Close

Trần Nhân Tông Library

Nghiên cứu thực tế

PHẬT GIÁO TRÚC LÂM VỚI NHỮNG NÉT SON TRONG LÒNG DÂN TỘC


I- ĐẾN VỚI MỌI TẦNG LỚP

Phật Giáo Trúc Lâm gắn liền với vua Trần Nhân Tông, một bậc tôn quí trong thiên hạ, nhưng sẵn sàng từ bỏ đời sống quyền quí, cao sang mà đi tu, chứng đạo, và đem ánh sáng chân lý giác ngộ để soi sáng lại cho tất cả mọi người khiến cùng được lợi ích. Từ trong triều đình cho đến người dân nơi thôn quê, với người trí thức thì Ngài giáo hóa theo trí thức; với người bình dân thì giáo hóa theo bình dân, cốt làm sao giúp cho người người chuyển hóa mê lầmđi theo con đường hướng thiện, để xã hội càng đi lên.

Đức Phật Hoàng cũng như Thiền sư Pháp LoaThiền sư Huyền Quang, thường giảng kinh Pháp Hoakinh Hoa NghiêmTruyền Đăng LụcĐại Huệ Ngữ Lục…ở những chùa lớn gần thành thị cho hàng trí thức được nghe, đồng thời các Ngài cũng đem pháp Thập Thiện giáo hóa cho người dân dã, là thích ứng với từng căn cơ, không phân biệt quí tiện, sang hèn.

II- PHÁT HUY TRÍ TUỆ CHÂN THẬT NƠI MỖI NGƯỜI

Trong nhà Thiền có nói đến hai thứ Trí tuệTrí tuệ hữu sư và Trí tuệ vô sưTrí hữu sư là trí do nghiên cứuhọc hỏi, có thầy dạy, là trí tuệ tiếp thu từ bên ngoài mà được. Đây là trí tuệ phương tiện để dẫn vào Đạo, chưa phải là trí tuệ chân thậtChính trí vô sư là trí tuệ do công phu tu hành chân thật mà tự tâm mở sáng. Không do ai dạy, không do từ nơi Thầy mà được. Như các nhà bác học chuyên tâm đi sâu một vấn đề, rồi bất chợt trong giây phút nào đó tự phát minh ra, tự sáng tỏ vấn đề ngoài chỗ suy nghĩ của mình.

Cũng như Thiền sư Pháp Loa tham học với Sơ Tổ Trúc Lâm đã lâu, một hôm trình ba bài kệ đều bị Ngài lấy bút gạch bỏ hết, Sư trở về phòng đầu óc nặng trĩu, hết biết suy nghĩ gì nữa, bỗng nhìn thấy bông đèn tàn rụng, liền mở sáng trí tuệ vô sư. Lúc này không có ai dạy cả mà lại tự sáng tỏ, vượt ngoài chỗ suy nghĩ bình thường. Từ đó, Sư lấy đây làm chỗ sống và chỉ dạy cho người. Cho đến khi sắp tịch, Sư tóm tắt ý nghĩa qua bài kệ:

Vạn duyên tài đoạn nhất thân nhàn
Tứ thập dư niên mộng huyễn gian
Trân trọng chư nhân hưu tá vấn
Na biên phong nguyệt cánh man khoan


 Dịch:

Muôn duyên cắt đứt một thân nhàn
Hơn bốn mươi năm giấc mộng tràng
Nhắn bảo mọi người thôi chớ hỏi
Bên kia trăng gió rộng thênh thang


(HT. Thích Thanh Từ)

Bên kia trăng gió rộng thênh thang, là muốn ngầm chỉ đến chỗ sống của trí tuệ chân thật kia. Chỗ này cần phải người tự thể nghiệm, phải là hành giả thật sự. Từ đó mà truyền lại cho người. Chính đây là mạch sống của chư Tổ, giúp cho người học thêm vững niềm tin mà tiến bước, đồng thời chứng thật cho giá trị cao quí của Chánh pháp Như Lai. Chính chỗ này mà vua Trần Nhân Tông sẵn sàng bỏ hết những quyền quí, cao sang, danh vọng tột bực ở thế gian để vào Đạo, tìm ra lẽ thật hi hữu này.

 III- NÂNG CAO GIÁ TRỊ CUỘC SỐNG THÊM Ý NGHĨA

Tạo nhơn duyên cho người người sống có đạo đứctrí tuệsáng tỏ được tâm tánh chính mình, nhận rõ lẽ thật, giả nơi con người theo tinh thần Thiền Tông. Bởi chúng tasống mà không rõ được gì là mình, gì là tâm, thì cuộc sống này thật sự là thiếu ý nghĩa sống. Vì mình là chủ cuộc sống nhưng mình là gì lại chưa sáng tỏ.

Ở đây thì các Ngài đã thật sự sáng tỏ được trí tuệ chân thật nên hiểu rõ lẽ thực nơi chính mình bằng chính trí tuệ do thực tu, thực ngộ mà hiện bày, nên chứng thực không nghi ngờ.

Như Sơ Tổ Trúc Lâm đã thổ lộ qua bài kệ Xuân Vãn:

Niên thiếu hà tằng liễu sắc không
Nhất xuân tâm sự bách hoa trung
Như kim khám phá đông hoàng diện
Thiền bảnbồ đoàn khán trụy hồng.


Tạm dịch:

Thuở bé đâu từng rõ sắc không
Xuân về rộn rã nức trong lòng
Chúa xuân nay bị ta khám phá
Ngồi lặng nhìn xem rụng cánh hồng.

Tức là lúc trước, khi chưa hiểu đạo, thì tâm còn bị ngoại cảnh chi phối nên mỗi độ xuân về, lòng cũng theo cảnh mà rộn rã, động theo cảnh xuân, không làm chủ được. Nhưng nay nhờ công phu tham thiền, Ngài đã nhận ra chúa xuân, tức sáng tỏ được ông chủ chân thật muôn đời nơi mình, là thật sự biết rõ chính mình. Giờ đây, Ngài đã giải đáp được chính xác cho câu hỏi: “Cái gì là chính mình”, cuộc sống bây giờ mới sống có ý nghĩa và soi sáng lại cho nhiều người.

IV- ĐEM LẠI NIỀM TỰ TIN NƠI MỖI NGƯỜI

Là chỉ ra chân lý giác ngộ vốn có sẵn nơi mỗi người, vì ai ai cũng có tâm, tức là đều có khả năng giác ngộ để vươn lên khỏi cái chúng sanh mê lầm này, chớ không phải cúi đầu chấp nhận làm chúng sanh mãi mãi. Như trong bài kệ Cư Trần Lạc Đạo có câu:

Gia trung hữu bảo hưu tầm mích
Đối cảnh vô tâm mạc vấn Thiền.
Trong nhà có báu thôi tìm kiếm
Đối cảnh không tâm chớ hỏi Thiền

Nghĩa là kho tàng của báu Tánh Giác vốn có sẵn trong Tâm của mỗi người, cần tự nhận trở lại nơi mình, không phải tìm cầu xa xôi, cũng không phải tự khinh mình, vì: “Kia đã là trượng phu, thì ta đây cũng vậy”.

Và Thiền là tâm thanh tịnh sáng ngời ngay trước mọi cảnh mà không bị cảnh ràng buộc, che mờ. Là sống ngay trong đời mà không mất tâm thiền. Là đem Đạo đến gần với người cư sĩ còn sống trong trần mà vượt lên khỏi trần, không phải lìa trần mới có Đạo.

Cũng như trong bài phú Cư Trần lạc Đạo ở hội Thứ nhất đã trình bày:

Mình ngồi thành thị
Nết dùng sơn lâm

Là ở thành thị nhưng không bị thành thị làm ô nhiễm, không bị che mờ tánh sáng suốt. Như vậy là người cư sĩ cũng có thể ở trong trần mà vươn lên khỏi trần, như hoa sen trong bùn mà nhô lên khỏi bùn. Cũng như Thượng sĩ Tuệ Trung, một vị tướng, một cư sĩ sống trong đời thường nhưng tâm thiền thật sáng tỏđời sống thật thanh thoát đầy đạo lýtrí tuệ thật siêu xuất, khiến cho nhiều vị xuất gia còn phải đến tham học với Ngài.

V- TÓM KẾT

Đời Trần với Phật Giáo Trúc Lâm đã làm nổi bật cho nền Phật Giáo nước nhà trên nhiều phương diện và để lại những bài học quí giá cho chúng ta ngày nay rất có giá trị.

Mỗi người ở một góc nhìn và phát hiện ra những nét hay của riêng mình để cùng đóng góp chung lại mà làm rạng rỡ cho sự nghiệp quí báu của Tổ tôngđồng thời khiến cho bạn bè trên thế giới tìm hiểu càng thêm kính quí.

Yên Tử được gắn liền với Phật Giáo Trúc Lâm, với dòng Thiền của nước Việt và tên tuổi của vị Tổ, là ông vua nước Việt, một danh nhân của các thời đại, là một đại nhân duyên thật hi hữu, rất cần được tôn trọng và phát huy đúng mức.

Tóm lại, học người xưa để xét lại ngày nay, và phát huy những điều hay tốt, khiến cho sự nghiệp hoằng dương Chánh pháp, cho ánh sáng chân lý giác ngộ của Đức Phật ngày càng soi sáng thêm trên thế gian này, giúp cho cuộc đời thêm an vui, bớt đau khổ, là trách nhiệm chung của những người con Phật.

Chúng tôi xin được chia sẻ một góc nhìn về Phật Giáo Trúc Lâm để góp phần cho ngày lễ kỷ niệm Đức Phật Hoàng viên tịch được thêm nhiều ý nghĩa.


______________________

• Thích Thông Phương

BỒ ĐỀ ĐẠT MA VÀ GIÁ TRỊ SIÊU VIỆT CỦA NỀN THIỀN HỌC VIỆT NAM

Khi đề cập đến Thiền Tông người ta hay liên tưởng đến Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma) người đã mang sứ mệnh cao cả truyền trao cho con ngườiCuộc đời của Bồ Đề Đạt Ma tựa như ánh sáng rực rỡ quét sạch bóng đêm phủ xuống cuộc đời chớp nhoáng như điện xẹt và phong thái lạ lùng quái đản đó đưa tên tuổi của người đi vàohuyền thoại. Cho đến bây giờ hình ảnh và âm vang vô tận của những lời thuyết pháp vẫn còn chấn động cả thiền môn, rung chuyển trong tận cùng tâm thức, hình bóng của người đã ngả dài trong suốt lịch sử nhân loại, vươn lên tìm một sinh lộ cho sự trở về uyên nguyên giác ngộ, không nhất thiết và giới hạn ở phương vị nào cho sự trở về ấy.

 Chính những huyền thoại đã tạo nên con ngườivốn quái đản của Bồ Đề Đạt Ma lại càng quái đản và lạ lùng hơn, những huyền thoại đó đưa Bồ Đề Đạt Ma trở thành một kẻ phi thường nhất trong tất cả những kẻ phi thường. Những huyền thoại này như chiếc dép cỏ mà Bồ Đề Đạt Matừng hùng dũng xách nó vượt suối băng ngàn phi hành trên ngọn thông lãnh, sự ngạo nghễ và những trận cười đinh tai, nhức óc rung chuyển cả núi đồi chập chùng, những âm vang đó vẫn còn phảng phất vang vọng đâu đây trong mỗi con người, trong mỗi thời đạitheo sự chuyển vần của thời giankhông gian vô tận.
 Hình ảnh của Bồ Đề Đạt Ma có phải là một nhân vật lịch sử hay một nhân vật huyền thoại do đời sau ngụy tạo và dựng lên? Có hai nhóm rõ rệt trong việc truy tìm, nghiên cứu tư liệu về cuộc đời của nhân vật hoang đường này. Nhóm thứ nhất, những nhà học giả như P.Pelliot, Conze v.v… đưa ra nhiều tư liệu nghi ngờ về lịch sử Bồ Đề Đạt Ma, họ cho đó là cách gây uy tín cho việc hình thành phát triển của Thiền Tông – bằng cách ngụy tạo ra dòng tổ bắt nguồn từ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.
 Nhóm thứ hai học giả Prabodh Chandra Bagchi, Hồ Thích v.v… lại cho rằng Bồ Đề Đạt Ma có mặt ở Trung Hoa khoảng 420 hay 486. Theo tài liệu viết vào khoảng 547 in trong Tripitaka do giáo sư Takakusu xuất bản có nói gặp một vị sư tên Bodhidharma trong một ngôi chùa ở Loyang.
 Tất cả những dữ kiện về lịch sử không hẳn là một chứng cớ để chúng ta có thể tin tưởng được, hãy trả tất cả những nghi vấn về lịch sử cho những nhà khảo cổ. Với chúng ta điều quan trọng sự hiện hữu của Bồ Đề Đạt Ma dù huyền thoại hay không huyền thoại có giúp được gì trong hành trình đi đến giác ngộ hay không? Và cuộc đời của Bồ Đề Đạt Ma đã ảnh hưởng như thế nào trong tư tưởng của nhân loại?Những câu hỏi chúng ta đã đặt ra cũng chỉ là câu hỏi để trả lời và cũng để hỏi với chính ta.
 Có những lúc ngôn ngữ không thể diễn tả trọn vẹn được ý tưởng thâm sâu mà con người cần phải nói. Tự nó vốn đã tuyệt lộ khi chính nó đã không lý giải được cho nó, ngôn ngữ vẫn có đường cùng của nó, nên đó chỉ là một phương tiện chuyên chở cái bóng dáng mờ mờ của tư tưởng và nhiều khi đã tạo nên những rắc rối và ngộ nhận đáng tiếc. Và trên hết nó đã không chuyên chở được sự thâm sâu, toàn triệt trong tận cùng của tâm thức.Chỉ có sự cảm nhận trong vô ngôn cửa miệng đóng mốc mới hiển lộ nên. Sự yên lặng của con người không có nghĩa là không có ngôn từ để diễn tả mà phải hiểu rằng chính ngôn từ đã không lý giải được sự cảm nhận sâu xa ấy.
 Trên phương diện bình thường mà ngôn ngữ đã phải dừng lại, huống gì trên phương diện vượt thoát bùng vỡ của giác ngộ hay lập nguyện dấn thân ngôn ngữ càng bế tắc.Hễ mở miệng ra là bị kẹt và hễ mở miệng ra là rơi vào đối đãichấp trước ngay, vì thế các vị Thiền Sư đã từng dạy “Để miệng, đóng mốc” Và đó chỉ là quá trình để chuẩn bị nhìn ngắm về đối tượng ở góc cạnh phê phán. Con người vốn đã không chủ động được tâm thức của mình, bị sai sử và tác động do những phân hóa, đố kỵ và động cơ chính là không sáng suốt, nên hầu hết những quan niệm đều đồng nghĩa với sự sai sử, vì thế những phê phán nhận định dễ trở thành sản phẩm phi lý của trí thức ô nhiễm.
 Và không khéo nó sẽ trở thành công cụ đày đọa, dày xéo chính kẻ đã và đang xử dụng nó như một quyền năng mà con người đang phải đối diện, ghê tởm, lắc đầu.
 Vì vậy những luận cứ về một con người và nhất là một con người giác ngộ phải chăngngôn ngữ đã phải cúi đầu?
 Huyền thoại về Bồ Đề Đạt Ma cũng chỉ là huyền thoại và sự ca ngợi về Bồ Đề Đạt Macũng chỉ là ca ngợi, tất cả những điều ấy không đủ để dệt nên một con người tuyệt diệunhư Bồ Đề Đạt Ma.
 Một con người được mệnh xưng là kẻ phi thường trong lịch sử cổ kim của nhân loại, một kẻ đã đi trong cô đơn mang cả một tâm hồn nghệ sỹ và đã tung những chưởng lực mà cả triều đình Lương Võ Đế khiếp vía bay hồn, không tài nào hiểu được và cảm nhận lấy một chữ thâm hậu đó.
 - Lương Võ Đế hỏi: Từ ngày tôi làm vua đến nay lập nhiều chùa, in kinh, độ tăng rất nhiều không thể kể hết, như vậy có được công đức không?
 - Bồ Đề Đạt Ma đáp: Không có công đức gì cả.
 - Vua hỏi: Tại sao không?
 - Công đức ấy chỉ được tiểu quả ở cõi nhơn thiên mà thôi, vì còn thuộc nhơn hữu lậu, tuy có mà không thực.
 - Làm thế nào mới gọi là chân công đức?
 Bồ Đề Đạt Ma trả lời:
 - Trí thanh tịnh, thể vốn vắng lặng nhiệm mầu, công đức như vậy không thể lấy thế phápmà cầu được.
 Vua hỏi: Thánh Đế đệ nhất nghĩa là gì?
 Bồ Đề Đạt Ma: Trống rỗng, không gì gọi là Thánh (Quách nhiên vô thánh).
 Vua hỏi: Vậy chứ ai đang đối diện trước mặt trẫm đây?
 Bồ Đề Đạt Ma trả lời:
 - Không biết (Bất thức)
 Lương Võ Đế đã không vứt bỏ những gì do chính mình tạo, nên đã không trực nhậnđược những gì Bồ Đề Đạt Ma đáp, lời nói ấy quả như một chưởng lực siêu phàm làm cho Lương Võ Đế chới với không biết phải bám vào đâu. Và nếu Võ Đế cảm nhận đi chăng nữa thì sự cảm nhận đó vẫn chưa là dấu hiệu của một cảm thông tương quan, có thể nói đó chỉ là một thoại ngữ và họ Lương cần phải tốn cả tâm huyết mới hoàn thànhđược. Nó tựa như dòng sông trong xanh sâu thăm thẳm công năng của nó có thể cuốn phăng đi tất cả cặn bã của cuộc đời và ngược lại làm cho kẻ đứng ngắm hoảng kinh, dòng tâm của Ngài sâu hun hút không một lối đi vào nếu, không bằng vào cửa ngõ đi là vào cõi chết để biến dạng thành một con người hoàn toàn vượt thoát ra khỏi tử sinh, vàLương Võ Đế là một con người đã không muốn chết theo nghĩa đó, như vậy dĩ nhiên họ Võ đã không tìm thấy sinh lộ cho tiến trình giác ngộ ấy nơi Ngài.
 Bồ Đề Đạt Ma lặng lẽ rời bỏ triều đình, Ngài đến chùa Thiếu Lâm quay mặt vào vách, trầm hùng chín năm nhìn vách đá yên lặng không nói một lời. Sự yên lặng ấy như là sự khinh bỉ cuộc đời đã không một ai có thể hiểu nổi con người của Bồ Đề Đạt Ma, và sự yên lặng ấy cũng là cách trắc nghiệm sự đi vào của kẻ khác bằng cách chấp nhận sự yên lặng của yên lặng và chờ đợi sự yên lặng để bùng vỡ. Và yên lặng ấy đã bùng vỡ khi Huệ Khả tìm đến trong một đêm mưa tuyết phủ đầy cả mặt đất, Huệ Khả đứng đó với tâm nguyện chờ đợi cánh cửa yên lặng chợt mở thì sẽ xông vào quỳ xuống đảnh lễ và dâng lên cả một sự cầu mong.
 Có lẽ lúc đó Bồ Đề Đạt Ma thừa hiểu đã đến lúc không yên lặng.Tuy nhiên Ngài lại thích kéo dài sự yên lặng ấy càng lâu thì càng có công năng và biết đâu sẽ tuyệt diệu hơn.Và rồi Ngài đã đạt được như ý.
 - Nhà ngươi mong cầu gì mà đứng mãi trong tuyết như thế?
 Huệ Khả bạch: “Con đến để mong cầu giáo pháp vô thượng xin Ngài dũ lòng từ bi ban bố cho.”
 Bồ Đề Đạt Ma bảo: “Giáo lý vô thượng của Phật khó có thể thành tựu ngay, phải trải quamột thời gian dài cần khổ, nhẫn những việc khó nhẫn, làm những việc khó làm. Tâm tríngười thấp kém, lòng khinh mạn thì làm sao thành Phật được, chỉ luống công nhọc sức mà thôi.”
 Huệ Khả một lòng cầu đạo, quên cả thân mạng của mình nên dùng dao chặt đứt cánh tay để tỏ lòng thành.
 “Tâm con chưa an xin thầy an cho.”
 Bồ Đề Đạt Ma nói: “Đem tâm ngươi ra đây ta an cho.”
 Huệ Khả bạch sau một phút lưỡng lự:
 “Con tìm mãi nhiều năm mà không thấy.”
 Bồ Đề Đạt Ma trả lời: “Ta đã an tâm cho ngươi rồi đó”
I. THEN CHỐT QUAN TRỌNG CỦA THIỀN 
 Yếu chỉ của Thiền được qui tụ trong 4 câu:
 Giáo ngoại biệt truyền
 Bất lập văn tự
 Trực chỉ nhân tâm
 Kiến tánh thành Phật
Tạm dịch:
 Truyền riêng ngoài giáo
 Chẳng lập văn tự
 Chỉ thẳng tâm người
 Thấy tánh thành Phật
 Tất cả sự quyết định cho sự nghiệp giải thoát đều bắt nguồn từ Tâm, Tâm có thể là một chủ lực mạnh nhất trong việc đưa chính con người ấy đạt được an lạc, và cũng chính Tâm biến thành công cụ đạp đổ con người rơi xuống vũng sâu của tử sinh. Những thiền sư đã xử dụng phương pháp “Dĩ tâm truyền tâm” đẩy thẳng ánh sáng giác ngộ đi qua kẻđối diệnDĩ nhiên miếng đất tâm của người đối diện ấy đã được cày bừa kỹ lưỡng và trải qua mọi nhân tố để cho hạt giống được nẩy mầm một khi ánh sáng mặt trời sưởi ấm nó. Nó không nằm trong kiến giải, so đo tính toán được nữa.
 Bởi lẽ những kiến giải chỉ là cách đo lường và tách xa giác ngộ hơn. Tâm ấy tựa như một luồng điện đi qua và ánh sáng bùng vỡ ngay, nó không còn nằm trong trạng thái chờ đợi để ấn nút xuống, nút ấy phải được mở sẵn chỉ chờ luồng điện đi qua là mọi tối tămnơi tâm vén mở – hiển bày cả càn khôn và cả một vũ trụ tinh nguyên mà mấy mươi năm trời hành giả đã phải lận đận, bương chải và tìm phương vượt thoát.
 Bất lập văn tự: Không có nghĩa là vất bỏ văn tự nếu áp dụng phương cách “dĩ văn tảiđạo” thì không dính mắc nào trong chính ngôn từ đó. Con người luôn thích lý luận và căn cứ nơi ngôn từ để phán quyết. Điều đó không hẳn và thực sự đã trói buộc rơi vào làm kiếp con mọt đọc sách. Phải xoay những tư liệu ấy quán chiếu thẳng vào thể tánh mới thấy được đàng sau những ngôn từ đó hiển lộ những gì mà cổ đức đã trao truyền lại.
 Văn tự vẫn là văn tự và không giúp được gì thật sự nếu con người không vứt nó vào hố thẳm, phải tiêu hóa ngay khi đã đọc một cách tuyệt diệu.Nó chỉ là tiến trình của kẻ khác và cũng chỉ là cánh cửa để người đọc biết dấu tìm vào.Và trên hết đó cũng chỉ là của kẻ khác. Hành trình đi tới để vào căn nhà uyên nguyên nhất định không còn mở sách ra để tìm cách đi vào. Bởi lẽ phải vứt bỏ tất cả ngay cả cái cần phải vứt đi cũng chưa chắc đi vào được, một ý niệm còn hưng khởi theo chiều hướng tôi, sẽ, đang, chuẩn bị vứt còn ngự trị, thì còn, sẽ, phải trôi lăn. Những gì được kể như vắng lặng, tròn đầy trong đó vẫn còn một chút vi tế thì hành giả phải bật tung ra khỏi đỉnh cao và rơi vào hố thẳm ngay.
 Buông xả tất cả ngay cái buông xả đó, và buông xả không có nghĩa là không nắm bắt vì buông xả được hình thành cũng do tương quan đối đãi với nắm bắt mà lập, nên buông xả cũng có nghĩa là nắm bắt nên mới buông mà càng không có nghĩa là xả hết. Thiền không khéo trở nên phức tạp và mâu thuẫn chính nó. Tuy nhiên Thiền đã đạp tung và vượt lên trên tất cả những gì phức tạp nhất và mâu thuẫn cùng cực nhất. Nó cởi tung tất cả những triền phược trói buộc mà con người tạo nên. Thiền là một cái gì tươi mát không một ngôn từ nào có thể diễn tả được cái yếu nghĩa của nó như đói thì ăn cơm, khát thì uống nước. Thiền là phải hành hoạt, uyển chuyển, linh động tươi mát ngay trong cuộc sống thường nhật – Trong tất cả mọi động tác như: gánh nước, bửa củi, ăn uốnglàm việc v.v… đều phải hạ thủ công phu kiểm chứng nội tâm trong từng niệm niệm tương tục. Không phải lúc ngồi bất động trên giường thiền rơi vào trạng thái chết cứng lặng thinh (theo nghĩa gỗ đá) mà có thể đạt được yếu chỉ của Thiền. Cần phải dụng côngtrong mọi chiều hướng.Không một ai có thể cho chúng ta một ít khái niệm về Thiền và nếu có cho đó cũng chỉ là diệu dụng tùy nghi chứ không hẳn là Thiền.Thiền là vậy đó được bao phủ trong mâu thuẫn nhưng, không một mâu thuẫn nào có thể trói buộc được Thiền – và chính mâu thuẫn cũng có thể là Thiền.
 Chủ trương của Thiền chỉ thẳng không quanh cotrực nhận ngay.Một khi thấy được bản lai diện mục mới có thể thành Phật.
II. AI LÀ VỊ TỔ SƯ THIỀN TÔNG VIỆT NAM?
 Thiền vốn không phân biệtthấp caocung kính hay không, theo trạng huống thường tình – ngay cả vị Tổ Sư tuyệt diệu như Bồ Đề Đạt Ma mà các vị Thiền Sư thường gọi “Bích Nhãn Hồ” nghĩa là “Tên Rợ mắt xanh” dù dưới bất cứ một danh xưng có vẻ phạm thượng đi nữa thì Bồ Đề Đạt Ma cũng là ngài không vì thế mà tổn thương hay hoen ố được. Và đó cũng chính là sự độc đáo của những Thiền Sư biểu lộ cả một sự kính thành, quy ngưỡng nhất.Hình tượng của Bồ Đề Đạt Ma trông rất dữ tợn, mắt luôn trợn trắng, mày quặm và râu phủ cả mặt.Nhưng không một ai lại không thích chiêm ngưỡngquy phục sự dữ tợn đó.Phải chăng bóng dáng ấy đã ẩn chứa bên trong cả một chân trời huyền nhiệm.
 Riêng Việt Nam theo Thuyền Uyển Tập Anh ngài Tỳ Ni Đa Lưu Chi (Vinitaruci) là vị Tổ Sư đầu tiên mang thiền đến Việt Nam. Ngài đến vào năm 580 đời Hậu Lý Nam Đế trú ở chùa Pháp Vân. Ngài vốn là người Nam Thiên Trúc đến Trung Hoa vào năm 574, gặp nạn Võ Đế nhà Bắc Chu tàn phá Phật Giáo đến Hà Nam ngài gặp Tam Tổ Tăng Xán và được truyền Tâm ấn dạy ngài đi về phương nam hóa đạo Ngài là dòng thiền thứ nhất của Việt Nam và là sơ tổ. Dù vậy những ngôi chùa ở Việt Nam thường tôn kính hình ảnhcủa Tổ Sư Thiền Trung Hoa là Bồ Đề Đạt Ma?Phải chăng Bồ Đề Đạt Ma tuyệt diệu hơn ngài Tỳ Ni Đa Lưu Chi?Và phải chăng người Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu đậm văn hóalễ nghi của người Tàu? Lý do này có lẽ tương đối đúng hơn vì thế ngay cả những ngôi chùa và ngay cả những kinh văn trì tụng cũng là chữ Tàu. Vì vậy đạo Phật khó hiểu lại càng khó hiểu hơn.Chưa có một cuộc cách mạng toàn triệt nào để thay đổi lại sự lệ thuộc một cách vô lý này, dù điều này đáng được thực hiện một cách triệt để.Đạo PhậtViệt Nam vốn là một tôn giáo lớn tiêu biểu cho đặc thù văn hóa dân tộc, nhưng đâu đóvẫn còn phảng phất một chút gì của ngoại lai. Đối với chúng ta vị Tổ Sư nào cũng đáng kính cả dù đó là Tổ Sư của Trung Hoa hay Việt NamTuy nhiên trên phương diện duy trìbản chất độc đáo của một dân tộc điều ấy phải được phát huy truyền thừa tiêu biểu cái mà gọi là Dân Tộc. Hầu hết chúng ta phó mặc theo kiểu “xưa bày nay bắt chước”. Làm thế nào tất cả những ngôi chùa trở thành một tiền đồn phát huy và bảo tồn Văn Hóa? Những tăng sĩ trở thành những chiến sĩ trên mặt trận văn hóa như vậy chúng ta mới có thể tự hào sự có mặt Đạo Phật ở Việt Nam là một biểu trưng sáng ngời nhất trong lĩnh vực Văn Hóa Nghệ Thuật. Dù rằng Thiền được kể như một nghệ thuật tuyệt diệu nhất trong việc thấy tánh thành Phật (kiến tánh) một nghệ thuật đánh phá nội tâm và hoán chuyển từ mê sang ngộ mà không gây một khủng hoảng trầm trọng nào. Hành giảhướng tâm của mình đi theo dòng nước không bao giờ có ý định phong tỏa ngăn chận dòng nước vì như thế nước sẽ vỡ tung bờ, chỉ theo đó biết nước sẽ đến đâu những ngõ ngách nào nước ở ngoài chảy vào v.v… đòi hỏi hành giả nếu không có một nghệ thuật cao khó có thể duy trì được sự tĩnh lặng trong chính cái luân lưu mà không vọng động. Một nghệ thuật tinh vi và chỉ có những nhà nghệ thuật phi thường mới có thể tìm thấy. Một đóa hoa đẹp không có nghĩa là đóa hoa ấy đẹp với bóng dáng ở ngoài, sự hoàn hảocủa cái đẹp phải kể đến hương vị ngọt ngào tỏa ra từ đóa hoa ấy.Phải có một cái nhìn thoát ra khỏi nhãn quan thường tình thì vẻ đẹp mới hiển lộ một cách toàn diện vượt thoát, một nghệ thuật điêu luyện phải kể như phi nghệ thuật mà là nghệ thuật, vượt trên tất cả những gì gọi là nghệ thuật.
 Ngoài dòng Thiền của Ngài Tỳ Ni Đa Lưu Chi còn một dòng thiền đến Việt Nam nữa, đó là Thiền Phái Vô Ngôn Thông, khoảng thế kỷ thứ 9, ngài đến Việt Nam vào năm 820 trú ở chùa kiến sơ, Bắc Ninh đắc pháp với ngài Bách Trượng Thiền Sư bên Tàu. Sở dĩ gọi Ngài là Vô Ngôn Thông vì ngài vốn ít nói dù rằng thông hiểu tất cả mọi lý sự.Sự yên lặng là một dấu hiệu cảm thông trong tất cả mọi tương quan trong cuộc đời.Yên lặng không có nghĩa là không biết mà phải hiểu rằng không việc gì là không rõ.Mặc nhiên trong trạng thái tuyệt diệu của sự vắng lặng và yên lặng chỉ là động tác xuất phát từ “sự yên lặng nơi tâm thức.Thiền Sư Vô Ngôn Thông được người đời tôn xưng với danh hiệu như thế hẳn chắc Ngài phải là nhân vật có một phong thái khó hiểu. Mà thật có gì để phải hiểu khi chính con người đã không có được một phút giây nào dừng lại để cho sự yên lặng ngự trị trong tâm. Đó là cách khuyên nhủ người đời bằng sự yên lặng sống động nhất. Nhiều lúc cả trăm ngàn câu trả lời tuy nhiên nhiều lúc gây ngộ nhận cho kẻ hỏi và sự trả lời này không bằng một nụ cười tươi mát, chừng đó cũng đủ cho kẻ đối diện thức tỉnh, càng đặt vấn đề thì càng rơi vào khủng hoảng khúc mắc. Không một sự trả lời nào của kẻ khác làm cho ta thỏa mãn, nếu chúng ta không tự hỏi và trả lời cho chính mình.
III. THIỀN CÔNG ÁN
 Công án là lối hạ thủ độc đáo mà thiền sư đã dồn Thiền sinh rơi vào thế bí nơi chân tường phải đánh phá, tác động, gõ một cách liên tục vào nội tâm mới mong bùng vỡ lên được, những lúc căng thẳng đầu óc như vỡ tung ra từng mảnh mới tìm thấy được chút ánh sáng len lỏi vào.
 Công án đầu tiên là mẫu đối thoại giữa Bồ Đề Đạt Ma và Lương Võ Đế “Rỗng suốt không có thánh gì hết” đã trở thành một công án độc đáo nhất trong lịch sử Thiền TôngTuy nhiên mãi đến nhà Tống công án mới trở nên thịnh hành thường dụng trong tất cả những tra vấn về Thiền và trở thành cửa ngỏ then chốt đi vào Thiền. Trong Thiền QuanSách Tấn của Chu Hoằng và Ngữ Lục của Đại Huệ đời Tống có ghi lại nhiều công án.
 Khi một Thiền Sư muốn trắc nghiệm kẻ đối diện bằng những câu hỏi hắc búa, quái lạnhiều khi trái ngược mâu thuẫnnghịch lý nhưng tất cả những khúc mắc ấy mới trở thành diệu dụng của Thiền. Những nghịch cảnh theo quan niệm của con người thì đó là nghịch cảnh, nhưng với công năng của Thiền là phá tan và san bằng tất cả những gì chận đứng lại. Chúng ta đọc Phó đại sỹ để thấy cái phi lý và cũng là có lý của Thiền.
 Tay không nắm cán mai
 Đi bộ lưng trâu ngồi
 Theo cầu qua bến nước
 Cầu trôi nước chẳng trôi
 Những gì phi lý nhất lại là có lý nhất, cũng có thể những gì có lý lại là phi lý trong Thiền thuật ngữ nầy, tràn ngập như nước đã đầy ly nhưng vẫn cứ rót tràn mãi ra mới thôi. “Lông rùa rừng thỏ”“Hoa không đỏ liễu không xanh” Thiền công án không phải là một lâu đài kỳ bí khiến cho kẻ đứng ngắm khởi lên một sự nghi ngờ, hoang mang. Với Thiền không có hoang mang mà là đi thẳng không quanh co uốn nắn. Nếu như vậy sẽ bị đạp tung ra khỏi cửa thiền và bị phất trần đánh tới tấp. Chưa kịp mở miệng mà rơi vào trạng thái so đo thì bị ngay tiếng hét đinh tai nhức óc của Lâm Tế Nghĩa Huyền gây chấn độngcả thần kinh hệ rồi. Lối xảo thuật diệu dụng này nhằm để phát huy và phục hồi nguyên ủy mà hành giả vốn đã lẩn quẩn trong sự mê ngộ – ngộ là ngộ tức khắc không chần chờ so đo tính kỹ và hễ không ngộ là không chứ không có kiểu mở miệng để rơi vào ngõ bí không lối thoát. Thiền là một thực thể linh động trong mọi chiều hướng ngập tràn và làm hưng thịnh những gì vọng động. Và chính những linh động thực tiễn ấy mới hé mở cho sự giác ngộ bùng lên, linh động một cách nhịp nhàng ăn khớp với tâm thức giác ngộ của Thiền Sư hòa đồng và tác động vào chính dòng tâm thức của Thiền Sinh. Và chỉ có sự khơi mở đúng lúc thì ngọn đuốc mới rực lên ánh sáng và bóng đêm bị quét sạch ngay tức khắc, không còn cơ may hưng khởi được nữa một khi ánh sáng này ngự.
 Thiền Sư Đức Sơn đã từng xử dụng cây trượng mỗi khi hỏi đồ chúng:
 “Nói được ba chục hèo”
 “Nói không được ba chục hèo”
 Chân lý vốn đã không nằm trong thế đối đãi của nhị nguyên lý hễ còn nói được và không được thì phải lãnh đủ ba chục hèo.Thiền Sư Đức Sơn chỉ đưa ra cách nói được và nói không được nghĩa là phải mở miệng chứ ngài đâu bảo nếu yên lặng hành động cũng ba chục hèo đâu?
 Và cũng một lần Nam Tuyền nắm lấy con mèo dơ lên cao bảo: “Nói được thì mèo sống, nói không được ta giết chết con mèo” Tăng chúng không ai đáp được và Nam Tuyền giết chết con mèo.
 Khi Triệu Châu trở về Nam Tuyền thuật lại sự việc Châu bèn cởi chiếc giầy cỏ đội lên đầu rồi ung dung ra đi. Nam Tuyền nói: “Tiếc thay không có Triệu Châu ở nhà để cứu mạng con mèo”.Hành động của Triệu Châu chỉ có Nam Tuyền mới cảm thông được. Và chỉ có Triệu Châu mới có thể cứu được con mèo lúc ấy.
 Thiền phải kể đến tiếng hét của Lâm Tế Nghĩa HuyềnLâm Tế xử dụng nó như một ngón tuyệt kỷ, kẻ nào bị phải đinh tai nhức óc ngay. Những tuyệt kỷ này đã từng gây chấn động trong Thiền Môn cho đến bây giờ tiếng hét ấy vẫn còn đeo đuổi.
IV. NHỮNG THIỀN SƯ DẤN THÂN ĐI VÀO CUỘC ĐỜI
 Thiền lưu truyền và cất giữ trong nhân gian một cách lâu đời và bền bỉ nhất khi thiền đã tách rời khỏi những hình thức khuynh hướng quyền thế.Thiền phải là một sự phổ cập đa dạng trong mọi lãnh vực và là nguyên tố cơ bản trong mọi tầng lớp. Thiền Việt Nam dung hòa và tìm thấy sự giác ngộ ngay trong cuộc đời. Ngoài cuộc đời này ra sẽ không có giác ngộquên mình để phụng sự cho kẻ khác đó là lý tưởng dấn thân của Phật Giáo. Thiền Phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã lưu lại những vị Thiền Sư đi vào cuộc đời như Thiền Sư Định Không (729-808) La Quý An (851-936) Khuông Việt (931-1011) Pháp Thuận (915-991) và Vạn Hạnh (mất 1025) nổi bật Thiền Sư Khuông Việt Ngô Chân Lưu (dòng Vô Ngôn Thông) được vua Đinh Tiên Hoàng phong làm vị Tăng Thống đầu tiên của Việt Nam. Và điểm nổi bật nhất là Thiền Sư Vạn Hạnh với sự nghiệp xây dựng nhà Lý mà cho đến bây giờ công nghiệp ấy hãy còn bàng bạc trong nhân gian.
 Một hành động dấn thân khác nữa đó là Thiền Sư Trần Nhân Tông dòng Vô Ngôn Thông ngài đổi thành danh hiệu khác đó là Thiền Trúc Lâm Yên Tử. Là một vị thượng hoàng nhưng ông từ bỏ tất cả để làm một sơn tăng tu theo hạnh đầu đà. Ông đã chuẩn bị đi tu bằng cách tập sự xuất gia nhiều năm khi còn là một ông vua. Ngài một mìnhchống tích trượng đi du hóa khắp nơi khuyên dân chúng bỏ ác làm lành, tạo tình liên bang với Chiêm Thành ông đã gả con gái Huyền Trân Công Chúa cho vua Chế Mân để duy trì nền hòa bình giữa hai dân tộc.
 Hình ảnh của một Thiền Sư khác là “Chí Thành Thiền Sư, con của Hộ Quốc Công Nguyễn Công Thành sinh năm 1861 tại Quảng Nam”.Ông tham gia phong trào văn thânkhởi nghĩa. Cuộc khởi nghĩa thất bại, ông vào tu ở chùa Giác Viên Chợ Lớn, ba năm tròn lo việc công quả: gánh nước, bửa củi, giã gạo. Sau đó ông nhập thất và tịnh khẩu trong ba năm. Năm 1892, ông đi cứu trợ bão lụt tại Gò Công và năm 1895 ông lại đi cứu trợ bão lụt ở Châu Đốc. Một mình ông độc suất cứu vớt được hơn 500 người đem về chùa nuôi cho đến khi nước rút. Ông thu thập tẫm liệm, mai táng không biết bao nhiêu là thi hài không thừa nhận. Ông lại còn bị mật thám Pháp bắt giam gần một năm trời vì những hoạt động xã hội trong “Tương Lai Thiền Học” của Nhất Hạnh trang 31.
 Chính những hạnh nguyện dấn thân nầy mà thiền len lõi trong quần chúng, có những lúc không nhất thiết vị Thiền Sư phải đăng đàn thuyết pháp mà ngay hành động của quýNgài trở thành bài pháp không lời và chỉ có những bài pháp sống động này mới tồn tạilâu bền và hiệu quả thâm sâu nhất. Đi vào cuộc đời để rồi xoa dịu và chuyển hóa những thống khổ đang bao phủ con ngườiĐạo Phật vốn đã không tách rời ra khỏi những đau khổ mà hình thành và càng không có nghĩa đạt được giải thoát ra ngoài cuộc đời nầy ra. Dấn thân nhưng không bị cuộc đời vùi lấp hay làm hoen ố được.Phải duy trì liên tục lý tưởng phụng sự kẻ khác trong cương vị xuất thế của mình. Các Thiền Sư đã trở về ung dung thanh thoát sau khi đã hoàn thành đại nguyện độ sanh.
V. CHẤN CHỈNH LẠI NỀN THIỀN HỌC VIỆT NAM
 Từ thế kỷ thứ 14 trở đi nền Thiền Học Việt Nam bị Mật Tông và Tịnh Độ lấn áp. Hai buổi công phu ở chùa đều ảnh hưởng Mật và Tịnh. Dù rằng Thiền được bao phủ và tác độnglên trên tất cả Mật và Tịnh bởi lẽ hành giả phải ngưng tất cả những vọng động để tìm sựthanh thoát nơi tâm hồn, không để tâm tư dong ruổi theo trần thếkiểm soát nội tâmbằng ánh sáng giác ngộ. Chiếu soi liên tục trong mọi tình huống. Nếu niệm Phật trăm ngàn câu mà tâm không niệm có ích gì đâu trên lối về giác ngộ, chỉ đạt được chút phước báo ở tiểu quả nhơn thiên. Vẫn còn phải dụng công trên đường tìm về giải thoát.
 Thiền chỉ còn trong sự bàng bạc bao phủ không còn là then chốt trong hai thời công phuở chùa nữa. Hầu hết các tự viện và chúng ta đều xuất phát từ Thiền “Lâm Tế” nhưng điều này đã không được phát huy đúng mức, nên có sự pha trộn giữa Tịnh hoặc Mật. Tịnh độ tông chỉ là sự biến dạng của Thiền nên sự dung hòa khó mà tìm thấy. Với đa sốquần chúng hẳn nhiên không như vậy Tịnh và Thiền là hai chứ không phải là một.
 Đạo Phật được truyền vào Việt Nam phần lớn là Thiền Tông, nó đã bám rễ và ảnh hưởng sâu đậm trong quần chúng bằng sự tỉnh thứckiên nhẫn và hy vọng. Nếu tất cả những hành động đều được ngự trị bởi thức tỉnhsáng suốt hẳn nhiên chúng ta đã không gây khổ đau cho mình và kẻ khác. Con người không có được sự tỉnh thức con người đó trở thành một nguy cơ cho chính họ và cả loài người. Họ có thể xử dụng quyền thế, ưu điểm để lừa dối, và đưa con người đi vào cõi chết không một chút tiếc thương.
 Trong sự khổ đau cùng cực nhất của Dân Tộc hiện tại phải chăng đều xuất phát từ những kẻ không có được một phút giây tỉnh thức nào?Và đã không có được một ý nghĩvề kết quả mà chính họ đang tạo nên. Chỉ khi nào ý thức về con người đang chơi vơi trên hố thẳm may ra họ mới tìm thấy được giá trị của sự tỉnh thức.
 Cần phải phát huy duy trì nền Thiền Học Việt Nam trong mọi chiều hướng mới có thể vơi đi những phiền trược cho con người. Thiền là yếu tố cơ bản nhất trong việc đi thẳng đến giải thoát.Sự giải thoát không nằm trong tương lai mà nó có ngay trong hiện tại nầy. Một khi con người thực sự tĩnh lặng bình an, và kết quả này luôn ngự trị tác động liên tục thì may ra con đường đi đến giải thoát mới hiển lộ. Còn nếu sóng sau dồn sóng trước thì uổng phí cả một đờisự giải thoát được quyết định ngay trong hiện tại và đó là nền móngxây dựng sự an lành, và một nụ cười bất diệt. Ngoài lãnh vực nầy ra, thiền còn là yếu tốcơ bản trong tất cả những lãnh vực văn hóa, nghệ thuật, chính trị, dấn thân v.v…
Những hành hoạt thường dụng nếu có sự tỉnh thứcquán chiếu thì không việc gì mà chẳng thành, không gì làm hoen ố được. Lập chí như núi cao, nguyện lực thâm hậu, dụng công trong vi tế thì sá gì những trì trệ ứ đọng. Tâm tư trùm kín cả vũ trụ không một mảy may nào động tới được, vứt bỏ tất cả những gì đối đãitham trước. Chỉ còn lại một hạnh nguyện cao cả đi vào cuộc đời để chuyển hóa mọi thống khổ của con người vơi đi, để linh động mang dòng nước thanh lương tưới mát lửa phiền của chúng sanh, để hát những khúc ca chứng đạo truyền giảng cho hữu tình, và để vươn lên chọc thủng màn đen bao phủ cuộc đời.
 Một khi hạnh nguyện hoàn xong phải buông xả tất cả, thong dong tự tại trở về từ nơi khởi điểm. Để không còn thấy điểm xuất phát và nơi đến, thì cuộc đời vẫn là cuộc đời, khổ đau cũng chỉ là khổ đau, hạnh phúc Niết Bàn như cơn lốc, như gió thoảng mây bay. Tất cả chỉ còn lại lối về trước mặt không còn mờ mờ hoang lộ và đàng sau không còn gò núi chập chùng muôn lối.
 Thênh thang trên đoạn đường không dài cũng không ngắn từng bước đi là cả một cung đàn tuyệt diệu, hoa vẫn nở trên đường, lối đi chuyển về đâu!
 
___________________

• Như Hùng

4 CÔNG CHÚA ẢNH HƯỞNG NHẤT SỬ VIỆT

Huyền Trân, An Tư, Ngọc Vạn, Ngọc Khoa là 4 công chúa của các triều đại phong kiến Việt Nam được đánh giá ảnh hưởng nhất trong lịch sử.


Huyền Trân công chúa


Công chúa Huyền Trân (1287-1340) là con gái vua Trần Nhân Tông và hoàng hậu Thiên Cảm, em gái của Trần Anh Tông. Sách Việt sử giai thoại viết: "Tháng 6 năm Bính Ngọ (1306), thực hiện lời hứa trước đó của Thượng hoàng Trần Nhân Tông, vua Trần Anh Tông đem Công chúa Huyền Trân gả cho Quốc vương Chiêm Thành là Chế Mân. Đáp lại, Chế Mân đã đem đất hai châu Ô và Lý - vùng tương ứng với phần phía Nam tỉnh Quảng Trị và toàn bộ tỉnh Thừa Thiên ngày nay - dâng cho Đại Việt làm sính lễ".


Một năm sau, Chế Mân chết, Huyền Trân công chúa được vua Anh Tông sai tướng Trần Khắc Chung cướp về (vì theo tục lệ Chiêm Thành, hễ Vua mất thì Hoàng hậu phải lên giàn hỏa thiêu để chết theo). Sau đó bà xuất gia rồi mất vào năm 1340. Dân chúng quanh vùng thương tiếc, tôn bà là Thần Mẫu và lập đền thờ cạnh chùa Nộm Sơn. Ngày bà mất sau này hàng năm trở thành ngày lễ hội đền Huyền Trân trên núi Ngũ Phong ở Huế.


Tượng thờ công chúa Huyền Trân tại Huế


Câu chuyện về công chúa được truyền tụng trong dân gian, khiến Huyền Trân trở thành một trong những công chúa nổi tiếng nhất và ảnh hưởng nhất trong lịch sử Việt Nam. Các triều đại sau đều sắc phong bà là thần hộ quốc. Hoàng đế triều Nguyễn ban chiếu đền ơn công chúa "trong việc giữ nước giúp dân, có nhiều linh ứng", nâng bậc tăng là Trai Tĩnh Trung Đẳng Thần.


An Tư công chúa


An Tư công chúa, còn gọi là Thiên Tư công chúa, là con gái út của vua Trần Thái Tông (1218-1277). Bà cũng là em gái của Trần Thánh Tông và là cô ruột của Trần Nhân Tông. Cuộc đời của An Tư công chúa được sử Việt chép rất sơ lược, không rõ cả năm sinh năm mất.


Trong Việt sử tiêu án của Ngô Thì Sĩ chỉ ghi: "Thoát Hoan lên sông Nhĩ Hà, cột liền bè vào làm cầu, cho quân qua sông; quân ta theo hai bên sông lập đồn để cự lại, không được; ngày đã về chiều, quân giặc qua được sông vào kinh thành, vua sai đưa Thiên Tư Công chúa cho chúng, để thư nạn cho nước".


Đầu năm 1285, quân đội nhà Nguyên đã đánh tới Gia Lâm vây hãm Thăng Long. Thánh Tông Thái thượng hoàng và vua Trần Nhân Tông đi thuyền nhỏ ra vùng Tam Trĩ, còn thuyền ngự thì đưa ra vùng Ngọc Sơn để đánh lạc hướng đối phương nhưng quân Nguyên vẫn phát hiện ra. Ngày 9/3 cùng năm, thủy quân Nguyên đã bao vây Tam Trĩ suýt bắt được hai vua.


Để có thời gian củng cố lực lượng, Thượng hoàng Trần Thánh Tông bất đắc dĩ phải dùng đến kế mỹ nhân, dâng em gái út của mình cho tướng Thoát Hoan để tạm cầu hòa. Sau đó, quân Trần bắt đầu phản công, quân Nguyên đại bại. Trấn Nam vương Thoát Hoan, con trai của Hốt Tất Liệt đã phải "chui vào cái ống đồng để lên xe bắt quân kéo chạy" để về Tàu.

 

Năm 1943, nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đã viết cuốn tiểu thuyết lịch sử An Tư
để nói về cuộc đời của nàng công chúa nhà Trần không được lịch sử nhắc đến.

 

Chiến thắng, hoàng tộc Trần làm lễ tế lăng miếu, khen thưởng công thần, nhưng không ai nói đến An Tư công chúa. Không rõ công chúa còn hay mất, được mang về Trung Quốc hay đã chết trong đám loạn quân. Chỉ có sách An Nam chí lược của Lê Tắc Trắc - một thuộc hạ của Trần Ích Tắc và Trần Kiện theo chủ chạy sang nhà Nguyên, sống lưu vong chép rằng: "Trước Thái tử (Thoát Hoan) lấy người con gái nhà Trần sinh được hai con...".


Giáo sư Phạm Đức Dương, Chủ tịch Hội Khoa học Đông Nam Á cho rằng nhà Trần trở thành triều đại vinh quang nhất trong lịch sử Đại Việt vì đã 3 lần chiến thắng quân Nguyên, đội quân đã từng làm mưa làm gió khắp Á - Âu. Trong chiến công chung đó người ta ghi nhận sự đóng góp, hy sinh thầm lặng của những người phụ nữ, trong số ấy có công chúa An Tư.


Theo ông, người con gái "lá ngọc cành vàng" ấy vì nợ nước đã ra đi không trở lại. Nhưng trớ trêu thay, sau chiến thắng quân Nguyên, tháng 7/1285, vua trở về kinh thành hân hoan khen thưởng những người có công, nhưng không ai nhắc tới công chúa An Tư.


Công chúa Ngọc Vạn


Công chúa (công nữ) Ngọc Vạn, họ tên đầy đủ là Nguyễn Phúc Ngọc Vạn, không rõ năm sinh, năm mất, là con gái thứ hai của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (ở ngôi: 1613-1635). Bối cảnh lịch sử lúc này, tuy nhà Lê vẫn là vương triều chính thống, tuy nhiên quyền lực thực sự nằm trong tay Chúa Trịnh ở Đàng Ngoài và Chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Vì vậy, một số tài liệu gọi bà là công nữ (con chúa), chứ không gọi là công chúa (con vua).


Năm 1620, Ngọc Vạn được gả cho vua Chân Lạp là Chey Chetta II và trở thành Hoàng hậu nước này với tước hiệu là Somdach Prea Peaccayo dey Preavoreac. Nhờ có cuộc hôn phối này mà tình giao hảo giữa hai nước được tốt đẹp, để chúa Nguyễn có thể dồn lực lại hòng đối phó với chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, đồng thời cũng tạo thêm cơ hội cho người Việt mở rộng lãnh thổ về phía Nam.

Một bìa sách viết về công nữ Ngọc Vạn của tác giả Ngô Viết Trọng.

 

Chuyện công nữ Ngọc Vạn không được sử nhà Nguyễn đề cập đến, Giáo sư Phan Khoang trong cuốn Việt sử Đàng Trong viết rằng: "Việc này, sử ta không chép, có lẽ các sử thần nhà Nguyễn cho là việc không đẹp, nên giấu đi chăng? Nhưng nếu họ quan niệm như vậy thì không đúng. Hôn nhân chính trị, nhiều nước đã dùng, còn ở nước ta thì chính sách ấy đã đem lại nhiều lợi ích quan trọng....



Sử ta không chép, nhưng theo các sách sử Cao Miên do các nhà học giả Pháp biên soạn, mà họ lấy sử liệu Cao Miên để biên soạn, thì quả Chey Chetta II năm 1620 có cưới một công nữ con chúa Nguyễn. Giáo sĩ Borri, ở Đàng Trong trong thời gian ấy cũng có nói đến cuộc hôn nhân này".


Công chúa Ngọc Khoa


Ngọc Khoa tên đầy đủ Nguyễn Phúc Ngọc Khoa, là con gái thứ 3 của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên và là em gái công chúa Ngọc Vạn. Tương tự như số phận của chị gái, Ngọc Khoa cũng không được sử sách nhắc tới. Sách Đại Nam liệt truyện tiền biên, phần tiểu truyện của Ngọc Khoa cũng đề là "khuyết truyện".


Tuy nhiên, sách Nguyễn Phúc tộc thế phả, do chính Hội Đồng Nguyễn Phúc tộc viết lại, đã chép rằng: "Năm Tân Mùi (1631) bà (Ngọc Khoa) được đức Hy Tông (Sãi Vương) gả cho vua Chiêm Thành là Pôrômê. Nhờ có cuộc hôn phối nầy mà tình giao hảo giữa hai nước Việt Chiêm được tốt đẹp...".


Nhận xét về vai trò của Ngọc Vạn, Tiến sĩ Trần Thuận cho rằng cuộc hôn nhân này dù không được sử nhà Nguyễn ghi chép vì một lý do nào đó. Song, xét đến cùng đây là một cuộc hôn nhân mang màu sắc chính trị có tầm quan trọng đặc biệt đối với lịch sử dân tộc Việt Nam...


"Trong lịch sử dân tộc, từng có những người phụ nữ làm nên đại cuộc như Hai Bà Trưng, Bà Triệu... góp phần giành giữ nền độc lập cho Tổ quốc, và cũng từng có những người phụ nữ lặng lẽ hy sinh để cha anh làm nên nghiệp lớn như Huyền Trân, Ngọc Vạn, Ngọc Khoa... Chính họ là những con người làm nên lịch sử. Thật đáng kính thay!", Tiến sĩ Trần Thuận nhận xét.


___________


Trung Sơn

Nguồn: vnexpress.net

TÌM HIỂU GIÁ TRỊ “CƯ TRẦN LẠC ĐẠO PHÚ” CỦA TRẦN NHÂN TÔNG


Trong quá trình hình thành và phát triển Phật giáo Đại Việt, Thiền phái Trúc Lâm đã gắn chặt với tâm tư tình cảm nhân dânthể hiện đạo lý tình người và tạo ra sức mạnh toàn dân chiến thắng quân thù. Quan trọng hơn, tư tưởng Thiền phái không chỉ dừng lại ở giá trị đó mà còn để lại cho hậu thế một giá trị văn hóa tư tưởng đi sâu vào triết lý, đạo đức nhân sinh của dân tộc. Một trong những đại biểu khai sáng và định hình tư tưởng Thiền phái Trúc Lâm là Sơ Tổ Điều ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông. Ông đã để lại một dấu ấn giá trị tâm linh thiền đạo qua sự nghiệp sáng tác văn chương khá đồ sộ, có nhiều đóng góp cho văn học trung đại nói chung, văn học Phật giáo Thiền tông nói riêng.  Việc tim hiểu giá trị Cư trần lạc đạo phú của Trần Nhân Tông sẽ cho chúng ta có cái nhìn đúng đắn về tư tưởng Thiền học được phản ánh qua sinh hoạt Thiền phái và ý thức tự chủ của dân tộc Đại Việt qua văn hóavăn họcngôn ngữ chữ Nôm và những xúc cảm chân thành trước quê hương đất nước.
1. Đôi nét về tác giả, tác phẩm:
Không phải ngẫu nhiên lịch sử tôn vinh Trần Nhân Tông là vị anh hùng, là nhà văn hoá của dân tộc. Ông sinh ra và lớn lên trên quê hương Đại Việt hào hùng vào những năm tháng cha ông đã làm nền những chiến công lẫy lừng, đánh Tống bình Nguyên. Là con đầu của Trần Thánh Tông, sinh ngày 11 tháng mười một năm Mậu Ngọ (1258), ông làm vua từ năm Kỷ mão (1279), đến năm 1293 thì nhường ngôi cho con, và nghiên cứu Phật học. Nhưng mãi đến 1298, ông mới thật sự khoác áo cà sa thuyết pháp độ sinh khắp nơi, làm Tổ Trúc Lâm và được nhân dân tôn vinh là Phật Điều Ngự Giác HoàngTên tuổi ông gắn liền hai cuộc chiến tranh thần thánh chống quân Nguyên Mông chỉ có ở Việt Nam. Ông là một vị vua, đồng thời là thiền sư - thi sĩ, với một tâm hồn chân chất của một nông dân thực thụ quả là độc nhất vô nhị.
Thơ văn Lý Trần, tập II ghi nhận ông là “nhà văn hoá, nhà thơ xuất sắc ở thế kỷ XIII.  Ông đã sáng lập ra dòng Thiền Trúc Lâm ở Việt Namđáp ứng một nhu cầu sinh hoạt tinh thần của người Việt đương thời, mặt khác cũng nhằm góp phần vào xây dựng một nước Đại Việt có quy mô bề thế, có văn hoá độc lậpchống lại những ngoại lai, phi dân tộc.”(1) Sau khi nhường ngôi cho con, làm Thái thượng hoàng và làm Tổ Trúc Lâm hoằng pháp độ sinh. Điều này sách Tam Tổ thực lục nói “Điều Ngự đi khắp mọi nẻo thôn quê, khuyên dân phá bỏ các dâm từ và thực hành giáo lý Thập thiện”(2). Cũng chính con người với nhiều trọng tráchnhư thế nên sự nghiệp sáng tác của ông khá phong phú. Những tác phẩm đó đã phản ánh đúng tư tưởngcủa Trần Nhân Tông như: Trần Nhân Tông thi tập, Tăng già toái sự, Đại Hương Hải ấn thi tập, Thạch thất mỵ ngữ… Đáng chú ý nhất là hai tác phẩm chữ Nôm Cư trần lạc đạo phú, Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca không chỉ có giá trị về mặt nội dung tư tưởng Thiền học mà còn góp phần cắm cái mốc cho sự phát triển tiếng Việt trong lịch sử văn học dân tộc.  Là một áng văn Nôm được viết theo thể phú gồm 10 hội, viết về tư tưởng Thiền: ở đời mà vui với đạo có tên chính thức Cư Trần lạc đạo phú. Có thể nói tác phẩm này là bản tuyên ngôn của con đường sống đạo mà Phật giáo Đại Việt đã đề ra và chi phối toàn bộ tư tưởng, cuộc sống người dân lúc bấy giờ. Nó cũng là một trong những tác phẩm được giới nghiên cứu Phật giáo và văn hoá dân tộc Việt Nam quan tâm khá đặc biệt, được trích dẫn đích danh khi thiền sư Chân Nguyên trình bày cho vua Lê Chính Hoà vào khoảng những năm 1692 trong Kiến tính thành Phật lục (3). Chính vì thế, nó góp phần tác động vào sự tồn tại và ảnh hưởng của nó trong quá trình truyền đạt tư tưởng Thiền học Việt Nam. Theo Lê Mạnh Thát (4), bản in xưa nhất của tác phẩm này năm là vào 1745 do Sa di ni Diệu Liênvâng lệnh thầy mình in lại và bản gỗ lưu lại ở chùa Liên Hoa - Thăng Long. Nó được in kèm theo Vịnh Vân Yên tự phú của Huyền Quang và Ngộ đạo nhân duyên kệ của Chân Nguyên. Việc in kèm như thế, chứng tỏ văn bản mà ni cô Diệu Liên dùng để in phải đến từ một truyền bản của Chân Nguyên, tức là bản của nửa cuối thế kỷ thứ XVII. Từ đây, vấn đề truyền bản của Cư trần lạc đạo phú khá rõ ràng. Trong lời dẫn bản in 1930 trong Thiền tông bản hạnhthiền sư Thanh Hanh (1840 – 1936) cho biết vào năm Gia Long thứ 12 (1814) bản Thiền tông bản hạnh đã được in lại và cùng với nó chắc chắn phải có Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca. Hơn nữa, khi lập bản mục lục các kinh sách Phật giáo trong Đạo giáonguyên lưu quyển thượng tờ 5aa, An Thiên có ghi tên một tác phẩm Trần triều thập hội lục. Rõ ràng, Thập hội lục của triều Trần chính là 10 hội của Cư trần lạc đạo phú.
2. Giá trị nội dung tư tưởng Thiền học bài Cư trần lạc đạo phú
Toàn bài gồm 10 hội, mỗi hội co dãn từ 13 câu (Hội thứ ba và bốn) cho tới 30 câu. Và mỗi hội gieo một vần, các hội chẳn gieo vần bằng và các hội lẻ gieo vần trắc. Cuối hội thứ mười thì có thêm bài kệ theo thể thất ngôn tứ tuyệt bằng chữ Hán. Có thể xem bài kệ ở cuối tác phẩm đã thể hiện chủ đề tư tưởng thiền học của bài phú, đồng thời là cơ sở lý luận hình thành chủ thuyết “Cư trần lạc đạo” của Thiền phái Trúc Lâm.
2.1. Chủ thuyết Cư trần lạc đạo:
Ta thấy, trước khi hình thành chủ thuyết Cư trần lạc đạo, thì Trần Thái Tông người đặt nền móng tư tưởngcho Thiền phái Trúc Lâm, đã chọn bản kinh Kim Cương và kinh Kim Cương tam muội chú giải để làm cơ sở lý luận biện tâm, thực thi đời sống hướng nội trước một bối cảnh lịch sử cả dân tộc ra sức chấn hưngđất nước. Theo nguyên lý duyên khởi của tư tưởng Hoa NghiêmBát NhãViên Giác thì bản thân từng cá thể không thể tự tồn tại độc lập mà không có sự liên hệ khác xung quanh con người, nhất là giai đoạn cả nước đang xây dựng và phát triển trên mọi lĩnh vực thì lại càng có nhiều mối liên hệ để giải quyết và xử lý. Vì vậy, các thành viên Thiền phái chủ trương bổ sung thêm một số quan điểm được đúc kết từ các bản kinh Đại thừa nói trên để làm cơ sở lý luận tạo tiền đề hình thành chủ thuyết Cư trần lạc đạo phục vụ cho đường lối hoạt động Thiền phái, góp phần xây dựng phát triển đất nước:
“Cư trần lạc đạo thả tùy duyên, Cơ tắc xan hề khốn tắc miên.
Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch, Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.” (Cư trần vui đạo hãy tùy duyên, Đói cứ ăn no, mệt ngủ liền.
Báu sẵn trong nhà thôi khỏi kiếm, Vô tâm trước cảnh hỏi gì thiền.) (5) Thực tế, vào những năm trước và sau triều Lý tức là 1009, 1020, 1034, 1295 các bản Kinh Đại thừa đã được truyền vào nước ta và mãi đến năm 1295 vua Trần mới cho khắc in rộng rãiPhật giáo thời Lý Trần hưng thịnh với việc các vua đứng ra lập thêm Thiền phái. Lý Thánh Tông lập ra phái Thảo Đường với chủ trương tùy tục. Trần Nhân Tông lập ra phái Trúc Lâm không chỉ chủ trương tùy tục mà còn nhập thế tích cực(6). Điều đáng nói là không như các Thiền phái Trung Hoa chủ trương bất lập văn tự, Thiền phái Trúc Lâm vẫn lấy việc nghiên cứu, học tập kinh điển để làm cơ sở y cứ việc hành trì chứng ngộ. Đọc lại toàn bộ văn bản của Thiền phái Trúc Lâmchúng ta sẽ thấy những bản kinh như Kim CươngKim Cương tam muội chú giải, Lăng Nghiêm, Bát NhãHoa Nghiêm được xem là cơ sở lý luận để hình thành nên chủ thuyết Cư trần lạc đạo và chi phối toàn bộtư tưởng Thiền phái. Bằng cách này hay cách khác, các thiền giathiền sư đã tham cứugiảng thuyết đạo lý thiền trên cơ sở Thiền - Giáo song hành.  Trước đó, Trần Thái Tông đã y cứ vào kinh điển Đại thừa, nhất là Kinh Kim Cương và Kim Cương tam muội chú giải để làm cơ sở giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn đang xảy ra trước cuộc sống. Tuệ Trung đã y cứ kinh Bát NhãHoa Nghiêm diễn giải quan điểm tùy tục của Thường Chiếu thành Hòa quang đồng trần để chấn hưng đất nước và đạo phápCon người cần quay về sống thực tại bây giờ và tại đây. Như vậy, thực tại vốn vô thườnghuyễn ảo biến dịch theo tư duyphân biệt của con người. Dù Phật giáo tuyên bố thực tại là Không, Không trong nghĩa không phân biệt, không có sự tham dự của luận lý, của các thức, chứ không phải là hư vô, trống rỗng; cái thực tại này được kinh Lăng Già xác nhận “Thế giới của hư ngụy này chính là thường hằng, chính là chân lý”.  Kinh nghiệm cho thấy, thể chứng thực tại một cách trọn vẹn khi nào tâm thức bước ra khỏi vòng luẩn quẩn phân biệt “nhị kiến” để an nhiên tự tại mà Trần Nhân Tông tâm đắc trong Thượng sĩ hành trạng “Ta trộn lẫn cùng thế tục, hòa cùng ánh sáng, đối với mọi vật chưa từng xúc phạm hay trái ngược”. Trong hội thứ nhất, ông khẳng định rõ:
“Mình ngồi thành thị;
Nết dụng sơn lâm,
Muôn nghiệp an nhàn lặng an nhàn thể tính;
Nửa ngày rồi tự tại thân tâm”(7)
Thực tại ấy lừng lựng ra đấy, từ xưa đến
nay, phô bày mọi nơi, mọi lúc mà Trần Nhân
Tông cho là tùy duyên mà vui với đạo trong
Cư Trần lạc đạo phú. Thể chứng thực tại là
thể chứng Phật tâm, là tự tại giải thoát Niết
bàn ngay giữa dòng đời, đúng như tinh thần
Hòa quang đồng trần của Tuệ Trung:
“Cơ tắc xan hề hòa la phạn, Khốn tắc miên hề hà hữu hương.  Hứng thời xuy hề vô khổng địch, Tĩnh xứ phần hề giải thoát hương”.  (Đói thì ăn chừ, cơm tùy ý, Mệt thì ăn chừ, làng không làng Hứng lên chừ, thổi sáo không lỗ, Lắng xuống chừ, đốt giải thoát hương) (8) Do đó, chúng ta chẳng có gì ngạc nhiên khi Trần Nhân Tông viết “Cư trần lạc đạo phú” và “Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca” và các tác phẩm khác nữa, trong đó giá trị lý luận “Cư trần lạc đạo” trở thành hệ tư tưởng chính cho Thiền phái Trúc Lâm hoạt độngtrong một bối cảnh lịch sử nước ta luôn phải đối diện các cuộc chiến tranh vệ quốc vừa xảy ra.  Không chỉ ba lần quân dân ta chiến thắng quân Nguyên Mông mà đến thế kỷ thứ XVIII với những chiến thắng Ngọc Hồi, Đống Đa oanh liệt của quân dân Tây Sơn, trong đó nổi bật những gương mặt Phật tử tự nhận mình là người thừa kế truyền thống Trúc Lâm như Thượng thư Tỉnh Phái Hầu Ngô Thì Nhậm - thiền sư Hải Lượng, Hương Lĩnh Bá, tiến sĩ Nguyễn Đăng Sở là thiền sư Hải Âu… (9).  Theo Đoàn Thị Thu Vân trong bài Tuệ Trung Thượng sĩ và Thiền phong đời Trần (10) thì tinh thần bài kệ cũng là tôn chỉ của Sơ Tổ và là tư tưởngnhất quán của Thiền phái được thể hiện qua bốn điểm: 1. Hãy nên sống hòa mình với đời, không câu chấp. 2. Hành động tùy duyên, tức là làm việc cần làm, đúng lúc phải làm và không trái quy luật tự nhiên. 3.  Tự tin vào mình, trở về khơi dậy tiềm lực của chính mình, không tìm cầu tha lực. 4. Không nô lệ vào bất cứ cái gì, dù Thiền hay Phật”.  Để được như vậy, các nhà tư tưởng Thiền phái đã có cả quá trình hoạt động và đúc kết từ thực tiễn trong tiến trình hình thành tư tưởng Cư trần lạc đạo đi từ tùy tục của Thường Chiếu, rồi đến biện tâm của Trần Thái Tông chuyển qua hòa quang đồng trần của Thượng sĩ sau cùng là tùy duyênlạc đạo của Trần Nhân Tông.
Thực tế, cuối đời Lý đầu Trần, nước ta phải đối diện các vấn đề khủng hoảng khiến thiền sư Đạo Huệ than “Loạn lạc tứ tung do tham ái mà tới” (11). Những người có ưu tư đối với tiền đồ Dân tộc và Phật giáo như Trí BảoTín Học, Trí Nhàn đã đưa ra biện pháp kêu gọi mọi người đừng để lợi nhiễm cuốn hút vào cơn lốc tham ái. Ái là nói lên khuynh hướng mang tính cá nhân chủ động. Còn nhiễm nói đến sự tương tác giữa cá nhân và tập thể mà đôi khi bản thân không làm chủ được dẫn đến tệ nạn tham nhũng mang tính hệ thốngBiện pháp giải quyết là kêu gọi “Có lợi có nhiễm thì Bồ tát không làm; không lợi, không nhiễm thì Bồ tát làm” (12) nhằm cứu vãn khủng hoảng.  Các thiền sư giai đoạn này đã có ý thức đi tìm một hướng đi mới cho Phật giáo. Kết quả, Thiền phái Thảo ĐườngTrúc Lâm ra đời, giới xuất gia không còn đóng khung hoạt động trong ngôi chùa, họ cũng kết hợp với Phật tử tham gia công tác xã hội. Cuộc sống của giới xuất giatừ đây nặng tính thế tục. Chủ trương tùy tục hình thành và đi vào đời sống thực tiễn.  Ta thấy ngay trong hội thứ hai, Trần Nhân Tông kêu gọi thực thi đạo đức bỏ xan tham, đừng có cầu danh, sống cuộc sống giản dị, tiết kiệm để đối trị tham nhũng:
“Dừng hết tham sân mới lảu lòng mầu viên giác”, hay “Cầm giới hạnh, địch vô thường, nào có sá cầu danhbán chác; Ăn rau trái, nghiệp miệng chẳng hiềm thửa đắng cay” (Hội thứ hai) (13).
Sống trong một xã hội loạn ly, vào những năm tháng cuối đời Lý, đầu đời Trần, giới Phật giáo phải ý thứcvề mình để có thái độ sống biết giữ đạo và gánh vác việc đờiQuan điểm của ông là phải tùy tục. Tùy tục là sống theo với đời mà vẫn giác ngộ. Điểm này, trước đó Trường Nguyên cũng bàn đến với khái niệm Tại quang tại trần, nhưng lý do vì sao thì Trường Nguyên không phát biểu rõ. Và Thường Chiếu đã bổ sung bằng cách diễn đạt khá rõ với quan điểm tùy tục khi người học trò hỏi về pháp thân “Tại thế vi nhân thân;
Tâm vi Như Lai tạng. Chiếu diệu thả vô phương;
Tầm chi cánh tuyệt khoáng.” (Ở thế là nhân thân; Tâm là Như Lai tạng. Chiếu dọi khắp muôn phương; Nếu tìm không thấy bóng.) (14).  Pháp thân hay tự tính giác ngộ được Thường Chiếu gọi là Như Lai tạng thì tồn tại khắp nơi. Có điều, con người tồn tại qua xác thân ngũ uẩn, việc xác lập xác thân trở nên quan trọng đối với ông. Trần Thái Tông sau này cũng chú trọng vấn đề sắc thân khi đi tìm sự giác ngộQuan điểm này có được là do Thường Chiếu và các nhà tư tưởng Thiền phái đã biết y cứ vào tư tưởng Đại phương quảngHoa Nghiêm kinh số 52 ĐTK 279 tờ 275b 17-18 “Một là tất cả, tất cả là một” để làm cơ sở lý luận, nhất là vận dụng vào đời sống, thực thi công việc hộ nước an dân: “Như một lỗ chân lông mà biểu hiện đủ pháp giới thì tất cả lỗ chân lông đều như thế. Nên biết tâm không thì không một kẽ hở nào không là thân Phật” (15). Vậy, pháp thân chính là Phật thân, là thân sinh diệt của con người. Đây là điểm mới của Thường Chiếu và Trần Nhân Tông muốn khẳng định “Bụt ở trong nhà; chẳng phải tìm xa; Nhân khuấy bản nên ta tìm Bụt; Đến cốc hay Bụt chỉn là ta” (Hội thứ năm) (16). Con người có thể giác ngộ ngay trong đời sống thường nhật của chính mình.
Khi đề ra chủ trương tùy tục, ngoài việc y cứ nhiều bản kinh Đại thừa, rõ nét nhất vẫn là Hoa NghiêmThường Chiếu và sau này Tuệ Trung, Thái Tông và Trần Nhân Tông còn thừa hưởng cả một quá trình chuẩn bị của hai dòng thiền Pháp Vân và Kiến Sơ như là xu thế phát triển tất yếu của tư tưởng Phật giáo Việt Nam trong dòng chảy lịch sử của dân tộc. Một xu thế Phật giáo mới mà mỗi lúc càng nhấn mạnh rõ nét vai trò của xác thân hiện hữu trong quá trình đi tìm sự giác ngộhay nói cách khác là không thể giác ngộnếu từ bỏ xác thân con ngườiChân lý chỉ hiện khởi cho bất cứ ai tìm thấy trong đời sống thực, chứ không ở đâu xa cả. Và như thế, dù tăng hay tục ở trong chùa hay ngoài xã hội đều có thể ngộ đạo.  Điều này cung cấp một cơ sở lý luận mới cho một nền Phật giáo mới đang hình thành với chủ thuyết Cư trần lạc đạomà Trần Nhân Tông đề xướngTrước mắt, chủ trương tùy tục được những người kế thừa dòng thiền của Thường Chiếu hầu hết là cư sĩ như Thông Thiền, qua Tức Lự, lại gặp Ứng Thuận, từ Ứng Thuận qua Tiêu Diêu, lại gặp Tuệ Trung kể cả các vua đầu nhà Trần vận dụng để thoát cảnh phân ly và đánh tan đế chế Nguyên Mông ra khỏi đất nước. Trong đó, Tuệ Trung là người có sự đóng góp lớn cho đất nước qua hai cuộc chiến chống quân Nguyên Mông và cũng là người truyền tâm ấn cho Sơ Tổ Trúc Lâm. Và Trần Nhân Tông triển khai chủ thuyết Cư trần lạc đạo làm tư tưởng chính cho cả Thiền phái hoạt động.
Rõ ràngPhật giáo là cuộc sống, không có sự phân biệt bất cứ thành phần nào trong xã hộiPhật giáo là gì, chính là quá trình đi tìm chân lýChân lý thì không nằm trong Phật giáo mà nằm trong cuộc sống. Từ đây, chúng ta không ngạc nhiên gì khi Trần Nhân Tông xây dựng chủ thuyết Cư trần lạc đạo để làm tôn chỉ hoạt động Thiền phái. Thông qua bài phú Cư trần lạc đạotư tưởng ở đời mà vui với đạo, càng làm sáng tỏ tinh thần tùy duyên để con người an trú với đạo. Ngay câu mở đầu của hội thứ nhất, Sơ Tổ đã cho biết phạm trù đời và đạo được xác định theo quan điểm mới mà các Thiền phái Trung Hoa chưa từng đề cập “Mình ngồi thành thị, nết dụng sơn lâm”.  Ta có thể hiểu đời là thành thị, đạo là là sơn lâm. Tuy vậy, cuộc sống thực tiễn cho thấy, một người dù ở thành thị gánh vác bao nhiêu việc đời, song họ biết xử lý công việc với lòng trong sạch chẳng khác gì ở núi rừng. Đây chính là quan điểm “chẳng phải đại ẩn, tiểu ẩn, không phân biệt tại gia, xuất gia” như Trần Thái Tông đề xuất trong Thiền tông chỉ nam tự. Xưa naymọi người đều biết đại ẩn chính là sống ở thành thị nhộn nhịp mà giữ lòng trong sáng, còn tiểu ẩn là sống ở núi rừng để trau dồi bản thân đến chỗ hoàn thiện. Người Phật tử Đại Việt thời Trần chỉ tùy duyêntùy thuận vào mối liên hệphân công của xã hội theo khả năng của mình mà thể hiện đời sống đạo bằng cách:
“Dứt trừ nhân ngã, thì ra thực tướng Kim cương;
Dừng hết tham sân mới lảu lòng mầu Viên giác” (Hội thứ hai).
Thế nên, Thái Tông đã thực thi lời khuyên của Quốc sư Phù Vân mà đạt được được sự giác ngộ. Từ đó, Trần Nhân Tông cho rằng không phải đến núi Cánh Diều của Yên Tử hay tại am Sạn của Đông Sơn mà có sự giác ngộ:
“Áng tư tài tính sáng chẳng tham, há vì ở Cánh Diều Yên Tử Răn thanh sắc niềm dừng chẳng chuyển, lọ chi ngồi am Sạn non Đông” (17) Những danh lam thắng cảnh ấy như Cánh Diều Yên Tử và am Sạn non Đông chỉ là nơi con người quy hướng, chiêm ngưỡng vẻ đẹp của non sông mà tu tâm dưỡng tính, như Huyền Quang đã họa trong bài Vịnh Vân Yên tự phú:
“Ngồi đỉnh Vân Tiêu; Cưỡi chơi Cánh Diều.  Coi Đông Sơn tựa hòn kim lục; Xem Đông Hải tựa miệng con ngao”(18).
Sự giác ngộ hiện hữu ngay giữa đời. Tuy nhiên, Nhân Tông không cực đoan phủ nhận cuộc sống thanh tịnh của rừng núi, chính vua đã nhiều lần vào núi Yên Tử, Vũ Lâm để an trú tâm thức mà ta thấy được trong Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca: “Vượn mừng hủ hỷ;
Làm bạn cùng ta. Vắng vẻ ngàn kia; Thân lòng hỷ xả” (19).
Như vậy, vấn đề quan trọng không phải là sống ở thành thị hay núi rừng mà giác ngộ, nhất là ở giữa cuộc đời trần tục giác ngộ mới đáng thật tự hào. Chính bản thân Trần Nhân Tông là một người tìm thấy giác ngộngay những ngày với cương vị nhà lãnh đạo tối cao đang ráo riết chuẩn bị đối phó cuộc chiến tranh do Hốt Tất Liệt tiến hành vào năm 1287 và nhất là rơi vào thời điểm khi mẹ vua Nhân Tông mất như sử liệu ghi (20). Rõ ràng, giữa bao nhiêu biến động và phiền lụy của cuộc đờicon người vẫn có thể chuyển hóa thân tâm “muôn nghiệp lặng, an nhàn thể tính” chẳng khác nào Pháp Loa nói trong bài kệ Thị tịch.  Khi con người cắt đứt vạn duyên hão huyền, tức là đoạn tận các nghiệp để chấm dứt hệ lụy:
“Vạn duyên tiệt đoạn nhất thân nhàn, Tứ thập dư niên mộng ảo gian.
Trân trọng chư nhân hưu tá văn,
Ná biên phong nguyệt cánh hoàn khoan.” (Một thân nhàn nhã dứt muôn duyên, Hơn bốn mươi năm những hão huyền.  Nhân bảo các người đừng gạn hỏi, Bên kia trăng gió rộng vô biên) (21) Phật luôn hóa hiệngiữa đời, mỗi người chỉ cần đoạn xan tham, sống đạo đức nhân nghĩa với người khác thì ai cũng là Phật Thích CaPhật Di Lặc. Đây là giá trị thiết thực mà tư tưởng Cư trần lạc đạo đem lại:
“Tích nhân nghì, tu đạo đức, ai hay này chẳng Thích Ca, Cầm giới hạnh, đoạn ghen tham, chỉn thực ấy là Di Lặc” (22) Phật giáo dưới thời Trúc Lâm là thế. Người Phật tử có thể sống và trở thành những vị Phật như Thích Ca và Di Lặc. Chính tư tưởng này mới tác động vào tâm thức mọi người với mọi khả năng tự tin, đầy bản lĩnh sáng tạo để cống hiến. Đây chính là tinh thần nhập thế tích cực mà Thiền phái đã thành tựu.
2.2. Tinh thần nhập thế:
Tinh thần nhập thế của Thiền phái Trúc Lâm trở thành một trong những đặc trưng nổi bật của Thiền tôngViệt Nam khi nhìn nhận nó trong dòng chảy lịch sử nước nhà. Trong bài viết “Tìm hiểu về Trần Nhân Tông, vị sáng Tổ sáng lập dòng Thiền Trúc Lâm”, Mạn Đà La phát biểu “Tinh thần của Thiền học Trúc Lâm là thiền học dân tộc, nghĩa là một mặt không ngừng phát triển tận cùng khả năng giác ngộ giải thoát để vươn lên đỉnh cao của con ngườigiác ngộ giải thoát hoàn toàn; mặt khác, không ngừng tích cựcxây dựng an lànhcho chúng sinh bằng cách trước hết phục vụ đất nước, dân tộc những người gần mình và có ân nghĩa đối với cuộc sống của mình” ”(23) Thiền phái Trúc Lâm đã nhập thế cùng dân tộc trong sự nghiệp phát triển đất nước. Thực ratinh thần nhập thế đã có từ thời Mâu Tử khi đạo Phật mới du nhập, nhưng phải đến Phật giáo đời Trần với Thiền phái Trúc Lâm thì tinh thần nhập thế mới được phát huy cao độ. Nó không chỉ tạo ra bản sắc Thiền tông Đại Việt mà còn tác động mạnh mẽ vào đời sống chính trị văn hóa xã hội nước nhà. Việc định hướng bảo vệ chủ quyền dân tộc, mở rộng biên cươngchấn hưng văn hóa Đại Việt của nhà Trần đều mang dấu ấn quan điểm Phật giáo, nhất là tư tưởng tùy duyên mà vui với đạo của Thiền phái. Sự thành công của nhà Trần là có các ông vua lãnh đạo đất nước biết vận dụng tư tưởng Cư trần lạc đạo để huy động sức mạnh đoàn kết toàn dân. Tiềm lực dân tộc trước hết nằm ở lòng yêu nước của toàn dân để xây dựng Đại Việt thành một quốc gia hùng cường mà không có một thế lực nào ngăn cản được.
Với tinh thần “tùy duyên bất biếnbất biến mà tùy duyên”của kinh Hoa Nghiêm, nó đã quy định tính chấtnhập thế của Thiền phái.  Tuy nhiên, có ý kiến khái niệm nhập thế không phải là thuật ngữ chỉ dành cho Nho giáo - một hệ thống triết học mang tính thực tiễn chính trị và luân lý đạo đức rất cao…, khái niệm nhập thế này nhằm phân biệt với khuynh hướng xuất thế của triết học Lão Trang (24).  Thiển ý của chúng tôi, cả hai khái niệm nhập thế của Nho giáo và xuất thế của Lão giáo mà tác giả này đề cập càng không thể đánh đồng với khái niệm nhập thế và xuất thế mà Phật giáo quy định. Khái niệm nhập thế đã được Phật định hình từ lâu theo tinh thần “Này các Tỳ kheo, hãy du hành, vì hạnh phúc cho quần sinh, vì an lạc cho quần sinh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài người” (25). Và các đệ tử của Phật từ xưa đến nay đã đi từ thành thị đến nông thôn để làm lợi cho đời.  Xét cho cùng, khái niệm xuất thế của đạo Phật thì mang ý nghĩa nhập thế mà Phật đã vạch định. Bài văn Cảnh sách của Quy Sơn (771 – 853) rất phổ biến trong các Thiền đường Việt Nam đã nêu khái niệm xuất thế khá rõ “Phù xuất gia giả phát túc siêu phương, tâm hình dị tục, thiệu long thánh chủng, chấn nhiếp ma quân, dụng báo tứ ân, bạt tế tam hữu” (Người xuất gia là cất bước thì muốn vượt tới phương cao rộng, tâm tính và hình dungkhác hẳn thế tụctiếp nối một cách rạng rỡ dòng giống của Phật, làm cho quân đội của ma phái rúng động, với mục đích báo đáp bốn ân, cứu vớt ba cõi” (26).
Phật giáo Đại Việt với nền Phật giáo thế sự, lấy chủ trương tùy tục để nhập thếThông Thiền đệ tửThường Chiếu đề xuất khái niệm xuất thế được xác lập theo tinh thần duyên sinh vô ngã “Chỉ xem ngũ uẩnđều không, tứ đại vô ngãchân tâm không tướng, không đến không đi, khi sinh tính không đến, khi chết chẳng đi, yên tỉnh viên tịchtâm cảnh như một.  Phải hiểu được như vậy mới chóng đốn ngộ, không bị ba đời ràng buộc. Như thế, người xuất thế, tất thảy các điều ấy không thể tách rời nhau” (27).
Quy định nội dung xuất thế như thế, con người không nhất thiết xuống tóc xuất gia, chỉ cần ngộ cái lý năm uẩn là không, chân tâm không tướng… thể nhập đời trong mối tương quan mà có thái độ sống thích hợpcống hiến cho đời là cho đạo. Huống nữa, Thiền phái còn y cứ kinh Pháp Hoa làm cơ sở lý luận cho việc nhập thế, thì quan điểm Phật giáo đi vào đời đã trở thành nét đặc trưng với lời dạy nổi tiếng về nhiệm vụcủa một vị Phật “khai thị ngộ nhập Phật tri kiến cho chúng sinh”. Và quan điểm vào đời ấy tùy thời, tùy yêu cầu từng giai đoạn của lịch sử giao phó mà Phật giáo tham gia đóng góp cho nước nhà. Đạo Phật nhập thếtrở nên có một thế nhập lớn trong lòng dân tộc. Nó trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt cho đường lối Thiền phái hoạt động từ đó và sau này:
“Trần tục mà nên, phúc ấy càng yêu hết tấc, Sơn lâm chẳng cốc, họa kia thực cả đồ công” (Hội thứ ba) (28) Chính tư tưởng tu hành và giác ngộ ngay giữa trần tục đã hình thành nên mẫu người Phật tử biết đem đạo ứng dụng vào đời. Chính Trần Thái Tông là người sống trong thế giới sặc mùi danh lợi, thế mà ông vẫn giải thoát và lãnh đạo nhân dân ta thắng lợi cuộc chiến chống quân Nguyên lần thứ nhất và cũng là người chủ trương đặt nền móng cho Thiền phái Trúc Lâm ra đời. Không chỉ Thái Tông mà một loạt thiền sư xuất giatại gia của giai đoạn này đều tích cực tham gia vào các hoạt động của đời sống kinh tế, chính trị của đất nước.  Họ có thể là nhà tư tưởng chiến lược, tướng cầm quân, nhà tri thức lớn, nhà thơ - văn, thầy thuốc tùy theo sự phân công và khả năng mà sẵn lòng tham gia cống hiến, sống đúng đạo lý như Trần Nhân Tông nói trong Cư Trần lạc đạo:
“Sạch giới lòng, chùi giới tướngnội ngoại nên Bồ tát trang nghiêm, Ngay thờ chúa, thảo thờ cha, đi đỗ mới trượng phu trung hiếu.
Tham thiền kén bạn, nát thân mình mới khá hồi ân, Học đạo thờ thầy, dọt xương óc chưa thông của báo” (Hội thứ sáu) (29). Hình tượng này là tiêu biểu cho mẫu người Đại Việt thời đại Đông A nói chung, chứ không phải riêng gì cho Phật giáo. Những người làm nên sự nghiệp hào hùng của dân tộc ta vào thời này hầu hết là Phật tử. Điển hình cho mẫu người lý tưởng này là Tuệ Trung. Ông có thái độ sống nhập thế tích cực vì dân, vì nước chứ không vì sự giải thoát riêng mình. Ông trở thành vị tướng tài có công trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông, đồng thời cũng là thiền sư ngộ đạo thể hiện rõ sự tự tạigiải thoátTinh thần này khiến người ta sống tự tại, nhất là luôn ý thức làm những việc nên làm và không nên làm, có khi tạo ra những điều kỳ diệu cho nước nhà bất chấp mọi chướng duyên.
Vận dụng tinh thần nhập thế của Thiền phái, Trần Thánh Tông cùng Trần Nhân Tông làm nên điều kỳ tích là lãnh đạo thành công hai cuộc chiến tranh vệ quốc xảy ra năm 1285 và 1287 khi xác định “Thiên hạ là thiên hạ của Tổ tông, người nối nghiệp của Tổ tông phải cùng hưởng ứng phú quý với anh em trong họ. Tuy bên ngoài có một người ở ngôi tôn, được cả thiên hạ phụng sự, nhưng bên trong thì ta với các khanh là đồng bào ruột thịt…” (30).  Quan điểm đoàn kết thân dân chỉ thực hiện được khi mọi người dân cùng chung một quyền lợi và nghĩa vụ với người lãnh đạo đất nước.  Trần Hưng Đạo viết Hịch tướng sĩ để cụ thể hóa vấn đề đó với toàn bộ tướng tá binh sĩ dưới trướng của mình. Còn Trần Nhân Tông thì với chủ thuyết Cư trần lạc đạo, hướng đến việc xây dựng mẫu người Phật tử nhằm bảo vệ độc lập và chấn hưng đất nước. Mỗi khi sự tồn tại quyền lợi của người này là điều kiện nhân tố cho quyền lợi người kia thì tất cả đồng phát triển. Từ đó, mọi người dân hiểu yêu nước là yêu đạo; yêu gia đình là yêu cha mẹbà con, yêu mối tình vợ chồng, con cái trẻ thơ; yêu mộ phần tổ tiên là yêu hồn thiêng sông nước.
Vì vậy, Thiền phái Trúc Lâm nhập thế tích cực hơn nữa. Sau thời kỳ Bắc thuộc, Đại Việt không ngừng vạch định chính sách phát triển đất nước bằng cách mở rộng bờ cõi. Nhà Lý đã sáp nhập ba châu Đại Lý, Ma Linh và Bố Chính, cùng với việc thành lập Thiền phái Thảo Đường. Đến đời Trần, yêu cầu phát triển kinh tế, phục hưng các giá trị văn hóa, việc gia tăng dân số trong thời bình trở nên vấn đề hàng đầu. Trước đó, Trần Thánh Tông đã cho phép các vương hầu, công chúa, phò mã, cung phi chiêu mộ dân nghèo các địa phương khai hoang, lập ấp nhằm đáp ứng việc gia tăng dân số mà Đại Việt sử ký toàn thư ghi rất rõ “ Tháng 10 (1266) xuống chiếu cho vương hầu, công chúa, phò mã, cung tần chiêu tập dân phiêu tán khôngcó sản nghiệp làm nô tỳ để khai khẩn ruộng bỏ hoang, lập thành điền trang.  Vương hầu có trang thực từ đấy.”(31). Sự phát triển đất nước sau chiến tranh khiến nhà Trần có chính sách lâu dài về vấn đề dân số, kéo theo vấn đề kinh tế, an ninh chính trị. Bốn năm sau, Trần Nhân Tông tiếp tục sự nghiệp Nam tiến của cha mình là sáp nhập hai châu Ô Mã và Việt Lý (Bình Trị Thiên ngày nay) vào bản đồ Đại Việt. Từ đây, Đại Việt không chỉ giải quyết được vấn đề áp lực gia tăng dân số mà còn thiết lập được một nền an ninh vững mạnh. Về mặt lý luận, với Phật quan Bụt ở trong lòng (Hội thứ năm) tạo ra sự bình đẳng về con người giải thoátbình đẳng về quyền lợi xã hội và khi đi vào hoạt động thực tiễn với tinh thần nhập thế, nó đã tác độngmạnh mẽ trong công cuộc Nam tiến của dân tộc. Vào năm 1470, vua Lê Thánh Tông đã cắm cột mốc phía Nam của Tổ quốc trên núi Đá Bia ở Phú Yên, đến triều Nguyễn thì cuộc Nam tiến mở mang bờ cõi của dân tộc mới hoàn thành.
Hơn nữa, công cuộc chấn hưng đất nước đòi hỏi phải thực hiện việc tái thiết các công trình văn hóa bị kẻ thù tàn phá. Dưới tác động của chủ trương xây dựng mẫu người Phật tử lý tưởng, người dân đã tích cựctái thiết. Trong Cư trần lạc phú, Trần Nhân Tông nói rõ việc tái thiết quốc gia đó thật là sinh động: “Dựng cầu đò, giồi chiền tháp, ngoại trang nghiêm sự tướng hãy tu” (Hội thứ tám) (32). Việc Trần Nhân Tông đem mười điều thiện dạy khắp đã phản ánh chính sách dùng Chánh pháp để an dân mà trước đó hơn một nghìn năm đã được ghi vào kinh Lục độ tập. Một bản kinh được Phật giáo nước ta vận dụng nhuần nhuyễn phù hợp với đạo lý truyền thống. Nó được các nhà lãnh đạo quốc gia dùng làm “pháp luật quốc gia” nhằm đem lại sự bình an cho xã hội với mục đích “Rèn lòng làm Bụt, chỉn xá tua một sức dồi mài; Đãi cát kén vàng, còn lại nhiều phen lựa lọc” (Hội thứ tám).
Do đó, Trần Nhân Tông khuyến cáo người dân hãy tinh tấn rèn lòng làm Bụt như là sự thăng tiến đạo đức bằng nhiều phương thức để giác ngộ. Có thể thực thi hành thiền bằng thoại đầu theo lối thiền của thiền sưNam Tuyên Phổ Nguyện, hoặc theo cách Tử Hồ Lợi Tung đuổi chó… vv “Vương lão chém mèo, lạt trẩy lòng ngựa thủ toạ;
Thầy Hồ khua cho, trỏ xem trí nhẹ con giàng” (Hội thứ chín) (33). Và còn nhiều phương thức khác nữa mà Trần Nhân Tông đã dành cả hội thứ chín để trình bày từ thời Sơ Tổ Đạt Ma gặp vua Lương Vũ Đế nhà Lương cho đến thiền sư Linh Vân Chí Cẩn khi thấy hoa đào nở rộ mà giác ngộđại sư Hương Nghiêm khi cuốc đất, hòn đá văng vào cây trúc mà hiểu đạo. Cho nên Trần Nhân Tông nói cách thức giác ngộ có khác nhau, nhưng chân lý là một:
“Vậy cho hay:
Cơ quan tổ giáo;
Tuy khác nhau nhiều đàng,
Chẳng mấy tấc gang” (Hội thứ chín) (34).  Sống ở đời mà vui với đạo theo vua Trần Nhân Tông là cuộc sống thiền. Đã là thiền là tuỳ duyên, tuỳ căn, tuỳ thời mà sống với đạo.  Đó là tìm sự giác ngộ ngay giữa đời thường mà tích cực đóng góp cho đời cho đạo:
“Tượng chúng ấy,
Cốc một chân không;
Dùng đòi căn khí.
Nhân lòng ta vướng chấp khôn thông:
Há cơ tổ nay còn thửa bí.
Chúng Tiểu thừa cốc hay chửa đến, Bụt xá ngăn Bảo sở hoá thành;
Đấng Thượng sĩ chứng thực mà nên, ai ghẽ có sơn lâm thành thị”. (Hội thứ10) (35) Vậy là Thiền phái Trúc Lâm với tinh thần nhập thế đã góp phần giải quyết một loạt vấn đề đặt ra cho Phật giáo Đại Việt, đáp ứngcác nhu cầu đòi hỏi của dân tộc. Sau thời Trần Nhân TôngPhật giáo còn tích cực nhập thế với những nhiệm vụ mới mà lịch sử giao phó.
3. Giá trị ngôn ngữ - Ý thức tự chủ trong vấn đề sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt.
Kể từ khi truyền bản của thiền sư Chân Nguyên được ni cô Diệu Liên ấn bản lưu hành vào năm 1745, đến nay đã hơn ba thế kỷ, Cư trần lạc đạo phú đã được in và tái bản nhiều lần qua nhiều triều đạithời đại khác nhau.  Điều đó, nó có sức hấp dẫn với người đọc và giới nghiên cứu không chỉ về mặt lý luận tư tưởng thiền học mà còn đề cao việc ý thức tự chủ sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt của cha ông ta ngày xưa để chống lại văn hoá ngoại lai Hán tộc. Ta cũng thấy, vào thời Lê Sơ và thời Mạc, Phật giáo phục hưng trong phong trào dân tộc hoá với việc dịch kinh sách ra tiếng Việt như Đại báo phụ mẫu ân trọng kinh của thiền sư Viên Thái, việc in lại các tác phẩm sử học Phật giáo như Nam tông tự pháp đồ của trạng nguyên Lương Thế Vinh, Thánh đăng ngữ lụccủa thiền sư Chân Nguyên và việc cổ xuý dùng tiếng Việt của thiền sư Pháp Tính trong Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa.  Trong một bối cảnh đất nước độc lập tự chủ trên mọi lĩnh vực, việc vua Trần Nhân tông đề cao việc sử dụng tiếng Việt là nhằm muốn thể hiện bản sắc văn hoá dân tộc. Sự xuất hiện và tồn tại ngôn ngữtiếng Việt qua việc sáng tác các tác phẩm bằng chữ Nôm là sự minh chứng cụ thể. Thật là vinh dự cho một nền văn học tiếng Việt nước ta được bắt đầu bằng một ngòi bút của vị anh hùng dân tộc đã có những tác phẩm thể hiện văn hoá của dân tộc, chứ không chỉ riêng Phật giáo mà Cư trần lạc đạo phú là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất.
Cư trần lạc đạo phú là một tác phẩm thuộc thể loại phú tiếp thu từ thể loại văn học Trung Hoa. Lưu hiệptrong Văn tâm điêu long đã viết Phú giả, phô dã” (Phú chính là trình bày). Do đó, đặc trưng của thể phú là trình bày cái đẹp, lời văn trong phú lấy sự vật để nói cái chí. Một trong những thuộc tính sớm được xác định của thể phú là “tả chí” (36). Cái “chí” ở đây được Đặng Thai Mai giải thích trong “Thi ngôn chí”, đó là “Ta nên hiểu chữ “chí” ở đây là “tâm” của kẻ sĩ. Cho nên “chí” không chỉ có phần nghị lực, phần ý chí mà thôi, mà nó có phần tâm tình kẻ sĩ nữa” (37). Phú ở Trung Hoa và Việt Nam đều được hiểu trong tinh thầnđó.  Ở Việt Nam, phú xuất hiện từ đời Trần, đời Lý cổ sử có đề cập đến nhưng cho đến nay chúng ta vẫn chưa tìm được những bài phú này. Gần đây, Tổng tập Văn học Việt Nam giới thiệu thêm một vài bài phú chữ Hán đời Trần, mà trước đó đã công bố 13 bài đã in trong Quần hiền phú tập, có lúc được gọi là Phú đời Trần - Hồ (38). Các bài phú này đều ca ngợi tư tưởngthể hiện tấm lòng của kẻ sĩ đối với đất nước, đối với triều đại trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Nhưng điểm nổi bật của bài Cư trần lạc đạo phú được viết bằng chữ Nôm đầu tiên của nước ta, thuộc lại văn học chủ đề, là bản văn chính luận tập trung trình bày một số vấn đề tư tưởng và lý luận khá phức tạp. Thế mà Trần Nhân Tông chủ động dùng chữ Nôm, ngôn ngữ tiếng Việt để phát biểudiễn đạt những tư tưởng tương đối khó nắm bắt, nhất là triết lý Phậtgiáo để mọi người đều dễ hiểu trong một thể loại phú, chứng tỏ ngôn ngữ tiếng Việt bấy giờ đã đủ khả năngchuyển tải bất cứ nội dung tư tưởng khác nhau với nét đẹp riêng của nó. Tiếng Việt trở thành một ngôn ngữ của văn học. Đây chính là cống hiến của tác phẩm Cư trần lạc đạo phú, làm tiền đề cho các tác phẩmchữ Nôm khác ra đời trong dòng chảy của văn học Trung đại nước ta nói chung, văn học Phật giáo noí riêng.
Thực tế, không phải ngẫu nhiên mà chữ Nôm, ngôn ngữ tiếng Việt được sử dụng trên văn đàn vào thế kỷ thứ XIII như Cư trần lạc đạo phú, Đắc thú lâm thành đạo ca của Trần Nhân Tông, Vịnh Vân Yên tự phú của Huyền Quang, Giáo tỷ phú tương truyền của Mạc Đĩnh Chi mà cả quá trình thai nghén tích luỹ từ lâu. Ngay cả các ngôn ngữ các nước khác cũng đều trải qua quá trình hình thành và tích luỹ như thế. Tiếng Việt ta để có những tác phẩm trụ vững trên văn đàn phải có sự tích luỹ từng mẫu chữ, từng tiếng ghi lại những tên tuổi xin cúng vái ở trong chùa, hay việc mô tả những điều mắt thấy tai nghe trong cuộc sống đời thường cho đến việc trải qua quá trình kết tụ lâu dài từ bài Việt ca đầu tiên được biết, rồi các chuyện trong Lục độ tập kinh và Tạp thí dụ kinh, hoặc bài Giáo trò tương truyền của Từ Đạo Hạnh mà giới nghiên cứu gần đâyđã lưu tâm bước đầu tìm hiểu.  Để hình thành các phẩm chữ Nôm, mà Cư trần lạc đạo phú là thí dụ điển hình, Trần Nhân Tông trong vai trò là vị vua, Thái thượng hoàng, Tổ sư phái Thiền đã thay mặt nhân dân và Phật giáo khẳng định ý thức tự chủ độc lập của dân tộc không chỉ trên địa hạt biên cương lãnh thổ mà trên cả địa hạt văn hoá ngôn ngữ nhằm chống lại sự đồng hoá ngôn ngữ Hán tộc. Ngôn ngữ còn là dân tộc còn và nó có đủ khả năng thể hiện dân tộc tính mạnh nhất. Sự xuất hiện bài phú Cư trần lạc đạo phú và các tác phẩm chữ Nôm khác vào thế kỷ XIII giúp chúng ta khẳng định tiếng Việt đã được xuất hiện trước đó từ lâu lắm rồi, ít nhất là nó cũng được sử dụng trong ngôn ngữ tiếp xúc đời thường. Đây là quá trình hình thành và phát triển khách quan của một bất kỳ ngôn ngữ nào, chứ không riêng gì ngôn ngữ tiếng Việt.
Khảo sát bài Cư trần lạc đạo phú, ta thấy toàn bài có 1688 từ, kể cả tên đầu đề, tên các hội và bài kệ kết thúc ở hội thứ mười. Trong đó, 1623 từ tiếng Việt dành cho số từ 10 hội, thì từ “lòng” chiếm 18 lần, “cho” chiếm 13 lần, “chẳng” chiếm 13 lần, “mới” chiếm 12 lần, “Bụt”chiếm 10 lần. Ngoài rachúng ta còn thấy xuất hiện rất nhiều danh từ tên riêng, tên chung được Việt hoá từ chữ Phạn như Thích CaDi ĐàCâu Chi, Diễn Nhã Đạt ca, Bát nhãBồ đềBồ tát, Đàn việt… Các tên điạ danh, tên người như Yên Tử, Cánh Diều, Hà Hữu, Hùng Nhĩ, Tân LaThiên TrúcThiếu LâmTào KhêThiếu Thất, Lư Lăng, Phá Táo, Thạch Đầu, Bí Ma, Thuyền Tử, Đạo Ngô, Thiều Dương, Triệu Lão, Thiên Cang, Thái Bạch cũng được xem như tiếng Việt. Các từ chuyên môn Phật học cũng được xuất hiện trong bài phú như bát phongbát thứccực lạcđại thừatiểu thừahữu lậuvô lậukim cươnglục cănlục trầnlục tặctam độctam thântam tạngtam huyềntam yếutam nghiệptịnh độtái sinhthái bìnhtrí tuệthượng sĩ, tri âm, tri thứctri kiến, tri cơ, trượng phu, trưỡng lão, viên giácvô thườngvô ngãvô minhvô sinh, vô tâm… cũng được Trần Nhân Tông mạnh dạn sử dụng đưa vào tác phẩm. Tất cả đủ minh chứng sức sáng tạo cũng như khả năng tiếp biến và làm giàu ngôn ngữ tiếng Việt của nhân dân ta, trong đó vua Trần Nhân Tông là người đầu tiên chủ trương thực thi hoá tiếng Việt vào đời sống văn họcthể hiện tư tưởng dân tộc trong vấn đề sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt.
4. Kết luận
Giá trị nội dung của tác phẩm “Cư trần lạc đạo phú” là thế. Nó được đúc kết và hình thành chủ thuyết Cư trần lạc đạo là nhằm đáp ứng nhu cầu và sự thoả mãn các yêu cầu lý luận cho một giai đoạn Phật giáomới. Một giai đoạn Phật giáo với sự hình thành và phát triển Thiền phái Trúc Lâm với chủ trương nhập thếtích cực hơn bao giờ hết để mọi người Phật tử vừa thực hiện nhiệm vụ vừa xây dựng một đời sống theo đạo lý Thiền tông, nhưng đồng thời họ cũng tham gia tích cực làm tròn trách nhiệm của một công dân có đạo đối với việc xây dựng và phát triển đất nước.  Hay nói rõ hơn, Cư trần lạc đạo phú, viết bằng chữ Nôm, sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt lần đầu tiên của Trần Nhân Tông được ra đời vào thế kỷ XIII là nhằm tạo một diện mạo mới, một sức sống mới cho Phật giáo Việt Nam bằng cách đưa các giá trị tư tưởng Thiền học của Thiền phái Trúc Lâm vào việc thực thi nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước Đại Việt trở nên hùng cường trên nhiều lĩnh vực.  Trong đó, ta thấy có cả việc đề cao việc sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt mà Trần Nhân Tông chủ trương như là sự thể hiện ý thức tự chủ văn hoá của một dân tộc là điều tất nhiên.
Chú thích:
(1) Viện Văn học, Thơ văn Lý Trần, tập 2, Nxb KHXH – HàNội, 1989, tr. 451 - 452
(2) Tam Tổ thực lục, (Thích Phước Sơn dịch và chú giải), Viện NCPH, 1995, tr. 20
(3) Lê Mạnh Thát, Kiến tính thành Phật lục, trong Chân Nguyên thiền sư toàn tập, Tu thư Vạn Hạnh, 1982, tr 72.
(4) Lê Mạnh Thát, Toàn tập Trần Nhân Tông, Nxb TP. HCM, 2000, tr. 272.
(5) Viện Văn học, Thơ văn Lý Trần, tập 2, Nxb KHXH – HàNội, 1989, tr. 510.
(6) Nguyễn Duy Hinh, Tư Tưởng Phật giáo Việt Nam, Nxb KHXH- Hà Nội, 1999, 306.
(7) Viện Văn học, Sdd, tr. 506
(8) Viện Văn học, Sđd, tr. 278 -280.
(9) Lê Mạnh Thát, Toàn tập Trần Nhân Tông, Nxb TP. HCM, 2000, tr. 272 - 273
(10) Viện Khoa học Xã hội, TTNCHN, Tuệ Trung Thượng sĩ với Thiền tông Việt Nam, Nxb Đà Nẵng, 2000, tr. 24.
(11) Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 3, Nxb Tp. HCM, 2002, tr. 576.
(12) Sđd, tr 608.
(13) Viện Văn học, Sđd, tr. 505.
(14) Thiền Uyển tập anh, Ngô Đức Thọ dịch, Nxb Văn học, 1990, tr. 150 -151.
(15) Sđd, 150 -151.
(16) Viên Văn học, Sđd, tr 506.
(17) Viện Văn học, Sđd, 506.
(18) Viện Văn học, Sđd, 711.
(19) Viện Văn học, Sđd, 533.
(20) Đại Việt sử ký toàn thư, tập 2, Viện KHXHVN, Nxb, Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1998, tr. 59.
(21) Viện Văn học, Sđd, tr. 648.
(22) Viện Văn học, Sđd, tr. 506.
(23) Mạn Đà La, “Tìm hiểu về Trần Nhân Tông, vị sáng Tổ sáng lập dòng thiền Trúc Lâm”, bản in roneo, 1987, tr 6.
(24) Trương Văn Chung, Tư tưởng triết học của Thiền phái Trúc Lâm đời Trần, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,1998, tr 163 -164.
(25) Tương Ưng Bộ kinh, 1, Thích Minh Châu dịch, Trường CCPHVN ấn bản, 1982, tr. 126
(26) Sa di giới và Sa di ni giới, Phần Cảnh sáchTrí Quang dịch, Nxb. TP. HCM, 1994, tr. 221. 
(27) Thiền Uyển tập anh, Ngô Đức Thọ dịch, Nxb Văn học, 1990, tr. 153
(28) Viện Văn học, Sđd, tr. 506.
(29) Viện Văn học, Sđd, tr. 507.
(30) Đại Việt sử ký toàn thư, tập 2, Viện KHXHVN, Nxb, Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1998, tr. 37.
(31) Sđd, tr. 36.
(32) Viện Văn học, Sđd, tr, 508.
(33) Viện Văn học, sđd, tr. 509. Xem thêm chú thích 67, tr. 528 Thơ Văn Lý Trần, tập 2.
(34) Viện Văn học, sđd, tr. 508.
(35) Viện Văn học, sđd, tr. 509
(36) Lưu Hiệp, Văn tâm điêu long, Thuyên phú. Xem Chử Bân Kiệt, Trung Quốc cổ đại văn thể khái luận, BắcKinh Đại học xb xã,1990, tr. 69
(37) Tuyển tập Đặng Thai Mai, tập 1, Nxb Văn hoá, 1984, tr 360
(38) Viện Văn học, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 5, 2005, tr 81.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.         Trương Văn Chung, Tư tưởng triết học của Thiền phái Trúc Lâm đời Trần, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nôi,
1998.
2.         Đại Việt sử ký toàn thư, tập 2, Viện KHXHVN, Nxb. KHXH, Hà Nội, 1998.
3.         Nguyễn Duy Hinh, Tư Tưởng Phật giáo Việt Nam, Nxb KHXH - Hà Nội, 1999.
4.         Lưu Hiệp, Văn tâm điêu long, Thuyên phú. Xem Chử Bân Kiệt, Trung Quốc cổ đại văn thể khái luận, Bắc Kinh Đại học xb xã,1990.
5.         Mạn Đà La, “Tìm hiểu về Trần Nhân Tông, vị sáng Tổ sáng lập dòng Thiền Trúc Lâm”, bản in roneo, 1987.
6.         Sa di giới và Sa di ni giới, Phần Cảnh sáchTrí Quang dịch, Nxb. TP. HCM, 1994.
7.         Thiền Uyển tập anh, Ngô Đức Thọ dịch, Nxb Văn học, 1990.
8.         Tuyển tập Đặng Thai Mai, tập 1, Nxb Văn hoá, 1984.
9.         Tam Tổ thực lục, (Thích Phước Sơn dịch và chú giải), Viện NCPH, 1995.
10.       Lê Mạnh Thát, Kiến tính thành Phật lục, trong Chân Nguyên thiền sư toàn tập, Tu thư Vạn Hạnh, 1982.
11.       Lê Mạnh Thát, Toàn tập Trần Nhân Tông, Nxb TP. HCM, 2000.
12.       Viện Khoa học Xã hội - TTNCHN, Tuệ Trung Thượng sĩ với Thiền tông Việt Nam, Nxb Đà Nẵng, 2000, tr. 24.
13.       Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 3, Nxb Tp. HCM, 2002.
14.       Tương Ưng Bộ kinh, tập 1, Thích Minh Châu dịch, Trường CCPHVN ấn bản, 1982.
_______________
Tác giả: Trần Lý Trai
Nguồn: thuvienhoasen.org

BÀI THƠ "XUÂN VÃN" CỦA ÐIỀU NGỰ GIÁC HOÀNG - TRẦN NHÂN TÔNG

Vua Trần Nhân Tông là một minh quân đời thứ 3 triều Trần. Từ lúc còn là Thái Tử, Ngài đã được vua cha cho học Thiền cùng Tuệ Trung Thượng Sĩ, biết rõ đường lối tu hành theo tông chỉ “Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc” (Xoay lại soi sáng chính mình là phận sự gốc, không cầu bên ngoài mà được). Khi lên ngôi, dù bộn bề trăm việc đối nội và đối ngoại, Ngài vẫn có chỗ sống riêng của mình, tuy ở trong trần mà vẫn vui với Đạo. Năm 41 tuổi, Ngài nhường ngôi cho con, sau đó xuất gia về núi Yên Tử, lấy hiệu Hương Vân Đại đầu đà, được tôn xưng là Điều Ngự Giác Hoàng. Ngài sáng lập dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử mang đậm bản sắc dân tộc, trở thành vị Sơ Tổ của dòng Thiền đặc thù Việt Nam. Bài thơ “Xuân vãn” là một trong những bài mượn cảnh mùa xuân, diễn đạt một cách sâu sắc trình độ tâm linh vút cao của Ngài:

 

XUÂN VÃN 

 

Niên thiếu hà tằng liễu sắc không, 

Nhất xuân tâm sự bách hoa trung. 

Như kim khám phá Đông hoàng diện, 

Thiền bản, bồ đoàn khán trụy hồng.

 

Hòa thượng Trúc Lâm dịch:

 

CUỐI XUÂN 

 

Thuở bé chưa từng rõ sắc không, 

Xuân về hoa nở rộn trong lòng. 

Chúa Xuân nay bị ta khám phá, 

Thiền bản, bồ đoàn, ngắm cánh hồng.

 

Bài thơ tứ tuyệt ngắn ngủi nhưng bao hàm cả hai giai đoạn đời Ngài: lúc còn bé chưa biết đường tu và khi đã là vị Thiền Sư đạt đạo.

 

“Thuở bé chưa từng rõ sắc không/ Xuân về hoa nở rộn trong lòng”: Thuở bé là lúc còn non tuổi đời, cũng là khi còn ấu thơ về đạo lý. Nhân một ngày xuân đi dạo trong vườn thượng uyển, Thái Tử thấy trăm hoa đua nở tỏa hương ngào ngạt. Chưa thấu hiểu lý Bát Nhã, chưa rõ thể tánh không của các pháp, Thái Tử ngỡ thân tâm cảnh đều thật có. Ý thức chấp ngã chấp pháp mạnh mẽ, nhất là trong điều kiện thuận lợi về vật chất, Ngài làm sao tránh khỏi rộn ràng xao xuyến khi thấy cảnh xuân về? Và đây hầu như là tâm trạng chung của con người, nhất là những ai có tâm hồn nghệ sĩ. Nhà thơ Đinh Hùng nhìn xuân sang mà nhớ hương người xưa:

 

Xuân nào như xuân mới? 

Hương nào như hương xưa? 

Lòng chàng không có tuổi 

Duyên chàng se tình cờ.

 

hay J. Leiba nói thay cô gái tuổi trăng tròn:

 

Em nhớ năm em lên mười lăm, 

Cũng ngày đông cuối sắp sang xuân. 

Mừng xuân, em thấy tim hồi hộp, 

Nhìn cái xuân sang khác mọi lần.

 

Tập khí của chúng ta là dính mắc với trần cảnh, loạn động theo các duyên bên ngoài. Từ đó tạo nghiệp, quẩn quanh trong sáu nẻo luân hồi. Đức Phật dạy, chính sáu căn là đầu mối của phiền não sinnh tử, do tiếp xúc với sáu trần mà khởi tâm phân biệt. Nhưng sáu căn cũng là nguồn gốc của Niết bàn, khi thấy nghe hay biết tất cả các pháp mà vẫn an nhiên tự tại. Thời điểm chợt nhận ra tánh giác thường hằng của chính mình là khoảnh khắc diệu thường, ngàn năm không dễ có. Những bậc đạt đạo dùng rất nhiều mỹ từ tạm đặt tên cho tánh giác sẵn đủ ấy, vì thật sự nó không có tên, cũng không thể dùng ngôn từ diễn tả. Ở đây, Sơ Tổ Điều Ngự gọi là Chúa Xuân. “Chúa Xuân nay bị ta khám phá”. Thật ra, Chúa Xuân không lẫn tránh, không giấu mặt, cũng không phải ở đâu xa. Chỉ vì vọng thức che lấp nên không nhận ra tánh giác lúc nào cũng sáng ngời.

 

Mai Hoa Ni đời Tống viết bài thơ Ngộ đạo như sau:

 

Tìm Xuân, chẳng thấy bóng xuân sang, 

Giày rơm giẫm nát đỉnh mây ngàn. 

Trở về chợt ngửi hương mai ngát, 

Xuân ở đầu cành đã chứa chan. 

(Đỗ Tùng Bách dịch)

 

Một đời lặn lội, mòn mỏi những bước chân giẫm nát cỏ cây trên đỉnh núi mây phủ, thế mà vẫn chưa tìm thấy mùa xuân. Chính vì ý tưởng “tìm xuân” nên xuân không thể hiện. Chúa Xuân không ở bên ngoài, không phải là đối tượng của sự tìm cầu, mà chính là mình - con người bất sanh bất diệt xưa nay. Sực tỉnh xoay trở về chính mình, ta mới nhận ra, quả thật xuân đang trùm khắp vạn hữu, mai đang tỏa ngát mùi hương.

 

Sơ Tổ của chúng ta không những đã trở về, đã khám phá Chúa Xuân, Ngài còn trọn vẹn sống cùng mùa Xuân miên viễn:

 

“Thiền bản, bồ đoàn, ngắm cánh hồng”.

 

Thiền bản là chiếc chõng hay giường nhỏ, bồ đoàn là chiếc gối tròn để ngồi. Đây là hai dụng cụ sử dụng khi tọa thiền. Giường hay chõng thiền còn ám chỉ chân tánh hay bản tâm của mỗi người. Ngồi trên giường Thiền nghĩa là hằng sống cùng bản tâm sẵn đủ. Bản tâm thường tịch nhưng thường tri, luôn lặng lẽ mà luôn chiếu sáng. Định của bản tâm không trụ không xả, không nhập không xuất nên là thường định, đại định. Tinh thần Bồ tát Đại thừa không bỏ huyễn cầu chơn, không bỏ mê về ngộ, không bỏ trần gian thủ chứng Niết bàn. Trong các cảnh vô thường sinh diệt, các bậc đạt đạo nhận ra và sống bằng thể tánh chân thường bất sinh, nên có cái nhìn thẩm thấu vào bản chất của các pháp. Do vậy, các Ngài tự tại anh nhiên trước sự biến đổi của vũ trụ vạn hữu, nên nói “ngồi trên giường Thiền ngắm từng cánh hoa rụng trong một chiều xuân vãn”.

 

Cùng một cảnh xuân nhưng lúc mê thì tâm loạn động, dính mắc theo cảnh, khi ngộ thì an nhiên nhìn mọi sự đổi dời. Xuân đời đến rồi đi, hoa theo xuân nở rồi tàn, nhưng Chúa Xuân mãi hiện hữu, siêu vượt thời - không. Mùa Xuân miên viễn ấy không ở đâu xa, không từ bên ngoài đến, mà ở ngay đương xứ - tại đây và bây giờ. Cầu chúc tất cả chúng ta, nhân mùa xuân đến, nhận ra Chúa - Xuân - tự - tâm của chính mình, đồng thời chan rải hương xuân đến khắp mọi người.

____________________

• Thích Thông Huệ

Nguồn: quangduc.com

HỌA BÀI CƯ TRẦN LẠC ĐẠO

Ngài Trúc Lâm Sơ tổ Trần Nhân Tông có trước tác bài Cư trần lạc đạo phú, dài mười hội, cuối bài phú có bốn câu kệ. Xưa nay, bài phú dài ít người thuộc, nên khi nhắc Cư trần lạc đạo thường khiến mọi người nhớ đến bài kệ:

 

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên

Cơ tắc xa hề khốn tắc miên

Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch

Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.

 

Thực ra, mười hội dài của bài phú cũng chỉ nói đến những quan điểm của người tu giữa chốn trần ai này, cùng các điểm khai ngộ lý thiền. Những nội dung ấy, tóm gọn trong bốn câu kệ cuối. Cho nên, người học đạo và khách yêu thơ cùng những ai nghiên cứu tư tưởng của Cư trần lạc đạo phú cũng có thể thông qua bài kệ trên để chia sẻ với tác giả.

 

Bài kệ trên, dịch nghĩa là thế này:

 

"Sống giữa phàm trần, hãy tùy duyên mà vui với đạo

Đói thì ăn, mệt thì ngủ

Trong nhà sẵn của báu, đừng tìm đâu khác

Đối diện với cảnh mà vô tâm, thì không cần hỏi thiền nữa”.

 

(Thơ văn Lý Trần - tập 2 - NXB Khoa Học Xã Hội - Hà Nội - 1989. Tr.510).

 

Nội dung của bài kệ còn phản ánh phong thái của thiền gia, nên từ trước đến nay đã có nhiều bản dịch thơ bài kệ trên. Tác giả Huệ Chi trong tập sách dẫn trên dịch như sau:


Cõi trần vui đạo hãy tùy duyên

Đói cứ ăn no, mệt ngủ yên

Báu sẵn trong nhà, thôi khỏi kiếm

Vô tâm trước cảnh, hỏi gì thiền.

 

Lại có dị bản:

 

Ở đời vui đạo, thả tùy duyên,

Ðói đến thì ăn, mệt ngủ liền.

Của báu trong nhà, thôi tìm kiếm,

Ðối cảnh vô tâm, chớ hỏi Thiền!

 

(www.duongsinh.net)

 

Thực ra, với ngụ ý của Tổ Trúc Lâm trong bài kệ trên, đem diễn dịch ra dù là văn xuôi hay thơ cũng còn có nhiều chỗ đáng bàn. Chẳng hạn câu “Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền” dịch thành “Đối diện với cảnh mà vô tâm, thì không cần hỏi thiền nữa”, cũng có người cho là chưa ổn. Bởi cái ý “mạc vấn thiền” có thể hiểu đơn giản là “đừng hỏi thiền”. Và lý do để Tổ bảo “đừng hỏi thiền” là “đối cảnh vô tâm”, thì còn khó nói hơn. Trong bản dịch văn xuôi và thơ trên đây, dù chuyển ngữ thành “đối diện với cảnh mà vô tâm”, hay “vô tâm trước cảnh”, thì hai chữ “vô tâm” đều chưa được dịch. Oái ăm thay, chính hai chữ “vô tâm” mới là quan trọng của cụm từ “đối cảnh vô tâm”. Thành ra, việc đọc hiểu thơ thiền của Tổ sư từ thế kỷ XIV đến nay vẫn còn có chỗ để ngỏ.

 

Sở dĩ có đôi điều dài dòng về việc dịch bài kệ Cư trần lạc đạo, là vì chúng tôi bắt gặp hai bản dịch bài kệ trên ở diễn đàn www.duongsinh.net, nhưng người dịch lại có ý xem điều mình viết ra như là một cách họa lại bản dịch, chứ không phải cung cấp thêm bản dịch mới. Cả hai bản họa đều nhằm chia sẻ quan điểm “cư trần lạc đạo” của Tổ sư thiền, lại có những kiến giải thú vị.

 

Một bản của nickname Vanphapquitam, như sau:

 

Ở đời vui đạo, chẳng tùy duyên. 

Ðói đến chưa ăn, mệt chẳng phiền. 

Của báu trong nhà, không tìm kiếm. 

Ðối cảnh hữu tâm, cứ hỏi Thiền!

 

Và một bản họa khác của nickname Ba Gàn:

 

Ở đời chơi đạo, đạo tùy duyên

Đói đến vừa ăn, mệt quẳng liền

Trống rỗng không nhà, hòa bản tánh

Đối cảnh thông tâm, đấm cửa Thiền!

 

Đọc hai bài thơ trên, thấy không khí giống một cuộc đối đáp của khách thiền, nên người học đạo cũng lây niềm mến mộ. Và có lẽ, trên đường cầu đạo, nếu gặp thiện tri thức với những đối đáp ngắn gọn, có khi là mượn ý của Tổ sư ngày xưa, nhưng gợi mở ít nhiều cho quá trình tu học, cũng là nhân duyên lớn vậy.

 

Trở lại với bài họa của Vanphapquitâm, tác giả đang có ý muốn nói khác đi so với Tổ Trúc Lâm. Tất nhiên, nói khác hoặc có khi là nói ngược hẳn lại với ý người đối thoại là chuyện thường tình của nhà thiền, bởi không gian đối thoại tương đồng giữa hai thiền gia là không gian riêng biệt, là một sự đồng cảm trên cơ sở giác ngộ, chỉ mượn ngôn ngữ làm phương tiện. Do vậy, ngôn ngữ trong nhà thiền cũng như cái bắt tay, tiếng hét, nhát gậy đánh… đều là phương tiện để diễn tả những trạng huống thông ngộ. Khi Tổ Trần Nhân Tông nói “ở đời vui đạo hãy tùy duyên”, tức ngụ ý người tu nên có khả năng ứng xử hợp lý (tùy) với mọi tình huống (duyên) xảy ra trong cuộc đời này. Đây cũng là chủ trương chung của nhà thiền, vừa giữ tinh thần nhập thế, vừa dùng việc nhập thế ấy như một phương tiện để tiến tu. Tác giả Vanphapquitam phát biểu: “Ở đời vui đạo, chẳng tùy duyên”, hai câu khác nhau ở chỗ thay chữ “hãy” bằng chữ “chẳng”, và vì thế, ý của Vanphapquitam thành ra không rõ. “Chẳng tùy duyên”, tức là không cùng khế hợp với sự vật, tức là tách người tu ra khỏi cuộc sống này chăng? Nếu thế, mà vẫn dùng “ở đời vui đạo” thì câu này mâu thuẫn nội tại mất rồi. Và đọc ba câu tiếp theo của Vanphapquitam thì thấy tác giả dường như đang diễn đạt với ý chủ quan cho một cách ứng xử chủ động của người tu: Khi đói mà chưa có cái để ăn thì dẫu có mệt cũng chủ động đừng phiền (câu 2); khi đã biết trong nhà có của báu rồi thì chủ động không tìm kiếm (câu 3); Trước cảnh cứ chủ động khởi tâm và hỏi thiền (câu 4). Đây là chúng tôi chủ quan hiểu như thế, xin không lạm bàn, để nhường cho các bậc hiểu đạo. Chỉ nêu ra nhận định về chủ ý và chủ động của Vanphapquitam, như một bắt gặp mới trong khuôn khổ “nói lại” hoặc “họa theo” bài Cư trần lạc đạo.

 

Và bài của nickname Ba Gàn lại mang phong vị hoàn toàn khác, là sự ứng đối nhịp nhàng trong tương quan với bài nguyên tác của Tổ Trúc Lâm. “Ở đời chơi đạo, đạo tùy duyên” cũng là đề cập tu đạo giữa cuộc đời, nhưng ý thơ này không còn bóng dáng của người tu. Tổ Trúc Lâm nói “thả tùy duyên” là vẫn còn bóng dáng của người tu nơi ấy. Ý thơ “Đói đến vừa ăn, mệt quẳng liền” cũng tương tự ý “đói thì ăn, mệt thì ngủ” của Trần Nhân Tông, dù là một bên nói “mệt thì ngủ”, một bên nói “mệt thì không ăn nữa”.

 

Câu thơ thứ ba, Tổ Trúc Lâm dùng hình tượng “của báu ở ngay trong nhà” để chỉ bản tâm ở mỗi người, thì Ba Gàn diễn đạt ý vô ngã: “Trống rỗng không nhà, hòa bản tánh”. Tổ bảo “của báu ở nhà”, Ba Gàn bảo “không cả nhà, hòa với bản tánh”, quả là một ý xướng họa tương đắc vậy.

 

Và câu cuối, khi mọi người trước nay lướng vướng chỗ “đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền” của Tổ, thì Ba Gàn họa bằng một ý mới “đối cảnh thông tâm đấm cửa thiền”. Ý thơ của Tổ dẫu dùng chữ “vô tâm” nhưng vẫn còn “đối cảnh”, ở đây Ba Gàn họa bằng ý “đối cảnh thông tâm”, thành ra tâm và cảnh không còn phân biệt. Bởi tâm thông với cảnh nên bản tánh vượt lên trên cả hai trạng thái: “đối cảnh” và “nhập chung với cảnh”, để thể hiện tính chủ động: “đấm cửa thiền”. Khi tâm thông với cảnh, thì cửa thiền chính là sự “mở toang” như thế chăng?

 

___________________

Nguồn: giacngo.vn

ĐỌC “TRÚC LÂM THIỀN PHÁI TẠI HUẾ” CỦA THÍCH TÍN NGHĨA

Nhân dịp Nguyên Giác và tôi ra mắt sách ở Chùa Bát Nhã, Nam California, Hòa Thượng Thích Tín Nghĩa- Viện Chủ Từ Đàm Hải Ngoại Irving, Texas không về dự được nhưng đã có thư cáo lỗi. Từ việc làm hết sức cẩn trọng và khéo léo đó, tôi sinh lòng cảm mến và làm quen với hòa thượng qua điện thư và được hòa thượng ưu ái tặng cho bốn cuốn sách của chính hòa thượng, bao gồm:

 

HT. Thích Tín Nghĩa

 

- “Trúc Lâm Thiền Phái tại Huế” tái bản năm 1993.

 

- Kỷ Yếu Giáo Hội Phật Giáo VN/TN Hải Ngoại-Hoa Kỳ (Văn Phòng II Viện Hóa Đạo) xuất bản năm 1999.

 

- “Ôn Mật Hiển” xuất bản năm 2007 nói về một danh tăng của đất Thần Kinh- Hòa Thượng Thích Mật Hiển (1907-1992) còn gọi Hòa Thượng Trúc Lâm là bổn sư mà trong Lời Bạt, Hòa Thượng Thích Tín Nghĩa đã trích lời dạy bất hủ của Ôn như sau,”Đã là thầy tu thì đừng sợ chết, nếu sợ chết thì đừng làm thày tu.” Sách này là một công trình đóng góp bài viết về cuộc đời và kỷ niệm với Ôn Mật Hiển của chính tác giả cùng HT. Thích Hộ Giác, Ni Trưởng Thích Nữ Viên Minh, HT. Thích Huyền Tôn, Thích Chơn Thiện, Thích Tuệ Sĩ, Thích Tín Đạo, Trung Hải Nhuận, Thích Tịnh Từ, Thích Đạt Đạo, Thích Nguyên Hạnh, Thái Thị Kim Lan, Thích Nguyên Siêu, Nguyên Trung (Chánh Đạo), Ngô Trọng Anh, Minh Tâm, Thích Nữ Hạnh Thanh, Tâm Huy Huỳnh Kim Quang, Hoàng Nguyên Nhuận, Hoàng Nguyên Nhơn, Phật tử Nguyễn Đình Niên, Châu Trọng Ngô, Đức Hạnh, Trần Kiêm Đoàn, Đỗ Xuân Lượng, Thích Như Đạt, Thích Lưu Phương, Nguyễn Văn Nhơn, Phước Hải, Nguyên Tịnh…và khá nhiều bài thơ vinh danh, tưởng nhớ vị danh tăng này. Phải nói đây là cuốn tiểu sử (Biography) thật đồ sộ.

 

 

- “Dấu Thời Gian” xuất bản năm 2015 sách dày 660 trang mà trong phần giới thiệu, Hòa Thượng Thích Nguyên Siêu- trụ trì Chùa Phật Đà San Diego, California đã viết, “Chứng tích lịch sử Phật Giáo Hải Ngoại “Dấu Thời Gian” đã đưa người đọc từ khúc quanh lịch sử này đến khúc quanh lịch sử khác, như là sự vận động thành lập Giáo Hội Phật Giáo VN/TN Hải Ngoại tại Hoa Kỳ năm 1992 tại San Jose, Bắc Cali…tuần tự suốt thời gian làm việc mấy nhiệm kỳ cho đến ngày nội bộ bị phân hóa…xẻ đôi.”

 

Tôi đặc biệt chú ý tới cuốn “Trúc Lâm Thiền Phái tại Huế” vì đây là một tài liệu quý giá cho chúng ta biết về một Thiền phái mà trong Lời Giới Thiệu, Giáo Sư Kiêm Đạt đã viết,

 

“Thượng Tọa Thích Tín Nghĩa, một trong những vị truyền thừa của Thiền Phái Trúc Lâm tại Huế đã ra công biên soạn tài liệu này, một phần để cống hiến tài liệu hy hữu của thiền phái hiện nay, phần khác để cúng dường những cao tăng thiền đức trong Thiền Phái Trúc Lâm, trong mấy thập niên lại đây đã trải qua không biết bao nhiêu thăng trầm của đất nước và chiến tranh.”

 

 

Sách dày 292 trang, bao gồm các chương như sau:

 

1)Trong chương nói về Thừa Thiên-Huế - kinh đô của Việt Nam kể từ Gia Long 1802 cho tới năm 1945, mảnh đất văn vật và linh hồn của Phật Giáo, tác giả viết, “Đứng về Phật Giáo, thì những đại hội thống nhất Phật Giáo, chấn hưng Phật Giáo, những đại hội Gia Đình Phật Tử đầu tiên, những lớp Phật học gương mẫu đầu tiên cũng đều phát xuất từ Thừa Thiên-Huế” và đã sản sinh ra các danh tăng như: Liễu Quán, Phước Hậu, Nhất Định, Tâm Tịnh, Huệ Pháp, Giác Tiên, Viên Thành, Tịnh Khiết, Giác Nhiên, Đôn Hậu, Mật Khế, Mật Hiển, Mật Nguyện, Mật Thể, Trí Quang, Thiện Minh, Thiện Siêu, Trí Thủ, Sư Bà Diên Trường, Diệu Viện, Diệu Hương, Thể Yến, Diệu Huệ, Diệu Không, Thể Quán…và các cư sĩ như BS. Tâm Minh Lê Đình Thám, Cụ Nghè Đinh Văn Chấp, Cụ Tôn Thất Tùng và Nguyễn Khoa Toàn…

 

Còn về chữ Huế, theo tác giả, các nhà khảo cổ chưa đồng nhất với nhau về nguồn gốc của chữ “Huế”. Có thể do chữ Hóa (Thuận Hóa) mà ra, có thể do chữ Huệ trong câu chuyện Bà Liễu Huệ như sau, “Chúa Nguyễn đến Làng Thọ Xương, vùng Sông Hương uốn khúc như con rồng để chọn địa điểm thuận lợi cho việc lập kinh thành. Chúa đứng trên đồi quan sát một hồi, bỗng thấy một bà già tóc bạc phơ, tướng mạo phương phi tự xưng là Liễu Huệ Quận Chúa và đã hướng dẫn Chúa: Chúa thượng nên xây kinh thành ở về hướng đông kể từ vị trí này là thích hợp nhất. Muốn cho ngôi vị được vững vàng, chúa thượng nên xây trên ngọn đồi này một ngôi chùa cốt là để cho long mạch được vững chắc. Chúa thượng nên thắp một nén nhang (hương) chạy dọc theo con sông này về hướng đông để định hướng. Nói xong bà biến mất. Nén nhang cuối cùng tàn là nơi mà Điện Thái Hòa được xây cất và trên ngọn đồi, Chùa Thiên Mụ cũng được xây vài năm sau đó. Có thể vì sự tích này mà người ta gọi con sông là Sông Hương chăng?

 

2) Trong chương “Huế, Thiền Sư và Triều Nguyễn” tác giả cho biết suốt từ thời Gia Long tới Tự Đức, các vua đều chú trọng tới Phật Giáo, xây dựng, tu bổ chùa chiền, sắc phong, ban cấp “giới đao và bộ điệp”, ban ruộng đất cho các Chùa Thiên Mụ, Diệu Đế, Thánh Duyên, Linh Hựu, Long Quang, Tam Thai, Ứng Chân và Khải Trường nơi đã sản sinh ra các thiền sư như: Thiền Sư Mật Hoàng (gốc Bình Định), Thiền Sư Phổ Tịnh (gốc Quảng Nam), Thiền Sư Thanh Đạm (gốc Ninh Bình), Thiền Sư Nhất Định (gốc Quảng Trị), Thiền Sư Đắc Ân (sinh tại Quảng Bình), Thiền Sư Diệu Giác (gốc Bình Định), Thiền Sư Đạo Thông (gốc Gò Công), Thiền Sư Giác Ngộ (gốc Phú Yên), Thiền Sư Liễu Triệt (Gốc Thừa Thiên), Thiền Sư Phước Hậu (Gốc Thái Bình).

 

3) Trong chương “Huế, Tăng Sĩ và Phật Tử” tác giả trích dẫn sử liệu của Phan Xuân Hoa, xuất bản năm 1957 tại Sài Gòn cho thấy sự hy sinh cao cả của Phật Giáo đồ Miền Trung và tội ác dã man của Thực Dân Pháp, “Hôm 29/9/1949, trong một trận càn quét tại Quận Phong Điền, 860 nóc nhà bị chúng đốt cháy rụi, 80 dân quân bị giết, 113 đàn bà bị hãm hiếp; bà Hoàng Thị Phong, có mang (có thai) sáu tháng cũng bị chúng đem ra mổ bụng. Và trong trận này, ông già Trần Văn Địch ở Vĩnh Xương - Quận Phú Vang bị chúng ném vào đống lửa. Tại Quận Hương Trà, ông già Trần Xuyên bị mổ bụng. Ở Quận Quảng Điền hai bà già trên 60 tuổi bị hiếp dâm…Chính vì những chứng tích vô cùng khốc liệt ấy, tăng sĩ cùng thanh niên Phật tử cùng đồng bào toàn quốc phải đứng lên đấu tranh với Thực Dân Pháp giành lại chủ quyền cho đất nước, mong đem lại an binh cho dân tộc, trong số này một số đông nhà sư đã hy sinh.”

 

4) Trong chương “Huế, Cải Tổ Tăng Chế và Đào Tạo Tăng Tài” tác giả nói về cuộc cải tổ lớn lao của Phật Giáo Trung Việt năm 1930 như thầy cúng chỉ được mặc áo lam, không được mặc áo tràng, nhật bình, y hậu như chư tăng trong chốn Thiền môn quy củ. Mở Đại Học ở Tổ Đình Trúc Lâm (năm 1935), mở lớp Trung Học ở Tổ Đình Tường Vân do Thiền Sư Thích Tịnh Khiết làm giám đốc. Còn về ni, mới đầu học ở Chùa Từ Đàm, sau dời về Chùa Diệu Đức (năm 1932). Tác giả còn đưa lên tấm hình Ban Sáng Lập Hội Phật Học Trung Việt chụp ngày 29/8/1933 tại Chùa Trúc Lâm, Huế mà thành viên 14 vị trong đó có HT. Giác Tiên, HT. Giác Nhiên, BS Lê Đình Thám, BS. Trương Xướng, Ô. Lê Quang Thiết v.v..

 

5) Trong chương Trúc Lâm Tam Tổ tác giả trích dẫn rất nhiều sử liệu như Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên, Bulletin des Etudes Indochinoise s của học giả Nguyễn Văn Tố nói về người kế tục Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử chính là Vua Trần Nhân Tông, “Một đêm vào giờ Tý , nhà vua vượt kinh thành mà đi, mục đích là vào tu hành tại vùng núi Yên Tử, nơi mà trước đây ngài thường vào nghe giảng Phật pháp và có nhiều nhơn duyên tại đó…Mặc dầu Vua Trần Nhân Tông đã thờ ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ làm thầy của mình trong suốt thời gian dài. Nhưng đến khi xuất gia để thọ cụ túc giới 250 giới của một vị tỳ kheo thì ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ vốn là một cư sĩ Thiền Sư nên không thể truyền giới cho nhà vua được. Người truyền giới cho ngài chính là Thiền Sư Huệ Tuệ đang lãnh đạo sơn môn ở Yên Tử- tổ thứ năm của Thiền phái này. Từ ngài Trúc Lâm trở về sau này, phái Yên Tử nổi danh khắp nơi, dân chúng vô cùng ngưỡng mộ, thậm chí thể lệ của Trúc Lâm được lan truyền trong đế đô. ”

 

6) Trong chương Tổ Đình Trúc Lâm Huế, tác giả giới thiệu về ngôi chùa cổ kính này do Sư Bà Hồ Thị Nhàn, pháp danh Thanh Linh thành lập dưới triều Tự Đức 1902 là ngôi nhà tranh vách đất, đã cung thỉnh HT. Giác Tiên làm tọa chủ khai sơn. Ngôi chùa nằm trên một ngọn đồi, sơn thủy hữu tình khiến cư sĩ Đoàn Lục Quán thường tới đàm đạo với HT. Thích Mật Hiển đã đề thơ:

 

Trúc Lâm chùa ở chốn thần kinh.

Phong cảnh nhìn xem thật hữu tình.

Trước mặt bờ khe ùn cát trắng.

Sau lưng, chòm núi lợp cây xanh.

Gió Từ quét sạch rừng phiền não.

Mưa Pháp trôi đùa áng lợi danh.

Y bát mai sau truyền gốc đạo.

Tre già măng mọc ngắm càng xinh.

 

7) Chương kế tiếp tác giả nói về Tổ Giác Tiên, người khai sơn Trúc Lâm Đại Thánh Tự mà trong Việt Nam Phật Giáo Sử, Nguyễn Lang đã viết, “Thiền Sư Giác Tiên có thể nói là người khởi xướng công trình phục hưng Phật Giáo tại Miền Trung. Giác Tiên Thiền Sư hướng đạo cho Hội An Nam Phật Học được bốn năm thì tịch. Các đệ tử của Giác Tiên là Mật Khế, Mật Hiển, Mật Nguyện và Mật Thể đều đóng những vai trò quan trọng trong phong trào Chấn Hưng Phật Giáo sau này.” Trong chương này tác giả còn trích một số bài thơ Thiền của Tổ Giác Tiên như:

 

Tứ bích tiêu sơ tế vũ nan.

Tùng phong thôi xúc lậu tăng hàn.

Bồ lan tâm ý hoàng thu sắc.

Thúc đắc lô trung cá đẳng nhan.

Dịch nghĩa:

Bốn vách tiêu sơ khó ngăn mưa.

Gió tùng thấm lọt mảnh y thưa.

Bồ đoàn quyết ý thu tâm tưởng.

Biết được trong lư mặt mũi xưa.

Và:

Giác mộng tàn tinh điểm bán không.

Trường thiên cô nhạn ảnh vô tung.

Sơ minh nguyệt sắc tà lan ý.

Ấn nhập thiền tâm tiêu tức trung.

Dịch nghĩa:

Tỉnh mộng tàn canh thấy tánh không.

Dưới trời chim nhạn vốn không tung.

Vầng trăng chiếu rọi ngoài hiên vắng.

Thiền tăng chứng nhập, trong ngoài tiêu tan.

 

8) Chương tám nói về tiểu sử Sư Bà Thích Nữ Diên Trường thế danh Hồ Thị Nhàn là con gái thứ ba của Cụ Hồ Đắc Tuấn- Tri Phủ Ninh Giang, Hải Dương, lập gia đình, có hai người con. Người con trai mất năm lên năm tuổi, sau đó chồng cũng qua đời. Cụ xuất gia đầu Phật năm 36 tuổi với HT. Lương Duyên tại Chùa Từ Hiếu. Sau khi đắc giới, cụ về trông nom Chùa Phổ Quang gần Bến Ngự. Năm 1925 cụ an nhiên thị tịch, thọ 64 tuổi.

 

9) Chương chín nói về Thiền Sư Mật Khế.

 

10) Chương mười nói về Thiền Sư Thích Mật Hiển như đã trình bày ở trên.

 

11) Chương này nói về Thiền Sư Thích Mật Nguyện.

 

12) Chương này nói về Thiền Sư Thích Mật Thể.

 

13) Chương này nói về Sư Bà Diệu Huệ, tên thật là Hồ Thị Huyên, con gái của Quận Công Hồ Đắc Trung, kết hôn với Lễ Bộ Thượng Thơ Ưng Úy, sinh ra nhà Bác Học Bửu Hội. Năm 40 tuổi, bà xin xuất gia với Tổ Giác Tiên nhưng Tổ không đồng ý và khuyên bà ở nhà lo chuyện hộ pháp. Tuy là cư sĩ tại gia nhưng bà giữ đúng trai giới của hạnh xuất gia. Vào năm 1952 bà được Tổ Giác Tiên chính thức cho xuất gia. Vào ngày 16/12/1965 bà lâm bệnh, mơ thấy Bồ Tát Địa Tạng đưa bà đi. Khi chư tăng/ni quy tụ đông đảo, bà hỏi đã tới giờ Ngọ chưa? Quý sư cô đáp đã tới rồi. Bà nằm nghiêng niệm Phật từ từ hóa thân một cách nhẹ nhàng.

 

14) Chương này nói về Sư Bà Diệu Không là em ruột của Sư Bà Diệu Huệ. Năm 1929 bà vâng lệnh song thân kết hôn với Tham Tá Cơ Mật Viện Cao Xuân Xang góa vợ và có sáu con còn nhỏ. Chỉ 11 tháng sau, Ô. Cao Xuân Xang qua đời và như thế bà trở thành góa phụ ở tuổi 24. Sau khi nuôi các con khôn lớn, trưởng thành, bà giao chuyện nhà cửa cho cô con gái thứ năm và bước vào cửa Thiền một cách dũng mãnh và đến với Tổ Giác Tiên. Mặc dù được thọ giới Sa Di nhưng Tổ Giác Tiên vẫn chưa cho bà thí phát mà giao cho bà nhiệm vụ vận động chấn hưng Phật Giáo. Bà đi từ Bắc tới Nam để vận động tài chánh. Bà vào cả Tỉnh Sa Đéc để đào tạo ni giới. Năm 1944 bà chính thức được thế phát. Năm 1949 bà khai sáng Hồng Ân Ni Tự. Năm 1963 tham gia phong trào đấu tranh của Phật Giáo đòi quyền bình đẳng tôn giáo. Năm 1968 bà xây dựng cô nhi viện Bảo Anh Tây Lộc ở Huế. Năm 1970 bà thành lập chương trình đào tạo cán bộ y tế cấp tốc. Bà thường nói rằng, “Ngày nào tôi thấy dân chúng quê mình được an cư lạc nghiệp, có trình độ học vấn khá thì tôi yên giấc, ăn mới ngon miệng.” Bà chính là Bồ Tát tại thế.

 

15) Chương này tác giả nói về một vị cư sĩ khả kính của Phật Giáo Việt Nam mà ai cũng biết đó là BS. Tâm Minh Lê Đinh Thám hồi nhỏ đã nổi tiếng là thần đồng, một nhà trí thức uyên thâm Phật học, làm rạng danh Phật Giáo.

 

Lời Kết

 

Đọc xong cuốn sách lòng luống ngậm ngùi, được hiểu thêm về Huế mà tôi chưa một lần đến đó mà chỉ biết qua một vài bản nhạc buồn ảo não như Đêm Tàn Bến Ngự và “Huế buồn mơ, Huế là thơ”, “Quê hương em nghèo lắm ai ơi! Mùa đông thiếu áo, hè thời thiếu ăn!” và hai câu thơ:

 

Gió đưa cành trúc la đà.

Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương.

 

xót thương chư Tổ năm xưa phải sống dưới gót giày xâm lược của Thực Dân Pháp, vua quan nằm dưới áp lực của những tên Khâm Sứ. Chính sách Thực Dân là khai thác tài nguyên, chà đạp, hủy diệt tâm linh và văn hóa dân tộc bản xứ để biến nó thành “Mẫu quốc hải ngoại”. Khi người dân chỉ là những cu-li, nô lệ, đầy tớ nghèo đói thì còn thời giờ và tâm trí đâu để đi lễ chùa, cúng chùa, tìm hiểu về Đạo Phật có lúc đã trở thành quốc giáo của dân tộc. Trong hoàn cảnh tan nát trầm vong như thế mà chư Tổ đã can đảm và quyết tâm giữ gìn đạo của Tổ Tiên. Đời sống thì dưa muối đạm bạc, không được ăn cả trăm món đồ chay ngon miệng như ngày nay. Chùa thì khởi đầu bằng nhà tranh vách đất, thế mà lại trở thành những Thánh Tăng, đào tạo biết bao hậu duệ danh tăng - mà một thời gian dài Phật Giáo Miền Trung (Bình Trị Thiên, Quảng Nam, Đà Nẵng) đã trở thành tiêu biểu và linh hồn của Phật Giáo Việt Nam.

 

Một dân tộc muốn tiến lên, muốn hùng cường phải đọc và thường xuyên ôn lại lịch sử để thấy những cái Bi cái Hùng của Tổ Tiên. Không hiểu biết gì về lịch sử thì giống như một người ngoại quốc, một khách lạ sống trên chính quê hương mình.

 

Xin cám ơn HT. Thích Tín Nghĩa đã trao tặng quyển sách có giá trị lịch sử này. Quý vị nào muốn có sách xin liên lạc:

Tổ Đình Từ Đàm Hải Ngoại

615 North Gilbert Rd.

Irving , Texas 75061-6240

ĐT: (972) 986-1019

_________________

Đào Văn Bình

Nguồn: thuvienhoasen.org

TRẦN NHÂN TÔNG VÀ CON ĐƯỜNG CHÍNH PHÁP: MỘT ĐẠO PHẬT ĐẶC BIỆT VIỆT NAM

Nhiều học giả - phật tử đã cùng chia sẻ những nghiên cứu, đánh giá của mình về Trần Nhân Tông - vị Phật hoàng duy nhất và độc đáo nhất trong lịch sử dân tộc và lịch sử Phật giáo Việt Nam.

Tại hội thảo Trần Nhân Tông và con đường chính pháp do Liên