp và tụng cổ … Trong Khóa Hư lục, chúng ta đọc sẽ thấy rõ, chớ không phải Ngài chỉ nói suông.

 

Trần Thánh Tông cũng sáng được lý thiền ngay trong cung vua. Vua đã tự thuật trong bài kệ:

 

Tự tùng quán giác nhập thiền lưu,

Đả ngõa toản quy một ngoại cầu.

Nhận đắc bản lai chân diện mục,

Đáo đầu hà xứ bất hưu hưu.

 

Nghĩa:

 

Từ khi bé bỏng đã vào thiền,

Đập ngói dùi rùa ngoại cầu quên.

Nhận được xưa nay mày mặt thật,

Cuối cùng đâu chẳng chỗ an nhàn.

 

Vua tự thuật đã vào thiền từ khi còn nhỏ, đã vượt qua công phu chạy tìm kiếm bên ngoài vô ích, vì đã nhận được mặt mày chân thật xưa nay của chính mình, cho nên sống chỗ nào cũng được an nhàn tự tại.

 

Nổi bật nhất là Thượng Sĩ Tuệ Trung, có thể nói Thượng Sĩ là một thiền sư cư sĩ. Tuy sống đời tại gia, có vợ con, hầu thiếp, nhưng trí tuệ vô sư của Thượng Sĩ rực sáng, tâm Thượng Sĩ thênh thang tự tại, luôn tỏa ra một sức sống thiền mạnh mẽ. Câu chuyện ăn chay ăn thịt Thượng Sĩ đối đáp với Thái hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm và đoạn đối đáp của Thượng Sĩ với vua Trần Nhân Tông về tội phước cho thấy tâm Thượng Sĩ rỗng rang tự tại, vượt qua những ý niệm đóng khuôn trong thức tình đối đãi. Chay mặn, giữ giới, không giữ giới đều sáng ngời trong tâm Thượng Sĩ, không lưu lại dấu vết mờ đục nghi ngờ.

 

Có vị tăng hỏi Thượng Sĩ:

- Thế nào là đại ý Phật pháp?

 

Thượng Sĩ đáp:

- Đầu trạnh vỗ sóng mắt sâu bọ,

Cánh bằng tung gió ruột kiến trùng.


Chính câu hỏi này, trước kia ở Trung Hoa, Nghĩa Huyền ba lần hỏi Hòa thượng Hoàng Bá, ba lần bị ăn gậy. Ở đây, Thượng Sĩ không dùng gậy, nhưng dùng được ngôn ngữ rất khéo léo tài tình.

 

Đầu trạnh là nhỏ nhoi, vỗ sóng là lớn lao, mắt sâu bọ là nhỏ nhít.

Cánh bằng là to tát, ruột kiến trùng là nhỏ nhoi.

 

Nghe thế ai hiểu được gì? Chính đó là đánh tan niệm phân biệt lớn nhỏ hai bên, ngay đó lặng lẽ tự thầm hợp. Còn có chỗ hiểu tức thuộc nơi duyên, chưa phải thật. Người mang đầu óc ưa phân tích, càng muốn phân tích để hiểu, càng không thể hiểu. Nếu có hiểu, cũng là hiểu gượng gạo, hiểu gán ép, không phải thực hiểu. Phải một phen chết đi cái hiểu thường tình đó, trong ấy tự sống dậy mới thật không ngờ!

 

Có vị tăng hỏi:

- Thế nào là Pháp thân thanh tịnh?

 

Thượng Sĩ đáp:

- Ra vào trong nước đái trâu,

Chui rúc trong đống phân ngựa.

 

Làm sao hiểu? Nước đái, phân ngựa là nhơ nhớp, hôi thúi, pháp thân thanh tịnh ở trong nước đái trâu, ở trong phân ngựa đó sao? Tìm trong đó bao giờ có? Chính đây, Thượng Sĩ đã khéo đập tan ý niệm NHƠ-SẠCH nơi người hỏi. Còn nghĩ đây là thân thanh tịnh, kia là thân nhơ nhớp; bỏ cái nhơ nhớp, lấy cái thanh tịnh, tức đang sống trong tình lấy bỏ, vẫn nằm trong dòng sanh tử, không thể thấy pháp thân thanh tịnh. Ngay đó, quên bặt niệm NHƠ – SẠCH, lặng lẽ như như, tức liền thầm hợp, khỏi cần giải thích. Tâm thiền của Thượng Sĩ sâu xa cao tuyệt như thế. Và qua những bài Phật Tâm Ca, Sanh Tử Nhàn Nhi Dĩ, Phóng Cuồng Ca, trong ấy đã biểu lộ một sức sống thiền mạnh mẽ, vượt qua những giới hạn của tâm suy nghĩ thông thường luôn chết trong khái niệm. Ở đây, một sức sống chân thật từ nội tâm Thượng Sĩ tỏa ra, không qua cái khuôn ý thức hiểu biết.

 

Trong đây, còn nổi bật một điểm đặc biệt là, những vị tăng cũng tự đến hỏi đạo với Thượng Sĩ, xóa tan ý niệm phân cách xuất gia, tại gia, ta là tăng kia là tục, đúng với tinh thần học lẽ thật. Lẽ thật vốn không có hình tướng, không thuộc thân thể nam nữ, tăng tục, phàm thánh. Thấy tánh là thấy lẽ thật. Với nét đặc biệt này, thiền Trúc Lâm càng làm sáng tỏ chân lý bình đẳng của đạo Phật: đánh thức sự giác ngộ sẵn có nơi mọi người. Đó là con đường đưa người đi lên, trừ bỏ mặc cảm tự ti, tội lỗi, vì ai ai cũng có phần giác ngộ.

 

5. ĐỐN NGỘ NGAY ĐỜI NÀY


Với tinh thần đốn ngộ của Thiền tông, Thiền phái Trúc Lâm nêu cao tông chỉ đốn ngộ ngay đời này, không phải mongđợi ở đời nào khác. Ai có công phu tương xứng thì chính ngay bản thân mình tức khắc thể nghiệm được chân lý giác ngộ của Phật, Tổ, rất xác thực. Nếu một chân lý mà chỉ có sau khi chết mới biết được, vậy làm sao chứng minh lẽ thực của nó? Làm sao bảo đảm để tin?

 

Sơ Tổ Trúc Lâm đã từng nhấn mạnh: Mọi người ăn cơm, ăn cháo, tại sao không rõ được việc bát, việc muỗng? Tức ngay chỗ sống hàng ngày đây, cần đốn ngộ thẳng trong đó thôi. Ánh sáng Chánh giác luôn biểu hiện ngay trong chỗ cầm bát, động muỗng, rất gần gũi với mọi người, không có gì xa lạ cả.

 

Và đáp vị tăng hỏi về gia phong của Ngài như sau:

 

- Áo rách che mây sáng ăn cháo,

Bình xưa tưới nguyệt tối uống trà.

 

Gia phong tức nét đặc biệt của Tông môn, hay sức sống thiền nơi mình, nó vốn đơn giản như thế. Chính ngay trong mọi việc làm hàng ngày đó, sức sống thiền của các ngài đã thể hiện đầy đủ trong đó. Ai ai cũng đều có thể chứng nghiệm được việc đó, không phải mập mờ hẹn người qua bên kia thế giới!

 

Chúng ta hãy lắng nghe thêm một đoạn nhân duyên được Thiền sư Pháp Loa ghi lại. Sư hỏi vị tăng:

 

- Chúng làm gì?

Tăng đáp:

- Niệm Phật.

Sư bảo:

- Phật vốn không tâm thì niệm cái gì?

Tăng thưa:

- Chẳng biết.

Sư bảo:

- Ngươi đã chẳng biết, vậy nói đó là ai?

 

Rất thực tế rõ ràng, Sư đánh thức cho ông tăng tỉnh trở lại ngay cái đang đối đáp trước mặt đây. Ông đáp chẳng biết, nhưng cái gì Biết trả lời? Mê chỗ này thì chạy tìm mãi kiếp này qua kiếp nọ. Ngộ lại chỗ này thì vượt qua vô số kiếp mê mờ! Quả thật đó là con đường thẳng tắt, là chân lý hiện thực rõ ràng không chút lờ mờ. Chỉ tâm người chưa nhanh để bắt kịp thôi! Chánh pháp sáng tỏ ở thế gian cũng từ trong đó. Phật ra đời cũng từ trong đó. Tổ ra đời cũng từ trong đó.

____________________

Nguồn: thuongchieu.net

TINH THẦN “VÔ NGÃ VỊ THA” TRONG VĂN HỌC PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Một chân lý hiển nhiên đã được kiểm chứng thực nghiệm là ai đang đi trên lộ trình hướng đến “Vô ngã” thì người đó sẽ dần đạt đến cảnh giới hạnh phúc, an vui và giải thoát. Ngược lại, ai đang đi trên con đường hướng đến “Chấp ngã” ích kỷ thì chắc chắn rằng người ấy lún dần vào hố sâu nguy hiểm của sự khổ đau triền miên bất tận.

 

 

Vô ngã là một phần rất quan trọng trong giáo nghĩa cơ bản của Phật giáo, là một trong Tam pháp ấn (Vô thường, Vô ngã, Niết-bàn); Vô ngã quán cũng gọi Giới phân biệt quán là pháp quán tưởng thân người do sáu thứ: đất, nước, gió, lửa, không, thức giả hợp thành, không phải thật có để xả bỏ ngã chấp thuộc Ngũ đình tâm quán (Bất tịnh, Từ bi, Duyên khởi, Giới phân biệt, Sổ tức). Hiểu sâu và thực hành đúng triết lý Vô ngã là con đường tất yếu đưa chúng ta vượt qua biển khổ sông mê đến bến bờ an lạc, hạnh phúc.

 

“Vô ngã nghĩa là không có cái ta chắc thật. Ngã là vĩnh viễn bất biến (thường), tồn tại độc lập, sở hữu chủ trung tâm (chủ), có năng lực chi phối, là sự thật có của linh hồn hoặc bản thể. Chủ trương tất cả sự tồn tại không có cái Ngã như thế mà nói Vô Ngã, gọi là Chư pháp vô ngã”1.

 

Thông thường Vô ngã được quán xét dưới hai góc độ:

 

– Nhân vô ngã: Cũng gọi “ngã không” là tất cả chúng sinh do ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng hành, thức: là năm yếu tố cấu thành thân và tâm trong sự sinh tồn của phàm phu) giả hòa hợp mà thành, không có chủ tể sinh mạng nào khác.

 

– Pháp vô ngã: Cũng gọi “pháp không” là tất cả vạn pháp sinh ra đều do nhân duyên hợp thành, và diệt đi khi nhân duyên tan vỡ. Sự tồn tại này xưa nay không có bản tính (tự tính) độc lập.

 

Bài kệ sau đây trong kinh Tạp A-hàm diễn rõ nghĩa này: “Quán sắc như tu mạt,

 

Thọ như thủy thượng bào, Tưởng như dương thời diệm, Chư hành như ba tiêu,Chư thức pháp vô ngã”.

 

Tạm dịch:

 

Quán sắc như bọt nổi, Thọ như bong bóng nước, Tưởng khác nào sóng nắng, Các hành như cây chuối, Các thức vốn vô ngã.

 

Nói đơn giản, Vô ngã là không chấp ngã, không chấp vào cái ta và cái của ta. Vô ngã là giải thoát, không mang ý nghĩa xóa bỏ, phủ nhận sự tồn tại của con người; không mang ý nghĩa phi nhân bản, phi giá trị như có người đã nói, mà chính là giải thoát con người ra khỏi ngục tù đau khổ của sự cố chấp, là giải phóng con người với nghĩa nhân văn cao nhất. Giải phóng con người ra khỏi mọi sự thúc phược do ảnh hưởng, tác động theo chiều hướng nghịch của ngoại cảnh, hướng tới con người thật tự do tự tại với cái nhìn đạt quan, lượng giải và từ bi đối với mọi chúng sinh.

 

 

Chỉ có thật sự tu tập và quán chiếu pháp vô ngã, đạt đến cảnh giới Vô ngã thâm sâu, thì mới có thể thực hành hạnh Vị tha (vì mọi người, vì chúng sinh) một cách chân chính và trọn vẹn nhất. Bởi vì, nếu còn chấp ngã, thì chắc chắn sẽ còn ích kỷ, tư lợi cá nhân, là Vị ngã (vì bản thân mình), không thể là Vị tha được. Mức độ dính mắc vào “cái ta” và “cái của ta” càng lớn thì không bao giờ hành động, suy nghĩ của họ mà vì người khác được. Tinh thần và giá trị vô biên của tinh thần Vô ngã vị tha đã được ông cha ta minh chứng một cách sinh động trong lịch sử Phật giáo nói chung, lịch sử văn học Phật giáo nói riêng.

 

Hình ảnh con người “Vô ngã vị tha” thể hiện rõ trong lời khuyên của vị vua Phật tử Lý Nhân Tông với Mãn Giác thiền sư: “Chí nhân thị hiện, tất vụ tế sinh, vô hạnh bất cụ, vô sự bất tu, phi duy định tuệ chi lực, diệc hữu tán dương chi công, thả kính nhậm chi”. (Bậc đại nhân sinh ra đời tất phải tận lực cứu giúp chúng sinh, không hạnh nào không đủ, không việc gì không làm, chẳng những đắc lực về thiền định, trí tuệ, lại có công giúp ích nước nhà)2. Lý Nhân Tông bộc bạch với Mãn Giác thiền sư, cũng là tự nhắc mình luôn nhớ bổn phận và trách nhiệm cứu giúp chúng sinh, siêng tu định tuệ, hộ quốc an dân.

 

Giải phóng bản thân và mọi người ra khỏi khổ đau do mê lầm và chấp trước, đạt tới chân như trong sáng thuần khiết vô biên là tâm nguyện của vua Lý Thánh Tông (Lý Phật Mã):

 

Bát-nhã chân vô tông,
Nhân không Ngã diệc không

 

(Bát-nhã thật Vô tông,
Người không, ta cũng không).

 

Khi thấu rõ tự tính Bát-nhã ở Phật và chúng sinh không khác; ở Phật quá khứ, Phật hiện tại và Phật vị lai như nhau thì mới đạt được “Người là không, mà ta cũng là không” tức là vượt ra khỏi sự trói buộc của Ngã chấp và Pháp chấp.

 

Tinh thần Vô ngã vị tha thể hiện trong Phàm thánh bất dị của Tuệ Trung thượng sĩ:

 

“ Thân tùng vô tướng bản lai không, Huyễn hóa phân sai thành nhị kiến. Ngã nhân tự lộ diệc tự sương,

Phàm thánh như lôi diệc như điện. Công danh phú quý đẳng phù vân, Thân thể quang âm nhược phi tiễn”.

 

(Thân tự vô tướng vốn là không, Hư huyễn lầm chia thành ‘nhị kiến’. Ta, người như móc cũng như sương,

Phàm, thánh như sấm cũng như điện. Công danh, phú quý, mây bồng bềnh, Năm tháng, đời người, tên bay biến)4.

 

Tuệ Trung sống trọn vẹn với con người thật, hiểu rõ lẽ vô thường, không còn kẹt vào nhị kiến (nhân ngã kiến, pháp ngã kiến) sai lầm, tuy ở địa vị vô cùng tôn quý nhưng xem công danh, phú quý như mây nổi, không chút đắm nhiễm.

 

Phải chăng, các vị vua đầu nhà Trần đều ở vào cảnh giới Vô ngã nên mới có thể viết nên những trang vàng chói lọi trong lịch sử dân tộc Đại Việt, mà hầu hết các sử gia đều đánh giá là “thời đại thuần từ nhất trong lịch sử Việt Nam”. Khi Trần Thái Tông muốn bỏ ngôi vua, để vào núi tu hành, thì Quốc sư Viên Chứng khuyên: “Phàm đã là bực nhân quân tất phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tấm lòng thiên hạ làm tấm lòng mình”5. Sự nghiệp và nhân cách cao quý của các vị vua thời thịnh Trần đều lưu dấu ấn lời khuyên của Quốc sư Viên Chứng. Cả cuộc đời làm vua của Trần Thái Tông chính là sự minh chứng xác thực và sinh động nhất cho lời nguyện, ghi trong bài tựa sách Thiền tông chỉ nam: “Tựu nhược dĩ thân vi thiên hạ chi tiên dã” (Lấy thân mình làm người đưa đường cho thiên hạ)6.

 

Tuy ở ngôi nhân chủ, quyền uy tột bực, nhưng họ vẫn sống đơn sơ, đạm bạc, tận lực lo cho dân cho nước, không tham đắm vinh hoa phú quý. Đơn cử như cuộc sống và tấm lòng của Phật hoàng Trần Nhân Tông, Sơ tổ của thiền phái Trúc Lâm thể hiện trong Cư trần lạc đạo phú: “Dứt trừ nhân ngã, thì ra tướng thực kim cương… ăn rau, ăn trái, nghiệp miệng chẳng hiềm thửa đắng cay; Vận giấy, vận sồi, thân căn có ngại chi đen bạc” 7.

 

Chỉ có những bậc đạt đạo, nhận ra tướng thực kim cang, vượt thoát ý niệm phân biệt ta và người thì mới có thể làm được những công nghiệp phi thường như Trần Nhân Tông. Làm vua mà ăn chỉ cần rau trái (ăn chay), miệng không ngại những món đắng cay, mặc thì chỉ mặc vải bố vải sồi, thân thì không quản thân mình dầm sương dãi nắng mà chỉ lo nghĩ cho chúng sinh trăm họ.

 

Có người cho rằng, qua văn chương, con người thế tục lấn át con người Phật giáo trong con người Thiền sư Huyền Quang, vị Tổ thứ ba của thiền phái Trúc Lâm. Có lẽ cảnh giới “tuỳ tục” của ông đã đến mức không còn dấu vết, không còn ranh giới để phân biệt chăng? Tấm lòng từ bi thương người không giới hạn, vượt trên thường tình của ông lộ rõ trong bài thơ trữ tình Ai phù lỗ (Thương người lính giặc bị bắt) là một minh chứng:

 

“Khoáhuyết thư thành dục ký âm,
Cô phi hàn nhạn tái vân thâm.
Kỷ gia sầu đối kim tiêu nguyệt,

 

(Chích máu thành thư muốn gửi lời,
Lẻ loi nhạn lạnh ải mù khơi.
Đêm nay mấy kẻ sầu trăng nhỉ?
Xa cách nhưng lòng chỉ một thôi)8.

 

Lý do mà tác giả thương người lính giặc bị bắt, không chỉ là lòng thương hại thường tình, mà xuất phát từ lòng vô ngã vị tha mang ý nghĩa nhân văn cao nhất trong cách nhìn nhận giá trị đích thực của con người: tác giả và người lính giặc bị bắt tuy ở hai xứ khác nhau, nhưng có một thứ không khác, đó là “Nhất chủng tâm” hay còn gọi là con người thật trong mỗi con người mà bản dịch tiếng Việt chưa thể hiện hết được.

 

Gần cuối thế kỷ XX, Bồ-tát Thích Quảng đã tự thiêu thân mình cúng dường cho Phật pháp và dân tộc làm rung động hàng triệu triệu trái tim của mọi giới trên khắp hoàn vũ là một minh chứng hùng hồn và xác thực cho tinh thần “Vô ngã vị tha” đã và đang tồn tại một cách hiển nhiên và thực tế trong đời sống xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã thành tâm ca ngợi sự hy sinh vĩ đại trong tinh thần “Vô ngã vị tha” của một bậc “Bồ-tát sống” cho Đạo pháp và Dân tộc ngày 20 tháng 4 nhuần năm Quý Mão 1963:

 

“Vị pháp thiêu thân, vạn cổ hùng uy thiên nhật nguyệt Lưu danh bất tử thiên niên chính khí địa sơn hà.” Xin tạm dịch thoát ý:

 

“ Vì Pháp thiêu thân muôn thuở oai hùng trời rực sáng

 

Tóm lại, tinh thần “Vô ngã vị tha” là nét nhân cách độc đáo và xuyên suốt của những con người Phật giáo trong lịch sử văn học Phật giáo Việt Nam, và có lẽ cũng là nét nhân cách mà con người trong xã hội hiện đại cần hướng tới, nhằm mục đích xây dựng một xã hội Chân- Thiện- Mỹ với cuộc sống an vui hạnh phúc thật sự.

 

Chú thích:

 

Thích Minh Cảnh chủ biên (2005), Từ điển Phật học Huệ Quang, tập 7, Nxb Tổng Hợp TP.HCM, trang 6094.Thiền uyển tập anh, bản Vĩnh Thịnh năm thứ 11 (1775), ký hiệu A3144; bản dịch của Ngô ĐứcThọ và Nguyễn Thúy Nga , Nxb Văn Học, 1990, trang 93.

Văn Tân chủ biên (2000), Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 1, Nxb KHXH, trang 239.

Đoàn Thị Thu Vân (1998), Thơ thiền Lý Trần, Nxb Văn Nghệ TP.HCM, trang 226, 228.

Văn Tân chủ biên (2000), Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 1, Nxb KHXH, trang 30.

Nguyễn Huệ Chi chủ biên (1989), Thơ văn Lý Trần, tập 2, quyển thượng, Nxb KHXH, HN, tr 29.

Thích Nhất Hạnh (2009), Trái tim của Trúc Lâm đại sĩ, Nxb Phương Đông, trang 9, 10.

Nguyễn Huệ Chi chủ biên (1989), Thơ văn Lý Trần, tập 2, quyển thượng, Nxb KHXH, HN, trang 692, 693

__________________

Thích Hạnh Tuệ

Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 183 Vu Lan

Nguồn: thuvienhoasen.org

ÁNH SÁNG THIỀN TRONG CUNG VUA TRẦN

 

I/ DẪN NHẬP

 

Với người học thiền bình thường, phần nhiều cứ nghĩ: thiền phải ở nơi núi cao rừng thẳm hay hang vắng, bởi họ tưởng tượng theo danh từ “thiền lâm” là rừng thiền, thì phải ở trong rừng. Hoặc có người cho rằng, thiền chỉ có trong thiền đường, trong thiền viện, trên bồ đoàn, tọa cụ, v.v…; song nếu Thiền như thế thì Thiền quá cục bộ, chưa phải Thiền tròn khắp, chỉ có chỗ này mà không có ở chỗ kia, tức thành sanh diệt mất rồi.

 

Sự thật, Thiền là ở ngay trong lòng người, không phải ở nơi cảnh, nơi chỗ này, nơi chỗ kia. Tâm ngộ thiền thì bất cứ chỗ nào cũng có thiền. Thiền như thế mới là thiền trong sự sống, thiền sáng ngời không gián đoạn; dù tăng, dù tục, dù nơi vắng vẻ hay ồn náo đều có phần, nếu mở được con mắt thiền. Nhìn lại những vị vua đầu nhà Trần, chúng ta thấy rất rõ điều này. Giờ đây điểm qua ba nét chính để chúng ta thấy ánh sáng Thiền vẫn tràn ngập trong cung vua Trần

 

II/ KINH NGHIỆM THIỀN TRONG CUNG VUA TRẦN

 

Với thiền, đòi hỏi phải có sự thể nghiệm chân thật, phải chứng nghiệm qua chứ không thể nói suông hay bàn trên lý thuyết thôi. Chính vua Trần Thái Tông, lúc đang làm vua, với bao công việc triều chính bề bộn, vẫn để thời gian tham cứu Thiền và vua đã từng kinh nghiệm ngay chính bản thân mình. Vua kể lại trong lời tựa Thiền Tông Chỉ Nam như sau: “Trẫm từng đọc kinh Kim Cang đến câu ‘Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm,’ trong khoảng để quyển kinh xuống ngâm nga, bỗng nhiên tự ngộ. Liền đem chỗ ngộ này viết thành bài ca, đề tên là ‘Thiền Tông Chỉ Nam.’” Nghĩa là vua Trần Thái Tông đã trực tiếp lãnh ngộ Thiền ngay tự tâm mình, không phải chỉ nghiên cứu trên lý thuyết, trên sách vở. Bởi kinh nghiệm trực tiếp nên vua có một sức sống Thiền chân thật ngay trong đời làm vua của mình. Điều này sẽ trình bày tiếp sau.

 

Kế là vua Trần Thánh Tông, cũng một ông vua ở tại ngôi vị trên thiên hạ, sống trong cung điện vàng son mà vẫn thể nghiệm được thiền. Vua đã nhận được ý chỉ nơi Quốc Sư Đại Đăng, tự lấy hiệu là Vô Nhị Thượng Nhân. Vua có tự thuật trong một bài kệ:

 

Tự tùng quán giác nhập thiền lưu,

Đã ngỏa toản qui một ngoại cầu.

Nhận đắc bản lai chân diện mục,

Đáo đầu hà xứ bất hưu hưu.

 

Tạm dịch:

 

Từ khi bé bỏng đã vào thiền,

Đập ngói, xoi rùa ngoại cầu quên.

Nhận được xưa nay mày mặt thật,

Cuối cùng đâu chẳng chỗ an nhiên.

 

Nghĩa là vua đã vào thiền, đã cảm đến thiền lúc còn nhỏ. Do biết có thiền nên mọi chuyện hư dối tìm kiếm bên ngoài đều quên dứt, không còn chạy lăng xăng nữa. Bởi vì chính vua đã nhận ra mặt mày chân thật xưa nay rồi, đây là nguồn sống vô biên còn gì quý hơn nữa. Đã nhận được lẽ thật đó, thì đâu đâu cũng là chỗ sống an nhiên, không phải lo lắng, không sợ bơ vơ, vì đã có chỗ nương tựa vững chắc. Kinh nghiệm này lại được thể hiện qua bài kệ tiếp sau đây rất là sâu sắc:

 

Chung nhật nhàn đàn bất điệu cầm,

Nhàn môn vô sự khả quan tâm.

Cá trung khúc phá vô nhân hội,

Duy hữu tùng phong họa thử âm.

 

Tạm dịch:

 

Chiếc đàn không điệu gảy suốt ngày,

Cửa vắng việc không chẳng bận rày.

Bản nhạc trong kia không kẻ biết,

Riêng có gió tùng họa âm này.

 

Suốt ngày gảy mãi cây đàn không điệu. Không điệu vậy gảy làm gì? Đó là làm mà vô tâm, gảy mà vô tác, nên tuy làm tất cả mà vô sự, không có dấu vết gì lưu lại, gọi là “Cửa vắng việc không chẳng bận rày.” Giống như làm mà không có Ai làm, không có cái TA xen vào. Vì vậy, bản nhạc đó mấy ai biết được? Đem lỗ tai dày nhớt này mà nghe là không bao giờ nghe tới. Bởi vậy khó có người họa được, chỉ có gió tùng hòa theo thôi. Tức vô tâm mới hòa được điệu nhạc kia, mới cảm thông được chỗ đó! Đây quả là một kinh nghiệm thiền không thể nói hết bằng lời.

 

Sang vua Trần Nhân Tông, kinh nghiệm thiền được Ngài thuật lại trong bài hành trạng của Thượng sĩ Tuệ Trung như sau: “Tôi biết môn phong của Thượng sĩ cao vót. Một hôm tôi xin hỏi Ngài về ‘Tông chỉ bổn phận,’ Thượng sĩ đáp: ‘- Soi sáng lại chính mình là việc bổn phận, chẳng từ nơi khác mà được.’ Nghe xong, tôi thông suốt được đường vào, bèn vén áo thờ Ngài làm thầy.”

 

Hỏi về tông chỉ bổn phận, tức yếu chỉ thiền chứ không gì khác; yếu chỉ đó, chính ở ngay nơi mình, soi lại chính mình mà thấy, đây là gốc chân thật, ngoài ra không có việc gì khác nữa! Chính đây là điểm tinh yếu của toàn bộ giáo lý Phật nói chung, Thiền tông nói riêng, dù Phật Tổ có dùng vô lượng phương tiện sai khác để dắt dẫn người, nhưng cũng không rời việc soi lại chính mình là gốc. Nếu tách rời chính mình để tu, để học đạo, là tu học lệch lạc, trái ý chỉ của Phật Tổ. Thiền sư Tuệ Hải gọi: “Ngoài tâm cầu Phật là ma.” Bởi nếu ngoài tâm mà có Phật, có đạo, thì không phải là ma, cũng là có trong sách vở, trong chữ nghĩa, không phải Phật, đạo sống.

 

Như vậy cho thấy, ba vị vua Trần đã có kinh nghiệm thiền rõ ràng ngay trong cung vua, đâu phải đợi tìm chỗ nào khác! Kinh nghiệm này được thể hiện qua sức sống chân thật của các Ngài, chứ không phải chỉ nói suông.

 

III/ SỨC SỐNG THIỀN CỦA CÁC VUA TRẦN

 

Như trên đã nói qua kinh nghiệm thiền của ba vị vua Trần, điều đó được các Ngài ứng dụng thành sức sống chân thật, chớ không phải chỉ nói suông trên ngôn ngữ. Điển hình là:

 

1. Vua Trần Thái Tông, lúc bệnh sắp qua đời, Quốc sư Đại Đăng vào thăm hỏi:

 

- Bệ hạ bệnh chăng?

 

Vua đáp:

 

- Tứ đại bệnh, cái ấy xưa nay sanh tử còn không can hệ mà dính kẹt trong bệnh hoạn?

 

Lúc bệnh mà vẫn còn tỉnh táo, thấy bệnh là bệnh, không dính dáng gì đến “cái ấy,” thì chính mình có bệnh gì đâu? Người tu bình thường chưa có đạo lực, e tới lúc đó tinh thần hoảng hốt, sợ hãi, thì dễ sánh được chăng ?

 

“Rồi khoảng mấy ngày sau, Thái Tông lặng thinh không nói, đuổi hết kẻ hầu hạ, đem việc nước dặn dò Thánh Tông. Thánh Tông muốn nhờ hai Quốc sư Phù Vân (Đạo Viên) và Đại Đăng nói pháp xuất thế cho Thái Tông nghe. Thái Tông gằn giọng bảo: ‘Đến trong đây, bớt một mảy tơ dường trên thịt khoét thành thương tích, thêm một mảy tơ như trong mắt để bụi. Ba đời chư Phật, bốn mắt nhìn nhau, sáu đời Tổ sư thối thân có phần. Dù Phù Vân nói huyền, Đại Đăng thuyết diệu, đều là lời thừa, có ích gì đối với cái này?’ Nói xong vua lặng lẽ tịch.”

 

Một ông vua, sống giữa cảnh vàng son, cung phi mỹ nữ, việc nước rộn ràng, mà đến lúc bệnh sắp mất vẫn sáng suốt vững vàng như vậy, nếu hằng ngày không có sức sống chân thật, thì làm gì trong phút chốc vô thường đó, lại làm chủ được?

 

2. Vua Trần Thánh Tông, đến lúc bệnh nặng gần qua đời, cũng sống rất có đạo lý giống như một thiền sư:

 

Vua bệnh, Thượng sĩ Tuệ Trung gởi thơ đến thăm, vua viết vào cuối trang đáp lại:

 

Hơi nóng hừng hực mồ hôi đẫm,

Chiếc khố mẹ sanh vẫn ráo khô.

( Viêm viêm thử khí hãn thông thân,

Hà tằng hoán đắc nương sanh khố ? )

 

Đến lúc bệnh nặng, vua thường lấy ngón tay gõ vào chiếc gối như có sở đắc điều gì. Chốc lát, vua đòi bút viết bài kệ:

 

Sanh như mặc áo,

Chết tựa cởi trần.

Từ xưa đến nay,

Không đường nào khác.

 

Nguyên văn:

 

( Sanh như trước sam,

Tử như thoát khố.

Tự cổ cập kim,

Cánh vô dị lộ. )

 

Liền hét, nói: - Chữ bát mở toang đà trao phó, còn đâu việc nữa đáng trình anh.

 

Rồi vua đuổi hết kẻ hầu hạ, chỉ còn một mình Nhân Tông đứng hầu một bên thưa:

 

- Bệ hạ còn nhớ lời của Ngài Vĩnh Gia chăng:

 

Rành rành thấy, không một vật,

Cũng không người chừ cũng không Phật.

Cõi cõi đại thiên bọt nổi trôi,

Tất cả thánh hiền như điện chớp.

Dẫu cho vành sắt trên đầu chuyển,

Định tuệ sáng tròn vẫn không mất.

 

Vua nghe xong, bất chợt cười lên rồi gõ chiếc gối tụng:

 

Rành rành thấy, không một vật,

Cũng không người chừ cũng không Phật.

Cõi cõi đại thiên bọt nổi trôi,

Tất cả thánh hiền như điện chớp.

 

Xong, chiều hôm đó vua băng.

 

Vua bệnh sắp mất, nhưng vẫn thấy không dính dáng gì. Hơi nóng hừng hực, mồ hôi ướt đẫm là nói lên sức bệnh hoạn đang phủ trùm lên chiếc thân vô thường này, nhưng vẫn không dính dáng gì đến thân chân thật ấy. Nghĩa là, vua vẫn có chỗ sống của mình, bệnh hoạn không làm gì đến đó được.

 

Vua xem sanh tử như mặc áo, cởi áo vậy thôi, không có gì quan trọng, không bận tâm lo sợ, không vật vã khổ sở, mà còn hét lên một tiếng hét sư tử rống đối với vấn đề sanh tử:

 

“Chữ bát mở toang đà trao phó,

Còn đâu việc nữa đáng trình anh.”

 

Cuối cùng vua ra đi như một thiền sư trong hình thức cư sĩ. Quả thực, ngay trong cung vua, vẫn sáng ngời ánh sáng thiền, dù người có muốn bắt chước cũng không thế nào bắt chước được. Vì thiền không phải việc có thể bắt chước. Với sức sống đó, ai dám đương đầu?

 

3. Vua Trần Nhân Tông. Ngài còn vượt xa hơn hai vua trước một bước, sau khi hai lần chiến thắng quân Nguyên, vinh quang lên tột đỉnh thì sau đó Ngài lại xả bỏ tất cả để đi xuất gia, sống đời khổ hạnh đầu đà, đem ánh sáng chân thật soi rọi cho mọi người. Có cái gì đặc biệt mà Ngài dám bỏ tất cả như thế? Hẳn phải là có một sức sống tuyệt diệu, vượt ngoài cả đời sống vàng son cao cả của thế gian, mới khiến Ngài trân quí mà sẵn sàng đổi lấy. Sức sống đó là làm chủ được sanh tử, một điều mà người thường bó tay thúc thủ. Điều này hiện rõ lúc Ngài sắp rời bỏ thân xác này:

 

“Ngày mùng 1 tháng 11 năm Mậu Thân 1308, nửa đêm sao trời sáng tỏ, Điều Ngự hỏi Bảo Sát:

 

- Hiện giờ là giờ gì?

 

Bảo Sát thưa:

 

- Giờ Tý.

 

Điều Ngự đưa tay mở cánh cửa sổ nhìn ra nói:

 

- Chính là giờ ta đi!

 

Bảo Sát hỏi:

 

- Tôn đức đi đâu?

 

Điều Ngự đáp:

 

Tất cả pháp chẳng sanh,

Tất cả pháp chẳng diệt.

Nếu hay hiểu như thế,

Chư Phật thường hiện tiền.

Nào có đến đi gì?

 

Bảo Sát thưa:

 

- Chỉ như khi chẳng sanh chẳng diệt thì thế nào?

 

Điều Ngự liền vả ngay miệng Bảo Sát bảo:

 

- Chớ nói mớ!

 

Nói xong, Ngài nằm theo thế sư tử, lặng lẽ mà tịch.

 

Ngài ra đi một cách tự tại. Đi mà cũng không thấy có đi đâu, vì chưa từng có đến. Nhưng cái gì là cái không đến đi? Việc đó người ngoại cuộc làm sao biết được? Sức sống này quả không thể lý luận bằng lời. Nếu không phải người đã thật hằng sống trong đó, đừng mong gì mộng thấy. Song muốn có được sức sống như thế, hẳn nhiên các Ngài phải có một trí tuệ Thiền không phải tầm thường.

 

IV/ TRÍ TUỆ THIỀN CỦA CÁC NGÀI

 

1. Đọc KHÓA HƯ LỤC, chúng ta thấy rõ, trí tuệ thiền của vua Trần Thái Tông thật sâu sắc, đem tâm thức này để hiểu, quả là không thể hiểu hết. Chỗ thấy đó không khác các thiền sư Trung Hoa. Như Tổ Lâm Tế có đoạn nhân duyên nói về vô vị chân nhân:

 

“Sư thượng đường bảo:

 

- Trên cục thịt đỏ có vị chân nhân không ngôi thứ, thường ra vào ngay trên mặt các ông, người chưa chứng cứ hãy xem! Xem!

 

Lúc đó có vị tăng bước ra hỏi:

 

- Thế nào là vị chân nhân không ngôi thứ?

 

Sư bước xuống giường thiền, nắm đứng vị ấy bảo:

 

- Nói! Nói!

 

Vị tăng ấy nghĩ ngợi. Sư gạt ra bảo:

 

- Vị chân nhân không ngôi thứ là cái gì? Que cứt khô!

 

Sư liền trở về phương trượng.

 

Vua Trần Thái Tông trong bài kệ tóm kết phần “Nói Rộng Về Sắc Thân” đã hiển bày:

 

Vô vị chân nhân thịt đỏ au,

Hồng hồng trắng trắng chớ lầm nhau.

Ai hay mây cuốn trời trong vắt,

Ven trời sương biếc núi một màu.

 

Nguyên văn:

 

Vô vị chân nhân xích nhục đoàn,

Hồng hồng bạch bạch mạc tương man.

Thùy tri vân quyện trường không tịch,

Thủy lộ thiên biên nhất dạng san.

 

Ngài đã thấy rõ ngay trong cục thịt đỏ au, tức sắc thân bốn đại này, có một con người chân thật không thuộc thứ lớp giai cấp. Song con người này mắt ai thấy được? Chớ vội nghe vậy mà lầm nhận nó với tướng hồng hồng của máu me, tướng trắng trắng của da thịt thì vẫn bị hai tròng mắt này dòm thấy rồi. Như vậy nó vẫn thuộc tướng sanh diệt vô thường có gì đặc biệt? Cho nên “Ai hay mây cuốn trời trong vắt,” tức là có người nào sạch hết mây mờ vô minh vọng tưởng, còn lại một trời tâm trong vắt không vết mây, thì mới rõ “Ven trời sương biếc núi một màu,” tức trước mắt hiện bày một thể như như, tâm cảnh không hai, không còn chia cách đây kia: Toàn thể chân thật hiện tiền! Với cái thấy như vậy, mấy ai đã thấu được?

 

Đoạn khác, có vị tăng tên Đức Thành ở chùa Chân Giáo hỏi vua:

 

- Bệ hạ có nhận riêng Thế Tôn đắc đạo chăng?

 

Vua đáp:

 

- Mưa xuân không cao thấp, cành hoa có ngắn dài.

 

Mưa xuân chỉ là mưa thôi, không có tâm cao thấp phân biệt, nhưng nơi cành hoa tiếp nhận thì có ngắn có dài. Ngắn dài là tự ở cành hoa, không phải tự mưa có phân chia. Cũng vậy, chính Thế Tôn là Thế Tôn thôi, không nói đắc đạo chẳng đắc đạo; không nhận có hay không có, chỉ do tâm người phân biệt mà thành hoặc có hoặc không. Vậy thì làm sao nói cố định là thực có hay không để hiểu? Đó là dứt trừ cái thấy đối đãi phân biệt, bặt niệm “có không” hai bên, ngoài con mắt tuệ làm sao thấy tột?

 

2. Đến vua Thánh Tông, đọc Lời Dạy Chúng Nói Rộng, chúng ta sẽ thấy vua nói: “Xưa nay nói: một câu rốt sau mới đến lao quan. Ba đời chư Phật bốn mắt nhìn nhau, sáu đời Tổ Sư có phần thối thân. Những người tham học hiện nay trọn nhằm trong câu tham lấy, lại hỏi các ông, trong câu làm sao tham? Nếu chẳng tham lấy thì luống phí thì giờ, một đời qua suông. Nếu cũng tham lấy, tức môi miệng méo lệch, sọ não nát vỡ …”

 

Bấy nhiêu thôi, mọi người thử đem tình thức của mình để hiểu xem hiểu thấu được chăng? Ba đời chư Phật bốn mắt nhìn nhau là nhìn cái gì? Chỗ đó làm sao hai tròng mắt đầy ghèn này dòm thấu được? Phật Phật ba đời chỉ là như thế, thấy được thấu chỗ đó thì gặp chư Phật ba đời ngay trong mắt mình. Sáu đời Tổ Sư chỉ phải lùi bước lại thôi. Lùi bước lại đâu? Lùi bước lại chính mình! Nhưng chính mình làm sao lùi bước? Tham cứu lấy cũng chết, mà không tham cứu lấy cũng chết, mọi người phải làm sao? Nếu còn mắc kẹt hai đầu thì bao giờ thấu qua được cửa Tổ? Trí tuệ này dễ so sánh được chăng?

 

Kế vua Nhân Tông thuật lại: “Khi Thái Hậu qua đời, đức Thánh Tông làm lễ trai tăng ở cung cấm. Nhân lễ khai đường, đức Thánh Tông thỉnh những vị danh đức các nơi về, theo thứ lớp mỗi vị thuật một bài kệ ngắn để trình kiến giải. Kết quả thảy đều quến sình, ủng nước, chưa có chỗ tỏ ngộ. Đức Thánh Tông lấy quyển tập đưa cho Thượng Sĩ. Thượng Sĩ viết một mạch bài Tự Thuật:

 

Kiến giải trình kiến giải,

Tợ ấn mắt thành quái.

Ấn mắt thành quái rồi,

Rõ ràng thường tự tại.

 

Nghĩa là đem kiến giải để trình ra cho người thì có khác gì ấn mắt nhìn thấy hoa đốm lăng xăng, có gì là phải? Nếu cái ấn mắt thành hoa đốm lăng xăng đã qua rồi, mới rõ ràng thường tự tại sáng ngời, có gì phải nhọc trình khoe?

 

“Đức Thánh Tông đọc xong, liền phê tiếp:

 

Rõ ràng thường tự tại,

Cũng ấn mắt thành quái.

Thấy quái chẳng thấy quái,

Quái ấy ắt tự hoại.

 

Dù nói rõ ràng thường tự tại, cũng là ấn mắt thành quái lăng xăng thôi. Vì sao? Vì cũng là ngôn ngữ văn tự. Nếu người thật mắt sáng, thì thấy quái lăng xăng, mà chẳng lầm theo, chẳng bị quái làm mờ, liền đó quái ấy tự hoại, tự mất, không làm gì được. Đó mới là chỗ chân thật. Chỗ đó làm sao trình ra cho người hiểu? Nếu trình cho người hiểu được, tức cũng thành quái nữa rồi!

 

Đây cho thấy, trí tuệ thiền của vua Thánh Tông quả là sâu sắc, ánh sáng thiền vẫn sáng ngời ngay cung cấm, có phải tìm ở đâu?

 

3. Qua vua Trần Nhân Tông thì trí tuệ thiền thực là siêu tuyệt!

 

Có vị tăng hỏi Ngài:

 

- Khi muôn dặm mây tan thì thế nào?

 

Ngài đáp:

 

- Mưa tầm tã.

 

Sao lạ vậy? Đem tình thức để hiểu, hiểu được chăng? Kìa, đã muôn dặm mây tan sao còn chẳng sáng tỏ mà đi hỏi, không phải là vẫn mưa tầm tã hay sao? Câu trả lời đánh thẳng vào ông tăng đang có mặt đó mà tự mê. Thực là ý đã vượt ngoài lời!

 

Ông tăng lại hỏi tiếp:

 

- Khi muôn dặm mây phủ kín thì thế nào?

 

Ngài đáp:

 

- Trăng sáng ngời.

 

Dễ hiểu được chăng? Đây này, đã là muôn dặm mây phủ kín, thì còn ai đang hỏi đó ? Một câu đáp đã xuyên thẳng vào thực thể hiện tiền mà ông tăng đang ngủ mớ. Bấy nhiêu đủ thấy trí tuệ thiền của Ngài vượt xa chúng ta rồi.

 

Kế ông tăng hỏi tiếp:

 

- Rốt ráo là thế nào?

 

Ngài đáp:

 

- Chớ động đến, động đến ăn ba mươi gậy.

 

Đã nói rõ ràng như thế rồi, còn hỏi rốt ráo thế nào nữa, tức muốn giải nghĩa sao? Nếu hiểu đến được, là tự trái rồi, nên động đến là ăn gậy liền. Đó là trả lại cho người nguyên vẹn là người, không cho thêm bớt gì nữa trong đó!

 

Và Ngài có làm bài kệ:

 

Câu có câu không

Bìm khô cây ngã

Bao kẻ nạp tăng

Đụng đầu chạm não …

 

Cho thấy trí tuệ Ngài vượt qua ý niệm có không, chẳng dừng trong đối đãi. Nếu không có con mắt thiền đâu dễ thấu được.

 

V/ TÓM KẾT

 

Xét qua những điểm trên, cho chúng ta thấy rằng, các vị vua Trần này đã sống được một đời sống thiền rất đáng nể phục. So với người tu xuất gia chúng ta, tu cả đời cũng chưa dễ gì sống được như thế. Nghĩ lại điều này, chúng ta không tự thấy hổ thẹn sao? Kìa trong cung vua, trong chốn đô thị, ánh sáng thiền vẫn được tỏa sáng, vậy còn phải đợi tìm thiền ở chốn nào nữa đây? Tại gia, xuất gia đều có phần, chớ tự khinh mình mà đành chịu khuất lấp một cách đáng thương!

 

Kết thúc xin dẫn bốn câu trong bài phú Ở TRONG TRẦN VUI ĐẠO của vua Trần Nhân Tông để người người tự kiểm thường xuyên:

 

Cốc một chân không,

Dùng đòi căn khí.

Nhân lòng ta vướng chấp khôn thông,

Há cơ Tổ nay còn thửa bí.

 

Hãy nhận rõ, chỉ một thể chân thật vốn không hai, bởi do căn cơ trình độ mà thành có sai khác. Phải quên chỗ sai khác đó mà trở về gốc không hai kia. Lẽ thật này đâu phải là điều gì bí ẩn, chỉ bởi lòng ta còn vướng chấp nên khó thông thôi, chớ nào phải cơ Tổ còn có điều gì ẩn giấu không cho ta hiểu. Hãy can đảm, một BUÔNG, buông sạch không chỗ bám, thì ngay đây sờ sờ “người không cùng muôn pháp làm bạn” đứng đó tự bao giờ!

 

________________

Nguồn: thuongchieu.net

THIỀN PHÁI TRÚC LÂM - PHỤC HƯNG

 

Thiền phái Trúc Lâm nổi bật nhất ở thời Trần với ba vị Tổ đầu, sau đó do nhiều yếu tố trong đó có hoàn cảnh chính trị, xã hội khiến những vị tu hành này phải tiềm ẩn hoặc rút về núi rừng yên tu, hoặc tư liệu bị thất thoát, nên trong lịch sử dường như lu mờ một khoảng. Tuy vậy, sức sống thiền là ở nội tâm, không phải ở hình thức bên ngoài, do đó hình thức không thể dập tắt được, trừ khi nơi nội tâm người tu đã tắt. Trái lại, dù ở nơi xa vắng ít ai biết tới, nhưng nội tâm vẫn có sức sống sáng ngời, thì mạch nguồn thiền vẫn còn trôi chảy, đủ duyên thì nó sẽ bừng dậy.

 

Và thực tế đã chứng minh điều đó. Sau thời gian dường như tiềm ẩn, đến thời Hậu Lê, Thiền sư Chân Nguyên lại xuất hiện trung hưng.

 

Vào thế kỷ 17, Thiền sư Chân Nguyên trụ trì chùa Long Động đã có công làm sống dậy ngọn gió thiền Trúc Lâm-Yên Tử sau một thời gian như chìm ẩn.

 

Thiền sư Chân Nguyên tên Nguyễn Nghiêm, tự Đình Lân, quê tại làng Tiền Liệt, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Năm 16 tuổi, nhân Sư đọc quyển Tam Tổ Thực Lục, đến Tổ thứ ba là Huyền Quang, liền tỉnh ngộ, nói: “Người xưa trước kia dọc ngang lừng lẫy mà còn chán bỏ việc công danh, huống nữa ta là một chú học trò.” Sư liền phát nguyện đi tu. Năm 19 tuổi, Sư lên chùa Hoa Yên, vào gặp Thiền sư Tuệ Nguyệt (Chân Trú) và được thế phát xuất gia, pháp danh là Tuệ Đăng. Nhưng không lâu, Thiền sư Tuệ Nguyệt tịch. Sau, Sư đến tham vấn Thiền sư Minh Lương ở núi Côn Cương và được tỏ ngộ. Sư hỏi Thiền sư Minh Lương:

 

- Bao năm dồn chứa ngọc trong đãy, hôm nay tận mặt thấy thế nào, là sao?

 

Minh Lương đưa mắt nhìn thẳng vào Sư, Sư nhìn lại, liền cảm ngộ, sụp lạy ba lạy. Thiền sư Minh Lương đặt cho Sư pháp hiệu Chân Nguyên và bài kệ phó pháp:

 

Mỹ ngọc tàng ngoan thạch,

Liên hoa xuất ứ nê.

Tu tri sanh tử xứ,

Ngộ thị tức Bồ đề.

 

Nghĩa:

 

Ngọc quý ẩn trong đá,

Hoa sen mọc khỏi bùn.

Nên biết ngay sanh tử,

Ngộ đó tức Bồ đề.

 

Sau Sư được truyền thừa y bát Trúc Lâm, làm trụ trì chùa Long Động và chùa Quỳnh Lâm, khôi phục lại Thiền phái Trúc Lâm.

 

Chính những tác phẩm quan trọng của chư Tổ Thiền phái Trúc Lâm nhờ Sư mà được lưu hành rộng thêm, nhắc cho người nhớ lại trên đất Việt này, vốn đã có một sức sống thiền cao tuyệt, một mạch nguồn Tổ đạo bất diệt, chúng ta là những người đi sau trong dòng máu Việt ấy, phải có bổn phận khơi dậy mạch nguồn kia, khiến cho sức sống nhiệm mầu được truyền mãi không gián đoạn. Muốn vậy, chính mình phải bắt nhịp được mạch sống ấy, tức phải có công phu tu hành thực sự để chứng nghiệm trong đó, rồi từ sự chứng nghiệm chân thật của chính mình, mình mới đem ra đánh thức, truyền hơi cho mọi người. Yên Tử linh thiêng cũng chính từ trong ấy.

 

Trong Thiền Tông Bản Hạnh, Sư đã viết:

 

Nhờ ơn Hoàng giác vua quan,

Phát lòng tu trước dân gian học cùng.

Đời đời nối đạo Thiền tông,

Chính pháp truyền lòng ai được thì hay.

Tổ đã đắp nấm trồng cây,

Mộng Bồ đề nở sau này càng cao.

Khai hoa kết quả xao xao,

Dõi truyền đất Việt thấp cao trùng trùng.

Ai khôn có trí có công,

Tu hành ngộ được Tâm tông mới mầu.

 

Tức là, vua, Tổ, đã mở đường đi trước, đã vun đắp, trồng sẵn mầm cây Bồ đề đó rồi, hoa quả tiếp tục nở, kết trái và dõi truyền luôn luôn trong lòng đất Việt. Người tu hành phải nhớ ngộ được Tâm tông, đó mới là chỗ chân thật nhiệm mầu, là sức sống của Tổ, của Phật. Mình tiếp được sức sống đó, là làm sống dậy Tổ đạo, là khơi mạch nguồn chân thật cho người, Chánh pháp không gián đoạn trên thế gian cũng từ đó.

 

Thiền sư Chân Nguyên quả thật đã bắt nhịp được mạch nguồn Thiền phái Trúc Lâm bằng chính sức sống chân thật nơi nội tâm và khơi dậy cho người đúng ý nghĩa của nó, không phải chỉ trên hình thức suông. Tiếp theo Thiền sư Chân Nguyên, Thiền phái Trúc Lâm vẫn được các hàng đệ tử phát huy, những tư liệu quý báu được nối tiếp khơi dậy làm cơ sở cho người nghiên cứu.

 

- Thiền sư Như Trí trùng san sách Thiền Uyển Tập Anh năm 1715.

- Thiền sư Như Sơn soạn Kế Đăng Lục năm 1734.

- Thiền sư Tịnh Quang trùng san Thánh Đăng Lục năm 1750.

- Thiền sư Tuệ Hiền trùng khắc Khóa Hư Lục (?).

- Thiền sư Tuệ Nguyệt trùng san Thượng Sĩ Ngữ Lục 1763.

- Sách Tam Tổ Thực Lục cũng do người trong Pháp phái thực hiện.

(Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, Nguyễn Lang, Tập II, trang 123-124)

 

☼☼☼

 

Và hôm nay, Thiền viện Trúc Lâm Yên Tư û- Chùa Long Động, nơi Thiền sư Chân Nguyên trụ trì, đã một lần phục hưng Thiền Trúc Lâm, thì giờ đây được Hòa thượng Thích Thanh Từ, một Thiền sư hiện đại đang phục hưng lại lần nữa. Đây cũng là một điểm trùng hợp thú vị! Từ đây, hy vọng mạch nguồn Thiền phái Trúc Lâm-Yên Tử tiếp tục trôi chảy mãi và lan tràn ra khắp chốn, khiến cho ánh sáng Tổ đạo soi đến mọi người, làm bừng dậy một sức sống chân thật từ xa xưa mà người người hằng bỏ quên. Có sống được trong sức sống này, mới cảm thông với tất cả, xóa tan đi ranh giới ta – người, cùng hướng về một sức sống không hai.

 

Tịnh, Mật, Thiền, Giáo cuối cùng đồng về đến đích ấy thôi.

Đến đây, hai chữ “Trúc Lâm” cũng mờ tan trong đó!

Chữ nghĩa, danh từ làm sao đến trong ấy?

Chỉ một niềm vui không thời gian, không không gian!

“Lẽ thật ấy” xin trao lại cho người người!

 

☼☼☼

 

BIỂU ĐỒ TRUYỀN THỪA:

 

1. 33 vị Tổ – Thiền tông Ấn Độ

2. Các hệ, tông, phái chính của Thiền tông Trung Quốc.

3. Hệ Nam Nhạc.

4. Phái Vô Ngôn Thông.

5. Thiền tông Việt Nam – Thiền phái Trúc Lâm-Yên Tử.

(Trích Tự Điển Thiền Tông Hán Việt – Hân Mẫn – Thông Thiền.)

 

☼☼☼

 

Xưa nay lẽ thật sờ sờ,

Nơi mình đủ hết khỏi chờ tìm đâu.

Lăng xăng chạy hỏi là mù,

Hỏi cho cạn biển có thu được gì?

Dù cho có được điều chi,

Cũng là của lượm vui gì mà vui?

Có được thì phải mất thôi,

Đem vào thì phải có hồi trả ra.

Thiền tông chỉ thẳng ngay ta,

Báu sẵn trong nhà hãy lấy dùng mau.

Chần chừ giặc trộm lẻn vào,

Chỉ trong chớp mắt lầm bao nhiêu lầm.

Hãy xem Sơ Tổ Trúc Lâm,

Một câu soi lại tự tâm tỏ liền!

Dù bao sóng gió đảo điên,

Cầm gươm đuổi giặc tâm thiền vẫn NHƯ .

Danh cao công lớn bấy chừ,

Vẫn buông cái một đi tu nhẹ nhàng.

Lên non Yên Tử làm tăng,

Sống đời khổ hạnh chẳng màng lợi danh.

Ông vua đất Việt hùng anh,Đạo lớn chứng thành Sơ Tổ Trúc Lâm.

Tiếp nguồn Phật Tổ mạch ngầm,

Làm cho chảy mãi tâm tâm ấn truyền.

Nếu ai ngộ được ý huyền,

Thì ai cũng có tâm thiền như ai.


Thiền viện Trúc Lâm – 2002
______________

 

Nguồn: thuongchieu.net

TÂM THIỀN CỦA SƠ TỔ TRÚC LÂM

 

Thiền là ở nơi tâm không có trong kinh điển, sách vỡ, ngôn ngữ, chữ nghĩa vô tri. Người tu thiền là cốt sáng tâm, cũng chính tâm mới ngộ được thiền, ngoài tâm mà tìm thiền thì không thể có thiền chân thật. Do đó chư vị Tổ Sư Thiền Tông đều là những vị sáng tâm, chưa sáng tâm thì chưa vào được cửa Tổ.

 

Tổ Tỳ Ni Đa Lưu Chi, vị Tổ đầu tiên mang Thiền tông vào đất Việt, Ngài đã phó chúc cho đệ tử đắc pháp là Pháp Hiền tại chùa Pháp Vân : “Tâm ấn của chư Phật không có lừa dối, tròn đồng thái hư, không thiếu không dư, không đi, không lại, không được không mất, chẳng một, chẳng khác, chẳng thường chẳng đoạn; vốn không có chỗ sanh, cũng không có chỗ diệt, cũng chẳng lìa mà cũng chẳng phải chẳng xa lìa, vì đối với vọng duyên mà giả lập tên ấy thôi. Bởi thế, chư Phật trong ba đời cũng như thế, nhiều đời Tổ sư cũng do như thế mà được, ta cũng do như thế mà được, ngươi cũng do như thế mà được, cho đến hữu tình, vô tình cũng do như thế mà được”.

 

Ngài xác định rõ ràng, tâm ấn của chư Phật không nằm ở cái tên giả lập đó, ba đời chư Phật, nhiều đời Tổ sư cũng chỉ một tâm này, ta cũng vậy, ông cũng vậy, cho đến tất cả mọi loài đều không ngoài tâm ấy.

 

Dòng Thiền Trúc Lâm ra đời tại Yên Tử, Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông làm Sơ Tổ, cũng ngộ được tâm thiền ấy mà truyền lại cho đời. Ngài lập dòng thiền này, không phải chỉ lập trên hình thức tổ chức, trên ngôn từ mà chính bằng tâm thiền chân thật của chính mình. Chính đó là sức sống, là mạch nguồn để dòng thiền được sống còn.

 

II. ĐỐI DIỆN HIỆN TIỀN :


Trong bài Phú Cư Trần Lạc Đạo, Trúc Lâm Điều Ngự đã từng thổ lộ :

 

“Biết đào hồng, hay liễu lục, thiên hạ năng mấy chủ tri âm. Nguyệt bạc, vừng xanh, soi mọi chỗ thiền hà lai láng” Chính ngay chỗ đào hồng trước mắt, ngay liễu lục đang thấy đó, biết rõ ràng mà không mê, không lầm với nó, đó là Thiền rồi chứ gì nữa. Nhưng chỗ này có mấy người thông cảm, cùng hiểu được nhau ? Hầu hết chỉ nhớ biết đào hồng, nhớ biết liễu lục thôi, mà quên hẳn ánh sáng kia, thì làm sao tri âm được?

 

Đó là chỗ kinh Lăng Nghiêm nói : “Căn bản Bồ đề Niết bàn tức là cái thức tinh nguyên minh của ông, nó hay sinh ra các duyên mà bị các duyên bỏ sót nó, do vì các duyên bỏ sót nó nên đành chịu luân hồi, uổng trôi vào các thú” Nghĩa là, chính cái biết đang hiện hữu sáng ngời đây, nó hay sanh ra các duyên, tức nó biết, biết cái này, biết cái nọ, biết đào hồng, biết liễu lục…, nhưng tiếc thay, lại bị các duyên bỏ sót nó, đồng hóa nó với các duyên, do đó đành chịu luân hồi, trôi nổi theo các trần, theo đào hồng, theo liễu lục…Vua Trần Thái Tông bảo là :

 

Lang thang làm khách phong trần mãi,

Ngày cách quê hương muôn dặm trình.

(Vĩnh vi lãng đãng phong trần khách,

Nhật viễn gia hương vạn lý trình).

 

Quả thật, Điều Ngự không dùng lời lẽ văn chương hoa mỹ, mà dùng tiếng nói nôm na, bình dân trong cuộc sống hàng ngày, nhưng ngầmnói lên được ý thiền sâu xa đó mới là thiền.

 

Khi thấu suốt chỗ này, thì trăng sáng, bầu trời xanh đều hiển bày tâm thiền sáng ngời ra đó! Trước mắt không còn cái gì che mờ được nữa. Tâm thiền của Ngài quả là sáng ngời tỏ rõ! bài kệ cuối Cư Trần Lạc Đạo, Ngài nói :

 

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên,

Cơ tắc xan hề khốn tắc miên.

Gia trung hữu bảo hưu tầm mích,

Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.

***

Ở đời vui đạo hãy tùy duyên,

Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền.

Trong nhà có báu thôi tìm kiếm,

Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền.

 

Tâm thiền sáng ngời thể hiện ngay trong cuộc sống hàng ngày, không phải tìm kiếm đâu xa. Đói ăn, mệt ngủ nơi mọi sinh hoạt hằng ngày ăn, mặc, ngủ nghỉ mà làm với tâm hồn nhiên, trong sáng, không sanh tâm theo duyên, theo cảnh: ăn không sanh tâm ăn, mặc không sanh tâm mặc, chính đó ánh sáng thiền hiện tiền rồi. Đó là của báu ngay trong nhà mình, lại phải chạy tìm ở đâu khác ?

 

III. TÂM THÔNG LÌA ĐỐI ĐÃI :


1/ Tâm thông :


Thiền sư luôn luôn phải suốt được tâm. Tâm thông thì thấy nghe, tiếp vật được sáng tỏ, không ngại.Có vị Tăng hỏi Điều Ngự :

 

- Đại Tôn Đức khổ nhọc tu hành, đã trãi qua nhiều năm. Đối với sáu thông của Phật, Ngài đã được mấy thông ?

 

Điều Ngự đáp :

 

- Cũng được sáu thông.

 

- Năm thông kia xin gác lại, thế nào là tha tâm thông ?

 

- Đầy cả quốc độ , có bao nhiêu thứ tâm, Như Lai đều biết, Như Lai đều thấy.

 

Tức là tất cả chúng sanh nhiều vô số, trong đó có bao nhiêu thứ tâm, Như Lai đều biết hết, thấy hết, không sót một tâm nào. Cũng như Ngài Lâm Tế bảo: “Như có Văn Thù , Phổ Hiền đến, vừa mở miệng: thưa Hòa thượng! Tôi đã sớm biết rồi”

 

Làm sao biết ? Đây là tâm thiền hằng sáng tỏ, nên có điều gì hiện lên đều nhận biết ngay, không lầm. Ông vừa mở miệng là có tâm rồi, mà có tâm tức đều biết không phải tâm Như Lai. Đó là tâm động niệm, thuộc trong ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai, là tâm sinh diệt. Cho nên chúng sanh có bao nhiêu thứ tâm, nhiều như bụi, cũng biết rõ, đồng một tâm sinh diệt đó thôi, không lầm lẫn.

 

2/ Lìa đối đãi :


Tâm thiền của Thiền sư là trước khi động niệm, trước khi có ngôn ngữ, nên nó lìa các phân biệt đối đải thuộc thức tình sinh diệt. Người còn kẹt trong tình phân biệt đối đãi là còn ở ngoài cửa thiền.

 

Có vị Tăng hỏi Điều Ngự :

 

- Thế nào là pháp thân thanh tịnh ?

 

Ngài đáp :

 

- Chén mạ vàng đựng phân sư tử,

Người đen đúa vác bó hương thơm.

***

(Kim tạc lạc trung sư tử thỉ,

Thiết côn lôn thượng chá cô ban)

 

Pháp thân thanh tịnh là chỉ cho tâm thể vô tướng, lìa mọi đối đãi, không sinh, không diệt nơi mỗi người. Muốn nhận được pháp thân, phải lìa niệm hai bên đối đãi.

 

Trong câu đáp của Điều Ngự: chén mạ vàng là qúi, là sạch; phân sư tử là nhơ, là tiện, người đen đúa là xấu, là nhơ ; hương thơm là sạch, là tốt - tức ngay đó quên bặt niệm nhơ-sạch, quý-tiện đối đãi, chính đó là pháp thân thanh tịnh chớ gì. Đó là Ngài muốn chỉ thẳng ngay tâm ông đang đối diện đây, không giải thích dài dòng theo sách vỡ. Pháp thân ấy chính đang ở trong ông thôi. Rõ ràng tâm Ngài đã vượt lên niệm nhơ sạch mới thấy được chỗ đó, và tâm thiền nơi Ngài phải là sáng ngời luôn hiện tiền mới đáp được nhanh mà sâu sắc như thế.

 

Tâm thiền ấy cũng vượt lên cả hai bên có không mà người đời luôn mắc kẹt trong đó.

 

Có vị Tăng hỏi Điều Ngự :

 

- Câu có, câu không như bìm nương cây, khi ấy thế nào ?

 

Điều Ngự bèn nói bài kệ, lược dẫn :

 

Câu có câu không,

Bìm khô cây ngã.

Mấy kẻ nạp tăng,

Nhân đầu sứt trán.

Câu có câu không,

Tự xưa tự nay

Chấp tay quên trăng

Đất bằng chết chìm

***

(Hữu cú vô cú

Đằng khô thọ đảo

Kỷ cá nạp tăng

Chàng đầu khái não.

Hữu cú vô cú,

Tự cổ tự kim

Chấp chỉ vong nguyệt

Bình địa lục trầm)

 

Đây là gốc từ câu chuyện Sơ Sơn đến Qui Sơn-Đại An hỏi :

 

- Được nghe thầy nói “Câu có câu không như bìm leo cây, chợt khi cây ngã bìm khô thì thế nào ?

 

Đại An cười to ha hả. Sơ Sơn thưa :

 

- Con từ bốn ngàn dặm mang khăn gói đến đây, sao Hòa thượng lại đùa như thế ?

 

Đại An bảo :

 

- Thị giả ! Hãy lấy tiền trả tiền giày cỏ cho Thượng tọa này.

 

Sư lại dặn :

 

- Về sau có con rồng một mắt sẽ vì ông nói phá.

 

Sau này, Sơ Sơn đến Minh Chiêu thuật lại việc trên, Minh Chiêu bảo :

 

- Qui Sơn đáng gọi là đầu chánh đuôi chánh, chỉ là chẳng gặp tri âm.

 

Sơ Sơn hỏi :

 

- Cây ngã bìm khô, câu về đâu ?

 

Minh Chiêu đáp :

 

- Nụ cười Qui Sơn càng thêm tươi.

 

Sơ Sơn tỉnh ngộ nói :

 

- Té ra trong nụ cười Qui Sơn có đao.

 

Minh Chiêu vốn chột một mắt, đúng như lời Qui Sơn nói ở trước.

 

Trong đây, ông tăng dẫn lại ý đó để hỏi. Điều Ngự chỉ ra: câu có câu không là lời nói hai bên, giống như dây sắn, dây bìm nương cây mà leo lên cao, tự nó không có điểm tựa. Khi cây ngã, đổ xuống, dây bìm cũng bị héo khô theo, lúc đó mình lấy gì để hiểu? Biết bao kẻ học Tăng hiểu thiền không vượt qua được chỗ này, tức bị u đầu sứt trán với nó. Từ xưa đến nay người học cứ bám theo nó, như kẻ chấp ngón tay chỉ cho là trăng thật, có khác nào đang ở trên đất bằng mà chết chìm, thật là đau!

 

Đây phải là tâm thiền đang hiện hữu sáng ngời, vừa rơi có, không liền bị khuất ngay. Cuối cùng đến lúc ra đi, Sơ Tổ Trúc Lâm đã thể hiện tâm thiền vững chãi, chủ động giờ ra đi, giống như sắp xếp việc nhà hằng ngày. Đúng là một bậc nói được làm được mà hàng con cháu chúng ta sau này phải hết lòng học theo.

 

IV. TÓM KẾT:

 

Thiền sư là người ra đi không để lại dấu vết, Trúc Lâm Điều Ngự là bậc Thiền Tổ, thì Ngài ra đi há có dấu vết để lại cho chúng ta nắm bắt sao? Vậy hôm nay chúng ta bàn về Ngài là bàn cái gì? Tâm Thiền của Ngài có thật ở trong những lời bàn ấy chăng? Sức sống chân thật kia đâu thể đóng khung nó vào trong mấy trang giấy, mấy dòng chữ vô tri này. Do nhu cầu tìm hiểu trong thời hiện tại, chúng tôi phải tạm mượn dấu vết ngôn từ để ngầm chỉ ra một ít lẽ thật nơi Ngài mà cùng tham cứu. Tuy nhiên, điểm trọng yếu không thể quên là : Ngài đã đi qua rồi, không còn ở trong dấu vết ấy !

 

_____________

Nguồn: thuongchieu.net

"LÒNG DÂN LÀ THÀNH TRÌ VỮNG CHẮC NHẤT, ĐƯỢC LÒNG DÂN LÀ CÓ CẢ THIÊN HẠ"

Kết lòng dân tựa như xây bức tường thành kiên cố, mà keo gắn kết đó chính là lắng nghe, thấu hiểu và trưng dụng hiền tài.

 

 

Là con trai trưởng của nhà vua Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông đã được truyền ngôi vua vào tháng 11 năm 1278 khi ông chưa đầy hai mươi tuổi. Vị Hoàng đế trẻ tuổi sớm phải đương đầu với hiểm họa xâm lược từ đế quốc Mông – Nguyên hùng mạnh ở phương Bắc.

 

Đứng trước nguy cơ mất nước, vị vua trẻ băn khoăn,suy nghĩ, trăn trở canh cánh trong lòng nếu đánh e rằng không có sức chống lại, lo sợ dân chúng vì cuộc chiến này mà đau khổ lầm than.

 

Nhưng Ông đã nhìn thấy một viên ngọc sáng trong chính hàng ngũ quần thần, một vị đại tướng quân sẽ cùng ông chống lại quân xâm lăng hùng bạo. Người đó chính là Trần Quốc Tuấn, Trần Nhân Tông gạt bỏ đi rào cản về suy nghĩ rằng, Trần Quốc Tuấn sẽ tạo phản mà dành lại ngôi báu, đặt trọn niềm tin ở vị tướng này.

 

Ông nhìn thấy tận sâu trong tư tưởng của Trần Quốc Tuấn là tinh thần trung quân ái quốc, nhà vua đã không ngại ngần tin tưởng và sủng ái Trần Quốc Tuấn, giao phó toàn bộ quân binh cho vị tướng này bởi ông tin vào tài năng dụng binh của Trần Quốc Tuấn.

 

Ông nhận thấy rằng nếu bá tính Đại Việt cùng chung một lòng, thì đây là sức mạnh mà bất kỳ một nhà thao lược tài ba nào cũng cần tới, Trần Nhân Tông huy động sức mạnh của cả dân tộc.

 

Nhà vua cho rằng sức mạnh quân dân nằm ở tinh thần yêu nước của mọi người, không phân biệt giai tầng, tuổi tác, tôn giáo, nguồn gốc dân tộc.

 

 

Ngài chiêu mời nhân tài kiệt xuất khắp nơi, lấy tâm đức mà thu phục lòng người. Chính điều này làm nên sức mạnh vô bờ bến của đội quân tiên phong đánh đuổi quân xâm lược Nguyên-Mông.

 

Trong hàng ngũ quân binh có những người thuộc dòng dõi thân vương như Trần Quang Khải, Trần Hưng Đạo,… có những người xuất phát từ dân thường như Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Khoái… nhưng cũng có những người ở vị trí thấp như Yết Kiêu, Dã Tượng, có những người còn rất trẻ như Trần Quốc Toản.

 

Nhưng cũng có những người rất già như các vị bô lão tham gia hội nghị Diên Hồng với tiếng hô “quyết chiến” hùng mạnh, có những người thuộc các dân tộc thiểu số, như Hà Đặc, Hà Chương, có những đạo sĩ ngoại quốc như Hứa Tông Đạo, thậm chí có những người là tướng tá của kẻ thù như Trương Hiển.

 

Sự tập hợp rộng rãi các thành phần dân tộc khác nhau này đã thành công nhờ xuất phát từ một chính sách gắn kết rộng lớn.

 

 

Trong lời Hịch gửi tướng lĩnh, sĩ quan và binh sĩ, Trần Hưng Đạo đã thay lời Trần Nhân Tông nói rõ điểm này:

 

“Các ngươi ở lâu dưới trướng, nắm giữ binh quyền, không có áo mặc thì ta cho áo, không có ăn thì ta cho cơm, quan thấp thì ta thăng tước, lộc ít thì ta cấp lương, đi thủy thì ta cho thuyền, đi bộ thì ta cho ngựa, lúc ra quân thì cùng nhau sống chết, lúc ở nhà thì cùng nhau vui cười. So với Công Kiên đãi đám tỳ tướng, Ngột Lang đãi kẻ phụ tá, nào có kém gì? Nay các ngươi ngồi nhìn chúa nhục mà không biết lo, thân chịu quốc sỉ mà không biết thẹn, làm tướng triều đình đứng hầu quân mọi mà không biết tức, nghe nhạc thái thường đãi yến sứ ngụy mà không biết giận.


Có kẻ lấy việc chọi gà làm vui. Có kẻ lấy việc đánh bạc làm thú. Có kẻ chăm lo vườn ruộng, cung phụng gia đình. Có kẻ quyến luyến vợ con để thỏa lòng vị kỷ. Có kẻ tính đường sản nghiệp mà quên việc nước việc quân. Có kẻ ham trò săn bắn mà nhác tập công tập thủ. Có kẻ thích rượu ngon. Có kẻ mê hát nhảm. Nếu bất chợt giặc Mông tràn sang, thì cựa gà trống không đủ đâm thủng giáp giặc, mẹo cờ bạc không đủ làm mưu nhà binh, vườn ruộng giàu không đủ chuộc tấm thân ngàn vàng, vợ con lắm không đủ sung dụng việc nước, của cải nhiều không đủ mua được đầu giặc, chó săn khỏe không đủ đuổi được bọn thù. Rượu ngon không đủ để làm giặc say chết, hát hay không đủ để giặc điếc tai.


Lúc bấy giờ, chúa tôi nhà ta đều cùng bị bắt, đau xót biết chừng nào. Không chỉ thái ấp của ta bị mất, mà bổng lộc các ngươi cũng thuộc về kẻ khác; không chỉ gia quyến ta bị đuổi, mà vợ con các ngươi cũng bị kẻ khác bắt đi; không chỉ xã tắc tổ tông ta bị kẻ khác dày xéo, mà phần mộ cha mẹ các ngươi bị kẻ khác bới đào; không chỉ thân ta kiếp này bị nhục dù đến trăm năm sau tiếng nhơ không rửa tên xấu còn lưu, mà gia thanh các ngươi cũng không khỏi mang danh là tướng bại trận. Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi muốn vui chơi thỏa thích, phỏng có được chăng”.

 

 

Dân là ân gia chứ không phải nô bộc.


Thời bình triều đình của Trần Nhân Tông luôn thực hiện chính sách một lòng biết ơn, kính phụng với những công thần, binh sĩ đã tham gia vào cuộc chiến chống quân xâm lăng, bảo vệ bờ cõi nước nhà.

 

Đây là triều đại đầu tiên được ghi nhận là đối đãi một lòng trước sau như một với công thần, công sĩ, chính vì vậy mà mặc dù không trong thời chiến binh loạn lạc, nhưng hễ triều đình kêu gọi, là họ lại lần lượt lên đường vì giang sơn, dám xả cả xương máu vì đại nghiệp nước nhà.

 

Lòng trung với nước sắt son của quân dân trong chiều là viên ngọc quý của vương triều nhà Trần.

 

Lấy dân làm gốc, đặt mình vào hoàn cảnh của người dân để ra chiếu thư trị vì hợp lòng người


Sau chinh chiến làng mạc, đền chùa miếu mạo bị tàn phá nặng nề, dân mất nhà, vua mất cung, thành trì tan hoang, ruộng vườn trống rỗng, nhà vua đau lòng thốt lên:

 

“đốt phá hết chùa miếu trong nước, khai quật phần mộ tổ tiên, cướp bóc dân gian, phá phách sản nghiệp trăm họ, mọi tàn ác không việc nào trừ …”.

 

Ông đã ra chiếu dụ miễn hết sưu thuế ở những vùng bị tàn phá nặng nề trong nhiều năm liên tiếp, thực hiện cứu tế cho dân, đảm bảo dân bình ổn cuộc sống trước khi lo tu sửa lại cung điện, thành trì.

 

Ông liên tiếp thực hiện việc cải tổ lại hệ thống quan bộc, nhằm giảm đi gánh nặng về thuế cho dân, cắt bớt những chức trách làm cồng kềnh bộ máy thống trị.

 

 

Trước một bộ máy quá lớn và quá nặng nề từ Thượng thư sảnh, Môn hạ sảnh, Nội mật viện, đến các quan, cac lục bộ, các cục (Nội thư hoả cục, Chi hậu cục..), các đài (Ngự sử đài), các viện (Khu mật viện, Hàn lâm viện, Thẩm hình viện, Quốc sử viện, Thái y viện,..), các ty .. khiến Trần Nhân Tông phải thốt lên :

 

“Sao một nước bé bằng bàn tay mà phong nhiều quan thế!“.

 

Việc làm này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng làm giảm đi biết bao nhiêu gánh nặng sưu thuế trên vai người dân. Lòng dân càng tin tưởng và một lòng trung với Vua và triều đình.
Trần Nhân Tông là vị vua đầu tiên trong lịch sử nước ta khi ban chiếu chỉ mà không chỉ có chữ Hán, bên cạnh có cả bằng chữ Nôm, thứ tiếng dùng trong sinh hoạt trong xã hội thời bấy giờ để ai ai trong dân chúng, bất luận giai tầng nào đều hiểu được quyền lợi và nghĩa vụ của chính bản thân mình.

 

Trần Nhân Tông luôn đưa ra chế tài pháp lý phù hợp lòng dân để khống chế tệ nạn, tội phạm xã hội, chế tài luôn được thay đổi để kịp thời cho từng thời kỳ phát triển, mặt khác nhà Vua chú trọng tới gắn kết toàn dân, nên Ông luôn luôn giải quyết thỏa đáng những mâu thuẫn nội bộ trong dân.

 

Vừa là vua trị vì, vừa là một nhà hiền triết

 


 

Trong lịch sử trên thế giới rất hiếm người tài vừa là vua trị vì vừa là một hiền triết.

 

Văn minh La Mã có Marcus Aurelus, hoàng đế triết gia, vừa minh trị an độ nhân dân, độ lượng với mọi người và để lại tác phẩm triết học nổi tiếng “Meditations”.

 

Ở phương đông hơn mười hai thế kỷ sau có Trần Nhân Tông, cũng một minh quân, sáng lập trường phái thiền Trúc Lâm Việt Nam với các tác phẩm thiền “Khoá Hư lục”, “Thiền lâm thiết chủy ngữ lục”, “Tăng già toái sự” không kém sâu xa.

 

Ngày viên tịch ông người ta kể rằng có một ngôi sao sáng vụt bay lên bầu trời, hài cốt của ông là những xá lị long lanh như ngọc sáng. Tâm hồn ông mãi lưu danh sử sách, con cháu Đại Việt mãi nhớ về ông như một vị vua tài năng xuất thế, đạo hạnh của con người Trần Nhân Tông tỏa sáng như viên ngọc dạ minh châu.

 

_____________

 

Tịnh Tâm – Hà Phương

Nguồn: mb.dkn.tv

CHUYỆN VỀ ÔNG VUA SÁNG LẬP THIỀN PHÁI TRÚC LÂM YÊN TỬ

Không chỉ nổi tiếng với chiến công đánh bại sự xâm lược của quân Mông Nguyên đến từ phương Bắc, Trần Nhân Tông còn được biết đến như là vị sư tổ sáng lập nên Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, một dòng Thiền của riêng Việt Nam. Và cho đến ngày nay, huyền thoại về cuộc đời tu thiền của vị Phật hoàng lẫy lừng trong lịch sử Việt Nam vẫn ẩn giấu nhiều điều kỳ thú đối với những con dân nước Việt…

 

 

Từ một Hoàng đế xuất gia

 

Thực tế thì Trần Nhân Tông không phải là ông Vua đầu tiên cũng chẳng phải là vị Vua cuối cùng trong lịch sử Việt Nam xuất gia tu Phật. Phật giáo vào Việt Nam từ rất sớm và đến đời Lý – Trần thì tôn giáo này đạt đến cực thịnh. Cũng vì thế mà ông Vua khai quốc của triều Trần là Trần Thái Tông đã từng bỏ lên Yên Tử để đi tu và chỉ bất đắc dĩ trở lại Hoàng cung khi Thái sư Trần Thủ Độ đích thân lên mời. Rồi đến ông Vua thứ 11 của nhà Trần là Thuận Tông cũng đã đi tu theo đúng truyền thống của các ông Vua nhà Trần, dù thực tế thì Thuận Tông bị Hồ Quý Ly ép buộc.

 

Tuy nhiên, Trần Nhân Tông là ông Vua nhà Trần đầu tiên xuất gia theo đúng nghĩa của từ này. Hơn thế, chính Trần Nhân Tông là người đã hợp nhất các dòng Thiền lưu truyền từ trước để sáng lập nên Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, một dòng Thiền của riêng Việt Nam.

 

Trần Nhân Tông sinh ngày 11 tháng 11 âm lịch năm Thiệu Long năm thứ 1 (tức năm 1258) vốn tên thật là Trần Khâm, là con trai trưởng của Vua Trần Thánh Tông với Nguyên Thánh Thiên Cảm hoàng Thái hậu Trần Thị Thiều. Người ta kể rằng, khi mới sinh ra, bên vai trái của Trần Nhân Tông có nốt ruồi đen, mọi người cho rằng đó là tướng tốt, có thể cáng đáng được những việc lớn.

 

Khi còn nhỏ, Trần Nhân Tông được Vua cha là Thánh Tông đặt tên là Phật Kim, sau còn có tên là Nhật Tôn rồi mới đổi thành Trần Khâm. Năm 16 tuổi, sau khi từ chối nhiều lần mà không được, Trần Khâm buộc phải lên ngôi Thái tử. Người ta nói rằng, lý do Trần Khâm từ chối ngôi vị Thái tử mà nhiều người mơ ước là vì ông muốn đi tu. Vì vậy, dù đã ở nhận ngôi Thái tử nhưng Trần Khâm đã nhiều lần trốn đi tu song không thành. Bốn năm sau, năm 1278, Trần Thánh Tông quyết định truyền ngôi báu lại cho Thái tử Trần Khâm. Trần Khâm lên ngôi Vua tức Trần Nhân Tông, đổi niên hiệu thành Thiệu Bảo (1278 - 1285).

 

Mặc dù ở ngôi quân vương, song Trần Nhân Tông vẫn một lòng hướng Phật. Sử chép, sau khi lên ngôi Vua, Trần Nhân Tông vẫn sống thanh tịnh, thường ở chùa Tư Phúc xây tại nội điện, không dùng đồ mặn mà thường ăn chay nhạt. Ông cũng thường mời các Thiền sư đến giảng giải về Tâm tông. Thời gian lúc bấy giờ, Trần Nhân Tông thường xuyên gặp gỡ với Thiền sư Tuệ Trung Thượng sỹ.

 

Tuệ Trung Thượng Sỹ vốn tên thật là Trần Tung, là con trai của An Sinh Vương Trần Liễu và là anh ruột của vị Thống soái nổi tiếng trong cuộc chiến chống quân xâm lược Nguyên – Mông của nhà Trần: Trần Quốc Tuấn. Mặc dù tham dự cả ba lần chống quân xâm lược Nguyên - Mông nhưng khác với người em của mình, ngay từ thời trẻ, Trần Tung đã thích thú với Thiền học, từng bái Thiền sư Tiêu Dao làm thầy. Do kiến thức của Trần Tung rất uyên bác nên Trần Nhân Tông đã tôn ông làm thầy. Chính vị Trần Tung đã có ảnh hưởng rất lớn đến tư tưởng Thiền của Trần Nhân Tông cũng như việc thành lập Thiền phái Trúc Lâm sau này.

 

Mặc dù một lòng hướng Phật và ham thích Thiền học, tuy nhiên, Trần Nhân Tông cũng là một đấng minh quân kỳ tài và một vị chiến tướng dũng mãnh. Cùng với Trần Quốc Tuấn và những nhân vật kỳ tài thuộc thế hệ thứ 2 nhà Trần, Trần Nhân Tông đã lãnh đạo nhân dân hai lần đánh bại sự xâm lược của quân Nguyên - Mông, lúc bấy giờ đang làm bá chủ trên khắp hai lục địa Á – Âu vào các năm 1285-1288.

 

Khi quân Ai Lao ở phía Nam liên tục đem quân quấy nhiễu biên giới, cũng chính Trần Nhân Tông đã dẫn quân đi đánh dẹp vào năm 1290. Cũng chính ông Vua một lòng hướng đến Phật môn này đã từng có những tuyên bố nảy lửa: “Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác”.

 

Tuy nhiên, sau khi đánh tan cuộc xâm lược của bọn lang sói phương Bắc đồng thời dẹp yên vùng biên ải phía Nam, theo thông lệ các đời Vua trước, Trần Nhân Tông đã quyết định nhường ngôi lại cho con mình là Trần Anh Tông, quyết định xuất gia đi tu. Sử sách chép rằng, đó là chuyện xảy ra vào năm 1293, khi Vua Trần Nhân Tông đi chơi Vũ Lâm, Ninh Bình rồi quyết định xuất gia tại đây.

 

Có lẽ vì thời điểm Trần Nhân Tông nhường ngôi, Trần Anh Tông còn quá trẻ (Trần Anh Tông sinh năm 1276, khi lên ngôi mới 17 tuổi), nên Trần Nhân Tông đã quyết định ở ngôi Thái Thượng hoàng trong 5 năm sau đó trước khi quyết định rời khỏi Hoàng cung lên Yên Tử một lòng tu Phật. Đó cũng là khoảng thời gian xảy ra giai thoại Thượng hoàng Trần Nhân Tông dạy con nổi tiếng trong sử sách.

 

Đến vị Sơ Tổ của Trúc Lâm Yên Tử

 

Sau 5 năm ở ngôi Thái Thượng hoàng, Trần Nhân Tống quyết định giao toàn quyền cho Trần Anh Tông còn mình thì chọn Yên Tử làm nơi tu hành. Tại đây, Trần Nhân Tông siêng năng tu hành 12 hạnh đầu đà, tự gọi là Hương Vân Đại Đầu Đà. Cũng tại Yên Tử, Trần Nhân Tông đã bỏ rất nhiều công sức hoàn thành việc hợp nhất hệ thống giáo lý và tư tưởng của các Thiền phái trước đó đã xuất hiện ở Việt Nam, sáng lập nên Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, một dòng Thiền của riêng Việt Nam.

 

Cũng từ đây, ông lấy hiệu là Đầu đà Hoàng giác Điếu ngự hay Trúc Lâm Đầu Đà và bắt đầu xây dựng tăng xá, mở pháp độ tăng. Phật tử từ khắp nơi trong cả nước nghe tiếng Trần Nhân Tông kéo về xin thọ pháp đông như trẩy hội. Cũng chính vì vậy, mặc dù thuộc thế hệ thứ 6 của dòng Thiền Trúc Lâm, nhưng người đời sau đều tôn xưng Trần Nhân Tông là Sơ Tổ của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, coi đây như một dòng Thiền tiếp nối dòng Thiền Trúc Lâm. Cũng bắt đầu từ Trần Nhân Tông Việt Nam mới chính thức có một dòng Thiền Phật giáo của người Việt, do chính người Việt sáng lập.

 

Trên thực tế, Trần Nhân Tông không xuất gia với mục đích trở thành một cao tăng hay pháp chủ, cái ông muốn là tìm sự đào sâu vào những tư tưởng Thiền học từ đó tìm ra cái kế “vạn thuở vững âu vàng” cho non sông đất nước. Chính vì vậy, mặc dù đã xuất gia nhưng cho tới tận khi ông mất, Trần Nhân Tông vẫn không khi nào lơ là những chuyện quốc gia đại sự.

 

Sử sách chép rằng, những năm đầu mới lên Yên Tử, khi sức khỏe còn tốt, Trần Nhân Tông thường hay trở về Hoàng cung để giảng giải cho Trần Anh Tông về đạo làm Vua cũng như cách trị nước. Trong những cuộc nói chuyện với con trai của mình, Trần Nhân Tông còn để lại không ít những bài học về cách trị nước mà cho đến tận ngày nay vẫn còn nguyên giá trị.

 

Cái chết của Trần Nhân Tông cũng được người đời sau phủ lên một lớp màn huyền ảo và ly kỳ. Chuyện kể rằng, vào ngày mồng 5 tháng 10, năm Hưng Long thứ 16, tức năm 1208, chị gái của Vua Trần Nhân Tông là Công chúa Thiên Thụy cho người lên núi, tâu rằng: "Công chúa bệnh tình nguy kịch, muốn được trông thấy điều ngự lần cuối". Trần Nhân Tông liền chống gậy xuống núi, chỉ có một người đi theo.

 

Ngày mồng 10 tới kinh đô, ngày 16 dặn dò xong lại trở về núi. Trên đường về, người như linh cảm thấy số mệnh mình nên đã qua một số chùa để giã từ tăng hữu. Ngày 17, người nghỉ chân ở chùa Sùng Nghiêm, huyện Chí Linh, Hải Dương. Ngày 18, người đến chùa Tú Lâm gần đó.

 

Thấy đau đầu, người liền nói với hai nhà sư Tử Nan và Hoàng Trung rằng: "Ta muốn lên am Ngọa Vân, nhưng chân không bước nổi, biết làm sao đây?". Hai nhà sư thưa: "Đệ tử xin hết sức giúp đỡ". Tới quá chiều Vua Trần mới lên được đỉnh núi Ngọa Vân. Đây là ngọn núi cao nhất vùng thuộc làng Yên Sinh, huyện Đông Triều, quê gốc họ Trần. Trong thời gian tu ở Yên Tử, Trần Nhân Tông đã cho lập một am ở đây, đặt tên là Ngọa Vân (nằm trên mây), từ đó thành tên núi. Đôi khi người dừng chân đọc sách và tham thiền, nên đã có lối mòn đi tắt sang Yên Tử.

 

Ngày 19, Trần Nhân Tông sai người lên núi Yên Tử gọi thị giả của mình là Bảo Sái. Bảo Sái tới suối Doanh, trông thấy một đám mây đen từ phía Ngọa Vân bay qua núi Lỗi, đến suối thì nước dâng cao mấy trượng rồi lại phẳng lặng như thường. Bỗng thấy hai con rồng, đầu to như đầu ngựa cùng nghển cổ lên cao đến một trượng, hai mắt sáng như sao, một lúc thì biến mất.

 

Ngày 21, Bảo Sái tới Ngọa Vân. Trần Nhân Tông cười nói: "Ta sắp đi đây, sao ngươi tới muộn thế? Trong pháp thuật có chỗ nào chưa hiểu thì hỏi ngay đi". Mấy ngày liền, trời đất tối tăm, gió gào dữ dội, mưa như trút nước. Bỗng đêm ngày mồng 2, rạng ngày tới mồng 3 tháng 11, trời quang mây tạnh. Vua hỏi: "Giờ này là giờ gì?". Bảo Sái thưa: "Bây giờ là giờ Tý". Vua đẩy cửa sổ ra và nói: "Giờ của ta đó!". Nói xong, người nằm dáng sư tử, rồi tịch ngay trong am trên núi. Đó là ngày mồng 3 tháng 11 năm 1208. Năm đó Trần Nhân Tông 51 tuổi.

 

Có sự tích còn kể rằng trước khi tịch diệt về cõi niết bàn, Trần Nhân Tông bảo mọi người hãy xuống núi, sau đúng 100 ngày mới đến được đến gần, thấy núi thơm thì hãy hỏa táng thi hài, nếu không thì thôi. Mọi người tuân theo, đúng 100 ngày sau tới lưng chừng núi đã thấy thoang thoảng mùi thơm.

 

Sau đó thấy Trần Nhân Tông vẫn nằm nghiêng dáng sư tử, một mầm trúc non xanh mọc xuyên qua đùi trái. Tuyên theo di chúc, đệ tử của Trần Nhân Tông là Pháp Loa đã hỏa thiêu thi hài người, sau đó lấy tro viên thành một ngàn viên xá lỵ, một số đưa về táng ở Cung Vua, một số táng ở vườn Huệ Quang trên núi Yên Tử.

_________________

 

Đại Nam

Nguồn: vncphathoc.com

VIỆT SỬ GIAI THOẠI: THƯỢNG HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG DẠY VUA

 

Trần Nhân Tông húy là Khâm, được vua cha là Trần Thánh Tông truyền ngôi cho từ năm 1278, làm vua đến năm 1293 thì nhường ngôi cho con là Thái tử Thuyên, tức vua Trần Anh Tông. Từ đó, Trần Nhân Tông là Thượng hoàng. Anh Tông thích rượu chè, bởi vậy mới có chuyện Thượng hoàng Trần Nhân Tông dạy vua Trần Anh Tông vào năm Kỷ Hợi (1299) được sử cũ ghi lại. Nay theo sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục (chính biên, quyển 8, tờ 27 và 28) mà thuật lại như sau:

 

“Lúc ấy, Thượng hoàng từ phủ Thiên Trường về kinh, các quan trong triều không ai hay biết. Vua uống rượu xương bồ, say ngủ đánh thức mãi không được. Thượng hoàng thong thả đi xem hết các cung điện một hồi lâu, đến khi nội hầu dâng cơm, Thượng hoàng không thấy Vua, lấy làm lạ, bèn hỏi. Biết chuyện (Vua say rượu) Thượng hoàng giận lắm, lập tức trở về Thiên Trường, hạ chiếu cho trăm quan nội ngày mai phải đến tề tựu (ở Thiên Trường) để nghe chỉ dụ. Đến quá trưa (hôm sau) Nhà vua mới tỉnh dậy. Cung nhân đem việc đó tâu bày, Nhà vua sợ quá, đi bộ ra ngoài cung, khi về qua chùa Tư Phúc, gặp người học trò là Đoàn Nhữ Hài. Vua hỏi, Nhữ Hài vội vàng cúi rạp xuống đất thưa là học trò đi học. Vua cho theo vào cung, bảo rằng:

 

- Mới đây, trẫm say rượu, bị Thượng hoàng hỏi tội, nay muốn dâng biểu tạ tội, nhà người hãy thảo giúp ta tờ biểu ấy.

 

Nhữ Hài vâng lời, thảo xong ngay. Nhà vua liền dùng thuyền nhỏ, cho Nhữ Hài đi theo, đêm thì tới Thiên Trường. Sớm hôm sau (Vua) sai Nhữ Hài đội tờ biểu dâng lên. Thượng Hoàng hỏi:

 

- Người dâng biểu là người nào?

 

Người hầu cận thưa rằng:

 

- Đấy là người của Quang gia (chỉ vua Trần - ND) sai dâng biểu tạ tội.

 

Thượng hoàng không nói gì cả. Trời xẩm tối, gió mưa ầm ĩ mà Nhữ Hài vẫn quỳ gối không nhúc nhích, Thượng hoàng bèn cho lấy tờ biểu vào xem, thấy lời lẽ ý tứ thiết tha thành khẩn, mới cho triệu Nhà vua vào và dạy rằng:

 

- Ta không có người con nào nữa để nối ngôi hay sao? Nay ta còn sống mà đã thế, sau này sẽ ra sao?

 

Nhà vua cúi đầu tạ tội. Thượng hoàng hỏi:

 

- Ai soạn tờ biểu này?

 

Nhà vua tâu:

 

- Tên học trò là Đoàn Nhữ Hài

 

Thượng hoàng lại cho triệu Đoàn Nhữ Hài vào, dụ bảo rằng:

 

- Tờ biểu nhà người soạn thực hợp ý ta.

 

Sau đó, Thượng hoàng cho Nhà vua lại được làm vua như cũ, trăm quan lại trở về triều như trước. Ở phủ Thiên Trường về, Vua cho Nhữ Hài làm ngự sử trung tán. Bấy giờ, Nhữ Hài mới có hai mươi tuổi, có kẻ ghen ghét, cho là mới ít tuổi đã làm quan, làm thơ nói mỉa Ông là miệng còn hơi sữa”.

 

Lời bàn: Sử cũ cho biết, sau lần bị Thượng hoàng trách phạt này, Anh Tông không bao giờ uống rượu nữa. Những kẻ thích uống rượu cũng không bao giờ được Anh Tông cất nhắc. Mới hay, có nghiêm phụ lại có cả hiếu tử, gia giáo tốt đẹp biết ngần nào. Kẻ ghen ghét cho Nhữ Hài miệng còn hơi sữa, có biết đâu tài chẳng đợi tuổi bao giờ. Họ cười Nhữ Hài nhưng người đời lại cười họ, bởi lẽ, Nhữ Hài quả là bậc trung thần túc trí, càng về sau lắm công lao. Con mắt của người biết thành khẩn nhận lỗi như vua Trần Anh Tông chẳng phải là sáng suốt lắm đó sao.


________________

Nguyễn Khắc Thuần (Theo Việt sử giai thoại,NXB Giáo dục,2008)

Nguồn: giacngo.vn

CÂU CHUYỆN LỊCH SỬ VỀ VUA TRẦN NHÂN TÔNG và HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG

Tháng Chạp năm Giáp Thân (1284), dưới thời vua Trần Nhân Tông (1279-1293), tướng nhà Nguyên là Thoát Hoan đưa thư sang xin mượn đường nước ta để đánh Chiêm Thành. Nhà vua từ chối và trả lời: “Từ nước tôi đến nước Chiêm Thành, đường thủy đường bộ đều không tiện”; đồng thời, lệnh cho Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn (1228-1300) chia quân các nơi để phòng thủ. Vua tôi nhà Nguyên vẫn quyết định sang xâm phạm nước ta. Đề cập đến giai đoạn quân giặc xâm lăng, tác giả Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lược chép: “Thoát Hoan thấy Hưng Đạo vương giữ cả các nơi, liền tiến binh lên đánh núi Kỳ Cấp, ải Khả Ly và ải Lộc Châu. Quân hai bên đánh nhau ở núi Kỳ Cấp hai ba trận không phân thắng bại. Nhưng sau vì Khả Ly và Lộc Châu thất thủ, quân An Nam phải rút về ải Chi Lăng. Thoát Hoan dẫn đại binh đến đánh Chi Lăng, Hưng Đạo vương kém thế, thua chạy ra bến Bái Tân, xuống thuyền cùng bọn gia tướng là Dã Tượng và Yết Kiêu về Vạn Kiếp. Các tướng thu nhặt tàn quân dần dần cũng kéo về đây.

 

 

Nhân Tông nghe Hưng Đạo vương thua chạy về Vạn Kiếp, liền ngự một chiếc thuyền nhỏ xuống Hải Đông (tức Hải Dương) rồi cho vời Hưng Đạo vương đến bàn việc, nhân thấy quân mình thua, trong bụng lo sợ, mới bảo Hưng Đạo vương rằng: “Thế giặc to như vậy, mà chống với nó thì dân sự tàn hại, hay là trẫm hãy chịu hàng đi để cứu muôn dân?”.

 

Hưng Đạo vương tâu rằng: “Bệ hạ nói câu ấy thì thật là nhân đức, nhưng mà tôn miếu xã tắc thì sao? Nếu bệ hạ muốn hàng, xin trước hãy chém đầu tôi đi đã, rồi sau sẽ hàng!”. Vua nghe nói trung liệt như vậy, trong bụng mới yên” (VNSL t1, sđd, tr. 139).

 

Gần đây, tác giả Lê Thành Khôi trong quyển Histoire du Viet Nam des origines à 1858 được nhà Sud Est Asie xuất bản năm 1987 tại Paris, tác giả đã viết với nội dung như trên ở trang 186:

 

“Nhân Tông, bord d’un sampan léger, était descendu Hai Dong (Quang Yên). Il fi t mander Hung Dao et l’interrogea, soucieux: “La puissance de l’ennemi semble telle que je crains qu’une guerre prolongée n’entraine pour le peuple d’immenses destructions. Ne vaut-il pas mieux nous rendre pour l’en sauver?”. Le généralissime répondit: “Ces paroles manifestent les sentiments d’humanité de Votre Majesté, mais les Temples Dynastiques et les Dieux du Sol et des Moissons, que de viendraient-ils alors? Si vous voulez vous rendre, faites d’abord trancher ma tête!”.

 

Dịch là:

 

Vua Nhân Tông đi thuyền nhẹ xuống Hải Đông (Quảng Yên). Ngài cho vời Hưng Đạo vương đến hỏi: “Thế giặc dữ dội như thế e rằng cuộc chiến sẽ kéo dài gây tàn hại cho dân chúng, thôi thì để trẫm đầu hàng giặc để cho dân chúng bớt khổ”. Hưng Đạo vương trả lời: “Đức ngài nói câu đó thật là vị vua có lòng thương dân, nhưng rồi sơn hà xã tắc sẽ ra sao? Nếu bệ hạ muốn hàng giặc thì xin chém đầu thần trước đã” (Histoire du…, sđd, tr.186).

 

Trong cuốn Việt sử toàn thư, soạn giả Phạm Văn Sơn cũng có chép câu chuyện giữa vua Trần Nhân Tông và Hưng Đạo vương khi hội họp ở Hải Đông trên một chiếc thuyền nhẹ với nội dung tương tự:

 

Vua Nhân Tông được tin Hưng Đạo vương lui quân khỏi Lạng Sơn liền xuống chiếc thuyền nhỏ ra Hải Đông (tức là Hải Dương), triệu Hưng Đạo vương đến. Nhân Tông nói: “Thế giặc lớn như vậy chống với nó e dân sự sẽ tàn hại, hay là hàng chúng nó để cứu lấy dân?”. Hưng Đạo vương khẳng khái trả lời rằng: “Bệ hạ vì lòng thương dân mà nghĩ như vậy nhưng tôn miếu và xã tắc thì sao? Nếu bệ hạ muốn hàng thì hãy chém đầu tôi đi trước đã”. (Việt sử toàn thư, sđd, tr.184).

 

Về sau, rất nhiều cuốn từ điển, điển tích danh nhân, truyện danh nhân… của nhiều tác giả khác xuất bản trước và sau năm 1975 đã sao chép và truyền lại với cùng nội dung như thế!

 

Mặt khác, trong cuốn Đại cương lịch sử VN tập 1, (Trương Hữu Quýnh, Phan Đại Doãn, Nguyễn Cảnh Minh đồng biên soạn), xuất bản 1998 tại Hà Nội ghi ở trang 226 như sau về sự kiện này xảy ra vào thời vua Trần Thánh Tông:

 

“Thuyền chủ tướng Trần Quốc Tuấn xuôi sông Lục Nam về Vạn Kiếp. Nghe tin quân ta rút lui, vua Thánh Tông vội vã đi thuyền ra gặp Quốc Công tiết chế. Trời chiều, nhà vua vẫn chưa ăn sáng, người lính cận vệ nắn phần gạo xấu của mình dâng lên. Thánh Tông vờ hỏi Thống soái: “Thế giặc như thế ta phải hàng thôi”. Trần Quốc Tuấn nghiêm chỉnh trả lời: “Bệ hạ chém đầu tôi rồi hãy hàng”.

 

Như thế sự thật là thế nào, và mức độ chính xác của câu chuyện trên ra sao?

 

Ghi chép giai đoạn này, sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Ngày 26 (tháng 12-1284), giặc đánh vào các ải Vĩnh Châu, Nội Bàng, Thiết Lược, Chi Lăng, quan quân bị thua, lui về đóng ở Vạn Kiếp. Lúc ấy vua ngự chiếc thuyền nhẹ sang lộ Hải Đông, ngày đã gần chiều, chưa ăn cơm sáng, có tiểu tốt là Trần Lai đem dâng cơm gạo xấu, vua khen là trung, ban cho tước thượng phẩm.

 

Hưng Đạo vương vâng lệnh điều quân dân các lộ Hải Đông, Vân Trà, Ba Điểm, chọn người mạnh khỏe làm quân tiền phong, vượt biển vào nam, thế quân đã hơi nổi; các quân nghe thế, không quân nào là không đến tụ họp. Vua đề thơ đề ở cuối thuyền rằng: Cối Kê cựu sự quân tu ký, Hoan Ái do tồn thập vạn binh” (Cối Kê việc cũ người nên nhớ, Hoan Ái hãy còn mười vạn quân)” (ĐVSKTT, T1, sđd, tr.503).

 

Đại Việt sử ký tiền biên được khắc in năm Canh Thân (1800), biên soạn bởi các sử gia Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên (đời Trần), Lê Tung, Ngô Sĩ Liên, Ngô Thời Sĩ và được Ngô Thời Nhậm tu đính, ở trang 438 chép sự kiện trên cũng với nội dung tương tự.

 

Sách Khâm định việt sử thông giám cương mục ghi:

 

“Quốc Tuấn chia quân chống cự phòng thủ. Quân Nguyên kéo tới Lộc Châu, lại sai Bả tổng là A Lý sang nói rõ về lý do cất quân là cốt sang đánh Chiêm Thành chứ không có ý gì khác. Quân ta ngăn cản ở núi Kheo Cấp, quân Nguyên không tiến sang được. Chúng liền tiến theo cửa ải Khả Ly, quan quân ta chống cự lại không được; chúng bèn vào cửa ải Chi Lăng, quan quân ta lui về giữ bến Vạn Kiếp. Nhà vua ngự chiếc thuyền nhỏ sang Hải Đông, lúc ấy trời đã chiều mà chưa ăn cơm sáng, có tiểu tốt là Trần Lai đem cơm gạo hẩm dâng lên, nhà vua khen là người trung nghĩa, cho chức Thượng phẩm.

 

Nhà vua sang Hải Đông hạ lệnh cho Quốc Tuấn điều khiển dân quân các lộ Vân Trà, Ba Điểm, chọn người khỏe mạnh cho làm tiền phong, vượt biển kéo vào mặt nam, thế quân dần dần phấn chấn….” (KĐVSTGCM, T1, sđd, tr. 495).

 

Qua nội dung trong các cuốn “cổ sử” đó, ta thấy rằng vua Trần Nhân Tông gặp Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn ở Hải Đông để bàn kế chống giặc,cũng như hạ lệnh cho Hưng Đạo vương tổ chức tấn công giặc Nguyên, không có đoạn nào ghi chép việc nhà vua có ý đầu hàng như các soạn giả Trần Trọng Kim, Phạm Văn Sơn, Lê Thành Khôi và nhiều soạn giả khác đã ghi chép như trích dẫn ở phần đầu bài viết. Không biết câu chuyện trên có xuất xứ từ đâu. Theo chúng tôi, có thể các soạn giả vừa nêu có sự lẫn lộn giữa sự kiện vua Trần Thái Tông (1225-1258) với Trần Thủ Độ, xảy ra trong lần quân Mông Cổ sang xâm lược nước ta lần đầu vào năm Đinh Tỵ (1257), với câu nói nổi tiếng của quan Thái sư: “Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo!”.

 

Vua Trần Nhân Tông và Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn là hai danh nhân lớn của dân tộc, cả hai vị đều có vai trò rất quan trọng đối với tiến trình lịch sử, với nền văn hóa và sự phát triển của đất nước Đại Việt, vì thế thiển nghĩ dù chỉ là câu chuyện ngoại sử hay đó chỉ là giai thoại thì cũng rất cần xác minh sự chính xác của nó.

 

Cũng cần nói thêm về sự kiện Hưng Đạo vương rút quân về Vạn Kiếp. Khi nhận định về sự kiện này, tác giả Hoàng Cao Khải đã viết trong tác phẩm Việt sử yếu của ông với một tư tưởng rất tiến bộ: “Trần Quốc Tuấn biết được kế hoạch của quan quân nhà Nguyên nên đã chia binh làm hai đạo ứng chiến: một đạo đóng ở Kỳ Lừa (Lạng Sơn) để ngăn chặn quân của Thoát Hoan. Còn một đạo binh nữa thì trấn thủ tỉnh Nghệ An để phòng bị quân của Toa Đô. Lúc bấy giờ, quan quan nhà Nguyên đã vượt khỏi cửa ải Chi Lăng, quan quân ta kháng chiến bất lợi, phải rút lui để bảo thủ đồn Vạn Kiếp, vua ta phải đi xuống miền Hải Đông. Thoát Hoan một mạch xua quân tiến sâu vào nội địa nước ta. Quân nhà Nguyên chiếm cứ Bắc Giang, rồi vào lấy luôn kinh thành Thăng Long,

 

Sở dĩ quan quân ta không kháng chiến là để dụ quân giặc tiến vào sâu trong nội địa, rồi sau quân ta mới phản công. Toa Đô từ nước Chiêm Thành kéo quân trở về Bắc Kỳ, dọc đường đi qua các tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An đều không gặp một sự ngăn trở nào. Quan quân ta không ngăn trở bước tiến quân của quân giặc là để đợi đến lúc chúng bị khó nhọc, mỏi mệt rồi quân ta mới đánh úp thì chắc chắn phần thắng lợi sẽ về ta.

 

Thoát Hoan chiếm được thành Thăng Long, càng đắc chí kiêu căng, không màng đặt kế hoạch phòng bị. Gặp lúc Toa Đô kéo quân trở về đến Tây Kết chỉ cách Thăng Long ba trăm dặm, nhưng chưa kịp hợp làm một với cánh quân của Thoát Hoan. Bấy giờ Trần Quốc Tuấn mới tung quân ra để nghinh chiến. Một mặt ngài sai Trần Nhật Duật đốc suất một cánh quân đánh bại quân giặc ở cửa quan Hàm Tử, chém đầu được tướng Nguyên là Toa Đô. Một mặt ngài sai tướng Trần Quang Khải đốc suất một cánh quân khác đánh bại quân địch ở đò Chương Dương lấy lại được kinh thành Thăng Long.

 

Còn mặt trận khác thì do tướng Trần Quốc Toản dẫn binh đón đường ngăn chặn quân địch, và giao chiến với chúng ở Vạn Kiếp. Bọn tướng Nguyên là Thoát Hoan bị thua nặng, chạy trốn về Tàu…” (Việt sử yếu, sđd, tr.209).

 

Thiết tưởng đây là một nhận định đúng đắn và chính xác về kế hoạch hành quân vào thời điểm đó của Hưng Đạo vương, một tướng lãnh tài ba của quân dân ta trong thế kỷ XIII; người đã viết nên tập danh thư Binh thư yếu lược. Ông đã vận dụng ngay những điều đã biên soạn để cùng quân dân cả nước đánh tan mấy chục vạn quân Nguyên âm mưu xâm phạm bờ cõi nước ta.

 

Tài liệu tham khảo:

 

- Đại Việt sử ký toàn thư, T1, Nxb VHTT, 2004. - Đại Việt sử ký tiền biên, Nxb VHTT, 2011. - Khâm định Việt sử thông giám cương mục, T1,QSQTN, Nxb Giáo Dục, 2007. - Việt Nam sử lược, Q1, Trần Trọng Kim, TTHL Bộ GD SG, 1971. - Việt sử toàn thư, Phạm Văn Sơn, Saigon, 1960. - Histoire du Viet Nam des origines à 1858, Lê Thành Khôi, Nxb Sud Est Asie (Paris), 1987. - Việt sử yếu, Hoàng Cao Khải, Nxb Nghệ An, 2007. - Đại cương Lịch sử Việt Nam, tập 1, Trương Hữu Quýnh, Phan Đại Doãn, Nguyễn Cảnh Minh, Nxb GD, 1998

 

_______________________

 

Văn Hóa Phật Giáo số 260 tháng 11 năm 2016

Bài và ảnh: Tôn Thất Thọ

Nguồn: thuvienhoasen.org

MÙI HƯƠNG TRẦM

 

PHẦN THỨ HAI: ẤN ĐỘ SUỐI NGUỒN THIÊNG LIÊNG

 

Bihar, vùng đất thánh

Đi dọc sông Hằng 

Hoa Thị Thành 

Na-lan-đà, đại học Phật giáo đầu tiên 

"Vui đẹp thay thành Vương Xá" 

Trên đỉnh Linh Thứu 

Từ Linh Sơn, nhớ về Yên Tử

 

BIHAR, VÙNG ĐẤT THÁNH


Ngày nay Ấn Độ là một quốc gia thống nhất với 25 tiểu bang và 800 triệu dân. Trong số các tiểu bang thì Bihar là một vùng đất đặc biệt nằm phía Đông Bắc Ấn Độ với thủ phủ là Patna. Bihar rộng khoảng nửa nước Việt Nam và với một số dân khoảng 90 triệu người, tiểu bang này có mật độ dân cư rất cao. 

 

Bihar được xem là vùng đất thánh của Ấn Độ không phải chỉ vì có sông Hằng chảy qua. Đó là một vùng đất lạ lùng vì nó là nơi sản sinh và hoạt động của nhiều thánh nhân vĩ đại của Ấn Độ. Cách đây hơn 25 thế kỷ, đây là cũng là vùng hoạt động chính của Phật Thích-ca. Tại Bihar ngày xưa trong thế kỷ thứ hai sau công nguyên đã thành hình viện Phật học Na-lan-đà. Đây là nơi các vị luận sư nổi tiếng như Long Thụ, Trần Na giảng dạy, là nơi các vị tổ thiền Ấn độ lưu trú, là chỗ đón tiếp những khách hành hương đến học tập như Pháp Hiển, Huyền Trang. Bihar cũng là quê hương của rất nhiều vị Đại thành tựu giả [1], đó là những vị có chung một đặc điểm là trong một đời người mà giác ngộ giải thoát sau khi trải qua nhiều cuộc khủng hoảng. 

 

Những vị đó là những thánh nhân kỳ dị mới đầu mang đầy ô nhiễm của thế nhân, nhưng cuối cùng lại biến dục lạc thành phương tiện giác ngộ. Đó là những du già sư xuất hiện cuối cùng trước khi đạo Phật diệt vong tại Ấn Độ. Trong các vị này có một kẻ mang tên Ti-lô-pa, đây là vị tổ đầu tiên của phái Ca-nhĩ-cư của Tây Tạng [2]. Ngày nay người ta còn nhắc tới Tan-tê-pa, người mê đánh bạc, chỉ cần quán “thế giới cũng rỗng như túi tiền của mình“ mà ngộ Tính Không. Hay Kan-ka-ri-pa, kẻ say đắm nữ sắc, người được dạy hãy quán nữ nhân của mình là thần Không hành nữ [3] và nhận ra “mọi sắc thể đều do tự tính biến hiện“. Họ làm ta nhớ đến Từ Đạo Hạnh của Việt Nam trong thế kỷ 12, trong một đời mà từ bỏ hắc đạo để “làm Phật làm tiên“ [4].

 

Vì thế Bihar có một lịch sử của hai ngàn năm trăm năm. Ngày Phật còn tại thế thì phía nam sông Hằng của vùng này là một tiểu quốc tên gọi là Ma-kiệt-đà, tại phía bắc là nước Kiều-tát-la [5]. Thời đó vua của Ma-kiệt-đà là Tần-bà-sa-la và kinh thành của ông là Vương Xá, thị trấn này ngày nay có tên là Rajgir. Như đã nói trong phần trước, ông chẳng may có người con trai ngỗ nghịch là A-xà-thế. A-xà-thế giam cha mẹ vào ngục, bỏ đói đến chết, giành ngôi vua và dời đô lên phía bắc Vương Xá, đến Hoa Thị Thành [6], nằm trên bờ nam sông Hằng. Hoa Thị Thành phồn vinh suốt cả ngàn năm, ngày nay có tên là Patna. Patna chính là thủ phủ của tiểu bang Bihar, có sân bay nội địa.

 

Trở lại chuyện ngày xưa thì sau đời A-xà-thế là một triều đại phồn vinh có tên là Maurya [7] lên ngôi, với sự lãnh đạo của nhà vua Chandragupta. Ông lấy Hoa Thị Thành làm kinh đô, thống nhất các vương hầu làm thành một thế lực hùng mạnh. Hồi đó là thế kỷ thứ ba trước công nguyên mà Chandragupta đã bắt đầu liên lạc với các nhà vua Hy lạp. Thế nhưng lúc đó cũng chưa phải là giai đoạn vàng son vì lịch sử phải đợi đến một người cháu của Chandragupta tên gọi là A-dục (Ashoka) mới lên đến tột đỉnh. 

 

A-dục trị nước từ năm 269-232 trước công nguyên và vương quốc của ông hùng hậu chưa từng thấy, trải dài từ Kashmir phía bắc đến Mysore miền nam, từ Bangladesh đến Afganistan ngày nay, hầu như toàn bộ nước Ấn Độ mênh mông bây giờ. Nhưng quyền lực bao giờ cũng phải được trả giá bằng xương máu, nhất là thời phong kiến của A-dục. Ngày nọ trên một bãi chiến trường đẫm máu, ông động tâm sâu sắc, thề không nhúng tay vào chinh chiến nữa. Ông tìm nơi Phật Thích-ca là người thầy của mình, cho xây dựng trong vương quốc của mình khoảng 30 trụ đá [8], 18 tấm thạch bích ghi lại những lời giáo hóa và tán thán về đức Phật mà ngày nay người ta còn tìm thấy tại Bihar, Orissa, Delhi, Sarnath. 

 

A-dục cho nhiều sứ giả mang kinh sách, tranh tương đi khắp nơi các vùng Đông Á để truyền bá đạo Phật. Huyền sử chép rằng ông có làm quà cho Trung Quốc một bức tượng của Phật Thích-ca, bức tượng đó ngày nay được thờ tại Lhasa Tây Tạng, bức tượng « biết nói », được xem như thiêng liêng nhất của Tây Tạng [9]. Con trai của A-dục là Mahendra về sau thành tăng sĩ, người đã mang giáo pháp qua Tích Lan. Tiện đường, Mahendra cũng mang một nhánh con của cây Bồ-đề, chỗ Phật thành đạo qua Tích Lan trồng và ngày nay còn xanh tốt. Trụ đá mang đầu sư tử của A-dục cho xây dựng ngày nay là quốc huy của nước Ấn Độ.

 

Sau khi vua A-dục chết năm 232, vương triều Maurya sớm suy tàn, nước Ấn Độ lại chia năm xẻ bảy ra nhiều tiểu quốc và suốt 2000 năm sau đó, cho tới lúc người Anh chiếm nước này làm thuộc địa, không có một vương quốc nào trên bán đảo này mà sự hùng mạnh có thể so sánh với thời kỳ A-dục. Khoảng sáu trăm năm sau A-dục, tức trong thế kỷ thứ 4 sau công nguyên là thời đại Gupta. Gupta cũng là một triều đại rực rỡ của Ấn Độ về văn hóa, triết học và toán học. Thế nhưng triều đại Gupta không kéo dài hơn 200 năm. Khoảng thế kỷ thứ 7, một tôn giáo khác ra đời, đó là Hồi giáo. 

 

Sau khi nhà sáng lập Hồi giáo là Mohammed chết năm 632, đạo Hồi lan đến Ấn Độ năm 712 và bắt rễ tại đây, đồng thời mối tranh chấp giữa Hồi giáo và Ấn Độ giáo bắt đầu nảy sinh. Trong những cuộc thánh chiến giữa Hồi giáo và Ấn Độ giáo sau đó, đạo Phật cũng bị suy yếu nặng nề, thế lực của Hồi giáo cũng lan tràn đến Bihar và vùng đất thiêng liêng này là kẻ chứng kiến biết bao thảm họa do lòng tin tôn giáo mù quáng gây ra. Ngày nay trên bán đảo Ấn Độ mênh mông, đạo Phật xem như đã diệt vong, chỉ còn Ấn Độ giáo và Hồi giáo. Giữa hai tôn giáo đó là một sự tranh chấp sâu xa, khi âm ỉ, khi bùng nổ, nhưng nó luôn luôn hiện diện từ những bình diện chính trị cao nhất đến đời sống bình thường của nhân dân.

 

Tuy có một quá khứ huy hoàng nhưng Bihar ngày nay là một tiểu bang nghèo. Hoa Thị Thành hay Patna là cố đô của một thời chói lọi, lại là điểm xuất phát để đi thăm nhiều thánh tích. Vì thế tôi lấy máy bay từ Delhi đi Patna.

 

ĐI DỌC SÔNG HẰNG


Hãy ra khỏi Delhi, rời bỏ các lâu đài tráng lệ, các vùng nghỉ mát danh tiếng để tìm hiểu kỹ hơn nước Ấn Độ. Tôi đã đi nhiều nơi trên thế giới, giàu nghèo khác nhau nhưng chưa thấy nước nào kỳ lạ, đầy những ấn tượng trái ngược như Ấn Độ. Ta không thể nào hiểu được nước này, không thể mô tả nó. Nhà văn Mỹ Mark Twain, người có nhiều nhận xét sâu sắc hóm hỉnh, thăm Ấn Độ năm 1896, viết về xứ này như sau: “Mỗi khi bạn nghĩ là mình đã tìm hiểu hết những tính cách lạ lùng của nước này và muốn cho nó một danh hiệu nào đó...xứ sở của dịch hạch, xứ sở của nghèo đói, xứ sở của những ảo giác khủng khiếp, xứ sở của những ngọn núi ngất trời...vân vân, thì lại sớm hiện ra những tính cách mới và bạn thấy cần những danh hiệu mới“. Cuối cùng Mark Twain thấy hay nhất là vứt bỏ mọi danh hiệu và đặt tên Ấn Độ là “xứ sở của sự kỳ diệu“.

 

Đây là nơi mà ta phải ngắm Taj Mahal lúc nửa đêm, nhìn cái nghèo đói lúc ban ngày, nếm cái bụi bặm của những làng quê buồn tẻ, đi lạc trong màu sắc rực rỡ và tiếng ồn ào của các basar, nhìn những đàn bò và khỉ sống chung với con người, xem những đám rước tôn giáo mê say quên mình. Đây là nơi mà thiên nhiên cho dấu ấn một cách sắc nét nhất với những con sông, những ngọn núi, với sức nóng tàn khốc và những cơn bão kinh người.

 

Đây là một quốc gia thuộc về 15 nước công nghiệp hàng đầu trên thế giới nhưng 70% dân chúng vẫn cày cấy với dụng cụ thô sơ của cha ông để lại và sống bên bờ của sự thiếu ăn. Tại Ấn Độ, trong một nhà máy có thể người ta đang sản xuất bom nguyên tử và tên lửa liên lục địa nhưng ngoài nhà máy vẫn là nơi sửa xe bò theo cách của thời A-dục vương để lại. Trí thức Ấn Độ có thể là những triết gia nhất nhì thế giới, là các nhà khoa học xuất sắc được nhiều nước tranh nhau mời về nghiên cứu, họ sống bên cạnh 60% dân chúng mù chữ. Phú gia Ấn Độ rất nhiều và cũng rất giàu có, của cải của họ không ai biết hết được, dưới mái hiên cung điện của họ là những tu sĩ thiếu cả áo quần che thân ngồi đợi mặt trời mọc để hành trì phép du-già. 

 

Tiểu bang Bihar là một vùng có nhiều tu sĩ như thế. Patna, thủ phủ của Bihar, cách Delhi khoảng 800km đường chim bay về hướng đông nam. Máy bay hầu như bay dọc theo dòng chảy của sông Hằng trên địa phận tiểu bang Uttar Pradesh.

 

Uttar Pradesh là một dãy bình nguyên nằm kề sát chân Hy-mã lạp sơn. Đây là một vùng thấp nhưng ít nước khó canh tác, chỉ một phần ba đất trồng trọt có các hệ thống tưới tiêu lấy nước từ sông Hằng. Vì thế từ xưa đến nay Uttar Pradesh là một vùng nghèo. Thế nhưng đây là đường trực tiếp nhất đi từ vùng rẻo cao Simla về Bihar nên chính vùng này là đường mà ngày xưa Huyền Trang đã đi hành hương. Đây là dịp đọc lại [10] và tìm hiểu lộ trình của ông trong thế kỷ thứ 7.

 

Máy bay đi qua địa phận của hạt Bijnor nằm trên tả ngạn sông Hằng, đó là nơi mà Huyền Trang lưu lại trong mùa xuân và hè năm 635 để nghiên cứu kinh sách của phái tiểu thừa Nhất thiết hữu bộ [11], một bằng chứng về tính bác học của ông, mặc dù hồi đó lòng ông đã hướng hẳn về phía đại thừa. Đi thêm một đoạn sông Hằng nữa là thủ phủ Kannauj mà ngày Huyền Trang đến là một thành phố hết sức phồn vinh, là kinh thành của một nhà vua rất mộ đạo Phật tên gọi là Harsavardhana, trị vì từ năm 606 đến 647. Cũng trong vùng trung lưu sông Hằng này, Huyền Trang đến tiểu quốc Ayodhya, quê hương của hai nhà sáng lập phái Duy thức là anh em Vô Trước [12] và Thế Thân [13], sống trước ông khoảng hai trăm năm. 

 

Huyền sử chép rằng Ayodhya là nơi mà Vô Trước mời Bồ-tát Di-lặc hạ giới giáo hóa. Suốt bốn tháng liền, Vô Trước cứ ban đêm thì nghe Di-lặc giảng, ban ngày thì giảng lại cho đại chúng. Di-lặc được xem là tác giả của bộ « Du già sư địa », bộ luận mà Huyền Trang là người dịch ra chữ Hán. Huyền Trang đến thăm lại tu viện nằm trong một vườn xoài, nơi mà Vô Trước giảng cho em là Thế Thân ngộ lý Duy thức. Sau khi đại ngộ, Thế Thân định rút dao cắt lưỡi vì từ xưa đến nay ông luôn luôn phát biểu chống Duy thức nhưng lại Vô Trước lại là người cứu em khỏi câm. Ayodhya là quê hương tâm linh của Huyền Trang vì ông chính là người đem phái Duy thức về Trung Quốc dưới tên Pháp tướng tông.

 

Sau một giờ bay, máy bay ở khoảng vị trí Allahabad, chỗ giao lưu của sông Hằng và sông Yamugar, đó cũng là nơi Huyền Trang thoát chết một cách huyền bí. Ông bị một nhóm giặc cướp bắt và bị lấy hết hành lý. Thế nhưng chẳng may cho ông là nhóm giặc này đang tìm giết một chàng trai khôi ngô tuấn tú để tế cho nữ thần Durga mà Huyền Trang thì quá đẹp trai. Ở đây xem ra chuyện Tây Du ký của Ngô Thừa Aân nói về Đường Tăng bị yêu quái mê mẫn không phải hoàn toàn bịa đặt. 

 

Sau khi thuyết phục giặc cướp không xong và thấy chúng đang mài dao kiếm, Huyền Trang thấy mình đã tới số, ông ung dung xin họ chút thời gian để cầu đức Di-lặc đưa mình về trời Đâu-suất nghe pháp. Lúc linh ảnh của Di-lặc xuất hiện trong tâm của Huyền Trang thì cũng là lúc đá chạy cát bay. Giặc cướp hoảng hồn hỏi gia nhân ông về tung tích nhà sư này. Gia nhân kể cho họ nghe ông là một tu sĩ Trung Quốc qua Ấn Độ hành hương và thỉnh kinh. Và khi Huyền Trang mở mắt ra chịu chết thì giặc cướp đã phủ phục dưới chân ông.

 

Sau Allahabad, lẽ ra Huyền Trang phải thuận đường thủy tiếp tục đi theo sông Hằng về hướng đông đến Lộc Uyển, chỗ đức Phật chuyển pháp luân nhưng không hiểu tại sao ông đổi hướng, đi ngược lên hướng bắc tìm đến quê hương của Ngài. Có lẽ qua biến cố vừa rồi, ông thấy chuyến đi quá hiểm nguy, phải đến đảnh lễ chỗ Phật đản sinh tại Lâm-tì-ni để phòng trước đời mình có ngắn ngủi. Lúc đó Huyền Trang không biết rằng mình còn sống 30 năm nữa.

 

Còn tôi, kẻ hậu sinh sống thêm mấy đời cũng không làm nổi học trò ông, thì ngồi máy bay đi tiếp về Hoa Thị Thành. Ôi, xấu hổ làm sao khi thấy nghị lực và trí tuệ của người xưa. Ngày nay người đi hành hương quá dễ, quá khỏe, quá tiện nghi. Nếu ngày xưa con người phải đổi mạng để lấy kinh sách và để được cảm khái đến gần dấu chân thánh nhân thì ngày nay chỉ cần một cú điện thoại là có chỗ mà ở, có xe mà đi. Ngày nay chỉ cần bấm một cái nút là kinh sách hiện lên trên màn hình, thêm một cái nút nữa là in ra hàng loạt. Nhớ lại ngày xưa, có người cả đời chỉ khắc được một câu kinh, còn nay ai muốn có thiên kinh vạn quyển đều được. 

 

Thế nhưng ngày nay xem ra không mấy ai minh triết hơn người thời xưa vì con người hình như không còn ai muốn đọc, muốn suy ngẫm về kinh sách ngày xưa. Khó hơn thế nữa, trong tâm thức tôn giáo, dù có biết nhiều hiểu rộng, biết tán tụng suy luận, chúng cũng không mang lại gì cả trên đường tìm kiếm. Chúng đều là những ngọn gió tri thức chỉ tạo thêm mây mù che ánh sáng của giác ngộ. Điều mà hành giả cần có phải chăng là “bồ-đề tâm“, điều mà Phật giáo Tây Tạng vô cùng coi trọng. Có bồ-đề tâm thì một câu kinh cũng đủ, không có thì thiên kinh vạn quyển cũng vô ích. Tìm hiểu bước đường lữ khách của Huyền Trang không phải là tò mò xem ông đi đến đâu mà để cảm khái tâm bồ-đề kiên cố của ông. Và nhờ thế mà ta biết mừng vui cho những người đem cả đời ra để tạc một bức tượng, khắc một câu kinh. Những tác phẩm đó đều là gỗ đá nhưng chúng là phương tiện để bồ-đề tâm được thể hiện.

 

HOA THỊ THÀNH


Ra khỏi máy bay cảm giác đầu tiên của tôi là thấy hơi nóng khủng khiếp tràn đến. Tôi nhủ thầm: “Đức Phật ngày xưa phải chịu cái nóng này sao“. Sân bay Patna làm tôi nhớ đến sân bay Qui Nhơn, nó có cái nhỏ của loại sân bay làng, hành khách đi bộ dưới cánh máy bay vào ga lãnh hành lý. Trên đường đi bộ tôi cũng đi ngang những đoạn sân bê-tông có lót loại lưới sắt của quân Mỹ hồi xưa như ở sân bay Qui Nhơn mà lúc tôi đến vẫn còn. Patna là nơi đầu tiên tôi đến sau Delhi, dù đoán trước, tôi cũng phải ngỡ ngàng về sự nghèo nàn và luộm thuộm của xứ Ấn Độ. Tới đây tôi mới nếm cái nóng Ấn Độ, Delhi là miền ôn đới nằm phía bắc gần Hy-mã lạp sơn thì khác hẳn. Ra khỏi sân bay Patna, quang cảnh hiện ra với tôi đúng là miền nhiệt đới châu Á, với các loại cây như cây me, liễu, chuối hay cau của chúng ta. 

 

Patna hay Hoa Thị Thành là đây, đây là nơi A-dục vương triệu tập hội nghị kết tập lần thứ ba khi ông đã trị vì toàn nước Ấn Độ. Thấy Patna, tôi thất vọng tự nhủ, cố đô của A-dục vương ngày nay như thế này sao? Không thể được !

 

Đó là một thành phố nằm trên bờ nam sông Hằng, dơ bẩn và buồn tẻ. Tôi ngẩn ngơ đi xích lô trong thành phố, để cho ấn tượng tự kéo đến, ấn tượng của kinh thành nhà vua A-dục mà tôi yêu mến. Tới đây tôi mới biết Delhi là quá sang trọng, quá sạch sẽ. Sông Hằng gần Delhi cũng sang trọng hơn sông Hằng của Patna. Những người giàu có kiêu ngạo họ sống ở Delhi hay những nơi nghỉ mát như Simla cả, họ đâu cần đến đây xây cất nhà cửa. Còn nhà nước Ấn Độ xem ra quá tải với những vấn đề của dân số đặt ra, họ đâu có kinh phí để sửa chữa xây dựng. Khi tôi đến, trời đã về chiều, thành phố với một triệu rưỡi dân này gây một cảm giác buồn bã. Thật ra qui mô thủ phủ này rất lớn, xứng đáng là kinh thành của Ma-kiệt-đà một thời hiển hách, đô thị có một bề dài chừng 10 cây số. Ngày nay ánh sáng vương giả đã tắt.

 

Nhưng Hoa Thị Thành, nơi đây bao nhiêu thánh nhân đã sống, là kinh đô của triều đại Maurya và Gupta, tại sao hiếm có những di tích văn hóa ? A-dục vương cho xây cất biết bao công trình trên toàn xứ Ấn Độ nhưng ngày nay Hoa Thị Thành sao chỉ có những di tích tầm thường như một cái tháp bán cầu tên là Golghar cao 30 mét chứa thóc gạo phòng đói kém của một người Anh tên là John Garstin xây năm 1786 mà người ta giới thiệu với du khách ?

 

Tôi nhớ rằng, trước công nguyên xứ sở hùng mạnh của nhà vua Chandragupta của nước Ma-kiệt-đà này đã từng liên hệ với “phương tây”. Phương tây ở đây tức là Hy Lạp mà đại sứ nước này tại Ấn Độ là một vị tên gọi là Megathenes. Magathenes kể lại nhiều giai thoại về thư từ qua lại giữa Ấn Độ và Hy Lạp thuở đó. Theo đó, vua Ấn Độ Bindusara (con của Chandragupta) yêu cầu vua Hy Lạp gửi rượu ngon và nho khô, đồng thời một ít sách vở về “triết học”. Hy Lạp cũng là một quê hương vĩ đại về triết học của loài người. 

 

Vua Hy Lạp Antiochus trả lời là rượu và nho thì đang gửi nhưng triết lý thì không ai “cho không biếu không”. Chúng ta biết thời đó tại Ấn Độ, triết học và văn hóa rất phát triển tại Hoa Thị Thành và hẳn Bindusara muốn so sánh học thuật nước mình với nước ngoài. Người kế vị Bindusara chính là vua A-dục và vị này, sau một thời kỳ chinh chiến, lấy triết lý Phật giáo làm chủ đạo, nhưng đồng thời hết sức tôn trọng các tôn giáo khác. Đó là một điều rất mới lạ trong lịch sử tôn giáo Ấn Độ.

 

Megathenes cũng viết về Hoa Thị Thành trong tác phẩm “Indika”, rằng đây là một thành phố phồn vinh với 570 tháp và 64 cổng thành. Tất cả những công trình đó nay ở đâu ? Người ta kể tôi nghe rằng năm 750 có một đại hồng thủy và tất cả đều bị hủy diệt, nay chỉ còn nền đá. Thì ra Hằng hà đã nổi giận thật sự và có lẽ biến cố đó đã làm dịu con sông thiêng. Ngày nay ra bến sông Hằng ta thấy nó êm dịu như mặt hồ.

 

Thực tế lịch sử chưa hẳn như vậy. Huyền Trang đã đến đây khoảng năm 639 và theo lời kể của ông thì lúc đó thành phố này đã suy tàn. Sau A-dục vương thì Hoa Thị Thành còn là cố đô Ấn Độ cho đến thế kỷ thứ tư dưới triều đại Gupta [14] và sau đó chìm vào bóng tối. Khi Huyền Trang đến thì ông chỉ còn tìm thấy hai ba tu viện của hàng trăm ngôi đền ngày trước. Nơi đây Huyền Trang đến bờ sông Hằng, thăm lại một tảng đá cũ, đây là nơi Phật Thích-ca lúc đó đã tám mươi tuổi nhìn lại kinh thành lần cuối trước khi qua bờ bắc để về Câu-thi-na, nơi Ngài nhập diệt. Huyền Trang viết: ”Ở bờ nam con sông, đứng trên một tảng đá lớn hình vuông, Ngài nhìn A-nan một cách trìu mến và nói: ‘Đây là lần cuối mà ta nhìn ngắm ngai vàng và kinh thành’”.

 

Tôi đi tìm lại tảng đá nhưng ngày nay không còn ai biết đến nó. Bờ nam sông Hằng giờ đây lầy lội bùn đen và vẫn là chỗ thiêu xác như mấy ngàn năm trước. Nếu phải tìm một thành phố cổ, ngày xưa là một kinh đô cường thịnh, ngày nay đã rơi vào bóng tối của nghèo nàn và quên lãng, biểu tượng cho tính vô thường của mọi sự thì đó phải là Hoa Thị Thành. 

 

Điều gì làm Hoa Thị Thành sớm bị hủy diệt, khác với các trung tâm văn hóa nằm gần đó, cũng trong tiểu bang Bihar ? Tôi cho rằng Hoa Thị Thành là kinh thành vua chúa, nó có đặc trưng của một kinh đô chính trị của A-xà-thế dựng nên, khác hẳn với những công trình văn hóa. Và không có gì chóng tàn bằng những chế độ chính trị vì chúng là đối tượng của sự hủy diệt. Chỉ năm mươi năm sau khi vua A-dục chết, triều đại hùng hậu này đã suy tận. 

 

Chính trị có cái đặc biệt dễ làm say lòng người là khi nó cường thịnh thì ai cũng tưởng nó thiên thu vĩnh viễn, thế nhưng nó ngầm chứa cái mầm bội phản của phe phái và khi hết thời thì nó suy tàn rất nhanh, như nhà xây trên cát. Lịch sử thế giới, kể cả lịch sử mười năm trở lại đây, luôn luôn nhắc lại điều này nhưng con người vốn chóng quên và dễ say mê, họ luôn luôn lao vào chính trị và học lại cái bài học đó. Và cũng đừng nghĩ là chính trị chỉ nằm trong chính trường, nó cũng có thể nằm trong các tu viện mà vì lẽ đó Tây Tạng ngày nay đang chịu thảm họa. Vì là thuần túy kinh đô chính trị, Hoa Thị Thành ngày nay không còn gì. Nếu không bị thiên tai năm 750 thì nó cũng sẽ bị tín đồ Hồi giáo phá hoại vài thế kỷ sau đó.

 

Tôi ngồi xích lô cho xe chạy quanh thành phố, từ những ngõ ngách trong nội thành đến bờ sông Hằng, nơi cúng tế và thiêu xác. Một niềm hoài vọng tràn ngập tâm tôi. Những con đường nhỏ hẹp này hẳn đã ghi dấu biết bao nhiêu người của mấy trăm thế hệ. Nó là nơi trị vì của vua chúa cũng như chỗ lui tới của những thánh nhân. Trên bước đường đi trong đô thị này với số tuổi khả kính của hơn 2500 năm, ta có thể nghĩ ngày xưa biết đâu đây là nơi mà Phật và đoàn tăng già đã đi qua, các vị du già sư ngồi thiền định, các vị đại thành tựu giả làm nghề thợ may, thợ giày, thợ giặt… như sách vở kể lại. Ngoài những điều đó ra thì Hoa Thị Thành ngày nay chỉ là trạm nghỉ chân cho khách hành hương đi thăm những thánh địa gần đó và là điểm xuất phát đường bộ cho lữ khách đi Kathmandu, thủ đô Nepal.

 

NA-LAN-ĐÀ, ĐẠI HỌC PHẬT GIÁO ĐẦU TIÊN


Na-lan-đà cách Patna 70 cây số về hướng đông nam. Tôi từ Hoa Thị Thành, còn mang nặng ấn tượng của thành phố đó, đến Na-lan-đà một buổi sáng trời đẹp và bất ngờ thay, đây là một vùng đất xinh đẹp, cỏ cây tươi nhuận. Tại cổng vào Na-lan-đà có một biển đá đen trình bày tổng thể khu vực và viện đại học Phật giáo đầu tiên này được gọi là “phế tích” vì ngày nay tất cả hầu như chỉ còn nền đá.

 

Đây là viện Phật học đầu tiên của thế giới được xây dựng trong thế kỷ thứ hai sau công nguyên. Dưới triều đại Gupta thế kỷ thứ tư, Na-lan-đà trở thành một viện đại học thật sự. Liên tục 700 năm nơi đây được mở rộng và tu bổ mà mạnh nhất là trong thời nhà vua Harsa (606-647) và triều đại Pala (từ 750). Suốt một thời kỳ khoảng 1000 năm, đây là nơi sản sinh hàng trăm luận sư danh tiếng nhất của Phật giáo. Trong thời kỳ cực thịnh có đến 10.000 tỉ-kheo tu học tại đây. Khoảng cuối thế kỷ thứ 12 Na-lan-đà bắt đầu bị tín đồ Hồi giáo tàn phá và năm 1235 hai tu viện cuối cùng bị hủy diệt và đó cũng là thời kỳ Phật giáo suy tàn tại Ấn Độ.

 

Lòng tôi hân hoan không tả được khi thăm viếng phế tích này. Đó là một tổng thể những công trình xây dựng dài khoảng 500 mét theo trục nam-bắc. Bên mặt của trục chính là khoảng 10 tinh xá, ngày xưa đó là giảng đường và cũng là cư xá của các giảng sư hay lưu học sinh. Trong các giảng đường ta còn có thể nhận ra được bục giảng của giảng sư, sinh viên ngồi xung quanh dưới đất. Bên trái trục chính là nền đá của bốn ngôi đền lớn, ngày xưa được dùng làm thư viện và tháp thờ. Ngày nay tất cả đều chỉ là nền đá trơ trọi thế nhưng chúng gây biết bao lòng cảm khái và khâm phục cho người thăm. Bất ngờ và cũng đáng trân trọng thay, một xứ nghèo như Ấn Độ, nơi mà đạo Phật đã suy tàn gần mười thế kỷ mà một phế tích như Na-lan-đà lại được chăm sóc chu đáo. Ngày tôi đến, ở đây có một màu nắng êm dịu và và màu cỏ xanh nhắc tôi dường như đây vẫn còn sức sống.

 

Nói Na-lan-đà được xây dựng trong thế kỷ thứ hai là nói viện Phật học chứ thực ra trong thời Phật tại thế khu vực này đã là vùng đất thiêng. Nó chỉ cách Vương Xá 11 cây số về phía bắc và mỗi lần Phật rời kinh thành này của vua Tần-bà-sa-la đi lên miền bắc, Ngài thường nghỉ trong vườn xoài Pavarika ở đây. Đây cũng là quê hương của Xá-lợi-phất, vị đệ tử có “đại trí tuệ” và cũng là nơi ông chết. Đến thời A-dục vương, nhà vua đã cho xây một ngôi chùa tại đó và ba trăm năm sau, một nhà vua nước Ma-kiệt-đà tên là Sankraditya mới thành lập nơi đây viện Phật học. 

 

Viện này không phải đợi lâu vì cũng trong thế kỷ thứ hai đó đã có một nhân vật kiệt xuất tên là Long Thụ [15] ra đời, đến Na-lan-đà tu học và về sau trở thành viện trưởng. Long Thụ là một trong những luận sư xuất chúng nhất của Phật giáo, Ngài được xem là đức Phật thứ hai, sự xuất hiện của Ngài là lần chuyển pháp luân thứ hai. Ngài là người chịu suy luận nhất của lịch sử Phật giáo, là người sáng lập Trung quán tông [16], đồng thời lại là vị tổ thiền thứ 14 của Thiền tông Ấn Độ truyền từ đức Thích-ca xuống.

 

Tiếp nối truyền thống, sau Long Thụ là những thế hệ của giảng sư và luận sư danh tiếng như Thánh Thiên, Vô Trước, Thế Thân, Hộ Pháp, Trần Na, Giới Hiền giảng dạy. Thời đó Na-lan-đà đã là mẫu mực của tính khoa học cầu thị. Nơi đây 18 trường phái Phật giáo của thời kỳ đó đều được giảng dạy, từ vệ-đà, tiểu thừa, Duy thức, nhân minh cho đến các ngành khác như toán học, y học. Cả “giáo sư nước ngoài” cũng được mời dạy mà người nổi tiếng nhất lại là Huyền Trang. Ông tới đây học Duy thức với Giới Hiền [17], lúc đó vị thầy viện trưởng này đã 106 tuổi. Kẻ hành hương Trung Quốc này mô tả kiến trúc của các tinh xá và giảng đường với một lòng yêu mến và sự chính xác mà về sau các nhà khảo cổ phải thừa nhận là hoàn hảo [18].

 

Đó là năm 637, khi Huyền Trang đến Na-lan-đà và thưa với Giới Hiền: “Con từ Trung Quốc đến và xin Ngài chỉ dạy triết lý Duy thức”. Giới Hiền khóc vì mừng rỡ và kể Huyền Trang nghe cách đây không lâu ông đã bị bệnh tưởng mình sắp chết. Đêm nọ ông nằm mơ thấy ba vị bồ-tát hiện đến, mặc ba màu áo khác nhau, vị mặc áo vàng, vị áo xanh thẩm, vị kia áo trắng. Đó là ba vị Văn-thù, Quán Thế Âm và Di-lặc và chỉ thị cho Giới Hiền phải sống tiếp và đợi một người từ Trung Quốc tới mà giảng dạy. Nơi đây Huyền Trang đã được truyền thừa trực tiếp triết học Duy thức, đã truyền từ Vô Trước, Thế Thân đến cho Trần Na [19], Hộ Pháp [20] và học trò của Hộ Pháp chính là Giới Hiền. Huyền Trang ở lại đây 15 tháng để học tập và hoàn thành bộ Thành duy thức luận [21], tổng kết mười vị đại luận sư [22] của Duy thức tông mà nói như Grousset là “tổng kết 700 năm tư tưởng Ấn Độ”.

 

Ôi, thì ra Na-lan-đà là quê hương của hai trường phái vĩ đại của Phật giáo là Trung quán tông và Duy thức tông, một nói về tánh, một về tướng. Chẳng đâu khác, đó chính là nguồn gốc của triết học Phật giáo đại thừa mà ngày nay nó đã lan tỏa khắp thế giới, mà Việt Nam cũng đã tiếp thu.

 

Tôi nhìn quanh một vùng đất vắng vẻ, hôm nay không ai đến tham quan. Cảm động thay được đến nơi đây. Đây là nơi hàng chục ngàn người đã cầu nguyện và học tập, hàng chục thế hệ của thánh nhân đã giáo hóa, ánh sáng minh triết Phật giáo đã từ đây chiếu khắp bốn phương. Biết bao phép lạ đã xảy ra nơi đây, hỡi các cành cây ngọn cỏ đang rung rinh trong gió.

 

Tôi bỗng nhớ tới Tịch Thiên [23]. Ông là một cao tăng thuộc phái Trung Luận sống khoảng thế kỷ thứ 7, 8. Tương truyền ông là một vương tử nhưng thụ giới tỉ-kheo và đến Na-lan-đà học tập. Thế nhưng khi đồng môn chăm chỉ học hành thì ông chỉ biết ngủ. Na-lan-đà hồi đó là một học viện rất nghiêm khắc, đúng như Huyền trang kể: “…cả ngày các vị đều luôn luôn biện luận. Những ai không thể biện luận về kinh điển đều không được kính trọng và phải lẫn tránh vì xấu hổ…”. 

 

Thế nhưng Tịch Thiên cũng chẳng chịu lẫn tránh và đồng môn dự định sẽ bêu xấu ông là “lười biếng” để ông phải bỏ viện ra đi. Tới ngày bị thử thách, ông lên giảng đường, tuyên bố sẽ giảng một bộ luận mới và sau đó tụng đọc tập Nhập bồ-đề hành luận [24]. Đến chương thứ chín, người ông bắt đầu bay lên khỏi ghế, lơ lửng trên không và qua chương cuối thì đồng môn chỉ còn nghe tiếng ông nói, thân ông biến mất. Về sau Tịch Thiên từ chối chức viện trưởng để vào rừng làm thợ săn. Bị chê trách phạm lỗi sát sanh, ông dùng thần thông cho thú vật sống lại và nói bài kệ:

 

Con nai trên bàn ăn, 

chưa hề sống hề chết, 

chẳng bao giờ vắng bóng. 

Đã không gì là Ngã, 

sao lại có thợ săn, 

hay thịt của thú rừng? 

Ôi người đời đáng thương, 

mà các ngươi lại gọi,

ta là kẻ “lười biếng”.

 

Ngày nay, Nhập bồ-đề hành luận là kinh sách giáo khoa của Phật giáo Tây Tạng và cách hành xử của Tịch Thiên được dân chúng nơi đó yêu thích truyền tụng.

 

Sau Tịch Thiên vài trăm năm, cuối thế kỷ thứ 12, Na-lan-đà bị xóa tên trên xứ Ấn Độ. Có một đạo quân mang tên một giáo phái đã đến đây hủy diệt Na-lan-đà và cả xứ Ma-kiệt-đà. Mọi sự vật khi lên đến đỉnh cao của nó đều trở về với sự suy tận, đó là qui luật bất di bất dịch, Na-lan-đà cũng không tránh khỏi. Thế nhưng nơi đây ta có thể tự hỏi phải chăng một trong những nguyên nhân của sự suy tàn quá sớm của đạo Phật tại Ấn Độ là sự tập trung cao độ tại Na-lan-đà, sự tập hợp có tổ chức của tôn giáo thành những định chế có tính cách tăng lữ, nhất là lại được các vương triều ra sức hỗ trợ.

 

Đó là những nhân tố làm Phật giáo vướng vào quyền lực và chính trị, chúng là mầm mống của mọi tranh chấp và thảm họa. Tôi nhớ đến lịch sử Phật giáo Trung Quốc hay Tây Tạng thường bị bức hại sau một thời kỳ được các vương triều biệt đãi. Và trong thời đại ngày nay chế độ tăng lữ của Phật giáo Tây Tạng đang lâm tai họa lại thêm một lần nữa minh chứng cho suy nghĩ này. Hãy làm theo Tịch Thiên vào rừng làm thợ săn hay như Gampopa, bỏ tu viện cao quí đi tìm Milarepa nơi chỗ độc cư hẻo lánh. Lời Lão Tử vang vọng lại với tôi ngày hôm đó tại Na-lan-đà “Vật mạnh lớn ắt già, Ấy là trái Đạo, Trái Đạo mất sớm” [25].

 

“VUI ĐẸP THAY THÀNH VƯƠNG XÁ” [26]


Từ Na-lan-đà đi về phía nam khoảng 11 km là đến Vương Xá, tức Rajagaha, ngày nay tên là Rajgir. Đến Vương Xá không mấy ai ngờ ngày xưa đây là kinh đô của nhà vua Tần-bà sa la, nơi mà đức Phật thường đi khất thực. Ngày nay Vương Xá là một thị trấn nhỏ đầy bụi bặm như mọi nơi tại Ấn Độ, cách xa thị trấn vài cây số đã là đồng không mông quạnh.

 

Đây là Vương Xá sao, nơi mà đức Phật từng gọi là “vui đẹp”? Ngày xưa nó là kinh đô của Ma-kiệt-đà, là nơi mà Phật Aâm [27] mô tả là có 32 cửa chính và 64 cửa phụ. Từ trước công nguyên, sau khi A-xà-thế dời đô đi Hoa Thị thành thì Vương Xá đã suy tàn.

 

Kinh thành Vương Xá của nhà vua ngày xưa được xây một cách hiểm yếu, xung quanh là ba núi vây bọc. Dọc trên các đỉnh núi đó nhà vua còn cho xây các trường thành mini, tương tự như vạn lý trường thành Trung Quốc để chống ngoại xâm. Người thực hiện các trường thành đó không ai khác hơn là A-xà-thế, lúc ông chưa phản lại vua cha. Chắc là quá ngán ngẫm chuyện xây 40 cây số trường thành, về sau A-xà-thế bỏ Vương Xá, dời đô đi Hoa Thị Thành. Ngày nay khách đến Vương Xá thì sẽ thấy phía bắc của Vương Xá cũ có một thị trấn nhỏ với một ga xe lửa, còn thành Vương Xá thuở xưa ngày nay không còn ai ở. Tôi đi theo sườn núi với lòng u hoài, đúng như tâm sự của Huyền Trang vì lúc ông đến đây thì Vương Xá cũng đã đổ nát. Chỗ mà ngày xưa Phật đi khất thực bây giờ là một con đường chạy giữa hai vách núi, thưa thớt những bụi cây con và đầy cỏ dại.

 

Ngày xưa người du sĩ mang tên Cồ-đàm, lúc chưa đắc đạo đã từng đi ngang Vương Xá. Nhà vua Tần-bà-sa-la, người trẻ hơn Phật năm tuổi biết du sĩ này có dòng dõi vương tước, có phẩm cách cao quí mới đề nghị nhường một phần đất Ma-kiệt-đà để cùng trị vì. Thật là chuyện đời xưa mới có ! Dĩ nhiên là người du sĩ Cồ-đàm từ chối. Dù đó là chuyện hiếm hoi nhưng có lý vì không lẽ kẻ du sĩ đã bỏ ngai vàng tại nước mình đi khoảng hơn sáu trăm cây số để nhận một ngai vàng khác. Nhớ rằng ngày xưa sáu trăm cây số đi cả vài tháng mới tới.

 

Nghe vậy, Tần-bà-sa-la mới thỉnh cầu Cồ-đàm sau khi đắc đạo hãy trở về thăm ông. Đức Phật nhận lời và về sau Ngài tới Vương Xá rất thường xuyên và nhà vua cũng tặng Ngài một ngôi vườn trồng toàn tre tên là Trúc Lâm (Veluvana), chỗ này có rất nhiều sóc. Vườn Trúc Lâm tại Vương Xá là chỗ ở thân thiết của Phật nên ta hay gặp trong các tập Bộ kinh đoạn sau đây: “Một thời đức Thế Tôn ở tại Vương Xá, trong vườn tre Veluvana, chỗ nuôi dưỡng sóc…”. 

 

Phật giảng nhiều bài kinh tại đây, thường là trong buổi sáng sớm. Trong các tập Bộ kinh thỉnh thoảng ta còn thấy câu: “Đức Thế Tôn thấy quá sớm để vào thành Vương Xá khất thực nên…”. Hình như kinh thành vương giả quen dậy muộn, Phật thấy ra đi khất thực “quá sớm” nên thỉnh thoảng Ngài dành thì giờ đi thuyết giảng cho kẻ tầm đạo mà ngày nay người ta tìm thấy nội dung trong các bài kinh. 

 

Tôi tìm đến vườn tre Trúc Lâm nằm phía bắc của Vương Xá, ngày nay khu vườn được nhà nước Ấn Độ cho rào bọc cẩn thận. Trong vườn hiện còn một hồ nước trong xanh, hồ này được Huyền Trang ghi trong ký sự cách đây 13 thế kỷ. Hồ này chính là hồ Kalandaka, nơi đức Phật thường tắm. Trong vườn, đường lối ngay ngắn, hoa lá xinh đẹp và tôi chợt thấy lòng mình an bình vô hạn. Tại một nơi trong vườn hiện còn một số bụi tre lớn nửa xanh nửa vàng, mang lá dày đặc. Theo Schumann [28] nơi đây người ta tìm thấy di tích của một số tháp xây trong thế kỷ thứ 10, kỷ niệm chòi tranh ngày xưa Phật lưu trú. 

 

H 4: Sơ đồ Vương Xá: Phía bắc là thị trấn Vương Xá mới, phía trên bên trái là vườn tre Veluvana, ở giữa là kinh thành Vương Xá cũ, phía nam kinh thành là điện giam vua Tần-bà-sa-la (Bimbisara’s Jail), bên mặt của điện là vườn Jivaka, phía đông bắc là tháp hòa bình thế giới (Shanti Stupa) trên núi Bảo sơn và cuối cùng bên mặt chỗ có ô vuông là đỉnh Linh Thứu (Gijjhakuta) [29] mà đoạn....là đường đi bộ. 

 

Thời đó vua Tần-bà-sa-la có một vị ngự y tên là Jivaka, vị bác sĩ này được nhà vua chỉ thị chăm nom sức khỏe cho tăng đoàn và JIvaka cũng tặng cho Phật một vườn xoài mang tên Jivakambavana. Vườn xoài của Jivaka kiên cố hơn vườn tre vì ngày nay tôi còn tìm thấy nền đá. Tuy gọi là “vườn xoài” nhưng đây phải là một công trình xây dựng to lớn và kiên cố gồm nhiều hành lang dài và hẹp mà ngày nay ta thấy những nền đá với bề ngang gần một mét. Theo Schumann thì ngày xưa, trên những hành lang hẹp đó là mái bằng đất hình vòm nằm trên những thân tre uốn vòng.

 

Theo tương truyền nhà y sĩ Jivaka mới đầu rất dè dặt với đức Phật. Phải chăng đó là cái bệnh của người trí thức xưa nay đối với các vị đạo sư tâm linh, nhưng không bao lâu sau, ông là một cư sĩ hết sức nhiệt thành. Trong Trung bộ kinh, tôi bắt gặp kinh Jivaka với câu mở đầu: “Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú tại Vương Xá, tại vườn xoài của Jivaka Komarabhacca…”. Người đến hỏi chuyện lần đó không ai khác hơn là nhà y sĩ của chúng ta. Đúng nghiệp vụ của mình, ông hỏi Phật lúc nào thì được ăn thịt. 

 

Sau khi nghe giảng pháp, nội dung thâm sâu hơn hẳn chuyện ăn uống, ông phấn khởi xin Phật nhận làm cư sĩ và “từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng”. Hay thay đặc tính của người trí thức xưa nay, chưa hiểu thì dè dặt, hiểu rồi thì có nhiệt tâm. Người ta cho rằng chính tại vườn xoài này mà Jivaka đã chữa bệnh cho các tỉ-kheo và một số toa thuốc của ông đã được ghi lại trong kinh tạng Pali. Jivaka cũng cho bệnh nhân tắm suối nước nóng nằm ngay tại Vương Xá. Trong ký sự, Huyền Trang viết lúc ông đến thì còn khoảng mười suối nước còn nóng. Sau 25 thế kỷ, ngày nay nước vẫn còn nóng, lúc tôi đến thì còn thấy biển quảng cáo tân thời mời du khách tắm nước nóng.

 

Xúc động nhất cho tôi tại Vương Xá là lúc đến thăm nền cũ của cung điện Tần-bà-sa-la. Nhà vua là người tặng Phật nửa nước nhưng Ngài không lấy, còn khi ông tặng con A-xà-thế cả ngai vàng thì A-xà-thế vẫn chưa an tâm, giam cha mẹ vào ngục tối. Từ cung điện này, may thay Tần-bà-sa-la vẫn thấy được núi Linh Thứu cách đó không xa. Trong những ngày cuối đời của ông, tương truyền rằng Phật Thích-ca đã dùng thần thông vào ngục giảng pháp cho vua và hoàng hậu. Là một người nhiệt tâm và đã trải qua nhiều thăng trầm cay đắng, hẳn ông thấm đượm giáo pháp của Ngài dễ như “tấm vải sạch sẵn sàng ăn thuốc nhuộm” [30] và huyền sử kể rằng sau khi chết, ông sinh ngay vào trời Tứ Đại Thiên vương.

 

Vương Xá là nơi Phật gặp gỡ những đệ tử quan trọng nhất của tăng già, đó làø Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên. Đây là hai vị đại đệ tử, Xá-lợi-phất được xem là trí huệ đệ nhất, vị kia là thần thông đệ nhất. Hai vị này là bạn thân với nhau, cùng xuất thân từ giòng dõi Bà La môn và cùng gia nhập tăng già. Vị trí huệ đệ nhất Xá-lợi-phất vốn là người rất hay nghi kỵ các giáo pháp. Trước khi gặp Phật xin qui y, Xá-lợi-phất gặp một tỉ-kheo tên là A-thuyết-thị [31] và ngạc nhiên trước phong độ của vị này. Xá-lợi-phất hỏi thầy của A-thuyết-thị là ai, đó là cách hỏi thông thường thời đó. A-thuyết-thị trả lời bằng bốn câu kệ:

 

Các pháp nhân duyên sinh 

Cũng theo nhân duyên diệt

Nhân duyên sinh diệt này

Phật đại sa môn thuyết.

 

Vốn là người từng suy tư về pháp, Xá-lợi-phất trực ngộ lí “có sinh có diệt” này của bốn câu “Duyên khởi kệ” và rủ Mục-kiền-liên xin gặp ngay vị “đại sa môn”. Chuyện đó diễn ra tại Vương Xá. Về sau cả Xá-lợi-phất lẫn Mục-kiền-liên đều mất trước Phật và hi hữu thay hai vị đều chết tại Vương Xá cả. Trong nhiều chùa có khi ta thấy tượng Phật với tả hữu hai bên là hai vị tôn giả này.

 

Đức Phật cũng gặp nhiều vị cư sĩ nhiệt thành tại Vương Xá, trong số đó ta đã biết Tần-bà-sa-la. Một vị khác rất quan trọng là Cấp Cô Độc [32] mà trong một chương sau sẽ được nói rõ hơn. Thế nhưng Phật không chỉ gặp những người yêu mến Ngài, Phật cũng có kẻ thù mà sự việc cũng xảy ra tại Vương Xá. Người đó là Đề-bà đạt-đa [33]. Ông là em họ của Phật, gia nhập tăng già và trở thành một thành viên quan trọng. 

 

Khoảng 8 năm trước khi Phật nhập diệt, ông muốn thống lãnh tăng già nhưng Phật không chấp nhận. Ông tìm cách giết Phật nhưng không thành. Hãy đọc lại ký sự của Huyền Trang lúc đến thăm Vương Xá, kể về những nơi chốn lịch sử này: “Ngoài cửa thành Vương Xá về phía bắc có một ngọn tháp. Chính chỗ này Đề-bà đạt-đa và vua A-xà-thế sau khi giao hữu với nhau đã thả con voi say để hại đức Phật…Phía đông ngôi chùa [34] là một tảng đá rất to, chính chỗ này Đề-bà đạt-đa xô đá hại Phật…”.

 

Tôi đến đây và thấy lại tảng đá này ! Ôi thời gian đã trôi đi 25 thế kỷ nhưng những điều tưởng chừng như huyền thoại vẫn còn. Bao nhiêu điều đã xảy ra trong thị trấn bé nhỏ này. Suốt một thời gian hơn 50 năm, từ lúc vị du sĩ Cồ-đàm đi ngang đây cho đến ngày triệu tập hội nghị kết tập lần thứ nhất, tất cả những điều đó đều xảy ra cũng tại nơi đây. Ngày nay có thể có khách đi ngang đây mà không hề biết lịch sử của nó vì Vương Xá chỉ là một con đường nhựa nhỏ chạy giữa hai sườn núi trơ trọi. Vương Xá cũng đã theo “nhân duyên” mà diệt.

 

TRÊN ĐỈNH LINH THỨU


Đỉnh Linh Thứu đối với tôi gần như hoang đường, tôi không bao giờ dám nghĩ đời mình sẽ có ngày đến Linh Thứu. Hôm nay tôi chỉ còn cách Linh Thứu vài cây số, đã thấy đỉnh núi huyền thoại này từ xa, từ điện của Tần-bà sa la.

 

Trong số du khách đến Ấn Độ mà nếu có ai đến Vương Xá là chỉ để thăm Linh Thứu. Người Ấn gọi Linh Thứu là Griddhaguta, nó là một đỉnh đồi nằm phía đông kinh thành Vương Xá. Do Linh Thứu thu hút khách nước ngoài nên tại thị trấn Vương Xá mới xây sau này cũng có một vài khách sạn hiện đại, đón khách hành hương từ Nhật hay Aâu Mỹ quen tiện nghi. Chúng tôi vào ăn trưa ở một khách sạn mang tên Lotus (Hoa sen) và mới hay nơi thị trấn hẻo lánh này mà cũng có khách sạn trang bị đầy đủ máy lạnh nước nóng. Vào sảnh đường khách sạn tôi thấy ngay một bức tranh lớn vẽ đỉnh Linh Thứu. Lòng tôi toát ra lòng biết ơn cuộc đời và cảm nhận một niềm rộn rã vô hạn. Khách sạn này chỉ mở cửa sáu tháng mùa đông, còn mùa hè thì du khách không có ai đến vì quá nóng.

 

Sau bữa ăn trưa, nhân viên khách sạn chỉ đường cho chúng tôi đi Linh Thứu, họ nói với anh tài xế bằng tiếng Hindu cách đi đường thế nào thuận tiện nhất. Và khi đến nơi, chúng tôi mới hay Linh Thứu không hề là một vùng hoang vu như Vương Xá mà là một nơi được nhiều người đến chiêm bái.

 

Theo dòng khách hành hương chúng tôi đến một trạm đi xe cáp, đó là phương tiện di chuyển thông thường trong các vùng núi non. Từ dưới thấp nhìn lên chúng tôi thấy một bảo tháp trắng toát. Thế nhưng đỉnh Linh Thứu đâu ?

 

Xe cáp dần dần đưa chúng tôi lên núi, thì ra đó là núi Bảo sơn [35], nằm phía tây bắc của Linh Thứu. Trên đỉnh núi này, năm 1969 người Nhật xây một bảo tháp cực lớn mang tên Shanti Stupa (tháp hòa bình thế giới). Khi đến nơi tôi mới thấy quả thật đây là một bảo tháp tuyệt đẹp với bốn tượng Phật hoàn hảo nhìn ra bốn phía. Thông thường thì tôi có thể bỏ cả nửa buổi để nhìn ngắm tháp này nhưng tôi đến đây vì Linh Thứu, đỉnh núi thiêng liêng này đang chiếm lấy tâm tôi. Tôi chạy ra sân của công trình bảo tháp nhìn xuống, thì dưới kia là Linh Thứu ! Linh Thứu là đó sao, một đỉnh đồi với một chiếc sân nhỏ bằng đá hình vuông vuông, đó thật là nơi cách đây 25 thế kỷ Phật đã giảng những bộ kinh quan trọng hay sao?

 

Thì ra xe cáp đã kéo chúng tôi lên rất cao, tới đỉnh Bảo sơn nơi xây bảo tháp. Cách đi là khách thăm Bảo sơn trước, sau đó đi bộ xuống núi để đến Linh Thứu. Lòng tôi có chút vướng bận một điều gì đó chưa rõ nhưng tôi háo hức theo đoàn người xuống núi, đi trước là một viên lính Ấn Độ dẫn đường. Càng đi, Linh Thứu càng gần dần và rõ dần. Buổi chiều đã bớt nắng, gió hơi mạnh.

 

Và đây rồi, len lỏi qua vài mô đá lớn, chúng tôi tới đỉnh Linh Thứu ! Xúc động thay, đời mình đến được nơi này.

 

Đây là một sân vuông nhỏ, dài khoảng hai mươi mét, rộng mười mét. Đây là nơi diễn ra Hội Linh Sơn cách đây hai ngàn năm trăm năm mà hồi nhỏ tôi đã nghe ông tôi tụng “Linh Sơn hội thượng Phật”, pháp hội mà nhiều người hiện nay cho rằng nó vẫn còn tiếp diễn.

 

Linh Thứu được xem là chỗ đức Phật giảng pháp thậm thâm, dành cho các bậc thượng thừa, được mệnh danh là chỗ Ngài chuyển pháp lần thứ hai. Trong một bài giảng tại đại học Harvard (Mỹ) [36], vị Đại-lai lạt-ma thứ 14 hiện nay nói: “Nội dung của những bài thuyết pháp này là những bài kinh thuộc hệ Bát-nhã ba-la-mật-đa và trong những bài kinh này, người ta thường kể rằng, rất nhiều môn đệ của Ngài (Phật) – người, chư thiên, a-tu-la và những loài khác đã tham dự pháp hội này. Nhưng nếu đã từng đến núi Linh Thứu thì người ta sẽ nhận ra ngay là cái đỉnh của ngọn núi này chỉ có thể chứa được mười, cao nhất là mười lăm người. Vậy thì chỗ Phật thuyết pháp phải là một nơi, một hiện tượng mà chỉ những môn đệ với những thiện nghiệp hi hữu, con mắt thanh tịnh, mới có thể nhìn thấy được”.

 

Đỉnh Linh Thứu chính là nơi Phật giảng bộ kinh Diệu pháp liên hoa, trong đó Ngài không còn là một con người lịch sử có sống có chết nữa, mà Phật xuất hiện trong dạng Báo thân, trong dạng của một vị Phật đã thành tựu Phật quả từ muôn ngàn kiếp trước. Trong kinh này Ngài trình bày rõ các phương pháp khác nhau của tam thừa đều chỉ là phương tiện của “người cha muốn cứu các con đang vui chơi trong một ngôi nhà đang cháy”.

 

Phẩm thứ 16 (Thọ mạng Như Lai) trình bày rõ việc Ngài đắc đạo bốn mươi năm trước đó tại Bồ-đề đạo trường hay sẽ nhập Niết bàn chỉ là dạng Ứng thân của Ngài cho người đời dễ tin dễ hiểu chứ Ngài thành đạo không phải trong đời này và cũng sẽ mãi mãi thường trụ tại đời này. Và đáng chiêm ngưỡng thay, đỉnh Linh Thứu chính là trú xứ, là tịnh độ của Ngài. Vì thế mà “hội Linh Sơn” mãi mãi vẫn còn tiếp diễn với hàng vạn bồ-tát và thiên nhân. Người bình thường, còn bị vô minh vây phủ, thấy thế giới này còn vô thường và khổ đau, thì cũng thế, thấy Linh Thứu chỉ là một cái sân nhỏ tráng xi-măng chỉ có chỗ cho vài chục người.

 

Tôi chỉ là người trần mắt thịt nên chiều hôm đó chỉ nghe tiếng gió chiều và cảm nhận một cách trừu tượng rằng mình đang đứng một chỗ thiêng liêng. Từ đỉnh núi Linh Thứu này, lòng đầy u hoài tôi nhìn xuống Vương Xá ngày nay chỉ là một con đường chạy giữa hai triền núi. Tôi nhớ lại một tác phẩm của Schumann để hiểu tại sao ngày xưa Phật lại cư trú trên này. Theo Schumann [37] thì Vương Xá ngày xưa là một đô thị nằm trong lòng chảo, xung quanh toàn là núi không có chút gió nên mùa hè hẳn phải nóng khủng khiếp. Đức Phật và đoàn tùy tùng có lẽ cũng không chịu nổi cái nóng và phải rút lên núi, thế nhưng không lên quá cao để môn đệ, trong đó có nhà vua Tần-bà-sa-la tiện việc thăm Ngài. Dễ thương thay, cách giải thích logic của một người phương tây. Thì ra Ứng thân của Ngài cũng sợ nóng, cũng chịu mọi cảnh sinh lão bệnh tử của cuộc đời.

 

Về sau trên đường đi xuống núi, quả nhiên tôi thấy có bảng đề: “Đây là chỗ nhà vua cho tùy tùng rút lui để một mình lên diện kiến Phật”. Đi tiếp xuống một đoạn lại thấy: “Đây là chỗ nhà vua xuống xe ngựa, đi bộ lên núi thăm Phật”.

 

Trước khi xuống núi khách có thể thăm viếng các động thiền định của A-nan, Đại Ca-diếp, Xá lợi-phất, Mục-kiền-liên. Bao nhiêu thế hệ của khách hành hương đã đến chỗ này, bao nhiêu lòng thành kính đã tỏa lan nơi đây mà ngày nay còn lại là những cửa động bằng đá dát vàng lấp lánh. Ôi, những điều tưởng là huyền thoại không ngờ lại có thật cả.

 

Trên đường xuống núi, người lính Ấn Độ dẫn đường đã chỉ cho tôi thấy một tảng đá rất giống hình chim ưng, một trong những lý do mà người ta đặt cho đỉnh núi này biệt danh “đỉnh kên kên”. Tôi chụp được hình ảnh độc đáo này, không dễ gì bắt gặp nó trong một ngày trời xanh nắng sáng như hôm nay (xem hình 9).

 

Tôi đi xuống chân núi, lòng ân hận. Bây giờ tôi mới biết lòng mình vướng bận điều gì. Lẽ ra tôi phải đi bộ lên núi, như hàng đoàn người đi ngược từ dưới lên, trong đó có cả ông già bà cả. Những người trong khách sạn tưởng tôi thích tiện nghi đã chỉ một con đường bất xứng, đi xe cáp lên cao rồi từ trên đi xuống cho khỏe. Từ phía dưới tôi ăn năn nhìn lên, chỉ còn thấy xa xa hình của một ông già người Ấn đứng bơ vơ trên đỉnh, ông là người thu những số tiền mà khách cúng dường nơi chốn thiêng liêng này.

 

Lần sau đời tôi nếu có cho tôi đến Linh Thứu lại, tôi sẽ dành một ngày đi bộ từ Vương Xá lên đỉnh, đi lại bước chân của đức Phật lúc Ngài còn tại thế. Nhiều năm về sau, tôi được đi tham bái nhiều thánh địa của đức Thích-ca ở Ấn Độ, nhiều đạo trường của các vị Bồ-tát mà Diệu pháp liên hoa kinh đã nhắc tới như Văn-thù, Quán Thế Âm, Phổ Hiền…ở Trung Quốc, nhiều tu viện rất cổ tại Tây Tạng. Đó là những chốn rất thiêng liêng được mệnh danh là “tứ động tâm” của Ấn Độ, “tứ đại danh sơn” của Trung Quốc, “thành phố của chư thiên” tại Tây Tạng. Thế nhưng không có nơi nào để lại trong tôi lòng xúc động và biết ơn cuộc đời như Linh Thứu. Phải chăng Linh Thứu quá nhỏ bé để tôi thấy đâu đây còn có hơi ấm và ánh sáng của vị đạo sư trong lúc các chốn kia quá to lớn mênh mông ? Nhưng đó là tâm tư thật của tôi. Nếu có một ngày hỏi lại đời mình đâu là chỗ đáng quí nhất đã từng đi tới thì đó là núi Linh Thứu.

 

TỪ LINH SƠN NHỚ VỀ YÊN TỬ


Có nhiều truyền thuyết giải thích tại sao núi Linh Thứu còn có tên là “đỉnh kên kên”. Có thuyết cho rằng tôn giả A-nan, một vị học trò thân cận của Phật, trong lúc thiền định trong động đá bị ma quỷ hiện thành chim kên kên dọa nạt. Tôi không hiểu nếu hiện hình con gì thì còn có người sợ chứ chim thì mấy ai sợ. Lại có người cho rằng nơi đây chim kên kên hay đến làm tổ. Cũng có kẻ nói rằng đá núi nơi đây có hình chim kên kên, thuyết này xem ra đứng vững hơn cả.

 

Như ta đã biết, trong hơn bốn mươi năm giáo hóa, Đức Thích-ca đã giảng nhiều bài kinh quan trọng tại Linh Thứu. Cuối đời mình, nơi đây Ngài đã dùng Báo thân để giảng bộ kinh Diệu pháp liên hoa cho thiên nhân cũng như loài người, bộ kinh Đại Thừa nổi tiếng mà Phật tử Việt Nam hay gọi là kinh Pháp Hoa.

 

Cũng trên đỉnh Linh Thứu này, ngày nọ, Đức Thích-ca không nói gì, lẳng lặng đưa một cành hoa lên cao. Hội chúng chẳng ai hiểu gì cả, chỉ có một đại đệ tử của ngài là Đại Ca-diếp mỉm cười, cũng chẳng nói năng gì. Hành động “niêm hoa vi tiếu” này là đầu nguồn của Thiền tông, một tông phái chủ trương “tâm truyền tâm”, đạt giác ngộ không cần và không thể sử dụng ngôn ngữ văn tự mà dùng tuệ giác vốn có sẵn nơi tâm mà tiếp cận với thực tại. Linh Thứu là quê hương của Thiền tông, đây cũng là suối nguồn của nhiều tông phái quan trọng khác. Đại Ca-diếp được xem như Tổ thứ nhất của Thiền tông Ấn Độ. Về sau Đại Ca-diếp truyền cho A-nan, rồi cứ thế mà dòng truyền thừa Thiền tông tiếp diễn liên tục đến gần ba mươi đời sau, trong đó có Long Thụ là truyền nhân đời thứ 14 mà ta đã biết.

 

Khoảng tám trăm năm sau khi Đức Thích-ca nhập diệt có một kẻ lữ hành từ Trung Quốc đến thăm Linh Thứu. Người đó là một vị tăng sĩ, tên gọi là Pháp Hiển, sinh khoảng cuối thế kỷ thứ tư. Năm 399, Pháp Hiển lên đường thăm Ấn Độ, thăm các thánh tích quan trọng của Đức Thích-ca và mười lăm năm sau mới về nước, mang theo vô số kinh điển. Theo tập ký sự còn lưu lại, Pháp Hiển mang nhang đèn đến Linh Thứu, vừa dâng hương, “đèn tự cháy sáng”. Pháp Hiển, “buồn đến phát khóc”, ở lại trong núi một đêm và tụng đọc kinh Lăng Nghiêm để nhớ lại vị đạo sư đã giảng kinh này tại đây.

 

Sau Pháp Hiển hơn hai trăm năm, một đại sư Trung Quốc lừng danh khác là Huyền Trang, biệt danh Đường Tam Tạng cũng đến chiêm bái Linh Thứu. Trên đỉnh núi Linh Thứu ngày nay còn một nền đá ghi lại ngày xưa Đức Thích-ca đã trú nơi đây và ngàn năm sau Huyền Trang đã nghỉ lại qua đêm. Vị tăng sĩ Việt Nam đầu tiên đi Linh Thứu có lẽ là Đại Thặng Thăng, sinh trong thế kỷ thứ bảy. Đại Thặng Thăng với ba vị tăng sĩ Việt Nam khác cùng đi với nhà sư Trung Quốc Nghĩa Tịnh (635-713) bằng đường biển đến Ấn Độ, đến tham bái Linh Thứu và các thánh tích khác, cuối cùng chẳng may bỏ mình tại xứ người.

 

Không phải chỉ có lữ khách từ xa đến Ấn Độ, ngược lại tăng sĩ Ấn Độ đi các nước khác cũng rất nhiều mà con người đầy huyền thoại nhất thời đó là một tăng sĩ mặt đen, râu rậm, tướng mạo như một võ sư. Đó là Bồ-đề Đạt-ma, có lẽ sinh năm 470. Bồ-đề Đạt-ma chính là truyền nhân đời thứ 28 và là đời cuối cùng của Thiền tông Ấn Độ, bắt đầu với Đại Ca-diếp và A-nan. Năm 520 Bồ-đề Đạt-ma lên đường đi Trung Quốc bằng đường biển, theo một tài liệu thì có ghé Việt Nam trước khi đến Nam Kinh gặp nhà vua Trung Quốc Lương Vũ Đế. Gặp Vũ Đế, Bồ-đề Đạt-ma khai thị yếu tính Thiền tông rất rõ ràng nhưng vua không lĩnh hội vì lòng còn bị các quan niệm thiện ác, tốt xấu chi phối. Bồ-đề Đạt-ma thấy cơ duyên chưa tới, đi về hướng Bắc Trung Quốc, vượt sông Trường Giang đến Lạc Dương, lên núi Tung sơn, ở chùa Thiếu Lâm, chín năm tọa thiền quay mặt vào vách.

 

Tưởng Thiền tông như thế là đứt đoạn, tổ Thiền thứ 28 đã rời Ấn Độ đi Trung Quốc, ở Trung Quốc thì quay mặt vào vách không nói năng gì. Nhưng không phải, trong một ngày đầy tuyết nọ, có người rút dao tự chặt cánh tay tỏ lòng thành khẩn, xin Bồ-đề Đạt-ma khai thị. Người đó là Huệ Khả (487-593). Chỉ nghe một câu “an tâm”, Huệ Khả đại ngộ, trở thành truyền nhân của Bồ-đề Đạt-ma, đời sau gọi là nhị tổ của Thiền tông Trung Quốc. Huệ Khả truyền cho Tăng Xán, vị tam tổ này sinh ra lúc nào không rõ chỉ biết tịch năm 606. Tăng Xán sau đó truyền cho Đạo Tín (580-651), rồi vị này truyền lại cho Hoằng Nhẫn (601-674).

 

Các vị truyền nhân này đều sống một cuộc đời kỳ dị, giác ngộ qua những câu vấn đáp xem ra ngớ ngẩn, mỗi người mỗi khác nhưng giống nhau ở chỗ lấy “tâm truyền tâm, thấy tánh thành Phật” làm gốc. Đến đời thứ sáu, với Lục tổ Huệ Năng (638-713) thì tính cách “bất lập văn tự” mới đạt tột đỉnh vì Huệ Năng mới đầu chỉ là một anh chàng tiều phu mù chữ. Về sau, Huệ Năng không có truyền nhân chính thức, thiền Trung Quốc được xem là có sáu vị tổ, như thiền Ấn Độ có 28 vị. Thế nhưng Huệ Năng là người khai sáng Thiền Trung Quốc rực rỡ hơn ai hết, để lại cho hậu thế vô số thiền sư xuất chúng và một dòng truyền thừa mãnh liệt đến thế kỷ thứ 11 và cả đến ngày nay.

 

Thiền tông không dừng ở Trung Quốc. Tổ thứ ba Tăng Xán vốn có ít học trò, trong đó có một vị tên là Tì-ni-đa Lưu-chi [38]. Vị này sinh năm nào không rõ, chỉ biết tịch năm 594. Sau khi ngộ pháp xong, Tì-ni-đa Lưu-chi đi về phương Nam, đến Giao Chỉ, ngụ ở chùa Dâu ngày nay, thuộc tỉnh Hà Bắc Việt Nam. Tại đây Tì-ni-đa Lưu-chi khai sáng dòng Thiền Việt Nam, truyền 19 đời, đến thế kỷ thứ 13, có ảnh hưởng mạnh lên đến các vua thời Lý.

 

Song song, trong số học trò sau mấy đời của Huệ Năng có một vị nói năng rất ít, được gọi tên là Vô Ngôn Thông. Năm 820, Vô Ngôn Thông về phương nam đến tỉnh Bắc Ninh Việt Nam ngày nay, khai sáng một dòng Thiền mới, truyền 17 đời, cũng đến thế kỷ thứ 13.

 

Trong thế kỷ thứ 11 một vị thiền sư Trung Quốc tên gọi là Thảo Đường, không rõ vì duyên cớ gì đi lưu lạc tận Chiêm Thành. Thảo Đường bị vua Việt Nam là Lý Thánh Tông bắt làm tù binh trong một trận chinh phạt nước này năm 1069. May thay cho Thảo Đường, Lý Thánh Tông là một nhà vua trọng đạo lý. Biết Thảo Đường là môn đệ của thiền sư Tuyết Đậu Trùng Hiển, Lý Thánh Tông phong làm Quốc Sư, tự nhận mình làm học trò. Cũng lại là một điều mà chỉ ngày xưa mới có. Sau đó, Thảo Đường khai sáng dòng Thiền thứ ba của Việt Nam, truyền được sáu đời, kéo dài đến cuối nhà Lý.

 

Khác với Thiền Trung Quốc chia thành “ngũ gia thất tông”, hầu như ba thiền phái Việt Nam chỉ đợi ngày hợp nhất. Qua đầu thế kỷ thứ 13, ba dòng Tì-ni-đa Lưu-chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường nhập lại một dòng duy nhất. Không rõ cơ duyên nào mà lịch sử Việt Nam lại sản sinh nhiều nhân vật lỗi lạc trong các thế kỷ 12,13 của đời Lý Trần. Dưới ảnh hưởng của Trần Thái Tông và Tuệ Trung Thượng Sĩ, ba dòng Thiền đó tập hợp thành một, xuất phát từ núi Yên Tử, hiện nay thuộc tỉnh Quảng Ninh, gọi là phái Thiền Yên Tử. Tại Việt Nam núi Yên Tử trở thành đỉnh cao vòi vọi của một dòng Thiền vừa rất quí tộc vừa rất nghệ sĩ.

 

Giữa thế kỷ thứ 13, một nhân vật kiệt xuất ra đời, đó là Trần Nhân Tông (1258-1308). Vừa làm vua chăm lo bảo vệ bờ cõi, vừa là thiền sư đạt đạo, Trần Nhân Tông trở thành tổ thứ sáu của dòng Thiền Yên Tử. Nhưng vì nhân cách của Trần Nhân Tông quá rực rỡ, đời sau tôn ông làm sư tổ, lấy hiệu Trúc Lâm của ông đạt tên làm phái Thiền Trúc Lâm, một dòng Thiền có tính nhập thế. Năm 1304, Trần Nhân Tông đích thân đi cả nước tìm truyền nhân, gặp ngay một thiếu niên “có đạo nhãn”, liền truyền pháp cho, người đó là Pháp Loa (1284-1330), tổ thứ hai của Trúc Lâm.

 

Đến năm 23 tuổi, Pháp Loa gặp một nhân vật kỳ dị, lúc đó đã 51 tuổi, tên gọi là Huyền Quang. Huyền sử chép rằng, mẹ của Huyền Quang là Lê Thị, ba mươi tuổi mà chưa có con, hay đến chùa cầu nguyện. Đầu năm 1254, trụ trì chùa là sư Tuệ Nghĩa mơ thấy trong chùa “đèn đuốc sáng choang, Đức Thích-ca chỉ tôn giả A-nan mà bảo, ngươi hãy tái sinh làm pháp khí Đông Độ và nhớ lại duyên xưa”. Năm đó Lê Thị sinh Huyền Quang. Gặp Pháp Loa, Huyền Quang tôn làm thầy mặc dù thầy trẻ hơn mình gần ba mươi tuổi.

 

“Duyên xưa” là duyên gì? Đông Độ Việt Nam thật ra là có duyên với đạo Phật, Việt Nam đến với đạo Phật sớm hơn cả Trung Quốc. Trong thế kỷ thứ nhất sau công nguyên, tại Việt Nam đã hình thành một trung tâm đạo Phật là Luy Lâu, thuộc Bắc Ninh ngày nay. Luy Lâu phát triển song song với hai trung tâm của Trung Quốc là Lạc Dương và Bình Thành [39]. Thiền Việt Nam đã xuất phát cả trước khi Bồ-đề Đạt-ma đến Trung Quốc. Trong thế kỷ thứ ba, tăng sĩ Khương Tăng Hội người Giao Chỉ đã viết luận giải về Đại Thừa và Thiền tông cho nên nhiều người cho rằng Khương Tăng Hội chính là người sáng lập Thiền Việt Nam, không phải đợi đến lúc Thiền Trung Quốc du nhập.

 

Người đời sau tôn ba vị Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang là “tam tổ” Thiền Việt Nam, xứng danh ngang hàng với sáu vị Tổ Thiền Trung Quốc và 28 vị Tổ Thiền Ấn Độ. Núi Yên Tử của Việt Nam, Tung sơn của Trung Quốc và Linh Thứu của Ấn Độ là nơi sản sinh các dòng Thiền đó.

 

Suốt bảy thế kỷ sau Trần Nhân Tông, trong vô số những người đã đến thăm Linh Thứu, có một đứa con cháu lạc loài của ông đứng ngẩn ngơ trên núi chiều nay. Ôi, con người đích thực của bao vị thánh nhân hầu như chìm trong bóng tối của lịch sử. Thường người ta chỉ biết Trần Nhân Tông là một nhà vua giỏi bảo vệ bờ cõi, nào ngờ là một đại sư đạt đạo mà học thuật và nhân cách của ông đã truyền thừa cho các thế hệ đến ngày nay.

 

Tưởng Huyền Trang chỉ là một nhân vật huyền thoại, sư phụ hiền lành của Tôn Hành Giả, nào ngờ là một nhà dịch kinh tác tuyệt về văn chương và nội dung, sáng lập cả một tông phái đại thừa tại Trung Quốc. Tưởng Bồ-đề Đạt-ma chỉ là tổ sư võ công Thiếu Lâm, nào ngờ là kẻ đã khai sáng Thiền tông miền Đông Á, mở đường cho vô số người cầu hiểu biết. Tưởng Đức Thích-ca là một ông bụt hoang đường, nào ngờ là một con người từng sống, từng hoạt động, từng chết trên trái đất này.

 

Rời Linh Thứu với lòng u hoài chiều hôm đó, tôi chỉ có thể nhắc lại đây lời của Schumann: “Chuyến hành trình theo dấu chân Đức Phật là một niềm vui, đồng thời là một cảm hoài xao xuyến, vì phần lớn các nơi Ngài đã đặt chân đến, ngày nay người ta chỉ còn tìm thấy sự đổ nát và hiu quạnh. Nhưng tính vô thường của vạn sự há chẳng phải là thông điệp của Ngài ư? Ngài chẳng đã nói rằng Pháp sẽ có ngày bị quên lãng, nhưng sẽ được khám phá lại một cách mới mẻ ư? Có thể Ấn Độ đã quên người con trai vĩ đại của mình, nhưng tại các nơi khác ở châu Á, mà cũng trong các tâm hồn tại châu Âu và Mỹ, thì thông điệp của Ngài vẫn còn sinh động. Chúng ta hãy mừng vui rằng, có một đầu óc ưu việt đã thấu hiểu cái Khổ và nguyên nhân của nó và đã chỉ rõ cách giải thoát nó nằm ngay nơi chúng ta”. 

________________________________________


[1] Mahasiddha, sống trong khoảng từ thế kỷ thứ tám đến thứ mười hai tại Ấn Độ. Huyền sử ghi lại 84 vị Đại thành tựu giả, xem Dowman Keith, Master of Mahamudra. Song and histories of the Eightyfour buddhist Siddhas, New York, 1985

[2] Xem chương “Con trâu điên” trong phần thứ tư

[3] Dakini, các vị nữ thần thường được nhắc đến trong Kim Cương Thừa, xuất hiện để bảo vệ giáo pháp.

[4] Trích câu kệ về Từ Đạo Hạnh

[5] Kosala

[6] Pataliputra

[7] Trị vì từ 324 đến 185 trước công nguyên

[8] Ngày nay chỉ còn khoảng 10 trụ

[9] Xem chương “Đền Jokhang” trong phần thứ tư

[10] Tác phẩm đáng chú ý nhất là ”Sur les traces du Bouddha“, Paris 1929 của R.Grousset (1885-1952), nguyên là giám đốc bảo tàng viện Guimet tại Paris và hội viên viện Hàn Lâm Pháp. Nhiều tư liệu trong sách này được trích từ tác phẩm này

[11] Sarvastivada

[12] Asanga, thế kỷ thứ 4, đại luận sư của Phật giáo, người sáng lập Duy thức tông

[13] Vasubandhu, khoảng 316-396, mới đầu là luận sư của Nhất thiết hữu bộ, về sau của Duy thức tông, là tổ thứ 21 của Thiền tông Ấn Độ

[14] Trị vì từ 320 đến 499

[15] Nagarjuna

[16] Madhyamika

[17] Silabhadra

[18] Xem Archaeological Survey of India, Report 1922-23

[19] Dignaga

[20] Dharmapala

[21] Vijnaptimatratasiddhi

[22] Thập đại luận sư: Thân Thắng, Hỏa Biện, Đức Huệ, An Huệ, Nan-đà, Tịnh Nguyệt, Hộ Pháp, Thắng Tử, Thắng Hữu, Trí Nguyệt

[23] Santideva

[24] Bodhicaryavatara

[25] Vật tráng tắc lão, Thị vị bất Đạo, Bất Đạo tảo dĩ (Việt dịch Nguyễn Duy Cần)

[26] Lời Phật Thích-ca

[27] Buddhaghosa 

[28] H.W.Schumann, Auf den Spuren des Buddha Gotama, Walter Verlag 1992. 

[29] Hình trích của S.Dhammika (sách đã dẫn)

[30] Cách nói Phật hay dùng chỉ những người sẵn sàng tiếp thu

[31] Assaji

[32] Anathapindika

[33] Devadatta

[34] Ngôi chùa này nằm dưới chân núi Linh Thứu, phía đông Vương Xá

[35] Ratna mountain

[36] The Dalai Lama at Harvard, Jeffrey Hopkins, University of Virginia

[37] Sách đã dẫn

[38] Vinitaruci

[39] Ngày nay là Đại Đồng thuộc tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc

_____________________

Nguyễn Tường Bách

(Ký Sự Du Hành Tại Ấn Độ, Trung Quốc, Tây Tạng)

Nhà Xuất Bản Trẻ TP. Hồ Chí Minh 2003

Nguồn: thuvienhoasen.org

NHỮNG HƯ CẤU LIÊN QUAN ĐẾN CÁC VỊ VUA ĐỜI NHÀ TRẦN

 

Ngày 1 tháng 3, năm Ất Dậu (1285), giặc Nguyên đuổi theo rất gắt hai vua (Thượng hoàng Thánh Tông và Hoàng Đế Nhân Tông) phải bỏ thuyền, sử dụng đường trên bộ đi đến Thủy-Chú (không rõ nơi nào ngày nay), sau đó lấy thuyền ra cửa Nam-Triệu, vượt biển Đại-Bàng (thuộc địa phận xã Đại-Bàng, huyện Nghi-Dương, tỉnh Hải-Dương) đi vào Thanh-Hóa. Như thế ta thấy ở đây quân đội Đại Việt đang rơi vào thế tam đầu thọ địch đúng như kế hoạch của kẻ địch dự trù là các cánh quân của Thoát Hoan từ Thăng Long tiến về phối hợp với các cánh quân của tướng Hữu thừa Khoan Triệt, Vạn Hộ Mông Cổ Đãi và Bột La Hợp Đát Nhi dẫn quân bằng đường bộ và Lý tả thừa Ô Mã Nhi Bạt Đô (sau khi chiếm xong bãi Tha-Mạc) bằng đường thủy; cánh quân của Toa Đô giải quyết xong chiến trường Thanh, Nghệ cũng thẳng đường tiến tới Thiên Trường. Để giải tỏa thế gọng kềm này ta phải giải quyết ra sao?

 

Từ Thiên Trường một cánh quân của ta rút về các lộ vùng đông bắc (Hải Phòng, Quảng Ninh) để dụ địch rượt theo rồi chờ cho Toa Đô dẫn quân ra khỏi Thanh Hóa thì ta mới vượt biển Đại-Bàng như đã nói ở trên để vào chiếm lại Thanh Hóa làm căn cứ đóng quân. Toa Đô vừa phải vất vả ngược xuôi để rượt đuổi quân ta, rốt cuộc cũng chẳng được gì lại mất đi cứ điểm vừa mới chiếm. Cương Mục Chính Biên quyển VII có đoạn viết: «Lúc ấy quân Nguyên đuổi theo riết, nhà vua phải mời thượng hoàng cùng ngự một chiếc thuyền con, chạy ra nguồn Tam Trĩ, một mặt khác, sai người kéo thuyền của vua vẫn ngự đi ra ngả núi Ngọc Sơn, để đánh lừa quân Nguyên. Tướng Nguyên do thám biết được mưu ấy, mới sai Hữu thừa là Khoan Triệt, Tả thừa là Lý Hằng chia đường đuổi theo. Nhà vua phải đổi đi đường bộ đến xã Thủy-Chú, rồi lại đi thuyền đến sông Nam-Triệu, qua cửa biển Đại-Bàng vào Thanh Hóa».

 

Ngày 9 tháng 3 năm Ất Dậu (1285), hai vua bị tướng Nguyên là Giảo-Kỳ và Đường-Cổ-Đới đem chu-sư (hải quân) ra biển vây và suýt bắt được các ngài. May thay nhờ tướng Nguyễn Cường tận lực hộ giá mới có thể rút ra được về phía nguồn Tam-Trĩ, đồng thời giả đưa thuyền rồng đi miền Ngọc-Sơn (miền biển Thanh Hóa) để đánh lừa giặc. Quân thù tưởng là thyền hai vua chúng đón bắt và tịch thu rất nhiều vàng bạc cũng như nam nữ của ta.

 

Ở đoạn này ta thấy rằng sau khi quân Đại Việt rút khỏi kinh thành Thăng Long rồi liên tiếp xảy ra các trận đánh Tha Mạc, Bình Than, A Lỗ, Đại Hoàng, Thanh Hóa thì hai vua và quân đội Đại Việt gần như rơi vào thế bị động phải liên tục di chuyển để tránh né sự truy đuổi của quân Nguyên theo Cương Mục ghi «nhà vua phải chạy loạn long đong»; Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim viết: «Nhân Tông kinh hãi, Thượng hoàng đêm ngày lo sợ»; Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép: «Thế giặc bức bách, hai vua ngầm đi chiếc thuyền nhỏ đến Tam Trĩ Nguyên…xa giá nhà vua phiêu bạt». Các vị sử gia nói trên phê phán một vị đại anh hùng như Đức Hoàng đế Trần Nhân Tông như vậy thì hơi vội vàng và thiếu khách quan.

 

Hãy xem tình hình quân thù ra sao, theo Nguyên Sử 13 tờ 8b8-10 ghi: «Tháng 3 ngày Bính Tý Kinh Hồ Chiêm Thành hành tỉnh xin thêm quân. Lúc bấy giờ Trần Nhật Huyên trốn về hai xứ Thiên Trường và Trường Yên, binh lực lại tập hợp. Hưng Đạo Vương đem hơn ngàn chiến thuyền về nhóm Vạn-Kiếp, còn Nguyễn Lộc thì ở Vĩnh Bình, mà quan quân đi xa lại đánh lâu, treo lơ lửng ở giữa. Quân của Toa Đô và Đường Cổ Đãi lại đến không đúng lúc, nên xin thêm quân. Vua cho đi đưòng thủy là nguy hiểm, ra lệnh cho quân tăng viện đi theo đường bộ» -Toàn Tập Trần Nhân Tông-Lê Mạnh Thát Việt dịch.

 

Như vậy thì quá rõ ràng, theo Nguyên Sử thì quân Mông-cổ cũng đang rơi vào thế bị động. Thế bị động đó là chúng phải đối phó với nghĩa quân của ta quấy rối trong hậu phương của địch. Bằng chứng là phản thần Trần-Kiện trên đường về chầu Hốt-Tất-Liệt lại được quân ta cho đi chầu âm phủ; để đối phó với những hoạt động tiêu thổ kháng chiến của quân ta, chúng bắt buộc phải xin thêm quân xây dựng thêm nhiều đồn bót để gia tăng phòng thủ cũng như kiểm soát những vùng đã chiếm được. Nếu thật sự kẻ thù có khả năng làm cho quân ta lúng túng, bị động thì cần gì phải xin thêm viện binh như thế? Sau khi hóa giải thế gọng kềm mà chúng muốn tạo ra để vây hãm quân ta phải quy phục, thì nay chính đoàn quân xâm lược lại bị rơi vào thế trận mà Đức Hoàng đế Trần và Hưng Đạo Vương đã sắp xếp sau cuộc họp ở Hải-Đông. Đó là rút lui, phòng thủ và phản công chiến lược. Hiện tại ta ở giai đoạn nhì là phòng thủ chiến lược để chuẩn bị bước qua giai đoạn ba là phản công chiến lược.

 

Chưa hết, tại chiến trường Thanh Hóa quân Mông-cổ đã gặp sức phản kháng rất quyết liệt của quân dân ta. Ngày 9 tháng 3 năm 1285, tướng Nguyên là Giảo Kỳ kéo quân đến Bố Vệ (thuộc Cần Bố, Thanh Hóa). Người dân trong vùng nổi lên đánh địch, trong đó có dân chúng Hương Yên Duyên (xã Quảng Hùng, Quảng Xương, Thanh Hóa) dưới sự chỉ huy của ông Lê Mạnh tước là Đại Toát đã chống cự quyết liệt khiến chúng không biết đường chống đỡ, rút lui cũng không được tiến tới cũng chẳng xong, cuối cùng vì quân ta có có kẻ phản bội nên giặc Nguyên mới thoát được và chúng còn đốt phá nhà cửa của ông. Sự kiện này không thấy ghi trong sử nhưng nhờ công đức xây chùa nên bia chùa Hưng Phúc ghi lại rằng: «Hữu tướng giặc là Toa Đô tiến quân vào hương này. Ông đem người trong hương chận giặc ở bến Cổ Bút. Hai bên đánh nhau giặc cơ hồ không rút chạy được. Nhưng vì có kẻ gian hàng giặc chỉ đường nên nhà cửa của ông bị đốt phá» (Thơ văn Lý Trần, Hà Nội xuất bản 1988 tập II quyển thượng trang 648).

 

Trong lúc này Hưng Đạo Vương được lịnh đem hơn 1000 chiến thuyền về Vạn-Kiếp là nơi trước đây đã rút lui, còn tướng Nguyễn Lộc đóng ở Vĩnh Bình tạo thế gọng kềm đối với quân thù. Vì thế cả ba cánh quân của chúng do Thoát Hoan, Ô Mã Nhi và Toa Đô đều nằm ở giữa vòng vây mà Đức Hoàng đế Trần và Hưng Đạo Vương dầy công sắp xếp kể từ sau trận Nội-Bàng và Chi-Lăng.

 

Với tài dụng binh như thần của Đức Hoàng đế Trần Nhân Tông như thế, quân đội Đại Việt đang ở thế bị bao vây cả ba hướng, thế mà quân ta đã lật ngược được thế cờ trong những lúc nguy cấp nhất, khiến kẻ thù rơi vào giữa vòng vây của quân ta, như Nguyên sử nói «quan quân đi xa đánh lâu, lại treo lơ lửng ở giữa». Thế mà không hiểu vì sao, ngoài tác giả một số quyển sử như Cương Mục, Toàn Thư, Việt Nam Sử Lược, có cái nhìn hơi tiêu cực về Đức Hoàng đế Trần Nhân Tông về giai đoạn này thì có những người khác lại đi xa hơn như trong quyển Histoire du Viet Nam des origines à 1858 do Lê Thành Khôi là tác giả được nhà Sudestasie xuất bản năm 1987 tại Paris.

 

Trong quyển này ông Lê Thành Khôi viết như sau ở trang 186: «Nhân Tông, bord d’un sampan léger, était descendu Hai-dong (Quang-Yên). Il fit mander Hung-dao et l’interrogea, sucieux: «La puissance de l’ennemi semble telle que je crains qu’une guerre prolongée n’entraîre pour le peuple d’immenses destructions. Ne vaut-il pas mieux nous rendre pour l’en sauver ?» Le généralissime répondit: «Ces paroles manifestent les sentiments d’humanité de Votre Majesté, mais les Temples Dynastiques et les Dieux du Sol et des Moissons, que de viendraient-ils alors? Si vous voulez vous rendre, faites d’abord trancher ma tête!». Nghĩa là: «Vua Nhân Tông đi thuyền nhẹ xuống Hải-Đông (Quảng-Yên). Ngài cho vời Hưng-Đạo-Vương đến hỏi: «Thế giặc dữ dội như thế e rằng cuộc chiến sẽ kéo dài gây tàn hại cho dân chúng, thôi thì để trẫm đầu hàng giặc để cho dân chúng bớt khổ». Hưng-Đạo-Vương trả lời: «Đức ngài nói câu đó thật là vị vua có lòng thương dân, nhưng rồi sơn hà xã tắc sẽ ra sao? Nếu bệ hạ muốn hàng giặc thì xin chém đầu thần trước đã».

 

Việt Sử Toàn Thư của ông Phạm Văn Sơn biên soạn ở trang 184 có mẩu đối thoại giữa Đức Hoàng đế Trần Nhân Tông và Hưng Đạo Vương khi hội hợp ở Hải-Đông trên một chiếc thuyền nhẹ nội dung như sau: «Thế giặc lớn như vậy chống với nó e dân sự sẽ tàn hại hay là hàng chúng nó để cứu lấy dân?». Hưng Đạo Vương khẳng khái trả lời rằng: «Bệ hạ vì lòng thương dân mà nghĩ như vậy nhưng Tôn Miếu và Xã Tắc thì sao? Nếu bệ hạ muốn hàng thì hãy chém đầu tôi đi trước đã!»

 

Ngày 12/05/2003, bài Khí Phách Của Vị Tướng Tại Mặt Trận do Bán Nguyệt San Ý Dân (Ydannews@aol.com)phổ biến trên diễn đàn công luận (diendancongluan@yahoogroups.com) và diễn đàn chính luận (chinhluan@yahoogroups.com) có đoạn viết như sau: «Năm 1284, khi giặc Mông Cổ đem đại quân tràn sang tấn công nước ta lần thứ hai, khiến vua Trần Nhân Tôn phải lui binh về Vạn Kiếp và nảy sinh ý định đầu hàng giặc để tránh nhân dân phải đổ máu. Nguyên soái Trần Hưng Đạo, trong vai trò thống lĩnh toàn quân đã dõng dạc thưa với nhà vua rằng: "Nếu Bệ Hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu thần trước đã". Câu nói bất hủ nầy của Đức Trần Hưng Đạo đã có sức mạnh vạn năng khiến vua Trần Nhân Tôn phải hủy bỏ ý định đầu hàng giặc và ra công chống ngoại xâm, đem lại thắng lợi cho dân Việt».

 

Việt Sử Khảo Luận tập 2, tác giả Hoàng Cơ Thụy do Hội Văn Hóa Hải Ngoại xuất bản 1988 dầy 410 trang. Ở trang 325 ghi như sau: «Vua Thánh Tông đi thuyền nhỏ xuống Hải-Đông (Hải Dương bấy giờ), cho vời Hưng Đạo Vương đến hỏi: Thế giặc to như vậy, mà chống chọi với nó thì dân bị tàn hại, hay là trẫm chịu hàng để cứu muôn dân ?» Hưng Đạo tâu: «Bệ hạ nói câu ấy thật là nhân đức, nhưng mà tôn miếu xã tắc thì sao. Nếu bệ hạ muốn hàng, xin trước hãy chém đầu tôi đi đã, rồi sau sẽ hàng». Ở đây tác giả Hoàng Cơ Thụy đã chép nhầm một số sự kiện sau đây:

 

1/ Vua Trần Thánh Tông trị vì từ 24/2/1258 đến 22/10/1278, trong suốt 20 năm này quân Mông-cổ không có đem quân sang đánh Đại Việt, chỉ có căng thẳng ngoại giao giữa ta và nước Tàu;

 

2/ Địa điểm Hải Đông mà tác giả Hoàng Cơ Thụy ghi rằng vua Thánh Tông gặp Hưng Đạo Vương, nó đã xảy ra vào cuộc kháng Nguyên lần thứ nhì năm 1285, người làm vua cũng như chỉ huy quân đội Đại Việt lúc đó là vua Nhân Tông (vua Thánh Tông lúc này là Thượng hoàng). Đây là sự lầm lẫn từ nhân vật (vua Thánh Tông); sự kiện (hay là trẫm chịu hàng để cứu muôn dân… Nếu bệ hạ muốn hàng, xin trước hãy chém đầu tôi đi đã, rồi sau sẽ hàng); cho đến địa điểm Hải-Đông, địa điểm này đã diễn ra cuộc gặp giữa vua Nhân Tông và Hưng Đạo Vương trong cuộc kháng Nguyên lần thứ nhì 1285.

 

Theo Toàn Thư ở trang 173 ghi: «Thế giặc rất mạnh, [vua] lại phải lui giữ sông Thiên Mạc (theo Cương Mục là khúc sông Hồng chảy qua vùng bãi Mạn Trù, nay thuộc xã Tân Châu, huyện Châu Giang, tỉnh Hải Hưng). Phụ Trần theo vua bàn những việc cơ mật, rất ít người biết được điều đó. Vua ngự thuyền nhỏ đến thuyền thái úy Nhật Hiệu hỏi kế sách (chống giặc). Nhật Hiệu đương dựa mạn thuyền, cứ ngồi không đứng dậy nổi, chỉ lấy ngón tay chấm nước viết hai chữ «nhập tống» (nghĩa là bỏ chạy vào đất Tống) lên mạn thuyền…Vua lập tức dời thuyền đến hỏi thái sư Trần Thủ Độ, Thủ Độ trả lời: «Đầu thần chưa rơi xuống đất, bệ hạ đừng lo gì khác». Cương Mục ở trang 209 cũng ghi như thế.

 

Quyển Tiêu Sơn Tráng Sĩ của tác giả Khái Hưng do Văn Nghệ xuất bản năm 1968, tại Sài Gòn, ở trang 263 ghi: «Vua Nhân-Tôn nhà Trần nghe tin Hưng-Đạo-Vương bại trận chạy về Vạn-Kiếp, liền ngồi thuyền xuống Hải-Đông, rồi vời Vương đến bàn rằng: «Thế giặc to, mà mình chống với nó thì dân bị tàn hại, hay là trẫm ra hàng để cứu muôn dân?». Hưng-Đạo quỳ xuống kiếm dâng vua Nhân-Tôn rồi vươn cổ mà nói rằng: «Bệ-hạ nói câu ấy thật nhân đức, nhưng còn đất nước thì sao? Nếu bệ-hạ muốn hàng, xin trước hết chém đầu tôi đã, rồi hãy hàng». Cương Mục ở trang 227 có ghi tới sự kiện vua Nhân-Tông gặp Hưng-Đạo-Vương ở Hải-Đông để bàn kế chống giặc cũng như hạ lịnh cho Hưng-Đạo-Vương tấn công giặc Nguyên, chứ không phải có ý đầu hàng như tác giả Tiêu Sơn Tráng Sĩ đã nêu ra. Không rõ tác giả trích đoạn này từ đâu ra, có phải là sự lẫn lộn giữa vua Thái Tông và vua Nhân Tông hay chăng?

 

Đại Cương Lịch Sử Việt Nam tập 1, Trương Hữu Quýnh, Phan Đại Doãn, Nguyễn Cảnh Minh đồng biên soạn, xuất bản 1998 tại Hà Nội ghi ở trang 226 như sau về sự kiện này: «Thuyền chủ tướng Trần Quốc Tuấn xuôi sông Lục Nam về Vạn Kiếp. Nghe tin quân ta rút lui, vua Thánh Tông vội vã đi thuyền ra gặp Quốc Công tiết chế. Trời chiều, nhà vua vẫn chưa ăn sáng, người lính cận vệ nắn phần gạo xấu của mình dâng lên. Thánh Tông vờ hỏi Thống soái «Thế giặc như thế ta phải hàng thôi». Trần Quốc Tuấn nghiêm chỉnh trả lời: «Bệ hạ chém đầu tôi rồi hãy hàng». (đây ghi là trích từ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư tập II trang 51, trang 81). Vua Thánh Tông trị vì từ 24/2/1258 đến 22/10/1278, suốt thời gian này đã không có một trận chiến nào với quân Mông-cổ (do đích thân ngài chỉ huy); về việc dâng phần gạo xấu là xảy ra với vua Nhân Tông (tức là thái tử của vua Thánh Tông trong cuộc kháng Nguyên lần thứ nhì 1258). Chúng tôi đã xem lại trong Toàn Thư, Cương Mục phần Thánh Tông Hoàng Đế thì không thấy có đoạn nào tương tự như trên.

 

Việt Sử Mông Học của Ngô Đức Dung ghi ở trang 149: «Đến đời Hốt-Tất-Liệt, Thế Tổ của nhà Nguyên diệt nhà Tống. Năm Nguyên Phong đời Trần Thái Tôn quân Nguyên sang xâm lược, đóng quân ở bờ tả ngạn sông Thao. Thái Tôn tự làm tướng đánh giặc. Quân Nguyên phải rút. Đến năm đầu Thiệu Bảo đời Nhân Tôn lại sai sứ đòi hỏi 6 việc năm trước. Vua muốn hàng hỏi Trần Quốc Tuấn, Trần Quốc Tuấn tâu: «Nếu Bệ hạ muốn hàng trước hết hãy chém đầu tôi» vua mới quyết chí chống giặc…». Ngoài ra ở các trang 147-157, tác giả Ngô Đức Dung đã trình bày lẫn lộn giữa vua Trần Thái Tông và Trần Nhân Tông; đồng thời các cuộc kháng Nguyên lần thứ I, II, III.

 

Theo chúng tôi tra cứu thì từ các quyển cổ sử như Đại Việt Sử Ký Toàn Thư do các sử thần Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên soạn năm 1697; Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục được soạn bởi Quốc Sử Quán Triều Nguyễn (1856-1881); An-Nam Chí-Lược của Lê Tắc soạn năm 1335 được Viện Đại Học Huế dịch và xuất bản năm 1961 đều không có ghi sự kiện Hoàng đế Trần Nhân-Tông muốn đầu hàng quân Mông-cổ khi hội họp với Hưng-Đạo-Vương ở Hải-Đông; và không hiểu vì sao các tác giả Phạm Văn Sơn quyển Việt Sử Toàn Thư, Lê Thành Khôi quyển Histoire du Viet Nam des origines à 1858, tác giả Ý Dân với bài Khí Phách Của Vị Tướng Tại Mặt Trận do Bán Nguyệt San Ý Dân xuất bản, Khái Hưng quyển Tiêu Sơn Tráng Sĩ, Việt Sử Mông Học của Ngô Đức Dung lại gán cho Đức Hoàng đế Trần Nhân-Tông là người muốn đầu hàng quân giặc, đây là một sự kiện không bao giờ có trong lịch sử, dứt khoát là một sự hư cấu! Riêng tác giả Hoàng Cơ Thụy quyển Việt Sử Khảo Luận tập 2, các tác giả Trương Hữu Quýnh, Phan Đại Doãn, Nguyễn Cảnh Minh đồng biên soạn Đại Cương Lịch Sử Việt Nam tập 1, thì lại nhầm lẫn tên người, địa điểm cũng như sự kiện. Vì sự học hỏi của mọi tầng lớp người, chúng tôi mạn phép ghi ra đây để chúng ta có thể rút được một vài kinh nghiệm nhỏ (nhưng rất quan trọng) trong việc biên soạn lịch sử nước nhà.

 

Rất mong các bậc cao minh vui lòng chỉ giáo. Đa tạ.

 

(*) Trích Đức Hoàng đế Trần Nhân Tông, trọn đời chinh chiến-một thủa thanh bình, do Trúc Lâm Lê An Bình biên khảo .

 

___________________

 

Trúc Lâm Lê An Bình

Nguồn: thuvienhoasen.org

VUA TRẦN NHÂN TÔNG VÀ CUỘC CHIẾN TRANH VỆ QUỐC NĂM 1285

 

Ta đã thấy ngay vào năm 1279, khi Trần Nhân Tông lên ngôi ở Đại Việt và khi nhà Tống bị tiêu diệt ở Trung Quốc, Hốt Tất Liệt liền ra lệnh đóng chiến thuyền tiến đánh Đại Việt, ý chừng muốn thừa thắng xông lên, sử dụng đội quân bách chiến bách thắng, đè bẹp sức chiến đấu của dân tộc ta. Tuy nhiên, do rút kinh nghiệm trong cuộc chiến 1258, lần này Hốt Tất Liệt chuẩn bị phương hướng và sách lược kỹ càng hơn với việc cho Toa Đô tiến đánh Chiêm Thành vào năm 1282 để làm gọng kìm phía nam cùng với hai gọng kìm đông bắc và tây bắc, nhằm bóp nát Đại Việt.

 

Thực tế ta sẽ thấy cuộc chiến sẽ xảy ra theo hướng đúng như thế, nhưng kết quả hoàn toàn khác.

 

Hốt Tất Liệt chuẩn bị cuộc chiến năm 1285

 

Sau thất bại của việc áp đặt chính quyền bù nhìn Trần Di Ái lên nước ta vào cùng năm 1282, Hốt Tất Liệt vẫn kiên trì chờ đợi thắng lợi từ chiến trường Chiêm Thành. Nhưng chiến thắng đã không bao giờ xảy ra, như Bản kỷ của Nguyên sử 13 tờ 2b2-3 và 2b9-11 đã ghi nhận về sự tan rã của đội quân Toa Đô từ Chiêm Thành chạy về Trung Quốc và “bình chương của Hồ Quảng hành tỉnh là A Lý Hải Nha xin tự thân mình đến bờ biển thu thập đám quân tan rã từ Chiêm Thành”. Quân dân Chiêm Thành đã tiến hành một cuộc kháng chiến trường kỳ, vừa đánh vừa đàm, dìm đội quân Toa Đô trong vũng lầy của chiến tranh du kích tại một đất nước nhiệt đới.

 

Chờ mãi không thấy chiến thắng, mà chỉ thấy thư yêu cầu viện binh, Hốt Tất Liệt ngày Đinh Sửu 28 tháng 5 năm Chí Nguyên 21 (1284) đã tước hổ phù của Ô Mã Nhi do thất bại trong khi đem quân đi tiếp viện cho Toa Đô. Rồi đến ngày Mậu Tý 12 tháng 7 năm đó ra lệnh cho con là Thoát Hoan chính thức cầm quân đánh Chiêm Thành như Bản kỷ của Nguyên sử 13 tờ 4a8 đã chép. Song đây là một quyết định giả vờ, vì đối tượng xâm lược chủ yếu của Thoát Hoan không phải là Chiêm Thành, mà chính là Đại Việt. Cũng chính trong ngày Mậu Tý ấy, phái bộ của trung lượng đại phu Nguyễn Đạo Học do vua Trần Nhân Tông cử đi đem phương vật biếu vua Nguyên, đồng thời để dò xét tình hình. Đó cũng là ngày vua Nguyên cho phái bộ Lê Anh của ta về nước.

 

Hốt Tất Liệt cho tổ chức bộ máy chỉ huy quân sự khổng lồ, mà ngoài Thoát Hoan ra thì gồm hầu hết các tướng tài của đội quân Mông Cổ từng có chiến công trong việc tiêu diệt nhà Tống. Đó là A Lý Hải Nha, người chiến thắng của các thành Tương Dương, Ngạc Châu, Phàn Thành, Tỉnh Giang, Giang Lăng và nhiều chiến trường khác nữa của Trung Quốc. Rồi Lý Hằng, kẻ chiến thắng trong chiến dịch Nhai Sơn, hoàn thành việc tiêu diệt vương triều Tống. Và một loạt các tướng tá đã từng cộng tác với A Lý Hải Nha và do chính A Lý Hải Nha cất nhắc bồi dưỡng như Áo Lỗ Xích, Trình Bằng Phi, Ô Mã Nhi, Toa Đô, Phàn Tiếp, v. v. Nói cách khác, Hốt Tất Liệt đã tập hợp một bộ sậu tác chiến đầy kinh nghiệm và có bản lĩnh.

 

Khi Thoát Hoan còn ở Kinh Hồ Chiêm Thành hành tỉnh vào tháng 7 năm Chí Nguyên 21 (1284), vua Trần Nhân Tông đã sai phái bộ Nguyễn Đạo Học sang gặp Thoát Hoan. Và theo An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 5b12-6a6, Thoát Hoan đã sai lý vấn quan Khúc Liệt (Kỳlô) và tuyên sứ Tháp Hải Tản Lý (Taqai Sarợq) cùng với Nguyễn Đạo Học đem thư của A Lý Hải Nha trách vua ta và đòi vua phải cung cấp lương thực cho quân Nguyên và lên biên giới đón Thoát Hoan vào đất nước mình trên đường chúng đi đánh Chiêm Thành. Khi Thoát Hoan tiến quân đến huyện Hành Sơn của Hồ Nam thì Khúc Liệt và Tháp Hải Tản Lý đã trở về từ Đại Việt cùng với phái bộ Trần Đức Quân và Trần Tự Tông do vua Trần Nhân Tông gửi lên cùng bức thư của vua, từ chối việc mượn đường của Thoát Hoan: “Từ nước tôi đến Chiêm Thành, thủy bộ đều không tiện”. Khi nhận được thư này, Thoát Hoan lại cho Triệu Tu Kỷ gửi thư lại cho vua Trần Nhân Tông yêu cầu mở đường và cấp lương. Cùng lúc lại được tin Trần Hưng Đạo đem quân lên án ngữ biên giới.

 

Tất cả chi tiết này An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 5b11 chép vào tháng 2 của năm Chí Nguyên thứ 22 (1285).

 

Lý do nằm ở chỗ Bản kỷ của Nguyên sử 13 tờ 6a5 đã ghi tháng 12 năm Chí Nguyên 21, quân của Thoát Hoan đã tới nước ta. An Nam chí lược 4 tờ 53 ghi càng rõ hơn: “Tháng 12 ngày 21 Giáp Tý, quân đã đến đón ở biên giới An Nam”. Điều này hoàn toàn phù hợp với những ghi chép của Kinh thế đại điển tự lục trong Nguyên văn loại 41 tờ 27a2-3: “Năm 21 tháng 10, quân đến Vĩnh Châu. An Nam sai Hưng Đạo Vương đem quân 2 vạn đóng những nơi xung yếu để chặn quân vua. Tháng 12, đánh bại chúng ở ải Khả Ly”.

 

Như vậy, đúng ra phải tới tháng 10 năm Chí Nguyên 21 (1284), Thoát Hoan mới tiến quân đến huyện Vĩnh Châu của Hồ Nam. Tại đây, A Lý Hải Nha lại sai vạn hộ Triệu Tu Kỷ viết thư đòi vua ta phải “mở đường, sửa soạn lương thực đến đón Trấn Nam Vương”, như An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 6a5-6 đã ghi. Cũng theo An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 6a6-7, tới Ung Châu của Quảng Tây, Thoát Hoan được tin tướng điện tiền Phạm Hải Nhai của Đại Việt đem quân đến đóng các xứ Khả Lan, Vi Đại Trợ. Thoát Hoan cho tiến quân tiếp đến Tư Minh của Quảng Tây, viết thư cho vua Trần Nhân Tông, để lặp lại các đòi hỏi mà A Lý Hải Nha đã nói tới. Rồi tiếp tục dẫn quân vào đất nước ta ở Lộc Châu, tức huyện Lộc Bình của Lạng Sơn ngày nay.

 

Tại đây, khi nghe tin vua Trần Nhân Tông đã điều quân đóng các ải Khâu Ôn và Khâu Cấp Lãnh, Thoát Hoan và A Lý Hải Nha đã chia quân làm hai ngả để tiến. Việc chia quân này theo An Nam chí lược 4 tờ 53 là vào ngày 21 Giáp Tý tháng 12 năm Giáp Thân, tức ngày 27 tháng giêng năm 1285, và nó cũng cho biết cánh quân phía Tây do Vạn Hộ Bột (An Nam chí lược viết Lý, LMT) La Hợp Đáp Nhi (Bolqadar) và chiêu thảo A Thâm (Atsin) chỉ huy do đường huyện Khâu Ôn tiến xuống. Còn cánh phía Đông thì có khiếp tiết Tản Đáp Nhi Đãi (Tatartai) và vạn hộ Lý Băng Hiến tiến xuống bằng đường Cấp Lãnh.

 

Ngay thời điểm này vua Trần Nhân Tông vẫn sai thiện trung đại phu Nguyễn Đức Dư và triều thỉnh lang Nguyễn Văn Hàn đưa thư tới Thoát Hoan yêu cầu lui quân, nhắc tới tờ chiếu Hốt Tất Liệt năm 1261 về việc “sắc riêng cho quân ta không vào bờ cõi nhà ngươi”, như An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 6a9-10. A Lý Hải Nha đã giữ Nguyễn Văn Hàn lại và cho Nguyễn Đức Dư cùng đi với tổng bản A Lý đem thư hắn trả lời việc xin lui quân của phía ta bằng cách nói rằng: “Sở dĩ dấy quân là vì Chiêm Thành chứ không phải vì An Nam”. Nhưng A Lý đến vùng đất huyện Cấp Bảo thì gặp quân Đại Việt do quản quân Nguyễn Lộc chỉ huy, rồi các nơi thôn Lý, huyện Đoản, Vạn Kiếp đều có quân của Hưng Đạo Vương, nên A Lý không tiến lên được. A Lý Hải Nha bèn sai Nghê Nhuận đi do thám hư thực để tính việc tiến quân. Chẳng bao lâu, Tản Đáp Nhi Đãi, Lưu Bang Hiến và Tôn Hựu báo cáo là đến ải Khả Ly gặp quân Giao đánh trả. Đó là viết theo An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 6a3-b2.

 

Trận Nội Bàng

 

Trong trận đánh tại ải này, Tôn Hựu đã bắt được 2 tướng của ta là quản quân phụng ngự Đỗ Vĩ và Đỗ Hựu và sau đó giết 2 tướng này. Rồi tiến đến Động Bàng, đại quân của Thoát Hoan đã giao chiến với quân ta và tướng Tần Sâm trúng thương, đã hy sinh. Tiếp theo, chúng tiến quân đến đóng ở thôn Biến Trú.

 

Ngày 26 tháng 12 ĐVSKTT viết: “Giặc đánh vào các ải Vĩnh Châu, Nội Bàng, Thiết Lược và Chi Lăng”. Thế là sau 5 ngày tiến quân từ Lộc Châu xuống, cánh quân phía tây của Bột La Đáp Nhĩ cũng như đại quân của Thoát Hoan đã thành công khi phá vỡ tuyến phòng ngự chủ yếu để bảo vệ kinh thành Thăng Long bằng cách vượt qua các cửa ải chính của nước ta ở phía bắc và bắt đầu tiến xuống đồng bằng phía nam. Đặc biệt khi đánh vào ải Nội Bàng, theo An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 6b5, đại quân của Thoát Hoan đã chia làm 6 mũi để bao vây và tiến chiếm.

 

Bản kỷ của Nguyên sử 13 tờ 6a5-6 viết: “Tháng đó, quân Trấn Nam Vương đến An Nam, giết những lính thú, chia quân sáu đạo để tiến. Hưng Đạo Vương của An Nam đem quân cự lại”.

 

Như vậy, đây có thể nói là một trận đánh lớn, nếu không phải là trận đánh quyết chiến chiến lược, bởi vì chỉ huy trận đánh này về phía ta là do chính Quốc công tiết chế Trần Hưng Đạo thực hiện và chắc chắn quân ta đã tổn thất nặng với Đại liêu ban Đoàn Thai bị giặc bắt sống. Sau này, như sẽ thấy dưới đây, vua Trần Nhân Tông đã ra lệnh cho Trần Hưng Đạo điều động quân ở các lộ về, mà riêng quân của các vương, con của Trần Hưng Đạo, đã lên tới gần 20 vạn. Hơn nữa, Trần Hưng Đạo đã rút khỏi Nội Bàng trong một tình thế hết sức bức bách và vội vã, có vẻ như mặt trận Nội Bàng tan vỡ đột ngột, nằm bên ngoài dự kiến của chính bản thân Trần Hưng Đạo.

 

ĐVSKTT 5 tờ 45a4 -b1 viết về việc rút quân khỏi trận đánh này một cách khá hình ảnh bằng cách kể lại chuyện Tỳ tướng Yết Kiêu chờ đợi ông tại Bãi Tân: “Trước đây Hưng Đạo Vương có gia nô tên là Dã Tượng và Yết Kiêu. Ông đối đãi họ rất hậu. Khi quân Nguyên đến, Yếõt Kiêu giữ thuyền ở Bãi Tân. Dã Tượng thì đi theo Hưng Đạo. Lúc quan quân thua trận, quân thuyền đều giải tán. Vương muốn theo lối chân núi mà đi. Dã Tượng nói: ‘Yết Kiêu chưa thấy đại vương, tất không dời thuyền chỗ khác’. Vương đi ngay đến Bãi Tân, chỉ có thuyền của Yết Kiêu còn đấy. Vương mừng lắm, nói rằng: ‘Chim hồng hộc có thể bay cao được là nhờ vào sáu trụ xương cánh. Nếu không có thì cũng như chim thường thôi’. Vương nói xong thì thuyền chèo đi, quân kỡ của giặc đuổi theo không kịp. Vương đến Vạn Kiếp, chia quân đóng giữ Bắc Giang”. Thế đủ biết mặt trận Nội Bàng tan vỡ trong tình huống hoàn toàn bất lợi, thậm chí có vẻ bất ngờ, không những đối với vị chỉ huy trực tiếp là Trần Hưng Đạo, mà còn đối với vua Trần Nhân Tông, vị lãnh tụ đồng thời là chỉ đạo tối cao của cuộc kháng chiến thời bấy giờ.

 

Sự tình này ta có thể thấy qua việc vua Trần Nhân Tông, khi được cấp báo về tình hình chiến sự Nội Bàng, đã bỏ ăn sáng, dong thuyền đi suốt ngày ra Hải Đông, để gặp Trần Hưng Đạo, như ĐVSKTT đã mô tả: “Lúc ấy vua ngự chiếc thuyền nhẹ, sang lộ Hải Đông. Ngày đã gần chiều, vua chưa ăn cơm sáng, có tiểu tốt là Trần Lai đem dâng cơm gạo xấu. Vua khen là trung, ban cho tước thượng phẩm, kiêm chức tiểu tư xã xã Hữu Triều Môn ở Bạch Đằng”. Rõ ràng việc vua Trần Nhân Tông bỏ ăn sáng và lập tức cho thuyền ra Hải Đông để gặp Trần Hưng Đạo, chứng tỏ mặt trận này đóng vai trò hết sức quan trọng trong chiến lược quốc phòng của nhà Trần lúc đó.

 

Có thể nói, nó cho ta thấy chủ trương tác chiến ban đầu của vua Trần Nhân Tông và Trần Hưng Đạo hình như là đưa quân lên chặn giặc ngay tại những vùng địa đầu biên giới của tổ quốc theo chiến lược Lý Thường Kiệt đã làm hơn 200 năm trước. Việc mặt trận Nội Bàng tan vỡ, do thế, đòi hỏi phải có những quyết định chiến lược mới, thay đổi chiến lược cũ trong việc đối phó với kẻ thù, phải có một phương án tác chiến mới mà có thể vua Trần Nhân Tông và Trần Hưng Đạo đã dự phòng. Vì vậy, vua Trần Nhân Tông phải trực tiếp đi gặp Trần Hưng Đạo.

 

Trần Hưng Đạo và vua Trần Nhân Tông đã bàn gì trong cuộc hội kiến chớp nhoáng ở Hải Đông, ngày nay ta không được biết. Nhưng sau cuộc gặp đó ĐVSKTT 5 tờ 44b7 -45a4 đã ghi: “Hưng Đạo Vương vâng lệnh điều quân dân các lộ Hải Đông, Vân Trà, Bà Điểm, chọn người mạnh khỏe làm quân tiên phong vượt biển vào nam. Thế quân đã hơi nổi. Các quân nghe thế, không quân nào là không đến tụ họp. Vua làm thơ đề ở cuối thuyền rằng:

 

Cối Kê việc cũ ông nên nhớ

Hoan Ái vẫn còn mười vạn quân

 

Hưng Vũ Vương Nghiễn, Minh Hiến Vương Uất, Hưng Nhượng Vương Tảng, Hưng Trí Vương Hiện đốc xuất quân các sứ Bằng Hà, Na Sầm, Trà Hương, Yên Sinh, Long Nhã, cộng 20 vạn quân đến họp ở Vạn Kiếp theo sự điều khiển của Hưng Đạo Vương để chống quân Nguyên”.

 

Sự thay đổi phương án tác chiến chiến lược thực tế đã xảy ra, mà rồi đây ta lần lượt sẽ thấy nó thể hiện trong phương pháp chỉ đạo chiến tranh của vua Trần Nhân Tông. Phương án mới này thường được các nhà quân sự hiện nay gọi là phương án “rút lui chiến lược và phản công chiến lược”. Cuộc hội nghị chớp nhoáng giữa Trần Nhân Tông và Trần Hưng Đạo sau khi mặt trận Nội Bàng tan vỡ, thể hiện tư duy quân sự sắc sảo không chỉ của Trần Hưng Đạo, mà của chính Trần Nhân Tông với tư cách là vị tổng tư lệnh quân đội của nước ta thời bấy giờ. Chỉ một việc Trần Nhân Tông bỏ ăn cả ngày để đi gặp Trần Hưng Đạo đủ chứng tỏ tình hình nguy ngập như thế nào. Không những thế, nó còn cho ta thấy, Trần Nhân Tông đã bám sát tình hình tác chiến của quân đội ta thời bấy giờ chặt chẽ và sít sao tới mức nào, để khi tình hình diễn biến phức tạp bất lợi và có nhiều nguy cơ, thì vua Trần Nhân Tông đã chủ động đi tới hiện trường giải quyết dứt điểm các vấn đề vừa mới nảy sinh. Việc điều động quân từ các lộ và vương hầu tập kết ở Vạn Kiếp là một thí dụ điển hình. Hai câu thơ cho thấy rõ ràng vua Trần Nhân Tông viết để nhắn gửi cho Trần Hưng Đạo và các tướng lĩnh thời bấy giờ. Về “việc cũ Cối Kê”, tức việc Câu Tiễn nước Việt xưa bị Phù Sai nước Ngô đánh bại, nhưng cuối cùng qua gian khổ, nhịn nhục, đã vùng lên tiêu diệt Phù Sai để chiến thắng. Điều này hàm ý sự kiện mặt trận Nội Bàng tan vỡ là một tổn thất vô cùng to lớn đối với quân đội Đại Việt. Chính vào thời điểm này, Thượng hoàng Trần Thánh Tông đã hỏi thử vị tướng trực tiếp chỉ huy mặt trận là Trần Quốc Tuấn xem nên có đầu hàng không. Nhà chiến lược thiên tài đã trả lời: “Bệ hạ hãy chém đầu thần trước rồi hãy hàng” như ĐVSKTT 6 tờ 11B đã ghi. Tuy thế, khi đã tập kết quân các lộ về, riêng quân của các vương hầu, như Hưng Vũ Vương Nghiễn, Minh Hiến Vương Uất, Hưng Nhượng Vương Tảng và Hưng Trí Vương Hiện đã lên tới con số hai chục vạn, chứng tỏ thực lực quân đội ta lúc ấy đang được bảo toàn. Đứng trước một tập đoàn quân hùng mạnh như thế, ngoài việc phát động tinh thần quyết chiến quyết thắng của “việc cũ Cối Kê”, vua Trần Nhân Tông còn động viên và làm phấn khởi các tướng lĩnh và quân nhân hiện diện bằng cách báo cho họ biết một tin vui là lực lượng ta vẫn còn 10 vạn quân tại Hoan Ái sẵn sàng bổ sung vào chiến đấu. Hơn nữa, sau trận Nội Bàng, phía địch vẫn thừa nhận “Hưng Đạo Vương vẫn còn binh thuyền hơn 1000 chiếc, đóng cách Vạn Kiếp 10 dặm”, như An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 6b6 đã ghi.

 

Trận Vạn Kiếp

 

Cuộc tấn công Nội Bàng vào ngày 26 Tết năm Giáp Thân của Thoát Hoan, mà An Nam chí lược ghi là ngày 27, chắc chắn đã kéo dài mấy hôm. Thế mà năm Giáp Thân sắp hết, Tết năm Ất Dậu đã gần kề, quân dân Đại Việt đang rộn ràng ăn Tết bằng chiến đấu và chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu. Trận Nội Bàng đã kết thúc. Trần Hưng Đạo đã rút về Vạn Kiếp và tập kết quân từ các lộ để sửa soạn cho cuộc chiến sắp tới. ĐVSKTT 5 tờ 45b2-3 cho ta biết: “Ngày mồng 6 tháng giêng mùa xuân năm Ất Dậu Thiệu Bảo thứ 7 (1285) Ô Mã Nhi nhà Nguyên đánh vào các xứ Vạn Kiếp và núi Phả Lại, quan quân vỡ chạy”. Tuy nhiên, Nguyên sử 13 tờ 6a6 lại ghi: “Tháng đó (tức tháng 12 năm Chí Nguyên thứ 21), Hưng Đạo Vương của An Nam đem quân chống lại ở Vạn Kiếp, bèn tiến quân đánh bại nó.

 

Vạn hộ Nghê Nhuận đánh, chết ở Lưu Thôn”.

 

Thế là từ chiến thắng Nội Bàng, Thoát Hoan đã triển khai ngay kế hoạch tấn công Vạn Kiếp, chứ không chờ gần 10 ngày mới cho lệnh tấn công, như ĐVSKTT đã có. Dẫu sao đi nữa, trong trận chiến Nội Bàng và những trận trước như Động Bàng, Khâu Ôn, nếu quân ta có tổn thất, thì nhất định quân địch cũng tổn thất không kém do tinh thần chiến đấu ngoan cường của quân đội ta. Vì vậy, cả hai bên đều cần thời gian, gấp rút tổ chức lại quân đội và sắm sửa khí tài phục vụ cho cuộc chiến sắp tới.

 

Theo An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 6b6-7, Thoát Hoan cho dựng công trường đóng chiến thuyền và thành lập các cánh quân thủy giao Ô Mã Nhi chỉ huy, tiến xuống Vạn Kiếp. Trên đường tiến, chúng đã lượm được hai lá thư vua Trần Nhân Tông gửi cho Thoát Hoan và A Lý Hải Nha về việc yêu cầu chúng chấp hành lệnh năm Trung Thống thứ 2 (1261) của Hốt Tất Liệt và đòi chúng rút quân về. Đồng thời, A Lý Hải Nha gửi thư cho vua Trần Nhân Tông yêu cầu mở đường “cho triều đình đem quân đánh Chiêm Thành”, rồi giao cho sứ ta bị chúng giữ lại là Nguyễn Văn Hàn đem tới Vạn Kiếp.

 

Đến giờ phút đó, A Lý Hải Nha vẫn còn dở giọng như An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 6b11-7a3 đã ghi: “Triều đình đem quân đánh Chiêm Thành, nhiều lần đưa thư cho thế tử, bảo mở đường, chuẩn bị lương, không ngờ đã trái mệnh triều đình, để bọn Hưng Đạo Vương đem quân chống lại, đánh bị thương quân ta. Để cho sinh linh An Nam chịu tai họa, chính là do nước ngươi làm ra. Nay đại quân qua nước ngươi, để đánh Chiêm Thành, hoàng đế truyền lệnh cho thế tử hãy nghĩ kĩ đi. Nước ngươi quy phụ đã lâu, nên nghĩ đến đức thương yêu to lớn của hoàng đế, mà lập tức ra lệnh rút quân mở đường, khuyên bảo trăm họ ai nấy cứ làm ăn sinh sống. Quân ta đi qua, không mảy may xâm phạm. Thế tử hãy ra đón Trấn Nam Vương, cùng bàn việc quân. Nếu không, đại quân sẽ đóng lại ở An Nam, mở phủ”.

 

Về phía Đại Việt, thì như đã thấy, vua Trần Nhân Tông và Trần Hưng Đạo đã điều động quân các lộ vùng đông bắc như Hải Đông, Vân Trà, Ba Điểm và các xứ Bàng Hà, Na Sầm, Trà Hương, Yên Sinh và Long Nhãn về đóng ở Vạn Kiếp và núi Phả Lại. Núi Phả Lại, theo An Nam Chí Nguyên 1 tờ 42 mục Sơn xuyên thì “ở huyện Từ Sơn, mặt kề Bình Than, sông Như Nguyệt quanh bên trái, sông Ô Cách bọc bên phải, cảnh vật mỹ lệ, là cảnh đẹp một phương”.

 

Bản thân Trần Nhân Tông theo An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 7a3-4 thì đem “các quân Thánh Dực hơn một nghìn thuyền giúp Hưng Đạo Vương cự chiến”.

 

Vậy là, khi Tết Ất Dậu chưa tới, theo Bản kỷ của Nguyên sử, Ô Mã Nhi đã ra lệnh tấn công căn cứ Vạn Kiếp. Một trận đánh ác liệt đã nổ ra. Tướng Nguyên là vạn hộ Nghê Nhuận đã tử trận tại Lưu Thôn. Điều này phù hợp với mô tả trong An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 6b5-6. Theo đó, sau trận Nội Bàng, “Hưng Đạo Vương trốn đi, quan quân đuổi đến Vạn Kiếp, đánh các ải, đều phá được”. Trận Vạn Kiếp đã xảy ra như vậy trước Tết Ất Dậu.

 

Trận Bình Than

 

Đến ngày mồng 9 Nhâm Ngọ tháng giêng, theo An Nam chí lược 4 tờ 54 vua, Trần Nhân Tông “đem 10 vạn quân, đại chiến ở Bài Than. Nguyên soái Ô Mã Nhi, chiêu thảo Nạp Hải (Naqai), và trấn phủ Tôn Lâm Đức đem những thuyền bắt được từ trước đến đánh tan”. Cũng ngày này, Bản kỷ của Nguyên sử 13 tờ 7a8-9 ghi nhận:

 

“Ô Mã Nhi dẫn quân gặp Hưng Đạo Vương của An Nam bèn đánh bại”, tuy không nói ở đâu. Thế thì, trận Bài Than với 10 vạn quân do vua Trần Nhân Tông chỉ huy chắc chắn phải gồm cả nghìn chiến thuyền do Trần Hưng Đạo bố trí cách Vạn Kiếp chừng 10 dặm, mà Nguyên sử nói tới ở trên.

 

Bài Than ở đây tức chính là Bình Than, bởi vì An Nam Chí Nguyên 1 tờ 46-47 khi viết về sông Bình Than, đã nói: “Một tên là Bàn Than, lại có tên Bài Than ở tại huyện Chí Linh, phát nguyên từ Xương Giang đến sông Thị Cầu, thì hai nhánh hợp lưu chảy qua hai núi Chí Linh và Phả Lại, quanh co mênh mông không rõ đâu là bờ bến, đến cửa sông Đồ Mộ thì rẽ thành hai nhánh và chảy vào biển”. Bài Than trong trích dẫn này là đọc theo thủ bản B do Gaspardone đã ghi lại ở phần khảo dị trang 47.1

 

Vậy, Bình Than “mặt kề” với núi Phả Lại, nơi ba năm trước đã chứng kiến hội nghị quân sự đánh Nguyên do vua Trần Nhân Tông chủ trì, thì bây giờ đang là địa điểm diễn ra trận thủy chiến dữ dội nhất của lịch sử quân sự dân tộc do chính vua Trần Nhân Tông trực tiếp chỉ huy với cả 10 vạn quân tham dự. Có thể nói đây là một trong những trận thủy chiến lớn nhất, để tiêu hao sinh lực địch, đồng thời thể hiện chủ trương rút lui chiến lược của bộ chỉ huy tối cao.

 

Trận Thăng Long

 

Sau các trận Vạn Kiếp, Phả Lại và Bình Than, quân địch tiến đánh Vũ Ninh và Đông Ngạn, rồi tiến xuống Gia Lâm.Trong khi đó, quân ta rút về Thăng Long theo đường sông Thiên Đức và có những trận đánh lẻ tẻ với quân Nguyên trên đường sông này. ĐVSKTT 5 tờ 45b3-5 ghi: “Ngày 12 giặc đánh Gia Lâm, Vũ Ninh, Đông Ngạn, bắt được quân ta, đều có thích vào cánh tay hai chữ sát thát bằng mực, chúng rất giận, đem giết rất nhiều, rồi tiến đến Đông Bộ Đầu, dựng cờ lớn. Vua muốn sai người xem rõ hư thực của giặc mà chưa được người. Chi hầu cục thủ Đỗ Khắc Chung tiến lên tâu rằng: ‘Thần hèn mọn bất tài, nhưng xin được đi’. Vua mừng nói: ‘Đâu biết trong đám ngựa kéo xe muối, lại có ngựa ký ngựa kỷ’. Rồi Chung nhận thư xin đi”.

 

Nhưng thực tế, theo Nguyên sử 13 tờ 7a9 thì đó là ngày “Ất Dậu thế tử An Nam là Trần Nhật Huyên đem hơn nghìn chiến thuyền chống cự. Ngày Bính Tuất, đánh nhau, đại phá. Nhật Huyên trốn đi, bèn vào thành y, rồi trở ra đóng ở bắc sông Phú Lương”. An Nam chí lược 4 tờ 54 viết: “Ngày 13 Bính Tuất, thế tử giữ Lô Giang, lại bị vỡ, bỏ chạy.Trấn Nam Vương vượt sông, vào yến tiệc ở cung đình”. Kinh tế đại diễn tự lục trong Nguyên văn loại 41 tờ 27a4-56 cũng ghi tương tự: “Quan quân đến sông Phú Lương, Nhật Huyên chính mình cự chiến, bị thua, bỏ thành chạy về phủ Thiên Trường, quan quân vào quốc đô”.

 

An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 7a4 viết về trận đánh này càng rõ hơn: “Trấn Nam Vương liền cùng quan hành tỉnh tự mình đến Đông Ngạn, sai quân đánh, giết được rất nhiều, bắt được 20 thuyền. Hưng Đạo Vương thua chạy.

 

Quan quân buộc bè làm cầu, sang bờ bắc sông Phú Lương. Nhật Huyên bố trí binh thuyền, dựng rào gỗ dọc theo sông. Thấy quan quân đến bờ, lập tức nổ pháo, hô lớn, thách đánh. Đến chiều lại sai Nguyễn phụng ngự mang thư đến Trấn Nam Vương và quan hành tỉnh, xin rút đại quân. Hành tỉnh lại đưa thư trách, rồi lại tiến quân. Nhật Huyên liền bỏ thành chạy, đồng thời sai Nguyễn Hiệu Nhuệ đem thư xin lỗi và biếu phương vật, cùng xin rút quân. Hành tỉnh lại đưa thư chiêu dụ, rồi điều quân sang sông, đóng ở dưới thành An Nam. Hôm sau, Trấn Nam Vương vào quốc đô nước đó. Cung thất đều trống trơn, chỉ lưu lại mấy tờ chiếu sắc và mấy lá thư của hành tỉnh, tất cả đều bị xé nát”.

 

Qua báo cáo này ta rút được ba nhận xét. Thứ nhất, trận Bình Than, tuy là một trận thủy chiến lớn với sự tham dự của cả một tập đoàn quân trên 10 vạn người, vẫn là một trận vận động chiến, đánh để rút và chủ động nhử địch vào nơi mình muốn. Cho nên, khi Thoát Hoan cho quân buộc bè làm cầu để vượt sông Thiên Đức, tức sông Đuống ngày nay, để lên bờ sông Phú Lương, tức sông Hồng, vua Trần Nhân Tông, một lần nữa, lại “nổ pháo, hô to, đòi đánh”, trực tiếp chỉ huy trận thành Thăng Long.

 

Thứ hai, tuy thách đánh quân thù, nhưng vua Trần Nhân Tông vẫn duy trì hành lang quan hệ nào đó với quân thù, để phục vụ cho ý đồ chiến thuật và tình báo của ta. Nguyên sử ghi việc Nguyễn Phụng Ngự và Nguyễn Hiệu Nhuệ được vua Trần Nhân Tông sai mang thư cho Thoát Hoan. Những tên này không thấy sử ta nói tới. thay vào đó, ĐVSKTT 5 thì ghi tên Đỗ Khắc Chung.

 

Thứ ba, vua Trần Nhân Tông có thể chủ động quan hệ với giặc như thế là nhờ bảo toàn lực lượng từ trận Bình Than, cùng kéo về Thăng Long để làm cuộc triệt thoái chiến lược về Thiên Trường, rút toàn quân và dân thủ đô, nhằm tránh ba mũi gọng kìm, tức mũi gọng kìm cánh quân phía đông bắc của chính Thoát Hoan và A Lý Hải Nha, cánh quân phía tây bắc do Nạp Tốc Lạt Đinh (Nasir ud Din), và đặc biệt là gọng kìm phía nam do Toa Đô chỉ huy.

 

Chính trong ngày 14 tháng giêng năm Ất Dậu ấy (1285), khi Thoát Hoan vào kinh thành yến tiệc với thuộc hạ, xong rồi rút ra đóng ở phía bắc sông Hồng, Bản kỷ của Nguyên sử 13 tờ 7a10-11 báo cho ta biết “bọn Toa Đô, Đường Cổ Đãi (Tangutai)Ợ đem quân hội với Trấn Nam Vương”. Đường Cổ Đãi là tên tướng, mà khi xuất quân, Thoát Hoan đã sai đến Chiêm Thành gọi Toa Đô đem quân về cùng hợp đồng chiến đấu, như An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 5b12-13 đã ghi: “Sai Tả thừa Đường Ngột Đãi chạy dịch đến Chiêm Thành, hẹn với Tả thừa Toa Đô đem quân cùng dến hội”. Tuy nhiên, Toa Đô mới đem quân đi, chứ chưa đến hội kịp, như sẽ thấy. Vậy là, tất cả những cánh quân chủ yếu do Thoát Hoan chỉ huy, đã tập hợp về Thăng Long, để rồi chúng sẽ nhận những đòn phản công giáng trả sấm sét của quân dân Đại Việt với những chiến thắng Chương Dương, Tây Kết, Hàm Tử lẫy lừng.

 

Nhưng trước khi có những chiến thắng này, thì từ trung tâm ở Thăng Long, Thoát Hoan một mặt “sai Vạn hộ Lý Bang Hiến và Lưu Thế Anh đem quân mở đường từ Vĩnh Bình vào An Nam, mỗi 30 dặm lập một trại, 60 dặm đặt một trạm, mỗi một trại, một trạm đóng quân 300 tên để trấn giữ và tuần tra, lại sai Thế Anh dựng đồn, chuyên đôn đốc công việc của trại, trạm”, như An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 7b7-9 đã ghi. Đây là biện pháp củng cố hậu phương của chúng đối với những vùng chúng đã chiếm được, nhưng luôn luôn bị quân ta quấy nhiễu.

 

Mặt khác, cũng theo An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 7b-9-10, Thoát Hoan đã ra lệnh cho “Hữu thừa Khoan Triệt (KoỊnaỊk) dẫn Vạn hộ Mang Cổ Đãi (Manqudai) và Bột La Hợp Đát Nhi (Bolqadar) bằng đường bộ và Lý tả thừa dẫn Ô Mã Nhi Bạt Đô (Omar ba’atur) bằng đường thủy”, truy đuổi và tiến đánh các cánh quân của ta đang rút lui cùng những cứ điểm đóng quân dọc theo sông Hồng cùng các chi lưu của nó, để phòng vệ cho Thiên Trường ở phía nam Thăng Long. Và trận đầu tiên đã diễn ra ở bãi Thiên Mạc.

 

Trận Đà Mạc

 

Đà Mạc hay cũng gọi Thiên Mạc, mà sau này có tên bãi Mạn Trù là một bãi đất nằm ven sông Hồng thuộc tỉnh Hưng Yên ngày nay, như Khâm định Việt sử thông giám cương mục 6 tờ 42a3-4 viết: “Sông Thiên Mạc tức hạ lưu sông Phú Lương ở tại bãi Mạn Trù của huyện Đông Yên vùng tỉnh Hưng Yên”. Ở đây, quân ta có một cứ điểm do tướng Trần Bình Trọng chỉ huy. Theo An Nam chí lược 4 tờ 54 thì “ngày 21 Nhâm Thìn đánh vỡ ải Thiên Hán, chém được tướng Bảo Nghĩa Hầu”. Ngày Nhâm Thìn tháng giêng năm Ất Dậu ấy phải là ngày 19, chứ không phải 21.

 

Chắc chắn 21 viết sai của 19, vì đây là những chữ số rất dễ viết lộn. Còn Thiên Hán thì rõ ràng chữ Hán viết sai của chữ Mạc vì dạng chữ chúng giống nhau.

 

An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 7b10 không ghi rõ ngày tháng, nhưng có chép trận Thiên Mạc và việc quân Nguyên bắt được Kiến Đức Hầu Trần Trọng. Kinh thế đại điển tự lục trong Nguyên văn loại 41 tờ 27a6-7 cũng chép việc bắt được Kiến đức Hầu Trần Trọng, nhưng ghi việc này sau trận A Lỗ và Thiên Trường và trước khi vua Trần Nhân Tông rút ra cửa Giao thủy. Trong số những thông tin này, thông tin của An Nam chí lược tương đối chính xác, vì Lê Thực đã ghi lại những điều ít nhiều mình có biết tới và có tham gia.

 

Trần Trọng đây chắc chắn là vị anh hùng Trần Bình Trọng của ĐVSKTT. Chỉ có điểm khác là, thay vì Bảo Nghĩa Hầu, phía Trung Quốc lại có Kiến Đức Hầu. Tước Kiến Đức Hầu có thể là tước được phong khi Trần Bình Trọng còn sống. Còn tước Bảo Nghĩa Hầu là tước được phong khi Trần Bình Trọng đã mất, để nêu cao khí phách oanh liệt của vị dũng tướng lúc đối diện với những cám dỗ của kẻ thù, mà tình tiết sẽ được ghi rõ trong ĐVSKTT dưới đây. Việc An Nam chí lược 4 tờ 54 ghi khác với Nguyên sử, bởi vì Lê Thực đang còn ở tại Việt Nam và làm việc với Chương Hiến Hầu Trần Kiện, lúc vị anh hùng hy sinh và triều đình phong tước, nên biết rõ sự thay đổi tước hầu của chính Trần Bình Trọng.

 

Phía Trung Quốc không ghi rõ ai trực tiếp chỉ huy trận đánh này. Nhưng phía Việt Nam, qua trận đánh này lại thêm một vị anh hùng. Đó là Trần Bình Trọng. ĐVSKTT viết: “Bảo Nghĩa Vương Trần Bình Trọng (vương là dòng dõi Lê Đại Hành, chồng sau của công chúa Thụy Bảo, ông cha làm quan đời Thái Tông, được ban quốc tính họ Trần) đánh nhau với giặc ở bãi Đà Mạc (tức Thiên Mạc, nay là bãi Mạn Trù) bị chết. Khi bị bắt, không chịu ăn. Giặc hỏi việc nước, không trả lời. Hỏi: ‘Có muốn làm vương đất Bắc không ?’. Vương thét lớn: ‘Thà làm quỷ nước Nam, chứ không làm vương đất Bắc’. Rồi bị giết”.

 

Điểm khác biệt cơ bản là ĐVSKTT đã ghi trận Đà Mạc và cái chết oanh liệt của Trần Bình Trọng vào tháng 2 năm At Dậu, sau sự kiện đầu hàng của Chương Hiến Hầu Trần Kiện và bọn thuộc hạ Lê Thực. Trong khi đó chính bản thân Lê Thực lại được ghi vào ngày Nhâm Thìn tháng giêng năm Ất Dậu. Trong trường hợp này, Lê Thực tỏ ra đúng hơn, khi ta căn cứ trên diễn tiến của tình hình chiến sự thời bấy giờ. Hơn nữa, Thực lại là người sống đồng thời với Trần Bình Trọng và trực tiếp tham gia nghe ngóng một số những tình hình đó. Và thứ ba nữa, Thực không có lý do gì cần phải thay đổi ngày tháng của cuộc tấn công vào cứ điểm Đà Mạc của quân Nguyên.

 

Cuối cùng, như đã thấy, Bảo Nghĩa Hầu Trần Bình Trọng hy sinh chỉ cách việc đầu hàng của chính Thực trong một khoảng thời gian rất ngắn, trên dưới một tháng, nên chắc chắn có tác dụng to lớn đối với bản thân Thực. Thực tế, Khâm định Việt sử thông giám cương mục 7 tờ 36b2 đã chép là vua Trần Nhân Tông, khi nghe báo tin Trần Bình Trọng hy sinh, đã vật vã kêu khóc, chứng tỏ sự hy sinh ấy đã có một tác động to lớn trong giới lãnh đạo đất nước thời bấy giờ. Tước Bảo Nghĩa Hầu có lẽ được vua Trần Nhân Tông đổi phong cho Trần Bình Trọng nhằm nhấn mạnh nghĩa khí không đầu hàng giặc của vị anh hùng vào một thời điểm, mà chắc chắn nhà vua thấy xung quanh mình đã xuất hiện những kẻ không còn giữ được nghĩa vua tôi, tinh thần trung quân ái quốc và muốn đi đầu hàng giặc.

 

Thêm vào đó, ĐVSKTT chủ yếu chép lại Đại Việt sử ký tục biên của Phan Phu Tiên. Mà Phan Phu Tiên khi viết bộ sử của chính mình, lại không có được những thuận lợi của những nhà viết sử khác. Đất nước ta đã bị quân Minh xâm lược gần 20 năm và trải qua những cuộc chiến tranh giải phóng dữ dội do những người yêu nước như Trần Trùng Quang, Nguyễn Biểu, Phạm Ngọc, Lê Lợi lãnh đạo. Do thế, những sử liệu chắc chắn bị quân thù tịch thu, phá hủy. Đặc biệt, các sử liệu do quốc sử quán nhà Trần ghi chép, ta hiện không biết chúng có được Hồ Quý Ly có kế hoạch đem cất giấu hay không. Chỉ một sự kiện hai cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại năm 1285 và1288 đã được ĐVSKTT chép rất sơ sài, thậm chí có những điểm hoàn toàn sai lạc, là một thí dụ điển hình. Cho nên, người ta không ngạc nhiên trước những sai khác vừa nêu trên.

 

Nói tóm lại, trận Đà Mạc không phải một trận lớn. Nhưng qua trận Đà Mạc, ta không chỉ thấy khí phách anh hùng, liều mình vì nước, không chịu đầu hàng giặc của người tướng chỉ huy là Trần Bình Trọng, mà còn thấy được ý chí quyết chiến quyết thắng kẻ thù của quân dân Đại Việt trong những thời điểm khó khăn nhất của tổ quốc. Chính những con người như thế đã làm nên những chiến thắng vang dội về sau như trận chiến Hàm Tử, Chương Dương, Tây Kết v. v.

 

Trận A Lỗ

 

Sau trận Đà Mạc bắt được Kiến Đức Hầu Trần Trọng, An Nam chí lược 4 tờ 54 đã viết tiếp: “Thế tử lui giữ ải Hải Thị, đóng cọc đắp bờ ngăn sông phía tây để đánh. Quan quân trên dưới bắn chéo. Bọn chúng vỡ lớn”. Kinh thế đại điển tự lục trong Nguyên văn loại 41 tờ 27a6 viết: “Đại quân đuổi Nhật Huyên ở sông A Lỗ và sông Đức Cương”.

 

Căn cứ vào hai báo cáo này, rõ ràng Hải Thị và sông A Lỗ chỉ cùng một nơi. Đặc biệt, An Nam Chí Nguyên 1 tờ 47 có chép: “Sông Hải Triều ở tại Khoái Châu phân lưu từ sông Hà Lỗ, trên thông với sông Ngọc Châu”. Hà Lỗ đây chắc chắn là sông A Lỗ, mà Kinh thế đại điển tự lục vừa nói tới. Còn Khoái Châu thuộc địa phận tỉnh Hưng Yên bây giờ. Mà Đà Mạc, tức Thiên Mạc theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục 6 tờ 42a3-4 lại ghi ở vào địa phận tỉnh Hưng Yên, và nằm trên hạ lưu sông Hồng. Vậy hai căn cứ Đà Mạc và A Lỗ nằm rất gần nhau. Đây có lẽ là cụm cứ điểm nhằm phòng vệ cho Thiên Trường.

 

Với chi tiết “trên dưới bắn chéo”, ta thấy đây rõ ràng là hai cánh quân thủy bộ địch do Khoan Triệt và Lý Hằng chỉ huy, đã đuổi theo đại quân của vua Trần Nhân Tông và tiến đánh căn cứ A Lỗ, sau khi đã chiếm được căn cứ Đà Mạc. Đây một lần nữa là một trận đánh tiêu hao lớn, chủ động nhử quân địch theo hướng quân ta muốn.

 

Trận Đại Hoàng

 

Sau chiến thắng A Lỗ, theo An Nam chí lược 4 tờ 54, “ngày mùng 3 Đinh Tỡ tháng hai, Trấn Nam Vương phá quân Thế tử ở sông Đại Hoàng”. Đây là lần đầu tiên ta thấy sự xuất hiện của Thoát Hoan trên vùng đất gần Thiên Trường. Sông Đại Hoàng, theo An Nam Chí Nguyên 1 tờ 42 “là hợp tại phủ Lý Nhân, trên tiếp sông Lô, dưới thông với sông Giao Thủy phủ Phụng Hóa”. Còn Khâm đinh Việt sử thông giám cương mục 6 tờ 44a5-6, khi chú thích về Hoàng Giang, đã viết: “Hoàng Giang ở tại vùng huyện Nam Xương phủ Lý Nhân, trên tiếp với sông Thiên Mạc, dưới thông với sông Giao Thủy”. Vậy, Đại Hoàng hay Hoàng Giang do tiếp giáp với Thiên Mạc, là một căn cứ khác trong cụm căn cứ phía nam Thăng Long, nhằm bảo vệ Thiên Trường.

 

Đây chắc chắn là một trận đánh lớn, vì Thoát Hoan đã dẫn đại quân mình từ Thăng Long truy kích xuống, trong khi quân ta cũng hội về Đại Hoàng, mà ngoài vua Trần Nhân Tông trực tiếp chỉ huy, còn có các tướng Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải. Tuy nhiên, một lần nữa, nó chỉ là một trận đánh chặn, tiêu hao sinh lực địch, để cho quân ta rút lui an toàn, chứ chưa phải là những trận phản công.

 

Tình hình quân sự sau khi ta rút khỏi Thăng Long

 

ĐVSKTT không ghi trận A Lỗ và Đại Hoàng này. Nhưng sau trận Đà Mạc, ĐVSKTT 5 tờ 47a5-6 đã viết: “Thế giặc bức bách, hai vua ngầm đi chiếc thuyền nhỏ đến Tam Trĩ Nguyên, sai người lái thuyền ngự ra Ngọc Sơn để đánh lừa quân giặc”. Thực tế, quân nhà Trần thời điểm này chưa đến nỗi bức bách xiêu dạt và hai vua Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông không đến nỗi cô lập phải hoạt động một cách lén lút như thế. Nguyên sử 13 tờ 8b8-10 viết:

 

“Tháng 3 ngày Bính Tý Kinh Hồ Chiêm Thành hành tỉnh xin thêm quân. Lúc bấy giờ Trần Nhật Huyên trốn về hai xứ Thiên Trường và Trường Yên, binh lực lại tập hợp. Hưng Đạo Vương đem hơn ngàn chiến thuyền về nhóm ở Vạn Kiếp, còn Nguyễn Lộc thì ở Vĩnh Bình, mà quan quân thì đi xa lại đánh lâu, treo lơ lửng ở giữa. Quân của Toa Đô và Đường Cổ Đãi lại đến không đúng lúc, nên xin thêm quân. Vua cho đi đường thủy là nguy hiểm, ra lệnh cho quân tăng viện đi theo đường bộ”.

 

Thế là cuộc chiến tranh, sau khi vua Trần Nhân Tông rút khỏi Thăng Long và đưa quân về đóng ở vùng Thiên Trường và Trường Yên, thì quân địch ở vào một tình thế hết sức khó khăn. Chúng tự nhận xét là chúng đã bị treo lơ lửng ở giữa một mẻ lưới thiên la địa võng của quân dân Đại Việt đang sẵn sàng chụp lên đầu chúng.

 

Thực tế quân ại Việt đang triển khai chiến lược bao vây và tiêu diệt đám quân viễn chinh này bằng ba mũi. Mũi phía bắc do tướng Nguyễn Lộc chỉ huy và sẽ có những đóng góp to lớn với những trận đánh làm thất kinh táng đởm bọn cướp nước và bán nước, như sẽ thấy sau. Mũi phía đông thì do chính Trần Hưng Đạo đưa chiến thuyền trở lại Vạn Kiếp trấn giữ để chặn đường rút về ngả phía đông của bọn giặc. Còn lại là toàn bộ đại quân thì tập trung tại vùng Thiên Trường và Trường Yên, thuộc hai tỉnh Nam Định và Ninh Bình ngày nay, do vua Trần Nhân Tông và Thượng hoàng Trần Thánh Tông trực tiếp chỉ huy cùng với hai danh tướng Trần Quang Khải và Trần Nhật Duật. Đây là mặt trận chủ yếu, có những diễn biến phức tạp về phía địch cũng như ta.

 

Trần Kiện, Tú Viên, Văn Lộng đầu hàng

 

Về phía địch, bọn Toa Đô đang ráo riết kéo quân ra phía bắc theo lịnh của Thoát Hoan do Đường Ngột Đãi đem tới và sẽ có những đụng độ lớn với quân ta, như sẽ thấy dưới đây. Còn về phía ta, sau các trận đánh và việc rút khỏi Thăng Long cùng các cứ điểm Đà Mạc, A Lỗ và Đại Hoàng, một bộ phận trong giới lãnh đạo chính trị và quân sự của Đại Việt lúc bấy giờ tỏ ra hết sức hoang mang, mất hết niềm tin vào tiềm lực dân tộc và sự lãnh đạo sáng suốt của vua Trần Nhân Tông cùng Thượng hoàng Trần Thánh Tông, quốc công Trần Hưng Đạo và thái sư Trần Quang Khải. Chúng kéo nhau liên hệ với giặc để xin đầu hàng, mà tên đầu tiên là Trần Kiện cùng thuộc hạ của y vào ngày mồng 1 tháng 2 năm At Dậu. ĐVSKTT 5 tờ 46b5-7, viết: “Ngày Giáp Thìn mồng 1 tháng 2, con thứ của Tỉnh Quốc đại vương Quốc Khang là thượng vị Chương Hiến Hầu tên Kiện và liêu thuộc là bọn Lê Thực đem cả nhà đầu hàng quân Nguyên. Toa Đô sai đưa bọn Kiện về Yên Kinh. Thổ hào ở Lạng Giang là bọn Nguyễn Thế Lộc và Nguyễn Lĩnh đánh chặn ở trại Ma Lục. Gia nô của Hưng Đạo Vương là Nguyễn Địa Lô bắn chết Kiện. Thực đem xác Kiện để lên mình ngựa trốn đi trong đêm, chạy được mấy mươi dặm đường, đến Khâu Ôn chôn tại đấy”.

 

Sự kiện này An Nam chí lược 4 tờ 54 viết càng rõ: “Thế tử sai em là Chiêu Văn Vương Trần Duật, hầu Trịnh Đình Toản đem quân đánh ở Nghệ An, thua chạy. Thế tử ở trong thế gấp, sai con anh mình là Chương Hiến Hầu Trần Kiện đón đánh ở Thanh Hóa, giằng co hồi lâu, sức yếu, không có viện binh, Chương Hiến bèn cùng bọn Thực đem quân ra hàng”. An Nam chí lược 13 tờ 131-32 viết càng chi tiết hơn: “Mùa đông năm ấy (1284) đại quân của Trấn Nam Vương tiến vào nước. Thế tử đánh thua. Hữu thừa Toa Đô lại từ Chiêm Thành tiến mặt hậu. Thế tử hoảng hốt không có sách lược bèn gọi Kiện lên, giao đem quân đánh Toa Đô. Sức yếu không viện, vào lúc đó Thế tử còn mất chưa thể biết. Kiện gọi bọn Thực vào: ‘Thế tử bị gọi mà không vào chầu đến nỗi có chiến tranh. Nguy hiểm ở trong sớm chiều, mà vẫn chấp mê không tỉnh, nỡ để cho nước mất nhà tan ư ?’. Tháng giêng năm sau (1285), Kiện đem bọn Thực vài vạn người, dâng vũ khí đầu hàng Trấn nam vương”. 

 

Như thế, việc Trần Kiện đầu hàng là một diễn biến phức tạp, vì đây là lần đầu tiên một tôn thất của hoàng gia, đồng thời nắm trong tay một đạo quân lớn đóng tại một mặt trận xung yếu là Thanh Hoá đã đầu hàng giặc. Nếu không ngăn chặn kịp thời, tác động của việc đầu hàng ấửy sẽ rất lớn. Nó sẽ lan ra và có nguy cơ đe doạ làm sụp đổ mặt trận phía nam. Tính chất quan trọng của mặt trận này, ngay khi rút khỏi Thăng Long, vua Trần Nhân Tông đã nhìn thấy, và sau ngày rằm tháng giêng năm At Dậu (1285) đã cử Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật vào trấn nhậm.

 

Cuối tháng giêng, An Nam chí lược 4 tờ 54 và Kinh thế đại điển tự lục trong Nguyên văn loại 41 tờ 27a5-6 chép:

 

“Đại vương Giảo Kỳ, Hữu thừa Toa Đô, Tả thừa Đường Ngột Đãi, tham chính Hắc Đích từ Chiêm Thành đánh vào phủ Bố Chính”. Rồi từ đó, Toa Đô tiến ra Nghệ An. Trần Nhật Duật không cản được, phải rút lui.

 

Cho nên, ĐVSKTT 5 tờ 46b4-5 viết tiếp: “Ngày 28 Hưng Đạo Vương bàn xin thượng tướng thái sư Quang Khải ngăn quân của nguyên soái Toa Đô ở Nghệ An”. Nghĩa là sau khi Trần Nhật Duật không ngăn nổi,ư cấp báo về cho bộ chỉ huy tối cao thì vua Trần Nhân Tông đã cử Trần Quang Khải vào chi viện. Chính trong thời gian này, Trần Kiện được giao việc nắm quân ở Thanh Hoá. Tại đây, An Nam chí lược 13 tờ 132 ghi: “Tháng giêng, Kiện đem bọn Thực cùng vạn quân, dâng vũ khí, hàng Trấn Nam Vương”.

 

Trận Phú Tân

 

Ngày hôm sau, tức ngày Ất Tỡ mồng hai tháng hai năm Ất Dậu (1285), An Nam chí lược 4 tờ 54 ghi tiếp: “Giảo Kỳ đem kỡ binh vượt cửa kinh Vệ Bố, phá quân nhà Trần, giết tướng chúng là Đinh Xa và Nguyễn Tất Thống”. Rồi ngày mồng ba, khi Thoát Hoan tấn công cứ điểm Đại Hoàng và vua Trần Nhân Tông rút lui về Thiên Trường, theo An Nam chí lược 3 tờ 54, đám Trần Tú Viên và Trần Văn Lộng đã ra đầu hàng. Bốn ngày sau, tức ngày mồng sáu tháng hai, An Nam chí lược 4 tờ 54 chép: “Ngày Kỷ Dậu mồng sáu, Giảo Kỳ đem bọn Chương Hiến đánh phá quân của người em Thế tử là Thái sư Trần Khải ở bến Phú Tân, chém đầu ngàn cái, Thanh Hóa, Nghệ An đều hàng”. Đây chính là lúc Toa Đô dã hội quân được với bọn Thoát Hoan, đúng như An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 7b4-7 đã viết: “Đường Ngột Đãi cùng quân của bọn Toa Đô đến từ Chiêm Thành hợp với đại quân (của Thoát Hoan), từ khi vào nước Đại Việt, bảy lần lớn nhỏ đánh nhau, lấy đất hơn hai ngàn dặm, bốn sở cung vua, trước đánh bại quân của Chiêu Minh Vương. Chiêu Hiếu Vương và đại liêu Hộ đều chết. Chiêu Minh Vương trốn xa, không dám ra mặt trở lại. Còn ở Nghệ An, Diễn Châu, Thanh Hóa, Trường Yên thì bắt được bọn Trần thượng thư, rể của Lương phụng ngự của Giao Chỉ và Triệu Mạnh Tín, Diệp lang tướng hơn 400 người của nhà vong Tống”.

 

Trần Kiện đã dắt bọn Giảo Kỳ tấn công cứ điểm Phú Tân do chính Thượng tướng Trần Quang Khải chỉ huy cùng con mình là Văn Túc Vương Đạo Tải, cháu là Tả Thiên Vương Đức Việp. Trước khi Trần Quang Khải rút quân khỏi cứ điểm thì Chiêu Hiếu Vương và đại liêu Hộ đã hy sinh.

 

Việc đầu hàng của Trần Kiện từ đó có một tác động rất to lớn. Mặt trận phía nam với nhiều tướng giỏi như Thượng tướng Trần Quang Khải, Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật đã lần lượt rút khỏi vùng Thanh-Nghệ và tập trung vào vùng Thiên Trường, để sau trận Đại Hoàng ngày mồng ba tháng hai năm Ất Dậu (1285) và trận Phú Tân ngày mồng sáu, vua Trần Nhân Tông cùng với Trần Hưng Đạo và Trần Quang Khải thực hiện một cuộc rút lui chiến lược. Trước khi rút lui để thực hiện kế hoãn binh, vua Trần Nhân Tông đã sai Trung Hiến Hầu Trần Dương và Nguyễn Nhuệ đến hòa đàm với Thoát Hoan. Đồng thời lại sai người hầu cận là Đào Kiên đem công chúa An Tư đến cho Trấn nam vương để làm “thư bớt nạn nước”. Thoát Hoan bèn cho Thiên Hộ Ngãi đến dụ vua Trần Nhân Tông đến hội đàm.

 

Vua không nghe, như An Nam chí lược 4 tờ 54 đã ghi. ĐVSKTT 5 tờ 47a1 có ghi sự kiện dâng công chúa An Tư nhưng lại chép vào trước trận Đà Mạc.

 

Chiến lược rút về Thanh Hóa

 

Vậy là sau các trận Đại Hoàng và Phú Tân, toàn bộ quân chủ lực nhà Trần ngoài những đơn vị được bố trí ở các địa phương, đã tập trung về Thiên Trường, rồi thực hiện một cuộc rút lui chiến lược tại cửa biển Giao Thủy, như An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 7b10-11 đã ghi. Nguyên sử cũng ghi tiếp là phía quân Nguyên không biết quân ta rút đi đâu. Rồi ở tờ 7b11-12 nó chép: “Tông tộc là Văn Nghĩa Hầu, cha là Vũ Đạo Hầu và con là Minh Trí Hầu, rể là Chương Hoài Hầu cùng Chương Hiến Hầu, và quan của nhà vong Tống là Tăng tham chính, con của Tô thiếu bảo là Tô Bảo Chương, con Trần thượng thư là Trần Đinh Tôn liên tiếp đem nhau đến hàng”. Việc đầu hàng của Văn Nghĩa Hầu tức Trần Tú Viên, ta đã thấy xảy ra vào ngày mồng ba tháng ba năm Ất Dậu (1285), như An Nam chí lược 4 tờ 54 có ghi ở trên.

 

Chính bọn đầu hàng này đã cung cấp thông tin cho Thoát Hoan, nên sau đó Nguyên sử 209 tờ 7b13-8a3 đã cho biết:

 

“Nhật Huyên đến cửa biển An Bang, bỏ thuyền chèo giáp trượng, chạy trốn trong núi rừng. Quan quân bắt được thuyền một vạn chiếc, chọn cái tốt để đi, còn thừa đều đốt bỏ. Rồi lại đuổi ba ngày đêm trên bộ, bắt sống được mấy tên lính khai rằng Thượng hoàng và Thế tử chỉ có thuyền bốn chiếc, Hưng Đạo Vương và con ba chiếc, Thái sư 80 chiếc, chạy vào phủ Thanh Hóa. Toa Đô cũng báo Nhật Huyên và Thái sư chạy vào Thanh Hóa. Ô Mã Nhi bạt đô đem quân 1300 người và chiến thuyền 60 chiếc giúp Toa Đô tập kích quân của Thái sư”. Vậy rõ ràng đây là một cuộc rút lui lớn, cuộc rút lui chiến lược do chính vua Trần Nhân Tông cùng Thượng hoàng, Trần Hưng Đạo và Trần Quang Khải thực hiện.

 

Cuộc rút lui này đã xảy ra vào lúc nào ? An Nam chí lược 4 tờ 54 viết: “Ngày Nhâm Ngọ mồng chín tháng ba, Giảo Kỳ với Đường Cổ Đái đem quân thủy ra biến vây Thế tử ở Tam Trĩ, suýt bắt được Thế tử”. Tuy nhiên, theo ĐVSKTT 5 tờ 47a5-6 thì sự kiện rút về Tam Trĩ này (tức vùng núi Ba Chẻ ở Quảng Ninh) từ cuối tháng giêng. Đến ngày Giáp Tuất mồng một tháng ba, ĐVSKTT 5 tờ 47b4-5 lại viết: “Hai vua bỏ thuyền mà đi bộ đến Thủy Chú, lấy thuyền ra sông Nam Triệu (tức huyện Thủy Đường), vượt biển Đại Bàng vào Thanh Hóa”. Thế rõ ràng cuộc rút lui đã xảy ra chắc chắn trước ngày mồng chín tháng ba (chính xác là ngày Nhâm Ngọ mồng mười) và sau trận đánh Phú Tân vào ngày mồng sáu cùng tháng.

 

Thực hiện cuộc rút lui chiến lược vào Thanh Hóa này hiển nhiên là để tránh hai gọng kìm của các cánh quân Thoát Hoan ở phía bắc tiến xuống, và cánh quân phía nam do Toa Đô chỉ huy đánh lên vùng Thiên Trường và Trường Yên.

 

Đại quân của Thoát Hoan và Toa Đô như vậy đã nằm tại vùng đồng bằng Bắc Bộ, còn quân chủ lực ta đóng tại phía nam ở Thanh Hóa. Từ đây, vua Trần Nhân Tông cùng Thượng hoàng và các tướng Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật... đã chia quân tiến hành một cuộc phản công lớn, giải phóng thủ đô Thăng Long, giải phóng đất nước thoát khỏi sự chiếm đóng của quân thù.

 

Trần Ích Tắc đầu hàng

 

Vào thượng tuần tháng ba năm Ất Dậu này, khi vua Trần Nhân Tông cùng bộ chỉ huy tối cao của cuộc kháng chiến vệ quốc đang thực hiện cuộc rút lui chiến lược, thì theo An Nam chí lược 4 tờ 54 “ngày 15 Mậu Tý, em vua là Chiêu Quốc Vương Trần Ích Tắc đem đồ đảng đến nội phụ”. ĐVSKTT 5 tờ 47b5-7 chép sự kiện này sau ngày mồng một tháng ba: “Chiêu Quốc Vương Ích Tắc và bọn Phạm Cự Địa, Lê Diễn, Trịnh Long đều đem gia thuộc đến hàng Nguyên”. Số phận Ích Tắc sau này là số phận của kẻ đầu hàng, sống lây lất và chết ở quê người, muôn đời chịu tiếng ô nhục. Cuộc chiến tranh vệ quốc đang đi đến những giờ phút quyết định và kết thúc vinh quang đang chờ đón những anh hùng có tên và không tên đã và đang hy sinh cho Tổ quốc muôn vàn mến yêu của họ. 

 

Cuộc phản công: Chiến thắng A Lỗ

 

Sau cuộc rút lui chiến lược về Thanh Hóa cùng bộ chỉ huy chiến lược của mình vào thượng tuần tháng ba, vua Trần Nhân Tông tại đây chắc chắn đã tập hợp quân đội và phân chia công tác, chuẩn bị cho cuộc phản công lớn. Trong 20 ngày còn lại của tháng ba này, các sử liệu Trung Quốc không thấy nói gì, chỉ thấy chép việc quân Nguyên đưa bọn đầu hàng như Chương Hiến Hầu, Minh Thành Hầu, Nghĩa Quốc Hầu v. vỢ lên Trung Quốc. Còn phía nước ta, ĐVSKTT 5 tờ 48a7-8 nhắc đến một nhận xét của vua Trần Nhân Tông đối với đạo quân Toa Đô:

 

“Bọn giặc nhiều năm đi xa, vạn dặm lương thảo, thế tất mệt mỏi. Lấy nhàn đợi mệt, trước phải cướp chí khí của chúng, thì ắt phá được chúng”. Nhận xét này có thể vua Trần Nhân Tông đã phát biểu trong cuộc hội nghị quân sự cao cấp tại Thanh Hóa lúc ấy. Dẫu sao, thời gian này là thời gian quý báu để cho quân ta ráo riết chuẩn bị phản công.

 

______________________

 

Ngày mùng 6 tháng 6 năm Ất Dậu (1285), vua Trần Nhân Tông khải hoàn về thủ đô Thăng Long. Chưa đầy hai tháng sau tức ngày 20 tháng 7, khi tập hợp được tất cả các báo cáo về cuộc chiến tranh vừa qua, Hốt Tất Liệt thông qua Khu mật viện ra lệnh bổ sung quân cho Thoát Hoan và A Lý Hải Nha tiến hành cuộc chiến tranh thứ hai. Bản kỷ của Nguyên sử tờ 10a13-b4 viết: “(Chí Nguyên năm 22 tháng 7) ngày Canh Dần, khu mật viện nói quân do Trấn Nam Vương Thoát Hoan tổng chỉ huy để đi đánh Giao Chỉ, do đánh lâu sức mệt, xin chia lấy 1.000 quân Mông Cổ trong 3 vạn hộ của bọn Áo Lỗ Xích (Agurug?i) và phân lấy 4.000 người quân Hán và tân phụ từ ba hành viện Giang Hoài,Giang Tây và Kinh Hồ, chọn tướng giỏi chỉ huy, lấy Trấn Nam Vương Thoát Hoan và A Lý Hải Nha làm tiếp chế. Vua nghe theo. Lại lấy Đường Ngột Đãi làm tả thừa kinh hồ hành tỉnh. Đường Ngột Đãi xin thả quân đi đánh Giao Chỉ về nhà nghỉ ngơi. Vua xuống chiếu đồng ý, cho Thoát Hoan và A Lý Hải Nha xử lý”.

 

Tháng 9 ngày Canh Dần, Hốt Tất Liệt cho tiến hành một đợt tuyển quân nữa. Kết quả, như Bản kỷ của Nguyên sử 13 tờ 11a8-10, là “các quân đánh Giao Chỉ, trừ 100 quân Mông Cổ và 400 quân Hán lưu lại làm túc vệ cho Trấn nam vương Thoát Hoan, còn lại bao nhiêu đều cho về nhà, riêng lấy Giang Hoài hành khu mật viện tổng chỉ huy quân Mông Cổ đóng ở Giang Tây”. Rồi tới tháng 10, Hốt Tất Liệt gửi Hợp Tản Nhi Hải Nha (Qasar Qaya), tên đã từng làm chánh và phó đạt lỗ hoa xích (daruga?i) tại nước ta vào những năm 1273-1275, đến Đại Việt để thăm dò tình hình (Nguyên sử, Bản kỷ 13 tờ 11a12-13). Cũng trong tháng này, An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 8a12-13 cho biết khu mật viện xin điều quân tập trung đến Đàm Châu giao cho Trấn Nam Vương và A Lý Hải Nha chọn tướng chỉ huy. 

 

Tháng giêng năm sau (1286) cũng theo An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 8a13-b3, Hốt Tất Liệt ra lệnh cho các đại thần cùng bàn việc đánh Đại Việt, mà Bản kỷ của Nguyên sử 14 tờ 1b1-2 chép rõ là “sai bọn A Lý Hải Nha bàn việc đánh An Nam". Việc bàn này, Bản kỷ cũng ghi rõ là xảy ra vào ngày Tân Mão, tức ngày 24 tháng giêng năm Bính Tuất (1286). 

 

Tháng 2 ngày Giáp Thìn, tức ngày mùng 7, Hốt Tất Liệt lại cử “A Lý Hải Nha giữ nguyên chức Tả thừa tướng của An Nam hành trung thư tỉnh, Áo Lỗ Xích làm bình chương chính sự đô nguyên soái, Ô Mã Nhi, Diệt Lý (đúng ra phải là Hắc, LMT) Mê Thất (YigmiỊ), A Lý Quỹ Thuần (Ariq Qusun), Phàn Tiếp đều làm tham tri chính sự, rồi gửi sứ đến bảo Hoàng tử Giả Tiên Thiết Mộc Nhi (ấsôn Tômỳr) điều quân Hợp lạt chương một hoặc hai, ba nghìn người, giao cho A Lý Hải Nha theo đánh Giao Chỉ, đồng thời ghi đủ tên họ của tướng sĩ để tâu lên”, như Bản kỷ của Nguyên sử 14 tờ 1b8-10 đã ghi. Qua ngày Đinh Tỡ (20 tháng 2) Hốt Tất Liệt lại ra lệnh “cho Hồ Quảng hành tỉnh đóng 300 hải thuyền để đi đánh Giao Chỉ, kỳ hạn sẽ tập hợp tại châu Khâm và châu Liêm vào tháng 8. Ngày hôm sau sai Kinh Hồ Chiêm Thành hành tỉnh đem 6 vạn quân của ba hành tỉnh Giang Triết, Hồ Quảng và Giang Tây đi đánh Giao Chỉ. Bình chương của Kinh Hồ hành tỉnh là Áo Lỗ Xích đem việc đánh Giao Chỉ xin vào gặp vua. Vua ra lệnh cho theo ngựa trạm xuống kinh đô”.

 

Cũng trong ngày 21 tháng 2 ấy, Hốt Tất liệt chính thức phong cho Trần Ích Tắc làm An Nam quốc vương, ban cho ấn và phù, Trần Tú Viên làm phụ nghĩa công, như Nguyên sử 14 tờ 2a11 và 209 tờ 8b2 -3 đã ghi. An Nam chí lược 13 tờ 132 còn chép thêm việc Hốt Tất Liệt phong cho một loạt các tên Việt gian khác như con trưởng của Ích Tắc là Bá Ý làm an phủ sứ lộ Đà Giang, Lại Ích Khuy làm An Phú sứ lộ Nam Sách Giang, Trần Văn Lộng làm Tuyên Phủ sứ lộ Quy Hoá Giang v.vỢ Thực tế, Hốt Tất Liệt muốn dựng lên một chính phủ bù nhìn nhằm áp đặt lên đất nước ta, khi bọn Thoát Hoan đánh chiếm Đại Việt thành công.

 

Đồng thời cũng trong tháng 2, Hốt Tất Liệt gửi thư cho quan dân nước ta kể tội vua ta là Trần Nhân Tông về việc dám giết Trần Di Ái và không nhận đạt lỗ hoa xích Bất Nhan Thiết Mộc Nhi (Buyan Tômỳr), và kêu gọi dân ta bình tĩnh làm ăn, trong khi chúng tiến quân đến hỏi tội vua ta, như An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 8a13-b2 đã ghi. 

 

Như thế trong hai tháng đầu năm Bính Tuất (1286) Hốt Tất Liệt và triều đình nhà Nguyên ráo riết chuẩn bị mọi phương lược, nhân lực cũng như khí tài để tiến đánh nước ta. Đến tháng tư ngày Canh Tý, tức ngày mồng 4, để tăng cường tiềm lực và khích lệ đám quân Mông Cổ đang lao động sản xuất tại các đồn điền, Hốt Tất Liệt đã ra lệnh miễn thuế cho các đồn điền có quân Mông Cổ đi đánh Giao Chỉ, như Bản kỷ của Nguyên sử 14 tờ 3a1-2 đã ghi. 12 ngày sau, vào ngày Nhâm Tý, tức ngày 16 tháng tư, Nạp Tốc Lạt Đinh lại “được lệnh đem quân Mông Cổ và Hợp lạt chương 1000 người cùng những tướng giỏi đến Giao Chỉ để giúp Hoàng tử Thoát Hoan”. 

 

Cũng trong tháng 4 này, khi Áo Lỗ Xích về đến Đại Đô ra mắt Hốt Tất Liệt để bàn việc xâm lược Đại Việt, Hốt Tất Liệt đã động viên Ao Lỗ Xích với những lời: “Ngày trước bọn Mộc Hoa Lê (Muqali) tận lực với vương thất, tiếng thơm đến nay bất hủ. Khanh cố gắng lên, há lại không vẻ vang như người xưa hay sao!”, như Áo Lỗ Xích truyện của Nguyên sử 131 tờ 17a2 đã ghi. Đồng thời, để tỏ sự ưu ái, Hốt Tât Liệt còn phong cho con của Áo Lỗ Xích là Thoát Hoàn Bất Hoa (Togan Buqa) chức vạn hộ. Áo Lỗ Xích được chú ý như thế, bởi vì sức khỏe của A Lý Hải Nha, sau đợt viễn chinh Đại Việt, đã tỏ ra sút kém. Đến ngày 25 tháng 5 năm Bính Tuất (1286) A Lý Hải Nha đã chết, như Hồ Quảng hành tỉnh tả thừa tướng thần đạo bi trong Nguyên văn loại 82 tờ 24b2 đã cho biết. 

 

Đến tháng 6 ngày Tân Hợi, tức ngày 16, Hốt Tất Liệt còn gửi Diệp Mã Lạt (đúng ra là Lạt Ma, LMTư) Đan (Iramadan) đi sứ nước ta. Nhưng chỉ 2 ngày sau, tức ngày Quý Sửu, Tuyến Ca (Sôngô) của Hồ Quảng hành tỉnh đã phàn nàn về việc hành tỉnh phải giao nộp 2 vạn 8 ngàn 700 quân tập hợp tại Tỉnh Giang của Quảng Tây ngày nay để đi đánh Giao Chỉ, số tinh nhuệ đã đưa đi hết, số còn lại 1 vạn 7 ngàn 800 quân thì đều ốm bệnh không thể dùng được, như Bản kỷ của Nguyên sử 14 tờ 4a6-8 đã ghi. An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 8b10 -12 còn chép rõ quan điểm của Tuyến Ca hơn nữa. 

 

Thứ nhất, Tuyến Ca đồng ý với báo cáo của Hồ Nam tuyên úy ty về tình cảnh khốn khổ của quân đội và dân chúng sau những năm liên tiếp đi chinh phạt Nhật Bản và Chiêm Thành. Thứ hai, việc tiến đánh Giao Chỉ chưa cần thiết, vì nó không đáng giá và vì Giao Chỉ xưa nay vẫn triều cống bình thường. Nếu muốn đánh thì đợi một dịp khác thuận lợi hơn. Chính đây là quan điểm của Tuyến Ca. Khu mật viện đem tâu lên. Thêm vào đó, tại chính quyền trung ương, Thượng thư bộ Lễ là Lưu Tuyên lại cũng nêu những lý do tương tự, để đề nghị hoãn việc tiến đánh Đại Việt, như Lưu Tuyên truyện của Nguyên sử 168 tờ 8a1-10 đã chép. 

 

Dưới áp lực của những lời đề nghị này, Hốt Tất Liệt bất đắc dĩ đồng ý, ra lệnh cho tạm thời hoãn cuộc tiến quân. 

 

Trần Ích Tắc lại lủi thủi trở về lại Ngạc Châu, nơi đóng đại bản doanh của Thoát Hoan, như An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 9a1 đã ghi. Tuy nhiên, Hốt Tất Liệt không bao giờ rời bỏ dã tâm xâm lược Đại Việt. Cho nên, chỉ 5 tháng sau, vào ngày Ất Mão tháng 10, Hốt Tất Liệt đã cấp cho Thoát Hoan 4.000 con ngựa. Rồi tháng 11 ngày Kỷ Tỡ thành lập Chinh Giao Chỉ hành tỉnh, tức cơ quan chuyên trách về việc xâm lược Đại Việt, và giao cho A Bát Xích (Aba?i) làm hữu thừa, như Bản kỷ của Nguyên sử 14 tờ 5b 12 -13 và 6a 6 -7 đã chép. Cùng với việc thành lập Chinh Giao Chỉ hành tỉnh vừa nói, Hốt Tất Liệt lại lôi con bài Trần Ích Tắc ra. Ngày Bính Thìn tháng 12, Hốt Tất Liệt đã ban tiền cho Trần Ích Tắc. 

 

Qua tháng giêng năm Đinh Hợi (1287), Hốt Tất Liệt càng ráo riết tổ chức các hoạt động chuẩn bị xâm lược. Trước hết ngày Đinh Hợi, lấy quân Tân phụ 1 ngàn người cho theo A Bát Xích đến An Nam. Qua ngày Tân Mão, đưa quân Mông Cổ và Hán khoản thuộc 3 hành tỉnh Giang Hoài, Giang Tây và Hồ Quảng 7 vạn người với 5 trăm chiếc thuyền cùng với 6 ngàn quân Vân Nam cùng 1 vạn 5 trăm ngàn quân Lê của 4 châu ở ngoài biển. Về vận chuyển lương đường biển thì giao cho Trương Văn Hổ, Phí Củng Thìn và Đào Đại Minh phụ trách vận chuyển 17 vạn thạch lương chia đường mà tiến. Và để danh chánh ngôn thuận cùng tăng thêm tính chất quan trọng cho cơ quan đầu não tiến hành xâm lược Đại Việt, Chinh Giao Chỉ hành tỉnh đã được đổi thành Chinh Giao Chỉ hành thượng thư tỉnh, giao Áo Lỗ Xích làm bình chương chính sự, Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp làm tham tri chính sự, nắm hết mọi quyền. Đồng thờI giao cho Trấn Nam Vương Thoát Hoan làm tiết chế. 

 

Thế là bộ máy xâm lược đã bắt đầu hoạt động do Thoát Hoan và Ao Lỗ Xích đứng đầu với trong tay hơn 90 nghìn quân. An Nam chí lược 4 tờ 55 còn nói đến sự hiện diện của các binh sĩ thuộc dân tộc thiểu số Quảng Tây, mà nó gọi là Quảng Tây động binh. Tích Đô Nhi truyện của Nguyên sử 133 tờ 9b có ghi việc Tích Đô Nhi (Ơiktur) chỉ huy động quân theo Thoát Hoan đánh Giao Chỉ vào tháng 7 năm Chí Nguyên thứ 24 (1287). Thế là trong đợt xâm lược này, bọn Thoát Hoan có trong tay trên 100 ngàn quân và được tổ chức khá kỹ càng cả thủy lẫn bộ cùng việc vận chuyển lương thực. 

 

Đó là những chuẩn bị cho cuộc chiến tranh năm 1288 về phía địch. Còn về phía ta, vua Trần Nhân Tông và bộ chỉ huy tối cao của dân tộc thời bấy giờ đã làm gì? 

 

Những chuẩn bị về phía Đại Việt 

 

Ngày mồng 6 tháng 6 năm Ất Dậu (1285) khi vua Trần Nhân Tông vừa khải hoàn trở về Thăng Long, thì một trong những công việc đầu tiên mà nhà vua làm và ĐVSKTT 5 tờ 50b1-2 ghi lại, là “sai trung phẩm phụng ngự Đặng Du Chi đưa bọn tể thần của Chiêm Thành là Bà Lậu Kê Na Liên cọng 30 người về nước, vì đi theo Toa Đô mà bị bắt”. 

 

Đó rõ ràng thể hiện một bước đi ngoại giao, nhằm ổn định và thiết lập quan hệ hữu nghị tốt lành với nước láng giềng phía Nam, mà trong gần 10 năm kể từ khi lên ngôi vua Trần Nhân Tông đã ra sức vun đắp và bồi dưỡng. Đây là một chiến lược ngoại giao lâu dài và nhất quán, đã đem đến hoa tươi trái ngọt cho quốc gia Đại Việt, mà đỉnh cao là việc mở rộng biên cương lên tới trên 200 cây số, khi hai châu Ô Mã và Việt Lý đã trở thành một bộ phận không thể phân ly của tổ quốc vào năm 1306 sau này. 

 

Tiếp theo là công tác phong thưởng cho người có công với nước và trừng trị những kẻ có tội đầu hàng giặc. Việc này, ĐVSKTT 5 tờ 50b3-4 chép: “Mùa thu tháng 8, sai tả bộc xạ Khương Cương Giới tuyên phong các công thần theo thứ bậc khác nhau và trị tội những kẻ đầu hàng giặc”. Như thế ngay việc phong thưởng để khích lệ công thần và quân sĩ cũng như việc trừng phạt những kẻ có tội đầu hàng giặc để làm gương răn đe vẫn được đặt lui vào một thời gian sau. 

 

Sự chậm chạp này có thể xuất phát từ yêu cầu thiết lập hồ sơ đòi hỏi phải có chứng cớ, đặc biệt đối với những ngưởi có công cũng như kẻ có tội. 

 

Đối với những người có công lớn như Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải, Hưng Ninh Vương Trần Quốc Tung, Điện Tiền Phạm Ngũ Lão v. v. tất nhiên việc thưởng công tỏ ra dễ dàng. Nhưng còn đối với những người ở những địa phương khác nhau và ở cấp thấp hơn thì vấn đề không phải dễ dàng. Văn bia chùa Hưng Phúc tìm được ở Thanh Hóa cho ta một ví dụ điển hình. Nó kể việc Lê Công Mạnh cùng anh em bà con và người trong hương An Duyên đã chặn đánh quân Toa Đô ở tại bến Cổ Bút.Bia viết: “Khoảng năm Thiệu Bảo, giặc Hồ trở xuống phương Nam. Hữu tướng giặc là Toa Đô tiến quân theo đường biển, đi tắt qua ngõ Cổ Khê bằng con đường của hương An Duyên này. Ông đem người trong hương chặn ở bến Cổ Bút, cùng đánh nhau với giặc. Giặc cơ hồ không rút chạy được. Nhưng vì có kẻ gian trong hương hàng giặc chỉ đường, nên nhà cửa ông bị đốt phá, công việc xây chùa không thành. Đến khi giặc lui, nhà vua trở lại kinh đô, ông đem việc tâu lên. Vua xuống chiếu tra xét, rồi lấy sản vật trong hương bồi thường cho ông, để khuyến khích người trung cần, nêu rõ công sức của ông vậy”. 

 

Đây chỉ là một thí dụ của những người có công đánh giặc, và sử sách không chép tới. Nhưng nhờ công đức làm chùa, mà bia chùa ghi lại, ta ngày nay mới biết chút ít về những hình thức phong thưởng công trạng đối với những vị có cống hiến, dù lớn hay nhỏ, trong cuộc chiến tranh vệ quốc năm 1285. Đó là đối với những người còn sống. 

 

Còn đối với những người đã chết và gia đình họ, ngày nay ta chỉ có một số thông tin giới hạn, chủ yếu thuộc về các thành phần ưu tú nổi bật. Chẳng hạn, khi anh hùng Trần Bình Trọng hy sinh, vua Trần Nhân Tông đã vật vã thương khóc, như Khâm định Việt sử thông giám cương mục 7 tờ 37a2 đã ghi lại. Còn lúc anh hùng Trần Quốc Toản hy sinh tại chiến trường Như Nguyệt, vua Trần Nhân Tông đã làm bài văn tế, tỏ lòng vô cùng thương tiếc người bề tôi anh dũng kiên cường của mình. 

 

Về phía những kẻ có tội đầu hàng giặc thì chắc chắn họ đã bị kết tội cũng với đầy đủ chứng cớ. Tuy nhiên, thực tế cho thấy đối với những kẻ có tội này, chỉ gần một tháng sau, vào tháng 9, khi đổi niên hiệu thành Trùng Hưng, vua Trần Nhân Tông đã ra lệnh đại xá cho cả thiên hạ. Đợt đại xá này, dù không tha hết những kẻ vừa kết tội trong tháng 8, song có phần chắc là một số lớn họ đã hưởng được ân xá. Đây là hai bước đi nhằm ổn định lòng dân, làm phấn khởi những người đã hy sinh trong cuộc chiến vừa qua cho tổ quốc, đồng thời cũng xóa đi những mặc cảm tội lỗi của những kẻ phản bội đầu hàng. Ranh giới phân cách trong dân tộc và sự chia rẽ tâm lý giữa những người cùng chung huyết thống được xoá nhòa. 

 

Thứ ba, vua cho tiến hành một cuộc điều tra, để nắm được tiềm lực của dân tộc, nhằm đối phó với nguy cơ chiến tranh mà kẻ thù đang cố tình thực hiện. ĐVSKTT 5 tờ 48b cho biết: “Mùa đông tháng 10 xuống chiếu bình hộ khẩu trong nước. Triều thần can là dân đang lao khổ, việc sửa định hộ khẩu không phải là việc cần làm ngay. Vua nói: 

 

‘Chỉ có lúc này mới nên sửa định hộ khẩu. Đừng để cho kẻ địch dòm thấy dân ta điêu hao’. Bầy tôi đều khen phục”. 

 

Như vậy, cuộc điều tra khi mới được vua Trần Nhân Tông đề ra đã gặp sự không đồng tình của triều thần. Nhưng sau đó, do được giải thích về ý đồ và ý nghĩa cũng như mục đích cuộc điều tra, họ đã tán đồng và tiến hành nhanh chóng. Mục đích và ý nghĩa cuộc điều tra rõ ràng là nhằm nắm vững tiềm lực như đã nói. Yêu cầu là phải nhanh chóng thực hiện trong một thời gian nhất định, để đáp ứng đòi hỏi chuẩn bị chiến tranh. 

 

Thế là 6 tháng sau khi quét sạch quân thù ra khỏi đất nước, vua Trần Nhân Tông đã thực hiện một số biện pháp nội trị và ngoại giao nhằm ổn định và nâng cao tiềm lực chiến đấu của dân tộc. Bước qua năm sau, trong khi quân dân Đại Việt tưng bừng tổ chức lễ tết năm Bính Tuất, mà tết năm Ất Dậu họ đã không có dịp ăn mừng vì phải dồn sức chiến đấu với đội quân xâm lược Thoát Hoan, thì việc đầu tiên vua Trần Nhân Tông làm mà ĐVSKTT 5 tờ 50b9 đã ghi lại là “Mùa xuân tháng giêng, thả quân Nguyên về nước”. Số quân Nguyên này là do quân ta bắt được trong các chiến dịch khác nhau, đặc biệt là chiến dịch Tây Kết do chính vua Trần Nhân Tông chỉ huy và bắt được trên 5 vạn quân giặc. Đây rõ ràng thể hiện chính sách nhân đạo và tấm lòng hiếu sinh từ bi của một chính quyền từ vua cho tới quan và các tướng lĩnh cao cấp nhất đều là những Phật tử.

 

Song mặt khác, hành động ấy cũng biểu lộ một chính sách ngoại giao mềm dẻo, cố gắng tránh mọi nguy cơ đưa đến chiến tranh và phát huy hết sức mọi vận hội cho việc củng cố một nền hòa bình lâu dài. Trước mắt, việc thả những tù binh này đã tạo điều kiện thuận lợi cho quan hệ ngoại giao của nước ta và nhà Nguyên. Sự thật, sau khi thả tù binh Nguyên về vào tháng giêng, theo ĐVSKTT, 5 tờ 51a1, thì “tháng 2 nhà Nguyên sai Hợp Tản Nhi Hải Nha đến nước ta”. Dù nội dung của sứ bộ Hợp Tản Nhi Hải Nha (Qasar Qaya) là đến thăm dò tình hình đất nước ta, và được cử đi từ tháng 10 năm trước, nhưng khi đến nước ta chắc chắn chúng có nêu lên vấn đề trả lại tù binh Nguyên cho chúng, ngay cả khi chúng ta đã thả đám tù này từ tháng giêng. Dẫu trước hay sau, việc thả tù binh Nguyên nhất định có một tác động chính trị trong một chừng mực nào đó. 

 

Tuy vậy, do việc nhà Nguyên ráo riết tiến hành tổ chức chiến tranh, thì tin tức về các hoạt động này thế nào cũng đến tai người lãnh đạo Đại Việt, nên tháng 3 năm Bính Tuất đã được ĐVSKTT 5 tờ 51a1-5 ghi lại như sau: “Tháng 3 vua Nguyên sắc cho thượng thư sảnh Áo Lỗ Xích, bình chương sự Ô Mã Nhi, đại tướng Trương Văn Hổ điều động 50 vạn quân, sai Hồ Quảng làm 300 chiếc thuyền đi biển, hẹn đến tháng 8, họp cả ở châu Khâm và châu Liêm, sai đem quân ba hành tỉnh Giang Chiết, Hồ Quảng và Giang Tây xâm lấn phương Nam, mượn cớ đưa kẻ đầu hàng Trần Ích Tắc về nước. lập làm An Nam quốc vương”. Thông tin về các hoạt động tổ chức chiến tranh của Hốt Tất Liệt, như vậy, đã được vua Trần Nhân Tông và triều đình Đại Việt nắm vững. 

 

Đứng trước những nguy cơ chiến tranh tới gần, tất nhiên Đại Việt không thể ngồi yên hay đứng nhìn. Việc đầu tiên vua Trần Nhân Tông làm là “vào tháng 6 sai các vương hầu tôn thất mộ binh và nắm vững quân thuộc hạ của mình”, như ĐVSKTT 5 tờ 51a5-6 đã ghi. Tiếp đến, cũng theo ĐVSKTT 5 tờ 51a6-b2, trong một cuộc hội nghị cao cấp nhất, vua đã hỏi Trần Hưng Đạo: “Thế giặc năm nay thế nào?”. Trần Hưng Đạo trả lời: “Nước ta thái bình lâu ngày, dân không biết việc binh, nên năm trước quân Nguyên xâm lấn, hoặc có người đầu hàng trốn tránh. Nhờ uy binh của tổ tông và thần vũ của bệ hạ, mà đã quét sạch được rợ Hồ. Nay nếu nó lại sang thì quân ta đã quen việc đánh dẹp, mà quân nó thì ngại việc đi xa. Vả lại, nó đã cạch về sự thất bại của Hằng và Quán, nên quân Nguyên không có lòng chiến đấu nữa. Cứ ý thần xem, thì tất đánh tan được chúng”. 

 

Qua phân tích của chính Hưng Đạo Vương về sự tất thắng của quân đội ta trong cuộc chiến tranh sắp tới, ta thấy toát lên một niềm tin mạnh mẽ vào khả năng chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu của quân dân Đại Việt và sự lãnh đạo sáng suốt của các vị vua Trần trong đó có vua Trần Nhân Tông. Một lần nữa, vua Trần Nhân Tông “sai Hưng Đạo Vương tổng đốc các vương hầu quân tôn thất điều động quân đội và chế tạo khí giới thuyền bè. Đến tháng 10 cho kiểm điểm và luyện tập các quân đã điều động”, như ĐVSKTT 5 tờ 51b1-3 đã ghi lại. Thế là về phía Đại Việt, ta cũng đã ráo riết chuẩn bị phương tiện, nhân lực và khí tài để đối phó với bóng ma chiến tranh đang đe dọa phủ lấy đất nước mình với niềm tự tin mạnh mẽ vào chiến thắng cuối cùng. 

 

Bước qua năm Đinh Hợi (1287) niền tin ấy càng được cũng cố bền vững hơn. Theo ĐVSKTT 5 tờ 52a2-3, “tháng 2,(..) có quan chấp chính xin tuyển người mạnh khỏe làm lính để tăng số quân. Hưng Đạo Vương đã bác đi, nói: 

 

‘Quân cần tinh, không cần nhiều. Dù nhiều đến như Bồ Kiên có 100 vạn quân, có làm gì được đâu?’”. Song song với việc không đôn quân bắt lính ấy, vua Trần Nhân Tông còn “đại xá cho thiên hạ”, thể hiện chính sách ổn định lòng dân. Đợt đại xá này chỉ cách đợt trước chưa đầy nửa năm, chắc chắn được khẩn trương thực hiện, nhằm biểu thị không chỉ tính nhân đạo của chế độ mình, mà còn ít nhiều bộc lộ cảm thức trách nhiệm của người lãnh đạo đối với muôn dân. Nếu người dân phạm tội thì không chỉ người dân chịu trách nhiệm trước tội lỗi của mình, mà chính quyền, cụ thể là người lãnh đạo tối cao, cũng phải có trách nhiệm trước những vi phạm và tội lỗi ấy của người dân. 

 

Người dân Đại Việt vào thời Trần Nhân Tông, trước khi xảy ra cuộc chiến tranh 1285, đã được răn dạy: “Phàm các quận huyện trong nước, nếu như có giặc ngoài đến, thì phải tử chiến. Hoặc nếu sức địch không lại thì cho phép trốn vào trong núi đầm. Không được đầu hàng”. An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 7b 1-2 đã ghi lại như thế. Vậy mà cũng có người đầu hàng. Trách nhiệm đầu hàng trước nhất vẫn thuộc về kẻ đầu hàng. Tuy nhiên, giống như cách xử sự của ông nội mình là Trần Thái Tông đối với Hoàng Cự Đà trong cuộc chiến tranh vệ quốc năm 1258, vua Trần Nhân Tông vẫn cảm thấy trách nhiệm của mình đối với sự đầu hàng của một số tôn thất và dân chúng, khi quân Nguyên xâm lược nước ta vào năm 1285. Chắc chắn vì cảm thức này, mà vua đã cho tiến hành 2 cuộc đại xá chỉ cách nhau có mấy tháng. 

 

Đến tháng 4, vua Trần Nhân Tông đã cho em mình là Tá Thiên Đại Vương Đức Việp giữ quyền tướng quốc và duyệt binh một lần chót. Đồng thời vua cho giải quyết những vụ kiện tụng chưa xử lý xong và quy định các sắc dịch. Đây là những việc làm chạy đua với thời gian trong một đất nước đang có những giây phút hòa bình cuối cùng của mình, để chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh đang từng bước từ bên kia biên giới tiến vào quê hương Đại Việt. 

 

Cuộc chiến tranh bắt đầu: Trận Mộc Hoàn 

 

Theo ĐVSKTT 5 tờ 52a6-8: “Ngày 14 (tháng 11 năm Đinh Hợi, 1287) Trịnh Xiển tâu về việc thái tử nhà Nguyên là A Thai đánh vào cửa Phú Lương”. Thực tế thì đây là trận đánh vào cửa Mộc Hoàn do Ái Lỗ chỉ huy, mà Bản kỷ của Nguyên sử 14 tờ 11a3-5 đã mô tả: “Tháng 11 ngày Nhâm Thìn (...) hữu thừa của Vân Nam tỉnh là Ái Lỗ đem quân đóng ở cửa Mộc Ngột của Giao Chỉ. Tướng Giao Chỉ là Chiêu Văn Vương đem 4 vạn quân trấn giữ. Ái Lỗ đánh phá, bắt được tướng nó là Lê Thạch và Hà Anh”. 

 

Đây là trận mở đầu và do cánh quân Tây Bắc từ Vân Nam xuống của Ái Lỗ tiến hành. Ái Lỗ (Aruq) là một danh tướng của nhà Nguyên. Ái Lỗ truyện của Nguyên sử 122 tờ 8b3-5ữ chép: “(Năm Chí Nguyên thứ 24) Trấn Nam Vương đánh Giao Chỉ, ra lệnh cho Ái Lỗ đem 6 nghìn quân đi theo, từ La La đến đất Giao Chỉ. Tướng Giao Chỉ là Chiêu Văn Vương đem quân bốn vạn giữ cửa Mộc Ngột. Ái Lỗ đánh phá được, bắt tướng nó Lê Thạch và Hà Anh. Trải ba tháng, đánh nhau mười tám trận lớn nhỏ, bèn đến thành vua nó, cùng hội với các quân, lại đánh hơn hai mươi hiệp, công là nhiều”. 

 

Năm sau, vào ngày Quý Mùi tháng 4 năm Chí Nguyên 25 (1288) khi báo cáo trận đánh này lại cho Hốt Tất Liệt ở Bản kỷ của Nguyên sử 15 tờ 3a5, Ái Lỗ còn viết: “Hữu thừa tỉnh An Nam là Ái Lỗ dâng lời nói rằng từ lúc xuất phát ở Trung Khánh qua La La, Bạch Y vào Giao Chỉ, đi về đánh 38 trận, chém đầu không thể kể xiết, tướng sĩ từ Đô nguyên soái trở xuống, những kẻ có công là 474 người”. 

 

Vậy trận mở đầu này là một trận đánh lớn, dù quân số ít, chỉ 6 nghìn người, nhưng chắc chắn có sự tham gia của nhiều viên chỉ huy giỏi, mà một trong số đó là Mang Cổ Đái. Viên tướng này có một bề dày chiến trận với nhiều thành tích, và Nguyên sử đã dành hẳn một truyện để viết về y ở Nguyên sử 149 tờ 13a6-7. Truyện này không chỉ chép công trạng của Mang Cổ Đái, mà cònử ghi lại tên một số viên tướng khác như thái tử A Đài, mà ĐVSKTT đã nhắc tới ở trên. Truyện chép Mang Cổ Đái (Mangqudai) “theo chư vương A Đài (Atai) đánh Giao Chỉ, đến sông Bạch Hạc, đánh nhau với ngụy Chiêu Văn Vương của Giao Chỉ, cướp được 87 chiến thuyền”. 

 

An Nam chí lược 4 tờ 54 cũng ghi lại trận này: “Hữu thừa Ái Lỗ cũng từ Vân Nam tiến quân đến Tam Đại Giang, đánh nhau với em vua là Trần Duật, bắt được tướng Hà Anh, Lê Thạch”. Tam Đại Giang nghĩa đen là ba sông lớn. 

 

Thế rõ ràng nó chỉ vùng ba sông Đà, Lô và Hồng gặp nhau ở tại Việt Trì. Chính tại Việt Trì này mà hơn 100 năm sau ĐVSKTT 8 tờ 53b2 -7 đã ghi việc “quân Minh chiếm bờ sông Mộc Hoàn ở Việt Trì” và “tập kích quân Hồ ở châu Moc Hoàn”, trước khi tiến đánh thành Đa Bang. Vậy cứ điểm Mộc Ngột mà các sử liệu Trung Quốc nói tới, chắc chắn là cứ điểm Mộc Hoàn của ĐVSKTT. Tên Mộc Hoàn này đến cuối thế kỷ thứ 19 vẫn tồn tại, như Đồng Khánh địa dư chí đã ghi. Vậy Mộc Ngột cũng chính là Mộc Hoàn, vì chữ hoàn có dạng như chữ ngột. 

 

Trận Mộc Hoàn đây cho thấy, trong đợt xâm lược lần này, Hốt Tất Liệt đã quan tâm đến cánh quân Vân Nam, tăng cường quân số cho nó lên tới 6 nghìn người, bố trí thêm một số tướng giỏi, và chắc chắn phải giao cho chúng một số nhiệm vụ. Sự quan tâm này phản ảnh nỗi lo lắng của Hốt Tất Liệt về việc thiếu vắng cánh quân phía Nam. Để bù đắp cho sự thiếu vắng này, cánh quân Vân Nam đã được tăng cường tiềm lực chiến đấu. Và tên tướng đầu sỏ Ái Lỗ đã hăng hái gánh vác nhiệm vụ của cánh quân phía Nam mà ngày trước Toa Đô đã cố sống cố chết thực hiện. Việc tiến đánh cứ điểm Mộc Hoàn trong cụm phòng ngự Phú Lương, mà ĐVSKTT nói đến, đã thể hiện một phần nào chủ trương chiến tranh của Hốt Tất Liệt. 

 

Đối với cuộc chiến tranh đang nổ ra, chủ trương chiến lược của quân dân nhà Trần lần này khác với lần trước. Ngay từ những trận đánh đầu tiên này, khi vua Trtần Nhân Tông hỏi Trần Hưng Đạo, thì được trả lời “năm nay giặc dễ”, như ĐVSKTT 5 tờ 52a6-8 đã ghi. Quân đội nhà Trần ở các mặt trận khác nhau thực hiện các trận đánh rút lui vừa để tiêu hao sinh lực địch vừa để bảo toàn lực lượng ta, vừa chủ động nhữ địch đến những nơi ta muốn, để cuối cùng phản công và tiêu diệt chúng. Cho nên, trận Phú Lương, tuy ta có bị tiêu hao với việc hai tướng Lê Thạch và Hà Anh bị bắt cùng một số chiến thuyền bị cướp, nhưng danh tướng Trần Nhật Duật đã hoàn thành xuất sắc và trung thành chủ trương và nhiệm vụ được giao, rút về và bảo toàn lực lượng. 

 

Thoát Hoan tiến quân 

 

Trong khi Ái Lỗ rầm rộ tiến quân xuống cửa ải Phú Lương ở phía Tây Bắc, thì cánh quân ở phía Đông Bắc do Thoát Hoan và Áo Lỗ Xích chỉ huy đã từ đại bản doanh của mình ở Ngạc Châu kéo nhau xuất phát vào ngày mồng 3 tháng 9 năm Đinh Hợi (1287). Đến ngày 28 Ất Dậu tháng 10 chúng tới huyện Lai Tân của Quảng Tây. Tại đây, Thoát Hoan cho tách quân thủy bộ. Thoát Hoan cùng Áo Lỗ Xích và A Bát Xích đem quân bộ cùng bọn Việt gian Trần Ích Tắc nhắm hướng Tư Minh. Ngày Kỷ Hợi 13 tháng 11 Thoát Hoan và đồng bọn đến Tư Minh. Còn Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp sau khi tách khỏi Thoát Hoan ở Lai Tân đã tiếp tục đi về Khâm Châu. 

 

Tất cả những ghi nhận về ngày tháng vừa nêu chủ yếu lấy từ An Nam chí lược 4 tờ 55. Khi tham khảo thêm Lai A Bát Xích truyện và An Nam truyện của Nguyên sử 129 tờ 2a2-4 và 209 tờ 9a8, ta thấy hoàn toàn phù hợp. Phàn Tiếp truyện của Nguyên sử 166 tờ 10a10-11 cũng ghi tương tự: “Năm 24 (1287) lại đánh Giao Chỉ, tiến lên làm hành trung thư tỉnh tham tri chính sự. Bấy giờ ba đạo tiến quân. Hoàng tử Trấn Nam Vương cùng hữu thừa Trình Bằng Phi chia làm hai đạo. Một vào Vĩnh Bình, một vào ài Nữ Nhi. Tiếp cùng tham chính Ô Mã Nhi đem quân thủy vào biển”.

 

Điều này chứng tỏ Lê Thực đã ghi nhật ký của cuộc tiến quân, mà bản thân hắn có tham gia. Và sau này khi bị thua trở về Trung Quốc, hắn đã dùng bản nhật ký ấy để một phần nào viết nên An Nam chí lược. Độ chính xác của tư liệu, do thế, tương đối cao trong liên hệ với các cuộc hành quân của giặc. 

 

Các trận thủy chiến với địch 

 

Thế là để xâm lược nước ta trong đợt này, tuy thiếu cánh quân phía Nam, Hốt Tất Liệt đã bổ sung bằng cách tăng cường cánh quân phía Tây Bắc do Ái Lỗ chỉ huy và tạo mới cánh quân thủy giao cho hai tên phó của Áo Lỗ Xích là Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp trực tiếp điều động. Theo An Nam chí lược 4 tờ 55 thì việc chia quân xảy ra ngày At Dậu 28 tháng 10 năm Đinh Hợi (1285), mà ngoài Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp chỉ huy 18 ngàn quân còn có Ô Vị, Trương Ngọc và Lưu Khuê chỉ huy thêm mấy vạn quân và 500 chiến thuyền cùng 70 chiếc thuyền vận tải. 

 

Ngày Mậu Tuất (đúng ra là ngày 12, LMT) 11 tháng 11, cánh quân thủy này đã tiến trước, vượt qua cửa biển Vạn Ninh, tức Móng Cái ngày nay và chúng bị tướng Nhân Đức Hầu Trần Lang phục kích ở Lãng Sơn, mà theo An Nam chí lược 4 tờ 55 của Lê Thực là có ý cắt đứt với hậu quân của địch. Địch biết, liền đêm đó cho vây núi, mờ sáng thì đánh nhau với ta. Theo chúng, số quân ta bị chết đuối lên đến vài trăm người va mất vài chục chiếc thuyền. Ô Mã Nhi thừa thắng tiến lên, không quan tâm đến thuyền chở lương đằng sau. Mất quân hộ tống, thuyền lương bị hãm. 

 

An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 9a11-12, kể lại trận đánh này như sau: “Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp đem quân đi bằng đường biển qua cửa đôi núi Ngọc (nguyên bản có vương chắc là sai, LMT) rồi đến cửa An Bang, gặp thuyền của Giao Chỉ hơn 400 chiếc, đánh chúng, chém đầu hơn 4.000 cái, bắt sống hơn trăm tên, cướp thuyền trăm chiếc, bèn đuổi dài Giao Chỉ”. Phàn Tiếp truyện của Nguyên sử 166 tờ 19a11-13 cũng viết tương tự: “Tiếp cùng tham chính Ô Mã Nhi đem quân thủy vào biển, gặp thuyền giặc ở cửa An Bang, Tiếp đánh, chém đầu hơn 4 ngàn cái, bắt sống hơn trăm người, cướp được hơn trăm chiếc thuyền và vô số khí giới”. Văn bia của Lý Thiên Hựu do Tô Thiên Tước viết trong Từ khê văn cảo 18 cũng ghi tương tự: “Đến An Bang, gặp người Giao chém đầu hơn 2 nghìn, bắt được thuyền hơn 60 chiếc”.Bản kỷ của Nguyên sử 14 tờ 11b1-2 chép trận này sớm lắm là vào ngày Tân Sửu của tháng 11 năm Đinh Hợi (1287), nghĩa là sau An Nam chí lược đến 4 ngày: “Ngày Tân Sửu Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp và bọn Trình Bằng Phi đến Giao Chỉ. Đến đâu cũng đều thắng cả”. 

 

ĐVSKTT 5 tờ 52b1-3 viết về trận này: “Ngày 28 phán thủ thượng vị Nhân Đức Hầu Toàn đem quân thủy đánh ở vũng Đa Mỗ. Giặc chết đuối rất nhiều, bắt được 40 tên, thuyền, ngựa và khí giới đem dâng”. Thế rõ ràng trận thủy chiến Đa Mỗ do Nhân Đức Hầu Toàn chỉ huy cũng là trận Lãng Sơn của An Nam chí lược và trận cửa An Bang cũng chỉ là một mà thôi. Tuy nhiên thời điểm xảy ra đã được ghi khác nhau. An Nam chí lược ghi ngày 11, Nguyên sử ghi ngày 15, còn ĐVSKTT thì ghi ngày 28. Những khác nhau này là do truyền tải tư liệu có sai sót, hoặc thông tin không chính xác. Điểm đáng chú ý hơn nữa là bên nào cũng cho mình thắng trong trận này cả.

 

Sau những trận đụng độ với cánh quân Tây Bắc do Ao Lỗ chỉ huy và cánh quân thủy do Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp điều khiển, thì cánh quân Thoát Hoan từ Lai Tân đến Tư Minh. Thoát Hoan đã cử A Bát Xích nắm một nghìn quân đi tiên phong, như Lai A Bát Xích truyện của Nguyên sử 129 tờ 2a đã ghi nhận. Tại đây, vào ngày Kỷ Hợi 13 tháng 11 theo Bản kỷ của Nguyên sử 14 tờ 11a 12-13, Thoát Hoan đã chia đạo quân của mình thành 2 cánh. Một cánh do Trình Bằng Phi chỉ huy, và một do Ao Lỗ Xích điều khiển để tiến vào nước ta, và tăng cường đội quân của A Bát Xích lên một vạn người, giao A Bát Xích đi tiên phong. 

 

Sự kiện này An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 9a8-11 viết rõ hơn: “Tháng11, Trấn Nam Vương đến Tư Minh, để lại 2.500 quân, sai Vạn hộ Hạ Chỉ điều khiển để giữ xe lương, còn Trình Bằng Phi và Bột La Hợp Đáp Nhi (Bolqadar) đem khoảng một vạn quân Hán đi đường phía Tây qua ngã Vĩnh Bình, còn Áo Lỗ Xích thì đem một vạn quân theo Trấn Nam Vương do đường ải Nữ Nhi phía đông, để cùng tiến, và A Bát Xích đem một vạn quân đi làm tiên phong”. Ba ngày sau, tức ngày Tân Sửu, theo Bản kỷ của Nguyên sử 14 tờ 11b1, cánh quân Trình Bằng Phi đã có báo cáo chiến thắng, trong khi An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 9a12-13 nói thêm: “Trình Bằng Phi và Bột La Hợp Đáp Nhi trải qua 3 cửa ải Lão Thử, Hãm Nê và Tư Trúc đánh nhau 17 trận, đều thắng” 

 

Thoát Hoan tiến vào Đại Việt 

 

Còn đại quân của Thoát Hoan, theo Bản kỷ của Nguyên sử 14 tờ 11b2-3, 5 ngày sau, vào ngày Bính Ngọ, tức ngày 20 tháng11, mới đến Giới Hà và bị quân ta chống cự. Đến ngày Canh Tuất 24 tháng 11, quân của Thoát Hoan đến Lộc Châu. Chính tại đây, theo An Nam chí lược 4 tờ 55, Thoát Hoan mới chia quân,“hữu thừa Trình Bằng (Phi), tham chính Bột La Đáp Nhi do ải Chi Lăng, còn đại quân thì do ải Khả Lỡ, hữu thừa A Bát Xích làm tiên phong cùng tiến”. ĐVSKTT 5 tờ 52a8-b1 có chép một trận đánh vào ngày 24 này: “Ngày 24, vua sai cấm quân giữ ải Lãnh Kinh. Hưng Đức Hầu Quán đem quân đón đánh, lấy tên độc bắn giặc, chết và bị thương rất nhiều. Giặc lui về đóng ở ải Vũ Cao”. 

 

Vậy là khi tiến vào nước ta, Thoát Hoan đã chia quân theo đường tiến cũ của cuộc xâm lược trước, tức con đường phía Đông và con đường phía Tây. Cánh quân phía Tây qua các ải Lão Thử (Chi Lăng), Hãm Nê và Tư Trúc, tức đi trên con đường quốc lộ 1 ngày nay, để nhắm hướng Thăng Long. Còn cánh quân phía Đông từ Lộc Châu, tức Ô Bình ngày nay, qua các ải Khả Lỡ và Nữ Nhi để nhắm hướng Vạn Kiếp mà tiến xuống. Đây là con đường vòng qua huyện Sơn Động ngày nay. Và trận đầu tiên, mà chúng gặp là trận Lãnh Kinh do Hưng Đức Hầu Quán chỉ huy. Đây là trận mà Bản kỷ của Nguyên sử gọi là “Giao Chỉ đưa quân chống giữ “. 

 

Trận Vạn Kiếp 

 

Sau trận Lãnh Kinh, về phía sử ta cũng như Trung Quốc không thấy có ghi một trận nào đáng kể nữa. Ngay cả cánh quân phía tây có nói đến 17 trận đánh, nhưng cũng không thấy đâu ghi lại. Còn cánh quân phía Đông do Thoát Hoan và Áo Lỗ Xích chỉ huy thì cứ lặng lẽ mà tiến, dám chừng không gặp một trận đánh nhỏ nào cả. Chỉ thấy đến khi tới Vạn Kiếp, mà theo Bản kỷ của Nguyên sử 14 tờ 11b8 là vào ngày Giáp Dần của tháng 11 thì mới có một trận đánh xảy ra, và cũng là lúc quân Ô Mã Nhi đã tới gặp được quân của Thoát Hoan. 

 

Lưu Uyên truyện của Nguyên sử 152 tờ 4b10-11 đã ghi thế này: “Năm (Chí Nguyên) 24, Uyên theo đi đánh Giao Chỉ. Trấn Nam Vương Thoát Hoan sai đem 2 vạn quân thủy bộ, đánh sông Vạn Kiếp, bắt được 16 người.Rồi tiếp đánh thành Linh Sơn, bọn giặc đón cự, thua lớn”. Còn Tích Đô Nhi truyện của Nguyên sử 133 tờ 9b6 chép việc Tích Đô Nhi được lệnh của A Bát Xích đánh chiếm thành Nhất Tự và bắt được 7 chiến thuyền. 

 

Qua tháng 12, cụ thể là ngày mồng 3 Kỷ Mùi, theo An Nam chí lược 4 tờ 55 thì Thoát Hoan đã đến Tứ Thập Nguyên. Tại đây Thoát Hoan được tin thuyền lương của Trương Văn Hổ đã bị đánh chìm, “bèn sai Ô Mã Nhi đốc quân đi cướp lương hướng của An Nam, tả thừa A Lý, Lưu Giang dựng thành gỗ ở hai núi Phổ Lại và Chí Linh để chứa lương nuôi quân “. Nhưng sự việc này theo Bản kỷ và An Nam truyện của Nguyên sử 14 tờ 12a1-2 và 209 tờ 9a13-b1 thì chép vào ngày Quý Dậu, tức ngày 15 tháng 12. Một mặt, nó viết: “Ngày Quý Dậu, Trấn Nam Vương đóng ở cảng Mao La, đánh trại Phù Sơn, phá được”. Mặt khác, An Nam truyện lại co: ữ “Tháng 12, Trấn Nam Vương đóng ở cảng Mao La. Hưng Đạo Vương của Giao Chỉ trốn đi, nhân đó, bèn đánh trại Phù Sơn, phá được, lại sai Trình Bằng Phi và A Lý đem 2 vạn quân giữ Vạn Kiếp, vừa sửa sang rào gỗ ở núi Phổ Lại và Chí Linh” 

 

Thế rõ ràng đại quân của Thoát Hoan đến Vạn Kiếp một cách khá dễ dàng. Chủ trương chiến lược của ta lần này là càng nhữ địch vào sâu nội địa, càng dễ dàng phản công và tiêu diệt chúng. Cho nên, ngay tại Vạn Kiếp, với một trận càn có quân số lên tới 2 vạn mà chỉ bắt được quân ta 16 người. Tuy nhiên, cũng rõ ràng không kém là khi tới Vạn Kiếp và có quân Trịnh Bằng Phi và Ô Mã Nhi cùng hội về, Thoát Hoan đã biết thuyền lương của Trương Văn Hổ không tới. Cũng trong thời gian này, ngày 16 tháng 12, vua Trần Nhân Tông đã sai minh tự Nguyễn Thức đem quân Thánh dực dũng nghĩa đến chỗ Hưng Đạo Vương để giữ cửa sông Đại Than, như ĐVSKTT 5 tờ 52b3-4 đã ghi.. 

 

Địch chiếm Thăng Long 

 

Đến ngày Kỷ Mão 23 tháng 12, theo An Nam chí lược 4 tờ 55, Thoát Hoan cho quân tiến về Thăng Long vớữi Ô Mã Nhi chỉ huy quân thủy và A Bát Xích điều khiển quân bộ. Khi Phàn Tiếp đem quân thủy đến Bắc Giang thì bị quân ta chặn lại. ĐVSKTT 5 tờ 52b3-4 chép việc tướng Nguyễn Thức ở Đại Than đã đánh với giặc thắng lớn: “Tháng 12 ngày 16 vua xuống chiếu minh tự Nguyễn Thức đem quân Thánh dực dũng nghĩa đến Hưng Đạo Vương giữ cửa Đại Than. 

 

Ngày 26 gặp giặc, đánh bại chúng”. Dù có thắng, quân ta vẫn chấp hành chủ trương rút lui. Thế là ngày At Dậu tức ngày 29 tết tháng chạp năm Đinh Hợi, theo Bản kỷ của Nguyên sử 14 tờ 12 a4, “Trấn Nam Vương đem các quân vượt sông Phú Lương, đóng dưới thành Giao Chỉ, đánh bại lính giữ thành. Nhật Huyên và con bỏ thành chạy xuống đồn Cảm Nam “. 

 

Khi quân Thoát Hoan đã tiến đến được Thăng Long, bọn Việt gian như Lê Thực, Nguyễn Lĩnh, Lê Án.v.vỢ, mà Thoát Hoan đã để lại ở Tư Minh, tưởng có thể về Thăng long một cách an toàn cùng đoàn quân hộ vệ chúng gồm 5 ngàn tên do các tên Tỉnh đô sứ hầu Sư Đạt, Vạn hộ hầu không rõ tên và Thiên hộ Tiêu chỉ huy. Không ngờ vào ngày Giáp Thân 28 tết, khi mới vào cửa ải Nội Bàng, chúng đã bị quân ta đánh tan tác. Năm ngàn quân chỉ còn 60 tên cưỡi ngựa chạy thoát. Sau này khi viết An Nam chí lược 19 tờ 181 Lê Thực đã diễn tả lại tâm trạng mình lúc ấy như sau: 

 

“Chật vật hiểm nghèo, muôn phần chắc chết, ngày chạy mấy trăm dặm, từ nửa đêm tới tảng sáng thì đến châu, vọng bái cửa khuyết, mừng tết năm Mậu Tý”. 

 

Địch truy đuổi quân ta 

 

Giống như lần trước, khi tiến được vào Thăng Long, bọn Thoát Hoan bàn cách truy đuổi vua Trần Nhân Tông và quân ta. Tên tướng tiên phong A Bát Xích bàn thế này, như Lai A Bát Xích truyện của Nguyên sử 129 tờ 2a5- 7 đã ghi lại: “Giặc bỏ sào huyệt trốn vào núi, biển là có ý đợi chúng ta mệt mỏi, rồi thừa cơ đánh lại. Tướng sĩ ta phần nhiều là người phương Bắc. Lúc xuân hạ giao nhau, chướng khí tật bệnh hoành hành. Chưa bắt được giặc ta không thể giữ lâu được. Nay chia quân bình định các nơi, chiêu hàng những người quy phụ, ngăn cấm quân lính không được cướp bóc, mau bắt ngay Nhật Huyên. Đó là kế hay” 

 

Để thực hiện kế hay này, Thoát Hoan lại sai A Bát Xích tiến công cứ điểm HàmTử vào ngày 29 Tết, tức ngày Kỷ Dậu năm Đinh Hợi, như An Nam chí lược 4 tờ 56 đã ghi: “Ngày 29 Kỷ Dậu (Trấn Nam) Vương vượt sông Lô về phía tây, còn A Bát Xích men theo bờ đông, phá ải Hàm Tử. Thế tử rút về giữ ải Hải Thị. Đại binh đánh phá được”. Mặt khác, Thoát Hoan cùng Ô Mã Nhi tiến công cứ điểm Cảm Nam, mà An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 9b3, đã chép. Rồi từ đó, sau khi ta rút, theo An Nam chí lược 4 tờ 56 chúng lại tiến công cứ điểm Hải Thị. Hải Thị chắc chắn là chỉ cứ điểm A Lỗ, một nhánh của sông Hải Triều, cách đó 3 năm Trần Hưng Đạo đã lần đầu tiên đánh thắng quân đồn trú của Lưu Thế Anh. Sau trận đánh Cảm Nam vàHải Thị ấy, bọn chúng đuổi tới Thiên Trường và áp đến cửa biển Thiên Trường, nhưng không biết vua và quân ta đi đâu. 

 

Chính trong khi đuổi theo quân Đại Việt trong những ngày đầu xuân của năm Mậu Tý, Ô Mã Nhi, dù đã nếm thất bại trong cuộc xâm lược lần trước, vẫn tưởng mình có thể khuất phục Đại Việt trong lần này. Hắn tuyên bố, nếu vua Trần Nhân Tông “lên trời, ta theo lên trời, chạy xuống đất, ta theo xuống đất, trốn lên núi ta theo lên núi, lặn xuống biển ta theo xuống biển”, như lá thư tháng tư năm Chí Nguyên 25 (1288) của vua Trần Nhân Tông do Từ Minh Thiện chép lại trong Thiên nam hành ký của Thuyết phu 51 tờ 19a1-3 ghi nhận. Tuy tức giận thề thốt, Ô Mã Nhi và ngay cả Thoát Hoan vẫn không biết vua Trần Nhân Tông và đại quân của Đại Việt rút đi đâu, như Bản kỷ và An Nam truyện của Nguyên sử 15 tờ 1a5 và 209 tờ 9b4 đã ghi. 

 

Căm tức trước việc không đuổi kịp vua Trần Nhân Tông và đại quân của Đại Việt, bọn Thoát Hoan và Ô Mã Nhi quay trở lại càn quét vùng dân ở Thiên Trường, tức vùng Nam Định ngày nay. Tại vùng này, chính vua Trần Nhân Tông đã tố cáo tội ác của bọn chúng trong lá thư gửi cho Hốt Tất Liệt tháng tư năm Chí Nguyên 25 (1288), do Từ Minh Thiện chép trong Thiên nam hành ký của Thuyết phu 51 tờ 18b12-19a1: “Chúng đốt phá hết chùa chiền khắp nước, đào bới mồ mả tổ tiên, bắt giết người dân già trẻ, đập phá sản nghiệp của trăm họ. Các hành động tàn nhẫn phá phách, không gì là không làm”. Và chính Trương Lập Đạo, khi đi sứ qua nước ta vào năm 1291, đã ghi lại lúc trở về trong bản hành lục của y về lời tố cáo tương tự của vua Trần Nhân Tông trong một bữa tiệc khoản đãi hắn ở Thăng Long, như An Nam chí lược 3 tờ 46 đã ghi: “Năm ngoái đại quân đến đây, đốt phá nhà cửa, khai quật mồ mả tiên nhân, xương cốt ngổn ngang.. Lời nói chưa dứt thì những người bề dưới đều khóc”. 

 

Ngày mồng 4 Kỷ Sửu tháng giêng năm Mậu Tý (1288), sau khi không đuổi kịp vua Trần Nhân Tông và đại quân của Đại Việt, theo An Nam chí lược 4 tờ 56 Thoát Hoan đã dẫn quân trở về Thăng Long. Tại đây, hắn một mặt sai Áo Lỗ Xích và A Bát Xích dẫn quân đi kiếm lương thực. Mặt khác ra lệnh cho Ô Mã Nhi đem quân thủy đi đón thuyền lương của Trương Văn Hổ qua cửa biển Đại Bàng, như Bản kỷ và An Nam truyện của Nguyên sử 15 tờ 1a6-7 và 209 tờ 9b4-6 đã ghi. Đội thuyền vận tải lương của Trương Văn Hổ, sau trận đánh thủy chậm lắm vào ngày 28 tháng 11 tại vũng Đa Mỗ do tướng Nhân Đức hầu Trần Lang chỉ huy, đến ngày 30 tháng 11 đã bị quân của tướng Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư đánh tan tại Vân Đồn và sau đó tại Lục Thủy, tức cửa Lục của Hòn Gai ngày nay. 

 

Chiến thắng Vân Đồn 

 

Trận Vân Đồn, An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 9b13-10a3 đã mô tả như sau: “Thuyền lương của Trương Văn Hổ vào tháng 12 năm ngoái (1287) tới đóng Đồn Sơn thì gặp 30 chiếc thuyền của Giao Chỉ. Văn Hổ đánh. Số giết và bắt được tương đương. Đến biển Lục Thủy, thuyền giặc càng đông, Văn Hổ liệu không thể địch nổi, mà thuyền lại nặng không thể đi được, bèn nhận chìm gạo xuống biển, rồi đi Quỳnh Châu.Thuyền lương của Phí Củng Thìn vào tháng 11 đóng ở Huệ Châu, gió không tiến lên được, trôi dạt đến Quỳnh Châu, cùng họp với Trương Văn Hổ. Thuyền lương của Từ Khánh cũng trôi dạt tới Chiêm Thành, cũng đến Quỳnh Châu. Phàm số lính tráng bị mất 220 người, thuyền 11 chiếc và lương một vạn bốn ngàn ba trăm thạch có lẻ”. Theo An Nam chí lược 4 tờ 56 thì Trương Văn Hổ sau khi thuyền lương bị hãm, đã cưỡi thuyền nhỏ chạy về Khâm Châu. Nhưng đây chắc là chép lầm. 

 

ĐVSKTT 5 tờ 52b6-53a7 đã kể lại chiến thắng Vân Đồn: “Bấy giờ, quân thủy của nhà Nguyên đánh Vân Đồn. Hưng Đạo Vương đem hết công việc biên giới giao cho phó tướng của Vân Đồn là Nhân Huệ Vương Khánh Dư. Khánh Dư đánh thất lợi. Thượng hoàng nghe tin, sai trung sứ dến xiềng Khánh Dư đem về kinh. Khánh Dư bảo với trung sứ rằng: ‘Lấy quân luật mà xử, tôi đành chịu tội, nhưng xin hoãn cho vài ba ngày để tôi lập công chuộc tội, rồi sau về chịu búa rìu cũng chưa muộn’. Trung sứ nghe theo lời xin. Khánh Dư liệu biết quân giặc qua rồi, thì thuyền lương tất phải theo sau, bèn thu nhặt quân còn lại để đợi. Chốc lát sau, thuyền chở lương quả đến. Bèn đánh bại, bắt được quân lương khí giới của giặc không thể kể xiết, bắt được giặc cũng rất nhiều. Liền chạy thư về báo. Thượng hoàng nghe, tha hết tội trước, nói rằng: ‘Quân Nguyên chỉ nhờ lương, khí giới. Nay ta đã bắt được, sợ nó không biết còn có khi hung hăng’. Bèn thả số người bị bắt, tung đến doanh trại quân Nguyên báo cáo cho chúng nó đầy đủ”. 

 

Chiến thắng Vân Đồn là một chiến thắng vang dội và quyết định. Phía địch cũng thừa nhận chiến thắng này là một tổn thất to lớn của chúng, đúng như ĐVSKTT 5 tờ 53a6-7 đã nhận định: “Năm nay trăm họ không bị thảm khốc như năm trước, Khánh Dư có dự công vào”. Và trước khi có chiến thắng Vân Đồn này, thủy quân Đại Việt đã liên tục chiến đấu từ ngày 12 tháng 11 năm Đinh Hợi cho đến hết tháng 12 năm đó, như ta đã thấy ở trên. Các tướng Nhân Đức Hầu Trần Toàn và Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư chắc chắn có lần đã thất bại trong gần 2 tháng liên tục chiến đấu ấy. Bản thân Trần Khánh Dư, như ĐVSKTT cho biết, suýt đã bị Thượng hoàng Trần Thánh Tông cho xiềng đưa về Thăng Long vì không hoàn thành nhiệm vụ. Nhưng vị tướng tài ba và kiên trì này đã thành công nhận chìm đoàn thuyền tải lương của Trương Văn Hổ chỉ trong vài ba ngày. Đây thể hiện rõ ràng quyết tâm đánh và thắng giặc của quân dân Đại Việt thời đó. Đồng thời nó cũng cho thấy bộ chỉ huy chiến tranh tối cao của Đại Việt đã bám sát tình hình chiến sự từ nhiều mặt trận khác nhau, để có những quyết sách đúng đắn vào những thời điểm cần thiết xung yếu. 

 

Trận Đại Bàng 

 

Thuyền lương của Trương Văn Hổ đã bị tướng Trần Khánh Dư tiêu diệt hoàn toàn như vậy và Thượng hoàng Trần Thánh Tông đã tung quân bắt được vào trại giặc để báo cho bọn chúng biết. Thế mà, Thoát Hoan vẫn ngoan cố không tin, hy vọng hão huyền vào đoàn thuyền lương ấy. Y sai ÔMã Nhi đi đón chúng qua cửa Đại Bàng. Đến cửa Đại Bàng, Ô Mã Nhi không thấy Trương Văn Hổ ở đâu, mà chỉ thấy quân ta chờ đợi ở đó. ĐVSKTT 5 tờ 51a1-3 chép: 

 

“Ngày mồng 8 (tháng giêng năm Mậu Tý, 1288) quan quân gặp giặc đánh ở ngoài biển Đại Bàng, bắt thuyền do thám của giặc 300 chiếc và 10 cái thủ cấp. Người Nguyên phần lớn chết đuối”. Cửa biển Đại Bàng theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục 7 tờ 38a4-5 “là ở tại xã Đại Bàng huyện Nghi Dương tỉnh Hải Phòng ngày nay”. Vậy cửa Đại Bàng chính là cửa sông Văn Úc thuộc thành phố Hải Phòng hiện tại. 

 

Sau trận Đại Bàng, Ô Mã Nhi đã dẫn quân đi ngược lên phía Bắc vùng Tháp Sơn, tức Đồ Sơn ngày nay. Một lần nữa, hắn lại gặp thủy quân ta với hơn một ngàn chiến thuyền đang chờ đợi hắn, như theo An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 9b8-9 đã ghi: “Ô Mã Nhi do cửa Đại Bàng đến Tháp Sơn, gặp thuyền giặc hơn nghìn chiếc, đắnh phá được”. 

 

Theo văn bia của Lý Thiên Hựu do Tô Thiên Tước viết trong Từ khê văn cảo 18 thì trận Tháp Sơn này do vua Trần Nhân Tông chỉ huy: “Mùa xuân năm sau, quân đến biển Tháp Sơn, đánh bại Thế tử”. Có lẽ đây cũng là một trận đánh tiêu hao sinh lực địch.

 

Trận Tháp Sơn này, Tích Đô Nhi truyện của Nguyên sử 133 tờ 9b6-8 có nhắc đến chuyện Tích Đô Nhi có chiến đấu với quân của Hưng Đạo Vương: “Năm sau (1288) mùa xuân tháng giêng, đại quân đến bức chỗ ở của ngụy Hưng Đạo Vương, cùng đánh với người Giao ở Tháp Sơn, cướp mác quơ đánh. Cánh tay phải trúng tên độc, máu chảy cả bụm, lau máu đánh hăng, bắn chết hơn hai mươi người Giao, đồng thời thúc các quân thừa thắng tiến tiếp đại bại chúng”. 

 

Như vậy, Tháp Sơn là một cứ điểm quân thủy quan trọng của Đại Việt, tập trung nhiều quân, thuyền và bộ chỉ huy tối cao, trong đó có mặt vua Trần Nhân Tông và Trần Hưng Đạo vào thời điểm đầu mùa xuân năm Mậu Tý (1288). Sau đó, Ô Mã Nhi và Tích Đô Nhi đều có dịp giao chiến và chắc chắn ít nhiều nếm mùi thất bại, nhất là Tích Đô Nhi trúng tên “máu chảy cả bụm”. 

 

Thoát Hoan rút về Vạn Kiếp 

 

Rồi từ Tháp Sơn, theo An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 9b8-9, Ô Mã Nhi đến cửa An Bang, tức cửa Nam Triệu ngày nay, mà vẫn không gặp thuyền Trương Văn Hổ, thế là chúng kéo nhau trở về Vạn Kiếp. Trên đường về, chúng đi vào sông Bạch Đằng. Tại đây, nhiều căn cứ quân sự ta thiết lập, mà một trong đó là căn cứ Yên Hưng. 

 

ĐVSKTT 5 tờ 54a3 viết: “Ngày 19 tháng 2 năm (Mậu Tý, 1288) Ô Mã Nhi đánh vào trại Yên Hư ng”. Đây chăữc chắn là một trận tiêu hao sinh lực địch về phía ta. Còn phía Ô Mã Nhi thì đang trên đường rút về Vạn Kiếp, nên hắn không tha thiết truy đuổi, ngay khi có điều kiện. Và thực tế, đoàn quân thủy do hắn chỉ huy, dù muốn, cũng không thể có những trận đánh lớn được. 

 

Riêng cánh quân của A Bát Xích và Ao Lỗ Xích khi được phân công “vào núi tìm lương thực”, thì nghe quân ta đóng ở Kẻ Trầm, Kẻ Lê, Ma Sơn và Ngụy Trại. Chúng đã ra quân tiến đánh mà theo An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 9b5-6 thì chém được hơn cả vạn thủ cấp. Còn Tích Đô Nhi thì tiến ra Tháp Sơn rồi cùng theo A Bát Xích kéo về Thăng Long. Tại đây theo Bản kỷ của Nguyên sử 15 tờ 2a1-2 vào ngày Đinh Tỡ tháng 12 “Trấn Nam Vương dẫn quân trở về Vạn Kiếp”. Việc này An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 9b6-8 chép vào tháng 3 và kể rõ thêm là “A Bát Xích đã đem quân tiên phong, cướp cửa ải, bắc cầu nổi, phá cửa Tam Giang, đánh hạ được 32 đồn, chém hơn mấy vạn thủ cấp, thu được thuyền 200 chiếc và gạo hơn 11 vạn 3 ngàn thạch”. 

 

Thế là một cuộc rút quân về Vạn Kiếp đầy khó khăn gian khổ và nhiều mất mát thương vong của quân địch, một điều tương phản với cuộc tiến quân nhẹ nhàng ít trở ngại của mấy tháng trước đó về Thăng Long. Ô Mã Nhi từ cửa An Bang cũng kéo quân về Vạn Kiếp hội quân, như đã thấy. Tại đây, khi hàng rào gỗ đã được làm xong xung quanh núi Phả Lại và Chí Linh, Thoát Hoan ra lệnh cho các quân đồn trú cùng chứa hơn 4 vạn thạch lương, mà bọn Ô Mã Nhi và A Bát Xích đã đem về, như An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 9b9-10 đã ghi. Trong khi đồn trú ở đây, An Nam chí lược 4 tờ 56 cho biết: “Tháng 2, Thế tử sai người anh họ là Hưng Ninh Vương Trần Tung nhiều lần đến ước hàng, để cố tình làm mệt quân ta, rồi ban đêm sai quân cảm tử đến cướp doanh trại. Trấn Nam Vương nổi giận, sai Vạn hộ Giải Chấn đốt thành, tả hữu can mãi mới ngưng”. 

 

Lai A Bát Xích truyện của Nguyên sử 129 tờ 2a7-10 viết tương tự, nhưng không ghi rõ người đến ước hàng là ai: “Bấy giờ,Nhật Huyên nhiều lần sai sứ đến ước hàng, muốn lấy của cải, để hoãn quân ta. Các tướng đều tin lời nó, lại sửa thành để ở, mà đợi nó đến. Quá lâu, quân thiếu ăn, Nhật Huyên không hàng, giữ quân, đóng Trúc Động và cửa biển An Bang”. 

 

Từ khi quân địch rút về Vạn Kiếp, bọn chúng đã ở trong một tâm trạng hoang mang khiếp sợ tột độ. Khoét sâu vào tâm lý hoang mang này của giặc, người anh hùng giải phóng Thăng Long lần trước là Tuệ Trung Trần Quốc Tung lãnh nhiệm vụ đi điều đình với giặc để làm cho chúng càng hoang mang thêm. Có lúc Thoát Hoan đã muốn đốt cả ngôi thành bảo vệ cho chính sự sống còn của chính y. Trong một tâm trạng hoang mang cùng cực như vậy mà một hội nghị quân sự chớp nhoáng của đám bại quân đã diễn ra. 

 

Theo An Nam chí lược 4 tờ 56 thì thần nỏ tổng quản Giã Nhược Ngu dâng lời nói rằng: “Quân có thể về, không có thể giữ”. Lai A Bát Xích truyện của Nguyên sử ghi: “Gặp lúc tướng sĩ phần nhiều dịch bệnh, không thể tiến, mà các mọi lại phản, các cửa ải chiếm được đều thất thủ, bèn bàn rút quân”. Và chính bản thân Thoát Hoan cũng bảo: 

 

“Đất nóng, ẩm thấp, lương thiếu, quân mệt”. Cuối cùng, chúng đã đi đến quyết định rút quân, mà An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 9b10-11 đã viết: “Các tướng nhân thế nói rằng Giao Chỉ không có thành trì có thể giữ được, kho lẫm có thể ăn được, thuyền lương của bọn Trương Văn Hổ không đến. Mà tiết trời đã nóng, sợ lương hết quân mệt, không lấy gì để kéo dài lâu, làm nhục triều đình. Nên bảo toàn quân để mà trở về. Trấn Nam Vương làm theo”. 

 

Chiến thắng Bạch Đằng 

 

Đã quyết định rút lui, nhưng rút lui bằng cách nào? Theo An Nam chí lược 4 tờ 56 thì cũng trong hội nghị ấy, bọn tướng tá quân thủy của giặc đều đồng thanh nói: “Thuyền lương hai lần vào đều bị hãm, không bằng bỏ thuyền theo đường bộ. Đó là kế sách hay nhất”. Thoát Hoan muốn nghe theo, nhưng đám tả hữu đều ngăn lại. Cho nên, cuối cùng, theo An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 9b11-12 chúng chia quân làm hai cánh. Một cánh quân thủy do Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp chỉ huy đi về trước cùng với Trình Bằng Phi và Tháp Xuất (Ta?u) đem quân bộ đi hộ tống. 

 

Bản kỷ của Nguyên sử 5 tờ 2b-4 ghi sự kiện ấửy vào ngày Nhâm Ngọ, tức 27 tháng 2 năm Mậu Tý. 

 

Đám quân đi hộ tống này tự bản thân nó gặp quá nhiều khó khăn. An Nam chí lược 4 tờ 56 chép:

 

“Ngày mồng 3 tháng 3, Đinh Hợi, hữu thừa Trình Bằng (Phi), thiêm tỉnh Đạt Mộc (đúng ra phải đọc là Truật, LMT) đem kỡ binh, đưa quân thủy, qua chợ Đông Hồ (Hồ đúng ra phải đọc là Triều, LMT) mắc sông bèn trở về, vì cầu cống đều bị quân kia cắt đứt, đợi ta mà đánh. Trình hữu thừa liền hỏi những hương lão đã bắt được, đang đêm dẫn chạy qua đường khác thì bắt kịp đại quân”. Thế rõ ràng nhiệm vụ hộ tống do Thoát Hoan giao cho Trình Bằng Phi và Tháp Xuất đã không được hoàn thành, vì cầu cống đã bị quân ta phá. Chúng cố gắng trở về gặp Thoát Hoan để rút lui bằng đường bộ với hy vọng số phận sẽ khá hơn. 

 

Còn quân thủy do Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp chỉ huy thì cứ chậm chạp tiến ra biển với những trận tập kích của quân ta, mà chúng phải đánh trả hằng ngày. Trương Ngọc truyện của Nguyên sử 166 tờ 9a3-4 đã mô tả: 

 

“Năm 25 (1288) quân về. An Nam đem quân nghênh chiến, đánh lớn suốt ngày”. Đến ngày mồng 7 Tân Mão, An Nam chí lược 4 tờ 56 cho biết quân thủy của Ô Mã Nhi đã đến Trúc Động. Quân ta tiến đánh thì bị tướng địch Lưu Khuê đánh lui và bắt được của ta 20 chiến thuyền. Trúc Động là một căn cứ lớn của quân ta, nơi trước đó một tháng A Bát Xích và đặc biệt là Ô Mã Nhi đã từng chiến đấu, như Lai A Bát Xích truyện của Nguyên sử 129 tờ 2a9 và Cố thừa sự lang Tượng sơn huyện doãn Lý hầu mộ bi trong Từ khê văn cảo 18 đã ghi. 

 

Có thể vì đã từng chiến đấu ở Trúc Động, nên dù Lưu Khuê đánh lui được quân ta lần này, Ô Mã Nhi vẫn không dám dẫn quân thủy của mình đi vào sông Bạch Đằng qua ngã sông Giá, nơi có căn cứ Trúc Động. Ô Mã Nhi đã chọn tiến xuống sông Bạch Đằng bằng con đường sông Đá Bạc. Sông Bạch Đằng là nơi ta có nhiều cứ điểm chiến đấu. Ngày 19 tháng 2 năm Mậu Tý (1288)ữ, ĐVSKTT 5 tờ 54a3 chép Ô Mã Nhi đã tấn công vào trại Yên Hưng trước khi trở về Vạn Kiếp. Trại Yên Hưng nằm ở tảử ngạn sông Bạch Đằng. Cho nên, đến ngày 8 tháng 3, cũng theo ĐVSKTT 5 tờ 54a4-b4, “quân Nguyên hội tại sông Bạch Đằng để đón thuyền lương của bọn Trương Văn Hổ nhưng mà không gặp. 

 

Hưng Đạo Vương đem quân đánh, giặc bị thua. Trước đó Vương đã trồng cọc ở sông Bạch Đằng phủ cỏ lên trên. 

 

Hôm ấy nhân lúc nước triều lên, Vương cho quân khiêu chiến, rối giả thua chạy về Bắc. Bọn giặc đuổi theo, quân ta cố sức đánh lại. Nước triều rút, thuyền giặc bị vướng cọc. Nguyễn Khoái đem quân Thánh dực dũng nghĩa cùng đánh với giặc, bắt được bình chương Áo Lỗ Xích. Hai vua đem quân tiếp đến, tung quân đánh lớn. Quân Nguyên chết đuối không thể kể xiết, nước sông vì thế đỏ ngầu. Rồi Văn Hổ đến phục binh hai bờ đổ ra đánh. Giặc lại thua. nước triều rút rất nhanh. Thuyền lương của Văn Hổ gác lên trên cọc, nghiêng đắm gần hết. Quân Nguyên chết đuôi rất đông, bắt được hơn 400 thuyền tuần tiễu. Nội minh tự Đỗ Hành bắt được Ô Mã Nhi và Tích Lệ Cơ Vương, dâng lên Thượng hoàng. Thượng hoàng sai dẫn lên thuyền ngự cùng ngồi và nói chuyện vui vẻ uống rựơu”. 

 

Đoạn mô tả về trận Bạch Đằng của ĐVSKTT cơ bản là chính xác, trừ một số tình tiết tỏ ra không đúng. Thí dụ Văn Hổ không có tham gia trận đánh này và việc Ao Lỗ Xích không bị bắt ở sông Bạch Đằng. Ngoài ra, có nhiều chi tiết khác, ĐVSKTT đã không ghi lại, mà sử liệu Trung Quốc đã chép. Chẳng hạn Trương Ngọc truyện của Nguyên sửử 166 tờ 9a3-4 chép việc Trương Ngọc “năm Chí Nguyên 24 (1287) theo tham tri chính sự Ô Mã Nhi đánh Giao Chỉ, nhiều lần đánh có công. Năm 25 (1288) quân về, An Nam đem quân đón đánh. Đánh lớn suốt ngày. Nước cạn, thuyền không đi được, Ngọc chết”. 

 

Còn về vai trò của Phàn Tiếp, An Nam chí lược 4 tờ 56, sau khi kể việc “Ô Mã Nhi không do đường biển trở về, mà do sông Bạch Đằng”, viết tiếp: “Khi gặp địch, Ô Mã Nhi tự mình dẫn quân lương đón đánh. Phàn tham chính chiếm lấy núi cao để tiếp ứng, nước triều rút nhanh, quân hãm”. Phàn Tiếp truyện của Nguyên sử 166 tờ 10b2-3 chép trận đánh càng rõ hơn nữa: “Tiếp cùng Ô Mã Nhi đem quân thủy trở về, bị giặc đón chận. Triều sông Bạch Đằng xuống. 

 

Thuyền Tiếp mắc cạn. Thuyền giặc dồn về nhiều, tên bắn như mưa. Tiếp hết sức đánh từ giờ mão đến giờ Dậu. Tiếp bị súng bắn, rớt xuống nước. Giặc móc lên bắt, dùng thuốc độc giết”.

 

Phàn Tiếp truyện, như vậy, ghi nhận trận đánh xảy ra từ giờ Mão đến giờ Dậu, tức từ sáng tới chiều thì chấm dứt. 

 

Thuyền của Đại Việt tập trung rất đông, “tên bắn như mưa”. Và việc Phàn Tiếp, khi bị thương nhảy xuống nước, quân ta đã dùng câu liêm móc lên, bắt được, rồi sau đó hơn 10 ngày mới giết đi, vì ngày 17 khi vua Trần Nhân Tông hiến tiệp ở Long Hưng, thì Phàn Tiếp còn có mặt cùng với đám Tích Lệ Cơ (Ơirôgi), Ô Mã Nhi, Đường Ngột Đãi, Sầm Đoạn, Mai Thế Anh, Điền nguyên soái.v.v. 

 

Bãi cọc đã treo thuyền cả đám tướng tá giặc vào ngày mồng 8 tháng 3 năm Mậu Tý (1288) ấy, ngày nay chưa xác định được rõ ràng. Tuy nhiên, ta biết việc đóng cọc trên sông Bạch Đằng phải xảy ra trong thời gian chưa đầy 3 tuần kể từ khi Ô Mã Nhi tấn công trại Yên Hưng vào ngày 19 tháng 2 và đến ngày mồng 8 tháng 3 quân Ô Mã Nhi đã có mặt ở sông Bạch Đằng. Trong tình hình chiến tranh thời bấy giờ, việc đưa một đoàn thủy quân địch vào đúng ổ phục kích do ta thiết kế quả là một thành công rực rỡ của khoa học và nghệ thuật chỉ đạo quân sự của bộ chỉ huy tối cao của đất nước lúc ấy, mà đứng đầu là vua Trần Nhân Tông. 

 

Sự có mặt của vua Trần Nhân Tông cùng Thượng hoàng cũng như Trần Hưng Đạo và Nguyễn Khoái chứng tỏ trận đánh này trên hết nếu không do chính vua Trần Nhân Tông chỉ đạo và vạch kế hoạch, thì cũng phải do chính nhà vua phê chuẩn và đồng ý thực hiện. Thực tế, chỉ việc vua Trần Nhân Tông hiện diện tại mặt trận này biểu thị một quyết tâm cao của người lãnh đạo đất nước phải thực hiện cho được chủ trương và kế hoạch đã đề ra, coi đây là một nhiệm vụ xung yếu phải hoàn thành để đạt mục đích của cuộc chiến tranh. Sự kiện tiêu diệt toàn bộ đội thủy quân do Ô Mã Nhi chỉ huy ngày nay thường được nhiều người nghiên cứu gắn vào cho tên tuổi Trần Hưng Đạo, mà quên đi sự hiện diện của vua Trần Nhân Tông tại trận đánh quyết chiến tiêu diệt này. Trong mọi cuộc chiến tranh, lãnh đạo chính trị bao giờ cũng là thống soái. Chỉ có sự lãnh đạo chính trị mới tập hợp hết được mọi lực lượng của dân tộc cho cuộc chiến tranh. Không có cuộc tập hợp này thì dù có tướng tài tới bao nhiêu, dù có kế hoạch tác chiến tốt tới đâu, và dù nhân dân yêu nước và quyết tâm chiến đấu cao tới mức nào đi nữa, thì cuộc chiến tranh vẫn thất bại. 

 

Thoát Hoan tháo chạy 

 

Trước một ngày khi đoàn thủy quân của Ô Mã Nhi bị tiêu diệt toàn bộ trên sông Bạch Đằng, tức ngày Tân Mão mồng 7 tháng 3, theo Bản kỷ của Nguyên sử 15 tờ 2b13, Thoát Hoan đã đem đại quân rút về nước. A Bát Xích lần này lại cũng được chọn làm tướng tiên phong đi mở đường, như truyện của y trong Nguyên sử 129 tờ 2a10-11 đã ghi: 

 

“(A Bát Xích) chọn các quân bộ kỡ, sai đi trước mở đường, vừa đánh vừa đi, ngày mấy chục hiệp. Giặc chiếm các điểm cao hiểm trở, bắn tên độc xuống. Tướng sĩ cột vết thương để đánh. Các quân hộ vệ Hoàng tử ra khỏi nước giặc”. 

 

Thế A Bát Xích mở con đường nào? An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 10a3-6 trả lời: “Trấn Nam Vương đóng ảI Nội Bàng. Quân giặc dồn về nhiều. Vương đánh phá được, sai vạn hộ Trương Quân đem quân tinh nhuệ ba ngàn người chặn hậu, hết sức đánh, mới ra khỏi ải. Điệp báo Nhật Huyên và bọn Thế tử cùng Hưng Đạo Vương chia quân hơn ba nươi vạn giữ ải Nữ Nhi và núi Khâu Cấp, liền hơn trăm dặm, để chặn quân rút về. Trấn Nam Vương bèn do huyện Đơn Kỷ đến Lộc Châu, đi tắt để về đóng châu Tư Minh”.ý 

 

Đây là con đường phía Đông từ Sơn Động đi lên Lộc Bình của Lạng Sơn ngày nay. Còn Tích Đô Nhi thì được cử đi theo con đường phía Tây, tức quốc lộ một hiện tại từ Chi Lăng lên Vĩnh Bình. Tích Đô Nhi truyện trong Nguyên sử 133 tờ 9b10-13 chép: “Trấn Nam Vương dẫn quân về, Tích Đô Nhi làm tiền quaân, đi đến cửa quan Hãm Nê, đánh vài chục hiệp, người Giao rút lui, bèn trở về đón Trấn Nam Vương ở cửa Nữ Nhi. Người Giao hơn bốn vạn chặn đường chính. Bấy giờ, quân ta thiếu ăn, vừa mệt đánh trận. Tướng tá nhìn nhau thất sắc. Tích Đô Nhi đem dũng sĩ hăng hái cầm giáo mác xông đánh. Người Giao rút lui hơn hai mươi dặm, bèn được toàn quân, mà trở về”. 

 

Vậy chỉ 2 ngày sau khi xuất phát, tức ngày Giáp Ngọ mồng 10 tháng 3 khi Thoát Hoan đến cửa Nội Bàng thì bị quân ta tập trung đánh lớn, mà như Bản kỷ của Nguyên sử 15 tờ 3a-4 cho là để chặn đường về của quân Thoát Hoan. 

 

Thoát Hoan bèn đi đường huyện Đơn Kỷ, tắt qua Lộc Châu, để ra khỏi nước ta, như An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 10a3-6 đãviết. An Nam chí lược 4 tờ 56 còn cung cấp cho ta thêm một số chi tiết. Theo đó, khi Thoát Hoan rút khỏi Vạn Kiếp để về cửa Nội Bàng, thì lọt ngay vào một ổ phục kích của ta. Vạn hộ Đáp Lạt Xích (Dara?i ) và Lưu Thế Anh cố sức đánh, bắt được 2 tướng ta là Phạm Trù và Nguyễn Kỡ. Chúng liền chém cho hả giận. 

 

Trận đánh này chắc là trận xóm Hàn, mà Tích Đô Nhi truyện của Nguyên sử 133b8-10 nói tới: 

 

“Tháng tư đánh ở đồn xóm Hàn, bắt được tướng nó là Hoàng Trạch. Trống canh hai đêm đó, người Giao đột xuất đến, có ý cướp doanh trại. Quan quân giữ vững lũy để đợi địch mất kế. Đến sáng đánh trống ra khỏi doanh. Người Giao rút lui. Ta đuổi theo, giết rất nhiều, rồi trở về doanh trại, dựng rào gỗ, tăng cường lính tuần. Người Giao không dám đánh nữa”. 

 

Khi đến Nội Bàng, nghe tin quân ta đào hầm để bẫy ngựa nhằm giữ ải Nữ Nhi, Thoát Hoan đã sai châu mục Tư Minh là Hoàng Kiên đem y bằng đường khác đi tắt đến Lộc Châu, để bảo toàn quân mà trở về. 

 

Qua những ghi chép này của tư liệu Trung Quốc, ta thấy cuộc rút quân của Thoát Hoan quả thật là một cuộc tháo chạy hết sức gian khổ, tìm mọi cách để tránh các cuộc đụng độ với quân ta. Ấn tượng này càng trở nên mạnh mẽ hơn nữa, khi ta đọc chính ngay truyện của những tên tướng đã tham gia cuộc chiến này trong Nguyên sử. Thí dụ nếu ta đọc truyện Lai A Bát Xích của Nguyên sử 129 tờ 2a10-12 dẫn trên, ta thấy quân ta liên tục tấn công quân địch, từ trên núi cao bắn tên độc xuống, bọn địch trúng thương, chúng đã phải “buộc vết thương lại mà đánh”. Tấm gương điển hình là chính A Bát Xích. Hắn bị 3 mũi tên độc bắn vào đầu, cổ và đùi, mà vẫn cố gắng chỉ huy. Khi vết thương sưng lên, A Bát Xích đã đền mạng. 

 

Còn ta đọc truyện của Tích Đô Nhi ở Nguyên sử 133 tờ 9b10-13 thì thấy lúc đó quân Nguyên “đã thiếu ăn, lại mệt vì chiến đấu. tướng tá nhìn nhau thất sắc”. Nhưng vì bị quân ta đuổi quá rát, bọn chúng phải “cố xông lên mà đánh” nhằm thoát khỏi sự vây bọc và tiêu diệt của quân ta. Hình ảnh những tên tướng tá và binh sĩ mỏi mệt thiếu ăn, cố gắng bằng mọi cách chạy về bên kia biên giới, thật là tương phản với sự hung hăng, tàn ác, khi chúng mới chiếm được nước ta. 

 

Trong trận tháo chạy này, đám quân Vân Nam do Ái Lỗ chỉ huy dường như cũng sát nhập vớửi đạo quân của Thoát Hoan chạy về Tư Minh. Lý do nằm ở chỗ khi về tới Tư Minh vào ngày Kỷ Hợi 15 tháng 3 năm Mậu Tý (1288), Thoát Hoan đã sai Ái Lỗ dẫn quân mình trở về Vân Nam, còn Ao Lỗ Xích thì đem đại quân về Bắc, như Bản kỷ và An Nam truyện của Nguyên sử 15 tờ 3a8 và 209 tờ 10a6 đã ghi. 

 

Về phía sử ta, ĐVSKTT 5 tờ 54b4-5 chép: “Thoát Hoan và A Thai đem quân trốn về Tư Minh, thổ quan Hoàng Nghệ bắt được đem dâng”. Rõ ràng Thoát Hoan không thể bị quân ta bắt trong lần tháo chạy này, vì sau đó tại Trung Quốc, tên tuổi Thoát Hoan vẫn còn được ghi chép trong các sử liệu Trung Quốc, như vừa thấy. Còn A Thai, có khả năng đã bị quân ta bắt vì sau đó không thấy tên tuổi của viên thân vương này xuất hiện ở đâu nữa. 

 

Khải hoàn về Thăng Long 

 

Quân địch một lần nữa bị quét sạch ra khỏi bờ cõi. Nỗi kinh hoàng của chúng mấy năm sau tên phó sứ Trần Phu vẫn còn cảm thấy trong bài thơ Sứ hoàn cảm sử của Trần Cương Trung thi tập, đặc biệt là hai câu: 

 

Kim khoa ảnh lý đan tâm khổ 

Đồng cổ thanh trung bạch phát sinh

(Giáo sắt sáng ngời lòng thắm khổ

Trống đồng vang dội bạc đầu phơ)

 

Ngày 17 tháng 3 năm Mậu Tý (1288), vua Trần Nhân Tông và Thượng hoàng đã về phủ Long Hưng, đem theo bọn tướng tá giặc đã bắt được như Tích Lệ Cơ, Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Đường Ngột Đãi, Mai Thế Anh, Sầm Đoạn, A Thai, Điền nguyên soái v.v.. để hiến tiệp trước bàn thờ của vua Trần Thái Tông, người anh hùng của cuộc chiến tranh vệ quốc năm 1258. Đứng trước tòa lăng của người ông anh hùng, mà quân giặc đã đào bới, đến nỗi mấy con ngựa đá phải lấm bùn, vị Hoàng đế anh hùng, nhà quân sự thiên tài Trần Nhân Tông không ngăn nổi xúc cảm đã thốt lên hai câu thơ, mãi mãi thể hiện tấm lòng nhân hậu ngay cả với vật vô tri như ngựa đá của một con người vừa ra khỏi khói lửa của chiến tranh, cũng niềm tin mãnh liệt vào sự trường tồn vĩnh viễn của dân tộc:

 

Xã tắc đôi phen chồn ngựa đá

Non sông nghìn thuở vững âu vàng

 

Ngày 27 tháng 3 năm Mậu Tý (1288), vua Trần Nhân Tông cùng Thượng hoàng đã trở về kinh đô Thăng Long trong tiếng hoan hô reo mừng vang dậy của một thủ đô vừa chiến thắng kẻ thù. Sự nghiệp xây dựng hòa bình đang chờ đợi sự chỉ đạo của vị vua anh hùng này.

 

_____________________

 

TRẦN NHÂN TÔNG - CON NGƯỜI VÀ TÁC PHẨM

Tiến sĩ Lê Mạnh Thát

Nhà Xuất Bản TP. Hồ Chí Minh 1999

Nguồn: thuvienhoasen.org

ẢNH HƯỞNG PHẬT GIÁO TRÊN NHÂN QUYỀN TOÀN VẸN CON NGƯỜI DƯỚI THỜI LÝ - TRẦN


Trước đây nhiều học giả Tây phương nghĩ rằng nhân quyền được quy định trong Hiến Pháp của các quốc gia và luật quốc tế của Liên Hiệp Quốc từ sau Thế Chiến II đều bắt nguồn từ truyền thống Âu Mỹ với luật Dân Quyền Anh Quốc năm 1689, Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền Pháp Quốc và luật Dân Quyền Hoa Kỳ năm 1791. Nhưng năm 1980 hai học giả Nguyễn Ngọc Huy và Tạ Văn Tài tại Đại Hội Luật Khoa Harvard đã chứng minh trong bộ sách ba tập The Le Code Law in Traditional Vietnam (Bộ luật Hồng Đức luật tại nước Việt Nam cổ truyền, Ohio: Ohio University Press, 1987) là nước Việt Nam cổ đã có truyền thống nhân quyền.

Năm 1988 riêng học giả Tạ Văn Tài trong sách The Vietnamese Tradition of Human Rights (Truyền thống nhân quyền Việt Nam) (Berkeley, California: Institute of East Asia Studies, University of California Berkeley, 1988) đã chứng minh rằng: “Tổ tiên người Việt chúng ta đã tiến gần những tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế ngày nay” (trg 44), và truyền thống ấy đã có từ thời Lý – Trần. Khám phá mới mẻ này đã thu hút sự chú ý và lòng khâm phục nước Việt Nam cổ của học giới Tây phươngHọc giả Oliver Oldman, Giáo sư Luật học kiêm Giám đốc Trung tâm Nghiên Cứu Luật Pháp Đông Á của Đại Học Luật Khoa Harvard, trong Lời Nói Đầu sách The Le Code nêu trên đã nhìn nhận Việt Nam cổ tiến trước Âu Châu bốn thế kỷ trong việc lập nhà nước hiện đại. Ông viết: “Trong khi tại Âu Châu vào cuối thế kỷ 15, Ferdinand và Isabelle của Tây Ban Nha, Henry VII và Charles VIII của Pháp chỉ mới sắp sửa hoàn thành việc cải cách nhà nước Trung Cổ của họ thành nhà nước hiện đại (Triều đại Hapsburgs của Đức vẫn chưa có thể thống nhất xong chánh trị và lãnh thổ), thì người Việt Nam đã đạt đến giai đoạn phát triển thành một nhà nước hiện đại dưới hai đời Lý (1010 – 1225) và Trần (1225 – 1400) và về sau này đã củng cố vững vàng hơn nữa nhà nước hiện đại và hệ thống luật pháp khá hiện đại dưới đời Lê (1428 – 1788)” (trg VIII).

Hơn nữa, Oliver Oldman còn nhiệt liệt ca ngợi truyền thống nhân quyền Việt Nam khi viết trong Lời Nói Đầu sách The Vietnamese Tradition of Human Rights rằng sách này sẽ không những hấp dẫn giới luật gia, học giả và những nhà hoạt động nhân quyền, mà còn là biểu tượng tự hào của dân Việt, đặc biệt là trên một triệu người Việt sống ở hải ngoại (trg XI).

Tiếp nối những khám phá mới mẻ về truyền thống nhân quyền Việt Nam, bài này phân tích đại cương ảnh hưởng của Phật giáo trên Nhân Quyền Toàn Vẹn Con Người dưới thời Lý – Trần. Vì các sách hai đời Lý – Trần đã bị giặc Minh sang nước ta thế kỷ 15 vơ vét sạch đem về Trung Quốc nên ngày nay ta chỉ biết được rất sơ sài luật lệ nhân quyền thời đại vàng son này của dân tộc Việt Nam qua bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, sách Đại Việt Thông Sử cùng những sách khác của Lê Quý Đôn và sách An Nam Chí Lược của Lê Tắc. Nhân quyền toàn vẹn con người (the right to the integrity of the person) được điều 3 Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền quy định: “Mọi người đều có quyền sống, tự dovà an toàn thân thể”. Quyền này là một loại nhân quyền căn bản nhất và quan trọng nhất trong bốn loại nhân quyền theo tiêu chuẩn quốc tế của Liên Hiệp Quốc: quyền toàn vẹncon người, quyền bình đẳng trước pháp luật, các quyền dân sự và chánh trị và các quyền kinh tế, xã hội và văn hóaSở dĩ quyền này là căn bản nhất và quan trọng nhất bởi vì không được hưởng nhân quyền này thì ba loại nhân quyền kế tiếp sẽ trở nên hoàn toàn bấp bênh và lý thuyết suông. Nói cách khác, khi con người không được toàn vẹn và thân thể đã không thể an toàn thì không có cách nào để hưởng các quyền khác được. Ta có đủ những lý do vững chắc để quả quyết rằng giáo lý hiếu sinh, từ bi và cứu khổ của Đạo Phật đã có ảnh hưởng quyết định trên việc hình thành và thực thi chính sách nhân quyền nói chung và nhân quyền toàn vẹn con người nói riêng dưới thời Lý – Trần (Đoạn I). Những lời nói đi đôi với việc làm giàu lòng từ bi và đức hiếu sinh của các vị vua thời Lý – Trần là bằng chứng hùng hồn của việc tôn trọng nhân quyền toàn vẹn con người (Đoạn II).

ĐOẠN I: LÝ DO PHẬT GIÁO CÓ ẢNH HƯỞNG QUYẾT ĐỊNH TRÊN NHÂN QUYỀNTOÀN VẸN CON NGƯỜI

Ta có thể quả quyết rằng giáo lý hiếu sinh, từ bi và cứu khổ của Đạo Phật đã có ảnh hưởng quyết định trên nhân quyền toàn vẹn con người dưới thời Lý – Trần vì hai lý do chính: Mối liên hệ khăng khít giữa nhà vua và Phật giáo & Sự chỉ trích của sử thần thuộc ý thức hệ Nho giáo cho rằng chính sách hình sự khoan hồng quá đáng của nhà vua là do tin sùng Phật giáo.

Mối Liên Hệ Khăng Khít Giữa Nhà Vua Và Phật Giáo

Mối liên hệ khăng khít giữa nhà vua và Phật giáo khiến Phật giáo có ảnh hưởng quyết định trên nhân quyền toàn vẹn con người. Mối liên hệ này thể hiện ở cả hai phía: nhà vua và danh tăng.

Về phía nhà vua, tất cả các vị vua hai đời Lý – Trần đều thấm nhuần giáo lý Đức Phật, rất sùng Đạo Phật, chọn Phật giáo làm ý thức hệ chính thống và tin tưởng rằng làm theo lời Phật dậy thì ngôi vua sẽ được bền vững. Dưới đời Lý, người sáng lập triều Lý là Lý Công Uẩn vốn là con nuôi của sư Lý Khánh Vân ở chùa Cổ Pháp. Khi vua Ngọa Triều Lê Long Đĩnh mất, ông đã được Quốc Sư Vạn Hạnh cùng với đình thần Đào Cam Mộc mưu tôn lên làm vua, lấy hiệu là Lý Thái Tổ. Vua rất sùng Đạo Phậttrọng đãi chư tăng, lấy tiền kho ra làm chùa, đúc chuông và năm 1018 cử người sang Trung Quốc thỉnh kinh Tam Tạng. Các vị vua về sau như Lý Thánh Tông, Anh Tông, Cao Tông và Huệ Tông đều trở thành Thiền Sư sau khi thoái vị.

Dưới đời Trần, hầu hết các vị vua như Trần Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông, Anh Tông và Minh Tông đều là Phật tử thuần thành, rất thích đàm đạo với danh tăng, vào chùa tu hành sau khi nhường ngôi cho con và trở thành Thái Thượng Hoàng. Định chế Thái Thượng Hoàng càng làm ảnh hưởng Phật giáo bao trùm khắp nơi, từ triều dình có vua bảo trợ Phật giáo tới nhân dân có Thái Thượng Hoàng, với tư cách Thiền Sư, đã gần gũi nhân dân để hoằng dương Phật pháp. Năm 1304, Thái Thượng Hoàng Nhân Tông, từ núi Yên Tử về kinh với tư cách Thiền Tổ Trúc Lâm, đã được vua và triều đình nghênh đón long trọng, và cả triều đình đều một lòng theo Đạo Phật (1).

Về phía danh tăng, ảnh hưởng chính trị bao trùm cả các danh tăng đối với nhà vua càng khiến Phật giáo tạo được ảnh hưởng có tính cách quyết định trên nhân quyền toàn vẹncon người dưới hai đời Lý – Trần. Dưới đời Lý, mặc dầu Phật giáo bị một số Nho thần kích bác, những danh tăng vẫn duy trì được ảnh hưởng bao trùm theo hai cách:

Thứ nhất, nhiều nhà sư là con hay cháu của vua, hoàng hậu hay quan đại thần, và do đó, đã gây ảnh hưởng gián tiếp đối với vua hay quan. Chẳng hạn như Thiền sư Mãn Giác là con trai đại thần Lý Hồng Tô, Ni sư Diệu Chân là con nuôi Vua Lý Thánh Tông, Thiền sư Viên Chiếu là cháu Hoàng Hậu Linh Nhân.

Thứ hai, các bậc danh tăng luôn luôn được Vua và Hoàng Thái Hậu tôn kính, mời trụ trì các chùa ở kinh đô do nhà vua xây xất. Hơn nữa, nhà vua thường mời danh tăng vào cung giảng Phật pháp. Vua Lý Thái Tổ thường cung thỉnh các thiền sư vào cung đàm đạo. Vua Lý Nhân Tông và Hoàng Thái Hậu Linh Nhân cũng làm như vậy. Nhiều danh tăng như Thông BiệnMãn Giác, Châu Không, Giác Hải và Không Lộ đã được Vua Lý Nhân Tông và các vị vua kế vị rất quý trọng.

Dưới đời Trần, ảnh hưởng bao trùm của Phật giáo đã được đại thần Lê Quát dưới triều Nghệ Tông (1370 – 1372) ghi lại trong bài văn bia chùa Thiện Phúc như sau: “Thuyết họa phúc của nhà Phật tác động tới con người sao mà được người ta tin theo sâu sắc và bền vững như thế? Trên từ Vương Công, dưới đến dân thường, hễ bố thí vào việc nhà Phật thì dẫu hết tiền của cũng không sẻn tiếc. Nếu ngày nay gửi gắm vào tháp chùa thì mừng rỡ như nắm được khoán ước để lấy quả báo ngày sau. Cho nên trong từ kinh thành, ngoài đến châu phủ, cho tới thôn cùng, ngõ hẻm, không mệnh lệnh mà người ta vẫn theo, không thề thốt mà người ta vẫn tin. Chỗ nào có người ở, tất có chùa Phật, bỏ rồi lại xây, hỏng rồi lại sửa, chuông trống lâu đài chiếm đến nửa phần so với dân cư. Đạo Phật hưng thịnh rất dễ mà được rất mực tôn sùng. Ta, thuở trẻ đọc sách, để tâm khảo xét xưa nay, cũng hiểu sơ đạo của Thánh nhân (Nho giáo) để giáo hóa dân chúng, mà vẫn chưa được một hương tuân theo. Ta thường dạo xem sông núi, vết chân khắp thiên hạ đi tìm những “học cung”, “Văn Miếu”, mà chưa hề thấy một ngôi nào! Đó là điều khiến ta vô cùng hổ thẹn với bọn tín đồ nhà Phật. Bèn viết ra đây để tỏ lòng ta”(2).

Sự Chỉ Trích Của Sử Thần Thuộc Ý Thức Hệ Nho Giáo

Tất cả các sử thần thuộc ý thức hệ Nho giáo đều nhất loạt chỉ trích chính sách hình sựkhoan hồng của các vị vua hai đời Lý – Trần là do quá tin sùng đạo Phật. Sử thần Ngô Sĩ Liên đã phê bình Vua Lý Nhân Tông năm 1096 tha tội chết cho đại thần Lê Văn Thịnh làm phản và chỉ đem an trí ở Thao Giang: “Kẻ làm tôi (phạm tội toan) giết vua cướp ngôi mà được miễn tội chết, thế là sai trong việc hình, lỗi ở vua tin sùng đạo Phật” (3).

Sử thần Lê Văn Hưu chỉ trích Vua Lý Thái Tông đã tha tội chết cho tên phản nghịch Nùng Trí Cao lại còn ban cho y đô ấn và phong làm Thái Bảo chỉ vì say đắm lòng nhân của đạo Phật mà ông cho là nhỏ nhặt: “Năm trước, Nùng Tồn Phúc phản nghịch, tiếm hiệu, lập nước, đặt quan thuộc, Thái Tông đã trị tội Phúc mà tha cho con là Trí Cao. Nay Trí Cao lại theo việc trái phép của cha thì tội lớn lắm, giết đi là phải, nếu lấy lại ấp phong, giáng làm thứ dân cũng phải. Thái Tông đã tha tội, lại cho thêm mấy châu quận nữa, ban choấn tín, phong làm Thái Bảo, như thế là thưởng phạt không có phép tắc gì. Đến khi Trí Cao gây tai họa ở Quảng Nguyên, lại đem quân đi đánh, mượn cớ là viện trợ láng giềng, có khác gì thả cọp beo cho cắn người, rồi từ từ đến cứu không? Đó là vì Thái Tông say đắm cái lòng nhân nhỏ nhặt của đạo Phật mà quên mất cái nghĩa lớn của người làm vua” (4). Sử thần Ngô Sĩ Liên cũng phê bình tương tự: “Vua mê hoặc bởi thuyết từ ái của Phật mà tha tội cho bề tôi phản nghịch thì lòng nhân ấy thành ra nhu nhược, đó là chỗ kém”(5).

Ngô Sĩ Liên còn chỉ trích Vua Lý Thần Tông và Lý Nhân Tông tha cho người có tội là trái với phép trị nước của Nho giáo: “Nhân Tông thường nhân việc mở hội (Phật) mà tha chongười có tội là không phải lẽ, nhưng mà còn mượn tiếng hội Phật. Còn như Vua (Thần Tông) thì không có việc gì mà cũng tha bổng “Phàm người có tội phạm pháp, có kẻ nặng người nhẹ, năm bậc hình phạt có trên có dưới, sao lại có thể tha bổng được? Nếu nhất loạt tha cả thì kẻ tiểu nhân may mà được khỏi tội, đó không phải là phúc cho người quân tử. Cho nên thời xưa nói về đạo trị nước tuy nói rằng không thể không xá tội, nhưng cũng cho rằng xá tội là có hại. Tha lỗi thì được, tha tội thì không được. Kinh Dịch nói: “Tha lỗi giảm tội”. Kinh Thư nói: “Lầm lỗi thì tha cho, cố phạm thì trị tội”. Thế là phải” (6).

ĐOẠN II: BẰNG CHỨNG CỤ THỂ CỦA VIỆC TÔN TRỌNG NHÂN QUYỀN TOÀN VẸN CON NGƯỜI

Quyền toàn vẹn con người theo tiêu chuẩn quốc tế của Liên Hiệp Quốc gồm có quyền sống, tự do và an toàn thân thể. Quyền này đã được các vua hai đời Lý – Trần tôn trọng và đảm bảo bằng lời nói đi đôi với việc làm.

Quyền Sống

Quyền sống được quy định bởi điều 6 Công Ước Quốc Tế về những quyền Dân Sự và Chánh Trị. Đoạn 1 của điều này tuyên bố: “Mọi người đều có quyền sống. Đây là một quyền bẩm sinh được luật pháp bảo vệ. Không ai có thể bị tước đoạt quyền sống một cách độc đoán”. Thấm nhuần lời dậy Giới Sát của Đức Phật, các vị vua hai đời Lý – Trần đã có những lời nói và hành động sau đây để đảm bảo cho người dân không bị tước đoạt quyền sống một cách độc đoán.

Thứ nhất, thủ tục kêu oan và thủ tục phúc thẩm. Năm 1029, Vua Lý Thái Tông cho đặt ở hai bên tả hữu điện Long Trì lầu chuông đối nhau để dân chúng ai có việc kiện tụng oan uổng thì đánh chuông lên (7). Thêm một lần nữa, năm 1052, nhà vua ra lệnh “đúc chuông lớn để ở Long Trì, cho dân chúng oan ức gì không bầy tỏ được thì đánh chuông ấy để tâu lên” (8).

Dưới đời Trần, ngoài Ngự Sử Đài (Censorate) và Hình Bộ (Board of Punishments) còn có Thẩm Hình Viện (Criminal Review Agency) để tái thẩm và cho ý kiến về những hình phạt do pháp quan cấp dưới quyết định. Định chế tái thẩm này có lẽ còn hay hơn quyền kháng cáo do đoạn 5 điều 14 Công Ước Quốc Tế về các quyền Dân Sự và Chánh Trị năm 1966 của Liên Hiệp Quốc dự liệu “các bị cáo bị tuyên phạt có quyền kháng cáo lên tòa trên theo thủ tục luật định”, vì nhà nước tự động tái thẩm, không cần bị can kháng cáo.

Thứ hai, quan trọng hơn nữa, thấm nhuần lời dậy Giới Sát của Đức Phật, các vua hai đời Lý – Trần đã giảm những tội có thể bị tử hình và thậm chí có thể cho chuộc tội tử hình. Việc làm này phù hợp với đoạn 2 và đoạn 6 của điều 6 Công Ước Quốc Tế năm 1966 nêu trên bầy tỏ thiện ý bãi bỏ án tử hình của các quốc gia kết ước. Năm 1125 Vua Lý Nhân Tông xuống chiếu: “Phàm đánh chết người thì xử 100 trượng, thích vào mặt làm khao giáp (đầy đi phục vụ trong quân đội)” (9). Năm 1142, vua Lý Anh Tông xuống chiếu: “Nếu tranh nhau ruộng ao mà lấy đồ binh khí nhọn sắc đánh chết người hay làm bị thương người thì đánh 80 trượng, xử tội đồ, đem ruộng ao trả cho người chết hay bị thương “ (10).

Những triều vua sau xử tử hình kẻ trốn khỏi nước theo ngoại bang, nhưng năm 1125, Mạc Hiền, quan cai trị huyện Quảng Nguyên, đã chạy trốn sang Tầu theo nhà Tống, rồi bị trao trả về nước, thế mà y chỉ bị tội lưu: đầy đi Nghệ An, rồi Thanh Hóa, và vợ con y chỉ bị cải thành nô tỳ.

Tội phản nghịch theo luật cổ truyền của cả Đại Việt lẫn Trung Quốc đều bị chém đầu, nhưng dưới đời Lý, trừ trường hợp tướng Nguyễn Khánh và nhà sư họ Hồ bị xử lăng trì năm 1035, nhiều trường hợp tội phản nghịch đã được tha tội chết. Chẳng hạn như năm 1028, khi Vua Lý Thái Tổ băng hà, ba hoàng tử đem quân vào cung vua để tranh ngôi với Lý Thánh Tông, người kế vị chính thống; một người chết còn hai người kia chạy trốn rồi trở về đầu hàng. Vị vua mới đã tha tội chết và phục hồi chức tước cho họ. Sau đó một hoàng tử khác nổi loạn ở Trường Yên, sau khi đầu hàng y cũng được tha tội chết và được phục hồi chức tước. Ngoài ra, như đã nêu ở đoạn I, Lê Văn Thịnh và Nùng Trí Cao phạm tội phản nghịch đều dược tha tội chết.

Dưới đời Trần, tuy hình phạt có nghiêm khắc hơn đời Lý, nhưng có trường hợp cho chuộc án tử hình. Về mặt nghiêm khắc, “phép nhà Trần đặt ra là hễ những người phạm tội trộm cắp đều phải chặt tay, chặt chân, hay là cho voi giầy” (11). Vua Trần Phế Đế (1377 – 1388) xuống chiếu: “Kẻ làm tiền giả bị tội chết, ruộng đất và tài sản bị tịch thu” (12).

Tuy nhiên, trong thực tế, hình phạt tử hình có thể được chuộc. Năm 1283, Vua Trần Nhân Tông lên án tử hình tên Mãnh, một nô tỳ của hoàng tử Trần Lão, vì y đã dùng thư nặc danh để phỉ báng nhà nước, nhưng rồi nhà vua đã cho phép hoàng tử chủ nô chuộc tử tội bằng 1000 quan tiền và phạt y tội đồ (13).

Khoan hồng hơn nữa, năm 1289, Vua Trần Nhân Tông đã tha tội chết cho quân lính và thường dân đã đầu hàng giặc Nguyên, và chỉ bắt họ chở gỗ, đá xây cung điện để chuộc tội (14).

Quyền Được Bảo Đảm An Toàn Thân Thể Trong Suốt Tiến Trình Xét Xử

Những sự kiện lịch sử giúp khám phá ra là các vua đời Lý – Trần đã đảm bảo cho người dân sáu quyền bao gồm trong quyền này theo tiêu chuẩn quốc tế nhân quyền của Liên Hiệp Quốc.

Quyền thứ nhất là bị cáo được phỏng đoán là vô tội cho tới khi họ bị kết án, và do đó, phải được giam giữ riêng biệt với các bị can khác đã bị kết án. Quyền này, người ta suy đoán đã được Vua Lý Thánh Tông đảm bảo khi nói với các đình thần vào mùa đông năm 1053: “Trẫm ở trong cung sưởi than xương thú, mặc áo lông chồn còn rét thế này, nghĩ đến người tù bị giam trong ngục khổ sở về gông cùm, chưa rõ ngay gian, ăn không no bụng, mặc không kín thân, khốn khổ vì gió rét, hoặc có kẻ chết không đáng tội, Trẫm rất thương xót. Vậy lệnh cho Hữu Ty phát chăn chiếu, cấp cơm ăn ngày hai bữa” (15).

Luật Sư Tạ Văn Tàitác giả những sách đã dẫn, nhận định về lệnh này: “Hình như nhà vua coi những người bị giam là vô tội cho tới khi có bằng chứng ngược lại và đáng được đối xử nhân đạo. Lề lối tư duy pháp lý này có thể được so sánh với nguyên tắc của luật nhân quyền hiện đại về sự phỏng đoán vô tội cho tới khi bị kết tội trong một phiên tòa xét xử. Đây là viên ngọc quý trong lịch sử nhân quyền tại Việt Nam “ (16).

Thật vậy, lệnh của nhà vua đã tiến gần tới điều 11 đoạn 1 Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền quy định: “Bị cáo về một tội hình sự được suy đoán là vô tội cho đến khi có đủ bằng chứng phạm pháp”.

Quyền thứ hai là quyền không bị xét xử hai lần về cùng một tội phạm. Quyền này đã được Vua Lý Thần Tông tôn trọng xuống chiếu: “Những vụ kiện tụng đã phán xử dưới các Triều Tổ (Lý Thái Tổ), Tông (Lý Thánh Tông và Lý Nhân Tông) rồi, không được đem tâu bàn lên nữa, làm trái thì bị tội”(17). Lệnh này phù hợp với điều 14 đoạn 7 Công Ước Quốc Tế về các quyền Dân Sự và Chánh Trị: “Không ai có thể bị tái thẩm hay bị tuyên phạt một lần nữa về một tội trạng đã được tòa án phán xử chung thẩm bằng cách tuyên phạt hay tha bổng, chiếu theo luật pháp và thủ tục hình sự hiện hành”. Tiêu chuẩn nhân quyền này là hệ quả hợp lý của nguyên tắc Uy lực quyết tụng của việc đã xử (Res judicata pro veritate habitur) và đã được nhà vua áp dụng trước Liên Hiệp Quốc non 100 năm.

Quyền thứ ba là quyền không bị đối xử hay trừng phạt vô nhân đạo. Câu nói và quyết định của Vua Lý Thánh Tông vào mùa đông năm 1055 nêu trên thể hiện sự tôn trọngquyền này và phù hợp với điều 5 Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và điều 7 Công Ước Quốc Tế về các quyền Dân Sự và Chánh Trị: “Không ai có thể bị tra tấn, hoặc phải chịu những hình phạt hay bị đối xử tàn ác, vô nhân đạo, làm hạ thấp nhân phẩm”. Cũng chính Vua Lý Thánh Tông lại một lần nữa, năm 1064, đã tuyên bố nhất loạt giảm nhẹ hình phạt trong bối cảnh sau đây mà Ngài thương dân như con đẻ của Ngài: “Mùa hạ tháng tư, Vua ngồi ở điện Diên Khánh xử kiện. Khi ấy Công Chúa Động Thiên đứng hầu bên cạnh, Vua chỉ vào Công Chúa bảo ngục lại rằng: Ta yêu con ta cũng như lòng ta làm cha mẹdân. Dân không hiểu biết mà mắc vào hình pháp, Trẫm rất thương xót. Từ nay về sau, không cứ gì tội nặng nhẹ đều nhất loạt khoan giảm” (18).

Việc đối xử khoan hồng và nhân đạo với tội nhân còn thể hiện bằng việc ân xá trong những dịp lễ Phật giáo như lễ Vu Lan, lễ Trung Nguyên, dịp xây chùa, tạc tượng Phật, sinh hoàng tử Đời Lý ân xá 14 lần và đời Trần 17 lần. Để bảo vệ hơn nữa sự toàn vẹncủa cả con người, năm 1162, Vua Lý Anh Tông còn trừng trị cả những người tự hủy hoại một phần thân thể của mình dưới hình thức triệt sản. Nhà vua xuống chiếu: “Kẻ nào tự hoạn thì xử 80 trượng, thích 23 chữ vào cánh tay bên trái” (19). Việc đối xử khoan hồng và nhân đạo phát xuất từ lòng từ bi của đạo Phật. Theo Thẩm phán Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ Brennan, “lòng từ bi là bộ mặt khác của công lý” (compassion is another face of justice) (20).

Quyền thứ tư là người có tội chỉ bị trừng phạt về một tội được luật định trước hình phạt rõ ràng (nulla poena sine lege). Nhằm tôn trọng quyền này, năm 1042, Vua Lý Thánh Tông đã ban hành bộ luật Hình Thư (Sách quy định hình phạt): “Trước kia việc kiện tụng trong nước phiền nhiễu, quan lại giữ luật pháp câu nệ luật văn, cốt làm cho khắc nghiệt, thậm chí có người bị oan uổng quá đáng. Vua (Lý Thánh Tông ) lấy làm thương xót, sai Trung Thư san định luật lệnh, châm chước cho thích dụng với thời thế, chia môn loại, biên thành điều khoản, làm sách Hình Thư của một triều đại, để cho người xem dễ hiểu. Sách làm xong, xuống chiếu ban hành, dân lấy làm tiện. Đến đây phép xử án được bằng thẳng, rõ ràng, cho nên mới đổi niên hiệu là Minh Đạo và đúc tiền Minh Đạo” (21).

Phép xử án được bằng thẳng, rõ ràng do việc ban hành bộ Hình Thư là phù hợp với điều 11 đoạn 2 Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và điều 15 đoạn 1 Công Ước Quốc Tế về các quyền Dân Sự và Chánh Trị. Điều 11 đoạn 2 ấn định: “Không ai có thể bị kết án về một tội hình sự do những điều mình đã làm hay không làm, nếu những điều ấy không cấu thành tội hình sự chiếu theo luật pháp quốc gia hay luật pháp quốc tế hiện hành; mà cũng không bị tuyên phạt một hình phạt nặng hơn hình phạt được áp dụng trong thời gian phạm pháp”.

Quyền thứ năm là quyền bình đẳng trrước pháp luật. Những lệnh của các vị vua và những sự kiện lịch sử hai đời Lý – Trần cho thấy nguyên tắc bình đẳng do các điều 1 và 7 Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, các điều 14 đoạn 1 và 26 Công Ước Quốc Tế về các quyền Dân Sự và Chánh Trị đã được tôn trọng ở một mức độ nhất định nào đó. Trong bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền điều 1 tuyên bố: “Mọi người sinh ra tự do về phẩm cách và quyền lợi”. Điều này tương đương với lời Phật dậy: “Mọi chúng sinh đều có Phật tính và có thể trở thành Phật”. Lời Phật dạy còn phù hợp với điều 7 của bản Tuyên Ngôn: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và được luật pháp bảo vệ bình đẳng, không kỳ thị”. Trong Công Ước Quốc Tế về các quyền Dân Sự và Chánh Trị điều 14 đoạn 1 tuyên bố: “Mọi người đều bình đẳng trước tòa án”. Điều 16 chi tiết hóa điều 1 và điều 7 của bản Tuyên NgônThể hiện sự bình đẳng trước pháp luật, năm 1122, Vua Lý Nhân Tông xuống chiếu:

“Những trộm cướp trốn tránh đã bắt được mà lại bị nhà thế gia chiếm đoạt thì nhà thế gia ấy cùng tội với người trốn. Kẻ lại đi bắt trộm cướp, bắt được rồi lại giữ ở nhà mình, không dẫn lên quan thì phạt đánh 80 trượng” (22). Năm 1129, Vua Lý Thần Tông xuống chiếu: “Nô tỳ các vương hầu và các quan không được cậy thế đánh đập quan quân và bách tính, kẻ nào phạm thì gia chủ phải tội đồ, nô sung làm quan nô” (23).

Dưới đời Trần, nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật càng được áp dụng một các tích cực hơn qua những sự kiện lịch sử sau đây. Linh Từ Quốc Mẫu, vợ của Thượng Phụ Thái Sư Trần Thủ Độ ngồi kiệu đi qua thềm cấm đã bị quân hiệu ngăn lại. Trở về dinh, bà khóc và bảo Thủ Độ: “Mụ này làm vợ ông mà bị quân hiệu khinh nhờn đến thế”. Thủ Độ tức giận sai đi bắt. Người quân hiệu ấy nghĩ rằng chắc là phải chết. Khi đến nơi, Thủ Độ vặn hỏi trước mặt, người quân hiệu ấy cứ sự thực trả lời. Thủ Độ nói: Ngươi ở chức thấp mà giữ được luật pháp, ta còn trách gì nữa. Lấy vàng bạc thưởng rồi cho về (24).

Một lần khác, Thủ Độ đã chặt ngón chân của một người đã vận động với quốc mẫu xin cho được làm câu đương (chức dịch trong xã phụ trách việc bắt người và giải tống): Thủ Độ có lần duyệt định sổ hộ khẩu, quốc mẫu xin riêng cho một người làm câu đương. Thủ Độ gật đầu, rồi ghi lại họ tên quê quán của người đó. Khi xét duyệt đến xã ấy, hỏi tên mỗ ở đâu, người ấy mừng rỡ chạy đến. Thủ Độ bảo hắn: Người vì có Công Chúa xin cho được làm câu đương, không thể như những câu đương khác được, phải chặt một ngón chân để phân biệt với người khác (25).

Quyền thứ sáu và sau chót bao gồm trong quyền an toàn thân thể trong suốt tiến trình xét xử được tìm thấy trong những sự kiện lịch sử hai đời Lý – Trần là quyền được xét xửcông bằng và nhanh chóng. Tiêu chuẩn quốc tế nhân quyền này được ấn định nơi điều 10 và điều 14 đoạn 3 (c) Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền. Điều 10 tuyên bố: “Ai cũng có quyền trên căn bản bình đẳng, được một tòa án độc lập và vô tư xét xử một cách công bằng để phán xử về những quyền lợi và nghĩa vụ của mình, hay về những tội trạng hình sự mà mình bị cáo buộc”. Dưới hai đời Lý – Trần, định chế hình quan (trial judge) chuyên trách việc xử án và ngục quan (prosecutor) giữ nhiệm vụ công tố, có thể coi là gần gũi với tiêu chuẩn tòa án độc lập và vô tư xét xử. Hơn nữa, dưới đời Trần, một cơ chế tư pháp gồm Ngự Sử Đài (Censorate), Hình Bộ (Board of Punishments) và Thẩm Hình Viện (Criminal Review Agency) càng bảo đảm tính độc lập vô tư và công bằng của tòa án.

Độc đáo hơn nữa, khái niệm xét xử công bằng của Vua Trần Minh Tông (1315 – 1329) là phải xét cả tình lẫn lý, tức là phải điều trathẩm vấn kỹ càng để tìm ra những sự kiện thật chính xác (tình tiết vụ kiện) và cân nhắc thật kỹ càng trước khi áp dụng các điều khoản luật pháp vào nội vụ (lý) ngõ hầu đạt được cả công lý lẫn chân lý. Nhà vua đã trình bầy khái niệm như vậy của mình trong một sự việc sau đây: Quan nô là Hoàng Hộc và Thiên Kiện dùng mưu xảo trá đánh lừa hình quan, người trong hương rốt cuộc phải chịu tội vu cáo. Thượng Hoàng biết chuyện bảo hình quan rằng: Tên Hộc gian ngoan xảo quyệt đến thế mà ngục quan không biết suy xét tình lý. Tình ngay lý gian thì không được lấy lý bỏ tình. Phải suy xét cả tình và lý, tình lý không xung đột mới là giỏi xử án. Nếu biết tình không gian thì theo lý mà làm là phải, nếu tình quả là gian rồi thì lại phải suy xét xem lý ngay cong, như vậy điều gian dối sẽ tự khắc hiện ra, càng không nên tách rời tình lý làm hai mà xét (26).

Theo tiêu chuẩn quốc tế nhân quyền của Liên Hiệp Quốc, việc xử xét không những phải công bằng mà còn phải mau chóng. Điều 14 đoạn 3 (c) Công Ước Quốc Tế về các quyền Dân Sự và Chánh Trị đảm bảo cho tất cả các bị cáo được xét xử mau chóng, không chậm trễ (diên trì) quá đáng. Vì cả ba bộ luật của hai đời Lý – Trần đều bị quân Minh đưa về Tầu nên ta không rõ sự đảm bảo này trong bộ Hình Thư do Vua Lý Thái Tông ban hành năm 1042, bộ Quốc Triều Thông Chế (Những luật phổ thông của triều đại quốc giaban hành năm 1230 và bộ Hình Thư do Trương Hán Siêu và Nguyễn Trung Ngạn biên soạn năm 1341 theo lệnh của Vua Trần Dụ Tông. Bù lại, ta được biết một sự kiện là Vua Trần Nhân Tông đã quyết định án phải được thi hành liền. Năm 1280, một bên được kiện nhưng lại không được thi hành, đã đón xa giá để tâu bầy lên vua. Vì biết án đọng lại do bên thua kiện có thế lực, nên vua trên đường đi đã ngay lập tức giao cho hoạn quan Trần Hùng Thao kiêm chức phán quan thi hành án liền (27). Từ sự kiện thi hành công lýmau chóng như vậy, hình như người ta có thể suy ra việc ban phát công lý tức là xét xửcó lẽ cũng phải mau chóng và không được chậm trễ quá đáng.

Trên đây ta vừa tìm kiếm những bằng chứng cụ thể của việc tôn trọng quyền sống (phân đoạn A) và quyền được đảm bảo an toàn thân thể trong suốt tiến trình xét xử (phân đoạnB). Sau hết, ta thử tìm kiếm xem có những bằng chứng cụ thể nào của việc tôn trọng hai quyền tự do thân thể, không kém phần quan trọng bao gồm trong nhân quyền toàn vẹncon người: quyền không bị bắt làm nô lệ hay nô dịch và quyền không bị cưỡng bách lao động (phân đoạn C).

Tự Do Thân Thể Hay Quyền Không Bị Bắt Làm Nô Lệ Và Quyền Không Bị Cưỡng Bách Lao Động

Tự do thân thể hay quyền không bị bắt làm nô lệ và quyềàn không bị cưỡng bách lao động là một trong ba hợp phần của nhân quyền toàn vẹn con người, do điều 3 Tuyên Ngôn Quốc Tế nhân quyền quy định. Hai quyền này được nhìn nhận bởi điều 4 Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và điều 8 Công Ước Quốc Tế về các quyền Dân Sự và Chánh Trị. Điều 4 bản Tuyên Ngôn quy định: “Không ai có thể bị bắt làm nô lệ hay nô dịch; chế độ nô lệ và sự mua bán nô lệ dưới mọi hình thức đều bị cấm chỉ”. Điều 8 khoản 1 và 2 của Công Ước nhắc lại điều 4 bản Tuyên Ngôn, khoản 3 (a) quy định: “Không ai có thể bị cưỡng bách lao động”, hai khoản 3 (b) và 3 (c) ấn định những ngoại lệ cho phépcưỡng bách lao động: luật pháp quốc gia cho phép tòa án có thẩm quyền tuyên án tù khổ sai, công tác hay dịch vụ mà tù nhân phải làm trong thời gian bị giam giữ, nghĩa vụ quân sự áp dụng cho những người được luật pháp cho miễn thi hành nghĩa vụ quân sự vì lý do lương tâm, nghĩa vụ cộng đồng trong trường hợp khẩn trương hay thiên tai đe dọađời sống hay an lạc của cộng đồng và những nghĩa vụ dân sự thông thường.

Áp dụng những tiêu chuẩn quốc tế nhân quyền này và các chế độ nô tỳ, quân dịch, quan dịch và lao dịch của tù nhân thời Lý – Trần ta thấy:

Chế độ nô tỳ (serfs) là một hình thức nhẹ hơn của chế độ nô lệ (slavery) và nô dịch, do đó trái với tiêu chuẩn quốc tế nhân quyền. Thật vậy, nô tỳ dưới thời Lý – Trần cũng như đời Hậu Lê và Nguyễn có thể bị mua đi bán lại và có thể bị đánh đập. Tuy nhiênthấm nhuần giáo lý từ bitự do và bình đẳng của Đạo Phật, Vua Trần Nhân Tông đã xuống chiếu năm 1292: “Những ngưòi mua dân lương thiện làm nô tỳ thì phải cho chuộc lại; ruộng đất, nhà cửa không theo luật này” (28). Người ta suy đoán việc làm của nhà vua nhằm phục hồi nhân phẩm cho người lương thiện bị mua bán làm nô tỳ. Có hai loại nô tỳ: tư nô và quan nô. Tư nô là những người bị đem bán cho tư nhân trên căn bản khế ước. Quan nô là những người được nhà nước cung cấp chính thức cho những quan đại thần hay bán cho những hoàng thân quốc thích cao sang (29). Cả hai loại nô tỳ đều là vết đen trong thành tích nhân quyền, vì chế độ nô tỳ đã xâm phạm tự do thân thể, nguyên tắc bình đẳng giữa mọi ngườinhân phẩm và quyền lợi con người.

Chế độ cưỡng bách lao động dưới các hình thức quân dịch (military service) quan dịch (general corvée) và lao dịch của tù nhân là phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế nhân quyền của Liên Hiệp Quốc vì chúng nằm trong những ngoại lệ của việc cấm đoán chế độ cưỡng bách lao động do điều 8 khoản 3 (b) và 3 (c) nêu trên dự liệu. Hai đời Lý – Trần vẫn theo lệ trưng binh đã có từ thời Đinh và Tiền Lê, nhưng mặt khác đã có sáng kiến luân phiên quân dịch (30). Lệ cũ và sáng kiến mới đã giúp hai đời Lý – Trần sử dụng hữu hiệu được nguồn tài nguyên nhân lực quốc gia trong cả hai đại công tác là chiến thắng oanh liệt ngoại xâm và phát triển kinh tế xã hội. Do đó, các nhân quyền khác càng có điều kiện thuận lợi để được tôn trọng.

Hơn nữa, Vua Lý Anh Tông còn có sáng kiến cho những người sống trong hoàn cảnh neo đơn được miễn thi hành nghĩa vụ quân sự vì lý do gia cảnh. Thật vậy, năm 1147, nhà vua xuống chiếu: “Các quan quản giáp và chủ đô, phàm sung bổ cấm quân, phải chọn những hộ nhiều người, không được lấy người cô độc, làm trái thì trị tội” (31).

Chế độ quan dịch dưới hai đời Lý – Trần tương đương với khái niệm hiện đại về “nghĩa vụ cộng đồng trong trường hợp khẩn trương hay thiên tai đe dọa đời sống hay sự an lạc của cộng đồng và những nghĩa vụ dân sự thông thường”. Vì vậy nó phù hợp với điều 8 khoản 3 (c) Công Ước Quốc Tế về các quyền Dân Sự và Chánh Trị. Thật vậy, trong chế độ này, người dân phải làm các công tác cần thiết cho sự an lạc của toàn xã hội như làm đường, đắp đê, đào kênh, xây chùa, cất chợ, tu bổ đê điều, cầu cống và đường xá khi có bão lụt, xây đồn biên giới.

Chế độ lao dịch của tù nhân dưới hai đời Lý – Trần và các triều đại khác tương đương với khái niệm “luật pháp quốc gia cho phép tòa án có thẩm quyền tuyên án tù khổ sai và công tác hay dịch vụ mà tù nhân phải làm trong thời gian bị giam giữ”. Vì vậy nó phù hợpvới điều 8 khoản 3 (b) và 3 (c) Công Ước Quốc Tế về các quyền Dân Sự và Chánh Trị. Hơn nữa, việc bắt tù làm lao dịch còn thể hiện thái độ khoan hồng nhân đạo. Chẳng hạn, như đã nêu, năm 1289, Vua Trần Nhân Tông đã tha tội chết cho thường dân và quân lính đã đầu hàng giặc Nguyên và chỉ bắt họ chở gỗ đá xây cung điện để chuộc tội.

KẾT LUẬN

Những bằng chứng cụ thể trên đây cho thấy Nhân Quyền Toàn Vẹn Con Ngườibao gồm quyền sống, tự do và an toàn thân thể, đã được các vị vua hai đời Lý – Trần tôn trọng. Những bằng chứng ấy cũng cho thấy rằng Phật giáo với đức hiếu sinh, từ bicứu khổtự do và bình đẳng, đã có ảnh hưởng quyết định trên việc hình thành và thực thi nhân quyền căn bản nhất và quan trọng nhất này. Một trong những nguyên nhân chính khiến hai đời Lý – Trần đạt được thành tích nhân duyên vẻ vang ấy là tự do tư tưởng và khoan dung tôn giáo phát xuất từ ảnh hưởng Phật giáo. Huỳnh Thúc Kháng, một nhà Nho kiêm nhà báo và chính khách của nửa đầu thế kỷ 20, nhìn nhận như vậy: “Nước ta sau lúc độc lập trong khoảng trên dưới 300 năm (từ Đinh đến Trần), về học hành thi cử, từ trên xuống dưới, đối với hai nhà Giáo Tổ (Khổng, Phật), vẫn sùng bái như nhau, không phải thiên về một bên đạo Nho, tức là có cái vẻ tín giáo tự do vậy. Tín giáo được tự do nên tư tưởng có chiều phát triển; trên lịch sử nước Nam ta về đời Trần, không những võ công trác tuyệt (đánh đuổi quân Hồ – Nguyên), mà nói đến học giới có vẻ cao hơn Tống Nho nhiều “ (32).

Ta có thể kết luận rằng hai đời Lý – Trần, dưới ảnh hưởng Phật giáo đã bắt đầu xây dựng được truyền thống nhân quyền tiến bộ cùng với việc thiết lập một nhà nước hiện đại trước Âu Châu bốn thế kỷ, truyền thống ấy đã được kế thừa và phát huy rực rỡ nhất với bộ Luật Hồng Đức năm 1483 của Vua Lê Thánh TônThành tựu chánh trị và luật pháp như vậy đã làm ngạc nhiên học giả Tây phương khiến họ khâm phục nước Việt Nam cổ. Đó là niềm tự hào dân tộc của mọi người Việt Nam.

____________________

• Hoàng Xuân Hào

CHÚ THÍCH

Những chữ viết tắt trong phần chú thích có nghĩa như sau :

Tài I = Tạ Văn TàiThe Vietnamese Traditions of Human Rights.
Tài II = Tạ Văn Tài, “Buddhism and Human Rights in traditional Vietnam” đăng trong Tuyển Tập Đại Học Huế, Orange, California: Hội Thân Hữu Đại Học Huế tại Hoa Kỳ, 1990.
ĐVSKTT I = Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, tập I , Hà Nội: nxb Khoa Học Xã Hội, 1993.
ĐVSKTT II = Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, tập II, Hà Nội: nxb Khoa Học Xã Hội, 1993.
1. Tài I, trg 150-153
2. ĐVSKTT II, trg 153-154
3. ĐVSKTT I, trg 283
4. ĐVSKTT I, trg 264-265
5. ĐVSKTT I, trg 270
6. ĐVSKTT I, trg 302
7. ĐVSKTT I, trg 254
8. ĐVSKTT I, trg 269
9. ĐVSKTT I, trg 294
10. ĐVSKTT I, trg 314
11. Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược, Q. I, Saigon: Trung Tâm Học Liệu, Bộ Giáo Dục, 1971, trg 12
12. ĐVSKTT II, trg 189
13. Tài II, 78-80
14. ĐVSKTT II, trg 65
15. ĐVSKTT I, trg 271
16. Tài II, trg 81
17. ĐVSKTT I, trg 300
18. ĐVSKTT I, trg 273
19. ĐVSKTT I, trg 323
20. Tài II, trg 82-83
21. ĐVSKTT I, trg 263
22. ĐVSKTT I, trg 291-292
23. ĐVSKTT I, trg 303
24. ĐVSKTT II, trg 34
25. ĐVSKTT II, trg 34
26. ĐVSKTT II, trg 104
27. ĐVSKTT II, trg 46
28. ĐVSKTT II, trg 68
29. Tài I, trg 52
30. Tài I, trg 50
31. ĐVSKTT I, trg 316
32. Huỳnh Thúc Kháng, “Lối học khoa cử và lối học Tống Nho có phải là học Đạo Khổng Mạnh không ?” đăng trong Phan Bội Châu Toàn Tập, tập 10, Huế: nxb Thuận Hóa, 1990, trg 419 – 420.


VUA TRẦN NHÂN TÔNG VỚI KINH KIM CANG

Trần Nhân Tôn con của Thượng hoàng Trần Thánh Tôn. Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, “vua sinh ngày 11 tháng 11 năm Giáp Ngọ (Nguyên phong thứ 8, 1258), được tinh anh của thánh nhân, đạo mạo thuần túy, nhan sắc như vàng, thể chất hoàn toàn, thần khí tươi sáng, hai cung đều cho là lạ, gọi là Kim tiên đồng tử; ở hai bên tả có nốt ruồi đen, cho nên có thể cáng đáng được việc lớn; ở ngôi 14 năm, nhường ngôi 5 năm, thọ 51 tuổi, băng ở Ngọa vân am, hòa nhã, cố kết lòng dân, sự nghiệp phục hưng làm vẻ vang đời trước, thực là vua hiền của nhà Trần. Song vui lòng ở kinh Phật, tuy bảo là đến chỗ siêu thoát, nhưng không phải là đạo trung dung của thánh nhân.” (ĐVSKTT I, tr 450, Nxb Văn Học, 2006).

Vậy, trong sự tu tập và hành hoạt độ đời của vua Trần Nhân Tôn còn gọi là Điều Ngự Giác Hoàng, là vị sơ Tổ của Phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử đời Trần đã có ảnh hưởng kinh Kim Cang như thế nào?

Đọc hai nguồn tư liệu chính về vua Trần Nhân Tôn, gồm Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, của Ngô Sĩ Liên viết từ đời Lê; và Thánh Đăng Ngữ Lục, được viết từ đời Trần, không ghi tên tác giả, ấy là tác phẩm ghi lại các ngữ lục và thơ văn của các vua nhà Trần, kể từ vua Trần Thái Tôn đến vua Trần Minh Tôn.

Bản Thánh Đăng này đã được khắc in nhiều lần bởi Huệ Đăng ở Long Động, vào năm Ất dậu, niên hiệu Vĩnh Thịnh (1705) và bản khắc in năm 1750, do Tính Quảng – Thích Điều Điều ở viện Thiền Phong, núi Tử Sầm đề tựa.

Ngoài ra còn có các nguồn tư liệu khác như: Việt Điện U linh Tập, do Lý Tế Xuyên viết khoảng năm 1329; Nam Ông Mộng Lục, do Hồ Nguyên Trừng viết, 1438; Việt Âm thi Tập, do Phan Huy Tiên viết khoảng 1334; Đại Việt Sử Ký Tục Biên của Phan Phu Tiên; Toàn Việt Thi Lục của Lê Quý Đôn; Thiền Tông Bản Hạnh của Chân Nguyên đời Lê… và Tam Tổ Thực Lục, bản trùng khắc, thời Thành Thái thứ 9, năm 1897, do Tỷ kheo Diệu Trạm viết lời dẫn, Sa môn Thanh Cừ, Thanh Vân giúp việc khắc bản.

Qua các nguồn tư liệu ấy cho ta cái nhìn bao quát cuộc đời của vua Trần Nhân Tôn có bốn giai đoạn rõ ràng. – Giai đoạn tuổi trẻ và học tập – Giai đoạn làm vua – Giai đoạn làm Thượng hoàng – Và giai đoạn xuất gia làm Tăng sĩ.

Đối với giai đoạn tuổi trẻ và học tập, khi mới sinh ra, vua đã được phụ hoàng Trần Thánh Tôn đặt tên là Kim Phật. Đặt tên cho Thái tử như vậy, giúp cho ta biết rằng, ý nguyện và con đường giáo dục của vua Trần Thánh Tôn đối với Thái tử Kim Phật sau này như thế nào. Ấy là con đường giáo dục, không những khiến Thái tử Kim Phật, lớn lên có khả năng gánh vác sự nghiệp của quốc gia xã tắc, mà còn là bậc đại khí có khả năng làm Thầy khắp cả mười phương thiên hạ, như ở trong Thiền Tông Bản Hạnh mô tả:

“Thái tử trí cả bằng nay,
Gánh vác đại khí làm thầy mười phương.”

Khi lớn lên, Thái tử Kim Phật được vua Trần Thánh Tôn đặt tên là Khâm, không những vua trực tiếp giáo dục mà còn có cả Tuệ Trung Thượng Sĩ nữa. Theo Thánh Đăng Lục cho ta biết: “Bản chất của vua thông minh, hiếu học, có nhiều tài năng, xem hết các sách, thông suốt hết cả nội điển lẫn ngoại điển. Thường bàn luận về tâm tông với các thiền khách. Lại tham học với Tuệ Trung Thượng Sĩ, đạt đến chỗ cốt tủy của thiền và thờ Tuệ Trung Thượng Sĩ làm thầy.”

Và theo Trần Quang Chỉ, ghi ở trong bức tranh Trúc Lâm Đại Sĩ Xuất Sơn Đồ, đã cho ta biết về sự nghiệp học tập của vua lúc tuổi trẻ như sau: “Học thông tam giáo và hiểu sâu phật điển. Ngay cả thiên văn, lịch số, binh pháp, y thuật, âm luật không thứ gì là không mau chóng nắm bắt được sâu sắc”. (Lê Mạnh Thát – Toàn Tập Trần Nhân Tông, Nxb Tổng Hợp TP HCM 2006).

Như vậy, ta thấy vua Trần Nhân Tôn lúc thiếu thời đã được Phụ hoàng Trần Thánh Tôn giáo dục với một nền giáo dục cả đạo đời toàn diện.

Theo Thánh Đăng Lục, năm 16 tuổi được lập làm hoàng Thái tử, Ngài đã cố ý từ chối mấy lần, nhường lại cho em, nhưng phụ hoàng không chấp nhận. Tuy sống trong cảnh vui hòa hạnh phúc, nhưng Trần Nhân Tôn vẫn hướng tâm về đời sống tu hành. Một hôm, Trần Nhân Tôn vượt kinh thành trốn đi, định vào núi Yên tử. Đến chùa Tháp ở núi Đông Cứu thì trời vừa sáng, trong người quá mỏi mệt, Ngài liền nằm nghỉ ở trong tháp. Vị Tăng trong chùa thấy dáng mạo khác thường liền làm cơm thiết đãi. Hôm ấy, Thái hậu liền trình bày hết cho Thánh Tôn nghe, Vua nghe xong, liền sai quần thần đi tìm kiếm khắp nơi, bất đắc dĩ, Ngài mới trở về.

Giai đoạn làm vua, cũng theo Thánh Đăng Lục, Trần Nhân Tôn lên ngôi, ngày 12 tháng 02 năm Mậu dần, tức năm 1278. Tuy ở trong cảnh vinh hoa tột bực, nhưng vua Trần Nhân Tôn vẫn tự giữ mình thanh tịnh.

Có lần ngủ trưa trong chùa Tư Phúc ở đại nội, vua nằm chiêm bao thấy từ nơi rốn mọc lên hoa sen vàng, lớn như bánh xe, trên hoa có đức Phật vàng, có một người đứng bên cạnh chỉ vào vua và hỏi: “Biết đức Phật này chăng? Đó là đức Phật Biến Chiếu đấy!”. Ngay đó, vua giựt mình tỉnh dậy, đem giấc mộng trình lên vua cha. Thượng hoàng Trần Thánh Tôn rất mừng, cho là việc khác thường. Sau giấc chiêm bao này vua ăn chay trường, thân thể ốm gầy, phụ hoàng Thánh Tôn thấy lạ liền hỏi. Nhân Tôn thưa thực lý do với phụ hoàng. Thánh Tôn khóc bảo: “Ta nay già rồi, trông cậy một mình con, nếu con làm như thế, thì sự nghiệp của Tổ tông sẽ ra sao? Trần Nhân Tôn nghe phụ hoàng nói vậy cũng rơi nước mắt”.

Theo quốc sử, mới lên ngôi, vua Trần Nhân Tôn, đã thực hiện chính sách “đại xá cho thiên hạ”. Và cũng nhiều lần thực hiện chính sách “đại xá cho thiên hạ” trong quãng đời làm vua của mình. Vua cũng đã trực tiếp giải quyết việc khiếu kiện của người dân đối với Trần Thiên Thư là em của Đỗ Khắc Chung, ngay giữa đường,… Về ngoại giao, vua đã ban giao tốt với triều đình ở phương Nam, đối xử thận trọng và khôn khéo từ chối những yêu sách của triều đình Hốt tất liệt ở phương Bắc và không trực tiếp đến chầu. Đối với chính trị và quân sự, vua đã triệu tập hội nghị Bình Than năm 1282, để cùng với vương hầu, các tướng sĩ bàn kế đánh giặc Nguyên giữ nước. Năm 1284, vua lại triệu tập hội nghị Diên Hồng, cùng với các bô lão trong nước bàn kế đánh giặc Nguyên, trong hội nghị muôn người như một đều nói lên một lời là “đánh”. Nhờ những hội nghị như vậy mà đoàn kết được vua tôi và nhân dân, nên đã hai lần đánh bại Nguyên Mông, khiến vua đã có lời cảm thán:

"Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã
Sơn hà thiên cổ điện kim âu.
Xã tắc hai phen chồn ngựa đá
Non sông nghìn thuở vững âu vàng."

Cuộc đời làm vua, Trần Nhân Tông phải đối mặt và chiến thắng hai cuộc chiến tranh với Nguyên Mông, ổn định chính trị, phát triển quân sự hùng mạnh, giữ vững biên cương, giao hảo với các nước láng giềng, mở mang nền học vấn, phát triển kinh tế, chủ trương tự chủ về ngôn ngữ. Theo Quốc sử, tháng tư, năm Mậu tý (1288), Vua chiếu chỉ cho Ty hành khiển giao hảo với Hàn lâm viện. Theo lệ cũ, hễ tuyên đọc chiếu chỉ của vua, thì Hàn lâm viện, đưa trước bản thảo chiếu chỉ, cho Ty hành khiển để tập đọc trước. Đến khi tuyên đọc, thì gồm giảng đọc cả âm lẫn nghĩa khiến cho dân thường dễ hiểu”. (ĐVSKTT, tr. 477, Nxb Văn Học, 2006).

Như vậy, quãng đời làm vua của Trần Nhân Tông, hai lần đánh dẹp ngoại xâm hùng mạnh của phương Bắc, giữ yên bờ cõi và phát triển đất nước nhiều mặt, cấu kết được lòng dân, xóa bỏ lý lịch của những người phản trắc, để họ yên tâm phục vụ đất nước, phát huy tính tự chủ về ngôn ngữ, chữ viết. Chữ Nôm là ngôn ngữ tiếng Việt được phát huy đầu tiên và được sử dụng trong nền hành chánh vào thời vua Trần Nhân Tôn vậy.

Theo Quốc sử, ngày 3 tháng 2 năm Nhâm thìn (1292), Vua Trần Nhân Tôn lập hoàng tử Trần Thuyên làm đông cung thái tử. Và ngày mồng 9 tháng 3 năm Quí tỵ (1293), nhường ngôi cho Thái tử Thuyên. Thái tử Thuyên lên ngôi hoàng đế, hiệu Trần Anh Tôn, tôn phong Trần Nhân Tôn lên Thái Thượng Hoàng với hiệu Hiến nghiêu quang thánh thái thượng hoàng đế.

Sau khi vua Trần Nhân Tôn nhường ngôi cho con là Trần Anh Tôn, lên làm Thái thượng hoàng, rồi đi xuất gia, hoằng hóa sang Chiêm, được vua Chiêm kính trọng hết mức. Trong chuyến hoằng hóa này, Thượng hoàng đã hứa gả Công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm, sau đó vua Chiêm đã dâng hai châu Ô và Lý cho Đại Việt.

Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư 6, Thượng hoàng Trần Nhân Tôn đi chơi ở Vũ lâm vào tháng 7, năm Giáp ngọ (1294), và quyết định xuất gia tại đây. Vua xuất gia tại Vũ lâm, nhưng thờ ai làm Thầy và được truyền trao giới pháp như thế nào, hiện không có tư liệu nào ghi rõ, chỉ có Thánh Đăng Ngữ Lục nói: “Trần Nhân Tôn đã tham học với Tuệ Trung Thượng Sĩ, đạt sâu tới chỗ cốt tủy của thiền và thờ Thượng Sĩ làm Thầy”. Và cũng theo Thánh Đăng Ngữ Lục, thì tháng 10, năm Kỷ hợi, niên hiệu Hưng Long thứ 7 (1299), Ngài đi thẳng vào núi Yên Tử, siêng năng tu hành, sống theo mười hai hạnh đầu đà, tự lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà. Ngài lập chùa, xây tinh xá, thuyết pháp độ tăng, học chúng tụ về đông đảo,…”. Điều này, cũng đã được sách Tam Tổ Thực Lục của Tính Quảng và Ngô Thời Nhiệm ghi lại giống như Thánh Đăng Lục vậy.

Như vậy, theo Thánh Đăng Lục, ta thấy sau khi đã xuất gia, ở núi Yên Tử, vua Trần Nhân Tôn, tức Điều Ngự Giác Hoàng, thực hành mười hai hạnh đầu đà, tự lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà, xây dựng chùa chiền, thiết lập tinh xá, thuyết pháp độ tăng, học chúng tụ về đông đảo. Sau đó, Ngài đến chùa Phổ Minh ở phủ Thiên Trường đón chư Tăng về đây lập hội giảng kinh trải qua mấy năm, rồi Ngài lại vân du đến Bố chánh, lập am Tri Kiến và dừng chân ở tại đây một thời gian. Và Ngài cũng đã từng đi khắp mọi thôn xóm, khuyến hóa dân chúng thực hành Thập thiện, buông bỏ những hủ tục dâm từ. Điều Ngự Giác Hoàng đã trao truyền Bồ tát giới tại gia cho vua Trần Anh Tông và nhiều vị quan chức ở trong triều đình, vào mùa Đông, năm Giáp Thìn.

Sau đó, Ngài đến chùa Sùng Nghiêm ở núi Chí Linh xiển dương Tông giáo, tức là yếu chỉ của thiền. Mở đầu buổi khai đường thuyết pháp, Ngài niêm hương báo ân, rồi lên pháp tòa, vị thượng thủ đánh bảng,… xong, liền thỉnh mời Điều Ngự, Ngài liền nói: “Đức Thích Ca Văn Phật, vì một việc lớn mà xuất hiện ở đời, 49 năm mở miệng mà chưa nói một lời, nay ta vì các ngươi lên pháp tòa này nói cái gì đây?”

Nói xong, Ngài ngồi xuống trên giường thiền, yên lặng hồi lâu, mới cất giọng nói:

"Đỗ quyên đề đoạn nguyệt như trú
Bất thị tầm thường không quá xuân.

Nghĩa là:

"Chim Quyên kêu rả, trăng ngày sáng,
Không phải tầm thường, xuân luống qua.

Trong lời mở đầu cho buổi pháp thoại, Điều Ngự Giác Hoàng nói: “Đức Thích Ca Văn Phật, vì một việc lớn mà xuất hiện ở đời, 49 năm mở miệng mà chưa nói một lời, nay ta vì các ngươi lên pháp tòa này nói cái gì đây?”

Ngài Điều Ngự nói lời mở đầu này, tức là Ngài đã chỉ thẳng “thực tính Bát Nhã Kim Cang” cho thính chúng đương hội, tại chùa Sùng Nghiêm, ở núi Chí Linh. Giống như ở kinh Kim Cang, đức Phật đã chỉ thẳng “Thực tính Bát Nhã Kim Cang” cho thính chúng lúc bấy giờ, tại Kỳ viên, nước Xá vệ bằng cách hỏi Tôn giả Tu Bồ Đề rằng:

“Này Tu bồ đề! Thầy nghĩ như thế nào? Như Lai có chứng đắc Vô thượng giác không? Có pháp nào được nói bởi Như Lai không?” Tôn giả Tu bồ đề thưa: “Đúng như con hiểu nghĩa của Ngài dạy, thì không có pháp nào được khẳng định gọi là Vô thượng giác và cũng không có pháp nào khẳng định được nói bởi Như Lai. Vì pháp được nói bởi Như Lai, pháp ấy đều không thể nắm bắt, không thể diễn đạt, không thể gọi là pháp, không thể gọi là phi pháp” (Đại Chính 8, La Thập, tr. 749b). Và cũng ở kinh này, một đoạn khác, đức Phật lại hỏi Tôn giả Tu bồ đề rằng: “Này Tu bồ đề! Thầy Nghĩ như thế nào, có pháp nào được nói bởi Như Lai không? Tôn giả Tu bồ đề thưa: Không có pháp nào được nói bởi Như Lai cả” (Đại Chính 8, La Thập, tr. 750a). Và một đoạn khác của kinh Kim Cang này, đức Phật lại nói với Tôn giả Tu bồ đề rằng: “Này Tu bồ đề! Thầy đừng nghĩ rằng: Như Lai có ý niệm ta sẽ thuyết pháp. Đừng nghĩ như thế. Tại sao? Nếu có người nghĩ rằng, có pháp được thuyết bởi Như Lai là người ấy phỉ báng Như Lai, vì họ không lãnh hội được lời nói của Như Lai.

Này Tu bồ đề! Thuyết pháp, nghĩa là không có pháp gì để thuyết, nên gọi là thuyết pháp.”(Đại Chính 8, La Thập, tr. 751c).

Như vậy, qua những đoạn kinh Kim Cang vừa được trích dẫn ở trên, đức Phật, không những đã chỉ rõ “Thực tính Kim Cang Bát Nhã” cho thính chúng lúc bấy giờ, mà còn chỉ rõ “Pháp hành và pháp thuyết vô trú” của Ngài đối với “Thực tính bát nhã” cho thính chúng đương hội lúc bấy giờ nữa.

Như vậy, ta thấy Trần Nhân Tông tức là Điều Ngự Giác Hoàng, đối với hội chúng ở chùa Sùng Nghiêm lúc bấy giờ, không những, Ngài đã chỉ thẳng “Thực tính Bát nhã kim cang” mà còn chỉ thẳng “Pháp hành và pháp thuyết vô trú của Phật đối với “Thực tính bát nhã” cho hội chúng ngay trong lời mở đầu pháp thoại của Ngài nữa. Và như vậy, ta thấy rõ giáo lý “Thực tính bát nhã; Pháp hành và pháp thuyết vô trú”, của kinh Kim Cang đã có một ảnh hưởng nhất định trong cuộc đời tu tập, chứng ngộ và hoằng hóa của vị Sơ Tổ Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử tại Việt Nam, ở cuối thế kỷ mười ba và đầu thế kỷ mười bốn.

Cũng trong thời pháp thoại này, có vị Tăng hỏi Điều Ngự rằng:

Thế nào là ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp? Điều Ngự trả lời:

"Nhược dĩ sắc kiến ngã

Dĩ âm thanh cầu ngã

Thị nhân hành tà đạo

Bất năng kiến Như Lai.

Nghĩa là:

"Nếu lấy sắc thấy ta

Lấy âm thanh cầu ta

Người ấy hành đạo tà

Không thể thấy Như Lai.

Chính đây là bài kệ mà Điều Ngự đã dẫn từ kinh Kim Cang một cách tự nhiên để trả lời, câu hỏi của một vị Tăng, hỏi Ngài về ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp. Điều này, ở kinh Kim Cang, đức Phật dạy rằng: “Nầy Tu bồ đề! Thầy nghĩ như thế nào? Có thể nhìn thấy Như Lai qua ba mươi hai tướng tốt không?

Tu bồ đề thưa: Đúng như vậy, đúng như vậy, nhìn thấy Như Lai bằng ba mươi hai tướng tốt. Đức Phật dạy: Này Tu bồ đề, nếu nhìn thấy Như Lai qua ba mươi hai tướng, thì vị Chuyển Luân Thánh Vương cũng là Như Lai sao?

Ngài Tu bồ đề, bạch đức Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn! Như con hiểu ý nghĩa được nói bởi Ngài, thì không thể nhìn thấy Như Lai bằng ba mươi hai tướng tốt.

Lúc bấy giờ đức Thế Tôn liền nói bài kệ:

"Nhìn ta bằng hình sắc

Tìm ta bằng âm thanh

Người ấy đi đường tà

Không thể thấy Như Lai.

(Đại Chính 8, La Thập, tr. 752a).

Điều Ngự Giác Hoàng – Trần Nhân Tông, đã trả lời câu hỏi của một vị Tăng “Thế nào là ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp?”, bằng thi kệ của kinh Kim Cang đã được dẫn chứng ở trên, điều ấy lại chứng tỏ rằng, giáo lý nói về “Pháp thân vô trú” của kinh Kim Cang đã được Điều Ngự giác ngộ một cách triệt để, khiến khi có một vị Tăng hỏi: “Thế nào là Phật? Điều Ngự đáp: Trấu cám dưới cối”. Lại hỏi: “Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn độ sang?”. Đáp: “Bánh vẽ”. Lại hỏi: “Thế nào là đại ý Phật pháp?” Đáp: “Đồng hầm đất không khác”.

Điều Ngự đã trả lời “Trấu cám dưới cối; Bánh vẽ; Đồng hầm đất không khác,…” cho người hỏi là đều chỉ cho người hỏi thấy rõ về “pháp thân vô trú”. Nghĩa là hết thảy pháp thuộc thế gian, xuất thế gian đều từ nơi “pháp thân vô trú” mà biểu hiện sự khác biệt.

Lại có vị hỏi rằng: Xưa có vị Tăng hỏi Triệu Châu: “Con chó có Phật tính hay không?” Triệu Châu đáp: “Không”, ý chỉ thế nào?

Điều Ngự Trả lời:

"Chất muối trong nước

Keo xanh trong màu.

Điều Ngự trả lời như vậy, là chỉ rõ “Thực tướng vô tướng” được diễn tả ở trong kinh Kim Cang cho người hỏi. Và ở trong kinh này, “Thực tướng vô tướng” đã được đức Phật chỉ rõ cho Tôn giả Tu bồ đề như sau: “Này Tu bồ đề! Cái gì có hình tướng, cái đó có sự hư dối. Nếu thấy rõ vô tướng ngay nơi các tướng tức là thấy Như Lai”. (Đại Chính 8, La Thập, tr. 749a).

“Vô tướng” không phải là không có tướng gì, mà tất cả tướng đang có mặt và đang biểu hiện đầy đủ và linh hoạt trong một tướng, chính tướng ấy là vô tướng. Vì vậy, Điều Ngự nói: “Chất muối trong nước; Keo xanh trong màu”. Bằng cách nhìn “vô tướng” ta thấy ngay “Trong nước có chất muối và trong màu có keo xanh”. Thực tướng vô tướng là phải thấy ngay nơi các tướng. Ngay nơi các tướng mà thấy vô tướng. Nên, theo Điều Ngự, lìa các tướng, để giác ngộ thực tướng là điều không thể có.

Và Lục Tổ Huệ Năng cũng đã từng nói như vậy ở trong kinh Pháp Bảo Đàn rằng: “Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác, ly thế mích bồ đề, do như cầu thố giác”. Nghĩa là “Phật pháp ở trong thế gian, sự giác ngộ không thể xa rời thế gian, xa lìa thế gian mà tìm kiếm sự giác ngộ, chẳng khác nào người đi tìm kiếm sừng thỏ”.

Điều Ngự Giác Hoàng nói: “Chất muối trong nước; Keo xanh trong màu”, là một cách nói khác về “Thực tướng vô tướng, hay hết thảy pháp đều là phật pháp”, của kinh Kim Cang, mà chính bản thân của Điều Ngự đã trực nghiệm, chứng ngộ và ứng dụng nó trong khi làm vua, làm Thái Thượng hoàng an dân hay lúc làm Tăng sĩ để độ đời.

“Thực tướng vô tướng hay hết thảy pháp đều là Phật pháp” của kinh Kim Cang là cốt điểm mà Điều Ngự đã giác ngộ, và đã đem ra ứng dụng và viết thành “Cư trần lạc đạo phú”, khiến cho các nhà nghiên cứu về Trần Nhân Tông sau này cho rằng, “Cư trần lạc đạo phú” là tư tưởng chủ não cho mọi hành hoạt của ông và trở thành tư tưởng thiền học đặc trưng của Trúc Lâm Yên Tử.

Đọc Cư Trần Lạc Đạo Phú của Trần Nhân Tôn, ta thấy vua đã ảnh hưởng rất nhiều về giáo lý của kinh Kim Cang, nhất là giáo lý nói về “Nhất thiết pháp giai thị phật pháp” của kinh này (Đại Chính 8, La Thập, tr. 751b).

Nhất thiết pháp giai thị phật pháp, nghĩa là hết thảy pháp đều là phật pháp hay hết thảy pháp đều là pháp giác ngộ.

Trong Cư Trần Lạc Đạo Phú, Hội thứ nhất vua nói:

“Mình ngồi thành thị, nết dụng sơn lâm”.

Thành thị là chỉ cho cuộc đời, nơi sinh hoạt ồn ào, nơi bụi đời phiền não; Sơn lâm là chỉ cho đạo, nơi sinh hoạt trong sự vắng lặng, hay nơi sinh hoạt theo bản thể thanh tịnh tự nhiên.

Vua nói: “Mình ngồi thành thị, nết dụng sơn lâm”, nghĩa là ngay nơi các tướng thế gian, mà giác ngộ thực tướng vô tướng, sống và hành sử đúng theo thực tướng vô tướng ấy.

Làm hưng vượng đất nước mà không thấy nhân ngã; dẹp giặc, giữ yên bờ cõi mà tâm không sân hận, thù oán hay tự đắc; được cả giang sơn gấm vóc, xã tắc đoàn tụ vui vầy mà lòng không đắm trước; ngồi với cao lương mỹ vị mà dạ chẳng khát thèm; xúc tiếp với cung phi, mỹ nữ mỗi ngày mà tâm thường nghĩ đến sự xả ly, ngồi trên thiên hạ mà thấy rõ các pháp thế gian đều hoạt khởi trong hư huyễn, đó chính là “Mình ngồi thành thị, nết dụng sơn lâm”, mà vua Trần Nhân Tông đã thực hiện.

Và điều ấy, ta lại thấy vua nói rõ trong Cư Trần Lạc Đạo Phú, Hội thứ hai rằng:

"Dứt trừ nhân ngã,
thì ra thực tướng Kim Cang.
Dừng hết tham sân,
mới làu lòng mầu viên giác.

Nhân, ngã vốn không có cách biệt, vốn không có tự tính, nên tất cả tướng của nó đều là vô tướng. Ở ngay nơi nhân ngã của thế gian, mà hành động vô tướng, thì ngay nơi nhân ngã ấy là đạo, chứ đạo ở đâu nữa, mà đi tìm và ngay nơi mọi sinh hoạt của thế gian, mà hành động với tâm vô tướng, với lòng vô ngã, thì những sinh hoạt ấy là sinh hoạt của đạo, của tâm không nhân ngã và của đời sống giác ngộ, chứ đạo đâu nữa mà kiếm tìm, và giác ngộ đâu nằm ở ngoài cuộc đời mà lao lung tìm kiếm. Giác ngộ là giác ngộ ngay trong mọi sinh hoạt của đời thường và giải thoát là giải thoát ngay nơi tâm ràng buộc bởi những ý niệm phiền não, phân biệt nhân ngã, chứ đâu phải ngoài những sự ràng buộc của thế gian mà có giải thoát.

Đạo vốn rộng lớn mênh mông không bờ mé, tịch lặng chiếu soi, không buộc không giải. Buộc là tâm bị phiền não bám vào, giải là phiền não nơi tâm yên lắng, tánh của tâm tự nhiên tĩnh lặng sáng trong soi chiếu.

Vì vậy, trong bài giảng tại viện Kỳ Lân, ngày mồng 9 tháng giêng nhuận, năm Bính ngọ (1306), Điều Ngự đã nói với đại chúng rằng: “Này xem, đạo lớn mênh mông, đâu buộc đâu ràng, bản tánh sáng trong, không thiện không ác. Bởi do phân biệt, lắm ngả sinh ngang, thoáng khởi ám mờ, biến thành trời đất. Thánh phàm cùng chung đầu mối, phải trái đâu thể phân chia,…”

Theo Điều Ngự, đạo là vậy, nên trong bài kệ Cư Trần Lạc Đạo Phú, Hội mười, Vua nói:

"Cư trần lạc đạo thả tùy duyên
Cơ tắc xan hề, khốn tắc miên
Gia trung hữu bửu hưu tầm mích
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.

Nghĩa là:

"Sống đời, vui đạo hãy tùy duyên
Chừ đói cứ ăn, mệt ngủ liền
Có báu trong nhà ngưng tìm kiếm
Vô tâm đối cảnh hỏi chi thiền.

Như vậy, ta đã rõ Trần Nhân Tôn đã giác ngộ kinh Kim Cang bằng “Thực tướng Vô tướng; bằng “Hết thảy pháp đều là phật pháp”, và rồi Vua đã thực hiện những điều ấy trong đời sống của chính mình, qua nhiều vai trò và hình thức khác nhau, đem lại nhiều lợi ích không phải chỉ cho non sông gấm vóc, mà cho tất cả thế gian này trong hơn năm mươi năm giữa cuộc đời, ông hiện thân làm người, nên trong Đắc Thú Lâm Tuyền Thành Đạo Ca ông nói:

"Niệm lòng vặc vặc
Giác tính quang quang
Chẳng còn bỉ thử.
Tranh chấp nhân ngã
Trần duyên rũ hết
Thị phi chẳng hề.
Rèn một tấm lòng
Đêm ngày đon đả.
Ngồi trong trần thế
Chẳng quản sự thay.
Văng vẳng ngàn kia,
Dầu lòng dong thả.
Học đòi chư Phật
Cho được viên thành;
Xướng khúc vô sinh
An thiền tiêu sá.

Điều Ngự đã học đòi chư Phật cho được viên thành, xướng khúc vô sinh, an thiền tiêu sá bằng cách nào? Bằng cách:

"Ai ai chả biết
Bằng huyễn chiêm bao;
Xẩy tỉnh giấc hòe
Châu rơi lã chã.
Cốc hay thân huyễn,
Chẳng khác phù vân;
Vạn sự giai không,
Tựa dường bọt bể.

Chính đoạn này ở trong Đắc Thú Lâm Tuyền Thành Đạo Ca, ông đã diễn tả nó bằng tâm bất động, đúng chân như, không mắc kẹt mọi ý tưởng nhân ngã thị phi, đúng như bài kệ quán chiếu đối với các pháp thuộc hữu vi, mà đức Phật đã dạy cho Tôn giả Tu bồ đề ở kinh Kim Cang rằng:

"Nhất thiết hữu vi pháp
Như mộng, huyễn, bào ảnh,
Như lộ, diệc như điện,
Ưng tác như thị quán.

(Đại Chính 8, La Thập, tr 752b)

Nghĩa là:

"Hãy quán chiếu như vậy:
Hết thảy pháp hữu vi
Như mộng huyễn, bào, ảnh,
Như sương mai, điện chớp.

Với một cuộc đời hành hoạt đầy sống động như vậy, ta có thể gọi Trần Nhân Tôn là người con chí hiếu, là nhà chiến lược giỏi, là nhà lãnh đạo đất nước tài hoa, là bậc minh quân, là nhà chính trị và văn hóa lớn, là nhà tư tưởng lớn, là bậc minh triết, sơ Tổ Trúc Lâm Yên Tử, là vị Phật sống đời Trần,…

Và dù ta có dùng bao nhiêu mỹ hiệu để gọi Ngài là gì đi nữa, thì Ngài không bị ràng buộc nơi những mỹ hiệu mà ta đã và đang gọi cho Ngài. Và dù cho ta có khen để mà chê Ngài, như Ngô Sĩ Liên đời Lê, đứng từ lập trường Nho giáo viết sử, hưởng bỗng lộc triều đình mà viết rằng: “Song vui ở kinh Phật, tuy bảo là đến chỗ siêu thoát, nhưng không phải là đạo trung dung của Thánh nhân” (ĐVSKTT I, tr 450, Nxb Văn học 2006), thì những lời khen chê ấy, cũng chẳng dính dáng gì đến bản chất “Thực tướng vô tướng”, nơi mà Ngài đã sống và hành hoạt.

“Thực tướng vô tướng” mà bản thân Vua đã chứng nghiệm ngay ở nơi cõi đời đầy nhân ngã bụi bặm này, hay cái nhìn “hết thảy pháp đều là phật pháp” hoặc trực nhận được “cái chân thực ngay nơi cái huyễn mộng” của cuộc đời, mà kinh Kim Cang đã hiển thị cho Ngài. Vì vậy mà Vua nói “Dứt trừ nhân ngã, thì ra thực tướng kim cương; dừng hết tham sân, mới làu lòng mầu viên giác” hay “Xướng khúc vô sinh, an thiền tiêu sá”.

Nên, đối với một vị giác ngộ như vậy, ta có thể gọi Ngài bằng bất cứ danh từ nào cũng được, nhưng không phải vì vậy mà Ngài trở thành cái danh từ theo ta gọi.

Ta có thể gọi Ngài là vị “Cư trần lạc đạo”, hay là vị đã thấy Phật ngay giữa những bụi bặm của cuộc đời và sống với Phật ngay giữa những bụi bặm ấy; hay là vị đã “Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca”, hoặc đã thể nhập được với thực tính không sanh diệt giữa những sinh diệt vô tận của dòng đời, khi ta đọc bài kệ thị tịch của Ngài nói cho Thị giả Bảo Sát, vào giờ Tý, ngày mồng một, tháng mười một, năm Mậu Thân (1308) tại Ngọa Vân Am, núi Yên Tử rằng:

"Nhất thiết pháp bất sanh
Nhất thiết pháp bất diệt
Nhược năng như thị giải
Chư Phật thường hiện tiền
Hà khứ lai chi hữu.

Nghĩa là:

"Hết thảy pháp không sinh
Hết thảy pháp không diệt
Nếu hiểu được như vậy
Chư Phật thường hiện tiền
Làm gì có đến đi.

Trong bài kệ ấy, bốn câu trên, Ngài đã dẫn ra từ kinh Hoa Nghiêm, nói về chân lý không sanh diệt. Câu sau cùng là Ngài đã nói về nghĩa Như của kinh Kim Cang.

Nghĩa Như ở kinh Kim Cang, chính là chư pháp Như nghĩa. Nghĩa Như là Chân Như nơi các pháp, không có đến, không có đi, không có sanh, không có diệt,…

Điều này, ở kinh Kim Cang, đức Phật đã chỉ ra cho Tôn giả Tu bồ đề rằng: “Này Tu bồ đề! Nếu có người nói rằng: Như Lai có đến, có đi, có ngồi, có nằm là người ấy không hiểu được ý nghĩa lời nói của Như Lai. Tại sao? Vì Như Lai không đến từ đâu, cũng không đi về đâu, nên gọi là Như Lai” (Đại Chính 8, La Thập, tr. 752b)

Ở trong giờ phút thị tịch, Trần Nhân Tôn, tức Điều Ngự Giác Hoàng, đã nói cho Thị giả Bảo Sát rằng: “Hà khứ lai chi hữu? = Làm gì có đến có đi?” Bảo Sát liền hỏi: “Chỉ có chân như, khi chẳng sanh, chẳng diệt thì thế nào?” Điều Ngự liền vả ngay vào miệng Bảo Sát mà nói: “Đừng nói mớ!” Nói xong, Ngài nằm theo lối sư tử mà tịch.

Vì sao? Bảo Sát hỏi vậy, liền bị Điều Ngự cho là nói “mớ” và bị vả? Vì theo Điều Ngự, đối với chân lý rốt ráo tối hậu (đệ nhất nghĩa đế), khởi niệm là sai, mở miệng là quấy. Chính điều này, Điều Ngự đã khai thị cho đại chúng trong lời mở đầu tại buổi giảng ở viện Kỳ Lân, vào ngày mồng 9 tháng giêng nhuận năm Bính Ngọ (1306) rồi, mà Bảo Sát không lãnh hội, vì thế mà hỏi lại, nên bị Điều Ngự vả.

Lãnh hội “chân lý rốt ráo tối hậu” hay “hết thảy pháp không sinh, không diệt”, bằng tuệ giác, thì ngay đó là chư Phật hiện tiền, “niệm lòng vặc vặc, giác tính quang quang”. Và nếu không phải vậy, mà khởi tâm động niệm nghĩ suy, thì “mây bay vạn dặm”.

Kể từ khi con người bằng xương, bằng thịt của Trần Nhân Tông vắng bóng đã trải dài ngót bảy thế kỷ, biết bao nhiêu nhà văn, nhà thơ, nhà viết sử, nhà nghiên cứu, nhà phê bình, nói và nhận định về Ngài theo những cảm thức khác nhau của họ, nhưng tất cả đều đã nói “mớ” về Ngài. Không nói “mớ” sao được, khi Ngài là bậc đã “dứt trừ nhân ngã, thì ra thực tướng kim cang”, trong lúc đó những người viết, cảm nhận và hội thảo về Ngài, thì còn mang đầy nhân ngã, thị phi, nên những gì họ nói, viết về Ngài sao mà không “mớ” cho được? Vì nói “mớ”, nên dù viết cách nào, dù nói cách nào về Ngài, tất cả đều bị Ngài vả vậy!

Như vậy, ta thấy kinh Kim Cang là giáo lý chủ não cho Phật giáo đời Trần. Giáo lý ấy đã đẩy thúc vua Trần Nhân Tông hay Điều Ngự Giác Hoàng hành động cho lợi ích chung một cách tích cực, một cách hết lòng mà vô trú, và giáo lý ấy không những ảnh hưởng đến nếp suy nghĩ, nếp sống đối với Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, mà cò