Close

Trần Nhân Tông Library

Nghiên cứu thực tế

TRẦN NHÂN TÔNG TRUYỀN NGÔI, DẠY CON GIỮ NƯỚC, KÍNH TÍN CHÍNH PHÁP

Khi nói đến lịch sử thời Lý - Trần, là người ta nghĩ ngay đến một quốc gia Phật giáo, bởi Phật giáo đã thể nhập toàn diện vào đời sống con người, xã hội và dân tộc ta thời ấy. Nhờ tín ngưỡng Phật giáo mà dân tộc ta có được sự cấu kết lòng dân trong việc dựng nước và giữ nước để đánh bại giặc ngoại xâm. Đó là ba cuộc kháng chiến đại thắng Nguyên - Mông vĩ đại. Nhìn lại lịch sử thời Trần, chúng ta càng thấy vị trí và vai trò không nhỏ của đạo Phật trong việc giữ nước an dân. Về điều này, P.Tilich, nhà nghiên cứu tôn giáo Nga nói: “Tín ngưỡng tôn giáo là mối quan tâm cao nhất của con người và tôn giáo là nội dung thiết yếu của văn hóa”.

 

 

Dẫn nhập:

 

Không ít người cho rằng đạo Phật là đạo xuất thế, nhưng thực tế Phật giáo Việt Nam là đạo nhập thế? Xin thưa rằng xuất thế có nghĩa là siêu xuất, siêu việt hơn đời, chứ không phải là ra ngoài đời như nhiều người tưởng. Tổ Huệ Năng, vị Tổ thứ 6 phái Thiền Tông Trung Hoa đã nói:

 

“Phật pháp tại thế gian

Bất ly thế gian giác,

Ly thế mịch Bồ đề

Kháp như cầu thố giác”.

 

Có nghĩa là: Phật pháp trên thế gian này không thể tách khỏi thế gian mà có giác ngộ, nếu tách khỏi thế gian mà tìm cầu sự giác ngộ thì không khác gì đi tìm lông rùa sừng thỏ (một điều không bao giờ có được). Điều đó nói lên sự quan hệ mật thiết giữa Phật pháp và thế gian.

 

Đọc lịch sử nói chung và lịch sử Phật giáo Việt Nam chúng ta thấy, từ thế kỷ thứ 13 tinh thần nhập thế của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, do Sơ tổ Trần Nhân Tông sáng lập đã khẳng định rất rõ điều này. Nói đến Trần Nhân Tông thì người Việt Nam ta ai cũng biết đó là ông vua anh hùng và thương dân nhất mực. Nói đến Ngài là nói đến thời đại cực thịnh của nhà Trần, là nói đến vị sư Tổ của phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử. Cuộc đời của Ngài là biểu hiện sức sống diệu kỳ của đạo Phật trong mọi hoàn cảnh đời sống xã hội. Ngài đã chứng minh bằng chính cuộc đời mình qua đạo pháp.

 

Bởi đạo Phật đối với Ngài luôn luôn biểu hiện trong tất cả mọi hoàn cảnh: Đạo Phật có mặt khi đang ở ngôi vua, đạo Phật có mặt trong giờ phút chiến tranh dầu sôi lửa bỏng, đạo Phật có mặt trong lúc an nhàn như ngắm buổi chiều quê (bài thơ Thiên Trường văn vọng), đạo Phật trên con đường đi khắp thôn làng để giảng kinh Thập Thiện, đạo Phật có mặt trong tất cả các mối tương quan vua tôi, cha con, chồng vợ, anh em. Theo quan điểm của Trần Nhân Tông thì “Sống mà không giúp gì cho đời là điều đáng hổ thẹn của kẻ trượng phu”.

 

Trần Nhân Tông có lẽ đã chịu ảnh hưởng không ít tư tưởng Thiền tông của Tuệ Trung Thượng sĩ vì theo như lời Trần Nhân Tông: “Thiền đối với Thượng sĩ như đã trộn lẫn với thế tục, hòa cùng ánh sáng chứ không trái hẳn với người đời, Thượng sĩ luôn nhập trần - Khoát lộ nhập trần lai (rộng bước đi vào chốn cát bụi). Đối với ông, dưỡng chân tính chính ở nơi cuộc đời trần tục, nơi góc bể chân trời và ông cho rằng phiền não, Bồ đề nguyên bất dị, nếu bỏ phiền não mà lấy Niết bàn thực chẳng khác trốn hình trong nắng chói”(1).

 

Với tinh thần nhập thế ấy, Trần Nhân Tông luôn luôn cảnh tỉnh mọi người đừng bỏ phí thời gian, phải làm việc gì có ích cho đạo và đời. Trong buổi đại tham ở Viện Kỳ Lâm, Ngài đã kêu gọi: “Hỡi các người, quang âm mau quá, đời người trôi không dừng! Làm sao các người ăn cháo, ăn cơm mà không chịu tìm hiểu chuyện cái bát, cái thìa”. Hoặc đề cập về lẽ đời và đạo, Ngài cũng có hai câu thơ như tự vấn mình và nhắc nhở hậu sinh: “Muôn việc nước chảy theo nước/Trăm năm lòng tự hỏi lòng”(2).

 

Với Trần Nhân Tông, sự nghiệp để lại cho đời và đạo thật to lớn: Không lĩnh vực nào mà Ngài không tỏa sáng, đó là nhận xét và đánh giá của các học giả và các nhà khoa học ở nhiều lĩnh vực phát biểu như vậy về Ngài. Sinh ngày 11 tháng 11 năm Mậu Ngọ (1258) là con trưởng của Trần Thánh Tông và là cha của Trần Anh Tông. Năm 21 tuổi, Trần Nhân Tông lên ngôi hoàng đế (1279). Tuy ở địa vị ngôi vua mà Ngài vẫn để tâm vào việc tu tập. Giặc Nguyên - Mông xâm lăng xứ sở, Trần Nhân Tông hai phen cầm binh ra trận cùng với Trần Hưng Đạo dẹp giặc giữ nước và cả hai lần đều chiến thắng rực rỡ (1285-1288). Năm Quý Tỵ 1293, Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông, còn Ngài lên làm Thái thượng hoàng, ở địa vị này 6 năm, Ngài dạy bảo con cháu và sắp xếp việc xuất gia.

 

Vậy khi nhường ngôi cho con, đức vua Trần Nhân Tông đã dạy con những điều gì trong “Buổi lễ truyền ngôi vua cho Thái tử Trần Anh Tông” trước triều đình văn võ bá quan và nhân dân Đại Việt.

 

Với tinh thần ôn cố tri tân, đây là dịp chúng ta thêm một lần để nhìn lại lịch sử vẻ vang của cha ông thời Trần. Thiết nghĩ với cuốn sách “Đức vua Trần Nhân Tông dạy con cách trị nước và tín ngưỡng đạo Phật” của soạn giả Nguyễn Nhân (Do nhà xuất bản Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam ấn hành năm 2017) mới đây, sẽ là điều bổ ích giúp chúng ta hình dung và hiểu được phần nào lịch sử nước nhà (cách đây trên 700 năm). Với tầm nhìn viên dung cả đời và đạo của Trần Nhân Tông, đến nay chúng ta nhìn lại tưởng như còn nguyên giá trị, (xin được tóm lược và trích một phần nguyên văn buổi lễ truyền ngôi này trong cuốn sách nói trên của soạn giả Nguyễn Nhân), ngõ hầu giúp độc giả và đạo hữu hiểu sâu thêm về một phái Thiền nhập thế riêng có của Việt Nam:

 

Tham dự buổi lễ này gồm có:

- Những vị cao niên trong nước

- Quan chức trong triều và các địa phương

- Những vị có công lớn với quốc gia

- Những vị công dân ưu tú đại diện nhân dân

- Những vị trong hoàng tộc

 

Nội dung chánh đề:

 

Mở đầu, đức vua nói: Thưa quý cụ cao niên; thưa quan chức trong triều và địa phương; thưa các vị có công lớn với quốc gia; thưa những vị đại diện nhân dân; thưa thân nhân trong hoàng tộc. Hôm nay, triều đình nhà Trần tổ chức lễ truyền ngôi vua lại cho con chúng tôi là Thái tử Trần Anh Tông, để thay tôi cai quản quốc gia Đại Việt này.

 

Tôi là quốc vương Trần Nhân Tông, cai quản nước Việt Nam. Trước tiên, thăm hỏi sức khỏe quý cụ, quý vị, sau tôi có đôi lời dạy con chúng tôi:

 

1. Cách giữ nước

2. Cách thờ phụng trong nhân dân

3. Quý vị dự lễ hôm nay, có thắc mắc điều chi xin mời hỏi

 

Trước tiên, tôi dạy Thái tử Trần Anh Tông: Này Thái tử Trần Anh Tông, hôm nay là buổi lễ phụ vương truyền ngôi vua lại cho con để lãnh đạo nước Việt Nam thân thương này, phụ vương dạy con 2 phần như sau:

 

- Một là cách giữ nước.

- Hai là cách cai quản việc thờ phượng trong nước.

 

Phần một: Bảo vệ Tổ quốc, con phải hiểu thấu triệt và nghiêm chỉnh thực hiện 6 điều như sau:

 

- Một: Con phải hiểu nước Việt Nam thân yêu của chúng ta là một quốc gia có đa sắc tộc do tổ tiên lưu truyền lại.

- Hai: Cá nhân con là một vị vua, con phải công minh, chính trực và thương dân như con.

- Ba: Viên chức làm việc trong triều cũng như các địa phương, con phải tổ chức thi tuyển, chọn ra những người có tài có đức để phục vụ nhân dân. Tuyệt đối không đem người thân mà không có tài đức gì vào bộ máy chính quyền làm việc.

- Bốn: Những người gian dối, tham lam, con không thu nhận làm việc trong bộ máy chính quyền.

- Năm: Toàn dân ai cũng bình đẳng như nhau.

- Sáu: Hạnh phúc của mỗi công dân, tuyệt đối con và những quan chức phải tôn trọng.

 

Trên đây là 6 điều con phải thực hiện cho đúng.

 

Phần hai: Phần tín ngưỡng trong nhân dân, con chỉ công nhận những chánh tín, còn mê tín dị đoan con phải ra lệnh dẹp bỏ.

 

Vì sao vậy? Vì mê tín dị đoan là nguồn gốc đưa quốc gia đến chỗ nguy vong. Phần nhiều, những nước lớn họ sử dụng tín ngưỡng đi trước, sau đó mới đem quân đội thôn tính sau, nên họ thành công rất dễ dàng.

 

Phụ vương dạy con rõ: Ở thế giới vật lý này, những hiện tượng lạ ở trong không gian cũng như trong vạn vật đều là do biến chuyển của vật lý cả, chớ không có ông thần bà thánh hay ma, quỷ nào làm ra. Sở dĩ những người thấy hiện tượng lạ, họ nói và thêu dệt thêm, là họ có ý đồ không tốt.

 

Phụ vương dạy con rõ thêm: Trong tam giới này là nói chung, còn nói rộng là mênh mông trong càn khôn vũ trụ và các loài trên trái đất: Loài nào sinh hoạt theo loài đó. Ví dụ: Loài người không sinh ra loài khác được, bất cứ loài nào cũng vậy. Vì vậy, các cõi khác họ cũng lo cho cõi của họ, chứ họ đâu có đến thế giới này ban phước giáng họa cho ai. Phần mê tín dị đoan, nếu con không dẹp bỏ, khi có ngoại bang xâm chiếm nước ta, thì những người mê tín này, chắc chắn họ không đồng tình với con chống giặc ngoại giữ nước.

 

Vì sao vậy? Như phụ vương đã nói ở trên, kẻ nào muốn xâm lăng nước khác. Đầu tiên, họ đưa mê tín vào trước để cho nhân dân nước mà họ muốn xâm chiếm không còn yêu nước nữa, mà tâm trí của những người này, ngày đêm cứ mơ mộng chuyện trên trời dưới đất. Thử hỏi, con làm sao giữ vững quốc gia Việt Nam mình cho được.

 

Phụ vương nói rõ cho con hiểu: Trước kia, phụ vương chưa giác ngộ “Yếu chỉ Thiền tông” của đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy, thì phụ vương cũng như bao người khác. Nhưng nay, phụ vương đã giác ngộ “Yếu chỉ Thiền tông” rồi, phụ vương biết tất cả những điều biến chuyển của vật chất là tự nhiên của nó. Còn nói về tinh thần, phụ vương cũng hiểu và biết rất rõ như sau:

 

- Về vật chất: Trên trái đất này, không vật gì đứng yên một chỗ cả, mà nó phải luân chuyển theo dòng Thành - Trụ - Hoại - Diệt.

- Về tinh thần: Con phải hiểu như sau, tất cả chủng loài động vật, trong đó có con người. Loài nào cũng có tính của nó cả, loài người cũng vậy.

 

Phụ vương dạy cho con rõ về tính người như sau:

 

1. Tính người, người nào cũng mang một khối nghiệp mà họ đã tạo ra từ vô lượng kiếp trước đến nay.

2. Tứ đại hình thành ra một con người, phải trải qua công thức vật lý âm dương của cha mẹ, thì mới sinh ra được.

3. Khi cha mẹ giao hợp, rất nhiều “Trung ấm thân”(3) đến dự và nhào vô bào thai để làm con của cha mẹ đó. Nhưng trung ấm thân nào có vay hoặc trả nhiều với cha mẹ thì tự nhiên được nghiệp hút vào, liền khi đó tâm người được hình thành, đủ ngày tháng một con người được sinh ra.

4. Về tinh thần mà loài người gọi là tâm, là sản phẩm duyên hợp vật chất mới có được.

5. Trên trái đất này, hay khắp trong tam giới, hoặc trong càn khôn vũ trụ này không có bàn tay quyền năng nào làm việc này cả.

 

Thái tử Trần Anh Tông, nghe phụ vương dạy như vậy, nên đứng lên lễ phép thưa hỏi: Kính thưa phụ vương, cái ban đầu của một con người hay muôn vật là do đâu mà có?

 

Đức vua Trần Nhân Tông dạy Thái tử Trần Anh Tông: Bất cứ ai muốn trả lời câu hỏi này, thì người đó phải nhận ra “Tánh thanh tịnh Phật tánh của chính mình”. Từ tánh thanh tịnh Phật tánh đó: Thấy, Nghe, Nói và Biết mới đúng được, còn chưa nhận ra Phật tánh thanh tịnh của mình, mà trả lời câu này, là phải sử dụng tánh người của chính mình, tưởng tượng, suy nghĩ để trả lời thôi, thì không thể nào đúng được.

 

Phụ vương dạy rõ con phần ban đầu này: Trong càn khôn vũ trụ này có căn bản 2 phần như sau: Một là Phật giới, tức thế giới mười phương chư Phật ở. Trong Phật giới có 4 phần như sau:

 

1. Không gian mênh mông trùm khắp, đức Phật Thích Ca Mâu Ni gọi là “Phật”, phụ vương cũng thấy và gọi như vậy.

 

2. Điện từ Quang mênh mông trùm khắp này, là điện từ lúc nào cũng rung động, có bổn phận là chuyển đi Thấy, Nghe, Tiếng, Biết đi xa hoặc thu gần lại. Điện từ Quang này chính là sự sống của chư Phật, tánh Phật ở trong Phật giới. Cũng chính điện từ Quang này, là sự sống cho loài người và muôn loài ở trái đất cũng như trong một tam giới.

 

3. Trong Phật giới có hằng hà sa số cái Ý, không thể nào đếm được. Vì vậy, đức Phật Thích Ca Mâu Ni mới ví dụ, đem số cát của một tỷ sông Hằng ra đếm, thì số Ý trong “Bể tánh thanh tịnh Phật giới” còn nhiều hơn số cát của mấy tỷ sông Hằng này nữa.

 

Trong mỗi cái Ý có 4 thứ như sau:

 

1. Thấy, lúc nào cũng thấy, gọi là hằng Thấy.

2. Nghe, lúc nào cũng nghe, gọi là hằng Nghe..

3. Pháp, tức tiếng nói, khi Ý muốn phát ra tiếng, có tiếng phát ra liền.

4. Biết, cái biết này biết 3 thứ trên, gọi là hằng Biết.

 

Trong “Bể tánh thanh tịnh” có hằng hà sa số cái Ý, trong mỗi cái Ý nó nằm gọn trong vỏ bọc cấu tạo bằng điện từ Quang. Vỏ bọc này đức Phật gọi là “Tánh”, cho nên Ngài gọi gọn là “Phật Tánh”, phụ vương cũng biết và thấy như vậy.

 

Phần hai: Tam giới là nói một thái dương hệ.

 

Tam giới này có bao nhiêu, phụ vương dạy con: Một thái dương hệ là một tam giới. Trong một tam giới có:

 

1. Có 33 cõi Trời và 6 nước Tịnh độ, có vô số loài Trời và Tiên sinh sống.

2. Có một cõi Thần, có vô số loài Thần.

3. Có một cõi người, có vô số loài người.

4. Có một cõi ngạ quỷ, có vô số ngạ quỷ.

5. Có một cõi súc sinh, có vô số loài súc sinh.

6. Có một cõi địa ngục, có 18 tầng, có vô số loài.

 

Mỗi tiểu thiên thế giới có 1 ngàn thái dương hệ. Mỗi tiểu thiên thế giới nhân cho 1 ngàn, số ra này là trung thiên thế giới, là một triệu tam giới. Số trung thiên thế giới nhân cho 1 ngàn nữa, số ra này là đại thiên thế giới, Đại thiên thế giới này có một tỷ tam giới. Lấy 1 tỷ tam giới nhân cho 3 lần nữa, số ra này là tam thiên đại thiên thế giới; mà đức Phật Thích Ca Mâu Ni cũng như phụ vương hiểu biết thật rõ ràng là trong càn khôn vũ trụ này có hằng hà sa số Tam thiên Đại thiên thế giới như vậy.

 

Phụ vương dạy con:

 

- Trong mỗi loài có sự sống riêng của loài đó, loài này không thể xen vào loài khác được.

 

- Hình thành một con người, là do tinh cha noãn mẹ hợp lại mà hình thành 1 con người.

 

- Trong mỗi con người có cái tánh, mà mỗi tánh người có đến 16 thứ, trong kinh đức Phật gọi là: Thọ, Tưởng, Hành, Thức, Tài, Sắc, Danh, Thực, Thùy, Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi, Ác, Kiến.

 

Nhờ tánh Phật, mà loài người nói riêng, còn muôn loài nói chung mới có sự sống. Sự sống này là do cái Ý trong Phật tánh hoạt động. Nhờ vậy, nên loài người hay muôn vật: Thấy, Nghe, Nói và Biết được.

 

Phụ vương dạy con tổ chức trong một tam giới như sau:

 

- Trong một tam giới: Gồm có 6 hành tinh cấu tạo bằng ngũ hành như trái đất chúng ta đang sống, gồm: (Đất, Nước, Không khí, Lửa và Điện từ âm dương). Là nơi 5 loài đang sống chung gồm có: Loài người, loài thần, loài ngạ quỷ, loài súc sinh, loài địa ngục

 

- Trái đất mà loài người đang sống có 2 đầu hút và đẩy:

 

1. Đầu hút vào gọi là cửa Hải Triều Âm: Nơi hút Phật tánh từ Phật giới vào thế giới loài người để đi luân hồi; nơi hút các trung ấm thân từ trong các nơi trở lại làm người để nghiệp mới đi luân hồi nữa.

 

2. Đầu đẩy ra gọi là cửa Hải Triều Dương: Nơi duy nhất đẩy vỏ bọc tánh Phật và khối công đức trở lại Phật giới để hình thành ra ngôi nhà pháp thân thanh tịnh và kim thân của một vị Phật.

 

Đức vua Trần Nhân Tông dạy chánh tín và mê tín:

 

1. Đền: Thờ những vị anh hùng dân tộc, để cho toàn dân chiêm ngưỡng, nhớ công ơn và học gương hạnh của các Ngài là chánh tín, còn mê tín, là lạy các Ngài, tưởng rằng các Ngài là thần linh.

 

2. Đình: Nơi thờ hồn thiêng sông núi, hay những người có công trận lớn với địa phương. Đến với các Ngài, chúng ta nhớ ơn và noi theo việc làm đúng của các Ngài là chánh tín, còn lạy và cầu xin các Ngài là mê tín.

 

3. Lăng: Nơi an nghỉ của các vị vua, hay những vị có công trận thật lớn với quốc gia. Chúng ta chỉ đến viếng các Ngài, bằng cái tâm ngưỡng mộ là chánh tín, còn lạy và cầu xin là mê tín.

 

4. Miếu: Nơi thờ những vị quan có chức vụ lớn trong quốc gia, hay những người dân bình thường mà cũng có công trận lớn với địa phương, đến để kính viếng là chánh tín, còn lạy và cầu xin là mê tín.

 

Thái tử Trần Anh Tông nghe phụ vương giải thích quá rõ ràng, hết sức vui mừng và cám ơn phụ vương.

 

Đức vua Trần Nhân Tông nói: Trước khi trẫm hành lễ truyền ngôi lại cho Thái tử Trần Anh Tông. Vậy, tất cả những vị có mặt hôm nay, ai có thắc mắc điều chi về giữ nước cũng như tín ngưỡng xin mời hỏi, trẫm giải đáp rõ ràng cho, khi trẫm đã lên núi Trúc Lâm Yên Tử ở rồi, quý vị có thắc mắc điều chi không ai giải đáp. Đặc biệt, là các quý cụ cao tuổi, khó lên trên núi được

 

Phần này gồm 12 vị đặt câu hỏi: Nội dung các câu hỏi tập chung xung quanh vấn đề giữ nước và tín ngưỡng Phật giáo, trong đó có câu hỏi cuối cùng của buổi lễ là Thái tử Trần Anh Tông. Đức vua Trần Nhân Tông hoan hỷ trả lời. (xin được trích dẫn nguyên văn một số câu hỏi và trả lời dưới đây)

 

Vị thứ nhất: Cụ Lê Trọng Chính, 75 tuổi, người ở nội thành Thăng Long, đứng lên thưa hỏi như sau:

 

- Kính thưa đức vua, tôi xin thay mặt cho những vị cao niên trong nước, xin nguyện hứa với đức vua và Thái tử Trần Anh Tông rằng: Chúng tôi sẽ dạy con cháu và người thân 6 điều như sau:

 

1. Tuyệt đối phải trung thành với Tổ quốc.

2. Bất cứ ai cũng phải có bổn phận bảo vệ Tổ quốc này.

3. Tuyệt đối, không cho người ngoại bang xâm chiếm một tấc đất nào.

4. Chúng tôi dạy con cháu biết điều hay lẽ phải.

5. Tôn trọng pháp luật.

6. Người người nhà nhà, ai cũng có nghĩa vụ với Tổ quốc.

 

Cụ Lê Trọng Chính vừa dứt lời, những người dự lễ nơi đại sảnh đều đứng lên vỗ tay và nói: Chúng tôi được đức vua mời dự lễ là một danh dự rất lớn, xin hứa với đức vua và thái tử, chúng tôi xin làm tròn 6 phần mà cụ Lê Trọng Chính hứa với đức vua và thái tử nơi đại sảnh này.

 

Vị thứ ba: Cụ Lê Khánh Truyền, 68 tuổi, ở Ninh Bình đứng lên trình thưa hỏi:

 

- Kính thưa đức vua, Ngài đã dạy trong “Bể tánh thanh tịnh Phật giới”, nhưng vì chúng tôi chưa rõ lắm, vậy kính xin đức vua dạy thật rõ cho chúng tôi hiểu, xin thành thật cám ơn?

 

Đức vua trả lời cho cụ Lê Khánh Tuyền:

 

- Câu hỏi cụ thật là cao xa. Ở nơi đại sảnh này, theo trẫm biết chưa có vị nào hiểu Thiền tông rõ cả. Nhờ câu hỏi của cụ, trẫm nói ra nếu vị nào chăm chú nghe thì sẽ hiểu, vị đó coi như giác ngộ “Yếu chỉ Thiền tông”. Vậy cụ hãy lắng nghe, trong Phật giới gồm:

 

1. Điện từ Quang trùm khắp.

 

2. Có hằng hà sa số cái Ý, trong mỗi cái Ý có 4 thứ như sau:

- Ý luôn lúc nào cũng Thấy, nên Trẫm gọi là hằng Thấy.

- Ý luôn lúc nào cũng Nghe, nên Trẫm gọi là hằng Nghe.

- Ý luôn lúc nào cũng động, khi Ý muốn phát ra tiếng thì liền có tiếng, nên trẫm gọi là hằng Pháp.

- Ý luôn lúc nào cũng Biết, nên Trẫm gọi là hằng Tri.

- Bốn thứ: Thấy, Nghe, Nói, Biết, nó nằm gọn trong vỏ bọc của điện từ Quang, nên đức Phật cũng như Trẫm gọi là “Tánh”.

- Trong không gian mênh mông không biên giới, đức Thích Ca cũng như trẫm gọi là “Phật”.

- Phật trùm đến đâu, thì đơn vị tánh có đầy khắp theo đó, nên đức Thích Ca cũng như trẫm gọi chung là “Phật Tánh”. Giống như ở thế gian này, nước biển có đến đâu thì cá có đến đó, nên loài người gọi là “cá biển” vậy.

 

Nói riêng về phần trẫm: Từ vô lượng kiếp trước, trẫm đã tạo ra công đức rất nhiều, còn phước đức thì vô lượng, nên đời này trẫm được làm vua. Chức vua của trẫm ở thế giới này, nếu đem so sánh với một vị nhận ra Phật tánh và hằng sống với tánh Phật của chính mình, thì chức vua của trẫm chỉ là cái ảo tưởng của vật lý mà thôi.

 

Vì trẫm đại may mắn giác ngộ “Yếu chỉ Thiền tông”, đạt luôn ‘Bí mật Thiền tông” và hằng sống với tánh Phật của trẫm, nên trẫm thấy và biết rõ như nói trên. Vì vậy, trẫm quyết định truyền ngôi vua lại cho con để lên núi Trúc Lâm Yên Tử khai lập đạo Thiền tông Việt Nam, để cho ai muốn giác ngộ và giải thoát biết và lưu lại cho các đời sau. Trẫm cũng nói rõ cho quý cụ biết, tại núi Trúc Lâm Yên Tử này, ngoài trẫm ra còn có các vị kế tiếp đạt được “Bí mật Thiền tông” nữa, làm Tổ sư của dòng Thiền tông Thích Ca Văn.

 

Vị thứ sáu: Cụ Lương Thành Đạt, 78 tuổi, ở Thái Bình hỏi:

 

- Kính thưa đức vua, làm sao tạo ra công đức và làm sao tạo ra phước đức?

 

Đức vua trả lời: Muốn có công đức, cụ phải tìm hiểu 4 căn bản như sau:

 

1. Trong “Bể tánh thanh tịnh Phật tánh” là gì?

2. Phật tánh cấu tạo bằng những gí?

3. Tu sao được giải thoát?

4. Tu sao bị luân hồi?

 

Chỉ cần cụ thông hiểu 4 phần trên và đi nói lại cho người khác biết, nếu người khác cũng thông hiểu như cụ là cụ có công đức. Còn muốn có phước đức, cụ bố thí hay giúp đỡ người khác là có phước đức.

 

Vị thứ bảy: Cụ Lý Chánh Trung, 69 tuổi, ở Nam Định, thưa hỏi:

 

- Thưa đức vua, Ngài 45 tuổi, tức còn quá trẻ, Ngài thấy ngôi vua và Thiền tông bên nào quý hơn?

 

Đức vua trả lời cụ Lý Chánh Trung:

 

- Người ham chức ham quyền nơi thế giới này, thì ngôi vua là quý nhất.

 

- Người thích giác ngộ và giải thoát, thì pháp môn Thiền tông này là quý nhất.

 

Vị thứ chín: Cụ Trưng Thế Hoành, 80 tuổi, ở Ninh Bình hỏi:

 

- Kính thưa đức vua, thần trước kia làm quan trong triều, đã nghỉ hưu 15 năm rồi, đức vua hằng sống với tánh Phật Thanh tịnh, thì làm sao đánh giặc Nguyên - Mông được. Vậy, kính xin đức vua cho thần hiểu, tại sao đức vua lại đánh đuổi được giặc ngoại xâm dễ dàng như vậy, kinh xin cám ơn đức vua?

 

Đức vua dạy cụ Trương Thế Hoành:

 

Người tu theo Thiền tông Phật giáo phải hiểu mỗi con người có 2 tánh:

 

- Một là tánh Phật thanh tịnh: Người nào hằng sống với tánh Phật thanh tịnh của chính mình, là người không dính mắc.

 

- Hai là tánh người: Người nào sống với tánh người, thì dính mắc chuyện thế gian.

 

Trẫm nói cho khanh rõ:

 

- Người tu theo Thiền tông, nếu muốn giúp người giác ngộ và giải thoát, thì sử dụng tánh Phật.

 

- Còn người bảo vệ Tổ quốc, gia đình và làng xóm, thì sử dụng tánh người, nhưng phải kèm theo ý chí là không sợ, tức để tâm thanh tịnh mà pháp môn Thiền tông đức phật dạy, thì việc gì cũng dễ thành công.

 

Trẫm cũng nói cho khanh rõ:

 

- Người tu theo pháp môn Thiền tông có những cái lợi: 

 

- Một là, không mê tín dị đoan.

 

- Hai là, không cầu khẩn thần quyền.

 

Cụ Trương Thế Hoành hết sức vui mừng và cám ơn đức vua.

 

Vị thứ mười hai (cuối cùng): Thái tử Trần Anh Tông có trình thưa hỏi phụ vương như sau:

 

- Kính thưa phụ vương, thuật đánh xâm lược của phụ vương con đã hiểu. Vậy, kính xin phụ vương dạy con căn bản giữ nước như thế nào cho bền vững?

 

Đức vua dạy Thái tử Trần Anh Tông: Con muốn quốc gia cường thịnh và yên ổn thì con phải dạy nhân dân như sau:

 

-Một: Quốc gia mất thì nhà phải tan!

 

-Hai: Không tủi nhục nào bằng dân mất nước!

 

-Ba: Phải làm nô lệ cho người cướp nước mình!

 

Trên đây là 3 căn bản tủi nhục của người bị mất nước.

 

- Một vị cầm quân giỏi thì phải hiểu rõ 4 phần:

 

Một: Hiểu rõ chiến thuật của đối phương.

 

Hai: Hiểu rõ quân số của đối phương.

 

Ba: Hiểu rõ lương thực của kẻ xâm lăng nuôi số binh sĩ của họ được bao nhiêu ngày?

 

Bốn: Con phải dạy cho toàn quân, toàn dân thuật đánh quân xâm lược như sau:

 

- Khi đối mặt với quân thù, tâm phải kiên cường và không sợ.

 

- Đừng vội tấn công.

 

Vì sao vậy? Vì quân thù khi đưa quân xâm lược nước ta, ban đầu họ rất hung hăng. Cứ để cho họ hung hăng bước vào nước ta đi. Khi họ mệt mỏi, thì con ra lệnh tấn công và khóa chặt biên giới lại, không cho quân tiếp viện cũng như rút lui.

 

- Con phải nhớ một điều là, khi bọn họ bị thua chạy về nước của họ, con đừng đuổi theo, còn người bị con bắt là tù binh, con phải đối đãi tử tế với họ. Chính lòng bao dung này, mà họ kính nể vua, dân nước ta.

 

- Nếu quân thù quá mạnh, con phải sử dụng “Tiêu thổ”, không cho bọn họ ở trong nhà mình, còn tất cả những gì ăn được, uống được, thì phải chôn giấu hết. Khi bọn họ hết lương thực rồi, thì con ra lệnh đánh nhanh, đánh chắc và quyết thắng.

 

- Khi kẻ xâm lược vào nước ta rồi, tức khắc con phải sử dụng một đội quân tinh nhuệ khóa cửa biên giới lại, không cho tiếp viện hay tháo lui. Đây là thuật nhốt quân trong chiến trận.

 

Thái tử Trần Anh Tông nghe phụ vương dạy, thái tử vâng lời và hứa cố gắng thực hiện đúng lời phụ vương dạy.

 

Đọc những lời của đức vua Trần Nhân Tông dạy, đánh giặc mà không sợ, đây là tuyệt binh thư đời nhà Trần Việt Nam.

 

Thay lời kết

 

Như phần trên đã đề cập, năm Quý Tỵ 1293 vua Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông, còn Ngài lên làm Thái thượng hoàng, ở địa vị này 6 năm, đến tháng 10 năm 1299 (41 tuổi), Ngài chính thức xuất gia và tu hành ở Yên tử, lấy hiệu là Hương Vân đầu đà, sau Ngài lại đổi hiệu là Trúc Lâm đầu đà. Và từ đây Thiền phái Trúc lâm Yên Tử ra đời, một phái Thiền nhập thế riêng có ở Việt Nam. Và theo các nhà nghiên cứu Phật học thì đây có thể coi là sự chuyển luân thích ứng với tinh thần của Phật giáo phát triển Đại thừa. 

 

Qua buổi lễ truyền ngôi báu cho con của vua Trần Nhân Tông mà soạn giả Nguyễn Nhân đề cập trong cuốn sách “Đức vua Trần Nhân Tông dạy con trị nước và tín ngưỡng Phật giáo”(Do NXB Hồng Đức ấn hành - 2017). Chúng tôi thấy đây là một tư liệu quý nói về việc giữ nước và tìn ngưỡng của Phật giáo thời Trần cách đây trên 700 năm. Và hôm nay nhìn lại, ta vẫn không khỏi kinh ngac về bản lĩnh trí tuệ viên dung cả đời và đạo của cha ông ta trong viêc dựng nước và giữ nước.

 

Khi nói đến lịch sử thời Lý - Trần, là người ta nghĩ ngay đến một quốc gia Phật giáo, bởi Phật giáo đã thể nhập toàn diện vào đời sống con người, xã hội và dân tộc ta thời ấy. Nhờ tín ngưỡng Phật giáo mà dân tộc ta có được sự cấu kết lòng dân trong việc dựng nước và giữ nước để đánh bại giặc ngoại xâm. Đó là ba cuộc kháng chiến đại thắng Nguyên - Mông vĩ đại. Nhìn lại lịch sử thời Trần, chúng ta càng thấy vị trí và vai trò không nhỏ của đạo Phật trong việc giữ nước an dân. Về điều này, P.Tilich, nhà nghiên cứu tôn giáo Nga nói: “Tín ngưỡng tôn giáo là mối quan tâm cao nhất của con người và tôn giáo là nội dung thiết yếu của văn hóa”.

 

Soi lại tấm gương lớn lịch sử dân tộc, người viết bài này bỗng nhớ, và cần phải nhắc lại câu nói của Giáo sư Cao Huy Thuần khi đề cập về đạo Phật thời Lý Trần trong bài “Hãy bay với hai cánh vào hiện đại” (Nhân tuần Văn hóa Phật giáo 2012 tại Nghệ An) giáo sư nói với giới trẻ như thế này: “Chẳng lẽ đạo Phật trí tuệ đã bay cả rồi qua bên Tây? Chẳng lẽ Tây phương thừa hưởng hết tinh túy của Phật giáo? May thay chúng ta rất giàu lòng tin, nhưng buồn thay, lắm khi, lắm nơi vẫn còn mê tín, đó không phải là đạo Phật. Không, nhất thiết ta không để gãy đôi cánh trí tuệ của con đại bàng Lý Trần. Nhất quyết ta củng cố lòng tin chân chính”. 

 

Đoạn văn trên, như một lời thôi thúc nhắc giới trẻ nước nhà cần phải thay đổi cách tiếp cận giáo lý đạo Phật bằng tư duy khoa học, khi mà giáo lý của đạo Phật đang được các nước phương Tây đón nhận với một thái độ minh triết và khoa học. Có như vậy, mới không hổ thẹn với cha ông và dân tộc.

 

Cư sĩ Nguyễn Đức Sinh

Số 18, phố Quang Trung, Tp.Uông Bí, Quảng Ninh.

 

Chú thích:

(1) Thơ văn Lý Trần - UBKHXH

(2) Lịch sử Phật giáo VN - Viện Triết học UBKHXH

(3) Trung ấm thân, gọi theo thuật ngữ đạo Phật; tín ngưỡng dân gian gọi linh hồn, vong.

(4) P. Tilich - 1959 Thần học văn hóa - Nxb Matxcova. tr5

Tài liệu tham khảo:

1. Vua Trần Nhân Tông dạy con cách trị nước và tín ngưỡng Phật giáo – Soạn giả Nguyễn Nhân –Nxb Hồng Đức, 2017.

2. Tính nhập thế của Phật giáo Việt Nam qua Thiền phái Trúc Lâm – Thích Gia Quang –Nội san Nghiên cứu Phật học số 06/1992.

3. Thiền học đời Trần (nhiều tác giả) – Nxb Tôn giáo, 2003

4. Hay bay với đôi cánh vào hiện đại – Báo điện tử phatgiao.org.vn

______________

Nguồn: phatgiao.org.vn

ĐẾN VỚI ĐỀN HUYỀN TRÂN CÔNG CHÚA

Suốt mấy trăm năm, Huế là cuộc đất từng được các chúa Nguyễn chọn lập thủ phủ, rồi trở thành kinh đô Phú Xuân của nhà Tây Sơn, đầu thế kỷ 19, Huế là quốc đô của nước Việt Nam thống nhất dưới triều đại các vua Nguyễn. Sau năm 1945, Huế trở thành cố đô lịch sử của cả nước. Huế là vùng đất linh diệu, nơi sản sinh ra nhiều nhân tài tuấn kiệt; cuộc đất ấy là chốn tiếp thu, hội tụ, giao thoa và lan tỏa những giá trị văn hóa dân tộc. Huế từ ngàn xưa cho đến hôm nay và cả ngàn sau vẫn là mảnh đất diệu kỳ ẩn chứa những giá trị về văn hóa, lịch sử, tôn giáo. Là nơi “Mặt đất thì non sông tươi đẹp, biển cả thì sông nước mênh mông” [1]. Thế đất ấy, sông nước ấy, ngọn gió ấy đã nuôi dưỡng, hun đúc nên chiều sâu đa cảm và phong phú giàu bản sắc của văn hóa, lịch sử, tôn giáo, văn học nghệ thuật của người Việt… đã làm cho Huế nghiễm nhiên trở thành một trung tâm có nhiều lợi thế về du lịch để các nhà quản trị có cơ sở hoạch định chiến lược phát triển du lịch theo hướng văn hóa tâm linh.

Trở về với vùng đất cố đô, đắm mình trong dòng chảy của văn hóa dân tộc, du khách thập phương sẽ gặp ở đây những thành quách, cung điện, đền đài và lăng tẩm, những chùa chiền miếu mạo gắn với từng giai đoạn lịch sử của chốn kinh kỳ xưa. Có thể nhận thấy, di sản văn hóa hòa quyện trong với đời sống tâm linh đã trở thành một nét đặc trưng rất riêng của du lịch Huế. Nhưng khi lạ thì ta đến hay quen lại trở về với vùng đất cố đô này, người ta không thể không nhắc đến ngôi đền thờ nữ thần linh ứng trong quần thể kiến trúc của Trung tâm Văn hóa Huyền Trân - một trong những điểm đến thu hút đông đảo du khách thập phương liên kết thành chuỗi hệ thống du lịch văn hóa tâm linh của tỉnh Thừa Thiên Huế hơn mười năm nay.

 

Ẩn giữa rừng thông u tịch, tọa lạc dưới chân ngọn Ngũ Phong thuộc địa phận thôn Ngũ Tây, xã Thủy An (nay là phường An Tây), thành phố Huế; Đền Huyền Trân – nơi thờ vị Công chúa nhà Trần là một quần thể kiến trúc tiêu biểu về văn hóa tín ngưỡng vừa đậm chất dân gian vừa pha nét cung đình, là nơi nối tiếp truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc. Ngôi đền không chỉ là kiểu dáng kiến trúc có giá trị nghệ thuật, mà còn là một thiết chế văn hóa du lịch, có ý nghĩa sâu sắc trong việc tri ân, tưởng nhớ công đức Thần Nữ Huyền Trân – người đã có công mở mang bờ cõi vào đấu thế kỷ 14.

Huyền Trân Công Chúa (1287 - 1340) là ái nữ độc nhất của Vua Trần Nhân Tông. Bà là một trong ba vị công chúa nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam đã có công mở mang bờ cõi đất nước cùng với Ngọc Vạn, Ngọc Khoa thời chúa Sãi. Minh chứng cho công lao to lớn của Huyền Trân, sử Việt từng chép việc này:

 

...“Năm 1305, tháng 2, Chiêm Thành sai Chế Bồ Đài và bộ đảng hơn trăm người dâng hiến vàng bạc, hương quý, vật lạ làm lễ vật cầu hôn. Năm 1306, mùa hạ, tháng 6, gả Công Chúa Huyền Trân cho chúa Chiêm Thành Chế Mân...”[2]. Từ cuộc hôn nhân mang tính chính trị này đã đem về cho Đại Việt đất đai của “Hai châu Ô và Lý vuông ngàn dặm” (vào đầu năm 1307, vua Trần Anh Tông sai đại thần vào sắp đặt phên dậu đã cho đổi thành châu Thuận, châu Hóa – nghĩa là thuận lòng theo giáo hóa của người Việt). Dải đất sính lễ ấy trải dài từ bờ nam sông Hiếu, Đông Hà, tỉnh Quảng Trị vào đến bắc sông Thu Bồn tỉnh Quảng Nam ngày nay.

 

Sách Đại Việt Sử ký toàn thư cho biết thêm: “Năm 1307, mùa hạ, tháng 5 chúa Chiêm Thành Chế Mân chết....” [2]. Theo tục Chiêm Thành, chúa chết thì Hoàng hậu của chúa cũng phải vào giàn thiêu để chết theo. Vua Anh Tông biết thế, sợ Công Chúa bị hại nên sai tướng mượn cớ sang viếng tang tìm cách để giải cứu. Ngày 18 tháng 8 năm 1308, Huyền Trân về đến Thăng Long, rồi nàng theo gót của vua cha, chọn cửa thiền tu tập. Ghi nhớ công ơn của bà, các triều đại sau đều sắc phong bà làm thần hộ quốc. Triều nhà Nguyễn từ vua Thành Thái trở về sau đều ban chiếu ghi ơn công lao của Huyền Trân “trong việc giữ nước giúp dân, có nhiều linh ứng”, Năm Khải Định thứ 9 (1925) sắc phong bà là “Trai Tĩnh Trung Đẳng Thần”.

 

Mặc dù mới tạo lập, nhưng linh ứng thị hiện nên nhiều người cho rằng, quần thể kiến trúc Trung tâm Văn hóa Huyền Trân chính là một biểu trưng tín ngưỡng tri ân cội nguồn của dân tộc, sự ngưỡng vọng trước công lao to lớn của Huyền Trân mà nhân dân khắp nơi đã theo lối tìm về chiêm bái. Trước khi có Trung tâm Văn hóa Huyền Trân – nhiều làng quê ở Quảng Trị, Thừa Thiên Huế và Quảng Nam – Đà Nẵng, nhân dân đã tự nguyện lập những ngôi miếu nhỏ quanh năm hương khói thờ Bà! Sự tri ơn những người có công với đấy nước là lẽ sống tự nhiên có từ bao đời nay của người Việt.

 

Cùng với sự ngưỡng vọng ấy và để tưởng nhớ, tri ân công lao của Huyền Trân trên mảnh đất Ô Lý xưa với một nơi thờ tự bề thế, thể theo ước vọng của nhân dân, ngày 26/3/2006, lãnh đạo tỉnh Thừa Thiên Huế đã cho phép Công ty Du Lịch Hương Giang khởi công xây dựng Trung Tâm Văn hoá Huyền Trân. Nhờ sự đồng lòng góp sức của nhiều người, đúng một năm sau, vào ngày 26/03/2007, công trình được khánh thành nhân kỷ niệm 700 năm Thuận Hóa – Phú Xuân. Gần chục năm đi vào hoạt động, dưới sự quản lý của Công ty Du lịch Hương Giang, nhiều hoạt động văn hóa tâm linh đặc sắc đã được tổ chức tại nơi đây. Có thể nói, chính những mô hình hoạt động văn hóa diễn ra hàng năm tại Đền Huyền Trân đã góp phần quảng bá, thu hút đông đảo du khách thập phương và quần chúng nhân dân cả nước đến tham quan, chiêm ngưỡng, đồng thời góp phần tôn vinh, ngợi ca những giá trị truyền thống văn hóa của dân tộc. 

 

Trước những yêu cầu thay đổi của mô hình quản lý, ngày 21/9/2016, Ủy ban Nhân tỉnh Thừa Thiên Huế đã ban hành Quyết định số 2198/QĐ-UBND, chuyển giao Trung tâm Văn hóa Huyền Trân cho Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh quản lý, khai thác, phát huy giá trị của Đền Huyền Trân.

 

Quần thể kiến trúc của Trung tâm này trải rộng trên 28 ha. Vị trí và quy mô của nó đã tạo nên một không gian văn hóa vừa thâm nghiêm vừa kỳ vỹ. Đây cũng chính là yếu tố tạo nên sức hút mầu nhiệm của du lịch văn hóa tâm linh đối với du khách thập phương. Điều đặc biệt của ngôi đền được xây dựng nằm trên một trục thẳng, kiến trúc theo lối truyền thống, trụ biểu vươn cao, nền móng kiên cố, điện thờ tôn nghiêm: Phía sau tựa vào núi Ngũ Phong, phía trước là hồ Trường Xuân soi bóng nhật nguyệt, sơn mạch tả hữu hai bên như bức tường thành.

 

Từ bên ngoài, đường dẫn vào đền Huyền Trân đột khởi lên bốn trụ biểu khá lớn, dưới chân có nghê đá chầu phục. Qua khoảng sân rộng được lát gạch Bát Tràng, du khách sẽ được chiêm ngưỡng hình ảnh mô phỏng tương tự như cầu Trung Đạo bắc qua hồ Thái Dịch trước Điện Thái Hòa của Đại Nội Huế. Để đến được nơi thờ chính, du khách phải qua tam quan, theo một đường thẳng, chỉ vài trăm bước là đến nội điện thờ Công Chúa.

 

Điện thờ Huyền Trân được bố cục theo lối kiến trúc truyền thống của các điện thờ Mẫu. Chính điện là nơi đặt pho tượng bằng đồng mô phỏng hình tượng Huyền Trân ngồi trên ngai. Tượng cao 2,37m do các nghệ nhân đúc đồng nổi tiếng của Phường Đúc Huế cẩn tác. Hậu điện thiết án thờ Đốc tướng Đoàn Nhữ Hài – một vị quan thanh liên có nhiều công lao với Thuận Hóa và đất nước.

 

Nằm trong quần thể kiến trúc của Trung tâm Văn hóa Huyền Trân, còn có đền thờ Đức vua – Phật hoàng Trần Nhân Tông, là điểm đến tiếp theo ngay sau đền thờ Huyền Trân Công Chúa. Lối dẫn lên đền có đôi rồng canh chầu uy nghi đã góp phần tạo nên tính chất ẩn dụ cho quần thể kiến trúc thờ tự. Trần Nhân Tông là một vi vua anh minh, người có công lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, Ngài còn được tôn xưng là vị Tổ của Thiền phái Trúc Lâm, vua Phật Việt Nam. Bên trong đền thờ là bức tượng đúc bằng đồng nguyên chất cao khoảng 3m, nặng 2 tấn phỏng theo mẫu tượng nhà vua qua phiên bản lấy từ đền thờ các vị vua Trần tại Nam Định.

 

Bên cạnh các bộ phận kiến trúc chính, trong khuôn viên của Trung tâm Văn hóa Huyền Trân còn có nhiều công trình kiến trúc lớn nhỏ khác. Đáng chú ý là cái Tháp chuông Hòa Bình. Để đến được đây, du khách phải vượt qua 246 bậc cấp, dẫn lên độ cao 108m, nơi có lầu bát giác treo lơ lửng quả chuông Hòa Bình. Chuông được đúc bằng đồng, nặng 1,6 tấn, cao 2,16 m, đường kính rộng 1,26m. Đặc biệt là, trên thân chuông có khắc tám chữ: Thế giới hòa bình, nhân loại hạnh phúc. Cùng với đó là hình ảnh tượng trưng cho bốn ngôi chùa nổi tiếng: Giác Lâm, Thiên Mụ, Diên Hựu, và Trúc Lâm. Mang ý nghĩa thống nhất giang sơn, nhân văn cao cả mà tiếng chuông hòa bình đem lại – tiếng chuông của an bình, hạnh phúc, du khách khi đến đây có thể tự mình dóng lên những hồi chuông kỳ vọng. Bên cạnh đó còn các công trình kiến trúc khác như: Tượng Di Lạc, Tượng Ni Sư Hương Tràng, miếu thờ Sơn Thần, Thủy Thần.... Tất cả đã góp phần tạo nên một chỉnh thể kiến trúc đặc sắc chứa đựng vẻ đẹp thâm nghiêm của núi rừng Ngũ Phong về phía tây nam của thành phố Huế.

 

Nằm trong chuỗi các hoạt động phục vụ cho nhu cầu đời sống văn hóa tâm linh thông qua du lịch, từ khi đi vào hoạt động cho đến nay, Trung tâm Văn hóa Huyền Trân đã tổ chức nhiều mô hình hoạt động có ý nghĩa. Đánh dấu bước ngoặt chuyển mình, sau khi tiếp quản quần thể kiến trúc Đền Huyền Trân từ Công ty Du lịch Hương Giang, Trung tâm Văn hóa Thông tin được lãnh đạo Sở giao nhiệm vụ, không những tiếp tục duy trì tổ chức các mô hình hoạt động văn hóa thường niên mà còn tiếp cận, làm mới và tổ chức nhiều hoạt động quảng bá có ý nghĩa. Đáng chú ý là hoạt động lễ hội Huyền Trân được tổ chức vào ngày mồng 9 tháng Giêng hàng năm. Việc tổ chức các hoạt động giới thiệu, tuyên truyền, quảng bá, các nghi thức lễ hội văn hóa hằng năm đã góp phần vào việc mở rộng nghiên cứu, tiếp nhận, giáo dục và tôn vinh công lao dựng nước và mở nước, cùng những giá trị nhân văn, cốt cách, tư tưởng của các bậc tiền nhân. Với ý nghĩa tri ân công đức của Huyền Trân Công Chúa vì sự nghiệp mở mang bờ cõi, phát triển của đất nước, lễ hội diễn ra nhiều hoạt động: Đại lễ cầu nguyện “quốc thái dân an”, Nghi thức dâng hương; Hội hoa đăng; cùng các hoạt động trưng bày, triển lãm, trò chơi dân gian.... Đa dạng và phong phú trong muôn màu hình thái tổ chức. Lễ hội Huyền Trân đã thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân, bà con tăng ni phật tử, các chức sắc tôn giáo và du khách gần xa về tham dự. Gần đây nhất, thành công của Đại lễ “Đền Huyền Trân – Ngưỡng vọng tiền nhân” được diễn ra vào dịp đầu xuân Đinh Dậu 2017, đã cho thấy những bước đi ban đầu của Trung tâm là đúng hướng, hứa hẹn một chặng đường mới đầy tin tưởng. Dựa vào những con số thống kê cụ thể chúng ta thấy: năm 2017 có hơn 40 ngàn lượt khách đến đây tham quan, chiêm bái, thu từ nguồn bán vé, tài trợ và công đức, được hơn 1 tỷ 400 triệu đồng, tăng 10% so với cùng kỳ năm ngoái.... Điều này là minh chứng cụ thể nhất cho những nỗ lực và cố gắng mà Trung tâm Văn hóa Thông tin tỉnh đã làm trong một năm qua. Kết quả đạt được của ngày hôm nay cũng chính là bước đệm, là tiền đề cơ sở để chúng ta tin tưởng rằng Trung tâm Văn hóa Huyền Trân sẽ ngày một phát triển, các hoạt động văn hóa diễn ra tại đây sẽ ngày càng nổi bật, mang hơi thở cuộc sống giàu chất nhân văn thông qua các lễ hội tri ân Huyền Trân Công Chúa và các bậc tiền nhân có công với đất nước sẽ ngày càng thu hút đông đảo du khách từ khắp nơi tìm về. Điều ấy đã thổi vào ký ức dân gian theo một lẽ tự nhiên. Nhờ nhân duyên ấy mà gần đây ở Huế mới có câu truyền tụng:

 

Những ai con cháu vua Trần/ Tháng Giêng mở hội Huyền Trân thì về.

 

Có thể nói, Trung tâm Văn hóa Huyền Trân là một trong những mô hình du lịch văn hóa tâm linh đặc sắc vừa gần với đạo, vừa sát với đời của tỉnh Thừa Thiên Huế. Đến với Đền Huyền Trân, giữa cảnh núi rừng u tịch như chốn Bồng Lai, từ trong mênh mang tiên giới của đất trời cố đô... du khách sẽ được đắm mình trong không gian tĩnh lặng của cõi thiền, tự mình dâng hoa cúng Phật và chư Tiên những nén hương trầm thơm ngát sẽ làm cho tâm hồn ta thanh sảng tựa như giải thoát phiền muộn mà bất cứ nơi đâu cũng khó tìm thấy được.

-----------------------------------

[1] Dương Văn An, Ô Châu Cận Lục.

[2] Đại Việt Sử ký toàn thư

__________

Trung tâm Văn hóa Huyền Trân

VUA DỰC TÔNG NHÀ NGUYỄN THÁN PHỤC CÔNG ĐỨC GIỮ NƯỚC CỦA VUA NHÂN TÔNG NHÀ TRẦN

Vua Dực Tông nhà Nguyễn (tức vua Tự Đức) hết sức chú trọng đến Lịch sử Việt Nam. Nhà vua đã giao cho Quốc sử quán biên soạn bộ Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục và đích thân nhà vua đã soạn bộ Ngự Chế Việt Sử Tổng Vịnh hòng quảng bá cho trăm họ suy nghiệm về những nhân vật và giai thoại để rút tỉa những bài học về đạo đức đối với quốc gia dân tộc. Mỗi đề tài ngâm vịnh đều có sử liệu giải thích. Ngự Chế Việt Sử Tổng Vịnh có 10 quyển, gồm 212 bài thơ thất tuyệt bao trùm lịch sử từ đời Lạc Long Quân đến nhà Hậu Lê, chia làm 11 mục: Đế vương các triều đại, Hoàng hậu và phi tần, tôn thần, hiền thần, trung nghĩa, văn thần, võ tướng, liệt nữ, tiếm nguỵ, gian thần, bổ vịnh.

Bài thơ vua Dực Tông vịnh công đức của vua Trần Nhân Tông in trong quyển 2, từ tr.3a đến tr.4b Ngự Chế Việt Sử Tổng Vịnh .

 

Nguyên văn sử liệu và thơ vua Nguyễn Dực Tông vịnh vua Trần Nhân Tông như sau:

 

“Theo Sử ký bản chỉ chép, thì vua Trần Nhân Tông tên huý là Khâm, là con trưởng của vua Trần Thánh Tông.

 

Năm thứ tư niên hiệu Thiệu Bảo [1] (1282), người nhà Nguyên sai bọn Toa Đô đánh nước Chiêm Thành. Nhà Nguyên lại khiến Thái tử Thoát Hoan đem 50 vạn binh đánh tiếng mượn đường nước ta để chinh phạt Chiêm thành, nhưng sự thực là họ tới để xâm lấn nước ta.

 

Nhà vua ngự giá đến Bình Than, nhóm họp với các vị Vương Hầu và bách quan trong triều đình để bàn bạc sách lược công và thủ.

 

Ngài chọn Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn làm chức Tiết chế thống lãnh các đạo quân của nước ta.

 

Tháng 12 năm Thiệu Bảo thứ sáu (1284), quân nhà Nguyên xâm phạm biên cảnh nước ta, quan quân ta đánh nhau với quân nhà Nguyên nhưng quân ta không thắng được địch, nhà vua phải dời đến vùng Đông Hải.

 

Năm đầu niên hiệu Trùng Hưng (1285, niên hiệu thứ hai của vua Trần Nhân Tông) quân nhà Nguyên đến phạm kinh thành của ta, nhà vua rước đức Thượng hoàng (tức Trần Thánh Tông) đi vào tỉnh Thanh Hoá.

 

Mùa hạ tháng 4 năm ấy (Trùng Hưng nguyên niên) Chiêu Văn Vương là Trần Nhật Duật đánh bại quân Nguyên ở cửa sông Hàm Tử.

 

Tháng 5 năm ấy (1285), sau khi nhà vua rước đấng Thượng hoàng vào Thanh Hoá rồi, Ngài tự làm tướng đem binh đánh quân Nguyên, đánh cho Toa Đô đại bại ở đất Tây Kết và chém đầu Toa Đô ở đấy.

 

Trần Quốc Tuấn lại đánh quân Nguyên thua lớn ở Vạn Kiếp, Thoát Hoan phải chạy trốn về Tàu.

 

Vua lại rước đức Thượng hoàng trở về nơi cung điện.

 

Lúc bấy giờ, xã tắc đã gần lâm nguy mà trở lại yên ổn, thiên hạ đã phân ly mà trở lại hoà hợp, công đức nhà Trần thật là to lớn vô cùng, kể từ đời họ Hồng Bàng trở xuống, chưa bao giờ nước ta được thịnh trị như đời Trần Nhân Tông vậy. (do NĐX nhấn mạnh)

 

Vua Trần Nhân Tông ở ngôi Hoàng đế được 14 năm.

 

Thơ vịnh Trần Nhân Tông:

Phân âm:

 

Lưỡng khước Nguyên binh điện cựu bang.

Trùng hưng công đức quán Hồng bàng

Đương niên nhị Đế hồi cung khuyết,

Tu sát Huy Khâm phụng biểu hàng

 

Tạm dịch:

 

Hai bận xua Nguyên giữ nước nhà,

Trùng hưng công nhất nước Nam ta.

Trong năm hai Đế về cung khuyết

Hàng địch Huy (a), Khâm (b) thẹn lắm mà.

 

Bình luận bài thơ trên:

 

“Trong bài thơ trên, tác giả đã áp dụng những vần rất hiểm, mà những vần ấy đều vững vàng và thoả đáng cả”.

 

Thần: Tùng Thiện công Miên Thẩm [2] phụng duyệt.

 

“Trong bài thơ trên, phần nghị luận vốn đã chính đại không thể nào thay đổi được, mà việc mượn kẻ nầy để hình dung kẻ khác hay là mượn việc nầy để nói lên việc khác, lại càng tinh vi kỹ lưỡng vô cùng”.

 

Thần: Nguyễn Tư Giảng [3] phụng duyệt.

 

Hồng Liên Lê Xuân Giáo và Nguyễn Quang Tô, phiên âm và dịch toàn bộ đoạn sao lục trên. Hai dịch giả đã chú thích và bình luận hai danh từ riêng Huy (a) và Khâm (b) như sau:

 

(a) Huy: vua Tống Huy Tông, hiệu Kiến trung, tức vị năm Tân tị (1101), bị người Kim truất phế và bắt về phương Bắc. Huy Tông xin hàng người Kim mà cũng không được tha.

 

(b) Khâm: vua Tống Khâm Tông, hiệu Tịnh Khang, tức vị năm Bính Ngọ (1126) cũng bị người Kim truất phế và bắt về phương Bắc. Khâm Tông xin hàng người Kim mà cũng không được tha.

 

Trái lại vua Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông đánh đuổi quân Nguyên rồi trở về cung khuyết một lần. Đem Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông mà so sánh với Huy Tông, Khâm Tông thì Huy, Khâm có thể chết thẹn được [4].

 

Các sử thần triều Nguyễn biên soạn bộ Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục với quan điểm lịch sử của vua Dực Tông nêu trên. Đọc các sự kiện vua quan triều Trần chiến thắng quân Nguyên trong Cương Mục, vua Dực Tồng châu phê một lời bình rằng:

 

“Lúc bấy giờ nhà Nguyên mới nổi lên, khi thế rất ngang ngược; nhà Trần cũng may gặp lúc mới nổi lên được các vua Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông và tướng văn tướng võ phần nhiều người tài, mới có thể đánh bại được giặc, giữ được nước, chứ nếu gặp người khác thì chưa biết thế nào”.

 

Dịch lời phê nầy từ chữ Hán, các dịch giả của Viện Sử học Việt Nam đã chú thích thêm rằng:

 

“Lời phê kết thúc bằng tám chữ “nhược ngộ kỳ tha, vị khả chí dã” Tám chữ nầy nghĩa không được rõ cho lắm, vì chữ “tha” có thể là người khác hoặc lúc khác. Vậy tám chữ nầy ý nói nếu gặp vua tôi khác không anh dũng được như vua tôi nhà Trần hoặc lúc khác không được hưng thịnh như lúc nhà Trần mới nổi lên, thì chưa biết tình thế sẽ biến chuyển ra sao”[5].

***

Vua Dực Tông là một người sùng Đạo Nho, giỏi thơ văn kinh sử, tự hào về sự huy hoàng thịnh trị của triều Nguyễn thế mà ông đã phải hạ bút viết:

 

“Công đức nhà Trần thật là to lớn vô cùng, kể từ đời họ Hồng Bàng trở xuống, chưa bao giờ nước ta được thịnh trị như đời Trần Nhân Tông vậy.”

 

Có lẽ không còn lời thán phục công đức của Trần Nhân Tông nào sáng giá hơn thế nữa. Công đức giữ nước của Trần Nhân Tông đánh dấu một cái mốc lịch sử quan trọng. Nếu không có hoàn cảnh, tài năng, công đức của vua quan triều Trần Nhân Tông thì sự thể nước ta sau đó không thể đoán định được sẽ suy sụp đến như thế nào. Sự xuất hiện của triều đại Trần Nhân Tông là một hồng phúc của dân tộc Việt. 

 

Vua Dực Tông nhà Nguyễn không những đặt công đức của vua Nhân Tông nhà Trần đứng đầu trong lịch sử Việt Nam từ xưa cho đến đời Trần mà còn so sánh với các ông vua nổi tiếng của Thượng quốc là Huy Tông và Khâm Tông nhà Tống nữa. Hai ông Huy Tông, Khâm Tông có cùng hoàn cảnh đất nước bị người ngoài chinh phục như Trần Nhân Tông. Nhưng Huy Tông và Khâm Tông đã đầu hàng giặc và đã bị giết một cách nhục nhã. Vua Trần Nhân Tông quyết đánh và đã thắng lợi vẻ vang. Như thế sự nghiệp giữ nước của vua Trần Nhân Tông hơn xa nhiều Hoàng đế của Trung Quốc.

 

Vẻ vang thay sự nghiệp giữ nước của vua Trần Nhân Tông.

____________________

Nguyễn Đắc Xuân

Nguồn: trungtamhuyentran.thuathienhue.gov.vn

TRUNG TÂM VĂN HÓA HUYỀN TRÂN - ĐỊA DANH VĂN HOÁ LỊCH SỬ, TÂM LINH Ở CỐ ĐÔ HUẾ.

Tọa lạc dưới chân núi Ngũ Phong, phường An Tây, nằm cách thành phố Huế khoảng 7km về phía Tây, Trung tâm Văn hóa Huyền Trân là một điểm du lịch hấp dẫn thu hút đông đảo người dân địa phương và khách du lịch mỗi khi đến Huế. Nơi đây là điểm du lịch lịch sử có giá trị văn hoá tâm linh, đưa du khách trở về sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước Việt Nam trong việc bảo vệ và mở mang bờ cõi vào thời nhà Trần, thế kỷ XIII.

Theo sử liệu, vua Chiêm Thành Jaya Simhavarman III (Chế Mân) để cưới được Công chúa Huyền Trân đã đem hai châu Ô, Lý dâng lên vua Trần làm sính lễ. Vâng mệnh vua cha là Trần Nhân Tông và vua anh Trần Anh Tông, Huyền Trân đã gác tình riêng, gạt lệ xuống thuyền theo chồng, lập mối hòa hiếu và mở mang bờ cõi của đất nước về phương Nam. Đất Thuận Hóa - Phú Xuân - Thừa Thiên Huế cũng được khai sinh từ đó, đến nay đã hơn 700 năm. Để ghi nhớ công ơn của Công chúa, Triều đình nhà Nguyễn (1802 - 1945) đã lập miếu Đại Đế Vương ở làng Lịch Đợi, phường Đúc, TP Huế, thờ các vị khai quốc công thần, trong đó có Công chúa Huyền Trân. Miếu thờ này ngày nay không còn nữa. Năm 2006, nhân kỷ niệm 700 năm Thuận Hóa - Phú Xuân - Thừa Thiên Huế (1306-2006), UBND tỉnh Thừa Thiên Huế đã cho phép Công ty Du lịch Hương Giang đầu tư xây dựng Trung tâm Văn hóa Huyền Trân tại thôn Ngũ Tây, phường An Tây, TP Huế, trên một không gian rộng 28 ha nằm dưới chân núi Ngũ Phong để tri ân công đức của công chúa Huyền Trân. Đây là khu vực có rừng thông xanh bạt ngàn xung quanh, bốn mặt đồi núi trùng điệp. Không gian tĩnh lặng, kỳ vĩ, những làn gió thoang thoảng, mát nhẹ vào mùa hè, toát lên hơi ấm từ lòng đất của núi rừng vào mùa đông, phù hợp với những công trình kiến trúc văn hóa mang tính tâm linh.Từ ngoài dẫn vào là bốn trụ biểu lớn, dưới chân có nghê đá phục chầu, tiếp đến là ba bậc sân rộng lát gạch Bát Tràng, có hồ nước và cầu bắc qua tương tự như cầu Trung Đạo bắc qua hồ Thái Dịch trước điện Thái Hòa của Đại Nội Huế; tiếp nữa là tam quan, rồi đến đền thờ Huyền Trân. Trong đền thờ Huyền Trân có pho tượng Công chúa Huyền Trân ngồi trên ngai được đúc bằng đồng, tượng cao 2,37m, do các nghệ nhân đúc đồng nổi tiếng của phường Đúc, TP Huế cẩn tác. Hậu điện thiết án thờ Đoàn Nhữ Hài, người tương truyền là vị quan người Việt đầu tiên theo lệnh vua vào trấn giữ và yên dân 2 châu Ô, Lý khi 2 châu này về với Đại Việt. Đôi rồng chầu đạt kỷ lục dài nhất Việt Nam sẽ dẫn du khách đến với ngôi đền thờ uy nghi đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông - vị vua có công lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Trong đền thờ đức vua Trần Nhân Tông có pho tượng nhà vua rất lớn được làm bằng đồng đỏ nguyên chất, cao 3m, nặng 2 tấn, đúc theo phiên bản lấy từ đền thờ các vua Trần tại Nam Định. Trên đỉnh núi Ngũ Phong ở độ cao 108 mét có tháp chuông Hoà Bình, một quả chuông đồng nguyên chất nặng 1,6 tấn, cao 2,16 mét, tiếng chuông ngân vang lan toả trong cõi thinh không tĩnh lặng để cầu nguyện cho Thế giới Hoà bình - Nhân loại Hạnh phúc. Ngày 30 tháng 12 năm 2016, thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế tại Quyết định số 2198/QĐ-UBND ngày 21/9/2016 về việc chuyển giao chức năng quản lý Trung tâm Văn hóa Huyền Trân, Sở Văn hóa và Thể thao phối hợp với Công ty Cổ phần Du lịch Hương Giang tổ chức lễ bàn giao Trung tâm Văn hóa Huyền Trân cho Sở Văn hóa và Thể thao quản lý. Sau khi tiếp nhận, Sở Văn hóa và Thể thao giao trách nhiệm cho Trung tâm Văn hóa Thông tin tỉnh trực tiếp quản lý, khai thác và phát huy các giá trị văn hóa tâm linh, lịch sử. Để phục vụ nhu cầu khách tham quan, dâng hương, chiêm bái, Trung tâm Văn hoa Huyền Trân mở cưa thường xuyên các ngày trong tuần kể cả Thứ Bảy và Chủ Nhật. Đặc biệt, vào mồng 9 tháng Giêng Âm lịch hàng năm, Lễ hội Huyền Trân được tổ chức quy mô và long trọng nhân ngày mất của công chúa Huyền Trân. Đây là một hoạt động thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc nhằm tri ân các bậc tiền nhân đã có công với dân, với nước trong việc mở mang bờ cõi. Lễ hội đền Huyền Trân Xuân Đinh Dậu 2017 lần đầu tiên được Sở Văn hóa và Thể thao tổ chức có quy mô lớn nhất từ trước đến nay, đầy đủ hai phần lễ và hội. Bên cạnh các phần lễ chính, như: Khai hội, Lễ Tiên Thường (cáo giỗ), Lễ kỵ Công chúa Huyền Trân, còn nhiều hoạt động khác như: Biểu diễn võ cổ truyền, chơi bài Chòi, biểu diễn vật dân tộc, đẩy gậy, trình diễn nghề dệt Zèng, chằm nón, thư pháp, trưng bày các sản phẩm thủ công truyền thống…đã tạo không khí tươi vui phấn khởi trong lễ hội, thu hút đông đảo nhân dân và du khách tham gia. Hiện nay, Trung tâm văn hoá Huyền Trân đã trở thành một điểm du lịch văn hoá tâm linh, lịch sử, thu hút đông đảo người dân địa phương và du khách đến tham quan, chiêm bái tưởng niệm vị công chúa đã có công mở mang bờ cõi nước Việt, góp phần làm phong phú thêm danh sách các địa danh du lịch hấp dẫn ở Huế, thành phố văn hóa ASEAN, thành phố Festival của Việt Nam với quần thể kiến trúc di tích cố đô Huế cùng với nhã nhạc cung đình đã được UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại.

_____________

Hương Linh

Nguồn: trungtamhuyentran.thuathienhue.gov.vn

SUY NGHĨ TỪ MỘT MẪU CHUYỆN CỦA TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ

Ngày kia, Thái hậu (vợ vua Thái Tông) mở tiệc thịnh soạn. Ngài dự tiệc gặp cá thịt cứ ăn. Thái hậu thấy lạ hỏi:

Anh tu thiền mà ăn cá thịt thì thành Phật sao được?

Thượng sĩ cười đáp:

Phật là Phật, anh là anh. Anh chả cần làm Phật, Phật chả cần làm anh. Thái hậuchẳng nghe cổ đức nói “Văn Thù là Văn ThùGiải Thoát là Giải Thoát” đó sao? (Ngài trích truyện tích Ngài Văn Hỷ có hiệu là Giải Thoát đối đáp với bồ tát Văn Thù)

Khi Thái hậu qua đời, nhà vua (Thánh Tông) cúng chay ở cung cấm. Nhân lễ khai đường, vua thỉnh các vị tôn túc bốn phương mỗi vị làm một bài kệ ngắn trình bày chỗ kiến giải của mình. Kết quả bài nào cũng nông cạn chưa tỏ ngộ. Nhà vua bèn trao giấy mực cho Thượng sĩThượng Sĩ viết một hơi bài tụng tự thuật (tất cả tám câu). Vua xem xong bèn viết tiếp họa lại tám câu nữa. Thượng Sĩ đọc xong rất ưng ý.

Sau vua sắp tịch có viết hai câu kệ trả lời cho Thượng Sĩ:

Hừng hực hơi nóng mồ hôi toát
Chưa từng thấm ướt khố mẹ sinh.”

Qua câu chuyện này ta biết rằng chẳng phải chỉ có Thái Tông ngộ đạo, mà con Ngài là Thánh Tông cũng ngộ đạo, rồi sau này cháu Ngài là Nhân Tông cũng ngộ đạo xuất gialập nên thiền phái Trúc Lâm Yên TửQuả thật là dòng họ phi thường. Đức của nhà Trần rất lớn, mới đủ sức đánh bại kẻ thù hung hãn nhất thời bấy giờ là Nguyên Mông, như lời bình của Trương Hán Siêu:
Anh minh hai vị thánh quân (chỉ cho hai vua Thánh Tông và Nhân Tông lúc đó)

Sông này rửa sạch mấy lần giáp binh
Giặc tan muôn thủa thanh bình
Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao.

Bốn câu kết của Trương Hán Siêu trong bài Bạch Đằng Giang phú đã nói lên cái tinh túy của chiến thắng, đức độ của nhà lãnh đạo đã khiến cho Đại Việt chiến thắng. Siêu cho rằng dù là quân đội anh dũng, dù là nhân dân đồng lòng, dù là thế trận hung hiểm, nhưng chính cái đức độ của người lãnh đạo tối cao mới quyết định chiến thắng.

Một việc nữa cũng rất thú vị. Khi Thái hậu ngạc nhiên nhìn Tuệ Trung thượng sĩ gắp cá thịt, thì ta phải hiểu rằng thời đó Phật giáo nhà Trần (miền Bắc) đều ăn chay. Sự ngạc nhiên của Thái hậu đã chứng tỏ việc ăn chay là phổ quát, nên khi Bà thấy ông anh nổi tiếng tu hành lại ăn mặn như thế rất kỳ lạ. Khi Bà mất thì vua Thánh Tông cũng cúng chay trong cung cấm. Như thế đủ biết Phật giáo lúc bấy giờ toàn ăn chay.

Nhiều người kể lại câu chuyện của Thượng Sĩ để biện minh cho việc ăn mặn, nhưng thật ra câu chuyện đó mới chính là chứng tích cho một Phật giáo thời Trần toàn ăn chay.

Vậy ăn chay là gì?

Ăn chay là không ăn thức ăn xuất xứ từ động vật, không dùng các chế phẩm từ động vật;

Hoặc ăn chay là không ăn thức ăn có xuất xứ từ sự giết hại động vật?

Hai định nghĩa này khác nhau nhiều lắm.

Khi Phật gặp một người câu cá, Ngài đã khuyên người này đừng giết hại chúng sinh. Như vậy rõ ràng Phật khuyến khích ăn chay, vì không câu cá để ăn thì chỉ còn nước hái rau mà luộc ăn thôi.
Nhưng cũng thời đó, Phật cho phép các Tỳ kheo đi khất thực ai cho gì ăn nấy, kể cả thức ăn có nguồn gốc từ động vậtVì vậy mà đến bây giờ các sư Nam truyền vẫn cương quyết ai cho gì ăn nấy đúng như Phật cho phép từ xưa.

Nếu định nghĩa Ăn chay nghĩa là không ăn thức ăn từ sự giết hại động vật thì ta có thể mở rộng phạm vi ăn uống ra thoáng hơn. Sữa cũng là chế phẩm từ động vật, nhưng không giết chóc gì cả, cứ dùng vô tư. Trứng công nghiệp không có mầm trống, do gà mái đẻ theo chu kỳ sinh học, chẳng có sự sống, chẳng có giết hại gì cả, có thể được dùng cho có thêm đạm.

Ngoài ra, xác cá trôi tấp vào bờ, chết vì lý do gì không rõ, có thể ăn Chay được đấy. Xác thú trong rừng chết qua cơn hỏa hoạn, chết vì tai nạn, chẳng ai giết chóc gì cả, vẫn có thể ăn Chay được đấy. Chỉ có điều các Sư Bắc tông ăn cá thịt như thế thì ai “ngạc nhiên như Thái hậu” hỏi thì mất công trả lời cá này chết trôi vớt lên ăn nghe con ..

Nếu định nghĩa Ăn chay là tuyệt đối không ăn bất cứ chế phẩm nào từ động vật thì ta theo đúng con đường của Đề bà đạt đa chủ trương đòi ly khai khỏi Phật, chống lạiPhật, muốn hơn Phật. Hình như Phật cho rằng thức ăn từ sự giết hại dã man mới có tội, chứ không phải hễ ăn chế phẩm từ động vật là có tội. Đây là chỗ tế nhị mà ta cần hiểu rõ để xác định Chánh thực (ăn cho đúng).

Nếu ta hiểu như thế thì thức ăn của tu sĩ hầu như là thức ăn chay, vì chế phẩm từ động vật mà không có giết hại thì rất ít, lâu lâu mới có. Sữa và trứng không trống thì rất nhiều. Còn thịt “chay” thì ít khi có dịp gặp để cải thiện. Thịt “chay” nghĩa là thịt cá chết vì lý do tự nhiên hay tai nạn chứ không vì giết hại dã man, chứ không phải thịt chay là thịt bán trong các cửa hàng thực phẩm chay Đài Loan đâu.

Tuy nhiên, nếu ai quen ăn mặn rồi thì không dễ chuyển qua ăn chay, thậm chí sẽ nổi sân khi có ai nhắc mình ăn chay. Muốn ăn chay phải có ý chí cao lắm. Chính quyết tâm ăn chay sẽ giúp ta không thèm đồ mặn, cơ thể tự thích nghi không cần đạm động vật nữa. Thịt cá có men tiêu hóa rất nhiều nên kích thích ăn ngonThực vật không có men tiêu hóa này nên ăn không được nhiều. Hơn nữa ăn chay đương nhiên sẽ không khỏe bằng ăn mặnTuy nhiên cái gì cũng có cái giá của nó. Ăn chay không khỏe bằng ăn mặn, nhưng cơ thể tinh khiết hơn, tinh thần thanh sảng hơn, ít tích chứa ám nghiệp hơn, nên dễ thăng tiến trên đường tu tập tâm linh hơn.

Phật tử nhìn nhà sư ăn chay cũng cảm mến hơn, vì thế Phật Pháp sẽ hưng thịnh hơn.

Vấn đề còn lại là ta có quyết tâm ăn chay hay không mà thôi.


Ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ không ăn chay
HỎI:

- Có người xem lịch sử Việt Nam thấy Ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ, là một vị giác ngộ, thầy của vua Trần Nhân Tôngsơ tổ Thiền phái Trúc Lâm cũng ăn mặn nên nói rằng ăn chay không cần thiết. Lý này là thế nào? Có phải Ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ ăn mặn không?

ĐÁP:

Theo sách Thiền Sư Việt Nam [1] thì Tuệ Trung Thượng Sĩ là một cư sĩ thọ Bồ Tát Giới, thầy của vua Trần Nhân Tông, sáng tổ Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử, do đó không có ý gì nghi ngờ về việc ngài ăn mặn hay ăn chay vì trong 10 giới trọng và 48 giới khinh của Bồ Tát Giới có giới cấm sát sinh (giới trọng thứ nhất), giới cấm không được ăn tất cả thịt của mọi loài chúng sinh (giới khinh thứ 3), và giới cấm cất chứa những khí cụ sát sinh (giới khinh thứ 10).

Việc ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ ăn mặn là nhân một bữa tiệc do em gái ngài, Hoàng Thái Hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm, thiết đãi khách quí trong hoàng cung. Mặc dù trên bàn tiệc có cả thức ăn chay và thức ăn mặn, nhưng ngài vẫn điềm nhiên ăn thịt cá. Thái Hậu thấy lạ mới hỏi:

“Anh tu thiền mà ăn cá thịt thì thành Phật sao được?”

Ngài cười đáp:

” Phật là Phật, anh là anh. Anh không cần làm Phật, Phật không cần làm anh..”

Có nhiều nghi vấn và giải thích về việc nầy. Một trong những lời giải thích cho là hành động ăn thịt cá của Thượng Sĩ nhằm mục đích đả phá quan niệm sai lầm rằng ăn chay là đủ để thành Phật của Hoàng Thái Hậu, ý ngài muốn nói sự tu tâm mới là điều quan trọng. Ngài là bậc giác ngộ, tâm đã bình đẳng, đã thoát ra khỏi qui luật của thế giới hiện tượng tương đối, mọi sự việc xảy ra trong đời đối với ngài chỉ còn là câu truyện trong giấc mộng đêm qua, mọi hành động của ngài đều là tùy duyênphương tiện tháo đinh nhổ chốt cho chúng sinh còn kẹt mà thôi.

Chú thích:
1. HòaThượng Thích Thanh Từ, Thiền Sư Việt 
Nam, in tại Hoa Kỳ 1995. Trang 256 

_____________________

• Thạnh Minh
Nguồn: thuvienhoasen.org


DI SẢN VĂN HỌC CỦA PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG

Thơ văn chữ Hán của vua Trần Nhân Tông đúng đã thể hiện được “một sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cảm quan triết học và cảm quan thế sự, có tinh thần lạc quan, yêu đời, tấm lòng vị tha của một nhân cách cỡ lớn và sự rung động tinh tế, lòng yêu tự do thích thảng của một nhà nghệ sĩ”, chứ không phải chỉ chứa đựng những ý tưởng “cực kỳ chán đời” như có người đã nhận xét.


Chỉ đến thời vua Trần Nhân Tông, với hai tác phẩm của mình là Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca cùng Vịnh Vân Yên tự phú của Huyền Quang (1254 -1334) và Giáo tử phú của Mạc Đỉnh Chi (1284 -1361), nền văn học tiếng Việt mới có những tác phẩm đầu tiên hoàn chỉnh của mình còn được bảo tồn đến ngày nay.

Tiếng nói của dân tộc ta chắc chắn tồn tại từ lâu lắm rồi. Nhưng phải tới cuối thời kỳ triều đại Hùng Vương, tức vào khoảng những thế kỷ trước và sau Tây lịch, ta mới có một số thông tin về tiếng nói này qua bài Việt ca và một số cấu trúc được tìm thấy trong Lục độ tập kinh và Tạp thí dụ kinh. Đặc biệt hai bản kinh vừa nói có khả năng đã tồn tại như những bản kinh tiếng Việt đầu tiên mà ta hiện biết và đã lưu hành vào những thế kỷ đầu sau Tây lịch, tối thiểu cho tới lúc Khương Tăng Hội (? – 280) dịch ra tiếng Trung Quốc. Vào thời điểm này, tiếng Việt đã phát triển phong phú và đa dạng, đến nỗi Sĩ Nhiếp (137-226) tương truyền đã viết bộ từ điển Hán Việt đầu tiên được biết, đó là Chỉ nam phẩm vựng hai cuốn. Đà phát triển này vẫn tiếp tục tới cuối thế kỷ thứ tư với sự ra đời các tác phẩm có thể coi như tự điển chữ Việt và cách thức ghi âm chữ Việt biết dưới tên Tá âm và Tá âm tự của Đạo Cao (370 -450?)1.

Rồi sau đó tiếng Việt như một văn tự vẫn tiếp tục được sử dụng mạnh mẽ. Dân ta đã dùng tên Bố Cái Đại Vương để gọi cho người anh hùng Phùng Hưng.Và khi nền độc lập dân tộc được phục hưng, các triều đại có khả năng đã dùng tiếng Việt để ban bố các mệnh lệnh hành chánh của triều đình cho dân chúng. Ta có thể mạnh dạn đưa ra giả thiết này nhờ vào một sự cố giữa hàn lâm phụng chỉ Đinh Củng Viên và hành khiển Lê Tòng Giáo năm 1288, theo đó có lệ cũ là phải viết và đọc chiếu chỉ của vua bằng hai thứ tiếng, tiếng Việt và tiếng Hán. Như thế, đến giữa thế kỷ thứ 13 tiếng Việt như một văn tự đã thực hiện mọi chức năng của nó. Điều bất hạnh là do thiên tai và địch họa, hàng loạt các tác phẩm viết bằng tiếng nói của dân tộc ta từ những bản kinh đầu tiên như Lục độ tập kinh và các bản chiếu chỉ của nhà vua cho đến các tác phẩm văn học như Tiều ẩn quốc ngữ thi tập của Chu Văn An đã bị tán thất.

Bài thơ tiếng Việt tương truyền đầu tiên hiện biết là bài Giáo trò cho các buổi hát chèo thường được gắn cho tên tuổi của Thiền sư Đạo Hạnh (? -1117). Vì đây là một bài thơ ngắn chỉ gồm 32 chữ và vấn đề văn bản học vẫn chưa được xác định rõ ràng, cho nên nhiều nghi vấn đã đặt ra. Chỉ đến thời vua Trần Nhân Tông, với hai tác phẩm của mình là Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca cùng Vịnh Vân Yên tự phú của Huyền Quang (1254 -1334) và Giáo tử phú của Mạc Đỉnh Chi (1284 -1361), nền văn học tiếng Việt mới có những tác phẩm đầu tiên hoàn chỉnh của mình còn được bảo tồn đến ngày nay. Vị trí văn học của vua Trần Nhân Tông do thế đối với dân tộc ta rất là vĩ đại.

Không phải là một ngẫu nhiên của lịch sử mà vinh dự này thuộc về con người Trần Nhân Tông. Phần trên, ta đã thấy sự nghiệp và con người vua Trần Nhân Tông, một sự nghiệp văn trị và võ công quá lớn lao, đến nỗi qua thời gian và sự phá hoại của kẻ thù vẫn không làm phai mờ đi được trong tâm thức của những người dân Việt. Chính họ đã giữ gìn các tác phẩm văn học ấy cho ta, trong số hàng trăm hàng ngàn các tác phẩm tiếng Việt khác đã ra đời cùng thời với chúng, mà bây giờ ta chỉ biết tên, chứ không biết chúng có nội dung cụ thể là gì. Nói khác đi, công ơn của Trần Nhân tông đối với dân tộc ta quá sâu đậm, nhờ thế những tác phẩm như Cư trần lạc đạo phú, Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca đã được trân trọng và giữ gìn.

Thế nhưng, không phải chỉ vì công ơn và uy tín cá nhân của vua Trần Nhân Tông, mà hai tác phẩm ấy được trân trọng và giữ gìn. Hai tác phẩm đó được trân trọng và giữ gìn còn vì giá trị nội tại của bản thân chúng, đặc biệt là Cư trần lạc đạo phú. Có thể nói Cư trần lạc đạo phú là một bản tuyên ngôn của con đường sống đạo, mà Phật giáo Việt Nam đã đề ra và đã chi phối cuộc sống của hàng triệu triệu người phật tử Việt Nam thời vua Trần Nhân Tông và những thế kỷ sau. Nó cũng là một trong số ít tác phẩm Phật giáo Việt Nam được trích dẫn đích danh như một quyền uy, khi Thiền sư Chân Nguyên trình bày những vấn đề Phật giáo cho vua Lê Chính Hòa vào khoảng những năm 1692 trong Kiến tính thành Phật lục.1 Vì thế tư tưởng của Cư trần lạc đạo phú đã giúp một phần nào cho sự tồn tại của nó trong quá trình truyền đạt.

Ít lắm là trong khoảng 300 năm trở lại đây, thế kỷ nào Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca cũng đều được in và phổ biến rộng rãi. Bản in xưa nhất chúng ta hiện còn là bản in năm 1745 do sa di ni Diệu Liên vâng lệnh thầy mình in lại và bản gỗ lưu lại chùa Liên Hoa ở kinh đô Thăng Long. Nó được in kèm chung sau tác phẩm Thiền tông bản hạnh của Chân Nguyên ở những tờ 47 -57. Trong bản in này có kèm theo Vịnh Hoa Yên tự phú của Huyền Quang và Ngộ đạo nhân duyên kệ của chính Chân Nguyên. Việc in kèm theo như thế này chứng tỏ văn bản mà ni cô Diệu Liên dùng để in, chắc chắn phải đến từ một truyền bản của thiền sư Chân Nguyên, nghĩa là từ một truyền bản của nửa cuối thế kỷ thứ 17. Trước thế kỷ đó, số phận của Cư trần lạc đạo thế nào ta hiện nay chưa có một thông tin nào cả.

Nếu trước thế kỷ thứ 17 ta hiện chưa có thông tin gì về truyền bản của Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca thì sau thế kỷ thứ 18, tức sau lần in của ni cô Diệu Liên, vấn đề truyền bản của hai tác phẩm này tương đối rõ ràng. Trong lời dẫn cho lần in năm 1930 của Thiền tông bản hạnh, Thiền sư Thanh Hanh (1840 -1936) cho biết vào năm Gia Long thứ 12 (1814) bản Thiền tông bản hạnh đã được in lại, và cùng với nó chắc chắn phải có Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca. Hơn nữa khi thiết lập bản mục lục các kinh sách Phật giáo lưu hành vào nửa đầu thế kỷ thứ 19 trong Đạo giáo nguyên lưu quyển thượng tờ 5a6, An Thiền có ghi tên một tác phẩm gọi là Trần triều thập hội lục. Rõ ràng Thập hội lục của triều Trần chính là 10 hội của Cư trần lạc đạo phú.

Trong vòng hơn 300 năm trở lại đây, Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca đã được in nhiều lần.

Điều này chứng tỏ tư tưởng Cư trần lạc đạo vẫn tiếp tục được học tập và truyền bá dù Phật giáo cũng như đất nước đang chuyển mình qua một giai đoạn mới. Giá trị lý luận của tư tưởng Cư trần lạc đạo từ đó vẫn còn có sức hấp dẫn mạnh mẽ, đặc biệt là vào cuối thế kỷ thứ 18 với những chiến công Ngọc Hồi, Đống Đa oanh liệt của quân và dân Tây Sơn, trong đó nổi bật những gương mặt phật tử tự nhận mình là người kế thừa truyền thống Trúc Lâm như binh bộ thượng thư Tỉnh Phái Hầu Ngô Thời Nhiệm là Thiền sư Hải Lượng, Hương Lĩnh Bá tiến sĩ Nguyễn Đăng Sở là Thiền sư Hải Âu v.v.

Hơn 300 năm qua, Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca đã được trân trọng, giữ gìn và học tập như thế, thì chắc chắn hơn 300 năm trước nó cũng có chung một diễm phúc. Bởi vì nếu không có diễm phúc ấy, thì qua ngọn lửa đốt sách bạo tàn của giặc Minh xâm lược trong gần 20 năm chiếm đóng, chúng chắc chắn đã chịu chung một số phận với các tác phẩm của dân tộc ta thời Lý Trần về trước. Hơn nữa, thời Lê sơ và thời Mạc là thời kỳ Phật giáo phục hưng mạnh mẽ trong phong trào dân tộc hóa với việc dịch kinh sách ra tiếng Việt như Đại báo phụ mẫu ân trọng kinh của Thiền sư Viên Thái, việc in lại các tác phẩm sử học Phật giáo như Nam tông tự pháp đồ của trạng nguyên Lương Thế Vinh, Thánh đăng ngữ lục của Thiền sư Chân Nguyên, và đặc biệt việc thiết định và cổ xúy dùng tiếng Việt của Thiền sư Pháp Tính trong Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa.

Trong một thời kỳ Phật giáo hoạt động sôi nổi và mạnh mẽ như vậy, việc học tập và nghiên cứu hai tác phẩm vừa nêu của vua Trần Nhân Tông chắc chắn đã xảy ra. Điều đáng tiếc là, cho đến lúc này ta vẫn chưa tìm ra một thông tin nào xác nhận về sự hiện diện của hai tác phẩm ấy trong giai đoạn đó. Dẫu thế, chúng chắc chắn đã được lưu truyền để đến cuối thế kỷ thứ 17 Chân Nguyên mới có dịp trích dẫn trong Kiến tính thành Phật của mình. Nói khác đi chúng đã nằm trong dòng chủ lưu của nền văn học và tư tưởng tiếng Việt. Cho nên, như đã nói, thật là một vinh dự cho nền văn học tiếng Việt của nước ta đã bắt đầu với ngòi bút của một anh hùng dân tộc có những chiến công oanh liệt như Trần Nhân Tông và với những tác phẩm đã có một tác động sâu rộng trên truyền thống dân tộc, chứ không phải chỉ của Phật giáo, như Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca.

Hai tác phẩm này thuộc loại văn học luận đề. Chúng là những bản văn chính luận tập trung trình bày một số vấn đề tư tưởng và lý luận. Chúng đã dùng tiếng Việt như một ngôn ngữ để phát biểu những tư tưởng trừu tượng tương đối khó nắm bắt một cách khéo léo và dễ hiểu. Từ đó tiếng Việt đã trở thành một ngôn ngữ đủ khả năng chuyển tải bất cứ nội dung tư tưởng khác nhau nào và có một vẻ đẹp của riêng nó. Nhờ thế, các tác phẩm ấy không những đã lôi cuốn được sự chú ý của người đương thời, mà còn có sức hấp dẫn đối với hậu thế. Tiếng Việt tự bản thân nó đã trở thành một ngôn ngữ văn học. Đây chính là một trong những cống hiến lớn, mà hai tác phẩm này đã mang lại cho văn học Việt Nam.

Để có được hai tác phẩm ấy vào cuối thế kỷ thứ 13, tiếng Việt từ bao đời, hơn cả ngàn năm trước, từng là một ngôn ngữ văn học. Chúng đã kế thừa những thành tựu và tinh hoa của nền văn học trong hơn ngàn năm đó, nên đến ngày nay mỗi khi đọc lại, chúng ta vẫn cảm thấy chúng gần gũi, đẹp đẽ và dễ hiểu, khác hẳn với những câu văn ngọng nghịu khó chịu do người ngoại quốc ghi lại mới chỉ cách ta hơn 300 năm. Thực tế để có được giọng văn lý luận như đã xuất hiện trong Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca, tiếng Việt đã trải qua hàng ngàn năm thử thách và sử dụng, chứ không phải đến thời vua Trần Nhân Tông nó mới bắt đầu được đưa vào sự nghiệp sáng tác của thơ văn.

Quả vậy, nếu tiếng Việt không tồn tại trong hơn một ngàn năm đó, đối lập lại với tiếng Hán và trở thành một trong những bức trường thành chặn đứng mưu đồ Hán hóa do các nhà nườc Trung Quốc trong cùng thời gian đã ra sức quyết tâm thực hiện, thì dân tộc ta ngày nay cũng không còn, chứ nói chi đến một nền độc lập nhà nước và một tiếng nói riêng biệt. Do thế, Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca là một kết tụ của những nỗ lực phi thường và đầy gian khổ trong quá trình đấu tranh bi tráng để bảo vệ dân tộc và giữ vững chủ quyền quốc gia. Giá trị văn học của hai tác phẩm này từ đó càng nhân lên gấp bội.

Do tính kết tụ vừa nói, không một ngôn ngữ nào trên thế giới bỗng chốc có thể nhảy lên vũ đài văn học, để trở thành một ngôn ngữ văn học. Ngay cả những ngôn ngữ lớn có văn bản lâu đời trên thế giới như tiếng Hán, tiếng Phạn, Hy Lạp v.v. cũng đều trải qua một quá trình kiểu ấy, để từ những văn bản bói quẻ thô sơ hoặc những bài ca vịnh đơn giản, mà tiến lên thành những ngôn ngữ văn học nổi tiếng trên thế giới. Tiếng Việt ta cũng thế. Để có những tác phẩm lý luận có vẻ đẹp văn học như Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca, nó cũng đã trải qua một quá trình kết tụ lâu dài từ bài Việt ca đầu tiên được biết cho đến các mẩu chuyện trong Lục độ tập kinh và Tạp thí dụ kinh, cho đến bài Giáo trò của Thiền sư Đạo Hạnh. Cả quá trình sử dụng thành thạo và nhuần nhuyễn tiếng nói dân tộc đã tạo cơ hội cho sự ra đời của hai tác phẩm vừa nêu.

Sự xuất hiện của tiếng Việt như một ngôn ngữ văn học, do thế, là một quá trình đấu tranh gian khổ đầy thử thách và nguy cơ. Qua quá trình đấu tranh đó, tiếng Việt đã chứng tỏ tính ưu việt của mình, làm tiền đề cho sự xuất hiện của Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca. Không qua một quá trình như thế thì không bao giờ có được những tác phẩm kể trên. Đây là điểm mà những người nghiên cứu văn học Việt Nam từ trước đến nay chưa bao giờ chú ý tới.

Người ta cứ loay hoay đi tìm nguồn gốc chữ Nôm trong mấy bản văn bia còn lại của thời Lý Trần, rồi cứ đẩy lên đẩy xuống thời điểm ra đời của thứ chữ này trong khoảng từ thế kỷ thứ 8 cho đến thế kỷ thứ 13. Họ quên rằng để vào cuối thế kỷ thứ 13 có các tác phẩm như Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca thì tiếng Việt và chữ Việt phải xuất hiện rất sớm, ít lắm cũng năm bảy trăm năm trở lên. Đây là một quá trình bắt buộc có tính khách quan đối với bất cứ ngôn ngữ nào, chứ không phải chỉ riêng tiếng Việt ta. Vì vậy, nghiên cứu hai tác phẩm này chính là nghiên cứu quá trình kết tụ của nó.

Ngày nay, ta không biết đích xác vua Trần Nhân Tông đã viết hai tác phẩm ấy vào thời điểm nào. Nhưng chắc chắn là Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca, qua nội dung của chính nó, phải được vua Trần Nhân Tông viết vào thời gian sau khi đã sống ở núi Yên Tử, tức sau tháng 8 năm Kỷ Hợi (1299), năm mà ĐVSKTT đã ghi “Thượng hoàng từ phủ Thiên Trường lại xuất gia vào núi Yên Tử tu khổ hạnh”, vì bài ca này đã nói tới việc:

Yên bề phận khó
Kiếm chốn dưỡng thân
Khuất tĩnh non cao
Náu mình sơn dã
Vượn mừng hủ hỷ
Làm bạn cùng ta
Vắng vẻ ngàn kia
Thân làm hỷ xả…
Đem mình náu tới
Cảnh vắng ngàn kia
Dốc chí tu hành
Giấy sồi bô bả.

Viết như thế này, rất gần với những gì mà Huyền Quang tả về chùa Vân Yên và cuộc sống của vua Trần Nhân Tông ở đây:

Cảnh tốt hòa lành
Đồ tựa vẽ tranh
Chỉn ấy trời thiêng mẽ khéo
Hèn chi vua Bụt tu hành…
Chim óc bạn cắn hoa nâng cúng
Vượn bồng con kề cửa nghe kinh
Nương am vắng Bụt hiện từ bi,
gió hiu hiu mây nhè nhẹ
Kề song thưa thầy ngồi thiền định,
trăng vằng vặc núi xanh xanh…
Mặc cà sa, nằm trướng giấy,
màng chi châu đầy lẫm, ngọc đầy rương.
Quên ngọc thực, bỏ hương giao
cắp nạnh cà một vò, tương một hũ…
Thầy tu trước đã nên Phật quả
Tiểu tu sau còn vị tỳ kheo.

Còn Cư trần lạc đạo phú, thì thật khó mà xác định vua Trần Nhân Tông đã viết ra vào lúc nào trong cuộc đời mình.

Có người bảo là nó được viết ra trước lúc vua đi xuất gia, tức trước năm 1299. Chắc hẳn khi nói thế họ đã dựa vào hai câu mở đầu của bài phú này:

Mình ngồi thành thị
Nết dụng sơn lâm

Để khẳng định vua Trần Nhân Tông đang còn sống ở thành Thăng Long, mà lòng vua đã hoàn toàn an nhàn tự tại như sống ở rừng núi. Nhưng cũng chính trong bài phú đó ở Hội thứ 5 ta đã gặp:

Thiền ngỏ năm câu, nằm nhãng trong quê Hà Hữu
Kinh xem ba biến, ngồi ngơi mái quốc Tân La
Trong đạo nghĩa, khoáng cơ quan,
đà lọt lẫn trường kinh cửa tổ
Lánh thị phi, ghê thanh sắc,
ngại chơi bời dặm liễu đường hoa
Áo miễn chăn đầm ấm qua mùa,
hoặc chằm hoặc xể
Cơm cùng cháo, đói no đòi bữa, dầu bạc dầu thoa

Viết như thế rõ ràng đây không phải là cuộc sống cung đình thị thành, mà là cuộc sống dân dã rừng núi. Cho nên, thật khó mà dựa vào nội dung của bài phú này để xác định thời điểm ra đời của nó. Điều chắc chắn là nó được viết vào lúc vua Trần Nhân Tông đã có ít nhiều quan tâm đến núi Yên Tử. Ta biết trong Phật giáo đời Trần, Yên Tử có vị thế trung tâm. Thời ông nội mình là vua Thái Tông đã từng tới đó. Khi còn trẻ vua Nhân Tông cũng đã có ý định lên sống ở đó. Dẫu sao đi nữa, chủ trương “Cư trần lạc đạo, Trần tục mà nên” vẫn đóng vai trò mà từ năm 1287, khi Tuệ Trung Trần Quốc Tung đã ấn chứng cho vua, thì chủ trương đó càng trở nên rõ rệt. Nói cách khác, thời điểm ra đời của Cư trần lạc đạo phú phải từ sau năm 1287 trở đi và chắc chắn là sau năm 1288, khi quân thù đã bị quét sạch khỏi bờ cõi và cả nước đang ra sức lao động để kiến tạo cuộc sống ấm no cho gia đình và bản thân người dân.

Bộ từ vựng của Cư trần lạc đạo phú gồm cả thảy 1688 hạng từ, kể luôn các tên đầu đề, tên các hội và bài thơ chữ Hán kết thúc bài phú. Nếu chỉ kể riêng số từ vựng trong các hội thì nó chỉ gồm 1623 hạng từ, trong đó có những hạng từ Việt xuất hiện khá nhiều lần như lòng (18 lần), cho (13 lần), chẳng (13 lần), mới (12 lần, hay 11 lần), Bụt (10 lần).v. v..Và số 1623 hạng từ này nếu chúng ta thiết lập một bản từ gồm những tên người, tên đất, những từ chuyên môn và những từ phiên âm, chúng ta còn số hạng từ ít hơn nữa, tức khoảng hơn 1400 từ. Chẳng hạn các từ như Thích Ca, Di Đà, Di Lặc, bát nhã, chiêm bặc, chiên đàn, bồ đề, bồ tát, đàn việt, ưu đàm, Câu Chi, Diễn Nhã Đạt Đa. Đấy là những từ phiên âm của tiếng Phạn và chúng ta chỉ có 12 hạng từ thay vì 26 hạng từ khi tách rời chúng ra thành từng hạng từ một.

Các từ chuyên môn như bát phong, bát thức, cực lạc, đại thừa, tiểu thừa, hữu lậu, kim cương, vô lậu, lục căn, lục tặc, tam độc, tam thân, tam tạng, tam huyền, tam yếu, tam nghiệp, tịnh độ, thái bình, thượng sĩ, trí tuệ, tri âm, tri thức, tri kiến, tri cơ, trượng phu, trưởng lão, viên giác, vô thường, vô minh, vô sinh, vô tâm, vô vi cũng thế. Nếu đưa chúng vào những hạng mục từ, ta chỉ có 32 hạng từ thay vì có đến 64. Các tên đất, tên người như Yên Tử, Cánh Diều, Hà Hữu, Hùng Nhĩ, Tân La, Thiên Trúc, Thiếu Lâm, Tào Khê, Thiếu Thất, Lư Lăng, Phá Táo, Thạch Đầu, Lâm Tế, Bí Ma, Thuyền Tử, Đạo Ngô, Thiều Dương, Triệu Lão, Thiên Cang, Thái Bạch cũng vậy.

Với số lượng trên dưới 1400 từ này, ta có một bộ từ vựng tương đối phong phú để nghiên cứu ngôn ngữ của dân tộc ta vào thời vua Trần Nhân Tông. Và đó là chỉ mới kể số hạng từ có trong Cư trần lạc đạo phú. Nếu gộp luôn số hạng từ của Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca, mà số lượng lên đến 336, trong đó trừ những trùng lặp đã có đến 238 hạng từ.

Gộp chung lại với Cư trần lạc đạo phú, ta sẽ có một bộ từ vựng với gần 2000 từ, tức cỡ loại từ điển nhỏ, và cho ta một nhận thức tương đối hoàn chỉnh về ngôn ngữ dân tộc ta vào thời đại Trần Nhân Tông, tức thế kỷ thứ 13, cách chúng ta gần 700 năm.

Đến đây chúng ta cần phân tích sơ bộ hai tác phẩm viết bằng tiếng Việt của vua Trần Nhân Tông. Nhưng sự nghiệp văn học của nhà vua không chỉ giới hạn vào các tác phẩm tiếng Việt. Nhà vua còn là tác giả của 30 bài thơ và đoạn thơ, 22 lá thư viết cho vua quan nhà Nguyên cùng hai bài giảng ở chùa Sùng Nghiêm và viện Kỳ Lân. Trong hai bài giảng này cũng có một số bài thơ và đoạn thơ dùng để trả lời cho các câu hỏi mà người đối thoại đã đặt ra, và vẫn chưa được kê vào số lượng thơ và đoạn thơ của vua Trần Nhân Tông. Nói thế tức cũng muốn nói số lượng tác phẩm vua Trần Nhân Tông còn lại cho chúng ta ngày nay không phải là ít, dù rằng phần lớn chúng đều được viết bằng chữ Hán.

Với sự nghiệp thơ văn chữ Hán của vua Trần Nhân Tông, hầu hết những nhà nghiên cứu từ trước đến nay đều thống nhất coi vua Trần Nhân Tông là một “tên tuổi lẫy lừng” trong lãnh vực hoạt động sáng tạo này. Thực tế, đọc các bài thơ chữ Hán do vua Trần Nhân Tông sáng tác, người ta không thể không cảm nhận những vẻ đẹp khác nhau của đất nước, từ một buổi chiều làng quê yên tĩnh cạnh nơi ở của hoàng gia tại phủ Thiên Trường ở đồng bằng sông Hồng:

Xóm trước thôn sau tợ khói nhòa
Nửa không nửa có mé chiều sa
Mục đồng sáo vẳng trâu về hết
Cò trắng từng đôi ruộng xuống sà

(Thôn hậu thôn tiền đạm tợ yên
Bán vô bán hữu tịch dương biên
Mục đồng địch lý quy ngưu tận
Bạch lộ song song phi hạ điền)

Cho đến một ngôi chùa tại Lạng Châu thuộc miền trung du Bắc bộ:

Chùa cổ đìu hiu thu khói mờ
Thuyền câu chiều quạnh tiếng chuông đưa
Nước quang non lặng bay âu trắng
Gió đứng mây đùa cây đỏ thưa.

(Cổ tự thê lương thu ái ngoại
Ngư thuyền tiêu sắt mộ chung sơ
Thủy minh sơn tĩnh bạch âu quá
Phong định vân nhàn hồng thụ sơ)

Ngay trong cuộc sống thường nhật, một ánh trăng ban đêm cùng tiếng rơi tí tách của sương thu trên lá cây trước sân nhà và xa xa tiếng chày nện vải từ một ngôi làng dệt nào đưa tới đã gợi nên những xao xuyến trong tâm hồn, cảm thấy vẻ đẹp của một đất nước thanh bình:

Đầy sách giường song chếch bóng đèn
Sân thu sương bủa thoáng hơi đêm
Tiếng chày thức dậy đâu không biết
Hoa mộc trên cành trăng mới lên.

(Bán song đăng ảnh mãn sàng thư
Lộ trích thu đình dạ khí hư
Thụy khởi châm thanh vô mịch xứ
Mộc tê hoa thượng nguyệt lai sơ)

Nhưng cuộc đời vua Trần Nhân Tông không giống cuộc đời những ông vua sinh ra, lớn lên, rồi thụ hưởng một đất nước thái bình. Năm vua ra đời cũng chính là thời điểm vua Trần Thái Tông vừa đánh tan đạo quân xâm lược thứ nhất của đế chế Nguyên Mông lần đầu tiên tiến công nước ta, dưới sự chỉ huy của một tên tướng khét tiếng tàn bạo Ngột Lương Hợp Thai (Uryangqadai). Hơn 20 năm tiếp theo là một cuộc đấu tranh gian khổ về ngoại giao nhằm vừa bảo vệ chủ quyền đất nước, vừa mang lại nền hòa bình để cho người dân có cơ hội lao động sinh sống và đất nước chuẩn bị tiềm lực để chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu.

Kịp đến khi lên ngôi vào tháng 10 năm Mậu Dần (1278) thì vua Trần Nhân Tông đã phải trực tiếp đối phó với những tên sứ giả “uốn tấc lưỡi cú diều mà lăng nhục triều đình, đem tấm thân dê chó mà khinh rẻ tể phụ”, như Trần Hưng Đạo đã mô tả. Thế là cả nước phát động một phong trào chuẩn bị diệt giặc cứu nước. Tuy hào khí Nguyên Phong của cuộc chiến tranh năm Đinh Tỡ (1257) vẫn còn đó, mà nhà vua cảm thấy khi đến thăm lăng mộ của ông nội mình vào một ngày xuân trước cuộc chiến tranh 1285.

Hùm gấu nghiêm nghìn cửa
Áo mão bảy phẩm đầy
Lính bạc đầu còn đó
Nguyên Phong mãi kể say

(Tỉ hổ thiên môn túc
Y quan thất phẩm thông
Bạch đầu quân sĩ tại
Vãng vãng thuyết Nguyên Phong)

Và hơn ai hết, bản thân vua Trần Nhân Tông đã từng cầm quân xông pha trận mạc. Thực tế, ta đã thấy nhà vua đã từng trực tiếp chỉ huy những trận đánh lớn, sống gần gũi với tướng lĩnh và binh sĩ, nên dễ cảm thông, thương xót cho những người vợ phải sống lẻ loi, khi người chồng vì nhiệm vụ phải ra mặt trận ở một nơi xa xôi nào đó của tổ quốc.

Ngủ dậy vén rèm hoa thấy rơi
Hoàng ly không hót giận xuân rồi
Lầu tây vô cớ vầng dương lặn
Bóng ngả về đông hoa lẫn chồi.

(Thụy khởi câu liêm khán trụy hồng
Hoàng ly bất ngữ oán đông phong
Vô đoan lạc nhật tây lâu ngoại
Hoa ảnh chi đầu tận hướng đông)

Chiến tranh vệ quốc chống lại các thế lực xâm lược lớn mạnh hơn ta rất nhiều lần, còn gợi lên những nỗi buồn như thế, huống nữa những cuộc chiến tranh để bảo vệ an ninh biên giới do các thế lực nhỏ yếu hơn ta quấy phá. Trong một bài thơ viết nhân chiến dịch bình định Ai Lao vào mùa xuân năm Canh Dần (1290), mà vì nghĩa vụ bảo vệ cuộc sống an lành cho nhân dân và một biên cương ổn định cho tổ quốc, vua Trần Nhân Tông phải cầm quân đi đánh dẹp. Thế mà vua vẫn tỏ ra không thích thú gì:

Hoa sóng tung lên buồm gấm bay
Dưới mui đầu mệt chẳng buồn quay
Mây chiều Tam Giáp nhạn không đến
Trăng sáng Cửu Than rồng có đây
Lạnh lẽo đường đi cung mộng cũ
Ngổn ngang sầu vướng rượu ly đầy
Hán hoàng mang tiếng say chinh chiến
Vội vã nam nhi chi lắm vầy.

(Cẩm phàm khinh sấn lãng hoa khai,
Bồng để yêm yêm thủ bất đài.
Tam giáp mộ vân vô nhạn đáo,
Cửu than minh nguyệt hữu long lai.
Thê lương hành sắc thiêm cung mộng,
Liêu loan nhàn sấu đáo tửu bôi.
Hán Vũ phiêu chiêu cùng độc báng,
Nam nhi cấp cấp nhược vi tai.)

Một cuộc chiến tranh do vua chủ trương vì lợi ích chung như ĐVSKTT 5 tờ 58b5 -59a1 đã ghi: “Vua thân chinh Ai Lao. Triều thần nói: ‘Giặc Nguyên vừa rút lui, vết thương chưa khỏi sao có thể dấy binh’. Vua nói:

‘Chỉ có thể vào lúc này mới ra quân được, vì sau khi giặc rút lui thì ba vùng (Ai Lao, Chiêm Thành và Chân Lạp – LMT) tất cho quân ngựa và của cải ta bị tan mất, thế không thể tránh khỏi được, sẽ có sự khinh nhờn đối với ta, cho nên đem đại quân đi để thị uy’. Quần thần đều nói: ‘Vua há không biết dân mệt sao, mà chỉ vì có việc đáng lo lớn hơn thế nữa’. Đó là thánh nhân lo xa, chẳng phải bọn thần nghĩ kịp được”.

Việc đem quân đi thị uy đối với Ai Lao, chỉ vì quyền lợi của đất nước mà vua Trần Nhân Tông phải làm. Và thực tế chỉ chưa tới 4 năm sau khi đã truyền ngôi cho con là Anh Tông và trở thành Thượng hoàng, vua Trần Nhân Tông còn phải thân chinh Ai Lao một lần nữa, vào tháng 8 năm Giáp Ngọ (1294) với sự tham gia của các tướng Phạm Ngũ Lão, Trung Thành Vương. Mối đe dọa của Ai Lao đối với biên cương Đại Việt như thế không phải là không có.

Và việc đánh dẹp Ai Lao như thế là một yêu cầu của an ninh quốc gia. Thế mà, dù bài thơ vừa trích được làm vào chiến dịch Ai Lao năm 1290 hay 1294, nó vẫn toát lên một sự chán ghét đối với chiến tranh, đối với cái mà người thường gọi là “cùng binh độc vũ”, tức dùng chiến tranh để thỏa mãn những tham vọng cá nhân của người lãnh đạo.

Trong cuộc đời mình, vua Trần Nhân Tông đã từng sống qua hai cuộc chiến tranh tàn khốc, nên hơn ai hết đã hiểu thế nào là những nỗi khổ do chiến tranh đem lại cho phía ta cũng như phía địch. Việc sử dụng chiến tranh để chống lại chiến tranh chỉ là một biện pháp bất đắc dĩ, khi mọi biện pháp khác không thể dùng được nữa. Do vậy, tự thâm tâm vua Trần Nhân Tông không bao giờ tán thành chiến tranh. Và sự không tán thành này xuất phát từ một cái nhìn về tính chung đồng loại của những con người dù ở chiến tuyến nào đi nữa, họ cũng đều có xúc cảm, suy nghĩ, nguyện vọng giống nhau. Không ít người từ hơn 500 năm trở lại đây, đã ca ngợi tính nhân bản và cao thượng của hành động cởi ngự bào phủ lên thủ cấp của tên tướng giặc Toa Đô, vừa bị quân ta chém đầu trong trận Tây Kết thứ hai năm 1285, do chính bản thân vua Trần Nhân Tông trực tiếp chỉ huy.

Từ một sự chán ghét chiến tranh như vậy, vua Trần Nhân Tông tập trung mọi nỗ lực của mình để xây dựng một nền hòa bình lâu dài, không chỉ cho đất nước và dân tộc mình, mà còn cho các dân tộc và quốc gia láng giềng, đặc biệt là đất nước và nhân dân Trung Quốc. Ngay khi khói lửa của cuộc chiến tranh năm 1288 đang còn vướng vất trên các chiến trường Thăng Long, Bạch Đằng, lúc tiếp phái bộ Lưu Đình Trực và Lý Tư Diễn, do Hốt Tất Liệt gửi qua để đòi lại các tướng tá giặc như Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Sầm Đoạn do ta bắt được, vua Nhân Tông đã nói đến

Bụi chiến sông trời rửa sạch trơn.
(Thác khai địa giác giai hòa khí
Tịnh hiệp thiên hà tẩy chiến trần)

trong bài thơ tiễn đưa phái bộ này, thể hiện ý chí và nguyện vọng bảo vệ và xây dựng hòa bình của nhân dân Đại Việt và của chính bản thân nhà vua. Đây là một nội dung đặc biệt của thơ văn vua Trần Nhân Tông, bộc lộ một sự tha thiết đối với hòa bình. Thật cũng lạ, một con người đã từng chỉ đạo, trực tiếp tham gia chiến tranh và đã có những chiến thắng oanh liệt. Vậy mà qua thơ văn vẫn luôn luôn biểu hiện một ước ao nóng bỏng đối với hòa bình.

Điều này cũng có nghĩa vua Trần Nhân Tông không bao giờ coi chiến tranh như một nấc thang để bước lên đài danh vọng, để đi tới bến vinh quang. Suốt cuộc đời, ngay cả sau khi xuất gia, vua cũng luôn lao động miệt mài cho hòa bình, nhất là một nền hòa bình ở biên cương phía Nam của tổ quốc tiếp giáp với nước Chiêm Thành.

Trước đây, nhiều người thường cho giai đoạn vua Trần Nhân Tông xuất gia là giai đoạn nhà vua rút lui khỏi cuộc đời, khỏi xã hội, “càng tu hành càng xa với thực tế xã hội, càng xa với ý muốn cứu khổ cứu nạn của Phật tổ” . Thế mà chính trong giai đoạn xuất gia này của nhà vua, biên cương của Đại Việt đã nối dài trên 200 cây số, và nền hòa bình Việt Chiêm đã duy trì được gần mấy chục năm, làm tiền đề cho sự nghiệp Nam tiến của dân tộc ngày càng phát triển dồn dập như cơn thủy triều đang buổi dâng lên của nó. Cũng có người đọc hai câu thơ:

Phải trái lòng theo hoa sớm rơi
Lợi danh tâm lạnh tối mưa thôi

đã không biết đặt chúng vào trong bối cảnh lý luận của tư tưởng vua Trần Nhân Tông, rồi vội vã bình luận đấy là những “câu thơ cực kỳ chán đời”, thể hiện “tư tưởng hư vô chủ nghĩa triệt để, bắt nguồn từ trong triết học Phật giáo… trong chế độ điền trang, sự phú quý cực độ của nhiều nhà chùa và tất cả sự suy đồi của nó”. Bình luận thế là họ đã quên vua Trần Nhân Tông là một trong “những tên tuổi lẫy lừng nhất” của những nhà thơ nhà văn đời Trần.

Và những tên tuổi lẫy lừng nàỵ “đều bộc lộ một niềm tin, một tinh thần quyết thắng và một ý chí kiên cường qua một loạt vần thơ bất hủ”. Cho dù những bình luận trên được phát biểu vì mục đích gì, có phần nào gây nhiễu loạn thông tin hoặc sai lệch quá khứ đi chăng nữa, thì sự nghiệp vua Trần Nhân Tông, những đóng góp của cá nhân và triều đại nhà vua đối với dân tộc là không thể phủ nhận, là giai đoạn đáng ghi công, đáng tự hào của lịch sử dân tộc Việt Nam.

Ta đã thấy trong tư tưởng của vua Trần Nhân Tông có một cái nhìn về thời gian một chiều, một ngày đã qua là không bao giờ trở lại, như một bài thơ của Tuệ Trung Thượng Sĩ Trần Quốc Tung đã từng nói tới:

Trăng lặn trời tây khôn bóng lại
Nước trôi đổ biển sóng đâu quây

(Tây nguyệt trầm không nan phục ảnh
Đông lưu phó hải khởi hồi ba)

Cho nên đối với bản thân mình cũng như đối với mọi người, thời gian trở nên rất quý báu, cuộc đời con người quá ngắn ngủi cho một công việc phải làm:

Thời gian dễ trôi qua
Mạng người khôn dừng lại

(Thời quang dung dị quá
Nhân mạng bất định lưu)

Vì thế, sự sống trở nên quý giá. Một ngày đi qua không bao giờ chúng ta có lại. Chúng ta phải huy động toàn bộ thời gian cho những việc có ích cho mình cũng như cho người. Ta tưởng tượng dân tộc ta vào thời đó sống vội vã dồn dập.

Họ sống vội vã dồn dập không phải vì cuộc sống là một đày ải mà ta cố hưởng lạc để cho xong đời. Họ sống vội vã dồn dập vì cuộc sống quá quý báu, không thể để nó trôi qua một cách vô vị, phí hoài. Chưa bao giờ trong lịch sử dân tộc ta thấy ánh lên một sự thôi thúc cho cuộc sống, cảm thấy nếu mình để mất đi một phút giây là mất đi một phần của sự sống. Họ hối hả xây dựng, chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ cuộc sống và gia đình họ. Cả một đất nước tràn ngập, chứa chan sự lạc quan yêu đời. Chính vì quá lạc quan yêu đời mới cảm thấy thời gian dễ mất đi và cuộc sống của chúng ta không bao giờ trở lại, như vua Trần Nhân Tông thường nhắc nhở:

Đỗ quyên rền rĩ trăng ngày sáng
Đừng để tầm thường xuân luống qua

(Đỗ quyên đề đoạn nguyệt như trú
Bất thị tầm thường không quá xuân)

Lâu nay nhiều người thường cho rằng quan niệm thời gian của phương Đông là một quan niệm thời gian vòng tròn, thời gian luân hồi, cứ thịnh suy bĩ thái, rồi thịnh suy bĩ thái kế tục nhau, giống như xuân hạ thu đông, rồi xuân hạ thu đông. Nhưng họ đâu biết rằng bên cạnh quan niệm thời gian vòng tròn ấy, còn hiện diện quan niệm thời gian một chiều. Cứ mỗi ngày đi qua là một ngày vĩnh viễn mất đi không bao giờ trở lại, giống như mặt trăng lặn về phía Tây rồi không bao giờ có mặt trăng thứ hai của nó.

Tổ tiên ta từ xưa đã có một quan niệm thời gian rất gần với quan niệm thời gian của thời hiện đại chúng ta. Có người đã diễn tả quan niệm thời gian này bằng một hình ảnh rất sống động. Đó là thời gian giống như chiếc xe. Chiếc xe chỉ có một hướng đi tới, giống như thời gian một chiều. Nhưng để chiếc xe đi tới được thì phải có 4 chiếc bánh quay tròn bên dưới nó. Cũng vậy, thời gian một chiều đi tới, nhưng nó đi tới trên những thời gian vòng tròn, tức xuân hạ thu đông, tức thịnh suy bĩ thái.

Xuất phát từ quan niệm thời gian như vậy, mà trong chiến tranh đất nước Đại Việt đã làm nên một chiến công Chương Dương, Hàm Tử, Tây Kết, Bạch Đằng oanh liệt. Và trong thời bình họ đã xây dựng nên một cuộc sống chỉ mấy năm sau chiến tranh với những cánh đồng lúa trĩu hạt, những nương dâu xanh ngắt bốn mùa và những chiếc cầu thượng gia hạ kiều, đã làm cho tên sứ Nguyên Trần Phu phải nể phục. Quân và dân Đại Việt đã sống theo những gì mà vua Trần Nhân Tông đã đề ra trong Cư trần lạc đạo phú.

Dựng cầu đò, xây chiền tháp,
Ngoại trang nghiêm sự tướng hãy tu…
Ngay thờ chúa, thảo thờ cha,
Đi đỗ mới trượng phu trung hiếu

Dân tộc ta vào thời đại Trần Nhân Tông đã chiến đấu và xây dựng hăng say như thế, thực tế không phải vì danh vì lợi, vì thị vì phi, mà chính vì bản thân cuộc sống. Cuộc sống ngắn ngủi mà họ cho là đáng quý, đáng sống, cho nên người dân Đại Việt cố gắng sống xứng đáng với cuộc sống quý giá ngắn ngủi của mình. Chính vua Trần Nhân Tông cũng đã nói đến việc “chuộng công danh, lồng nhân ngãi, thực ấy phàm ngu” trong Cư trần lạc đạo phú. Cho nên ta không ngạc nhiên khi ở tại sơn phòng vua Trần Nhân Tông đã cảm xúc và viết ra bài thơ:

Phải trái lòng theo hoa sớm rơi
Lợi danh tâm lạnh mưa đêm thôi
Hoa tàn, mưa tạnh, non im ắng
Một tiếng chim kêu xuân hết rồi

(Thị phi niệm trục triêu hoa lạc
Danh lợi tâm tùy dạ vũ hàn
Hoa tận, vũ tình sơn tịch tịch
Nhất thanh đề điểu hựu xuân tàn)

Quên danh, quên lợi, quên thị phi, vua Trần Nhân Tông vẫn nhớ đến mùa xuân. Và chỉ một tiếng chim hót vào một buổi sáng nào đó, sau trận mưa đêm làm hoa rụng hết, đã làm vua giật mình, mùa xuân đã qua rồi. Thời gian trôi đi chóng vánh, mới ngày nào đó năm cũ mới hết, vậy mà mùa xuân bây giờ đã không còn thấy nữa. Cảm thức thời gian này là một trong những cảm thức đã chi phối mọi suy nghĩ và hành động của chính bản thân vua Trần Nhân Tông.

Trong Cư trần lạc đạo phú vua hằng mong “Nửa ngày rồi, tự tại thân tâm”. Thế mà công việc cứ dồn dập đổ tới tưởng như không bao giờ dứt. Ngay cả khi vua đến sống những nơi có vẻ như xa lánh hết mọi buộc ràng, công việc vẫn theo nhau kéo tới. ĐVSKTT 6 tờ 37a5-9 kể chuyện: “Nguyễn Quốc Phụ làm nội thư chính chưởng, là cận thần của vua Trần Nhân Tông. Trong khoảng Hưng Long (1293 -1314), chức hành khiển thiếu người, Thượng hoàng (tức vua Trần Anh Tông, LMT) chầu vua Nhân Tông ở chùa Sùng Nghiêm. Vua Nhân Tông bảo Quốc Phụ làm được, Thượng hoàng thưa: ‘Nếu lấy ngôi thứ mà nói thì được, nhưng chỉ thích uống rượu thôi’, vua Nhân Tông không nói gì. Bèn không dùng”. Và ta cũng thấy ở trên, trước lúc đi sứ ở Chiêm Thành vào tháng 10 năm Kỷ Mão (1303) Đoàn Nhữ Hài đến gặp vua Trần Nhân Tông cũng tại chùa Sùng Nghiêm này.

Một cuộc sống đầy ắp những công việc như thế, rõ ràng không vì lợi cho bản thân mình, và tất nhiên càng không thể vì danh. Có gì là lợi, khi bản thân mình thì “mặc cà sa nằm trướng giấy”, “cà một vò tương một hũ”, lợi đã không có thì làm gì có danh. Vì danh thường kết với lợi. Nhưng nói thế không phải để buông xuôi. Chỉ có vấn đề là không đặt chúng thành mục đích của cuộc sống. Cuộc sống của vua Trần Nhân Tông và nhân dân Đại Việt thời đại ấy có một mục đích khác, đó là “tự tại thân tâm”, là “an nhàn thể tính”. Nói theo ngôn ngữ hiện đại, đó là một sự theo đuổi hạnh phúc. Nhưng hạnh phúc là gì, thì mỗi người phải tự trả lời lấy. Vua Trần Nhân Tông đã xuất gia trên núi Yên Tử cũng như trong khi cầm quân chiến đấu với giặc thù ở Tây Kết, có thể vua đã cảm thấy mình tự tại an nhàn. Ai giới hạn mình mà mình không tự tại nếu không phải là chính mình. Ai ngăn trở mình mà mình không an nhàn nếu không phải là chính mình. Mình phải cải tạo chính mình và thế giới để tạo cho mình tự tại và an nhàn.

Đây chính là thông điệp mà thơ văn Trần Nhân Tông đã gửi đến cho chúng ta hôm nay và bao nhiêu thế hệ trước nữa:

Ai buộc mà đi giải thoát tìm
Không phàm sao phải kiếm thần tiên
Vượn đùa ngựa mỏi người già phải
Như cũ am mây một sập thiền

(Thùy trược cánh tương cầu giải thoát
Bất phàm hà tất mích thần tiên
Viên nhàn mã quyện nhân ưng lão
Y cựu vân trang nhất tháp thiền)

Cuộc đời vua Trần Nhân Tông và thông qua cuộc đời này, ta thấy nhân dân Đại Việt lúc ấy đã sống vui vẻ trong đất nước mình, hăng say lao động và chiến đấu để bảo vệ cuộc sống ấy. Họ không tìm một thế giới khác để thoát ly, một thế giới khác để mơ tưởng tới. Cuộc sống ở đời này quá ngắn ngủi đối với họ nên họ cố sống cho hết những giây phút vàng ngọc của cuộc đời ấy qua từng chi tiết nho nhỏ của nó. Có thể đó là những đĩa bánh cuốn mà vua Trần Nhân Tông đãi tên sứ giả giặc Trương Lập Đạo vào những ngày vừa mới quét sạch quân thù ra khỏi đất nước.

Xong múa giá chi, thử áo xuân
Hôm nay huống gặp tiết cỏ xanh
Đầy mâm bánh cuốn như hồng ngọc
Phong tục từ xưa của nước Nam

(Thác chi vũ bãi thí xuân sam
Huống trĩ kim triêu tam nguyệt tam
Hồng ngọc đôi bàn xuân thái bĩnh
Tùng lai phong tục cựu An Nam)

hay chỉ đơn giản đứng tựa lan can lặng lẽ ngắm nhìn núi xa vào một buổi chiều:

Chim hót nhởn nha hoa liễu dày
Bóng thềm nhà vẽ mây chiều bay
Chuyện đời khách đến thôi không hỏi
Cùng tựa lan can ngắm núi mây

(Dương liễu hoa thâm điểu ngữ trì
Họa đường thiền mẫn mộ vân phi
Khách lai bất vấn nhân gian sự
Cọng ỷ lan can khán thúy vi)

Thơ văn chữ Hán của vua Trần Nhân Tông đúng đã thể hiện được “một sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cảm quan triết học và cảm quan thế sự, có tinh thần lạc quan, yêu đời, tấm lòng vị tha của một nhân cách cỡ lớn và sự rung động tinh tế, lòng yêu tự do thích thảng của một nhà nghệ sĩ”, chứ không phải chỉ chứa đựng những ý tưởng “cực kỳ chán đời” như có người đã nhận xét. Vị thế văn học của vua Trần Nhân Tông từ đó là rất lớn. Với Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca, vua Trần Nhân Tông là người mở đầu một giai đoạn văn học mới của lịch sử văn học Việt Nam, đó là giai đoạn văn học, mà tiếng Việt là chủ ngữ. Không những thế, với những vần thơ chữ Hán và những tác phẩm văn xuôi sắc sảo, vua Trần Nhân Tông đã cống hiến cho ta những cảm thụ mới mẻ về những vấn đề muôn đời của con người như thời gian và sự sống.

Trên đây, chúng ta mới đề cập đến mảng văn tiếng Việt và thơ chữ Hán của vua Trần Nhân Tông. Vua còn có một mảng văn chữ Hán mà cho đến nay chưa được công bố và nghiên cứu chưa đầy đủ. Đó là 22 lá thư vua Trần Nhân Tông đã viết gửi cho vua quan nhà Nguyên, trong cuộc đấu tranh chính trị và ngoại giao với chúng để bảo vệ chủ quyền đất nước, và kéo dài thời gian để củng cố và phát triển lực lượng nhằm đối phó với cuộc chiến tranh do kẻ thù áp đặt. Trong số những lá thư này, có những lá còn giữ được nguyên vẹn, có những lá chỉ còn đoạn phiến. Điểm đặc biệt là chúng hầu hết được bảo tồn trong các tư liệu Trung Quốc, chủ yếu là Nguyên sử, Thiên Nam hành ký, Trần Cương Trung thi tập và An Nam chí lược. Phía các sử liệu nước ta hình như không bảo lưu một văn bản nào. Có chăng thì cũng chép lại văn bản từ các tác phẩm vừa nêu.

Đọc những lá thư này, điểm đầu tiên dễ nhận thấy nhất là quan điểm trước sau như một của vua Trần Nhân Tông:

Quan điểm không chịu đầu hàng giặc, không chấp nhận đánh mất chủ quyền quốc gia bằng cách thỏa mãn đòi hỏi của Hốt Tất Liệt, yêu cầu vua phải đích thân vào chầu tại Đại Đô ở Trung Quốc. Hốt Tất Liệt đã dùng nhiều mánh khóe lý luận khác nhau, từ lời dụ dỗ đường mật về quan tước mà y hứa ban cho, cho tới những lời đe dọa dùng vũ lực, và trên thực tế y đã hai lần dùng vũ lực để thực hiện ý đồ của mình, nhưng hoàn toàn thảm bại trước sức chiến đấu ngoan cường của quân và dân Đại Việt dưới sự lãnh đạo của vua Trần Nhân Tông. Không những thế, vua Trần Nhân Tông còn vạch trần bộ mặt giả nhân giả nghĩa của những lý lẽ mà Hốt Tất Liệt đưa ra.

Chẳng hạn, Hốt Tất Liệt khoe khoang rằng y đối đãi rất nồng hậu với những người chịu đến chầu, coi họ như con cái mà y có trách nhiệm thương yêu. Những sứ giả do y cử đến, đều nói lòng thương của y bao la như trời biển phủ khắp mọi nơi. Chúng thường dùng tới câu “Nhất thị đồng nhân”, tức đem lòng nhân từ ra mà thương yêu khắp hết mọi người như nhau cả. Trước những luận điệu ấy, vua Trần Nhân Tông vạch ra rằng, nếu Hốt Tất Liệt có lòng thương như thế, thì tại sao phải bắt vua vào chầu ? Bắt vua vào chầu, lỡ dọc đường chết phơi xương thì thế nào?
Điều đó chắc chắn làm tổn thương đến lòng nhân của hoàng đế thiên triều. Ta sẽ thấy trong các lá thư hai lý luận này thường được nêu ra để trả lời tại sao vua ta không chịu vào chầu Hốt Tất Liệt.

Vua Trần Nhân Tông hiểu rõ hơn bất cứ ai rằng, vào chầu tức đầu hàng giặc, tức đem chủ quyền quốc gia mà trao cho giặc. Cho nên về điểm này nhà vua dứt khoát không có sự nhượng bộ nào. Hốt Tất Liệt tưởng dùng vài ba lá thư có thể khuất phục được ý chí cương quyết bảo vệ chủ quyền quốc gia của vua Trần Nhân Tông. Nhưng y đồng thời cũng biết rằng, vài ba lá thư với lời lẽ dụ dỗ đường mật thế nào đi nữa, cũng không thể khuất phục được ý chí bảo vệ chủ quyền ấy. Cho nên, bên cạnh những lá thư đó, y đã vung sẵn lưỡi gươm qua hai lần liên tiếp xua quân tiến đánh nước ta với đám tướng lĩnh dày dạn kinh nghiệm chiến trường và hàng chục vạn quân binh thuyền bè.

Vậy mà y đã thất bại thảm hại.

Những lá thư viết cho các viên chức nhà Nguyên, mà chủ yếu là viết cho phái bộ Lương Tăng đến nước ta vào năm 1293, cũng thế. Đây là những lá thư vừa mềm mỏng, vừa đanh thép, lên án chính sách giả nhân giả nghĩa vừa nói, vạch trần những âm mưu đen tối nằm đằng sau những lời lẽ có vẻ quang minh chính đại. Một mặt khác, những lá thư này cho thấy thái độ khinh thường của triều đình ta đối với những kẻ đại diện cho thiên triều và thử thách khả năng chịu đựng của chúng.

Trong An Nam tức sự của Trần Cương Trung thi tập 2 tờ 34a3-4, Trần Phu đã kể lại việc sứ bộ của y ngay khi đến nước ta đã bị triều đình Đại Việt đưa đi theo những con đường mới phát quang nhằm gây nỗi kinh hoàng cho chúng: “Sứ thần đến nước ấy, lại không đi theo lối cũ, đều phải đục núi mở đường, trèo vượt quanh co, ý là muốn tỏ ra xa hiểm”. Chúng biết thế, mà đành phải ngậm miệng đi theo, không dám đưa ra bất cứ một đòi hỏi nào.

Rồi khi đến Thăng Long, chúng phải qua nhiều lần đấu tranh, chúng mới được đi vào cửa Dương Minh, tức là cửa chính Nam của kinh thành, thay vì phải đi vào cửa Vân Hội hay cửa Nhật Tân mà triều đình ta đề nghị, như Lương Tằng truyện của Nguyên sử 178 tờ 1b3-6 đã ghi: “Tháng Giêng năm Chí Nguyên 30 (1293) đến An Nam, Nước đó có 3 cửa. Giữa gọi là Dương Minh, trái gọi là Nhật Tân và phải gọi là Vân Hội. Bồi thần ra đón ngoài thành, sắp do cửa Nhật Tân để đi vào. Tăng rất giận, nói: ‘Đón chiếu không do cửa giữa, thế là ta làm nhục mệnh vua’. Liền trở về sứ quán. Thế rồi, mời mở cửa Vân Hội để đi vào. Tăng lại cho là không thể được. Rồi mới tự cửa Dương Minh đón chiếu vào. Tăng trách Nhật Tôn không tự mình ra đón chiếu”.

Đây có thể nói là những đòn nắn gân phái bộ thiên triều. Đòn nắn gân này trước đó vua Trần Nhân Tông đã cho Sài Thung nếm thử vào năm vua mới lên ngôi (1278), khi vua thiết yến hắn tại hành lang. Hắn tức giận trở về sứ quán. Đến khi vua ta báo sẽ thết tại điện Tập Hiền thì hắn mới đến, như An Nam truyện của Nguyên sử 209, tờ 4a11-12 đã ghi: “Nhật Huyên theo lệ cũ, thết yến ở dưới hành lang. Bọn Thung không chịu đến dự yến. Khi đã trở về sứ quán, Nhật Huyên sai Phạm Minh Tự đưa thư tạ lỗi, đổi thết yến đến điện Tập Hiền”.

Phái bộ Trương Lập Đạo đến nước ta vào năm 1291 cũng nếm thử những đòn này, dù sau đó vua Trần Nhân Tông đã tiếp đãi chúng rất vui vẻ, như chính bản thân Trương Lập Đạo đã ghi nhận trong Trương thượng thư hành lục do tên Việt gian Lê Thực chép lại trong An Nam chí lược 3 tờ 45-47.

Hai mươi hai lá thư vua Trần Nhân Tông viết cho vua quan nhà Nguyên, do thế, là một tập văn đáng cho chúng ta đọc để thấy cuộc đấu tranh ngoại giao và tư tưởng đầy cam go và thử thách giữa ta và kẻ thù. Chúng thể hiện ý chí sắt đá không chỉ của vua Trần Nhân Tông, mà của cả dân tộc ta trong việc bảo vệ chủ quyền quốc gia, cương quyết không nhượng bộ kẻ thù bất cứ dưới hình thức nào. Chúng vì vậy, có thể coi như mở đường cho sự ra đời của loại văn phục vụ trực tiếp sự nghiệp đấu tranh chính trị và quân sự, mà sau này Nguyễn Trãi nhân danh Lê Lợi đã thực hiện trong Quân trung từ mệnh tập.

Loại văn này có đặc trưng của nó. Lời văn phải vừa tao nhã mềm dẻo, lại vừa đanh thép sắc bén. Phải có đủ lý lẽ để khuất phục kẻ thù về mặt tư tưởng, đánh trúng và đánh mạnh vào những tín niệm mà chúng coi như chân lý bất di bất dịch và tưởng không bao giờ có thể bị bác bỏ. Hốt Tất Liệt đã vạch ra cho vua Trần Nhân Tông thấy rằng, ở đời làm gì có người không chết, và trên cõi đất này làm gì có nơi bất tử. Nhưng vua Trần Nhân Tông cũng vạch cho y thấy rằng vấn đề không phải là chết hay không chết, mà vấn đề nằm ở chỗ cái chết ấy có lợi hại gì cho ai không.

Cũng như Hốt Tất Liệt tự hào về lòng nhân từ của y mà bao nhiêu đám quần thần xung quanh ra sức hết lời ca tụng, thì vua Trần Nhân Tông vạch ra rằng nếu y có một lòng thương như thế thì làm sao phải bắt vua vào chầu? Hốt Tất Liệt trả lời vào chầu sẽ được ban thưởng tước vị trọng hậu. Vua Trần Nhân Tông đáp lại rằng, vua không những muốn được ban thưởng trọng hậu mà chính mắt mình muốn thấy được quang cảnh Trung Quốc, song chỉ sợ chết dọc đường thì sự ban thưởng có ích gì nữa. Chết dọc đường thì đối với bản thân vua Trần Nhân Tông đã không có lợi, mà ngay cả đối với Hốt Tất Liệt cũng chẳng có lợi gì, thậm chí còn làm tổn thương đến lòng nhân từ bao la của y.

Những lá thư này không chỉ lý luận để khuất phục kẻ thù, mà còn tố cáo tội ác của chúng đối với nhân dân Đại Việt.

Trong lá thư gửi cho vua Nguyên vào năm 1291 do Từ Minh Thiện chép lại trong Thiên Nam hành ký ở Thuyết phu 51 tờ 18b 6-7 vua Trần Nhân Tông đã kể những hành động tàn bạo cướp của giết người đốt nhà phá chùa của Ô Mã Nhi: “Đến mùa đông năm Chí Nguyên 24 (1287) lại thấy đại quân thủy bộ cùng tiến, thiêu đốt chùa chiền khắp nước, đào bới mồ mả tổ tiên, bắt giết người dân già trẻ, đập phá sản nghiệp trăm họ, các việc tàn ngược không gì là không làm (…). Tham chính Ô Mã Nhi lâu nắm quân thuyền, riêng ra ngoài biển, bắt hết biên dân vùng biển, lớn thì giết, nhỏ thì bắt đi, đến nỗi treo trói mổ xẻ, thân một nơi đầu một ngã”. Đây có thể nói là bản cáo trạng đầu tiên về tội ác chiến tranh do những tên xâm lược hiếu chiến gây ra, và nhất định chúng phải bị nhân dân ta trừng phạt đích đáng, mà lá thư năm 1291 gửi cho vua Nguyên đã chỉ ra.

Những lá thư vua Trần Nhân Tông viết cho vua quan nhà Nguyên, như thế có một vị trí văn học nhất định. Đặc biệt chúng đã đi đầu, tạo nên thể loại văn học mà sau này Quân trung từ mênh tập đã kế thừa và phát huy tới đỉnh cao hiệu lực của nó trong sự nghiệp đấu tranh với quân thù. Đây là loại văn học vừa đánh vừa đàm. Trọng lượng của lời nói trong những lá thư đàm phán được quyết định bằng những chiến thắng ngoài mặt trận. Nói cách khác, lời nói phải được yểm trợ và thể hiện bằng những hành động bạo lực. Cho nên, có những lúc, có những nơi dù lời nói có chính nghĩa, mà không có bạo lực thành công, đặc biệt trong quan hệ bang giao giữa hai nước, cũng không đạt được mục tiêu nó nhắm tới, là bảo vệ chính nghĩa, bảo vệ chủ quyền quốc gia.

Những lá thư trên do vậy, có một vị trí văn học hết sức to lớn. Vị trí này cho đến nay vẫn chưa được đánh giá đúng mức, thậm chí có nơi còn lệnh lạc, đặc biệt là trong các giáo trình văn học sử Việt Nam. Cho nên chúng tôi nhấn mạnh một lần nữa ở đây để điều chỉnh lại cách đánh giá, nhằm làm rõ hơn những cống hiến đặc sắc mà vua Trần Nhân Tông đã đóng góp cho lịch sử văn học dân tộc ta. Đây cũng chính là lý do để cho chúng tôi sưu tập và công bố toàn bộ các lá thư do vua Trần Nhân Tông gửi cho vua quan nhà Nguyên. Từ trước tới nay, những lá thư này chưa hề được sưu tập và công bố một cách trọn vẹn, tối thiểu là trong giới hạn những tư liệu mà ta hiện biết.

Lối văn chữ Hán của những là thư này ít nhiều chịu ảnh hưởng văn phong tiếng Việt, đặc biệt có một số cấu trúc mà ta đã tìm thấy trong Lục độ tập kinh. Chẳng hạn trong lá thư thứ 5, theo cách đánh số của chúng tôi dưới đây, có câu: “Bất năng thân kiến mạc quan, nhiên trung tâm hân hạnh”. Cấu trúc trung tâm hân hạnh này là một cấu trúc tương đối đặc biệt. Dạng trung tâm chỉ thấy xuất hiện trong Kinh Thi, rồi sau đó trong bản dịch Lục độ tập kinh của Khương Tăng Hội.

Thế mà đến thế kỷ thứ 13, ngoài lá thư thứ 5 của vua Trần Nhân Tông vừa dẫn, ta còn gặp trong lá thư của vua Trần Thánh Tông viết gửi cho Hốt Tất Liệt vào tháng giêng năm Chí Nguyên thứ 12 (1275) chép trong An Nam truyện của Nguyên sử tờ 3b2-10 với câu “trung tâm hỷ duyệt”. Đây rõ ràng biểu thị ảnh hưởng của Lục độ tập kinh. Trong thơ của Tuệ Trung Trần Quốc Tung, ảnh hưởng của kinh này rất rõ qua bài Vật bất năng dung.

Như vậy, thông qua những văn thư ngoại giao ấy ta còn biết thêm về những ảnh hưởng của kinh điển Phật giáo đối với loại văn chính luận không chỉ của vua Trần Nhân Tông, mà còn của những nhà thơ, nhà văn khác của triều Trần. Không chỉ có thế, những hình ảnh vua Trần Nhân Tông dùng trong văn thơ ngoại giao này bộc lộ ít nhiều quan điểm đánh giá của vua đối với Hốt Tất Liệt. Trong những lá thư, ta đọc thấy vua tự xưng mình là “bề tôi nhỏ bé” của Hốt Tất Liệt, nhưng hình ảnh mà vua dùng để có vẻ ca ngợi Hốt Tất Liệt thì hóa ra đó là một hình ảnh chê bai bóng gió.

Ta nhiều lần bắt gặp vua Trần Nhân Tông nói đến Hốt Tất Liệt như “núi biển bao hàm, dơ bẩn chứa hết”(Văn thư số 9), hoặc “với lượng càn khôn bao chứa đồ dơ” (Văn thư số 20). Rõ ràng qua những lần xâm lược nước ta, lòng dạ Hốt Tất Liệt dĩ nhiên toàn bao chứa “đồ dơ” cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.

Các văn thư ngoại giao của vua Trần Nhân Tông, do thế, đáng được đọc và nghiên cứu kỹ, để thấy sự sâu sắc và hoành tráng của một con người đã từng dựng nên một thời đại anh hùng của dân tộc. Đấy là con người vừa kiên cường bất khuất, vừa mềm dẻo thâm trầm, đầy lòng độ lượng vị tha nhưng cũng tràn trề ý chí quyết chiến quyết thắng, cương quyết đè bẹp mọi ý đồ xâm phạm chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ. Chúng tôi công bố toàn bộ các văn thư hiện thu thập được với mục đích như thế.
___________________

Thiền sư Lê Mạnh Thát

Trích từ "Trần Nhân Tông con người & Tác phẩm" – Lê Mạnh Thát

Nguồn: phatgiao.org.vn

VỀ ĐẤT KHỞI NGHIỆP NHÀ TRẦN

Nhiều năm lần theo dấu xưa của nàng Huyền Trân, Công Chúa nhà Trần mở đất Thuận Hóa, hễ có dịp là tôi lại trở về xứ Bắc; trở về để được viếng đền thờ các vua anh hùng nhà Trần ở làng Tức Mặc, nơi ấy nay thuộc phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định.

Người Việt dẫu xa quê mấy đời vẫn giữ thói thường tận trong sâu thẳm, mỗi khi trở về cố hương, kính cẩn viếng thăm nơi thờ tự tổ tiên thì viếng luôn mồ mả của các vị anh hùng, liệt nữ, chỗ người xưa nằm. Tôi cũng vậy. Và trộm nghĩ rằng: “Bổn mộc thủy nguyên”, cây có gốc, nước có nguồn, có cổ mới có kim, có tiền nhân mới có hậu thế, việc ấy rất đáng phải làm lắm.

 

Đầu xuân năm Canh Dần 2010, tôi lại ra Tức Mặc. Mới hay, tổ tiên mấy đời xa trước của họ Trần đứng chân ở làng Thái Đường, tức hương Tinh Cương, thuộc lộ Long Hưng – nay là Tam Đường, xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Một vòng lướt quanh làng đã thấy hiện lộ, đền miếu thờ tự, lăng vua mộ tướng ngày xưa vẫn còn.

 

Thì ra, sự tích lưu truyền bởi có căn nguyên, dấu tích hiển nhiên là chứng cứ, mà quốc sử cũng đã ghi rằng: Đất Tinh Cương nhà Trần khởi nghiệp.

 

Là dân quê xứ Huế, ở cuộc đất vốn chọn làm vật sính lễ dẫn cưới Công Chúa Huyền Trân của vua Chiêm, tôi đã về Tinh Cương nhiều lần. Mỗi lần về đây tôi thường lội ra cánh đồng thấp trũng trước làng Tam Đường, thắp hương viếng mộ ba vị vua anh hùng đầu triều Trần. Nhìn dãy mộ ba vị vua kiệt hiệt chống Nguyên Mông, trầm mặc xếp hàng như ba trái núi nhỏ nằm giữa cánh đồng, tôi thấy nao lòng. Ôi những anh hùng kiệt hiệt chống ngoại xâm đang yên nghỉ nơi đây! Phải chăng linh mạch khởi nghiệp từ đất Tinh Cương cũng chính là chốn cát địa dẫn lối quay về nơi yên giấc ngàn thu của các bậc đế vương nhà Trần? Phải mấy lần đứng trước án thờ vị vua mở nghiệp Trần Thái Tông ở Tam Đường, tôi mới được biết rằng: Họ Trần nước ta, viễn tổ xa xưa sống ở vùng Yên Sinh, thuộc tỉnh Quảng Ninh bây giờ. Mấy đời làm nhà trên sông nước, theo nghề chài lưới. Đến giữa cuối thế kỷ XI, đời vua Lý Nhân Tông, cụ Trần Kinh rời đất Yên Sinh, thả con thuyền trôi theo các dòng sông, về vùng Hải Thanh (sau đổi là Thiên Trường), nhập cư vào hương Tức Mặc, lấy vợ, sinh con đẻ cái.

 

Cụ Trần Kinh sinh được hai trai: Trần Hấp là anh, Trần Tự Duy là em. Nối nghề cha, anh em Trần Hấp vẫn lấy con thuyền làm nhà, theo đuôi con cá. Năm tháng côi qua, cụ Trần Kinh tuổi già mà mất, người ta rước cụ ra táng ở cồn đất thuộc hương Tức Mặc.

 

Trần Hấp lo xong tang lễ cho cha, chống thuyền ngược sông Hồng lên vùng Hải Ấp, quăng chài bủa lưới.

 

Vùng Hải Ấp - đất Thái Đường xưa mà người đời thường truyền tụng là chốn có nhiều mả sao. Bởi quanh vùng này nổi lên vô số gò đống, ở trên các gò ấy có những chòm cỏ xanh hình tròn, từ xa nhìn lại trông giống như hình những ngôi sao. Vì những gò đống ấy mà khi lập làng, người xưa đã lấy tên chữ là hương Tinh Cương (hương ở đây có nghĩa là làng; tinh là ngôi sao; cương là gò đất nổi). Trong quá trình bồi đắp, phù sa đã tạo nên cho Tinh Cương thế địa mà theo cách nhìn của nhà phong thủy: “Tiền có tam thai, hậu có thất tinh, nam có voi phục, bắc có phượng chầu”, là chốn linh khí phúc địa, sau này ắt sẽ phát giàu, phát tướng, phát vương.

 

Sông nước đẩy đưa con thuyền, anh em Trần Hấp đến đất Tinh Cương. Trần Tự Duy sống bên Lưu Gia, Trần Hấp sang Thái Đường, hai ấp chỉ cách nhau chừng nửa dặm, buông chài thả lưới.

 

Chuyện xưa kể rằng: Một buổi sớm mùa thu năm ấy, Trần Hấp chống thuyền qua bãi nổi, ông trông thấy một chiếc rọ tre mắc cạn, cùng lúc lại nghe tiếng người kêu cứu, ông vội cho thuyền đến ngay. Trong chiếc rọ ấy nhốt một người đàn ông khoảng ngũ tuần, bị trói co quắp, sắp chết vì lạnh. Bẩm tính nhân hậu, gặp cảnh thương tâm, Trần Hấp bàn với vợ tìm cách cứu người. Mặc dù kiếm ăn khó nhọc, nhưng Trần Hấp vẫn quyết dốc sạch cắc bạc cuối cùng tìm thầy cứu chữa. Sau mấy ngày thuốc thang cơm cháo, người gặp nạn phục hồi khí lực. Thấy gia cảnh Trần Hấp bần hàn, lênh đênh sông nước, nhưng lại giàu lòng từ bi, ông mới kể rằng: Ông là thầy địa lý (sử cũ chép là Khách nhân), từ phương Bắc sang Đại Việt tìm đất phong thủy. Đến vùng này thấy có một gò hỏa tinh nổi trên mặt nước, chung quanh có nhiều gò nhỏ quần tụ chầu vào gò lớn, ông nghĩ rằng: giữa vùng sông nước, gần với đất bằng mà có những gò đống nổi lên, hẳn không thể là nơi hung dữ. Quan sát kỹ, ông thấy linh khí từ gò hỏa tinh bốc lên ngùn ngụt.

 

Bấy giờ, ở thôn Tây Nha gần đấy có nhà giàu Nguyễn Cố, người từng thuê thầy địa tìm cát địa đặt mộ tổ. Nghe tiếng, Khách nhân tìm vào nhà Nguyễn Cố xin ở lại vài ngày. Biết ông là thầy thuật số, Nguyễn Cố muốn lấy lòng, mở tiệc thiết đãi tử tế. Nhân đấy Khách nhân bày cho Nguyễn Cố, hãy dời mộ tổ tiên đến táng ở gò Hỏa Tinh. Và quả quyết rằng, chỉ một thời gian ngắn nhất định gia tộc Nguyễn Cố sẽ phát (không làm vua thì cũng nhất phẩm triều đình); khi thành đạt, giàu sang Khách nhân mới tính chuyện tiền nong.

 

Nghe theo lời thầy địa lý, Nguyễn Cố bí mật dời mộ tổ tiên, âm thầm táng vào gò Hỏa Tinh. Xong việc, mở tiệc tiễn Khách nhân về nước…

 

Ba năm sau Khách nhân lại đến Long Hưng. Ông muốn xem gia tộc Nguyễn Cố có gì biến đổi, cốt là để kiểm chứng lời phán của mình có ứng nghiệm. Sự xuất hiện của thầy địa làm cho vợ chồng Nguyễn Cố lo sợ vỡ chuyện phong thủy ở gò Hỏa Tinh. Vợ chồng họ bàn nhau, tối ấy đãi thầy bữa rượu thịt no say, rồi tìm cách hại chết thầy.

 

Bữa cơm tri ân ấy thành ra bữa tiệc máu. Nguyễn Cố phục cho thầy địa say chí tử, rồi trói lại, nhốt vào cái rọ tre, đem thả trôi sông những mong dìm chết. Nhưng mệnh ông thầy này chưa dứt. Buổi ấy nước triều đang xuống cạn, rọ tre trôi dạt vào cồn cát. Gặp lúc Trần Hấp chống thuyền ngang qua nghe tiếng kêu nên đã ra tay cứu giúp.

 

Để trả ơn cứu mạng, thầy địa mới hiến cho Trần Hấp một kế, đưa mộ tổ tiên đến táng ở gò Hoa Tinh. Nếu quyết làm theo thì gia tộc Trần Hấp nhất định sẽ thành tựu, lưu danh muôn thuở. Đồng thời ông lại đến nhà Nguyễn Cố trong một buổi chiều u ám. Nguyễn Cố thấy ông xuất hiện, cứ tưởng hồn ma, sợ hãi sụp lạy xin tha mạng. Thầy địa nói với Nguyễn Cố, số tôi có trời phù hộ, không thể chết được. Mấy năm trước tôi khuyên ông táng mộ cha vào gò Hỏa Tinh, vội quá nên chưa bày hết thuật. Nay lại sang cốt chỉ bày tiếp để được ứng nghiệm. Nhưng ông đã phản phúc, phản thầy, giết người bịt miệng. Sự nghiệp tạo dựng chưa thành đã tiêu tan. Muốn bình yên thì ông phải sám hối, cầu nguyện thần linh long mạch hóa giải. Nếu ông thành tâm thì nghe ta nói đây: Mấy hôm nữa, hễ trời nổi giông tố, vào lúc mưa lặng gió dừng, ông ra mộ cha ở gò Hỏa Tinh mà thấy những đường nứt nẻ, máu chảy đỏ dòng thì phải dời ngay, để chậm họa chết cả nhà.

 

Thầy địa lại dặn Trần Hấp, khi mưa gió nổi lên, ông ra mộ cha Nguyễn Cố rạch mấy đường ngang dọc, rồi lấy máu chó đổ xuống. Nguyễn Cố ra xem, thấy vậy sẽ dời ngay. Sau quả đúng như thầy địa đã bày.

 

Theo thuật kế của thầy địa lý, Trần Hấp trở về hương Tức Mặc, lẳng lặng dời mộ cụ Trần Kinh đưa sang Long Hưng. Vào ngày Tân Dậu, tháng Đinh Tỵ, năm Quí Sửu, triều Lý Thần Tông, niên hiệu Thiên Chương Bảo Tự thứ nhất, 1133, Trần Hấp bí mật làm lễ táng di cốt cụ Trần Kinh vào gò Hỏa Tinh. Để tiện việc trông nom hương khói và đề phòng người nhà Nguyễn Cố nghi ngờ đào phá long mạch, Trần Hấp bèn dựng lều bên cạnh mộ cha vừa để ở, vừa canh chừng.

 

Âm trạch táng cụ Trần Kinh được thầy địa lựa chọn tọa thế:

 

“Phấn đại dương giao chiếu

Liên hoa đối diện sinh

Tha nhật nhân dĩ sắc

Đắc thiên hạ do tình”.

Nghĩa là:

(Phấn son chiếu dọi vừng dương

Hoa sen đối mặt nở bừng thắm tươi

Mai này nhờ sắc của người

Chiếm được thiên hạ không rời tình yêu).

 

Thế địa này ẩn ý rằng, sau này (họ Trần) ắt nhờ một người con gái có nhan sắc mà đoạt được thiên hạ.

 

Bỏ qua tất cả chuyện phong thủy đi tìm cát địa đặt mộ của họ Trần, chắt lọc tính uyên nguyên của sự tích, ta thấy được phần nào nguyên nhân bấy giờ mà cụ Trần Hấp dời nhà từ hương Tức Mặc đến định cư ở làng Thái Đường, thuộc lộ Long Hưng.

 

Năm tháng lưới chài thuộc mọi luồng lạch dòng sông, nhờ vận đến và biết sống tiện tặn thu xếp, gia cảnh Trần Hấp ngày một khá lên, trở nên giàu có, nổi tiếng trong vùng.

 

Cụ Trần Hấp đến ấp Thái Đường, sinh được hai người con: Trần Lý là anh, Trần Nghị là em. Cả hai đều là những chàng trai tuấn tú, chịu khó học hành. Bấy giờ gia đình cụ Trần Hấp tạo lập ruộng vườn vô số, kẻ ở người làm đông đến vài trăm. Nhờ phúc ấm, anh em Trần Lý bỏ hẳn nghề chài lưới, sống với điền trang, tuyển mộ người dưới, mở mang việc học cả văn lẫn võ. Gia tộc họ Trần ở Tinh Cương dần dần có địa vi, trở thành tầng lớp trên của xã hội bấy giờ.

 

Người con cả của cụ Trần Hấp là Trần Lý, đến tuổi trưởng thành Trần Lý lấy Tô Thị Hiền, con gái của Tô Tân, một hoa khôi nhất làng Lưu Gia, sinh được bốn người con: Trần Thừa, Trần Tự Khánh, Trần Thị Dung, Trần Thị Tam Nương.

 

Tô Thị Hiền có người em ruột là Tô Trung Từ, giữ chức Thái úy Phụ chính, tước Thuận Lưu bá, dưới triều Lý Huệ Tông.

 

Người em là Trần Nghị lấy vợ họ Phùng, cùng thôn Lưu Gia, sinh ba người con: Trần An Quốc, Trần An Hạ, Trần Thủ Độ.

 

Trần Thừa là huynh trưởng, phái đại tông, sớm phải gánh vác chức trách kế nghiệp nhà, kịp khi vừa lớn, ông lập chính thất với người họ Lê, con gái của Lê Điện, làm quan Thái phó triều Lý. Trần Thừa và Lê Thị sinh được ba trai: Trần Liễu, Trần Cảnh, Trần Nhật Hiệu, hai ái nữ là Thụy Bà và Thiên Thành…

 

Vào những năm đầu thế kỷ XIII, vận hạn triều Lý bắt đầu mục rỗng, vua tôi bất tín, dân chúng lầm than, nạn cướp bóc mọc lên như nấm. Trong triều gian thần lộng quyền, vua thì ham mê tửu sắc, chính sự tan nát. Dẫn đến tháng 7 năm Kỷ Tỵ, 1209, nổ ra loạn Quách Bốc đem quân đánh thốc vào kinh thành Thăng Long. Vua Cao Tông đang đêm phải rời cung chạy lên vùng núi Qui Hóa, Hoàng Thái hậu Đàm Thị và Thái tử Sảm dạt về miền biển Long Hưng tránh họa. Bấy giờ được sự hộ giá của tướng quân Đỗ Quảng, Thái tử Sảm đến thôn Lưu Gia, trú ở nhà Lê Mỵ. Một hôm, Thái tử bơi thuyền dạo chơi ngang ấp Thái Đường, nghe tiếng Trần Thị Dung con gái nhà giàu Trần Lý, sắc đẹp tài hoa hơn người, sai bầy tôi thân tín vời Thị Dung đến hành cung, mới thấy mặt người đẹp Thái tử Sảm liền thích ngay, bèn quyết lấy làm vợ. Nhân đấy trao cho nhạc phụ Trần Lý tước Minh Tự, cho cậu của vợ là Tô Trung Từ làm Điện tiền chỉ huy sứ. Sau buổi ấy, anh em họ Trần, họ Tô liền họp hương binh Tinh Cương dẹp loạn Quách Bốc, dựng cờ phò nhà Lý, rước Thái tử trở về Thăng Long, khôi phục chính thống.

 

Tháng 10 năm Canh Ngọ, 1210, vua Cao Tông bệnh hoạn không chữa khỏi mà băng. Thái tử Sảm lên ngôi trước linh cửu, tức Lý Huệ Tông, bấy giờ vua mới 16 tuổi. Trước tình thế vua mới nối ngôi, triều đình năm phe bảy phái, rối loạn khắp nước. Trần Lý quyết dốc toàn lực phò vua, dẫn binh dẹp loạn, nhưng chẳng may ông bị giặc giết, vua thương tiếc vô cùng. Sự nghiệp dở dang của tướng quân Trần Lý đành phó mặc cho người con trai thứ là Trần Tự Khánh gánh vác.

 

Lại nói về vua Lý Huệ Tông, từ ông hoàng sa cơ chạy loạn, may nhờ anh em họ Trần, họ Tô phò tá mà lên nối ngôi vua. Sau khi yên vị, được mấy tháng liền sai bầy tôi là Phạm Bố về Thái Đường đón người đẹp Trần Thị Dung vào cung, lập làm Nguyên phi; lại cho Tô Trung Từ làm Thái úy Phụ chính, anh của phi là Trần Tự Khánh làm Chương Tín hầu.

 

Trải mấy năm xông pha dưới đao tên, đánh đông dẹp bắc, trung hưng triều Lý, công đầu thuộc về anh em họ Trần, có sự giúp sức của anh em họ Tô. Tháng 12 năm Bính Tý, 1216, Lý Huệ Tông phong Trần Thị Dung làm Hoàng hậu, Chương Tín hầu Trần Tự Khánh làm Thái úy Phụ chính, anh cả của Hoàng hậu là Trần Thừa làm Nội thị Phán thủ.

 

Hoàng hậu Trần Thị Dung sinh được hai công chúa: Thuận Thiên và Chiêu Thánh. Thuận Thiên sau là Lý Thuận Thánh, lấy Trần Liễu; Chiêu Thánh sau là Lý Chiêu Hoàng, lấy Trần Cảnh. Cả hai nàng đều nổi tiếng xinh đẹp nhất kinh thành. Vậy là hai chị em công chúa con vua Lý Huệ Tông, lấy hai anh em ruột con của đại điền chủ Trần Thừa. Lúc ấy ở Thăng Long bắt đầu có chuyện anh em cô cậu ruột mà lại lấy nhau…

 

Nước nhà đương buổi loạn ly, nghiêng ngửa. Vua Lý Huệ Tông mới ngoài hai mươi, thể lực suy nhược, mắc bệnh trúng phong đã mấy năm, ngự y chữa thuốc không khỏi, lại chưa có thái tử nối ngôi. Rồi bệnh vua nặng dần, có lúc vua nói như thiên tướng nhập vào, tay cầm giáo và mộc, cắm cờ nhỏ vào tai, phát điên nhảy múa cả ngày, chính sự không thể màng đến được, mọi việc giao hết cho Thái úy Trần Tự Khánh quyết định. Thế là quyền lớn của nhà Lý chuyển dần về tay họ Trần.

 

Nhưng cũng như cha mình là Trần Lý, sự nghiệp cơ đồ còn dở dang thì tháng 12 năm Quí Mùi, 1223, Trần Tự Khánh chẳng may chết sớm, hưởng dương mới 40 tuổi, đưa thi hài về chôn ở Thiên Trường, sau được truy phong Kiến Quốc đại vương. Tự Khánh vừa mất, vua Lý Huệ Tông liền phong Trần Thừa làm Phụ quốc Thái úy, khi vào chầu miễn cần xưng tên.

 

Qua năm Giáp Thân, 1224, bệnh vua Huệ Tông càng nặng, không có con trai nối nghiệp lớn tiên tổ, đành ủy nhiệm cho Trần Thủ Độ, lúc này đang giữ chức quan trong nội, làm Chỉ huy sứ, lãnh các quân Điện tiền mà hộ vệ cấm binh. Quyền bính nhà Lý chuyển dần về tay Trần Thủ Độ từ cơ hội này.

 

Mùa đông tháng 10 năm ấy, cực chẳng đã vua phải xuống chiếu lập Công chúa Chiêu Thánh làm Hoàng Thái tử để truyền ngôi. Thế rồi Lý Huệ Tông xuất gia ra ở chùa Chân Giáo trong đại nội làm Thái Thượng hoàng. Chiêu Thánh lên ngôi, tôn hiệu là Chiêu Hoàng. Liền đấy, Chiêu Hoàng ban lệnh chọn con em của các quan viên trong ngoài sung vào các sắc dịch trong nội.
Theo chính sử thì buổi ấy, Trần Thủ Độ nắm quyền nội ngoại, là người quyết đoán, dám làm chuyện lớn; cháu gọi Thủ Độ bằng chú là Trần Cảnh, con thứ của Trần Thừa, mới vừa 8 tuổi, được chọn vào làm Chánh thủ, trực hầu bên ngoài cung vua. Một hôm đến phiên giữ việc bưng nước rửa, nhân thế mà vào hầu bên trong. Lý Chiêu Hoàng trông thấy yêu lắm, vẫy đến chuyện trò. Mỗi khi vua chơi đêm, hay cho gọi Trần Cảnh đến cùng chơi; thấy Cảnh chỗ tối thì chạy đến trêu chọc, hoặc nắm lấy tóc, hoặc đứng vào bóng. Có một hôm Trần Cảnh bưng chậu nước đứng hầu, Chiêu Hoàng rửa mặt, lấy tay té nước ướt cả mặt rồi trêu cười, đến khi Trần Cảnh bưng khăn trầu thì vua lấy khăn ném cho Cảnh. Cảnh không dám nói gì, về mách ngầm với Thủ Độ, Thủ Độ nói: “Nếu thực có thế thì họ ta làm vua chăng? Chết cả họ chăng?”. Lại một hôm, Chiêu Hoàng lấy khăn trầu ném cho Trần Cảnh, Cảnh sụp xuống lạy nói: “Bệ hạ có tha tội cho thần không? Thần xin vâng mệnh”. Chiêu Hoàng cười và nói: “Tha tội cho ngươi. Nay ngươi đã biết nói khôn rồi đó”. Cảnh lạy, lui về báo cho Thủ Độ biết. Thủ Độ sợ việc tiết lộ ra thì bị giết cả họ. Bấy giờ Thủ Độ mới tự đem gia thuộc thân thích vào trong cung cấm, sai đóng cửa thành và các cửa cung, cắt người coi giữ. Các quan chực chầu không được vào. Thủ Độ loan báo rằng: “Bệ hạ đã có chồng rồi”. Các quan đồng lòng đều nói là được, xin chọn ngày 21 tháng ấy, vào chầu lạy mừng. Sắp đặt xong mọi việc chưa từng có trước đó, Trần Thủ Độ mới tâu vua nên tuyên chỉ. Lý Chiêu Hoàng liền xuống chiếu rằng: “Từ xưa nước Việt ta, đã có đế vương trị thiên hạ. Nghĩ triều Lý ta vâng chịu mệnh trời, gồm có bốn biển, các Tiên thánh truyền nối hơn hai trăm năm, chỉ vì Thượng hoàng có bệnh, không người nối dõi, thế nước gian nguy, sai trẫm nhận minh chiếu, cố gượng lên ngôi, từ xưa đến giờ, chưa từng có việc ấy. Khốn nỗi, trẫm là nữ chúa, tài đức đều thiếu, không có người giúp đỡ, giặc cướp nổi lên như ong, giữ thế nào nổi ngôi báu nặng nề? Trẫm dậy sớm thức khuya, chỉ sợ không cáng đáng nổi, vẫn nghĩ tìm người hiền lương quân tử cùng giúp chính trị, đêm ngày khẩn khoản, đến thế là cùng cực rồi. Nay trẫm suy đi tính lại một mình, duy có Trần Cảnh là người văn chất vẹn tuyền, thực là thể cách hiền nhân quân tử, uy nghi chễm chệ, có tư chất thánh thần văn võ, dù đến Hán Cao Tổ, Đường Thái Tông cũng không hơn được, sớm tối nghĩ kỹ, xét nghiệm từ lâu, nên nhường ngôi báu, để thuận lòng trời... Mong rằng bách tính đồng lòng, các bầy tôi hết sức cùng giúp việc nước, để hưởng phúc thái bình. Vậy bố cáo thiên hạ, để mọi người biết”.

 

Ngày 11 tháng 12, năm 1225, Chiêu Hoàng thiết triều ở điện Thiên An, ngự trên bảo sàng, các quan vào chầu lạy ở dưới sân. Chiêu Hoàng trút bỏ ngự y, khuyên mời phu quân Trần Cảnh lên ngôi hoàng đế. Vua mới lên ngôi đổi niên hiệu làm Kiến Trung, đại xá thiên hạ, xưng là Thiên Hoàng. Phong cho Trần Thủ Độ làm Quốc Thượng phụ, coi sóc việc thiên hạ. Thủ Độ nói: “Hiện nay giặc cướp đều nổi, họa loạn mỗi ngày càng thêm. Nhà Lý suy yếu, thế nước nghiêng đổ nguy ngập, nữ chúa Chiêu Hoàng không gánh vác nổi, mới ủy thác cho Nhị lang (Trần Cảnh). Nhị lang lại là người chưa am hiểu việc nước, chính sự nhiều chỗ thiếu sót, vận nước mới mở, lòng dân chưa phục, mối họa không phải là nhỏ. Ta tuy là chú, không biết chữ nghĩa gì, còn phải bôn đông tẩu tây để chống với bọn giặc cướp, không gì bằng mời Thánh phụ tạm coi việc nước làm Thượng hoàng, một hai năm sau, thiên hạ nhất thống, giao trả lại quyền cho Nhị lang”.

 

Lời bàn ấy của Trần Thủ Độ, các quan đều cho là phải. Liền sai sửa soạn thuyền xe về phủ Tinh Cương đón Thánh phụ Trần Thừa vào nhiếp chính.

 

Như vậy, cho đến lúc Trần Cảnh lên ngôi Hoàng đế ở thành Thăng Long, Thánh phụ Trần Thừa vẫn bám trụ tại đất Tinh Cương.

 

Tục truyền rằng vua Lý Thái Tổ khi mới được thiên hạ, xá giá về Cổ Pháp, ngự chơi chùa làng Phù Đổng, có thần nhân đề thơ ở cột chùa rằng: “Nhất bát công đức thủy/ Tùy duyên hóa thế gian/ Quang quang trùng chiếu chúc/ Một ảnh nhật đăng san”. Nghĩa là: Một bát nước công đức của Phật, theo cơ duyên sinh thành thế gian. Vằng vặc hai lần đuốc so sáng; mặt trời gác núi là hết bóng. Sư Vạn Hạnh đương trụ trì chùa ấy liền đem bài thơ dâng lên vua, Lý Thái Tổ xem xong rồi nói: “Việc của thần nhân thị không thể hiểu được”. Người đời truyền tụng, không ai biết thơ ấy nói ẩn ý thế nào. Đến khi họ Lý mất mới cho bài thơ ấy là nghiệm. Vì từ Lý Huệ Tông trở lên đến Lý Thái Tổ là tám đời, mà Huệ Tông húy là Sảm (chữ sảm, chiết tự, nghĩa là mặt trời gác núi). Thế là sau 216 năm trị vì đất nước, nhà Lý mất ngôi, mở đầu sự nghiệp hưng vận oai hùng của nhà Trần.

 

Đến đây mới thấy rằng, âm trạch ở gò Hỏa Tinh táng mộ cụ Trần Kinh có thế “Phấn đại dương giao chiếu/ Liên hoa đối diện sinh…”, mới chỉ gần một thế kỷ mà họ Trần đã làm chủ cả thiên hạ. Xem ra lời sấm của Khách nhân năm xưa thực có ứng nghiệm.

 

Trần Cảnh nhận vương vị từ Lý Chiêu Hoàng, lên ngôi vua. Hơn mười năm sau, Hoàng hậu Chiêu Thánh vẫn chưa có con nối nghiệp; trong thế buộc phải làm, từ ngôi hoàng hậu, bà bị phế xuống làm thân phận công chúa, rồi ở vậy đến hơn hai mươi năm sau vua mới thưởng gả bà cho công thần Lê Phụ Trần, dòng dõi nhà Tiền Lê. Thực hiện theo khổ kế của Trần Thủ Độ, Trần Cảnh bị ép lấy Thuận Thánh, vợ của Trần Liễu lúc này đã có thai ba tháng, sắc phong làm Hoàng hậu. Mấy tháng sau, Thuận Thánh sinh ra Trần Quốc Khang (Quốc Khang lớn lên được nhận đất phong ở trại Diễn Châu, Nghệ An, làm chủ một vùng rộng lớn). Ba năm sau Hoàng hậu Thuận Thánh lại sinh ra Trần Hoảng, người kế thừa nghiệp lớn về sau, tức vua Trần Thánh Tông.

 

Tháng 2 năm Mậu Ngọ, 1258, Trần Hoảng lấy con gái thứ năm của Trần Liễu; sau Trần Hoảng lên ngôi, bà được phong làm Hoàng hậu, hiệu là Nguyên Thánh Thiên Cảm, sinh ra Trần Khâm, tức vua Nhân Tông.

 

Tháng 12 năm Giáp Tuất, 1274, Trần Khâm lấy trưởng nữ Quyên Thanh của Trần Quốc Tuấn, sau được phong lên ngôi Hoàng hậu, hiệu là Khâm Từ, sinh ra Trần Thuyên, tức vua Anh Tông… Kế tục nghiệp lớn, họ Trần làm vua nước Đại Việt được 12 đời (về sau kể thêm 2 vua Hậu Trần dấy binh khởi nghĩa chống nhà Minh đầu thế kỷ XV là 14 đời vua) tổng cộng 175 năm có lẻ.

 

Trở lại nơi táng mộ tổ của họ Trần ở gò Hỏa Tinh. Năm 1133, Trần Hấp dời mộ cụ Trần Kinh từ hương Tức Mặc, Nam Định sang Long Hưng, Thái Bình. Khi Trần Hấp mất cũng được chôn ở nơi ấy. Năm 1210, Trần Lý dẫn quân dẹp loạn, bị giặc giết đưa về táng ở gò Tinh Cương. Ngày 18 tháng Giêng năm Giáp Ngọ, 1234, Thượng hoàng Trần Thừa băng ở cung Phụ Thiên, thọ 51 tuổi, đưa về táng ở Thọ Lăng.

 

Thượng hoàng Thái Tông Trần Cảnh băng ngày 1 tháng 4 năm Đinh Sửu, 1277 ở cung Vạn Thọ, tháng 10 năm ấy rước về táng ở Chiêu Lăng.

 

Ngày 25 tháng 5 năm Canh Dần, 1290, Thượng hoàng Thánh Tông Trần Hoảng băng ở cung Nhân Thọ, đến ngày 15 tháng 12 đưa về táng ở Dụ Lăng.

 

Ngày 1 tháng 11 năm Mậu Thân, 1308, Trúc Lâm Điều Ngự Trần Nhân Tông băng ở am Ngọa Vân trên núi Yên Tử; hỏa táng xong, chia xá lỵ để nhiều nơi. Đến ngày 16 tháng 9 năm Canh Tuất, 1310, rước linh cửu về táng ở Đức Lăng. Lại đem Khâm Từ Bảo thánh Thái hoàng Thái hậu (mẹ của Huyền Trân Công Chúa, mất từ tháng 9 năm 1293, trước quàn tạm ở cung Long Hưng) hợp táng ở Đức Lăng. Đến khi Tuyên Từ Thái hậu mất (Tuyên Từ là dì ruột đồng thời là kế mẫu của Huyền Trân Công Chúa) ngày 19 tháng 8 năm Mậu Ngọ, 1318, vua Anh Tông theo di mệnh của Thượng hoàng Nhân Tông, phụ táng dì Tuyên Từ bên cạnh Đức Lăng.

 

Như vậy, Thọ Lăng của Trần Thừa, Chiêu Lăng của Trần Cảnh, Dụ Lăng của Trần Hoảng, Đức Lăng của Trần Khâm đều táng ở phủ Long Hưng, nơi âm trạch Hỏa Tinh khởi nên nghiệp nhà Trần.

 

Đến mấy đời sau, khi các đế vương nhà Trần mất đều đưa về táng ở xứ Yên Sinh, cố thổ xa xưa của họ Trần. Ví như ngày 16 tháng 3 năm Canh Thân, 1320, Thượng hoàng Anh Tông Trần Thuyên băng ở cung Trùng Quang, phủ Thiên Trường. Đến ngày 12 tháng 12 cùng năm, rước linh cửu về Yên Sinh, táng ở Thái Lăng. Rồi Mục Lăng của vua Minh Tông, Ngải Lăng của vua Hiến Tông, Phụ Lăng của vua Dụ Tông, Đồng Hi Lăng của vua Nghệ Tông và Thuận Tông (Thuận Tông tự thân làm tướng đi đánh Chiêm Thành bị chết ở trận, làm mộ giả táng ở Hi Lăng) đều nằm ở Yên Sinh…

 

Còn nhớ, mùa thu, năm Nhâm Tý, 1312, chiến thắng Chiêm Thành trở về. Vua Anh Tông đến trước lăng miếu ở phủ Long Hưng, làm lễ truy tôn công đức các vị Tổ của mình: Ý Vương Trần Kinh làm Mục Tổ Hoàng Đế; Cung Vương Trần Hấp làm Ninh Tổ Hoàng Đế; Chiêu Vương Trần Lý làm Nguyên Tổ Hoàng Đế. Còn Trần Thừa thì trước đó đã tôn làm Thái Tổ Hoàng Đế rồi…
Tôi về đất Tinh Cương – Thái Đường xưa, nay là Tam Đường. Gọi tên làng như thế vì Tam Đường có ba thôn: Phúc Đường, Thái Đường và Ngọc Đường thuộc xã tiến Đức, huyện Hưng Hà. Sừng sửng ngôi Đền Cả được Nhà nước tôn dựng lại trên nền cũ đã mấy năm, để thờ tiên tổ và các vị Hoàng đế nhà Trần. Phía cánh đồng trước ngôi Đền Cả là khu lăng mộ ba vua Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông như ba trái núi nhỏ xanh um cỏ cây. Phía sau ngôi đền một quãng là nơi yên nghỉ của bốn vị Hoàng thượng mà theo cách gọi của dân địa phương là nơi: Mục Tổ, Ninh Tổ, Nguyên Tổ và Thái Tổ yên giấc ngàn thu.

 

Cạnh Tam Đường là thôn Lưu Gia, khi từ hương Tức Mặc sang, Trần Tự Duy đã đến đây sinh sống. Và chính tại cái thôn nhỏ này, tháng 7 năm 1209, Thái tử Sảm dạt về ẩn náu khi chạy loạn Quách Bốc, rồi lấy con gái Trần Lý. Sự nghiệp họ Trần bắt đầu khởi lên từ cái ấp nhỏ này. Lưu Gia sau là đất phong của Linh Từ Quốc mẫu Trần Thị Dung, nên còn gọi theo tên nôm của bà là làng Ngừ. Thôn Lưu Gia nay là Lưu Xá, thuộc xã Liên Hiệp, hiện khu lăng mộ bà Trần Thị Dung và Thái sư Trần Thủ Độ vẫn còn, đã được trùng tu khang trang, bề thế…
Để hiểu thêm về cuộc đất Tinh Cương, tôi đọc lại cuốn Lịch sử nước ta của Nhà văn hóa Hồ Chí Minh, thấy Người đã tổng kết một cách khách quan và khúc chiết về triều đại này rằng: “Đời Trần văn giỏi võ nhiều/ Ngoài dân thịnh vượng trong triều hiền minh…”. Thì ra vương nghiệp nhà Trần năm xưa, với những con người kiệt hiệt giữ nước và mở nước, lưu danh ngàn đời trong chính sử và cả trong tâm thức thần dân Đại Việt đã được khởi lên từ những dòng sông bến nước quê nhà, từ những thôn ấp bé nhỏ thơm mùi cỏ cây rơm rạ của vùng đất phù sa Tinh Cương, Thái Bình ngày nay.

______________

Dương Phước Thu

Nguồn: trungtamhuyentran.thuathienhue.gov.vn

ĐƯỜNG HUYỀN TRÂN CÔNG CHÚA Ở HUẾ, XƯA VÀ NAY

Trước hết xin thưa, đây không phải là bài viết có tính khảo cứu lịch sử, cũng không phải là bài chuyên khảo thiên về dân tộc học hay văn hoá chuyên ngành, mà chỉ là những dòng cảm quan theo suy nghĩ, cảm xúc và cái nhìn của một người dân thường, có cái duyên được sinh ra và lớn lên trên một vùng đất may mắn có nhiều chứng tích văn hoá lịch sử còn tồn tại đến nay. Và con đường đi xuyên qua vùng địa dư này cũng được mang tên của một nhân vật lịch sử đã in đậm dấu son tình cảm biết ơn của biết bao thế hệ người dân Thuận Hoá – Phú Xuân – Cố đô Huế xưa và nay. Đó là con đường Huyền Trân Công chúa với vùng đất Dương Xuân Thượng - Hạ, Nguyệt Biều – Lương Quán của Phủ Dương Xuân ngày trước và là Phường Đúc, Thuỷ Xuân, Thuỷ Biều của Thành phố Huế ngày nay.

 


 

Điều tôi muốn nói là những dấu tích văn hoá – lịch sử còn tiềm tàng, như là những ẩn hiện của một vùng khoáng sản lộ thiên nằm dọc hai bên con đường Huyền Trân Công Chúa ngày trước (Bùi Thị Xuân ngày nay), từ cầu Ga Huế lên cầu Long Thọ, xã Thuỷ Biều cũng như dọc con đường Huyền Trân Công Chúa hiện nay, từ ngã ba Thành Lồi lên Lăng Tự Đức và đồi Vọng Cảnh. Cả hai tuyến đường cũ và mới này còn nhiều khả năng du lịch tiềm tàng mà chúng ta chưa có điều kiện làm hiển lộ và khai thác hết.


Trở lại vấn đề liên quan văn hoá và lịch sử, tôi xin được phép tản mạn nói lên một số điều không đầu không cuối và cũng không theo một trật tự thuần nhất nào.


Thưa Quý vị, con người làm nên lịch sử và ngược lại, lịch sử cũng cuốn trôi các bước sinh tồn, sinh hoạt của con người theo dòng chảy của mình, kể cả dòng truyền thống tâm linh của con người.


Mùa hè 2006, Festival Huế có chủ đề “700 năm Thuận Hoá – Phú Xuân (1306 – 2006). Nói đến 700 năm Thuận Hoá – Phú Xuân, mà tôi nhớ không nhầm thì trong các Lễ hội và Hội thảo năm ấy chưa đề cập đậm đà đến tấm gương hy sinh vô cùng dũng cảm của Công chúa Huyền Trân và sự thân lâm đàm phán của Phụ hoàng Trần Nhân Tông để lãnh thổ đất nước Đại Việt chúng ta mở rộng thêm vùng Thuận châu và Hoá châu, kết thành đất Thuận – Hoá một cách hoà bình…Vì thế, tôi cảm thấy buồn buồn và một buổi trưa núp mưa ở một quán nước vắng khách, tôi cảm tác bài thơ “Độc thoại về quê hương”:


Phần đầu bài thơ có những dòng sau:


Quán trưa

Mưa lưa thưa

Mùa hạ,

Giữa lòng cố đô

Qua đợt gió mùa còn rớt lại

Lạ thường!

Ngồi một mình


Độc thoại:


Cũng có dịp nhìn lại quê hương

Với bảy trăm năm Thuận Hoá – Phú Xuân.

Thương một Huyền Trân hết lòng dũng cảm

Đem phận mình hoá giải chiến chinh,

Lập lại thanh bình

Hòng mở rộng biên cương cho Tổ quốc

Tạo giao hảo thân tình cùng nước bạn…

(Phần sau của bài thơ nói tiếp đến ngày nay)


Và rất vui là đến mùa Xuân năm 2007 thì đã có Lễ khánh thành khu Trung tâm Văn hóa Huyền Trân, mới lấp đầy được nỗi hụt hẫng tình cảm “Uống nước nhớ nguồn” của biết bao tâm hồn khách thập phương xa gần, đối với tấm gương nhân hậu và dũng cảm của Công chúa vua Trần ngày ấy. Câu chuyện xây dựng đền thờ Huyền Trân và vua cha Trần Nhân Tông ở Huế, trong thập kỷ trước đã có nhiều bậc thức giả đề cập tới. Cũng vui là các ngành chức năng đã thực hiện được khá kịp thời!


Trở lại vấn đề, dòng chảy lịch sử đã cuống theo bao thế hệ sinh tồn và sinh hoạt của con người, bao biến đổi của xã hội và mọi sự hưng suy của bao dòng tộc, họ hàng cũng bị lịch sử cuống theo… Cái chung đã cuộn tròn biết bao cái riêng và cái riêng đã hoà quyện vào cái chung một cách nhuần nhị. Lý nhân duyên của nhà Phật thật vô cùng xác thực và kỳ diệu!


Nếu ngày trước Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng không xin vào trấn thủ đất biên cương Thuận Hoá và nếu năm 1598 ông không ra Bắc phò Lê diệt Mạc, để 3 năm sau (1600) trở về đất Thuận Hoá mà không tuyển và đem theo một đoàn dân binh đông đảo với đủ loại ngành nghề, thì ít nhất là Huế không có làng nghề đúc gốc Kinh Bắc (Bắc Ninh) còn tồn tại đến ngày nay. Và địa danh Phường Đúc cũng không có luôn. Nhưng cái duyên mắt xích để có làng nghề Phường Đúc nó chỉ bé tí, nằm gọn trong vô số những nhân duyên khác. Giá mà năm 1636 chúa Nguyễn Phúc Lan không cho dời dinh phủ Phúc Yên về Kim Long thì Phủ đệ Dương Xuân án ngự ở bờ nam sông Hương với bao nhiêu cơ quan quan yếu phục vụ Phủ Chúa cũng không có. Nhưng lịch sử đã như thế và ít nhất cũng đã hơn 370 năm qua lịch sử của vùng đất Thuận Hoá – Phú Xuân đã xoay quanh một trục chính với vô số trợ duyên khác.


Được sinh ra và lớn lên trên đất Cố đô Huế, vốn đất không rộng và không màu mỡ, lại không được thiên nhiên ưu đãi; nhưng lại giàu truyền thống văn hoá và đời sống tâm linh, trong một không gian vốn giàu di sản văn hoá lịch sử. Với 60 – 70 năm sinh hoạt trong cuộc sống, được nhìn và cứ đi – về hàng trăm, thậm chí cả hàng ngàn lần trên một vài con đường hầu như quen thuộc nằm lòng. Và với một tình yêu quê hương đậm đà, thì ai mà không quan tâm mọi hiện hữu và di sản văn hoá lịch sử tồn tại trên các tuyến đường thân quen mình đã đi qua trong suốt cuộc đời?


Ngay từ gần cuối thập kỷ 50 thế kỷ trước, con lộ nhỏ chỉ hơn 4m bề ngang và dài chỉ 3 – 4 cây số nối liền từ cầu Ga Huế lên cầu Long Thọ, được cào xới, rải lại dăm đá thô, xe lu đằn và tưới dầu hắc rồi rải sạn “cai-du” thì đã là một hiện tượng quá lớn đối với mọi người dân trong vùng! Rồi lại được đặt tên đường là Huyền Trân Công Chúa thì rất chi là hãnh diện. Từ đó yêu con đường hơn, yêu quê hương mình hơn. Và cũng bắt đầu tìm hiểu do duyên cớ gì mà được đặt tên đường như thế?


Sự thắc mắc nguyên do ấy đã sớm được giãi bày. Câu chuyện nàng Công chúa Huyền Trân con vua Trần nước Đại Việt biết thuận lời cha làm sứ giả hoà bình “hóa giải chiến chinh” mà kết duyên cùng Quốc Vương Chăm-pa họ Chế. Nghĩa cử đó là một sự hy sinh cao cả, đem lại cuộc sống thanh bình cho quân dân hai nước, lại còn mở rộng được biên cương cho Tổ quốc với hai châu Ô, Lý… Tên con đường Huyền Trân Công Chúa là một biểu tượng hoà bình, một tấm gương hy sinh vĩ đại, mặc cho bao lời đàm tiếu xúc phạm của cửa miệng người đời thuở ấy! Và cuộc chiến tranh dai dẳng giữa hai nước đã được minh chứng hùng hồn bằng một giai thoại truyền khẩu hết sức ly kỳ.


Chẳng biết câu chuyện xảy ra vào ngày tháng năm nào mà bản thân chúng tôi cũng chưa có dịp được đọc trong chính sử. Chỉ biết nghe và tin vào câu chuyện lý thú và ly kỳ được kể lại từ các bậc trưởng thượng: Để chấm dứt cuộc chiến thư hùng kéo dài trên vùng đất biên cương này, hai bên đã giao ước chỉ sau một đêm mà dọc hai bờ đối diện Bắc – Nam sông Hương ngày nay, từ Kim Long lên Linh Mụ, hễ bên nào huy động quân dân xây hoặc đắp được một thành luỹ cao, dài và kiên cố hơn, thì bên thua sẽ tự động rút quân lui. Thế là ở bờ bắc hì hụi xây thành thâu đêm. Còn bờ nam thì quan quân Chăm-pa ráo riết tập trung lực lượng khuân đá đào đất dốc sức đắp một bức trường thành kiên cố dài cả ngàn mét, từ mé chân đồi Thọ Cương (Long Thọ) chạy dài về phía Đông Nam, giáp sau đình làng Dương Xuân Thượng sau này. Và hy vọng là sẽ cao to, vĩ đại hơn thành luỹ phía bờ bắc con sông. Nhưng tờ mờ sáng hôm sau, leo lên đỉnh “Thành Lồi” cao mà chỉ qua một đêm đã đắp được để quan sát sang phía đối diện. Khi sương phủ trên sông còn mờ mịt, thì đã thấy ở bờ bắc con sông lộ ra một bức tường thành xây gạch đỏ chói cao, kiên cố và thật dài. Trên thành thì dày đặc quan quân tuần canh lui tới với cờ xí, gươm giáo, cung tên rợp trời, hết sức hùng hậu! Vậy là phía bờ nam thấy mình thua cuộc nên lặng lẽ rút quân lui xa.


Những tháng ngày thơ ấu trước năm 1954, bọn trẻ chúng tôi học tiểu học tại Trường đình làng Dương Xuân Thượng, ngày nghỉ có lần rủ nhau lên đồi Thành Lồi tổ chức đánh trận giả. Quân Việt Minh phục kích đánh Tây đi lùng, bắn nhau bằng súng hột sân hoặc cuống bời lời. Có lúc cả bằng “súng miệng”. Nhưng kết cục thì bao giờ giặc Pháp cũng thua to, lính Tây bị bắt làm tù binh hàng loạt. Có lúc rũ nhau cùng đi dọc trên đỉnh đồi Thành Lồi mà quan sát xung quanh thật là thú vị. Ngày ấy, khi Thành Lồi chưa bị bàn tay con người xâm phạm và lấn chiếm, thì cả dãy còn thật cao và dài. Đứng trên đỉnh đồi quan sát thật xa, rồi hướng về bờ bắc sông Hương mà tưởng tượng về một bức thành gót được ráp vào một bộ giàn giáo bằng tre cao và đồ sộ với bao quân sĩ đang tuần canh oai hùng mà thích thú. Còn ngay tại mé đồi không xa là một khoảng đất rộng, chỉ còn trơ lại nền đất cùng những khối đá tảng vuông và to… mà người lớn bảo là đền thờ các vua Chăm. Nghe vậy mà sợ, chẳng dám đụng đến một thứ gì ở đó, dù chỉ là một viên đá nhỏ.


Xuyên qua giữa dãy đồi Thành Lồi là một con đường dốc khá cao, đổ xuống con đường dọc là Huyền Trần Công Chúa cũ, tạo thành một ngã ba, mà xưa nay vẫn được gọi là “Ngã ba Thành Lồi”. Ngày nay đã có trụ sở của Công ty khai thác đá. Vậy là con đường nối với đường Huyền Trân Công Chúa ngày trước (nay được đổi thành đường Bùi Thị Xuân) có liên quan với di tích Chăm-pa chạy thẳng lên tận lăng Tự Đức và đồi Vọng Cảnh, ngày ấy chưa có tên và vẫn được gọi là đường Thành Lồi thì nay đã chính thức mang tên Huyền Trân Công Chúa.


Trở lại với đường Huyền Trần Công chúa cũ (tức Bùi Thị Xuân hiện nay) chạy từ cầu Ga lên cầu Long Thọ và nối dài tận cuối làng Nguyệt Biều. Một con đường mà nhiều người vẫn bảo còn tàng ẩn bao nhiêu di tích văn hoá lịch sử chưa được làm hiển lộ. Xin điểm xuyết đôi nét gợi mở về những di tích còn tảng ẩn ấy. Có lẽ cũng có rất nhiều người biết rõ nhưng chưa có dịp quan tâm nói tới. Và những điều hiểu biết này cũng chỉ ở dạng hời hợt “cưỡi ngựa xem hoa”, mong quí vị thức giả miễn chấp.


Trước hết, không xa chỉ khoảng 300m từ Cầu Ga lên hướng Long Thọ, ta có ngay bến đò Trường Súng, nay là khu vực Bến Cát, Phường Đúc. Có lẽ bến sông này là nơi tập kết các loại súng thần công được chế tác tại Chú Súng Trường (còn gọi là Trường Đồng, khu gò đất cao sát bờ sông Hương, gần đối diện với Nhà thờ Giáo xứ Phường Đúc), trước khi được vận chuyển vượt sông sang bờ bắc sông Hương. Đến vị trí cầu Lòn, phía trái đường cái không xa, chỉ khoảng 300m -500m, tiếp giáp với Bàu Vá là khu gò đất cao dần, được gọi là Lịch Đợi. Danh từ Lịch Đợi, có thể là đọc trại của Lịch Đại (qua các thời đại), là một từ khiến ta suy nghĩ về gốc nguyên ngữ, có liên quan gì với vùng đất thế nào, mới được chọn làm địa danh ở đó. Và trên vùng gò dân cư sầm uất này có di tích đền thờ các Vua Hùng và đền thờ các vua đầu của Vương triều Trần, được xây dựng vào năm thứ 4 triều Minh Mạng (1823) mà nay đã bị lấn chiếm nhiều. Có lẽ ngành văn hoá và bảo tồn nên quan tâm.


Dọc hai bên con đường, từ cầu Lòn lên giáp Cống Trắng có địa danh là ấp Xuân Giang, một cái tên thật thơ mộng đầy nét thanh bình: Con sông mùa Xuân. Với chiều dài khoản một cây số mà cũng ẩn chứa một số di tích văn hoá lịch sử đáng để tâm tìm hiểu và chiêm bái. Dọc theo phía trái đường nhựa là cánh đồng Bàu Vá mà nay đang được lấp dần làm khu dân cư và thị tứ tương lai. Tít tận cùng phía đông nam cánh đồng này tiếp giáp với rìa gò đồi của thôn Hạ 2 xã Thuỷ Xuân, có Đình làng Dương Xuân Hạ không kém phần uy nghi cổ kính. Ngôi đình làng có nhiều duyên nợ với Cách mạng Tháng tám 1945 và với hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Gần đây có các bài báo viết về ngôi đình này và đề nghị được xếp loại di tích cách mạng…


Cũng tiếp liền với đồng Bàu Vá này, nằm cạnh đường Bùi Thị Xuân, chúng ta có khu di tích Lăng mộ của nhà thơ yêu nước Hoàng Tộc Tuy Lý Vương mà qua giai đoạn chiến tranh đã bị lấn chiếm nhiều! Nay được giải toả dần để bảo vệ, nhưng cũng chưa được tôn tạo gì. Và cách đó không xa, cũng bên phía trái đường nhựa, trong khuôn viên Trường Tiểu học Phường Đúc là Đài Sơn Xuyên – nơi thờ sông núi. Chưa nắm rõ được xây dựng từ bao giờ. Nhưng trong thập kỷ 50-60 của thế kỷ trước thấy vẫn được bảo quản nghiêm túc. Có đài trên, đài dưới hình vuông xung quanh có lan can và bờ tường bao quanh. Bao quanh bốn phía nền dưới là khoản đất rộng, được trồng dương liễu ngay ngắn và xanh tốt. Mùa hè vẫn có các đoàn sinh hoạt thanh niên tới cắm trại. Nay thì cái uy nghi và xanh tốt ấy đã bị mất đi quá nhiều, để mọc lên những dãy nhà dài ngang dọc làm trường học. Đây cũng là hình thức vi phạm di tích. Nhưng cũng may là khoảng sân Đài Sơn Xuyên bên trên vẫn còn được bảo quản tương đối tốt. Và hoa quả, hương đèn vẫn có trên bệ thờ, ít nhất là trong các ngày sóc – vọng.


Vượt qua Cống Trắng, mé dọc bờ sông là ấp Bồi Thành mà phạm vi tiếp giáp với kiệt xuống bến đò Phường Đúc cũ. Có lẽ đến nay, hai địa danh này không có trong tâm trí người dân đang cư ngụ ở đó. Bởi ngày trước, nơi đây là xóm vắng với dân cư rất thưa thớt, nay thì nhà cửa đã quá sầm uất, mà phần lớn là người mới nhập cư, nhất là ở phạm vi Bồi Thành.


Đối diện với ấp Bồi Thành là cánh đồng Bàu Sa không rộng, theo ông Nguyễn Hữu Thông đây là vị trí lấy đất sét phục vụ cho việc làm khuôn đúc ở Trường Đồng. Nay thì khu ruộng sâu này đã được lấp đầy làm khu dân cư và một nửa thì xây dựng Trung tâm giới thiệu sản phẩm đúc đồng truyền thống Huế. Tiếp đến dọc bờ sông Hương, với chiều dài độ 500m, từ bến đò phường Đúc cũ tiếp giáp Bến Chung, nằm ngay ngã ba của hai con đường Bùi Thị Xuân và Huyền Trân Công Chúa, là phạm vi của “Năm dãy thợ đúc”. Đây là địa giới của làng nghề Phường Đúc cũ từ hơn 300 năm trước mà trong Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn đã mô tả rất cụ thể. Nơi đây có sự qui hoạch rõ ràng với địa danh 5 ấp là Giang Dinh (hay Giang Doanh), Giang Tiền, Kinh Nhơn, Bản Bộ và Trường Đồng, mà hầu hết ở cuối mỗi dãy xóm, cạnh mé bờ sông, đều có mỗi đình xóm được xây dựng khá uy nghi. Năm ấp này tên thường gọi ngày trước đến nay là “Năm dãy thợ đúc”.


Giang Dinh và Giang Tiền là nơi đóng quân của các đội lính thuỷ bảo vệ Phủ chúa Nguyễn ở Kim Long. Kinh Nhơn và Bản Bộ là nơi cư ngụ của những người lính thợ đúc gốc Kinh Bắc và Thuận Hoá, được gọi là Chú tượng Kinh Nhơn Ty và Bản bộ Ty, đứng đầu mỗi ty là một vị Cai quan. Trong gia phả họ Nguyễn Kinh Nhơn nhiều vị có chức danh là Chú tượng Kinh nhơn ty Cai quan. Lại có vị là Chánh dinh Suất nội Chú tượng Ngũ ty, với tước hiệu là Tuần Thành Bá.


Trường Đồng hay còn gọi là Chú Súng Trường (trong Bình Nam đồ phát hành năm 1774, ghi Chú Súng Trường nằm cạnh sông Hương, bên dưới Linh Mụ tự và bên trên Đại Sa châu) là nơi đúc súng và các loại đồ dùng, thờ tự trong phủ chúa. Đây là một gò đất cao, dù là cạnh bờ sông mà trận lũ lịch sử năm 1999 nhưng nước chỉ lên thấu thềm nhà ở đỉnh gò ấy. Vì thế mới được chọn nơi đây làm công trường sản xuất thời các chúa Nguyễn.


Đối diện với Trường Đồng là Nhà thờ Giáo xứ Phường Đúc mà ngày trước có tên gọi là Giáo xứ Trường An (có lẽ được ghép từ chữ đầu của Trường đồng và chữ sau của Vĩnh An, một ấp thuộc phạm vi gần tiếp giáp với Thành Lồi). Nhà thờ Giáo xứ này mới đầu năm 2008 đã tổ chức kỷ niệm 300 năm hình thành. Theo Việt sử giai thoại, đây là ngôi nhà nguyện được Chúa Nguyễn cho phép xây dựng đơn sơ theo yêu cầu của kỹ sư đúc tượng Jean de la Croix, người Bồ Đào Nha, làm cố vấn kỹ thuật cho công tượng đúc súng Trường Đồng để làm nơi cầu nguyện theo tín ngưỡng của mình. Và cũng là nơi tổ chức lễ đám cưới cho ông kỹ sư này với một cô gái người bản xứ. Mà sách ấy gọi đây là mối tình Âu – Á đầu tiên ở Phú Xuân… Với những tư liệu vừa trình bày, ngược dòng lịch sử thì nơi “Năm dãy thợ đúc” này ngày trước cũng thật là sôi động!


Trở lại bến đò Phường Đúc cũ, từ ngã tư giao điểm đường nhựa và đường bê-tông, lên phía gò đồi của thôn Thượng 4 độ khoảng 300m, ngày trước vẫn có tên là Độn Kho thuốc. Có lẽ đây là nơi làm kho chứa thuốc súng, dùng cho các loại súng thần công đúc tại Chú Súng Trường nói trên.


Lên tiếp phía Long Thọ, chỉ trong một phạm vi không rộng mà có đến hai di tích là Hổ Quyền và điện Voi Ré. Cách nay 60 năm, tôi vẫn còn nghe người lớn đọc câu ca dao:


Con ai nhỏ nhỏ mà hoang,

Cầm que củi mục xoi hang Hổ Quyền!


Dạo ấy chưa nắm rõ Hổ Quyền là gì mà nghe cụm từ “xoi hang Hổ Quyền” thì cũng đã phát khiếp. Tiếp sau lưng điện Voi Ré là đồi Thọ Cương. Trên đồi thì có Kho Thượng – nơi chứa sản phẩm sành sứ sản xuất ở đó – rồi chuyển xuống bến đò Kho Thượng, ở mé sông cạnh chân đồi, vận chuyển đi phục vụ xây dựng cung điện đó đây. Ở mé nam của đồi Thọ Cương có Phủ thờ của Hòa Quốc Công.


Vượt qua cầu và Nhà máy xi-măng Long Thọ là con đường nhựa tuy nhỏ nhưng khá thẳng, chạy dọc suốt làng Nguyệt Biều, tiếp giáp với bãi sa bồi thôn Lương Quán. Đây là một đoạn trên của đường Bùi Thị Xuân. Và nghe đâu các cấp liên quan đang có kế hoạch xây dựng Nguyệt Biều – Lương Quán làm khu du lịch sinh thái vườn, mà đặc chủng là cây thanh trà nổi tiếng nơi đây. Bên cạnh những vườn cây thanh trà xanh mát và tươi tốt, thì Nguyệt Biều xưa vẫn là nơi xuất thân một số vị đại công thần vừa là phu quân của các Công chúa triều Nguyễn. Tiêu biểu như Phủ thờ Công chúa Mai An, con vua Minh Mạng, vừa là một nhà thơ; Công chúa Trang Nhàn con thứ 23 vua Minh Mạng và gần cuối đường nhựa là Phủ thờ Lễ bộ Thượng thư Đặng Đức Siêu dưới thời vua Gia Long, được phong tước Hầu lúc qua đời (vợ ông Siêu được treo bảng vàng là “Tiết phụ khả phong”), có con trai làm Tổng trấn Nghệ An. Trước cổng phủ này nay vẫn còn ghi “Biểu sinh phường” ...


Như thế, nhìn lại chỉ trên tuyến đường Huyền Trân Công Chúa cũ, được nối dài đến cuối làng Nguyệt Biều với độ dài khoảng 5 cây số mà nay đã được đổi tên là Bùi Thị Xuân, với hơn 600 số nhà và đường kiệt, đến nay vẫn còn tồn tại một con số không nhỏ những di tích văn hóa lịch sử, mà một số lớn vẫn còn trong dạng tàng ẩn. Thiết nghĩ, các ngành chức năng bảo tồn và du lịch phối hợp và cùng nổ lực khôi phục, làm hiển lộ đầy đủ những di tích này và thiết lập một tour du lịch liên hoàn thì có lẽ tiềm năng cũng không nhỏ.

_________________

Nguyễn Văn Tạo

trungtamhuyentran.thuathienhue.gov.vn

TRẦN NHÂN TÔNG VÀ THIỀN PHÁI TRÚC LÂM

Bài kệ "Cư Trần Lạc Ðạo" của Sơ Tổ Trúc Lâm (Trần Nhân Tông) 

 

MỘT ÔNG VUA XUẤT GIA


Năm 1299, vua Nhân Tông xuất gia tại chùa Hoa Yên núi Yên Tử, lấy hiệu là Hương Vân Ðầu Ðà (sau này vua đổi hiệu là Trúc Lâm Ðầu Ðà). Vua được nhận là người truyền thừa chính thức của phái Yên Tử, thế hệ thứ sáu, tiếp nối vị tổ thứ năm là thiền sư Huệ Tuệ. Từ đó trở đi, phái Yên Tử trở thành nổi tiếng, thế lực lan rộng trong triều đình và giữa nhân gian. Một ông vua đã từng đánh bại cuộc xâm lăng của nhà Nguyên, một ông vua đã đem hòa bình và thịnh trị về cho dân, một ông vua như thế khi đi xuất gia chắc chắn đã gây nên một tiếng vang lớn và khiến tất cả mọi người trong nước hướng nhìn về ngọn núi Yên Tử. đạo Phật trở thành yếu tố tâm lý liên kết toàn dân lại trong mục đích xây dựng và bảo vệ quốc gia. Nhân Tông và Anh Tông là những nhà chính trị giỏi, nhưng đồng thời cũng là những Phật tử thật sự. Nhà phê bình lịch sử có thể nói họ lợi dụng đạo Phật cho chính trị nhưng nhà phê bình văn hóa cũng có thể nói họ là những người Phật tử sùng đạo.


Phong trào Phật Giáo nhập thế gọi là Trúc Lâm Yên Tử chỉ hưng thịnh cho đến giữa khoảng thế kỷ thứ mười bốn. Sau đó, phong trào yếu dần. Từ đây thiếu sự nâng đỡ của những ông vua Phật tử, đạo Phật rút lui về căn cứ của mình ở chùa trên núi và nơi thôn quê. Các chùa ở thủ đô Thăng Long thôi đóng vai trò quan trọng về chính trị.


Một thời gian sau ngày xuất gia, vua Nhân Tông đổi pháp hiệu là Trúc Lâm. Ta biết rằng vị tổ thứ hai của thiền phái Yên Tử, thiền sư Ðạo Viên (hay Viên Chứng) ngày xưa đã được ban hiệu là Trúc Lâm quốc sư. Nhân Tông đã xuất gia và đã trở nên một vị cao tăng, tổ thứ sáu của phái Yên Tử và là tổ thứ nhất của phái Trúc Lâm: ta gọi vua bằng pháp hiệu Trúc Lâm của vua, trong khi không quên rằng Trúc Lâm quốc sư Ðạo Viên là vị tiền bối của vua.


Trúc Lâm Ðầu Ðà tên tục là Trần Khâm, con của vua Trần Thánh Tông, sinh năm 1258, lê ngôi vua năm 20 tuổi, xuất gia năm 41 tuổi và tịch năm 1308 vào lúc 51 tuổi. Tác giả Sách Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư viết: “Vua được tinh anh của thánh nhân, đạo mạo thuần túy, nhan sắc như vàng, thể chất hoàn toàn, thần khí tươi sáng, hai cung đều cho là lạ, gọi là Kim Tiên Ðồng Tử [1] ; ở vai bên tả có nốt ruồi đen, cho nên có thể cáng đáng được việc lớn; ở ngôi 14 năm, nhường ngôi 5 năm, xuất gia 8 năm, thọ 51 tuổi, băng hà ở am Ngọa Vân núi Yên Tử. Hòa nhã, cố kết lòng dân, sự nghiệp phục hưng làm vẻ vang đời trước, thực là vua hiền đời Trần. Song vui lòng ở kinh Phật, tuy bảo là đến siêu thoát, nhưng không phải là đạo trung dung của thánh nhân”. Sử thần Ngô Sĩ Liên còn nói: “Nhân Tông trên thờ Từ Cung tỏ rõ đạo hiếu, dười dùng người hiền lập nên võ công, nếu không phải là bậc nhân minh anh vũ thì làm sao được như thế? Duy có việc xuất gia là không hợp với đạo trung dung”. Ðó là những lời phê bình về vua Nhân Tông của các sử thần theo Nho Giáo.


Hồi còn nhỏ tuổi, Trúc Lâm đã có ý không mu;ón làm vua. Và muốn nhường địa vị đông cung thái tử cho em. Sách Tam Tổ Thực Lục nói: “Một đêm vào giờ Tý, vua vượt thành mà đi, muốn vào núi Yên Tử. đến chùa ở núi Ðông Cứu thì trời sáng, liền vào ẩn trong tháp. Vị tăng trụ trì thấy tướng mạo dị thường liền đem thức ăn khoản đãi. Hôm ấy thái hậu và vua Thánh Tông sai quần thần tìm tứ tán, bất đắc dĩ vua phải về. Khi lên ngôi, tuy ngồi lên chín bệ vinh quang nhưng sinh hoạt rất thanh tịnh. Một hôm ngủ trưa tại chùa Tư Phúc trong đại nội vua mộng thấy trên rốn mình nở ra một hoa sen lớn như bánh xe, trên đó có một đức Phật vàng. Bên cạnh, có người chỉ vào vua mà hỏi: Biết đức Phật này không? Ðó là đức Biến Chiếu Tôn đấy! Vua tỉnh thức, đem giấc mộng nói lại cho Thánh Tông nghe, ai cũng lấy làm lạ. Từ đó thường ăn chay tránh thịt cá, long nhan gầy mòn. Thánh Tông thấy thế làm lạ, hỏi. Ðiều Ngự (tức Nhân Tông) cứ thực trình bày. Thánh Tông khóc nói: Ta đã già, cậy vào một mình ngươi, nếu người như thế làm sao nối được thịnh nghiệp của tổ tông? Ðiều Ngự cũng khóc. Ðiều Ngự thánh tính thông minh, hiếu học, nhiều tài, đọc khắp các loại sách thông suốt cả đến nội điển, thường mời các vị thiền khách tới cùng giảng cứu Thiền học. Ðiều Ngự cũng tìm tới tham khảo với Tuệ Trung thượng sĩ, và do đó thâm nhập được cốt tủy của Thiền học, cho nên thường lấy tư cách đệ tử để đối đãi với Tuệ Trung.


Ðã đành Trúc Lâm thờ Tuệ Trung làm thầy, nhưng khi xuất gia thọ 250 giới của một vị tỳ khưu vì Tuệ Trung vốn là cư sĩ, không thể truyền giới cho vua được. Ai là hòa thượng trao truyền giới pháp cho Trúc Lâm, và vua thọ giới ở đâu? Hẳn người làm hòa thượng đường đầu truyền giới là thiền sư Huệ Tuệ, lúc ấy đang lãnh đạo sơn môn Yên Tử, tổ sư thứ 5 của thiền phái. Và lễ thọ giới xuất gia của Trúc Lâm chắc chắn được tổ chức trên núi Yên Tử.


Trúc Lâm tuy học với Tuệ Trung nhưng khác với Tuệ Trung ở chỗ vua rất chú trọng về mặt hình tướng của sự việc. Trúc Lâm xứng đáng là vị sáng tổ của một tông phái, người lãnh đạo của một giáo hội. Vua có ý định xuất gia rất sớm, nhưng ý định này chỉ được thực hiện vào năm 1299. Trước đó vua đã ăn chay học Phật một cách kính cẩn[2] .Năm gần đi xuất gia, vua mời Văn Túc Vương Ðạo Tái (con của Trần Quang Khải) đến chơi ăn cơm. Vốn rất yêu mến Văn Túc Vương Ðạo Tái, vua mời Ðạo Tái vào chơi ở Dưỡng Ðức điện trong cung Thánh Từ và sai người làm các thức hải vị mời Ðạo Tái. Vua vốn đã ăn chay rồi, nên chỉ ngồi nhìn Ðạo Tái ăn. Vua có làm bài thơ như sau:


Món quy cước đỏ thắm

Món mã yên vàng thơm

Sơn tăng giữ tịnh giới

Cùng ngồi không cùng ăn [3]


Chưa đi xuất gia nhưng tự xem mình như một vị “sơn tăng” rồi, thì biết vua đã chuẩn bị kỹ lưỡng biết bao cho việc xuất gia của mình! Tháng Bảy năm 1299, vua xây một thiền am trên núi Yên Tử gọi là Ngự Dược Am. Xây dựng chỉ sơ sài thôi, bởi vì sang tháng Tám vua đã đi xuất gia. Vốn rất cẩn thận về mặt thể thức, vua không thể không tổ chức lễ này cho long trọng. Chỉ tiếc sử sách không ghi chép lại những chi tiết của ngày xuất gia ấy. Ta cũng không biết 10 vị trong hội đồng truyền giới là những vị nào. Ðể đánh dấu ngày xuất gia của vua, trong toàn quốc đã phát hành cuốn Phật Giáo Pháp Sự Ðạo Tràng Công Văn Cách Thức, một cuốn sách nói về thể thức và các bài văn sớ, tấu, điệp, dùng trong các nghi lễ thọ giới, chẩn tế, cầu an, cầu siêu, khánh thành, v.v… Cuốn sách này nhắm đến việc thống nhất các hình thức nghi lễ của Phật Giáo đương thời. Nó được chính quyền ấn hành khắp nước thay vì được một chùa ấn hành trong phạm vi một khu vực.


Ý NGUYỆN XÂY DỰNG MỘT NỀN HÒA BÌNH CHIÊM – VIỆT LÂU DÀI


Tháng Ba năm 1301, Trúc Lâm đi Chiêm Thành để quan sát Phật Giáo tại đây. Vua đi với tư cách một du tăng, có một số tăng sĩ tùy tùng. Vua đã lưu lại đây cho đến tháng mười một mới về. Trong thời gian lưu trú tại Chiêm Thành, vua đã đàm đạo với vua nước Chiêm Thành là Chế Mân. Cuộc tiếp xúc này chắc hẵn là một cuộc tiếp xúc rất thân mật; vua Chế Mân tiếp một vị du tăng Việt Nam nhưng đồng thời cũng tiếp một người có thế lực tinh thần rất lớn trong triều đình và ngoài dân chúng. Trong mục đích xây dựng tình hòa hữu giữa hai nước làm nền tảng cho hòa binh lâu dài, Trúc Lâm đã hứa sẽ gã công chúa Huyền Trân cho vua Chàm. Tháng hai năm 1305, tức là bốn năm sau đó, Chế Mân sai Chế Bồ Ðài và bộ đảng hơn 100 người đem vàng bạc, hương trầm và các bảo vật sang để cầu hôn. Lúc này Trúc Lâm đang tu ở Kỳ Lâm viện và đang bận làm lễ thọ giới tỳ khưu và Bồ Tát cho vị đệ tử là Pháp Loa. Các quan trong triều nhiều người khuyên vua Anh Tông nên từ chối. Nhưng Văn Trúc Vương Ðạo Tái và thượng tướng Trần Khắc Chung bàn với vua nên làm theo lời hứa gã của Thượng Hoàng. Vua Anh Tông liền nhận lễ. Tháng sau năm sau 1306, công chúa Huyền Trân về nhà chồng. Vua Chiêm Thành dâng hai châu Ô và Lý làm sính lễ. Ðến năm 1307 hai châu này được đổi tên là Thuận và Hóa. Ta không rõ sự dâng đất này xuất từ thâm ý của vua Chiêm Thành hay là điều kiện của do vua Anh Tông đặt ra. Chỉ biết là khi đất hai châu trở thành đất Việt Nam thì cư dân các thôn La Thủy, Tác Hồng và Ðà Bồng không chịu theo về quốc tịch Việt. Vua Anh Tông phải sai Ðoàn Nhữ Hài, một người tâm phúc của vua, đến các thôn này tuyên dụ đức ý của triều đình, chọn người bản xứ bổ làm quan, cấp đất cho dân, miễn thuế trong ba năm để vỗ về họ.


Cuộc tình duyên giữa vua Chiêm Thành và công chúa Huyền Trân tiếc thay lại rất ngắn ngũi. Bà về với vua Chiêm Thành tháng sáu năm 1306 đến tháng năm năm 1307 vua Chiêm mất. Theo tục lệ Chiêm Thành, hễ vua băng hà thì hoàng hậu phải lên đàn thiêu chết theo. Vua Anh Tông sợ công chúa bị hại, liền sai Trần Khắc Chung sang, lấy cớ làm lễ viếng rồi tìm cách cứu công chúa về. Trần Khắc Chung qua Chiêm Thành vào tháng mười mà mãi đến tháng tám năm sau mới đưa được công chúa Huyền Trân về tới kinh đô. Trúc Lâm nghe tin con về mừng rỡ xuống núi đón. Sợ triều đinh Chiêm giận, Trúc Lâm liền bảo trại chủ Châu Hóa lấy thuyền đưa 300 người Chiêm lưu vong về nước, mong chuộc lỗi Trần Khắc Chung đã đánh lừa Chiêm để đem công chúa ve[4]à. Chủ ý của Trúc Lâm xây dựng tình huynh đệ giữa hai nước Chiêm Việt để bảo vệ hòa bình đã không được triều đinh đeo đuổi thực hiện. Tháng chạp năm 1311, nghĩa là đúng ba năm sau ngày Trúc Lâm mất, vua Anh Tông đi đánh Chiêm Thành. Sách Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư nói rằng sở dĩ có cuộc chinh phạt Chiêm Thành như thế là vì “vua nước ấy là Chế Chí phản trắc”.


Vua nước ấy phản trắc như thế nào? Sách không hề nói. Ta chỉ biết rằng vua Chế chí sai trại chủ Câu Chiêm sang triều cống nước ta. Ðoàn Nhữ Hài liền mật ước với người này hẹn nếu đánh thắng được Chiêm Thành thì sẽ hậu đãi. Quân Việt chia làm ba đạo: Huệ Võ Vương Quốc Chẩn tiến tới đường núi, Nhân Huệ Vương Khánh Dư tiến vào bằng đường biển, vua Anh Tông cầm quân đi đường bộ. Cuộc xâm lăng này có sự đồng tình của trại chủ Câu Chiêm. Khi quân đội do vua Anh Tông đến đất Câu Chiêm, Ðoàn Nhữ Hài sai người đến trại chủ cho biết ý vua Việt Nam muốn dụ vua Chiêm ra đầu hàng. Trại chủ báo tin cho vua Chế Chí, vua này nghe theo liền đem gia thuộc đi bằng hải đạo ra hàng. Ðó là vào tháng năm: vua Chế Chí bị bắt đem về, em vua là Chế Ðà A Bà Niêm được đưa lên trấn giữ đất Chiêm Thành. Sau này mối thù Chiêm Việt bùng nổ; chiến tranh giữa hai nước kéo dài và cuộc chiến đã làm suy yếu cả cơ nghiệp nhà Trần. Ý kiến và sự sắp đặt của Ðoàn Nhữ Hài trong cuộc chiến tranh xâm lăng Chiêm Thành đã là một yếu tố rất quan trọng.


XÂY DỰNG MỘT GIÁO HỘI MỚI


Cuộc đời xuất gia của Trúc Lâm là một cuộc đời hoạt động tích cực. Ngoài những mùa kết hạ (ba tháng tĩnh tu) tại các am Tử Tiêu, Ngọa Vân, Thạch Thất, Tri Kiến hay tại các chùa Vĩnh Nghiêm và Siêu Loại, Trúc Lâm thường đi vân du hoằng đạo đây đó. sách Tam Tổ Thực Lục nói nanm 1304, “Ðiều Ngự (tức Trúc Lâm) đi khắp mọi nẽo thôn quê, khuyên dân phá bỏ các dâm từ và thực hành giáo lý Thập Thiện”. Hồi đó trong dân gian còn có những nơi thờ tự những tượng thần lõa thể và sinh thực khí, những đền thờ này chính là những dâm từ nói tới trong Tam Tổ Thực Lục. Cố nhiên một vị thiền sư như Trúc Lâm đến đâu cũng được dân chúng ái mộ, khâm phục, và lời khuyên của vua có tác dụng rất lớn. Thập Thiện chính là giáo lý nhập thế căn bản của đạo Phật; lấy giáo lý Thập Thiện làm cơ bản cho đạo đức xã hội, Trúc Lâm đã có ý muốn xây dựng một xã hội trên nền tảng luân lý đạo Phật. Một ông vua còn ngồi trên ngôi ủng hộ Phật Giáo, một ông vua cha làm thiền sư chu du trong quần chúng: sự kiện này thật đặc biệt chưa từng có. Dù có ý thức hay không, Trúc Lâm cũng đã góp phần vào việc củng cố triều đại chế độ bằng những công tác hành đạo tích cực trong dân gian.


Cuối năm 1304, vua Anh Tông thỉnh Trúc Lâm vào Ðại Nội và xin thọ Tại Gia Bồ Tát Tâm Giới. Những bậc quốc vương thọ giới Bồ Tát Tại Gia là những người phát nguyện dùng khả năng và quyền hạn của ngôi vị mình để phục vụ cho nhân sinh của Bồ tát. Ngày Trúc Lâm vào thành, vương công bách quan đều theo vua đi đón. Thấy vua phát nguyện thọ giới Bồ tát, mọi người cũng xin phát nguyện thọ tam quy ngũ giới. Trên phương diện hình thức, ta thấy cả một triều đình trở thành Phật tử, nhưng đứng về phía nội dung mà xét, ta phải biết chắc có nhiều người thọ giới chỉ vì thấy vua thọ giới và không muốn làm mất ân sủng triều đình. Những người theo chủ nghĩa cơ hội thời nào cũng có.


Phật Trúc Lâm là một nền Phật Giáo nhập thế, liên hệ mất thiết tới chính trị, phong hóa của xã hội. Con người của Trúc Lâm rất thích hợp với một phong trào như thế và đó là lý do chính khiến thiền phái này được thành lập. Truyền thống Phật Giáo Yên Tử đến đời của Trúc Lâm đã mang nặng tích cách xã hội nhập thế cho nên việc dùng một danh từ mới cho tông phái cũng là một việc đưong nhiên hợp lý.


Trúc Lâm có phong độ của một người lãnh đạo giáo hội, một vị tăng thống, và điều này cố nhiên là vang bóng của sự nghiệp làm vua trước kia. Vua rất thao thức muốn tìm một pháp tử, tức là một người nối tiếp được sự nghiệp hoằng đạo nhập thế của mình. Trong thời gian du hành trong nhân gian, Trúc Lâm cũng có ý định tìm một người như thế. Ðến năm 1304 đến thôn Nam Sách, Trúc Lâm gặp một người trai trẻ, tuổi hai mươi mốt, muốn xuất gia, tên là Ðồng Kiên Cương. Thấy dung mạo khác thường, Trúc Lâm tự bảo: “Người trai trẻ này có đạo nhãn, sau này chắc sẽ trở thành pháp khí”. Vui vì sự gặp gỡ này, Trúc Lâm đặt tên cho chàng là Thiện Lai, cho thọ giới Sa Di, và gửi đi tham học với Tính Giác Hòa thượng. Thiện Lại sau này là Pháp Loa, vị tổ thứ hai của thiền phái Trúc Lâm. Pháp Loa chỉ làm sa di được trên một năm; sang năm 1305, thì Trúc Lâm đã cho ông thọ giới Tỳ Khưu và Bồ tát. Sang năm 1306 thì ông đã được lập làm giảng sư ở chùa Siêu Loại. Cố nhiên, một người có căn trí linh lợi như Pháp Loa có thể đi những bước nhanh như thế, nhưng trong truyền thống thiền viện, ít ai vội vã đưa một người mới xuất gia lên địa vị giảng chủ của một thiền viện khi ông này chưa đầy ba tuổi tu. Ta cũng hiểu rằng Trúc Lâm tự biết không còn sống được nhiều năm nữa nên đã chuẩn bị kỹ lưỡng như vậy, như đã chuẩn bị kỹ lưỡng cho việc xuất gia của mình. Vua tự mình dạy Phật Pháp cho Pháp Loa: các bộ Truyền Ðăng Lục, Ðại Tuệ Ngữ Lục đều chính do vua dạy riêng cho Pháp Loa học. Năm 1307, hồi Pháp Loa mới lên 24 tuổi; Trúc Lâm đã viết tâm kệ và lấy y bát truyền cho Pháp Loa ngày mồng một tết năm Mậu Thân (1308) – Trúc Lâm sẽ tịch vào tháng mười một năm này – Trúc Lâm chính thức ủy Pháp Loa kế thế trụ trì chùa Siêu Loại, làm tổ thứ hai của Thiền phái Trúc Lâm. Việc này xảy ra trong sự chứng giám của vua Anh Tông. Ta đã đọc đoạn nói về việc này trong sách Tam Tổ Thực Lục.


“Năm Mậu thân, niên hiệu Hưng Long thứ 16, vào ngày mồng một tháng giêng, Pháp Loa phụng mệnh làm người nối pháp trù trì chùa Siêu Loại ở giảng đường Cam Lộ. Bắt đầu buổi lễ, mọi người làm lễ ở tổ đường; đại nhạc được tấu lên, các loại danh hương được xông đốt… Ðiều Ngự đưa Pháp Loa vào lạy ở tổ đường xong, cùng xuống thực đường để ăn cháo sáng. Sau buổi triêu thực. Nhạc tấu lên, trống lớn nổi dậy, đại chúng chư tăng được triệu tập cùng lên pháp đường; lúc đó vua Anh Tông đã ngự giá tới chùa; ngôi chủ khách đã phân xong, mọi người cùng ngồi. Anh Tông lúc đó đóng vai một vị đàn việt lớn của Phật Pháp, ngồi vào ghế khách của pháp đường, quốc phụ thượng tể [5] cùng với các quan cùng đứng dưới sân. Ðiều ngự thăng đường thuyết pháp. Thuyết pháp xong điều ngự rời pháp tòa, dắt Pháp Loa cho ngồi trên pháp tòa ấy, rồi đứng đối diện Pháp Loa làm lễ thăm hỏi. Sau đó Pháp Loa đáp bái lại. Ðiều ngự trao pháp y cho Pháp Loa khoác vào. Bấy giờ Ðiều Ngự ngồi xuống ghế khúc lục một bên để nghe Pháp Loa thuyết pháp. Xong rồi, Ðiều ngự đem Sơn Môn (Giáo Hội) Yên Tử và chùa Siêu Loại ủy cho Pháp Loa kế thế trụ trì, làm tổ thứ hai phái Trúc Lâm”.


Trúc Lâm đã sắp đặt mọi việc rất vén khéo và đúng lúc. Cả triều đình có mặt tại buổi lễ hôm đó cùng với vua Anh Tông đều chứng kiến sự kiện truyền y pháp giữa thầy trò Trúc Lâm và Pháp Loa, sau này không ai có thể phủ nhận giá trị lãnh đạo của Pháp Loa nữa. Tất cả những điều này cho ta thấy chủ ý của Trúc Lâm muốn đặt cơ sở vững chãi cho một nền Phật Giáo thống nhất và nhập thế tại Việt Nam. Pháp Loa sau này đã thi hành được dễ dàng nhiệm vụ lãnh đạo giáo hội của mình, và Anh Tông cung kính vâng theo di chúc của Trúc Lâm, đối với Pháp Loa luôn xưng là đệ tử, hết lòng ủng hộ việc hành đạo của Pháp Loa.


Phong trào phát triển nhập thế do Trúc Lâm xây dựng đã được đông đảo quần chúng tham dự. Ngày mười sáu tháng chín năm Canh tuất (1310) triều đình làm lễ rước linh cữu đựng tro xương Trúc Lâm về chôn ở lăng Quy Ðức phủ Long Hưng. Một ít tro xương này thì được an trí tại bảo tháp ở am Ngọa Vân trên núi Yên Tử (*). Linh cửu, trước khi rước về lăn Quy Ðức, được tạm quàn ở điện Diên Hiền trong thành. Sắp đến giờ phát dẫn linh cữu rồi mà quan liêu và dân chúng đứng đầy khắp cung điện, trong ngoài như nêm, không có cách gì mà rước linh cữu ra cho được. Binh lính cầm roi xua đuổi dân chúng cũng không giải tán được. Rốt cuộc vua Anh Tông phải cho gọi chi hậu chánh chưởng là Trịnh Trọng Tử tới vấn kế. Trọng Tử liền tổ chức quân đội dưới quyền mình, bày ra đây đó những nhóm hát điệu long ngâm, trên thềm, ngoài sân. Quần chúng thấy lạ, bèn kéo nhau ra vây quanh những nhóm trình diễn này, nhờ đó mà cung điện mới giảm người, đám rước mới thực hiện được. Chi tiết này trong sách Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư cho ta thấy lòng ái mộ của dân chúng đối với Trúc Lâm, và cũng cho ta thấy không khí thân mật, đơn giản, đượm sắc thái hòa bình của thời đại.


(*) Am Ngọa Vân thực ra ở trên một ngọn thuộc về dãy Yên Sinh, phía tây dãy Yên Tử và thấp hơn Yên Tử, nhưng đường lên có phần khó khăn hơn. Ở đó, ngoài Ngọa Vân Am còn có Phật Hoàng bảo tháp song đã bị phá phách nghiêm trọng vì sự lơ là của người có trách nhiệm từ sau 1945 (N.H.C.).


TƯ TƯỞNG THIỀN HỌC


Trúc Lâm đã để lại những tác phẩm sau đây, mà hiện chúng ta chỉ còn những đoạn trích in lại trong sách Tam Tổ Thực Lục và Thánh Ðăng Lục:


1) Thiền Lâm Thuyết Chủy Ngữ Lục

2) Trúc Lâm Hậu Lục

3) Thạch Thất Mỵ Ngữ

4) Ðại Hương Hải Ấn Thi Tập

5) Tăng Già Toái Sự


Ba tác phẩm đầu, Thiền Lâm Thuyết Chủy Ngữ Lục, Trúc Lâm Hậu Lục và Thạch Thất Mỵ Ngữ là những sách tập hợp các bài kệ tụng, những lời thiền ngữ và những đoạn vấn đáp giữa Trúc Lâm và môn đệ. Ðại Hương Hải Ấn Thi Tập tập hợp những bài thơ của Trúc Lâm, một số bài còn được giữ lại trong các tuyển tập như Việt Âm Thi Tập, và Toàn Việt Thi Lục nhờ tính cách ít từ ngữ Phật Giáo của chúng. Tăng Già Soái Sự chắc là một tập văn xuôi có tính cách thực dụng trong giới thiền giả.


Ngoài những tác phẩm chữ Hán kể trên, Trúc Lâm còn sáng tác bằng chữ Nôm nữa. Hiện chúng ta còn được một bài phú và một bài ca của Trúc Lâm viết bằng chữ Nôm(Cư Trần Lạc Ðạo Phú và Ðắc Phú Lâm Tuyền Thành Ðạo Ca). Hai bài này được giữ lại trong tác phẩm An Tử Sơn Trần Triều Trúc Lâm Thiền Tông Bản Hạnh của hòa thượng Chân Nguyên Ðăng, ấn hành năm 1745.


Ngoài ra, Trúc Lâm còn viết bài Thượng Sĩ Hành Trạng nói về cuộc đời của Tuệ Trung và những kỷ niệm của vua đối với Tuệ Trung. Bài này in ở cuối sách Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục.


Về phương diện tư tưởng, Trúc Lâm chịu ảnh hưởng sâu xa của Tuệ Trung, nhưng nếu so sánh lối diễn đạt, ta sẽ thấy Tuệ Trung trực tiếp hơn, đơn giản hơn, hiện thực hơn, trong khi Trúc Lâm thiên trọng hơn về phương diện văn chương và hình ảnh. Về hình thái, Trúc Lâm chững chạc hơn, nhưng ta ít thấy nói vua với sức sống tâm linh mãnh liệt toát ra từ những lời thiền ngữ như trong trường hợp Tuệ Trung.


Trúc Lâm được sống nhiều năm trong thiền viện và đã sinh hoạt theo thể thức và quy chế thiền viện. Vua đã nhiều lần kết hạ an cư, đăng đàn thuyết pháp và chủ tọa những buổi đại tham, tức là những cuộc tham vấn về thiền trong đó toàn thể đại chúng trong thiền viện được tham dự. Những buổi tham vấn nhỏ thì được gọi là tiểu tham. Trúc Lâm thường bắt đầu buổi đại tham bằng lễ niệm hương. Kế tiếp, vua nói một vài lời mở đầu, và sau đó trả lời những câu hỏi. Sau đây ta hãy đọc một đoạn kể lại một buổi đại tham như thế do thiền sư Pháp Loa chép lại trong cuốn Thiền Ðạo Yếu Học;


“Ngày mồng chín tháng giêng năm Bính ngọ (1306) tại Kỳ Lân Viện, Trúc Lâm Ðại Tôn Giả khai mạc buổi vấn đạo ở thiền đường. Sư chỉ vào pháp tọa mà nói:


– Pháp tọa này là chiếc ghế giây khúc lục [6] là kim nghê bảo tọa, ngồi thì như ngồi trên đầu lưỡi của Phật Tổ, ai là người dám ngồi?


Sư niệm hương như sau:


– Một nén hương này, khói lành thơm phức, hơi lành bay khắp, ngưng tụ được cả pháp thân ngũ phận, phổ biến được phép cúng dường mầu nhiệm tận mười phương đốt ở trong bình, khiến cho mười phương gia hộ, chí miếu ứng linh, ngọc lịch miên trường, hoàng đồ củng cố; một nén hương này, xông cũng không nóng, đốt cũng không tan, đập cũng không nát, lăn cũng không thành: nhìn vào thì con người khô héo, ngửi phải thì não cân tê liệt, đốt ở trong bình, dâng lên bậc vô nhị thượng nhân là Tuệ Trung Ðại Sĩ, xin cho mưa pháp tưới ơn, cháu con thấm nhuần.


Thăng đường, vị thượng thủ bạch chùy, sư nói:


– Này đại chúng, nếu nói tới đệ nhất nghĩa đế [7] thì vừa động niệm nhất đã sai, vừa há miệng đã lầm. Như thế làm sao tỏ bày chân lý, làm sao giảng bày phép quán? Hôm nay ta thử bắt đầu từ phía bên kia (đệ nhị đầu) xem thử có được hay không?


Nói lời ấy xong, nhìn hai bên tả hữu, rồi tiếp:


-Trong chúng có bậc đại tuệ nhãn hay không? Nếu có thì chỉ xin hai cặp lông mi dương lên một chút. Nếu không, bần đạo không phải ba hoa mở miệng đem những lời hủ nát trình bày. Chỉ vì quý vị mà đưa ra môt món đồ xưa thôi vậy. Lắng nghe, lắng nghe: Ðạo lớn bao la, làm sao ràng buộc bằng ý tưởng, thể tính lặng yên, không thiện không ác, hễ phân biệt thì sẽ xuất hiện nhiều mối phức tạp; hể khởi ra một mảy may quan niệm thì tức khắc sẽ tan biến. Phàm và Thánh cùng chung một mối, thị và phi đâu phải hai đường; cho nên hãy biết rằng trong tự tính thì tội phúc vốn không, nhân quả chẳng thật, ai ai cũng có đủ thể tính ấy, người người đều đã viên thành. Phật tính và pháp thân như hình như bóng, tùy lúc chìm tùy lúc hiện, không phải một cũng không phải hai, ở ngay dưới mũi ta, trước mặt ta vậy mà dương mắt nhìn không dễ gì trông thấy; bởi vì có ý đi tìm thì sẽ không bao giờ thấy đạo. Ba ngàn pháp môn đều ở trong gang tấc, hằng sa diệu dụng đều có sẵn ở nguồn tâm. Cái gọi là giới môn, định môn, tuệ môn, các vị không ai là không có đủ. Nên trở về quan sát nơi tự tâm: khi nghe âm thanh, khi thấy hình sắc, khi tay cầm, chân bước, thì đó là công dụng của thể tính nào? Tính ấy thuộc tâm nào? Tâm và tính cùng rõ ràng thì cái gì phải cái gì không phải? Pháp tức là tính, Phật tức là tâm, vậy tính nào không phải pháp, Tâm nào không phải Phật. Phật cũng là Tâm; Pháp cũng là Tâm; nhưng vì Pháp vốn là không-Pháp, cho nên khi nói tới pháp là tâm thì cũng như nói tâm là không – tâm; tâm đã là không tâm thì khi nói tâm là Phật cũng như khi nói tâm là không Phật! Này quý vị, thời gian đi qua mau chóng, mạng sống con người trôi chảy không ngừng, tại sao hàng ngày biết ăn cháo ăn cơm mà không tham khảo ngay vấn đề cái chén cái thìa như vậy.


Lúc bấy giờ có một vị lão tăng đứng dậy hỏi:


– Áo cơm những chuyện tầm thường nọ.


Cần chi phải tạo chuyện nghi nan?


Vị sư làm lễ xong đứng dậy hỏi: “Ở cảnh giới thiền thì không có ước muốn, không cần đến hỏi; ở cảnh giới ước muốn thì không có thiền, hỏi là hỏi gì?, xin cho biết? “Sư lấy tay chỉ vào trong khoảng không. Vị sư nói: “Dùng thứ đàm giãi do cổ nhân khạc nhổ ra thì có ích lợi gì?” Sư đáp: “Mỗi lần cầm đến là một lần đổi mới” (Thiền Ðạo Yếu Học).


Trong lời mở đầu của Trúc Lâm, ta thấy vua nói đến thể tính giác ngộ sẵn có nơi mọi người và đến nguyên tắc tự mình trở vế thực hiện lấy tự tính giác ngộ ấy bằng phương pháp không-truy-tầm tức là không đối tượng hóa tự tính giác ngộ ấy để chạy theo đuổi bắt (“có ý đi tìm đạo thì không bao giờ thấy đạo”). Ðây là những điều mà Trúc Lâm tâm đắc từ Tuệ Trung. Cuối bài phú Cư Trần Lạc Ðạo, Trúc Lâm có viết một bài kệ nhắc lại nguyên tắc không-truy-tầm này:


Cư trần lạc đạo hãy tùy duyên

Hễ đói thì ăn, mệt nghĩ liền

Châu báu đầy nhà đừng chạy kiếm

Vô tâm đối cảnh, hỏi chi thiền?

(Cư trần lạc đạo thả tùy duyên

Cơ tắc xan hề, khốn tắc miên

Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch

Ðối cảnh vô tâm mạc vấn thiền).


Trúc Lâm cũng như Trần Thái Tông, rất ý thức về tính cách vô thường của cuộc sống và thao thức thực hiện sự giải thoát đạt đạo. Vua đã biết dùng thì giờ trong mọi hành động cử chỉ nhỏ nhặt để tham quán thiền đạo. “Này quý vị, thời gian qua đi mau chóng, mạng sống con người trôi chảy không ngừng, tại sao hàng ngày biết ăn cháo ăn cơm mà lại không biết tham khảo ngay vấn đề cái chén cái thìa?” Vấn đề cái chén cái thìa, theo vị sư đối thoại với Trúc Lâm là những vấn đề “tầm thường” không cần đặt ra; nhưng chính thiền sư mà chứng ngộ được là do ở sự tham quán thường trực về những chuyện “tầm thường” như vậy. Sự giác ngộ đạt đạo, theo Trúc Lâm phải được thực hiện ngay trong kiếp này. Thân mạng và cuộc đời vô thường, đời người như một mùa xuân sẽ qua. Mùa xuân này không thể để cho nó trôi qua một cách vô ích; tiếng kêu thiết tha rơi máu của con chim đỗ quyên nhắc ta điều đó. Trúc Lâm đã mở đầu một buổi đại tham tại chùa Sùng Nghiêm bằng một bài kệ:


Thân như hơi thở qua buồng phổi

Kiếp tựa mây luồn đỉnh núi xa

Chim khuyên kêu rã bao ngày tháng

Ðâu phải mùa xuân dễ luống qua

(Thư hư hô hấp tỵ trung khí

Thế tự phong hành lĩnh ngoại vân

Ðỗ quyên đề đoạn nguyệt như trú

Bất thị tầm thường không quá xuân)


Ðể thấy tư tưởng thiền của Trúc Lâm, ta hãy đọc vài đoạn vấn đáp sau đây trong buổi đại tham chùa Sùng Nghiêm:


“Sư đánh một tiếng chùy nữa mà nói:


– Chẳng có ai cả sao? Hãy trình diện ra! Hãy trình diện ra!


Một vị tăng bước ra hỏi:


– Thế nào là Phật?


Sư đáp:


– Chấp y lối cũ là sai lạc.


Lại nói tiếp:


– Thế nào là pháp?


Sư đáp:


– Chấp y lối cũ là sai lạc.


Lại hỏi:


– Rốt cuộc là thế nào


Sư đáp:


– Tám chữ tháo tung trao bạn hết [8]


Còn chi đâu nữa để trình bày?


Hỏi tiếp:


– Thế nào là tăng?


Sư đáp:


– Chấp y lối cũ là sai lạc.


Hỏi tiếp:


– Rốt cục thế nào?


Sư đáp:


– Tám chữ tháo tung trao bạn hết


Còn chi đâu nữa để trình bày?


Hỏi tiếp:


– Thế nào là một việc {con đường }hướng thượng ?


Sư đáp:


– Khiên nhật nguyệt trên đầu gậy.


Hỏi tiếp:


– Dùng công án cũ mà làm gì?


Sư đáp:


– Mỗi khi dùng đến, lại thành mới tinh.


Hỏi tiếp:


– Thế nào là sự trao truyền ngoài giáo điển?


Sư đáp:


– Con ểnh ương không nhảy ra khỏi rổ được đâu.


Hỏi tiếp:


– Nhưng sau khi nhảy ra rồi thì sao?


Sư đáp:


– Theo chân ếch nhái, cát bùn vấy thêm.


Hỏi tiếp:


– Vì vậy mà nhảy không khỏi phải không?


Ðiều Ngự lớn tiếng:


– Anh chàng mù kia, có thấy cái gì {đây} không?


Hỏi tiếp:


– Tôn đức lừa gạt người ta làm gì?


Ðiều Ngự suỵt; vị tăng đang suy nghĩ thì bị Ðiều Ngự đánh. Vị tăng định mở miệng hỏi, Ðiều Ngự liền hét. Vị tăng cũng hét. Ðiều Ngự nói:


– Lão tăng nghe ngươi hét một tiếng. Nhưng đồng thời lã tăng cũng hét một tiếng, thế là hai tiếng. Vậy người hiểu về hai tiếng hét đó thế nào? Nói mau! Nói mau!


Vị tăng đang suy nghĩ thì Ðiều Ngự lại hét một tiếng khác và nói:


– Hồn con chồn hoang kia, bây giờ ở tại đâu, hãy mau mau tỉnh dậy!


Vị tăng làm lễ và rút lui.

***

Một vị tăng khác tiến lên hỏi:


– Gia phong của các đức Phật quá khứ thì thế nào?


Sư đáp:


– Vườn rừng vắng mặt người chăm sóc


Lý trắng đào hồng tự nở hoa.


Hỏi tiếp:


– Gia phong của các đức Phật hiện tại thì thế nào?


Sư đáp:


– Bãi biễn đợi triều, mây nhớ nguyệt


Thôn chài nghe sáo, khách trông nhà.


Lại hỏi tiếp:


– Còn gia phong các đức Phật vị lai?


Sư đáp:


– Bãi biển đợi triều, mây nhớ nguyệt


Thôn chài nghe sáo, khách trông nhà.


Lại hỏi:


– Còn gia phong của hòa thượng thì sao?


Sư đáp:


– Áo rách đùm mây đun cháo sớm


Binh xưa đựng nguyệt nấu trà khuya.


Hỏi tiếp:


– Ngày xưa, khi Linh Vân thấy hoa đào nở mà chứng ngộ thì thế nào?


Sư đáp:


– Hoa nở hoa tàn tùy tiết nọ


Gió đông đâu biết, hỏi mà chi?


Hỏi tiếp:


– Giết người mà không nhíu mắt thì sao?


Sư đáp:


– Thì can đảm lắm chứ sao!


Hỏi tiếp:


– Bậc tu hành lớn còn có thể rơi vào vòng tròn nhân quả nữa không?


Sư đáp:


– Miệng tựa huyết hồng phun Phật Tổ.

Răng như gươm bén đồn thiền lâm

Sáng kia chết xuống a tỳ ngục

Vội niệm “Nam Mô Quan Thế Âm!”


Hỏi tiếp:


– Cò trắng xuống đồng ngàn điểm tuyết

Ngô đồng oanh đậu, một cành hoa.


ý thế nào?


Sư đáp:


– Câu ấy vốn không phải như thế.


Hỏi:


– Vậy câu ấy vốn thế nào?


Ðáp:


– Cò trắng xuống đồng, ngàn điểm tuyết

Ngô đồng oanh đậu, một cành hoa.


Hỏi tiếp:


– Ðó là chuyện của ai vậy?


Sư đáp:


– Nên biết lò tiên nhiều kỹ thuật

Nhân đơn vốn cũng tử chu sa.


Hỏi tiếp:


– Pháp thân thanh tịnh là gì?


Ðáp:


– Ðục vàng rơi đống phân sư tử

Chim cô trên đỉnh Thiết Côn về.


Hỏi:


– Kẻ học nhân này không hiểu?


Ðáp:


– Giá vốn đã hay, hàng bán khó

Khổ khi buôn bán phải lừa nhau.


Hỏi tiếp:


– Viên mãn báo thân là gì?


Sư đáp:


– Cánh bằng liệng cao, sức gió mạnh

Lẽ Châu linh hoạt, sóng thần xanh


Vị tăng lễ bái. Ðiều Ngự nói tiếp:


– Nguyên lai đầy đủ muôn công dụng

Vì ngươi nghiêng lệch mới không thành.


Hỏi:


– Còn thế nào là thiên bách ức hóa thân?


Ðáp:


– Hô phong hoán vũ chi cho lắm

Mực nước hiên nhà vẫn giữ nguyên


Vị tăng:


– Ðúng như vậy.


Ðiều Ngự:


– Hảo hán nhóm mây trên đỉnh núi

Bốn bên địa ngục vẫn chờ trông!


Vị tăng lễ bái rồi lui”.


Ta thấy gì trong hai cuộc tham khảo trên? Trong cuộc tham khảo thứ nhất, Trúc Lâm tránh né không để cho người đối thoại tạo tác những ý niệm về Phật, Pháp, và Tăng. Chủ đích đồng với chủ đích của Tuệ Trung, nhưng phương pháp không trực tiếp và mạnh bạo như của Tuệ Trung. Dù Trúc Lâm có dùng gậy đánh (Tuệ Trung không bao giờ dùng đến gậy) và tiếng hét, nhưng lối diễn tả của vua bao giờ cũng có tánh ước lệ bình thường hơn lối diễn tả của Tuệ Trung. Trong cuộc tham khảo thứ hai, Trúc Lâm dùng rất nhiều hình ảnh thi ca để nói về tam thân (pháp thân, báo thân và ứng thân), và khuyên người đối thoại đừng vói theo những khái niệm giáo lý: nhóm mây trên đỉnh núi không làm tiêu tan được cảnh nuốt viên đồng đỏ cháy dưới địa ngục!


Có lẽ tác phẩm hay nhất của Trúc Lâm là tám bài kệ về vấn đề có không:


Có có không không

Giây khô cây ngã

Thầy tu áo vá

Ðau não điên đầu

Có có không không

Thể lộ gió thu

Hằng hà sa số

Gươm nhọn va nhằm

Ðao bén chạm phải

Có có không không

Lập tông lập chi

Ðập ngói, xoi rùa

Leo núi, lội sông

Có có không không

Chẳng có chẳng không

Ghi dấu mạn thuyền

Sau này tìm kiếm

Xách theo họa đồ

Ði lùng ngựa đẹp

Có có không không

Hoặc có giữ gìn

Hoặc không giữ gìn

Tuyết trên nón lá

Hoa trên hài nhung

Ôm cây đợi thỏ

Có có không không

Từ xưa tới nay

Chấp vào ngón tay

Quên mất mặt trăng

Ðất bằng chìm xuống

Có có không không

Như thế như thế

Tám chữ tháo tung

Không nơi bám víu

Có có không không

Nhìn trái nhìn phải

Tra tra xét xét

Phố chợ ồn ào

Có có không không

Lo lắng xót thương

Cắt đứt sắn bìm

Bên đó bên đây

Thảy đều khoái hoạt

(Hữu cú vô cú

Ðằng khô thụ đảo

Kỷ cá nạp tăng

Chàng đầu ký não

Hữu cú vô cú

Thể lộ kim phong

Canh già sa số

Phạm nhẫn tương phong

Hữu cú vô cú

Lập tông lập chỉ

Ðả ngõa toàn quy

Ðăng sơn thiệp thủy

Hữu cú vô cú

Phi hữu phi vô

Khắc châu cầu kiếm

Sách ký án đồ

Hữu cú vô cú

Hộ bất hồi lộ

Lạp tuyết hài hoa

Thủ châu đãi thố

Hữu cú vô cú

Tự cổ tự kim

Chấp chỉ vọng nguyệt

Bình địa lục trầm

Hữu cú vô cú

Như thị như thị

Bát tự đả khai

Toàn vô ba tỵ

Hữu cú vô cú

Cố tả cố hữu

A thích thích địa

Náo quát quát địa

Hữu cú vô cú

Ðiêu điêu đát đát

Tài đoạn cát đằng

Bỉ thử khoái hoạt).


Bí quyết của Trúc Lâm là làm cho tâm hồn không vướng bận. Lòng không vướng bận nghĩa là không bị ràng buộc bởi thành bại đắc thất và bởi sự dồn chứa kiến thức. Ðạt tới được tâm trạng tự do ấy là đạt tới sự an ổn thật sự; nhân ngã và tham sân không còn lay chuyển được tự thân, và thức tính Kim Cương bắt đầu hiển lộ. Cõi Cực Lạc không nên đi tìm tận phương Tây mà chỉ cần tìm ở sự gạn lọc tự tâm. Chính ngay trên chỗ đứng này mà ta phải thực hiện tự tính rạng rỡ của tâm, bởi vì tự tính ấy không khác gì với đức Phật A Di Ðà. Trong bài phú chữ Nôm Cư Sĩ Trần Lạc Ðạo, Trúc Lâm gọi tâm hồn không vướng bận này là “lòng rỗi”


Miễn được lòng rỗi

Chẳng còn phép khác

Rèn tính lặng tính mới hầu an

Dứt niệm vọng niệm đình chẳng thác

Tột trừ nhân ngã, thì ra tướng thực kim cương

Ðình hết tham sân, mới lão lòng mầu viên giác.

Tịnh độ là lòng trong sạch, chớ còn ngờ hỏi đến Tây Phương.

Di Ðà là tính lặng soi, mựa phải nhọc tìm về Cực Lạc

Xét thân tâm, luyện tính thức, há rằng mong quả báu phô khoa

Cầm giới hạn, địch vô thường, nào có sá câu danh bản giác?


“Miễn được lòng rỗi, chẳng còn phép khác”, chủ trương của Trúc Lâm là chủ trương đình chỉ phiền não trước tiên, phù hợp với truyền thống “ngũ đình tâm quán” của thiền học nguyên thủy. Giáo lý Tịnh Ðộ lúc bấy giờ đã khá phổ thông, nhưng đối với Trúc Lâm cũng chỉ là một phương cách diễn tả chân lý và phương pháp Thiền học, vốn căn cứ trên nhận thức về chân như và bát nhã của giáo lý đại thừa. Người thực hành Thiền học không cần đi tìm Phật ở Tây Phương, cũng không cần tìm học kinh điển các tông phái.


Biết chân như, tin bát nhã, chớ còn tìm Phật tổ Tây phương;

Chứng thực tướng, ngộ vô vi, nào nhọc hỏi kinh thiền Nam Bắc.


Nếu bài văn tế cá sấu của Nguyễn Thuyên ngày nay không còn, thì bài Cư Trần Lạc Ðạo Phú và bài Ðắc Thú Lâm Tuyền Thành Ðạo Ca của Trúc Lâm là hai bài văn biền ngẫu xưa nhất mà ta hiện có. Ðể có thêm chút ý niệm về văn Nôm của Trúc Lâm, ta hãy đọc thêm đoạn chót của bài Cư Trần Lạc Ðạo:


Cốc một chân không

Dụng đòi căn khí

Nhân lòng ta vướng chặt khôn thông

Há cơ tổ nay còn chỗ bí

Chúng tiểu thừa cốc hay chớ đến

Bụt xá ngăn bảo sở hóa thành

Ðấng thượng sĩ chứng thực mà nên

Ai cậy có sơn lâm thành thị?

Núi hoang rừng quạnh, ấy là nơi dật sĩ tiêu dao

Chiều vắng am thanh, chỉn thực cảnh đạo nhân du hí

Ngựa cao tán cả, Diêm vương nào kể đứa nghênh ngang

Gác ngọc lầu vàng, ngục tốt thiếu chi người yêu quý?

Tranh công danh, lồng nhân ngã, thực ấy phàm ngu

Xây đạo đức, dời thâm tâm, định nên thánh trí

Mày ngang mũi dọc, tướng tuy lạ xem ắt bằng nhau

Mặt thánh lòng phàm, thực cách nhẫn vàn vàn thiên lý.


Trừ Ðại Hương Hải Ấn Thi Tập, một số ít bài thơ của Trúc Lâm còn được để lại, phần lớn làm trước khi xuất gia. Thơ văn Trúc Lâm lời đẹp và ý siêu thoát. Sau đây là bài văn vua làm trước khi xuất gia.


Bài Lên Núi Bảo Ðài:


Cảnh vắng đài thêm cổ

Xuân sang mầu chửa hồng

Rợp bóng nẻo hoa trồng

Vạn sự nước xuôi nước

Trăm năm lòng ngỏ lòng

Tựa lan, nâng sáo thổi

Trăng sáng đầy cõi tâm.

(Ðịa tịch đài du cổ

Thời lai xuân vị thâm

Vân sơn tương viễn cận

Hoa kính bản tình âm

Vạn sự thủy lưu thủy

Bách niên tâm ngữ tâm

Ỷ lan hoành ngọc địch

Minh nguyệt mãn hung khâm)


Bài Cảnh Xuân:


Liễu rũ hoa hồng chim hát ca

Mây chiều in bóng trước hiên nhà

Khách vào, thế sự không cần hỏi

Chỉ tựa lan can ngắm cỏ hoa.

(Dương liễu hoa thâm điểu ngữ trị

Họa đường thiển ảnh mộ vân phi

Khách lai bất vấn nhân gian sự

Chỉ bạng lan can khán thủy vi)


Bài Thu Muộn Ở Vũ Lâm (làm trong thời gian vua tập sự xuất gia ở đây, khi hành cung Vũ Lâm đã biến thành chùa Vũ Lâm)


Bóng cầu đảo ngược lòng khe suối

Một ánh tà dương gợn nước hồ

Núi lặng nghe rơi tờ lá đỏ

Khói sương dìu dặt tiếng chuông đưa.

(Họa kiều đảo ảnh trám khê hoành

Nhất mạc tà dương thủy ngoại minh

Tịch tịch thiên sơn, hồng diệp lạc

Thấp vấn hòa lộ tống chung thanh).


Bài Cuối Xuân (viết sau khi đã xuất gia, ngồi trên bồ đoàn nhìn mùa xuân qua với tâm trạng bình thản và thanh thoát).


Niên thiếu chưa từng hiểu sắc, không

Xuân sang hoa sắc vướng tơ lòng

Diện mục xuân nay từng khám phá

Thiền tọa an nhiên ngắm rụng hồng

(Niên thiếu hà tằng liễu sắc, không

Nhất xuân tâm sự bách hoa trung

Như kim khám phá Ðông Hoàng diện

Thiền bản bồ đoàn khán trụy hồng).


NHỮNG NGÀY CUỐI


Như ta đã biết, Trúc Lâm là một nhà lãnh đạo giáo hội hơn là một tư tưởng gia. Nhưng vua đã học Phật thấu đáo. Ý thức được rằng mình còn phải học nhiều nơi các “bậc tuệ nhãn”, Trúc Lâm dù ngồi trên ghế chủ tọa của các buổi đại tham vẫn thường giữ thái độ khiêm nhượng. Thạch Thất Mỹ Ngữ là tập ghi chép những lời thiền ngự nói ở am Thạch Thất, những lời gọi là nói trong lúc ngủ (mỵ, ngữ). Ðứng về phương diện gtc và lãnh đạo giáo hội, Trúc Lâm đã dấn thân một cách tích cực và đã không từ chối bất cứ một cố gắng nào để xây dựng cho Phật Giáo Trúc Lâm một nền tảng vững chãi. Năm 1308 là năm sống cuối cùng của Trúc Lâm. Ðó là năm Mậu thân:


Ngày tết: Ủy Pháp Loa trú trì chùa Báo ân


Tháng tư: Kết hạ ba tháng tại chùa Vĩnh Nghiêm, ủy Pháp Loa làm trú trì luôn cả chùa này. Giảng Truyền Ðăng Lục cho đại chúng. Thỉnh quốc sư Ðạo Nhất giảng kinh Pháp Hoa.


Tháng bảy: Lên núi Yên Tử, ở am Tử Tiêu, giảng Truyền Ðăng Lục riêng cho Pháp Loa.


Tháng tám; Các thị giả xuống núi hết, chỉ còn lại đệ tử lớn nhất là Bảo Sát ở lại.


Tháng chín: đi du hành mọi nơi trên núi Yên Tử, có Bảo Sát đi theo.


Tháng mười: Chị là Thiên Thụy công chúa bệnh nặng, gia đồng lên núi thưa rằng công chúa muốn thấy mặt em trước khi nhắm mắt. Trúc Lâm chống gậy xuống núi, chỉ có một thị giả theo hầu. Ði từ mồng năm tới mồng mười mới tới kinh đô. Thăm chị xong, ngày rằm lên đường về núi. Trên đường ghé nghỉ đêm tại chùa Siêu Loại. Sáng mai lại lên đường, đi ngang qua chùa làng Cổ Châu (chắc là chùa Pháp Vân) ghé lại chơi, có đề một bài thơ như sau lên vách.


Số đời một hơi thở

Tỉnh đời hai biển trăng

Cung ma đâu sá kể?

Nước Phật một trời xuân!

(Thế số nhất tức mặc

thời tình lưỡng hải ngân

Ma cung hồn quản thậm

Phật quốc bất thăng xuân).


Ngày 17 nghỉ đêm tại chùa Sùng Nghiêm. Tuyên Từ hoàng thái hậu thỉnh về am Bình Dương thọ trai. Trúc Lâm vui và nói: “có lẽ đây là buổi cúng dường cuối cùng”.


Tam Tổ Thực Lục chép về những ngày cuối cùng của Trúc Lâm như sau:


“Ngày 18 lại lên đường. Tới chùa Tú Lâm ở ngọn An Sinh thấy nhức đầu mới bảo hai vị tỷ khưu là Tử Dinh và Hoàng Trung rằng: “Tôi muốn lên đỉnh Ngọa Vân mà sức chân yếu quá, không thể đi được, bây giờ làm sao?” Hai vị nói: “Hai chúng tôi xin đỡ ngài đi”. Lên tới đỉnh Ngọa Vân, Ðiều Ngự cảm ơn hai vị và nói: Qúy vị xuống núi nhớ lo tu hành, đừng xem chuyện sinh tử là nhàn hạ”. Ngày 19 bảo thị giả Pháp Không lên am Tử Tiêu núi Yên Tử gọi Bảo Sát đến gấp… Ngày 21 Bảo Sát đến nơi. Ðiều Ngự trông thấy, cười mà nói: “Ngươi sao đến muộn thế? Ta sắp đi rồi. Trong Phật Pháp có điều gì chưa hiểu thì mau hỏi đi”. Bảo Sát nói: “Khi Mã Tổ Ðại sư bệnh, vị viện chủ hỏi: gần đây tôn vị thế nào? Mã Tổ đáp: Ngày đối diện Phật, đêm đối diện Phật. Ý ấy thế nào? “Ðiều Ngự lớn tiếng: Ngũ Ðế và Tam Hoàng là vật gì?” Bảo Sát tiếp: “Hoa nở rộ phô mầu gấm, tre phương Nam gỗ phương Bắc, phải hiểu thế nào?” Ðiều Ngự nói: “Mù mắt ngươi đi”. Bảo Sát liền thôi…


Ngày 1 tháng mười một, đúng nữa đêm, sao sáng đầy trời, Ðiều Ngự hỏi: bây giờ là giờ gì? Bảo Sát thưa: giờ Tý. Ðiều Ngự đưa tay ra hiệu mở cửa sổ để nhìn ra ngoài. Nói: “Ðến giờ ta đi rồi vậy” Bảo Sát hỏi: “Tôn đức đi đâu bây giờ?” Ðiều Ngự nói:


Mọi pháp đều không sinh

Mọi pháp đều không diệt

Nếu hiểu được như thế

Chư Phật thường hiện tiền

Chẳng đi cũng chẳng lại

(Nhất thiết pháp bất sinh

Nhất thiết pháp bất diệt

Nhược năng như thị giải

Chư Phật thường hiện tiền

Hà khứ lai chi hữu?).


Bảo Sát hỏi thêm: “Còn khi bất sinh bất diệt thì sao? “Ðiều ngự khua tay nói: “Thôi đừng nói mê nữa”. Rồi ngồi theo kiểu sư tử tọa mà hóa…


Xá lợi của Ðiều Ngự được phân làm hai phần… Một phần để vào bảo tháp nơi Ðức Lăng, một phần để ở kim tháp chùa Vân Yên núi Yên Tử.


Sách Tam Tổ Thực Lục, trong các phần nói về Trúc Lâm và Pháp Loa, đã có những đoạn nói tỷ mỹ về các sự kiện lịch sử có ghi ngày tháng và các chi tiết nhỏ nhặt như trong đoạn văn trên. Những tài liệu này rất qúy giá và đáng tin cậy hơn những tài liệu trong các bộ sử, bở vì các sách như Tam Tổ Thực Lục được bảo tồn trong các chùa chiền, trừ những sai lầm trong khi biên chép ít ai dám sửa chữa một chữ. Trái lại các bộ sử thường đã được các sử quan biên tập theo quan điểm mình đô khi vì thành kiến chính trị và ý thức hệ mà thêm bớt khiến cho nhiều chi tiết bị mất mát hoặc sai lạc.


Trúc Lâm không biết đã có được bao nhiêu đề tử xuất gia đắc pháp. Ta biết Bảo Sát là đệ tử đầu tay rất gần gũi, nhưng Bảo Sát lại không được phó thác nhiệm vụ tổ thứ hai của Trúc Lâm. Có lẽ Bảo Sát không có khiếu như Pháp Loa về mặt duy trì tổ chức giáo hội. Ngoài Bảo Sát và Pháp Loa, ta còn thấy các vị Bảo Phác, Pháp Không, Pháp cổ và Huệ Nghiêm cũng là đệ tử của Trúc Lâm. Ngoài ra, theo Ðồ Biểu của Huệ Nghiêm trong sách Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục, trong số các đệ tử của Trúc Lâm còn các vị Pháp Tràng, Hương Tràng, Hương Sơn và Mật Tạng.


[1] (65) Sách Tam Tổ Thực Lục gọi là “Kim Phật”


[2] (66) Sau khi những trận đánh ở biên giới Lào Việt kết thúc vào mùa hè năm 1295, Trúc Lâm đã từng đi thực tập xuất gia ở chùa Vũ Lâm (ở làng Vũ Lâm đã từng đi thực tập, phủ Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình). Mãi đến năm 1299 vua mới chính thức xuất gia tại núi Yên Tử. tại Vũ Lâm có sẵn một hành cung của Nhân Tông vì Nhân Tông tập sự xuất gia tại đó nên hành cung được biến thành chùa Vũ Lâm


[3] (67)

Hồng thấp bác quy cước

Hoàng hương chích mã yên

Sơn tăng trì tịnh giới

Ðồng tọa bất đồng xan


[4] (68) Khắc Chung nói với người Chiêm Thành rằng trước khi công chúa lên hỏa đàn chết theo vua Chiêm thì nên để công chúa ra ngòai bờ biển để làm lễ chiêu hồn ở ven trời, đốn linh hồn vua Chiêm cùng về hỏa đàn. Người Chiêm nghe theo; Khắc Chung dùng thuyền nhẹ cướp lấy công chúa đem về. Lênh đênh loanh quanh mãi ở đường biển, mười tháng sau mới về đến kinh sư. Theo sách Ðại Nam Nhất Thống Chí, công chúa Huyền Trân sau khi về nước đã xuất gia tu học tại chùa Nộn Sơn, xã Hổ Sơn, huyện Thiên Bản tỉnh Nam Ðịnh.


[5] (69) Huệ Võ Ðại Vương Quốc Chẩn.


[6] (70) Khúc lục thằng sàng: ghế này dùng trong thiền viện


[7] (71) Ðệ nhất nghĩa đế: chân lý tuyệt đối.


[8] (72) Tám chữ tháo tung: Tám chữ là “sinh diệt diệt dĩ, tịch diệc vi lạc” (sinh và diệt sau khi đã diệt rồi, thì đó là niềm vui niết bàn). Kinh Niết Bàn, phẩm Thánh Hạnh, kể chuyện Bồ Tát Tuyết Sơn hy sinh cho quỷ La sát ăn thịt để được nghe nửa sau của bài kệ, gồm có tám chữ. Toàn bài kệ như sau:


“Chư hạnh vô thường

Thị sinh diệt pháp

Sinh diệt diệt dĩ

Tịch diệt vi lạc”.

______________________

Nguồn: langmai.org

NGỌA VÂN, THÁNH ĐỊA CỦA PHẬT GIÁO TRÚC LÂM

Đức vua Trần Nhân Tông, người sáng lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, sau khi nhường ngôi, xuất gia tu hành khổ hạnh lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà, xưng là Trúc Lâm Đại sĩ. Cuối đời ông tu và hóa tại Ngọa Vân am.

Tóm tắt bài viết

 

Ngọa Vân am là nơi đức vua Trần Nhân Tông tu hành và hóa Phật, tuy nhiên vị trí Ngọa Vân ở đâu, diện mạo Ngọa Vân như thế nào thì vẫn là vấn chưa có câu trả lời thỏa đáng. Bằng việc kết hợp các thư tịch và tư liệu khảo cổ học tác giả đã làm rõ:

 

- Vị trí của Ngọa Vân nằm trên đỉnh Ngọa Vân núi Bảo Đài trên dãy Yên Tử, nay gọi là núi Vây Rồng thuộc địa bàn hai xã An Sinh và Bình Khê huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Đồng thời khẳng định ở cả hai khía cạnh địa lý và văn hóa, núi Yên Tử nên/ phải được hiểu là một khu vực rộng lớn tương ứng với một phần của vòng cung Đông Triều chạy dài từ Uông Bí, qua Đông Triều đến Chí Linh.

 

- Đã đưa ra những phác thảo về quy mô của Ngọa Vân và sự thay đổi của Ngọa Vân từ thời Trần đến thời Nguyễn. Qua đó cho thấy vai trò của Ngọa Vân trong hệ thống của Thiền phái Trúc Lâm nói riêng và lịch sử Phật giáo Việt Nam nói chung.

 

- Bên cạnh đó tác giả cũng đề xuất những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu và làm rõ như: tiếp tục nghiên cứu làm rõ diện mạo của Ngọa Vân; Ý nghĩa của việc Trần Nhân Tông lựa chọn Ngọa Vân làm nơi kết thúc quá trình tu hành, thành Phật của mình.

 

Đức vua Trần Nhân Tông, người sáng lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, sau khi nhường ngôi, xuất gia tu hành khổ hạnh lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà, xưng là Trúc Lâm Đại sĩ. Cuối đời ông tu và hóa tại Ngọa Vân am.

 

Năm 2007, chúng tôi có cơ may được tiến hành điều tra, nghiên cứu hệ thống các di tích nhà Trần ở Đông Triều và đặt nó trong không gian văn hóa chung của vùng đất An Sinh xưa, vùng đất mà dưới thời Trần là ấp thang mộc của An Sinh vương Trần Liễu, trong đó chúng tôi đặc biệt chú tâm đến hệ thống di tích chùa, am, tháp của Thiền phái Trúc Lâm được xây dựng trong khu vực này, trong đó tìm hiểu và giải quyết vấn đề vị trí của am Ngọa Vân được chú trọng đặc biệt. Để khảo cứu vấn đề này chúng tôi căn cứ vào các nguồn tư liệu:

 

- Các sử liệu bằng chữ viết có liên quan như: Đại Việt sử ký toàn thư (Toàn thư); Tam tổ thực lục (Tam tổ); Tam tổ hành trạng; Trần triều thánh tổ các xứ địa đồ (Trần triều), các tài liệu văn bia; các sách địa chí, vv…;

- Tài liệu khảo cổ học: Điều tra, nghiên cứu hiện trường, thu thập tư liệu, đối chiếu và so sánh với các tài liệu chữ viết. Việc điều tra được tiến hành trên một khu vực rộng kéo dài từ Khu di tích danh thắng Yên Tử (Uông Bí, Quảng Ninh) (sau đây gọi tắt là Yên Tử) ngày nay đến Côn Sơn (Hải Dương), trong đó tập chung chính vào khu vực vòng cung Đông Triều theo quan niệm của địa lý hiện đại thuộc địa phận Uông Bí, Đông Triều. Kết quả điều tra, nghiên cứu tại hiện trường đã được trình bày một phần trong bài viết “Am Ngọa Vân qua các bằng chứng khảo cổ học”, trong bài viết đó, chúng tôi đã bước đầu giới thiệu các di tích, di vật phát hiện được trong quá trình điều tra, nghiên cứu, trên cơ sở tư liệu khảo cổ học đáng tin cậy chúng tôi cho rằng Yên Tử sơn theo quan niệm xưa là dãy núi có quy mô rộng lớn chạy dài từ Uông Bí, qua Đông Triều đến Chí Linh. Trên không gian rộng lớn đó Ngọa Vân nằm trên khu vực thuộc hai xã Bình Khê và An Sinh, đồng thời phủ nhận quan điểm Ngọa Vân nằm trong Khu danh thắng Yên Tử thuộc hai xã (nay là phường) Thượng Yên Công và Phương Đông thành phố Uông Bí.

 

1. Ngọa Vân nơi đức vua Trần Nhân Tông tu hành và hóa Phật

 

“Tháng Tám năm 1299 từ phủ Thiên Trường Trần Nhân Tông xuất gia vào núi Yên Tử tu hành khổ hạnh” (1), “lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà, khi tu trên đỉnh Tử Tiêu (Vân Tiêu-TG) ngài xưng là Trúc Lâm Đại Sĩ (2). Sau thời gian tu hành khổ hạnh tại Yên Tử, Ngài xuống núi, đi khắp xóm làng, dạy dân chúng phá bỏ dâm từ và thực hành thập thiện, ban thuốc chữa bệnh. Tìm người nối dòng pháp, Ngài gặp được Pháp Loa.

 

Năm Bính Ngọ, niên hiệu Hưng Long thứ 14 (1306), Ngài giao cho Pháp Loa làm chủ giảng tại chùa Siêu Loại và nhận Huyền Quang làm thị giả.

 

“Tháng Năm, năm Đinh Mùi, niên hiệu Hưng Long thứ 15 (1307) Điều Ngự lên tu tại một am trên ngọn Ngọa Vân (卧雲峯-Ngọa Vân Phong)”(3). Việc Trần Nhân Tông lên tu ở Ngọa Vân vào năm 1307 ngoài ghi chép của Tam tổ hiện chưa thấy tài liệu nào nhắc tới việc này. Như vậy, đây là lần đâu tiên địa danh Ngọa Vân được nhắc tới trong hành trạng của vua Trần Nhân Tông, đồng thời qua đây cũng có thể suy đoán, Trần Nhân Tông bắt đầu tu tại Ngọa Vân từ tháng Năm năm Đinh Mùi (1307).

 

Cũng theo ghi chép này của Tam tổ thì, Ngọa Vân là tên một ngọn núi (卧 雲峯 - Ngọa Vân Phong), am trên ngọn núi không được nhắc tên, nhưng chúng ta thấy tên am nơi Ngài tu sau này đều được gọi là am Ngọa Vân, tức là lấy tên ngọn núi để đặt tên cho am. Đây là hiện tượng khá phổ biến trong cách đặt tên chùa, am của Thiền phái Trúc Lâm như: am Tử Tiêu được xây dựng trên ngọn Tử Tiêu, chùa Trù Phong (chùa Hồ Thiên) được xây dựng trên núi Trù Phong,…

 

Ngày mồng Một, tháng Mười một, lúc nửa đêm, sao trời tỏ rạng, Điều Ngự hỏi “Bây giờ là mấy giờ, Bảo Sát đáp, giờ Tý, Điều Ngự nói, “Đây là lúc ta đi”, nói xong liền nằm theo thế sư tử, an nhiên viên tịch”. Bảo Sát (Sái) hỏa thiêu Điều Ngự ngay tại am Ngọa Vân, Pháp Loa tới tưới nước thơm lên hỏa đàn thu ngọc cốt và xá lị. Vua Trần Anh Tông liền tôn hiệu là Đại Thánh Trần Triều Trúc Lâm Đầu Đà Tịnh Tuệ Giác Hoàng Điều Ngự Tổ Phật(4).

 

Về ngày hóa của Điều Ngự Trần Nhân Tông các tài liệu có sự chưa thống nhất. Toàn thư chép “Ngày mồng Ba (tháng Mười một -1308), Thượng hoàng (Trần Nhân Tông – TG) băng ở am Ngọa Vân, núi Yên Tử, bấy giờ Thượng hoàng xuất gia ở ngọn Tử Phong núi Yên Tử”(5); Tam tổ chép “Giờ tý (tức từ 23 giờ đến 01 giờ) ngày mồng Một, tháng Mười một, đến đêm thứ 2 Bảo Sát phụng di chúc hỏa thiêu ngay nơi am ấy” (6). Ngoài ghi chép của Toàn thư và Tam Tổ, trong bia Thanh Mai Viên Thông tháp bi là tấm bia ghi chép hành trạng của đệ nhị tổ Pháp Loa dựng năm Đại Trị thứ 5 (1362) cũng chép ngày hóa của Phật Hoàng là ngày mồng Một. Do vậy chúng tôi cho rằng ghi chép của bia Thanh Mai Viên thông tháp bi và Tam tổ là đáng tin cậy và việc Toàn thư chép ngày kỵ của Phật Hoàng chậm hơn so với sách Tam Tổ có thể là do tin tức được chuyển về kinh đô chậm.

 

Như vậy, qua các ghi chép có thể xác định, ít nhất từ tháng Năm năm 1307 Điều Ngự bắt đầu tu tại am Ngọa Vân trên ngọn Ngọa Vân, Ngài “nhập niết bàn” tại Ngọa Vân vào ngày mồng Một, tháng Mười một năm Mậu Thân (1308) và sau đó, các đệ tử của ngài tổ chức hỏa thiêu rồi thu xá lỵ và ngọc cốt của Ngài ngay tại am Ngọa Vân, hay nói cách khác Ngọa Vân là điểm kết thúc của hành trình tu luyện, nhập diệt theo thế sư tử nằm của Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông.

 

2. Ngọa Vân am Ở đâu?

 

Am Ngọa Vân ở đâu là vấn đề được thảo luận trong nhiều thập kỷ qua. Năm 2008, trong bài “Am Ngọa Vân qua bằng chứng khảo cổ học”(7) trên cơ sở những bằng chứng khảo cổ học thu được qua các cuộc điều tra khảo cổ học tại Ngọa Vân, chúng tôi đã chứng minh “vị trí của Ngọa Vân nằm trên dãy núi Yên Tử thuộc địa bàn hai xã Bình Khê và An Sinh (Đông Triều) (8).

Như trên đã trình bày, sách Toàn thư và nhiều tài liệu khác đều ghi am Ngọa Vân thuộc “núi Yên Tử” (Yên Tử Sơn (安子山)). Rõ ràng việc hiểu khái niệm núi Yên Tử theo quan niệm xưa như thế nào? Phạm vị ra sao? Là cơ sở quan trọng cho việc nghiên cứu và giải quyết vấn đề vị trí của Ngọa Vân.

 

Sách Tam tổ có đoạn “Ngày 18, đến chùa Tú Lâm, núi Kỳ Đặc ở Yên Sinh,… Tỳ kheo Tử Doanh và Hoàng Trung đưa lên Am Ngọa Vân”(9), ghi chép này cho thấy Ngọa Vân thuộc địa phận của An Sinh.

 

Tài liệu văn bia và địa chí cũng cung cấp một số thông tin về mặt địa lý khu vực An Sinh, chúng tôi lấy đó làm hệ quy chiếu, để từ đó xác định vị trí của Ngọa Vân. Bia Trần Triều bi ký dựng tại đền An Sinh (nay thuộc xã An Sinh, huyện Đông Triều), bia dựng năm Thiệu Trị thứ 2 (1842), tấm bia này khắc lại nội dung văn bia được dựng năm Chính Hòa thứ 10 (1689) đời vua Lê Hy Tông, bia có khắc một số sắc chỉ của các chúa Trịnh phong cho dân xã An Sinh là “dân hộ nhi” và giao cho dân xã An Sinh có trách nhiệm thờ phụng lăng tẩm và “năm vị hoàng đế triều Trần tại điện An Sinh (nay là đền An Sinh) chùa Ngọa Vân và chùa Tư Phúc”, hàng năm được miễn các loại thuế phu dịch. Nội dung chỉ dụ này cũng được khắc lại trong tấm bia Trùng tu Ngọa Vân tự bi ký dựng năm Vĩnh Thịnh thứ 3 đời Lê Dụ Tông (1707), tấm bia này hiện còn tại chùa – am Ngọa Vân. Như vậy, các tư liệu trên cho biết chùa Ngọa Vân dưới thời Lê Trung hưng thuộc xã An Sinh.

 

Sách Trần triều thánh tổ các xứ địa đồ, một cuốn sách do Tiên chỉ xã Đốc Trại là Dương Văn Minh sao lại ngày 19 tháng 10 năm Bảo Đại thứ 17 (1944) có vẽ lược đồ giới hạn chùa Ngọa Vân cho biết chùa này thuộc xã Đốc Trại tổng Mễ Sơn, huyện Đông Triều, phủ Kinh Môn.

Ngày 25 tháng Bảy năm Khải Định thứ 9 (1924) nhân dịp lễ mừng vua Khải Định 40 tuổi,vua Khải Định đã cấp sắc phong thần cho 8 vị hoàng đế nhà Trần làm thành hoàng của xã Đốc Trại trong đó có 7 vị có bài vị thờ ở đình Đốc Trại. Thần tích của làng Đốc Trại cũng giải thích thêm: vua Trần Nhân Tông không có bài vị đặt ở đình Đốc Trại, vì vua đã được thờ ở chùa Ngọa Vân cũng thuộc bản xã (tức thuộc xã Đốc Trại)(10). Theo thần tích xã An Sinh và thần tích xã Đốc Trại thì, lăng tẩm các vua Trần và chùa Ngọa Vân vốn trước thuộc đất xã An Sinh, khi xã Đốc Trại được thành lập, chùa thuộc về xã Đốc Trại. Như vậy, đến thời Nguyễn xã An Sinh thuộc xã Đốc Trại, tổng Mễ Sơn, huyện Đông Triều. Xã Đốc Trại được thành lập trên phần đất lăng tẩm của các vua Trần vốn là một phần của xã An Sinh, khi thành lập xã Đốc Trại thì chùa Ngọa Vân thuộc về địa giới của xã Đốc Trại(11).

 

Khảo các tài liệu địa lý khác như: sách Các trấn tổng xã danh bị lãm; Đồng Khánh dư địa chí, Đông Triều huyện chí, Danh mục các làng xã Bắc Kỳ của Ngô Vi Liễn cho thấy, từ đầu thế kỷ 19 khu vực Thượng Yên Công và Nam Mẫu tức là khu di tích và danh thắng Yên Tử ngày nay vẫn thuộc địa giới huyện Đông Triều nhưng thuộc tổng Bí Giang; An Sinh, Đốc Trại thuộc tổng Mễ Sơn. Với cứ liệu này ta có thể xác định địa giới hành chính của An Sinh và sự biến đổi của nó từ thời Trần đến thời Nguyễn một cách tương đối chính xác.

 

Trong quá trình khảo cổ đã tìm thấy hệ thống di tích, di vật có niên đại từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 20. Trong đó tiêu biểu có thể kể đến:

 

- Dấu tích am Ngọa Vân: Am Ngọa Vân là kiến trúc được xây dựng vào khoảng đầu thế kỷ XX. Kiến trúc có mặt bằng hình chữ nhật, tường gạch, mái uốn vòm, hồi phía Nam mở 1 cửa, trên đề ba chữ Hán Ngọa Vân Am (卧雲庵, tức là Am Ngọa Vân).

 

Các sách: Đại Nam Nhất thống chí; Đông Triều huyện chí; Đông Triều huyện phong thổ ký cho biết am Ngọa Vân thờ tượng Trần Nhân Tông nằm theo thế sử tử nằm. Đặc biệt, trong phần kê khai thần tích làng Đốc Trại do Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp tại Hà Nội tiến hành điều tra năm 1938, Lý trưởng làng Đốc Trại là Thang Thành Trương cho biết “Nhân Tông hoàng đế thì ngài xuất gia đi tu đạo tại chùa Yên Tử, khi ngài về tới núi Ngọa Vân thuộc làng tôi thì Ngài hóa tại chốn Thạch Bàn (bàn đá). Đời trước đã làm chùa để thờ Ngài ở đây, nhưng sau giặc giã đốt phá, chùa bị đổ nát cả, chỉ còn một pho tượng đồng, đã bị cháy một đám ở chân,….Pho tượng ấy tạc hình Ngài nằm ghé trên một tấm đá, tay phải chống lên má, tay trái cầm quyển sách, ở chỗ đùi có khóm trúc mọc, hiện nay vẫn thờ trong cái am nhỏ”(12).

 

Qua các tài liệu kể trên có thể thấy, am Ngọa Vân là kiến trúc được xây lại sau khi kiến trúc trước đó đã bị sập đổ, trong am có thờ tượng

 

Phật Hoàng nhập Niết bàn, bức tượng đó nay không còn, người ta đã làm pho tượng mới để thay thế pho tượng cũ đã mất.

 

- Tháp Phật Hoàng: Cũng tại đây, ngoài dấu tích am Ngọa Vân hiện còn lại hai tòa tháp bằng đá, tháp thứ nhất là Phật Hoàng tháp và tháp thứ hai là Đoan Nghiêm tháp. Phật Hoàng tháp có mặt bằng hình vuông, một bệ, hai tầng, tầng 1 giống như một khám thờ, mặt trước mở 1 cửa, trong lòng đặt bài vị bằng đá xanh, bài vị ghi: “南無苐一祖竹林頭陀浄慧覺皇陳朝苐三仁宗聖帝 調御王佛”;(phiên âm) Nam mô đệ nhất tổ Trúc Lâm đầu đà Tĩnh tuệ giác hoàng Trần triều đệ tam Nhân Tông thánh đế Điều ngự vương Phật”, nghĩa là: Nam mô a di đà Phật. Bài vị thờ Điều ngự vương Phật Đầu đà Tĩnh tuệ giác hoàng, tổ thứ nhất phái Trúc Lâm, vua thứ 3 triều Trần Hoàng đế Nhân Tông.Ngoài ra, trước mặt tháp còn có tấm bia đá dựng năm Minh Mệnh thứ 21, trên bia ghi:“明命弍拾壹年玖月初稑日奉陳朝仁宗皇帝陵勅. (Phiên âm) Minh Mạng nhị thập nhất niên, cửu nguyệt, sơ lục nhật phụng, Trần triều Nhân Tông hoàng đế lăng sắc tạo”. Nghĩa là: ngày mồng 6 tháng 9 năm Minh Mệnh thứ 21 (1840), phụng sắc tạo (bia) lăng hoàng đế Trần Nhân Tông”. Năm 1840, vua Minh Mệnh đã có một sắc chỉ yêu cầu các địa phương có lăng tẩm của vua các triều trước phải dựng bia để ghi nhớ vị trí, đồng thời cấp đất và giao cho dân địa phương trông coi, thờ phụng. Lăng tẩm các vua nhà Trần ở An Sinh đều được dựng bia giống như ở Phật Hoàng tháp(13).

 

Sách Toàn thư và Tam tổ cho biết, sau khi Phật Hoàng Trần Nhân Tông hóa Phật, các đệ tử của ông cho hỏa thiêu ngay tại am Ngọa Vân, một phần xá lỵ được giữ tại Ngọa Vân, số xá lỵ còn lại và ngọc cốt được rước xuống thuyền vua, đưa về kinh đô Thăng Long, sau đó ngọc cốt đưa về an trí tại lăng Quy Đức (còn gọi là Đức lăng) phủ Long Hưng, nay là thôn Tam Đường, xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, Thái Bình. 

Tại Ngọa Vân, Pháp Loa cho xây bảo tháp Phật Hoàng (Phật Hoàng tháp) lưu giữ một phần xá lỵ của Ngài. Tuy nhiên, tháp Phật Hoàng do Pháp Loa xây dựng không còn, tòa tháp Phật Hoàng hiện còn là công trình được xây dựng vào đầu thế kỷ 18. Bia Trùng tu Ngọa Vân tự bi ký cho biết, nhờ sự phát tâm công đức của tín chủ Diệu Tín, một người dạy hát ở cung Thị Nội và bà Dương Thị Trinh, đệ nhất cung tần của cung Thị Nội, nhà sư trụ trì chùa Ngọa Vân khi đó là Thiền sư Đức Hưng, hiệu là Viên Minh đã cho trùng tu chùa Ngọa Vân. Bài vị đặt trong tháp Đoan Nghiên cho biết tháp Đoan Nghiêm chính là tháp mộ của Thiền sư Đức Hưng, so sánh về cấu trúc, hình dáng, đặc biệt là bài vị đặt trong hai tòa tháp cho thấy Đoan Nghiêm Tháp và Phật Hoàng tháp được xây dựng cùng thời với nhau. Từ đó có thể suy đoán rằng, có lẽ đến đầu thế kỷ XVIII tháp Phật Hoàng do đệ nhị tổ Pháp Loa xây dựng đã bị đổ nát nên Thiền sư Đức Hưng đã cho xây dựng lại Phật Hoàng tháp như hiện còn. Đến nay dấu vết tháp Phật Hoàng do Pháp Loa xây dựng cũng chưa được tìm thấy, hi vọng các nghiên cứu khảo cổ học tại đây trong tương lai sẽ làm rõ vấn đề này.

 

Bên cạnh các di tích, tại Ngọa Vân còn tìm thấy khá nhiều loại hình di vật có niên đại từ thời Trần cho đến thời Nguyễn. Đáng lưu ý, tại một số vị trí như chùa Ngọa Vân, am Ngọa Vân, Đô Kiệu còn tìm thấy những viên ngói mũi sen thời Lê Trung hưng có in nổi hai chữ Vân Phong (雲峯). Như trên đã trình bày, Vân Phong là cách viết tắt/ gọi tắt của Ngọa Vân Phong (卧雲峯) và là cách gọi khác của chùa – am Ngọa Vân, chữ in trên các viên ngói tìm được tại đây chính là tên của ngọn núi nơi vua Trần Nhân Tông dựng am và cũng là tên am nơi ông tu luyện - am Ngọa Vân.

Một di vật đặc biệt quan trọng khác ở chùa – am Ngọa Vân là tấm bia Trùng tu Ngọa Vân tự bi ký(重修卧雲寺碑記). Bia này được GS Nguyễn Huệ Chi phát hiện vào những năm 1990, hiện được dựng ở phía trước am Sơn thần. Bia làm bằng đá xanh gồm 2 phần đế và thân, đế bia hình chữ nhật, cao 20cm, dài 129cm, rộng 52cm; thân bia rộng 91cm, cao 125cm, diềm thân trang trí văn mây, trán bia hình bán nguyệt trang trí mặt nguyệt ở gữa, hai bên văn mây có hình rồng. Bia được dựng vào năm Vĩnh Thịnh thứ 3 (1707).

 

Nội dung của Văn bia không chỉ cho biết việc trùng tu chùa Ngọa Vân vào đầu thế kỷ XVIII mà còn biết, chùa Ngọa Vân chính là nơi đức vua Trần Nhân Tông đã đến đây dựng am tu hành. Tính từ khi vua Trần Nhân Tông lên tu ở am Ngọa Vân (năm 1307) đến khi chùa được trùng tu (1707) đúng vừa tròn 400 năm. Hơn nữa, nội dung văn bia còn cho biết thêm chùa Ngọa Vân được xây dựng trên núi Bảo Đài.

 

Núi Bảo Đài không được nói đến trong hành trạng của Phật hoàng Trần Nhân Tông nhưng trong di sản thơ ca của Ngài có bài Đăng Bảo Đài Sơn tức là Lên núi Bảo Đài 

 

“Lên núi Bảo Đài

Đất vắng đài thêm cổ,

Ngày qua xuân chưa nồng.

Gần xa mây núi ngất,

Nắng rợp ngõ hoa thông.

Muôn việc nước trôi nước,

Trăm năm lòng nhủ lòng.

Tựa lan, nâng sáo ngọc,

Đầy ngực ánh trăng trong.” (14)

 

Rõ ràng, qua bia Trùng tu Ngọa Vân tự bi và bài thơ Lên núi Bảo Đài cho biết thêm, Ngọa Vân (卧 雲峯 - Ngọa Vân Phong) là một đỉnh núi trên núi Bảo Đài. Đồng thời có thể suy đoán rằng núi Bảo Đài chính là núi Vây Rồng như cách gọi hiện nay.

 

Với các nguồn tư liệu khác nhau, đặc biệt các tư liệu khảo cổ học nêu trên đã cho phép khẳng định am Ngọa Vân được xây dựng trên đỉnh Ngọa Vân núi Bảo Đài trên dãy Yên Tử, nay gọi là núi Vây Rồng thuộc địa bàn hai xã An Sinh và Bình Khê huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Điều này đã không chỉ phủ nhận quan điểm cho rằng Ngọa Vân là một am nhỏ nằm trong Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử thuộc địa bàn hai phường Phương Đông và Thượng Yên Công ngày nay mà còn cho thấy không gian rộng lớn của Yên Tử xưa. Việc phát hiện và khẳng định được vị trí của Ngọa Vân tại núi Bảo Đài thuộc địa phận Đông Triều đã đồng thời giải mã và kết nối được Hoa Yên với Thanh Mai, nơi đệ nhị tổ Pháp Loa tu hành và chọn lựa làm nơi an trí nhục thể của mình thành một khu vực khép kín từ Hoa Yên - Long Động (chùa Lân) qua Ngọa Vân, Thanh Mai đến Côn Sơn thành một không gian liền mạch của Trúc Lâm Yên Tử. Và đó cũng chính là núi Yên Tử theo quan niệm của Thiền phái Trúc Lâm.

 

3. Quy mô của Ngọa Vân

 

Lâu nay nhiều người cho rằng Ngọa Vân chỉ là một am nhỏ nơi vua Trần Nhân Tông tu hành giai đoạn cuối đời, điều đó đúng nhưng chưa đủ.

 

Phan Huy Chú trong sách Lịch triều hiến chương loại chí khi đánh giá về vua Trần Anh Tông đã viết “Vua khéo nối nghiệp trước, thương dân, lập chích, đời được yên vui, chính trị tốt đẹp, chế độ rực rỡ, đáng khen. Nhưng vua họp thầy tu ở núi Yên Tử, làm nhọc sức dân ở am Ngọa Vân”(15). Qua đánh giá này có thể thấy, Ngọa Vân đã được triều đình mà trực tiếp là vua Trần Anh Tông cho xây dựng rất lớn.

Các cuộc điều tra, nghiên cứu tại khu vực Ngọa Vân đã phát hiện được 15 điểm có dấu vết nền móng kiến trúc chùa, am, tháp có niên đại từ thời Trần đến đầu thế kỷ 20, các di tích này tập trung thành 4 khu gồm Ngọa Vân, Thông Đàn – Đô Kiệu, Đá Chồng và Ba Bậc, trong đó Ngọa Vân được xây dựng trên núi Bảo Đài là trung tâm (xem bảng thống kê).

 

Số điểm di tích chắc chắn sẽ không chỉ dừng ở con số 15 vì còn nhiều khu vực hiện chưa có điều kiện để khảo sát kỹ. Trong số 15 điểm di tích có 10/15 điểm đã tìm thấy dấu tích của thời Trần; 14/15 điểm có dấu vết của thời Lê (chủ yếu là thời Lê Trung hưng) và 3/15 điểm có dấu vết của thời Nguyễn.

 

Như vậy, nhìn vào bảng thống kê trên chúng ta có thể thấy, các bằng chứng khảo cổ đã chứng minh và làm rõ rằng, từ thời Trần Ngọa Vân đã là một quần thể kiến trúc lớn mà ít nhất cho đến nay đã xác định được 10 vị trí. Với các bằng chứng trên có thể nói rằng sau khi Phật Hoàng Trần Nhân Tông hóa Phật, Ngọa Vân đã được nhà Trần mà trực tiếp là vua Trần Anh Tông cho mở mang xây dựng thành một quần thể chùa tháp rộng lớn trên khu vực núi Bảo Đài.

 

Với vai trò là thánh địa của Trúc Lâm Yên Tử, Ngọa Vân đã được xây dựng và mở rộng thành một quần thể chùa tháp, trở thành trung tâm mới của Phật giáo thời Trần. Cùng với sự phát triển và mở rộng Ngọa Vân, năm 1317 Pháp Loa cho xây dựng tự viện Quỳnh Lâm thành trung tâm đào tạo tăng tài lớn nhất của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, cùng với đó là hàng loạt các am, tháp và chùa lớn tại An Sinh được xây dựng như Hồ Thiên, Bác Mã,… được xây dựng đã biến An Sinh đến đời Trần Dụ Tông đổi thành Đông Triều) là “thủ đô” của Phật giáo Đại Việt thời Trần.

 

Thời Lê, đặc biệt là thời Lê Trung Hưng, Ngọa Vân được mở rộng, trong đó Khu Đá Chồng hoàn toàn được mở rộng vào giai đoạn này. Đá Chồng là một khu lớn với một tổ hợp công trình chùa tháp lớn với hồ nước phía trước, vườn tháp, khu chính điện và khu tịnh thất ở phía sau. Bên cạnh các công trình kiến trúc thì tại đây cũng đã tìm thấy dấu vết của sân vườn cho thấy đây là một tổ hợp kiến trúc, cảnh quan rất lớn trong quần thể Ngọa Vân dưới thời Lê Trung Hưng.

 

Thời Nguyễn, mặc dù dấu vết của giai đoạn này không nhiều 03/15 điểm. Theo kết quả điều tra, phỏng vấn người dân thì dưới thời Nguyễn, hầu hết các kiến trúc chùa (chủ yếu kiến trúc khung gỗ) xây dựng dưới thời Lê Trung Hưng đã bị đổ nát hoàn toàn; Một số tháp đá ở khu Đá Chồng, Ba Bậc, Thông Đàn vẫn còn tồn tại đến khoảng thập niên 70 của thế kỷ 20 mới bị đổ sập do nạn đào phá tìm kiếm của cải. Như vậy, có thể nói đến thời Nguyễn về cơ bản Ngọa Vân đã trở nên hoang phế. Việc trùng tu chỉ diễn ra ở khu vực chùa, am trong khu Ngọa Vân tức là khu Trung tâm của Ngọa Vân mà thôi. Việc xây dựng ở giai đoạn này cũng chỉ diễn ra trên quy mô nhỏ, các công trình xây mới thậm chí đã làm biến đổi chức năng của một số khu vực trong quần thể Ngọa Vân. Cụ thể, vị trí nơi Trúc Lâm đại sĩ dựng am tu hành và hóa Phật được vua Trần Anh Tông và Pháp Loa cho xây dựng thành khu am, tháp, đến thời Lê Trung hưng được duy trì và mở rộng thành khu am tháp và thờ Tam tổ của Trúc Lâm thì đến thời Nguyễn nơi thờ tam tổ được chuyển thành chùa Ngọa Vân; vị trí chùa Ngọa Vân xây dựng một kiến trúc nhỏ làm nơi thờ mẫu, vv…

 

4. Giá trị của Ngọa Vân và các vấn đề cần tiếp tục làm rõ

 

Với vai trò là Thánh địa Phật giáo, Ngọa Vân gắn liền với sự thăng trầm của lịch sử Phật giáo Việt Nam. Sau khi Phật Hoàng mất, Ngọa Vân đã được xây dựng, mở rộng thành một quần thể chùa tháp nơi có tháp tổ (Phật Hoàng tháp) và hàng loạt các chùa am khác. Sau thời gian Phật giáo suy vong, cuối thế kỷ XVII , đầu thế kỷ XVIII cùng với sự phục hưng của Phật giáo, Ngọa Vân đã được trùng tu, mở rộng thành một quần thể rộng lớn với nhiều công trình chùa tháp được xây mới. Các giá trị to lớn của quần thể chùa tháp Ngọa Vân và vị trí của nó trong lịch sử Phật giáo Việt Nam đã được khẳng định. Tuy nhiên vẫn cần được tiếp tục làm rõ tầm mức của nó ở cả chiều rộng lẫn chiều sâu:

 

-Tiếp tục nghiên cứu và làm rõ hơn nữa vị trí và vai trò của quần thể di tích Ngọa Vân trong lịch sử phát triển của Thiền phái Trúc Lâm nói riêng cũng như lịch sử phát triển của Phật giáo Việt Nam nói chung.

 

- Tại sao Ngọa Vân mới là điểm kết thúc hành trình tu hành, thành Phật của Phật Hoàng Trần Nhân Tông chứ không phải là Yên Tử? Việc lựa chọn Ngọa Vân là nơi kết thúc hành trình tu hành thành Phật của Phật Hoàng có ý nghĩa như thế nào trong việc phát triển và mở rộng của Trúc Lâm đến Thanh Mai, Côn Sơn sau này? Cách ứng xử đó của Phật Hoàng muốn nói với chúng ta điều gì? Hiểu rõ được vấn đề này, chắc hẳn sẽ cho chúng ta hiểu đầy đủ hơn về tư tưởng, nhân cách và tầm vóc của Ngài.

 

ThS.NguyễnVăn Anh, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tạp chí Nghiên cứu Phật học số tháng 3/2017

------------------------------------------------------------

 

CHÚ THÍCH:

1.Đại Việt sử ký toàn thư (2006). Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, tr.546

2. Tam tổ thực lục (1995). Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam,tr.19; tr.34.

3. Tam tổ thực lục. sđd, tr.40.

4. Tam tổ thực lục. sđd, tr.33-34.

5. Đại Việt sử ký toàn thư. Sđd, tr.570.

6. Tam tổ thực lục. sđd, tr.33.

7. Nguyễn Văn Anh (2008). Am Ngọa Vân qua bằng chứng khảo cổ học. T/c Nghiên cứu Phật học số 5/2008. tr28-35.

8. Tại Hội thảo “Đông Triều với lịch sử nhà Trần” do Ban quản lý các di tích trọng điểm tỉnh Quảng Ninh, UBND huyện Đông Triều tổ chức vào tháng 10/2008 tại Đông Triều. Chúng tôi đã trình bày về vấn đề này và nhận được sự chia sẻ của các đại biểu.

9. Tam tổ thực lục. sđd, tr.31.

10.Thần tích xã Đốc Trại, tổng Mễ Sơn, huyện Đông Triều. Hồ sơ số TT-TSFQ4018/IX, 18. Viện Thông tin KHXH.

11. Nguyễn Văn Anh (2011). Đền Thái, đình Đốc Trại và sự hình thành các Trại ở An Sinh. T/c Khảo cổ học, số 5/2011, tr.48-52.

12. Thần tích xã Đốc Trại, tổng Mễ Sơn, huyện Đông Triều. Tư liệu đã dẫn.

13. Nguyễn Văn Anh (2013). Nơi lưu giữ xá lỵ của Phật Hoàng Trần Nhân Tông. T/c Nghiên cứu Phật học số 2/2013 . tr12-13.

14. Bản dịch của Ngô Tất Tố.

15. Phan Huy Chú (2006). Lịch triều hiến chương loại chí. Nxb Giáo Dục, Hà Nội, tr.233.

____________________

phatgiao.org.vn

NỐT RUỒI, ĐIỀM BÁO NGÔI THIÊN TỬ CỦA CÁC ÔNG VUA VIỆT

Ngay từ lúc chào đời, Lý Thái Tông đã mang tướng lạ, sau gáy có đến 7 cái nốt ruồi tụ lại như chòm sao thất tinh (sao Bắc Đẩu), được xem là "điềm báo xứng đáng nối ngôi thiên tử".

 

 

Lê Thái Tổ: Miệng rộng, mũi cao và bả vai có 7 nốt ruồi

 

Về lý lịch xuất thân của Lê Thái Tổ (Lê Lợi), sách Đại Việt thông sử chép: "Vua sinh giờ Tí (tức từ khoảng 23h đến 1h sáng) ngày mùng 6 tháng 8 năm Ất Sửu (1385), niên hiệu Xương Phù thứ 9 nhà Trần, tại làng Chủ Sơn, huyện Lôi Dương.

 

Nguyên trước, xứ Du Sơn, thôn Như Áng Hậu thuộc làng này (Chủ Sơn), có một cây quế, dưới cây quế này có con hùm xám thường xuất hiện, nhưng nó hiền lành, vẫn thường thân cận với người mà chưa từng hại ai.

 

Từ khi Vua ra đời thì không thấy con hùm ấy đâu nữa. Người ta cho là một sự lạ. Ngày Vua ra đời thì trong nhà có hào quang đô chiếu sáng rực và mùi thơm ngào ngạt khắp làng.

 

Khi lớn lên thì thông minh dũng lược, độ lượng hơn người, vẻ người tươi đẹp hùng vĩ, mắt sáng, miệng rộng, sống mũi cao, xương mi mắt gồ lên, bả vai bên trái có 7 nốt ruồi, bước đi như rồng như hổ, tiếng nói vang vang như tiếng chuông. Các bậc thức giả biết ngay là một người phi thường".

 

Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế ở Đông Kinh, mở đầu triều Lê sơ,

triều đại lâu dài nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam.

 

Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế ở Đông Kinh, mở đầu triều Lê sơ, triều đại lâu dài nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam.

 

Lê Lợi sinh ra trong một gia đình "đời đời làm quân trưởng một phương". Năm ông 21 tuổi cũng là năm nhà Minh đem 80 vạn quân sang xâm lược nước Việt. Cuộc kháng chiến chống Minh của vương triều Hồ thất bại, nước Đại Việt rơi vào ách thống trị tàn bạo của giặc Minh. Trước cảnh đất nước bị kẻ thù giày xéo, tàn phá, Lê Lợi đã nung nấu một quyết tâm đánh đuổi chúng ra khỏi bờ cõi.

 

Đầu năm 1416, tại núi rừng Lam Sơn trên đất Thanh Hóa, Lê Lợi cùng với 18 người bạn thân thiết, đồng tâm cứu nước đã làm lễ thề đánh giặc giữ yên quê hương. Đó là hội Thề Lũng Nhai đã đi vào sử sách. Rồi sau một thời gian chuẩn bị chín muồi, đầu năm 1418, Lê Lợi xưng là Bình Định Vương, truyền hịch đi khắp nơi, kêu gọi nhân dân đứng lên đánh giặc cứu nước. Lê Lợi là linh hồn, là lãnh tụ tối cao của cuộc khởi nghĩa ấy.

 

Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế ở Đông Kinh, mở đầu triều Lê sơ, triều đại lâu dài nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Sách Đại Việt sử ký toàn thư viết: "Mặc dù ở ngôi ngắn ngủi được có 6 năm nhưng những việc làm của ông vua này có ý nghĩa đặt nền móng vững chắc cho cả một triều đại và nên độc lập phồn vinh của quốc gia Đại Việt. Việc làm đầu tiên của Lê Thái Tổ là bàn định luật lệnh. Và nhờ cố gắng đó, hai năm sau (1430), Lê Thái Tổ đă cho ban hành những điều luật đầu tiên của triều đại mình".

 

Lý Thái Tông: Sau gáy có 7 nốt ruồi tụ lại như chòm sao Bắc Đẩu

 

Lý Thái Tông tên húy Phật Mã, sinh năm Canh Tý (1000) ở chùa Duyên Ninh thuộc cố đô Hoa Lư. Ông là con trai trưởng của Vua Lý Thái Tổ và bà Lê Thị Phất Ngân, con gái Vua Lê Đại Hành (Lê Hoàn) và Dương Vân Nga.

 

Tượng Lý Thái Tông tại đền Lý Bát Đế


Tương truyền, ngay từ thuở lọt lòng, Lý Phật Mã đã có những dấu hiệu lạ lùng. Ông có tướng lạ, sau gáy có đến 7 cái nốt ruồi tụ lại như chòm sao thất tinh (sao Bắc Đẩu).

 

Lúc bé, chơi đùa với bọn trẻ trong cung, ông thường bắt chúng dàn hàng tả hữu trước sau để làm quân hầu hộ vệ cho mình. Ông cho một vị đạo sĩ cái áo. Đạo sĩ treo cái áo trong quán, nửa đêm thấy rồng vàng hiện ra, khiến người ta duy tâm đây là lời "sấm truyền" cho một đế vương.

 

Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn) rất chú ý tới Phật Mã và có ý nuôi dạy ông kế vị. Năm Nhâm Tý (1012), lúc mới 13 tuổi, Lý Phật Mã đã được lập làm Đông cung Thái tử, rồi được phong làm Khai Thiện Vương, đồng thời nhiều lần được cử làm tướng cầm quân đi dẹp loạn và lập được công lớn. Vì thế, triều thần cũng như thần dân lúc bấy giờ rất tôn kính Phật Mã. Năm 1028, vua cha mất, Lý Phật Mã lên ngôi.

 

Sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư nhận xét về Lý Thái Tông: “Vua là người trầm mặc, cơ trí, biết trước mọi việc, giống như Hán Quang Vũ đánh đâu được đấy, công tích sánh với Đường Thái Tông". Ông là vị vua giỏi thời nhà Lý. Hơn 30 năm chinh chiến và trị quốc, ông đã củng cố nền cai trị của nhà Lý, chống lại những nguy cơ chia cắt, bạo loạn, xâm lấn, thu phục lòng dân, khiến cho nước Đại Cồ Việt trở nên vững mạnh.

 

Trần Nhân Tông: Nốt ruồi đen gánh vác việc nước

 

Trần Nhân Tông tên thật là Trần Khâm, sinh ngày 11/11 năm Mậu Ngọ (1258), là con trưởng của Vua Trần Thánh Tông và Nguyên Thánh Hoàng thái hậu. Khi mới sinh toàn thân màu da như vàng ròng - sáng chói. Vua cha đặt tên là Phật Kim. Sách Thánh Đăng ngữ lục chép: "Đến khi vua ra đời, màu da như vàng ròng. Thánh Tông đặt tên là Kim Phật...”.

 

Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi: "Được tinh anh của Thánh nhân, đạo mạo thuần túy, nhan sắc như vàng ròng, thể chất hoàn toàn, thần khí tươi sáng... Vai bên tả có một nốt ruồi đen, các nhà tướng số cho rằng: ngày sau sẽ gánh vác việc lớn".

 

Ảnh thờ Vua Trần Nhân Tông


Trần Khâm được vua cha Trần Thánh Tông nhường ngôi vào ngày 22/10 năm Mậu Dần (1278). Ông ở ngôi 14 năm, nhường ngôi 5 năm, xuất gia 8 năm, thọ 51 tuổi, qua đời ở am Ngọa Vân núi Yên Tử, đưa về táng ở Đức lăng (nay thuộc tỉnh Thái Bình).

 

Các sử gia thời Hậu Lê đã viết về Trần Nhân Tông: "Vua nhân từ hòa nhã, cố kết lòng dân, sự nghiệp trùng hưng sáng ngời thuở trước, thực là bậc vua hiền của nhà Trần. Song để tâm nơi kinh Phật, tuy nói là để siêu thoát, nhưng đó không phải là đạo trung dung của thánh nhân".

___________________

danviet.vn

TƯ TƯỞNG THIỀN CỦA PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG

 

I/ DẪN NHẬP

 

Lâu nay đã có nhiều vị nghiên cứu về Phật Hoàng – Trần Nhân Tông và đã mở ra nhiều điều lý thú, làm sáng tỏ nhiều điều không ngờ. Tuy nhiên, đào sâu về tư tưởng Thiền của Ngài thì cũng còn hạn chế. Song đã gọi là Phật Hoàng, là Đệ nhất Tổ Thiền phái Trúc Lâm thì tư tưởng Thiền của Ngài là điểm trọng yếu, là mạch sống của Ngài, là chỗ lưu truyền lâu dài về sau, cần được soi sáng rõ ràng. Nhưng điều này đúng thực phải người có thực hành, có sống được, có thể nghiệm trong đó mới cảm sâu, nhận sâu, như phải thực sự ăn thì mới cảm nhận thực tế món ăn đó, biết kỹ mùi vị thực của món ăn hơn là chỉ nghiên cứu qua trung gian. Cho nên, hôm nay chúng tôi với phần chuyên môn của mình, xin được đóng góp một phần về tư tưởng Thiền của Ngài, nhằm góp thêm cho cái nhìn về Ngài được toàn diện hơn.

 

II/ TINH THẦN PHẢN QUAN TỰ KỶ, ẢNH HƯỞNG TỪ THƯỢNG SĨ TUỆ TRUNG

 

Khi còn là thái tử, Ngài đã được vua Trần Thánh Tông gửi đến học với Thượng sĩ Tuệ Trung, nên được thấm sâu tư tưởng Thiền của Thượng sĩ. Ngài thuật lại: từng hỏi Thượng sĩ: "Thế nào là tông chỉ của việc bổn phận?" Thượng sĩ đáp:

 

khác mà được". Ngài tiếp nhận sâu yếu chỉ đó! Cho đến sau này xuất gia tu hành, khai đường thuyết pháp, đều không đi lệch ra ngoài yếu chỉ đó. Bởi đó cũng chính là căn bản giáo lý một đời của Đức Phật, là ý chỉ của Thiền tông. Phật ra đời nói pháp giáo hóa chúng sanh có đến tám mươi bốn ngàn pháp môn, nhưng cốt yếu không ngoài đánh thức cho người soi sáng lại chính mình, rõ lẽ thật nơi chính mình đã tự mê. Các Thiền sư ra đời cũng thế, đều nhắm đến đánh thức cho người thức tỉnh trở lại việc lớn nơi chính mình, thôi chạy tìm kiếm bên ngoài. Nhà thiền có câu: "Từ cửa vào chẳng phải của báu trong nhà" là của báu trong nhà phải tự trong đó mà lấy ra dùng, còn từ cửa vào là thuộc về khách, là của người khác.

 

Có vị tăng hỏi thiền sư Trí Cự hiệu Khương Tuệ ở Tào Sơn, Phủ Châu:

 

- Người xưa nêu bày người bên kia, học nhơn làm sao thể nhận?

 

Sư đáp:

 

- Lùi bước về chính mình, muôn người không mất một.

 

Nêu bày người bên kia, tức chỉ cho "lẽ thật xưa nay", là chân lý tuyệt đối mà người người đang mê, nhưng mỗi người đang sống trong tương đối thì làm sao đây?

 

Sư đáp rõ, chỉ cần lui bước về chính mình, đó là yếu chỉ bậc nhất, khéo được như thế thì muôn người không mất một, là quyết định thành tựu kết quả.

 

Chính thấm nhuần tư tưởng đó, trong buổi giảng tại viện Kỳ Lân ngày mùng 09 tháng giêng năm Mậu Ngọ(1306), Ngài đã nói: "Ngày tháng dễ trôi qua, mạng người không chờ đợi, sao cam ăn cháo, ăn cơm mà chẳng rõ việc bát, việc muỗng (thìa)"!

 

Đó là Ngài muốn đánh thức cho người học phải soi sáng lại việc lớn nơi chính mình, việc mình đang sống hàng ngày mà tự mê. Ăn cháo, ăn cơm mà cứ lo nhớ theo cháo, cơm, ngon dỡ..., quên mất lẽ thật đang hằng hữu, cái gì đang cầm bát, cầm muỗng, cầm thìa đó? Cần soi sáng lại chỗ này, để sáng tỏ việc lớn nơi chính mình, đó là tông chỉ Thiền mà Ngài muốn khai thị.

 

III/ LẤY TÂM LÀM GỐC

 

Qua bài Phú Cư Trần Lạc Đạo, đây là bài phú biểu lộ tư tưởng Thiền của Ngài rất rõ, bằng chữ Nôm, là ngôn ngữ bình thường dùng hằng ngày. Trong đó Ngài bảo: "Miễn được lòng rồi, chẳng còn phép khác". Được lòng rồi, tức nhận rõ được bản tâm mình, là thành tựu công phu, không còn pháp nào khác nữa. Vì bao nhiêu pháp môn cũng không ngoài làm sáng tỏ bản tâm là chủ yếu nhưng cách dùng có sai biệt tùy người.

 

Trong bài phú, Ngài cũng có câu:

 

"Tịnh độ là lòng trong sạch,

chớ còn ngờ hỏi đến Tây phương.

Di Đà là tánh sáng soi,

mựa phải nhọc tìm về Cực lạc."

 

Đó là Ngài muốn đánh thức người xoay trở lại tự tâm, tự tánh để sáng tỏ tự tâm Tịnh độ, tự tánh Di Đà, cũng là lấy Tâm làm Gốc.

 

Trong lời vấn đáp ở buổi khai đường tại chùa Sùng Nghiêm, núi Chí Linh, có vị tăng hỏi:

 

- Đại tôn đức tu hành khổ nhọc, đã trải qua nhiều năm, đối với sáu thông của Phật, Ngài đã được mấy thông?

 

Ngài đáp:

 

- Cũng được sáu thông.

 

- Năm thông kia xin gác lại, thế nào là tha tâm thông?

 

- Đầy cả các cõi nước, có bao nhiêu thứ tâm, Như Lai đều biết, Như Lai đều thấy.

 

Tức dẫn trong kinh Kim Cang, Phật nói tất cả chúng sanh ở trong hằng sa cõi nước có bao nhiêu thứ tâm, Như Lai đều biết hết, thấy hết, tức đều không phải bản tâm.

 

Đây là Sơ Tổ Trúc Lâm nhấn mạnh cần sáng tỏ trở lại bản tâm là chính, tha tâm thông không giải thích theo thần thông bên ngoài. Đó là đánh thức cho người sống trở về Gốc, là căn bản của Thiền tông.

 

IV/ KIẾN SẮC MINH TÂM

 

Trong bài Phú Cư Trần Lạc Đạo, Ngài có biểu lộ:

 

"Chơi nước biếc, ẩn non xanh,

nhân gian có nhiều người thích ý.

Biết đào hồng, hay liễu lục,

thiên hạ năng mấy chủ tri âm."

 

Thấy đào hồng biết đào hồng, thấy liễu lục biết liễu lục, nhưng thiên hạ có mấy người sáng tỏ được "Tâm thiền" ngay lúc ấy, hay chỉ có nhớ đào hồng, liễu lục thôi ? Đó là ngay trong trần cảnh mà vượt qua trần cảnh, không bị trần cảnh mê hoặc. Tâm thiền của Ngài sáng ngời ngay trong cuộc sống hiện tại, rất thực tế, không xa vời ! Người có chứng nghiệm qua liền tự cảm thông ngay.

 

Rồi bài thơ Xuân Hiểu, Ngài đã thổ lộ:

 

Thụy khởi khải song phi

Bất tri xuân dĩ qui

Nhất song bạch hồ điệp

Phách phách sấn hoa phi.

 

Dịch:

 

Ngủ dậy mở cửa sổ.

Ngờ đâu xuân đã về!

Một đôi bươm bướm trắng

Nhịp cánh nhắm hoa bay.

 

Ngủ dậy, tỉnh giấc mê, mở cửa sổ nào? là cửa con mắt này đây!

 

Ngờ đâu xuân đã về! xuân gì? tức là xuân giác ngộ, ánh sáng giác ngộ đã bừng dậy.

 

Thì, kìa! ngay trước mắt, một đôi bươm bướm trắng nhịp cánh nhẹ nhàng nhắm đến cánh hoa bay tới.

 

Là gợi nhắc đến con mắt ai kia, là tâm Thiền biểu lộ ra đó! nhưng nếu nhìn theo tâm tình thế gian, đây chỉ là một bài thơ tả cảnh. Cho nên, đọc thơ của Thiền sư, phải đọc bằng con mắt Thiền sư mới cảm thông ý thơ sâu xa trong đó.

 

V/ DỨT TÂM SUY NGHĨ ĐỐI ĐÃI.

 

Có vị tăng hỏi Điều Ngự:

 

- Thế nào là pháp thân thanh tịnh?

 

Ngài đáp:

 

- Chén mạ vàng đựng phân sư tử

Người đen đúa vác bó hương thơm.

 

Âm:

 

(Kim tạc lạc trung sư tử thỉ

Thiết côn lôn thượng chá cô ban).

 

Pháp thân thanh tịnh là chỉ cho tâm thể vô tướng, lìa mọi thứ đối đãi, là nguồn gốc chân thật của tất cả chúng sanh. Muốn nhận được pháp thân phải lìa niệm phân biệt đối đãi.

 

Trong câu đáp của Điều Ngự: chén mạ vàng là quí, là sạch; phân sư tử là tiện, là nhơ. Hương thơm là sạch, là tốt; người đen đúa là nhơ, là xấu. Ngài muốn chỉ thẳng tâm thể luôn hiện tiền, dứt bặt niệm phân biệt nhơ sạch, tốt xấu, chính đó là pháp thân thanh tịnh, không phải giải thích dài dòng. Bởi Tâm thiền của Thiền sư là ở trước khi động niệm, trước khi có ngôn ngữ, do đó nó vượt lên trên tâm suy nghĩ, phân biệt đối đãi, là thuộc tâm sanh diệt.

 

Có vị tăng khác hỏi Ngài:

 

- Câu có câu không như dây bìm nương theo cây, khi ấy thế nào?

 

Ngài bèn nói bài kệ, lược dẫn:

 

Câu có câu không

Bìm khô cây ngã

Mấy kẻ nạp tăng

U đầu sứt trán.

***

Câu có câu không

Tự xưa tự nay

Chấp tay quên trăng

Đất bằng chết chìm

 

Âm:

 

(Hữu cú vô cú

Đằng khô thọ đảo.

Kỷ cá nạp tăng,

Chàng đầu khái não.

***

Hữu cú vô cú,

Tự cổ tự kim

Chấp chỉ vong nguyệt

Bình địa lục trầm).

 

Đây là gốc từ câu chuyện Sơ Sơn đến hỏi Qui Sơn – Đại An:

 

- Được nghe Thầy nói "Câu có câu không như bìm leo cây", chợt khi cây ngã, bìm khô thế nào?

 

Đại An cười to ha hả. Sơ Sơn thưa:

 

- Con từ bốn ngàn dặm mang khăn gói đến đây, sao Hòa Thượng lại đùa như thế?

 

Đại An bảo:

 

- Thị giả! Hãy lấy tiền trả tiền giày cỏ cho Thượng tọa này!

 

Sư lại dặn:

 

- Về sau có con rồng một mắt sẽ vì ông nói phá.

 

Sau này, Sơ Sơn đến chỗ Minh Chiêu thuật lại việc trên. Minh Chiêu bảo:

 

- Qui Sơn đáng gọi là đầu chánh đuôi chánh, chỉ là chẳng gặp tri âm.

 

Sơ Sơn hỏi:

 

- Cây ngã bìm khô, câu về đâu?

 

Minh Chiêu đáp:

 

- Nụ cười Qui Sơn càng thêm tươi.

 

Sơ Sơn tỉnh ngộ, nói:

 

- Té ra trong nụ cười Qui Sơn có đao.

 

Minh Chiêu vốn chột một mắt, đúng như lời dự ký của Đại An ở trước.

 

Ông tăng dẫn lại ý đó để hỏi Điều Ngự. Điều Ngự chỉ ra, câu có câu không là lời nói hai bên, giống như dây sắn, dây bìm nương nơi cây mà leo lên cao, tự nó không có chỗ tựa. Chợt khi cây ngã, đổ xuống thì dây bìm hết chỗ tựa, bị héo khô theo, lúc đó mình nương vào đâu để hiểu? Biết bao nhiêu kẻ nạp tăng không vượt qua được cửa đối đãi này, bị u đầu sứt trán vì nó.Vừa rơi vào có không là trái xa tâm Thiền, là rơi bên ngoài cửa Thiền.

 

VI/ TÂM TRUYỀN TÂM – ĐẠT Ý QUÊN LỜI.

 

Buổi thượng đường ở chùa Sùng Nghiêm, mở đầu pháp hội, Ngài niêm hương báo ân xong bước lên tòa. Vị Thượng thủ bạch chùy, v.v... rồi Ngài nói:

 

- Đức Phật Thích Ca Văn vì một đại sự mà xuất hiện giữa cõi đời này, suốt 49 năm chuyển động đôi môi mà chưa từng nói một lời. Nay ta vì các ngươi lên ngồi tòa này, biết nói chuyện gì đây?

 

Thượng đường là sắp nói pháp, nhưng Ngài chặn đầu trước, khiến người vượt qua ngôn ngữ nói năng. Bởi chân lý hiện thực vốn không ở trên ngôn ngữ văn tự chết đó, mà ở ngay trong tâm người. Đóng khung trong ngôn ngữ là thành chân lý chết, thành Thiền chết.

 

Đây là Ngài muốn đem tâm mình truyền thẳng vào tâm người, khiến người thầm cảm thông nhau trực tiếp vượt qua ngôn ngữ.

 

Thiền sư Pháp Loa hỏi:

 

- Nói huyền nói diệu, luận cổ bàn kim đều thuộc thứ nói đùa, một câu không kẹt trong ngôn ngữ, làm sao nói được?

 

Ngài đáp:

 

- Gió đông dìu dịu ngàn hoa nở

Lách cách vành xe một tiếng vang.

 

Pháp Loa toan mở miệng nói, Ngài liền bảo:

 

- Chim hót máu tuôn vẫn vô dụng

Non tây như trước phủ non chiều.

 

Hỏi một câu không kẹt trong ngôn ngữ thì nói thế nào? Ngài trả lời khéo, nhằm đánh thức cái đang thấy, nghe hiện hữu đó, đâu thuộc trong ngôn ngữ luận bàn.

 

Thiền Sư Pháp Loa định nói tiếp, Ngài liền chặn ngay. Đã nói hết tình rồi, như chim hót đến máu tuôn ra, ông còn chưa nhận, lại muốn nói gì nữa?

 

Thiền sư Pháp Loa hỏi thêm:

 

- Khi muôn dặm mây tạnh thì như thế nào?

 

Ngài đáp:

 

- Mưa tầm tã.

 

Hỏi:

 

- Khi muôn dặm mây che kín thì như thế nào?

 

Đáp:

 

- Trăng vằng vặc.

 

Đây làThiền ngữ, ý vốn ở ngoài lời. Nói mây tạnh không phải hiểu theo mây tạnh; nói mây che kín không thể hiểu theo mây che kín. Trong đây ngầm chỉ mây mê mờ che bầu trời tâm.

 

Vậy, đã là mây tạnh, tức bầu trời tâm trong sáng không có mây mờ, thì tại sao còn khởi niệm hỏi? Khởi niệm tức tâm động, là mây che, là mưa tầm tã rồi.

 

Còn muôn dặm mây che kín bầu trời tâm, thì còn cái gì biết hỏi đó? Còn biết hỏi tức tâm đã lộ ra rồi, đâu thể che mất được!

 

Đó chính là cách tâm truyền tâm của Thiền tông, khiến người học thấu qua ngôn ngữ, đạt ý quên lời, không kẹt trên chữ nghĩa.

 

Tuy nhiên chỗ này phải người thực tu, thực ngộ mới tự cảm thông nhau, trái lại phân tích trên chữ nghĩa thì khó thấu được, do đó có khi hiểu lầm người xưa thành xuyên tạc.

 

VII/ TÓM KẾT

 

Trên đây là tạm gợi ý về tư tưởng Thiền của Phật Hoàng – Trần Nhân Tông, vị Sơ Tổ Thiền phái Trúc Lâm. Tư tưởng Thiền của Ngài rõ ràng là Thiền Tông hay Tổ Sư Thiền – tức Thiền "Trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật", lấy tâm làm gốc, thành Phật ngay trong tự tâm, nên ngộ tâm là điều thiết yếu.

 

Người tu Thiền này mà chưa tỏ ngộ được tâm, là còn ở ngoài cửa Tổ. Song tâm đó là tâm gì? Chính là bản tâm xưa nay, là nguồn tâm chân thật trước khi niệm khởi, trước khi chia thành nhị nguyên, không thể lầm lộn với tâm sanh diệt đối đãi. Do đó, muốn thấy được cốt tủy tư tưởng Thiền của Ngài, cần tiến thêm một bước, vượt lên tâm hiểu biết bằng tri thức tích lũy có giới hạn này, hay nương tri thức này mà tiến đến chỗ phi tri thức. Và đó mới chính là ý nghĩa đích thực đúng với tên Phật Hoàng, tên Tổ của một Thiền phái.

 

Phật Hoàng là vua Phật, bậc vua giác ngộ, vậy vua giác ngộ đó ở đâu? Không thể là ở trong số chữ nghĩa nghiên cứu trên giấy mực, đó là chữ nghĩa chết. Và Tổ của Thiền, thì gì là Tổ? Tổ đó không thể là Tổ của những định nghĩa trong tri thức hiểu biết bằng suy luận, mà phải là trực giác trên bản tâm xưa nay. Đây mới đúng là giá trị bất diệt trong con người thực Phật Hoàng. Thiền phái Trúc Lâm ra đời là ra đời từ trong đó! Còn có người tỏ ngộ được lẽ thật này là Thiền phái còn bền vững lâu dài ở thế gian, chính đó là mạch sống Thiền tông Việt Nam còn chảy mãi không dứt.

___________________

Nguồn: thuongchieu.net

PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG LINH HỒN CỦA THIỀN PHÁI TRÚC LÂM

Trần Nhân Tông một tính cách lớn, một tâm hồn lớn đối với dân tộc Việt Nam, thế nhưng với Ngài đó chỉ là một góc đời rất nhỏ quanh quẩn chốn triều ca. Có gì vui. Ở nơi con người ấy, chí xuất trần cao gấp vạn bội và con đường hướng thượng vẫn là quay gót trở về với chính mình.


 

Vì thế, Trần triều nước Việt, dân tộc nước Việt có lưu luyến bao nhiêu vẫn không giữ được bước chân của ngài, một Thiền sư Việt Nam chỉ muốn làm Tăng nhàn đầu núi hơn là làm vua. Cho nên Phật giáo Việt Nam, Thiền tông Việt Nam mới có được Sơ tổ Trúc Lâm, một vì sao Bắc Đẩu điểm trên bầu trời không, tỏa sáng lung linh và soi đường cho Thiền tăng, Phật tử Việt Nam biết đâu là chốn trở về.


Có thể nói ở nơi Ngài, đọng lại ba con người sáng chói, làm ngọn hải đăng chỉ lối cho hành giả tu thiền Việt Nam. Đó là con người hiện thực, con người hướng thượng và con người nhập thế. (Ảnh minh họa bên trái: Tôn tượng Phật Hoàng Trần Nhân Tông đang được thiết kế nơi núi Yên Tử, Quảng Ninh)


1. Con người hiện thực


Như chúng ta đã biết, vua Trần Nhân Tông là một nhân vật lịch sử của nước Việt. Ngài sinh vào năm 1258, lên ngôi năm 1279, xuất gia năm 1298 và mất vào năm 1308. Dù xuất thân trong bậc đế vương, nhưng cốt cách của Ngài là bậc xuất thế. Từ nhỏ miệng không thích thịt cá, thân không thích lụa là gấm vóc, tâm không đắm luyến thú vui thế gian, lớn lên xem cung vàng điện ngọc như đôi dép rách, cho nên Ngài đã trốn lên Yên Tử nhưng không thành, đành phải miễn cưỡng lên ngôi vua. Tại vị 13 năm, 6 năm ở ngôi Thái Thượng hoàng, sau đó mới thực hiện được hoài bão xuất trần, làm sơn tăng đầu núi và trở thành Đệ nhất Sơ tổ Trúc Lâm Yên Tử, khai sáng ra dòng thiền nước Việt.


Người đời vì ngai vàng mà đổi không biết bao nhiêu xương máu, tạo không biết bao nhiêu oan khiên nghiệp chướng. Thế nhưng vua Trần đã nhẹ nhàng thoát ra khỏi chốn ấy như cởi chiếc áo hạ. Ngài lên ngôi vì lòng hiếu thuận đối với cha già, vì trọng trách với Tổ quốc. Gác bỏ niềm riêng, đặt ý muốn của thiên hạ lên trên ý muốn của mình, vua Trần Nhân Tông đã xuất sắc lập nên những chiến công oanh liệt để bảo vệ non sông, qua hai cuộc chiến chống quân Nguyên Mông lịch sử. Có phải khí thiêng sông núi đã nhào nặn nên một Trần Nhân Tông mang dòng máu Rồng Tiên, bất khuất quật cường trước mọi thế lực ngoại bang, nhưng lại nhân từ độ lượng khoan dung trong việc trị nước an dân? Trần Nhân Tông quả là vì sao rực sáng trong bầu trời nghìn năm văn hiến của nước ta. Lịch sử dù có sang trang nhưng vị trí và công đức của Ngài vẫn không hề đổi ngôi trong lòng dân đất Việt. Hậu thế trăm năm sau, nghìn năm sau dù có nhớ đến Ngài hay không nhớ đến Ngài thì ánh sáng ấy vẫn rờ rỡ riêng chiếu một cõi.


Và còn một dòng máu nữa, dòng máu Thích tử Như Lai đã âm thầm luân lưu trong trái tim của Nhân Tông, nuôi dưỡng một tình thương và ánh sáng tuệ giác vô biên. Dòng máu ấy đã vực nhà vua dậy từ chốn tột đỉnh của quyền lực, danh vọng, sự nghiệp đế vương… nhưng cũng lắm nỗi thăng trầm của cuộc vô thường bể hóa cồn dâu. Chính dòng máu này đã chuyển hóa nhà vua từ một con người bằng xương bằng thịt vượt lên những ham muốn thường tình, trở thành Thiền tăng sống đời thanh đạm, ý chí cao nhàn.


Thuở bé chưa từng rõ sắc không,

Xuân về hoa nở rộn trong lòng,

Chúa Xuân nay bị ta khám phá,

Chiếu trải giường thiền ngắm cánh hồng.


Cho nên ở nơi vua Trần còn có thêm một con người nữa - Con người hướng thượng.


2. Con người hướng thượng


Từ lúc còn là thái tử, Nhân Tông đã được vua cha cho thọ giáo tham học thiền với Thượng Sĩ Tuệ Trung. Thượng sĩ vốn khí lượng thâm trầm, phong thần nhàn nhã. Lúc còn để chỏm, Ngài đã chuộng cửa Không. Lớn lên ở chỗ Thiền sư Tiêu Dao lãnh hội được yếu chỉ, thâm nhập chỗ thiền tủy, lấy thiền duyệt làm thú vui thường nhật, không ưa công danh sự nghiệp ở đời. Được thân cận một bậc đại thiện tri thức như vậy, lại thêm chủng Phật sâu dày nên Trần Nhân Tông sớm nhận ra con đường Phật đạo mới đích thực là con đường của mình. Vì vậy không dừng lại ở phước báu của một bậc đế vương, vua Trần Nhân Tông đã hướng đến chân trời cao rộng, thệ nguyện phát túc siêu phương, vượt khỏi ba cõi. Lấy vô trụ xứ làm quốc độ, lấy tâm bất sanh bất diệt làm chỗ thú hướng sau cùng.


Một hôm Nhân Tông hỏi Thượng sĩ về việc bổn phận tông chỉ, Thượng sĩ đáp: “Soi sáng lại chính mình là phận sự gốc, chẳng từ nơi khác mà được”. Nghe xong, thái tử thông suốt đường vào, bèn vén áo thờ Thượng sĩ làm thầy. Từ đó, kim ngôn này đã trở thành phương châm tu hành, thành lẽ sống hướng thượng của Trần Nhân Tông trên những chặng đường tu đạo và hành đạo của Ngài.


Phản quan tự kỷ của Thiền phái Trúc Lâm và xoay lại tìm tâm của Nhị tổ Huệ Khả có gì khác nhau? Đến chỗ ấy rồi mới hay tâm vốn không thể tìm, bởi nó có mất bao giờ. Được thế thì an tâm. Cái đáng trách của hành nhân là mình lại đi tìm chính mình. Ngày xưa Nhị tổ Huệ Khả xoay lại tìm tâm, không thấy mối mang ở đâu, liền được Tổ Bồ Đề Đạt Ma bảo “Ta đã an tâm cho ngươi rồi”. Rõ ràng như thế. Một khi phản quan thì dứt bặt vọng tưởng. Mối mang sanh tử không còn chỗ tựa nương, mặt trời trí tuệ tự chiếu soi. Đây chính là chìa khóa mở cánh cửa tâm. Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm, Đức Phật đã chỉ ra điều này từ những hai nghìn năm trăm năm trước rồi. Chư Tổ cũng không khác đường.


“Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc”, nghĩa là xoay lại chính mình là việc bổn phận gốc của người tu, không từ ngoài mà được. Đây không những là cương lĩnh tu hành của Thiền tông đời Trần mà cho tới bây giờ vẫn là kim chỉ nam duy nhất cho hành giả tu thiền Việt Nam. Chúng ta tu hành để làm gì? Để giác ngộ giải thoát. Giác ngộ tính Phật sẵn có nơi mình, giải thoát khỏi mọi khổ đau triền phược do vô minh vọng động huyễn sinh. Cho nên đây là một pháp tu rất thiết thực, rất gần gũi với chúng ta. Ngày nào chưa phản quan, ngày ấy chúng ta chưa nhận ra được bản tâm chân thật. Ngày nào chưa nhận ra được bản tâm chân thật, ngày ấy chúng ta chưa thể sống an vui tự tại, vĩnh viễn thoát ly sanh tử.


Nhận sâu được yếu lý này nên vua Trần Nhân Tông giao hết vương quyền cho con, quyết chí vào núi tu hành. Năm năm chuyên tâm nhất ý thiền định trên đỉnh Vân Yên, Ngài đã hoàn thành đại sự, làm chủ được mình, tùy thuận độ chúng sinh mà vẫn ung dung tự tại, sống đời thảnh thơi. Trong bài Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca, ngài đã nói rất rõ:


Cảnh tịch an cư tự tại tâm,

Lương phong xuy đệ nhập tùng âm,

Thiền sàng thụ hạ nhất kinh quyển,

Lưỡng tự thanh nhàn thắng vạn câm.


Dịch:


Thân gởi cảnh yên lòng vẫn yên

Rặng tùng gió mát thoáng quanh miền,

Giường thiền một cội, kinh tại án,

Hai chữ thanh nhàn thắng vạn tiền.


Thiền tông đời Trần là dòng thiền có nhiều bậc thiền sư thực tu thực chứng, nên toát ra một sức sống rất mạnh mẽ linh hoạt, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống tâm linh của dân tộc ta vào thời bấy giờ. Do nhận ra được tâm chân thật ngay nơi thân sanh diệt này mà các ngài sống tùy duyên nhưng vẫn luôn an lạc, không bị mất mình. Có thể nói nét đặc sắc của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử chính là tính vừa xuất thế lại vừa nhập thế của các thiền sư. Khi hạ thủ công phu thì xuất thế chuyên tu. Khi sáng đạo thì nhập thế rộng độ chúng sanh, không riêng hưởng tịnh lạc cho mình. Tâm hạnh tự lợi, lợi tha là con đường chung của những người con Phật, xưa cũng như nay.


Cho nên ở nhà vua còn có một thiền sư, một con người giác ngộ, thương tưởng chúng sanh bình đẳng không sai biệt. Ngài dấn thân đi vào đời, vừa gần gũi nhân sinh vừa cao thâm thoát tục, để lại cho Phật giáo Việt Nam một dòng thiền Việt Nam rực rỡ ánh hào quang của đạo giác ngộ giải thoát, chuyển hóa một cõi nhân gian.


3. Con người nhập thế


Sơ tổ Trúc Lâm sau khi ngộ đạo đã dành hết cuộc đời còn lại của mình đi khắp nhân gian giảng dạy Thập thiện, khuyến tấn dân chúng bỏ ác làm lành, trừ các dâm từ. Tùy duyên giáo hóa, tùy cơ tiếp dẫn, cả một đời không biết mệt mỏi vì lợi lạc quần sinh. Đặc biệt, Thiền tông đời Trần mang đậm nét bản sắc dân tộc, không ngoại lai với Thiền tông các nước khác. Nhờ thế người dân Việt dễ nhận ra yếu chỉ của chư Tổ Việt Nam, dễ tu theo đường lối truyền dạy của các ngài. Văn hóa của Phật giáo hòa quyện cùng văn hóa dân tộc, đưa đời sống văn hóa và đời sống tâm linh người dân Việt ngày một thăng hoa.


Như trên đã nói, tinh thần tu tập đời Trần là tinh thần tu tập Phật đạo, vừa ly thế vừa nhập thế. Cho nên Sơ tổ Trúc Lâm có 5 năm tu khổ hạnh trên núi. Xuất gia rồi, Ngài dứt khoát chuyên tu, không hề xuống núi. Sau khi ngộ đạo Ngài mới hòa lẫn vào đời, cứu giúp chúng sanh thoát khỏi mê lầm khổ đau. Khi đất nước lâm nguy, từ vua quan sĩ thứ đến toàn dân không trốn tránh trách nhiệm đối với vận nước. Đó là nhờ sự lãnh đạo và giáo dục của các vua Trần, các thiền sư đương thời vậy.


Như Hòa thượng Thích Thanh Từ, Viện trưởng các Thiền viện thuộc hệ phái Trúc Lâm thế kỷ XXI đã kính cẩn tán dương “Con người của Sơ tổ Trúc Lâm làm việc gì phải đến nơi đến chốn, đạt kết quả viên mãn mới thôi. Đánh giặc khi nào quân xâm lăng ra khỏi nước mới dừng. Nghiên cứu Phật pháp đến chỗ uyên thâm nhất mới thỏa mãn. Tu hành đến ngộ đạo mới đi hoằng hóa. Thật là một tấm gương sáng ngời để cho kẻ đời, người đạo học hỏi theo”.


Đó chính là tính cách của Trần Nhân Tông Sơ tổ Trúc Lâm, một con người hiện thực mà siêu thực, hướng thượng mà chẳng bỏ hàng hạ căn thiểu trí, nhập thế mà chẳng nhiễm trần thế. Cho nên Ngài chính là linh hồn của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, vĩnh viễn bất sanh bất diệt trong lòng hậu thế, không tính kể phương sở thời gian.

_________________

Thích Nhật Quang (Thiền viện Thường Chiếu)

Nguồn: thuvienhoasen.org

VẤN ĐỀ PHÁP PHÁI TRUYỀN THỪA CỦA HẢI LƯỢNG THIỀN SƯ NGÔ THÌ NHẬM

Ngô Thì Nhậm


Chỉ xét riêng về lĩnh vực văn học, ông đã để lại một khối lượng tác phẩm đồ sộ với nhiều thể loại khác nhau. Về thơ, có các tác phẩm như:Bút hải tùng đàm, Thủy vân nhàn vịnh, Ngọc đường xuân khiếu, Cúc hoa thi trận, Thu cận dương ngôn, Hoàng hoa đồ phả, Cẩm đường nhàn thoại. Về văn có các tập:Bang giao hảo thoại, Xuân thu quản kiến, Hào mân ai lục, Hàn các anh hoa, Kim mã hành dư, Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh.
 
Ngô Thì Nhậm 吳時任 vì kiêng phạm húy vua Tự Đức Nguyễn Phúc Thì tự Hồng Nhậm nên đổi thành Ngô Thời Nhiệm, tên Phó付, tự Hy Doãn希尹, hiệu Đạt Hiên達軒, sinh ngày 11-9-Bính Dần, tức ngày 25-10-1746, mất năm 1803, người xã Tả Thanh Oai (làng Tó), huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông (nay là huyện Thanh Trì, Hà Nội) trong một “thế gia vọng tộc” có truyền thống đạo đức, khoa bảng. Qua tên, tự, hiệu của ông, ít nhiều hé lộ mong mỏi, hoài bão của gia đình ông. Chữ “Thì Nhậm” có nghĩa là gánh vác đúng lúc; “Hy Doãn” là mong ước được như Tể tướng Y Doãn có công an bang tế thế thời nhà Thương ở Trung Quốc. Vì Ngô Thì Nhậm tu theo Phật, viết sách, dạy thiền nên được các pháp hữu đệ tử tôn xưng Hải Lượng đại thiền sư 海量大禅師. Sách Ngô Thì Nhậm toàn tập, tập 1, trang 9, phần chữ Hán chép nhầm là 海亮
 
Ngô Thì Nhậm có pháp danh là Hải Lượng, vậy ông là đệ tử của thiền sư nào? Theo truyền thống của nhà Thiền, pháp danh của đệ tử là do sư phụ dựa theo bài kệ truyền pháp của tổ sư mà đặt cho. Dựa theo chữ “Hải” trong pháp danh của ông, chúng ta có thể nhận ra ông là đệ tử truyền thừa của một trong ba dòng kệ sau:
 
- Một là dòng kệ của Thiền sư Minh Hành Tại Tại (1596 - 1659), đệ tử Thiền sư Viên Văn Chiết Chiết:
 
“Minh chân như tính hải/ Kim tường phổ chiếu thông/ Chí đạo thành chính quả/ Giác ngộ chứng chân không”(1).
 
- Hai là dòng kệ của Thiền sư Thiệt Diệu Liễu Quán (1667 - 1742):
 
“Thiệt tế đại đạo/ Tính hải thanh trừng/ Tâm nguyên quảng nhuận/ Đức bổn từ phong/ Giới định phúc tuệ/ Thể dụng viên thông/ Vĩnh siêu trí quả/ Một khế thành công/ Truyền trì diệu lý/ Diễn xướng chính tông/ Hành giải tương ứng/ Đạt ngộ chân không”(2).
 
- Ba là dòng kệ của Thiền sư Trí Bản Đột Không:
 
“Trí huệ thanh tịnh/ Đạo đức viên minh/ Chân như tính hải/Tịch chiếu phổ thông/ Tâm nguyên quảng nhuận/ Bản giác xương long/ Năng nhân thánh quả/ Thường diễn khoan hằng/ Tính truyền pháp ấn/ Chứng ngộ hội dung/ Truyền trì giới định/ Vĩnh kế tổ tông”(3).
 
Như vậy, chắc chắn là sư phụ của Hải Lượng thiền sư thuộc thế hệ chữ “Tính”. Hơn nữa, là đệ tử truyền thừa theo dòng kệ của Thiền sư Minh Hành Tại Tại, cùng môn phái với Thiền sư Chân Nguyên chứ không phải dòng kệ truyền pháp của Thiền sư Trí Bản Đột Không dòng Lâm Tế như học giả Lê Mạnh Thát khẳng định: “Tính Quảng có thể là bổn sư trao pháp danh Hải Lượng cho Ngô Thời Nhiệm, nếu ta căn cứ vào pháp danh của hai người này được đặt theo dòng kệ truyền pháp của phái Trí Bản Đột Không thuộc dòng Lâm Tế:
 
Trí tuệ thanh tịnh/ Đạo đức viên minh/ Chân như tính hải/ Tịch chiếu phổ thông/ Tâm nguyên quảng tục/ Bản giác xương long/ Năng nhân thánh quả/ Thường diễn khoan hằng/ Duy truyền pháp ấn/ Chứng ngộ hội dung/ Kiên trì giới hạnh/ Vĩnh thiệu tổ tông.
 
Sau khi trình bày với Tính Quảng, một kế hoạch đã hoàn thành. Đó là lấy phần tiểu sử của Trần Nhân Tông trong Thánh đăng ngữ lục và bản niên phổ khắc trên bia đá dựng trước tháp Viên Thông của Pháp Loa tại chùa Thanh Mai cùng với bản Tổ gia thực lục để tạo nên sách Tam tổ thực lục ta hiện có cùng với mấy đoạn phiến các tác phẩm của ba vị tổ vừa nêu này đang nằm rơi rớt tại các chùa biết dưới tên Thiền đạo yếu học”. (Lê Mạnh Thát, 2006, Trần Nhân Tông toàn tập, trang 296, 297, NXB.Tổng Hợp TPHCM).
 
Bởi vì, căn cứ vào tác phẩm Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh, chương 11, Trác thanh, tăng Hải Hòa Nguyễn Đăng Sở có nhắc đến Thiền sư Viên Văn Chiết Chiết như sau: “Chiết công (Thiền sư Chiết Chiết) ta đi bộ đến phương Nam, ở lộ thiên dưới gốc cây ba tháng trời mới đến trụ trì ở chùa Nhạn Tháp ở Siêu Loại, sau đó phò mã Quốc công phải cờ quạt đến đón rước. Nay ở chùa còn thờ làm Tổ”(4).
 
Mặc dù Thiền sư Minh Hành Tại Tại là đệ tử của phái Trí Bản Đột Không, nhưng ngài đã xuất kệ truyền pháp riêng như trên đã đề cập. Minh Hành và Minh Lương là hai đệ tử xuất sắc của Thiền sư Chiết Chiết. Minh Hành là người Trung Hoa, còn Minh Lương là người Đại Việt. Minh Lương là sư phụ của Thiền sư Chân Nguyên. Các vị đệ tử xuất sắc có công phục hưng thiền phái Trúc Lâm và trùng san những tác phẩm Phật học thời Lý - Trần của Chân Nguyên gồm có: Như Hiện, Như Trừng, Như Sơn, Như Trí… Năm 1750, khi Tính Lương trùng san Thánh đăng lục, có nhờ Tính Quảng đề tựa. Có thể Tính Lương và Tính Quảng là sư huynh đệ cùng thế hệ chữ “Tính” và là thế hệ đệ tử của thế hệ chữ “Như”: Như Hiện, Như Trừng, Như Sơn, Như Trí…
 
Theo học giả Lê Mạnh Thát, thì có thể Hải Lượng là đệ tử của Thiền sư Tính Quảng: “Việc trình bày lịch sử phát triển của thiền phái Trúc Lâm qua ba vị tổ Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang có thể nói là một sáng tạo đặc biệt của Phật giáo Việt Nam thế kỷ XVIII, khi Tính Quảng và người học trò của mình là Hải Lượng Ngô Thời Nhiệm đã sao trích những mảng tư liệu khác nhau, để tập hợp lại và cho ra đời sáchTam tổ thực lục(5).
 
Trong Việt Nam Phật giáo sử luậncủa Nguyễn Lang, Thiền sư Tính Quảng còn được nhắc đến dưới vai trò là người đề tựa sách Thánh đăng lục, bản trùng san năm 1750 do Tính Lương thực hiện.
Căn cứ trên văn bia Thừa Bình Tháp Ký tại chùa Dâu do Tính Quảng Thích Điều Điều soạn lập năm Cảnh Hưng thứ 17 (1756), thác bản lưu tại tủ sách Pháp Đăng, ghi lại hành trạng Thiền sư Hải Mộ, còn gọi là Tính Mộ mà các tư liệu khác đề cập. Trong văn bia có câu: “Thật Long Đức nguyên niên Nhâm Tý nãi quy tông thụ giáo bản sư ư Nhạn Tháp Ninh Phúc tự. Bản sư chính Ba Tiêu Thiên Tâm chi pháp tử, Trúc lâm Long Động chi pháp tôn, hệ Đông Đô thủy tổ chi chính mạch dã.”

寔龍德元年壬子乃皈宗受教本師於雁塔寧福禪寺本師正芭蕉天心之法子竹林龍洞之法孫系東都始祖之正脈也. (Năm Long Đức thứ nhất, Nhâm Tý 1732, ngài quy tông thụ giáo bản sư ở chùa Ninh Phúc, Nhạn Tháp. Bản sư chính là pháp tử của chùa Thiên Tâm, Ba Tiêu, là pháp tôn của Trúc Lâm Long Động thuộc hệ chính mạch Đông đô Thủy tổ). Đông Đô thủy tổ tức chỉ cho Hòa thượng Chuyết Công Viên Văn do Thánh thiên tử Thần tông Uyên hoàng đế sắc tứ thụy Năm Phúc Thái Giáp Dần 1674. Thiền sư Tính Quảng còn soạn văn bia Kết Liên Hoa tuyển Phật đồ tại chùa Bảo Quang ở Bắc Ninh lập năm Cảnh Hưng thứ 24 (1763).
 
Với những tư liệu hiện có như trình bày ở trên, chúng ta có thể thấy được vị sư phụ truyền pháp danh Hải Lượng cho Binh bộ thượng thư, Thị trung đại học sĩ, Hy Doãn Công Ngô Thì Nhậm là Thiền sư Tính Quảng Thích Điều Điều (1740 - 1780) thuộc dòng thiền Minh Hành Tại Tại.
 
________________________

• Thích Hạnh Tuệ

(*)Giảng viên HVPG tại TP.HCM, Hiệu trưởng Trường Ngoại ngữ Thanh Nhân
(1) Nguyễn Lang (2008),Việt Nam Phật giáo sử luận, NXB. Văn Học. HN, trang 538.
(2)Nguyễn Lang, sđd, trang 603.
(3)Thích Như Tịnh (2009), Lịch Sử truyền thừa thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh, NXB. Phương Đông, trang 557.
(4) Lâm Giang (chủ biên), (2006), Ngô Thì Nhậm toàn tập, Tập 5, NXB. Khoa học Xã hội, trang 263.
(5)Lê Mạnh Thát (2006), Trần Nhân Tông toàn tập, NXB. Tổng Hợp TP.HCM, trang 291.

HOA SEN TRONG BÙN



Có lắm người xuất gia cũng như tại gia cho rằng, chúng ta tu không thể nào giác ngộ thành Phật. Vì đức Phật ra đời có những nhân duyên kỳ đặc, bản chất Ngài đã thánh sẵn rồi; còn chúng ta nào là ham mê dục lạc, nào là tội lỗi đầy đầu, nào là sanh nhằm thời mạt pháp căn cơ yếu kém ngu độn v.v... làm sao tu thành Phật được? Ở đây chúng tahãy nhìn Thái tử là một con người, thật là người để lấy làm mẫu mực hướng theo tu hành

THÁI TỬ TẤT-ĐẠT-ĐA (Siddharta) - SỐNG TRONG HOÀNG CUNG

Khi là một ông hoàng ở trong cung cấm, Thái tử bị mọi thứ dục lạc bủa vây: nào là vợ đẹp, hầu xinh, Ngài có cả thảy ba bà vợ, bà Cu-tỳ-gia (Gapica), bà Gia-du-đà-la (Yasodhara), bà Lộc giả (Urganica) và cung phi mỹ nữ. Nào là đàn ngọt hát hay, cả ngày âm thanh dằng dặc không dừng nghỉ. Nào là sự chiều chuộng của vua cha, xây cung điện thích hợp bốn mùa, tạo cảnh vui thích không để Ngài có một phút đăm chiêu. Đây là cảnh thiên đàng ngay trong trần thế, Ngài vui hưởng cảnh này đến năm mười chín tuổi.

THÁI TỬ ĐI TU VÀ THÀNH PHẬT

Chỉ một lần Thái tử trông thấy cảnh già, bệnh, chết của con người, Ngài khổ đau trằn trọc. Tại sao người ta phải chấp nhận lớp người này sanh ra, già, bệnh, chết, rồi lớp khác tiếp tục, cứ thế tiếp tục mãi không có ngày cùng? Ngài cương quyết đập tan cái tiền lệ ấy. Vì thế, bao đêm Ngài thức trắng, lòng Ngài băn khoăn đau xót giày vò, cốt tìm ra lối thoát để cứu mình, cứu chúng sanh. Từ đây, sắc đẹp hát hay, trở thành trơ trẽn tầm thường trước mắt Ngài. Thức ngon vị ngọt, trở thành nhạt nhẽo chán ngán, khi chúng để vào miệng Ngài. Ngài ê chề ngán ngẩm mọi thứ dục lạc tạm bợ trá hình. Ngài cương quyết rời hoàng cung xuất gia tầm đạo. Mặc dù con đường này giăng trải trước mắt Ngài muôn vàn nguy hiểm thập tử nhất sanh, Ngài chấp nhận phải dấn bước. Thế là Ngài xuất gia lúc mười chín tuổi. 

Bao nhiêu năm lang thang trong rừng sâu học đạo, con người vương giả của Ngài đã pha màu sương gió, đã từng trải mọi thứ đắng cay, song ý chí kiên cường quả cảm của Ngài không suy giảmHọc đạo không thỏa mãn, Ngài nguyện thực hành khổ hạnh tột cùng. Nhưng thân sắp hoại mà đạo chưa thấy, Ngài phải sống trung hòa và đến dưới cội bồ-đề ngồi tu bốn mươi chín ngày đêm liền ngộ đạo. Ngang đây, Ngài thành Phật hiệu là Thích-ca Mâu-ni. Đã qua rồi, con đường tầm đạo ngót mười một năm.

Sau khi Ngài thành Phật, Ngài nhìn hồ sen thấy có những hoa đã nở tròn đầy, có những hoa còn búp son trinh, có những hoa đang trụ hình trong nước, có những mầm sen còn vùi trong bùn nhơ. Song tất cả đều có khả năng nở tròn khoe sắc, nhả hương tinh khiết. Chúng đồng trong lòng đất nhớp nhúa vươn lên, khi được hớp sương phơi nắng, chúng đều tròn đủ sắc hương như nhau. Ngài thấy con người cũng thế, khi sanh ra và lớn lên trong vòng mê dục, một phen tỉnh giác con người sẽ tiến lên bậc giác ngộ khó gì. Thế là, Ngài lấy hoa sen để biểu trưng cuộc sống và giáo lý của Ngài. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa là hình ảnh cụ thể nhất. 

PHẬT NGỒI TRÊN ĐÀI SEN

Chúng ta đọc lịch sử Phật, ai cũng biết Bồ-tát đến cội bồ-đề trải cỏ làm tòa ngồi, và thành đạo ngay dưới cội cây này. Hiện nay chúng ta thờ Phật đúng theo tài liệu lịch sử, phải để Ngài ngồi trên tòa cỏ. Tại sao ngày nay chùa nào thờ Phật cũng ngồi trên tòa sen? Đây là để biểu trưng con người của Ngài. Vì trước kia là ông hoàng, Ngài cũng nhiễm ô ngũ dục, như mầm sen còn ở trong bùn. Khi Ngài vượt thành xuất gia là mầm sen ra khỏi bùn, mà còn ở trong nước. Lúc Ngài ngồi tu ở dưới cội bồ-đề và thành đạo là hoa sen ra khỏi nước nở tròn đầy hương thơm ngào ngạt. Hoa sen lại tượng trưng cho sự bình đẳng giữa mọi người. Đã là mầm sen thì mầm sen nào cũng có khả năng vươn lên khỏi bùn, khỏi nước và trổ hoa tươi thắm hương thơm ngạt ngào. Đã là con người thì con người nào cũng có khả năng thoát khỏi dục lạc ô nhiễmthức tỉnh tu hành và đạt thành đạo quả. Phật quả không phải của riêng một người nào, mà của chung tất cả ai có ý chíthoát trần, có quyết tâm đạt đạo. Vì vậyPhật quả gọi là Vô thượng giác, là giác ngộ không ai trên, song có người bằng; Phật cũng dùng hình ảnh hoa sen để nhắc nhở Phật tử, ở giữa chốn ô nhiễm mà khéo vượt ra bằng trí tuệ sáng ngời của mình. 

Bài kệ nói :

Như giữa đống rác nhớp. 
Quăng bỏ nơi bờ đầm 
Chỗ ấy hoa sen nở. 
Thơm sạch đẹp ý người. 
Cũng vậy, giữa quần sanh. 
Uế, nhiễm, mù, phàm tục 
Đệ tử bậc Chánh Giác
Sáng ngời với trí tuệ. -- (Pháp cú câu 58-59)

Hoa sen mọc chỗ nhớp nhúa mà thơm tho tươi đẹp, sống trong đời nhiễm nhơ mù tối, người Phật tử chúng ta phải khéo dùng trí tuệ vượt ra để cứu mình, và cứu người. Cái quí của hoa sen là sanh từ chốn bùn lầy mà tinh khiết, cái cao cả của người tu là sống trong mọi dục lạc nhiễm ô mà vượt ra an toàn siêu thoát. Hoa hường, hoa lan thơm hơn hoa sen, mà không được nhắc tới, vì sanh ở chỗ đất sạch. Nếu Thái tử là người từ trên trời rơi xuống mà đắc đạo thì không có giá trị gì. Chính trong vòng kềm tỏa của dục trần, mà thoát được mới là bậc đại hùng

CÁ NHẢY KHỎI LƯỚI

Đời Tống ở Trung Hoa có hai Thượng tọa Thâm và Minh. Hai vị có duyên sự cùng sang đò qua sông Hoài. Đang sang sông, thấy người bủa lưới đang kéo, có con cá to nhảy khỏi lưới ra ngoài. Thượng tọa Thâm vỗ tay khen: "Hay thay! Như Thiền sư." Thượng tọa Minh không đồng ý bảo: "Phải ở ngoài lưới mới hay, đợi vào lưới rồi mới nhảy là muộn." Thượng tọa Thâm nói: "Huynh Minh chưa hiểu." Đi hơn dặm đường, Thượng tọa Minh bỗng nhận ra chỗ sai, liền sám hối.

Qua câu chuyện trên, chúng ta thấy thế nào? Con cá trong lưới nhảy là hay, con cá thong dong ngoài lưới là hay? Đạo lý nhà Phật dạy, trong cảnh bủa vây của phiền não mà thoát ra được mới thật là hay. Đây mới thi thố được sức mạnh phi thường của con người thoát tục. Nếu ở ngoài lưới nói gì nhảy, không nhảy làm sao biết được sức mạnhcủa mình. Hơn nữa, bản thân con người đầy đủ tam bành (tam độc), lục tặc (sáu giặc) lại sáu trần dụ dỗ cuốn lôi, nếu không phải là bậc siêu quần bạt tụy làm sao thắng trận giặc nội công ngoại kích này. Cùng là cá, bao nhiêu con khác bị lưới cuốn không thể giãy vùng, cuối cùng bị người đánh cá bắt bỏ vào giỏ, chỉ một con này nhảy vọt khỏi lưới, không đồng với người xuất trần thoát tục là gì? Nếu chúng ta sanh ra đã là Thánh thì còn nói gì tu. Chính vì chúng ta mang đầy đủ thói hư tật xấu trong mình, chứa đầy tham sân si trong lòng, cho nên gặp cảnh thì nhiễm, trái ý thì sân, quẳng chúng thoát ra, thật là điều khó khăn trăm phần, ai làm được điều đó, đáng cho chúng ta chắp tay tán thán. Vì thế, Tuệ Trung Thượng Sĩ đã làm bài kệ:

XUẤT TRẦN

Tằng vi vật dục dịch lao khu 
Bài lạc trần hiêu thế ngoại du 
Tán thủ na biên siêu Phật Tổ 
Nhất hồi đẩu tẩu nhất hồi hưu.

Dịch:

RA KHỎI BỤI HỒNG

Đã từng ham muốn phải long đong 
Ném quách mà ra khỏi bụi hồng 
Buông thõng bờ kia lên Phật Tổ 
Một lần phủi giũ một lần xong.

Bởi vì chúng ta chạy theo vật dục nhân gian nên phải khổ sở gian nan. Nếu can đảm ném phắt hết, vượt ra ngoài vòng trần lụy, quả là can đảm phi thường. Có thể, mới buông thõng tay bước lên ngôi nhà Phật Tổ được. Song phải mạnh dạn dứt khoátmột lần bỏ đi không thèm ngó lại. Chớ đừng học thói nhầy nhụa, dùng dùng thẳng thẳng cắt không đứt, bứt không rời, một chân bước tới hai chân bước lui, không làm nên trò trống gì, chỉ chuốc trò cười cho hàng thức giả. Bởi vậy nên nhà thiền thường dùng câu "giết người không ngó lại" là ý này. Phải can đảm dứt khoát thì việc khó mấy cũng thành công. 

TRẦN NHÂN TÔNG: ÔNG VUA, TU SĨ

Vua Trần Nhân Tông sanh năm 1258, lên ngôi vua năm hai mươi tuổi, xuất gia năm bốn mươi mốt tuổi và năm mươi mốt tuổi tịch (1308). Suốt hai mươi năm, Ngài là bậc nhân chủ lãnh đạo quốc gia giữ nước chăn dân, ngồi trên ngai vàng sống trong cung ngọc, mọi thứ dục lạc đều dư thừa. Hai phen cầm quân chống giặc xâm lăng, nhân mạng hy sinh rất lớn. Bổn phận giữ nước chăn dân, Ngài làm đầy đủ. Năm bốn mươi mốt tuổi, Ngài nhường ngôi cho con, đi xuất gia. Lúc nhỏ Ngài đã được vua cha và thầy là Tuệ Trung Thượng sĩ chỉ dạy đạo lý thiền nhuần thấm sâu xa, nên khi xuất gia Ngài không cần tầm học, chỉ thực hiện điều đã học được.

Trong mười năm, là kẻ xuất gia Ngài mang hiệu Trúc Lâm Đầu-đà, tích cực hoạt độngtruyền bá chánh pháp. Trong giới xuất gia, Ngài giáo dục chúng Tăng, có khả năng đảm đang giáo hội. Trong dân chúng, Ngài đem pháp Thập thiện giáo hóa toàn dân, khiến Phật pháp mở rộng trong nhân gian. Công tác hoằng truyền Phật phápgiáo hóa nhân dân, Ngài làm suốt đời không dừng nghỉ.

Khi sắp tịch, Ngài nằm tại Ngọa Vân am sai người gọi Bảo Sát đến. Ngày một tháng mười một, đúng nửa đêm, sao sáng đầy trời, Ngài hỏi: Bây giờ là giờ gì? Bảo Sát thưa: Giờ Tý. Ngài đưa tay ra hiệu mở cửa sổ để nhìn ra ngoài, nói: Đến giờ ta đi vậy. Bảo Sáthỏi: Tôn đức đi đâu bây giờ? Ngài đọc lại bài kệ:

Nhất thiết pháp bất sanh 
Nhất thiết pháp bất diệt 
Nhược năng như thị giải 
Chư Phật thường hiện tiền 
Hà khứ lai chi hữu?

Dịch:

Tất cả pháp chẳng sanh 
Tất cả pháp chẳng diệt 
Nếu hiểu được như thế 
Chư Phật thường hiện tiền 
Nào có đi có lại?

Bảo Sát hỏi thêm: Khi chẳng sanh chẳng diệt thì sao? Ngài khua tay nói: Thôi đừng nói mê nữa. Rồi Ngài ngồi theo kiểu sư tử tọa mà tịch... (Tam Tổ thực lục).

Qua ba giai đoạn trên, chúng ta thấy Ngài sống giai đoạn nào ra giai đoạn ấy. Lúc làm vua thì quên mình giữ nước, hết dạ chăn dân. Khi đi tu, nhiệt tâm vì đạo mài miệt tu hành, chẳng ngại nhọc nhằn hết tình với tăng tục. Vì thế, trên đường đời Ngài thành công viên mãn, trên đường đạo thì đạo quả viên thành. Chính thái độ dứt khoát tích cực, nên lãnh vực nào Ngài cũng thành công. Ngài cũng hưởng dục lạc trong hoàng cung, cũng cầm binh khiển tướng ngoài trận mạc, nếu nói là tội lỗi thì cũng tràn trề. Song khi dứt khoát tiến tu thì cắt đứt mọi quá khứ, sống kham khổ tu hành, nên lấy hiệu đầu-đà (khổ hạnh). Với ý chí cương quyết đó, chỉ trong vòng mười năm, Ngài đã tiến đến chỗ sanh tử tự tại. Đây là tấm gương sáng rỡ để nhắc nhở chúng ta, không sợ mình trước mê lầm tội lỗi, chỉ sợ xuất gia rồi mà thái độ vẫn mập mờ. Ngài là con người thấy được đạo lý và sống được đạo lýChúng ta đọc bài kệ kết thúc bài phú Cư Trần Lạc Đạo của Ngài thì rõ:

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên 
Cơ tắc xan hề khốn tắc miên 
Gia trung hữu bảo hưu tầm mích 
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.

Dịch:

Trong đời vui đạo hãy tùy duyên 
Đói đến thì ăn mệt nghỉ liền 
Nhà mình báu sẵn thôi tìm kiếm 
Đối cảnh không tâm, chớ hỏi thiền.

Sống ngay trong lòng trần tục mà khéo biết đạo vẫn thấy an vui. Duyên cảnh đổi thay tùy thời linh động, như khi đói thì ăn, khi mệt thì nghỉ, đừng cố chấp cứng nhắc mà tự khổ đau. Phật đã sẵn nơi ta, khỏi phải nhọc nhằn sang đông tìm tây. Cái khôn ngoan khéo léo của chúng ta là "đối cảnh tâm không động", chính nơi đây là thiền rồi, còn thưa hỏi đâu nữa. Người học đạo nhận thấy Phật đã sẵn nơi tâm mình, song muốn Phật hiện thì tâm đừng chạy theo cảnh. Đây là lối tu thật giản đơn, thật cụ thể, mà người đời khó tin khó nhận. Người ta chỉ tin Phật ở Tây phương, phải siêng năng lễ bái thì được phước, được Phật rước về cõi Phật. Bởi vậy Tổ Lâm Tế nói: "Người ngu cười ta, kẻ trí biết ta." Cười, vì thấy không tụng kinh lễ bái, chẳng biết tu cái gì? Biết, vì thấy lối tu tế nhị cụ thểthiết thực, không còn gì nghi ngờ. Một ông vua, xuất gia chỉ có mười năm mà đạt đạo như vậy, thật đáng quí kính biết dường nào. Cho nên triều đình tôn xưng Ngài là Điều Ngự Giác Hoàng. 

THÁI TỬ TẤT-ĐẠT-ĐA VÀ TRẦN NHÂN TÔNG

Thái tử là ông hoàng chưa từng đối đầu với mọi việc khó khăn ở đời, chỉ thấy cảnh già, bệnh, chết là phát tâm đi tu. Mục đích Ngài đi tu để tìm phương pháp phá vỡ cái luật khắc nghiệt của kiếp con người mà muôn thuở đã chấp nhận. Ngài phải trả cái giá rất đắt là, mười một năm nằm gió phơi sương lang thang trong rừng núi, ăn uống sơ sài cho đến kiệt sức. Đến khi giác ngộ viên mãn phương pháp giải thoát sanh tử tuyên bố thành Phật. Đây là người khai mở con đường đạo giác ngộ giải thoát. Tức là Ngài đã phá vỡ luật khắc nghiệt (già bệnh chết) chi phối mình và đem ra chỉ dạy mọi ngườiViệc làm của Ngài là muôn thuở không hai.

Vua Trần Nhân Tông là người kế thừa con đường của Phật đã vạch sẵn. Bởi kế thừanên công phu đơn giản và nhẹ nhàng, chỉ cần đem đuốc mình mồi vào đuốc Phật là cháy sáng. Do đó đi tu Ngài không khổ công tầm đạo, chỉ cần ứng dụng đạo đã sẵn vào việc tu hành là thành công. Tuy vậy cũng không phải là việc dễ dàng, mặc dù có công thứcchỉ rõ, muốn ứng dụng công thức ấy phải gan góc cùng mình, phải mạnh tay chặt đứt mọi xiềng vàng xích ngọc, phải hùng dũng nhảy vọt khỏi mấy lớp rào tình cảm bịt bùng.

Hai Ngài đều chôn mình trong cung vàng điện ngọc, bị bao vây bởi đám cung nữ phi tần, bị phủ kín trong tiếng đàn ngọt hát hay, bị siết chặt bởi mùi thơm vị quí. Song cả hai đều quả cảm thoát ra không chút đoái hoài luyến tiếc. Do đó hai Ngài làm được việc khó làm, để lại cho đời tấm gương phi phàm xuất chúng. Hai Ngài là hai mầm sen chôn sâu trong vũng bùn ngũ dục, vươn lên khỏi nước nở tròn tươi thắm và tỏa ra mùi hương tinh anh thanh khiết bủa khắp cả trần gian.

Qua những hình ảnh trên, chúng ta có đủ kinh nghiệm trong việc tiến tu, không còn e dènghi ngại gì nữa. Bởi vì không có vị nào đã là thánh rồi thành thánh, mà tất cả đều bị bao vây bởi phiền não dục trần. Cái đặc điểm của các ngài là nhạy cảm sớm thức tỉnh và anh dũng khi cần thoát nó. Điều đó chúng ta có thể học được, có ai thấy cảnh già bệnh chết mà chẳng buồn, có ai không khí khái khi thốt ra những lời thề bán mạng. Chỉ cần chúng ta triệt để ứng dụng cái nhạy cảm của mình để phát chí tu hành, khéo xoay chuyển cái khí khái của mình vào con đường quyết tử cầu đạo. Dám hạ quyết tâm trên đường hành đạochúng ta sẽ thu gặt được kết quả chắc chắn không nghi. Chúng ta là những mầm sen phơi mình trên bùn ngũ dụcthoát khỏi nó để vươn lên có khó gì? Chúng ta đâu có cung vàng điện ngọc, đâu có cung phi mỹ nữ... mọi dục lạc tìm cầu rất khó, nếu thoát nó thì hết sức nhẹ nhàng, chỉ cần một cái nhảy nhẹ đã ra khỏi rồi, thế mà chúng ta cứ chần chừ không ưng nhảy. Đây là yếu điểm muôn kiếp chịu trầm luân của chúng ta.

_________________________


• Thích Thanh Từ

Nguồn: thuvienhoasen.org

KHÁM PHÁ CON ĐƯỜNG BÍ HIỂM LÊN AM NGỌA VÂN - YÊN TỬ

Đây là chuyến đi tôi không bao giờ quên. Lạc đường, ngủ lại rừng sâu, những câu chuyện kì bí của am Ngọa Vân, những câu chuyện tìm mộ kì lạ ở bãi đá Chồng và ngôi nhà nhỏ giữa thung lũng đẹp mơ màng.


Con đường mòn này từ lâu chẳng có ai đi và gần như mất dấu. Sau nhiều lần bị lạc, 10h tối, chúng tôi quyết định ngủ lại trong rừng sâu để sáng lại tiếp tục lên đường, cuối cùng chúng tôi cũng lên được am Ngọa Vân.






Chúng tôi trở về trên con đường khác với đường lên, con đường mòn thông thuộc cho du khách


Con đường đi qua bãi đá Chồng cùng nhiều câu chuyện kì lạ


Quang cảnh hùng vĩ nhìn từ bãi đá


Một ngôi mộ được tìm rất kỳ lạ


Ngôi nhà hết sức lên thơ của vợ chồng ông lão chăn bò gần bãi đá Chồng.

Và Ngôi nhà bỏ hoang bên sườn núi. Ngôi nhà là chỗ chú qua đêm cho những

du khách muốn khám phá những điều kì bí nơi đây. Ngôi nhà nhìn ra sườn núi đẹp mê hồn


Nhìn từ ngôi nhà ra


Tạm biệt Ngọa Vân Am chúng tôi trở về trong chiều hoàng hôn đỏ rực



Tây Yên Tử vẫn còn nhiều điều kì bí chúng tôi chưa khám phá


Để đến am Ngọa Vân con đường thú vị là đi qua dốc Đô Kiệu, theo lối Thông Đàn. Xuất phát từ Hà Nội, bạn hãy đến làng Trại Lốc (Đông Triều - Quảng Ninh). Chúng tôi xuất phát từ Trại Lốc. Đoạn đường trước khi đến dốc Đô Kiệu không quá khó đi, vì phần lớn là đi theo lối mòn. Nhưng con dốc Đô Kiệu thì quả không sai với ý nghĩa của cái tên. Dốc dựng đứng, và không có bậc, xưa kia kiệu của vua Trần khi đi theo lối này, đến đây cũng đành dừng lại (vậy nên tên gọi khởi thủy của nó là Đỗ Kiệu).

___________

Phan Phan

Nguồn: news.zing.vn

PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG: “DÂN ĐỒNG LÒNG VẬN NƯỚC MỚI THỊNH”


Trần Nhân Tông là người đầu tiên và hầu như là duy nhất coi tiếng dân, lòng dân, sức mạnh của dân là điều thiêng liêng nhất.

 

Nguyên tắc vì dân của Trần Nhân Tông thật giản dị: Bộ máy cai trị càng ít, quan lại ít phải điều hành là điều vì dân hiệu quả nhất, thiết thực nhất.

 

Ước gì hiểu được trái tim người...


Trong nghiệp sử sinh nghề bạc tóc của tôi, nếu phải chọn một trong 10 nhân vật đã và đang làm cho tôi phải trăn trở nhiều nhất, suy tư nhọc nhằn nhất thì chắc chắn phải có tên Vua Trần Nhân Tông (1258-1308).

 

Cuộc đời kỳ lạ của ông, những đóng góp to lớn (đạt đến tầm vĩ đại) của ông cho dù đã được 700 năm có lẻ của lịch sử phân định, vẫn chưa có hồi kết; thậm chí vẫn có không ít những khe khắt, dè dặt mà ta không thể hiểu rõ do đâu(!)

 

Một trong những dẫn chứng có thể thấy rõ nhất là những đường phố mang tên ông trên tất cả mọi thành phố đều là những đường phố nhỏ - nhỏ hơn, ngắn hơn rất nhiều so với đường phố mang tên một vị tướng thuộc quyền như Trần Hưng Đạo...

 

Nói đến Trần Nhân Tông trước hết là nói đến chữ Nhân. Chữ Nhân như tên ông đã cùng ông đi suốt cả cuộc đời. Ông không màng đến danh lợi, thậm chí đã trốn vào chùa khi hay tin vua cha muốn ông kế nghiệp ngôi vua.

 

Thế rồi, cũng vì cái lẽ nhân mà Trần Nhân Tông đã ra làm vua trong 15 năm. Một thập kỷ rưỡi đó ông làm được thật nhiều điều. Một trong những chiến công vĩ đại mà không một vị vua đương thời nào có thể làm được là ông đã chỉ huy cả dân tộc hai lần đánh thắng giặc Nguyên Mông (1285 - 1288).

 

Ở cái thời mà người ta đua nhau ngợi ca vua chúa, quý tộc thì Trần Nhân Tông làm thơ ca ngợi cả một người lính già: Người lính già đầu bạc/ Kể mãi chuyện Nguyên Phong. Đánh giặc xong rồi, vào thành Thăng Long thấy thư đầu hàng giặc chất đầy mấy rương lớn, Trần Nhân Tông sai đốt hết để khỏi phải truy xét, khỏi phải giết thêm hàng trăm người lầm đường theo giặc. Tất nhiên, đây là điều cần bàn bởi nếu tha hết cho những điều giả trá, lọc lừa thì cái nhân đó cũng gây nên những hậu quả khó lường.

 

Tuy nhiên, nếu xét tổng thể cả cuộc đời của Trần Nhân Tông thì chúng ta có thể hiểu cách làm ấy của Phật Hoàng là một lẽ tự nhiên. Nếu không có lòng nhân tỏa khắp và sâu sắc thì không thể viết nên hai câu thơ mà 700 năm rồi vẫn làm cho lòng người thổn thức: Số đời một màn kéo Tình người đôi mắt ngân.

 

Mới đây, nhà văn Nguyễn Quang Thiều than rằng chúng ta đang bỏ quên mất ngôi chùa thiêng liêng nhất của dân tộc là lòng người. Đó là một luận suy chính xác, một tiếng thở dài não nuột. Tại sao cái lòng nhân - "tình người" tha thiết để cho "đôi mắt ngân" mà con cháu của vua Trần Nhân Tông, 700 năm rồi vẫn không chịu biết, chẳng chịu hiểu cho?

 

"Đất nước bé bằng bàn tay, quan nhiều như thế, dân làm sao sống nổi?"


Cái nhân cao cả nhất của vua Trần Nhân Tông là ông luôn đặt lợi ích của dân, của đất nước, dân tộc lên trên hết thảy. Nhường ngôi cho con (Trần Anh Tông) khi 35 tuổi là điều mà chưa một vị vua nào trên trái đất này làm được - kể từ khi có nhà nước(!)

 

Ít lâu sau quay lại thăm nom con cái, thấy Trần Anh Tông thăng quan tước cho hàng trăm người, Phật Hoàng Trần Nhân Tông tức giận đến mức vất cái danh sách dài dằng dặc ấy ra giữa sân rồng và nói như thét lên bằng tiếng thét xé lòng: Đất nước bé bằng bàn tay, quan nhiều như thế, dân làm sao sống nổi?

 

Tiếng thét đó đã bay qua 7 thế kỷ rồi mà ta vẫn thấy như mới hôm trước, hôm nay. Thì ra, nguyên tắc vì dân của Trần Nhân Tông giản dị lắm: Bộ máy cai trị càng ít, quan lại ít phải điều hành là điều vì dân hiệu quả nhất, thiết thực nhất.

 

Chợt nghĩ, dưới triều Nguyễn, cả nước chỉ có chưa đến 3.000 quan chức; thế mà, ngày nay, chỉ riêng thành phố Hải Phòng đã có đến 4.000 công chức ăn lương nhà nước thì quả là điều đáng ngại, đáng lo. Hai trăm năm trước có một vị quan cũng than lên như thế khi thấy gánh nặng nuôi quan đè nặng lên đầu dân, là Ngô Thì Nhậm.

 

Nói đến Trần Nhân Tông là nói đến tầm nhìn xa, trông rộng. Giặc Nguyên Mông và mối lo canh cánh về hiểm họa từ các triều đại phong kiến phương Bắc đã đưa đến một quyết định phi thường: Ông bằng lòng gả người con gái duy nhất là công chúa Huyền Trân cho Chế Mân để nước Đại Việt có được dải đất từ sông Gianh đến sông Thu Bồn. "Việt điểu sào nam chi" (con chim khôn của Nước Việt phải biết chọn cành phương Nam mà làm tổ) là điều người xưa căn dặn. Trần Nhân Tông hiểu rõ lẽ đó và càng biết rõ hơn rằng khi đứng trên đỉnh Hải Vân, có thể "nhìn" thất mũi Cà Mau!

 

Rất nhiều bậc danh sĩ, vua chúa trong thời cổ đại (trên toàn thế giới) nói đến chuyện "quốc dĩ dân vi bản" (lấy dân làm gốc). Nhưng Trần Nhân Tông là người đầu tiên và hầu như là duy nhất coi tiếng dân, lòng dân, sức mạnh của dân là điều thiêng liêng nhất. Chính vì thế mới có Hội nghị Diên Hồng (12.1284). Ở đây, từ câu chuyện của Diên Hồng, chúng ta thấy vua Trần Nhân Tông nể trọng dân, tin dân đến mức nào!

 

Điều vĩ đại vô giá của "câu chuyện" này là Trần Nhân Tông thấy rõ những mất mát, đau thương mà người dân phải gánh chịu nếu chiến tranh xảy ra. Ông không muốn tự mình quyết định khi dân không muốn, dân không chịu nổi. Một khi dân đã đồng lòng thì vận nước mới thịnh hưng, thành công mới đến, chiến thắng mới rủ gọi nhau về.

 

Nhiều vua Trần đã đi tu và các nhà sử học cho rằng đó là thời thịnh Phật. Nếu chỉ dừng lại như thế thôi thì không có nhiều lẽ để bàn. Cái "uẩn khúc" của lịch sử là ở chỗ này: Thời Trần có cuộc chiến tranh 30 năm với 3 lần đánh thắng Nguyên Mông (1258. 1285, 1288); do vậy, nhiều giá trị đạo đức bị đảo lộn, nhiều thói đời xấu xa lộng hành, nhiều sự ngang ngược (đồng hành của chiến tranh) thao túng nên rất cần phải chỉnh đốn đạo đức, thói tục; rất cần lập lại kỷ cương...

 

Trần Nhân Tông nói riêng và triều đại Trần nói chung đã khắc phục tất cả những sự đứt đoạn, tắc trách đó của lịch sử, của văn hóa dân tộc bằng cách nương nhờ bóng Phật. Phật ở đây là từ bi hỉ xả; là lòng nhân, là trách nhiệm với đời, bổn phận với người.

 

Trúc Lâm Yên Tử đã ra đời trong bối cảnh đó. Đó là giáo phái Phật giáo của riêng Việt Nam (duy nhất) do người Việt Nam sáng lập. Nó vừa đáp ứng được sự chấn hưng văn hóa, duy trì dạo đức, cưỡng chế và răn đe dục vọng; vừa là cái bản sắc riêng của Việt Nam, khác nhiều với các giáo phái Phập pháp Bắc Tông (Mahayana) từ phương Bắc dội đến.

 

Bây giờ ta nói đó là việc làm có nhiều ý nghĩa nhưng thử suy rộng ra sẽ thấy cách nghĩ, tầm nhìn xa của Trần Nhân Tông nó sâu sắc và độc đáo đến mức nào!

 

Tôi đã "yêu" Trần Nhân Tông đến mức đã từng làm 'thơ" về ông (để trong ngoặc kép vì nó chưa được đăng bao giờ). Đầu đề là "Ước gì hiểu được trái tim người". Trong bài đó có những câu như: Bảy thế kỷ chai mòn dĩ vãng/Tìm lại Người đau nhức những khen chê... Ông than nỗi nhiều quan dân khó/Sao ông chẳng ở lại thêm để giúp ích cho đời/ Ông tha hết cho những điều giả trá/Con biết lấy gì để tin nữa ông ơi? Mây Yên Tử dàu dàu dáng núi/Thiền Trúc lâm đau đáu hình Người/ Nhân Tông ơi chuyện đời khó nói/Người lính già thuở ấy, có ham vui?...

 

Trần Nhân Tông yêu tha thiết mùa Xuân. Trong 35 bài thơ ông để lại (tổng cộng 173 câu thơ), Trần Nhân Tông nhắc đến chữ Xuân 18 lần. Mùa Xuân và tình ý trong thơ ông là cái Nhân nồng nàn, cảm động. Chợt giật mình vì mấy hôm nay dư luận đang ồn ào chuyện chúng ta ăn Tết tốn kém quá, lãng phí quá và đây đó còn thiếu văn hóa...

 

700 năm trước, Trần Nhân Tông đã nhắc nhở điều này: Đừng để tầm thường xuân luống qua... Phải chăng người là một nhà tiên tri?

_______________

• Hà Văn Thịnh (Đại học Khoa học Huế)

Nguồn: hoalinhthoai.com

TRẦN NHÂN TÔNG SỞ ĐẮC GIẢI THOÁT VÀ TƯ TƯỞNG PHẬT HỌC

 
Về cuộc đời và sự nghiệp lịch sửgiải thoát của vua Trần Nhân Tông, đã có nhiều công trình biên khảo: Trần Nhân Tôngthiền sư Việt NamTrần Nhân Tông, nhà văn hóaTrần Nhân Tông, nhà thơ; Trần Nhân Tông, nhà quân sự; Trần Nhân Tông, nhà lãnh đạo lỗi lạcTrần Nhân Tông, nhà tư tưởng... 
 
Trong bài khảo luận ngắn này, người viết chỉ đề cập đến một số nét tiêu biểu về Tiểu sử, sở đắc giải thoát và Tư tưởng Phật học của Người.
 
Về tiểu sử
 
Dựa theo sử liệu của Nguyễn Lang trong Phật Giáo Việt Nam Sử Luận, tập I, NXB Văn học, Hà Nội 1994, và sử liệu trong Thơ văn Lý Trần, tập II, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội 1989, thì Người tên thật là Trần Khâm, sinh năm 1258; con cả của vua Trần Thánh Tông; năm 20 tuổi lên ngôi báu, hiệu Nhân Tông; năm 36 tuổi làm Thái thượng hoàng, nhường ngôi cho Anh Tông; năm 41 tuổi xuất gia; năm 51 tuổi, 1308, viên tịch ở am Ngọa Vân, núi Yên Tử
 
Thiếu thời, Người đòi nhường địa vị Đông cung thái tử cho em để xuất gia. Người thông lãm nội và ngoại điển, học Phật từ nhỏ, học Thiền định dưới sự chỉ dẫn của Tuệ Trung Thượng Sĩ
 
Người đã cùng tướng sỹ triều Trần hai lần đánh bại đoàn quân xâm lược Nguyên Mông (năm 1285 và năm 1288) - đoàn quân bách chiến bách thắng đã từng đánh bại nhiều nước ở châu Âu và Tống triềuTrung Quốc; là vị vua yêu nước, anh hùng, rất “thân dân”, đã thực hiện thành công đại đoàn kết dân tộc (triều đình và nhân dân), mở Hội nghị dân chủ Bình Than và Diên Hồng, chủ trương “Tam giáo đồng nguyên”, viết nên trang sử lẫy lừng của dân tộc, và cả thế giới đương thời. Người còn là nhà thơ, nhà văn hóa Việt Nam, là một nhân cách lớn của dân tộc. 
 
Xuất gia, là tổ thứ sáu của thiền phái Yên Tử, và là sơ tổ dòng thiền Trúc Lâm, chủ trương thống nhất các thiền phái Phật Giáo tại Việt Nam (Tỳ-ni-đa-lưu-chi, Vô Ngôn ThôngThảo Đường) mang nét đặc thù Việt Namtích cực dấn thân vào xã hội xây dựng hưng vượng xứ sở bằng từ bitrí tuệ và đạo đức của Phật giáo
 
Người thường giảng dạy kinh, luận và đạo Thiền cho các Tăng sĩ, truyền bá Thập thiện giới cho quần chúng, khuyên dân từ bỏ các dị đoan, hủ tục, đề cao đạo đức Phật giáo
Một lần Người vân du qua Champa thiết lập bang giao hữu nghị với vua Chiêm là Chế Mân, hứa gả công chúa Huyền Trân cho Chế Mân. Vua Chiêm đã dâng cho Việt Namhai châu Ô và Rý (Thuận và Hóa) làm sính lễ. 
 
Trần Nhân Tông đã biểu hiện rõ Người là một vị vua anh minh, một nhà lãnh đạo giỏi, một nhà tôn giáo tài ba, và là một thiền sư lỗi lạc.

Sở đắc giải thoát của Trần Nhân Tông
 
Rất khó có thể biết được sở đắc giải thoát của một người qua sự khảo sát bên ngoài, nhất là người ấy lại là Điều Ngự Giác Hoàng Nhân Tông. Càng khó hơn khi người biên khảo chưa từng trải nghiệm giải thoát (tâm và tuệ giải thoát). Điều duy nhất người biên khảo có thể đề cập là theo dấu các sự kiện biểu hiện thái độ sống, cung cách hành xử, và thi cakệ tán của Người để hình dung ra dòng vận hành tâm thức của Điều Ngự
 
a) Là một thanh niên thông rõ nội và ngoại điển, hiếu học, hiếu từ, nhân ái, từng trốn khỏi hoàng cung xuất gia tầm đạo, xem ngôi báu như đôi dép cỏ, hẳn là đã có một nhân tố giải thoát hiện diện trong tâm thức người từ thơ ấu: nhân tố ấy đã giục Người vào nơi vắng vẻ, xa xôi của núi Yên Tử, đã giục tâm thức người vươn dậy hướng về ánh sáng núi rừng, rời xa vùng ngã tướng, ngã niệm, cấu uếthị phi phiền não
 
Đây là sự choàng tỉnh của tâm thanh tịnh thuộc Dục giới và Sắc giới - còn gọi là tịnh quang tâm của cõi Dục và cõi Sắc - cái tâm thức mở cửa đi vào thiền định, vào “tâm giải thoát”. 
 
b) Năm 20 tuổi đăng quang, đã liền đi vào hai cuộc chiến chống ngoại xâm Nguyên Mông đầy ác liệt và gian khổ: đây là dịp để Người thể nghiệm sâu sắc cái vị đắng của sinh tửvô thường, mộng mị của nhân tình thế thái, từ đó hào tâm trỗi dậy, tâm khoan dung trỗi dậy, và tâm từ bỏ danh sắclợi lộc trần thế trỗi dậy giục Người quyết địnhhướng sống xả ly của tự thân và xây dựng kỷ cươngđạo đức cho xã hội, như là sự kiện đại đế A-Dục (Asoka) thức tỉnh giữa trận chiến đẫm máu Kalinga, xứ Ấn vào thế kỷ thứ III trước Tây lịch kỷ nguyên, từ bỏ đao, kiếm dùng đạo đức Phật giáo để nhiếp dân. 
 
c) Người được thân cận học hỏi giáo lý trí tuệ từ bậc thạc đức vô nhị thượng nhân Tuệ Trung Thượng Sĩ là nhân duyên lớn giúp Điều Ngự cắm rễ tâm thức vào sâu lòng đất giải thoátThượng Sĩ như là một bệ phóng an toàn đẩy phi thuyền Điều Ngự đi vàovùng trời giải thoát bao lamột thể cách giải thoát thực hiện trong đời sống chính trị, xã hội rất thiết thực, rất nhân bản và rất trí tuệ
 
Đây là nhân duyên dẫn đến sự ra đời của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đậm đà sắc thái Việt Nam: “Sống đời vui đạo cứ tùy duyên” - cái tinh thần “tùy duyên nhi bất biến”, hay “dĩ bất biến ứng vạn biến”. 
 
d) Chùa Hoa Yên ở trên vùng cao của núi Yên Tử. Chỉ cần ở đó Điều Ngự lên xuống núi đôi lần trong một tuần lễ thì đủ duyên để chứng nghiệm cái rã rời , hư ảo của thân tâm (ngũ uẩnthành tựu công phu hành trì Tứ Niệm Xứ (thiền định Phật giáo), buông xả tự nhiên hết thảy vọng niệmcấu uế tâm, thanh thản với núi rừng, và sản sinh ra các thi, kệ, tư tưởng cao vời. 
 
Tất cả, ít nhất, bốn duyên nói trên là nhân tố xác định - hay dấu hiệu xác chứng - tất yếu sở đắc giải thoát rất sâu của Điều Ngự mà về sau Người đã ghi lại trong các thi, kệ cảm tác của Người. 
 
e) Sở đắc giải thoát 
 
Các nhân duyên trên là ánh sáng rọi vào thi, kệ của Người hầu có thể bắt gặp cấp độ tâm thức giải thoát mà Người đã trải nghiệm, như là: 
 
- Trong một buổi “đại tham” ở chùa Sùng Nghiêm, Điều Ngự Giác Hoàng đã mở lời với bài kệ: “Thân như hơi thở qua buồng phổi/ Kiếp tựa mây luồn đỉnh núi xa/ Chim Quyên kêu rã bao ngày tháng/ Đâu phải mùa xuân dễ luống qua (Thân như hô hấp tỵ trung khí/ Thế tự phong hành lĩnh ngoại vân/ Đỗ quyên đề đoạn nguyệt như trú/ Bất thị tâm thường không quá xuân). 

(VNPGSL, ibid., tr 374)
 
Bài kệ ghi rõ một kinh nghiệm thiền quán về thân ngũ uẩn của con ngườihành giảhành thiền cần thấy rõ nơi thân, tâm mình cái mỏng manh, vô thường, tạm bợ, không thật; những gì ở trên thân và ngoài thân là vô hộ, vô chủ, không thuộc về ta, không phải là ta, không thuộc về ai, không phải là ai. 
 
Từ kinh nghiệm đó, tâm thức tự động rời xa dục vọngsân hậnvị kỷxan thamđố kỵ... mà giáp mặt với hân hoanhỷ lạckhinh anthanh thản. Được vậy thì không uổng phí thời giantiếp tục nỗ lựctinh cần thể nghiệm. Đây là lời lẽ nhắc nhở và đánh thứcTăng chúng đi vào thực nghiệm lời đức Phật dạy ở kinh Niết Bàn, phẩm Thánh hạnh, rằng: Chư hành vô thường/ Thị sinh diệt pháp/ Sinh diệt diệt dĩ/ Tịch diệt vi lạc.
 
Hai câu cuối bài kệ trên là chỗ về của người tu sỹ Phật giáo, là nội dung mà Bồ tát Tuyết Sơn (trong bản kinh) sẵn sàng đổi thân mình cho quỷ La Sát ăn thịt để được nghe. Đó cũng là sở đắc, sở chứng mà Điều Ngự Giác Hoàng muốn trao truyền cho các Tăng sỹ Việt Namđánh thức họ đi ra khỏi vùng tâm thức của ngã niệm, của các nghi vấn, thắc mắc nêu ra nhiều câu hỏi ách yếu về sự thật của nhân sinh và thế giới: Họ luôn luôn mong chờ các câu trả lời, các lời giải đáp về thế nào là Phật? Thế nào là Pháp? Thế nào là Tăng? Thế nào là gia phong của chư Phật, chư Tổ?... 
 
Điều Ngự luôn nhấn mạnh vào 8 chữ “sinh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc”, nhắc nhở Tăng sỹ hãy quay trở về tự tâm mình để dập tắt các ngã tưởngvọng tưởng ấy: Khi các ngã tưởng, ngã niệm được dập tắt thì các ngã tướng sinh diệt cũng bị dập tắt - đó là sự dập tắt sinh diệt, trong câu “sinh diệt diệt dĩ - thì tham áichấp thủ bị dập tắt theo: đây là thời điểm chứng nghiệm an lạcgiải thoát - điều mà kinh gọi là “Tịch diệt vi lạc” - Điều Ngự cứ mãi dồn Tăng sỹ vào một điểm duy nhất là: vấn đề trọng yếu là chứng nghiệm an lạcgiải thoát, mà không phải nói về, nghĩ về an lạc, không phải là hỏi hay trả lời! Đây cũng là kinh nghiệm tuyệt vời của Tuệ Trung Thượng Sĩ khi Thượng Sĩbảo: “Đạo bất tại vấn, vấn bất tại đạo”. 
 
Điểm trao truyền kinh nghiệm tâm thức giải thoát này của Điều Ngự Giác Hoàng và của Tuệ Trung Vô nhị Thượng Sĩ đích thị là linh hồn, là sức mạnh tinh thần (hay tâm linh) của Phật giáo đời Trần, của Phật giáo Lý-Trần, đỉnh cao của tư tưởng Phật giáo Việt Nam và tư tưởng Việt Nam vậy: lúc nào mà sức sống thiền định này chuyển vào tư thế yên nghỉ của tư tưởng và văn học thì Phật Giáo Việt Nam và Việt Nam đi vàosuy yếu; ngược lại, khi nào tư tưởng và văn học Lý Trần chuyển hiện vào sự sống thì Phật Giáo Việt Nam và Việt Nam ắt hẳn đi vào hùng cường, hưng vượng. 
 
 - Ý nghĩa “sinh diệt diệt dĩ” là ý nghĩa “bất sinh bất diệt”, vốn là sự thật muôn thuở của vạn hữu: tất cả hiện hữu đang tồn tại bất sinh bất diệt trong vận hành của Duyên khởimãi mãi tồn tại như thế. 
 
Chỉ có các ngã tướng do các ngã niệm, ngã tưởng ảo vọng của con người dựng nên là sinh diệtSự thật này thật sự đã được Điều Ngự Giác Hoàng chứng đắc lúc sinh tiền, và an trú vào sự thật đó cho đến thời điểm trút bỏ hơi thở sau cùng - giờ tý, ngày 21 tháng 10 âm lịch, năm 1308 - khi Người nói lên bài Kệ thị tịch giã từ Tăng chúngrằng: Mọi pháp đều không sinh/ Mọi pháp đều không diệt/ Nếu hiểu rõ như thế/ Thì thấy chư Phật thường hiện diện/ Có đi lại, sinh diệt gì đâu? (!) (Nhất thiết pháp bất sinh/ Nhất thiết pháp bất diệt/ Nhược năng như thị giải/ Chư Phật thường hiện tiền/ Hà khứ lai chi hữu?) 

(VNPGSL, ibid, tr.395)
 
Tư tưởng Phật họcthái độ tự tại của Điều Ngự 
 
Từ sở chứng, sở đắc về Định và Tuệ nói trên, qua từng giai đoạn đời sốngĐiều NgựGiác Hoàng đã biểu hiện mức độ uyên áo khác nhau qua thái độ sống và hành xử đầy khoan dungnhân áidũng cảmtrí tuệ mà an nhiên tự tại
 
- Lúc tại vị, Người là vị vua yêu nước, anh hùng, “thân dân”, đầy trách nhiệm và thể hiện tốt đẹp đại đoàn kết dân tộc. 
 
- Lúc làm Thái thượng hoàng cũng vậy. 
 
- Lúc tu hành xuất thế thì tự giácgiác thaxây dựng một Giáo Hội PGVN có kỷ cương, có hồn, thống nhất tư tưởng và tổ chức các hệ phái. Người quan tâm đến việc giới thiệu một nếp sống đạo đức Phật giáo cho nhân dân, và cả việc giữ yên bờ cõi, thiết lập bang giao hữu nghị với Chiêm Thành. 
 
Đời sống thì tự nhiêntự tạidung dịđạm bạc. Người bảo: Niên thiếu chưa từng hiểu sắc, không/ Xuân đến, hoa sắc vướng tơ lòng/ Nay thì thấy rõ bộ mặt thật của chúa Xuân/ Người an nhiên ngắm đóa hồng nở, rụng (Niên thiếu hà tằng liễu sắc, không/ Nhất xuân, tâm sự bách hoa trung/ Như kim khám phá Đông Hoàng diện/ Thiền bảnbồ đoàn khán trụy hồng) 

(VNPGSL, ibid, tr.391)
 
Đấy là thái độ sống an nhiên của trí tuệ trước cảnh đời biến độngvô thường, hệt như thái độ của Nhiếp Chính Ỷ Lan thể hiện cẩm nang mà Lý Thánh Tông để lại từ kinh nghiệm sống giá trị rút ra từ Phật giáo: “Vạn biến như lôi, nhất tâm thiền định”. 
 
Trong Cư trần lạc đạo phú, Điều Ngự xác nhận: “... Tranh công danh, lồng nhân ngã, thật ấy phàm ngu/ Xây đạo đức, dời thân tâm, định nên thánh trí...” và “Sống đời vui đạo cứ tùy duyên/ Hễ đói thì ăn, mệt nghỉ liền/ Trong nhà có báu, đừng chạy kiếm/ Vô tâm đối cảnh, hỏi chi thiền? 

(vô tâm đối cảnh = trước các sắc trần... tâm không khởi lên lòng tham, lòng sân, lòng si, không ưu bisợ hãi) -không dính mắc. 
 
Đây cũng là hệ quả tất nhiên của sự thực hành Định, Tuệ Phật Giáo - nói đủ là Giới, Định, Tuệ.
 
Tại đây, chúng ta có thể mạnh dạn phát biểu rằng: tư tưởng, triết lý thời Lý, Trần (ở Việt Nam) là tư tưởng, triết lý sống, hay sống triết lý, mà không phải là triết lý thuần túyhuyền đàm
 
Chúng ta hãy tiếp tục lắng nghe “triết lý sống-sống triết lý” ấy của Điều Ngự khi Điều Ngự nói đến các vấn đề triết lý ách yếu xưa nay của Đông, Tây: Có có không không/ Giây khô cây ngã/ Thầy tu áo vá/ Nhức não, đau đầu (Hữu cú, vô cú/ Đằng khô, thụ đảo/ Kỷ cá nạp tăng/ Chàng đầu hạp não)
 
Có có không không/ Chẳng có chẳng không/ Ghi dấu mạn thuyền/ Sau nầy tìm kiếm(thanh kiếm)/ Theo bức tranh vẽ/ Đi tìm ngựa đẹp (Hữu cú, vô cú/ Phi hữu, phi vô/ Khắc chu cầu kiếm/ Sách ký án đồ)
 
Có có không không/ Từ xưa đến nay/ Chấp vào ngón tay/ Quên mất mặt trăng/ Chết đuối trên cạn (đất bằng) (Hữu cú vô cú/ Tự cổ tự kim/ Chấp chỉ vong nguyệt/ Bình địa lục trầm)
 
Có có không không/ Như thế, như thế/ Tám chữ mở xong/ Không còn gì quan trọng (Hữu cú vô cú/ Như thị, như thị/ Bát tự đả khai/ Toàn vô ba tỵ) 

(ba tỵ là cái mũi lớn, ý nói vấn đề nổi bật, quan trọng; Tám chữ: Sinh diệt diệt dĩ. Tịch diệt vi lạc (phẩm Thánh HạnhKinh Niết Bàn)) 


(VNPGSL, ibid., tr.382-385)
 
Các nhà tư tưởng xưa nay đều đi vào các tri kiến chủ trương thường hằngđoạn diệt, vừa thường hằng vừa đoạn diệt, hoặc phi thường phi đoạn... 
 
Các tri kiến ấy đều rơi vào ngã tưởng, ngã niệm cả khi nói đến chân nhưtuyệt đối. Đó là hiện tượng ngỡ ngón tay chỉ mặt trăng là mặt trăng, hệt như tưởng rằng nói về thực tại, sự diễn đạt thực tại là thực tại
 
Vấn đề là đi vào thực tại để thể nghiệm thực tại mà không phải là nói về hay nghĩ về. Nói khác đi, thực tại thì khác với triết lý, hoặc thực tại là triết lý siêu đẳngCon đườngsống của Điều Ngự Giác Hoàng quả là con đường triết lý siêu đẳngcon đường trở về chính mình để thể nghiệm ở tâm thức mình sự thật và hạnh phúcĐiều Ngự viết: 
 
Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch/ Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền (Cư trần lạc đạophú)
 
Tịnh độ là lòng trong sạch, chớ còn ngờ hỏi đến Tây phương/ Di-đà là tính sáng soi, mựa phải nhọc tìm về cực lạc (Cư trần lạc đạo phú)
 
Đó là sự trở về với “dừng tham ái”,”lắng thị phi” và để tâm an nhàn, tịnh lạc: Mình ngồi thành thị/ Nết dùng sơn lâm/ Muôn nghiệp lặng, an nhàn thể tính/ Nửa ngày rỗi, tự tạithân tâm/ Tham ái nguồn dừng, chẳng còn nhớ châu yêu, ngọc qúy/ Thị phi tiếng lặng, được dầu nghe yến thốt, oanh ngâm. (Cư trần lạc đạo phú)
 
Đó là sự trở về an trú vào giác tỉnh Tính Không (Chân không: Sunyatà), chứng ngộthực tướng để không còn vướng bận, vướng mắc vào các quan điểm bộ phái Tiểu, Đại, Nam, Bắc, và không còn ngại tránh các thanh sắc trần thế, để “sống đời vui đạo”, tùy duyên mà xử sự: Hỏi phép chân không, hề chi lánh ngại thanh chấp sắc/ Biết chân như, tin bát nhã, chớ còn tìm Phật, Tổ Tây, Đông/ Chứng thực tướng, ngộ vô vi, nào nhọc hỏi kinh thiền Nam Bắc. (Cư trần lạc đạo phú).
 
Với sự trở về ấy thì mọi sự khác biệt về giai cấpchủng tộc, màu da, quan điểm hay phái tính đều có đất thực tại nhân bản để gặp gỡ. Đấy là cái nhìn và thái độ sống rất trí tuệ Phật giáo nhằm giúp tự thân tự tại đi ra khỏi các vướng mắc, và giúp xã hội thực hiện được đại đoàn kết dân tộc, giáo hội thống nhất được các bộ phái làm sống dậy mạnh mẽ tiềm năng của dân tộc.
 
Nếu muốn nói thái độ sống đó của Điều Ngự là rất hiền triết, rất triết lý, rất tư tưởng, thì cần hiểu đó là triết lý rất riêng của Việt Nam gọi là Siêu vượt triết lý (Transcendental Philosophy) hay triết lý Nhân bản thực tại luận (Humanist Realism) vừa giải quyết Vấn đề giải thoát của nhân sinh, vừa giải quyết các vấn đề của quốc giaxã hội
 
Thế là, vào thế kỷ XIII (có thể nói từ thế kỷ XI) Việt Nam đã hình thành một hệ nhân sinh quan và vũ trụ quan rất riêng, mang đậm dấu ấn của trí tuệ và đạo đức Phật giáocủa đức Phật Gotama. 
 
Từ đầu thế kỷ XXI này, trước các khủng hoảng của các tư tưởng hệ, bao gồm tư tưởng khoa học, khủng khoảng môi sinh và đạo đức xã hội, triết lý nhân bản thực tại luận của Điều Ngự Giác Hoàng càng nổi bật nét đặc thù rất đáng được thời đại tham cứuĐiều Ngự và Trúc Lâm Yên Tử như đang tỏa sáng hơn bao giờ!
 
_______________________


• Thích Chơn Thiện

TRẦN NHÂN TÔNG VÀ CON ĐƯỜNG CHÍNH PHÁP: MỘT ĐẠO PHẬT ĐẶC BIỆT VIỆT NAM

Nhiều học giả - phật tử đã cùng chia sẻ những nghiên cứu, đánh giá của mình về Trần Nhân Tông - vị Phật hoàng duy nhất và độc đáo nhất trong lịch sử dân tộc và lịch sử Phật giáo Việt Nam.

Tại hội thảo Trần Nhân Tông và con đường chính pháp do Liên hiệp các hội UNESCO Việt Nam, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam và Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức ngày 24-11 tại Hà Nội, hơn 300 các học giả, các tăng ni phật tử, nhà nghiên cứu lịch sử và tôn giáo trong và ngoài nước, nhất là kiều bào Pháp, Đức, Mỹ… đã tham dự.

 

Theo GS Cao Huy Thuần: “Lịch sử gọi ngài là vua Phật, là Phật hoàng. Vua Phật lãnh đạo cuộc chiến chống xâm lăng, làm sao tách rời đâu là vua, đâu là Phật trong một hành động của Ngài? Ở Nhật có tinh thần samurai trong mỗi cuộc chiến, nhưng ở VN có cả một ông vua Phật và cả một hàng ngũ tướng lĩnh thấm nhuần thiền: cứ đem so sánh, ảnh hưởng của thiền ai nhiều hơn ai trong trận thắng?

 

Cho nên, Phật giáo ở Việt Nam thời Trần là một hiện tượng kỳ lạ, độc đáo: không ở đâu khác, một ông vua vừa là tướng cầm quân, vừa là thiền tổ. Nơi ông vua ấy kết tinh một tư tưởng, vừa là trên cơ sở lý thuyết, vừa là nền tảng giáo dục, lại vừa là thực tiễn hành động. Đó là một đạo Phật đặc biệt Việt Nam”.

Các học giả cũng đã đi sâu phân tích mô hình vua Phật thời Trần Nhân Tông - mở rộng ra mô hình nhà nước quân chủ Đại Việt thế kỷ 10-14 với tên gọi “mô hình quân chủ tương hợp” để đi đến kết luận: lịch sử nước nhà có những bước đi riêng, xua tan “bài ca ảo" muôn thuở “Việt Nam là cái bóng của Trung Quốc” trong cái nhìn của học giả quốc tế (TS Nguyễn Quốc Tuấn - phó viện trưởng Viện Tôn giáo).

 

Ánh sáng độc lập tự do, tư duy về dân tộc và đất nước VN, cách nhìn đối với thiên hạ xung quanh dân tộc mình của Phật hoàng Trần nhân Tông cũng được các học giả phân tích dưới góc nhìn hiện đại và phát hiện tính thực tế cũng như sự hợp thời của tư tưởng ấy. Nhận thức về quyền lực và sự hưởng thụ vật chất của Ngài cũng đem lại nhiều khám phá mới mẻ cho các nhà nghiên cứu về Phật học và Phật hoàng (đạo sư Duy Tuệ).

 

Và Phật hoàng Trần Nhân Tông không còn là biểu tượng của Phật giáo VN, ngài còn là biểu tượng của một nền văn hóa rực rỡ, nói như giáo sư Cao Huy Thuần: “Không phải chỉ riêng phật tử, bất cứ người VN nào cũng hãnh diện về lịch sử nước mình có một triều đại rực rỡ như thế, nhất là trong tình trạng xâm lấn hiện nay. Triều đại đó đã được xây dựng trên một văn hóa rực rỡ. Rực rỡ và độc lập”.

____________

Thu Hà

Nguồn: www.hoalinhthoai.com

GIỮ GIỚI TRONG SẠCH ĐỂ LÀM GÌ


Vua Trần Nhân Tông (1258-1308) sau khi khoác tăng bào ở tuổi 40 đã chu du khắp nơi để thuyết phápgiảng kinh, khuyên dân chúng giữ gìn mười điều lành, và từng trở vềkinh đô Thăng Long tổ chức lễ thụ Bồ tát giới cho vua Trần Anh Tông và quan lại triều đình. 
Tam tổ thực lục chép rằng, mùa Đông năm Giáp Thìn, niên hiệu Hưng Long thứ 12 (1304), Trần Anh Tông (1293-1314) đã “dâng biểu mời Điều Ngự [Trần Nhân Tông] vào Đại Nội để thọ tâm giới tại gia Bồ tát. Ngày [Điều Ngự] vào thành, vương công, bách quan sắm lễ nghi đầy đủ đón rước xa giá của Điều Ngự, rồi cùng thọ giới pháp” (1).
Nhiều những vị vua nhà Trần đều mộ đạo và tích cực ủng hộ Phật pháphành trạng của họ không khác hành trạng của những vị thiền sư xuất trần. Vua Trần Thái Tông là người quan tâm đặc biệt tới giới luật, ông từng viết văn răn về năm giới và bàn luận về vấn đềthụ giới: “… Giới như mặt đất bằng, mọi điều thiện từ đó sinh ra. Giới như thầy thuốc giỏi chữa được các bệnh. Giới như hạt minh châu phá vỡ mọi tối tăm. Giới như thuyền bè vượt qua bể khổ. Giới như chuỗi ngọc làm pháp thân trang nghiêm… Bậc cổ đức có nói: qua sông nên dùng mảng, đến bến hết cần thuyền. Như vậy người xưa coi giới là thuyền là mảng. Ngày nay những người không dùng phương tiện đó qua sông mà tới được bờ bên kia thì thực là hiếm vậy” (Bàn về thụ giới) (2). 
Vì vậy, thời Trần xuất hiện tình trạng “lấy địa vị vua chúa mà làm đại sĩ, hoàng hậu mà làm tỳ khưu, khanh tướng mà làm thầy chùa” (Kiến văn tiểu lục, Lê Quý Đôn) (3). 
Thời điểm đó, Phật giáo làm quốc giáo, nhưng các tôn giáo khác như Nho giáoLão giáovới các nguyên tắc đạo đức được quy định chặt chẽ trong đời sống ứng xử phổ biến từ vua tôi đến cha con, chồng vợ…, cũng phần nào có những điểm phù hợp, bổ sung vào hệ thống luật pháp và quan điểm của nhà cầm quyền. 
Những tệ đoan dần phát sinh khi Phật giáo quá thịnh, số lượng người đi xuất gia không được tuyển chọn kỹ, thanh quy chốn thiền môn bị mai mộtVì vậy vấn đề giới luật càng trở thành mối quan tâm hàng đầu của triều đình và giáo hội nhà Trần. Nhận thức đúng về giới luật cũng là mối quan tâm đặc biệt của vua Trần Nhân Tông, để làm sao giới luậtkhông bị đồng hóa với các phạm trù chức năng, tránh xa được đạo đức giáo điềuphù hợp với những triết lý nền tảng khác của Phật giáo.
Đặc điểm nhân sinh quan nổi bật trong tư tưởng Trần Nhân Tông chính là nhận thức và ứng dụng giới luật Phật giáo vào cuộc sống. Bởi giới luật là một yếu tố bổ túc quan trọng vào đạo đức xã hộipháp luật, thậm chí cả trong đời sống chính trị. Giới không mâu thuẫn với hệ thống pháp luật, phong tục, tín ngưỡng mà còn thúc đẩy, khắc dấu ấn quan trọng vào nền văn hóavăn minh Đại Việt.
Trần Nhân Tông đặt câu hỏi nghiêm túc với Tuệ Trung Thượng Sĩ: “Công phu giữ giớitrong sạch không chút xao lãng là để làm gì?”, khi trước đó ông đã thắc mắc: “Chúng sinh quen cái nghiệp uống rượu và ăn thịt thì làm sao tránh được tội báo?”. Người ở ngôi vị đứng đầu quốc gia hỏi việc “giữ giới trong sạch để làm gì?”, hẳn rất quan tâm đến mục đích, đường hướng đạo đức của một dân tộc. 
“Để làm gì?” là một nghi vấn tích cực mang giá trị tư tưởng, nhằm gợi mở và điều chỉnhnhững nhận thức đúng về giới. Tuệ Trung Thượng Sĩ là người có đầy đủ tư cách để “ấn chứng” cho Trần Nhân Tông điều quan trọng này (4).
Nhưng vấn đề giữ giới hay không giữ giới có liên quan gì đến quan niệm thiện ác của thời đại? Thế nào mới gọi là giữ giới trong sạch? Trong sạch là so với cái gì mà trở nên trong sạch?
Tư duy phân loại thiện ác
Cách nghĩ phổ biến cho rằng, quá trình “nhuần thánh hóa” diễn ra rất dễ dàng bằng giáo dục đạo đức, chỉ cần phân loại và đưa ra những “quy định”, “mệnh lệnh” bắt buộc (cấm) là có thể loại bỏ cái xấu ra khỏi đời sống. Có quan niệm cho rằng con người là “chủ thể” và khách thể là phần còn lại của thế giới mà nhận thức con người hướng vào. Vì là “chủ thể” nên con người cho rằng mình nắm quyền “cải tạo” xã hội và thế giới. Trong các mối quan hệ giữa người và người, mục đích của “cải tạo” đầu tiên là con người, vì con ngườiđược đặt trong phạm trù “ý thức hệ” về hành vi đạo đức mà biểu hiện của nó là thiện (theo một trật tự đạo đức) và ác (không theo một trật tự đạo đức). 
Có nhiều “hệ giá trị” để phân định một cách rạch ròi thế nào là “thiện” và thế nào là “ác”. Xã hội thường được quản lý trên nền tảng của tư duy phân loại, nhiều khi bằng hình thứcloại trừ, bài trừ. Tuy đã có rất nhiều quy định pháp luật nhưng cái ác lại không giảm đi một cách nhanh chóng cùng những quy định ấy. Sự phát triển văn minhvăn hóa bổ sung thêm nhiều những quy chuẩn đạo đức, nhưng hình như các chuẩn mực làm người vẫn bị bỏ quên, cái ác có vẻ lấn lướt, tinh vi và phức tạp hơn.
Trong quá trình gắng gượng “loại” cái ác ra khỏi cuộc sống, con người đã tự đặt mình vào thế đối lập sống còn với cái ác. Những tưởng rằng khi xã hội hoàn thiện trong việc quy định hành vi là có thể bao quát được tất cả mọi biến động xã hộiThực tế cho thấy, đã có nhiều triều đại phát triển đến đỉnh cao, nhưng rồi sau đó lại nhanh chóng suy tàn. Vậy quan niệm đạo đức nào đã tham gia vào quá trình thay đổi này? Thiện hay là ác? Hay cả hai cùng tham dự vào việc phá vỡ cái cấu trúc vốn khá trật tự của một xã hội? Tính tiếp diễn của lịch sử cần phải chứng minh cho luận điểm thiện ác, bởi nó cùng lúctham gia vào quá trình phá vỡ và mở ra này. 
Cùng với nhận thức chung của nhân loạiPhật giáo cũng đề cao những hành vi đạo đứchướng thượng, nhưng sự khác biệt lớn nhất của Phật giáo chính là không đối lập thiện ác, có nghĩa rằng “ác” không phải là mục tiêu “loại trừ”. Thiện ác ở cuộc sống nhân gianlà một quá trình chuyển động và chuyển hóa, có chu trình lên xuống, và cái tạm gọi là “sự đối lập” ấy được vận hành trên cơ sở nhận thức tương quan, tương duyên, cái này làm nhân quả cho cái kia và ngược lại. Giới tham gia vào quá trình hoàn thiện đạo đứcvới tư cách là một - trong - những - phương tiện (tích cực) mà không đảm nhận vai tròphân loại thiện ác.
Vì không có đối lập nên không có đối tượng “lên án” hay “ca ngợi”, từ đó đi đến một thái độ triết học siêu việt thiện ác (thiện ác khác với thiện và ác). Đã không có đối lập thì kêu gọi sự “gia nhập”, “dung hòa” chỉ là khởi vọng, chính vì thế Phật học không có khái niệm “cứu rỗi”. 
Tư tưởng “cứu rỗi” cho rằng “chủ thể” (Con Người) phải chịu sự quy định và chỉ có thể vươn lên, thoát ra bằng một “chủ thể” khác (linh hồn vũ trụ, Thượng đế…). Từ một xã hộiđược che đậy giả tạm bằng quy định đến một thế giới được bao biện bằng sự cứu rỗi, đã đang và sẽ càng làm cho tư duy phân loại thúc ép con người. Cái đối lập thường bị tẩy chay và đưa vào “trục ác”, điều này làm cho thế giới con người phân hóa và trở nên mất cân bằng nhiều hơn.
Ở phạm vi hợp lý nhất do thói quen và kinh nghiệm tạo nên, cái thiện và cái ác trở thànhmột tập tính tích tụ và có những lý thuyết rành mạch bàn luận thế nào là “tính bản ác” và thế nào là “tính bản thiện”. Từ những tranh luận không dứt về thiện và ác, dẫn tới sự phân hóa, hình thành quan niệm về “tính phi thiện phi ác”.
Như vậy chính “ý thức hệ” về đạo đức đã trở thành chủ điểm phân lập thế giới, và từ đây, các tiêu chuẩn, định mức khác nhau về thiện ác hình thành. Tùy vào các xứ sở khác nhau mà điều này được cho phép điều kia không được cho phép. Và cũng chính từ những điều kiện hóa này dẫn con người vào thế giới “không phân định” bằng mâu thuẫntất yếu của thiện ác mà bằng sức mạnh của sự “cho phép”, của “định chế”, “mệnh lệnh”... 
Vì muốn biết về “căn nguyên của vũ trụ, muôn loài”, nên sự hoài nghi tích cực của con người ngày càng lớn trước vấn đề thiện ác. Cuộc sống có hai hình thức phổ biến đó là “đi lên” và “đi xuống”. Sự “đi lên” hay “đi xuống” ấy không hề là biểu hiện của một cuộc “trốn chạy” hay sự sắp đặt cõi sống mà là hệ quả có ý thức xuất phát từ hành nghiệp của bản thân.
Vấn đề hành vi có ý thức trong Phật giáo được diễn tả bằng khái niệm “nghiệp”. Nghiệp tạo tác và nghiệp dẫn đường cho con người đi lên hay đi xuốngTrần Nhân Tông cho rằng chỉ khi “muôn nghiệp lặng” thì mới “an nhàn thể tính”.
Nghiệp cũng là vấn đề chủ điểm khi Trần Nhân Tông hỏi Tuệ Trung: “Chúng sinh quen cái nghiệp uống rượu và ăn thịt thì làm sao tránh được tội báo?”. 
Thượng sĩ liền giảng giải rằng: 
“Giả thử có một người đứng quay lưng lại, thình lình có nhà vua đi qua phía sau, người kia không biết hoặc còn ném vật gì vào người vua, người ấy có sợ chăng? Ông vua có giận giữ chăng? Như thế thì biết rằng hai việc không liên quan gì đến nhau vậy”. 
Nói rồi Thượng sĩ đọc hai bài kệ:
Mọi pháp đều biến diệt, 
Tâm ngờ tội liền sinh. 
Xưa nay không một vật,  
Mầm mống hỏi đâu thành. 
Ngày ngày khi đối cảnh, 
Cảnh cảnh từ tâm ra. 
Cảnh tâm không có thật, 
Chốn chốn Ba-la-mật” (5).
Hành động không tác ý, không phương hại sẽ không đưa đến “tội báo”, cũng như người đứng quay lưng mà không biết nhà vua đi qua, nên người ấy “không sợ” và nhà vua cũng không thể “giận dữ” một cách không suy xét.
Nếu bỏ mất hành vi có tác ý thì thường phân biệt đúng sai bằng các quy chuẩn thiện ácvà càng làm cho thế giới trở thành “điên đảo tưởng”. Chẳng hạn, tôi tưởng rằng Thượng đế chỉ sinh ra cái thiện thôi, còn cái ác do “quỷ dữ” sinh ra, cho nên vì tin theo Thượng đế nên tôi cần phải loại trừ “cái ác” cũng như “quỷ dữ”. 
Đây từng là nguyên nhân sâu xa của sự phân biệt từ “đẳng cấp”, “địa vị” đến những quan niệm xã hội về thiện ác, thậm chí trở thành chủ điểm của những cuộc chiến tranh tôn giáo trên thế giới.
Sự nhầm lẫn đáng tiếc đó đã thủ tiêu sự “tự do”, “sáng tạo” cũng như vai trò hình thành cộng đồng xã hội của các tầng lớp có truyền thống phong tục, tín ngưỡng khác nhau. Thế giới có thể “trật tự” hơn trong quy định hành vi nhưng lại phi lý và mâu thuẫn nhiều hơn trong thái độ đầy ảo tưởng về định tính thiện ác. Từ đó dẫn đến đùn đẩy trách nhiệm, hoặc cho rằng bệnh tật, chiến tranh, thiên tai là do ý của “Thượng đế”, hoặc cho rằng đó là do tự nhiên nó vậy, không thể chuyển đổi được.
Trần Nhân Tông từng đề cập đến khái niệm “cung ma”, “cõi Phật” (6) như một nỗ lựcnhận biết của người tu hành. Với cái nhìn nhị nguyên, “cung ma”, “cõi Phật” là hai thế giớikhác biệt có sự đối lập về thiện và ác, trong sạch và ô nhiễm. Nhưng cũng chính Trần Nhân Tông đã xóa bỏ khoảng cách của cái nhìn sai lầm này, vì nó chẳng phải hai cũng chẳng phải một, nó là “như thị” (cả về tướng và tánh). Điều này đã được ông khẳng định: “Chứng thực tướng ngỏ vô vi, nào nhọc hỏi kinh thiền Nam Bắc” (7). 
Vậy tại sao phải chia ra “cung ma”, “cõi Phật”? Vì những khái niệm trên chỉ có ý nghĩatrong thế giới phân biệt và đối đãi của con người
“Quản”, “cấm” là những khái niệm chức năng, giữ vai trò nhằm cân bằng mâu thuẫntrong thế giới nhị nguyên thiện - ác. Giới cũng thường được hiểu là “giới cấm”, tuy nhiênnó chỉ là một trong những phương tiện, người chưa qua sông thì nên dùng giới làm mảng, nhưng người đã đến bến bến rồi thì đâu cần phải vác thuyền chạy bộ. 
Trong những cố gắng và nỗ lực, khái niệm “quản”, “cấm” đã phần nào mang đến cho địa vị phàm phu những giá trị đạo đức nhất định. Ở một nền văn hóa tổng hợp, quan niệm“tính bản ác”, “tính bản thiện” đã trở thành lề lối suy nghĩ, thì những hành vi đạo đứctrong xã hội cũng được ràng buộc bởi những chuẩn quy định cụ thể.
Trong sạch - ô nhiễm
Bằng tư duy phân lập, nhiều người thường nghĩ, trần gian là ô nhiễmchất chứa nhiều xấu xa còn Niết bànTây phương Cực lạc là hoàn toàn thanh tịnhTuy nhiênNiết bànTây Phương Cực lạc không phải là “lòng tốt”, sự “trong sạch”, sự “cứu rỗi” và càng không phải là sự “toàn thiện”. 
Vì Niết bànTây phương Cực lạc là cảnh giới không cần đến những khái niệm “đối đãi”, “phân biệt” như vậy. Bởi thế giới nào có sự “toàn thiện” thì ở đó có sự không toàn thiện. Và bởi không ai thừa suy nghĩ đến mức đặt vấn đề “toàn thiện” trong một thế giới mà không có sự “không toàn thiện”. Vậy thì vấn đề “cứu rỗi”, “lòng tốt”, “trong sạch” không cần phải đặt ra trong cảnh giới Niết bàn, cũng như cảnh giới của người tu chứng.
Trần Nhân Tông xác định rất rõ: “Sạch giới lòng, chùi giới tướngnội ngoại nên Bồ Táttrang nghiêm” (8). Quả vị “giới tâm trụ” (không cần phải cố gắngnỗ lực vì điều gì cả). Quả vị “tín tâm trụ” (không bị chi phối bởi tác động bên ngoài và tập khí bên trong). “Pháp vân địa” là quả vị “bao trùm tất cả” vì vậy động cơ chấp vào, dựa vào một điều gì đó là sai lầm, bởi ngay cả khi cắt bỏ được “sắc, thọ, tưởng, hành, thức” thì cũng chỉ là đạt trạng thái “vô sở hữu xứ”, hoặc “phi tưởng phi phi tưởng xứ” chứ chưa phải là giải thoátthật sự. Chỉ khi “cảnh tâm không có thật” thì chốn chốn mới trở thành “Ba-la-mật” như Tuệ Trung đã phát biểu.
Điều đáng nói, sự “hỏi-đáp” trên đã giải tỏa được những khúc mắc do chính Trần Nhân Tông đặt ra, hoặc do sức ép từ các cáo trạng chỉ trích Tăng sĩ của các nhà Nho, hoặc vì những đòi hỏi thay đổi theo chiều hướng tích cực của xã hộiVượt qua nhận thức phổ thôngTrần Nhân Tông đã thừa nhận: “Vì vậy ta biết môn phong của Thượng sĩ thật là siêu việt”, và ông hiểu rằng rất khó để tư tưởng này có thể làm cho người đời hiểu được “Phô người học đạoVô số nhiều thay, Trúc hóa nên rồng, Một hai là họa” (9). 
Đó cũng là điều mà vua Trần Thái Tông khi trước đã nói: “Ngày nay, những người không dùng phương tiện đó qua sông mà tới được bờ bên kia thì thực là hiếm vậy” (Bàn về thụ giới).
Những người đứng đầu đất nước nhận thức về giới như vậy thì sao có thể tùy tiện phân định thế giới thiện ác trong cái thế “loại bỏ”, “đối đầu”. Nhận thức tương tự này luôn làm cho nhiều vị vua Phật tử trở nên nổi tiếng về lòng khoan dungnhân thứ ngay cả với “kẻ thù” của mình. Khuyến hóa người đời tiếp nhận năm học giớimười điều lành chính là muốn cho lòng từ ấy trong xã hội phát triển, vì Trần Nhân Tông hiểu rằng con người đều sẵn lòng từ, lòng trong sạch:
Tịnh độ là lòng trong sạch, Chớ còn ngờ hỏi đến Tây phương. 
Di đà là tính sáng soi, mựa phải nhọc tìm về Cực lạc” (10).
Đó cũng chính là điều ông nhấn mạnh: “Biết chân như, tin Bát-nhã, chớ còn tìm Phật tổTây Đông” (11). Tức mọi sự hấp dẫn của “bờ bên kia” đều được khám phá ở chính “bờ bên này”.
Nhận thức đúng về giới thì sẽ điều chỉnh hướng đi của xã hội vào những mục đích lâu dài hơn. Bảo Sát từng bạch hỏi ngài: “Tôn Đức tuổi đã cao mà xông pha sương tuyết như vậy, lỡ ra có chuyện gì thì mạng mạch Phật pháp sẽ như thế nào?” 
Ngài đáp: “Thời giờ của ta đã đến, ta muốn tạo cái kế lâu dài vậy” (12). Đây cũng chính là lý do Trần Nhân Tông dành thời gian quý báu còn lại của mình để chu du khắp nơi khuyến hóa dân chúng gìn giữ mười điều lành.
Giới luật (sìla, vinaya) có nghĩa là hộ trìbảo vệ, là những điều cần phải học (sikkhà pada - học xứ - như học xứ không sát sinh) bằng tự nguyện. Giới không hề có ý nghĩa bị bắt buộc phải thọ, phải giữ như luật pháp hay nội quy. Ngoài ý nghĩa xã hội, giới chú trọng đến mặt thánh đạo nên còn gọi là luật nghi (samvara)” (13). 
Phật giáo có năm học giới nhằm hoàn thiện nhân cách của người Phật tử như không giết người, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu. Nhưng để tiến xa hơn nữa trong nỗ lực tu hànhPhật giáo còn có mười điều lành
Trần Nhân Tông sau khi xuất gia thường chống gậy đi khắp nơi thôn xóm để khuyên bảo dân chúng giữ gìn mười điều lành. Vì nếu có thể giữ gìn được mười điều lành thì sẽ trở nên quả vị Hiền thánh. Đây là mục tiêu Thánh hóa cộng đồng của ông, nhằm nâng caovăn hóa của người dân Đại Việt.
“Năm giới” là nền tảng căn bản để làm người, còn “mười lành” là điều kiện để chuyển từ địa vị phàm phu lên địa vị Hiền thánh. Mười lành được quy định ở ba cấp độ (ba nghiệp) rất rõ ràng đó là thân (việc làm), khẩu (lời nói), ý (ý nghĩ). 
Khi nói đến “mười lành”, lẽ thường người ta xếp nó vào phạm vi của cái thiện. Nhưng khi nói đến ba sự vận hành lớn của con người là “ý nghĩ, lời nói và hành động” thì nó bao quát cả thiện và ác. Như vậy, tiến lên quả vị Hiền thánh hay sa đọa đều nằm trong phạm trù của ba sự vận hành này và nó liên hệ mật thiết với nguyên lý nhân quả.
Bất cứ vấn đề gì mà cuộc sống đặt ra, dù được cô đọng vào bất cứ tiêu chí nào thì cũng phải được xem xét ở ba cấp độ “ý nghĩ, lời nói và hành động”. Chính ba cấp độ này tạo ra sự phong phú vô cùng cho thế giới thiện ác. Nó vừa khép kín nhưng cũng đồng thờimở ra. Nếu giới chỉ là “quy định bắt buộc”, “cấm đoán” đối với mọi người thì nó chỉ là một mớ những thành kiến được số đông xã hội hợp thức hóađiều kiện hóa.
Vì hiểu lầm việc giữ giới hay không giữ giới là hành vi thiện ác nên giới mới bị rơi vào phạm vi đạo đức thông thường. Và cũng vì năm giới, mười lành thường được hiểu “giới cấm” nên đã giới hạn đối tượng tiếp nhận, về lâu dài sẽ dần dần tách khỏi đời sống xã hộiHọc giới dành cho tất cả mọi người, dù là Phật tử hay không phải Phật tử đều có cơ hội như nhau khi tiếp cận nhằm hoàn thiện bản thân
Học giới giống như lửa của ngọn đèn dù có sang chiết lửa cho hàng nghìn ngọn đènkhác thì cũng không làm giảm đi tính sáng của mình, đồng thời còn làm cho mọi ngọn đèn đều được sáng. Vì thế thụ nhận giới là sự tự nguyện, là niềm hạnh phúc tinh thần
Mỗi người trong xã hội chỉ cần điều chỉnh mình theo học giới thì xã hội sẽ tốt lên mà không cần phải triệt tiêu cái ác. Còn khi hiểu giới là sự cấm đoán thì chỉ có ý nghĩa với những người Phật tử đã quy y, còn người không phải Phật tử thì điều đó tuy hay nhưng họ cũng rất có thể sẽ “kính nhi viễn chi”. 
Sự “cấm đoán” thường tạo nên sợ hãi, nếu vì sợ hãi mà giữ giới thì chỉ khắc sâu sự đối phó, xa dần với hạnh phúc, gần gũi với khổ đau. Sợ hãi mà giữ giới chính là hành động “tự tìm nguy”. Chắc chắn đây không phải là điều vua Trần Nhân Tông mong muốn.
Vì thế, Tuệ Trung đã hiểu được tâm ý phân biệt của số đông trước vấn đề giữ giới, nên mới trả lời câu hỏi của Trần Nhân Tông “Công phu giữ giới trong sạch không chút xao lãng là để làm gì?”:
Trì giới và nhẫn nhục, 
Chuốc tội chẳng chuốc phúc. 
Muốn biết không tội phúc, 
Đừng trì giới nhẫn nhục. 
Như khi người leo cây, 
Đang yên tự tìm nguy. 
Không trèo lên cây nữa, 
Trăng gió làm gì được (14).
Giữ giới hay không giữ giới không liên quan đến việc đánh giá nhân cách con người là thiện hay ác, tội hay phúc. Hôm nay giữ giới không xao lãng là “trong sạch”, vậy ngày mai không còn phải giữ giới thì cái tính trong sạch nó mất hẳn hay sao? Hôm nay không giữ giới hay phá giới là ác, vậy ngày mai giữ giới thì cái tính ác không còn nữa hay sao?
Phật giáo quan niệm thiện ác không nằm trong quá trình đấu tranh loại bỏ mà nó thuộc phạm trù duyên sinhhỗ tương nhân quả, từ đó hình thành ra các giá trị mang các địa vịquả vị nơi các cõi giới khác nhau. Nếu học giới bị quy định bởi phạm trù đạo đức chức năng (cấm) thì nó sẽ thay đổi khi điều kiệnhoàn cảnh xã hội thay đổi. Nhưng nếu học giới được nâng lên ở tầm nhận thức giải thoát thì không thể triệt tiêu bất cứ mâu thuẫnđối lập nào cho dù là thiện hay ác. Bởi không có mâu thuẫn thiện ác thì không còn chức năng giáo dụckhuyến hóa.
Sự nhầm lẫn giữa giữ giới là thiện không giữ giới là ác đã dẫn đến sự nhầm lẫn khi triệt tiêu mâu thuẫn, làm cho các biểu hiện xã hội trở thành các cực đối lậpNho gia nhìn vào Phật gia để công kích việc ăn thịt uống rượu. Như vậy về căn bản, các ý thức hệ đã liên tục nhầm lẫn giữa những phạm trù chức năng “cho phép”, “không cho phép” mà quy địnhvề những chuẩn thiện ác trong xã hội.
Trần Nhân Tông từng phải cảnh báo: “Câu hữu, câu vô. Quay bên phải, ngoái bên trái. Thuyết lý ầm ĩ. Ồn ào tranh cãi” (15).
Thiện ác là một tác động kép vào quá trình phát triển của xã hội và là mối quan hệ tương thuộc. Sự cho phép hay không cho phép, có thể có những nội dung gần với thiện ác, nhưng không phản ánh hết nhận thức về vấn đề thiện ác. Bởi có những sự “cho phép” của pháp luật đã đi ngược lại với điều “thiện”, và có những điều pháp luật cho là “ác” thì lại là niềm tin của nhân dân. Như vậy chính câu trả lời của Tuệ Trung đã tác động vào nhận thức của Trần Nhân Tông như một phản biện tích cực
Tuy Trần Nhân Tông biết rằng “Mọi pháp đều biến diệt, Tâm ngờ tội liền sinh” như Tuệ Trung đã nói nhưng suy nghĩ phổ biến đã cho rằng giữ giới là có phúc, không giữ giới là có tội, vậy “tội phúc đã rõ ràng thì làm thế nào?”. Tuệ Trung bèn chỉ bảo:
Ăn thịt và ăn cỏ, 
Tùy theo từng loại đó. 
Xuân về cây cỏ sinh, 
Họa phúc nào đâu có (16).
Do đó đừng nhầm lẫn việc uống rượu ăn thịt là sẽ gặp tội báo và không uống rượu ăn thịtthì sẽ thành Thánh. Chính “tâm ngờ” mới là đầu mối động cơ của việc làm thiện ác, và chính từ cái “tâm ngờ” ấy mà sinh ra việc có tội phúc
Tuệ Trung nhắn nhủ Trần Nhân Tông “đừng bảo cho người không đáng bảo”, không phải người “không đáng bảo” ấy là xấu, ác mà họ là những người “chưa hiểu” về giới hay chấp giới. Kẻ chưa hiểu về giới thì sẽ phá giới, kẻ chấp giới thì sẽ sinh tâm phỉbáng những điều tốt đẹp khác ngoài giới. Rõ ràng vấn đề nâng cấp nhận thức được Tuệ Trung và Trần Nhân Tông hết sức quan tâm, nhưng đó không phải vấn đề đơn giảntrước quan niệm của số đông. 
Giới là phương tiện chuyển hóa từ một quả vị thấp hơn tiến tới một quả vị cao hơn. Nên cần phải nhận thức đúng về giới để giải thoát ngay trong cuộc đời trần tục này: “Trần tục mà nên, phúc ấy càng yêu hết tấc” (17).
Điều gì đã khiến cho không ít triều đại dưới thời Lý - Trần người dân đi ngủ không cần phải đóng cửa. Đó chính là tác dụng tích cực của việc thực hành giới. Nếu chỉ suy nghĩcô lập giới là sự “cho phép” hay “không cho phép” thì sẽ nảy sinh vấn đề “muốn” hay “không muốn”. 
Giáo dục không nên rơi vào cái bẫy của sự “cho phép”. Giáo dục nên hướng vào tư duynhận thức, bởi đó là vần đề cốt lõi để người ta có thể đối mặt với điều kiệnhoàn cảnhthực tế và giải quyết nó một cách tốt nhất theo chiều hướng ích mình, lợi người. Rõ ràngngười hiền không phải người không (bất biến) tham mà người hiền chính là người có điều kiện để tham nhưng không tham. 
Nhận thức đúng về giới để tự do chuyển hóa khổ đau chứ không phải những quy địnhđạo đức bắt buộc mỗi cá nhân (khác biệt về truyền thống) phải trải quaGiáo dục là nhằm cho nhận thức được mở rộng ra chứ không phải ngắm vào quy định chức năng“được phép” hay “không được phép” rồi khép kín tất cả các trật tự hành vi lại. Nhận thứclà quy trình tự điều chỉnh và mang ý nghĩa chuyển hóa, diễn ra trong một quá trình từ “phàm” sang “thánh”. 
Khi đạo đức biến thành quy định thì tạo ra sự phân lập, phán xét, nuôi dưỡng thành kiến, thậm chí ý thức hệ đối đầuTriết học Phật giáo không có “ý thức hệ đối đầu”, ở đó chỉ có một quá trình chuyển hóa, tha hóa giữa các quả vị trên căn bản xuất phát từ động cơ có tác ý (hành nghiệp).
Như vậy đi vào vấn đề hành nghiệp của con người (thiện ác) là đi vào ba phạm trù lớn trong diễn biến sống đó là “ý nghĩ, lời nói và hành động”. Nhân sinh quan Phật giáo trở nên phong phú vì nó đã ngắm trúng đích ba vấn đề lớn này. Vậy thì cả thiện và ác đều phải đi qua, không có một sự sắp xếp đạo đức nào trong quá trình này. Vì thiện ác không phải là phạm trù bất biến, không phải hai thế giới đối lập. Cuộc sống có sự dao động rất lớn, mọi người đều có nguy cơ “trở nên” thế này và thế kia chỉ trong một “ý nghĩ, lời nóivà hành động”.
Giới nằm trong quá trình chuyển hóa, không dành cố định cho một “hạng”, “loại” người nào, nên giới là bình đẳng, không bị chi phối bởi không gianthời gian. Nhưng nếu giới trở thành “chức năng”, phân lập “thiện ác” thì sẽ trở nên lỗi thời và phi lý khi các điều kiệnhoàn cảnh lịch sửxã hội thay đổi. Từ lâu, giới ở Việt Nam đã khiến cho người ta “sợ”, “ngại” mỗi khi nhắc đến việc phải giữ hay không. Nhưng nếu giới được hiểu là “học giới”, một quá trình giáo dục đào tạo nhằm chuyển hóa thân tâm thì ảnh hưởngtác dụngxã hội sẽ rất lớn. Sự trao đổi giữa Tuệ Trung và Trần Nhân Tông cho thấy, điều cốt yếu vẫn là tác động vào nhận thức của đối tượng “đáng bảo” hay “không đáng bảo”. Có thể nói, vướng mắc ấy vẫn còn nguyên cho tới hôm nay. 
Một khi “đạo đức” trở thành những “mệnh lệnh” thì nó sẽ gắn chặt với pháp luật, có thể làm suy giảm đáng kể sự sáng tạo và chuyển hóa của con người. Người cổ súy đạo đức lại làm thay công việc của người ban hành luật, tức cho phép làm cái này không được làm cái kia. Đây là nguyên nhân làm giảm tính đặc thù cá nhân cũng như sự khai phóng tư tưởng trong xã hội, và cũng là đầu mối của việc “đang yên tự tìm nguy”.
Trói buộc - giải thoát
Giới không phải sự trói buộc. Trong bài Sơn phòng mạn hứng, Trần Nhân Tông viết: “Ai trói buộc mà phải tìm phương giải thoát. Phẩm cách chẳng phàm tục cần gì tìm thần tiên” (18).
Như vậy ông đã nhận thức rõ được sự trói buộc, vì sự trói buộc này mà sinh ra khía niệm “phàm tục”, “thần tiên”. Triệt tiêu mâu thuẫn chính là triệt tiêu sự hài hòa, vì mâu thuẫn được đặt ra trong thế giới tương đối, không có nó thì thế giới sẽ trở nên “đơn cực”. Cho nên khi không còn trói buộc, không còn nặng đầu với “phàm tục”, “thần tiên” thì thoát ra khỏi các khái niệm chức năng “để” và “triệt”.
Người không còn phân biệt mê ngộphàm thánh thì sẽ đạt được “tính sáng soi”. Nhưng vì sao các phạm trù “chức năng” của đạo đức cho phép hiểu cái thiện cần phải được khuyến khích và cái ác cần phải ngăn ngừa. Đây cũng là một vấn đề thuộc phạm vi “giải quyết”. Nếu làm một cái xấu thì có thể dẫn đến làm nhiều cái xấu, và nếu làm được một việc lành thì có thể làm nhiều việc lành. Điều này được quan sát dựa trên kinh nghiệmsống và kinh nghiệm tu tập
Nhưng giải quyết vấn đề “tính” mang những ý nghĩa triết luận thì thấy rằng tư duy “thiện - ác” không nên lúc nào cũng có thể nhận thức bằng kinh nghiệm, tức coi việc gần xấu thì xấu, gần ác thì ác. Đây là một trong những yếu tố phổ biến trong quan niệm Nho giáo nên họ rất quan tâm đến yếu tố “môi trường”. 
Điều này dựa phần lớn vào cái thấy không trọn vẹn của kinh nghiệm. Một khi cái tổng thể đã bị nhận thức bằng kinh nghiệm chi phối, thì cái cá biệt, cái vốn lưu giữ nhiều sự phong phú và sáng tạo sẽ bị bất tín. Đây cũng là điều dẫn đến suy luận có vẻ như rất logic, nếu bất kể những ai đã nằm trong vùng, phạm vi của cái xấu thì sẽ bị “xấu hóa” do đó cần phải cô lậpbài trừ
Trần Nhân Tông viết: “Nếu Hằng Nga biết được vẻ đẹp thanh nhã của hoa mai, Thì có ưa gì cây quế và cung thềm lạnh lẽo” (19). Cái phổ biến trong cảnh giới của Hằng Nga không phải cái phổ biến, cái đẹp trong cảnh giới khác. Đó là cõi riêng trong cách cảmcủa người. “Một cành hoa lạc vào giấc mộng cố nhân. Tỉnh dậy không thể đem tặng anh được” (20). 
Đó cũng là điều mà có người đã hỏi Trần Nhân Tông: “Đã là thanh tịnh bản nhiên sao bỗng chốc sinh ra núi sông đất lớn?”. Trần Nhân Tông trả lời: “Ai biết tránh xa khói sóng sẽ có riêng điều bàn bạc” (21).
Không chỉ có chuyện thiện ác mà ngay đến cả chuyện yêu thương, chuyện ăn ngủ, chuyện sống thanh bầnđạm bạc, không đấu tranh… cũng được gom hết vào phạm trùcủa đạo đức. Chính vì điều này mà mọi sự “lệch chuẩn” đều có thể bị suy diễn là mất đạo đứcTrả lời cho vấn đề yêu thươngTrần Nhân Tông viết: “Càn khôn kiêm ái vô Nam Bắc” (22).
Có nghĩa rằng cái yêu thương thì không có vấn đề cho phép hay không, cũng như chuyện ăn ngủ “sống giữa phàm trần hãy tùy duyên mà vui với đạo, đói thì ăn, mệt thì ngủ” (23), lên án nó là “lệch chuẩn” chẳng khác nào lên án sự tự tạiTuy nhiên, những gì diễn ra trong đời sống cho thấy nhiều biểu hiện phong phú đều